CLOSE
Add to Favotite List
EBOOKS » Mạc Ngôn » Ếch


CHƯƠNG 4

Tiên sinh Sugitani Yoshihito kính mến,

Sau khi về hưu, chúng tôi chuyển nhà về sống ở quê hương Cao Mật. Thoắt đó mà đã ba năm. Tuy trong thời gian này cũng có nhiều chuyện rắc rối nhưng nói chung là vui vẻ và êm thắm. Việc ngài đánh giá rất cao những tài liệu về cô mà tôi đã gửi cho ngài khiến tôi cảm thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề hơn. Ngài nói, những tài liệu này được chỉnh lý tại sẽ trở thành một cuốn tiểu thuyết và có thể in thành sách. Nhưng tôi vẫn thầm lo lắng lẫn nghi ngờ. Nỗi lo thứ nhất chính là, tôi sợ các nhà xuất bản sẽ chẳng chịu in những cuốn sách viết về đề tài này. Thứ hai là sợ cô tôi sẽ tức giận khi đọc những gì do thằng cháu của mình viết ra. Cho dù tôi đã cố gắng để tránh những kỵ húy đối với bậc trưởng bối nhưng đôi lúc vẫn động đến những gì sâu kín nhất trong tâm hồn của cô. Ngay cả trong thâm tâm, khi viết những trang tài liệu này để gửi cho ngài, tôi vẫn thầm nghĩ mình đã phạm một lỗi lầm lớn và đang tìm cách để làm giảm nhẹ những lỗi lầm của mình. Những lời an ủi và động viên của ngài khiến tôi yên tâm được đôi phần. Đã biết là nếu tiếp tục viết là tiếp tục sai lầm, nhưng tôi không thể dừng lại ở đây. Viết một cách trung thực là một cách chuộc lỗi. Thế thì tôi sẽ viết một cách trung thực vậy.

Mười mấy năm trước tôi đã từng nói, khi viết số phận cá nhân thì phải động đến nỗi đau lớn nhất của tâm hồn của người ấy; viết về nhân sinh thì phải lục lọi những điều không dám ngoái đầu nhìn lại trong ký ức của mình. Lúc này, tôi vẫn tiếp tục viết về những nỗi đau lớn nhất của nhân sinh, những gì bạo tàn nhất của loài người. Tôi muốn tự đưa mình lên bàn mổ, đặt dưới ánh sáng của những ngọn đèn y học để nhận ra mình.

Hơn hai mươi năm trước, tôi đã từng dương dương tự đắc không biết xấu hổ khi tuyên bố rằng: Tôi viết cho chính mình. Viết để mà chuộc lỗi đương nhiên có thể được xem là viết cho chính mình, nhưng chừng đó chưa đủ. Tôi nghĩ, tôi vẫn phải viết về những người đã từng bị tôi hại, đồng thời cũng phải viết về những người đã từng hại tôi. Tôi cám ơn họ, bởi vì mỗi lần bị hại, ngay lập tức tôi lại nghĩ đến những người đã từng bị tôi hại.

Thưa tiên sinh,

Bây giờ tôi sẽ tiếp tục gửi cho ngài những điều vụn vặt, đứt nối mà trong một năm qua tôi đã viết ra. Những chuyện có liên quan đến cô Vạn Tâm của tôi. Tôi nghĩ là nên dừng lại ở đây. Tiếp theo tôi sẽ hoàn thành một cách nhanh chóng kịch bản mà trong đó, cô tôi được thể hiện nguyên diện mạo.

Mỗi lần gặp tôi, cô đều nhắc đến ngài và cô ấy hy vọng một cách chân thành là ngài còn có cơ hội quay trở lại. Thậm chí cô ấy còn nói, có phải là tiên sinh Sugitani không đủ tiền mua vé máy bay? Cô ấy còn nói: “Cháu cứ nhắn với ông ấy là cô sẽ mua vé máy bay cho ông ấy! Trong lòng cô còn có nhiều điều muốn nói nhưng không thể dễ dàng nói với bất cứ ai. Nhưng nếu tiên sinh Sugitani đến, cô sẽ không do dự gì mà tâm sự hết với ông ấy”. Cô nói, cô ấy còn biết một bí mật vô cùng trọng đại về phụ thân ngài và chưa bao giờ nói với bất kỳ ai. Cô ấy chỉ chờ ngài đến và chỉ nói với mỗi một mình ngài mà thôi.

Ngoài ra, cho dù trong mớ tài liệu hỗn tạp mà tôi gửi theo đây tuy đã có đề cập đến, nhưng tôi nghĩ là cũng cần nên nói với ngài ở đây: Ở cái tuổi gần đất xa trời rồi nhưng gần đây tôi lại trở thành bố của một đứa trẻ! Thưa tiên sinh, cho dù đứa trẻ này được sinh ra như thế nào, cho dù từ nay trở về sau sẽ có rất nhiều chuyện phiền phức chung quanh đứa trẻ này, tôi vẫn mong ngài chúc phúc cho nó trong tư cách của một đại quý nhân. Và nếu có thể, xin ngài hãy đặt cho nó một cái tên!

Khoa Đẩu

Cao Mật, tháng 10 năm 2008


1.

Trong ấn tượng của tôi, lá gan của cô tôi bao trùm cả trời đất này. Hầu như cô không sợ bất kỳ người nào trên thế gian này, càng không có chuyện gì khiến cô phải sợ hãi. Nhưng... chính mắt tôi và “Tiểu sư tử” lại trông thấy cô bị một con ếch làm cho kinh sợ, kinh sợ đến độ ngất đi và sùi cả bọt mép.

Đó là một buổi sáng tháng tư, tôi và “Tiểu sư tử” được mời đến làm khách tại cơ sở nuôi ếch do Viên Tai và em họ Kim Tu của tôi hợp tác sáng lập. Thời gian chỉ có mấy năm mà diện mạo quê hương Đông Bắc Cao Mật của tôi - vốn được xem là một vùng đất lạc hậu, nay đã thay đổi ghê gớm. Hai bên bờ sông là hai con đê bằng đá trắng cao ngất ngưỡng, đồ sộ và kiên cố. Hai bên bờ sông trồng toàn những kỳ hoa dị thảo xanh mướt. Sau bờ đê thấp thoáng mấy mươi khu chung cư cao tầng cao thấp khác nhau, lại còn có cả những khu biệt thự kiến trúc theo lối phương tây. Làng tôi đã nối kết với phố huyện, đi đến sân bay Thanh Đảo chỉ mất bốn mươi phút ô tô. Thương nhân Hàn Quốc và Nhật Bản đổ xô đến để đầu tư mở cửa hàng, xí nghiệp, nhà máy. Tuyệt đại bộ phận đất đai nông nghiệp của làng tôi đã biến thành sân gôn. Cho dù cái tên của quê tôi đã được đổi mới, bây giờ được gọi là khu Triều Dương. Nhưng do thói quen, chúng tôi vẫn gọi là vùng Đông Bắc Cao Mật.

Từ nơi ở của chúng tôi đến cơ sở nuôi ếch mất năm cây số. Kim Tu định đánh xe đến đón nhưng chúng tôi đã khéo léo từ chối. Chúng tôi đi bộ dọc theo con đường dành cho người đi bộ ven sông đi xuôi về phía hạ nguồn, thi thoảng lại bắt gặp những phụ nữ đẩy những chiếc xe bé tẹo đưa con đi dạo. Gương mặt ai cũng hồng hào bóng loáng. Mùi nước hoa ngoại đắt tiền xông lên sực nức từ thân thể họ. Những đứa trẻ ngồi trên xe miệng ngậm núm vú nhựa, có đứa ngủ say, có đứa mở tròn đôi mắt thơ ngây nhìn thế giới chung quanh... Tất cả đều đẹp đẽ, đều thơm tho. Mỗi khi gặp một đứa bé, “Tiểu sư tử” đều kéo mẹ chúng lại chào hỏi, sau đó cúi cái thân thể mập mạp xuống chiếc xe sờ nắn những bắp tay bắp đùi tròn trịa của mấy đứa bé rồi hôn vào đôi má lính phính của chúng. Những gì biểu hiện trên mặt “Tiểu sư tử” lúc ấy chứng minh rằng, cô ấy thật lòng yêu trẻ con. Trước một thiếu phụ ngoại quốc tóc vàng mắt xanh đang đẩy một chiếc xe, trên đó có hai đứa bé song sinh, đầu đội mũ len, xinh đẹp chẳng khác hai chú búp bê Baby, “Tiểu sư tử” hết ve vuốt đứa này rồi sang đứa kia, những tiếng xuýt xoa vang lên nho nhỏ và đôi mắt ngấn đầy nước mắt. Tôi nhìn gương mặt rất lễ phép và nụ cười của người thiếu phụ ngoại quốc, nhẹ kéo áo “Tiểu sư tử”, nói:

“Đừng để nước mắt rơi lên mặt hai đứa trẻ đấy!”.

“Tiểu sư tử” thở dài, nói: “Trước đây em đâu có nghĩ là trẻ con lại đẹp như thiên thần như thế này”.

“Điều này chứng minh là chúng ta đã già”.

“Cũng chưa hẳn” - “Tiểu sư tử” nói - “Người thời đại mới, cuộc sống đã cao nên việc nuôi nấng con cái cũng đầy đủ hơn. Do vậy mà trẻ con đứa nào cũng xinh đẹp”.

Trên đường, chúng tôi cũng gặp khá nhiều người quen, bắt tay hàn huyên và một cảm nhận chung của chúng tôi là “chúng ta đã già”, là “thời gian trôi nhanh quá, chớp mắt mà đã mấy mươi năm”...

Trên sông, một chiếc du thuyền trang hoàng sặc sỡ xanh xanh đỏ đỏ đang trôi từ từ, trông nó chẳng khác một lâu đài di động. Âm nhạc du dương từ trên du thuyền vẳng đến tai tôi. Rất nhiều cô gái hóa trang ăn mặc theo lối xưa tay ôm đàn che nửa mặt hoa ngồi trước mũi thuyền. Một vài chiếc tàu cao tốc xé nước bay trên sông. Những đợt sóng trắng tung lên cao khiến những con chim âu trắng hoảng sợ lao vút lên trời.

Tôi và “Tiểu sư tử” dắt nhau đi một cách bình yên. Thoạt nhìn thì ai cũng nghĩ là chúng tôi đang hòa chung nhịp đập của trái tim. Nhưng chúng tôi tự biết, mỗi người chúng tôi đang đuổi theo những suy nghĩ riêng. Trẻ con! Những đứa trẻ xinh đẹp khả ái của hiện tại..., có thể đó là những gì trong đầu “Tiểu sư tử” lúc ấy. Nhưng trong đầu tôi lúc này lại là những hình ảnh của quá khứ - Cuộc rượt đuổi kinh tâm động phách hai mươi năm trước, cũng ngay trên chính khúc sông này.

Chúng tôi bước lên lối giành cho người đi bộ chiếc cầu sắt được thiết kế theo mô hình dây văng vượt qua con sông vừa mới khánh thành. Rất nhiều chiếc ô tô sang trọng như BMW, Camry... đang lưu thông trên cầu. Hình dáng chiếc cầu rất đẹp, trông như một con hải âu đang chao cánh. Qua khỏi cầu là sân gôn đạt tiêu chuẩn quốc tế nằm bên phía tay phải. Bên tay trái là miếu Nương Nương đã trở nên nổi tiếng xa gần trong thời gian gần đây.

Đó là ngày mồng tám tháng tư Âm lịch, là ngày đại tế miếu Nương Nương. Trên những bãi cỏ chung quanh miếu, xe hơi đậu san sát. Từ các bảng số, chúng tôi biết hầu hết những chiếc xe này đều đến từ những thành phố thuộc tỉnh Cáp Nhĩ Tân, một số ít là bảng số ngoại tỉnh.

Vùng đất này trước kia vốn là một thôn nhỏ, được gọi là thôn “Nương Nương Miếu” vì giữa thôn có miếu Nương Nương. Thuở nhỏ tôi đã từng theo bố đến đây để dâng hương. Có điều việc này đã quá lâu, tôi chẳng còn ấn tượng gì cả. Ngôi miếu này đã bị san phẳng trong thời kỳ Cách mạng văn hóa. Ngôi miếu mới được trùng tu cực kỳ nguy nga đồ sộ, tường đỏ ngói vàng. Hai con đường dẫn vào miếu là những dãy hàng bán hương hoa, giấy vàng mã và có cả người bán những búp bê bằng đất sét. Người bán búp bê đang cao giọng rao chào mời du khách: “Mua búp bê nào! Mua búp bê nào!”.

Trong số người bán búp bê ấy, có một người mặc áo khoác vàng, đầu trọc lóc, hình dạng có vẻ là một nhà sư. Người này đang gõ mõ và đang cao giọng xướng một bài trông cũng có vần có điệu lắm:

Mua một búp bê mang về nhà,

Cả nhà cao hứng cười ha ha!

Năm nay mua về năm sau dưỡng,

Năm nữa nở miệng gọi: Má! Ba!

Chất lượng búp bê thật là cao,

Đại sư công nghệ chính tay tạo.

Búp bê của tôi dung mạo đẹp,

Mặt hoa da phấn miệng anh đào.

Búp bê của tôi linh nghiệm tuyệt,

Bán khắp một trăm linh tám huyện.

Mua một chiếc, sinh con rồng! Mua hai chiếc, thai rồng phượng!

Mua ba chiếc, sao Tam tinh! Mua bốn chiếc, quan Tứ trụ!

Mua năm chiếc, quan Ngũ hổ! Mua sáu chiếc, tôi không bán!

Sợ quý bà, nói lôi thôi!

...

Giọng rao của người này sao mà quen thuộc. Tôi bước đến gần để xem, hóa ra là Vương Can! Cậu ta đang chào mời một nhóm du khách Nhật Bản và Hàn Quốc. Tôi đang do dự và định kéo “Tiểu sư tử” rời khỏi chỗ này vì không muốn gặp mặt người quen khiến hai bên đều khó xử, đặc biệt là đối với Vương Can thì “Tiểu sư tử” đã vùng khỏi tay tôi, chạy thẳng đến trước mặt cậu ta.

Thật ra thì tôi thừa biết, “Tiểu sư tử” chạy đến trước mặt Vương Can nhưng không phải để gặp mặt cậu ta mà chính vì cái vật mà cậu ta đang cầm trên tay. Quả nhiên Vương Can không hề quảng cáo quá sự thật. Những con búp bê cậu ta bày bán trên quầy hoàn toàn khác với những người chung quanh. Trên quầy hàng của những người chung quanh, búp bê đủ màu đủ sắc rực rỡ nhưng bất luận là búp bê nam hay nữa đều chỉ có một khuôn mặt, một bộ dạng. Trên giá của Vương Can, tuy màu sắc không rực rỡ nhưng tất cả búp bê đều như một sinh mệnh đang sống, có khuôn mặt trầm tư tĩnh lặng; có khuôn mặt đang nhíu mày nhăn trán như đang suy nghĩ điều gì đó; có khuôn mặt cười tươi như hoa nở... Chỉ cần nhìn lướt qua là tôi biết, những con búp bê này đều được bàn tay của đại sư nặn búp bê nức tiếng huyện Cao Mật Hách Đại Thủ làm ra.

Năm một ngàn chín trăm chín chín, Hách Đại Thủ kết hôn với cô tôi. Cách bán búp bê đất độc đáo của ông Hách vẫn được sử dụng mấy chục năm nay không hiểu vì sao lại chuyển giao cho Vương Can, đồng thời lại biến đổi cách thức ra bán như vậy? Lúc này Vương Can đang nói với những du khách đang đứng chung quanh: “Những búp bê đang bày bán chung quanh tôi rất rẻ là vì họ dùng khuôn để dập. Còn những búp bê của tôi có đắt hơn một tí, nhưng chúng lại được nặn thủ công từ chính bàn tay của đại nghệ nhân nổi tiếng khắp huyện Cao Mật Hách Đại Thủ và ông vua nặn búp bê Tần Hà nhắm mặt mà nặn ra. Thế nào thì gọi là sống động như một sinh mệnh?” - Vương Can nhặt lên một búp bê đang chúm cái miệng nho nhỏ đầy sinh khí lên, nói tiếp - “Đây là con búp bê lấy nguyên mẫu từ phu nhân Dusa người Pháp đã được nhào nặn qua bàn tay thiên tài của Tần Hà đại sư của chúng tôi. Vạn vật sinh ra từ đất, các vị có hiểu không? Nữ Oa vắt đất nặn ra con người, các vị có biết không? Đất là vật có linh khí nhất. Đại sư Tần Hà đã lấy đất này từ lòng sông Giảo Hà ở độ sâu hai mét dưới mặt đất. Đó là loại đất sét đã trầm tích trên ba nghìn năm, là đất sét lịch sử, là đất sét văn hóa, các vị có hiểu không? Sau khi đưa lên khỏi mặt nước, chúng tôi phơi khô đất sét dưới mặt trời rồi để dưới ánh trăng để đất có thể hấp thu tinh khí của vũ trụ, hấp thu ánh sáng của mặt trời mặt trăng, sau đó được đặt lên bàn đá, mài vụn thành bột. Tiếp theo đó, chúng tôi lấy nước sông khi mặt trời vừa mới mọc, lấy nước giếng khi ánh trăng vừa lên đến đỉnh đầu để nhào thành bột nhão, dùng tay nhào một tiếng đồng hồ để cho chúng nhuyễn như bột miến... Lúc ấy mới bắt đầu nặn. Tôi cũng muốn nói thêm để quý vị hiểu rằng, Tần đại sư của chúng tôi khi nặn một búp bê thì công việc đầu tiên là dùng cành trúc chọc một lỗ nhỏ trên đầu, sau đó cắn ngón tay cho chảy máu và cho vào cái lỗ nhỏ ấy một giọt máu của chính mình, dùng một chút đất sét lấp miệng lại và bắt đầu nặn. Nặn xong thì đặt nó vào một chỗ tối, sau bảy bảy bốn chín ngày lấy ra, bắt đầu tô màu, tô mắt tô miệng. Như vậy, bản thân những đứa trẻ đất sét này đã là một sinh mệnh, nếu không nói là một sinh linh... Không giấu giếm các vị, tôi nói điều này nhưng mong các vị đừng sợ hãi... Gặp những đêm trăng tròn, những búp bê của Tần đại sư đều có thể thổi sáo và nhảy múa, vừa nhảy vừa vỗ tay vừa cười. Những tiếng cười tiếng vỗ tay ấy cũng giống như những âm thanh xuất phát từ điện thoại di động của các vị vậy, tuy không lớn nhưng rất trong và rất rõ ràng. Nếu không tin, các vị cứ lấy vài con đem về nhà để kiểm nghiệm những lời tôi nói. Nếu không đúng như vậy, các vị cứ đem lại đây và đập vỡ trước mặt tôi... Nhưng tôi tin rằng, các vị không nỡ lòng nào đập vỡ chúng, đúng không? Bởi đập vỡ chúng, các vị sẽ thấy máu, các vị sẽ nghe thấy tiếng khóc của chúng...” - Trong số những du khách đang vây chung quanh Vương Can, có mấy nữ du khách mua búp bê. Vương Can lôi hộp chuyên dụng ra, gói lại thật cẩn thận, các du khách cầm trên tay với vẻ mặt mãn nguyện và bỏ đi. Đúng lúc ấy, Vương Can mới nhận ra sự có mặt của tôi và “Tiểu sư tử”.

Thực ra thì trong thâm tâm, tôi biết là Vương Can đã nhận ra sự có mặt của tôi cũng như của “Tiểu sư tử” - người mà cậu ta đã theo đuổi một cách tuyệt vọng đến mười mấy năm từ rất sớm. Có điều, cậu ta vẫn làm ra vẻ rất kinh ngạc khi trông thấy chúng tôi, kêu lên rất điệu nghệ:

“Ôi chao! Thì ra là nhị vị!”

“Cậu vẫn tốt đấy chứ, anh bạn! Lâu lắm rồi không gặp nhau!”. Tôi nói.

“Tiểu sư tử” nhìn Vương Can cười, miệng nói gì đó nhưng tôi nghe không rõ. Tôi bắt tay Vương Can rồi rút thuốc lá mời cậu ta. Vương Can cũng rút thuốc lá mời tôi. Tôi hút điếu thuốc “Bát hỷ” của Vương Can, còn cậu ta thì hút điếu thuốc “Tướng quân” của tôi.

“Tiểu sư tử” quan sát thật tỉ mỉ những con búp bê của Vương Can.

“Nghe nói cậu đã trở về từ lâu rồi” - Vương Can nói - “Đúng là đi khắp cùng trời cuối đất, không đâu bằng chính quê hương!”.

“Đúng thế! Cáo chết quay đầu về núi, lá rụng về cội” - Tôi nói - “Nhưng chẳng qua cũng gặp phải thời thế thay đổi. Nếu là vài chục năm trước, ngay cả nghĩ tới thôi cũng không dám nghĩ”.

“Ngày xưa, mọi người sống như trong lồng kín. Nếu không bị nhốt trong lồng kín thì cổ cũng bị thắt một sợi dây thừng” - Vương Can nói - “Bây giờ, đã tự do rồi, chỉ cần có tiền, muốn làm gì thì đều làm nấy, chỉ cần không phạm pháp là được”.

“Đúng vậy!” - Tôi vừa nói vừa chỉ vào những con búp bê - “Này ông bạn, tất cả đều là thật đấy chứ? Tất cả đều linh nghiệm như ông nói đấy chứ?”

“Ông cho là tôi buột miệng nói bừa để lừa người ta sao?” - Thái độ Vương Can rất nghiêm túc - “Những gì tôi nói đều là sự thật, tuy có chút ít cường điệu nhưng căn bản vẫn là sự thật. Ngay cả chuyện quốc gia đại sự, người ta cũng cường điệu lên một chút, có sao đâu?”.

“Dù sao thì miệng lưỡi của tôi cũng không so được với ông” - Tôi nói - “Nói thật đi, tất cả đều do Tần Hà nặn cả, phải không?”.

“Lẽ nào lại là đồ giả!” - Vương Can nói - “Tôi nói, những con búp bê này có thể thổi sáo và nhảy múa trong đêm trăng tròn, đó là nói dóc. Nhưng chuyện Tần Hà nhắm mắt và nặn ra chúng, đó là chuyện thật trăm phần trăm. Nếu ông không tin, ngày nào đó rảnh rỗi, tôi đưa ông đi xem”.

“Tần Hà đang sống ở đây à? Hộ khẩu vẫn ở đây chứ”.

“Mấy năm gần đây sống ở đâu mà chả được, cần gì hộ khẩu với chả hộ khẩu. Chỗ nào sống được thì cứ sống thôi” - Vương Can nói - “Cô của ông sống ở đâu thì Tần Hà sống ở đó. Người như ông ta, nhân gian khó tìm!”.

“Tiểu sư tử” cầm một con búp bê rất đẹp, thoạt trông cũng nhận ra đó là một đôi được nặn theo mô hình pha trộn hai dòng máu đông tây trong tay, đưa lên cao, nói: “Tôi cần đứa trẻ này”.

Tôi chăm chú nhìn con búp bê và đột nhiên, một cảm giác lạ lùng xuất hiện. Đúng! Không sai tí nào! Trông có vẻ quen lắm. Nhưng tôi đã gặp khuôn mặt này ở đâu? Là ai?

Đúng rồi! Chính là Trần Mi, con gái Trần Tị và Vương Đảm, là đứa con gái bé bỏng mà cô tôi và “Tiểu sư tử” đã chăm sóc trong nửa tháng và sau đó đành lòng trả về cho bố nó là Trần Tị!

Tôi còn nhớ rất rõ cái đêm mà Trần Tị đến nhà tôi để thăm đứa con gái của cậu ta. Đó là đêm cuối cùng của một năm, là đêm giao thừa tết âm lịch. Tiếng pháo đì đùng nổ trong thôn, không gian khét lẹt mùi thuốc pháo và lởn vởn khói. “Tiểu sư tử” đã hoàn tất mọi thủ tục để có thể đi theo tôi, đã có thể rời khỏi tổ sinh đẻ có kế hoạch công xã. Qua tết là tôi đã có thể đưa cô ấy và Yến Yến đến ga tàu hỏa để đến Bắc Kinh. Trong đơn vị của tôi ở Bắc Kinh có một khu tập thể giành cho những quân nhân độc thân, cứ xem đó là nhà mới của chúng tôi. Bố không đi theo chúng tôi, cũng không muốn lên sống với anh cả lúc này đã công tác ở huyện. Ông muốn bám giữ mảnh đất của mình. May mà anh hai tôi đang công tác trên thị trấn gần nhà, có thể chăm sóc bố.

Sau khi Vương Đảm chết, Trần Tị sống ngập ngụa trong rượu, uống say thì hát và khóc, đi ngêu ngao khắp hang cùng ngõ hẽm. Ban đầu, mọi người còn biểu lộ sự thương xót và thông cảm. Nhưng dần dần, ai cũng lắc đầu ngao ngán. Khi tổ chức truy tìm Vương Đảm, công xã đã dùng số tiền trong ngân hàng của Trần Tị để trả công cho xã viên. Sau khi Vương Đảm chết, hầu hết những người đã nhận số tiền ấy đều mang đến trả lại cho cậu ta. Lãnh đạo công xã cũng quyết định không thu những khoản chi phí đã cung cấp cho Trần Tị trong thời gian bị giam giữ tại công xã. Do vậy, nếu tính toán một cách đơn giản, ai cũng biết là trong tay cậu ta ít nhất cũng có ba mươi nghìn đồng, đủ để cho cậu ta uống rượu trong vài ba năm. Gần như Trần Tị đã quên đưa con gái bé nhỏ được cô tôi và “Tiểu sư tử” ôm về trạm xá để chăm sóc. Thực ra, mục đích của Trần Tị khi mạo hiểm để cho Vương Đảm mang thai đứa thứ hai chỉ là mong muốn có một đứa con trai để nối dõi họ Trần. Do vậy mà cậu ta mới liều sống liều chết để bảo vệ cái bào thai ấy. Nhưng khi nhận lấy kết quả là một đứa con gái được sinh ra từ trong gian lao tột cùng, cậu ta không còn quan tâm gì nữa mà chỉ biết đấm ngực kêu khóc: Trời hại tôi rồi! Trời bắt tôi tuyệt tự!... như tôi đã kể ở trước.

Cái tên Trần Mi là do cô tôi đặt cho đứa con gái ấy. Bởi mắt nó sáng, mày nó thanh, lại đã có một con chị tên là Trần Nhĩ nên cô tôi chỉ nói gọn lỏn: Tên nó là Trần Mi! “Tiểu sư tử” vỗ tay tán thưởng: “Cái tên này quá hay!”.

Cả “Tiểu sư tử” và cô tôi đều đã có ý định nhận Trần Mi làm con nuôi. Có điều khi làm hộ khẩu và các thủ tục nhận con nuôi đều rất phiền hà phức tạp, cho nên khi Trần Tị đến và lôi con bé từ trong tay của “Tiểu sư tử” đi, nó vẫn chưa được kê khai hộ khẩu và cũng chưa có giấy khai sinh. Và tất nhiên, trong tổng số nhân khẩu hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chưa hề có tên con bé ấy. Thời ấy, người ta gọi loại trẻ con này là “con đen” và cũng chưa ai bỏ công ra để thống kê loại “con đen” này là bao nhiêu trong thời kỳ ấy. Nhưng nếu có thống kê chưa chắc đã đầy đủ, cho dù không đầy đủ thì con số thống kê vẫn có thể làm cho người ta giật mình kinh sợ. Cho đến năm một chín chín mươi, vấn đề “con đen” này tạm thời được giải quyết sau đợt tổng điều tra dân số trong toàn quốc. Và tất nhiên số tiền phạt vì “sinh con ngoài kế hoạch” này lớn không biết bao nhiêu mà kể. Có điều số tiền phạt ấy được nhập vào kho bạc của nhà nước là bao nhiêu, không ai có thể tính toán được. Mười mấy năm gần đây, nhân dân tiếp tục tạo ra bao nhiêu là “con đen”. Nếu thống kê được thì lại là một con số làm cho người ta tiếp tục sợ hãi và đương nhiên số tiền phạt cũng cao lên gấp mấy chục lần so với ngày ấy, chờ đến đợt tổng điều tra dân số tiếp theo và nếu những bậc bố mẹ của những “con đen” ấy nộp tiền phạt thì...

Trong những ngày ấy, thiên chức làm mẹ của “Tiểu sư tử” bộc lộ rất rõ rệt. Ôm ấp, hôn hít Trần Mi hình như vẫn chưa đủ làm cô ấy thỏa mãn. Thậm chí tôi còn nghi ngờ rằng, cô ấy đã từng lén lút vạch vú cho con bé bú. Cơ sở để tôi nghi ngờ là đầu vú của “Tiểu sư tử” có phần khác lạ. Có điều, cô ấy có sữa để cho con bé bú hay không thì rất khó nói. Tôi không dám phủ định nhưng cũng không dám khẳng định, bởi kỳ tích ấy nghe đâu đã từng phát sinh. Thuở nhỏ tôi đã từng xem một vở kịch kể về một gia đình gặp phải tai ương: bố mẹ chết cả, chỉ còn một cô con gái mười tám tuổi và một đứa con trai đang thời kỳ bú sữa. Trong lúc cùng quẫn, cô chị đã nhét đầu vú trinh nguyên của mình vào miệng cậu em trai. Tất nhiên ban đầu là không có sữa. Nhưng phép thần kỳ đã xảy ra, cậu em mút mãi và cuối cùng sữa cũng tiết ra! Chuyện thần kỳ ấy tất nhiên khó lòng xảy ra trong cuộc sống. Chị mười tám tuổi mà em còn bú sữa? Mẹ tôi nói, thời trước, mẹ chồng và con dâu đẻ cũng một lúc là chuyện bình thường. Nhưng... chuyện ấy cũng từng xảy ra trong hiện tại. Bạn đại học của con gái tôi vừa có thêm một đứa em gái. Bố của con bé này là chủ một mỏ khai thác than đá, tiền nhiều đến độ chỉ biết đếm bằng gang tay trong khi nông dân bỏ đất lên đào than cho lão ta thì ăn không đủ no. Lão này có nhà ở Bắc Kinh, Thượng Hải, San Francisco, Washington... Toàn là những biệt thự hào hoa phong nhã và ở đó, lão đã cùng với những bà vợ hai, vợ ba sinh con đẻ cái...

Thôi thì tôi đành phải ghìm dây cương con ngựa bất kham là hồi ức của chính mình để quay lại với chuyện chính vậy. Đêm trừ tịch, khi tôi đang đổ sủi cảo vào nồi, khi con gái tôi Yến Yến đang vỗ tay hát một bài hát của thiếu nhi giành cho sủi cảo “Một đoàn thiên nga bay đến từ phương nam, Kêu lên nháo nhác sà xuống sông”, khi “Tiểu sư tử” đang ôm Trần Mi hôn hít không biết chán thì Trần Tị, với chiếc áo khoác bằng da cũ mèm, đội chiếc mũ có hai nắp chụp lên tai, khập khà khập khiễng bước vào nhà tôi. Trần Nhĩ nối gót ngay phía sau và đang níu một chéo áo của bố. Trần Nhĩ mặc một chiếc áo bông, tay xắn đến khuỷu để lộ đôi cánh tay rét cóng đến độ đỏ rực. Đầu tóc con bé rối bời chẳng khác nào một đống cỏ khô, liên tục chun mũi hít hít nước mũi chảy dài xuống miệng, rõ ràng là con bé đang bị cảm nặng.

“Đến được đây là quá tốt! Cứ ngồi xuống đó đã!” - Tôi vừa đảo sủi cảo trong nồi vừa nói.

Trần Tị ngồi xuống ngạch cửa. Ánh lửa trong lò hắt ra chiếu rọi khuôn mặt cậu ta, chiếc mũi to tướng lúc này giống hệt như một chiếc củ cải trắng được đẽo gọt nhắn nhụi đeo lên mặt. Trần Nhĩ vịn vai bố đứng bên cạnh, ánh mắt có vẻ sợ hãi lần hiếu kỳ, thi thoảng liếc nhìn nồi sủi cảo đang sôi trên bếp lò, lúc thì nhìn “Tiểu sư tử” và đứa bé trong lòng cô ấy, lúc thì chuyển ánh mắt sang Yến Yến. Yến Yến đưa viên kẹo sô cô la đang cầm trong tay cho Trần Nhĩ. Nó nghiêng đầu nhìn vào mặt Trần Tị rồi len lén nhìn vào mặt tôi.

“Cầm lấy đi! Em Yến Yến đã cho thì cháu cứ nhận” - Tôi nói.

Cánh tay nhỏ nhắn rụt rè đưa ra cầm lấy chiếc kẹo.

Trần Tị nghiêm giọng quát nhỏ: “Trần Nhĩ!”.

Cánh tay ấy nhanh chóng rụt lại.

“Cậu làm gì thế! Trẻ con mà!” - Tôi bực mình gắt.

Trần Nhĩ khóc òa lên.

Tôi bước đến bên tủ vốc một nắm kẹo sô cô la đến bên Trần Nhĩ bỏ vào túi áo nó.

Trần Tị đứng dậy, nói với “Tiểu sư tử”: “Trả con cho tôi!”.

“Tiểu sư tử” trừng mắt: “Không phải là anh không cần nó hay sao?”.

“Ai nói tôi không cần?” - Giọng Trần Tị có vẻ hung hãn - “Nó là con tôi, là cốt nhục của tôi. Tại sao tôi lại không cần?”.

“Anh không xứng là bố nó! Nó sinh ra trông chẳng khác nào một con mèo ốm. Nó sống được là nhờ tôi!” - “Tiểu sư tử” nói.

“Do các người truy đuổi nên Vương Đảm mới đẻ non!” - Trần Tị nói - “Nếu không, Vương Đảm sẽ không chết. Các người vẫn còn nợ tôi một sinh mạng!”.

“Anh đang đánh rắm đấy à! Tình trạng của Vương Đảm, anh cũng biết, không nên mang thai nữa nhưng anh vẫn cố tình buộc cô ấy phải đẻ cho anh đứa con trai để nối dõi tông đường họ Trần nhà anh. Căn bản anh đã không quan tâm chuyện Vương Đảm sống hay chết! Vương Đảm chết là vì anh!”.

“Cô nói gì?” - Trần Tị gào lên điên cuồng - “Cô mà nói thế thì tôi sẽ cho nhà cô không được ăn tết!”.

Vừa nói, cậu ta vừa chộp lấy cái cối giã tỏi cầm trong tay rồi nhìn bếp lò như muốn quẳng nó vào đó.

“Trần Tị! Cậu điên rồi à?” - Tôi quát - “Dù sao chúng ta cũng là bạn bè một thuở!”.

“Bây giờ mà còn nói chuyện bạn bè hay sao?” - Trần Tị cười gằn - “Vương Đảm trốn trong nhà bố mẹ vợ cậu, có phải cậu là người đã tố cáo chuyện này với cô cậu?

“Không có liên quan gì đến Tiểu Bão. Tiêu Thượng Thần cung cấp thông tin cho chúng tôi!” - “Tiểu sư tử” nói.

“Tôi không cần biết ai đã báo tin” - Trần Tị nói - “Dù sao thì bữa nay cô cũng phải trả con gái lại cho tôi”.

“Đừng có nằm mơ!” - “Tiểu sư tử” nói - “Tôi không thể để cho đứa trẻ này chết trong tay anh. Anh không xứng làm bố nó!”.

“Cô là đồ quỷ cái! Các người đều là loại quỷ cái hai đuôi không thể sinh nở được. Các người không biết sinh đẻ nên mới không cho người khác sinh con! Các người không thể đẻ con được nên mới lôi con của người khác ra từ trong bụng mẹ nó!”.

“Trần Tị! Câm cái mõm thối của cậu lại đi!” - Tôi gào to đầy tức giận - “Đêm hôm khuya khoắt cậu đến nhà tôi để làm loạn à? Cậu có bản lĩnh thì quẳng cái cối vào bếp lò nhà tôi đi!”.

“Cậu cho rằng tôi không dám?”.

“Cậu làm đi!”.

“Nếu không giao con lại cho tôi, chuyện gì tôi cũng dám làm! Giết người đốt nhà, tôi làm tất!”.

Bố tôi nãy giờ nằm im trên giường, lúc này mới trở mình dậy, nói: “Cháu à, hãy nể chú là người già cả, nể tình chú với bố cháu đã từng ăn ở với nhau không tồi, bỏ cái cối xuống đi!”.

“Thế thì chú hãy bảo cô ta trả con cho cháu trước đã!”.

“Ai có thể cướp được con của cháu nào!” - Bố tôi nói - “Nhưng cháu hãy thương lượng với “Tiểu sư tử”. Dù sao đi nữa, nếu không có nó, đứa bé này đã đi theo mẹ nó từ lâu rồi”.

Trần Tị vất chiếc cối xuống đất, ngồi bệt xuống ngạch cửa, khóc hu hu như trẻ con. Trần Nhĩ ôm vai bố, dỗ dành: “Bố... bố đừng khóc...”.

Trông thấy cảnh tượng ấy, mắt tôi cay cay, nói với “Tiểu sư tử”: “Em xem..., hay là đưa đứa bé cho cậu ta vậy...”.

“Đừng có mà nằm mơ!” - “Tiểu sư tử” nói - “Đứa bé này là tôi nhặt được!”.

“Các người khinh người quá!... Các người không còn biết đạo lý là gì...” - Trần Tị gầm to.

“Hãy gọi cô con đến đây!” - Bố nói.

“Không cần gọi, tôi đến đây đã lâu lắm rồi” - Tiếng cô tôi ngoài cửa.

Tôi có cảm giác là cứu tinh của mình đã xuất hiện.

“Trần Tị! Cậu hãy đứng dậy!” - Cô nói - “Tôi đang đợi cậu quẳng cái cối vào bếp lò đây!”.

Trần Tị líu ríu đứng dậy một cách ngoan ngoãn.

“Trần Tị! Cậu biết tội chưa?” - Cô nghiêm giọng hỏi.

“Tôi có tội gì?”

“Cậu vi phạm chính sách nhân khẩu!” - Cô nói - “Trần Mi là do chúng tôi đưa về. Chúng tôi dùng cháo gạo, dùng bột sữa cho ăn, khó khăn lắm mới cứu sống được nó. Nửa năm rồi tôi có thấy cậu vác mặt đến đâu. Đứa con gái này đúng là nòi giống của cậu, nhưng một người bố như cậu, cậu thử nói xem, đã hoàn thành trách nhiệm chưa?”

Trần Tị ú ớ: “Nói gì thì nói... nó cũng là con tôi...”.

“Là của anh?” - “Tiểu sư tử” hung hăng - “Anh thử gọi xem, nó có liếc mắt nhìn anh không? Nếu nó nhìn anh, anh cứ việc ôm nó về!”.

“Cô không biết một tí lý lẽ nào cả, tôi không nói nới cô nữa!” - Trần Tị nói - “Cô à, trước đây tôi đã sai, lúc này tôi nhận sai, nhận tội. Cô trả con lại cho tôi”.

“Trả lại cho cậu, được thôi” - Cô nói - “Trước tiên là cậu hãy đến công xã nộp tiền phạt, sau đó thì hãy kê khai hộ khẩu cho con bé”.

“Phạt bao nhiêu?”

“Năm nghìn tám trăm đồng”.

“Sao nhiều thế? Tôi không có đủ chừng ấy tiền”.

“Không có tiền? Không có thì đừng nghĩ đến chuyện đem con về nữa”.

“Năm nghìn tám! Tiền thì không có, nhưng tôi có cái mạng này!”

“Cậu cứ giữ cái mạng ấy đi” - Cô nói - “Cậu vẫn có thể để tiền lại mà uống rượu, ăn thịt, cũng có thể dùng để đi tìm gái đầu đường xó chợ!”.

“Tôi không làm những chuyện đồi bại ấy!” - Trần Tị gào to - “Tôi sẽ tố cáo các người! Công xã không giải quyết tôi sẽ tố cáo đến huyện. Huyện không giải quyết tôi sẽ tố cáo lên tỉnh. Tỉnh không giải quyết tôi sẽ tố cáo đến tận trung ương!”.

“Nếu trung ương không giải quyết thì sao?” - Cô tôi cười nhạt - “Có phải là cậu khiếu nại lên đến tận Liên hợp quốc?”.

“Liên hợp quốc? Tôi cũng có thể khiếu kiện lên đến tận Liên hợp quốc!”.

“Cậu có bản lĩnh quá nhỉ? Nhưng lúc này, cậu hãy cút đi!” - Cô tôi gằn giọng - “Chờ khi thắng kiện, cậu hãy đến đây mà nhận con. Nhưng nói cho cậu biết, lúc ấy cậu phải biết một tờ cam đoan là sẽ nuôi nấng đứa con này một cách đàng hoàng. Còn nữa, cậu phải trả tiền nuôi dưỡng nó cho tôi và “Tiểu sư tử” mỗi người năm nghìn đồng!”.

Đêm trừ tịch ấy, Trần Tị không thể đưa được Trần Mi về. Nhưng ăn tết xong, đúng vào ngày nguyên tiêu, Trần Tị đem tất cả những chứng từ nộp phạt đến nhà tôi và ôm Trần Mi đi, tất nhiên là số tiền nuôi dưỡng mà cô tôi đã nói thì không cần phải trả. “Tiểu sư tử” khóc như mưa như gió, chẳng khác nào bị người ta cướp mất đứa con mình dứt ruột đẻ ra. Cô tôi quát: “Khóc cái gì? Thích trẻ con thì tự đẻ lấy mà nuôi!”.

Nhưng “Tiểu sư tử” vẫn khóc. Cô tôi ôm lấy vai “Tiểu sư tử” và an ủi bằng một giọng nói bi thương mà tôi chưa từng nghe thấy trên miệng cô: “Cuộc đời cô coi như đã an bài, nhưng các cháu thì chỉ mới bắt đầu. Nào, chuyện công tác là thứ yếu, cứ đi theo Tiểu Bão, đẻ được đưa con ôm về đây để gặp cô...”.

Sau khi đến Bắc Kinh, chúng tôi toàn tâm toàn ý nghĩ đến chuyện sinh con, nhưng không ngờ lời Trần Tị thế mà linh nghiệm, “Tiểu sư tử” không thể mang thai. Cô ấy đối xử với Yến Yến vẫn rất tốt nhưng tôi biết, đứa trẻ trong mơ của cô ấy vẫn là Trần Mi. Do vậy, khi “Tiểu sư tử” cầm con búp bê có khuôn mặt giống hệt Trần Mi trong tay, tôi hiểu được tâm trạng cô ấy. “Tiểu sư tử” nói với Vương Can nhưng thực ra là đang nói với tôi:

“Tôi cần con búp bê này!”

“Bao nhiêu tiền?” - Tôi hỏi Vương Can.

“Sao thế, Tiểu Bão! Cậu vẫn coi thường tôi đến thế sao”. Vương Can nói,

“Cậu đừng có hiểu nhầm” - Tôi nói - “Muốn có con thì phải thành tâm, không trả tiền thì sao gọi là thành tâm được”.

“Trả tiền mới không thành tâm” - Vương Can hạ giọng nói - “Nếu có thể dùng tiền mua được thì chỉ là một cục đất sét, còn con thì mua không được đâu”.

