CLOSE
Add to Favotite List

vmBOARDS

  • N
    nguyenthanhhien 1 year ago

    T THUYET O PHIA ĐONG TÔI.doc

    thân gửi Vietmessenger tiểu thuyết mới

    0
  • admin 1 year ago

    Đã đưa vào trang ebook :

    https://vietmessenger.com/books/?title=o phia dong toi

    0
Reply
  • NguoiTho 1 year ago

    NHỚ MẸ

    Kính dâng hương-hồn Mẹ,
    cụ-bà Lê Văn Tập, Đà-Nẵng.

    Mẹ ơi! Lại một năm gần hết!
    Lại một Tết gần tới nữa rồi!
    Không thể lời trao, không chữ viết,
    Con nhờ mây gió nhắn lời thôi!

    Lâu nay Mẹ có được bình-an?
    Con+cháu về thăm? thư hỏi-han?
    Lợi-tức có còn cho Mẹ sống?
    Tuổi cao, Mẹ sống có thư-nhàn?

    Phần con: vẫn tội không toà xử!
    Vẫn khổ-sai tù chẳng án tuyên!
    Nhưng vẫn nhẫn-nhường qua hạn dữ
    Đúng như lời Mẹ vẫn từng khuyên.

    Nhớ khi chưa có chuyện chua cay:
    Con đến hầu thăm Mẹ mỗi ngày,
    An-ủi phần nào niềm quạnh-quẽ,
    Thân đơn, nhà rộng, gió sương dày .

    Con đưa Chị Cả thường-xuyên lại
    Cùng Mẹ chơi bài để giải-khuây .
    Con giúp nhang đèn, dâng lễ bái;
    Con lo khách-khứa, đãi ăn đầy ...

    Mẹ ra nghiã-địa viếng mồ Ba:
    Con lái xe-hơi chở Mẹ ra .
    Mẹ muốn lên chùa hay xuống chợ,
    Qua nhà bè-bạn: con đưa qua ...

    Con vui có Mẹ mà hầu phục
    Vì mẫu-thân con đã mãn-phần.
    Mẹ cũng thương con như cốt-nhục
    Vì con trai Mẹ đã từ-thân!

    Mẹ coi con tựa đứa con thơ:
    Có bữa cơm trưa Mẹ vẫn chờ.
    Mẹ cất cam nho trong tủ lạnh,
    Chờ con tới mới lấy ra đưa ...

    Thế rồi tất cả không còn nữa!
    Con bị lưu đày ở trại xa;
    Mẹ lại mai chiều ngồi tựa cửa:
    Lầu cao, thềm rộng, một thân già .

    Năm xưa, Mẹ đã chín mươi tròn,
    Lọm-khọm đi tìm thăm viếng con;
    Mẹ đã khóc oà khi gặp mặt
    Làm con đau điếng cả tim non.

    Tấm tình qúy-hiếm cao sâu ấy:
    Lòng Mẹ vô-biên như biển trời!
    Con biết làm sao đền đáp lấy
    Dù trong muôn một, Mẹ hiền ơi!

    Đền ơn, con chỉ biết mong cầu
    Cho Mẹ bình-an, Mẹ sống lâu;
    Mẹ sống chờ ngày con trở lại:
    Con săn-sóc Mẹ, Mẹ vơi sầu ...

    Mẹ ơi! đã mấy năm biền-biệt,
    Chúng cấm thư-từ, cấm viếng thăm.
    Mẹ có bề nào: con chẳng biết!
    Con càng nhớ Mẹ, con càng căm!

    Bây giờ Chị Cả đã qua đời,
    Con+cháu thì là người mỗi nơi!
    Chú ấy làm to mà cuốc bộ,
    Về thăm – lý-thuyết chỉ hoài hơi!

    Phố lầu: căn cúng, căn người quỵt!
    Két cạn: nhà băng hết gửi tiền!
    Hết hẳn lên chùa! Thôi thết tiệc!
    (Qua-loa vài món giỗ gia-tiên!)

    Mẹ đi nghiã-địa: ai đưa đi ?
    Mà mộ Ba còn, hay đã "quy"?*
    Ai tới chơi bài mà giải-trí ?
    Trưa: còn tủ lạnh? tối: ti-vi ?

    *VC dẹp hết nghiã-trang của dân Miền Nam,
    bắt dồn (quy) mả tới những địa-điểm mới,
    xa, và tồi-tệ hơn.

    Lạy Trời! Nếu Mẹ quy-tiên trước:
    Con hết hôn tay, vuốt mắt Người!
    Con hết tiễn đưa giây phút chót
    Về nơi Mẹ nghỉ giấc muôn đời!

    Nhưng, con còn sống, con còn lo
    Cho các con con được Tự Do,
    Cho các cháu con, như Mẹ muốn,
    Có hoài tủ lạnh với cam nho ...

    Con còn báo-phục cho đời Mẹ:
    Tuổi trẻ cần-lao, tuổi xế nhàn;
    Có nghiã, có tình trong tộc-hệ;
    Có Trời, có Phật độ giang-san...

    Con còn nghiã-vụ với xung quanh:
    Phải diệt cuồng-xâm, thắng bạo-hành,
    Để sống đời đời trong hạnh-phúc:
    Mỗi ngày: Tết nhất, tháng: xuân xanh...

    Hôm nay sắp-sửa vào Xuân mới:
    Con: tuổi tù tăng, Mẹ: tuổi đời ...
    Mượn gió nhờ mây, con gửi tới
    Lòng con thương nhớ – Mẹ hiền ơi!

    THANH-THANH
    Nhà Trắng (Thôn 5) Tiên-Lãnh 1980

    0
Reply
  • AsWhistler 1 year ago


    Source https://vietbao.com/p301415a306669/ngon-doi-ta-treo

    Bài thơ "The Hill We Climb" được chính tác giả Amanda Gorman đọc trong lễ nhậm chức của Tổng
    thống Mỹ thứ 46 -Joseph Biden- ngày 20 tháng 1 năm 2021.
    Amanda Gorman phải trèo lên ngọn đồi của hoàn cảnh, và đã leo được gần đến đỉnh đồi.
    Cô đã truyền cảm hứng đến hơn 300 triệu người Mỹ. Hy vọng họ sẽ leo qua được ngọn đồi phân
    cách (trong tâm tưởng) để đất nước Hoa kỳ luôn có dân chủ, và bình minh.
    Nhà thơ Trần Mộng Tú đã chuyển dịch qua tiếng Việt bằng trái tim một người Mỹ gốc Việt Nam. Xin
    cùng đọc bài thơ của Amanda Gorman, để cùng hy vọng người Việt Nam trong và ngoài nước sẽ
    cùng nhau leo được ngọn đồi cao thăm thẳm đã che lấp dân chủ và tự do của quê nhà từ hơn 45
    năm qua.

    ***

    Ngọn Đồi Ta Trèo

    (Từ bản Anh Ngữ: The Hill We Climb- Amanda Gorman)
    Trần Mộng Tú chuyển ngữ

    Ngày đã bắt đầu rồi
    Sao vẫn đầy bóng tối
    Mất mát nào cưu mang
    Đại dương nào ta lội

    Mang bụng con quái thú
    Ta bước đi can trường
    Yên lặng ở quanh ta
    Chẳng phải là êm ả

    Trong tín điều đưa ra
    Công bằng hay công lý
    Chưa định phân rõ ràng
    Thì bình minh đã đến

    Ta đã có kết quả
    Không biết bằng cách nào
    Ta đã được chứng kiến
    Một cường quốc còn nguyên
    Dẫu chưa được hoàn thiện

    Ta chính là hậu duệ
    Của thời điểm xa xưa
    Nơi đứa bé da đen
    gầy gò, sống với mẹ
    một bà mẹ độc thân
    đứa bé được đọc thơ
    ngày đăng quang Tổng Thống
    nó mơ làm Tổng Thống

    Mặc dù rất xa vời
    Những lịch lãm uyên nguyên
    Không thể nào dựng được
    Một đế chế hoàn toàn
    Chúng ta chỉ ao ước
    Một liên minh an hòa
    Một chính quyền tôn trọng
    Văn hóa và màu da

    Chúng ta cùng ngước nhìn
    Không vì ai bên cạnh
    Mà hãy nhìn những gì
    Sừng sững giữa chúng ta

    San bằng hố chia rẽ
    Kéo chia biệt ra xa
    Đặt tương lai trên hết
    Chỉ còn Ta với Ta

    Hãy bỏ khẩu súng xuống
    Để cánh tay nối dài
    Không ai tổn thương cả
    Mọi người đều an hòa

    Để thế giới công nhận
    một sự thật hiển nhiên
    trong nước mắt trưởng thành
    đớn đau ta hy vọng

    Ta gắn liền với nhau
    Không phải vì thất trận
    Mà cho chính chia rẽ
    Không có dịp nẩy mầm

    Trong Kinh Thư đã nói
    Chúng ta được nghỉ ngơi
    Dưới giàn nho xanh tươi
    Dưới cây vả an bình

    Hãy sống cương vị mình
    Không làm ai sợ hãi
    Thanh kiếm không mang lại
    Vinh quang bằng nhịp cầu

    Ngọn đồi ta trèo lên
    Khi là dân tộc Mỹ
    Không bởi vì kế thừa
    Mà chúng ta bước vào

    Cùng chung nhau hàn gắn
    Cùng chung nhau chia sẻ
    Chúng ta đã nhìn thấy
    Quốc gia gần nát tan

    Thay vì chia sẻ nhau
    Lại đang tâm chia rẽ
    Dân Chủ bị trì hoãn
    Nhưng không mất bao giờ

    Hãy trông vào sự thật
    Lịch sử đã chứng minh
    Dân Chủ đôi khi trễ
    Nhưng không mất bao giờ

    Đã đến thời cứu độ
    Phút kinh hoàng đã qua
    Sức mạnh và lòng dân
    Ta lật trang Sử mới

    Ta tặng nhau tiếng cười
    Niềm tin và hy vọng
    Trong khoảnh khắc sinh tử
    Sức mạnh ta vô cùng

    Nếu có ai muốn biết
    Làm sao vượt thảm bại
    Hãy kiên cường đáp lại
    Tai ương không đánh bại
    Đè bẹp được chúng ta

    Không quay về chốn cũ
    Ta đi về tương lai
    Một xứ sở bầm dập
    Nhưng nguyên vẹn hình hài

    Một đất nước oai hùng
    Nhưng tràn đầy đức hạnh
    Một dân tộc tự do
    Cầm trong tay sức mạnh

    Ta không quay đầu lại
    Không ngập ngừng đắn đo
    Không để ai đe dọa
    Ta quay đầu trở lui

    Mỗi hành động của ta
    Phải vô cùng thận trọng
    Những lầm lẫn của ta
    Thế hệ sau mang vác

    Ta kết hợp tình thương
    nhân từ và sức mạnh
    tình yêu thành di sản
    cho con cháu chúng ta

    Để lại một quốc gia
    đẹp hơn nơi ta qua
    nơi mỗi hơi ta thở
    cho con cháu chúng ta

    Từ bộ ngực bằng đồng
    Bàn tay ta cùng vỗ
    nâng thế giới bi thương
    thành thế giới tình thương

    Từ viễn Tây núi vàng
    Từ Đông Bắc lộng gió
    Nơi cha ông ta đã
    Làm cách mạng khơi nguồn

    Từ Trung Tây đại hồ
    Từ miền Nam nắng lửa
    Ta gọi nhau trỗi dậy
    Ta xây lại hoang tàn

    Ta đi vào ngõ ngách
    Góc khuất của quê hương
    Sẽ tìm thấy nhiều người
    Mang rất nhiều vết thương
    Những vết thương rất đẹp

    Khi ngày mới sẽ tới
    bước ra khỏi bóng tối
    hân hoan không sợ hãi
    hực lửa không khiếp sợ

    Bình minh được nở rộ
    Khi ta giải phóng nó
    Vì chính ánh sáng đó
    Hắt ra từ bình minh

    Chỉ cần ta can đảm
    nhìn cho rõ Bình Minh
    Và ta đủ can đảm
    trở thành một Bình Minh.

    Trần Mộng Tú
    Jan 22 2021

    0
Reply
  • plummer 1 year ago

    Nhập thất

    Lâm Chương

    Khi bị nhốt trong phòng kỷ luật
    Ta bỗng dưng thành một nhà tu
    Tổ Đạt Ma chín năm diện bích
    Còn ta ngồi đối vách âm u

    Giữ trường chay khoai mì nước lã
    Thân nhẹ tênh gầy guộc xương da
    Đã có lúc sắp về cõi Phật
    Nhập linh hồn vào chốn bao la

    Ngồi tịnh khẩu một mình bóng tối
    Sống cầm hơi thoi thóp từng ngày
    Thời gian chậm như ngừng hẳn lại
    Và cuộc đời như muốn buông tay

    Sợ nhà tu bay vèo đi mất
    Nên chiếc cùm khoá chặt đôi chân
    Lũ rệp đói tha hồ hút máu
    Lòng từ bi bố thí chúng sinh

    Lớp rơm rót lâu ngày ẩm mục
    Thay bồ đoàn thiền toạ công phu
    Việc tiêu tiểu cho vào ống nước
    Đã quen mùi đâu ngại sạch dơ

    Sống đơn bạc cà sa chẳng có
    Chỉ chiếc quần xà lỏn che thân
    Đêm gió núi lùa qua khe hỡ
    Dù khổ tu củng thấy rùng mình

    Lúc đói lã ta nằm điều tức
    Đếm ra vô hơi thở nhẹ nhàng
    Chuyện sinh tử sáng chiều ai biết
    Suy nghĩ nhiều e bị vọng tâm

    Thân xác nhẹ sao lòng nặng trĩu
    Kiếp phù sinh chưa hết oan cừu
    Ngại khi chết khó bề siêu thoát
    Hồn quẩn quanh theo ám kẻ thù.



    30 tháng 4 2002
    27 năm mùa khổ nạn.

    0
  • AsWhistler 1 year ago

    Những ai đã đọc qua nhứng tác phẩm 1984 của George Orwell, Nhớ rừng của Thế Lữ, The
    Sympathizer của Nguyễn Việt Thanh, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, If This Is a Man của
    Primo Levi, những tiểu thuyết của Aleksandr Solzhenitsyn vv ... hay có họ hàng, bà con, thân
    quyến đã được đảng Cộng Sản Việt Nam ra công giáo huấn, cải tạo trong nhưng nhà tù như
    Vỉnh Phú vv ... chỉ dùng củ tỏi nhồi vởi chút bột để trị bá bệnh, khi đọc bày thơ này thì, than ôi,
    thấy rất bình thường, thấu hiểu tâm trạng nhà thơ, cũng như cá dưới nước, là những điều xảy ra
    hàng ngày trong quá khứ và đau đớn hơn nữa là sẽ còn xảy ra thường xuyên trong tương lai

    Nhưng chúng ta nên nhớ câu "Ta nhất định không bao giờ chịu thế" trong bài Bản đồ nước Việt /
    Giờ quốc sử của đại văn hào Đoàn Văn Cừ. Tôi xin trích

    Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ
    Nước chúng ta là một nước vinh quang
    Bao anh hùng thủa trước của giang san
    Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
    Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
    Để đêm ngày nối được chí tiền nhân
    Ta chắc rằng sau một cuộc xoay vần
    Dân nước Việt lại là dân hùng liệt
    Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
    Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
    Bên những trang lịch sử bốn nghìn năm
    Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm
    Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
    Nếu Việt Nam địa giới phải chia rời,
    Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
    Người Nam, Bắc không cùng chung cội rễ
    Ta nhất định không bao giờ chịu thế
    Núi sông nào cũng của nước Việt Nam!”

    0
Reply
  • NguoiTho 1 year ago


    BỤI ÐẤT VÀ HƯ-VÔ



    Trưa ngày 25 tháng 12 năm 1974, tôi đang cùng với bạn-bè dự một bữa ăn nhân dịp Nô-En tại nhà của một thuộc-viên thì được Sĩ-Quan Trực từ Phòng Tình-Hình gọi máy đến báo-cáo một tin-tức khác thường.

    Vào khoảng 11g30 vừa rồi, có một chiếc trực-thăng đáp xuống cạnh Trường Tiểu-Học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam. Từ trên phi-cơ bước xuống một thiếu-tướng và một trung-tá Việt-Nam Cộng-Hòa, cùng với một người đàn-ông và một người đàn-bà Hoa-Kỳ. Người đàn-ông có mang theo một cái hộp trên tay.

    Viên trung-tá vào trường, dẫn bác Cai Trường ra, giới-thiệu với mấy người kia; rồi bác Cai Trường vào trong mang ra một cái xẻng, theo sự chỉ-dẫn của hai người Mỹ, đào một cái lỗ, ngay giữa hàng-rào phân chia khoảng sân bên hông trường ấy với con đường hương-lộ bên ngoài, chôn xuống đó cái hộp từ tay của người đàn-ông Hoa-Kỳ, lấp đất lại, rồi xóa sạch dấu đất mới, để chỗ đó trông giống bình-thường như không có việc gì xảy ra.

    Xong, bốn người kia trở lên trực-thăng bay đi, và bác Cai Trường vào trường.

    Mọi việc xảy ra mau lẹ như đã được sắp-đặt từ trước rồi.

    Lúc chôn cái hộp là vào khoảng 12 giờ trưa.

    *

    Tôi đoán là có cái gì bí-mật, mà nhà chức-trách địa-phương giấu kín, hoặc không biết rõ nên Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam chỉ báo-cáo đơn-giản thế thôi. Cho nên, do tò-mò nghề-nghiệp, tôi về nhà sớm và bắt tay vào việc ngay.

    Sau khi gọi điện-thoại hỏi Trung-Tâm Hành-Quân thuộc Sư-Ðoàn I Không-Quân và Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I, tôi tổ-chức một chuyến đi vào Quảng-Nam quan-sát tại chỗ, đồng-thời tiếp-xúc với các mật-viên quanh vùng, để biết thêm chi-tiết về vụ này...

    *

    Bác Nam thanh-minh:

    – Tôi cứ tưởng là chỉ cần báo-cáo những gì liên-can đến cộng-sản mà thôi, còn đây là vấn-đề tình-cảm cá-nhân mà các người trong cuộc đã yêu-cầu tôi giữ kín giùm...

    Thiếu-Tá Sơn đỡ lời tôi:

    – Không ai trách-móc bác đâu. Bác hãy kể chuyện về người Mỹ tên Sam đi.



    Bác Nam kể:

    – Ðầu năm 1971, Toán Dân-Sự-Vụ của Thủy-Quân Lục-Chiến Hoa-Kỳ hoạt-động tại Quận Ðại-Lộc thay đổi cấp chỉ-huy.

    “Người mới đến là Đại-Úy Sam, một thanh-niên đẹp trai, hiền-lành, nhã-nhặn, bình-dân. Anh rất lanh-lợi và có nhiều sáng-kiến hay.

    “Công-tác nổi bật đầu tiên là anh thành-lập một Hội Việt-Mỹ cho Quận Ðại-Lộc. Anh chịu khó đi thuyết-phục để mời vào Hội không những chỉ các viên-chức chính-quyền như Quận-Trưởng, Phó Quận-Trưởng, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực, Trưởng Chi Thông-Tin, Trưởng Phòng Văn-Hóa Giáo-Dục, Hiệu-Trưởng Trường Trung-Học, các sĩ-quan thuộc Chi-Khu, Xã-Trưởng, giáo-sư, giáo-viên, phụ-huynh học-sinh, học-sinh tiểu+trung-học, v.v... như thường-lệ, mà anh còn mời cả các thương-gia, nông-dân, tài-xa, tài-công, lâm-dân, ngư-dân, v.v... cùng với một số tu-sĩ Phật-Giáo trong vùng.

    “Với Hội Việt-Mỹ của Sam, sinh-hoạt ở đây sinh-động hẳn lên. Hội-viên gồm mọi tầng-lớp xã-hội. Sách+ báo từ phía Hoa-Kỳ phân-phát, phổ-cập hầu như đến từng gia-đình. Hoạt-động không chỉ thu gọn trong các kỳ họp, mà còn thể-hiện qua bất-cứ cơ-hội nào có người Mỹ xuất-hiện trong làng xóm Việt-Nam.

    “Sam đề-nghị, và được phía Việt-Nam đồng-ý, dùng phòng học của Lớp Năm trường tiểu-học Lộc Mỹ này làm nơi trao-đổi văn-hóa, dạy tiếng Anh vào buổi tối, vì nơi đây thuận-tiện cho sự đi lại của mọi người.

