Chương III
TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC
Tôi di chuyển khỏi Trại Suối Máu trong đợt 2, đã thực hiện cách đây khoảng nửa tháng. Lần này, thay vì gọi tên những người chuyển trại, tụi Cộng Sản cho gọi tên người ở lại, gồm một số Bác sĩ, Dược sĩ và người già có bịnh. Chúng tôi đã quá quen với hình thức chuyển tù của Cộng Sản nên không hoang mang truớc những biến chuyển bất ngờ do Cộng Sản cố ý tạo ra để đánh lừa nhận thức của kẻ thù ! Vì biết trước, sớm muộn gì cũng phải rời khỏi nơi đây, chưa rõ thời gian, nên chúng tôi đã chuẩn bị để lúc nào có lệnh, cũng không mất thời giờ thu xếp. Thứ gì ít dùng, được cho vô túi trước, chỉ để ngoài, những vật thực sự cần thiết cho đời sống hàng ngày. Cách đây mấy bữa, “ân nhân” đã báo cho biết, sắp có đợt chuyển trại, nhưng không biết ngày và số người phải chuyển.
- Tôi sắp đi nghỉ phép. Nếu các anh chuyển trại trong thời gian đó, tôi chúc các anh được mạnh khỏe. Nếu cần, tôi sẽ báo cho gia đình các anh biết !
Nói xong, anh đứng tần ngần ngoài bờ rào kẽm gai nhìn vào. Bóng tối xóa mờ vóc dáng anh, nhưng vóc dáng ấy sẽ sống mãi trong tôi tới lúc vĩnh biệt cuộc đời !
- Hai đợt trước, chuyển đi đâu, cán bộ ?
- Ra Bắc !
- Thật không ?
- Nói dối anh ”nàm” gì. Mấy thằng bạn tôi, theo ra ngoài ấy, vừa trở về cho biết: khổ ”nắm”!
Nghe nói, tự nhiên lòng tôi ngao ngán ! Miền Bắc, quê hương tôi đó, nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời, đã lớn lên, đã học hành, đã kháng chiến chống thực dân Pháp, đã trưởng thành trong một cuộc sống vô cùng chao động, vô cùng thắm thiết ! Nhưng đã hơn 20 năm, tôi xa miền Bắc, tôi đã có mặt ở bên này vĩ tuyến cầm súng để bảo vệ miền Nam, để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ chống lại chế độ Cộng Sản độc tài ! Sự thực, vấn đề chống Cộng, đối với tôi, trước ngày 30-4-75, một phần do bổn phận, nhiệm vụ của một quân nhân, một phần do ý thức hệ. Nhưng vì điều kiện xã hội miền Nam xô bồ quá, làm chao đảo tư tưởng nên vấn đề chống Cộng chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của tôi một cách hời hợt, không sâu xa tích cực, như những năm đầu chia đôi đất nước. Đôi lúc, vì ngu xuẩn, tôi lại thầm cảm phục Cộng Sản, đã chiến thắng Quân Đội Pháp trong trận Điện Biên Phủ, một cường quốc Âu Châu, một trong năm nước đứng đầu Thế Giới, sau Đệ II Thế Chiến. Các danh tướng của Pháp đều thân bại danh liệt tại Việt Nam. Tướng De Lattre de Tassigny đã ôm mối hận ngàn đời vì đứa con trai duy nhất, Trung Úy Bernard de Lattre, đã trút hơi thở cuối cùng tại dãy núi đá vôi thuộc tỉnh Ninh Bình trong khi cuộc chiến tranh Việt Pháp đang đi dần vào giai đoạn kết thúc.
Tất cả thế giói biết đến Việt Nam qua những thành tích chiến đấu oai hùng đều do Cộng Sản thu đạt được trong cuộc chiến chống Pháp, tuy sự chiến thắng này, do công lao xương máu của toàn dân đóng góp. Cộng Sản đã lợi dung và vơ vào phần mình tất cả ! Nhưng tôi lại vô cùng phẫn nộ và cương quyết chống Cộng, khi Cộng Sản tàn sát đồng bào tôi tại Khe Đá Mài ở Huế, Tết Mậu Thân năm 1968 và các cuộc tấn công bằng bạo lực, do Rocket và các loại vũ khí khác gây nên trong những năm kế tiếp. Tất cả những cái đó, tuy nhiên cũng chưa đủ để tạo cho tôi căm thù, quyết tâm, không thể cùng Cộng Sản sống chung dưới một vòm trời, nếu tôi chưa trải qua những đụng chạm thực tế, giữa tôi và Cộng Sản trực tiếp đối diện trong Trại Tập Trung Cải Tạo. Nay, nghe thấy mình sắp bị đưa ra Bắc, làm sao tôi có thể tránh được giao động ?
Tuy nghe vậy, tôi cũng chưa tin, vì ở miền Nam, thiếu gì chỗ giam ? Nếu họ dùng Suối Máu để giam giữ chúng tôi, họ cũng có thể đưa chúng tôi ra đảo Phú Quốc, nơi trước kia, chúng tôi đã giam giữ họ, để cải tạo nốt khoảng thời gian hai năm còn lại, theo chính sách 3 năm, vừa phổ biến trên báo Nhân Dân.
Tôi đem tin đó nói lại với anh em. Có người tin, người không !
- Ồ, hơi đâu nghe mồm Cộng Sản !
- Đã đến nước này, đưa đi đâu cũng vậy thôi !
Những ngày chờ đợi “biến cố” xảy ra, nhưng chưa biết lúc nào, quả thực nặng nề. Trại vắng hoe vì chỉ còn mấy trăm người. Huy, Phát, Mậu, Liêm cũng đã chuyển trại đợt vừa rồi. Khắc còn đó, đã lâu, không nghe hắn nói gì về chuyện trốn trại.
Một tuần lễ trước ngày chúng tôi di chuyển, không khí trong trại vô cùng ngột ngạt. Các nhà dồn người lại, nên có nhiều nhà trống. Lúc này không còn ai nghĩ đến chuyện liên hệ, vì chẳng con gì để liên hệ. Trại 5 cũng đã chuyển đi một phần. Cảnh tấp nập khi trước, nay không còn.
Trời bắt đầu mùa mưa. Cơn mưa mỗi ngày tuy không đều, nhưng mỗi lần mưa, mỗi lần giông gió. Đây, mùa mưa thứ hai, trong đời tù. Tiếng mưa đập vào mái tôn nghe rào rào, dòng nước chảy xối xả từ trên cao đổ xuống như không muốn ngưng. Tôi ngồi nhìn mưa, chưa bao giờ thấy buồn như vậy ! Những hạt mưa dây dây theo gió, tạt vô buồng làm ướt khoảng đất. Tôi mở túi vải lấy thêm áo mặc, để tránh lạnh. Hút thuốc mãi cũng chán. Ngoài hơi thuốc buổi sáng sớm làm đê mê, những điếu tiếp theo không còn nhiều thú vị. Người ta hút vì thói quen nhiều hơn thèm muốn. Ngày tháng sống trong tù lâu dần làm tâm hồn trở thành ù lì ! Con người không còn nhạy cảm nữa, mà trơ trơ, hờ hững trước mọi sự việc mà trước kia vừa chạm tới đã rung động. Tôi tự cảm thấy những sợi dây thần kinh hình như tê liệt, ít xúc cảm.
Những hạt mưa nhẹ dần, thưa thớt. Gió cũng ngưng thổi. Cảnh vật sáng dần trước tầm nhìn. Trên chiếc sân nhỏ, mặt cát bóng lên, im sững như chiếc gương lớn. Mấy con chim nhỏ đang nhảy nhót trên những vòng kẽm gai. Chúng chuyền từ nơi này qua nơi khác rất nhẹ nhàng. Chúng bay lượn giữa những mũi nhọn, như bay giữa vùng trời rộng lớn. Chúng nhởn nhơ như chẳng bao giờ biết buồn ! Đôi cánh kia, ôi, tạo hóa đã cho chúng đôi cánh nhiệm mầu để có thể tụ do thực hiện ý muốn. Chúng đâu có biết, tôi ngồi đây, đang nhìn chúng như nhìn thấy hiện tượng của Tự Do tuyệt đối. Chúng đâu có biết, con người với bao nhiêu ràng buộc, đã tự trói đời mình vào nhũng ước lệ, đã tiêu hủy, đàn áp nhau, đưa nhau đến hố thẳm của chia rẽ, hận thù!
Hởi, những con chim nhỏ ! ta đương ao ước đôi cánh để vượt thoát cái không gian khốn khổ này, để tự ta có thể tìm thấy đời sống của riêng mình, dù chẳng may, viên đạn nào đó, rủi ro nào đó, bất ngờ kết thúc đời ta trên một tuyến bay không ước hẹn !
Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, Lâm tới :
- Trời mưa buồn quá, ông hé ! Tôi với ông đi dạo cho vui !
- Thôi, mệt quá ! Có gì đâu mà coi !
-Anh em đi hết rồi, chẳng biết bao giờ đến lượt mình. Trước khi di chuyển, ông Huy còn gửi lại chiếc đồng hồ, nhờ tôi nếu được tha trước, mang hộ về, trao trả cho vợ con ông ấy. Cứ làm như tụi Cộng Sản nó ưu đãi “Tu-bíp” lắm !
- Các ông dù sao, đối với chế độ mới cũng là những chuyên viên. Ở chế độ nào, chẳng cần đến chuyên viên ?
- Ông cứ nghĩ thế chứ ! Ông quên, lúc học tập ở Long Giao nó lên án tụi “tu-bíp” quá chừng sao ?
- Sá kể gì ấy tên cán bộ tép riu đó ! Tụi nó chỉ học thuộc bài, chỗ nào và lúc nào cũng có chừng ấy câu, ngoài ra, nó chẳng biết gì ráo trọi !
- Đồng ý, nhưng tụi nó nói theo chính sách của Đảng và Nhà Nước ! Cái đó mới nguy hiểm, nó tạo nên sự cuồng tín, cố chấp, một chiều !
Lâm đưa thuốc mời tôi, điếu thuốc cuối trong bao.
- Thôi còn một điếu, ông hút đi ! tôi rít thuốc lào được rồi !
Lâm đưa thuốc lên môi, vò bao ném ra cửa.
Mặt trời lại chiếu từng làn ánh sáng rực rỡ. Những cánh chim én chao chát, đảo lên, lộn xuống nhịp nhàng vẽ lên nền trời những đường cong tuyệt mỹ. Mầu mây xanh biếc, trong suốt như tấm thủy tinh vĩ đại. Những tiếng kêu chin chít của đàn én vọng đến đều đều. Tôi và Lâm cùng nhìn về phía đàn chim. Tôi hỏi:
- Tôi không hiểu sao, lại có người bẫy chim én để ăn, trong khi nó giúp mình diệt trừ đàn nhặng ngoài hố xí nhỉ ?
Giọng Lâm, trầm trầm:
- Thôi, nói làm gì đến các ông nội đó. Thèm thịt quá, con gì có tí thịt mà chẳng ăn ? Khi dục vọng đã lấn áp lương tri, còn nói gì phải, trái ?
- Một hôm, tôi đến thăm Khoa, ông biết chứ ? Khoa “tu xuất” đó, ở K12 trước đây. Ông ta làm chiếc bẫy bằng hai que tre có buộc sợi dây thung. Ông gài con nhặng làm mồi. Con chim nào ham mồi nhào xuống đớp, bị sợi thung siết chặt lấy cổ, ông ta chỉ việc ra tóm vào, bóp chết. Chờ được năm, bảy con, ông ta vặt lông, mổ bụng, nướng trên lò lửa, nhậu ngon lành !
- Thit chim én tanh ngòm, xương rắn như đá !
Tôi trừng mắt hỏi Lâm:
- Sao ông biết ?
- Bữa trước, tôi đến thăm, ông ấy mời tôi nếm thử. Vừa đút vào miệng nhai, vội nhổ ra ngay. Súc miệng gần chết !
- Như vậy, ông cũng phạm tội rồi đó ! Nếu thịt chim én ngon như thịt chim bồ câu, chắc ông cũng làm bẫy rồi !
Lâm cười khục khục, không chối, cũng chẳng nhận.
Tôi đứng lên vươn vai cho đỡ mỏi. Lâm đứng dậy theo, rủ đi một vòng trước giờ cơm. Tôi chụp chiếc mũ vải lên đầu. Chiếc mũ vải của quân đội Úc Đại Lợi, khi còn tham chiến tại Việt Nam. Chếc mũ kỷ niệm trong chuyến công tác tại Bà Rịa, được một sĩ quan Úc tặng. Tôi mang đi theo vì nó gấp lại được, bỏ trong túi vải gọn gàng.
Chúng tôi đi ngang qua chiếc sân nhỏ. Vài vũng nước còn đọng chưa kịp rút hết, phản chiếu ánh mặt trời làm chói mắt. Chiếc giếng lúc này, thưa người tắm giặt, một phần anh em đi nhiều, một phần trời mưa ! Việc gầu nước không còn vất vả, thả gầu xuống độ 2 thước đã có nước. Chúng tôi đến gần rào kẽm gai nhìn sang khu giam Đại Tá. Chiếc sân rộng vắng hoe. Dưới ánh nắng, tôi chỉ thấy thấp thoáng một, hai bóng người lạc lõng , bơ vơ giữa vùng đất rộng lớn.
Cấp Đại Tá đã di chuyển cách đây dăm bữa. Những luống rau muống bắt đầu vàng úa vì không có người chăm sóc. Do nhu cầu đời sống, ở đâu và bất cứ chỗ nào có thể trồng trọt được, anh em đều trồng rau dền hoặc rau muống để cải tiến bữa ăn ! Phân ở đây không thiếu, nên luống rau nào cũng tươi tốt. Chúng tôi men theo lối đi hẹp. Trên miếng đất nhỏ, giữa hai lớp kẽm gai, một dây mướp bò theo rào kẽm, bắt đầu nở hoa vàng choé. Nhưng không phải vì thế, cảnh vật nơi đây tươi đẹp. Nó vẫn hoang vắng, và bên trong cái hoang vắng đó, còn có cái gì rờn rợn, thiếu sinh khí. Chúng tôi bước vào một căn nhà trống. Cảnh tượng nơi đây còn thê thảm hơn, tuy đã được quét dọn khá sạch sẽ. Chiếc nền đất chỗ đậm chỗ nhạt, nơi cao nơi thấp, tất cả những người tù đã phải nằm mỗi đêm, từ sáu, bảy tháng nay để cải tạo theo chính sách “nhân đạo” của Đảng và nhà nước Cộng Sản. Hơi người tỏa ra mỗi đêm đã sấy khô mặt đất ẩm ướt, có nhiều chỗ nứt nẻ. Bản nội quy viết bằng loại chữ in, treo ngay nơi cửa ra vào. Tôi nhìn nó, như nhìn thấy sự sỉ nhục. Mỗi điều trong bản nội quy đều mang tính cách dọa nạt, ức hiếp của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Đã đành, nó là luật thắng bại, nó đánh giá khả năng và tinh thần chiến đấu của một quân đội, nhưng không phải vì thế, kẻ chiến thắng coi đó như một vinh dự tuyệt đối !
Lâm bỗng nắm tay tôi :
- Ông có thấy gì không ?
- Không!
Lâm cười, chỉ tay lên sà nhà. Một con chuột to bằng bắp chân đang thu hình ngó xuống chúng tôi như khiêu khích. Tôi cúi xuống nhặt cục đất toan ném, nó đã phóng nhanh rồi chui vào hốc kẹt, sát mái tôn. Lâm lẩm bẩm :
- Vào giờ này tháng trước, chắc nó không chạy thoát !
Chúng tôi đi qua khu nhà bếp. Những cảnh tấp nập, chửi thề, cãi lộn không còn ! Một vài người ngồi chắt nước vo gạo để uống chống bệnh phù thũng. Rất nhiều người bị bệnh này vì thiếu B1. Người có thuốc, uống thuốc, người không có, uống nước vo gạo ! Chúng tôi đã đi đến cuối trại, sát vòng rào kẽm gai, trông sang khu 5. Cảnh vật vắng tanh. Tôi nhìn qua rào kẽm, con lộ đỏ ửng nằm chơ vơ không có tên bộ đội nào qua lại. Các bạn thân đã đi hết, nên ít khi phải đứng lại nói chuyện hay chào hỏi.
Lâm nói bâng quơ :
- Ông thấy câu thơ của cụ Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?” vào lúc này hay tuyệt không ?
- Thơ Nguyễn Du, câu nào chả hay, cứ gì câu đó!.
- Đồng ý, nhưng lúc này mình buồn, cảnh cũng buồn chứ đâu phải có mưa gió hay buổi chiều tà ! Trời đang nắng gay gắt sao lòng buồn, cảnh buồn cái đó mới lạ ! Ông có thấy vậy không ?
- Tôi thấy từ lâu rồi, từ ngày thứ nhất bước chân vô Long Giao cơ! Chứ đâu như ông, cho đến hơn năm sau mới biết !