“Thì thôi vậy. Nhà chúng tôi ở khu Tân Hà, số 902. Rất hân hạnh đón tiếp cậu” - Tôi nói.

“Tôi sẽ đến. Chúc hai người mau chóng có quý tử”.

Tôi cười khổ, lắc đầu, nói lời từ biệt rồi dắt “Tiểu sư tử” nhập vào dòng người đổ về miếu Nương Nương.

Khói hương xông lên nghi ngút trong chiếc lư hương to tướng đặt trước miếu. Trên chiếc giá đặt bên cạnh lư hương, một rừng nến đỏ đang cháy trong gió, sáp chảy thành từng dòng. Rất nhiều phụ nữ vây chung quanh lư hương và giá nến. Có người thì gầy guộc như một que củi, có người đầu tóc bạc phơ nhưng cũng có nhiều cô còn rất trẻ... Có người thì lam lũ rách rưới, có người thì đeo vàng giát ngọc khắp người... Nói chung là đủ hình đủ sắc, đủ quý tộc bình dân nhưng đều có một điểm chung là gương mặt biểu lộ vẻ thành kính và hy vọng, ai nấy đều ôm trong tay một con búp bê đất sét.

Chính điện rất cao, lối lên cổng chính là một bậc tam cấp có đến gần hai mươi bậc. Tôi ngước mắt nhìn lên và nhận ra trên cổng chính có một tấm bảng sơn son thếp vàng viết bốn chữ “Đức dục quần anh” 1 to tướng, bốn góc mái nhà đều có treo chuông đồng, gió thổi qua, chuông lại kêu lên leng keng.

Rất nhiều phụ nữ đang đứng trên những bậc tam cấp và trong tay người nào cũng ôm một con búp bê. Tôi len lỏi giữa đám phụ nữ và có cảm giác bàng quan đối với những gì đang diễn ra chung quanh. Không khí ở đây vừa có vẻ nghiêm trang vừa có nét phồn thực một cách dung tục, vừa có vẻ nghiêm túc vừa có nét hoang đường. Tôi chợt nhớ lại chuyện ngày xưa mình đã tận mắt chứng kiến đội Hồng vệ binh của Trường trung học số 1 huyện đã đến đây đập phá trong cao trào “phá bỏ bốn cái cũ”. Họ, có cả con trai lẫn con gái khiêng bức tượng Nương Nương vất xuống sông, miệng hô vang: Kế hoạch sinh đẻ phải thắng lợi, Nương nương hãy xuống sông mà bơi! Lúc ấy có một đám đông phụ nữ, chủ yếu là những bà già tóc bạc phơ đang quỳ thành một hàng bên sông, cúi đầu lạy và lầm rầm khấn vái gì đó. Có lẽ là họ đang khẩn cầu Nương nương hiển linh trừng phạt những ông trời con này chăng? Không biết Nương nương có trừng phạt bọn chúng hay không, nhưng điều này là có thật: Trên mảnh đất hoang tàng đổ nát ấy, người ta đã trùng tu một ngôi miếu thật đường bệ. Bên trong miếu đã có một tượng Nương nương khác còn to đẹp hơn ngày xưa rất nhiều. Người ta nói, những công trình này nhằm tôn vinh truyền thống văn hóa nhưng đồng thời cũng thể hiện sự sáng tạo mới; vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân nhưng cũng vừa lôi kéo du khách tham quan. Đúng là xây dựng một xí nghiệp sản xuất không bằng xây một ngôi miếu. Người quê tôi, bạn bè của tôi không phải đang bám vào ngôi miếu này để sống đấy sao?

Tôi ngước nhìn bức tượng Nương nương. Mặt Nương nương tròn như một vầng trăng mười sáu, tóc đen như gỗ mun, đôi lông mày dài con vút, ánh mắt hiền từ. Toàn thân Nương nương mặc áo trắng được đính ngọc ngà châu báu. Tôi không biết đó là đồ thật hay đồ giả, tay phải cầm một chiếc quạt lông đặt bờ lên vai, tay trái đang sờ đầu một đứa bé cưỡi cá chép. Hai bên tượng còn có mười mấy bức tượng trẻ con với đủ các gương mặt và tư thế khác nhau, trông rất đáng yêu. Tôi nghĩ, nghệ nhân có thể nặn được những tượng trẻ con hoàn mỹ đến như vậy ở vùng Đông Bắc Cao Mật này không ngoài Hách Đại Thủ và Tần Hà. Nếu lời Vương Can là sự thật thì có thể những bức tượng này ra đời dưới bàn tay Tần Hà thì hợp lý hơn, bởi nói vô phép, khuôn mặt của vị Nương nương này phảng phất dung mạo của cô tôi thời trẻ! Có chín cô gái đang quỳ trên chiếc sạp đặt trước tượng Nương nương. Có lẽ họ đã quỳ ở đây lâu lắm rồi nhưng vẫn chưa có biểu hiện nào là muốn đứng dậy. Có người thì lạy sì sụp, có người thì hai tay chắp trước ngực đưa ánh mắt sùng kính nhìn tượng Nương nương, miệng lầm rầm khấn vái. Bên ngoài chiếc sạp cũng có rất nhiều phụ nữ. Họ đều quỳ trên nền đá Đại Lý. Cho dù là quỳ trên sạp hay quỳ trên đất, tất cả những phụ nữ này đều đặt những con búp bê đất trên đùi mình để cho mặt nó hướng về Nương nương. “Tiểu sư tử” đang quỳ trên nền đá dập đầu lạy rất cung kính chân thành, miệng cũng lầm rầm khấn vái, nước mắt rưng rưng. Tôi biết, “Tiểu sư tử” đang rất muốn có con, muốn đến điên cuồng. Nhưng tôi cũng biết, cô ấy không bao giờ có thể toại nguyện. Cô ấy sinh năm một chín năm mươi, đã năm mươi lăm tuổi, tuy đôi vú vẫn rất to nhưng làm gì còn kinh nguyệt nữa. Khi tôi quan sát người khác thì tôi cũng biết là nhất định người khác cũng đang quan sát mình. Tôi cũng bắt chước “Tiểu sư tử” quỳ trước tượng Nương nương. Những người đang quan sát tôi đang nghĩ rằng, cặp vợ chồng già này không biết tự lượng sức mình, già chừng ấy rồi mà vẫn còn muốn có con!

Lễ bái xong xuôi, những người đàn bà móc ví lấy tiền nhét vào chiếc hòm gỗ màu đỏ đặt trước tượng Nương nương. Sau khi thấy các bà đã nhét tiền vào hòm xong, một ni cô bước đến và buộc vào cổ những con búp bê mỗi con một sợi dây lụa màu đỏ. Hai ni cô mặc cà sa màu xám đứng ở hai bên dưới chân tượng Nương nương cúi đầu, gõ mõ và bắt đầu niệm kinh. Xem thần sắc thì cả hai vị ni cô này hầu như không quan tâm gì đến chiếc hòm đựng tiền cúng dường. Nhưng mỗi khi có ai đó nhét vào đó một hoặc hai tờ một trăm đồng thì tiếng cánh tay gõ mõ có vẻ mạnh hơn, tiếng mõ vang hơn và tiếng niệm kinh cũng to hơn. Hình như hai vị ni cô này nghĩ rằng, đó là cách để cho Nương nương đứng trên cao chú ý đến những người cúng nhiều tiền hơn một tí.

Ban đầu, chúng tôi không có ý định đến đây nên không mang theo tiền. Trong lúc cấp bách, “Tiểu sư tử” tháo chiếc nhẫn đang đeo ở ngón tay ra nhét vào hòm gỗ. Tiếng mõ của vị ni cô đột nhiên vang lên ba tiếng “cốc cốc cốc” thật lớn khiến tôi nhớ đến tiếng súng lệnh của trọng tài bắn khi tôi tham gia một cuộc chạy thi việt dã trước đây đã nhiều năm lắm rồi.

Phía trong hậu điện còn có những bàn thờ của Thiên Tiên Nương nương, Nhãn Quang Nương nương, Tử Tôn Nương nương, Nhũ Mẫu Nương nương và ba bốn vị nương nương khác mà tôi không biết gọi tên là gì. Trong điện vẫn có người đang quỳ lạy sì sụp và vẫn có những ni cô đang gõ mõ tụng kinh. Tôi nhìn mặt trời rồi đề nghị “Tiểu sư tử” lần sau đến tiếp, cô ấy gật đầu nhưng vẻ mặt biểu lộ sự không bằng lòng. Khi chúng tôi đang đi theo lối ra khỏi điện, ngang qua một chiếc am nhỏ thì bất ngờ có mấy cái đầu ni cô ló ra:

“Thí chủ! Mời thí chủ hãy cho con mình một vòng khóa trường thọ!”.

“Thí chủ! Mời thí chủ hãy cho con mình một bộ quần áo của ráng màu!”.

“Thí chủ! Mời thí chủ hãy cho con mình một đôi guốc mây xanh!”.

...

Chúng tôi không có tiền, thẹn thùng lắc đầu từ chối.

Rời khỏi miếu Nương nương thì mặt trời đã gần lên đến đỉnh đầu. Em họ gọi vào máy di động của tôi hỏi tại sao vẫn chưa thấy anh chị đến. Phố xá nhộn nhịp, người đông như trẩy hội; hàng hóa chất chồng, người mua kẻ bán ồn ào... Chúng tôi không còn đủ thời gian để ngắm phố phường nữa, cắm cúi đi thẳng về phía trước. Em họ tôi nói, xe của cậu ấy đã chờ ở phía đông miếu Nương nương. Hôm nay là ngày ra mắt Bệnh viện Nhi đồng Gia Bảo do Trung Quốc và Mỹ hợp tác, cậu ấy đang chờ chúng tôi ở trước bệnh viện.

Khi chúng tôi đến nơi thì phần lễ tiết đã kết thúc, trước lễ đài chỉ còn có xác pháo và mấy chục lẵng hoa đứng im lìm. Hai quả bóng bay to tướng đang lơ lửng giữa không trung kéo theo hai dải lụa màu đỏ, trên đó có mấy chữ chúc mừng ngày khai trương. Bệnh viện này được kiến trúc theo hình vòng cung. Hai tòa nhà sơn màu lam như một đôi tay muốn ôm lấy tất cả vào lòng mình, hình thành nên một sự đối lập với sự rực rỡ huy hoàng của miếu Nương Nương cách đó không xa.

Khi tôi tôi thấy cậu em họ thì đồng thời cũng trông thấy cô tôi. Rất nhiều người, trong đó có cô đang đứng trước những lẵng hoa, tranh thủ chọn những bông hoa còn tươi. Trên tay cô tôi đã có mười mấy đóa hoa hồng trắng, đỏ, vàng tươi rói, tất cả đều mới hé nụ. Tôi nhận ra cô từ phía sau lưng. Nói thật lòng, cho dù cô tôi có đứng lẫn trong hàng vạn người ăn trang phục giống nhau, cùng một màu sắc như nhau, chúng tôi cũng chẳng tốn bao nhiêu thời gian để nhận ra cô.

Một đứa bé khoảng hơn mười tuổi đến trước mặt và đưa cho cô một túi giấy màu trắng rồi lập tức bỏ chạy. Cô tôi mở miệng chiếc túi giấy và ngay lập tức, toàn thân cô bất động, sau đó lêu lên một tiếng quái dị rồi lảo đảo đi lùi mấy bước và cuối cùng thì ngã xuống đất.

Một con ếch xanh gầy guộc nhảy ra từ chiếc túi giấy, bám vào áo cô rồi nhảy xuống đất.


2.

Ngay trước cổng công ty nuôi ếch có một trạm bảo vệ. Một người đàn ông có lẽ là nhân viên bảo vệ kính cẩn chào em họ tôi rồi chiếc cổng điều khiển bằng điện từ từ mở ra. Chiếc Nissan đưa chúng tôi đến đây từ từ bò vào cổng. Viên Tai, đại sư tướng số kiêm bác sĩ phụ sản nghiệp dư ngày trước - lúc này là Tổng giám đốc Viên đang đứng trước một bức phù điêu đen đen chờ chúng tôi.

Trên bức phù điêu ấy là một con ếch to tướng.

Nhìn từ xa, nó giống như một chiếc xe bọc thép quân sự.

Đế của bức phù điêu ấy là một khối đá Đại Lý to tướng và vuông vức có hai dòng chữ: “Ếch trâu” và “Rana Catesbiana”.

“Chụp ảnh! Chụp ảnh!” - Viên Tai gào to - “Chụp ảnh trước rồi đi tham quan, sau đó thì ăn cơm!”.

Tôi nhìn thật kỹ con ếch trên bức phù điêu, trong lòng cảm thấy sợ hãi. Chỉ cần thấy cái sống lưng đen xỉn và hoa văn trên toàn thân nó cộng với những chỗ lồi chỗ lõm là cũng đủ để người ta phải sợ hãi. Hai chỗ lồi trên đầu nó là hai con mắt với cái nhìn thật thâm trầm như muốn thông báo một điều gì đó vô cùng bí mật trong thời viễn cổ.

“Tiểu Tất! Đem máy ảnh đến đây!” - Em họ tôi quát to.

Một cô gái thân hình cao dong dỏng, đeo đôi gọng kính màu đỏ, mặc chiếc quần jean thật gợi cảm xách một chiếc máy ảnh có vẻ rất nặng xuất hiện.

“Tiểu Tất - vốn là sinh viên trường Cao đẳng nghệ thuật Tế Đông, bây giờ là trưởng phòng hành chính của công ty” - Em họ tôi giới thiệu.

“Không chỉ là một mỹ nhân mà còn là một nghệ thuật gia!” - Viên Tai tiếp lời - “Hát hay, chụp ảnh giỏi, lại biết cả điêu khắc tượng... Còn tửu lượng thì... khỏi nói...”.

“Tổng giám đốc quá khen!” - Tiểu Tất đỏ mặt nói.

“Ông bạn này của tôi cũng là một nhân vật đáng nể, thuở nhỏ chạy việt dã cực giỏi, cứ nghĩ sẽ là quán quân thế giới, không ngờ lại trở thành nhà văn!” - Viên Tai giới thiệu tôi với Tiểu Tất - “Nguyên danh Vạn Túc, nhũ danh Tiểu Bão, tên lúc này là Nòng Nọc!”.

“Nòng Nọc là bút danh” - Tôi vội vàng nói.

“Đây là phu nhân của đại tác gia Nòng Nọc, “Tiểu sư tử”!” - Em họ tôi chỉ “Tiểu sư tử” nói - “Chuyên gia sản phụ”.

“Tiểu sư tử” ôm chặt con búp bê, gật đầu một cách máy móc.

“Nghe đại danh của hai vị từ lâu. Giám đốc Viên giám đốc Kim nhắc đến hai vị từ lâu” - Tiểu Tất khiêm nhường nói.

“Đây là con ếch đệ nhất thiên hạ! Chính là tác phẩm của Tiểu Tất!” - Em họ tôi nói.

Tôi tấm tắc khen lấy lòng.

“Xin nhờ thầy Nòng Nọc chỉ giáo thêm”.

Chúng tôi đi một vòng quanh bức phù điêu con ếch. Một cảm giác cứ đeo bám trong lòng tôi: Cho dù bất cứ bộ phận nào của nó, từ đầu đên chân đều có hai con mắt mở thao láo nhìn tôi, đe dọa tôi.

Công việc chụp ảnh đã xong, Viên Tai, em họ tôi và Tiểu Tất đưa chúng tôi đi xem những hồ nuôi ếch gồm hồ nuôi ếch giống, hồ nuôi ếch con, hồ nuôi ếch đã trưởng thành cũng như xưởng gia công thức ăn và xưởng chế biến ếch thành phẩm.

Sau buổi tham quan ấy, trong đầu óc tôi luôn luôn tái hiện những cảnh tượng ở những chiếc hồ nuôi ếch. Đó là những chiếc hồ rộng khoảng bốn mươi mét vuông, nước đục ngầu sâu khoảng nửa thước. Trên mặt nước, những con ếch đực đang phễnh cái bụng trắng hếu lên trời và miệng phát ra những tiếng kêu gào đòi được giao phối. Ếch cái rất nhàn nhã dang bốn chân nổi trên mặt nước và rất từ tốn bơi đến gần những con ếch đực. Nhưng nhiều hơn vẫn là hình ảnh những con ếch đã ôm chầm lấy nhau thành một đôi, ếch cái bám trên lưng ếch đực nổi lềnh bềnh trên mặt nước, hai chân trước của ếch đực ôm lấy ếch cái, hai chân sau không ngừng đạp đạp vào bụng bạn tình rồi những chùm trứng trong suốt từ cơ quan sinh dục của ếch cái phóng ra. Đồng thời, tinh dịch trong suốt của ếch đực cũng bắn vào nước - Loài ếch thụ tinh ngoài cơ thể - Hình như em họ tôi và cũng có thể là Viên Tai đã nói, mỗi lần đẻ trứng, ếch cái có thể đẻ từ tám nghìn đến mười nghìn trứng - Rõ ràng về mặt này, ếch bản lĩnh hơn con người nhiều. Nước hồ bị cái nắng tháng tư làm cho nóng lên, tản phát một mùi vị khiến người ta dễ buồn nôn - Đây là chiếc hồ để cho ếch giao phối và cũng là nơi để cho nòng nọc lớn lên. Để cho ếch cái đẻ được nhiều trứng, chúng tôi đã dùng chất kích thích cũng như âm thanh kích thích ếch cái ngay tại hồ này - Viên Tai đã nói như vậy.

Trong những ám ảnh và tiếng kêu của ếch cũng như hình ảnh thực của ếch, chúng tôi được đưa đến một nhà ăn cực kỳ sang trọng.

Hai cô nhân viên phục vụ mặt hoa da phấn rót trà mời chúng tôi rồi chuẩn bị thức ăn và rượu.

“Bữa nay chúng ta ăn một bữa đại tiệc thịt ếch!” - Viên Tai nói.

Tôi cầm tờ thực đơn lên đọc: Đùi ếch nướng muối, Da ếch chiên giòn, Ếch xào ớt xanh, Ếch xào măng, Canh trứng ếch...

“Xin lỗi, tôi không ăn được thịt ếch” - Tôi nói.

“Tôi cũng không ăn” - “Tiểu sư tử” nói.

“Tại sao?” - Viên Tai hỏi với vẻ rất kinh ngạc - “Thịt ếch là loại thực phẩm cao cấp, sao lại không ăn?”

Tôi đang cố gắng để quên đi những vết sần sùi trên da ếch, quên đi đôi mắt đáng sợ của ếch cũng như cái mùi tanh tanh từ chúng phát tiết ra nhưng không thể quên được. Tôi chỉ biết lắc đầu cười khổ.

“Các chuyên gia Hàn Quốc gần đây đã chế xuất được một loại axit amin cực kỳ quý hiếm có tác dụng chống ngứa, có thể tiêu độc, là một loại hóa chất tự nhiên chống bệnh lão hóa...” - Em họ tôi nói - “Đương nhiên, nó còn có những công hiệu rất đặc biệt khác, đặc biệt là có thể khiến phụ nữ mang thai song sinh hoặc hơn thế nữa...”

“Có cần thưởng thức một tí không?” - Viên Tai hỏi - “Mạnh dạn lên một tí đi! Bây giờ người ta còn ăn cả bọ cạp, đỉa, thằn lằn, rắn độc..., ếch là cái thá gì?”

“Cậu đã quên rồi sao? Bút danh của tôi là Nòng Nọc!” - Tôi nói.

“Đúng đúng đúng!” - Viên Tai quay lại ra lệnh cho các cô gái - “Dẹp hết những món trong thực đơn! Bảo với nhà bếp làm ngay một thực đơn khác, phàm món gì có liên quan tới ếch thì không được đưa vào!”.

Những món ăn mới đã được đưa lên bàn, rượu cũng qua cốc thứ ba.

Tôi hỏi Viên Tai: “Sao cậu lại nghĩ ra được chuyện nuôi ếch nhỉ?”

“Muốn có tiền thì phải nghĩ ra những công việc mà người khác chưa nghĩ ra” - Viên Tai phà ra một đụn khói thuốc lá đặc sệt, dương dương đắc ý nói.

“Cậu tài thật!” - Tôi bắt chước chất giọng của các diễn viên trong những tiểu phẩm hài, nói một cách châm biếm - “Từ nhỏ, cậu đã không giống với bất cứ ai. Nuôi ếch là tốt, nhưng những việc làm trước đây như lấy đinh từ trong bụng trâu ra hoặc ngồi giữa chợ xem bói cho mọi người, không làm những chuyện thần kỳ ấy nữa, cậu có tiếc không?”

“Nòng Nọc! Cậu là một kẻ đánh người không đánh vào mặt, chửi người không dùng từ tục tĩu!” - Viên Tai nói.

“Tiểu sư tử” lạnh lùng chêm vào: “Còn chuyện dùng móc sắt tháo vòng cho phụ nữ nữa!”.

“Ôi chao! Chị dâu à, đừng nói đến chuyện ấy nữa” - Viên Tai nói - “Lúc ấy, một là tầm giác ngộ của tôi thấp, hai là nhẹ dạ, không chịu nổi trước những lời năn nỉ của các bà quá muốn sinh con. Thứ ba là sao nhỉ, à, là khốn cùng phải làm để kiếm cơm mà thôi”.

“Bây giờ còn dám làm nữa không?” - Tôi lên tiếng.

“Làm cái gì?” - Viên Tai trừng mắt nhìn tôi, hỏi.

“Tháo vòng!”

“Cậu nói gì thế? Tôi không phải là thằng không biết sợ. Mấy năm lao động cải tạo đã khiến tôi thay da đổi thịt để biến thành người khác rồi” - Viên Tai nói - “Bây giờ, tôi làm người một cách đường đường chính chính, kiếm tiền một cách chính đại quang minh. Chuyện gì không vi phạm pháp luật là tôi làm tất. Còn chuyện đụng đến pháp luật, có dùng súng kề vào đầu tôi cũng không làm”.

“Chúng tôi ở đây đều tôn trọng pháp luật, nộp đủ thuế, làm từ thiện, nộp công ích đầy đủ” - Em họ tôi nói.

Tuy đang ăn tiệc nhưng con búp bê đất vẫn không rời khỏi bàn tay “Tiểu sư tử”.

“Thằng tạp chủng Tần Hà kia mới là một thiên tài chân chính. Cậu ta không ra tay thì thôi, đã ra tay thì vượt qua cả mặt Hách Đại Thủ” - Viên Tai nói.

Tự nãy giờ chỉ ngồi nghe và cười, đến lúc này Tiểu Tất mới lên tiếng: “Tác phẩm của thầy Tần là kết tinh những tình cảm của ông ấy”.

“Nặn búp bê mà cũng cần phải có tình cảm sao?” - Viên Tai nói.

“Đương nhiên rồi! Mỗi tác phẩm đều được xem là con đẻ của nhà nghệ thuật” - Tiểu Tất nói.

“Thế thì con ếch to tướng kia...” - Viên Tai chỉ vào bức phù đỉêu ngoài sân, nói - “Nó cũng là con đẻ của cô sao?”

Tiểu Tất đỏ mặt, không đáp.

“Chị dâu yêu búp bê quá nhỉ?” - Em họ tôi nói.

“Chị dâu của chú không yêu búp bê mà chị ấy yêu trẻ con thật” - Viên Tai nói.

“Thế thì chúng ta hợp tác với nhau vậy!” - Em họ tôi nói với vẻ rất hưng phấn - “Anh Tiểu Bão cũng có thể làm!”.

“Bảo chúng tôi cũng nuôi ếch với các người sao?”. Tôi nói - “Chỉ cần trông thấy ếch là tôi đã nổi da gà rồi”.

“Anh họ à, ở đây chúng tôi không chỉ nuôi ếch. Chúng tôi còn...”

“Đừng dọa anh họ cậu!” - Viên Tai cắt ngang lời em họ tôi, nói - “Uống rượu đi, ông bạn. Cậu còn nhớ ngày trước Mao Chủ tịch dạy bọn thanh niên “Tri Thanh” như thế nào không? Nông thôn là một cõi trời rộng lớn, ở đấy bất cứ chuyện gì cũng có thể diễn ra”.


3.

Đúng như Vương Can ngày ấy đã từng đau khổ về mối tình tuyệt vọng của mình và cho rằng tình yêu là một căn bệnh dài, nhớ lại những ngày tháng cậu ta theo đuổi “Tiểu sư tử” một cách tuyệt vọng, tôi không thể tin là cậu ta lại có thể sống được sau khi “Tiểu sư tử” kết hôn với tôi. Từ đó mà suy, Tần Hà say đắm cô tôi cũng là một cơn bạo bệnh. Sau khi cô tôi trở thành vợ Hách Đại Thủ, anh ta không nhảy sông cũng không thắt cổ mà có lẽ những đau đớn ấy lại chuyển hóa thành nghệ thuật và một nghệ sĩ dân gian trác việt đã được sinh ra khiến tôi nghĩ, anh ta như một đứa trẻ đỏ hỏn mọc lên từ đất vậy.

Vương Can không hề tránh né chuyện xưa, thậm chí còn chủ động gợi lại chuyện yêu “Tiểu sư tử” ngày trước, cười cười nói nói như đang bàn luận chuyện của người khác. Thái độ của cậu ta khiến tôi cảm thấy thoải mái, được an ủi, những nỗi dày vò lâu nay trong lòng như được giải tỏa và trong thâm tâm, tôi cảm thấy kính phục cậu ta.

“Tôi nói điều này e rằng hai người không thể tin được” - Vương Can nói - “Khi “Tiểu sư tử” không mang giày đi trên bờ sông để lại một hàng dấu chân, tôi đã như một con chó, bò lê bò lết trên bờ sông và ngửi những dấu chân ấy như muốn đánh hơi, vừa ngửi vừa khóc”.

“Anh đặt chuyện thì có” - “Tiểu sư tử” đỏ mặt, nói.

“Đây là chuyện hoàn toàn có thật” - Vương Can nghiêm giọng - “Tôi có nói thêm bớt một tí nào thì đầu tôi sẽ mọc đầy nhọt!”.

“Đây là một tình tiết cực kỳ thú vị, nhất định tôi sẽ đưa vào kịch bản của mình” - Tôi nói.

“Cám ơn” - Vương Can nói - “Cậu phải đem thằng ngốc ngếch tên là Vương Can ấy và những việc làm ngu xuẩn của nó vào kịch bản. Những chuyện hay về tôi còn nhiều lắm”.

“Anh mà dám viết những chuyện này thì tôi đốt sạch bản thảo của anh cho mà xem” - “Tiểu sư tử” nói.

“Em có thể đốt được bản thảo nhưng không thể hủy được những ý tứ trong đầu anh được đâu”.

“Ghê thế cơ à!” - “Tiểu sư tử” nói - “Vương Can à, bây giờ nghĩ lại, làm vợ Tiểu Bão không bằng làm vợ anh. Dù sao thì anh cũng đã có một hành động rất đáng yêu là đã từng hôn vết chân tôi mà khóc”.

“Bà chị à, đừng có đặt chuyện tiếu lâm nữa. Chị và Tiểu Bão là một đôi rất tuyệt vời”.

“Tuyệt vời cái nỗi gì! Ngay cả một cái lông trẻ con cũng không đẻ ra được thì lấy gì để gọi là tuyệt vời!” - “Tiểu sư tử” ấm ức.

“Được rồi, đừng nói về chúng tôi nữa. Hãy nói về cậu đi” - Tôi nói - “Lâu rồi mà cậu không tìm cho mình cô gái nào sao?”.

“Sau khi khỏi bệnh, tôi mới phát hiện ra rằng, thực ra thì mình không hề yêu đàn bà”.

“Thế anh là người đồng tính à?” - “Tiểu sư tử” cười, nói đùa.

“Thực ra thì tôi không yêu ai cả, tôi chỉ biết yêu mình” - Vương Can nói - “Tôi yêu cánh tay, yêu đôi chân, yêu tai mắt mũi miệng, yêu ngũ tạng lục phủ, thậm chí yêu cả cái bóng của chính mình. Tôi vẫn thường nói chuyện với cái bóng của mình”.

“Có thể anh đã mắc một chứng bệnh nào đó” - “Tiểu sư tử” nói.

“Yêu người khác thì phải trả giá, yêu mình thì không. Tôi nghĩ yêu chính mình như thế nào thì yêu như thế ấy, tự mình làm chủ chính mình...”

... Vương Can đưa tôi và “Tiểu sư tử” đến nơi ở của cậu ta và Tần Hà. Ngoài cổng có treo một tấm bảng gỗ, trên đó có mấy chữ: “Xưởng của đại sư”.

Nơi đây vốn là trại chăn nuôi trong thời kỳ công xã nhân dân, là nơi chúng tôi thường lân la đến chơi đùa. Tôi vẫn còn nhớ đến mùi phân trâu, phân la của ngày ấy. Trong sân có một cái giếng rất to, bên miệng giếng có một chiếc thùng gỗ. Mỗi buổi sáng, lão Phương, người chăm sóc gia súc của công xã dắt từng con đến bên chiếc thùng ấy để cho chúng uống nước. Tiểu Đổ, một nhân viên của trại đứng bên giếng múc nước đổ vào thùng. Trại chăn nuôi rất rộng, bên trong có gần ba mươi chiếc máng cỏ bằng đá. Trong đó có hai chiếc máng rất to và cao giành cho la và ngựa, còn những chiếc nhỏ hơn thì giành cho trâu.

Bước vào trại, tôi thấy mười mấy chiếc trụ để buộc súc vật vẫn còn đó. Những câu khẩu hiệu và biểu ngữ viết lên tường vẫn còn rất rõ. Thậm chí tôi vẫn còn ngửi thấy mùi phân của ngày ấy.

“Tôi đã định chặt những cái trụ ấy rồi, nhưng lãnh đạo cấp trên về khảo sát và đề nghị giữ lại để làm điểm du lịch lịch sử thời kỳ công xã ở thôn ta. Do vậy nên chúng mới còn đến giờ” - Vương Can nói.

“Hay là người ta định tiếp tục nuôi trâu nuôi ngựa ở đây?” - “Tiểu sư tử” nghi ngờ nói.

“Tôi nghĩ là không có chuyện ấy đâu” - Vương Can nói xong thì lớn tiếng gọi to - “Lão Tần, thầy Tần! Có khách quý đến!”.

Trong nhà, đúng hơn là trong chuồng không có tiếng trả lời.Tôi bước theo Vương Can vào nhà. Máng cỏ và những chiếc trụ vẫn còn nguyên, những lỗ hõm do ngựa và la đá trên tường vẫn như xưa, chiếc nồi to tướng để nấu thức ăn nóng cho gia súc vẫn còn, chiếc giường đất cho sáu đứa con nhà lão Phương chen chúc vẫn nguyên. Tôi đã từng ngủ trên chiếc giường ấy. Đó là một đêm tháng chạp cực rét, nước từ trên mái giọt xuống chưa đến mặt đất đã hóa thành băng. Nhà lão Phương nghèo, không chăn không chiếu. Lão chỉ biết khắc phục cái lạnh bằng cách liên tục cho củi vào lò đốt suốt đêm. Cái giường nóng như lò nướng bánh. Nhưng bầy con của lão Phương đã quá quen với cái lạnh ở phía trên và cái nóng ở dưới lưng nên ngủ rất say, còn tôi thì không thể nào ngủ được. Lúc này, trên chiếc giường ấy đã có hai tấm chăn và hai cái gối. Trên tường cũng có mấy bức tranh dân gian, trong đó có một bức “Trạng nguyên vinh quy”. Có một tấm ván khá lớn đặt ngang qua hai chiếc máng đá, trên tấm ván là những dụng cụ và đất sét. Tần Hà đang ngồi ở bên cánh tấm ván trên một chiếc ghế đẩu. Anh ta mặc một chiếc áo thụng màu xám, ống tay áo và trước ngực áo loang lổ đất sét. Đầu tóc anh ta đã bạc phơ nhưng vẫn rẽ ngôi thẳng tắp, gương mặt dài như mặt ngựa, đôi mắt có vẻ u uất thâm trầm. Trông thấy chúng tôi xuất hiện, anh ta liếc nhìn, môi mấp máy không thành tiếng. Tôi đoán là anh ta chào hỏi chúng tôi rồi quay nhìn vào tường, dáng vẻ ra chiều đang suy nghĩ.

Một cách tự nhiên, chúng tôi cố nén không dám thở mạnh, không dám lên tiếng, cũng không dám đi nhanh vì sợ có tiếng động phát ra sẽ làm gián đoạn suy nghĩ của “đại sư”.

Dưới sự hướng dẫn của Vương Can, chúng tôi tham quan những tác phẩm của Tần Hà. Những con búp bê vừa được nặn xong đều được Tần Hà phơi trong những chiếc máng đá; những con đã khô thì được đặt trên một tấm ván sát tường chuẩn bị tô màu. Những gương mặt với nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau đang ngồi trong máng đá như đang nhìn và chào hỏi chúng tôi. Tuy chưa được tô màu nhưng nhìn chúng, tôi cũng đã cảm nhận được đó là những sinh mệnh đang sống.

Vương Can thì thầm bên tai chúng tôi: “Ngày nào cũng thế, đại sư cứ ngồi ngây người như thế, đôi khi cả đêm không hề ngủ tí nào. Nhưng bao giờ ông ấy cũng nhào đất sét trên tấm ván kia rất đúng giờ để đảm bảo độ nhuyễn. Có khi ngồi cả ngày mà đại sư cũng không nặn được đứa trẻ nào. Nhưng thông thường thì ông ấy nặn rất nhanh. Bây giờ, tôi là người tiêu thụ sản phẩm kiêm quản gia của ông ấy. Cuối cùng thì tôi đã tìm được một công việc thích hợp nhất với mình và cũng như tôi, đại sư cũng đã tìm thấy một công việc thích hợp nhất với ông ấy” - Dừng lại một lát, Vương Can nói tiếp - “Nhu cầu sinh hoạt của đại sư rất đơn giản, đưa đến trước mặt cái gì, ông ấy ăn cái ấy. Đương nhiên là tôi đã mua những loại có dinh dưỡng nhất để bồi bổ cho ông ấy. Đại sư không chỉ là niềm tự hào của thôn ta mà còn là niềm tự hào của cả vùng Đông Bắc Cao Mật này. Một đêm nọ, tôi phát hiện đại sư không nằm trên giường, vội vàng cầm đèn đi tìm. Nơi làm việc, ngoài sân cũng không có. Đại sư đã đi đâu? Tôi toát mồ hôi, nếu đại sư có mệnh hệ gì thì đó là một tổn thất quá lớn của cả huyện. Chủ tịch huyện từng đưa trưởng phòng Văn hóa, trưởng phòng Du lịch đến đây đấy nhé. Hai vị có biết chủ tịch huyện là ai không? Chính là con trai của Dương Lâm, bí thư huyện ủy ngày xưa, người đã từng chịu nhục đấu tố ở làng ta, cũng là người có quan hệ không mấy rõ ràng với bà cô của cậu đấy mà. Cậu này tên Dương Hùng, có thể xem là một nhân tài, đôi mắt sáng như điện, răng trắng lóa, toàn thân lúc nào cũng toát ra một mùi thơm của nước hoa cao cấp.Nghe đâu là cậu ta du học từ Đức về. Lần đầu tiên đến, cậu ta ra lệnh không được phá trại chăn nuôi này; lần đến thứ hai thì mời đại sư lên huyện dự tiệc. Đại sư bám cứng lấy chiếc cọc làm như chuyện đi ăn tiệc giống như bị dẫn đi thắt ống dẫn tinh ngày xưa, cương quyết chối từ. Lần thứ ba, chủ tịch huyện đến và mang theo giấy chứng nhận đại sư là nghệ nhân dân gian...” - Vương Can lục lọi trong máng đá và lôi ra một giấy chứng nhận đã vàng ố đưa cho chúng tôi xem rồi nói tiếp - “Đương nhiên, Hách Đại Thủ cũng có tấm giấy chứng nhận như thế này. Chủ tịch huyện cũng mời Hách Đại Thủ lên huyện chiêu đãi và đương nhiên là Hách Đại Thủ cũng đã từ chối bữa tiệc ấy. Nếu nhận lời, ông ta không còn là Hách Đại Thủ nữa - Phải làm thế thôi để cho ông chủ tịch huyện trẻ con ấy biết được khí tiết của hai vị cao nhân của thôn ta...”. Vương Can thò tay vào túi lấy ra ba tấm danh thiếp, nói - “Hai người nhìn đi, ông chủ tịch huyện ấy mỗi lần đến đây đưa cho tôi một tấm, nói: Lão Vương à, làng Đông Bắc của anh là nơi ngọa hổ tàng long, lão Vương anh cũng là một nhân vật đáng chú ý đấy! Tôi nói: Tôi nửa người nửa ngợm, ngoài chuyện gây ra một câu chuyện tình yêu điên dại thì không còn làm được việc gì cả, bây giờ chỉ còn biết dựa vào mồm mép để bán búp bê đất sống qua ngày. Hai người đoán xem, ông huyện trẻ ấy nói thế nào? Ông ta nói: Có thể toàn tâm toàn ý gây ra một câu chuyện tình yêu như vậy, bản thân anh đã là một nhân vật truyền kỳ rồi. Vùng Đông Bắc của anh đã sản sinh ra rất nhiều kỳ nhân, quái nhân, tôi cho anh là một trong số ấy. Thằng nhóc này đúng là một quan chức kiểu mới, hoàn toàn không giống với những quan chức mà trước đây tôi đã thấy. Ông huyện ấy còn dặn tôi: Phải chăm sóc chu đáo cho đại sư, bảo đảm sự an toàn cho đại sư. Do vậy, việc đại sư mất tích vào lúc nửa đêm canh ba thế này khiến tôi toát mồ hôi. Nếu ông ấy có mệnh hệ nào tôi biết ăn nói làm sao với chủ tịch huyện đây? Tôi ngồi bần thần trên giường nhìn ánh trăng vằng vặc chiếu rọi vào trong nhà. Vắng lặng quá, chỉ có tiếng hai còn dế đang rền rĩ. Đột nhiên có tiếng cười lành lạnh vang lên từ trong chiếc máng ăn giành cho ngựa. Tôi giật mình nhảy xuống giường, đến bên chiếc máng và nhìn vào trong. Thì ra đại sư đang nằm dưới đáy máng ngửa mặt nhìn trời. Cái máng quá ngắn nên hai chân đại sư dựng thẳng lên trời, hai tay khoanh trước ngực, thần thái hết sức an nhiên tự tại và gương mặt vẫn còn điểm nét cười nhưng rõ ràng là đại sư đang ngủ, tiếng cười vừa rồi là tiếng cười trong mơ! Hai người cũng đã biết rồi đấy, những thiên tài của vùng Đông Bắc chúng ta thường vẫn bị chứng mất ngủ nghiêm trọng. Vương Can này tuy chưa được gọi là thiên tài nhưng vẫn thường xuyên mất ngủ. Không biết hai người có bị mất ngủ hay không?”

Tôi và “Tiểu sư tử” nhìn nhau và cùng lắc đầu: “Chúng tôi không mất ngủ, chỉ cần đầu chúng tôi kê lên gối là ngay sau đó tiếng ngáy sẽ vang lên. Do vậy chúng tôi không thể trở thành thiên tài” - Tôi nói.

“Mất ngủ chưa chắc đã là thiên tài, nhưng thiên tài nói chung đều mất ngủ” - Vương Can nói - “Chứng mất ngủ của bà cô cậu đã nổi tiếng khắp vùng Đông Bắc Cao Mật. Nửa đêm canh ba, khi vạn vật đã say sưa trong giấc ngủ thật nồng thì thường có một tiếng hát ẩn ẩn chìm chìm trong không gian. Đó là tiếng hát của bà ấy. Bà ấy đi dạo trong đêm. Còn Hách Đại Thủ thì say sưa với những con búp bê của ông ấy. Chứng mất ngủ của cả hai người mang tính chu kỳ, thay đổi theo tuần trăng. Trăng càng sáng thì chứng mất ngủ của họ càng nghiêm trọng, trăng bắt mờ thì họ có thể ngủ. Do vậy, vị chủ tịch huyện trẻ tài năng ấy đã đặt tên cho những con búp bê của Hách Đại Thủ là “búp bê ánh trăng”. Ông này đã từng ra lệnh cho đài truyền hình huyện đến quay phim Hách Đại Thủ nặn búp bê trong những đêm trăng sáng. Hai người đã xem đài truyền hình phát tiết mục này chưa, chưa à? Nhưng đừng tiếc nuối. Đây là tiết mục đặc biệt mà vị chủ tịch huyện trẻ ấy đã đứng ra chủ trì và đặt tên cho nó là “Kỳ nhân Đông Bắc Cao Mật”. Tiết mục này có bốn phần, phần đầu là giới thiệu về “búp bê trăng” của Hách Đại Thủ; phần hai là “Đại sư trong máng cỏ”; phần ba là “Một kỳ nhân xuất khẩu thành thơ”; phần bốn là “Người hát trong búp bê”. Nếu hai người muốn xem, chỉ cần tôi gọi một cú điện thoại là đài truyền hình sẽ mang băng và máy về chiếu cho hai người xem, lại là băng thô, chưa qua chỉnh lý, chưa qua dàn dựng, cắt xén. Tôi còn có thể đề nghị đài truyền hình làm riêng cho hai người một tiết mục, nội dung tôi đã nghĩ ra rồi, đó là “Kẻ du tử biết quay lại từ bến mê”.

Tôi và “Tiểu sư tử” nhìn nhau cười, biết Vương Can đang đắm chìm trong thế giới ngôn từ của nghệ thuật, không việc gì phải phản đối, cũng không việc gì phải ngắt lời cậu ta, cứ nghe cậu ta tiếp tục nói những gì nữa.