    “Phòng này nằm ở đầu dãy, bên hông có một cửa sổ nhìn ra hàng-rào che khuất tầm mắt của người qua đường. Phía bên kia đường, các ông thấy đấy, có một cây đa cành lá sum-suê, rễ ở gốc cây cao hơn mặt đất, người nào vóc cao mà đứng lên trên đám rễ, tựa vào gốc cây nhìn vào cửa-sổ thì trông thấy mặt cô giáo rõ-ràng.

    “Giáo-viên Lớp Năm là cô Diệu-Hương, hoa-khôi toàn Quận, năm ấy vào khoảng hai mươi, dịu-dàng, lễ-phép, đứng-đắn, siêng-năng.

    “Phòng học Lớp Năm trước kia là nơi cô đến soạn bài, chấm bài cho học-sinh, và tự học thêm chương-trình đại-học vào các ngày nghỉ và mỗi buổi tối, thì nay còn là nơi cô đến làm công-việc của Hội với tư-cách thư-ký, học tiếng Anh, dạy tiếng Việt cho ngưới Mỹ, giúp chiếu phim, điều-khiển máy ghi-âm, v.v...

    “Cha mẹ cô thuộc giới trung-nông, sùng Ðạo Phật và chịu ảnh-hưởng Ðạo Nho.

    “Sự giao-tiếp giữa cô với Sam, trong khung-cảnh chung của sự tiếp-xúc giữa hai bên Việt-Mỹ, có bắt tay, có vỗ vai, nhất là giữa đàn-bà con-gái Việt Nam với đàn-ông Hoa-Kỳ, bề ngoài là chuyện tự-nhiên, nhưng cha+mẹ cô rất lo, nên đã nhờ tôi theo dõi, ngăn ngừa giùm, sợ đi quá xa.

    “Tôi là Cai Trường, làm liên-lạc-viên của Hội, vừa sắp dọn rồi cất dẹp mọi thứ trước và sau mỗi buổi, vừa tham-dự học tiếng Anh và dạy tiếng Việt, nên tôi có mặt hầu hết mọi lần Sam và Diệu-Hương gặp nhau. Và tôi đã thấy ngay một mối tình trai+gái chớm nở giữa hai người, ngày càng sâu nặng hơn.

    “Quả thật là tôi đã có đồng-lõa với hai người.

    “Thứ nhất là vì tôi thấy Đại-Úy Sam thật tình yêu Diệu-Hương, muốn xây-dựng lâu dài. Anh đi lễ chùa vào rằm, mồng một âm-lịch, tìm hiểu Ðạo Phật, học hỏi phong-tục tập-quán Việt-Nam. Anh biếu quà và tham-gia mọi cuộc vui với trẻ em vào các dịp cuối tuần, nghỉ hè, Trung Thu. Anh đưa Y-Tế Mỹ đi săn-sóc từng cụ già, cứu-trợ từng nạn-nhân bị Việt-Cộng pháo-kích, giật mìn. Anh giúp lợp nhà, sửa đường, đào mương, tích-cực hơn cả cán-bộ của mình. Dân-chúng nhờ anh rất nhiều.

    “Mà điều quan-trọng là anh trân-trọng người yêu, không hề sỗ-sàng bậy-bạ như đa-số người Mỹ khác. Sam nói riêng với tôi là anh sẽ xin chính-thức cưới Diệu-Hương. Tôi biết là có nhiều cô-gái Việt-Nam lấy chồng Mỹ đường-hoàng, nên tôi yên tâm.

    “Thứ nữa là vì tôi nghĩ: nếu cho cha+mẹ cô biết thì chắc ông+bà sẽ cấm hẳn cô tới+lui với Hội Việt-Mỹ; mà không có cô thì Hội tất-nhiên sẽ tan, vì anh sẽ dời Hội đi nơi khác, tôi mất việc làm với đồng lương cao và tiền lời bán đồ giải-khát, bánh, kẹo, cháo, chè mỗi đêm.

    “Mãi đến hôm nay, giữ đúng lời hứa với hai người trong cuộc, tôi vẫn chưa kể cho cha+mẹ cô biết về mối tình giữa hai người.

    “Huống chi Đại-Úy Sam thì đã về nước từ sau Nô-En năm ấy, và cô Diệu-Hương thì cũng đã bỏ đi đâu biệt-tích từ sau Nô-En năm ngoái, 1973...”

    – Từ khi Sam rời Việt-Nam, đến khi Diệu-Hương đi biệt, là hai năm trời, hai người có còn liên-lạc với nhau hay không? Ðời sống tình-cảm của cô thế nào?

    – Anh vẫn gửi thư đều-đặn, hàng tháng, cho cô, qua tôi; tôi đều chuyển lại tận tay; nhưng cô nói là cô không trả lời. Tôi không được biết trong thư anh nói những gì.

    “Có nhiều thanh-niên Việt-Nam cũng như vài ba người Mỹ có vẻ săn đón cô hơn, nhưng cô đối xử với họ bề ngoài tự-nhiên như đối với Sam trước kia, chứ không có gì khác hơn.

    “Cuối năm 1972 thì cô đổi về dạy ở Tam-Kỳ, thuộc Tỉnh Quảng-Tín; cuối tuần về nhà thường ghé thăm tôi.

    “Tôi hiểu là cô rất buồn, ít nói hơn, da xanh hơn...

    “Ðây là bức thư của cô đã viết cho Sam vào dịp Nô-En năm ngoái. Cô không gửi nó qua Mỹ mà lại nhờ tôi cất giữ như một bằng-chứng hoặc một di-vật lưu lại cho Sam; tôi không mở xem. Cô đã dặn tôi: nếu đến hết ngày Nô-En năm nay, tức là 12 giờ khuya hôm nay, mà Sam vẫn không trở lại gặp cô, thì xin tôi hãy giải giùm lời thề, bằng cách đốt nó ở gốc cây đa, là nơi anh đã đứng đó nhiều lần hướng về cửa sổ say-đắm nhìn vào...”

    *

    Lộc-Mỹ, ngày 25/12/1973



    Anh Sam yêu-dấu,

    Ðây là bức thư đầu tiên mà cũng là bức thư cuối cùng em gửi anh, người đàn-ông đầu tiên mà cũng là người đàn-ông cuối cùng trong đời em. Nội-dung chỉ là EM YÊU ANH. Nhưng vấn-đề không chỉ đơn-giản như ba tiếng “em yêu anh”.

    Anh là người Mỹ học-thức, giàu-có, mạnh-khỏe, trẻ-trung, can-đảm, cần-cù, nhân-ái, vị-tha, hào-phòng, tự-do.

    Những quân-nhân như anh, ngoài các cuộc hành-quân còn dành thêm tâm-trí, công-sức và thì-giờ để làm công-tác xã-hội giúp ích cho người xung quanh, thật là hiếm-hoi. Trong cương-vị của anh, anh xứng-đáng tiêu-biểu cho một dân-tộc hùng-cường, nghĩa-hiệp, vượt vạn dặm trùng-dương đến đây hy-sinh xương máu để bảo-vệ, kiến-thiết, và phát-triển Việt-Nam nghèo-yếu khổ-nạn quê-hương em.

    Anh là một thanh-niên lịch-thiệp, nói theo các bạn em là “con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai”, yêu đời, yêu người, biết kính già quý trẻ, biết tôn-trọng những giá-trị tinh-thần, nhất là tôn-trọng người mình yêu.

    Anh đã cho em biết thế nào là mãnh-lực ái-tình, thế nào là tình yêu không phân chia chủng-tộc, màu da. Anh vừa lãng-mạn phác-họa một cảnh gia-đình hạnh-phúc tràn-trề, vừa thực-tế dự-trù sau khi xuất-ngũ sẽ tiếp-tục học lấy bằng Master, lấy bằng Ph.D., dọn đường cho sự-nghiệp tương-lai. Anh đặt kế-hoạch cho tiền-đồ của cả hai chúng mình. “Anh đã cho em Niềm Tin trong Tình Yêu”...

    Nhưng vì cha+mẹ em không chấp-nhận việc một người con-gái Việt-Nam lấy chồng người nước ngoài (em biết điều đó qua nhiều lần ông+bà phê-bình người khác trước mặt em, và qua lời ông+bà nói với bác Nam mà bác ấy kể lại với em), nên em đành phải giấu-giếm mọi người, trừ bác Nam mà em đã thú thật sau này.

    Yêu nhau mà phải lén-lút, còn gì bực-bội và xấu-hổ bằng!

    Hy-vọng duy-nhất của em là chờ đến ngày em hai mươi mốt tuổi, là tuổi hợp-pháp tự mình quyết-định hôn-nhân của mình; nhưng không phải là để tự-do làm giấy hôn-thú với anh, mà là để dễ thuyết-phục song-thân em chấp-nhận mối tình của chúng mình, vì em không thể làm một đứa con bất-hiếu – bất-hiếu vì làm trái ý cha+mẹ, bất-hiếu vì làm cha mẹ mất mặt với mọi người.

    Nhưng, nếu ông+bà vẫn không đồng-ý thì sao? Ðó là điều mà em không dám giải đáp, vì chỉ nghĩ đến là em đã thấy sợ rồi.

    Ðùng một cái, anh được lệnh hồi-hương. Một việc bình-thường mà thời-gian qua đắm chìm trong tình yêu em không nghĩ đến. Hết hạn tùng-quân thì phải về thôi!

    Tuy thế, có lý nào chấm dứt mọi sự ngang đây sao anh?

    Nhưng anh đã trấn-an em. Anh hứa là sẽ tìm đủ mọi cách trở lại Việt-Nam, dù với tư-cách quân-nhân hay nhân-viên dân-chính, thường-dân.

    Qua năm 1972 thì Hội Việt-Mỹ dời đi nơi khác.

    Em sống xa anh, lại không còn gần những cảnh sinh-hoạt thân quen do anh tạo nên và vẫn mang đậm dấu ấn của anh, nên em cảm thấy cuộc sống trống vắng, lạt-lẽo vô cùng, dù anh vẫn gửi thư về đều đều; nên qua Nô-En thì em đã xin thuyên-chuyển về dạy ở Tam-Kỳ.

    Em về Tam-Kỳ để gần căn-cứ Chu-Lai, để được thấy các bạn anh nhiều hơn, để đỡ nhớ anh hơn, và để càng nhớ anh hơn.

    Anh yêu! Cuộc đời không chiều lòng người. Nô-En 1972 anh chưa trở lại được, nhưng vẫn còn nhiều hy-vọng, vì chiến-tranh vẫn còn. Nô-En 1973 anh không trở lại được, thì đâu còn hy-vọng, vì chiến-tranh không còn. Phải chăng hy-vọng chỉ còn, tình yêu của chúng ta chỉ còn, khi vẫn còn chiến-tranh, cuộc chiến khốc-liệt mà chúng mình muốn sớm kết-thúc? Nhưng, kết-thúc như thế nào, có phải là trong chia-lìa, mất-mát, đổ-vỡ, đau-thương không anh?

    Nô-En năm nay em có một quyết-định mới. Em bỏ gia-đình, em bỏ việc làm, em thử... tìm về Hư-Vô, một cõi sắc-không không-sắc – như anh đã có nghiên-cứu và nói là đã lĩnh-hội được rồi – vì cuộc đời quả là bể khổ, oái-oăm phi-lý quá, phải không anh? Cha+mẹ em ép buộc em phải kết-hôn với một người mà em không yêu. Thế là em đã có lý-do để thoát-ly gia-đình mà không làm cho ai đổ lỗi cho anh.

    Thời-hạn ba năm của lời thề xưa vẫn còn. Anh còn một năm để giải lời thề trước cây đa làng cũ. Anh còn một năm để thử-thách lòng anh. Em đã cố tình không viết một dòng chữ nào cho anh từ hai năm qua, trừ lời nhắn miệng với các người bạn mà anh nhờ gặp, rằng em trọn đời yêu anh và sẽ trung-thành với anh, cốt để giúp anh trắc-nghiệm tình anh. Nếu anh trở lại được, thì anh đi tìm em được; Tình Yêu sẽ hướng-dẫn anh. Nếu anh không tìm ra em, mà anh vẫn muốn tìm em, thì đêm Nô-En 1974 em sẽ chờ anh ở Nhà Thờ năm xưa; chậm lắm là vào 12 giờ khuya ngày 25, phút cuối cùng của thời-gian thử-thách, em sẽ chờ anh ở gốc cây đa.

    Ở gốc cây đa đó, em đã đón nhận nụ hôn đầu tiên của người khác phái, em đã trao anh nụ hôn đầu tiên của người con gái, là lần đầu tiên em ngây-ngất mê-ly, là lần đầu tiên em sẵn-sàng chết đi trong vòng tay siết chặt của người yêu. Ôi, nụ hôn ngọt-ngào như lời thề-nguyền buổi sáng mùa xuân cuộc đời, mà cũng là nụ hôn đắng-cay mùi vị chia-ly chúng mình dành cho nhau trước ngày anh xa em.

    Anh không sợ ma, em không sợ ma, nhưng hầu hết những người dân làng ở đây đều sợ ma. Nhờ họ sợ ma nên họ để yên cho chúng mình gặp nhau giữa khuya bên gốc cây đa nhiều đêm. Những lần ấy, anh có biết đâu, em lo sợ vô cùng: không phải là sợ có người biết được mối tình mà chúng mình giữ kín, mà là sợ Việt-Cộng tìm cách ám-hại anh, vì chúng đã hơn một lần muốn nhờ tay em...

    Bây giờ thì anh đã hiểu rồi đấy. Nụ hôn biểu-hiện lời thề. Ðời em chỉ hôn một người; người đó, trên đạo-lý, đã là chồng em.

    Em còn nhớ mấy câu Kinh Thánh mà anh đã giảng cho em: “Không được thề dối!” và “Không được phạm tội ngoại-tình!”; và: “Hễ ai ly-dị vợ mà không phải vì cớ vợ mình gian-dâm thì tức là khiến cho nàng ngoại-tình!” (Matthew 5:33, 27, 32)...

    Em không ngoại-tình, em không gian-dâm; em chỉ yêu một mình anh. Nếu không có anh thì em sẽ là hư-vô, vì đời trở nên hư-vô.

    Ðây cũng là một cuộc thử-thách tối-trọng và tối-hậu về phần em: do nơi anh, và do lời hẹn của anh, em sẽ trở về sống với hạnh-phúc trần-gian, hay sẽ tiếp-tục và vĩnh-viễn trở thành sắc-không...



    D.H.

    *

    – Và đây là mười hai bức thư của Sam; Diệu-Hương không ghé lấy từ mười hai tháng nay...

    Trời đã xế chiều. Tôi tranh-thủ mở đọc bức thư mới nhất của người thanh-niên đã từng một thời là Đại-Úy Sam:



    New York, December 1974

    Diệu-Hương, người yêu duy-nhất của anh:

    Cả ba năm nay em không viết thư cho anh. Anh chấp-nhận, vì đó là ý muốn của em mà em đã nói cho anh biết trước rồi; nhưng trong thâm-tâm anh bao giờ cũng mong ước và ngóng chờ thư em.

    Vậy mà giờ đây thì anh không còn trông đợi thư em nữa, em biết vì sao không?

    Ngay khi gặp em là anh yêu em. Ðồng-thời, sau khi đã ở Việt-Nam rồi, đã hiểu Việt-Nam rồi, là anh yêu luôn Ðất Nước và đồng-bào em.

    Anh về Hoa-Kỳ không phải chỉ để vận-động trở lại Việt-Nam với em mà thôi, mà là còn để nói lên tiếng nói của lương-tri, chống lại phong-trào phản-chiến, kêu gọi tinh-thần khử-bạo phù-nguy vốn là truyền-thống cao-đẹp của dân-tộc Hoa-Kỳ.

    Thế nhưng kết-quả ngược lại.

    Ma-quỷ đang hồi cực mạnh; người ta không nghe tiếng nói thống-thiết của những con người chính-trực như anh, thậm-chí bác đơn thỉnh-cầu của anh xin được một lần trở lại Việt-Nam.

    Và bây giờ thì nước Mỹ đã bỏ cuộc rồi.

    Anh còn mặt-mũi nào sống trên đời này mà làm người thua cuộc, hả em? nhất là trong cuộc tình của chúng mình mà hạn chót của lời thề đã đến rồi.

    Trong quá-khứ, nước Mỹ đã từng cứu Pháp, giúp Ðức, tiếp-trợ Âu-Tây, nâng Nhật-Bản, vớt Ðại-Hàn, che-chở Á-Ðông.

    Trong tương-lai, nước Mỹ chắc-chắn sẽ còn hành-hiệp cái-thế độ-nhân.

    Nhất-định mọi người sẽ phải xét lại thái-độ yếu hèn của ngày hôm nay.

    Riêng đối với em, anh đã giữ tròn danh-tiết cho em.

    Trong đêm cuối cùng, bên gốc cây đa, em đã lịm người trong vòng tay anh, phó mặc hoàn-toàn cho anh. Nhưng anh kính-trọng tinh-thần văn-hóa Ðông-Phương...

    Anh sẽ không để cho ai biết gì về mối tình vô-vọng của chúng mình.

    “Khối tình mang xuống tuyền-đài khôn tan...”

    Nếu còn có thoáng chốc nào em nhớ đến anh, thì xin em hãy tin rằng, đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình, anh vẫn chỉ biết một lòng yêu em.

    Tình Yêu ấy là sinh-khí cho hình-hài này, vốn là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất mà thôi.

    Xin cho linh-hồn anh được thanh-thoát, làm một Romeo, một Trương Chi...



    SAM

    *

    Thiếu-Tá Sơn, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh sở-tại, nãy giờ ghé mắt cùng đọc theo tôi, phát-biểu:

    – Như thế là cô Diệu-Hương đã tái xuất-hiện ở Nhà Thờ đêm qua, và sẽ có mặt ở gốc cây đa đêm nay...

    Tôi nghĩ: “Ðoạn cuối câu chuyện không thuộc nhiệm-vụ của mình. Mình chỉ tìm biết xem cô là ai, lâu nay làm gì, ở đâu; thế thôi”.

    Tôi bắt tay từ-giã Sơn:

    – Tất cả thư-từ, và những việc gì xảy ra đêm nay, về sau, hoàn-toàn để tùy bác Nam giải-quyết. Bây giờ thì tôi phải về; còn nhờ anh Hòa trong Quảng-Ngãi, anh Song trong Quảng-Tín, và anh Ðảm ngoài Thừa-Thiên, dĩ-nhiên là cả anh nữa, tìm xem cô đang tu ở chùa nào...

    *

    Ðà Nẵng, ngày 25 tháng 12 năm 1974

    PHIẾU TRÌNH

    Kính trình...

    tại SÀI-GÒN

    Tiếp theo công-điện số...

    Kính xác-nhận điện-trình sơ-khởi về việc...

    Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I xác-nhận chính Thiếu-Tướng Hoàng Văn Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, thừa lệnh Cấp Trên, với sự hướng-dẫn của trung-tá Quận-Trưởng Quận Đại-Lộc, đã dùng trực-thăng đưa hai người Mỹ liên-hệ đến Xã Lộc-Mỹ trưa ngày hôm nay, 25-12-1974.

    Hai người Mỹ ấy là đại-diện của một văn-phòng Chưởng-Khế Mỹ, thi-hành di-chúc của một người tên Sam.

    Theo di-chúc của Ông Sam thì sau khi ông tự-tử chết đi, thi-hài được thiêu thành tro, đem đến chôn ở hàng-rào của trường tiểu-học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam, Việt-Nam, ngay hướng mắt nhìn từ gốc cây đa vào khung cửa sổ Lớp Năm, giữa ngày Nô-En năm nay...

    Chúng tôi đã đến tận nơi tìm hiểu, được biết:

    Nguyên...

    *


    Sáng sau, tôi đang đọc lại bản lưu Phiếu Trình nói trên thì Sĩ-Quan Trực Phòng Tình-Hình báo-cáo rằng các Chánh Sở Ðặc-Cảnh các Tỉnh đã có mặt sẵn, đang chờ lệnh tôi trên máy điện-đàm.

    Thiếu-Tá Thái Văn Hòa của Tỉnh Quảng-Ngãi được tôi hỏi trước, trả lời:

    – Ở Tỉnh Quảng-Ngãi có chùa Thiên-Ấn và nhiều chùa khác, nhưng không có ni-cô nào giống với đối-tượng cần tìm...

    Thiếu-Tá Ðặng Văn Song, Chánh-Sở của Tỉnh Quảng-Tín, báo-cáo là chưa tìm ra.

    Chánh-Sở Trương Công Ðảm của Tỉnh Thừa-Thiên liền xin xác-nhận:

    – Ngoài này chúng tôi đã tìm ra được cô rồi.