Về đến nơi Lâm ở, vừa giờ cơm. Nói cho đúng, vấn đề cơm ở đây, ăn để sống hơn ngon miệng. Từng miếng cơm nhai trong mồm như nhai rơm. Người nào trông cũng đen thui, gầy guộc, tuy chưa phải sự suy sụp toàn diện, nhưng nó cũng báo trước một tương lai không mấy tốt đẹp, nếu điều kiện dinh dưỡng như thế này kéo dài vô hạn định !
Hơi nóng từ mái tôn dội xuống hầm hập. Tôi cởi trần cố gắng tạo điều kiện cho giấc ngủ trưa. Những con ruồi đậu trên mắt, trên người, buồn buồn khó chịu. Cầm miếng bìa trong tay, tôi khua mạnh. Đàn ruồi tản đi, nhưng chúng quay trở lại ngay khi tay ngưng đập. Cứ như thế, giấc ngủ không bao giờ đến, nhưng vì mệt, tôi không muốn dậy.
Buổi chiều nay, đợt chuyển trại cuối được thực hiện. Vì đoán biết thế nào nó cũng xẩy đến, nên chúng tôi không còn hoang mang. Danh sách mỗi đội đã được phổ biến. Đội Trưởng là ai, chúng tôi biết rồi, không ai thắc mắc gì. Đưọc lãnh cơm sớm, tôi không ăn, cho vào chiếc lon ghi-gô đề phòng đói trong đêm. Đã quen với hình thức chuyển trại, chúng tôi, mỗi người cố thu xếp sao cho gọn, nhẹ. Nhưng không hiểu sao, túi hành trang đã đầy ứ, vẫn còn một số vật dụng cần thiết nằm tênh hênh trên mặt đất. Bỏ cái nọ, giữ cái kia, cái nào cũng có ích cho đời tù, tính sao bây giờ ? Lâm được ở lại, nên có mặt bên cạnh giúp đỡ tôi thu xếp.
- Vứt cái nay đi ông !
- Cái gì?
- Cái lon sữa. Đến chỗ mới tìm cái khác.
- Nhỡ không có thì sao ? Nó hữu dụng lắm đó. Không có để đựng đậu phộng, chuột nó xơi hết rồi !
- Thế bỏ cái này vậy !
- Cái gì?
- Tập thư và mấy quyển vở chép bài học ở Long Giao.
- Ấy chết, cần thiết lắm. Trong đó có Bản Tự Khai. Mai mốt, khi cần khai báo, điều gì quên, có nó để tham khảo !
Lâm tần ngần nhìn cái túi vải của tôi căng phồng như nửa tạ gao, có ý lo:
- Sức ông vác sao nổi, nếu phải đi bộ xa. Ông quên rồi ư? Từ ngoài cổng trại vào đến đây, mới có trên cây số, ông đã lặc lè, mang muốn hết nổi. Chưa kể lúc trước, làm gì có ca, coóng đựng cơm và những thứ lẩm cẩm khác ?
Tôi hoàn toàn đồng ý với Lâm, nhưng không sao có thể tự mình vứt bỏ những gì đang cần. Hình ảnh cuộc chuyển trại của anh em mấy tháng trước, từ khu này qua khu khác, tôi đã thấy, lại cố tình quên đi, để yên tâm trong vấn đề mang kỳ hết những thứ gì có trong tay.
- Ông không thấy sao ? Vì biết trước, tôi đã cẩn thận khâu hai quai đeo bằng vải dù rất chắc. Kỳ trước, không có quai nên mới lê lết, chứ lần này, cam đoan là “phom phom”.
Nói xong, tôi cầm chiếc túi vải khoác lên vai. Tôi nhờ Lâm nâng lên, để xỏ tay vô quai. Khi chiếc túi vải dính cứng sau lưng, tôi nhún nhảy mấy cái, điều chỉnh cho chiếc túi ăn khớp vào thân hình, xong nhìn Lâm :
- Ông xem, vừa đấy chứ ? Có nặng gì đâu ?
- Rồi ông biết, nếu di chuyển đường dài. Nhưng thôi, nếu ông đã muốn, ráng chịu.
Nói xong, Lâm cho tay vỗ vào chiếc túi vải mấy cái, như anh nài vỗ về con ngựa trước khi ra vòng đua.
Tôi nghiêng người thả chiếc túi vải xuống, cầm điếu, nhồi thuốc, rít một hơi. Làn khói tỏa mờ ngăn cách tôi và Lâm trong một dây.
Tuy có ít người, nhưng vấn đề chuyển Trại cũng gây nên nhộn nhip. Những ai không phải di chuyển mặt mũi hân hoan, sốt sắng phụ giúp anh em chuển bị hành trang lên đường. Vào khoảng 5 giờ chiều, hàng chục tên cảnh vệ đeo A.K. làm nút chặn các lối đi như thường lệ.
- Ai không chuyển Trại, tập trung trong một căn nhà, không được di chuyển lộn xộn.
Tên Thiếu úy Tư cho lệnh, mọi người riu riú nghe theo.
- Những anh nào chuyển Trại, mang tư trang ra phòng Hội lớn, tức phòng đặt máy “màn ảnh nhỏ” .
Nó là hai căn nhà ghép liền nên khá rộng. Những chiếc túi vải, xắc-ma-ranh căng phồng, lần lượt khuân vào. Chỉ một lúc, căn phòng rộng như vậy đã chật ních người và hành trang. Tiếng nói chuyện ồn ao như vỡ chợ.
Tên Tư đứng trên chiếc ghế cao hô lớn :
- Yêu cầu các anh im lặng, nghe tôi nói.
Tiếng ồn ào tắt ngấm.
- Tôi gọi đến tên anh nào, anh ấy nói “có mặt” và phải đứng đúng vào Đội của mình. Mỗi đội sẽ do anh Đội Trưởng chịu trách nhiệm khi “nên” và xuống xe, cũng như “núc” đi đường. Các anh nghe rõ chứ ?
- Rõ!
- Bây giờ tôi đọc tên, sau đó, điểm nghiệm, mỗi người không được mang quá 20 kilô.
Tiếng gọi tên và tiếng hô âm vang căn nhà, tạo nên không khí đặc biệt. Gọi tên và chia Đội xong, cuộc điểm nghiệm bắt đầu. Mọi người mở túi hành trang, bầy các thứ trước mặt. Tuy không ai nói ra, nhưng chắc người nào trong lòng cũng buồn phiền vì vật dụng đã được sắp xếp gọn gàng, nay lại mở tung, thì giờ đâu xếp lại cho ngăn nắp ? Tôi cũng ở trong tâm trạng đó ! Nhưng dù không muốn, vẫn phải thi hành lệnh. Tôi cúi xuống, mở sợi dây thừng dằng bên ngoài chiếc túi vải, lôi dần từng thứ ra, nào mùng mền, quần áo, ca coóng, lon gô bầy la liệt trên nền đất. Tên Tư và mấy tên cảnh vệ chia nhau khám xét
- Sao mang lắm thứ thế này ? Vứt đi, vất !
Vừa nói, tụi cảnh vệ vừa quăng vào góc nhà những gì tụi nó cho rằng không cần thiết, hoặc quá nhiều. Vấn đề khám xét, ai cũng biết qua hai chuyến chuyển Trại trước nhưng vẫn là vì hy vọng vào sự may rủi, như khám sót hoặc giấu được vì quá đông, còn được cái nào hay cái nấy ! Anh em không còn tin vào lời lừa gạt của những tên Cộng Sản lưu manh nữa !
Cuộc điểm nghiệm đến tối mịt chưa xong. Trại lại hư điện, nên phải đốt nến và đèn dầu để khám nốt những người còn lại. Được khám xong, trong bóng tối, tôi ấn đại vô bất kể trời đất. Tuy đã bị vứt đi khá nhiều, mà sao cũng chiếc túi vải này, mới chưa được 2/3 vật dụng, đã chật cứng. Không còn nhiều thời gian để suy tính, tôi trải tấm đắp ra, cho tất cả những thứ còn lại vô, buộc túm lại thành gói thứ hai. Bây giờ hành trang của tôi hóa cồng kềnh: một đeo lưng, một xách tay. Xốc túi đeo lên lưng, quả thực nhẹ hơn nhiều, nhưng không gọn bằng trước.
Chúng tôi được lệnh chuyển ra chiếc sân nhỏ, theo từng Đội. Tôi vừa quay người, bỗng có tiếng nói bên tai:
- Ông đưa tôi xách dùm !
À Lâm.
- Tôi nói từ chiều, ông không chịu, nếu nghe tôi có phải lúc này nhàn không ?
Tôi không trả lời, lầm lũi bước ra ngoài. Lâm nói tiếp:
- Lúc nào có hoàn cảnh, ông nhớ thu xếp lại, tay xách nách mang, rầy rà lắm !