Vương Can nói: “Mất ngủ nhiều năm như đại sư cuối cùng cũng đã có một giấc ngủ ngon trong máng cỏ, ngủ rất ngon như một đứa trẻ vô tư vô lự, giống như đứa hài nhi nhiều năm trước nằm trong máng cỏ trôi nổi trên sông và tấp vào đây. Lúc ấy, tôi cảm động đến độ nước mắt chảy ròng ròng. Chỉ có những người bị mất ngủ mới biết những nỗi khổ khi không ngủ được. Cũng chỉ có những người đã từng mất ngủ mới biết được hạnh phúc khi được ngủ. Tôi đứng bên máng cỏ mà cố gắng không dám thở mạnh vì sợ làm kinh động giấc ngủ của đại sư. Dần dần, mắt tôi mờ đi và nhận ra trước mắt mình có một con đường nhỏ, hai bên đường cỏ hoang rậm rạp, hoa dại rực rỡ, trắng hồng vàng tím chen nhau, mùi thơm xông lên nực mũi, bướm bay chập chờn, ong kéo thành đàn. Phía trước con đường có một tiếng gọi tên tôi, là tiếng con gái nhưng có vẻ nằng nặng, khào khào nhưng vô cùng thân thiết. Tôi bị tiếng gọi ấy dắt đi, tôi không trông thấy nửa thân trên của người con gái ấy mà chỉ thấy được nửa dưới, cái mông tròn vo như hai quả bóng, đôi chân rất dài rất thon, gót chân đỏ hồng để lại những dấu tích trên nền đất ẩm ướt rất rõ, rõ đến độ tôi có thể nhận ra được những vân chân. Cứ thế, tôi đi theo người con gái ấy và hình như con đường nhỏ ắy không hề có điểm dừng... Dần dần, tôi nhận ra là đại sư đang song hành với tôi. Đại sư xuất hiện bên tôi từ lúc nào, từ đâu tới, tôi không thể biết được. Chúng tôi cứ đi theo gót chân hồng ấy và đến một bờ đầm. Gió từ đầm thổi lên mang theo mùi bùn và cỏ mục. Dưới chân chúng tôi là cỏ, xa xa là một mảng lau lách và còn có rất nhiều kỳ hoa dị thảo mà tôi không thể gọi tên. Tiếng trẻ con nô đùa vẳng đến từ trong đầm, rất xa xôi. Người con gái mà chúng tôi chỉ thấy được nửa thân dưới lúc này mới hướng về giữa đầm, nói to: Đại quái tiểu quái, Kim bào Ngọc nữ... Có ân báo ân, có oán báo oán...! Tiếng cô ta chưa dứt thì tôi đã thấy một đám hài nhi chỉ thắt một dải lụa nhỏ quanh bụng, có đứa có bím tóc vắt vẻo lên trời, có đứa trọc đầu, có đứa để tóc trái đào... cùng reo hò ào đến. Những bước chạy và thân hình chúng có vẻ nặng nề vì hình như có một lớp keo đặc sệt trên bề mặt của đầm. Do vậy mà những bước chạy của chúng trông chẳng khác nào những con chuột bị mắc vào bẫy bằng keo. Nhưng cuối cùng, bọn chúng, có cả con trai lẫn con gái đã vây lấy tôi và đại sư vào giữa. Có đứa ôm lấy chân chúng tôi, có đứa nhảy lên vai chúng tôi, có đứa chộp lấy tai chúng tôi, có đứa bíu lấy tóc chúng tôi, có đứa đu lên cổ chúng tôi, có đứa phun nước bọt vào mắt chúng tôi... Chúng tôi bị chúng, kể cả con trai lần con gái đè ngửa ra đất rồi bắt đầu đào bới bùn đắp lên người chúng tôi và kể cả thân hình của bọn chúng... Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, đột nhiên bọn hài nhi ấy không làm náo loạn nữa mà vây thành nửa vòng tròn trước mặt chúng tôi, đứa ngồi đứa quỳ đứa đứng, có đứa cắn móng tay, có đứa mút tay, có đứa há miệng... Nói chung là rất sống động, có rất nhiều tư thế khác nhau. Ông trời ạ! Đây không phải là bọn chúng đang làm mẫu cho đại sư sao? Liếc nhìn đại sư, tôi thấy ông đã bắt tay vào việc. Đôi mắt ông nhìn vào một đứa, tay vốc một nắm đất sét và nặn, nặn... Và đứa trẻ đã thành hình. Nặn hết đứa này đến đứa khác, vốc hết nắm đất sét này đến nắm khác... và rất nhiều trẻ con đã thành hình xung quanh đại sư...

Một tiếng gà gáy và tôi giật mình tỉnh dậy mới phát hiện mình đang phủ phục trên thành máng mà ngủ, nước dãi từ miệng tôi chảy ra làm ướt đẫm một vạt áo ngực của đại sư. Đối với người bị chứng mất ngủ mà nói, chỉ có hồi ức lại những gì đã gặp trong mơ mới có thể biết là mình đã tỉnh hay chưa. Những cảnh trong mơ như tái hiện lại trước mắt tôi, chứng tỏ tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Cuối cùng thì Vương Can mất ngủ đã bao lâu này cũng đã gục trên thành máng cỏ mà đánh một giấc say sưa, đúng là một sự kiện đáng mừng. Đương nhiên, điều đáng vui hơn vẫn là đại sư đã ngủ được một giấc. Cuối cùng ông ấy cũng ngáp một cái rõ to và từ từ mở mắt ra rồi hình như nhớ ra một điều gì đó, ông nhảy ra khỏi máng cỏ. Lúc này chỉ mới bình minh, vầng hồng phía đông mới le lói chiếu vào khung cửa sổ. Đại sư chạy vội về bàn làm việc, lật những lớp nilon đậy đống đất sét, ngắt đất sét ra thành từng cục nhỏ rồi nhào từng cục thật kỹ rồi bắt đầu nặn. Những đứa trẻ bắt đầu xuất hiện chung quanh đại sư, đứa có bím tóc vểnh cao, đứa cắn móng tay, đứa mút tay... Bỗng nhiên, một cảm xúc vô cùng ngọt ngào dâng lên trong lòng tôi, bên tai hình như vẫn văng vẳng tiếng gọi có sức hút như nam châm của người con gái nọ. Cô ấy là ai? Còn ai vào đây nữa? Cô ấy chính là bà mẹ đại từ đại bi dâng tặng con cái cho thế gian này!”

Kể đến đây, nước mắt đã trào ra trên mắt Vương Can. Tôi cũng nhìn thấy ánh mắt “Tiểu sư tử” cũng lóe lên những tia sáng kỳ dị và nhận ra rằng, cô ấy đã bị những lời kể đầy ma mị của Vương Can mê hoặc.

Vương Can tiếp tục kể: “Tôi vội vàng chạy đi lấy máy ảnh và không dám dùng đèn, lẳng lặng ghi lại mấy tấm ảnh về giây phút xuất thần của đại sư. Nhưng nói một cách không ngoa rằng, lúc ấy có súng nổ bên tai, đại sư cũng không tỉnh lại được. Thần sắc trên gương mặt đại sư không ngừng biến đổi, có lúc thì nghiêm trang trầm lắng, có lúc thì cười rất tươi, có lúc thì méo mó trông như mặt quỷ sứ, có lúc thì lại tỏ ra đau xót thê lương... Rất nhanh sau đó, tôi phát hiện ra rằng, những trạng thái tinh thần xuất hiện trên gương mặt đại sư đều có liên quan đến những đứa trẻ mà ông nặn ra. Có nghĩa là, khi ông nặn đứa trẻ nào thì toàn bộ nhục thân cũng như tâm hồn của ông ta đều nhập vào đứa trẻ ấy. Có thể nói đó là một mối liên hệ huyết nhục giữa người sáng tạo và sản phẩm được sáng tạo.

Những đứa trẻ trước mặt đại sư càng lúc càng nhiều. Bọn chúng, đương nhiên có cả con trai lẫn con gái xếp hàng ngay ngắn thành một hình bán nguyệt, đối mặt với đại sư. Đây là cảnh thật nhưng lại trùng hợp hoàn toàn với cảnh trong mơ của tôi. Tôi kinh ngạc, tôi vui mừng tột độ. Thì ra hai người lại có thể có cùng một giấc mơ! Nghe đâu rằng, câu nói “Trong lòng có điểm hòa hợp sẽ cảm ứng với nhau” của cổ nhân là giành cho tình cảm trai gái nhưng lại vô cùng thích hợp với trường hợp của tôi và đại sư lúc này. Tuy chúng tôi không thể yêu nhau nhưng chúng tôi lại là hai kẻ “đồng bệnh thì cùng cảm ứng với nhau”! Nghe đến đây, hai người cũng đã nhận ra là tại sao đại sư nặn nhiều đứa trẻ như vậy nhưng không có gương mặt nào giống gương mặt nào. Đại sư không chỉ nhận diện gương mặt trẻ con trong cuộc sống mà còn cảm nhận được từng khuôn mặt chúng trong mơ. Tuy tôi không có một chút kỹ năng nào trong việc nặn búp bê, nhưng sức tưởng tượng của tôi là vô cùng phong phú. Đôi mắt của tôi có công năng chẳng khác nào một chiếc máy ảnh. Tôi có thể đem một đứa trẻ ảo hóa thành mười đứa, trăm đứa, nghìn đứa..., đồng thời lại có thể đem cả nghìn đứa thu gom lại thành trăm đứa, mười đứa, một đứa. Thông qua giấc mơ, tôi đã dùng ý tưởng trong đầu óc mình truyền nhập vào đầu óc của đại sư. Sau đó, thông qua đôi tay của ông để biến những đứa trẻ ấy thành tác phẩm. Do vậy tôi mới nói, tôi và đại sư là một sự hợp tác do trời đất định đoạt, cho nên có thể nói, những tác phẩm ấy là thành quả sáng tác tập thể giữa tôi và đại sư. Tôi nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn cướp công của đại sư. Trải qua mối tình đầy thất vọng trước đây, tôi đã nhận ra bộ mặt thật của thế thái nhân tình, công danh lợi lộc đối với tôi cũng như mây nổi mà thôi. Tôi nói ra điều này với mục đích là muốn công bố một kỳ tích, muốn chứng minh rằng nghệ thuật và giấc mơ có một liên hệ vô cùng khăng khít. Đồng thời tôi cũng muốn hai người hiểu rằng, thất tình lại là ngọn nguồn của sáng tạo. Đặc biệt đối với những người theo đuổi nghệ thuật mà chưa trải qua những đau đớn vật vã vì thất tình, e rằng rất khó lòng chiếm lĩnh và sáng tạo ra những cảnh giới tối cao của nghệ thuật....”

Trong quá trình Vương Can thao thao bất tuyệt với những suy nghĩ của mình, đại sư vẫn bất động, hai tay chống cằm. Hình như chính bản thân ông cũng đã hóa thân thành một con búp bê đất sét khổng lồ.


4.

Vương Can bảo một thằng bé đem chiếc đĩa DVD bộ phim tư liệu “Kỳ nhân Đông Bắc Cao Mật” đến tận nhà đưa cho tôi. Thằng bé này mặc chiếc quần ngắn để lộ một đôi chân khẳng khiu, chân lại mang một đôi giày da cao cổ trông có vẻ quá nặng và quá to so với đôi chân của nó. Mái tóc của nó có màu vàng của sợi đay, lông mày và lông mi gần như là màu trắng, mắt màu xanh lơ, thoạt nhìn cũng nhận ra ngay đó là một đứa trẻ lai. “Tiểu sư tử” lục lọi tìm kẹo đưa cho nó nhưng thằng bé lại kẹp tay sau lưng, nói bằng một chất giọng rất nặng đặc sệt phương ngôn Đông Bắc Cao Mật: “Ông ấy nói, ít nhất cô chú phải đưa cho cháu mười đồng”.

Chúng tôi đưa cho nó hai mươi đồng. Nó cúi gập người chào chúng tôi, huýt sáo vui vẻ và bỏ đi. Chúng tôi rướn người qua khung cửa sổ để theo dõi thẳng bé, thấy nó chẳng khác nào những nhân vật trong phim hoạt hình, sải những bước chân rất dài đi về phía khu vực giải trí giành cho thiếu niên nhi đồng đối diện với khu chung cư của chúng tôi. Ở đó có nhiều trò vui.

Mấy ngày sau, khi chúng tôi đang tản bộ bên bờ sông thì lại gặp thằng bé ấy. Bên cạnh nó lúc này là một người đàn bà da trắng to cao đẩy một chiếc xe nôi, trên xe là một đứa bé gái, chắc có lẽ là em gái của thằng bé. Phía sau người đàn bà da trắng ấy là một gã đàn ông trung niên trông rất khỏe mạnh và khá đẹp trai. Anh ta đang gọi điện thoại di động. Tôi nghe ra anh ta nói tiếng phổ thông vùng Chiết Giang, sau lưng anh ta là một con chó lông vàng to béo. Tôi nhận ra anh ta là một giáo sư ở một trường đại học danh tiếng tại Bắc Kinh, vẫn thường xuất hiện trên truyền hình trong những tiết mục giao lưu giữa những người nổi tiếng với khán giả. Cùng như mọi lần, “Tiểu sư tử” lại giụi gương mặt mình vào chiếc xe và hôn hít đứa bé gái. Người đàn bà mỉm cười đầy thân thiện nhưng trên nét mặt người đàn ông trung niên lại là một vẻ khinh bỉ. Tôi nắm vai lôi “Tiểu sư tử” rời khỏi chiếc xe nôi. Đôi mắt cô ấy vẫn không rời đứa bé gái nên không thể nhận ra thái độ của vị giáo sư nọ. Tôi nhìn anh ta, gật đầu như muốn xin lỗi và anh ta cũng gật nhẹ đầu đáp lễ. Tôi thầm thì khuyên “Tiểu sư tử” từ nay trở về sau, đừng thấy đứa bé nào cũng như chó cái giữ con như vậy. Tôi nói: “Lúc này, trẻ con trở thành báu vật của gia đình người ta, em chỉ biết thể hiện tình cảm của mình mà không hề để ý đến thái độ của bố mẹ chúng!”. “Tiểu sư tử” cảm thấy uất ức, đầu tiên là lên tiếng chửi bới những kẻ quý tộc đời mới tìm đàn bà ngoại quốc để có thể đẻ được cả con trai lẫn con gái, sau đó là thở than có vẻ hối hận về chuyện trong quá khứ đã nghe lời cô tôi thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch tàn khốc mà hủy đi sự sống của không biết bao nhiêu đứa trẻ, làm hại đến thiên lý khiến ông trời báo ứng nên không thể sinh con để cái. Cuối cùng “Tiểu sư tử” bảo tôi hãy tìm một bà ngoại quốc nào đó chấp nhận kết hôn với tôi để sinh ra cho cô ta một đứa con tạp chủng. Tiểu sư tử” nói: “Tiểu Bão à, em không ganh tỵ gì đâu, cũng hoàn toàn không có một chút ân hận nào. Anh đi tìm một bà ngoại quốc cưới làm vợ đi, đẻ con thoải mái, đẻ được bao nhiêu thì đẻ bấy nhiêu, đẻ xong thì mang đến cho em, em nuôi tất”. Nói đến đây, nước mắt “Tiểu sư tử” đã lưng tròng, hơi thở dồn dập, khuôn ngực nung núc nâng lên hạ xuống. Hình như ý thức làm mẹ, tình mẫu tử thiên bẩm không có cơ hội phát lộ nên cô ấy mới xúc động đến dường ấy. Tôi nói điều này mà không nghi ngờ gì: Chỉ cần giao một đứa con cho “Tiểu sư tử”, đôi khuôn ngực đồ sộ kia nhất định sẽ có sữa, không những có mà có rất nhiều!...

Chúng tôi bỏ chiếc đĩa DVD vào đầu đĩa.

Trong những âm thanh mà người ở địa phương khác cảm thấy chói tai nhưng với chúng tôi, những âm thanh ấy trở nên bình thường thân thuộc, cuộc sống của cô tôi và nghệ nhân nặn búp bê đất Hách Đại Thủ lần lượt xuất hiện trên màn hình.

Đến lúc này tôi phải nói ra một điều mà lâu nay tôi vẫn giữ riêng cho mình. Khi cô tôi quyết định kết hôn với Hách Đại Thủ, tuy không nói ra nhưng tôi vẫn ngấm ngầm phản đối. Bố tôi, anh cả và anh hai tôi đều có chung thái độ với tôi trong chuyện này. Vì trong thâm tâm, chúng tôi vẫn cho rằng Hách Đại Thủ không xứng với cô. Từ nhỏ, tôi đã rất kỳ vọng về hôn nhân của cô. Trong quãng thời gian cô và Vương Tiểu Thích quan hệ với nhau, chúng tôi cảm thấy có một niềm vinh dự lớn lao mà cô đã mang về cho gia đình nhưng kết cục của mối tình này quá khốc liệt. Sau đó, cô tôi có quan hệ với Dương Lâm tuy không hề công khai và cũng không hề vinh quang như trong quan hệ với Vương Tiểu Thích. Nhưng dù sao Dương Lâm cũng là quan chức cao cấp nên chúng tôi cũng miễn cưỡng chấp nhận. Tôi nghĩ, cho dù cô làm vợ một gã điên điên khùng khùng như Tần Hà cũng vẫn hơn so với Hách Đại Thủ... Chúng tôi đã nghĩ đến chuyện cô sẽ sống cô độc đến già và chết. Thậm chí chúng tôi đã bàn đến chuyện khi già, cô sẽ về sống với ai, ai sẽ chịu trách nhiệm nuôi dưỡng cô. Nhưng thật đột ngột, cô tôi quyết định lấy Hách Đại Thủ. Lúc ấy tôi và “Tiểu sư tử” đều ở Bắc Kinh. Nghe tin này ban đầu chúng tôi bàng hoàng, sau đó thì nhận định rằng, đây chỉ là một tin tức hoang đường. Nhưng cuối cùng thì mọi chuyện cũng đã diễn ra và chúng tôi buộc lòng phải chấp nhận sự thật một cách ấm ức.

Trong đoạn băng có đầu để là “Búp bê trăng”, về danh nghĩa mà nói là đoạn phim quay Hách Đại Thủ nhưng thực tế cô tôi lại là nhân vật chính trong những cảnh quay này. Bắt đầu từ việc đón tiếp các phóng viên đài truyền hình đến những cảnh giới thiệu công việc cũng như sản phẩm của Hách Đại Thủ, cô tôi lại là nhân vật chiếm trọn khung hình. Cô đang hoa tay múa chân thao thao bất tuyệt về quá trình sáng tạo những con búp bê, còn Hách Đại Thủ thì ngậm tăm ngồi bên bàn làm việc, ánh mắt mông lung, sắc mặt không biểu lộ bất cứ thái độ gì, chẳng khác nào ông ta đang chìm trong ảo mộng. Có phải là tất cả những đại sư theo đuổi nghệ thuật nặn búp bê đất sét, một khi đã đạt tới cảnh giới tuyệt đỉnh thì sẽ biến thành người sống với ảo mộng? Danh tiếng của Hách Đại Thủ tất nhiên đã như sét đánh ngang trời nhưng trong trí nhớ của mình, thú thật là tôi rất ít khi gặp ông ta. Sau bữa tiệc mừng được gọi vào không quân của Tượng Quần kết thúc, trong bóng tối lờ mờ tôi có trông thấy ông ta. Cho đến nay đây là lần đầu tiên tôi trông thấy Hách Đại Thủ, nhưng không phải thấy bằng xương bằng thịt mà chỉ là thấy hình ảnh. Râu tóc Hách Đại Thủ đã trắng phau phau, có điều sắc mặt rất hồng hào, thần thái rất thanh thoát, đượm vẻ tiên phong đạo cốt. Trong đoạn phim này, không ngờ là chúng tôi cũng biết được nguyên nhân vì sao cô tôi lại quyết định kết hôn với Hách Đại Thủ.

Cô châm một điếu thuốc, từ từ nhả khói rồi bằng một giọng điệu buồn buồn, cô nói: “Chuyện hôn nhân là do trời định. Nói những lời này với các cậu các cô, những thanh niên trẻ tuổi không phải là tôi muốn truyên truyền luận điệu duy tâm - Tôi đã từng là một người theo đuổi chủ nghĩa duy vật một cách triệt để và cực đoan - nhưng trong chuyện hôn nhân, không tin thiên mệnh là không được” - Cô chỉ vào nghệ nhân Hách Đại Thủ đang ngồi như một tượng đất bên bàn, nói: “Ông ấy có nằm mơ cũng chưa bao giờ dám nghĩ sẽ là chồng tôi!”...

“... Năm một chín chín bảy, tôi sáu mươi tuổi” - Cô nói - “Cấp trên cho tôi nghỉ hưu. Đương nhiên là tôi không hề muốn nghỉ hưu, nhưng dù sao tôi cũng đã nghỉ hưu muộn hơn so với những người đàn bà bình thường khác năm năm nên không còn lý do nào để mà kéo dài thời gian công tác nữa. Viện trưởng bệnh viện huyện đã nói như vậy. Các cô cậu đều biết gã viện trưởng này. Đó là thằng tiểu súc sinh vong ân bội nghĩa vốn là con của Hoàng Bì thôn Hà Tây. Tên của nó là Hoàng Quân, nhưng tên thường gọi là Hoàng Qua, là quả dưa vàng. Nhớ lại ngày ấy, chính tôi là người lôi nó ra khỏi bụng mẹ nó. Nó là một thằng người mà có tìm hai ngày cũng không thấy nhịp tim, muốn tiêm thuốc thì tìm không thấy tĩnh mạch... nhưng lại làm đến giám đốc bệnh viện! Ngày nó đi học trường trung cấp y, chính tôi là người đã trực tiếp đến gặp cục trưởng cục y tế Trầm đánh tiếng nhờ vả cho nó. Thế mà “buổi sáng nắm quyền trong tay, buổi chiều đã trở mặt”. Thằng này không biết gì cả, nhưng lại có hai sở trường: Một là tinh tường chuyện mời cấp trên nhậu nhẹt và đút lót. Hai là có biệt tài trong việc kiếm gái và đặc biệt hầu hạ chuyện gối chăn cho những bà sồn sồn đứng tuổi...”.

Nói đến đây, cô tôi hạ giọng nói như tự trách: - Đúng là tôi hồ đồ, đúng là tôi dẫn sói về nhà, nối giáo cho giặc! Đàn bà con gái trong bệnh viện không cô nào thoát khỏi tay thằng Sở Khanh này. Con bé Vương Tiểu Mai nhà họ Vương vừa mới mười bảy tuổi, tóc còn tết bím hai bên, mặt còn búng ra sữa, lông mày lông mi cong vút, đôi mắt như muốn nói. Ai gặp cũng đều nói nếu mà Trương Nghệ Mưu phát hiện ra nó, khẳng định nó sẽ ăn đứt Củng Lợi, Chương Tử Di. Nhưng chẳng chờ đến lúc Trương Nghệ Mưu phát hiện thì thằng Sở Khanh Hoàng Qua đã phát hiện ra con bé này. Gã chạy thẳng đến nhà họ Vương, khua cái lưỡi có thể khiến cho người chết sống dậy của mình thuyết phục được bố mẹ Vương Tiểu Mai để cho con bé đến bệnh viện theo tôi học nghề phụ khoa. Nói là theo tôi để học phụ khoa nhưng hình như con bé này chưa hề đặt chân đến khoa phụ sản của bệnh viện. Con bé đã bị Hoàng Qua chiếm đoạt, ngày nào cũng cặp kè với gã, ban đêm ngủ với nhau đã đành, nhưng cảm thấy không đủ nên còn làm chuyện ấy giữa thanh thiên bạch nhật, rất nhiều người đã từng chứng kiến bọn chúng làm tình với nhau trong văn phòng. Làm tình xong thì dắt nhau lên huyện, lấy công quỹ ra mà mời các quan chức cao cấp ăn uống, qua đó vận động quan chức điều nó lên huyện. Các cậu chưa thấy mặt thằng này bao giờ à? Một cái mặt lừa dài đến gần nửa mét, đôi môi thâm sì, răng lợi lúc nào cũng rơm rớm máu, miệng nó ngoác ra có thể tọng cả một hòn dái ngựa vào! Bộ dạng nó như vậy nhưng lại được cất nhắc lên làm phó cục trưởng Cục Y tế huyện. Chơi chán Vương Tiểu Mai, nó còn biến con bé thành một món lễ vật, một món đồ chơi để dâng hiến cho các quan chức. Đúng là oan nghiệt!”...

Cô tôi nói: “Một ngày nọ, thằng nhóc ấy bỗng dưng gọi tôi đến phòng làm việc của nó. Đàn bà trong bệnh viện đều sợ hãi khi bị nó gọi vào văn phòng. Tất nhiên là tôi không sợ. Trong túi tôi lúc nào cũng có thủ sẵn một con dao nhỏ và sẵn sàng cắt cái của nợ của thằng tạp chủng ấy bất cứ lúc nào. Nó cười chào đon đả, rót trà mời tôi. Tôi nói: Viện trưởng Hoàng, có gì nói thẳng ra đi, không cần phải khách sáo như thế! Nó cười hi hi, nói: Dì à! Mẹ nó chứ, nó dám gọi tôi bằng dì à? Nó nói, dì à, cháu là thằng bé mà dì lôi ra từ bụng mẹ cháu, cũng được dì chăm sóc mà trưởng thành, dì xem cháu chẳng khác gì con ruột, hì hì... Tôi nói: Không dám, không dám! Ông đường đường là viện trưởng, tôi chỉ là một bác sĩ sản khoa bình thường. Ông nói tôi xem ông như con, có khác nào ông đã đẩy tôi vào chỗ chết! Có chuyện gì ông cứ nói thẳng ra đi! Nó vẫn tiếp tục cười hi hí rồi nói: Cháu đã phạm một sai lầm mà các cán bộ lãnh đạo vẫn thường hay gặp phải... Cháu thiếu thận trọng để cho Vương Tiểu Mai phải to bụng ra...! Thế thì chúc mừng ông vậy! Tôi nói: Vương Tiểu Mai đã mang thai rồng, viện chúng ta có người kế thừa sự nghiệp lãnh đạo rồi! Dì à, dì đừng cười nhạo cháu nữa - Nó nói - Mấy ngày nay cháu rầu đến độ cơm không nuốt nổi, ngủ không yên giấc - Thằng súc sinh! Kể ra có lúc mày cũng không ăn nổi cơm, ngủ không đẫy giấc! Tôi chửi thầm - Cô ấy buộc cháu phải ly hôn với vợ. Nếu cháu không chịu, cô ấy sẽ tố cáo lên tận bí thư huyện ủy! Tôi hỏi: Tại sao cần phải ly hôn? Những quan lớn như các ông không phải là vẫn có vợ hai vợ ba đấy sao? Mua cho nó một biệt thự, nhốt nó trong đó mà nuôi là xong chứ gì! Dì à, nó nói, dì đừng mượn cháu mà nói cho sướng miệng, bao vợ hai vợ ba vỡ lở ra thì ghế không đến tay cháu, lại nữa, cháu lấy đâu ra tiền để mua biệt thự? Thế thì ông đành phải ly hôn với vợ thôi! Tôi nói. Nó nghệch cái mặt ngựa ra, nói: Dì à, không phải dì không biết, bà vợ già của cháu có mấy thằng em đều là lục lâm thổ phỉ. Chúng nó mà biết chuyện này, không phanh thây cháu ra mới là chuyện lạ! Nhưng ông là viện trưởng, là cán bộ cao cấp kia mà! Được rồi, dì à, nó nói - Một viện trưởng của một bệnh viện làng nhỏ nhoi, trong mắt của dì cháu tin là cái chức ấy không bằng cục phân ngựa. Dì đừng châm chọc cháu nữa, nghĩ cách gì giúp cháu đi! Tôi nói: Tôi có cách gì để mà nghĩ nào? Vương Tiểu Mai sùng bái dì, nó nói, cô ấy đã nhiều lần nói với cháu như vậy. Cô ấy không nghe lời ai cả, nhưng lại nghe lời dì. Tôi hỏi: thế ông bảo tôi phải làm gì? Nó nói: Dì bảo cô ấy vất quách cái thai trong bụng đi. Hoàng Qua! Tôi căm hận nói - Chuyện hại người hại trời như vậy, tôi không làm được! Cả đời tôi, tôi đã nạo đến hơn hai nghìn cái thai rồi! Tôi không làm chuyện ấy nữa. Ông cứ chờ đó mà làm bố! Vương Tiểu Mai xinh đẹp như vậy, đứa con do nó đẻ ra khẳng định cũng sẽ rất đẹp. Đây là chuyện vui, ông nên nói chuyện này với nó, chờ cho nó đến ngày khai hoa nở nhụy, chính tay tôi sẽ đỡ đẻ cho nó”...

Cô tôi nói: “Tôi phất tay bỏ đi, cảm thấy hả lòng hả dạ vô cùng. Nhưng sau khi về đến phòng làm việc, tự nhiên trong lòng cảm thấy không vui. Hoàng Qua là đồ tạp chủng, cho nó tuyệt tự mới đúng, Vương Tiểu Mai xinh đẹp như vậy mà lại mang thai của loài tạp chủng, quả thật là đáng tiếc. Tôi đã từng đưa không biết bao nhiêu đứa trẻ ra với cuộc đời, cũng đã tổng kết được nhiều kinh nghiệm, đó là, người tốt hay người xấu, gần một nửa là do hiệu quả của môi trường giáo dục, hơn một nửa là do di truyền quyết định. Các cô cậu có thể phê phán “huyết thống luận” của tôi, nhưng đó chính là kinh nghiệm của cá nhân tôi. Hậu duệ của một thằng xấu như Hoàng Qua, cho dù sau khi sinh ra đưa ngay vào chùa, lớn lên cũng sẽ trở thành sư hổ mang mà thôi. Cho dù tôi không vui vì nghĩ đến Vương Tiểu Mai, nhưng không vì thế mà tôi làm công tác tư tưởng với con bé, không để cho kẻ tạp chủng như Hoàng Qua toại nguyện. Thế gian này thêm một sư hổ mang nữa cũng chẳng khiến nó xấu thêm tí nào... Nhưng cuối cùng, tôi cũng đã nạo thai cho Vương Tiểu Mai...”

“Việc này là Vương Tiểu Mai khẩn cầu tôi” - Cô tôi nói - “Con bé quỳ trước mặt tôi, ôm lấy chân tôi, nước mắt nước mũi chan hòa thấm ướt cả vạt áo blouse của tôi. Nó vừa khóc vừa nói: Cô ơi! Cháu bị thằng sở khanh ấy lừa. Cho dù bây giờ hắn có dùng kiệu tám người khiêng đến xin cưới, cháu cũng không bao giờ chấp nhận làm vợ kẻ súc sinh ấy đâu... Cô ơi, cô hãy giúp cháu bỏ cái đồ nghiệt chủng này đi. Cháu không muốn có một đứa nghiệt súc là con của cháu... - Như thế... - Cô lại đốt một điếu thuốc, hút một cách vồ vập, khói thuốc làm gương mặt cô nhạt nhòa - Tôi đã nạo thai cho con bé. Vương Tiểu Mai vốn chỉ là một đóa hoa quỳ mới hé nụ nhưng đã bị thằng sở khanh dập liễu vùi hoa - Cô đưa vạt áo lên thấm nước mắt - Trước đó, tôi đã thề là không bao giờ làm chuyện thất nhân thất đức như thế nữa. Tôi đã chịu hết nổi rồi... Nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã ra tay, cho dù biết rằng trong bụng Vương Tiểu Mai lúc này chỉ là một vệt máu lớn hơn ngón tay một chút mà thôi, nhưng khi nhìn thấy cái vết máu ấy động đậy trong chiếc thau, tôi có cảm giác là có một bàn tay nào đó đang túm chặt lấy trái tim mình mà dày vò, mà cấu xé, đau lắm, đau đến độ toàn thân tôi không còn chút sức lực, mồ hôi vã ra như tắm, mắt nảy đom đóm xanh xanh vàng vàng.... Khi công việc hoàn tất, tôi cũng ngã ra đất mê đi không biết bao lâu...”

“Đúng rồi, tôi đã già rồi, nói năng cứ lộn chuyện nọ sang chuyện kia, nói đến nửa ngày rồi mà vẫn chưa đề cập đến do đâu mà tôi lấy Hách Đại Thủ”. Cô tôi nói - “Ngày tôi nhận quyết định nghỉ hưu là mười lăm tháng bảy âm lịch, thằng tạp chủng Hoàng Qua vẫn muốn giữ tôi lại làm việc, nghỉ hưu mà không rời chức, nói mỗi tháng sẽ cấp cho tôi tám trăm đồng. Xì! Tôi nhổ một bãi nước bọt vào mặt hắn. Tiểu tạp chủng! Tôi chửi, bà đây đã bán sức cho mày đủ rồi. Bao nhiêu năm nay, trong mười đồng của bệnh viện này hết tám đồng là do ta làm ra! Phụ nữ trẻ em tứ xứ đến bệnh viện đều là vì ta. Bà đây muốn kiếm tiền thì bảy tám trăm mỗi ngày đâu có khó? Hoàng Qua mày muốn dùng tám trăm để mua ta à? Công nông dân mỗi tháng cũng không có cái giá ấy! Bà đây đã khổ ba phần tư đời người rồi, không muốn làm nữa, muốn nghỉ thôi, về Đông Bắc Cao Mật dưỡng lão thôi! Bị sỉ nhục, hai năm nay thằng tạp chủng Hoàng Qua tìm mọi cách để chơi khăm tôi? Chơi khăm tôi ư? Chuyện gì mà tôi còn chưa trải qua, lúc bé đã không biết sợ bọn quỷ Nhật Bản nữa là, đến già lại sợ một thằng tiểu tạp chủng sao?... Đúng rồi, đã vào chuyện chính rồi đây...

Hỏi vì sao tôi lại kết hôn với Hách Đại Thủ à? Chuyện này phải bắt đầu từ ếch. Đêm ấy, chính là đêm đầu tiên tôi nhận quyết định nghỉ hưu ấy mà, mấy người bạn già đặt một bữa tiệc nho nhỏ ở nhà hàng chia tay tôi. Đêm ấy tôi đã bị say - thực ra thì tôi uống ít thôi, nhưng rượu quá tồi. Ông chủ của nhà hàng nhỏ ấy chính là Giải Tiểu Tước, con trai của Giải Bách Trảo, là một trong số những củ đậu sinh trong những năm sáu mươi đem ra một bình rượu “Ngũ lương dịch” nói là kính biếu cô. Nhưng mẹ nó chứ, đó là rượu giả, tôi chỉ uống được mấy ngụm là đầu choáng mắt hoa, trời đất quay cuồng. Những bạn già cùng uống với tôi cũng chẳng hơn gì, ngay cả thằng Giải Tiểu Tước cũng đã sùi bọt mép, mắt trợn trắng”.

Cô tôi kể: “Tôi ngật ngưỡng ra về, ban đầu là có ý định về khu tập thể bệnh viện nhưng rồi trong mơ mơ hồ hồ, đôi chân lại dẫn tôi đến một vùng đất hoang ẩm thấp, một con đường nhỏ quanh quanh gấp khúc, hai bên là lau lách cao quá đầu người, nước xâm xấp sáng trắng dưới ánh trăng chẳng khác nào một tấm kính khổng lồ. Cóc, ếch kêu râm ran chung quanh tôi, bên này ngừng thì bên kia kêu, đúng là một dàn hợp xướng kỳ quái! Rồi như đoạn cao trào của một bài hợp xướng, tất cả đồng thanh cất tiếng. Oa! Oa! Oa! Oa!... Dàn âm thanh hỗn độn ấy xông thẳng lên đến trời rồi đột nhiên dừng lại, chỉ còn lại tiếng côn trùng rỉ rả...”. Cô tôi nói, cô ấy đã hành nghề y mấy chục năm này, không biết là có bao nhiêu lần phải đi giữa đêm tối thế này nhưng từ trước đến nay, cô chưa bao giờ biết sợ là gì. Nhưng đêm ấy thì cô đã cảm nhận được thế nào là sự sợ hãi. Người ta thường nói, tiếng ếch kêu giống như tiếng trống. Nhưng cô tôi nói, đêm ấy tiếng ếch kêu lại giống như tiếng khóc, tiếng khóc của hàng nghìn, hàng vạn đưa hài nhi cũng cất lên một lúc. Cô tôi cũng từng nói rằng, tiếng khóc trẻ sơ sinh là loại âm thanh mà cô yêu thích nhất. Đối với một bác sĩ sản phụ mà nói, tiếng khóc chào đời của một con người là giai điệu say đắm nhất của âm nhạc! Nhưng đêm ấy, trong tiếng kêu của ếch có sự oán hận, có sự rền rĩ... Hình như tinh linh của hàng vạn đứa trẻ sơ sinh đã bị hại cũng lên tiếng khóc than cho số kiếp ngắn ngủi của mình. Cô nói: “Những ngụm rượu mà tôi đã uống vừa rồi, trong khoảnh khắc đã biến thành những giọt nước mắt. Các cô cậu đừng cho là tôi say rượu nên đầu óc trở bị ảo giác. Rượu biến thành nước mắt chảy ra ngoài. Đầu óc tôi vô cùng tỉnh táo, ngoài một chút đau đầu ra, tôi hoàn toàn bình thường”...

Cô tôi kể cô đi theo một con đường dâm dấp bùn đặc quánh, muốn thoát khỏi sự bao vây của tiếng ếch. Nhưng thoát thân vào chốn nào đây? Cho dù cô đi rất nhanh, thậm chí là có lúc chạy nhưng những tiếng oa oa vừa bi thương vừa oán hận như tiếng khóc vẫn cứ bám riết lấy cô từ bốn phương tám hướng. Cô muốn tiếp tục chạy, nhưng không chạy được nữa rồi, bùn các lúc càng đặc hơn, càng dính hơn, trông chẳng khác nào những bả kẹo cao su phun ra từ miệng của các cô cậu thanh niên thời đại mới giữ chặt lấy đế giày của cô. Phải dùng toàn lực cô mới có thể lê được một bước. Cô nói, mỗi lần nhấc chân lên, cô nhìn thấy đế giày của cô kéo theo những sợi tơ gắn liền với mặt đất, hễ chùm sợi tơ này đứt thì chân kia cũng vừa đặt xuống, lại tiếp tục có những chùm tơ kéo theo. Cô cởi giày, đi chân trần trên bùn, nhưng sau khi cởi giày, cô mới nhận ra là lực dính giữa đôi bàn chân trần với bùn càng trở nên kinh khủng hơn. Hình như mỗi sợi tơ đều có một sức đàn hồi cực mạnh giữ chặt bàn chân cô không cho nhấc lên khỏi mắt đất, nếu cố gắng nữa thì e rằng chúng sẽ bóc da chân cô ra mất thôi. Cô kể: “Tôi quỳ xuống đất, trông tôi lúc này rất giống một con ếch to tướng đang nhích từng phân từng phân bò về phía trước. Lúc ấy, bùn vẫn bám chặt vào hai đầu gối và đôi bàn tay tôi. Nhưng tôi không nghĩ đến bùn nữa, không nghĩ đến độ dính nữa, cứ thế mà bò, bò về phía trước. Đúng lúc ấy, từ trong vùng lau lách um tùm, từ trên những lá sen nổi phập phù trên mặt nước sáng như những tấm gương, vô số những con ếch nhảy tung lên. Toàn thân chúng là một màu xanh biếc, cũng có nhiều con vàng rực. Đôi mắt chúng màu vàng chói, nhưng cũng có những đôi mắt đỏ một màu máu. Như những đợt sóng trào, chúng nhảy ào đến, vừa nhảy vừa kêu lên những tiếng kêu giận dữ nhưng cũng có những tiếng kêu thê thiết đan cài vây lấy tôi vào chính giữa...”

Cô tôi kể rằng, cô nhận ra rất rõ ràng những cái mồm sắc nhọn của chúng bắt đầu ngậm vào da thịt cô. Chúng nhảy lên vai, lên cổ, lên đầu cô. Thân hình cô không chịu đựng nổi sức nặng của chúng, nằm sắp xuống mặt đất. Cô nói: “Tôi cảm thấy sợ hãi, nhưng tôi không sợ vì bị chúng cắn cũng như bu lên đầu lên cổ mà tôi sợ vì làn da bụng nhơn nhớt của chúng tiếp xúc với da thịt khiến tôi có cảm giác rờn rợn, nhớp nhúa không thể nào chịu nổi. Chúng thi nhau đái, thi nhau ỉa lên thân thể tôi, cũng có thể là có rất nhiều con đang phóng ra tinh dịch...”. Cô kể rằng, đột nhiên cô nhớ lại, ngày trước bà cố tôi đã từng kể một truyền thuyết về chuyện ếch quấy rối người rằng, ngày xưa có một người con gái, ban đêm ngồi trên bờ đê hóng mát và bất giác ngủ quên, trong mơ nàng thấy mình ái ân với một chàng trai có bộ áo màu xanh biếc. Một thời gian sau thì nàng có mang và đến ngày đến tháng thì sinh ra một con ếch nhỏ. Cô tôi nói: “Nhớ lại chuyện ấy, tôi kinh sợ và nỗi kinh sợ thăng hoa thành một sức mạnh thần thánh, tôi vùng dậy. Tôi nhận ra rất nhiều ếch đang bám trên cơ thể tôi rào rào rơi xuống đất nhưng vẫn còn rất nhiều những con khác đang ngoan cố bám trên quần áo, đầu tóc, có hai con cắn chặt vào dái tai tôi và thân hình chúng đang treo lủng lẳng trông khác nào một món đồ trang sức đáng sợ. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy về phía trước và không hiểu vì sao sức kéo của đất sét dưới chân tôi đã giảm đi một cách đáng kể. Tôi vừa chạy vừa dùng hai tay phủi đầu, cổ, y phục. Mỗi khi tay tôi đụng phải một con ếch là tôi kêu lên một tiếng sợ hãi nhưng cố dằn nỗi sợ, tôi bóp chặt lấy chúng và vất đi, riêng hai con đeo dưới dái tai thì vất vả lắm, tôi mới lôi được chúng ra và khi lôi ra được thì dái tai tôi đã cần đứt. Chúng ngậm dái tai tôi rất chặt trông chẳng khác nào những con ếch con đói lả ngoạm chặt vú mẹ chúng. Tôi vừa chạy vừa kêu thét nhưng vẫn biết là mình khó lòng thoát khỏi bọn ếch đang bám đuổi phía sau lưng. Thi thoảng tôi quay đầu nhìn lại, cảnh tượng phía sau khiến tôi thất kinh: Hàng nghìn, có thể nói là hàng vạn con ếch chẳng khác nào một quân đoàn kỵ binh bám sát sau lưng tôi. Chúng nhảy, chúng kêu gào, chúng đạp lên nhau, chúng chen chúc bên nhau, có thể hình dung là một dòng nước lũ đang cuồn cuộn chảy. Không những thế, hai bên đường lại có những con ếch nằm phục sẵn, dàn thành trận thế rất chỉnh tề như có ý đồ ngăn chặn không cho tôi thoát thân. Có con còn điên cuồng hơn là bám vào lau lách bên đường, khi tôi chạy ngang qua thì tung thân nhảy vào tôi để cắn...”. Cô tôi nói, đêm ấy cô mặc một chiếc quần rất dày màu đen nhưng cái quần ấy đã bị những cái mồm ếch gớm ghiếc nấp hai bên đường tấn công xé nát ra từng mảnh nhỏ. Xé được miếng vải nào, chúng nhoàm nhoàm nuốt chững, bị nghẹn nên lặn lộn dưới đất giơ cái bụng trắng hếu lên trời!

Cô tôi nói, khi chạy đến bên bờ sông và bắt đầu đặt chân lên đến cây cầu đá nhỏ sáng nhờ nhờ dưới trăng thì chiếc quần trên người cô không còn lấy một mảnh vải, nói cách khác là nửa dưới của cô hoàn toàn trần truồng. Đúng lúc đó, cô gặp Hách Đại Thủ.

“Lúc ấy, tôi còn kể gì đến chuyện xấu hổ nữa. Nói thực lòng là lúc ấy tôi không hề ý thức được rằng mình đang trần truồng. Tôi nhìn thấy một người đàn ông mặc áo tơi, đội nón lá rộng vành ngồi giữa cầu, trong tay có một vật gì đó có đôi mắt lấp lóa dưới trăng - sau đó tôi mới biết là ông ấy cầm một cục đất sét - nặn “búp bê trăng” đương nhiên là phải làm dưới ánh trăng. Lúc ấy, về cơ bản mà nói là tôi không nhận ra người ấy là ai. Nhưng cho dù ông ta là ai, chỉ cần là con người đã là ân nhân cứu mạng của tôi rồi...”. Cô tôi nói, cô đã nhảy bổ vào lòng người ấy, cố gắng chui vào trong áo tơi của ông ta và cảm nhận được hơi ấm tỏa ra từ trên ngực. Nhưng từ phía sau lưng ông ta, một làn hơi lạnh phả tới, lạnh chẳng khác nào độ lạnh khiến người ta phải rùng mình ác cảm trên bụng của những con ếch”. Cô nói, cô chỉ kịp kêu lên một câu ngắn: “Ông anh! Cứu mạng!” rồi hôn mê bất tỉnh.