    “Cô ở ngay Chùa Sư-Nữ nổi tiếng của Miền Trung. Tại đây, cô giấu lý-lịch; ngoại-trừ Sư-Bà trụ-trì, còn với người khác thì cô xưng một tên khác, nhưng thường chỉ dùng pháp-danh mà thôi. Cô không bao giờ tiếp-xúc với người ngoài chùa. Trước đây đã có nhiều người từ trong Ðại-Lộc ra tìm, nhiều lần mà không gặp được. Riêng ngày hôm kia, cô đã xin phép đi vào Quảng-Nam thăm nhà...”

    Tôi cám ơn các anh, rồi hỏi Thiếu-Tá Lâm Minh Sơn của Tỉnh Quảng-Nam tình-hình đêm qua thế nào.

    Sơn đáp:

    – Ðêm qua, chúng tôi không thấy Diệu-Hương đến gốc cây đa. Có lẽ cô đã nấp kín, cũng gần đâu đó mà thôi. Nhưng không thấy Sam xuất-hiện thì cô đến đó làm gì!

    “Còn bác Nam thì, vào lúc 12 giờ khuya, sau khi đốt xong bức thư của cô ở gốc cây đa, đã chôn luôn các bức thư của Sam vào chỗ đã chôn cái hộp mới được đưa đến từ nửa vòng trái đất bên kia...”



    LÊ XUÂN NHUẬN

    0
Reply
  • N
    nasg66 1 year ago

    Mình thử download truyện về để đọc như trước đây vẫn làm nhưng gần đây không
    tải về được nữa, xin admin cho biết làm sao có thể tải về như trước đưởc
    Cám ơn nhiều

    0
  • N
    nasg66 1 year ago

    Không phải là truyện nào cũng không tải được, cụ thể là mình muốn tải về bộ Anh
    Hùng Xạ Điêu của Kim Dung về đọc lại mà không tìm ra nút Download Epub.Cám
    ơn

    0
  • admin 1 year ago

    Những ebook không có nút Download Epub hay Download PDF chỉ đọc được trên vietmessenger.com

    Truyện Anh Hùng Xạ Điêu có 39 chương dạng chữ và 41 chương dạng hình cho nên không làm Epub hay PDF được.

    0
  • nasgbb 1 year ago

    Thì ra là vậy, cám ơn nhé

    0
Reply
  • O
    Opeth007 2 years ago

    http://prntscr.com/u8184f

    Đã allow flash rồi reload nhưng click vô nó im re à. thử trên 3 loại trình duyệt là
    chrome, ff, opera nhưng đều như nhau. Làm sao đây ?

    0
  • 2 years ago

    Chào Opeth007,

    vietmessenger không còn dùng Flash nữa

    Bạn chỉ cần Firefox hay Chrome mới nhất

    0
  • O
    Opeth007 2 years ago

    Cũng đang dùng chrome mới nhất đây, như trong hình đó. nhưng mà bấm vô không
    thấy gì. Có cần thêm thao tác nào khác không ạ?

    0
  • O
    Opeth007 2 years ago

    Cứ bấm vô truyện hay tài khoản người đăng là nó trở về trang chủ.

    0
  • 2 years ago

    Dịch vụ internet ở Việt Nam của bạn Opeth007 bị chặn.

    Bạn dùng dịch vụ internet khác sẽ mở sách được.

    0
Reply
  • lecdung 2 years ago

    Xin chỉ dẫn cách download xuống Android
    Tablet sách truyện cũa Lê Xuyên, Người Thứ
    Tám.. Hiện tại chỉ thấy hình bìa, có khi bắt đầu từ trang
    28-29 nhãy đến trang 56-57 không chừng..! Những
    sách dạng EPub hoặc Pdf thì perfect lẳm.
    Xin cám ơn những cống hiến vô vàng cũa quí
    bạn. Kính chào .

    0
  • 2 years ago

    Hiện giờ những sách ở dạng hình (scan) chỉ đọc được trên máy tính (PC/Mac)

    vietmessenger đang viết phần mềm cho iPhone/iPad và Android

    0
Reply
  • Blackcat 2 years ago

    Xin hướng dẫn dùm em đọc truyện trên android 9.2 ạ.

    0
  • 2 years ago

    android cũng như iphone, ipad. Đọc được tất cả truyện dạng epub và pdf.

    Chỉ trừ những ebook dạng Flash sẽ được update sau

    0
  • J
    jetlijilet123 2 years ago

    Hãy tải và cài đặt ứng dụng "ReadEra" từ Google Play Store.

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    Nước Trôi Mồ Mẹ

    Con quỳ bên ni dòng sông
    Bên tê mồ Mẹ !
    Trời ơi, nước ngập tràn đồng
    Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.
    Con mang trong người thịt xương của Mẹ
    Chừ trông nước lụt dâng về
    Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,
    Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô ?

    Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,
    Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.
    Nước dâng ngùn ngụt
    Cuốn mái tranh nghèo.
    Sóng cuộn mang theo
    Ngày vàng bên Mẹ.

    Con nhớ ngày xưa tiếng con thỏ thẻ
    Đòi đi theo Mẹ nhóm buổi chợ làng.
    Mẹ dắt tay con qua xóm, hoa vàng
    Nở tươi bờ dậu.
    Con kêu : - "Mẹ ơi, tưởng đàn bướm đậu"
    Mẹ cười, bóp chặt tay con.

    Con nhớ những lối đường mòn
    Trâu bò qua lại.
    Buổi chiều đơn sơ, lũy tre nằm ôm nắng quái,
    Con đùa với bóng cau nghiêng.
    Mẹ la : - "Coi chừng tối ngủ không yên,
    Giật mình con khóc, bà Tiên bả buồn...".

    Con nhớ những mùa mưa tuôn
    Gió đông kéo về lạnh buốt.
    Trong lòng Mẹ, con nằm co rút,
    Mẹ chuyền hơi ấm tình thương
    Con mê giấc ngủ đêm trường, Mẹ vui.

    Con nhớ dòng sông êm xuôi
    Trôi về Phố Hội.
    Giặt áo bên con Mẹ ngồi mỗi tối,
    Con nhìn cá đớp trăng sao.
    Mỗi lần sao chuyển ngôi cao
    Con đưa ngực nhỏ, sao vào hồn thơ.
    Nhìn con, mắt Mẹ đầy mơ
    Con đòi Mẹ cõng, hờ ơ... Mẹ hò.

    Chừ con về : nước lũ, sóng to
    Xoáy cửa, phăng nhà,
    Xốc trôi mồ Mẹ !
    Xương theo dòng sông ngày xưa ra bể
    Vì chưng lòng Mẹ : đại dương !
    Mẹ sống lầm than cho con tình thương
    Chừ Mẹ chết đi, mồ trôi nước lụt.
    Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt
    Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi !

    Quê hương nước ngập tận trời
    Hồn con khóc suốt một đời không nguôi !...

    HOÀNG PHONG LINH
    Võ Đại Tôn



    Flood Drifted Mom’s Grave

    I knelt on this of the river side,
    Mom’s grave was on the other over the tide!
    Alas! Water being submerging all the field to destroy,
    Each piece of bone floated in the flood pained this boy.
    I have got in my body some Mom’s bone and blood.
    Now having to watch the surging flood,
    I was still alive here, Mom already dead over there!
    The surf was immense, but were you anywhere?

    In the past You passed away I cried with eyes dry,
    Now Your bones were drifting, my soul the rising high.
    The water upheaved batch after batch
    Sweeping away the poor thatch;
    It also swirled away
    By-Mom’s-side so golden each day.

    I remembered the time when I supplicated
    To follow you to the village market, I duplicated;
    You took my hand leading me to the hamlet thence
    The yellow flowers bloomed freshly along the fence;
    I exclaimed, “Mom, they’re butterflies in a dreamland.”
    Mom smiled squeezing my hand.

    I remembered the pathways
    Buffaloes and cows came and went always.
    One afternoon, the bamboo rows, the sun running low,
    I played with the slant areca shadow,
    Mom lectured me, “Mind your sleep could not be eased,
    Startled you’d cry and the Fairy would be displeased.”

    I remembered the rainy seasons when
    The winter winds came back so cold wherein
    Encircled in your arms I lay cowering,
    You conveyed your warmth of love towering
    For my sleep to get sound, you satisfied in your profound.

    I remembered the smooth river to cool down
    Flowing to the renowned Hội An Town;
    You washed the clothes each evening without variations,
    I watched the fish snap the moon and constellations;
    Each time a star moved to a higher location
    I thrust out my chest so it enters my childish inspiration.
    Beholding me your eyes seemed dreaming in the sky;
    I wanted to be carried on your back, you did with a lullaby.

    At present I had returned: torrential waters, huge waves
    Swirled doors, whirled homes, swiped caves;
    The flood swept away my Mom’s grave! How to crave!
    Mom’s bones made the old stream-drifts-to-sea motion
    Because your heart itself is the ocean!
    You lived a miserable life to give me your love,
    Now you had died; I was kneeling as a mourning-dove
    On this side; your grave drifted; my nippy soul died.
    Oh Mom! How to get over to the other side!

    My Motherland is submerged — What damnation!
    My crying in my mind all life could not get alleviation!

    Translation by THANH-THANH

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    NGƯỜI BẠN ĐỒNG-MINH &

    TÒA TỔNG-LÃNH-SỰ HOA-KÌ VÙNG I





    TRONG suốt thời-gian từ Hiệp-Ðịnh Geneva 1954 đến Hiệp-Ðịnh Paris 1973, nhất là từ 1962 đến 1975, đã có khoảng vài chục người Mĩ làm (Sĩ-Quan Liên-Lạc, Cố-Vấn, Phối-Trí-Viên, rồi) Người Bạn Đồng-Minh cho tôi: đa-số họ là viên-chức cơ-quan Tình-Báo Trung-Ương Hoa-Kì (CIA).

    Mỗi người đều có những đặc-điểm nào đó, phần lớn là tốt, về mặt công-tác chung, hoặc về mặt quan-hệ hợp-tác giữa hai bên.



    Tôi biết rằng đa-số viên-chức tình-báo Mĩ đều mang tên giả; nhưng, người nào đã có một vai trò, một chỗ đứng, thì đều cần có một cái tên, để phân-biệt kẻ khác với mình.

    Tuy nhiên, người đã đẩy tôi vào một cuộc chiến-đấu gay-gắt, cùng một lúc với cả ba kẻ thù theo nguyên-tắc tình-báo ─ đối-phương, công-chúng, và đồng-nghiệp ─ lại là một trong các Người Bạn Ðồng-Minh hậu-chiến của tôi, trong một năm rưỡi tôi được Trung-Ương đưa trở về Miền Trung, cũng là giai-đoạn lịch-sử cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa. Dù sao, anh bạn này cũng đã ghi lại một dấu ấn sâu-đậm trong trí nhớ của tôi.

    Người đó là Đại-Tá Kenneth D. Ferguson.

    *

    Món quà đầu tiên mà Ferguson tặng tôi là việc anh bí-mật điều-tra về liên-hệ gia-đình của tôi. (Xem bài “Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình”)

    Sau đó, anh cởi-mở và tận-tụy với tôi hơn bao giờ.

    Nhưng cũng từ đó tôi phải khổ nhọc với công-vụ hơn bao giờ, vì phải đương-đầu nhiều hơn với cả khách ngoài ngành cũng như bạn trong nghề, trong lúc còn phải đối-phó với quân thù cả đằng trước mặt lẫn đằng sau lưng.

    *

    Sau khi đã trắc-nghiệm cả về mặt liên-hệ gia-đình với cộng-sản lẫn về mặt công-tác tình-báo chuyên-môn, cũng như chính tôi tự chứng-tỏ kiến-thức, năng-lực, kinh-nghiệm và sáng-kiến của mình, đóng-góp hữu-hiệu trong công-cuộc chống-Cộng và Bình-Định & Phát-Triển chung, tôi thấy Người Bạn Đồng-Minh và cả Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kì tại Vùng I đã hoàn-toàn tin-tưởng và triệt-để yểm-trợ tôi.



    Ngoài những điểm tôi phản-đối họ (Xem bài “Tòa Tổng-Lãnh-Sự Mĩ”), tôi còn giúp họ một tay trong việc giản-tiện-hóa hoạt-động và cả bảo-vệ uy-tín cho chính họ nữa.



    *

    CHƯƠNG-TRÌNH ÁO XANH



    Từ năm 1974 qua đến tháng 3-1975, giai-đoạn cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa, có nhiều tổ-chức tư-nhân Hoa-Kì, tôn-giáo và xã-hội, đã đến Miền Trung, đặc-biệt là Đà-Nẵng, trực-tiếp giúp-đỡ người dân địa-phương, từ các Tỉnh khác trốn chạy cộng-sản di-tản đến. Nổi bật trong các nỗ-lực ấy là Chương-Trình “Áo Xanh”, tuyển-dụng người thất-nghiệp đi hốt rác, vét mương, sơn tường, trồng cây, v.v... tức là tạo ra việc làm, dù không cấp-thiết, để trả lương cho họ sống; cũng như phân-phát miễn-phí áo-quần, dụng-cụ, thuốc-men và thực-phẩm định-kỳ cho các gia-đình túng nghèo.

    Đương-nhiên Mĩ phải nhờ đến trung-gian là người Việt-Nam, nên sinh ra lạm-dụng, gian-lận, bè-phái, bất-công, bất-bình.



    Có lần một nhóm cực-đoan đã tổ-chức một cuộc xuống-đường lớn, đông nghẹt trước cổng Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kì, vừa công-kích gắt-gao vừa đưa yêu-sách này kia.

    Nhờ tôi biết trước nên một mặt chỉ-thị cho Đặc-Cảnh Đà-Nẵng thu-thập bằng-chứng chứng-tỏ là bọn phá-rối mượn cớ để sách-động đám đông ─ cũng như cả chục Liên-Minh, Mặt Trận, Lực-Lượng, Phong-Trào, Tổ-Chức, Tập-Hợp, Đảng, Phái, Hội, Đoàn, v.v... họp+hành liên-miên ─ chứ các nhân-vật từ-tâm cũng như đại-diện của Tòa TLS Mĩ thì chỉ có thiện-chí và vô-tư mà thôi; mặt khác tôi báo cho họ biết trước, nên khi Tòa TLS bị biểu-tình bao vây, phóng-viên các Hãng/Đài truyền-thông Mĩ phỏng-vấn, phát-ngôn-viên của Tòa đã trả lời trôi-chảy, không bị Cấp Trên hay độc/khán/thính-giả Radio/TV chê trách điều gì.



    MANG VŨ-KHÍ VÀ LƯU-THÔNG BAN ÐÊM



    Tôi đã cấp “Giấy Giới-Thiệu” cho một số nhân-viên của Người Bạn Đồng-Minh, xem như phái-viên của Đặc-Cảnh, để họ đi tiếp-xúc với các đối-tượng của họ dễ-dàng hơn.

    Tôi đã xin Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I cấp “Giấy Phép Mang Vũ-Khí” cho một số cộng-tác-viên của họ, để tự-vệ khi đi hoạt-động ở vùng nông-thôn.

    Tôi cũng đã liều-lĩnh xin Đại-Tá Lộc kí các “Giấy Phép Lưu-Thông Ban Đêm” cho một số xe-hơi của họ ─ mặc dù theo nguyên-tắc thì chỉ có Sĩ-Quan Quân-Trấn-Trưởng được Tư-Lệnh Quân-Khu ủy-nhiệm mới có quyền đó trong thời-gian thiết quân-luật hoặc trong giờ giới-nghiêm ban đêm.

    V.v...



    XÂM-NHẬP VÀO NỘI-BỘ CỘNG-SẢN BA-LAN VÀ HUNG-GIA-LỢI



    Đáp lại, Người Bạn Đồng-Minh cũng đã dành nhiều ưu-tiên cho tôi trong các hoạt-động hằng ngày.

    Quan-trọng hơn hết là các công-tác của tôi, móc-nối, tuyển-mộ thành-viên cộng-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát & Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS) làm nội-tuyến cho ta ─ không thuộc nhiệm-vụ của CSQG/CSĐB hay của bất-cứ cơ-quan tình-báo dân-sự hay quân-sự nào của VNCH, mà chỉ do cá-nhân tôi khởi-xướng ─ thực-hiện thành-công, và chuyển-giao cho Người Bạn Đồng-Minh tiếp-tục khai-dụng bên trong hàng-ngũ Đảng, Nhà Nước, và Bộ-Đội của họ sau khi họ về nước, nằm vùng cho Thế-Giới Tự-Do trong Khối Cộng-Sản Đông-Âu , mà kết-quả là Khối Cộng-Sản Đông-Âu tan-rã, góp phần đưa đến sự sụp đổ của cả toàn Khối Liên-Xô (Xem cuốn hồi-kí “Cảnh-Sát-Hóa” và cuốn “Cộng-Sản Đông-Âu” của Lê Xuân Nhuận sắp ấn-hành).



    Họ trả tiền điện, tiền dùng điện-thoại Bưu-Điện, tiền xăng, và các chi-phí linh-tinh mà phía Việt-Nam không cung-ứng đủ cho tôi, nhất là chi-phí tình-báo.

    Họ thỏa-mãn ngay nhu-cầu của tôi di-chuyển bằng phi-cơ Air America, dù là vào ngày lễ nghỉ và chỉ sử-dụng một mình bất-cứ đi đâu và đi bao lâu (trả tiền phi-công rất cao); họ dành cho tôi quyền kí các phiếu trưng-vận phi-cơ Air America, cho bất-cứ người nào, được uu-tiên đáp các chuyến bay thường ngày.

    Và tôi được quyền sử-dụng Phòng Khách đặc-biệt tại trạm hàng-không; mỗi khi tôi đến là viên kĩ-sư Trưỏng Trạm người Phi-Luật-Tân giao ngay chìa-khóa vào phòng VIP cho tôi.

    Họ dành ưu-tiên một chỗ cho tống-thư-viên của tôi trên bất-cứ chuyến bay nào đi/về Sài-Gòn hay các Tỉnh trong Vùng.

    Họ giúp cho tôi bí-mật sử-dụng một số nhân-viên của Hãng-Thầu Mĩ (cung-cấp khách-sạn, tài-xế, lao-công, và các dịch-vụ ẩm-thực, vệ-sinh, v.v...) để làm tay-trong cho Ngành Đặc-Cảnh của tôi.

    Họ cũng tổ-chức những buổi tiệc-tùng chiêu-đãi hầu hết mọi giới tai-mắt tại địa-phương, nhưng cốt ý là để cho tôi có cơ-hội tiếp-xúc với các sĩ-quan cao-cấp Trưởng Phái-Đoàn trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS), nhất là cộng-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi...



    Trước khi tôi đến làm Giám-Đốc Ngành Ðặc-Biệt Vùng I , chỉ có chưa đầy $4,000.00 chi-phí mà Người Bạn Đồng-Minh hết đòi biên-nhận lại hỏi chứng-từ.

    Với tôi, họ đã ứng trước một số tiền lón, bao giờ tiêu hết thì lại lấy thêm, tùy tôi quyết-định mỗi việc là bao nhiêu tiền.

    Phụ-Tá cho tôi là Thiếu-Tá Ngô Phi Đạm [hiện ở Silver Spring, Maryland, USA].

    Tôi giao cho Đại-Úy Phạm Khả [hiện ở Bloomington, Illinois, USA], Chủ-Sự Phòng Điều-Hợp, kết-toán với Văn-Phòng NBĐM.

    Mỗi tháng tôi tiêu trên $400,000.00, nhiều hơn trăm lần so với trước kia, chưa kể các khoản đặc-biệt.

    (Tất-nhiên các điệp-vụ của tôi đánh vào Ba Lan và Hung Gia Lợi đã có kết-quả như-í nên họ mới chấp-nhận cho tôi tiêu tiền thả giàn như trên.)

    (Tôi có nhân dịp giúp cho một số anh+em hữu-công, mỗi người mỗi tháng từ $1,000.00 lên đến $10,000.00.

    Nhưng tôi không lấy cho mình một xu nào. Phạm Khả trả tiền thuê nhà cho tôi mỗi tháng $20,000.00, trong lúc Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, Chuẩn-Trướng Huỳnh Thới Tây, cho tôi mỗi tháng $20,000.00 để trả tiền thuê nhà ─ hẳn cũng là tiền lấy của NBĐM, nên tôi tự cho là đã có nhận $20,000.00 rồi ─ mặc dù lấy thêm tôi tin là họ vẫn sẽ sẵn lòng.)