Lời nói của Lâm, lời nói tiên nghiệm, không cần phải chờ đợi lâu, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, thực tế đã bắt tôi trả giá bằng bao nhiêu khổ nhọc, có lúc tưởng tiêu luôn sinh mạng!
Khoảng hơn 8 giờ tối, đoàn xe vận tải tiến vô Trại. Chúng tôi không còn bỡ ngỡ. Sau khi đếm người xong, tên cảnh vệ áp tải ký nhận, rồi cho lệnh lên xe. Cững như mọi lần, vật dụng trước, người sau. Chiếc bạt lại buông kín mít. Tên cảnh vệ trèo lên ngồi vào chỗ đã dành cho y. Nó cho tay vén chiếc bạt, thò đầu ra nói chuyện với mấy tên đứng dưới, trước khi xe chạy. Lòng xe chật cứng. Mỗi lần di chuyển hình như đồ đạc lại nhiều hơn, thu hẹp diện tích chỗ ngồi. Lần di chuyển này, anh em tuy cùng Trại, nhưng ít ai quen thân, nên ai nấy ngồi im không trò chuyện.
Chiếc xe chuyển bánh, chạy theo con lộ vòng quanh khu vực. Đám bụi bay mù che khuất một góc Trại. Thôi, dù sao, cũng giã từ kẽm gai, giã từ những ngày buồn nản, giã từ khoảnh đất đã nằm, giã từ kỷ niệm dù vui, dù buồn, giã từ đàn én, giá từ lũ nhặng, giã từ hố phân, giã từ “ân nhân”, giã từ, giã từ hết...!
Đoàn xe ra khỏi con lộ đất, tiến vào xa lộ, tăng dần tốc độ.
- Ai ngồi ngoài, nhìn xem quẹo hướng nào ?
- Hướng Saigon !
Trong lòng xe có tiếng cười nhẹ nhỏm.
- Hướng này, có hy vọng đó anh em !
- Chờ xem !
Lời qua tiếng lại cất lên khe khẽ.
Tên cảnh vệ ngồi như pho tượng. Lần di chuyển này tôi bị ấn vào giữa lòng xe nên chẳng nhìn thấy gì. Tất cả những điều tôi biết đều do anh em nói.
Xe đang chạy ngon trớn bông có tiếng khục khục. Chiếc xe giật giật mấy cái rồi ngưng lại. Máy hết nổ. Tiếng gió vun vút tạo nên do các xe chạy phía sau qua mặt. Từ ca-bin, tên lái xe mở cửa, nhảy xuống. Chiếc nắp ca-pô khua lách cách. Tôi quay mặt cố tìm cách nhìn qua khe bạt. Ánh đèn pin chiếu lập lòe nơi đầu máy. Trong xe có người hút thuốc. Khói thuốc đưa vào mũi bắt thèm, nhưng ở hoàn cảnh này làm sao có thể rít hơi thuốc lào cho đỡ nhớ ?
-Yêu cầu anh nào hút thuốc vứt đi nhé ! Bí hơi thế này, thở khói mù mịt, chỉ có chết.
- Thèm quá, thông cảm chút.
- Thông cảm cái đếch gì ? Mình ông khoái, mấy chục người khổ.
Anh hút thuốc cố rít thêm mấy hơi nữa, mới chịu vứt. Tôi gục đầu xuống gối, mắt nhắm lại, cố gắng không suy nghĩ, nhưng chẳng hiểu sao biết bao nhiêu hình ảnh bỗng nhiên xô lại làm xáo trộn hệ thống thần kinh. Mở choàng mắt, tôi nhìn chòng chọc vào bóng tối. Những khuôn mặt lấp ló thoáng còn, thoáng mất, ẩn ẩn, hiện hiện mơ hồ như trong một giấc mơ nào đó. Để tránh ám ảnh, tôi trườn mình, cho tay kéo chiếc bạt để khe hở mở to một chút. Một chiếc Jeep M2 của Quân Đội Cộng Hòa thắng sát chiếc xe hư. Tên bộ đội có tuổi đeo K54 không mang quân hàm, nhảy xuống. Chúng thì thầm với nhau phía đầu mũi xe, không ai nghe rõ. Tên bộ đội lại vội vàng leo lên chiếc Jeep. Tiếng rú ga rầm rầm vang dội giữa bóng tối mênh mông !
Thấy chiếc xe của Quân Đội mình khi trước, nay tụi nó xử dụng trong lòng tôi tự nhiên nhức nhối, khó chịu, tuy thực tế, chẳng những chiếc Jeep, còn rất nhiều thứ quý giá hơn, thiêng liêng hơn, nhưng vì cuộc thua trận bất ngờ làm mất hết, tiêu tan hết !
Chúng tôi đang ngồi trong lòng chiếc xe chế tạo tại Trung Cộng. Sở dĩ tôi phân biệt được, do chiếc mui xe và màu sơn. Nó đã vưọt Trường Sơn trong cuộc chiến vừa qua để vào miền Nam, rồi ở lại đây.
Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, chiếc Dodge 44 xịch tới ! Một tốp người nhảy xuống. Họ xúm lại sửa chữa, chừng nửa tiếng, xe nổ máy. Tiếng rồ “ga” nghe khó chịu. Tên lái xe nhảy lên ca-bin, sang số lách cách. Chiếc xe lăn bánh, tăng tốc độ. Tôi nghe tiếng máy nổ đều, chạy thẳng hướng Saigon. Quá mệt, tôi ngã người vào đống túi hành trang thiêm thiếp.
- Thủ Đức rồi, anh em ơi ! Ồ, đèn ở khu nhà máy biến điện sáng quá !
Tuy không ai ước đoán được, chiếc xe sẽ đưa mình tới đâu, nhưng đi về hướng này, có cơ may hơn các hướng khác. Mọi người tuy không ai nói, nhưng tôi tin tất cả đều mong mình được đưa về Trường Thủ Đức, chưa chắc được tha, nhưng gần nhà hơn !
Chiếc xe qua ngã tư, vẫn chạy thẳng, tuy nhiên, anh em chưa hết hy vọng. .
- Có lẽ tụi mình được đưa về Hạnh Thông Tây, kho Quân Nhu cũ. Nơi đó cũng rộng lắm!
Tiếng nói thì thầm cất lên giữa tiếng máy nổ đều đều. Qua khỏi ngã tư Thủ Đức chừng hơn nửa tiếng, chiếc xe hạ dần tốc độ rồi lạng qua phía trái. Tiếng thắng kêu ken két. Anh em đổ dồn người về phía trước. Xe dừng lại. Tên cảnh vệ vén bạt nhảy xuống, hạ tấm chặn hậu, cho lệnh rời khỏi xe.
Người trước, kẻ sau lần lượt lao ra.
- Chết cha, New Port !
- Tân Cảng à ?
Không ai nói điều gì. Những túi hành trang được thẩy xuống. Tôi xách hai tay hai gói của mình, ra đứng một chỗ. Phía trước mặt, chiếc tầu thủy loại chở khách và hàng hóa, khá to đậu lừng lững như dãy phố ! Những ngọn đèn sáng rực trong các ca-bin trông vui mắt. Người đi lại rộn rịp trên boong.
- Mấy anh tập họp đi ! Đội mấy ?
Đội Trưởng nhanh nhẹn trả lời : Đội 15 !
- Theo tôi.
Tên này, có lẽ lo về hành chánh, tay nó cầm một tập giấy, dẫn chúng tôi đến một chỗ, nơi đó đã có nhiều Đội khác tập họp. Sau khi chỉ chỗ xong, nó quay ra đón các chuyến khác. Tôi đứng cạnh một Đội trẻ măng không thuộc lớp tuổi chúng tôi. Không hiểu, các Đội thuộc Trại tôi, họ được chuyển đi đâu ? Tôi nhìn xa xa, từng loạt nhà kho giống nhau trải dài trước mắt, sau lớp rào kẽm mắt cáo khá cao. Những ngọn đèn pha chiếu sáng rực, để phòng trộm cắp ! Bỗng một tên bộ đội từ đâu tiến đến, dẫn một đội ra bến tầu. Tôi dõi mắt nhìn xung quanh. Có mấy cô gái mặc quân phục, đội cối, chân đi dép râu, đi đi lại lại trước vọng gác gần đó. Chiếc đuôi tóc, bím theo kiểu Trung Hoa, đung đưa theo nhịp bước. Họ đều mập, lùn. Tôi không hiểu sự có mặt của họ ở nơi đây có nhiệm vụ gì, có lẽ để khám xét phái nữ, khi cần.