Chúng tôi cũng cảm thấy lạnh gáy qua những lời kể dài dằng dặc của cô. Lúc này trên màn hình lại xuất hiện gương mặt của Hách Đại Thủ, vẫn là một khuôn mặt bất động, chỉ có đôi tay là có biểu hiện của sự sống khi miết vào những cục đất sét và dưới đôi bàn tay ấy, mấy gương mặt trẻ con được đặc tả một cách sinh động xuất hiện trong ống kính... Rồi trên màn hình lại xuất hiện chiếc cầu đá nhỏ và choán lấy khung hình là gương mặt của cô tôi, cái miệng của cô tôi. Cô tôi nói:

“Khi tỉnh dậy tôi mới nhận ra là mình đang nằm trên giường Hách Đại Thủ, trên người là một bộ áo quần đàn ông. Trên tay Hách Đại Thủ đang có một bát nước đậu xanh và đang bón từng thìa cho tôi. Mùi thơm của đậu xanh khiến lý trí tôi bắt đầu khôi phục trở lại. Uống xong một bát nước đậu xanh, mồ hôi ra ướt đầm trên toàn thân tôi. Hình như mọi chỗ trên cơ thể tôi đều đau đớn không thể tả nhưng cảm giác tởm lợm về chất nhờn lành lạnh ấy đã biến mất. Những mụn nước nổi thành từng mảng trên da thịt tôi, vừa rát vừa đau. Tôi sốt cao và bắt đầu lảm nhảm mê sảng. Sau đó, tôi tiếp tục uống nước đậu xanh của Hách Đại Thủ và cũng vượt qua được cơn khủng hoảng về tinh thần cũng như thể chất, một lớp da mới hình thành trên cơ thể tôi. Trước đây tôi đã từng nghe nhiều truyền thuyết về chuyện con người có thể thay xương đổi thịt và tôi biết là mình cũng đã qua một kỳ thay xương đổi thịt. Bệnh khỏi, tôi nói với Hách Đại Thủ: Hách đại ca, chúng ta kết hôn nhé!”.

Kể đến đây, gương mặt cô tôi đã đầm đìa nước mắt.

Đoạn phim tiếp theo miêu tả cô tôi và Hách Đại Thủ chung tay sáng tạo nên những con búp bê đất sét. Mắt cô tôi nhắm lại giống như Hách Đại Thủ. Trên tay ông ta lúc này là một cục đất sét, ông ta mắt nhắm nghiền nói: “Tên con búp bê này là Quan Tiểu Hùng. Bố của nó cao một mét bảy lăm, mặt vuông, cằm bạnh, mắt một mí, tai to, mũi to và cao. Mẹ nó cao một mét bảy ba, cổ cao, cằm thon, mắt hai mí, sống mũi cao... Đứa bé này ba phần giống bố, bảy phần giống mẹ...”. Theo lời kể của cô tôi thì con búp bê có tên là Quan Tiểu Hùng ấy là sản phẩm mà Hách Đại Thủ đắc ý nhất sau khi được làm ra. Ống kính đặc tả gương mắt con búp bê này. Cô tôi nói: “Tôi thấy một khuôn mặt trẻ thơ vô cùng xinh đẹp nhưng phảng phất đằng sau vẻ đặp ấy là một vẻ u buồn khó lòng dùng ngôn ngữ để diễn đạt. Bất giác, nước mắt tôi chảy dài...”


5.

Tôi đưa “Tiểu sư tử” đến tham quan bệnh viện Nhi đồng Gia Bảo do Trung - Mỹ hợp tác xây dựng. “Tiểu sư tử” rất muốn được làm việc ở đây những khổ nỗi, không tìm ra cách nào để chen chân vào cái bệnh viện sang trọng này.

Vừa mới đặt chân vào tiền sảnh, tôi đã có cảm giác nơi đây không phải là một bệnh viện mà giống với một câu lạc bộ cao cấp nào đó. Giữa mùa hè nhưng không gian trong tiền sảnh mát mẻ một cách lạ lùng, bên tai lại văng vẳng những tiếng nhạc êm dịu, du dương cộng với một mùi thơm phảng phất của hoa tươi. Trên bức tường lớn của tiền sảnh là logo của bệnh viện màu lam nhạt cùng với dòng chữ “Suốt đời vừa ý, muôn người tín nhiệm”. Hai cô gái xinh đẹp mặc áo blouse và mũ trắng đang đứng tại đây để đón tiếp khách tham quan, gương mặt luôn điểm một nụ cười nhã nhặn.

Một phụ nữ trung niên mặc blouse trắng, đeo đôi kính trắng bước đến bên chúng tôi, lễ độ và thân thiện lên tiếng: “Ông bà có cần sự giúp đỡ gì của tôi không?”.

“Không có gì, chỉ là đến để tham quan thôi” - Tôi nói.

Người phụ nữ đưa chúng tôi đến khu nghĩ dưỡng và giải trí ở phía bên phải. Có rất nhiều những chiếc ghế mây tinh xảo được đặt dọc theo những lối đi, bên cạnh những chiếc ghế có những chiếc bàn nhỏ và trên bàn đặt rất nhiều những tờ tạp chí có liên quan đến phụ nữ và trẻ em, trong số đó có cả những tài liệu giới thiệu về bệnh viện.

Người phụ nữ rót hai cốc nước từ trong một chiếc máy đặt rải rác trong các hành lang mời chúng tôi, mỉm cười gật đầu chào từ biệt.

Tôi lơ đãng lật những tài liệu giới thiệu bệnh viện và để ý đến tấm ảnh chân dung một người phụ nữ trung niên. Cô ta trông thật xinh đẹp, trán cao và sáng, lông mi dài cong vút đằng sau một đôi kính không có gọng, môi hé cười để lộ đôi hàm răng trắng và đều tăm tắp. Bên phải bức ảnh là những dòng chữ:Bệnh viện Nhi đồng Trung Mỹ Gia Bảo là một trong những bệnh viện lý tưởng giành cho phụ nữ và trẻ em. Đến đây bạn không bao giờ có cảm giác lạnh lẽo mà chỉ thấy một không khí gia đình ấm áp, chân thành. Bạn có thể thể nghiệm được thái độ phục vụ của chúng tôi với bạn như phục vụ một quý tộc chân chính... Bên trái bức ảnh là những dòng chữ:Chúng tôi thực hiện nghiêm túc tuyên ngôn Giơnevơ năm 1948 của Hiệp hội y học thế giới. Chúng tôi hành động bằng lương tâm và trách nhiệm, đề cao y đức. Điều đầu tiên chúng tôi quan tâm là sức khỏe của con người. Chúng tôi đảm bảo những bí mật của bệnh nhân. Chúng tôi tôn trọng và bảo vệ truyền thông cao thượng của ngành y học...

Tôi liếc nhìn “Tiểu sư tử” và nhận ra cô ấy đang cau mày ra chiều suy nghĩ, trên tay cũng là một tập tài liệu giới thiệu về bệnh viện.

Tôi tiếp tục lật thêm một trang tài liệu nữa. Trước mắt tôi là một nữ bác sĩ với gương mặt phúc hậu, trên môi điểm nụ cười đang dùng thước dây đo cái bụng mang thai to tướng của một phụ nữ. Người phụ nữ mang thai này cũng thật xinh đẹp, mi dài mũi cao, đôi môi đầy đặn, da mặt hồng hào, khó lòng tìm thấy một chút biểu hiện của sự mệt mỏi và tiều tụy vốn thường thấy ở phụ nữ khi mang thai. Một hàng chữ chạy ngang qua cánh tay bác sĩ và in trên làn da bụng của người phụ nữ mang thai:Chúng tôi tôn trọng sinh mệnh của con người ngay từ khi mới bắt đầu thành hình!

Một người đàn ông tầm thước, tóc hói gần hết nhanh nhẹn tiến vào gian tiền sảnh của bệnh viện. Nhìn vẻ tự tin trên nét mặt cũng như cái bụng đã bắt đầu tích mỡ của người này, tôi biết anh ta là một nhân vật có tầm cỡ, nếu không phải là lãnh đạo cấp cao thì cũng là chủ một doanh nghiệp, đương nhiên cũng có thể vừa là quan chức cấp cao vừa là kẻ lắm tiền. Tay phải anh ta đang dắt một cô gái trẻ dong dỏng cao, chiếc eo rất thon thả đung đưa sau làn vải sa mỏng tang màu vàng nhạt. Tôi thoáng giật mình vì đã nhận ra cô gái ấy chính là Tiểu Tất, cô gái đa tài đa nghệ phụ trách văn phòng công ty nuôi ếch do Viên Tai và em họ tôi quản lý. Tôi cúi đầu, đưa cao tập tài liệu lên che nửa khuôn mặt.

Tôi lật tiếp trang sách nữa. Trước mắt tôi là một hàng trẻ con năm đứa trần truồng bụ bẫm ngồi trên bãi cỏ. Cả năm đứa đều quay đầu nhìn về một hướng, hình như có ai đó ở ngoài ống kính đang gọi chúng. Những chiếc đầu tròn tròn, những chiếc cổ ngắn tạo thành một nét nhấn đáng yêu vô cùng, cho dù không thể nhận ra trên mặt chúng một trạng thái tình cảm nào nhưng tấm ảnh vẫn gợi lên một sức sống rất tự nhiên và chân thành. Tóc chúng vàng có đen có, vành tai đều rất to. Tai to là có phúc. Tôi nghĩ cả năm đưa bé này đều không quá sáu bảy tháng tuổi, vừa mới biết ngồi, nên dáng ngồi vẫn chưa vững, có hai đứa đang chống tay xuống đất sắp ngã xuống. Bụng chúng đều tròn và đều mặc những chiếc tã lót bé xíu để lộ cặp đùi nung núc... Dưới tấm ảnh có dòng chữ:Lấy gia đình làm trung tâm, công tác phục vụ của khoa sản rất chú trọng đến thai nhi, sức khỏe của bà mẹ trong mối liên hệ với những chất dinh dưỡng cao cấp, đồng thời cũng chú trọng đến việc giáo dục những kiến thức về sinh sản.

Gã đàn ông trung niên và Tiểu Tất đã đến bên hai cô gái trong tiền sảnh và đang trao đổi với nhau điều gì đó. Sau đó cả hai đi theo một cô đến ngồi ở một bên gian tiền sảnh. Đây là vị trí chờ đợi của loại khách sộp, ở đó có mấy bộ salon cao cấp, có cả những lọ hoa hồng tươi đặt trên bàn. Vừa ngồi xuống ghế là gã đàn ông hắt xì hơi mấy cái liền. Nghe thấy tiếng hắt xì của gã, tim tôi thoáng rung động. Tiếng hắt xì hơi lạ và rất cá tính chẳng khác nào như những tiếng sấm này đã đánh động đến ký ức của tôi. Có lẽ nào lại là hắn ta?

Tôi định nói cho “Tiểu sư tử” biết về phát hiện của mình, nhưng cô ấy vẫn đang dán mắt vào tập tài liệu, miệng lẩm bẩm không biết đang nói với ai: “Đây mà là bệnh viện sao?... Những ai sẽ được điều trị trong bệnh viện này...”... Vì đang ngồi quay lưng về phía tiền sảnh nên “Tiểu sư tử” không phát hiện được Tiểu Tất và gã đàn ông nọ.

Hình như nhận ra vị trí ngồi của mình quá lộ, gã đàn ông dắt tay Tiểu Tất đứng dậy đi vào quán cà phê trong một góc của tiền sảnh. Quán cà phê này được ngăn cách với tiền sảnh bằng những tấm phông vải mỏng và giản dị, chính giữa có mấy chậu gốm trồng trúc Nhật Bản, một chiếc chậu xi măng được đúc rất tinh xảo và rất to, trong đó có một cây đa bonsai cổ thụ, cành lá xanh tốt sum suê. Dựa sát vào tường là một quầy bar, đằng sau quầy là những chiếc tủ sang trọng, trong tủ đặt những chai rượu ngoại đắt tiền, toàn là những loại rượu danh tiếng trên thế giới. Một thanh niên rất đẹp trai đứng sau quầy đang pha cà phê. Mùi hương cà phê cao cấp hòa quyện với mùi hoa tươi lởn vởn trong không gian ập vào mũi khiến một kẻ không lấy gì làm nghiện cà phê như tôi cũng muốn tận hưởng hương vị của nó...

Hắn ta đang ngồi đó, tay khuấy nhẹ cốc cà phê và đang thì thầm gì đó trông có vẻ thân thiết và bí mật với Tiểu Tất. Đúng rồi, chính là hắn ta! Một con người có thể thay đổi giọng nói, nhưng anh ta không thể thay đổi được cách hắt xì hơi một cách vô thức. Một người có thể làm cho mắt anh ta từ một mí thành hai mí nhưng một phẫu thuật gia tài năng đến mấy cũng không thể được ánh mắt của anh ta. Trong khoảng cách hai mươi mét, hắn ta cười nói một cách thản nhiên, nhàn nhã, hoàn toàn không ngờ là có một người bạn thuở thiếu thời đang theo dõi và từ đó, một Tiêu Hạ Thần với đôi mắt một mí, một tâm địa đầy độc ác đã dần dần quay về từ cái vỏ bọc là một quý nhân trong hiện tại.

“Không có gì để làm cả...” - “Tiểu sư tử” vất tập tài liệu xuống bàn, thiểu não nói: “Nào là tiến sĩ tốt nghiệp ở Mỹ về, nào là thạc sĩ Pháp, nào là giáo sư đại học y khoa, nào là... Hình như ở đây đã tập trung toàn bộ tinh hoa của y học Trung Quốc thì phải... Em mà vào đây thì e rằng chỉ xứng đáng làm một công nhân vệ sinh mà thôi...”.

Tuy là đồng hương, lại có một thời gian dài cùng sống ở Bắc Kinh nhưng chúng tôi không hề gặp Tiêu Hạ Thần lần nào. Nhớ lại, khi hắn tốt nghiệp đại học, bố hắn đã đi khắp làng khắp xóm rêu rao: Con trai tôi đã làm trong Quốc vụ viện! Sau đó, tôi có nghe nói rằng, sau khi làm nhân viên trong văn phòng Quốc vụ viện được mấy năm, hắn trở thành thư ký cho một ông bộ trưởng nào đó, sau đó nữa thì nghe nói hắn từ chức thư ký để về một địa phương nọ làm bí thư và cuối cùng thì lại nghe nói hắn đã làm một ông chủ trong giới bất động sản, trở thành một đại phú ông được liệt vào hạng mười tỉ...

Cô gái hướng dẫn trong bệnh viện đã tìm được Tiêu Hạ Thần và Tiểu Tất, đưa cả hai đi vào một cánh cửa lớn. Tôi gấp cuốn tài liệu lại, nhìn trang bìa cuối của nó: Một bàn tay của một bác sĩ đang nắm chặt bàn tay của một sản phụ, tay khi đang đặt lên cái bụng tròn vo của cô ta, bên dưới là một hàng chữ:Chúng tôi xem sản phụ và hài nhi như người thân của mình. Mọi công tác phục vụ được thực hiện một cách tích cực nhất. Ở chỗ chúng tôi, bạn có thể cảm nhận được không khí đầm ấm và thân thiện, bạn có thể nhận được những sự chăm sóc chu đáo nhất và an toàn nhất.

Sau khi rời khỏi bệnh viện, tâm trạng “Tiểu sư tử” rất nặng nề và không ngừng chê bai bệnh viện bằng những quan điểm chính trị lỗi thời. Tôi cũng đang theo đuổi những suy nghĩ riêng nên không muốn lên tiếng tranh cãi, nhưng những lời lảm nhảm của cô ấy cứ vang mãi bên tai đến độ không chịu đựng được nữa nên mới gắt nhỏ: “Được rồi, thưa phu nhân! Bà đừng có lảm nhảm nữa!”.

Tưởng rằng “Tiểu sư tử” sẽ nổi đóa, nhưng không ngờ là cô ấy chỉ cười khổ, nói: “Một bác sĩ nông dân như em e rằng chỉ có thể đến nuôi ếch trong trại của Viên Tai thôi!”

“Chúng ta nghỉ hưu về quê là để dưỡng lão, không phải là để tìm việc”.

“Nhưng em muốn làm một công việc nào đó. Hay là em đi làm con sen cho một nhà nào đó vậy”.

“Được rồi! Em đoán xem, vừa rồi anh trông thấy ai trong bệnh viện nào?”

“Ai?”

“Tiêu Hạ Thần, Tiêu Hạ Xuân. Tuy hắn đã chỉnh trang khuôn mặt nhưng anh vẫn có thể nhận ra hắn”.

“Không thể!” - Tiểu sư tử” nói - “Hắn đã giàu sụ, quay về đây làm gì? Hay là anh nhìn nhầm người?”

“Mắt anh có thể nhầm nhưng tai anh thì không thể” - Tôi nói - “Cách hắn hắt xì hơi e rằng trên thế giới này không có người thứ hai, ngoài ra còn có đôi mắt cũng như tiếng cười của hắn nữa, không thể thay đổi”.

“Có thể hắn quay về để tìm cơ hội đầu tư?” - “Tiểu sư tử” nói - “Nghe nói quê chúng ta sẽ nhanh chóng sát nhập vào thành phố Thanh Đảo, nếu như vậy thì giá đất, giá nhà sẽ tăng cao gấp bội, đúng không?”

“Em đoán xem hắn đi vào bệnh viện với ai nào?”

“Với ai?”

“Tiểu Tất! Chính là Tiểu Tất trong công ty nuôi ếch!”.

“Ôi dào! Khi gặp con bé này, liếc qua là em đã biết loại đàn bà gì rồi. E rằng quan hệ giữa nó với em họ anh, kể cả Viên Tai cũng chẳng trong sạch gì đâu”.


6.

“Tiểu sư tử” ghét cay ghét đắng cái công ty nuôi ếch ấy, do vậy mà cũng không có cảm tình mấy với Viên Tai và em họ tôi. Nhưng sau ngày chúng tôi đi tham quan bệnh viện Gia Bảo do Trung Quốc và Mỹ hợp tác đầu tư ấy một thời gian, bỗng nhiên cô ấy lại nói với tôi: “Tiểu Bão, em đến công ty nuôi ếch để làm việc đây!”.

Tôi giật mình kinh ngạc, chỉ biết thần người nhìn cái mặt đang cười hớn hở của “Tiểu sư tử”.

“Thật đấy, em không đùa đâu” - Cô ấy không cười nữa, nghiêm nghị nói.

Hình ảnh những con ếch trong câu chuyện kể của cô tôi thấp thoáng xuất hiện trong đầu và cũng từ đó, tôi có ác cảm sâu sắc với loài ếch, thậm chí là có đôi phần sợ hãi. Tôi nói: “Em bằng lòng sống chung với loài động vật gớm ghiếc ấy hay sao?”

“Thực ra thì ếch không có gì đáng sợ cả” - “Tiểu sư tử” nói - “Con người có cùng tổ tiên với loài ếch. Hình dạng của nòng nọc và tinh trùng của người đàn ông hoàn toàn giống nhau, trứng của người đàn bà và trứng ếch cũng chẳng khác nhau bao nhiêu. Ngoài ra, anh có trông thấy thai nhi vừa được ba tháng trong bụng mẹ nó không, có một cái đuôi dài dài. Điểm này của con người hoàn toàn giống với loài ếch trong giai đoạn biến thái”.

Những lời nửa thật nửa đùa của “Tiểu sư tử” làm tôi chuyển từ kinh ngạc sang kinh sợ.

“Tiểu sư tử” tiếp tục nói như đang đọc một bài học thuộc lòng: “Tại sao hai từ “con ếch” và “em bé” đồng âm? 2 . Tại sao vừa rời khỏi lòng mẹ, tiếng khóc của trẻ con lại giống với tiếng kêu của loài ếch? Tại sao trong vòng tay của rất nhiều con búp bê đất sét vùng Đông Bắc Cao Mật chúng ta lại ôm một con ếch? Tại sao thủy tổ của loài người lại có tên là Nữ Oa 3 ? Từ “con ếch” và “em bé” đồng âm đã chứng minh rằng thủy tổ của loài người là một con ếch mẹ, chứng minh rằng nhân loại là do ếch tiến hóa mà thành. Do vậy mà luận điểm cho rằng con người do vượn tiến hóa là hoàn toàn sai lầm...”.

Từ trong những lời của “Tiểu sư tử”, tôi nhận ra bóng dáng cách nói năng của Viên Tai và em họ tôi. Và tôi biết, cô “Tiểu sư tử” ương ngạnh ngày nào đã bị những lời ngon ngọt của hai kẻ du thủ du thực chinh phục.

“Được rồi” - Tôi nói - “Nếu em cảm thấy quá vô vị khi ngồi nhà, đương nhiên em có đủ quyền đến nơi ấy để khuây khỏa. Nhưng...” - Tôi cười nói - “Anh tin là không quá một tuần, em không kịp nói lời tạm biệt mà đã cao chạy xa bay khỏi nơi ấy”.


7.

Thưa tiên sinh,

Tuy ngoài miệng tôi phản đối việc “Tiểu sư tử” đến công ty nuôi ếch làm việc nhưng trong thâm tâm, tôi vô cùng phấn khởi về điều này. Thực ra tôi là một kẻ thích cô độc. Tôi thích đi dạo một mình trên phố, vừa đi vừa hồi tưởng những gì đã diễn ra trong thời quá vãng. Nếu không hồi ức thì tôi sẽ để cho đầu óc mình đắm chìm trong những suy nghĩ mới. Đưa “Tiểu sư tử” đi dạo là chức trách của tôi, một chức trách bất đắc dĩ nên đương nhiên là rất đau khổ. Có điều trước mặt cô ấy, tôi vẫn làm ra vẻ rất vui và phấn khởi. Bây giờ thì tốt rồi, cứ mỗi buổi sáng sớm cô ấy đã đến trại nuôi ếch trên một chiếc xe đạp điện mà nghe đâu là em họ tôi đã mua cho cô ấy. Tôi thường đứng bên cửa sổ để nhìn theo dáng đạp xe rất nghiêm túc của “Tiểu sư tử” trên bờ đê, lặng lẽ nhưng rất nhanh nhẹn lao về phía trại nuôi ếch. Khi bóng dáng của cô ấy thoát khỏi tầm mắt là tôi cũng vội vàng chạy xuống lầu.

Trong vòng mấy tháng liền, tôi cứ tha thẩn trong những tiểu khu hai bên bờ sông. Rừng cây, vườn hoa, những siêu thị lớn nhỏ, cơ sở mát xa của Hội người mù, Phòng luyện tập thể dục công cộng, viện thẫm mỹ, công ty xổ số kiến thiết, chợ búa, cửa hàng gia dụng, chợ nông sản bên bờ sông... đều lưu dấu chân tôi. Mỗi lần đến đâu đó, tôi đều dùng máy ảnh kỹ thuật số để chụp vài kiểu ảnh như muốn lưu lại vết tích của mình chẳng khác gì một con chó đực đến bất kỳ chỗ nào cũng rắc vài giọt nước đái để làm dấu. Tôi còn đến của những vùng nông thôn chưa được khai phá, đến tham quan những công trình xây dựng đang thi công. Trên những công trường ấy, có nơi đã có những hình hài mới mọc lên với những kiểu dáng khác nhau, nhưng cũng có nơi đang đào hầm đào hố, san san lấp lấp, không biết bộ dạng nay mai của chúng sẽ như thế nào.

Đi một vòng khắp những tiểu khu ở bờ bắc, tôi lại chuyển sang bờ nam. Tôi có thể qua bên kia sông trên chiếc cầu dây văng mới xây có dáng một con hải âu bay lên, cũng có thể ngồi trên những chiếc bè tre xuôi dòng đến tận bến đò Ngãi Gia cách nơi tôi ở đến vài chục cây số. Nhưng tôi vẫn thường qua cầu, ngồi trên bè có cảm giác không an toàn. Có một ngày, một vụ tai nạn giao thông xảy ra trên cầu gây ùn tắc nghiêm trọng, lúc ấy tôi mới quyết định đi bè để có dịp ôn lại những kỷ niệm của thời quá khứ.

Chống bè là một thanh niên còn khá trẻ, mặc áo chẽn. Giọng cậu ta đặc sệt ngữ âm Cao Mật nhưng từ ngữ thì lại rất thời thượng. Chiếc bè của cậu ta được kết bằng hai chục cây tre to, đường kính bằng bát ăn cơm, đầu bè có vểnh lên một tí và giắt lên đó đầu một con rồng bằng gỗ bôi màu xanh xanh đỏ đỏ. Giữa bè có hai dãy ghế nhựa màu đỏ được buộc cố định. Cậu ta đưa cho tôi hai chiếc bì nilon, bảo tôi hãy buộc vào giày đề phòng nước bắn lên rồi nói, rất nhiều người thành phố muốn cởi giày để giỡn nước, bàn chân con gái thành phố trắng lắm, trắng như cá bạc, ngâm dưới nước nhìn rất hay. Tôi cởi giày, cởi vớ đưa cho cậu ta. Cậu ta đặt chúng lên một chiếc thùng bằng sắt, nửa đùa nửa thật nói: “Chú phải trả cho cháu thêm một đồng tiền công giữ giày”. Tôi nói: “Tùy ý cậu thôi!”. Cậu ta ném cho tôi một chiếc phao cứu sinh màu đỏ, nói: “Chú à, chú phải mang vào đấy, nếu không ông chủ sẽ trừ tiền thưởng của cháu”.

Khi cậu thanh niên chống sào định cho bè rời bến thì mấy người đồng nghiệp của cậu ta đang ngồi trên bờ kêu lớn: “Này Đầu Lép! Chúc cậu gặp vận may, rơi xuống sông chết nước!”.

Cậu thanh niên đối đáp rất sắc bén: “Thế không được đâu, tôi mà chết nước thì em gái của anh có thủ tiết với tôi không?”.

Bè đã ra đến giữa sông, thuận dòng trôi nhanh. Tôi lấy máy ảnh ra chụp cây cầu và phong cảnh hai bên bờ sông.

“Chú ở đâu đến vậy?”

“Cậu nói thử xem, tôi từ đâu đến?” - Tôi dùng giọng Cao Mật nói.

“Chú là người vùng này?”

“Có lẽ, bố cậu là bạn học của tôi” - Tôi nhìn cái đầu dài dài và lép của cậu ta, nhớ lại một người bạn thời tiểu học có biệt danh là “Đầu Lép” ở thôn Đàm Gia.

“Nhưng cháu lại chưa bao giờ gặp chú! Chú ở thôn nào?”

“Lo mà chống bè đi! Cậu không nhận ra tôi, chuyện đó không quan trọng, nhưng tôi biết bố mẹ cậu thì được rồi”.

Cậu thanh niên vung chiếc sào một cách thành thục, thi thoảng lại liếc nhìn tôi, đương nhiên là cậu ta muốn biết tôi là ai. Tôi rút thuốc châm lửa, cậu ta chun mũi hít hít, nói: “Chú à, nếu cháu không nhầm thì chú đang hút loại thuốc Trung Hoa gói mềm?”

Đúng là tôi đang hút thuốc lá hiệu Trung Hoa mà “Tiểu sư tử” đưa cho và nói đó là Viên Tai bảo cô ấy mang về cho tôi. “Tiểu sư tử” còn nói, giám đốc Viên bảo đó là những gói thuốc mà một nhân vật cỡ bự tặng cho cậu ta, nhưng cậu ta đang hút loại Bát Hỷ, không muốn đổi thuốc.

“Là bạn bè tặng cho tôi đấy!”. Tôi nói.

“Cháu biết ngay là thuốc tặng mà. Mấy người hút được loại thuốc này mà dùng tiền của mình để mua?” - Cậu thanh niên cười hi hí nói tiếp - “Vậy thì chú là người thuộc dạng “bốn cơ bản” rồi!”.

“Bốn cơ bản là gì?”

“Hút thuốc cơ bản không mua; tiền lương cơ bản không dùng; bà vợ cơ bản không đụng... Còn một cơ bản nữa, nhưng cháu quên mất rồi”.

“Ban đêm cơ bản nằm mơ thấy toàn ác mộng”. Tôi nói.

“Chú nói không đúng rồi, nhưng đúng là cháu không nhớ được điều cơ bản thứ tư”.

“Thế thì không cần phải nhớ nữa”.

“Nếu ngày mai chú còn đến đi bè, cháu nhất định sẽ nhớ lại”. Cậu ta nói - “Chú à, bây giờ thì cháu đã biết chú là ai rồi”.

“Cậu nói đi, tôi là ai?”.

“Chắc chắn chú là chú Tiêu, Tiêu Hạ Xuân!” - Cậu ta cười một cách tinh quái - “Bố cháu nói, chú là người có bản lĩnh nhất trong những người bạn cùng học của ông. Chú không chỉ là niềm tự hào của lớp bố cháu mà còn là niềm tự hào của cả vùng Đông Bắc Cao Mật này”.

Tôi nói: “Đúng là Tiêu Hạ Xuân có bản lĩnh thực, nhưng tôi lại không phải là Tiêu Hạ Xuân”.

“Chú đừng khách sáo” - Cậu ta nói - “Kể từ khi chú bước chân xuống bè, cháu đã biết chú không phải là một nhân vật bình thường”.

“Thật thế sao?” - Tôi cười nhẹ, nói.

“Đương nhiên rồi! Đầu chú phát ra ánh sáng, trên đầu lại có một vòng sáng, thoạt nhìn ai cũng nhận ra đó là tướng đại phúc đại quý”.

“Có phải là cậu đã học về thuật tướng số ở Viên Tai?”

“Chú cũng quen biết chú Viên sao?” - Cậu ta vỗ trán, nói - “Tại sao cháu lại hồ đồ thế chứ, các chú học cùng một lớp, đương nhiên là biết nhau rồi. Chú Viên không thể so sánh được với chú nhưng cũng là một người có bản lĩnh”.

“Bố cậu cũng là người có bản lĩnh đấy thôi” - Tôi nói - “Tôi còn nhớ là ông ấy có thể trồng chuối và đi bằng hai tay một vòng sân vận động đấy”.

“Cái đó mà gọi là bản lĩnh sao?” - Cậu ta có vẻ không vui, nói - “Đầu não giản đơn, tứ chi phát triển thôi mà! Nhưng chú và chú Viên là người có đầu óc, là người có bản lĩnh về trí tuệ. Người xưa nói, “người lao tâm cai trị người, người lao lực bị người cai trị” đấy thôi!”.

“Cách nói năng của cậu cũng chẳng khác nào Vương Can!” - Tôi cười nói.

“Chú Vương cũng là một thiên tài, nhưng con đường của chú ấy không giống với hai chú...” - Cậu ta đảo con bắt hình tam giác rất sinh động, nói - “Chú Vương có gan giả điên để kiếm tiền!”.

“Bán búp bê đất thì có thể kiếm được bao nhiêu tiền?”

“Chú Vương không phải bán búp bê đất mà là bán những tác phẩm nghệ thuật” - Cậu ta nói - “Chú à, tác phẩm nghệ thuật là vô giá! Đương nhiên rồi, số tiền mà chú Vương kiếm được mà đem ra so sánh với chú Tiêu đây thì có khác nào so sánh nước suối với biển khơi. Đầu óc của chú Viên có lớn hơn chú Vương nhiều, nhưng nếu chỉ dựa vào nuôi ếch thì chẳng kiếm được bao nhiêu tiền đâu?”.

“Công ty nuôi ếch mà không dựa vào ếch để kiếm tiền thì dựa vào đâu?”.

“Chú Tiêu, chú không biết thật hay là giả vờ?”

“Tôi hoàn toàn không biết”.

“Chú đang cười nhạo cháu phải không? Những người thuộc đẳng cấp chú, ai mà không có cặp mắt nhìn thấu trời cao? Ngay cả bọn thảo dân như chúng cháu mà còn biết chuyện này, làm sao mà chú không biết được?.

“Tôi vừa mới về lại đây mấy ngày, đúng là không biết thật”.

“Thôi thì cứ cho là chú không biết vậy” - Cậu ta nói - “Dù sao thì chú cũng không phải là người ngoài, thằng cháu ngu ngốc này múa mép một chút để cho chú giải buồn vậy”.

“Cậu cứ nói đi”.

“Chú Viên nuôi ếch chẳng qua là để che mắt thiên hạ thôi”. Cậu ta nói - “Công việc chân chính của chú ấy là giúp người khác đẻ con”.

Tôi thầm giật mình nhưng cố làm ra vẻ không để ý lắm.

“Nói một cách dễ nghe thì đó là trung tâm đẻ thay, nói khó nghe một tí thì chú ấy đem rất nhiều cô gái các nơi về nuôi ở trong trại. Những cô gái này sẽ đẻ con cho những ông muốn có con ngoài giá thú”.

“Có kiểu làm ăn như thế sao? Rõ ràng đó là vi phạm chính sách sinh đẻ có kế hoạch!”.

“Ôi dào, Chú Tiêu! Đã là thời đại nào rồi mà chú còn nói đến chuyện sinh đẻ có kế hoạch? Bây giờ, có tiền nộp phạt là xong cả ấy mà. Chẳng hạn vợ lão Hạ sinh đến đứa con thứ tư, bị phạt sáu trăm nghìn Nhân dân tệ, sáng hôm nay nhận giấy phạt, sáng mai đã dùng bao gai mang sáu trăm nghìn đến Ủy ban sinh đẻ có kế hoạch nộp liền. Thời kỳ công xã, không có tiền thì sinh con lén lút, nhân dân sống trong sự kềm kẹp của bao nhiêu là tổ chức, đi chợ cũng phải xin phép, đi ra ngoài làng là phải xuất trình chứng minh nhân dân. Bây giờ, người ta muốn đi đâu thì đi, vào nam ra bắc, có ai hỏi lấy một tiếng đâu. Người ta đến vùng khác buôn vải, sửa dù, vá giày, bán rau..., cứ thuê một gian phòng hoặc quây lấy một cái chuồng dưới gầm cầu, đẻ bao nhiêu mà chả được, muốn bao nhiêu đẻ bấy nhiêu. Người ta vẫn kháo nhau rằng, các bà vợ bé của các quan lớn đẻ thoải mái... Không cần phải nói nhiều nữa... Chỉ có mấy cha công chức nghèo kiết xác lại không có lá gan nên không dám đẻ mà thôi”.

“Theo cách nói của cậu thì chủ trương sinh đẻ có kế hoạch của nhà nước chỉ còn là danh nghĩa?”

“Không đâu! Chính sách vẫn tồn tại, nếu không thì dựa vào đâu để mà phạt tiền người ta?”

“Nếu đã như vậy thì người ta cứ tự mình đẻ con, việc gì phải đến “công ty đẻ thay” của Viên Tai?”

“Chú Tiêu à, có thể là chú toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp của mình nên về căn bản, chú không hiểu được thế thái nhân tình” - Cậu ta cười nhẹ, nói - “Phú ông cho dù có tiền, nhưng khẳng khái nộp tiền như lão Hạ kia liệu có mấy người? Tuyệt đại đa số là càng giàu càng keo kiệt, muốn sinh quý tử để kế thừa gia sản nhưng lại sợ bị phạt. Tìm người khác đẻ thay có thể tìm muôn ngàn lý do giả, khỏi phải nộp tiền phạt. Lại nữa, phú ông, quý nhân thời hiện đại hầu hết là tuổi tác cũng tương đương như chú, nhưng đàn ông thì vẫn còn sung mãn lắm, đàn bà coi như đã hết thời rồi, liệu còn dùng được nữa không?”.

“Thế thì tìm bồ nhí mà nuôi chứ?”

“Đương nhiên cũng có người tìm bồ nhí, không những một mà còn hai, ba. Nhưng cũng có rất nhiều người vừa sợ vợ vừa sợ phiền phức thì biến thành khách của nhà chú Viên”.

Mắt tôi nhìn vượt qua những cảnh gần hai bên bờ đê để tìm những nóc nhà ngói đỏ của công ty nuôi ếch và nóc ngói vàng của miếu Nương Nương, bỗng dưng trong lòng có một dự cảm bất thường. Tôi nhớ lại một buổi sáng sớm cách đây không lâu, sau khi đi tiểu tiện quay lại, tôi đã có một “cuộc chiến” kịch liệt với “Tiểu sư tử” trên giường.

“Chú à, hình như chú không có con phải không” - Con trai của “Đầu Lép” hỏi tôi.

Tôi không trả lời.

“Chú Tiêu à, những nhân vật kiệt xuất như chú, không thể không có con. Chú có biết là chú đã phạm tội không? Khổng Phu tử đã nói: Tội bất hiếu có ba, vô hậu là tội lớn nhất...”.

... Sau khi bài tiết bọng nước tiểu đầy ứ sau một đêm, tôi vô cùng thoải mái, lên giường muốn ngủ tiếp thì “Tiểu sư tử” đã chủ động nằm úp lên người tôi. Lâu lắm rồi hình như không có tình hình này diễn ra giữa tôi và cô ấy...

“Chú Tiêu à, cho dù là thế nào thì chú cũng phải sinh một đứa con. Đây không chỉ là chuyện riêng của chú mà còn là chuyện chung của vùng Đông Bắc Cao Mật chúng ta. Chú Viên sẽ để cho chú tự do lựa chọn. Cách cao cấp nhất là sinh sản hữu tính, người mang thai sẽ là một mỹ nhân, sức khỏe đảm bảo, bản chất cũng khá ưu việt, chưa kết hôn, tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học hẳn hoi. Chú có thể sống chung với cô ta một thời gian cho đến khi cô ta đẻ con cho chú. Cách này phí tổn tương đối cao, thấp nhất cũng phải hai trăm nghìn đồng. Đương nhiên, nếu chú muốn con mình tốt hơn nữa, chú có thể cung cấp thêm cho cô ta một số tiền bồi dưỡng, cũng có thể thưởng cho cô ta, tùy chú muốn nói sao thì nói vậy. Nhưng cách này cũng có nhiều nguy hiểm, nguy hiểm lớn nhất là trong thời gian sống chung với nhau, đôi bên nảy sinh tình cảm, biến giả thành thật sẽ ảnh hưởng đến cả gia đình. Do vậy, cháu nghĩ là cô ở nhà chắc chắn sẽ không đồng ý...”.

... Hình như “Tiểu sư tử” rất hưng phấn nhưng thân thể lại lạnh căm căm. Vả lại cô ấy cũng làm những động tác không hề bình thường trong khi làm chuyện ấy với tôi. “Em muốn làm gì thế?”. Trong ánh sáng lờ mờ của một ngày mới bắt đầu, tôi thấy ánh mắt cô ấy lấp lánh. Cô ấy cười một cách bí mật: “Em muốn chiêu đãi anh một món đặc biệt!”. Cô ấy dùng một vuông vải đen bị mắt tôi lại. “Em làm gì thế?” - “Không được mở ra... Anh coi thường em lâu lắm rồi, lúc này em muốn báo thù! - “Em muốn thắt ống dẫn tinh của anh?” - “Sao nỡ lòng như thế! Em chỉ muốn anh hưởng thụ một tí” - Cô ấy cười hi hí nói.

“Chú Tiêu à, trước đây mấy ngày có một bà đến làm náo loạn trại nuôi ếch. Bà ta đập vỡ xe của chú Viên”. Con trai “Đầu Lép” tiếp tục kể - “Chồng của bà ta sống với một cô gái đẻ thay, cuối cùng thì tình cảm nảy sinh và kết quả là, sau khi sinh con, ông này bỏ bà ta. Cho nên cháu nghĩ, cô nhà nhất định không chịu đâu”...

... “Tiểu sư tử” vẫn tiếp tục giày vò và tôi đã bắt đầu hưng phấn, hưng phấn đến cuồng loạn. Hình như cô ấy đeo một cái gì đó vào cho tôi. Em đang làm gì thế, có cần phải như thế không? Cô ấy không trả lời...

“Chú Tiêu à, nếu chú chỉ muốn có con mà không muốn tranh thủ có hội thưởng thức mùi vị của hương đồng cỏ nội, cháu sẽ cho chú biết một cách có con tiết kiệm nhất. Đây lại là một bí mật. Ở chỗ chú Viên có một số bà một số cô chấp nhận mang thai rất rẻ. Tướng mạo của họ cực kỳ đáng sợ, nhưng có điều đó không phải là do trời sinh. Họ vốn là những người đàn bà rất đẹp, nói cách khác là dòng máu của họ đảm bảo chất lượng. Chắc chú đã từng nghe nói đến vụ cháy ở xưởng chế tác đồ chơi Đông Lệ Mao, đúng không? Vụ cháy ấy đã làm chết năm người phụ nữ của vùng Đông Bắc Cao Mật chúng ta. Ngoài ra còn có ba người may mắn thoát chết nhưng lại bị thương nghiêm trọng, khuôn mặt bị hủy hoại hoàn toàn, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn. Chú Viên đã có lòng hảo tâm nhận họ, cho họ ăn, đồng thời cũng mở cho họ một kế sinh nhai để kiếm chút tiền dưỡng lão sau này. Đương nhiên, để nhờ họ đẻ con cho mình thì phải ứng dụng cách thức mang thai vô tính, nói cụ thể là người ta sẽ lấy nòng nọc của chú và bơm vào tử cung của họ. Đến khi khai hoa nở nhụy, chú đến ôm con về là xong. Chi phí rất rẻ, nếu là con trai thì năm mươi nghìn, con gái ba mươi nghìn...”

... Tôi kêu lên, cuối cùng cảm thấy thân thể mình vô cùng nặng nề và gần như mê man. “Tiểu sư tử” đắp chăn lên người tôi và nhẹ nhàng bỏ đi...

“Chú Tiêu, cháu đề nghị chú...”

“Vì sao cậu lại quảng cáo cho Viên Tai nhiều đến vậy?”

“Cháu là nhân viên nghiệp vụ nghiệp dư của chú Viên” - Con trai “Đầu Lép” cười nói - Cháu cảm tạ chú cho cháu một cơ hội để kiếm ít đồng. Ngay lập tức cháu sẽ liên hệ với chú Viên đây”.

Nói xong, cậu ta chống sào, lôi máy di động ra. Tôi nói:

“Xin lỗi, tôi không phải là chú Tiêu của cậu và không phải có nhu cầu như cậu vừa nói”.


8.

Thưa tiên sinh,

Mấy ngày trước đây tôi có cãi nhau với “Tiểu sư tử” một trận nên tâm tình cảm thấy rất nặng nề. Vả lại trong lúc quá kích động, không hiểu sao lỗ mũi tôi bị rách toạc, máu thấm của xuống giấy viết. Bữa nay, đầu tôi hơi đau, tuy vậy cũng không ảnh hưởng lắm đến chuyện viết thư cho ngài. Viết kịch bản cần phải chọn những ngôn từ ngắn gọn nhưng súc tích, nhưng viết thư thì không đến nỗi phải quá chú ý đến ngôn từ, chỉ cần biết vài trăm chữ là đã có thể muốn viết ra những gì đang suy nghĩ trong đầu. Vợ trước của tôi - Vương Nhân Mỹ khi viết thư cho tôi, gặp nhiều chữ cô ấy không biết viết thì dùng hình vẽ để thay thế. Chính vì điều này mà rất nhiều lần, cô ấy có vẻ tiếc nuối nói: “Tiểu Bão à, văn hóa của em thấp, chỉ biết vẽ mà thôi”. Tôi nói: “Trình độ văn hóa của em rất cao, những nét vẽ của em có thể biểu đạt được tâm tình, thực ra là em đang sáng tạo nên những chữ mới đấy!”. Cô ấy nói: “Em sẽ sáng tạo con cái cho anh, Tiểu Bão, chúng ta hợp tác để tạo ra con nhé...”