    *

    NỖ-LỰC CUỐI-CÙNG



    Tiếp theo mấy Tỉnh ở Cao-Nguyên, tất cả các Tỉnh ở Vùng I cũng mất luôn.



    Dân, chính, công, quân, từ các Tỉnh thất-thểu kéo về Thị-Xã Đà-Nẵng chật đường.

    Nhũng kẻ có súng tha-hồ phá-phách, cướp của, hiếp-dâm, giết người.

    Số-phận của Quân-Khu I chỉ còn trông cậy vào tình-hình an-ninh trật-tự tại hậu-cứ duy-nhất này.

    Đối với tôi, vận-mệnh của bất-cứ yếu-điểm nào cũng tùy-thuộc vào quyết-định của Hoa-Kì.

    Liệu Hoa-Kì có cố-thủ, hay sẽ bỏ rơi Đà-Nẵng, và...?

    *

    Như có linh-tính báo trước, tôi đã thực-hiện một chuyến đi quan-sát, chụp hình để làm kỉ-niệm, từ bên này sông Thạch-Hãn (sau khi đã mất từ sông Bến Hai vào đây) cho đến giáp ranh Sa-Huỳnh Bồng-Sơn (Quân-Khu I ─ Quân-Khu II), vừa kịp trước khi quân ta rút lui khỏi các nơi này.

    Tiếp đó, tôi cũng sợ, nếu mất Quân-Khu I thì tôi không còn có dịp gặp lại Người Bạn Đồng-Minh rất thân này của tôi, cho nên vào ngày 27-3-1975, tôi đã quyết-định gặp riêng, đề-cập với Người Bạn Đồng-Minh của mình một số vấn-đề thời-sự tế-nhị liên-quan đến chính-sách của Hoa-Kì về Việt-Nam.


    Như để tỏ ra là anh chỉ chú-trọng đến việc chống Cộng mà thôi, Ferguson mở đầu bằng lời khen tôi đã có sáng-kiến và đã thành-công trong việc móc-nối tuyển-dụng các thành-viên cao-cấp trong hai Phái-Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi làm nội-tuyến cho ta.

    Đó là những công-tác gián-điệp ở tầm-vóc quốc-tế (chỉ có tôi ở Vùng I đề-xướng và thực-hành.)

    Các mật-viên của tôi đã tiếp-tục cộng-tác với các chuyên-viên Hoa-Kì, và một số, về nước trước, đã bắt được liên-lạc và bắt đầu làm việc tại chỗ với các Trưởng Lưới tình-báo của Thế-Giới Tự Do.

    *

    Furguson chỉ là một cá-nhân, mà cá-nhân nào thì cũng có cả dở lẫn hay. Anh lại là người Mĩ, mà người Mĩ nào thì cũng có tự-do suy-nghĩ khác người.

    Anh không đại-diện cho chính-quyền Mĩ, nhưng anh hiển-nhiên có biết ít nhiều nhận-định kín-đáo trong nội-bộ người Mĩ về tình-thế nói chung và các nhân-vật lãnh-đạo nói riêng của nước Việt-Nam Cộng-Hòa này.



    Tôi đi ngay vào vấn-đề:

    − Anh với tôi đều làm chung một việc, gồm có hai phần − tình-báo và hành-động − nhắm chung vào một mục-tiêu; ấy là cộng-sản, kẻ thù chung. Nhưng, thật ra, cả anh lẫn tôi đều có ít nhất là một mục-tiêu thứ hai, mà hai chúng ta giấu nhau; ấy là thành-phần thứ ba, đối-lập hoặc nằm ngoài thành-phần đương-quyền...

    Trong lúc Ferguson chưa kịp xác-nhận hay phủ-nhận, tôi nói thêm:

    − Về phía Việt-Nam thì anh biết rồi. Chính-quyền xem như những kẻ đối-lập cũng là kẻ thù. Ngành Đặc-Cảnh nhiều lúc đã bị sử-dụng để phục-vụ riêng cho những kẻ cầm quyền. Do đó, ở phần hành-động, Ngành Đặc-Cảnh phải đứng về phía đương-quyền. Các cơ-quan an-ninh tình-báo là công-cụ bảo-vệ chế-độ; mà chế-độ, theo họ, thì không phải là chính-thể hay hiến-pháp, mà là tập-đoàn tại-quyền.

    Nói chung là họ muốn mãi mãi được quyền lãnh-đạo quốc-dân. Thế thì mục-đích đã khác đi rồi, nhất là khác với lập-trường của Hoa-Kì và các nước Tụ-Do. Phải thế không, anh?


    Bạn tôi gật đầu; tôi nói tiếp:

    − Còn người Mĩ thì vừa giúp các nhà đương-quyền chống Cộng, vừa tìm các tiềm-năng nhân-sự mới, để nếu cần thì thay-thế, hầu mỗi ngày mỗi có những nhà lãnh-đạo tài+đức hơn...

    Ferguson vói một tay vỗ lên và bóp nhẹ trên vai tôi.



    Hồi đó, không có người nào là không thấy được sự bấp-bênh của tình-hình.

    Đã chấm dứt chiến-tranh, đã có Ủy-Hội Quốc-Tế, nhưng cộng-sản lại đánh phá mạnh hơn; dân quê vẫn chết-chóc, đói-khổ; và Quân-Lực Quốc-Gia thì thiếu đạn+bom.

    Sản-lượng ít-oi; viện-trợ Mĩ nuôi sống Nền Cộng-Hòa thì đến nay đã giảm nhiều. Đời sống khó-khăn; công-chức và quân-nhân không sống đủ với đồng lương. Công-luận bị lèo-lái theo ý muốn của đối-lập nếu không là cộng-phỉ và cộng-nô.

    Giữa phản-chiến và phản-chính không có biên-cương.

    Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu bị phần lớn báo-chí chỉ-trích, đa-số hội-đoàn phản-đối, và các phần-tử bất-mãn tẩy chay.

    Người ta cũng quy-trách cho cả Hoa-Kì.

    Tôi kéo bàn tay của viên đại-tá CIA bạn tôi ra trước mắt, vuốt ngược những sợi lông dày và cứng trên mu:

    − Báo-chí Việt-Nam gọi người Mĩ là những “bàn tay lông-lá”.

    − Tôi biết.



    Chính-khách Ngô Đình Diệm là người đầu tiên mở trang sử chính-thức và công-khai quan-hệ với Hoa-Kì, nên tôi bắt đầu về Ông Diệm trước. Tôi hỏi thẳng:

    − Anh nghĩ thế nào về cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm?

    − Anh nói trước đi!

    Ferguson đẩy tôi đi trước. Cũng như nhiều người Mĩ khác, anh muốn tỏ ra là mình không can-thiệp vào việc nội-bộ của nước người. Tôi bèn dò í:

    − Hoa-Kì không muốn giết Diệm. Nhưng điều chắc-chắn là Hoa-Kì không muốn chế-độ Diệm kèm thêm Nhu tồn-tại lâu hơn. Kì-thị tôn-giáo là một trong nhiều nguyên-nhân, tuy chỉ nội một cái nguyên-nhân ấy cũng đã đủ sức thuyết-phục để Quân-Lực phải ra tay...

    − Còn những nguyên-nhân nào nữa?

    − Diệm đánh hỏng những giá-trị tinh-thần của Mĩ mà Hoa-Kì muốn Diệm là biểu-trưng...

    − Những giá-trị nào được xét ở đây?

    − Căn-bản là các quyền tự-do ghi trong Tu-Chính-Án số 1 của Hiến-Pháp Hoa-Kì―ngôn-luận, báo-chí, tín-ngưỡng, hội-họp ôn-hòa, đạo-đạt ý dân − mà Diệm khinh thường. Diệm tự cho mình cao hơn Hiến-Pháp (“Đằng sau hiến-pháp, còn có tôi!”).

    − Gì nữa?

    − Diệm phá vỡ kế-hoạch của Mĩ thành-lập Liên-Bang Đông-Dương và Liên-Phòng Đông-Bắc Á-Châu. Và Diệm hầu như suýt dâng nốt Miền Nam Việt-Nam cho cộng-sản: Ổng mưu-toan thỏa-hiệp với Bắc-Việt, lúc ấy là một khối chính-trị và quân-sự to lớn, thống-nhất và ngoan-cường bội phần hơn Miền Nam, có thừa thủ-đoạn và khả-năng tiêu-diệt thành-phần Quốc-Gia. Ổng muốn trở lại với Pháp; ổng muốn lạnh nhạt với Mĩ, trong lúc đối-ngoại thì mọi việc đều nhờ Mĩ đỡ đầu, đối-nội thì nền kinh-tế còn phôi-thai, cả guồng máy chính-quyền, trị-an và quốc-phòng, v.v... đều sống nhờ vào viện-trợ của Hoa-Kì...


    − Anh nghĩ thế nào về cái chết của Diệm?

    − Ô hay, tôi định hỏi anh thì anh đã hỏi ngược lại tôi.

    Chúng tôi nhìn nhau rồi cả hai cùng cười. Tôi nói:

    − Diệm tự giết mình!



    Ferguson trố mắt nhìn tôi xem tôi có nói đùa hay không.

    Tôi giải-thích thêm:

    − Về mặt sự-việc: Cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, dù muốn dù không, cũng đã trở thành một con hổ dữ. Hé một lời-nói, lộ một cử-chỉ mà vây-cánh ổng cho là phạm-thượng thì khó mà thoát khỏi bàn tay tàn-độc của thủ-hạ ổng. Huống gì, lật đổ ổng, lùng rượt ổng, bắt trói ổng... Tôi kính-trọng Diệm, tôi không tán-đồng việc giết Diệm, tôi phản-đối cách giết Diệm; nhưng tôi thông-cảm tình-cảnh của những kẻ đã cỡi lên đầu hổ rồi. Giết hổ hay hổ giết mình. Có thể xem như “tự-vệ” mà thôi.


    − Còn mặt nào nữa?

    − Về mặt tinh-thần:

    “Thứ nhất: Diệm chịu ảnh-hưởng Đạo Nho, muốn mình “tiết trực, tâm hư”. Nhưng Đạo Nho lấy “trung-quân” làm trọng; mà Diệm thì không chịu làm một bề-tôi lương-đống, đã phản-bội Bảo Đại để lên làm Nguyên-Thủ Quốc-Gia, tức đã phạm tội bất-trung với vua. Thế là Nho-Giáo không dung.

    “Thứ hai: Diệm lật đổ Bảo Đại vì Bảo Đại bất-tài. Điều đó đúng; tức Diệm thực-thi chủ-nghĩa duy-ích, một thứ đạo-đức mới. Nhưng học-thuyết vị-lợi ấy chủ-trương nhân danh đa-số, để làm điều có ích lợi chung. Trong lúc đó, áp-dụng chủ-nghĩa thực-dụng cho thiểu-số phe mình mà thôi, chính Diệm cũng đã biết trước là sẽ lâm-nguy. Ổng nói: ‘Tôi chết thì trả thù cho tôi!’ Nếu chết tự-nhiên thì tại sao lại phải trả thù? Và Diệm cũng đã nêu lên tiền-lệ: mình truất ngôi người này được, thì kẻ khác cũng lại hất cẳng mình được, chứ sao! Các tướng chỉ noi gương ổng mà thôi! Đó là quy-luật sinh-tồn! Thế là đạo-đức mới cũng quật lại ổng.

    “Thứ ba: Diệm là tín-đồ Đạo Kitô. Theo Đạo ấy thì, “Satan là Chúa của đời này” (2 Cor 4:4). Chính “Đức Jesus cũng gọi Quỷ Satan là vua, chúa (kẻ thống-trị, bá-chủ) của thế-gian này” (John 12:31) và Thánh-Kinh xác-nhận “Cả thế-gian đều phục dưới quyền ma-quỷ, đều nằm trong tay ma quỷ (cả thế-giới đều ở dưới quyền thống-trị của Quỷ-vương)” (1 John 5:19). Với tư-cách chủ-nhân-ông của cả thế-giới loài người, “Satan đem Đức Jesus lên đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy các nước vinh-quang rực-rỡ khắp thế-giới, quyến-rũ Ngài rằng: Ngươi chỉ cần quỳ gối thờ lạy ta, là ta sẽ cho ngươi làm chủ tất cả thế-gian này!” (Matt 4:8,9). Đức Jesus từ-chối; Ngài cầu-nguyện Đức Chúa Trời: “Con đã rao truyền lời Cha cho các tín-đồ, nên người đời thù ghét họ, vì họ không thuộc về thế-gian, cũng như Con không thuộc về thế-gian” (John 17:14). Lời Đức Chúa Trời kể rằng: “Các vua thế-gian nổi dậy, các lãnh-tụ bàn nghị cùng nhau, âm-mưu đối đầu với Jehovah Đức Chúa Trời và nghịch với Đức Jesus là Đấng chịu xức dầu của Ngài” (Ps 2:2). Do đó, Chúa dạy: “Chớ yêu thế-gian, cũng đừng yêu (quyền-hành, danh-vọng, lợi-lộc) bất-cứ những gì thuộc về thế-gian” (1 John 2:15-17). Thánh-Kinh giảng thêm: “Kết bạn với kẻ thù của Đức Chúa Trời tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời; kẻ thù đó là thế-gian” (Jas 4:4). Ngay chính trong giới tín-đồ của mình, khi “Đức Jesus thấy họ sắp tạo áp-lực đưa Ngài lên làm vua, Ngài liền bỏ đi lên núi ở một mình” (John 6:15), không chịu làm vua ở thế-gian. Nói chung, ngày nào mà Đấng Cứu-Thế chưa tái-lâm (chưa tận-thế), thì ngày đó “Cả thiên-hạ (toàn thể thế-giới loài người) còn bị Quỷ-vương hay Satan lừa dối, dỗ dành”(Rev 12:9), “làm mờ tối tâm trí (mù lòng)” (2 Cor 4:4), và “kẻ thù của Đức Chúa Trời” (Jas 4:4) là “các vua thế-gian” (Ps 2:2).

    Tóm lại, tín-đồ Đạo Chúa là người không thuộc về thế-gian; mà Diệm làm Tổng-Thống tức là làm một vua ở thế-gian, dưới quyền của Quỷ Satan, và chống lại Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Đạo Chúa cấm đoán mọi Đạo khác, theo các Điều Răn thứ 1 và thứ 2 của Đức Chúa Trời: “Các ngươi không được thờ thần nào khác, ngoài Ta; không được khắc hình tượng-trưng cho bất-cứ cái gì trên cõi đời này; không được thờ-phụng chúng” (Ex 20:3-5). Thế mà Diệm còn tôn sùng giáo-lí Đức Khổng, dùng hình khóm trúc làm biểu-hiệu cho tinh-thần Nho-Giáo của mình, khắc vào ấn-tín của mình và của cả Quốc-Gia. Thế là Thiên-Chúa-Giáo cũng không dung. “Quân thù trồng rặt loại nho lấy giống từ vườn Sô Đôm với đất từ đồng Gô Mo; trái đắng và chua, làm thành rượu độc nọc rắn”. Tất-nhiên Đức Chúa Trời phải “ganh tỵ” (Zec 1:14), vì Chúa là Chúa “phân bì” (De 32:16; PS 78:58), “động lòng ghen” (Zec 1:14), nên Chúa phải trừng-trị, phải trả thù: “Báo thù là việc của ta, Ta làm cho chúng ngã nhào, tai-họa ào đến tức-thời” (Deut 32:32-35)...”



    Ferguson ngẫm-nghĩ một lát rồi dò-dẫm hỏi tôi:

    − Chuyện đã qua rồi, phải không?

    − Cái đó còn tùy. Nhưng có vài điều đáng nói:

    “Thứ nhất, Diệm phản Bảo Đại thì Diệm vẫn còn mắc nợ Bảo Đại, vì Bảo Đại dùng Diệm mà Diệm không giúp ích gì cho Bảo Đại; nhưng các Tướng lật Diệm thì Diệm vẫn còn mang ơn các Tướng, vì Diệm dùng các Tướng thì các Tướng đã liều thân xông pha trận-tiền, đánh dẹp các giáo-phái, bình-định xứ-sở, ổn-định tình-hình cho chế-độ Diệm vững an.

    “Thứ hai, nếu Diệm có đức, có tài, thì đó là thuộc-tính của một người, không nhất-thiết có nghĩa là mọi người khác đều tầm-thường mọi mặt, và không phải bất-cứ đồ-đệ nào còn sót lại của Diệm cũng xứng-đáng lên làm lãnh-tụ quốc dân...”



    Nghĩ rằng chừng đó đã đủ, tôi hỏi qua chuyện mới:

    − Anh nghĩ thế nào về Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu?

    − Cũng xin nhường anh!

    Thế là Ferguson lại đẩy tôi đi trước nữa.

    Tôi thấy cần phải rào-đón phần mình trước tiên:

    − Chắc anh đã biết là tôi đối-lập với Thiệu. Nhưng tôi chỉ chống tính-cách quân-phiệt, tôi chỉ phản-đối việc quân-cách-hóa Chính-Quyền, nhất là với Cảnh-Lực; tôi đòi-hỏi thực-thi Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa, là một quốc-sách tối-thượng mà Hoa-Kì tặng cho để làm sách-lược hậu-chiến, nhưng Thiệu xếp bỏ không dùng. Trong việc chống Thiệu, tôi khác người ta.

    − Người ta chống Thiệu thế nào?



    Tôi thấy là Ferguson đang “moi tin” tôi, nhưng tôi cũng thử dò đường:

    − “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” thì có đông-đảo quần-chúng, là giới Phật-tử chiếm trên chín mươi phần trăm dân-số, có sẵn ứng-viên lí-tưởng vào chức-vụ Tổng-Thống, là Dương Văn Minh. Nếu là ứng-viên dân-sự thì khó lòng được lòng mọi Tướng, nhưng Minh là đại-tướng. Minh hòa-hoãn với cộng-sản, và Hà-Nội đã bắn tiếng chỉ nói chuyện với Minh. Đa-số đã chán chiến-tranh, lại ngán cộng-sản, nên đặt hi-vọng vào Minh. Nhưng Lực-Lượng này không bạo-động, và chỉ chờ-đợi đến kì bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm nay mà thôi...

    − Anh cứ nói đi!



    − “Đại-Việt Cách-Mạng Đảng” là một chính-đảng có nhiều đảng-viên nhất, lại được tổ-chức chặt-chẽ. Họ có nhiều đảng-viên giữ các chức-vụ trọng-yếu trong Chính-Quyền. Họ có thực-lực chính-trị. Lãnh-tụ của Đảng là Hà Thúc Ký nặng ký hơn Thiệu trong cuộc chạy đua giành phiếu nay mai. Tuy thế, có nhiều đảng-viên có thể bầu Minh.

    − Xin nói tiếp đi!



    − “Việt-Nam Quốc-Dân Đảng” là một chính-đảng kì-cựu, có thời mạnh hơn Việt-Minh tức Cộng-Sản Việt-Nam. Sau này phân-hóa thành nhiều hệ-phái, phải đứng chung với “Đảng Dân-Chủ” của Thiệu trong một Liên-Minh. Hiện Vũ Hồng Khanh, một lãnh-tụ chính-trị mà Hồ Chí Minh đã phải nài-nỉ mời đồng kí tên ngang hàng với mình trong bản thỏa-hiệp thành-lập chính-phủ Quốc+Cộng liên-hiệp vào năm 1946, đang nỗ-lực thống-nhất lại đảng này. Mục đích của họ là phục-hồi uy-tín và địa-vị của Đảng cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài. Họ không hoàn-toàn đồng-minh với Thiệu, nhưng nhiều đảng-viên cũng có thể chọn Minh.

    − Còn các tổ-chức khác nữa?



    − “Phong-Trào Quốc-Gia Cấp-Tiến” dựa vào các nhà khoa-bảng và giới học-thức trẻ. Họ muốn cải-cách kinh-tế là huyết-mạch của quốc-dân, vì cho rằng nhà cầm quyền hầu như bất-chấp cán cân mậu-dịch và vấn-đề cung cầu...

    “Các đoàn-thể khác nói chung thì chỉ đưa ra một vài í-kiến mới, nhằm mục-đích trình-diện một vài nhân-vật tranh-đấu cấp địa-phương, nhắm ghế Quốc-Hội hoặc Hội-Đồng Tỉnh, Thị.

    “Một số phần-tử nặng tinh-thần dân-tộc thì cho là Thiệu quá lệ-thuộc Hoa-Kì.

    “Còn trên bình-diện cá-nhân thì phần đông chống Thiệu theo kiểu trưng-diện một món thời-trang, sợ không đối-lập thì bị xem là lỗi-thời!”