Tôi nhìn chiếc tầu với những sợi dây thừng to quăng bừa bải trên lan can dài. Phiá gần mũi, có chữ Sông Hương kẻ mầu đen nổi bật trên nền trắng của vỏ tầu. Một chiếc thang dây thả từ mép tầu xuống thềm xi-măng. Tôi thấy những người đeo ba-lô, vác xắc-ma-ranh đang leo lên. Chiếc thang đung đưa như chiếc võng. Họ leo chậm chậm, rất khó khăn. Mỗi bước, hình như phải lấy hết gân sức để giữ thăng bằng cho khỏi té. Chiếc thang một bên có sợi dây thừng làm tay vịn, người leo phải giữ chặt sợi dây này nếu không muốn rớt xuống sông. Tên bộ đội đứng dưới, chỉ tay quát :
- Các anh kia, “neo” nhanh “nên”, để người khác còn “neo”. Anh “neo” chậm vậy, bao giờ tới “nượt” người khác ?
Tôi nhìn về phía tay hắn chỉ, thấy một người đeo quá nặng, chiếc túi đeo lưng to đụng phải sợi dây vịn, làm nó càng lắc lư nhiều hơn. Một tay nắm dây, tay kia xách thêm vài thứ cồng kềnh, từ xa tôi không nhìn rõ vật gì ? Bề ngang chiếc thang quá hẹp rất khó di chuyển. Người leo sau, mặt áp sát vào gót chân người leo trước. Chiếc thang dây đeo kín người, đung đưa, run rẫy do sức nặng không đồng đều tạo nên. Từng bước, rồi từng bước, người leo đầu cố gắng. Từ dưới nhìn lên, tôi nhận thấy tất cả sự mệt mỏi trong mỗi bước chân. Bỗng chiếc thang chao mạnh. Có tiếng kêu thất thanh. Một thân người với chiếc túi đeo lưng từ trên cao rớt xuống!.. Giữa đám người nhốn nháo, có tiếng quát: “neo nên” chờ gì nữa ? Tên cảnh vệ, cầm ngang cây A.K., có nhiệm vụ canh giữ đoàn tù leo thang, hình như không để ý đến người vừa rơi xuống nước. Vài tên khác, từ phía xa, chạy đến chỗ vừa xẩy ra tai nạn, chỉ chỏ một lát xong cũng bỏ đi. Tôi không biết anh vừa té xuống thuộc Đội nào, cấp bậc gì, nhưng chắc chắn đã chết đuối. Chiếc túi đeo lưng đã giết anh.
Vì có người vừa rớt thang dây, những người đi sau leo từng bước dè dặt, mặc kệ sự giục giã của tên cảnh vệ đứng dưới. Vứt bớt đồ, không ai muốn. Mang nặng, leo thang dây, vô cùng nguy hiểm. Tôi rùng mình lo sợ cho từng bước chân của mình. Khi leo đến nấc thang cuối, tôi quay đầu ngó xuống. Một vũng sâu hoắm, đen ngòm mở ra trước mắt, chỉ một sơ hở nhỏ cũng đủ mất mạng. Nhưng may thay, mọi người đều thoát, trừ kẻ xấu số duy nhất. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, đi men theo chiếc hành lang hẹp tiến đến miệng hầm. Hai tên nữ bộ đội, đứng hai bên. Người đưa tôi hai gói mì ăn liền, người đưa bốn cục lương khô. A, nhiệm vụ của họ đây. Lúc nãy ở dưới “ke”, tôi đã hiểu lầm, nhưng chưa chắc, vì lính Cộng Sản đa năng, họ có thể làm nhiều việc, nhiều nghề!...
Vì bất ngờ được phát mì và lương khô, không có chỗ chứa, tôi ấn đại vô túi quần, túi áo cho rảnh tay. Từng bước, tôi men dần theo dòng người đến cửa hầm. Chiếc cầu thang sắt nhỏ móc dựng đứng từ miệng hầm tới sàn tầu. Nghiêng đầu ngó xuống, căn hầm chật ních người. Nếu thêm nữa, chẳng biết len chân vào đâu ? Nhưng mặc kệ, mọi người đều phải lần lượt xuống. Tôi xoay người, úp mắt vào thang, thả dần từng bước. Xuống đến nửa thang, tôi tuột tay, đánh rớt tấm đắp, trong có đựng một số vật dụng ! Những tiếng la, kèm theo tiếng chửi tục tằn ào ào quất vào mặt. Trong đời, chưa một lần, tôi phải chịu đựng cơn mưa chửi dữ dội như vậy. Biết mình có lỗi, tôi chỉ im lặng. Khi đến bực thang cuối, đang tìm chỗ đặt chân, tôi nghe có tiếng gọi.
- Lại đây ông, lại đây !
Tuy chưa nhận ra ai, tôi cũng quay mắt về hướng đó, gục gặc đầu ra chiều đồng ý. Gói đồ rớt, đã được ném trả lại. Tôi sực nhớ đến Lâm và lời nói trước của hắn, nhưng đã muộn ! Rồi đây, trên bước đường cải tạo, tôi còn phải gánh chịu nhiều nỗi ê chề, chỉ vì quá lo xa.
Tuy muốn, nhưng không cách nào tôi đến được nơi phát ra tiếng gọi vì người ngồi xít nhau và những túi đồ đã choán hết chỗ. Ngước mắt nhìn ra xa, nơi tấm vách sắt ngăn đôi hầm tầu, còn một chỗ trống, tôi cố gắng ôm đồ len đến. Khi bàn chân tôi vừa chạm tới “khoảng trống đáng yêu” bỗng có tiếng nói ầm ừ cất lên: - Có người rồi đó ông ! Chiếc mũ lưỡi trai úp trên mặt đuợc hé mở. Một khuôn mặt khắc khổ, đôi lông mày rậm cùng bộ râu quai nón mọc che kín gần hết khuôn mặt. Chiếc áo Treillis mở tung khuy, để lộ khoảng ngục nở tròn với mảng lông đen. Phía trên mảng lông đó, có xâm hình trái tim với mũi tên xuyên qua, bên dưới có hàng chữ nhỏ. Tôi vội rụt chân lại, đứng trơ trơ như Từ Hải giữa trận tiền. Đang quanh quẩn tìm chỗ, từ sau có bàn tay kéo tôi ngã nghiêng trên đống đồ.
- Còn muốn đi đâu nữa ! Cứ ngồi đại đây, tính sau !
Tôi quay lại.
- A, Trúc, ông cựu Quận Trưởng.
Trúc nhếch mếp cười, nụ cười buồn bã ! Từ cửa hầm, người vẫn tuôn xuống. Tiếng chửi thề luôn luôn cất lên khi có người đi tìm chỗ, bắt buộc phải bước qua mặt một số người đã xuống trước. Nhưng may mắn, chiếc thang đã được rút lên khỏi miệng hầm. Từ dưới, ngước mắt nhìn lên, tôi thấy một khoảng trời mờ mờ trên cao báo hiệu trời sắp sáng. Mấy gói mì và các cục lương khô đã nát ngướu. Bữa cơm chiều qua chưa ăn, vẫn chưa thấy đói. Cổ họng khô ran, tôi tìm chiếc bi-đông nước, nhưng không nhớ đã để nó vào túi đeo lưng hay bọc trong tấm đắp. Tôi nhìn về phía Trúc.
- Có nước, cho xin một ngụm, ông !
Trúc quăng về phía tôi chiếc bi-đông nhẹ xìu. Tôi lắc lắc, tiếng nước khua vang bên trong chứng tỏ không còn nhiều. Tôi mở nắp, dốc ngược vô miệng, vừa một ngụm !
Nhờ ngụm nước, trong người thấy tỉnh táo, tôi dựa lưng vào đống đồ, nhắm mắt lại cho đỡ mỏi vì cả đêm vừa qua, không chợp mắt. Với tình cảnh này, tôi coi như số mệnh đã an bài. Con tầu này sẽ đưa chúng tôi ra Côn Sơn hoặc Phú Quốc để từ đó, sống đời tù nhân đích danh, chứ không còn mập mờ qua từ “học tập, cải tạo“...!
Tuy mệt, nhưng không sao ngủ được. Tiếng nói chuyện, cười đùa, văng tục làm không khí căn hầm náo động. Vài chiếc võng đã tìm cách móc lên, chủ nhân nằm thoải mái. Tôi chắc đây là những sĩ quan đã lăn lộn ở đơn vị tác chiến, nên có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề ăn ở. Chiếc võng là một tấm vải nylon mỏng, nhưng rất chắc, được treo bằng dây dù tòn ten ngay trên đầu những người nằm dưới. Chẳng thấy ai phàn nàn gì, chắc họ cùng “băng”. Trên tấm vách sắt ngang tầm mắt, có dòng chữ No Smoking kẻ bằng sơn đỏ, nhưng chẳng ngăn cấm được sự không hút thuốc. Tiếng điếu cày ren réc đó đây. Tôi cố tìm cách moi chiếc điếu trong túi đeo lưng ra. Chiếc điếu đã đổ hết nước. Chẳng còn cách nào khác, tôi phải tìm cho bằng được chiếc bi-đông. Sau một hồi mò mẫm, tôi đã thấy nó nằm dưới đáy túi vải. Tôi phải hết sức khéo léo mới lôi được nó lên, khỏi bỏ ra những vật để trên. Mở nắp, tôi cẩn thận rót nước vô điếu, đưa lên môi kéo thử. Tiếng điếu rít lên. Tôi vê thuốc, châm lửa, kéo một hơi dài. Suốt từ chiều qua, tới sáng nay, lá phổi của tôi mới được che phủ bởi màn khói quen thuộc. Hồn tôi lâng lâng, ngây ngất, ngã lưng vào đống đồ chật cứng phía sau, thở dồn dập !