Thưa tiên sinh,

Nghe xong những lời kể của cậu thanh niên chống bè ấy, tôi đã có một phán đoán khiến đầu óc tôi cảm thấy vô cùng kinh sợ: “Tiểu sư tử” - bà vợ muốn có con đến phát điên phát cuồng của tôi đã lấy nòng nọc của tôi để bơm vào cho một cô gái nào đó đã bị lửa tàn phá dung nhan và thân thể. Trong đầu óc tôi là hình ảnh muôn ngàn con nòng nọc vây quanh một cái trứng và tôi liên tưởng đến một cảnh tượng mà mình đã chứng kiến thuở bé khi đang dạo chơi thơ thẩn bên bờ ao cuối thôn: Hàng nghìn hạng vạn con nòng nọc vây quanh một mẩu bánh bao nổi trên mặt nước. Mà người con gái mang thai cho tôi đâu có ai xa lạ: Đó chính là con bé Trần Mi, con gái của Trần Tị, bạn học của tôi ngày trước! Trong tử cung của nó đang đứa con của tôi?

Tôi vội vàng chạy đến trại nuôi ếch. Trên đường hình như có rất nhiều người gật đầu chào nhưng tôi không kịp gật đầu chào lại và cũng không hề nhận ra họ là những ai. Lách qua chiếc cổng điện mới hé mở, ánh mắt tôi lại bắt gặp bức phù điêu con ếch to tướng và đáng sợ. Tôi cảm thấy run và cảm thấy ánh mắt của con ếch đang nhìn tôi không mấy cảm tình. Trên một khoảng đất trống trước mấy căn biệt thự sơn màu trắng có sáu cô gái mặc quần áo rực rỡ sắc màu, tay cầm vòng hoa đang nhảy múa, một gã đàn ông ngồi trên ghế ôm một chiếc phong cầm trước ngực say sưa với những nốt phím đàn. Hình như họ đang luyện tập một tiết mục múa. Thời thái bình, gió thuận mưa hòa, nơi nơi ca hát, không có bất cứ chuyện gì phát sinh cả và có lẽ, tôi bị ảo giác chăng? Tôi cần phải tìm một chỗ thật yên tĩnh, ngồi xuống và nghĩ đến vở kịch đang hình thành trong đầu mình thì tốt hơn.

Bố tôi đã từng dạy rằng, “vô sự thì gan nhỏ như gan chuột, có chuyện thì chí khí như hổ”, “là phúc chứ không phải là họa, đã là họa thì khó lòng trốn tránh”. Lời của người già thường vận dụng nhiều châm ngôn. Nhớ lại lời bố, tôi cảm thấy bụng mình đang đói. Tôi đã năm mươi lăm tuổi nhưng bố vẫn còn cho nên không được tự nhận là già, nhưng tôi biết mình đã bước vào giai đoạn xế chiều, cũng giống như mặt trời càng nghiêng về phía tây thì bước đi của nó càng nhanh hơn. Một người đã bước vào tuổi xế chiều, một người đã về hưu trước tuổi để dưỡng lão thì còn có chuyện gì để mà phải sợ hãi nữa. Nghĩ đến đó, tôi mới thấy đói.

Tôi bước vào nhà hàng nhỏ có tên Don Quijote bên phải quảng trường miếu Nương Nương. Đây là nơi mà sau khi “Tiểu sư tử” vào làm việc trong trại nuôi ếch, tôi vẫn thường đến đây ăn. Tôi ngồi xuống một cái bàn đặt bên cửa sổ. Quán rất vắng, nhìn quanh cũng chỉ có một mình tôi, một người phục vụ mập lùn bước đến. Thưa tiên sinh, mỗi lần ngồi một bên bàn và nhìn chiếc ghế trống trước mặt mình, tôi vẫn thường mơ tưởng rằng có một ngày nào đó, ngài ngồi trước mặt tôi và chúng ta cùng thảo luận về kịch bản vô cùng khó đẻ của tôi - Gương mặt của cậu phục vụ vẫn bình thường, vẫn sáng loáng và kính cẩn nhưng tôi nhận ra một điều gì đó kỳ lạ đằng sau nụ cười của cậu ta. Cũng có thể đây là những biểu hiện chung của những người làm công việc bồi bàn. Nó có vẻ không thật, thậm chí là có vẻ gian xảo, vừa có vẻ trêu chọc người khác, vừa có vẻ bị người khác trêu chọc, không biết là đáng yêu hay đáng ghét. Chiếc bàn được đóng bằng loại gỗ của cây đoạn, rất dày, không sơn phết gì. Trên mặt bàn, những vân gỗ nổi lên rất rõ, có một vài vết nám do tàn thuốc dụi vào. Tôi vẫn thường ngồi viết tại chiếc bàn này. Sau này tôi mà thành công thì nó lại trở thành một di vật văn hóa. Ai ngồi tại đây để uống rượu phải nộp thêm tiền cho chủ quán, nếu có ngài cùng ngồi đây với tôi thì nó còn nổi tiếng thêm nữa! Xin lỗi ngài, chắc ngài cũng hiểu là nhà văn thường dùng những ảo tưởng xa vời đại loại như vậy để tự động viên mình trong quá trình viết lách.

Thưa tiên sinh,

Cậu phục vụ có tên là Ngụy Tang Khâu chỉ biểu thị vẻ cúi người nhưng thực chất thì lưng của cậu ta không hề cúi chút nào. Cậu ta chỉ nói: “Chào ngài, rất hoan nghênh sự hạ cố của ngài, kẻ phục vụ trung thành này xin được tận tâm phục vụ!” - Vừa nói, cậu ta vừa đưa một tập thực đơn đến mười mấy tờ được viết bằng mười mấy thứ văn tự khác nhau cho tôi.

“Cám ơn”. Tôi nói - “Vẫn là những món ăn cũ: Một đĩa rau xào, một bát thịt bò hầm và một cốc bia đen Đức!”.

Cậu ta nhúc nhích cái mông nặng nề bỏ đi. Tôi ngồi đợi thức ăn, lơ đãng nhìn cách trang trí trong quán. Rất nhiều áo giáp và những mũi thương được treo trên tường cũng như những đôi găng tay cũ nát của các kỵ sĩ giác đấu. Ngoài ra còn có những huân chương, những giấy chứng nhận thành tích thi đấu và một chiếc đầu huơu với hai cái sừng láng bóng cùng với mấy tấm ảnh ố vàng. Rõ ràng, đây là một cách trang trí rất thời thượng, ngụy tạo lại một thời kỳ cổ điển ở phương tây nhưng nhìn cũng khá bắt mắt. Ngay bên cạnh cửa ra vào có một bức tượng phụ nữ khỏa thân bằng đồng, kích thước vừa khít với một người bình thường, đôi vú bị người ta sờ đến láng bóng - Thưa tiên sinh, tôi đã từng chứng kiến, bất kỳ đàn ông hay đàn bà, khi bước vào cái quán này đều đưa tay sờ sẫm đôi vú của bức tượng ấy - Ngoài quảng trường miếu Nương Nương, những âm thanh hỗn tạp vẫn tiếp tục vang lên, trong đó tiếng rao của Vương Can càng ngày càng trở nên điệu nghệ hơn. Gần đây, người ta lại sáng tạo nên một tiết mục mới có tên là “Kỳ lân đẻ con”, tuyên truyền là khôi phục một tiết mục truyền thống nhưng thực chất chỉ là xuất phát từ trí tưởng tượng của một vài ông làm công tác văn hóa ở thành phố - Tuy khó lòng phận định nó là loại hình nghệ thuật gì, cũng không phân biệt đó là sản phẩm văn hóa Trung Quốc hay phương tây nhưng lại giải quyết được công ăn việc làm cho mấy chục người đã là một điều đáng biểu dương. Vả lại, thưa tiên sinh, như ngài đã nói, truyền thống về thực chất mà nói cũng chỉ là một loại hình tiền nghệ thuật mà thôi. Tôi đã xem được rất nhiều những tiết mục tương tự như thế này trên ti vi. Về cơ bản mà nói chúng là một đống bùi nhùi giữa truyền thống - hiện đại - du lịch - văn hóa, vui đáo để và cũng lạ lùng đáo để. Cũng như ngài từng lo lắng, ở một vùng nào đó thì bom đạn ngất trời, thây người không kịp chôn vất ngoài đồng ruộng; một nơi nào đó thì ca múa tối ngày, rượu xanh đèn đỏ... Đây chính là thế giới mà chúng ta đang sống. Nếu quả có một bậc vĩ nhân chân chính, thân hình của vĩ nhân ấy tỉ lệ với trái đất này giống như tỉ lệ giữa chúng ta với trái bóng đá, vĩ nhân ấy ngồi tại đây nhưng lại có thể nhìn thấy trái đất đang quay chung quanh mình, một lát thì hòa bình, một lát thì chiến tranh..., không biết là vĩ nhân ấy sẽ nghĩ gì - Xin lỗi tiên sinh, tôi lại đi quá xa vấn đề rồi.

Cậu phục vụ bàn mang tới cho tôi một cốc nước mát, một đĩa bánh mì, mấy lát pho mát vàng vàng và một vài thứ linh tinh khác. Bánh mì ở đây nướng rất ngon, những ai đã từng ăn bánh mỳ tây đều thừa nhận là bánh mỳ ở đây chẳng hề thua kém. Ăn bánh mì kẹp với pho mát đã là một món cao lương mỹ vị, huống hồ đây chỉ là những món khai vị, đằng sau là bao nhiêu món khác - Thưa tiên sinh, ngài nhất định phải đến đây để thử ăn một lần, tôi đảm bảo là ngài sẽ thích tất cả những món ăn ở đây. Hơn nữa, nhà hàng này còn có một truyền thống - thực ra nói “truyền thống” không chính xác bằng “quy định” - là, mỗi đêm, khi công việc phục vụ ăn uống sắp sửa kết thúc, người ta sẽ mang những loại bánh mì, ngắn có dài có, trắng có vàng có,... tất cả đều bỏ vào một sọt liễu đặt trên chiếc bàn ngoài cửa để thực khách tùy tiện muốn lấy bao nhiêu thì lấy mang về. Tuy không có dòng chữ nào quy định là mỗi thực khách chỉ lấy một chiếc, nhưng theo quan sát của tôi thì hầu như mỗi người chỉ tự giác lấy một chiếc. Có người thì kẹp dưới nách, có người ôm trước ngực, có người cầm ở tay..., đủ các dạng bánh mì, nhưng chúng có điểm chung là đang tỏa ra một mùi thơm của lúa mạch, của hạnh nhân, của men... Ôm trong tay một chiếc bánh mì nóng hổi và thả những bước chân thong dong trong quảng trường miếu Nương Nương, thưa tiên sinh, tôi bồi hồi cảm động. Đương nhiên, tôi cũng biết đó là một sự cảm động có phần ti tiện, bởi tôi cũng biết, trong thế gian này còn có rất nhiều rất nhiều người ăn không đủ no, mặc không đủ ấm và cũng biết là đang có bao nhiêu người đang giãy giụa giữa cái sống và cái chết...

Món rau xào mà tôi đã gọi có rau xanh, có quả hồng, có quả cự... mùi vị vô cùng hấp dẫn. Ngài biết ai đã nghĩ ra cách chế biến món rau kết hợp đông tây thế này không? Là bạn học thuở tiểu học với tôi, là con trai của cô giáo lớp một của tôi - Lý Thủ. Như trong những lá thư trước tôi đã giới thiệu với ngài, Lý Thủ là đứa tài hoa nhất trong số chúng tôi ngày ấy. Đáng ra cậu ta phải là một nhà văn nhưng thời thế lại xui khiến người làm việc công việc cao thượng ấy lại là tôi. Lý Thủ đã học xong y khoa, tiền đồ vô cùng xán lạn nhưng không hiểu sao lại từ chức về quê, mở cái quán ăn không ra tây không ra ta này, nói cách khác là kết hợp Âu - Á. Tại cái xứ sở hỗn tạp này, Lý Thủ lại mở cái quán ăn kỳ lạ, ngay cả cái tên Don Quijote cũng đã thấy lạ. Thân hình Lý Thủ đã bắt đầu phát phì. Cậu ta vốn thấp lùn, bây giờ phát phì nên trông càng ngắn hơn. Cậu ta thường ngồi trong một góc quán, đối diện với chỗ ngồi của tôi nhưng hầu như chưa bao giờ chúng tôi chào hỏi nhau. Tôi thì gần như nằm trên bàn vật vã với những con chữ để viết ra những trang hồi ức. Còn cậu ta thì ngã người ra sau ghế tựa, hai tay ôm lấy cằm, tư thế ấy trông có vẻ cổ quái nhưng cũng khá nhàn tản để có thể nhìn thời gian chầm chậm trôi đi.

Cậu phục vụ đã mang thịt bò hầm và bia đen Đức đến, như vậy là các món ăn của tôi đã đủ. Tôi uống một ngụm bia, gắp một miếng thịt, chầm chậm nhai để thưởng thức mùi vị của nó, mắt nhìn qua lớp kính dày để theo dõi tiết mục thần thoại mới đang diễn ra ngoài quảng trường miếu Nương Nương. Đội trống đội nhạc đi đầu, đội cờ đội phướn tiếp theo sau, xiêm y rực rỡ, âm nhạc rộn ràng. Người con gái ngồi trên chiếc kiệu hình kỳ lân mặt đẹp như ngọc, mắt sáng tựa sao, ôm một đứa trẻ con trong lòng - Mỗi lần trông thấy Nương nương sinh đẻ, một cách không tự giác, tôi lại liên tưởng đến cô tôi và lúc này, hình ảnh cô tôi với thân hình phì nộn nhét trong chiếc váy đen chật cứng, đầu rối như tổ quạ, giọng cười khùng khục, đôi mắt mờ đục, nói năng bạt mạng lại xuất hiện khiến những hình ảnh đẹp đẽ của ảo giác vụt biến mất trong đầu tôi.

Chiếc kiệu đưa Nương nương sinh đẻ đi một vòng quảng trường và tiến về phía trung ương, lập thành đội ngũ chỉnh tề. Tiếng trống tiếng nhạc dừng, một quan viên đầu đội mũ cao ngất, mình mặc áo bào màu đỏ tía, tay cầm phất trần - cách ăn mặc khiến người ta nghĩ đến những thái giám thời xưa, tay cầm một cuốn lụa màu vàng trông như thánh chỉ, cao giọng hô: Hoàng thiên hậu thổ đã sinh ra ngũ cốc; mặt trời mặt trăng cùng các vì tinh tú nuôi dưỡng muôn dân. Phụng mệnh Ngọc Hoàng thượng đế, Nương nương điện hạ đã giáng lâm xuống vùng Đông Bắc Cao Mật, nay tuyên bố đôi thiện nam tín nữ phu phụ Vương Lang đến nhận con - Đôi diễn viên đóng vai vợ chồng Vương Lang chưa kịp tới nhận con thì không biết một người đàn bà nào đó trong đám đông nhảy lên và cướp con của họ - một con búp bê - và bỏ chạy.

Thưa tiên sinh,

Cho dù tôi có viện muôn ngàn lý do để an ủi mình nhưng cuối cùng tôi cũng chỉ là một gã đàn ông gan nhỏ như gan chuột, chỉ biết suy tư lo lắng. Khi tôi biết được rằng, cô gái trẻ có tên Trần Mi đang mang trong tử cung của nó đứa con của tôi, một cảm giác mình đã phạm một trọng tội xâm chiếm toàn bộ ý thức tôi. Bởi Trần Mi là con gái của bạn tôi, bởi nó là đứa con mà cô tôi và “Tiểu sư tử” đã từng nuôi nấng. Trong những ngày ấy, tôi đã từng ôm nó và nhét đầu vú nhựa vào miệng cho nó bú. Nó vẫn còn nhỏ hơn con gái tôi. Rồi sẽ có một ngày, những người bạn thời niên thiếu như Trần Tị, Vương Can, Lý Thủ biết được chân tướng của chuyện này thì cho dù tôi có trét cứt chó đầy mặt thì cũng chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn họ nữa.

Tôi nhớ lại hai lần gặp Trần Tị sau khi về hưu trở lại quê hương.

Lần thứ nhất là vào một buổi chiều tối cuối năm vừa qua, tuyết rơi bời bời, khi ấy “Tiểu sư tử” vẫn chưa đến làm việc ở trại nuôi ếch. Chúng tôi đang đi bộ ngắm tuyết bay dưới những ngọn đèn vàng rực trong quảng trường. Tiếng pháo đã nổ đì đùng đâu đó, không khí tết đã đến trên khắp các ngã đường. Con gái tôi đang ở Tây Ban Nha gọi điện thoại về, nói rằng đang đi dạo với chồng nó trên quê hương của Cervantes. Tôi và “Tiểu sư tử” dắt tay nhau đi vào nhà hàng Don Quijote, vừa báo cho con gái mình biết là chúng tôi cũng đang dắt nhau đi dạo trên quê hương mình và đang bước vào cổng một nhà hàng có tên trùng với một nhân vật nổi tiếng trong tác phẩm của Cervantes là Don Quijote 4 , sự trùng hợp ngẫu nhiên khiến nó cười vang trong điện thoại một cách thích thú.

“Trái đất này quá nhỏ bố nhỉ?” - Con gái tôi nói.

Nhưng thưa tiên sinh, văn hóa thì quá rộng lớn.

Lúc ấy, tuy chúng tôi chưa biết ông chủ của nhà hàng này là Lý Thủ, nhưng tôi vẫn cảm nhận rằng đó là một con người không hề tầm thường. Vừa mới bước chân vào trong là chúng tôi đã rất thích cách bài trí trong nhà hàng. Trong số những điều tôi thích nhất là những chiếc bàn không hề được sơn quét gì. Nếu những mặt bàn được phủ một tấm khăn bàn trắng tinh thì nó sẽ mang dáng dấp Châu Âu, nhưng sau đó thì tôi rất đồng tình với cách giải thích của Lý Thủ. Cậu ta nói, thời đại Don Quijote sống tại Tây Ban Nha, những nhà hàng ở nông thôn chưa có phong cách dùng khăn trải bàn. Rồi bằng một giọng có vẻ bông đùa, cậu ta nói rằng, nó cũng giống như phụ nữ Âu Châu thời đại ấy không dùng mạng che mặt vậy.

Thưa tiên sinh,

Tôi không giấu gì ngài khi thừa nhận rằng, bước vào nhà hàng ấy, ngay lập tức tôi đã bị bức tượng người con gái có đôi vú bị người ta sờ nắn đến độ láng bóng ấy hấp dẫn và... tôi cũng đưa tay sờ lên đôi vú ấy một cách vô thức. Hành động này chứng minh một cách rõ ràng, tôi chẳng phải là gã đàn ông trong sạch gì nhưng cũng có thể nói, đó là một bản năng. “Tiểu sư tử” hạ giọng chửi tôi là tên vô lại. Tôi nói: “Tại sao là vô lại, đây là nghệ thuật” - “Tiểu sư tử” nghiêm giọng nói: “Rất nhiều những kẻ lưu manh văn hóa cũng nói giống như anh” - Cậu phục vụ bàn, sau này tôi mới biết tên cậu ta là Ngụy Tang Khâu bước đến với một nụ cười, thái độ thì có vẻ rất cúc cung tận tụy với chức trách nhưng không hề cúi người xuống, nói: Hoan nghênh nhị vị đã đến, thưa tiên sinh và phu nhân!

Cậu ta tiếp lấy áo khoác, khăn quàng cổ, mũ len của tôi và “Tiểu sư tử” rồi đưa chúng tôi đến một chiếc bàn nằm ở vị trí trung tâm của nhà hàng. Trên bàn có một chiếc chậu thủy tinh chứa nước, chính giữa có một ngọn nến trắng đang cháy leo lét. Chúng tôi không thích vị trí này nên chọn một chiếc bàn gần cửa sổ vì chỗ này có thể quan sát được cảnh tuyết rơi dưới ánh đèn bên ngoài qua khung cửa kính, đồng thời cũng có thể quan sát được toàn bộ nhà hàng. Chúng tôi thấy, bên một chiếc bàn đặt trong góc nhà hàng - cũng là chỗ mà sau này tôi thường ngồi - có một người đàn ông và chung quanh anh ta, khói thuốc lá đang tuôn ra mù mịt.

Từ việc nhận ra trên bàn tay người đàn ông nọ mất một ngón út và cái lỗ mũi đỏ rực, tôi đã nhận ra anh ta là ai. Trần Tị, một thanh niên khá anh tuấn ngày nào lúc này đã hoàn toàn hói, chỉ còn mấy cọng tóc lơ thơ phía sau khiến tôi liên tưởng đến mái tóc của Cervantes. Mặt Trần Tị gày nhom, hai gò má hõm xuống và hình như đã rụng hết răng hàm thì phải, chính vì vậy mà cái lỗ mũi càng được nhấn mạnh hơn. Cậu ta đang dùng ba ngón tay vò cái đầu thuốc lá lại bẹp dúm rồi đưa lên miệng cắn lấy, mặc dù đốm lửa ở đầu điếu thuốc đã cháy đến tận đầu đót màu vàng vàng, hai cuộn khói phun ra từ hai lỗ mũi. Ánh mắt Trần Tị có vẻ dài dại và tôi nghĩ, những người lãng đãng hồn phách đều có ánh mắt như vậy. Tôi không dám nhìn Trần Tị nhưng lại không thể ngăn cản được những cái nhìn gần như vô thức của mình. Tôi chợt nhớ đến bức ảnh Cervantes mà tôi đã từng trông thấy ở Đại học Bắc Kinh và nhận ra nguyên nhân khiến Trần Tị ngồi đây. Bộ quần áo trên người cậu ta lúc này trông rất cổ quái, nửa dài nửa ngắn, nửa tây nửa ta, trên cổ lại đính thêm một vòng hạt cườm. Tiếp theo, tôi còn trông thấy bên hông Trần Tị còn có một thanh kiếm trang sức và ngay sau đó tôi nhìn thấy trên tường cũng có mộ thanh kiếm tương tự. Tiếp theo nữa, tôi thấy anh ta đeo một đôi găng tay sắt và tất nhiên trên tường cũng có một đôi găng tay bằng sắt. Tôi nghĩ, chắc là anh ta phải có một chiếc thuẫn và sau đó lại phát hiện thêm không những anh ta có thuẫn mà còn có một thanh trường mâu. Tôi nghĩ tiếp, chắc là dưới chân anh ta phải có một con chó vừa bẩn vừa gầy và ngay lập tức, tôi nhận ra dưới chân anh ta đã có một con chó rất bẩn nhưng không gầy. Nghe nói, bàn tay phải của Cesvantes cũng mất một ngón, có điều Cesvantes nhất định không thể mang mâu và thuẫn đi theo bên mình mà chỉ có nhân vật của ông ta - Don Quijote là có thể mang theo, có điều diện mạo của Trần Tị lúc này giống Cesvantes hơn là Don Quijote. Nhưng dù sao thì tất cả bọn tôi chưa ai được thấy một Cesvantes chân chính, cũng chưa ai được nhìn thấy một Don Quijote vốn không tồn tại thực tế. Thế thì Trần Tị đang hóa trang thành Cesvantes hay là Don Quijote, tùy ý ngài phán đoán vậy. Tôi cảm thấy thương xót cho hoàn cảnh hiện tại của người bạn thuở thiếu thời này. Trước đây, tôi đã từng nghe nói tai họa thương tâm đã giáng xuống đầu hai đứa con gái xinh đẹp của cậu ấy. Trần Nhĩ và Trần Mi từng là hai đứa con gái đẹp nhất vùng Đông Bắc Cao Mật. Tuy lai lịch của Trần Tị có phần mờ ám nhưng một sự thật hiển nhiên là trong máu của cậu ta có một phần máu ngoại tộc nên gương mặt của hai chị em Trần Nhĩ và Trần Mi đều không phù hợp với bất kỳ những từ ngữ mà trong văn chương cổ điển, các nhà thơ nhà văn đã tưởng tượng ra để miêu ta sắc đẹp của phụ nữ Trung Quốc. Hai đứa nó là lạc đà giữa bầy cừu, là tiên hạc giữa bầy gà. Nếu hai chị em nó được sinh ra trong gia đình quý tộc hoặc ở một mảnh đất giàu có nào đó, nhất định chúng sẽ một bước lên trời, một giọng oanh vàng cất lên đã làm chấn động muôn triệu trái tim. Sau đó, hai chị em Trần Nhĩ và Trần Mi đã dắt nhau đi về phương nam, tha phương cầu thực có lẽ cũng là một cách để chúng tìm kiếm cơ hội ấy. Rồi tôi nghe nói hai đứa đã vào làm công trong xưởng chế tạo đồ chơi Đông Lệ Mao, chủ xưởng là một người ngoại quốc. Có điều hắn ta có phải là người ngoại quốc không thì không ai dám khẳng định. Sắc đẹp và sự thông minh của hai chị em Trần Nhĩ và Trần Mi trong hoàn cảnh đảo điên này, muốn kiếm tiền, muốn hưởng thụ cũng chẳng phải là khó lắm, chỉ cần ban phát cho chúng sinh một chút sắc đẹp trời cho là đủ sống sung sướng rồi. Nhưng hai đứa nó vẫn bán sức lao động ở những gian nhà xưởng, chấp nhận chế độ lao động hà khắc bóc lột đến tận xương tủy và cuối cùng, trong trận hỏa hoạn làm kinh động toàn quốc ấy, một đứa biến thành tro tàn, đứa còn lại bị hủy hoại toàn bộ dung nhan. Đứa em gái may mắn còn sống sót là nhờ con chị dùng thân mình che lửa cho em. Đau quá! Thảm quá! Thương quá! Điều này chứng minh, cả hai chị em Trần Nhĩ và Trần Mi vẫn là hai đứa trẻ băng thanh ngọc khiết, chưa bị mùi vị của cuộc sống kim tiền làm cho sa ngã - Xin lỗi tiên sinh, tôi lại quá xúc động mất rồi...

Đúng là suốt một đời Trần Tị chỉ tiếp xúc với những điều bi thảm nhất của cuộc đời. Tôi nghĩ, cậu ấy ngồi trong nhà hàng Don Quijote, hóa trang thành một danh nhân đã khuất (hoặc cũng có thể là một quái nhân được hư cấu), hoàn cảnh của cậu ấy không có gì khác biệt so với những người lùn đứng trước cửa nhà hát vũ kịch “Thiên Đường” rất nổi tiếng ở Bắc Kinh cũng như những người khổng lồ đứng trước cửa Trung tâm tắm hơi “Thủy Liêm Động” ở Quảng Châu là mấy. Họ đều là những người bán thân cả thôi! Người lùn bán cái thân hình lùn tịt của mình, người khổng lồ bán cái thân hình cao lớn của mình còn Trần Tị thì bán cái lỗ mũi to dị thường của cậu ấy. Họ đều có số phận bi thảm giống nhau.

Thưa tiên sinh,

Đêm ấy, tôi vừa nhìn là đã nhận ra Trần Tị tuy đã hơn hai mươi năm không gặp mặt nhau. Nhưng nói công bằng hơn, cho dù có trăm năm không gặp nhau, cho dù có ở nơi tha phương dị quốc, tôi cũng thừa sức để nhận ra cậu ấy. Đương nhiên, tôi nghĩ, trong khi chúng tôi nhận ra cậu ấy thì cậu ấy cũng nhận ra chúng tôi. Bạn bè một thuở với nhau, chẳng cần nhìn vào ánh mắt, chỉ cần dựa vào tai qua tiếng thở, tiếng hắt xì... đều có thể nhận ra nhau mà không sợ bị nhầm.

Có nên đến gặp mặt Trần Tị không? Hay là tìm cách nào đó để mời được cậu ấy đến cùng ăn cơm với chúng tôi... Cả tôi và “Tiểu sư tử” đều do dự. Từ cái nhìn có vẻ lãnh đạm đối với chung quanh, từ ánh mắt nhìn chăm chú vào cái đầu hươu treo trên tường, tôi cũng nhận ra rằng, Trần Tị đang do dự: Nên hay không nên gặp gỡ chúng tôi. Hình ảnh cậu ấy ôm Trần Nhĩ đến nhà tôi để nhận Trần Mi trong đêm trừ tịch năm ấy lại hiện về trong trí óc tôi. Lúc ấy, Trần Tị vẫn còn khôi ngô tráng kiện lắm, mặc chiếc áo khoác bằng da, cầm chiếc cối giã tỏi lên định ném vào nồi sủi cảo nhà tôi, thái độ hung hãn chẳng khác nào một con gấu bị dồn đến bước đường cùng. Từ đó về sau, chúng tôi không gặp lại cậu ấy nữa. Tôi nghĩ, trong khi tôi đang hồi tưởng quá khứ thì Trần Tị cũng hồi tưởng quá khứ. Khi chúng tôi xúc động bồi hồi thì Trần Tị cũng xúc động bồi hồi. Thực ra thì chúng tôi chưa bao giờ hận Trần Tị, thâm chí chúng tôi còn vô cùng đồng cảm với những bất hạnh của cậu ấy. Sở dĩ chúng tôi chưa đến trước mặt cậu ta để nhận người quen, nguyên nhân chủ yếu là chúng tôi chưa tìm ra một tư cách thích hợp nào. Bởi vì, không nghi ngờ gì nữa, nói theo cách quen thuộc của chúng tôi thì, chúng tôi có cuộc sống tương đối đường hoàng, thậm chí là tốt. Một người có cuộc sống tương đối tốt như chúng tôi phải ứng xử như thế nào trước một người bạn cũ có quá nhiều bất hạnh? Quả là một vấn đề nan giải vô cùng.

Thưa tiên sinh,

Tôi có một thói quen rất xấu là hút thuốc quá nhiều. Thói quen này ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ và ngay ở nước Nhật Bản của ngài đã được giảm thiểu khiến cho nghững người nghiện thuốc lá mỗi khi hút đều có một cảm giác, mình là kẻ thiếu văn hóa, thiếu giáo dục, thậm chí là một kẻ thô tục. Nhưng ở địa phương chúng tôi, trước mắt vẫn chưa có bất kỳ một chủ trương hạn chế hoặc cấm thuốc lá nào. Tôi lôi gói thuốc ra, rút lấy một điếu, đánh lửa. Tôi rất thích ngửi mùi diêm sinh khi đã cháy xong. Thưa tiên sinh, ngày ấy tôi dùng gói thuốc lá nhãn hiệu Kim Các, là một trong những loại thuốc lá đắt tiền nhất quê tôi cũng như trên toàn quốc lúc ấy, nghe đâu là mỗi gói có giá đến gần hai trăm đồng, có nghĩa là, mỗi điếu đáng giá mười đồng. Mỗi cân lúa mạch mà người nông dân bán ra chỉ có tám hào, có nghĩa là mười hai cân lúa mạch mới đổi được một điếu thuốc lá Kim Các. Mười hai cân lúa mạch có thể chế biến thành mười lăm cân bánh mì, có thể đủ no cho một người bình thường trong mười ngày. Nhưng một điếu thuốc Kim Các chỉ phì phèo nhả khói trong một phút là xong. Vỏ bao thuốc lá này có màu vàng rực khiến tôi liên tưởng đến chùa Kim Các của quý quốc ở Tokyo, không biết là khi làm cái vỏ thuốc lá này, người thiết kế có liên tưởng như tôi hay không. Tôi biết, bố tôi vẫn rất ghét khi thấy tôi hút loại thuốc này, nhưng ông chỉ buồn buồn nói ngắn gọn: Oan nghiệt! Oan nghiệt quá! Tôi đã từng giải thích với bố rằng, tôi không hề bỏ tiền ra để mua loại thuốc lá này, là do người khác biếu. Bố tôi càng buồn hơn, nói: Càng oan nghiệt hơn! Lúc ấy, tôi cảm thấy hối hận vì đã từng nói với ông về giá cả của loại thuốc này. Nhưng điều này cũng cho thấy, tôi cũng chỉ là một thằng người đua đòi hư vinh thô thiển. Về bản chất, tôi cũng chẳng khác những kẽ hãnh tiến bao gái, hám danh, hám tiền, hám thời thượng ngày nay là mấy. Nhưng..., một loại thuốc quý như vậy, tôi không thể vì một lời phê bình hoặc một lời than của bố mà vất đi. Nếu tôi vất nó thì hóa ra tôi lại tạo ra nghiệp chướng của nghiệp chướng hay sao? Trong loại thuốc này người ta có thêm một thứ hương vị đặc biệt, khi đốt lên nó có một thứ mùi mà người ta cảm thấy mê ly...

Thưa tiên sinh,

Tôi trông thấy rõ ràng thân hình Trần Tị hình như không giữ được trạng thái ổn định nữa, liên tục hắt xì hơi. Ánh mắt của cậu ấy đã rời khỏi chiếc đầu hươu, ban đầu là còn do dự, xấu hổ, dao động..., sau đó là thèm thuồng, khát khao, thậm chí là có phần hung dữ... Rất nhiều trạng thái tinh thần cùng hỗn tạp trong một cái nhìn chiếu thẳng về phía tôi.

Thưa tiên sinh,

Cuối cùng thì Trần Tị cũng đã đứng dậy, xách lấy cây kiếm, nhìn kỹ thì giống một chiếc gậy hơn, quay người một vòng rồi bước đến. Đèn trong nhà hàng không sáng lắm nhưng cũng đủ để tôi nhìn rõ gương mặt cậu ấy. Mắt mũi miệng... và những thớ thịt trên mặt Trần Tị kết hợp với nhau để hình thành nên một dung mạo khó lòng dùng ngôn ngữ để miêu tả một cách chính xác là trạng thái tính cảm nào. Ánh mắt của cậu ấy đang nhìn vào mặt tôi hay là nhìn vào điếu thuốc trên miệng tôi? Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này. Tôi hoang mang đứng dậy, chiếc ghế sau lưng tôi dao động rồi ngã kềnh ra. “Tiểu sư tử” cũng đứng dậy.

Trần Tị đứng trước hai chúng tôi, tôi ngại ngùng đưa tay ra, cố tình làm ra vẻ như vừa phát hiện người thân: “Trần Tị?” - Nhưng cậu ta không trả lời câu hỏi của tôi, cũng không bắt tay tôi, giữ một cự ly lễ độ vừa phải, cúi người chào tôi. Sau đó, hai tay cậu ta chống vào cây kiếm, dùng giọng điệu của một diễn viên kịch nói, nói: “Thưa phu nhân tôn quý, thưa tiên sinh tôn quý! Tôi là Don Quijote, kỵ sĩ Romance của đất nước Tây Ban Nha. Xin được bày tỏ lòng kính ngưỡng đến tiên sinh và phu nhân, xin được phục vụ một cách chân thành...”.

“Cậu làm trò quái quỷ gì thế, Trần Tị! Cậu vờ vịt làm gì, tôi là Vạn Túc còn cô ấy là “Tiểu sư tử””...

“Tiên sinh và phu nhân tôn kính! Đối với một kỵ sĩ trung thành mà nói, không có gì có thể so sánh được với việc dùng thanh kiếm để bảo vệ sự hòa bình, tuyên dương sự nghiệp chính nghĩa thần thánh...”.

“Này ông bạn, đừng có diễn kịch nữa!”

“Cả thế giới này là một sân khấu, mỗi ngày đều có một vở kịch lên sân khấu nhưng tất cả đều giống nhau. Tiên sinh, nếu ngài có thể cho tôi một điếu thuốc trong túi áo của ngài, tôi có thể biểu diễn kiếm thuật tuyệt luân của tôi để ngài và phu nhân thưởng thức!”.

Tôi hoang mang rút một điếu thuốc đưa cho Trần Tị, đồng thời cũng ân cần đánh lửa cho cậu ta. Trần Tị rít một hơi thuốc thật sâu, sâu đến độ đầu điếu thuốc chưa kịp cháy. Đôi mắt cậu ta mơ màng, những nếp nhăn trên mặt chụm vào nhau rồi bắt đầu giãn ra, hai luồng khói đậm đặc tuôn ra từ hai lỗ mũi. Nhận ra một điếu thuốc có thể làm cho con người có thể tìm thấy cảm giác an bằng đến như vậy, trong lòng tôi bồi hồi cảm động. Tuy tôi hút thuốc đã nhiều năm nhưng chưa thể được coi là một kẻ nghiện thuốc. Do vậy tôi thể nào cảm nhận hết được cảm giác của một kẻ nghiện đang đứng trước mặt mình. Trần Tị tiếp tục rít một hơi thật sâu nữa và gần như nuốt hết tất cả khói thuốc vào bụng, chỉ còn một vài sợi khói nhạt chui qua mép cậu ta tuôn ra ngoài. Chỉ cần ba lần hút, điếu thuốc đã cháy đến tận đầu lọc. Một cách vô thức, tôi rút cả gói thuốc trong túi ra đưa cho Trần Tị. Cậu ta có vẻ sợ hãi nhìn một lượt chung quanh rồi giật lấy, nhét vội vào ống tay áo. Cậu ta đã quên mất chuyện sẽ biểu diễn kiếm thuật mà lại lôi thanh kiếm xềnh xệch trên đất chạy thẳng ra cửa. Đến cửa, Trần Tị vẫn không quên thò tay vào chiếc sọt lấy một chiếc bánh mì một cách hợp pháp.

“Don Quijote! Ông lại lấy tài sản của khách nữa rồi!” - Cậu phục vụ mập ú có tên Ngụy Tang Khâu đang bê hai cốc bia đen sủi bọt đi về phía chúng tôi nhưng mặt thì lại hướng về phía Trần Tị đang bỏ chạy quát to. Qua lớp cửa kính, chúng tôi thấy con người đáng thương ấy lôi thanh kiếm xềnh xệch trên đất, với đôi chân tàn tật và cái bóng dài dài chạy ngang qua quảng trường. Con chó có vẻ khỏe mạnh ấy hộc lên một tiếng và đuổi theo chủ. Một hình ảnh thương tâm hiện ra trước mắt tôi: Chủ thì xiêu vẹo tàn khuyết, chó thì khỏe mạnh hiên ngang! Cuối cùng, cả chủ lẫn chó đều biến mất trong bóng đêm trên quảng trường.

“Một kẻ đáng ghét!” - Giọng Ngụy Tang Khâu vừa có vẻ bực tức vừa có vẻ thông cảm - “Lúc nào cũng bám đuôi chúng tôi làm những chuyện mất mặt. Tôi thay mặt cho ông chủ biểu thị sự xin lỗi với tiên sinh và phu nhân. Nhưng... tôi nghĩ, bố thí cho một kỵ sĩ điên rồ như vậy mấy điếu thuốc hoặc một vài đồng bạc lẻ, có lẽ tiên sinh cũng chẳng cảm thấy phiền lòng lắm...”.

“Cậu đang nói gì thế?” - Tôi cảm thấy khó chịu trước cách nói năng của cậu phục vụ mập ú này - “Nơi đây không phải là sân khấu, chúng ta cũng chẳng phải là diễn viên, sao lại có những lời không hợp thực tế như thế? Có phải anh ta được các người thuê để làm việc ở đây?”.

“Thưa tiên sinh, đây là những lời nói thực để ngài nghe” - Cậu phục vụ nói - “Khi nhà hàng mới khai trương, ông chủ của chúng tôi thương hại ông ta nên mới cho phép ông ta hóa trang thành hình hài như vậy và bảo chúng tôi đứng ở cửa để chào mời khách. Nhưng ông ta có quá nhiều tật xấu, nghiện rượu, nghiện thuốc..., mỗi khi cơn nghiện nổi lên thì làm không được việc gì cả, lại thêm lúc nào cũng kè kè một con chó ghẻ bên mình không lúc nào rời, thêm vào đó là ăn ở không có một chút vệ sinh. Như tôi đây, mỗi ngày tắm rửa hai lần, tuy tướng mạo của tôi chẳng lấy gì làm dễ coi, nhưng mùi thơm từ thân thể tôi tỏa ra khiến khách hàng cảm thấy thư thái tinh thần. Đây chính là đạo đức nghề nghiệp của những người phục vụ trong một nhà hàng cao cấp. Nhưng ông ấy, ngoài việc bị mưa làm cho ướt mấy lần, hầu như không hề tắm. Mùi vị từ thân thể ông ta toát ra khiến khách hàng phải nhăn mày khịt mũi ghê tởm. Hơn thế nữa, ông ta liên tục vi phạm những điều cấm kỵ do ông chủ đặt ra: Không được nhận quà của khách hàng. Đối với một kẻ vô lại như vậy, nếu tôi là ông chủ, tôi đã tống cổ ông ta ra khỏi nhà hàng từ lâu rồi. Có điều, ông chủ chúng tôi là người thiện lương, đã cho ông ta rất nhiều cơ hội, hy vọng ông ta có thể sửa đổi tính tình. Nhưng loại người như vậy làm sao thay đổi được. Chó thì làm sao bỏ được thói quen ăn cứt! Ông chủ chúng tôi đã cho ông ta một số tiền và hy vọng ông ta không đến đây nữa, nhưng rồi tiêu hết tiền thì ông ta lại đến. Nếu tôi là ông chủ, tôi đã báo cảnh sát từ lâu rồi. Nhưng ông chủ tôi là người ăn ở có hậu, thà là công việc làm ăn có ảnh hưởng nhưng quyết không hại ông ta...” - Cậu ta hạ thấp giọng nói tiếp - “Sau đó thì tôi mới nghe người ta nói, ông ta là bạn học của ông chủ. Nhưng cho dù là bạn học đi chăng nữa thì cũng không cần phải độ lượng đến như vậy. Đã có người từng cằn nhằn với ông chủ rằng, họ không chịu nổi mùi vị tỏa ra trên người của Don Quijote và cũng không thể chịu nổi rận bò ra lổn ngổn từ trên thân thể con chó. Ông chủ tôi đã thuê người cưỡng chế ông ta cùng con chó đến nhà tắm công cộng tắm táp thật kỹ và sau đó thì đã trở thành một quy định, mỗi tháng bắt ông ta và con chó đi tắm một lần. Lão điên ấy không những không cảm tạ thịnh tình của ông chủ mà lại kêu gào chửi bới khi bị bắt đi tắm, khi nằm trong bồn nước vẫn còn chửi: Lý Thủ, mày là đồ trứng thối! Mày đã hủy diệt sự tôn nghiêm của một kỵ sĩ chân chính!”.

Thưa tiên sinh,

Sau bữa com tối ấy, tâm trạng của tôi và “Tiểu sư tử” vô cùng nặng nề khi đi men theo con đường dọc bờ sông quay về nhà. Cuộc tái ngộ với Trần Tị khiến chúng tôi cảm khái vô cùng. Đừng quay đầu lại nhìn những gì đã vùi lấp trong quá khứ. Thời gian đã mấy mươi năm, bãi bể đã hóa nương dâu. Rất nhiều những việc mà ngày ấy chúng tôi có mơ mộng cũng không dám nghĩ đến cuối cùng cũng đã thành hiện thực. Nhiều chuyện ngày ấy là những việc cực kỳ nghiêm túc nay lại biến thành trò cười. Tôi và “Tiểu sư tử” không hề trao đổi gì với nhau nhưng tôi nghĩ, cô ấy cũng đang có suy nghĩ giống tôi.