    Ferguson cùng cười theo tôi.

    Lát sau, anh dè dặt:

    − Nay Huế đã mất, nhưng những người liên-hệ với Huế thì vẫn còn. Anh thấy hệ-lụy của nó đối với tình-hình mới tại các Tỉnh trong Nam sẽ như thế nào?

    Người Bạn của tôi nhắc đến những việc mà tôi cố ý hoặc bỏ qua hoặc dành nói sau. Tôi phải nói luôn:



    − Đảng “Nhân-Xã”, tức Đảng “Cần-Lao Nhân-Vị” đổi mới, chỉ hoạt-động bên trong các giới tín-đồ Đạo Kitô và cựu cơ-sở Đảng Cần-Lao. Bên ngoài, họ có “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”. Hòa-Bình thì chưa thấy có kế-hoạch khả-thi. Tham-nhũng thì là cụ-thể, nhưng chưa phải là yếu-tố quyết-định hàng đầu. Theo họ, lật đổ Ngô Đình Điệm mới là tội-phạm tối-trọng, bất-khả khoan-dung. Họ đã bắt đầu bạo-động. Mục-đích của họ là thay-thế Thiệu ngay, bằng một Tổng-Thống và Chính-Quyền rập khuôn Đệ-Nhất Cộng-Hòa.

    − Anh nghĩ thế nào?



    Tôi đáp:

    − Diệm nếu còn sống thì ổng cũng đã mãn các nhiệm-kì hiến-định từ lâu. Người của thời này không thể giải-quyết việc của thời kia. Không dưng mà các cộng-tác-viên ban đầu đã rời-bỏ, rồi các trí-thức chống-đối, rồi nhiều thành-viên nội-các từ-chức, rồi dân-chúng sôi-sục bất-bình, rồi chính người nhà mà cũng chia tay. Quân-đội bắt đầu đảo-chính từ 1960, ném bom Dinh Tổng-Thống từ 1962...

    “Việc gì phải đến là cứ đến.

    “Háo-hức dẹp một tảng đá cản đường, không ai ngờ trước sẽ gặp bãi lầy tiếp theo. Nhưng hẳn không ai muốn cho tình-hình xấu đi...

    “Lịch-sử đã sang trang. Vấn-đề bây giờ không phải là khóc mình, hận người, mà là làm sao để cải-thiện tình-hình. Có ai xứng-đáng để lên thay Thiệu không, và, nếu thay Thiệu thì thay cách nào?”



    − Ý anh thế nào?

    − Trước hết, nói về người thay. Tôi thấy là không, hoặc chưa, có ai có đủ điều-kiện để lên thay Thiệu. Riêng đối với Mĩ, nếu có thì tất Hoa-Kì đã bật đèn xanh cho xuất-hiện rồi!

    Ferguson cố gắng giữ nguyên nét mặt vô-tư. Anh tiếp-tục hỏi tôi:

    − Còn về cách thay?



    Tổng-Thống là người lãnh-đạo toàn-dân. Xuất-xứ có thể là bất-cứ đâu, nhưng đối-tượng phục-vụ không phải chỉ là một chính-đảng, một giáo-hội, một xã-giới, hay một gia-đình. Về Thiệu, tôi đã suy-nghĩ về hai trường-hợp có thể xảy ra: ông tự giải-quyết, hoặc bị giải-quyết.

    Tôi nói ngắn gọn:

    − Thiệu đang gặp nhiều khó-khăn: Hoa-Kì rút ra, cộng-sản tiến vào, đối-lập lấn lên. Lần đầu tiên người dân Việt-Nam được tự-do xúc-phạm một nguyên-thủ quốc-gia mà không sợ bị bắt nhốt, trả thù, như dưới thời Diệm. Theo tôi, Thiệu không nên tham-quyền cố-vị. Vì chống mình nên người ta chỉ nhắm vào việc thay mình. Nếu mình bắn tiếng từ-chức thì tự-nhiên sẽ nổi lên tất cả các chuẩn-ứng-viên thay mình; dân-chúng sẽ so-sánh lựa-chọn giữa họ với mình; và người ta sẽ quay lại chống nhau, làm sáng tỏ ưu-khuyết-điểm của từng người; mình dựa vào đó mà tu-chính và quyết-định ở lại hay ra đi.

    “Nếu Thiệu từ-chức, hoặc ông bị mất trí hay mệnh-vong, thì cũng chỉ có Phó Tổng-Thống Trần Văn Hương lên thay, cho đến cuối năm nay [1975] mới hết nhiệm-kỳ. Với Hương, có đạo-đức nhưng thiếu bản-lãnh, tình-hình sẽ như thế nào?

    “Còn nếu muốn loại cả chế-độ Thiệu tức-thời thì chỉ có cách là đảo-chính quân-sự − một việc mà chắc hẳn đã có kẻ mưu toan nhưng không thuyết-phục được ai nên không xảy ra. Nhưng nếu xảy ra thì Chính-Quyền cũng sẽ chỉ nằm trong tay các tướng: Minh, Khiêm, Kỳ, v.v... hoặc người nào khác thì cũng thế thôi. Có khuôn mặt nào nổi bật hơn đâu? Kinh-nghiệm Cách-Mạng 1-11-1963: thay-đổi toàn-diện thì tình-hình sẽ như thế nào? Tóm lại, người ta mới nghĩ đến việc loại Thiệu, nhưng chưa nghĩ đến tình-hình hậu-Thiệu; hoặc cũng đã có nghĩ đến, nhưng không thực-tế, chỉ chủ-quan, cầu-may. Thực-tế là đã có Việt-Nam-Hóa, không còn báo-cô Hoa-Kì như trước được nữa, mà quốc-dân thì chưa đủ sức tự-túc tự-tồn. Giặc đã đến bên lưng, không còn thì-giờ để làm lại từ đầu...”


    Im lặng một lát, rồi Ferguson hỏi tôi mà tôi nghe như anh tự hỏi mình:

    − Không còn cách nào nữa ư?

    Tôi nói chậm-rãi:

    − Đáng lẽ đã có nhiều cách rồi!

    Bạn tôi nhướng mắt lên, đợi chờ.



    − Đệ-Nhất cũng như Đệ-Nhị Việt-Nam Cộng-Hòa chỉ thấy cái phần chiến-thuật chứ không thấy cái phần chiến-lược của các Kế-Hoạch mà Hoa-Kì đưa ra. Ngoài ra, họ chỉ chú-trọng cái phần ưu mà không quan-tâm đến cái phần khuyết, ở cuối mỗi Kế-Hoạch đều có nêu lên.

    “Hơn nữa, còn có hai nhược-điểm về phía Hoa-Kì. Cố-Vấn Mĩ chỉ là cấp thừa-hành, đâu phải ai cũng hiểu được thâm-í khi soạn-thảo kế-hoạch của cấp Trung-Ương hay chiến-lược-gia; thế mà họ đã để cho Đồng-Minh Việt-Nam cứ xem Cố-Vấn Mĩ như thước ngọc khuôn vàng. Trong lúc đó, các cấp Trung-Ương và ngoại-giao sành-sỏi của Mĩ thì cứ phép-tắc lễ-nghi; đáng lẽ phải nói huỵch-toạc ra như giữa các bên phối-tác với nhau, thì họ lại chỉ bóng-gió xa-xôi, mặc cho người nghe có thể không hiểu hoặc hiểu lầm.

    − Xin anh nói rõ hơn.



    − Diệm đã phá hỏng kế-hoạch của Mĩ nên mới hỏng bét. Bây giờ Thiệu cũng bỏ lỡ kế-hoạch của Mĩ nên phải dở-dang.

    − Anh muốn nói về “Cảnh-Sát-Hóa” và trước đó là “Liên-Bang Đông-Dương”, “Liên-Phòng Đông-Bắc Á-Châu”?

    − Vậy anh muốn tôi nói về vấn-đề gì khác nào?

    − Nếu còn vấn đề gì khác, sao không nói ra?



    Tôi ngưng một lát, rồi đánh bạo nói lên ý nghĩ của mình:

    − Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa quả thật thiện-chiến, tinh-thần rất cao, nhưng dù có được Hoa-Kì tiếp-tục viện-trợ và yểm-trợ thì cũng vẫn sẽ không bao giờ thắng được Cộng-Sản Việt-Nam!



    Ferguson không giấu nổi vẻ ngạc-nhiên. Tôi giảng giải thêm:

    − Lính phải ngăn-chận kẻ thù đằng trước để che-chở dân đằng sau. Đằng nầy: ở cấp Xã thì Nghĩa-Quân thu mình trong dăm ba chòi gác; ở cấp Quận thì Địa-Phương-Quân thủ thế trong khuôn-viên trụ-sở Chi-Khu; còn Chủ-Lực-Quân thì sau các cuộc hành-quân là rút về trại binh. Cộng-sản chiếm được phần lớn không-gian và thời-gian, nhất là ban đêm, cô-lập lính trong đồn và chế-ngự dân bên ngoài. Lính đã không bảo-vệ được dân thì thôi, làm sao mong dân phải làm khiên mộc bên ngoài bảo-vệ cho lính trong đồn?



    Người bạn của tôi ngẫm-nghĩ một lát rồi hỏi lại tôi:

    − Thế còn Cảnh-Lực, trong đó có Đặc-Cảnh của anh, thì sao ?

    − Cảnh-Lực, với tổ-chức và điều-hành hiện nay, không giúp được gì đúng với mong đợi của mọi người. Cảnh-Sát mới xuống đến Xã, các Xã “an-ninh” mà thôi, và chỉ là Cảnh-Sát Sắc-Phục, không làm điệp-báo, không lùng-diệt, và cũng không chống-cự nổi nếu bị đối-phương tấn-công. Đặc-Cảnh thì chỉ có ở cấp Quận, và Ban Tác-Vụ chỉ có mấy người, làm sao nắm hết các Xã, các Thôn trong khắp khu-vực trách-nhiệm của mình, nhất là khi không có đủ phương-tiện để tổ-chức các đường dây, trong lúc đó thì cộng-sản cài cấy cơ-sở từ hạ-tầng tức cá-nhân, tổ tam-tam, lên Ấp, Thôn...

    Ferguson hỏi vặn tôi:

    − Nghe anh có vẻ bi-quan. Thế tại sao hôm trước anh lại nài-ép tôi − và tôi đã nhiệt-thành giúp anh − bênh-vực Việt-Nam Cộng-Hòa trước phái-đoàn các Dân-Biểu và Thượng-Nghị-Sĩ Hoa-Kì khi họ đến tận chỗ quan-sát tình-hình tại Vùng I này?

    − Anh muốn tôi cứ để mặc cho chính-thể này suy sụp sao?



    Chừng thấy câu chuyện hơi găng, Ferguson liền đổi đề-tài:

    − Tôi thấy anh có nhiều hiểu-biết và nhận-định giá-trị hơn người. Ước chi anh là Tổng-Thống của nước này!



    Dù anh nói thật hay nói mỉa tôi, tôi cũng không cần. Tôi đã bốc đồng:

    − Tôi đợi thăng cấp vào ngày mồng 1 tháng 6 [1975] này, xong tôi ứng-cử vào Quốc-Hội. Tôi vào một Khối hoặc một Ủy-Ban. Tôi ra một tờ báo. Tôi lập một hội-đoàn. Và tôi ứng-cử Tổng-Thống Việt-Nam Cộng-Hòa. Anh nghĩ sao?

    Ferguson trả lời:

    − Tại sao lại không?



    Tôi muốn nhân dịp dò-xét thái-độ của anh đối với mình:

    − Nhưng điều quan-trọng là anh có ủng-hộ tôi hay không?

    Người Bạn Đồng-Minh đưa ngay tay ra bắt tay tôi:

    − Tại sao lại không?

    Chúng tôi ôm nhau mà cười.



    Sau đó, trở lại với chủ-đích của mình, tôi nói:

    − Tôi đã đưa cho Watkins, viên-chức phụ-tá của anh (người này mới được bổ-nhiệm cách đây vài tuần ), một chiếc máy truyền-tin cầm tay, với tần-số và mật-hiệu liên-lạc với tôi 24/24 giờ. Khi nào anh rời Đà-Nẵng thì anh hoặc anh ấy gọi tôi.

    − Watkins đã nói cho tôi biết rồi.



    Đề-cập đến sự-việc ấy, bỗng-nhiên tôi thấy nghẹn-ngào.

    Tôi rán hỏi thêm một câu:

    − Tóm lại, Hoa-Kì có bỏ Đà-Nẵng không? Và Hoa-Kì có bỏ Việt-Nam không?

    − Anh đã biết câu trả lời của tôi rồi!


    Thật là một câu trả lời “khôn-ngoan”.

    Rốt cuộc, tôi vẫn chẳng biết Người Bạn Đồng-Minh Hoa-Kì Ferguson đã trả lời tôi như thế nào.

    Ngay đêm hôm ấy, Tòa Tổng Lãnh-Sự Hoa-Kì tại Vùng I bí-mật ra đi.



    *



    TÒA TỔNG-LÃNH-SỰ HOA-KÌ RÚT KHỎI MIỀN TRUNG



    Khoảng quá nửa đêm 27-3-1975, tôi được báo-cáo là các Thủy-Quân Lục-Chiến Mĩ canh gác Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kì tại Vùng I đã khóa cổng kỹ và rời khỏi trụ-sở ấy, sau khi đã chở ra khỏi nơi đó nhiều chuyến hàng đóng thùng, và từ giữa sân bên trong thì bốc lên trời một cột khói đen như ai đang đốt nhiều đồ vật gì.

    Tôi gọi điện-thoại đến đó, rồi đến tư-gia của các Người Bạn Ðồng-Minh và những viên-chức ngoại-giao Hoa-Kì mà tôi quen, thì hoặc đường dây bị hư, hoặc chuông có reo mà không có người trả lời. Tôi dùng máy vô-tuyến gọi các Người Bạn Ðồng-Minh Ferguson và Watkins, nhưng cũng không liên-lạc được với ai.

    *

    Mờ sáng hôm sau, 28-3-1975, dân-chúng bắt đầu vào “hôi của” tại tòa nhà vốn được gọi theo địa-chỉ là 52 Bạch-Ðằng. Lúc đầu thì đồ ăn, đồ uống, vật-liệu văn-phòng, dụng-cụ linh-tinh; về sau thì bàn ghế tủ giường, trang-cụ, thiết-cụ, máy móc; cuối-cùng là các loại xe-hơi.



    Tôi chen lách đám đông vào được trong văn-phòng của Trạm Hàng-Không “Air America”. Nơi đây đang chuẩn-bị đợt hành-khách và hành-lí cuối-cùng cho một số phi-cơ bán-phản-lực và trực-thăng. Viên kĩ -sư Phi-Luật-Tân, Trưởng Trạm, tuy đang bận túi-bụi nhưng không quên trao ngay chiếc chìa-khóa vào phòng VIP cho tôi. Anh tưởng, như những lần trước, tôi mà đến đây là chỉ để đưa hay đón các viên-chức quan-trọng mà thôi, vì lần nào tôi cũng mượn dùng phòng khách quan-nhân. Khi chỉ còn lại mấy chiếc trực-thăng, anh chào từ-giã tôi, rồi cùng với các nhân-viên khác dùng bình-xịt xịt ra một thứ bọt trắng xóa, đẩy đám đông lui ra xa khỏi phi-cơ. Xong họ bay lên, rời khỏi sân bay và trạm hàng-không đặc-biệt này, sau khi nói cho tôi biết là họ bay ra tàu-thủy đang đậu ngoài khơi.

    Thế là người Mĩ đã thật-sự bỏ Ðà-Nẵng, bỏ Miền Trung, bỏ Vùng Chiến-Tuyến này rồi.

    *

    Ngày đó, 28-3-1975, từ trong trụ-sở của họ khói đen từ mấy thùng đốt hồ-sơ tài-liệu tiếp-tục bốc lên ngút trời.

    Tôi tiếp-tục tìm và gọi cho đến hôm sau vẫn không có vân mòng gì về Người Bạn Đồng-Minh.



    Và ngày 29-3-1975 được xem là ngày thất-thủ của thủ-phủ Miền Trung...



    (Trích "Biến-Loạn Miền Trung" trang 413-432)

    Một phần bài này đã có trong "Về Vùng Chiến-Tuyến" 1996)



    LÊ XUÂN NHUẬN

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago



    CHÚA PHỤC SINH


    Chiều nay anh tìm về nước Chúa
    trong lễ Phục Sinh của Người.
    Có một người quen mà lạ:
    em lạc trong dàn đồng ca.

    Chúng mình không nhận ra nhau
    vì Chúa đã trị vì tất cả:
    buồng tim tràn đầy nước Chúa,
    chẳng còn khoang nào cho anh.

    Anh chờ trước cổng thánh đường,
    chút hy vọng cuối cùng anh nhóm thành ngọn nến.
    Nhưng em đã tan vào cộng đoàn dân Chúa;
    cô đơn anh về với đêm...

    Chúa dạy con chiên hãy mở tim cho người
    rồi yêu thương đồng loại.
    Trái tim con chỉ đủ sức yêu nàng,
    Và trong khoảnh khắc này, nàng có yêu con?

    Chúa phục sinh, em cũng phục sinh.
    Biết ngày mai em có trở lại đời thường
    với buồn vui của cuộc đời trần thế
    để nhận ra nhau sau giấc mộng thiên đường?...

    NGUYỄN NGUYÊN THANH
    (Đức-quốc)



    JESUS RESURRECTED


    This evening I searched my way to God’s range
    Where they were celebrating Easter, his morale.
    There I found the one familiar but now strange:
    That was you who had strayed into the chorale.

    We did not recognize one another at this hour:
    Everything God had reserved the right to oversee.
    Your ventricles were saturated in God’s power,
    Not a tiny cavity in your heart was saved for me.

    I waited for you at the gate in front of the church
    With a glimmer of my hope I kindled a candle;
    But you had already dissolved in the lambs herd;
    I returned into the night my loneliness to handle.

    God has taught his disciples: thou open thy heart
    To love thy fellow humans all to live in chime.
    Well, my heart is able only to love her, how tart!
    Oh Lord, but does she love me right at this time?

    Jesus was resurrected, and you were too tonight.
    I wondered if tomorrow, to revert, you would deem
    To recognize in life, with vicissitudes though trite,
    One another, ourselves, after the paradise dream?

    Translation by THANH-THANH
    (Poems by Selected Vietnamese)


    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    QUEN-THUỘC


    Có những con đường quen thuộc cũ
    Từ ngày đôi lứa mới yêu nhau.
    Tóc nàng phủ xõa lên vai gã,
    Tiếng nói người thương quá ngọt-ngào.

    Những chuyện không đề, không đoán được,
    Ðêm này chưa hết, tiếp đêm mai.
    Cổng nhà chặng ấy quen không khép
    Lũ chó tuôn theo cứ sủa hoài.

    Mắt ngước nhìn lên trăng tháng tám,
    Nhìn trăng trong đáy mắt giai-nhân.
    Mỗi hồ nước đọng, từng mô đá,
    Thuộc hết đường đêm dưới bước chân.

    Tay nhỏ ngang mày che ánh chói,
    Có cô con gái lãng văn-bài,
    Bâng-khuâng một phút hồn trinh-nữ,
    Chừng mộng ngày mai, mộng với ai...

    Những buổi về khuya sương xuống lạnh;
    Dưới mưa bước nhỏ vẫn thư-nhàn;
    Gốc cây thủ-thỉ bên tường gạch:
    Cô+cậu vui đời nhất thế-gian!

    Ai chẳng từng ghi bao kỷ-niệm,
    Tuổi xuân dan-díu những con đường!
    Nhưng rồi... hướng chuyển, thuyền xoay lái,
    Đường cũ người xưa cách mấy phương...
    *
    Lâu lắm, hôm nay về nẻo thuộc,
    Chúng mình sống lại thuở hai mươi;
    Sau lưng tiếng chó ùa theo sủa,
    Chồng vợ nhìn nhau ngặt-nghẽo cười.

    Thuở ấy ân-tình mà gãy đổ,
    Lòng nào thanh-thản tối hôm nay:
    Ði trên đường cũ đầy quen thuộc,
    Trời rộng ghì trong bốn cánh tay...

    THANH-THANH



    FAMILIAR

    There are paths and persons known to each other
    Since the couple began to date one another.
    Her hair flowing over his shoulder used to rejoice;
    And how sweet did sound the sweetheart’s voice!

    Unexpected chats though without themes were bright
    And thus continued endlessly night after night.
    The gates usually were not shut at that section:
    Unchained dogs followed us, barking to no objection.