- Cho mượn cái điếu ông !
Tuy nghe tiếng, nhưng chân tay tôi bủn rủn, không cách nào đưa nổi chiếc điếu đến phía gọi. Lát sau, cơn say hả, mở mắt nhìn, trời mờ sáng.
Những vệt mây chuyển động từ từ, trong lúc trời không gió. Có lẽ, con tầu đã khởi hành. Mầu sắc bàng bạc vắng lặng. Từ phút ấy, trước mặt tôi lúc nào cũng chỉ có ngần ấy khoảng trời.
- Khói thuốc của bố ngửi ngon quá hé ? Bố hút đã lâu chưa, hay vào tù mới biết. Bố cho mượn rít một hơi !
Tôi đưa điếu cho người bạn trẻ ngồi xế, xa đúng một tầm tay.
- Bố cho con xin một “bi” luôn, thuốc của con “cù lần” quá, hút phào phào như rơm.
Tôi mở bao, vê vê bi thuốc to bằng hạt ngô, đưa cho người bạn trẻ. Anh nhồi vào nõ, bật lửa. Tiếng điếu kêu ròn rã, nhịp nhàng. Hút xong, anh ngữa mặt thở khói. Nhưng đột nhiên, anh nằm vật xuống, bọt mép sùi ra, buông chiếc điếu đổ nghiêng, nước chảy tung tóe !
- Đù mẹ, nước điếu đổ tùm lum, hôi rình, ai chịu nổi ? Hút cái kiểu đếch gì, khốn khổ vậy ?
Người ngồi kế bên càu nhàu. Người say không còn sức trả lời. Tôi vội nhoài người cầm chiếc điếu, sợ nhỡ có ai bực mình đập vỡ. Người bạn trẻ đã tỉnh, ngồi ngay ngắn.
- Ôi cha, thuốc của Bố mua ở đâu, trứ danh vậy ? Kể từ ngày biết hút thuốc lào, chưa lần nào con được hút bi thuốc ngon như vậy !
- Này cậu, lau nước điếu đi, hôi rình à!
- Thông cảm, khăn đâu ? Chờ chút, khô ngay í mà ! Thuốc ngon quá, cậu nên xin Bố một bi, kéo thử xem !
Người ngồi gần nghe nói, chắc cũng muốn hút cho biết, anh ta cứ nhấp nhổm, nửa muốn xin, nửa ngượng. Tôi đưa bịch thuốc về phía anh ta.
- Này, làm một “bi” !
Anh ta cầm bịch thuốc, thò hai ngón tay vê vê một điếu, nhồi nhanh vào nõ. Anh này kéo coi bộ không ngon bằng anh trước. Điếu thuốc chưa cháy hết, anh đã ngã người, há miệng thở dốc, hai mắt nhắm nghiền như không muốn nhìn, muốn thấy gì nữa trên cõi đời này.
- Cho mượn chiếc điếu và gói thuốc bố !
Thế là từ lúc đó, bịch thuốc và chiếc điếu lưu lạc đi vòng vòng khắp lượt, đến lúc trở về, bịch thuốc cũng vừa sạch trơn ! Chính nhờ bịch thuốc và chiếc điếu, nên tôi được nhiều thiện cảm. Mỗi người xích một chút, tôi đã có chỗ ngồi thoải mái ! Xung quanh, toàn chiến hữu trẻ, trên dưới 30 tuổi, cấp bậc từ Thiếu úy tới Đại úy.
Một khoảng nắng chiếu xuống hầm. Những khuôn mặt bơ phờ, mệt mỏi, đầu tóc rối bời, ngó nhìn ngơ ngác. Nhiều người giờ này vẫn còn ngủ, đầu nghẹo về một bên, ánh nắng chiếu lệch làm nổi bật nét lồi lõm của khuôn mặt như gỗ đẽo. Những sợi râu đâm tua tủa trên mép, trên cằm như hai chiếc bàn chải đã hư. Người ngồi sát tôi, có gương mặt khắc khổ, trầm lặng. Anh lấy gói mì ra ăn. Những sợi mì được hai hàm răng nghiến mạnh, nghe dòn tan. Không hiểu sao, tới giờ này, tôi vẫn chưa thấy đói. Phần cơm đựng trong lon ghi-gô từ chiều qua, chắc đã thiu. Tuy biết vậy, nhưng không cách nào vứt đi. Bụng cồn cào, có thể do đói, tôi bắt chước anh ngồi bên, bóc gói mì cho vào mồm. Mì đã nát sẵn, nên hàm răng đỡ phải làm việc. Tuy nhai, nhưng tôi chẳng cảm thấy mùi vị gì ! Nó nhạt nhẽo, không tạo nên sự thích thú nào để trở thành ham muốn ! Dù sao, tôi cũng cố nuốt vì nếu không, sẽ mất sức, khó lòng giữ được phong độ khi cần đến sức mạnh và sự dẻo dai.
Có lẽ, chiếc tầu đã đổi hướng nên khoảng nắng đổi chỗ. Tàu chạy rất êm, ngồi dưới hầm, tôi không cảm thấy gì, không nghe tiếng máy cũng chẳng bị sóng nhồi. Tôi chỉ cảm biết nó đang đi vì nhìn lên vòm cao thấy mây trôi.
- Đéo biết tụi nó cho mình đi đâu ?
- Phú Quốc là cái chắc !
- Tại sao không Côn Sơn ? chuồng cọp thiếu gì?
- Cái thân tù, đi nơi nào cũng vậy thôi. Đến đâu, Cách Mạng cũng phải cho ăn, cho chỗ ngủ, mình chẳng phải lo chó gì cả. Đời tù thế mà sướng đó, cụ ạ !
Tiếng cười hô hố nổi lên.
- Cậu tưởng tụi nó cho cậu ăn không đấy chắc ? Nó bắt lao động hộc máu mồm ra, nuốt cũng không vô cho mà xem. Nếu đời tù sướng, tại sao mọi người đều sợ ? Ở cái thế này, đéo làm hơn được, nên nói liều !
Từ sát mé tường, có người đứng dậy, ngó chăm chăm về phía trước mặt, như tìm vật gì.
- Này anh em, cho đi nhờ chút, mót đái quá !
Nói xong, anh ta bước đại vào một khe hở vừa đủ đặt bàn chân. Khi anh đã đặt được bàn chân xuống, anh co chân kia lên để tìm một khe hở khác. Trong lúc đó, anh đứng có một chân, mắt vẫn ngó xuống sàn.
- Cho nhờ tý anh em!
- Nhờ cái con c...Đi đâu, đi lắm thế ?
Tôi nghe đúng tiếng gã úp mũ lên mặt, trên ngực có chòm lông và xâm hình trái tim cùng mũi tên.
- Mót đái quá, nhờ chút !
- Sao không đái cha nó ra quần. Nằm cũng không yên. Cả đêm không chợp mắt phút nào !
Tuy nói vậy, nhưng anh cũng co gối, để người mót đái đặt đủ bàn chân vô, khi bàn chân đã đặt xuống, do kinh nghiệm, anh không dám rút chân kia, trong khi chưa tìm ra chỗ. Anh lại năn nỉ, cứ thế, đi lần đến chân chiếc cầu thang sắt ở cuối hầm. Tôi nhìn theo anh với mục đích để quan sát trước. Rồi đây, vì nhu cầu sinh lý, mình phải đi và cũng phải gánh chịu những gì anh đã trải qua. Đoạn đường tuy ngắn ngủi nhưng cam go không thua gì “đoạn đường chiến binh” tại các Quân Trường. Khi tới chân cầu thang, anh xếp hàng đứng chờ. Hàng người đợi cũng khá đông. Ngay sát đấy, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang. Chờ hồi lâu, cũng đến lượt. Anh leo cầu thang vội vã. Lượt đi đã xong, lượt về không hơn gì. Cùng ngần ấy khổ ải, ngần ấy câu chửi rủa, có khi còn ăn đòn nữa, nếu sơ ý dẫm lên đồ vật hoặc đụng phải người. Sau bãi đái, anh trở về chỗ, mặt mày lơ láo!