Thưa tiên sinh,

Lần thứ hai tôi trông thấy Trần Tị là ngay trong bệnh viện của khu kinh tế mở. Cùng đến đó với chúng tôi ngày ấy còn có Lý Thủ và Vương Can. Trần Tị bị một chiếc xe của một đồn cảnh sát địa phương đâm phải. Căn cứ vào lời khai của viên cảnh sát lái xe - kể cả những người chứng kiến tại hiện trường vụ tai nạn thì, đang lúc chiếc xe cảnh sát đang chạy một cách bình thường thì Trần Tị nhảy vọt ra từ bên vệ đường - có lẽ là cố tình tìm cái chết - con chó cũng nhảy ào theo. Chiếc xe hất Trần Tị văng vào hàng cây bên đường, còn con chó thì bị bánh xe nghiến nát. Đôi chân Trần Tị gãy nát, vai và lưng cũng bị thương nhưng không đến nỗi chết.

Tin Trần Tị bị tai nạn là do Lý Thủ báo với chúng tôi. Lý Thủ nói, về phía cảnh sát họ không chịu trách nhiệm gì trong chuyện này nhưng căn cứ vào hoàn cảnh hiện tại của cậu ấy, họ đồng ý bồi thường mười nghìn đồng. Rõ ràng mười nghìn đồng không thấm vào đâu trong việc trang trải điều trị thương tích rất nặng của Trần Tị. Tôi hiểu, mục đích của Lý Thủ trong việc thông tin và triệu tập bạn học ngày xưa đến bệnh viện là muốn chúng tôi cũng chung tay giúp đỡ Trần Tị.

Trần Tị nằm trong một phòng bệnh hai mươi giường, giường số 9, gần cửa sổ. Lúc ấy là đầu tháng năm, ngoài cửa sổ có một cây ngọc lan đang trở hoa màu đỏ, hương thơm nực nồng. Cho dù nhiều giường bệnh nhưng nói chung là công tác vệ sinh ở đây khá đảm bảo và cho dù điều kiện trị liệu ở bệnh viện này không thể so sánh với các bệnh viện ở Thượng Hải, Bắc Kinh, nhưng nếu so với trạm xá công xã hơn hai mươi năm trước thì lại là một trời một vực. Thưa tiên sinh, thuở ấy tôi đã đưa mẹ tôi vào trạm xá công xã nằm hơn một tuần, rận trên giường bò thành từng đàn, tường vôi toàn là những vệt máu, ruồi nhặng bay giữa ban ngày như ong vỡ tổ. Nghĩ lại tình cảnh ấy, ai ai cũng không rét mà run. Đôi chân, vai phải Trần Tị đã được bó bột thạch cao, nằm ngửa mặt lên trời, chỉ còn tay trái là có thể động đậy.

Trông thấy chúng tôi xuất hiện, cậu ấy ngoảnh mặt đi.

Vương Can phá vỡ không khí nặng nề bằng những tiếng cười hi hí kèm theo là câu hỏi chẳng khác nào như tiếng chửi người ta: “Hiệp sĩ vĩ đại! Sao lại thế này? Đánh nhau với cối xay gió hay là quyết đấu với tình địch?”.

Lý Thủ nói: “Không muốn sống nữa thì nói với tôi một lời, việc quái gì mà phải đâm vào xe cảnh sát!”.

Hình như Trần Tị vẫn gắng gượng để giữ lấy phong độ hiệp sĩ, không thèm nói chuyện với chúng tôi. “Tiểu sư tử” nói: “Chuyện này nên trách Lý Thủ. Cậu ấy đã bị Lý Thủ làm cho trở nên điên điên khùng khùng”.

Lý Thủ nói: “Làm gì có chuyện cậu ấy điên điên khùng khùng! Cậu ta chỉ giả làm một hiệp sĩ điên khùng thôi”.

Đột nhiên Trần Tị khóc nấc lên, cái mặt đang nghiêng về một bên càng cúi thấp hơn nữa, tay trái bíu lấy bức tường.

Một y tá cao lêu nghêu đi vào phòng bệnh, đôi mắt rất sắc nhìn khắp chúng tôi một lượt như thăm dò rồi đập đập tay vào giường sắt, nghiêm giọng nói: “Số chín! Không được làm ồn!”.

Ngay lập tức, tiếng khóc ngưng bặt. Mặt của Trần Tị cũng không ngoảnh về một bên nữa, đôi mắt đục ngầu nhìn thẳng vào chúng tôi.

Cô y tá cao kều nhìn những bó hoa tươi chúng tôi đang đặt trên đầu giường, chun mũi hít hít đầy vẻ ác cảm, nói: “Quy định của bệnh viện là không cho phép mang hoa vào phòng bệnh nhân”.

“Tiểu sư tử” cao giọng đầy vẻ bất mãn: “Đây là quy định gì? Ngay cả những bệnh viện lớn ở Bắc Kinh cũng không có quy định này!”.

Đương nhiên là cô y tá không thèm tranh luận với “Tiểu sư tử”, nói với Trần Tị: “Mau bảo người nhà của ông xuống thanh toán viện phí, bữa nay là hạn cuối cùng rồi!”

Tôi bực tức nói: “Thái độ phục vụ của nhân viên trong bệnh viện này là như cô cả hay sao?”.

Cô y tá khịt khịt mũi: “Đó là thái độ công tác”.

“Các người còn có chút tinh thần nhân đạo nào không?” - Vương Can nói.

Y tá nói: “Tôi chỉ là người thông báo lại ý kiến của lãnh đạo. Các vị có tinh thần nhân đạo thì hãy giúp ông ấy nộp tiền viện phí đi. Tôi nghĩ, viện trưởng của chúng tôi nhất định sẽ tặng thưởng cho mỗi vị một giấy khen, trên đó ghi mấy chữ: Gương nhân đạo điển hình!”.

Vương Can định lên tiếng tranh luận thì bị Lý Thủ ngăn lại.

Cô y tá dương dương tự đắc bỏ đi.

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau và tự trong lòng, ai cũng có những toan tính riêng. Trần Tị bị thương nghiêm trọng như vậy, viện phí nhất định sẽ là một con số vô cùng kinh hoàng.

“Tại sao mọi người lại đưa tôi đến đây?” - Giọng Trần Tị đầy vẻ oán hận - “Tôi chết là việc của tôi, liên quan đếch gì đến mọi người? Các người không mang tôi đến đây, tôi đã được toại nguyện rồi, lại khỏi phải nằm đây để nghe những lời phỉ báng của người khác”.

“Không phải chúng tôi đưa cậu mà là chiếc xe cảnh sát bị cậu đâm vào đã gọi xe cấp cứu” - Vương Can nói.

“Không phải các người mang tôi đến đây sao? Thế thì các người đến đây làm gì? Các người thương hại tôi? Các người đồng tình với tôi? Tôi không dám nhận đâu. Các người cút đi! Nhớ mang theo những bó hoa đầy chất độc kia đi theo... Mùi thơm của nó làm tôi đau đầu... Các người muốn giúp tôi thanh toán viện phí? Cũng không cần đâu! Tôi đường đường là một hiệp sĩ. Quốc vương là bạn tôi, hoàng hậu cũng là bạn tôi, chút viện phí này sẽ chi từ ngân sách nhà nước. Ngay cả việc nếu quốc vương và hoàng hậu không lo cho tôi, tôi cũng không cần các người phải bố thí. Hai đưa con gái tôi đẹp như tiên trên trời, phúc như Đông hải, nếu không là quốc mẫu cũng sẽ là vương phi. Những đồng bạc rơi ra từ kẽ tay của chúng cũng đủ để trang trải viện phí rồi!”.

Thưa tiên sinh,

Đương nhiên là chúng tôi nhận ra ý tứ trong những lời lẽ vừa rồi của Trần Tị. Rõ ràng là cậu ta đang cố giả điên giả khùng. Giả điên giả khùng cũng là một quán tính, thực hiện mãi rồi cũng sẽ đến lúc nào đó điên thật. Nói thật lòng, khi theo chân Lý Thủ vào bệnh viện, tâm trạng của chúng tôi đều có một chút bất an. Nếu chỉ đến để tặng vài bông hoa, nói vài câu thăm hỏi, thậm chí có thể chi ra một vài trăm đồng thì cũng chẳng có vấn đề gì phải bận tâm. Nhưng nếu bảo chúng tôi phải trả số tiền viện phí khổng lồ như vậy, rõ ràng là... Bởi vì, suy cho cùng Trần Tị và chúng tôi cũng chẳng phải ruột rà máu thịt gì, hơn nữa tình trạng của cậu ta lúc này hoàn toàn không bình thường. Nếu cậu ta là một người bình thường thì mọi việc đã khác... Nói tóm lại, thưa tiên sinh, cho dù chúng tôi không hề thiếu tinh thần chính nghĩa, không thiếu lòng thương xót nhưng suy cho cùng, chúng tôi cũng chỉ là kẻ phàm phu tục tử, không có đủ trình độ để hy sinh quá lớn cho xã hội và một cá nhân nào đó. Do vậy, những lời điên điên cuồng cuồng của Trần Tị chính là cái cớ để chúng tôi nhân đó mà thoái thác cái trách nhiệm không đáng có ấy. Chúng tôi nhìn Lý Thủ, người triệu tập chúng tôi đến đây. Lý Thủ lắc đầu nói: “Ông bạn, cứ yên tâm mà dưỡng thương nhé. Xe cảnh sát đã đâm cậu, tự nhiên họ sẽ có trách nhiệm... Bây giờ thì chưa có cách nào khác, chúng tôi sẽ bàn bạc thêm...”.

“Cút!” - Trần Tị gào lớn - “Nếu tay tôi mà còn cử động được thì tôi sẽ dùng trường mâu của mình gõ vào những cái đầu ngu xuẩn của các người!”.

Lúc này mà không thoát thân thì còn đợi đến lúc nào? Chúng tôi ôm mấy bó hoa đang ngậm hương lên, đúng vào lúc định đi nhưng chưa kịp đi thì cô y tá cao kều đã đưa một người đàn ông mặc áo blouse trắng bước vào phòng. Cô ta giới thiệu với chúng tôi, ông ta là phó viện trưởng phụ trách tài vụ của bệnh viện. Xong, cô ta còn giới thiệu chúng tôi với ông ta rằng, chúng tôi là thân nhân của giường số 9. Phó viện trưởng đi thẳng vào vấn đề, nói rằng phí tổn cấp cứu, tiền thuốc men và cả tiền viện phí hết hơn hai mươi nghìn đồng. Nói xong, ông ta còn nhấn mạnh: Đây là tính toán trên cơ sở thực tế của bệnh nhân. Còn nếu tính toán theo một cách khác thì hai mươi nghìn đồng ấy là không thấm vào đâu cả. Trong suốt quá trình phó viện trưởng tính toán với chúng tôi, Trần Tị liên tục gào: “Cút! Chúng mày đều là bọn gian thương mua gian bán lận, chúng mày đều là loài giòi bọ chuyên đục khoét tử thi, lão đây không hề quen biết chúng mày...” - Cánh tay còn có thể cử động được của cậu ta vung loạn xạ, đập mạnh vào tường rồi mò mẫm lên đầu giường tóm được một chiếc lọ thuốc rỗng, ném mạnh về phía trước, trúng vào một bệnh nhân đang truyền đạm ở giường bệnh đối diện - “Cút! Đây là bệnh viện của con gái ta, chúng mày đều là một lũ cho con gái ta thuê đến đây làm công. Ta chỉ cần nói với nó một tiếng, bát cơm trên miệng của chúng mày không còn nữa...”.

Đúng là rối rắm, đúng là náo loạn. Thưa tiên sinh, lúc ấy có một người phụ nữ mặc toàn màu đen, đeo mạng che mặt bước vào phòng. Thưa tiên sinh, tôi không nói thì chắc ngài cuãng đoán ra cô ta là ai. Đúng vậy, cô ta là đứa con gái nhỏ của Trần Tị, là đứa con gái được cứu ra từ trong đống lửa, tuy không chết nhưng dung nhan đã hoàn toàn bị hủy hoại - Trần Mi.

Như một bóng ma, Trần Mi xuất hiện trong phòng bệnh. Bộ quần áo màu đen và chiệc mạng che mặt đã khiến nó trở nên thần bí, đồng thời cũng toát lên cái khí lạnh nơi âm ty địa ngục. Tiếng huyên náo lập tức ngừng bặt chẳng khác nào một chiếc máy cát xét đang phát những tạp âm đột ngột bị ngắt điện. Ngay cả cái không khí nóng bức lúc ấy cũng đột nhiên biến thành lạnh lẽo. Trên cây ngọc lan bên ngoài cửa sổ có một con chim đang cất tiếng hót, tiếng hót của nó nghe sao mà thê lương.

Chúng tôi không nhìn được mặt Trần Mi, cũng không nhìn thấy bất kỳ một chút da thịt nào trên thân thể nó. Chúng tôi chỉ nhận ra là thân hình nó rất cao, tay chân thon thả và dài, một thân hình của người mẫu thời trang. Tất nhiên là chúng tôi nhận ra nó chính là Trần Mi. Tôi và “Tiểu sư tử” cùng nhớ lại hình bóng con bé xinh đẹp mũm mĩm hơn hai mươi năm trước. Nó nhẹ gật đầu chào chúng tôi rồi nói với phó viện trưởng: “Tôi là con gái bệnh nhân, tôi chịu trách nhiệm trả những món nợ cho bố tôi”.

Thưa tiên sinh,

Ở Bắc Kinh tôi có một người bạn là chuyên gia nghiên cứu về bỏng ở bệnh viện 304, trình độ cậu ta thuộc cấp viện sĩ. Cậu ta đã từng nói với tôi, đối với người bị bỏng mà nói, những đau đớn về tinh thần còn lớn hơn những cơn đau về thể xác rất nhiều lần. Khi lần đầu tiên nhìn vào gương và nhận ra dung mạo bị hủy hoại của mình, khó ai có thể chịu đựng được kinh hoàng về mặt tinh thần. Họ cần phải có một dũng khí, một nghị lực phi thường mới có thể tiếp tục sống.

Thưa tiên sinh,

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh. Trong những hoàn cảnh đặc thù, kẻ nhu nhược cũng có thể trở thành dũng sĩ, kẻ cường đạo cũng có thể là người thiện lương, thậm chí có kẻ vốn là không chịu mất một sợi lông chân để cho thiên hạ có lợi 5 cũng có thể quẳng ra nghìn vàng. Sự xuất hiện của Trần Mi và sự dũng cảm của nó đã khiến chúng tôi tự cảm thấy xấu hổ và nỗi xấu hổ ấy đã chuyển hóa thành một tinh thần hiệp nghĩa. Đầu tiên là Lý Thủ, sau đó là đến chúng tôi cùng nói với Trần Mi: Cháu Mi à, viện phí của bố cháu để các chú thanh toán.

Trần Mi lạnh lùng nói: “Cảm ơn hảo tâm của các chú. Nhưng cả nhà cháu đã nợ người ta nhiều quá rồi, cháu không gánh thêm nổi nữa đâu”.

Trần Tị gào lớn: “Mày cút đi! Mày là một con yêu tinh dùng vải đen che mặt để đến đây mạo nhận là con gái ta! Con gái ta, một đứa đang đi du học ở Tây Ban Nha và đang được vương tử ở đấy yêu thương, đang tính chuyện hôn nhân, một đứa nữa đang du học ở Ý, đã mua được một xưởng rượu lâu đời nhất nước Ý để làm ra những chai rượu vang danh thiên hạ. Một xe rượu đầy đang chạy về hướng Trung Quốc...”


9.

Thưa tiên sinh,

Tôi thật sự lấy làm xấu hổ vì vở kịch mà ngài đang chờ đợi lâu nay, tôi chưa hề động bút. Tài liệu quá nhiều khiến tôi có một cảm giác mình là “một con chó đang cắn vào Thái Sơn, không biết đặt mõm ở nơi nào”. Trong quá trình cấu tứ cho vở kịch, những sự kiện phát sinh trong cuộc sống hiện thực có liên quan đến chủ đề vở kịch vừa phong phú vừa ngoài ý muốn ảnh hưởng rất lớn đến những dự định viết của tôi. Ngoài ra, điều khó khăn nhất của tôi lúc này là, một cách không làm chủ chính mình, tôi đã vướng phải một chuyện phiền phức cực lớn. Tôi không biết phải thoát thân ra khỏi chuyện phiền phức này như thế nào, nói cách khác, tôi không biết phải diễn xuất ra làm sao với vai diễn của mình trong chuyện này.

Thưa tiên sinh,

Tôi nghĩ là ngài cũng đã đoán ra mọi chuyện, những gì tôi đã kể hoàn toàn không phải là do tôi hư cấu mà là sự thật. Cuối cùng thì “Tiểu sư tử” cũng đã thừa nhận, cô ấy đã lấy tinh trùng của tôi bơm vào tử cung Trần Mi và con bé này đang mang thai đứa con của tôi. Tôi choáng váng, tôi thấy máu mình xông lên đến đỉnh đầu. Sự phẫn nộ không biết phát tiết ra làm sao và cuối cùng thì biến thành một hành động thô bạo: Giáng cho cô ấy một cái tát. Tôi thừa nhận tôi đánh người là sai. Đặc biệt với tôi, lúc này đang mang danh là “một nhà soạn kịch”, tôi không nên có những hành vi đầy dã tính như vậy. Nhưng thưa tiên sinh, lúc ấy gần như tôi đã trở nên điên cuồng.

Sau khi nghe hết những lời của cậu lái bè có biệt danh “Đầu Lép” ấy, tôi trở về nhà và âm thầm điều tra. Có điều mỗi khi đặt chân đến trại nuôi ếch, tôi đều bị nhân viên bảo vệ chặn lại, không cho vào. Tôi gọi điện cho Viên Tai và em họ tôi thì số máy của hai người đều đã đổi. Tôi căn vặn “Tiểu sư tử”, cô ấy cười bảo tôi đang mắc bệnh thần kinh. Tôi lên mạng tìm khắp các trang web những tài liệu có liên quan đến chuyện đẻ thay ở trại chăn nuôi ếch, in ra rồi mang đến ủy ban sinh đẻ có kế hoạch thành phố báo cáo. Người ở ủy ban đã giữ tài liệu của tôi nhưng sau đó thì không thấy động tĩnh gì. Tôi báo cáo với Cục công an thì nhân viên đón tiếp ở Cục công an bảo rằng, chuyện này không thuộc phạm vi quản lý của họ. Tôi gọi đến số máy nóng của thị trưởng, người nhận điện thoại nói nhất định anh ta sẽ báo cáo chuyện này với lãnh đạo... Thưa tiên sinh, cứ như thế mà mấy tháng đã trôi qua. Khi tôi bức bách được chính “Tiểu sư tử” tự miệng thừa nhận chuyện này thì đứa bé trong bụng Trần Mi đã được sáu tháng. Một thằng đàn ông năm mươi lăm tuổi hồ đồ như tôi lại sắp sửa trở thành bố của một đứa trẻ! Nếu không mạo hiểm và có phần tàn khốc là dùng thuốc để hủy cái thai này, chắc chắn tôi không thể thoát khỏi cái kiếp nạn làm bố bất đắc dĩ này. Thời trẻ, tôi đã từng vì chuyện này mà tiễn biệt người vợ trẻ Vương Nhân Mỹ của tôi. Đây là nỗi đau lớn nhất vẫn còn âm ỉ trong lòng. Nghĩ về chuyện này, tôi vẫn cứ cho mình là một tội phạm trong cái chết của cô ấy. Lúc này, cho dù tôi có tàn nhẫn đến mấy, thưa tiên sinh, có tàn nhẫn đến mấy tôi cũng chẳng can thiệp được gì. Vì căn bản tôi không thể đặt chân được vào trong cái trại nuôi ếch ấy. Mà cho dù có vào được, chắc gì tôi đã được gặp mặt Trần Mi. Tôi đoán, trong cái trại nuôi ếch ấy nhất định sẽ có những cơ quan bí mật rất phức tạp, có thể có những mê cung ở sâu trong lòng đất. Vả lại, từ những câu nói của “Tiểu sư tử”, tôi cũng cảm nhận được rằng, Viên Tai và em họ tôi vốn là là những kẻ hắc đạo, trong những lúc cấp thiết, chuyện gì chúng cũng sẽ dám làm.

Nhận một cái bạt tai của tôi, “Tiểu sư tử” lùi mấy bước rồi ngồi bệt xuống sàn nhà. Máu đang rỉ ra từ mũi cô ấy, lâu lắm mới có những âm thanh phát ra từ miệng, không phải tiếng khóc mà là tiếng cười lạnh. Cười xong, cô ấy mới nói: “Đánh đẹp lắm! Tiểu Bão! Anh là loài cường đạo. Anh đã đánh tôi, vậy thì lương tâm của anh đã vứt cho chó ăn. Tôi làm như vậy hoàn toàn là vì anh. Anh chỉ có một đứa con gái, không có con trai, anh sẽ là kẻ tuyệt tự. Tôi không có khả năng đẻ con cho anh. Đó là nỗi đau của tôi. Để giảm nhẹ nỗi đau ấy, tôi đã tìm người đẻ thay cho anh một đứa con trai, tiếp tục huyết thống của anh, kéo dài gia tộc của anh. Anh không cám ơn mà lại đánh tôi, anh làm tôi đau lòng quá...”.

Nói đến đây, cô ấy mới khóc, nước mắt và máu hòa lẫn trên mặt. Tôi cảm thấy bất nhẫn nhưng nghĩ đến chuyện trọng đại như vậy mà cô ấy lại giấu nhẹm, máu trong người lại sôi lên.

“Tiểu sư tử” vừa khóc vừa nói: “Tôi biết anh đang đau vì sáu mươi nghìn đồng. Số tiền ấy tôi không cần anh bỏ ra, tôi dùng lương hưu của mình. Khi đứa con được sinh ra, tôi không cần anh nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi nó. Nói tóm lại, nó với anh không có quan hệ gì hết. Tôi đã xem thấy trên báo, những người đàn ông cho giống một lần thì được trả thù lao một trăm đồng, tôi trả cho anh gấp ba lần, tức ba trăm đồng. Anh có thể quay lại Bắc Kinh, cũng có thể ly hôn với tôi, không ly hôn cũng không sao, nói tóm lại là tôi không còn quan hệ gì với anh nữa. Nhưng...” - Cô ấy đưa tay vuốt mặt, nói tiếp - “Nếu anh muốn phá bỏ đứa con này, tôi sẽ chết trước mặt cho anh xem!”.

Thưa tiên sinh,

Kể từ những lá thư đầu tiên, ngài đã biết tính khí của “Tiểu sư tử”. Ngày trước, cô ấy đã theo chân cô tôi nam chinh bắc chiến, tiếp xúc với đủ hạng tam giáo cửu lưu nên đã rèn cho mình một bản lĩnh anh hùng lưu manh. Những người như cô ấy, gặp chuyện bức xúc thì việc gì cũng dám làm. Tôi chỉ còn biết dùng cách khuyên nhủ, nói tình nói lý để cho cô ấy động tâm nhằm tìm kiếm một cách giải quyết thỏa đáng nhất.

Cho dù mỗi khi nghĩ đến chuyện phá thai, tôi lại thấy lạnh xương sống và mơ hồ nhận thấy có một điều gì đó bất thường. Nhưng cuối cùng tôi vẫn bám vào cách ấy để mà hy vọng. Tôi nghĩ, suy cho cùng, mục đích để Trần Mi làm công việc đẻ thay này chẳng qua cũng vì tiền. Thế thì, dùng tiền để giải quyết công việc cũng là một cách hợp tình hợp lý. Mấu chốt của vấn đề là, làm sao tôi có thể gặp được mặt Trần Mi?

Kể từ lần gặp nhau ở phòng bệnh của Trần Tị, tôi không hề gặp lại con bé. Nó mặc đồ đen, mạng che kín mặt, hành tung có vẻ bí mật khiến tôi nhận ra rằng, vùng Đông Bắc Cao Mật của tôi vẫn còn ẩn chứa những điều bí mật nữa mà tôi chưa thể phát hiện ra. Cái thế giới bí mật ấy đang chứa trong lòng nó nào là hiệp khách, nào là lưu manh, nào là thầy bói, nào là phụ nữ che mặt... Nhớ lại cách đây không lâu, để lo liệu cho viện phí của Trần Tị, tôi đã đưa cho Lý Thủ năm nghìn đồng, bảo cậu ta đưa cho Trần Mi. Nhưng sau đó vài ngày thì Lý Thủ đem tiền trả lại cho tôi, nói là Trần Mi từ chối không nhận - Có lẽ, Trần Mi chấp nhận đẻ con cho người khác là nhằm kiếm tiền lo cho bố mình - Nghĩ ra điều này, tâm trí tôi càng rối loạn - Chỉ có “Tiểu sư tử” là đáng chết! Tôi đành phải đi tìm Lý Thủ, trong số những bạn học đồng lứa với tôi, chỉ có cậu ta là người có đầu óc hoàn toàn bình thường.

Sáng hôm qua, tôi và Lý Thủ ngồi đối diện với nhau trong một góc của nhà hàng Don Quijote. Người đi lại đông như kiến trên quảng trường, tiết mục “Kỳ lân đẻ con” đang diễn. Ngụy Tang Khâu mang đến cho chúng tôi hai cốc bia rồi lẳng lặng rút lui. Nụ cười trên mặt Lý Thủ tương đối ấm áp, hình như cậu ta đã biết được bí mật của tôi. Khi tôi đem mọi chuyện ấp a ấp úng thổ lộ, Lý Thủ cười một cách vô tình.

“Cậu đang hả lòng hả dạ trước tai họa của người khác!” - Tôi bất mãn nói.

Lý Thủ mâng cốc bia lên cụng vào cốc của tôi, ngụm một ngụm thật to, nói: “Cái gì là tai họa? Là chuyện đại hỷ đấy chứ! Chúc mừng lão huynh! Lão rồi mà còn có con là hạnh phúc nhất của đời người!”.

“Cậu đừng có chọc vào nỗi đau của tôi nữa” - Tôi nói trong một tâm trạng hết sức nặng nề - “Cho dù tôi đã về hưu nhưng dù sao tôi vẫn ăn lương nhà nước. Đẻ con lúc này, tôi biết ăn nói với tổ chức thế nào?”.

Lý Thủ nói: “Lão huynh! Cái gì là tổ chức, là đơn vị? Tất cả đều do cậu tự lấy dây thừng trói mình thôi. Chúng ta đang đối mặt với một thực tế là, nòng nọc của cậu đã kết hợp với một cái trứng để hình thành nên một sinh mệnh và sắp sửa oa oa chào đời. Khoái lạc lớn nhất của đời người là dắt tay hạt giống của mình đi lại. Sự sống của đứa bé này cũng chính là bước tiếp nối sự sống của cậu...”.

“Điểm mấu chốt của vấn đề là...” - Tôi ngắt lời Lý Thủ - “Sau khi đứa bé này ra đời, tôi biết khai hộ khẩu cho nó ở đâu?”.

“Chuyện nhỏ như vậy mà lại có thể làm khó cho cậu sao? Lúc này đâu còn như thời xưa. Lúc này, chỉ cần có tiền thì về cơ bản không có chuyện gì là không làm được. Lại nữa, cho dù không có hộ khẩu thì nó cũng là một con người tồn tại trên trái đất này. Nó vẫn có thể hưởng thụ được tất cả quyền lợi với tư cách là một con người”.

“Được rồi, ông bạn. Tôi đến tìm cậu là mong muốn cậu hiến kế, cậu đừng nói với tôi những lời thừa thãi ấy làm gì...” - Tôi bực tức nói - “Về quê, tôi mới phát hiện ra rằng, tất cả những người ở đây, kể cả những người có học lẫn những kẻ thất học đều đang diễn kịch, toàn nói những lời trên sân khấu cả! Các vị học ở đâu ra vậy?”.

Lý Thủ cười nói: “Đây là một xã hội văn minh! Mỗi một con người trong xã hội văn minh đều là một diễn viên trên sân khấu kịch nói, trên sân khấu Kinh kịch, trên phim truyện, trên phim truyền hình, trên tiểu phẩm hài... Mọi người đều đang diễn kịch, cả xã hội này là một nhà hát kịch đấy thôi!”.

“Đừng có mà diễn trò với tôi nữa, mau mau nghĩ cách đi. Cậu không nghĩ là tôi gặp Trần Tị phải gọi cậu ta bằng bố vợ chứ!”.

“Gọi Trần Tị bằng bố vợ thì có sao nào? Mặt trời sẽ rụng mất sao? Trái đất ngừng quay sao? Tôi nói cho cậu biết một chân lý nhé: Cậu đừng bao giờ cho rằng cả thế giới này người ta đang quan tâm đến cậu! Có phải là mọi người ai ai cũng đang nhìn vào cậu, đúng không? Thật ra, mỗi người đều có chuyện lo nghĩ riêng của mình, chẳng ai hơi sức đâu mà quan tâm đến chuyện của người khác. Cậu và con của Trần Tị đẻ được một đứa con hay với bất kỳ một người đàn bà nào khác đẻ được một đứa con, đó là chuyện của cậu. Nếu có ai đó nhàn rỗi bàn ra tán vào vài câu nhưng rồi đó cũng chỉ là mây bay ngang đầu, gió thổi thì mây tan. Mấu chốt là, con cái là cốt nhục của chính mình, có con đã là một thắng lợi rồi”.

“Nhưng tôi và Trần Mi... quan hệ này chẳng khác nào loạn luân!”.

“Nói xằng! Cậu và Trần Mi chẳng có quan hệ máu mủ nào cả, loạn luân ở chỗ nào? Ngay cả tuổi tác cũng chẳng phải là vấn đề. Ông già tám mươi cưới con gái mười tám không phải là chuyện mà người ta vẫn đang truyền tụng và khen ngợi đó sao? Quan trọng là ở chỗ, ngay cả thân thể Trần Mi như thế nào, cậu cũng đã thấy gì đâu. Con bé chỉ là một công cụ, cậu chỉ là người thuê dùng trong một thời gian. Tất cả chỉ là như thế thôi. Nói tóm lại, lão huynh à, đừng có suy nghĩ nhiều quá như vậy, đừng có tự gây phiền phức cho mình làm gì, tranh thủ rèn luyện sức khỏe để mà nuôi con thôi”.

“Đùng nói những lời thừa thãi ấy” - Tôi chỉ vào những vết bỏng rộp trên môi mình, nói - “Lòng tôi đang nóng như lửa đốt đây! Nể tình là bạn học với nhau, tôi van cậu, cậu hãy tìm cách gặp Trần Mi, bảo con bé lập tức dừng ngay chuyện này lại. Những giao ước về phí tổn tôi không bớt một đồng, ngoài ra tôi còn cho thêm nó mười nghìn nữa xem như là tiền bồi dưỡng sức khỏe sau khi phá thai. Nếu con bé còn chê ít thì cho thêm nó mười nghìn nữa”.

“Cậu không nhất thiết phải làm việc này. Nếu đã chấp nhận bỏ tiền như vậy thì chờ cho con bé sinh xong, dùng số tiền ấy để lo cho hộ khẩu của con cậu, đường đường chính chính làm một ông bố có phải hơn không”.

“Nhưng... tôi không biết ăn nói với tổ chức như thế nào cả”.

“Cậu lại nghĩ mình là một nhân vật quan trọng mất rồi” - Lý Thủ trào phúng - “Lão huynh à, tổ chức không có thời gian để quan tâm nhiều đến cậu như thế đâu. Cậu cho mình là ai vậy? Cậu chỉ là một gã viết mấy vở kịch mà chẳng ai thèm xem thôi. Cậu nghĩ mình là hoàng thân quốc thích, sinh được được con là cả đất nước này phải mở quốc tiệc ăn mừng à?”.

Lúc ấy, có mấy du khách vai mang ba lô dò dẫm bước vào nhà hàng, Ngụy Tang Khâu như một quả bóng lăn ra, toét miệng cười nghênh tiếp. Tôi hạ giọng nói: “Cả đời tôi chỉ khẩn cầu cậu giúp cho một việc này mà thôi”.

Lý Thủ ôm vai lắc đầu, nét mặt lộ vẻ lực bất tòng tâm.

“Mẹ kiếp, cậu đúng là đồ trứng thối, cứ đứng ngoài mà trừng mắt nhìn tôi nhảy vào lò lửa à?”.

“Cậu đang nhờ tôi giết người, cậu biết không?” - Lý Thủ hạ giọng gắt - “Một cái thai sáu tháng tuổi, nếu không có cái làn da bụng của mẹ nó, nó đã lên tiếng gọi bố rồi!”.

“Cậu có giúp không?”.

“Cậu nghĩ rằng tôi có thể gặp được Trần Mi sao?”

“Cậu nhất định sẽ gặp được Trần Tị. Cậu đem những lời tôi nói lại với cậu ấy, bảo cậu ấy đi tìm Trần Mi”.

“Gặp được Trần Tị rất dễ” - Lý Thủ nói - “Ngày nào cậu ấy cũng xin ăn trước miếu Nương Nương, chiều tối thì đem những đồng tiền lẻ xin được đến chỗ này uống rượu, thuận tay cầm một chiếc bánh mì. Cậu có thể ngồi đây chờ, cũng có thể ra trước miếu Nương Nương tìm cậu ấy. Nhưng tôi muốn là cậu đừng đem chuyện này nói với Trần Tị, có nói cũng chỉ phí công thôi. Nếu cậu có lòng từ bi thì đừng đem chuyện này ra mà giày vò cậu ta nữa. Nhiều năm rồi, tôi đã tổng kết được một kinh nghiệm là, để giải quyết một việc khó, phương án tốt nhất và hữu hiệu nhất vẫn là, cứ việc ngồi yên mà quan sát sự thay đổi, thuận theo dòng mà thả thuyền.

“Được rồi, thôi thì thuận theo dòng mà thả thuyền vậy”.

“Lão huynh, khi con đầy tháng, tôi sẽ mở đại yến, chúng ta chúc mừng nhau một phen”.


10.

Rời khỏi nhà hàng Don Quijote, tâm tình tôi đã trở nên thư thái hơn. Thật ra thì không có chuyện gì là ghê gớm cả, chỉ là sinh một đứa con thôi mà! Ánh mặt trời vẫn xán lạn, tiếng chim vẫn líu lo, hoa vẫn cứ nở, cỏ vẫn cứ xanh, gió vẫn cứ mát... Trên quảng trường, nghi thức của tiết mục “Kỳ lân đẻ con” vẫn đang được tiến hành, trong tiếng huyên nào của âm nhạc và trống chiêng, rất nhiều phụ nữ chen vai thích cánh dồn về khu trung tâm quảng trường với hy vọng là có thể giành được một bảo bối búp bê từ tay Nương nương. Nhân loại đang nhiệt tình tụng ca sự sinh đẻ, ngưỡng vọng sự sinh đẻ. Còn tôi thì đau khổ, phiền não, lo lắng bất an vì người khác đang mang thai con mình. Điều này chỉ có thể chứng minh: Không phải là xã hội đang xuất hiện vấn đề mà chính là vấn đề xuất hiện từ tôi.

Thưa tiên sinh,

Tôi phát hiện ra Trần Tị và con chó của cậu ta bên một chiếc cột to đùng trước miếu Nương Nương. Đây là một con chó tây có bộ lông lốm đốm pha lẫn hai màu đen và trắng, rõ ràng là cao quý hơn so với con chó đã tuẫn thân vì chủ trong vụ tai nạn xe trước kia. Một con chó có nguồn gốc xuất thân cao quý như vậy tại sao kết bạn với một gã hành khất lang thang? Đây lại là một bí mật nhưng nghĩ kỹ lại thì cũng chẳng lấy gì làm kỳ lạ. Trong vùng đất mới khai phá Đông Bắc Cao Mật tây tàu hỗn tạp, vàng thau lẫn lộn, đẹp xấu khó phân, thị phi giao tạp... này thì chuyện ấy cũng bình thường thôi. Rất nhiều nhà giàu mới nổi hãnh tiến khi còn đang lên thì tiếc là không mua được hổ về nhà nuôi để biến nó thành con vật cưng, nhưng khi phá sản thì tiếc là không bán được vợ để trả nợ. Bao nhiêu là chó hoang lang thang trên đường phố nhưng trong số ấy, không ít con trước đó không lâu đã là con vật sủng ái vô giá của một nhà phú ông nào đấy. Cũng giống như đầu thế kỷ hai mươi, cách mạng Nga bùng phát, rất nhiều quý bà Bạch Nga lưu lạc đến tận Cáp Nhĩ Tân, không thể không vì miếng bánh mì mà vất bỏ thân phận để biến mình thành kỹ nữ hoặc làm vợ những kẻ bách tính thuộc tầng lớp dưới khiến cho mảnh đất này xuất hiện không biết bao nhiêu là đồ tạp chủng. Chiếc mũi to cao và đôi mắt rất sâu của Trần Tị có liên quan đến câu chuyện của lịch sử này. Sự kết hợp của con chó đốm với Trần Tị cũng tương tự như thế thôi... Tôi vừa suy nghĩ lung tung vừa quan sát Trần Tị và con chó từ một bên với khoảng cách khoảng hai mươi mét. Hai chiếc nạng đặt hai bên người Trần Tị, dưới đất, ngay trước mặt cậu ta có một vuông vải đỏ, đương nhiên là trên đó có viết mấy chữ đại khái là hãy bố thí cho người tàn tật. Thi thoảng cũng có những người đàn bà sặc mùi phú quý khom người bỏ một tờ bạc lẻ hay vài đồng xu vào chiếc bát sắt đặt trên vuông vải. Mỗi khi có ai đó cúi người bỏ cái gì vào chiếc bát sắt, con chó đốm lại ngóc đầu dậy, sủa lên ba tiếng, đúng ba tiếng không hơn không kém rất khiêm nhường lễ độ. Tôi hiểu nó đang nói thay chủ “Cám ơn lòng tốt của quý phu nhân đã bố thí cho hai kẻ hèn mọn này!”. Hình như những người hảo tâm ấy rất cảm động nên tôi thấy có người còn móc ví lần thứ hai. Nói thực lòng tôi không còn có ý định dùng tiền để mua chuộc Trần Tị để cậu ta động viên Trần Mi phá thai nữa. Nhưng tôi vẫn bước về phía cậu ta bởi một lòng hiếu kỳ thôi thúc: Muốn nhìn thấy trên vuông lụa đỏ ấy, cậu ta đã viết những gì - Đây là một tất xấu của văn nhân!

Trên vuông lụa ấy là mấy dòng như sau:

Tôi vốn tiên Thiết Quải trên trời,

Nhận lệnh đưa chó ngọc xuống trần.

Nương nương sinh đẻ là cô ruột,

Phái đến nơi đây kiểm chứng xem,

Từ tâm nhân gian được nhiều ít.

Đổi ít tiền lẻ lấy quý tử,

Chí ít cũng đỗ đến trạng nguyên...

Tôi đoán là những dòng chữ trên vuông lụa là do Vương Can đặt ra, còn chữ viết thì nhất định phải là của Lý Thủ. Họ đã dùng cách thức của mình để giúp đỡ người bạn học bất hạnh. Đôi ống quần rộng thùng thình của Trần Tị xắn cao quá gối để lộ đôi chân khô đét và cong vẹo như hai que củi và khi trông thấy đôi chân ấy, tôi bỗng nhớ lại câu chuyện mà mẹ đã kể cho tôi nghe từ thuở nhỏ:

Sau khi Thiết Quải Lý thành tiên, trong nhà nấu cơm mà không có củi. Vợ ông ta hỏi: Đun bằng gì? Ông ta nói: Lấy chân mà đun. Nói xong, ông ta thò một chân vào bếp lò, lửa cháy phừng phừng, nước trong nồi sôi ùng ục và sau đó thì cơm chín. Lúc ấy, bà chị dâu của ông ta sang chơi, trông thấy chuyện ấy thì kinh hoàng kêu lên: Chú à! Đang tâm đốt chân như vậy sao? Tiếng kêu của bà chị dâu khiến phép thuật ông ta biến mất, do vậy mà chân của Lý Thiết Quải khô đét và khập khiễng suốt đời.

Kể xong câu chuyện, mẹ tôi cảnh tỉnh: Đối diện với những kỳ tích của thánh thần, nhất định cần phải giữ im lặng, đừng bao giờ làm kinh động đến thần thánh!

Trên người Trần Tị mặc chiếc áo lông theo kiểu tướng lĩnh ngày xưa, vết khô của mồ hôi dầu loang lổ, sáng loáng và trông dày chẳng khác nào một chiếc áo giáp sắt. Đó là một ngày tháng tư âm lịch, trời đã bắt đầu ấm dần lên. Trên những khoảnh ruộng xa xa, lúa mạch đang ngậm sữa, loài ếch trên đồng và trong trại nuôi của Viên Tai đã bắt đầu thời kỳ giao phối nên đang kêu vang rền rĩ. Những cô gái đã bắt đầu diện những chiếc áo thun và quần sóc hoặc là váy ngắn. Còn người bạn hành khất của tôi thì vẫn cứ cái áo như đang thể mùa đông. Nhìn Trần Tị tôi cảm thấy nóng bức, nhưng cậu ta hình như đang rét vì tôi thấy thân hình gầy guộc ấy đang rung rung từng đợt và đầu thì chúi vào trong cổ áo dày cộp. Da mặt Trần Tị màu đồng gỉ, cái đầu hói láng bóng chẳng khác nào đã được dùng giấy nhám đánh qua. Tôi vẫn phân vân không hiểu tại sao Trần Tị lại đeo một cái khẩu trang vừa bẩn vừa rách nát. Có phải là cậu ta muốn che cái lỗ mũi vốn rất gây chú ý của mình? Ánh mắt của Trần Tị xuất phát từ hai chiếc hố sâu hoắm gặp phải ánh mắt cố tình che giấu của tôi. Tôi không nhìn cậu ta nữa mà bắt đầu chú ý con chó. Nó cũng đang nhìn tôi, cũng với một cái nhìn lạnh nhạt không quen biết. Bàn chân bên phải của nó thiếu một móng như bị một lưỡi dao rất sắc tiện mất. Đúng là người với chó giống nhau, cũng là một dạng “đồng bệnh tương liên”. Đồng thời với việc nhận ra điều này, tôi cũng hiểu rằng, trước mặt Trần Tị không thể nói được bất cứ điều gì, điều duy nhất có thể làm là: Bỏ vào chiếc bát sắt một ít tiền và nhanh chóng rời khỏi cậu ta. Trong túi tôi lúc này chỉ còn duy nhất tờ một trăm, là số tiền để tôi chuẩn bị cho bữa ăn trưa và tối. Tôi không một chút do dự đặt nó vào chiếc bát sắt trước mặt Trần Tị. Cậu ta không có bất cứ một phản ứng gì, còn con chó thì vẫn cứ theo lên thường, sủa lên ba tiếng.