    Covering her sight from the dazzle with a small hand,
    There was a schoolgirl with homework gone bland;
    Stirred in her innermost virginal soul of a gal,
    She seemed to dream a moment of some future pal.

    Here tonight to this old path familiar since long ago
    We are coming back to revive our youth glow.
    Husband and wife at dogs barking and running after
    Look at one another, convulsed with laughter.

    Were our love in those green days let to disappear,
    How could we have our easy mind in this night sphere:
    We walk on the old path of familiarity permanent
    And embrace in our four arms the wide firmament...

    English version by THANH-THANH
    Thanh-Thanh.com


    FỤ-BẢN (Cải-Mệnh Tiếng Việt):
    QEN-THUỘC


    Có những con dường qen thuộc cũ
    Từ ngày dôi lứa mới iêu nhau.
    Tóc nàng fủ xõa lên vai gã,
    Tiếng nói người thương qá ngọt-ngào.

    Những chuiện kông dề, kông doán dược,
    Dêm này chưa hết, tiếp dêm mai.
    Cổng nhà chặng ấy qen kông kép
    Lũ chó tuôn theo cứ sủa hoài.

    Mắt ngước nhìn lên trăng tháng tám,
    Nhìn trăng trong dáy mắt yai-nhân.
    Mỗi hồ nước dọng, từng mô dá,
    Thuộc hết dường dêm zưới bước chân.

    Tay nhỏ ngang mày che ánh chói,
    Có cô con gái lãng văn-bài,
    Bâng-khuâng một fút hồn trinh-nữ,
    Chừng mộng ngày mai, mộng với ai...

    Những buổi về kuia sương xuống lạnh;
    Zưới mưa bước nhỏ vẫn thư-nhàn;
    Gốc cây thủ-thỉ bên tường gạch:
    Cô+cậu vui dời nhất thế-yan!

    Ai chẳng từng ghi bao cỉ-niệm,
    Tuổi xuân zan-zíu những con dường!
    Nhưng rồi... hướng chuiển, thuiền xoay lái,
    Dường cũ người xưa cách mấy fương...
    *
    Lâu lắm, hôm nay về nẻo thuộc,
    Chúng mình sống lại thuở hai mươi;
    Sau lưng tiếng chó ùa theo sủa,
    Chồng vợ nhìn nhau ngặt-ngẽo cười.

    Thuở ấy ân-tình mà gãy dổ,
    Lòng nào thanh-thản tối hôm nay:
    Di trên dường cũ dầy qen thuộc,
    Trời rộng gì trong bốn cánh tay...

    THANH-THANH

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    LỆ CHÂU

    Đã mấy thu rồi, hả bể dâu ?
    Những hình bóng cũ nay về đâu ?
    Có ai đốt lại lò hương ấy
    Mà nhớ vô cùng, hỡi Lệ Châu !

    Ta nhớ em như nhớ tháng ba (1):
    Ngày giờ có đó, nghĩ không ra!
    Chính ta chẳng hiểu mơ hay tỉnh;
    Ta ở đây mà nhớ chính ta!
    (1) 29/03/1975: Đà Nẵng (thủ-phủ Miền Trung) thất-thủ.

    Ta nhớ ta là một tiếng im,
    Con thuyền không bến, máu không tim,
    Không hoa cho một làn hương quyện,
    Không tổ nương nhờ một cánh chim!

    Ta có đầu ta – một thánh-thư:
    Biết đường, đâu ngại ngã ba, tư!
    Lòng ta có lửa mà không bếp,
    Như thiếu trùng dương cho hải-ngư!

    Thiếu một thần-giao, một cảm-thông;
    Đời không tri-kỷ, không tâm đồng;
    Bơ-vơ như trận kình-nghê-chiến:
    Biển cả tung-hoành một lão-ông!

    Rồi bỗng đâu đây giữa gió khơi
    Có em bỗng gọi, có ta "ơi!"
    Thuyền như nhắm bến, chim tìm tổ,
    Đêm muốn hừng đông, hận muốn vơi ...

    Em đến – gần mà như muôn trùng,
    Không tên, không lấy cả hình dung...
    Nhưng em đã đến, bằng xương thịt,
    Đã sưởi lòng ta ... ấm la.-lùng!

    Em có là tiên... hay là... ma
    Thì em cũng đã có yêu ta!
    Tình em là một nguồn thi-hứng:
    Bút rỉ mười năm... lại nở hoa!

    Em đã theo ta mỗi bước chân,
    Hòa trong hơi thở, nhập trong gân!
    Có em là bạn... nên từ đó
    Ta có niềm vui tự bản-thân...

    Nhưng, bỗng tư bề nổi bão đêm:
    Kình-ngư còn lại bộ xương lem!
    Đất thành hoang đảo! dân thành rợ!
    Ngư-phủ vào tù, lạc dấu em...

    Nỗi nước khôn khuây, lại nỗi nhà,
    Nỗi mình khắc-khoải một mình ta!
    Bao nhiêu kỷ-niệm vào tro bụi
    Như những kê vàng, quá-khứ xa ...

    Ôi! Những ngày xanh, những ước mơ
    Tan như ảo-ảnh mống trời mưa!
    Thời-gian liệm lấp vào quên-lãng
    Những mộng vàng son hóa mộng hờ!

    Rồi có hôm nào như hôm nay:
    Gió nào gợn sóng, lá nào bay ...
    Cho ta gợi lại trong tâm-tưởng
    Một thoáng ân-tình, thoáng rượu say ...

    Trại Kho Đạn (Đà Nẵng), 1980-81
    THANH-THANH

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago




    CẢI-MỆNH TIẾNG VIỆT

    TIẾNG NÓI & CHỮ VIẾT

    Bài của NGƯỜI THƠ



    NHÌN CHUNG





    Trong sinh-hoạt văn-học của Người Việt Hải-Ngoại trong thời-gian qua, chúng ta thấy nổi lên một “sự-kiện” khác thường: có một số thi+văn-sĩ và nhà “ngôn ngữ học”, đã thể-hiện sáng-kiến mới lạ của mình, trong tác-phẩm đăng-tải trên báo cũng như ấn-hành thành sách, về Việt-ngữ – về chữ và nghĩa của tiếng Việt Nam.



    *

    * *



    Thật ra, ước muốn “cải-cách” chữ Việt đã được nhiều người ôm-ấp, dò-dẫm hoặc táo-bạo thực-hiện, ít nhất cũng từ hơn nửa thế-kỷ nay rồi, nhất là sau khi “Phong-Trào Truyền-Bá Quốc-Ngữ” quyết-định phát-âm B, C, D, Ð là bờ, cờ, dờ, đờ (thay cho bê, xê, dê, đê theo lối phát-âm nguyên-thủy) và gọi “i” là “i ngắn”, “y” (i gờ-rếch=i Hy-Lạp) là “i dài”, v.v...





    A. TẠI MIỀN NAM:



    Chúng ta có thể kể ra một số thí-dụ:



    1. Nhà thơ lão-thành Ðông-Hồ thành-lập một nhà xuất-bản mệnh-danh là “Yễm Yễm Thư-Trang”, gây nên bàn-tán sôi-nổi một thời. Có người giải-thích là “Yễm Yễm” thay cho “Diễm Diễm”. Có người cãi rằng chữ “Y” không thể phát-âm thành “Giờ”, và “Giờ” (giọng nhẹ) cũng không thay thế được “D” là “Dờ” (giọng nặng); mà dù nó có được đọc là “Dờ”, thì nó cũng mới cộng thêm với “ễm” để làm thành “Dễm” chứ chưa có thể cộng được với “ễm” mà làm thành “Diễm”. Có người cho rằng đồng-bào Nam Phần (và cả Trung Phần) phát-âm vần “G” và vần “D” giống nhau (thí-dụ giao-dịch, giáo-dục, gian dối) nên ở đây Ðông-Hồ (cùng các đồng bạn) muốn làm một công ba việc: vừa biến nguyên-âm “Y” thành phụ-âm “Y”, vừa hòa-hợp cả hai phụ-âm “giờ” và “dờ” thành một, vừa ghép thêm vào nó một nguyên-âm “i” hiểu ngầm (sous-entendu, understood) thành ra “Gi” hoặc “Di” để cộng thêm với “ễm” mà làm thành “Diễm”. Như thế thì chúng ta sẽ có “yết” thay cho “giết”, “yếng” thay cho “giếng”, và cả “yệt” thay cho “diệt”, v.v...?!). Trong thời-gian đó, có người vẫn cứ nửa đùa nửa thật phát-âm “yễm yễm” là “iễm iễm” hoặc “dễm dễm” như thường. Song rồi mọi việc cũng đã lắng yên, vì thắc-mắc mãi cũng chán, và chính Ðông Hồ hầu như cũng không phát-minh được thêm những chữ nào khác trong hướng đổi mới chữ nghĩa của nước mình.



    2. Khoảng cuối thập-niên 1940, đầu thập-niên 1950, tại Saigon có một nhóm nhà văn đồng-thời với Tam Ích, Nguyễn Văn Xuân, v.v... đã sáng-tạo ra một số từ mới, trong đó có từ ghép “sáng giá” mà hồi đó họ giải-thích là từ-ngữ viết tắt của “sáng-tác giá-trị”, khiến trên mặt báo có người nghịch đùa dựa theo đó mà viết “thiếu-nữ đẹp-đẽ” là “thiếu đẹp”, “vô cùng ích lợi” là “vô ích”, v.v...



    3. Nhà văn Nguyễn Ngu Ý tự viết tên mình là Nguyễn Ngu Í, cũng khiến thiên-hạ chỉ-trích gay-gắt lúc đầu.



    4. Nhà giáo Lê Bá Kông tự viết tên mình là Kông thay vì Công.



    5. Thời-kỳ cực-thịnh của văn-học Việt-Nam Cộng-Hòa trước quốc-biến 1975, có một số người đã sửa tên mình là “Dũng” thành “Dzũng”, có lẽ đánh vần dựa theo cách viết tên của một nhân-vật trong một cuốn truyện ăn khách một thời (là “Dzũng Ða-Kao”)...





    B. TẠI MIỀN BẮC:



    Trong lúc đó, ở Miền Bắc Việt-Nam người ta đã “cắt mạng” tiếng Việt một cách toàn-diện, đồng-bộ, quyết-liệt, nhưng độc-đoán và thô-bạo có thừa. Việt-Cộng lập hẳn một “Viện Ngôn Ngữ Học” để sáng-chế ra một số từ mới, thống-nhất định-nghĩa cũng như quy-định cách viết, cách dùng các từ liên-hệ thế nào cho thích-hợp với khẩu-hiệu “dân tộc, khoa học, đại chúng” mà họ đề ra, không những cho văn-học, nghệ-thuật, mỹ-thuật, mà còn cho cả một số lĩnh-vực khác nữa, chẳng hạn y-khoa, v.v... Chắc-chắn là các đồ-đệ Mác+Lê lô-can rất muốn noi gương Hồ Chí Minh khi ông ta tự tay nắn-nót viết tên trên bìa cho một tập sách là “Ðường Kách Mệnh” mà đảng cộng-sản Việt-Nam xem là một kiệt-tác trong “toàn-thư” của họ Hồ, kẻ cũng là tác-giả của những từ-ngữ quái-đản kiểu “điệu hò vĩ dặm”, v.v...



    Song le, ở một mức-độ nào đó, Việt-Cộng cũng đã thành-công trong việc gán cho các từ-ngữ của họ những ý-nghĩa với những mục-đích đặc-biệt, để bắt “toàn đảng, toàn quân, và toàn dân” học-tập và sử-dụng rập khuôn; đến nỗi, trong thời-gian còn chiến-tranh Việt-Nam, người Mỹ đã phải khổ-công sưu-tập, điều-nghiên và phổ-biến nội-bộ những cuốn “VC Terminology” (thuật-ngữ Việt-Cộng) để giúp các giới tình-báo và thông-dịch phiên-dịch tránh sự khó hiểu, hiểu sai và hiểu lầm mỗi khi gặp phải các tài-liệu hoặc lời-lẽ của phe bên kia. Có một từ-ngữ đã nhiều phen gây bất-đồng ý-kiến giữa cố-vấn Hoa-Kỳ với đồng-minh Việt-Nam Cộng-Hòa: Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng, mà phía Quốc-Gia dịch là “People’s Liberation Front” (PLF), phía Việt-Cộng dịch là “National Liberation Front” (NLF). Phía Việt-Nam Cộng-Hòa cho rằng “National Liberation Front” có nghĩa là “Mặt Trận Quốc-Gia Giải-Phóng” chứ không phải “Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng”. Thế là người Mỹ “đi hàng hai”: đối với Việt-Nam Cộng-Hòa thì dùng People’s, đối với Việt-Cộng thì dùng National; nhưng về phía Mỹ với nhau thì họ dùng từ-ngữ National Liberation Front (hiện nay ta thấy dẫy đầy trong các thư-viện của Thế-Giới Tự-Do) để chỉ “Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng”. (Do đó, một Nation là một dân-tộc; và danh-từ Nation dẫn đến tính-từ National, rồi đến các danh-từ Nationalism và danh-từ kiêm tính-từ Nationalist, mà Nationalist cũng có nghĩa là người yêu nước, nên Hồ Chí Minh là lãnh tụ số một của “mặt trận dân-tộc” ấy đã được một số người Mỹ xem là “nhà... ái-quốc”! Ngược lại, các bạn có biết Việt-Cộng gọi phe Quốc Gia “Nationalist” là gì không? Là bọn “dân-tộc chủ-nghĩa” đấy!) Một số thuật-ngữ được dùng trong bản văn tiếng Việt của Hiệp Ðịnh Paris 1973 cho thấy là Việt-Cộng đã nắm được ưu-thế, về mặt chữ nghĩa, trên bàn hội-nghị, và trong thực-thi “ngưng bắn”, ngoài đời, về sau.



    Bởi vậy, ngay đến hôm nay, mặc dù có nhiều từ của Việt-Cộng mà người Quốc Gia không chấp-nhận, chúng tôi nghĩ rằng các giới ngôn-luận và lý-luận chính-trị vẫn nên tìm hiểu để nắm vững ý chính qua các từ họ dùng để diễn-đạt vấn-đề; nếu không thì “ông nói gà, bà nói vịt”, mình không hiểu ý của người, mà chỉ hiểu từ của người theo ý của mình, thì chuyện tranh-luận vẫn mãi mãi không đi đến đâu. Thí-dụ: Việt-Cộng không bao giờ nói là họ “xây-dựng hay tiến lên xã-hội chủ-nghĩa”, mà chỉ có người Quốc Gia nói là Việt-Cộng nói như thế mà thôi; bởi lẽ Việt-Cộng quy-định dứt-khoát rằng chủ-nghĩa xã-hội (socialism) là một danh-từ, còn xã-hội chủ-nghĩa (socialist) là một tính-từ (không phải là một “society of doctrine” như một nhân-vật Quốc-Gia đã dịch để phê-phán Việt-Cộng), nên họ chỉ “xây-dựng hoặc tiến lên chủ-nghĩa xã-hội” (xây-dựng hoặc tiến lên một chủ-nghĩa, đó là chủ-nghĩa xã-hội, socialism, một socialist doctrine, một danh-từ); và nếu phải dùng từ ghép “xã-hội chủ-nghĩa” thì họ dùng nó với tư-cách một tính-từ (-ist), thí-dụ “xây-dựng hoặc tiến lên xã-hội xã-hội chủ-nghĩa” (tức là xã-hội theo chủ-nghĩa xã-hội, socialist society). Cũng thế, “vinh quang” là danh-từ, “quang vinh” là tính-từ, nên Việt-Cộng nói “lao-động là vinh-quang”: cả hai đều là danh-từ: Lao-Ðộng đồng-nghĩa với Vinh-Quang; nhưng khi nói đến tính-cách (thuộc-tính) thì họ nói “nước Việt-Nam quang-vinh” (glorious Vietnam) chứ không nói là “nước Việt-Nam vinh-quang” (vì, theo họ, nói nước Việt-Nam vinh-quang tức là nói sai ngữ-pháp thành “glory Vietnam” chứ không phải “glorious Vietnam”)! Bảo-đảm khác với đảm-bảo, thống-nhất khác với nhất-thống, vân vân và vân vân...

    *

    * *

    Trở lại với hiện-tượng “đổi mới” chữ nghĩa của Người Việt tại Hải Ngoại, trong thời-gian gần đây, nhiều người đã đưa ra một số thay đổi mới lạ về chữ và nghĩa tiếng ta, chúng tôi tạm kể một số thí-dụ điển-hình:





    I/ VỀ HÌNH-THỨC:



    Ia- Giáo-sư Nguyễn Ðình Hòa âm-thầm giữ vững lập-trường về dấu nối (trait d’union, hyphen), cách viết chữ hoa, và nhất là việc thay thế y (i dài) bằng i (i ngắn). Theo họ Nguyễn thì các chữ vốn viết là y (i dài) nay phải viết lại như sau: địa-lí, thế-kỉ 21, Tổng-thư-kí, hồi-kí, kĩ-thuật, công-ti, lí-tưởng, Mĩ, Hoa-kì, kỉ-niệm, mĩ-thuật, kĩ-nghệ, v.v... (Xem thêm Vấn-Đề Mẫu-Tự “Y” của Người Thơ.)



    Ib- Về các dấu-nối thì cũng có một số người đồng-ý với Nguyễn Ðình Hòa. Theo dõi sách báo hải-ngoại, độc-giả thỉnh-thoảng cũng thấy điều đó; nổi bật nhất là nhà văn Võ Long Tê tức Võ Phương Tùng ở Gia-Nã-Ðại: họ Võ mỗi lần gửi bài đăng báo là đòi hỏi nhà báo phải sửa chính-tả (có dấu nối) đúng theo bản thảo của mình. Trong suốt hai cuốn hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” và “Cảnh-Sát-Hóa” của Lê Xuân Nhuận, cái dấu gạch nối dùng với các từ hợp-âm cũng đã được phục-hồi.



    Ic- Riêng về chữ “i” (i ngắn) thay cho “y” (i dài), thì một trong những nhà biên-khảo và soạn từ-điển bằng chữ quốc-ngữ đầu tiên trong văn-học-sử Việt-Nam từ cuối thế-kỷ thứ 19, đầu thế-kỷ thứ 20, cũng đã áp-dụng khi tự viết tên của mình, là Huình Tịnh Của. (Về sau, không nhớ tự bao giờ, chữ Huình đã được viết thành chữ Huỳnh.) Nhưng, trong năm 1996, nhà xuất-bản Văn Nghệ ở Nam California đã cho chào đời tác-phẩm “Tử Tù Tự Xử Lí” của Trần Thư, với nhan-đề thứ hai là “Tử Tù Xử Lí Nội Bộ”, mà trong “xử lí” thì chữ i (i-ngắn) được dùng thay cho y (i-dài), trong lúc “hợp-lý”, “tâm-lý” thì vẫn để nguyên i-dài. Chưa rõ dụng-ý (dụng-í?) thế nào.



    Id- Trong một phạm-vi giới-hạn, trên tờ “Ðất Mẹ” của “Phong trào yểm trợ giáo hội công giáo Việt Nam”, xuất-bản tại Texas, trợ-bút Nguyễn Ước cũng dùng i-ngắn thay cho i-dài (thí-dụ chu-kì, thiên-niên-kỉ, kỉ-nguyên, kĩ-lưỡng...), trong lúc “kỹ nghệ”, “vật lý”, “người Ý”, “nước Ý”... thì vẫn còn dùng y (i-dài). Chưa rõ lý-do.



    Ie- Cũng về chuyện i-ngắn i-dài, bên nước láng-giềng Gia-Nã-Ðại, Giáo-Sư Lê Hữu Mục đã cho xuất-bản tác-phẩm “Trần Lục” viết về Linh-Mục Trần Lục, trong đó có chương “Cụ Sáu đối-diện với phong-trào Văn Thân” mà đặc-điểm nổi bật là, cùng một chủ-trương với Nguyễn Ðình Hòa, họ Lê đã đổi tất cả các mẫu-tự “y” (i dài) ra thành “i” (i ngắn), gây nên sự phản-đối của nhiều người, mà quyết-liệt nhất là ông Từ Chuyên, người viết trên “Văn Nghệ Tiền Phong”, đã chụp cho Lê Hữu Mục một chiếc nón cối Vi Xi. Số là Việt-Cộng trong nhiều trường-hợp đã dùng mẫu-tự “i” thay thế mẫu-tự “y”, thí-dụ “iêu thương” (cùng lúc với “f” thay thế “ph”, thí-dụ: fố fường), nên Từ Chuyên kêu gọi ký-giả Gàn Bát Sách “chống cái ông Mục nào đó (tay sai của cộng-sản?) chỉ muốn đem “i” ngắn vào văn-học hải-ngoại để chia rẽ anh em trí-thức”, đồng-thời làm một bài thơ trào-phúng ca-tụng “y” (i dài) với các câu:



    Bàn về “i” ngắn làm chi?