Tôi rùng mình lo sợ, không dám uống nước nhiều.
Từ trên miệng hầm, tên bộ đội đeo A.K. cúi đầu nhòm xuống:
- Ê, anh nào đứng kia ?
Một anh, chắc cũng mót đái hay ỉa, đang đứng tìm chỗ đặt chân, nghe tiếng gọi, ngẩng đầu lên.
- Phát nước ! Tôi thòng sợi dây nhựa xuống, anh giữ “nấy”, chia nước cho mọi người, nghe rỗ không ?
- Nghe rõ !
Anh trả lời, nét mặt nhăn nhúm vì bỗng dưng vớ phải cái vạ vịt.
- Mót ỉa thấy mồ, anh nào chia nước dùm đi.
Anh vừa nói xong, sợi dây nhựa, đường kính chừng 2 phân, thả ngay trên đầu, do đó, buộc lòng anh phải cầm. Thấy có nước, mọi người nhốn nháo tìm đồ để đựng. Nào bi-đông, nào lon gô, cà-men, nón nhựa, ca coóng đều được đưa lên cao. Dòng nước chảy ào ạt qua vòi nhựa, vì không hứng kịp, nước chảy tung tóe làm uót một khoảng khá rộng.
- Cho xin một lon đi !
- Ướt cha nó hết rồi, từ từ chứ !
- Đù mẹ, chen gì khỏe thế, muốn lấy nhiều, vô trong !
- Ối cha, anh nào cầm dùm tý. Mót ỉa quá. Nếu không ai cầm tôi buông tay nè !
Vừa nói xong, anh buông ra thật. Dòng nước chảy xối xả. Tên bộ đội từ trên cao nhìn thấy, nó tụt đầu xuống. Chỉ tích tắc sau, dòng nước hết chảy. Nhiều người chưa kịp lấy, ngơ ngác nhìn sợi dây nhựa từ từ rút lên cao rồi mất hút.
- Có dư cho một miếng ! ·
- Lúc bảo cầm ống, đéo ai chịu cầm, nay lại xin với xỏ !
- Tôi ở xa qua, sao cầm ?
- Không cầm, ráng chịu !
Nhìn cảnh đó, tôi hồi tưởng, hình như đã thấy ở đâu rồi. Có lẽ, trong cuốn phim trình bầy về cảnh buôn nô lệ ở cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19. Những người da đen cũng bị nhốt dưới hầm tầu, bị đánh đập tàn nhẫn, thiếu nước, thiếu ăn. Họ bị đối xử như lũ thú vật. Trong đầu tôi, nổi hằn lên nỗi tủi nhục. Tôi muốn gào lên để tỏ lòng căm phẫn, vì không ngờ ở những năm cuối của thế kỷ 20 con phải nhìn cảnh người đầy đọa người như vậy ? Cộng Sản, từ ngày thắng trận vẫn rêu rao: “Việt Nam, trái tim của nhân loại !”, “Việt Nam, chiếc nôi của loài người tiến bộ”, nhưng trên thực tế, họ lại hành động như một lũ mọi rợ !
Cảnh phát nước vừa xong, đến cảnh quăng lương khô. Từng thùng lương khô do Trung Cộng chi viện, được buộc vào sợi dây thừng thả xuống.
Tên bộ đội từ miệng hầm nói xuống:
- Ê, mỗi anh 4 cục. Chúng tôi tính đã đủ số. Các Đội Trưởng chịu trách nhiệm.
Các Đội Trưởng lúc này mới nhúc nhích, điểm số anh em, tính toán số lượng.
- Mời anh em lại nhận phần ăn.
- Xin nới rộng một chút, lấy chỗ chia.
- Chỗ đâu mà nới ? Muốn rộng đi chỗ khác!
Vì quá chật chội, nên con người dễ sinh bực tức. Sự việc không đáng gì, ở đây, trở thành nặng nề, khó giải quyết. Mới đây, họ là những chiến hữu, chào hỏi nhau qua cấp bậc, nếu không quen biết cũng chẳng bao giờ có ý nghĩ gây gỗ. Nhưng ở hoàn cảnh này, tình chiến hữu hình như phai nhạt, nhường chỗ cho ích kỷ, nhỏ nhen. Nói vậy không có nghĩa mọi người có mặt đều hành xử như nhau, nhưng “đa số trầm lặng” không giúp ích gì trong việc giải quyết mâu thuẩn cấp thời.
Nhưng mọi việc rồi cùng trôi qua bằng hình thức này hay hình thức khác. Ngoài phần lương khô, mỗi người còn được cấp chiếc bát nhựa và đôi đũa. Chiếc bát, sau nay trở thành đơn vị đo lường dùng cho việc chia chác, hay mua bán. Người ta gọi nó là “bát tầu thủy” !
Vẫn chưa đoán biết, con tầu này sẽ đưa chúng tôi đến đâu. Có mấy ông Hải Quân hiện diện dưới hầm, nhưng chẳng ông nào nói gì. Ánh nắng, lúc bên này, lúc bên kia, khi dài, khi ngắn rất khó định hướng. Hơn nữa, nóc hầm lại được kéo nắp che một nửa khoang nên khoảng trống bị thu hẹp. Người nào cũng muốn ngồi yên chỗ, chẳng ai muốn di chuyển vì mỗi bước đều gặp khó khăn.
- Này ông Khánh hải quân, ông có định hướng xem tầu chạy ngả nào ?
Một gã trung niên, có bộ râu mép đẹp, người dong dỏng cao, đang đứng chống tay vào cạnh sườn, quay đầu nhìn lại :
- Tôi đang định hướng đây ! Nếu tụi nó đưa mình ra Phú Quốc thì mặt trời phải chiếu thẳng phía mũi tầu hoặc hơi chênh chếch từ trái qua phẳi. Đằng này, tôi để ý, từ hơn tiếng đồng hồ, mặt trời chiếu ngang thân tầu và bóng nắng cứ thu ngắn dần, tôi nghĩ tầu đang tiến về hướng Bắc quá !
- Chả nhẽ tụi nó đưa mình ra Bắc?
- Có thể lắm ! nhưng phải chờ đến sáng mai mới định hưóng được.
- Tối nay, ông nhìn sao, rõ không ?
- Nhìn thế quái nào được. Có một lỗ hổng, to bằng lòng bàn tay, cách nào thấy sao mà định, lên boong tầu, họa may !
Buổi trưa dưới tầu quá nóng. Anh em đều cởi trần, mồ hôi vẫn chảy dầm dề. Chỗ bị ánh nắng rọi vào, tất cả đều đội mũ, ngồi chịu trận. May quá, từ đêm qua, tôi không thấy mót đái cũng như iả. Tôi mừng thầm, vì nếu bị thôi thúc phải đi, không biết làm cách nào tôi có thể vượt qua được “biển người” đang nằm, ngồi la liệt mà không bị xỉ vả ? Xế chiều, có lần phát nước nữa. Chiếc dây nhựa lại được thòng xuống. Sự hỗn loạn có phần tồi tệ hơn lúc sáng vì nóng nực quá, mọi người đã dùng hết phần dự trữ. Chiếc bi-đông đã vơi quá nửa, tôi đứng lên cố men ra chỗ phát nước. Đưa chiếc bi- đông lên cao gần vòi nước, nhưng không cách nào tôi có thể lấy được một giọt. Mọi người đều giành giật, ai có thân hình cao lúc này rất lợi. Nhìn thấy Khánh hải quân đứng đó, tuy chưa quen biết gì nhau, nhưng tôi cũng làm như thân tình.
- Ông Khánh ơi ! lấy dùm tôi chút nước !
Khánh đưa tay cầm chiếc bi-đông ấn ngay vào vòi, trong nhấp nháy nước trào ra. Khánh nhích vòi nước, đưa trả. Tôi cảm ơn, nhưng anh đã quay lưng vì cũng có người nhờ lấy nước !
Cầm chiếc bi-đông trong tay, tự nhiên thấy khát, tôi mở nắp đưa lên miệng. Dòng nước mát lạnh trôi đến đâu biết đến đây, nhưng mồ hôi lại vã ra nhiều hơn lúc chưa uống. Không hiểu sao, tôi chẳng thấy đói. Từ chiều hôm trước đến giờ này, gần 24 tiếng đồng hồ, chỉ ăn gói mì khô. Nếu cuộc di chuyển này kéo dài, làm sao chịu đựng ? Tôi mang cục lương khô, ăn thử xem sao.