Tôi thở dài rời khỏi người và chó, đi được mười mấy bước, không kềm lòng được quay đầu nhìn lại. Trong ý thức tôi vẫn đang nghĩ, Trần Tị xử lý như thế nào với tờ một trăm ấy? Trong bát, tuyệt đại đa số vẫn là tờ một đồng và những đồng hào kẽm, tất cả đều nhàu nát, đều bẩn thỉu khiến tờ một trăm đồng của tôi nằm trong bát trở nên kiêu ngạo vô cùng. Tôi tin là chưa từng có ai hào phóng như tôi trong khi bố thì cho ăn mày. Tôi càng không tin là trước tờ một trăm mới toanh ấy là Trần Tị không hề có chút động lòng. Thưa tiên sinh, đúng là tôi đang “dùng bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử”. Cảnh tượng diễn ra trước mắt khi quay đầu nhìn lại khiến tôi không khỏi phát hỏa: Một thằng bé khoảng mười tuổi tròn ú và đen đúa nấp sau một chiếc cột phóng vèo đến, cúi người vươn tay nhặt tờ một trăm đồng giữa đống tiền lẻ rồi phóng vèo đi. Hành động của thằng bé cực nhanh, chờ cho đến khi tôi kịp phản ứng thì nó đã chạy được khoảng hai mươi thước, men theo con đường nhỏ một bên miếu và chạy thẳng về hướng bệnh viện Gia Bảo do Trung - Mỹ hợp tác. Thằng bé này có cặp mắt của loài gà chọi, hình như tôi đã gặp nó ở đâu rồi thì phải. Cố nhớ lại, đúng là tôi đã gặp nó. Đó chính là thằng bé mà ngày khai trương bệnh viện Gia Bảo, nó đã đưa cho cô tôi chiếc phong bì trong đó có con ếch khiến cô tôi ngất xỉu!

Biến cố vô cùng đột xuất nhưng Trần Tị hầu như không có phản ứng gì. Con chó chỉ nhìn theo bóng của thằng bé sủa mấy tiếng nhỏ lấy lệ rồi nhìn chủ nhân rồi cúi đầu cụp tai, gác mõm lên chân trước. Tất cả đều bình thường, yên tĩnh.

Trong thâm tâm tôi cảm thấy bất bình cho Trần Tị, cho con chó và cho cả chính mình, bởi vì đó là tiền của tôi. Tôi muốn thể hiện sự hào phóng của mình cho những người chung quanh thấy. Nhưng hình như ai cũng có công việc của mình nên những việc vừa xảy ra đối với họ chỉ là một ánh chớp, rất nhanh và không để lại vết tích gì. Tôi không thể tha cho thằng bé. Nó đã phá hoại cái không gian trong lành của vùng Đông Bắc Cao Mật chúng tôi. Nó là hậu duệ của nhà nào, coi thường phụ nữ, trộm tiền của người tàn tật, toàn những việc làm táng tận lương tâm. Vả lại, nhìn vào những động tác vô cùng thành thục của nó cũng có thể nhận ra là, đây không phải là lần đầu tiên nó cướp tiền từ trong chiếc bát của Trần Tị. Tôi đi nhanh về hướng thằng bé vừa bỏ chạy. Nó đang thấp thoáng trước mặt tôi, khoảng cách khoảng năm mươi mét. Nó không chạy nữa mà ngồi xuống, tựa lưng vào một gốc liễu um tùm lá non. Nó không hề ngoái đầu nhìn lại vì thừa biết rằng, ông già tàn tật và con chó ấy không bao giờ đuổi theo. Tiểu tử! Mày hãy chờ đấy, tao sẽ đến ngay!

Thằng bé đã đứng dậy, chậm chạp rẽ vào chợ nông sản được xây dựng dọc theo bờ sông. Đây chỉ là một khu chợ tạm với những chiếc lều được căng bằng những tấm nilon xanh nên ánh sáng bên dưới toàn một màu xanh. Người ta đi đi lại lại trong ấy chẳng khác nào cá đang bơi lội trong nước.

Hàng hóa trong chợ rất phong phú, được xếp thành từng lô, các lô sắp thành hàng, quanh co rối rắm. Trong gian hàng hoa quả, có những loại hoa quả lạ mắt, cho dù xuất thân là nông dân nhưng đây là lần đầu tiên tôi trông thấy, đủ sắc đủ màu, kỳ hình dị dạng. Nhớ lại ba mươi năm trước, nhớ cái thời một cọng rau cũng không thể mua được mà cảm khái ngậm ngùi. Thằng bé có vẻ thông thạo các ngóc ngách trong chợ, luồn lách một hồi đã đến chợ cá. Tôi bước nhanh hơn để đuổi kịp nó nhưng ánh mắt lại bị những cá nào tôm nào cua hai bên thu hút. Kia là con cá có cái mõm lợn, là loại cá khuê, một họ của loại cá hồi là nhập khẩu từ Nga. Lại còn có cả tôm Nam Mỹ, cá Úc..., đương nhiên nhiều nhất là những loại có thông thường mà người ta đánh bắt được ở biển Đông. Những con cá khuê đã bị xẻ thịt, những lát cá màu trắng hồng tươi rói nằm trên những tảng nước đá to. Trên những chiếc quầy chuyên nướng cá tươi, mùi thơm bốc lên nực mũi. Thằng bé dừng lại trước một lò nướng cá, lôi tờ một trăm của tôi ra và mua một xiên. Người ta giao lại tiền thừa cho nó. Nó ngẩng mặt lên, đưa xiên cá lên mồm, động tác chẳng khác nào diễn viên biểu diễn trò nuốt kiếm trên quảng trường miếu Nương Nương. Đúng vào lúc nó nhai nuốt xong một miếng cá tươi, những giọt dịch hồng hồng còn dính bên mép thì tôi đã đến sát sau lưng nó, giơ tay chộp cổ, rồi quát lớn:

“Chạy đi đâu? Thằng oắt con ăn trộm vặt!”.

Thằng bé chỉ cần ngồi thụp xuống là cổ nó đã vuột khỏi tay tôi. Tôi chộp lấy cổ tay nó. Cánh tay còn lại cầm xiên cá nướng đầy dầu mỡ đánh thẳng vào tay tôi, tôi hơi hốt hoảng nên thả tay. Như một con lươn, nó luồn giữa mọi người bỏ chạy. Tôi lao theo chộp lấy vai nó. Nó giãy thật mạnh, chiếc áo mỏng manh vải đã mục nên dễ dàng rách toạt, để lộ cái lưng đen nhẻm như da cá. Nó khóc thét lên nhưng không hề có nước mắt, vừa khóc vừa gào, đồng thời cũng dùng chiếc xiên cá bằng sắt đâm thẳng vào bụng tôi một cách hung dữ. Tôi tránh sang một bên nhưng không tránh kịp, chiếc dùi nhọn đã đâm vào cánh tay trái, ban đầu không thấy đau, chỉ có cảm giác ran rát, sau đó thì một cơn đau như xé đột ngột dâng lên, máu đen bắt đầu túa ra. Tay phải tôi chộp lấy vết thương nắm chặt, miệng kêu lên: “Nó là thằng ăn cắp! Nó lấy tiền của người tàn tật!”.

Thằng bé kêu lên mấy tiếng không rõ rồi điên cuồng xông thẳng vào tôi chẳng khác một cơn lợn điên, ánh mắt của nó trông thật đáng sợ. Thưa tiên sinh, trong lòng tôi lúc ấy chỉ có nỗi sợ hãi, bước lùi liên tục để tránh nó, vừa lùi vừa kêu. Nó cầm xiên cá đâm lia lịa, vừa đâm vừa gào:

“Bồi thường áo cho tôi! Bồi thường áo cho tôi!”.

Đấy chỉ là lời tôi có thể viết ra được, còn trong tiếng kêu gào của nó có vô số những từ tục tỉu, bẩn thỉu mà tôi không dám viết ra đây. Thưa tiên sinh, tôi thực sự xấu hổ vì thế hệ sau trên quê hương Đông Bắc Cao Mật của mình. Trong lúc nguy cấp, tôi chộp vội một mảnh ván chi chít chữ, tôi đoán là trên đó viết tên những loài cá và giá cả làm cái thuẫn để chặn những cú đâm của thằng bé. Những cú đâm của nó ngày càng hung hãn hơn và những nhát đâm của nó đều được chi phối bởi ý thức: Đâm cho thằng già này chết luôn! Tấm ván trong tay tôi không thể che được tất cả những cú đâm của nó. Một lần nữa, tay tôi lại bị đâm trúng, máu túa ra xối xả. Thưa tiên sinh, đầu óc tôi đã bắt đầu hỗn loạn, không thể chống đỡ được trước những cú tấn công của nó nữa, chỉ biết lùi và tránh một cách bản năng. Rất nhiều lần, chân tôi vướng vào giỏ cá hoặc những tấm ván trên đất, suýt ngã. Nếu tôi ngã, thưa tiên sinh, e rằng lúc này tôi không tồn tại để mà viết thư cho ngài nữa. Nếu tôi ngã, một khả năng có thể diễn ra là, tôi sẽ bị thằng bé hung dữ như báo ấy đâm chết, một khả năng khác là tôi sẽ bị trọng thương và được đưa vào cấp cứu trong bệnh viện. Thưa tiên sinh, tôi không thể không thừa nhận, lúc ấy trong tôi chỉ có nỗi khiếp sợ và cái tính cách nhu nhược của tôi đã bộc lộ một cách rõ ràng. Trong cơn khiếp sợ, tôi nhìn về hai phía với hy vọng là có ai đó ra tay viện trợ cho mình, đưa tôi ra khỏi cơn nguy hiểm. Nhưng, tất cả, hoặc là khoanh tay đứng nhìn một cách bàng quan, hoặc là làm như không hay không biết, hoặc là vỗ tay tán thưởng. Thưa tiên sinh, tôi đúng là một thứ đồ phế thải, tham sống sợ chết, không có chút ý chí đấu tranh, ngay cả một đứa bé mới mười tuổi cũng có thể đánh cho tôi thất điên bát đảo. Tôi nghe thấy tiếng kêu tuyệt vọng lẫn khẩn cầu phát ra từ miệng mình, đứt đứt nối nối, chẳng khác nào tiếng tru của một con chó bị đánh đau:

“Cứu...! Cứu... mạng!... Cứu...!”.

Lúc này thằng bé đã ngưng khóc, mà thật ra nó có khóc đâu. Đôi mắt nó trợn tròn nhưng hầu như không có chút lòng trắng nào, hình dáng trông giống hệt một con nòng nọc to tướng. Nó cắn chặt môi dưới nhìn thẳng vào tôi, dừng lại giây lát rồi tiếp tục đâm. “Cứu tôi với!”. Tôi kêu lên, đồng thời cũng giơ miếng ván lên đỡ những mũi xiên của nó... Lại mấy vết thương nữa hiện ra trên cánh tay, máu lại chảy... Nó lại đâm tiếp... Cứ thế, nó phát động từng đợt tấn công, còn tôi thì tiếp tục kêu cứu và tiếp tục lùi... Lùi cho đến khi ra khỏi ngoài những căn lều, ra ngoài ánh sáng mặt trời...

Tôi vất miếng ván, co giò bỏ chạy, vừa chạy vừa kêu cứu. Thưa tiên sinh, tôi thực sự xấu hổ vì phải nói với ngài những điều này. Nhưng không nói với ngài thì tôi biết phát tiết những uất ức của mình với ai. Tôi chạy, căn bản là không định hướng, không cần nhận đường. Tôi nghe thấy những tiếng kêu chung quanh, tai tôi như ù đi. Tôi chạy đến một con phố nhỏ rất nhiều quán ăn, trước một trong số các quán ăn có một chiếc xe sang trọng màu xám. Tôi nhìn thấy trước cửa quán có treo một tấm ván màu đen, trên đó có viết hai chữ “Thư Trĩ” trông rất cổ quái. Hai người đàn bà ngồi trước cửa quán, một người cao lớn mập mạp, một người thì thon thả bé nhỏ. Họ đồng thời đứng dậy và tôi như gặp được cứu tinh chạy thẳng về phía họ. Không biết chân tôi vướng phải vật gì, tôi ngã nhào xuống đất, môi dập nát, răng chảy máu. Nhìn lại, thì ra vật làm tôi ngã là một sợi xích sắt, hai đầu của nó gắn với hai chiếc cọc sắt, một chiếc đã bị ngã. Hai người đàn bà chạy đến chộp lấy vai, kéo tôi đứng dậy. Tôi cảm thấy ánh mắt của họ đang chăm chú nhìn lên mặt tôi và hình như trên mặt tôi đang dấp nước bọt của họ. Thằng bé không còn đuổi theo nữa, tôi cảm thấy mình đã gặp may. Thưa tiên sinh, bất hạnh tiếp tục ập đến. Tôi bị hai người đàn bà trước quán “Thư Trĩ” túm lấy. Họ tru tréo lên rằng, chân tôi đã vướng vào sợi dây xích, sợi dây xích làm ngã chiếc cọc sắt, chiếc cọc sắt đập xuống khiến xe của họ bị hỏng. Thưa tiên sinh, đúng là đuôi của chiếc xe có một vết sước rất mờ như đầu mũi kim miết thật nhẹ. Nói đúng hơn là một dấu chấm nhỏ, nhưng nhất định đó không phải là do chiếc cọc sắt ngã đụng vào. Họ túm chặt lấy tôi, không cho tôi nhúc nhích, miệng chửi bới vô cùng tục tĩu khiến người đi đường tò mò đứng lại quan sát. Người có thân hình thon nhỏ nanh nọc hơn, xem bộ dạng của cô ta thì chẳng khác thằng bé đã từng có ý định sát hại tôi. Ngón tay của cô ta thi thoảng lại gí vào trán tôi và mỗi lần như vậy, tôi có cảm giác là cô ta đang chuẩn bị móc mắt mình. Lời biện hộ của tôi cất lên thì bị mười mấy câu chửi của hai người đàn bà lấn át. Thưa tiên sinh, lúc ấy, tôi chỉ biết ôm đầu ngồi dưới đất, cảm thấy tuyệt vọng thật sự. Tôi và “Tiểu sư tử” đã quyết định chọn con đường về sống ở quê bởi trên con phố Hộ Quốc Tự ở Bắc Kinh tôi cũng đã gặp phải một chuyện tương tự như chuyện tôi đang kể. Nhà hàng ấy đối diện với Nhà hát Nhân Dân, tên của nhà hàng là “Dã Trĩ”. Một buổi sáng, tôi và “Tiểu sư tử” đi ra quảng trường trước nhà hát để mua báo, tôi cũng vướng vào một dây xích sắt giăng phân cách lối đi trên đường và làm ngã một chiếc cọc sắt. Khoảng cách giữa chiếc cọc bị ngã với chiếc xe con màu bạc đang đậu trên phố là hai mét nhưng có hai người đàn bà có mái tóc nhuộm vàng vàng đỏ đỏ, đôi môi mỏng sắc như dao đang ngồi trong quán “Dã Trĩ” lao ra, chạy ra sau đuôi xe cúi gập người quan sát và nhận ra một chấm trắng bằng hạt vừng trên màu sơn bạc thì vu cho tôi làm ngã chiếc cọc nên đập vào xe của họ. Họ hoa chân múa tay chửi bới chúng tôi bằng thứ ngôn ngữ hạ lưu vốn lưu hành trong các con hẽm Bắc Kinh. Một cô nói, bà đây đã lớn lên từ nhỏ ở con phố này, loại người nào mà không nhận ra? Hai người là loại rùa ngoại địa, không trốn trong hang mà bò đến thủ đô để làm gì? Đến thủ đô để làm mất mặt dân tộc Trung Hoa chăng? Vừa nói, cô ta vừa lúc lắc cái thân hình to béo có mùi thuốc trị bệnh trĩ xông đến và vung nắm đấm đấm thẳng vào mặt tôi. Chỉ một cú đấm mà mũi tôi đã bị giập. Những người vây quanh đều hói đầu, bụng phệ cũng nhất tề lên tiếng, tuyên dương thân phận là dân Bắc Kinh chính gốc của mình buộc tôi phải bồi thường bằng tiền và xin lỗi. Thưa tiên sinh, tôi đã mềm oặt, đành phải bồi thường tiền và còn xin lỗi theo yêu cầu của họ. Về đến nhà, chúng tôi ôm đầu khóc ngất và quyết định về quê vì vốn nghĩ rằng, ở đây là quê hương, không có ai dám khinh rẻ mình. Nhưng không ngờ rằng, hai người đàn bà ở quê tôi cũng không hề kém cạnh hai người đàn bà ở phố Hộ Quốc Tự Bắc Kinh. Thưa tiên sinh, tôi thực lòng không hiểu, con người tại sao lại đáng sợ đến như thế?

Thưa tiên sinh,

Nỗi nguy hiểm lớn nhất đang tiến đến gần. Tôi đã trông thấy thằng bé có đôi mắt báo xuất hiện, những miếng cá trên chiếc xiên đã bị nó ăn hết nên một khi trở thành vũ khí, chiếc xiên còn đáng sợ hơn rất nhiều lần. Tôi đột nhiên hiểu ra rằng, thằng bé này chính là con của người đàn bà thấp nhỏ, còn người đàn bà to cao kia chắc là dì của nó. Bản năng sống khiến tôi khỏe hơn, tôi vùng vẫy, tôi muốn chạy. Chạy là sở trường của tôi. Sau nhiều năm ngập ngụa trong cuộc sống khiến tôi quên mất rằng, tôi có một bản lĩnh sở trưởng, đó là chạy. Lúc này, trong cơn nguy cấp có thể mất mạng, bản lĩnh ấy đột nhiên trỗi dậy. Hai người đàn bà vẫn còn túm chặt lấy tôi, thằng bé đang kêu gào, tôi cũng kêu gào như một con chó bị dồn đến chân tường. Thân thể tôi đầy máu, môi dập răng long và có lẽ những điều ấy khiến hai người đàn bà sợ hãi. Bởi tôi đã nhận ra trong lúc kêu gào, tôi thoáng thấy họ lặng người đi một khoảnh khắc. Tôi hiểu vì sao họ lặng người. Lợi dụng cái chớp mắt bốn cánh tay đang bấu lấy tôi lơi lỏng, tôi vùng mạnh thoát khỏi tay họ và chạy, len lỏi giữa hai hàng xe lưu thông trên đường mà chạy. Chạy đi! Vạn Túc! Vạn Tiểu Bão! Vạn Tiểu Bão năm mươi lăm tuổi như rùng mình biến thành chàng trai Vạn Tiểu Bão mười lăm mười sáu. Tôi chạy theo con phố ngập ngụa trong mùi gà rán, mùi cá nướng, mùi dê hầm, mùi máu tanh... và rất nhiều những mùi vị mà tôi không thể nhận ra. Tôi có cảm giác đôi chân mình nhẹ tênh, một bàn chân đặt xuống lòng đường là như có một cái lò xo cực mạnh đẩy tôi lên. Tôi là một con dê, là một con nai, là một siêu nhân nhẹ như một con chim én có thể bay lên đến tận cung trăng. Tôi là một con ngựa, một con ngựa có mồ hôi máu, một con ngựa có khả năng bay đến tận trời cao...

Nhưng..., cái cảm giác mình là một con ngựa có khả năng bay đến tận trời cao ấy chẳng qua rất thoáng chốc, nói đúng hơn chỉ là một thứ ảo giác, còn tình hình thực tế của tôi lúc này là, miệng thở hồng hộc, cổ họng nóng như lửa, tim đập như trống chầu, ngực căng lên, đầu như muốn vỡ tung ra, trước mắt tôi đột nhiên tối sầm và những mạch máu trong cơ thể như chực vỡ tung. Bản năng sống đang cố gắng duy trì chút sức lực cuối cùng trong cơ thể bạc nhược của tôi. Tôi nghe thấy chung quanh mình những tiếng quát chẳng khác nào sấm nổ. Trước mắt tôi lại là một gã đại hán râu ria xồm xồm, mặc một bộ quần áo kiểu Tôn Trung Sơn màu đen, đôi mắt có màu trông chẳng khác màu của loài đom đóm vẫn thường xuất hiện trong đêm. Khi hắn vươn bàn tay trắng xanh ra định chặn tôi lại thì từ trong miệng tôi, một búng máu tươi vọt ra khiến mặt hắn lập tức đổi màu. Tôi nghe thấy hắn kêu rú lên rồi hay tay bụm lấy mặt, đứng im. Thưa tiên sinh, tôi rất lấy làm tiếc về chuyện này. Tôi biết, hành vi đưa tay ra chặn tôi lại của hắn chứng minh rằng, hắn là một hiệp sĩ đạo đức, nhưng việc máu bẩn từ miệng tôi - một thứ máu rút ra từ nội tạng của một kẻ đang giãy giụa trước cái chết - bắn lên mặt hắn, làm bẩn mặt hắn, làm hỏng đôi mắt hắn đã khiến tôi cảm thấy ân hận vô cùng. Nếu tôi là một kẻ có tư cách và có tấm lòng cao thượng thì dù có dao kề vào sau lưng, tôi vẫn phải đứng lại để nói một lời xin lỗi, cầu mong hắn tha thứ cho mình. Nhưng tôi đã không làm thế, thưa tiên sinh, tôi đã phụ lòng những lời dạy bảo của ngài. Tiếp theo đó là có mấy người ra vẻ phong lưu quân tử đang đứng hai bên đường cũng lên tiếng quát tháo nhưng không lao ra để bắt tôi. Có lẽ vì những bậc quân tử ấy sợ vấy phải máu bẩn từ miệng tôi chẳng? Họ chỉ quát tháo và quẳng vào tôi một vài lon Coca Cola đang uống dở cầm sẵn trên tay. Cái màu đen đen vàng vàng giống như màu nước tương tượng trưng cho văn hóa Mỹ ấy bắn lên người tôi và rơi xuống, bọt màu tương chảy lênh láng ra đường...

Thưa tiên sinh,

Mọi việc rồi cũng đến lúc kết thúc, cho dù là chuyện tốt đẹp đến đâu hay là tệ hại đến đâu tất yếu sẽ dẫn đến hồi kết. Cuộc rượt đuổi và chạy trốn không rõ phải trái, không rõ chính tà ấy cuối cùng cũng kết thúc khi tôi dùng chút sức lực để chạy những bước ngắn chuyến choáng đến trước bệnh viện Gia Bảo do Trung - Mỹ hợp tác và ngã xuống. Lúc ấy, có một chiếc xe BMW sang trọng lấp lánh màu ngọc xanh từ trong những lùm cây xanh ngắt và không gian sực nức mùi thơm của các loài kỳ hoa dị thảo từ từ lăn bánh ra cổng. Việc tôi nằm thoi thóp trước cổng chắn mất lối đi và tất nhiên là bộ dạng toàn thân đầy máu trông chẳng khác một con chó từ trên trời rơi xuống của tôi lúc ấy khiến cho người ngồi trên xe không mấy vừa lòng. Trước tiên là anh ta sẽ hoảng sợ, sau đó là tức giận. Tôi biết, những người càng giàu sang phú quý thì càng mê tín, trình độ giàu sang tỉ lệ thuận với trình độ mê tín. Tôi cũng biết, hạng người này tin vào số mệnh hơn và đặc biệt là họ tiếc mạng sống hơn so với hạng người bình dân. Âu đó cũng là điều bình thường cả thôi. Việc tôi đột nhiên lăn đùng ra đất trước bánh xe của họ khiến chiếc BMW như con ngựa đang chạy bị giật mạnh giây cương, hai vó trước dựng đứng lên trời hí vang, tiếng còi xe kêu lên inh ỏi. Tôi thành thật xin lỗi, vô cùng xin lỗi vì chuyện này. Tôi co quắp, tôi không còn chút sức lực nào nữa, tôi sắp chết. Nhưng trong tiềm ý thức, tôi vẫn biết rằng mình cần phải bò đi nơi khác, ít ra là đừng nên cản mất lối đi của chiếc xe sang trọng kia, nhưng toàn thân tôi lại không thể nhúc nhích, tôi như một con sâu nhỏ bị một chiếc đinh ghim vô tình ghim cứng xuống mặt đất, không thể chuyển động được. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhớ lại một trò chơi độc ác của mình thở nhỏ, thậm chí là trong lúc đã trưởng thành: Dùng gai nhọn ghim những con sâu bất kỳ lớn hay nhỏ, màu xanh hay màu đen xuống đất hoặc trên tường rồi điềm nhiên khoanh tay đứng nhìn nó quằn quại, giãy giụa, nhấm nháp nỗi tuyệt vọng của một kẻ muốn bò về phía phía trước để được sống nhưng sức lực không thể phục tùng được ý thức. Những lúc ấy, tôi không hề xúc động, thậm chí là cảm thấy thích thú vì trò chơi độc ác của mình. So với những con sâu là nạn nhân ấy, tôi to xác hơn nhiều, tôi khỏe hơn nhiều, to xác và khỏe đến độ những con sâu ấy không thể biết được dung mạo của tôi ra sao. Đối với loài sâu bọ mà nói, tôi chính là một lực lượng hủy diệt thần bí nhưng vô cùng kinh hoàng, thậm chí chúng không thể hình dung được tay tôi đã biểu diễn những động tác độc ác ấy như thế nào, có thể chúng chỉ kịp nhận ra có một đầu một mũi kim hay một mũi gai đâm xuyên qua thân thể chúng mà thôi. Lúc này, chính tôi lại đang trải nghiệm những nỗi thống khổ do tôi mang lại cho những con sâu nhỏ bé. Xin lỗi nhé, các bạn sâu bọ, thành thật xin lỗi! I am sorry!

Tôi trông thấy một người đàn ông đang ngồi phía trước, đập đập tay phải lên tay lái và tiếng còi xe kêu lên nhưng đã ít inh ỏi hơn, thậm chí là có một chút mềm mỏng nhẫn nại. Điều này chứng minh, lái xe là một người có giáo dục, có tính cách khá kiên nhẫn và điềm đạm, cũng chứng minh rằng anh ta không phải là một kẻ thâm độc và bạo tàn. Nếu anh ta là người thâm độc và bạo tàn, anh ta nhất định sẽ ấn còi xe để nó kêu lên như còi báo động phòng không. Nếu anh ta là kẻ nóng nảy, anh ta sẽ thò đầu ra khỏi cửa xe và sẽ chửi tôi bằng những lời lẽ thô tục nhất. Vì anh ta, vì một người tốt, ý thức tránh đường của tôi càng trở nên thôi thúc hơn... Nhưng tôi không thể, thân thể không nghe theo mệnh lệnh của lý trí tôi nữa rồi!

Cuối cùng thì người đàn ông ấy không đủ kiên nhẫn nữa, anh ta đã rời khỏi xe. Anh ta mặc một bộ quần áo dành cho những lúc nghỉ ngơi màu vàng nhạt, ống tay và cổ áo lại có viền một đướng viền màu vàng sậm pha đỏ. Tôi chợt nhớ, khi còn tha phương cầu thực ở kinh đô Bắc Kinh, tôi có nghe một người rất thông thạo trong việc ăn mặc nhắc đến kiểu quần áo này nhưng lúc này, đầu óc tôi lú lẫn nên không thể nhớ được tên tiếng Trung của nó là gì. Thực ra mà nói thì tôi có một tính xấu là không thể (có thể nói là không thèm) nhớ tên các loại hàng hóa danh tiếng và tự xem đó là một cách thức thể hiện sự phản đối của mình, chuyện này cũng giống như tôi phản đối chuyện coi trọng bánh mì mà coi thường bánh bao, cũng giống như tôi phản đối chuyện người ta coi trọng pho-mát mà khinh rẻ nước tương vậy. Sau khi xuống xe, người đàn ông không hề đánh cũng không hề chửi tôi, chỉ vội vàng ra lệnh cho người bảo vệ bệnh viện: Khiêng ông ta sang một bên!

Sau khi ra lệnh, đột nhiên anh ta ngẩng đầu lên, nhìn thẳng về phía mặt trời như tìm thấy một sự trợ sức rồi cong người hắt xì hơi liên tục mấy cái. Mọi chuyện cũ ngay lập tức được khôi phục trong ý thức mù mờ của tôi. Một lần nữa, nhờ vào tiếng hắt xì hơi rất đặc biệt ấy mà tôi nhận ra anh ta: Tiêu Hạ Thần, Tiêu Hạ Xuân! Là người bọn học thuở nhỏ của tôi, đã từng là quan lớn và lúc này là đại phú ông! Nghe đâu là sau khi bị thất sủng trên đường quan chức, Tiêu Hạ Thần lại gặp vận may, lợi dụng lúc chính sách nhà nước bắt đầu cải cách mở cửa, cũng lợi dụng những người mà hắn ta đã từng “đào tạo”, “bồi dưỡng” trong khi đang là quan lớn để xuất kích trên khắp các lĩnh vực và từ đó, tiền bạc từ bốn phương tám hướng chảy về túi hắn ta như suối, trở thành hạng “mười tỉ” của đất nước này. Tôi có đọc một bài viết về Tiêu Hạ Thần và trong bài viết ấy, hắn ta có nhắc lại chuyện ăn than đá thuở thiếu thời. Thực ra, tôi nhớ rất rõ là Tiêu Hạ Thần không hề ăn than đá, hắn chỉ đứng nhìn chúng tôi ăn và săm soi một mảnh than đá trong tay - Thưa tiên sinh, ngài nghĩ xem, trong hoàn cảnh bi thảm đến như vậy mà tôi lại đủ tỉnh táo để biện luận và bình phẩm chuyện này, đúng là hết thuốc chữa!

Một nhân viên bảo vệ không thể đỡ nổi tôi nên phải cần đến hai người, mỗi người xốc một bên nách tôi với thái độ cũng khá thân thiện, đưa tôi đến bên cạnh tấm biển quảng cáo to tướng nằm ở phía đông cổng bệnh viện, đặt tôi ngồi xuống ngay ngắn, lưng tựa vào tường rào. Tôi thấy Tiêu Hạ Thần chui trở vào xe và nó nhẹ nhàng êm ái lướt qua gờ chắn giảm tốc độ của cổng bệnh viện rồi rẽ trái. Nói là tôi trông thấy nhưng thực ra thì tôi tưởng tượng được, ngồi ở hàng ghế sau của chiếc xe là cô gái có thân hình và khuôn mặt xinh đẹp Tiểu Tất và trong lòng cô ta, đang có một đứa hài nhi đỏ hỏn.

Những người đuổi theo tôi đã đuổi đến nơi. Hai người đàn bà, thằng bé, gã đàn ông bị tôi phun một búng máu vào mặt và gã thanh niên dùng lon nước Coca Cola ném tôi đều đã có mặt và đang cúi đầu nhìn tôi. Trước mắt tôi, mấy khuôn mặt ấy tạo thành một bức tranh lung linh, mờ ảo. Thằng bé vẫn còn muốn dùng chiếc xiên nướng cá đâm tiếp nhưng tay nó đã bị người đàn bà trẻ hơn giữ lại. Người có dáng dấp là một vị giáo sư đưa đôi bàn tay trắng xanh với những ngón tay thon dài ra sờ sờ vào mũi tôi, tôi biết anh ta đang thăm dò tôi còn thở hay không. Tôi ngừng thở, có lẽ đó là một cách tự bảo vệ mình lúc này. Thuở bé tôi đã từng nghe một ông già trong làng đã từng lưu lạc tận vùng Quan Đông quay về nói rằng, khi đi trong rừng, chẳng may gặp hổ hay gấu chó, cách tốt nhất là nằm thẳng xuống đất, nín thở giả chết. Thường thường thì loài mãnh thú đều có ít nhiều khí độ anh hùng, anh hùng không đánh kẻ cùng đường, mãnh thú không ăn xác chết. Chiêu này cực kỳ hữu hiệu, vị giáo sư nọ thoáng lặng người, không nói một tiếng, quay người bỏ chạy. Hành động của anh ta như báo cho mọi người chung quanh biết rằng: Người này đã chết! Cho dù trong mắt họ, tôi là kẻ đã ăn cắp tiền bạc tài sản của người khác. Nhưng pháp luật trên đất nước tôi không cho phép những công dân nghĩa hiệp có quyền ra tay đánh chết những kẻ trộm cắp trên đường phố. Chính vì vậy mà bọn họ đã giải tán rất nhanh bởi ai cũng ý thức được rằng, trong cuộc sống này bớt được một việc lúc nào cũng hay hơn chuyện phải gánh thêm một việc. Hai người đàn bà nọ cũng vội vàng dắt thằng bé đi mất. Tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm nhưng chưa vội ngồi dậy. Tôi cần phải thể nghiệm thêm sự uy nghiêm và tôn quý của người đã chết!

Nhất định là một trong hai nhân viên bảo vệ đã báo cảnh sát, bởi vì khi chiếc xe cảnh sát hụ còi inh ỏi lao đến thì chỉ còn có hai người họ ra đón và nói gì đó với cảnh sát. Ba nhân viên cảnh sát đến trước mặt tôi và hỏi thăm nhiều chuyện. Cả ba đều rất trẻ, răng đều có màu vàng chứng minh họ là người Đông Bắc Cao Mật. Sống mũi tôi cay cay và nước mắt trào ra và cuối cùng thì không nhịn được nữa, giống như một đứa trẻ bị người lớn phạt đòn oan, tôi ôm mặt khóc ngất, vừa khóc vừa kể. Chỉ có một trong ba cảnh sát, người có nốt ruồi đen giữa hai đầu lông mày là nghe tôi kể một cách chăm chú, còn hai người kia thì ngước mắt lơ đãng nhìn lên tấm biển quảng cáo. Chờ cho tôi kể xong, viên cảnh sát có nốt ruồi nói: “Làm sao có thể chứng minh được rằng những gì ông nói đều là sự thật?” Tôi nói: “Các ông có thể đi hỏi Trần Tị”. Một người cảnh sát mắt vẫn nhìn lên tấm biển quảng cáo nhưng miệng thì lại hướng về phía tôi, hỏi: “Ông thấy thế nào, có cần phải đưa ông vào bệnh viện không?” Tôi động đậy đôi chân, đã cử động được; tôi liếc nhìn những vết đâm trên vai trên tay, máu đã khô không còn chảy nữa. Người cảnh sát có nốt ruồi nói: “Nếu không sợ phiền phức thì về đồn cảnh sát để viết tường trình, nếu sợ phiền phức thì về nhà mà tự điều trị”. Tôi nói: “Có lẽ nào không thể phân biệt phải trái thị phi trong chuyện này sao?” Cảnh sát có nốt ruồi nói: “Ông già ơi, chuyện phải trái thị phi đương nhiên là phân biệt được. Nhưng ông phải cho chúng tôi chứng cứ và chứng nhân chứ. Ông có thể bảo Trần Tị và những người bán cá kia làm chứng không? Ông có đảm bảo là hai người đàn bà và thằng bé ấy không phản đòn và cắn thêm cho ông một miếng không? Thằng bé ấy chính là cháu ngoại của tên thổ phỉ Trương Quyền ở thôn Đông Phong. Đúng là một thẳng bé hư hỏng, nhưng nó vẫn là một thằng bé, ông làm gì được nó?”. Tôi nói: “Được rồi. Thế thì thôi vậy, cứ cho như tôi không may vậy” - “Bị vấp ngã một lần thì lớn thêm một chút. Ngần này tuổi rồi cũng nên bớt quan tâm đến chuyện không phải của mình đi, ở nhà giữ cháu, hưởng thụ niềm vui tuổi già có hơn không cơ chứ!” - “Cám ơn các vị, đúng là tôi đã làm hao phí xăng dầu của nhà nước, làm phiền toái đến công việc của các vị!” - “Ông già, ông đang châm chọc chúng tôi có phải không?” - “Không dám không dám, tôi nào dám châm chọc các vị, tôi đang nói thực lòng, mười hai nghìn lần thực lòng!”. Người cảnh sát có nốt ruồi cùng với một người có thân hình thật cao đi về phía xe, còn một người mặt vuông miệng rộng thì vẫn đứng chăm chú nhìn biển quảng cáo, chưa có ý định ra về. Cảnh sát có nốt ruồi gọi: “Anh Vương, đi thôi! Thấy trẻ con là không thể rời chân được nữa sao?” - Cảnh sát mặt vuông miệng rộng nói như than thở: “Đáng yêu quá! Đáng yêu quá!” - Cảnh sát có nốt ruồi nói: “Thế thì mau mau cho chị tôi ở nhà con giống đi!” - Cảnh sát mặt vuông miệng rộng nói: “Vợ tôi như một khoảnh ruộng muối, có gieo hạt cũng chẳng thể ươm mầm!” - Cảnh sát cao gầy nói: “Anh cũng đừng nên đổ lỗi cho chị ấy, chính anh cũng phải đi kiểm tra xem, biết đâu là hạt giống của anh đã bị rang chín mất rồi!” - Cảnh sát mặt vuông miệng rộng nói: “Không thể thế được...”.

Họ nói chuyện râm ran và lên xe, để tôi ngồi dưới tấm biển quảng cáo. Tôi cảm thấy uất ức vô cùng nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn. Nhưng cho dù tôi có theo họ về đồn công an để viết tường trình thì mọi chuyện liệu có tiến triển đến đâu? Hai người đàn bà ấy vốn là hai trong ba đứa con gái của nhà Trương Quyền. Cô tôi vốn được xem là kẻ thù của nhà họ và cũng rất tự nhiên tôi hiểu, tại sao thằng bé ấy lại đem ếch dọa cô tôi. Nó làm như vậy chắc chắn là do sự chỉ đạo của mẹ hoặc dì nó nhằm trả thù cho bà ngoại nó, cho dù cái chết của bà ta hoàn toàn không có lỗi của cô tôi. Với hạng người ấy thì làm gì có thứ đạo lý nào. Thôi vậy, cứ cho là tôi xui xẻo vậy. Đây chính là ông trời đang thử thách tôi, nhẫn nhục thôi, có thể nhẫn nhục là có thể bình yên. Tôi là người có chí, tôi là một nhà soạn kịch đang sáng tác một vở kịch để đời. Tất cả những gì tôi đã nhận được, đã cảm thụ được biết đâu đó lại là tài liệu để tôi sáng tác? Để trở thành vĩ nhân thì phải biết nhẫn nhục trước những gì mà người bình thường không thể nhẫn nhục được, phải biết chịu nhục, biết chịu khổ cũng như Hàn Tín ngày xưa phải chui qua háng tên đồ tể, như Khổng Phu Tử chịu đói, như Tôn Tẫn phải tự ăn cứt của mình... So với những thánh nhân, những người hiền tài ấy, tôi chịu khổ một tí, chịu nhục một tí thế này thì có đáng là bao? Thưa tiên sinh, nghĩ như vậy, tôi thấy mình tự nhiên có khí thế hẳn lên, những nỗi uất ức tan biến, tôi đã thở được, mắt tôi cũng đã sáng lên và sức lực cũng dần dần hồi phục. Khoa Đẩu, đứng dậy! Ngươi phải dũng cảm chấp nhận đau khổ, không được oán trách ai, không được hận ai!

Tôi đứng dậy. Cho dù vết thương đau nhức, bụng đói meo, chân mềm oặt, mắt nổ đom đóm... nhưng tôi kiên quyết không để cho mình ngã xuống. Ban đầu, tôi cứ nghĩ là có rất nhiều người đang quan sát tôi, nhưng thực ra là không có ai cả, ngay cả hai nhân viên bảo vệ bệnh viện cũng chẳng thèm liếc qua tôi lấy một cái. Điều này chứng minh những lời Lý Thủ đã nói với tôi là hoàn toàn chính xác. Nhớ đến Lý Thủ, tôi lại chạnh nghĩ đến đứa con của tôi đang nằm trong bụng Trần Mi. Nhưng lúc này cảm giác của tôi rõ ràng là không giống như lúc sáng nữa. Sáng nay, tôi vẫn cứ nghĩ trăm phương nghìn kế để loại bỏ đứa bé này, nhưng lúc này, suy nghĩ của tôi đã thay đổi. Khi tôi ngước đầu nhìn lên tấm bảng quảng cáo, tôi đã xác định một cách chắc chắn: Tôi cần đứa trẻ này! Tôi nhất định phải có đứa trẻ này! Đó là bảo bối mà ông trời đã ban cho tôi. Tất cả những gì tôi đang chịu đựng lúc này đều vì nó!

Thưa tiên sinh,

Bây giờ tôi mới đề cập đến tấm bảng quảng cáo. Trên tấm bảng, người ta dán đến hàng trăm tấm ảnh trẻ con được phóng đại lên. Có đứa đang cười, có đứa đang khóc; có đứa nhắm mắt, có đứa nheo mắt; có đứa đôi mắt mở tròn xoe, có đứa một mắt nhắm một mắt mở; có đứa nhìn lên trời cao, có đứa nhìn xuống đất thấp; có đứa vươn hai tay lên như muốn ôm một vật gì đó vào lòng; có đứa hai tay nắm lại thành hai nắm đấm, nét mặt như không vừa ý điều gì đó; có đứa nhíu mắt lại mà cười, có đứa trợn tròn mắt mà khóc; có đứa trên đầu không có sợi tóc, có đứa thì đầy đầu là tóc đen nhưng cũng có rất nhiều đứa tóc vàng mềm mại, tóc nâu xoăn tít; có đứa đang nhăn mày nhíu trán trông chẳng khác một lão già; có đứa mập tròn tai to trông chẳng khác một chú lợn con; có đứa trắng như trứng gà bóc vỏ; có đứa đen trông chẳng khác một hòn than; có đứa méo miệng như đang tức giận; có đứa há mồm như đang kêu gào; có đứa thè chiếc lưỡi đỏ hồng như đang thèm sữa; có đứa mắt hai mí, có đứa mắt một mí; có đứa đầu tròn vo như một quả dưa hấu; có đứa đầu dài dài như một quả bí đao; có đứa cau mày như một nhà tư tưởng, có đứa liếc nhìn như một diễn viên... Nói chung, mỗi đứa mỗi vẻ mỗi dạng, sinh động đến độ thần kỳ nhưng tất cả đều có một điểm chung: Đáng yêu! Từ những dòng chữ trên tấm bảng, tôi biết đây là những đứa trẻ đã được sinh ra trong bệnh viện này kể từ ngày thành lập đến nay và những người trong bệnh viện đã xem đó như một thành quả của mình. Vâng, thưa tiên sinh, đây chính là một sự nghiệp vĩ đại, một sự nghiệp cao thượng, một sự nghiệp ngọt ngào... Thưa tiên sinh, tôi đang xúc động, thậm chí là bị kích động. Nước mắt tôi đã trào ra. Tôi nghe thấy một tiếng gọi thần thánh, tôi cảm nhận được một tình cảm nghiêm túc nhất của thế giới loài người. Đó chính là sự yêu quý về sinh mệnh. So với sinh mệnh, tất cả đều trở thành dung tục; mọi thứ tình yêu khác đều trở nên thô thiển trước tình yêu thương sinh mệnh con người. Thưa tiên sinh, tôi cảm thấy linh hồn mình như vừa được tắm gội bởi một thứ nước thần thánh, tôi cảm nhận được tội ác của tôi trong quá khứ và cuối cùng tôi cũng đã có được một cơ hội để trả nợ. Cho dù nhân của việc này như thế nào, cho dù quả của việc này ra làm sao, tôi cũng đều vươn cánh tay của mình ra để nhận lấy bảo bối mà trời đã ban cho mình!


11.