    Làm trai ai chẳng muốn “y” cho dài?

    Y dài thì... mới dai,

    Mới mong tiếp cú thứ hai hầu bà!

    Muốn yêu mà ngắn như gà,

    “Gô ao” cái chắc, chả ra... chó gì!

    Hỏi bà, bà muốn cái chi?

    Muốn “yêu” thì phải kéo “y” thật dài...



    If- Sau đó, nhà biên-khảo Dương Ðức Nhự không những chỉ gián-tiếp bênh-vực Lê Hữu Mục mà còn hô-hào đổi mới chữ Quốc-ngữ, đưa ra nhiều đề-nghị rất độc-đáo, thí-dụ: bỏ mẫu-tự “h” trong phụ-âm ghép “ngh” thành ra “ng” để viết “nge”, “ngĩ ngợi”, thay vì “nghe”, “nghĩ-ngợi”; bỏ mẫu-tự “h” trong phụ-âm ghép “gh” thành ra “g” để viết “gen gét”, “gồ gề” thay cho “ghen ghét”, “gồ ghề”; riêng mẫu-tự phụ-âm “d” thì bỏ hẳn để thay thế bằng “z”, thí-dụ: “zễ-zàng”, “zu zương”; ngoài ra còn viết dính những từ ghép, thí-dụ “ngengóng”, “zưluận” thay cho “nghe ngóng”, “dư luận”, v.v... Cứ như Dương Ðức Nhự thì chúng ta có thể viết lại truyện Kiều như sau:



    Trăm năm trong kõj người ta

    Cữ tài, cữ mệnh... qéw là... gét nhăw

    Trải kwa một kuạk bể zâu

    Những dìaw trông thấj mà dăudớn lòng

    Lạ jì bỉsắc tưfong

    Trờj xenh kwen thój má hồng dénh gen

    Kiaw thơm lần jở trứak dèn

    Fongtình kổ lụk kòn trwìan sử xenh...!!!



    Ig- Nhà thơ Khang-Lang, sau khi xuất-bản thi-tập “Tâm Thức Bừng Vỡ Tim Tôi”, đã liên-tục sáng-tác và đăng nhiều bài thơ mới, với tên tác-giả là Khang lang (chữ L không viết hoa và không có dấu-nối giữa hai chữ ấy). Nếu có một dấu nối giữa hai chữ (Khang-lang); hoặc vẫn viết Khang lang (không có dấu-nối) mà sau chữ lang là một dấu phẩy/phết ngắt đoạn, hoặc là một dấu-chấm-dứt-câu, thì đâu còn có vấn-đề, khiến cho có bạn cắt-cớ hỏi anh: trong câu “Tôi nghe tiếng Nhã ca hát vang lên ở phòng bên” thì là tiếng (một người tên) Nhã ca-hát” hay là “tiếng (nhà văn) Nhã-Ca hát?



    Ih- Từ thủ-đô Hoa-Thịnh-Ðốn, cây bút Lưu Nguyễn Ðạt đã cho ra đời tam-nguyệt-san văn-học nghệ-thuật biên-khảo “Cỏ Thơm”. Qua nhiều số, mỗi số có đăng nhiều bài, cả biên-khảo văn-học lẫn thơ, của anh, người đọc không khỏi ngạc-nhiên khi thấy dưới các bài viết văn xuôi thì anh ký tên là Lưu Nguyễn Ðạt đường-hoàng, nhưng dưới các bài thơ thì tên anh trở thành Lưu Nguyễn Ðhạt. Cái chữ Ðhạt ấy đã được in lên mặt giấy đến hằng chục lần, dưới thơ mà thôi, và cả ở trang mục-lục trong phần liệt-kê tên các tác-giả của các bài thơ có đăng bên trong. Ðó là hình-thức mới lạ của một chữ tên, còn nghĩa (hẳn là mới lạ) của nó thì chúng tôi chưa thấy chủ-nhiệm “Cỏ Thơm” giải-thích thế nào.



    Ii- Trên báo “Ðại Nghĩa” xuất-bản tại San Jose, ông Huỳnh Văn Trang đưa ra ý-kiến thay chữ “Giê” thành chữ “Gê”, thí-dụ “Bẹc Giê, Giẻ Lau, Gien di-truyền” thì viết thành “Bẹc Gê, Gẻ Lau, Gen di-truyền”. Ðiều đặc-biệt là ông Trang chỉ mới đề-nghị mà tưởng như đã bị phản-bác rồi nên ông biện-cãi rất hăng, thí-dụ “sai! ố là là!”, “xi cà goe”!



    Ij- Ông Nguyễn Phước Ðáng trong cuốn sách “Tiếng Việt & Chữ Việt” xuất-bản năm 2001 đã đề-nghị dùng “z” thay “d”, “d” thay “đ”, “f” thay “ph”, “j” thay “gi”, “q” thay “qu”, “g” thay “gh”, “ng” thay “ngh”, và in luôn một số “chuyện tầm ruồng” dày 120 trang, áp-dụng các đề-nghị ấy. Chúng tôi có viết bài góp ý, đặc-biệt về việc dùng “j” thay cho “gi” thì chúng tôi không đồng-ý, vì “âm j mà thay âm gi thì chưa được sát, thí dụ: làm sao phân biệt giữa hai tiếng/chữ dị-tự dị-âm sau đây, mà NPÐ cho là dị-tự đồng-âm: jabber/yabber, jack/yack, jam/yam, jap/yap, jaw/yaw, jeer/year, jell/yell, jerk/yerk, jester/yester, jet/yet, Jew/yew, jo/yo, job/yob, joke/yoke, John/yon, v.v... (huống gì chúng lại dị-nghĩa: tiếng Anh mà phát-âm sai một ly là nghĩa của nó sẽ đi một dặm).” (Bài của chúng tôi đề-cập nhiều vấn-đề khác nữa, đã được ông NPÐ in vào cuốn sách kế-tiếp của ông, nhan-đề “Quốc Ngữ Lưu Vong”, ấn-hành năm 2002).



    Ik- Lúc chúng tôi viết bài này, cuối năm 2004, trên nhiều diễn-đàn liên-mạng có ông Matthew Trần đang bị nhiều người chống-đối vì, ngoài việc dùng “z”, “d”, “f” thay cho “d”, “đ”, “ph” (giống ý ông Nguyễn Phước Ðáng nói trên, và nhiều người trước nữa), ông còn dùng dấu ngã trên tất cả các chữ vốn có dấu hỏi. Theo văn-phạm (ngữ-pháp) thì một bài-viết (dù ngắn như một câu, hay dài như một bộ sách, thường gồm 2 phần: lời của tác-giả, và lời của [các] nhân-vật được tác-giả đề-cập. Riêng về lời-nói của [các] nhân-vật, các lời-nói đó được thể-hiện theo 2 cách: Một, là chép đúng nguyên-văn lời-nói đó và đặt nó trong ngoặc-kép, tức là lời-nói trực-tiếp (direct speech; thí-dụ: Nàng nói với tôi rằng “Em yêu anh.”) Hai, là thuật lại lời-nói đó theo cách kể chuyện chủ-quan (với bút-pháp/văn-phong riêng) của mình, cốt giữ cái ý, không cần giữ đúng các từ, không cần đặt trong ngoặc-kép, tức là lời-nói gián-tiếp (indirect speech; thí-dụ: Nàng nói với tôi rằng nàng yêu tôi.) Tức là các bài-viết của Matthew Trần (gồm cả lời của tác-giả lẫn lời của các nhân-vật, đều thuộc dạng “lời-nói trực-tiếp”: người-đọc chỉ đọc lời-nói trực-tiếp của chính Matthew Trần theo thổ-ngữ Huế và giọng-nói Huế, nên khó hiểu đối với nhiều người chưa quen tiếng Huế. Ông ấy lý-luận: “Tôi không vi-fạm quyền tư-zo cũa ai... xin dừng xâm-fạm quyền sáng-tạo cũa tôi” và “Chữ quốc-ngữ cần fãi dược da zạng, hoàn-chĩnh.”





    II/ VỀ NỘI-DUNG:



    2a- Ðộng-từ “quang-phục”, bắt nguồn từ tên của tổ-chức “Việt-Nam Quang-Phục Hội” của cụ Phan Bội Châu, rõ-ràng là có thêm ý-nghĩa “trong vinh-quang, một cách quang-vinh”, mạnh hơn là chỉ phục-hồi, phục-hưng suông, nay đã phổ-biến khắp nơi có cộng-đồng tị-nạn cộng-sản Việt Nam.



    2b- Danh-từ “đồng-chí” đã bị cộng-sản dùng trước, dùng nhiều, đến nỗi nó có ý-nghĩa là đồng-bọn cộng-sản với nhau, khiến phe Quốc Gia cảm thấy gượng-ép khi dùng từ ấy trong nội-bộ mình, nên đã bắt đầu dùng những từ mới: chí-hữu, chính-hữu, cộng thêm với chiến-hữu đã có từ xưa.



    2c- Ngoài những từ mới, như “đồng thuận”, “chính mạch” (để chỉ người dân chính gốc bản-xứ, thí-dụ người Mỹ chính mạch là người Mỹ 100%), chúng tôi ghi nhận danh-từ “Quốc Dân” mà luật-sư Phạm Nam Sách đã cố ý dùng với một ý nghĩa đặc-biệt (chính-nghĩa Quốc Dân, tinh-thần Quốc Dân...), không những thay thế cho “Quốc Gia”, “Dân Tộc”, mà còn nói lên một quan-điểm chính-trị mới, đó là “Ðảng Quốc Dân”, “Sách Lược Quốc Dân”... (không có dấu-nối và tất cả đều viết hoa) do chính họ Phạm đề ra và không ngớt tuyên-xưng.



    2d- “Quốc Kháng”, một từ-ngữ mới, được nhiều người dùng để chỉ Ngày 30/4/1975, có một ý-nghĩa tích-cực hơn là “quốc-biến”, “quốc-hận”, “quốc-nhục”...; vì hận hay nhục thì mình chỉ nhận vào mình một cách thụ-động, còn kháng thì là mình biến cái thụ-động ấy ra thành hành-động chủ-động: đề-kháng, phản-kháng, kháng-cự, kháng-chiến...



    2e- Ðộng-từ “be bờ” đã có ghi trong tự-điển, nhưng ít người dùng. Nay thì nhân-vật Võ Long Triều ở Pháp độc-quyền sử-dụng. Trong một bức thư không niêm đăng trên mặt báo, họ Võ đã hô hào mọi người be bờ ngăn chận cộng-sản, be bờ cộng-sản quốc-tế, lặp lại nhiều lần. Vậy là chúng ta đều đang be bờ Việt Cộng.



    2f- Ngoài chiến-hữu, chí-hữu, và chính-hữu như đã nói trên, vào ngày 16/08/1997, “Liên Ðảng Việt Nam Tự Do”, nhân dịp ra mắt đồng-bào tại Nam California, đã cho ra đời một từ-ngữ mới: các nhân-vật quan-trọng trong Ðảng gọi nhau là nghĩa-hữu.



    2g- Lâu nay người ta quen gọi những kẻ buôn gian bán lận là gian-thương. Nay trên tạp-chí “Thế Giới Mới”, phát-hành tại Texas vào đầu tháng 9/1997, trong bài “Thuý Ðã Ði Rồi”, ông Ðỗ Thái Nhiên lên tiếng về vụ băng video Thúy Nga 40, đã dùng danh-từ gian-doanh để chỉ những doanh-gia nào “thiếu đạo-đức kinh-doanh”, đi chệch ra ngoài con đường của giới lương-doanh.



    2h- Triết-gia Lương Kim Ðịnh, trong triết-thuyết An Vi, đã dùng những từ-ngữ “Thiên Năng” (thay vì bản-năng) để dịch tiếng Instinct, và tự đặt ra tiếng Anh Dual Unit để diễn-tả Lưỡng Hợp và Man’s Lordship để biểu-hiện Nhân Chủ theo thuyết của mình.



    2i- Trong mục “Ngồi Buồn Gãi Rốn” do nhà-báo Lão Ngoan Ðồng phụ-trách trên “Ti Vi Tuần-san” xuất-bản tại Úc vào cuối tháng 8/1997, Lão Ngoan Ðồng đã gọi các Việt-kiều nào mà là cộng-sản hoặc tay sai cộng-sản là “Việt cộng kiều”. Âu cũng là một cách để phân-biệt với Việt-Kiều quốc-gia.



    2j- Ðồng-thời, trong “Lá Thư Luân Ðôn” do ký-giả Khải Minh phụ-trách, cũng trên “Ti-Vi Tuần san” nói trên, cây-bút Trần Ngọc tường-thuật đại-hội Văn Bút Quốc-Tế Edinburgh, đã có tựa đề là Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại về lại trình-trạng tiềm ấu. Theo từ-điển Hán Việt của Ðào Duy Anh, “tiềm ấu” là ấu trĩ, non nớt, trẻ con, một cách thầm giấu, không tỏ ra ngoài (=tiềm-tàng ấu-trĩ). Hẳn chỉ nói về một số nhân-vật nào đó liên-can đến nội-vụ mà thôi.



    2k- Từ-ngữ “áp-pháp” do Lê Xuân Nhuận đưa ra, để dịch từ-ngữ “law enforcement”: gọn-gàng và sát nghĩa hơn là “cơ-quan/nhân-viên công-lực/thi-hành luật-pháp”.



    2l- Thời-gian gần đây, động-từ “hỗ-trợ” đã được nhiều người sử-dụng, với ý “giúp-đỡ, trợ-giúp, trợ-lực, tiếp tay, ủng-hộ, hưởng-ứng, hậu-thuẫn, bảo-trợ” (kêu gọi người-khác giúp-đỡ mình: một chiều mà thôi). Theo từ-điển, thí-dụ “Hán Việt Từ-Ðiển” của Ðào Duy Anh, thì từ “hỗ-trợ” có nghĩa là “giúp đỡ lẫn nhau” (hai chiều). Có kẻ xin sự yểm-trợ của người khác [chứ mình không giúp ích gì cho người ta] tức là một chiều, mà vẫn cứ đòi “hỗ-trợ”!



    2m- Từ-đoạn “ra mắt sách/thơ/CD)” cũng được thông-dụng. Nhưng, khi một chàng trai ra mắt cha+mẹ cô gái, một nhân-vật ra mắt cộng-đồng, thì “ra mắt” đồng nghĩa với “trình-diện”, và không ai nói là cha+mẹ cô gái phải ra mắt chàng trai ấy, hoặc cộng-đồng phải ra mắt nhân-vật ấy. Thế thì tại sao lại bắt độc/khán/thính-giả phải ra mắt cuốn sách, tập thơ, hay đĩa CD của tác-giả XYZ (trong lúc tác-giả/Ban Tổ-Chức chỉ giới-thiệu, hay trình-mại tác-phẩm của mình mà thôi)?



    2n- Có nhiều tiệm ăn quảng-cáo trên báo, trên đài, rằng mình “chuyên-trị”... phở Bắc, bún bò Huế, hủ-tiếu Cần-Thơ. Có lẽ họ dịch tiếng “specialize (in)” của Anh, vốn có nghĩa là “chuyên-môn (về một việc gì); nổi tiếng (nhờ một sản-phẩm nào); là chuyên-gia (về một khoa/môn nào)” mà khi thí-dụ riêng về bác-sĩ thì từ-điển ghi là “chuyên trị (bệnh nào)” nên họ tưởng là chuyên trị áp-dụng cho mọi ngành/nghề.



    2o- Trong làng thơ có một giai-thoại: trong lúc ông A khen bài thơ của thi-sĩ X là “tuyệt cú” thì ông B mỉa-mai “tuyệt cú... mèo ấy à! ” và thế là từ-ngữ tuyệt cú mèo ra đời, nhưng để chỉ cái dở mà thôi. Vậy mà có người vẫn rao là món hàng của họ thật “tuyệt cú mèo”, thậm-chí (thật tình) khen thơ của bạn mình là “tuyệt cú mèo”!



    *

    * *



    III/ Ngoài ra, có một người đã lặng-lẽ “cải-mệnh ” một số chữ Việt (cả hình-thức của chữ, lẫn ý-nghĩa của chữ) trong thời-gian qua, là nhà thơ Thanh Thanh, tên thật là Lê Xuân Nhuận, trong 2 cuốn hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” và “Cảnh-Sát-Hóa” do “Văn Nghệ” và “Xây-Dựng” ấn hành.



    Anh là một người khó tính trong việc dùng từ, thí-dụ anh đã phê-bình một vài lời ca:

    Trăng vui là lúc trăng chưa rụng,

    Ðã “rụng” thì sao lại gọi “vui”?

    (Ref: “Trăng rụng xuống cầu” trong bản nhạc cùng tên của Hoàng Thi Thơ)

    “Xa một tầm tay”: còn với được;

    (Ngoài tầm tay với mới xa thôi!)

    (Ref: “Xa một tầm tay” trong bản nhạc “Hương Xưa” của Vũ Hoàng )



    Con tim: biểu-hiện tình chân thật,

    Trao trọn người yêu, trọn nghiã nghì;

    Nếu thật yêu người và tự trọng:

    “Con tim” sao lại “để quên” đi?

    (Ref: “Để quên con tim” trong bản nhạc cùng tên của Đức Huy)



    Một số thi+văn-hữu có yêu-cầu anh giải-thích những từ mới lạ trong sách của anh, thì anh trình-bày:



    *

    “Thoạt tiên, nhân lần đầu tiên xuất-bản tác-phẩm tại Hải-Ngoại, tôi đã muốn làm một lần một công hai việc, là vừa cống-hiến độc-giả một nội-dung sách mới lạ, vừa ra mắt công-chúng một hình-thức chữ mới lạ. (Nhưng rồi, thể theo đề-nghị của Ô. Võ Thắng Tiết, giám-đốc nhà xuất-bản Văn Nghệ ở Nam California, tôi đã sửa đổi, tức là gác bỏ, phần lớn những điểm mới lạ nói trên.)



    Tuy nhiên, trong cuốn “Về Vùng Chiến-Tuyến” vẫn còn sót lại một số từ-ngữ mà tôi xin giải-thích như sau.



    3a) Về cấp-bậc: Tôi không đồng-ý, và cũng rất bất-mãn, về việc (thí-dụ) một thiếu-tướng của ta là “tướng 2-sao” mà chỉ được gọi là “thiếu-tướng” nghĩa là ngang hàng với một viên “tướng 1-sao” của địch mà thôi. Cũng thế, một “tướng 3-sao” của ta thì chỉ được gọi là trung-tướng, còn “tướng 3-sao” của địch thì lại được gọi là “thượng-tướng” (theo nghĩa của ta thì thượng-tướng còn cao hơn cả đại-tướng nữa: Hán-Việt Từ-Ðiển của Ðào Duy Anh dịch “thượng-tướng” là “quan võ cấp thứ nhất (généralissime)”, Tự-Ðiển Việt-Pháp của Ðào Ðăng Vỹ dịch “thượng-tướng” là “grand général”, Việt-Nam Tân Tự Ðiển của Thanh Nghị dịch “thượng-tướng” là “bậc cao nhất trong hàng tướng”)!



    Tôi đã đề-nghị sửa lại danh-xưng, dựa theo thứ-bậc tuổi-tác (cấp-bậc nhà-binh tính theo cả tuổi đời lẫn tuổi lính), mà gọi:

    Tướng 1-sao” của ta là “tráng-tướng” (tráng-niên), tuy nhỏ hơn trung-tướng (trung-niên) nhưng vừa thoát khỏi cái cảnh “đang còn chuẩn-bị (chuẩn-tướng) chứ chưa thực-thụ”, lại còn “chơi gác” phía địch, vì địch chỉ là thiếu-tướng (thiếu-niên) mà ta đã là tráng-tướng (tráng-niên, lớn hơn);

    Một “tướng 2-sao” của VC là trung-tướng, một “tướng 2-sao” cùa ta cũng là trung-tướng (trung-niên), không còn là thiếu-tướng (thiếu-niên);

    Một “tướng 3-sao” cùa ta là “cao-tướng” (cao-niên);

    Một “tướng 4-sao” của ta là “lão-tướng” (lão-niên);

    Dụng-ý là: “tướng 3-sao” của địch tuy đã được gọi là “thượng-tướng” nhưng “tướng 3-sao” của ta không còn bị gọi là “trung-tướng” (thấp hơn) nữa, mà lại được gọi là “cao-tướng” (cao-niên lớn hơn trung-niên); dù “cao (tướng)” với “thượng (tướng) thì cũng “cao thượng” như nhau, nhưng người ta nói “cao thượng” chứ không ai nói “thượng cao”, thành ra “cao tướng” của ta vẫn đứng ở trước, có phần lấn hơn “thượng-tướng” của địch. Về “tướng 4-sao” cũng thế, của địch thì là “đại-tướng”, của ta thì vừa là “lão-tướng” (lão-niên, cao hơn cao-niên tức “cao-tướng”và “thượng-tướng” 3-sao), vừa gồm cả ý “lão-luyện” hơn tướng đồng-cấp ở bên đối-phương...