Thưa tiên sinh,

Ngày ấy, khi đứng dưới tấm bảng quảng cáo có ảnh của mấy trăm đứa bé ấy, tôi cảm thấy linh hồn mình như vừa được tắm gội bởi một thứ nước thần thánh. Và tôi nhận ra rằng, những do dự, bàng hoàng của tôi; tôi bị người ta đánh, người ta đâm, người ta làm nhục, người ta chửi, người ta truy sát..., tất cả đều trở thành một quá trình tất yếu giống như Đường Tam Tạng muốn lấy được kinh phải vượt qua tám mốt tai nạn. Không chịu cực chịu khổ thì làm sao tu thành chánh quả. Không trải qua khổ đau, làm sao có thể đốn ngộ được nhân sinh!

Sau khi về đến nhà, tôi dùng cồn để rửa các vết thương. Đó là thứ cồn được sản xuất tận Vân Nam chuyên trị các vết thương do kim loại bị gỉ đâm vào người. Tuy những cảm giác đau rát không thể trôi qua một cách nhanh chóng nhưng tinh thần tôi sung mãn lạ thường. Sau khi “Tiểu sư tử” về nhà, tôi ôm lấy cô ấy, dùng chiếc cằm đầy râu của mình mà dụi vào mặt, vào ngực cô ấy. Đây là những lời thủ thỉ của tôi bên tai “Tiểu sư tử”: “Bà xã yêu quý, em đã cho anh một đứa con. Tuy nó không đến với cuộc đời này qua tử cung của em. Nhưng em đã dùng cả trái tim, cả tấm lòng để nuôi dưỡng nó, do vậy, nó là con ruột của chúng ta!”.

“Tiểu sư tử” khóc òa.

Thưa tiên sinh,

Tôi ngồi bên bàn, vừa viết thư cho ngài vừa suy nghĩ là phải chăm sóc đứa con tương lai như thế nào. Chúng tôi đều đang bước đến tuổi sáu mươi, tinh thần và thể lực đã bắt đầu suy kiệt. Nghe người ta nói rằng cần phải tìm một người bảo mẫu hoặc là thuê một người phụ nữ nào đó đang thời kỳ cho con bú sữa để cho con chúng tôi có thể có được dòng sữa tươi thơm từ người mẹ. Mẹ tôi đã từng nói rằng, dùng sữa dê hoặc sữa bò cho con ăn cũng có thể, nhưng đứa bé sẽ không cảm nhận được tính người. Cho dù sữa bò có thể nuôi một đứa trẻ lớn lên nhưng rất nhiều nguy hiểm, những kẻ gian thương táng tận lương tâm sẵn sàng cho những chất độc hóa học vào sữa. Những nhà hóa học cũng có thể dùng sữa để thực nghiệm những công trình vĩ đại của mình. Ai mà biết được là nuôi trẻ bằng sữa bò, chúng sẽ biến thành một đứa trẻ như thế nào? Bây giờ chúng không còn đuôi nữa, nhưng biết đâu rằng mấy năm nữa, cái đuôi của chúng sẽ thò ra và vổng lên trời và từ đó, chúng nghĩ ra trăm phương nghìn kế để hại người khác. Tôi biết, chất sữa tốt nhất trên thế gian này không đâu bằng những giọt sữa tiết ra từ đầu vú của bà mẹ. Những giọt sữa của người mẹ bao hàm trong đó không biết bao nhiêu là vật chất thần kỳ, những vật chất thần kỳ ấy đã “vật hóa” thành tình mẫu tử. Tôi nghe nói, có một số người tìm người đẻ thay, sau khi nhận con đã không tiếc tiền, bỏ ra nghìn vàng để mua nốt những giọt sữa của người đẻ ra con mình. Thậm chí có người còn để cả con của mình bên bà mẹ đẻ thay ấy cho nó bú đến cả tháng trời mới nhận về. Đương nhiên, để làm được điều này phải thêm rất nhiều chi phí. “Tiểu sư tử” nói với tôi rằng những người ở công ty đẻ thay đã kiên quyết phản đối cách làm này. Họ nói, sau khi cho đứa trẻ bú một thời gian, nhất định tình mẫu tử giữa đứa trẻ và bà mẹ bất đắc dĩ ấy sẽ hình thành và càng ngày càng sâu đậm thêm và tất nhiên là sự việc sẽ trở nên phiền phức vô cùng. Đôi mắt “Tiểu sư tử” lấp lánh, nói:

“Em sẽ là mẹ của nó. Em sẽ có sữa để nó bú!”

Trước đây tôi đã từng nghe mẹ tôi nói về chuyện này nhưng tôi vẫn nghĩ đó là chuyện truyền kỳ, không tin tưởng lắm. Có lẽ, tôi nghĩ, với những cô gái trẻ đã từng quan hệ tình dục và đặc biệt là đã từng sinh nở, vú họ đã ít nhiều đã tiết ra sữa. Lúc này, dưới sự kích thích của mồm đứa trẻ và dưới sự chi phối rất lớn của tình yêu khiến ký ức về những lần tiết sữa được đánh động, có thể sẽ cho ra sữa. Nhưng với một người đàn bà gần sáu mươi như “Tiểu sư tử”, lại chưa bao giờ biết sinh đẻ, liệu kỳ tích ấy có thể xảy ra? Nếu đó là chuyện có thật, sẽ là một kỳ tích, thậm chí có thể nói là thần tích.

Thưa tiên sinh,

Vẫn biết là mình đang viết những điều rất dung tục, nhưng tôi không hề xấu hổ với ngài. Ngài đã từng nuôi nấng một đứa trẻ thành người trong lúc nó đã bị bệnh viện phán tội chết bằng tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người. Trong quá trình nuôi dưỡng đứa trẻ ấy, ngài đã từng thể nghiệm được những kỳ tích trong thế giới loài người. Do vậy, tôi nghĩ là ngài sẽ hiểu được tâm trạng của tôi lúc này và đương nhiên ngài cũng thông cảm được cho những hành vi quỷ quái của vợ tôi: Gần đây, hầu như đêm nào cô ấy cũng đòi làm tình với tôi, tôi có cảm giác cô ấy đã rùng mình để từ một củ sắn luộc biến thành một quả đào tơ. Đây cũng là một kỳ tích khiến tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng. Lần nào cũng thế, cô ấy luôn nhắc nhở tôi: Khoa Đẩu à, anh nên nhẹ nhẹ một chút, không được hùng hục như thế. Đừng làm ảnh hưởng đến con chúng ta! Và lần nào cũng thế, sau khi mọi chuyện xong xuôi, cô ấy cầm lấy tay tôi đặt lên bụng mình, nói: Anh có nghe thấy không, con đang đạp trong bụng em! Mỗi buổi sáng, cô ấy vẫn dùng nước ấm để rửa đôi bầu vú của mình, nhẹ nhàng kéo đầu vú ra thật dài rồi lại thả cho nó co vào.

Tôi báo tin cho bố biết là “Tiểu sư tử” đã có mang được sáu tháng. Người bố gần chín mươi tuổi của tôi nước mắt lưng tròng, hàm râu rung rung nói trong cảm động:

“Ông trời có mắt, tổ tông hiển linh, ở hiền gặp lành... A Di Đà Phật!”.

Thưa tiên sinh,

Những vật dụng cần thiết cho đứa con gần như đã được chúng tôi sắm sửa đầy đủ, tất cả đều là những loại hàng tốt nhất: Chiếc xe nôi do Nhật Bản sản xuất; chiếc giường nhỏ do Hàn Quốc sản xuất; tả lót được sản xuất tại Thượng Hải... “Tiểu sư tử” cương quyết không chịu mua bình sữa, tôi khuyên nhủ nói: Chẳng may sữa không đủ cho con bú...? Thôi thì mua một cái để dự phòng. Cuối cùng thì chúng tôi cũng mua một chiếc bình sữa của Pháp và một lon sữa bột nhập khẩu từ New Zealand. Vẫn chưa tin tưởng hoàn toàn vào loại sữa bột này, tôi đề nghị mua một con dê sữa và nhờ bố tôi nuôi. Chúng tôi có thể chuyển về ở với bố, ngày nào cũng có thể dùng được sữa dê tươi cho con bú. “Tiểu sư tử” nắn nót đôi bầu vú đồ sộ của mình, nói một cách bất mãn:

“Em tin là sữa sẽ chảy ra như suối từ hai bầu vú của em”.

Con gái tôi ở Tây Ban Nha gọi điện thoại về, hỏi bố mẹ đang bận rộn chuyện gì phải không. Tôi nói: “Yến Yến à, bố xấu hổ vô cùng nhưng cũng rất vui để báo với con tin này. Mẹ con đã có thai, một thời gian ngắn nữa là con sẽ có em trai thôi”. Tôi cảm nhận ra con bé đang sững sờ, lâu lắm mới kêu lên vừa ngạc nhiên vừa vui vẻ: “Bố à, chuyện này là thật đấy chứ?” - “Đương nhiên là thật rồi”. “Nhưng... mẹ cũng đã gần sáu mươi!” - “Con lên mạng mà xem, gần đây có một phụ nữ Đan Mạch sáu mươi hai tuổi vẫn đẻ được một đứa con vô cùng khỏe mạnh”. Con bé hoan hô: “Tốt quá! Bố! Con chúc mừng bố, nhiệt liệt chúc mừng! Bố mẹ có cần con giúp gì không? Con sẽ gửi về cho bố mẹ” - “Không cần gì cả, tất cả đều đã đầy đủ, cái gì cần đều đã có” - “Nhưng cho dù bố mẹ cần hay không, con cũng phải mua gửi về để biểu thị sự thành ý của chị gái đối với em mình. Bố à, con chúc mừng bố mẹ, thì ra sắt gỉ nghìn năm cũng có thể khai hoa, cây khô vạn năm cũng có thể ươm mầm! Bố mẹ đã sáng tạo nên một kỳ tích!”.

Thưa tiên sinh,

Tôi luôn luôn cảm thấy mình có điều gì đó không phải với con gái, bởi cái chết của mẹ nó có liên quan trực tiếp với tôi. Vì cái gọi là tương lai, là tiền đồ của mình, tôi đã hủy diệt sinh mạng của Vương Nhân Mỹ và cái hình hài nhỏ nhoi nằm trong bụng cô ấy. Nếu đứa trẻ ấy còn sống, lúc này đã là một thanh niên hai mươi mấy tuổi. Lúc này, cho dù nói gì thì nói, tôi lại có một đứa con nữa, tôi tự an ủi mình: Đứa con này chính là đứa trước kia. Chẳng qua nó ra đời muộn hơn hai mươi năm mà thôi, nhưng cuối cùng thì nó cũng đã ra đời.

Thưa tiên sinh,

Tôi cũng vô cùng đáng tiếc để báo cho ngài biết, vở kịch ấy đành lòng phải để sau này hẵng viết vậy. Một đứa trẻ sắp ra đời đương nhiên là quan trọng hơn rất nhiều lần so với sự ra mắt của một vở kịch. Cũng có thể nói, biết đâu rằng đó lại là một chuyện đáng mừng. Bởi những ý tưởng của vở kịch đã hình thành trong đầu tôi trước đây chỉ toàn là ngắt quãng, xám xịt, đầy máu và nước mắt, chỉ có sự hủy diệt mà không hề có chút sức sống, chỉ có tuyệt vọng mà không hề le lói chút hy vọng. Loại tác phẩm như thế mà xuất hiện chỉ có tác dụng đầu độc tâm linh con người và như thế tội lỗi tôi gây ra càng thêm nặng nề. Xin ngài hãy tin tưởng tôi, thưa tiên sinh, tôi nhất định sẽ viết vở kịch này. Chờ cho đến khi đứa bé ra đời, tôi sẽ cầm lấy cây bút để viết những lời ca tụng cho một sinh mệnh mới. Thưa tiên sinh, tôi sẽ không bao giờ làm ngài thất vọng đâu.

Trước đây mấy ngày, tôi đã đưa “Tiểu sư tử” đến thăm cô tôi. Ngày ấy trời rất trong, nắng rất ấm. Hai cây hòe trong vườn nhà cô tôi đang nở hoa rực rỡ và cũng không ít những đóa hòe đã bắt đầu rụng xuống gốc. Cô tôi đang ngồi dưới gốc hòe, mắt nhắm nghiền, miệng lầm rầm như đang tụng kinh. Những cành hoa quỳ đang bám đầy trên mái tóc trắng và rối của cô, có mấy con ong đang bay lượn vòng quanh mái tóc của cô. Trên một phiến đá đặt bên cạnh cửa sổ, Hách Đại Thủ đang ngồi trên một chiếc ghế vuông. Trên tay của người được huyện phong tặng là nghệ sĩ dân gian này đang có một cục đất sét. Ông ấy đang nặn búp bê. Đôi mắt Hách Đại Thủ nhắm nghiền, thần thái như phiêu diêu tận đâu. Cô tôi đang lẩm nhẩm như trong mơ:

“Thằng bé này, bố nó có khuôn mặt tròn tròn, đôi mắt nhỏ mà dài, sống mũi nở, đôi môi dày, hai vành tai rất to. Mẹ nó có khuôn mặt dài như một quả bí đao, mắt hai mí, miệng nhỏ, sống mũi cao, hai vành tai rất mỏng, không có dái tai. Thằng bé này về căn bản là học theo mẹ nó, nhưng miệng nó thì lại lớn hơn một chút, môi cũng dày hơn môi mẹ nó một chút, vành tai nó lớn hơn vành tai mẹ nó một chút, sống mũi thấp hơn của mẹ nó một chút...”.

Chúng tôi trông thấy, sau những lời lẩm nhẩm của cô, một đứa trẻ bằng đất dần dần thành hình trên tay của dượng tôi - Hách Đại Thủ. Ông ấy dùng một que trúc nhỏ và vẽ mắt cho nó, ngắm nhìn rất lâu và chỉnh sửa một vài chi tiết rồi đặt lên một miếng ván nhỏ, đưa đến trước mặt cô tôi. Cô cầm lấy con búp bê nhìn qua một lần rồi nói:

“Mắt to hơn tí nữa, môi dày thêm tí nữa”.

Dượng tôi đón lấy con búp bê, tiếp tục chỉnh sửa rồi lại đưa cho cô, đôi lông mày bạc trắng của ông ấy rung rung, ánh mắt như hai tia chớp.

Cô tôi cầm lấy con búp bê, đưa ra xa ngắm rồi lại đưa gần vào ngắm tiếp. Trong lúc ngắm xa ngắm gần, nét mặt cô đầy vẻ nhân ái. “Đúng là nó!” - Đột nhiên giọng cô tôi đã đổi khác - “Đúng rồi, với bộ dạng này!” - Cô nói với con búp bê - “Đúng là mày! Mày là một tiểu tinh linh! Một con tiểu quỷ! Trong số hai nghìn tám trăm đứa trẻ mà bà cô đây đã từng hủy diệt thiếu mất mày! Mày đã đến! Đúng là mày đã đến!”.

Tôi đặt chai rượu “Ngũ lương dịch” lên bệ cửa sổ, “Tiểu sư tử” đặt một hộp bánh dưới chân cô rồi đồng thanh nói: “Cô, chúng cháu đến thăm cô đây!”.

Bộ dạng cô tôi lúc này giống như đang làm điều gì đó cấm kỵ mà bị người ta phát hiện, hơi hốt hoảng, những cử động chân tay trở nên vụng về. Cô vén áo lên như muốn che con búp bê, nhưng che không kín, bèn buông chéo áo ra, thở dài nói: “Ta không muốn giấu các người nữa”.

Tôi nói: “Cô à, chúng cháu đã xem cuốn băng mà Vương Can đưa cho. Chúng cháu rất hiểu cô, hiểu tâm trạng của cô”.

“Hiểu là tốt rồi” - Cô đứng dậy, tay vẫn ôm con búp bê vừa được nặn xong, đi vào nhà. Không ngoái đầu lại, giọng cô buồn buồn nói với chúng tôi - “Đi theo ta” - Thân hình mập mạp cộng với bộ đồ đen của cô hình như gây cho chúng tôi một cảm giác thần bí. Chúng tôi đã từng nghe bố nói rằng, thần trí của cô tôi có một chút không bình thường nên sau khi về quê, tôi đã có ý dò la thực hư thế nào. Nghĩ lại một thời kỳ vinh quang hiển hách của cô và đối sánh với những gì mà tôi trông thấy lúc này, tôi không tránh khỏi bùi ngùi.

Bên chái nhà phía đông, bóng tối bao trùm, một làn khí ẩm thấp lạnh lẽo và mốc meo ập vào mũi tôi. Cô giật giật sợi dây điện bò trên tường và một lát sau, chiếc bóng đèn 100 oát sáng lên khiến những gì bày biện trong phòng hiện ra rõ ràng trước mắt chúng tôi. Mấy khung cửa sổ của căn phòng này đều đóng im ỉm, ba bức tường phía đông, nam và bắc đều gắn đầy những miếng gỗ, trên mỗi miếng gỗ là một con búp bê bằng đất.

Cô tôi đặt con búp bê trên tay xuống miếng gỗ cuối cùng trên bức tường phía đông rồi lùi mấy bước, đến chiếc bàn thờ nho nhỏ đặt giữa phòng, lấy ba nén nhang đốt lên, quỳ xuống, chắp tay và bắt đầu lầm rầm khấn vái.

Chúng tôi cũng vội vã quỳ theo cô một cách vô thức. Tôi không biết mình phải khấn vái điều gì, trong đầu óc tôi lúc này là hình ảnh những đứa trẻ con trên tấm bảng quảng cáo trước bệnh viện Gia Bảo hiện ra rõ mồn một, gương mặt và điệu bộ của từng đứa từng đứa lướt qua và bỗng dưng, trong lòng tôi chứa đầy cảm giác biết ơn, hổ thẹn và... sợ hãi. Tôi biết, cô tôi đang tái hiện lại tất cả hình ảnh những đứa trẻ đã từng bị cô lôi ra khỏi bụng mẹ chúng khi chưa đủ ngày tháng thông qua bàn tay điêu luyện của dượng tôi. Và tôi nghĩ, có lẽ cô đang dùng cách này để an ủi, để bù đắp những dằn vặt, những ân hận trong lòng cô. Nhưng cũng không nên trách cô tôi về điểm này, bởi một lẽ vô cùng đơn giản là nếu cô không làm thì người khác cũng sẽ làm. Vả lại, những người đàn bà mang thai một cách phi pháp ấy cũng không thể chối bỏ được trách nhiệm thuộc về mình. Nếu nghĩ sâu hơn chút nữa thì, nếu không có những người ra tay làm những công việc ấy thì Trung Quốc hôm nay sẽ như thế nào, điều này không nói nhưng ai cũng ngấm ngầm tự hiểu.

Khấn vái xong, cô tôi đứng dậy, gương mặt điểm nụ cười, nói: “Tiểu Bão, “Tiểu sư tử”, các cháu đến thật đúng lúc, tâm nguyện của ta đã hoàn thành. Các cháu hãy nhìn cho kỹ, những đưa trẻ này, đứa nào cũng có một cái tên. Ta để bọn chúng tập trung lại đây để tất cả có thể hưởng được những cúng dường của cô. Sau khi có được tính linh, chúng sẽ đến những nơi nào mà chúng cần đến để có thể đầu thai hóa kiếp...” - Vừa nói, cô vừa chỉ vào từng con búp bê một và giải thích nơi mà chúng cần phải đến là những đâu.

“Đứa con gái này...” - Cô chỉ vào một búp bê gái có đôi mắt màu hạt dẻ, đôi môi chúm chín trông thật đáng yêu, nói - “ Đứa bé gái này đáng ra được sinh ra vào tháng tám năm một chín bảy tư trong nhà của Đàm Tiểu Lục và Đổng Nguyệt ở Đàm gia trang, nhưng cô đã giết nó. Bây giờ thì tốt rồi. Bố nó là một chủ trang trại trồng rau, mẹ nó là một người đàn bà đảm đang. Bố nó là người phát minh ra cách dùng sữa bò để tưới cho rau cần nên rau cần được sản sinh từ tay bố nó tươi non và sạch vô cùng, mỗi ký có thể bán được đến sáu mươi đồng... Còn đứa bé trai này...” - Cô chỉ vào một búp bê đang nheo đôi mắt, cười toét miệng, nói tiếp - “Thằng bé này đáng ra phải đến với cuộc đời vào tháng hai năm một chín tám ba tại nhà của Ngô Quân Bảo và Chu Ái Gia ở thôn Ngô Gia. Nhưng cuối cùng thì nó đã không đến với đời vì do bàn tay cô can thiệp. Nhưng bây giờ thì không sao, thằng bé này phúc dày hơn núi, đã đầu thai vào một gia đình quan lại ở phủ Thanh Châu, bố mẹ nó đều là cán bộ nhà nước. Ông nội nó là một quan chức cấp cao ở đó, ông này vẫn thường xuất hiện trên truyền hình. Bé con, bà cô đây không hề có lỗi với con... À, còn có hai chị em nhà này nữa...” - Cô chỉ vào một miếng gỗ, trên đó có hai con búp bê, nói tiếp - “Hai đứa này đáng ra phải được sinh vào năm một chín chín mươi. Bố mẹ chúng vốn mắc bệnh phong nhưng đã được điều trị khỏi, có điều tay chân họ vẫn co quắp như chân gà tay quỷ. Sinh ra trong một gia đình như vậy, hai đứa nhỏ này chẳng khác rơi vào bể khổ. Cô đã giết chúng nhưng việc ấy có ý nghĩa như đã cứu chúng, bây giờ thì tốt lắm rồi. Đêm nguyên đán năm hai nghìn, chúng đã quay về với trần gian tại bệnh viện Nhân dân Giảo Châu, là bảo bối nghìn năm của một gia đình quyền quý, bố là diễn viên hát Mậu Xoang thời thượng, mẹ là chủ của một cửa hàng thời trang. Hai chị em chúng đã dắt tay nhau biểu diễn trong tiết mục hát Mậu Xoang “Triệu Mỹ Dung xem đèn” chào mừng năm mới của đài truyền hình năm ngoái:Đèn quả cà, đỏ rừng rực; đèn rau phỉ, rối lùng bùng; đèn quả dưa, vàng rực rỡ; đèn củ sắn, thật lung linh... Đèn nắm đấm, trừng mắt nhìn; đèn trứng gà, sáng lấp lánh... Bố mẹ chúng vẫn thường gọi điện đến để nhắc cô mở ti vi xem những tiết mục văn nghệ của đài truyền hình Giảo Châu. Mỗi lần xem thì nước mắt cô chảy ra như suối... Còn đứa trẻ này...” - Cô chỉ vào con búp bê có đôi mắt của một con gà chọi, nói - “Đáng ra nó phải được sinh ra trong nhà Trương Quyền ở thôn Đông Phong, nhưng cô đã không cho nó ra đời. Tuy nó không thể oán trách cô, nhưng cô cũng có trách nhiệm với nó. Tháng bảy năm một chín chín lăm, thằng bé này lại được sinh ra trong nhà Trương Lai Đệ, đứa con gái thứ hai của Trương Quyền. Trương Lai Đệ đến tìm cô, nói rằng nó đã có hai đứa con gái, nếu sinh nữa thì sẽ vi phạm chính sách sinh đẻ có kế hoạch. Tuy năm ấy cô đã bị bố nó đánh vỡ đầu, nói chuyện ân oán thì nói mãi làm sao cho hết được. Nhưng cô đã bỏ qua và đem đứa con trai đáng ra là của mẹ nó để giao cho nó. Thằng bé này đáng ra là em trai của Trương Lai Đệ nhưng cuối cùng lại trở thành con của con bé này. Điều bí mật này chỉ có mình cô biết, hai cháu là người thứ hai, do vậy hai đứa phải ngậm miệng giúp cô. Thằng bé này là loại người ác, biết cô sợ ếch nên đã từng dùng giấy gói một con ếch dọa khiến cô hôn mê bất tỉnh, nhưng cô không giận nó. Trong thế giới thiên hình vạn trạng này, loại người nào cũng có, đã có người tốt thì nhất định phải có kẻ xấu...”

... Cuối cùng, cô chỉ vào con búp bê vừa được đặt lên mảnh gỗ, nói: “Hai đứa có nhận ra nó không?”.

Nước mắt tôi đã dàn dụa, thổn thức: “Cô à, cô đừng nói nữa, chúng cháu biết nó...”.

“Tiểu sư tử” nói: “Cô à, đứa bé này sẽ nhanh chóng chào đời thôi. Bố nó là một nhà soạn kịch, mẹ nó là một y tá về hưu... Cô ơi, cháu cám ơn cô, cháu đã mang thai rồi...”.

Thưa tiên sinh,

Đọc những lời này, liệu ngài có cho rằng tôi đang nằm mơ hoặc đang bị bệnh thần kinh? Tôi thừa nhận, tâm lý của cô tôi đã phát sinh nhiều vấn đề, vợ tôi vì khát khao có một đứa con nên thần kinh cũng không bình thường lắm, nhưng tôi hy vọng là ngài có thể thông cảm và tha thứ cho họ. Một người tự nhận là mình đã phạm tội lúc nào cũng tìm cách để an ủi mình, cũng giống như ngài quá quen biết với nhân vật đáng thương là chị Tường Lâm trong truyện ngắn “Chúc phúc” của Lỗ Tấn tiên sinh. Những người tỉnh táo không nên phá hoại những mơ tưởng của họ. Cứ để cho họ có một tia hy vọng và để cho họ có một hướng giải thoát, để cho họ khỏi mơ thấy ác mộng trong khi ngủ, để cho họ có thể sống an lành như người chưa từng phạm một tội ác nào. Tôi phục tùng cô tôi và “Tiểu sư tử”, thậm chí là tôi cố gắng để tin vào những gì mà họ đã tin. Có thể đó là một sự lựa chọn chính xác của tôi. Cho dù tôi vẫn biết là những người có đầu óc khoa học sẽ cười nhạo mình, những người đứng trên đỉnh cao của đạo đức sẽ phê bình mình, thậm chí là có thể có những người có trình độ giác ngộ cá biệt sẽ tố cáo mình với những cơ quan hữu trách, nhưng tôi không muốn thay đổi mình. Vì đứa con, vì cô tôi và “Tiểu sư tử” - hai người đàn bà đã từng tham gia vào một công tác đặc biệt trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, tôi tự nguyện tiếp tục làm một kẻ ngu xuẩn dưới mắt những bậc thức giả và những nhà đạo đức.

Ngày ấy, cô tôi đã lấy ống nghe để nghe ngóng khắp người “Tiểu sư tử”. “Tiểu sư tử” nằm ngửa, gương mặt đầy vẻ an tường và hạnh phúc, còn cô tôi thì nghe trong trạng thái tập trung đầy vẻ nghiêm trang thần thánh. Nghe xong, cô tôi dùng bàn tay vốn được mẹ tôi ca tụng nhiều lần ấn ấn lên vùng bụng của “Tiểu sư tử”, nói: “Phải đến năm tháng rồi nhỉ? Quá tốt! Tiếng tim của thai nhi rất rõ ràng, vị trí của thai nhi rất thuận lợi”.

“Sáu tháng rồi cô à”. Mặt “Tiểu sư tử” đầy vẻ hàm hồ, nói.

“Đứng dậy đi!” - Cô đập đập lên bụng “Tiểu sư tử”, ra lệnh - “Tuy tuổi tác đã lớn nhưng cô vẫn đề nghị cháu hãy để đẻ một cách tự nhiên. Cô vốn phản đối chuyện đẻ mổ. Một người chưa từng được làm mẹ mà lại phải mổ thì e rằng người ấy sẽ không trái nghiệm được cảm giác làm mẹ như thế nào”.

“Nhưng cháu hơi lo...” - “ Tiểu sư tử” nói.

“Có cô đây, còn lo nỗi gì?” - Cô tôi vung tay, nói - Cháu nên tin vào đôi tay đã đỡ đẻ cho đứa trẻ thứ mười nghìn này chứ!”.

“Tiểu sư tử” ôm lấy đôi tay của cô tôi ấp lên mặt mình, nũng nịu như một đứa trẻ con:

“Cô, cháu tin cô...”.


12.

Thưa tiên sinh,

Đại hỷ!

Con trai tôi cuối cùng cũng đã ra đời vào sáng sớm hôm qua.

Bởi vợ tôi - “Tiểu sư tử” là sản phụ siêu cao tuổi đẻ lần đầu nên ngay cả những vị bác sĩ đã từng tốt nghiệp tiến sĩ ở Anh ở Mỹ tại bệnh viện Trung - Mỹ Gia Bảo cũng không dám tiếp nhận. Lúc ấy, chúng tôi lại nghĩ đến cô tôi. Gừng càng già càng cay! Đó là luận điệu của “Tiểu sư tử” và cô tôi là người duy nhất mà “Tiểu sư tử” tín nhiệm. “Tiểu sư tử” đã từng đỡ đẽ cho không biết bao nhiêu đứa trẻ, tất nhiên là cô ấy cũng đã nhận ra phong độ của cô tôi trong những lúc nguy khốn nhất.

Mọi chuyện bắt đầu phát sinh ngay trong ca trực đêm tại trại nuôi ếch của Viên Tai và em họ tôi. Theo cách nghĩ đương thời thì, đáng ra đến lúc chuẩn bị sinh nở, “Tiểu sư tử” nên ở nhà nghỉ ngơi, nhưng cô ấy không nghe lời khuyên của ai cả, cứ vác cái bụng thè lè đi hết con phố này đến con phố khác gây nên không biết bao nhiêu lời bàn ra nói vào nhưng cũng không biết bao nhiêu cặp mắt hâm mộ nhìn theo. Những người quen biết thì vui vẻ chào hỏi: “Chị dâu, đã thế này sao không ở nhà nghỉ ngơi? Ông anh Khoa Đẩu vô ý vô tứ thật!”. Nghe những lời ấy, “Tiểu sư tử” nói: “Có đáng gì? Sinh con cũng giống như dưa chín thì tự rụng. Đa số phụ nữ nông thôn vẫn đẻ con trên đường cày, ngoài ruộng, ngoài bờ sông đấy thôi. Càng quan trọng hóa thì càng khó nuôi, càng nhiều bệnh tật?”. Lý luận của cô ấy hoàn toàn tương đồng với lý luận của những thầy thuốc Trung y. Người nghe gục gặc đầu, thi thoảng phụ họa đôi câu, rất ít khi thấy có người phản đối.

Khi tôi nhận được tin và có mặt tại trại nuôi ếch thì em họ tôi đã nhận lệnh Viên Tai đi mời cô tôi. Cô mặc áo blouse trắng, đeo khẩu trang, mái tóc bạc rối tung được gói thật kỹ trong chiếc mũ trắng. Ánh mắt đầy vẻ hưng phấn khiến tôi liên tưởng đến một con ngựa già bị nhốt lâu ngày có cơ hội để thể hiện bản lĩnh của mình. Cô được một cô gái mặc áo trắng đưa vào một gian phòng bí mật, còn tôi thì ngồi uống trà ngay tại phòng làm việc của Viên Tai.

Phòng của Viên Tai có kê một chiếc bàn làm việc không nhỏ hơn bàn bóng bàn chính giữa phòng, màu đỏ sậm, phía sau bàn là một chiếc ghế bành da có lưng tựa rất cao. Một chồng sách dày cộp xếp ngay ngắn trên bàn và tất nhiên là có một lá quốc kỳ đứng bên cạnh. Hình như Viên Tai đã nhìn thấu tâm trạng của tôi lúc này nên nói một cách nghiêm trang: “Ông bạn, cho dù là một kẻ cường đạo thì tôi cũng có quyền được thể hiện lòng yêu nước của mình, đúng không?”.

Vừa nói chuyện, cậu ta vừa pha trà mời tôi một cách thành thạo, giọng nói không giấu được vẻ mãn nguyện lẫn tự hào: “Đây là loại trà Đại hồng bào ở núi Vũ Di, tuy không phải là cành vàng lá ngọc gì nhưng xét ở góc độ trà mà nói, chất lượng là vô địch hiện nay. Huyện trưởng đã từng đến đây nhưng tôi tiếc của, không cho ông ta uống. Bữa nay tôi mời cậu, điều này chứng minh tôi vẫn còn phẩm cách lắm”.

Nhìn thấy tôi không để ý lắm đến lời mình, Viên Tai động viên: “Yên tâm đi. Việc đến tay tôi thì cậu cứ yên tâm, bình an vô sự, không một tổn hại nào. Tôi đã làm kinh động đến bà cô của cậu bởi tôi hiểu tâm lý cậu. Bà là thần hộ mệnh của bao nhiêu trẻ con ở vùng Đông Bắc Cao Mật này, chỉ cần có mặt bà ấy, chúng ta tất yếu sẽ có kết quả với tám chữ: Mẹ con bình an, mọi người đại hỷ!”.

Sau đó thì tôi đã ngủ thật say trên chiếc ghế salon rất sang trọng của Viên Tai. Trong mơ, tôi thấy mẹ tôi và Vương Nhân Mỹ đã có mặt ở trại nuôi ếch. Mẹ tôi mặc một bộ quần áo lụa rất sáng, tay cầm một chiếc gậy có gắn đầu rồng. Vương Nhân Mỹ mặc một chiếc áo màu đỏ, một chiếc quần màu xanh lục, trông rất dân dã nhưng vô cùng xinh đẹp. Trên vai trái của cô ấy có khoác một túi xách màu hồng, một chiếc áo màu vàng thoáng ẩn hiện trên miệng chiếc túi. Hai người đang đi đi lại lại ngoài hành lang. Những âm thanh vang ra từ chiếc đầu gậy của mẹ tôi không nhanh cũng không chậm nhưng khiến tôi càng lo lắng hồi hộp hơn. Tôi nói: “Mẹ à, mẹ có thể ngồi yên cho con một lát được không? Hai người cứ đi đi lại lại như vậy khiến tất cả mọi người đều cảm thấy lo lắng thêm” - Mẹ tôi ngồi xuống salon, nhưng chỉ ngồi được một lát thì đứng dậy và ngồi xếp bằng tròn dưới nền đá, nói, ngồi trên salon rất khó thở. Nét mặt Vương Nhân Mỹ vừa có vẻ sợ hãi vừa có vẻ cay đắng, ngồi núp sau lưng mẹ tôi như một cô gái bé bỏng. Chỉ cần ánh mắt tôi lướt qua mặt là cô ấy cúi đầu, lảng tránh cái nhìn của tôi. Tôi thấy cô ấy lôi chiếc áo màu vàng trong túi ra rồi trải rộng trên nền đất. Chiếc áo chỉ lớn hơn bàn tay người lớn một tí. Tôi nói: “Chiếc áo này vừa khít với búp bê mà thôi”. Vương Nhân Mỹ đỏ mặt nói: “Em ước lượng đứa bé trong bụng mình để may nó”. Lúc ấy tôi mới phát hiện, bụng của Vương Nhân Mỹ đang nhô cao, những vết nám trên mặt cũng chứng minh là cô ấy đang có thai. Sau đó, tôi nói tiếp: “Nhưng đứa bé trong bụng cũng không nhỏ đến như thế” - Bỗng nhiên mắt Vương Nhân Mỹ đỏ lên, nói: “Tiểu Bão, anh nói với cô, hãy cho em đẻ con nhé” - Mẹ tôi gõ đầu gậy cốc cốc xuống sàn, nói: “Con cứ đẻ đi, có mẹ bảo vệ cho con. Chiếc gậy của ta, trên thì đánh hôn quân, dưới thì đánh gian thần, ai dám đương đầu, ta cho chết không toàn thây” - Vừa nói, mẹ tôi vừa vung tay đánh một gậy thật mạnh lên tường, lập tức có một cánh cửa bí mật mở ra. Bên trong là một gian phòng sáng trưng như ban ngày, một chiếc giường phẫu thuật trải vải trắng muốt, hai bên có bốn người mặc áo blouse trắng, đeo khẩu trang, cô tôi đang đứng bên đầu giường, ăn mặc cũng rất tề chỉnh, tay đeo găng. Sau khi Vương Nhân Mỹ bước vào gian phòng, trông thấy cảnh tượng ấy thì định bỏ chạy, rất nhanh, cô tôi vươn tay chụp được cô ấy. Vương Nhân Mỹ khóc, gọi tôi như một cô bé bị người ta ăn hiếp: “Tiểu Bão, anh hãy nghĩ tình chúng ta là vợ chồng bao nhiêu năm nay, hãy cứu em...” - Tôi chua xót nghẹn ngào, nước mắt trào ra... Cô tôi phẩy tay, bốn người y tá đồng loạt bước đến, đè Vương Nhân Mỹ nằm ngửa trên giường, quýnh quáng lột quần áo trên người cô ấy. Tiếp theo, tôi thấy từ giữa đùi cô ấy, một bàn tay bé xíu đỏ hỏn lòi ra, các ngón tay co quắp, chỉ có hai ngón vươn ra tạo thành hình chữ V, một ký hiệu mang tính quốc tế. Trông thấy điều ấy, cô tôi và bốn người y tácười lên vui vẻ. Cười xong, cô nói: “Đừng đùa nữa, chui ra đi!”. Sau mệnh lệnh của cô, một đứa trẻ từ từ chui ra, tay chui ra trước đầu chui ra sau, hai tay quờ quờ như muốn vuốt chất bẩn bám trên mặt trông thật lạ lùng. Cô tôi chụp lấy hai tai nó, ôm chặt cái đầu của nó, dùng sức kéo mạnh, quát: “Mày có chịu ra không?” - Một tiếng kêu thoát ra từ miệng Vương Nhân Mỹ rồi một đứa bé toàn thân dính đầy chất nhờn và máu đã nằm gọn trên tay cô tôi...

Tôi giật mình tỉnh giấc, toàn thân cảm thấy lạnh run. Em họ tôi và “Tiểu sư tử” đẩy cửa bước ra. Trong lòng “Tiểu sư tử” có một bọc tã lót, từ trong bọc tã lót ấy có tiếng khóc trẻ con. Em họ tôi nói nhỏ: “Chúc mừng anh! Con trai anh đã ra đời!”.

Em họ tôi đánh xe đưa chúng tôi về thôn, đến nhà bố tôi. Có thể gọi đây là một ngôi làng nằm giữa thành phố. Như trước đây tôi đã báo cho ngài biết, huyện trưởng của chúng tôi ngày ấy bây giờ đã trở thành thị trưởng. Ông này đã hạ lệnh bảo lưu thôn tôi với ý nghĩa như một di chỉ về phong cách kiến trúc của thời kỳ Cách mạng văn hóa, những câu khẩu hiệu viết trên tường, bức phù điêu cách mạng ở đầu thôn, những chiếc loa phóng thanh trong thôn, hội trường của đội sản xuất... đều được giữ lại. Phía đông đã ửng hồng nhưng trên phố vẫn chưa có người qua lại, chỉ có những chiếc xe buýt chạy chuyến sớm mệt mỏi chạy vụt qua và một vài nhân viên vệ sinh đeo khẩu trang bịt kín mặt chỉ chừa dôi mắt đưa những nhát chổi lười biếng trên đường. Tôi rất muốn nhìn mặt con nhưng đành phải từ bỏ ý định khi nhìn thấy nét mặt nghiêm trang, mệt mỏi lẫn hạnh phúc chẳng khác nào một sản phụ của “Tiểu sư tử”. Đầu cô ấy quấn trong một chiếc khăn đỏ, miệng chảy xệ xuống, thi thoảng cúi xuống nhìn đứa nhỏ đang ôm trong lòng như muốn quan sát mặt nó, như muốn hít những mùi vị phát ra từ thân thể nó.

Chúng tôi đã chuyển những đồ đạc chuẩn bị cho đứa con về nhà của bố tôi, nhưng vì lúc ấy rất khó tìm ra một con dê đang cho sữa, bố tôi đã đến nhà họ Đỗ chuyên nuôi bò sữa trong làng để mua sữa tươi về. Nhà này nuôi hai con bò sữa cực tốt, mỗi ngày có thể cho đến năm mươi cân sữa. Bố tôi đã dặn đi dặn lại họ không được cho thêm bất kỳ vật gì vào trong sữa. Người nhà họ Đỗ nói: “Bác à, nếu bác không tin chúng cháu thì cứ mỗi buổi sáng, bác đến đây và tự tay vắt sữa vậy”.

Em họ tôi cho xe dừng ngoài cổng. Bố tôi đã ra cổng ngồi chờ từ lúc nào, cùng chờ với ông có thím hai của tôi và vài ba đứa con gái trẻ, có lẽ chúng đều là cháu chắt trong gia đình. Thím hai tôi đỡ lấy đứa bé, còn hai đứa con gái đỡ “Tiểu sư tử” bước xuống xe, dìu vào sân và đi thẳng vào phòng “ở cữ” đã chuẩn bị sẵn.

Thím hai lật một mép tã để cho bố tôi trông thấy đứa cháu nội xuất hiện trên cuộc đời này quá chậm. Mắt bố tôi nhòa lệ, miệng mấp máy liên tục một tiếng “Tốt, tốt...”. Tôi tranh thủ nhìn và thấy một mái tóc đen nhánh và khuôn mặt đỏ hỏn, trong lòng trăm mối ngổn ngang và bất giác, nước mắt tôi cũng trào ra.

Thưa tiên sinh,

Sự có mặt của đứa con khiến tôi có cảm giác mình đã khôi phục lại thời trai trẻ và linh cảm của tôi cũng trở nên nhanh nhạy hơn. Cho dù sự có mặt của nó trong cõi đời này sao mà gian nan trắc trở và từ nay trở về sau, chung quanh nó chắc chắn sẽ sản sinh không ít những chuyện phiền toái phức tạp, nhưng chính như cô tôi đã nói: Chỉ cần nó rời khỏi cửa mình của bà mẹ, nó đã là một sinh mệnh, đã trở thành một công dân hợp pháp của đất nước này, sẽ nhận được sự bảo hộ và phúc lợi của nhà nước đối với trẻ em, nếu gặp phải chuyện phiền phức thì chỉ có chúng tôi - những người đã cho phép nó xuất hiện trên cõi đời này chịu trách nhiệm giải quyết. Ngoài việc giành tình yêu thương cho nó ra, chúng tôi không có quyền giành cho nó bất kỳ điều gì khác.

Thưa tiên sinh,

Bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ trải giấy ra bàn và bằng tốc độ nhanh nhất, tôi sẽ hoàn thành vở kịch khó đẻ này. Lá thư tiếp theo mà tôi sẽ gửi cho ngài sẽ là một kịch bản không bao giờ được lên sân khấu:

“Ếch”.

--------------------------------
1Tạm dịch: Dùng đức để nuôi dạy trẻ con.
2Trong tiếng Hán, 蛙có nghĩa là “con ếch” và có nghĩa là “em bé” là hai từ đồng âm, đều phát âm là “wa”, âm Hán Việt là “oa” (ND).
3Thần thoại Trung Quốc có truyện “Nữ Oa”(女娲), được xem là thủy tổ của loài người (ND).
4Nhân vật trong tiểu thuyết “Don Quijote, nhà quý tộc tài ba xứ Mantra” của Cesvantes (ND).
5Mạc Ngôn dùng câu nói của Mạnh Tử nhận xét về nhà triết học Dương Chu (khoảng thế kỷ thứ V đến IV trước CN):”Dương Chu là người vì mình. Mất một sợi lông mà làm lợi cho cả thiên hạ cũng chẳng thèm làm” - (Xem sách “Mạnh Tử”- ND).


BOOK COMMENTS

  • 0.0/7 - 0 rating
    TO TOP
    SEARCH