    Và cứ như thế mà đổi mới xuống đến cấp binh nhì, để tránh cho các thế-hệ hậu-sinh, và người nước ngoài (qua các bản dịch) hiểu sai sự thật về ta.

    Rốt cuộc, tôi đành tạm dùng những từ đã quen đối với Việt-Nam Cộng-Hòa, nhưng phải chú thêm, thí-dụ: trung-tướng (của ta) là tướng 3-sao, vân vân.



    3b) Về chức-vụ: Ai cũng biết rằng nguời chỉ-huy của một đơn-vị là người lớn nhất về mặt chức-vụ trong đơn-vị ấy, còn những người khác trong cùng đơn-vị thì dù chức-vụ có lớn bao nhiêu cũng chỉ tối-đa là Phó (Chỉ-Huy-Phó, Phó Chỉ-Huy) mà thôi, cho nên, nếu là đơn-vị cấp lớn, đứng đầu thường là cấp tướng, thì người đứng kế trong đơn-vị ấy cũng được gọi hẳn là Phó (Tư-Lệnh-Phó, Phó Tư-Lệnh) rõ-ràng; do đó, đứng trên Tư-Lệnh-Phó hẳn là “Tư-Lệnh” (không cần thêm một chữ “Trưởng” để thành “Tư-Lệnh-Trưởng”), thế thì đứng trên Chỉ-Huy-Phó hẳn là “Chỉ-Huy”, cần gì phải thêm một chữ “Trưởng” để thành “Chỉ-Huy-Trưởng”, trong lúc ta cần giản-dị-hóa chữ viết (và cả tiếng nói) để giúp cho trẻ nhỏ và người nước ngoài dễ học tiếng Việt-Nam hơn.

    Cũng thế, đã có Trưởng Ban, Trưởng Phòng, Trưởng Ty (không phải Ban-Trưởng, Phòng-Trưởng, Ty-Trưởng), tại sao chúng ta không có Trưởng Quận, Trưởng Tỉnh, Trưởng Bộ, vừa để thống-nhất về mặt cú-pháp, vừa để rút ngắn câu văn (”Trưởng Ty Thông-Tin” gọn hơn “Ty-Trưởng Ty Thông-Tin”)...



    3c) Về địa-danh: Cả một quốc-gia Việt-Nam Cộng-Hòa đầy thể-thống như thế mà ngoài Sài-Gòn là một “đô-thành” ra thì không có một nơi nào được gọi là “thành-phố” (city) cả, ngay đến Ðà Nẵng quan-trọng bậc nhì liền sau thủ-đô mà cũng chỉ là một “thị-xã” (town) mà thôi, trong lúc Việt-Cộng có nhiều “thành-phố” ngoài Bắc (và sau này đã ban quy-chế “thành-phố” cho nhiều thị-tứ trong Nam). Bởi thế, khi đề-cập đến một số “thị-xã” cũ dưới thời Việt-Nam Cộng-Hòa mà vì là những địa-phương quan-trọng nên tôi đã dùng danh-xưng “thành-phố” thay vì “thị-xã”; ngoài ra, tôi cũng lược bớt một chữ, thí-dụ: “Thành Ðà-Lạt” (thay vì “Thành-Phố Ðà-Lạt”), “Thị Vũng-Tàu” (thay vì “Thị-Xã Vũng Tàu”), cũng để cân xứng với Tỉnh A, Quận B, v.v...



    Đáng nói hơn hết là cấp Quân-Khu, đã được gọi là “Vùng Chiến-Thuật” (CTZ= Corps Tactical Zone= Vùng Chiến-Thuật cấp Quân-Đoàn), bên phía dân-chính gọi là Vùng (Vùng I cho đến Vùng IV). Mỗi Vùng Chiến-Thuật gồm nhiều “Khu Chiến-Thuật” (DTZ= Division Tactical Zone= Khu Chiến-Thuật cấp Sư-Đoàn), mà mỗi Khu Chiến-Thuật thì bao gồm nhiều Tiểu-Khu (cấp Tỉnh). Như thế nghĩa là, nếu một Khu Chiến-Thuật (cấp Sư-Đoàn) bao gồm một Liên-Tiểu-Khu/Liên-Tỉnh [thí-dụ] 3 Tiểu-Khu (3 Tỉnh), thì một Vùng Chiến-Thuật (cấp Quân-Đoàn/Quân-Khu) bao gồm nhiều Khu Chiến-Thuật (cấp Sư-Đoàn/Liên-Tỉnh) hơn, phải bao gồm ít nhất (thí-dụ) 6 Tiểu-Khu (Tỉnh). Thế mà, sau khi “cải-tổ hành-chánh” Trung-Ương đã gọi mỗi Vùng bên phía dân-sự (bao gồm lãnh-thổ của một Quân-Khu/Quân-Đoàn) là một Khu (Khu I cho đến Khu IV) tức là “hạ bệ” mỗi Vùng hành-chánh (đáng lẽ ngang hàng với cấp Quân-Khu/Quân-Đoàn) xuống còn ngang hàng với cấp Khu Chiến-Thuật (cấp Sư-Đoàn)!

    (Lê Xuân Nhuận đã gom chuyện này với nhiều chuyện khác tương-tự để gửi thư tham-luận lên Trung-Ương, gọi đó là “quân-phiệt” – và trong các bài-viết của mình vẫn gọi các “Khu” là “Vùng” (Vùng I, Vùng II chẳng hạn.)



    3d) Về ý-kiến của một số báo-chí đối với các chữ đổi mới (cải-mệnh) của Lê Xuân Nhuận:



    a/ Nhật-báo “Người Việt” ở Nam California, trong khi nhận xét “tác-giả đã tự-động sáng-chế nhiều danh-từ”, đã không đồng ý với việc tôi “gọi cảnh-sát là cảnh-nhân”. Như thế tức là người viết bài ấy không phân-biệt được sự khác nhau giữa một ngành nghề với một người tham-gia ngành nghề ấy. Lấy quân-đội làm thí-dụ: quân-đội là một tổ-chức, không thể gọi một người lính là một quân-đội được, mà phải gọi là “nhân-viên của quân-đội” tức “quân-nhân” (người của quân-lực); cho nên, cảnh-sát là một cơ-quan, không thể gọi một viên-chức cảnh-sát là một cảnh-sát, mà phải gọi là “nhân-viên cảnh-sát” tức “người của cơ-quan cảnh-sát”, là “cảnh-nhân”, v.v... Chúng ta đã có “quân-nhân”, “chinh-nhân”, “chủ-nhân”, “công-nhân”, “chính-nhân”, “pháp-nhân”, “quan-nhân”, “thương-nhân”, “doanh-nhân”, “nam-nhân”, “nữ-nhân”, v.v...; vậy thì, đã gọi được người của quân-lực là “quân-nhân”, người của giới làm công là “công-nhân”, tại sao lại không gọi được người của cảnh-lực là “cảnh-nhân”? Còn việc “tự-động sáng-chế” thì chính ở phần mở đầu của mục “Văn Học Nghệ-Thuật” trong đó có đăng đoạn điểm sách trên, “Người Việt” cũng đã đề-cao sự “cởi mở”, “không có gánh nặng quá-khứ chồng chất trên lưng”. Cứ “bổn cũ soạn lại”, không chịu “sáng chế”, tôi cho như thế mới là cam chịu “gánh nặng quá-khứ” trên lưng.



    b/ Trong lúc tạp-chí “Thế-Giới Mới” ở Texas đã giới-thiệu “Về Vùng Chiến-Tuyến” của tôi là “tài-liệu quý giá”, “khá đầy đủ cho độc-giả thích nghiên-cứu tổng-quát về cuộc chiến Việt-Nam”, thì tạp-chí “Văn Học” ở Nam California, sau khi cũng xác-định là sách ấy “cung-cấp thêm tài-liệu để bạn đọc hiểu nội-tình chính-trị Miền Nam thời bấy giờ, đặc-biệt là những gì liên-quan tới các nhân-vật cao-cấp của chính-quyền Miền Nam”, đã lưu ý về “cách dùng chữ khác thường của tác-giả” qua việc thay thế “cảnh-sát” bằng “cảnh-lực”. Người viết bài ấy không biết là cảnh-sát Việt-Nam Cộng-Hòa hồi ấy đã được tổ-chức thành Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia. Lực-Lượng Quân-Ðội là “Quân-Lực”, và Lực-Lượng Cảnh-Sát là “Cảnh-Lực”; đó không phải là do tôi dùng chữ “khác thường” mà là dựa vào thực-tế: từ trung-ương xuống đến các địa-phương đã có mỗi nơi ít nhất là hai bộ-phận mang tên “cảnh-lực”: đó là “Trung-Tâm Hành-Quân Cảnh-Lực”, mà ở cấp trung-ương thì Tư-Lệnh và các phụ-tá thường ra thuyết-trình trước Tổng-Thống, Thủ-Tướng, Quốc-Hội, và cả Bộ Tổng Tham-Mưu nữa; và Nha “An-Ninh Cảnh-Lực” cấp quốc-gia, Sở ANCL cấp Vùng, Phòng ANCL cấp Tỉnh/Thị, v.v... Không lẽ chúng ta “noi gương” Việt-Cộng: gọi là Cộng-Sản Việt-Nam thì được, mà gọi là Việt-Cộng thì không? (Gọi là Lực-Lượng Cảnh-Sát thì được mà gọi là Cảnh-Lực thì không?)...”

    *

    * *



    Chúng tôi chưa đúc kết hết được ý-kiến chung về các ước muốn và thể-hiện canh-tân chữ Việt kể trên, nhưng trên bình-diện tổng-quát thì cũng tán-đồng quan-điểm của nhà văn Nguyễn Sĩ Tế: “Người viết truyện mới không nên quá e-dè với hai cuốn tự-điển và ngữ-pháp...”, và “... xin nhớ rằng, tới một chừng mực nào đó, người viết truyện có quyền rời bỏ những cú-pháp cũ mèm mà đưa ra một lối hành-văn phá cách, độc-đáo của riêng mình. Bởi lẽ ngôn-ngữ là cái quyền và cái dụng của mỗi người...”.



    Vâng, ngôn-ngữ là một ước-lệ; chữ viết ban đầu chỉ là một ước-hiệu, nhưng phải chờ đợi sau khi đã được số đông thử-nghiệm, sàng lọc và chấp-nhận, nó mới trở thành quy-ước theo lệ thường.



    Tất-nhiên không phải đề-nghị nào rồi cũng đều sẽ được thông-qua; nhưng trong tinh-thần cầu-tiến, nếu chỉ vì lòng câu-chấp mà muốn dìm đạp ngăn trở những sáng-kiến này, phát-minh kia, thì quả là quá hẹp-hòi; vì, ai biết đâu, trái đất quay quanh, cuộc sống đổi dời, “tonight” trở thành “tonite”, “plough” trở thành “plow”, “for you” trở thành “4U”, ngay đến chữ “Trời” ngày nay thì cũng chỉ là một dạng chữ mới của chữ “Blời” ngày xưa mà thôi...





    NGƯỜI THƠ

    Lui Cửa Trước


















    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    TIẾNG SÉT ÁI TÌNH


    Anh yêu ơi! em gom hết mây trời
    In vào đấy một tình yêu bất diệt!

    Có những buổi nhìn mây trời xanh biếc
    Tự hỏi mình có đúng hay đang mơ
    Một tình yêu chợt đến không đợi chờ
    Biết có phải thoáng qua hay chắc chắn?

    Kẻ sa mạc gặp cơn mưa may mắn
    Biến khô cằn thành ruộng đất phì nhiêu
    Có nên nghe theo sôi nổi thật nhiều?
    Hay đó chỉ là điện trời chớp nhoáng
    Chợt bừng lên, lẫy lừng trong một thoáng
    Để tắt liền, rơi vào mãi âm u
    Cho con tim quằn quại trong ngục tù
    Những song cửa vô hình nhưng khó thoát!

    Anh yêu ơi!
    Mở cho em cả khung trời bát ngát
    Để em thờ một lý tưởng tình yêu...

    HOA ĐỘ



    LOVE AT FIRST SIGHT


    I want to amass, darling, all clouds in the sky
    To imprint in it a First Love forever to reify!

    Many a time I contemplate the horizon blue
    And ask myself if it is truth or dreamy dew?
    This love has happened without expectation;
    Is it a dead certainty or a quick evaporation?

    I feel like a dry desert luckily receiving rain
    To turn a torrid terrain into a fertile domain.
    Should I respond in full swing to my heart
    Or consider it a lightning flashing like a dart
    That bursts out, glorious but brief as a spark,
    Then dies out and sink into the infinite dark
    For my heart to writhe, in its prison to lout
    To invisible railings impossible to get out.

    Oh my lover!
    Open up the whole immense heavens real
    So that I can worship my love, the ideal!...

    Translation by THANH-THANH
    Thanh-Thanh.com

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    MẮT ANH

    Em xem giùm mắt anh
    Có cái gì là lạ
    Vừa xanh như trăng thanh
    Vừa hồng như lửa hạ
    Vừa vàng như nắng hanh

    Em xem giùm mắt anh
    Có cái gì lấp lóa
    Nhưng không là vảy cá
    Cũng không là thong-manh.

    Em xem giùm mắt anh
    Có cái gì kỳ dị
    Không phải là cận thị
    Không phải là viễn thị
    Không phải là loạn thị
    Giác-mạc vẫn trong lành
    Mắt vẫn sáng long lanh…

    Thật ra, anh biết rành
    Không cần tìm loanh quanh
    Vì nó là tâm bệnh:
    Hình em trong mắt anh!

    Thật ra, anh không đau
    Không cần tìm bệnh lý
    Anh cần em chú ý
    Cốt để được gần nhau

    Em là một nụ cười
    Em là đóa hồng tươi
    Cho lòng anh thắm mãi
    Cho anh tin yêu đời

    THANH-THANH



    MY VISION

    Would you examine my eyes?
    There is something strange to arise:
    Partly cerulean in the bright moon,
    Partly rosy with the summer sun to tune,
    Partly yellow like a dry afternoon.

    Examine my eyes, would you?
    There is some scintillating hue,
    But not leucoma at all
    Nor cataract as you call.

    Examine my eyes, please.
    There is something not at ease:
    Neither myopia
    Nor presbyopia
    Nor even astigmatism, so-and-so.
    The corneas are still clear, I know;
    My eyes are still pure…

    Oh, in fact, about it I am quite sure.
    No need to look for (there is no border!)
    Because it is my mental disorder:
    Your image in my eyes!

    Truly, to any diseases I have no ties.
    It does not involve pathology;
    I need your attention (it is psychology!),
    In order to be beside you, my dear.

    You are a smile, cheer;
    You are a fresh rose
    To make my heart for ever warm, close,
    For me to trust and love life.

    English version by THANH-THANH
    Thanh-Thanh.com

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    HẠNH-PHÚC

    Em thấy đấy: vì sao anh đã quyết
    Chọn đưa em về giới-thiệu gia-đình?
    Dẵm sau gót những tình yêu tha-thiết
    Của bao cô hy-vọng chiếm tim mình!

    Từ dạo ấy lòng anh mang mối hận
    Bởi không làm thỏa-mãn mọi tình yêu,
    Với ý nghĩ: biết bao người oán giận
    Mình đong-đưa như gió sớm, mây chiều!

    Ðời thắm đẹp nhờ muôn hương vạn sắc;
    Một cánh hoa khôn dệt nổi xuân vàng!
    Anh biết thế nên lòng anh thắc-mắc
    Thương bao cô mắt lệ ướt hai hàng.

    Nhưng nghĩ lại: lòng tham vô-giới-hạn,
    Túi hẹp nông khôn nhốt hết kho trời!
    Anh đã chọn một riêng em làm bạn,
    Các cô kia đành lỗi mộng chung đời!

    Như thế đó, tình anh như thế đó,
    Em biết không? em có hiểu cho không?
    Chọn một đóa để buông lìa cả bó
    Vì anh tin em sắc thắm, hương nồng.

    Em đã thấy vai trò em hệ-trọng:
    Một bông hoa đại diện cả mùa hoa ?
    Anh sung-sướng, anh tràn-trề hy-vọng;
    Em, em ơi, đừng để mộng phai nhòa!

    Em hãy quyết cùng anh xây tổ ấm,
    Dù chông-gai, dù bão-tố ngang trời;
    Xây cho trọn một túp lều hoa gấm
    Từ hôm nay cho đến lúc xa đời .

    Vì đất nước chỉ thanh-bình thịnh-vượng
    Khi dân-nhân xã-hội được vui hòa,
    Mà họ-mạc xóm-giềng là viễn-tượng
    Của gia đình xây dựng giữa hai ta!

    17-01-1955
    THANH-THANH

    0
Reply
  • NguoiTho 2 years ago

    LỄ TẠ ƠN


    Tạ ơn trời Phật đoái thương con
    Dâu bể bao phen vẫn sống còn
    Ngước mặt nhìn đời không hổ thẹn
    Hiếu trung giữ vẹn tấm lòng son

    Tạ ơn Tổ Quốc Việt Nam yêu
    Ân huệ cho con đã quá nhiều
    Hơn bốn ngàn năm trang sử Việt
    Hào hùng bất khuất biết bao nhiêu

    Tạ ơn Cha Mẹ hạ sinh con
    Nuôi dưỡng dạy răn được vẹn tròn
    Điều phải biết theo, sai biết tránh
    Công ơn Cha Mẹ lớn tày non

    Tạ ơn tất cả khắp xa gần
    Dòng họ, gia đình, bạn hữu thân
    Đã mến thương tôi trong cuộc sống
    Cho đời đẹp mãi tựa mùa Xuân

    Tạ ơn nước Mỹ, nhân dân Mỹ
    Mở rộng vòng tay đón thế nhân
    Cứu giúp bao người trên Thế giới
    Mầu da chủng tộc chẳng hề phân

    Tạ ơn Sư Trưởng, quý Cô, Thầy
    Trí tuệ cho con tự bấy nay
    Ân đức khai tâm trân quý ấy
    Đã đủ hành trang cuộc sống này.

    TỪ PHONG



    THANKSGIVING


    Thank you,Nature,the Buddha who have pity on me
    So that from so many vicissitudes of life I am free;
    Raising my eyes to look at anyone without shame,
    Filial piety and loyalty kept, I've attained my aim.

    Thank you, my beloved Vietnam fatherland
    For lavishing your favor on me, I understand,
    Over four thousand years our history inheritable
    How many examples magnanimous, indomitable!

    Thank you, my kind parents who gave me birth
    Brought me up, educated; proud to be on earth,
    I know the evil to avoid, with the good to comply:
    The credit is due to them, the merit mountain-high.

    Thank you, everybody everywhere far and near,
    My lineage, my family precious, my friends dear
    Who have been fond of me in this life in chime,
    Our existence is always beautiful like springtime.

    Thank you, America, the Americans humane
    For receiving with wide arms people mundane
    Rescuing, relieving on the globe so many a soul
    Not distinguishing race, color, just those in dole.

    Thank you, Abbot, my Master, each bonze, nun
    For giving me Wisdom long since well done.
    Your rich graces to develop my mind wakerife
    Have provided me with enough luggage in life.

    Translation by THANH-THANH

    0
Reply
  • thieuky 3 years ago

    Admin cho em hỏi khi em bấm vào tìm truyện hay bấm vào bất cứ truyện nào nó cũng
    chuyển đến trang chủ chứ không mở truyện được a, cho em hỏi làm sao để khắc
    phuc. Em cám ơn ạ

    0
  • 3 years ago

    Internet của thieuky bị chặn rồi. Nên dùng dịch vụ internet khác.

    0
  • thieuky 3 years ago

    Dạ vâng em cám ơn ạ

    0
Reply
TO TOP
SEARCH