Bóc tờ giấy bao ngoài từ từ vì nó đã bị bể nát, tôi đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Nó là thứ bột nhờn nhờn, ăn rất bứ, nếu không có nước chiêu. Mỗi miếng bột đưa vô miệng, phải chiêu theo ngụm nước. Cố gắng nuốt hết nhưng chẳng tìm thấy chút hứng thú nào !
Người bạn trẻ bên cạnh, đang nghẹo đầu ngủ ngon lành. Xung quanh, tiếng nói cười oang oang như giữa chợ. Chiếc điếu cày được chuyền tay liên tục, mỗi lần muốn hút, tôi phải chờ hơi lâu mới được trả về.
- Bố ơi, trước ở đơn vị nào ?
- Chiến tranh chính trị !
- Ối cha ! Tụi Cộng Sản nó ghét chiến tranh chính trị lắm đó Bố ! Chúng con khi bị giam ở Sóc Băm Bô thuộc Phước Long, tụi nó hỏi, ai ở ngành Chiến tranh Tâm “ný”, “nà” nó thù dữ lắm !
Anh ta cố bắt chước giọng nói ngọng của các tên bộ đội, nói xong cười ngặt nghẹo :
- Bố ơi, bố là người miền Bắc, sao không nói ngọng, tụi Cộng Sản lại nói ngọng ?
- Vì tôi, người miền Bắc Quốc Gia, còn miền Bắc Cộng Sản, đều nói ngọng ! khác nhau chỗ đó !
- Chúng con còn trẻ, chịu đựng vài năm không sao, chứ Bố e khó lòng quá !
- Cảm ơn bạn, ai sao tôi vậy mà ! Đã trót thua trận phải gánh chiu hậu quả chứ ? Các bạn trẻ còn phải sống nhiều, cái khó ở chỗ đó. Rồi mai đây, làm cách nào có thể thích ứng với hoàn cảnh mới, chế độ mới mà mình không ưa, nhưng bắt buộc phải góp mặt ?
- A, chúng con đếch cần. Ngày mai còn xa lắm. Đến đâu lo đến đấy. Khi trước đi trận, có nghĩ gì đâu, lệnh trên bảo đâu làm đấy, bây giờ thua trận, cũng vậy thôi !
-Trước bạn ở đơn vị nào ?
- Biệt Động Quân ! Tụi con ngồi đây, đứa Sư Đoàn 18, đứa Sư Đoàn 21, đứa Truyền Tin, đứa Pháo Binh, đứa Tình Báo, đứa Biệt Kích, tùm lum cả !
- Tuổi lính các bạn hãy còn trẻ, tuổi đời cũng vậy ! Nhưng tôi tin, sau những năm dài học tập cải tạo, các bạn sẽ tìm thấy đúng con đường mình phải đi !
Tôi nói với ngụ ý xa xôi. Tôi nhìn đám người bao quanh, nắng gió và khổ cực đã làm họ mất đi phần nào nét sắc sảo của những sĩ quan trẻ trong Quân Đội Cộng Hòa. Qua hơn một năm học tập cải tạo, tôi chưa hề được thấy tên sĩ quan Cộng Sản nào có khuôn mặt khả ái !
Chiều đã xuống. Tôi ngước nhìn lên. Một khoảng không gian im lìm gần như bất động đang hiện rõ trước mắt như miếng bìa. Không khí dưới hầm đã bớt nóng nực. Tôi cho tay cài cúc áo. Mùi mồ hôi quen thuộc xông lên mũi. Đã hai chiều nay không tắm rửa, 24 giờ không đái ỉa, trong người thấy ngứa ngáy khó chịu. Người bạn trẻ đã thức giấc. Anh ta vươn vai, ngáp to mấy tiếng, hình như để giải tỏa những gì đang đè nặng trong đầu.
- Ông còn nước, cho xin một ngụm ?
Tôi đưa bi-đông nước cho anh ta, anh ngữa mặt, dốc ngược. Dòng nước chảy trào ra khỏi miệng. Uống xong, anh trao lại, đưa tay quệt ngang mép.
- Đã phát nước chưa ông ?
- Phát lâu rồi, trong lúc bạn đang ngủ.
- Chết cha, thế là tối nay không có nước uống.
- Đừng lo, tôi còn, cứ uống. Nếu hết xin quanh quẩn cũng đủ!
Anh đưa tay xin tôi bi thuốc. Tiếng điếu kêu như tiếng còi. Anh ngữa mặt thở bụm khói dầy đặc. Tuy là điếu thuốc đầu, nhưng anh vẫn tỉnh táo, khói thuốc hình như không đủ sức tạo cho anh sự khoái cảm như mọi người thường có !
Cái ô vuông trên đầu lúc này đã sẩm tối. Từ một góc, có tiếng la:
-Sao ẩu vậy ? Chỗ anh em nằm ngồi, ông đái ra, bố ai chịu được ?
- Đái vô lỗ mà ! Các ông xem, có giọt nào rớt trên sàn không ?
- Nhưng mùi khai xông lên, chứ đâu có phải rớt hay không !
Tôi thầm nghĩ, ông đái ẩu có 1ý. Thà đái liều ở đây, nghe anh em chửi còn hơn phải nghe cả làng chửi!
Trời tối hẳn. Ngọn đèn đỏ quạch từ trên cao toả xuống không xua đuổi hết bóng tối. Từ miệng hầm, vài ba cái đầu ngó xuống như xem lũ thú vật. Tôi chợt nghĩ đến những con gấu trong Sở Thú và đám trẻ con bu quanh bức tường xi-măng cao, nhìn những con gấu đi vòng vòng dưới đáy chiếc hố tròn. Nhưng những con gấu còn được thoải mái hơn chúng tôi nhiều, trong hoàn cảnh này ! Vài người khéo thu xếp với nhau, có thể nằm trở đầu đuôi, hoặc có thể duỗi thẳng chân trong thế ngủ ngồi, còn đa số đều bó gối, chịu trận.
Người bạn trẻ kế bên lại mở gói mì ra ăn. Tiếng nhai dòn tan làm tôi có cảm tưởng như anh đang thưởng thức hết cái thú của việc ăn uống. Tuy chưa đói, nhưng thấy người bên cạnh ăn ngon quá, cũng bắt thèm. Tôi lấy cục lương khô, đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Chất bột hòa tan vào nước miếng, không muốn trôi qua cuống họng. Tôi dùng nước để chiêu, như uống thuốc. Khi cục lương khô đã nằm yên trong bụng, nước trong bi-đông cũng vơi một nửa.
- Cho xin ngụm nước, ông !
Người bạn trẻ cầm chiếc bi-đông đã mở sẵn, đưa lên, dốc ngược. Tôi nhìn chiếc yết hầu lên xuống theo nhịp uống. Tuy không nói ra, nhưng trong lòng tôi cảm thấy bất mãn với thái độ không mấy lịch sự của anh ta. Nếu uống cái kiểu này, làm sao tôi có đủ nước để cầm cự tới giờ phát nước sáng mai ? Lúc nẫy vì chủ quan, tôi nói xin quanh quẩn, nhưng xét lại, thấy khó, vì ai cũng có một phần nước, dễ gì hào hiệp trong lúc cần phải lo cho mình trước đã! Nhưng đả trót, đành chịu ! Khi chiếc bi-đông được trao lại, nó nhẹ tênh, có lẽ chỉ còn lại độ 1/4 hay 1/5 là cùng !
Thời gian cứ đi từng nhịp đều đặn. Nền trời sau ô vuông đã mờ mịt. Tuy vậy, nhưng còn sớm, chưa ai ngủ, dù mỏi mệt. Khi ở Suối Máu, dù phải nằm đất, nhưng còn đủ chỗ để xoay trở, chứ ở đây, như bị ép trong chiếc hộp sắt, bốn bề chèn ép, bực bội, dễ sinh ra cáu kỉnh.
- Mệt qua ông hé ! - Người bạn trẻ nhìn tôi, nhếch mép cười.
- Cứ như thế này kéo dài vài hôm, voi cũng chết huống chi người !
- Nghĩ chán đời ghê. Tôi đề nghị, mình chồng mấy cái bị này lên nhau, lấy chỗ duỗi chân, ông nghĩ sao ?
- Cái đó, nhất rồi, nhưng sợ anh em kêu !
- Kêu cái quái gì. Đời sống con người qúy hơn đồ vật. Ai kêu đã có tôi, ông khỏi lo !
Nói xong, anh đứng dậy, xắn tay áo. Tôi nhìn hay cánh tay anh cũng xâm trổ, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Tôi không ngờ, lúc ngồi trông anh cũng bình thường như mọi người, nhưng khi làm việc con người anh thay đổi hẳn. Đôi mắt sắc sảo đưa đẩy, có vẻ sẵn sàng đối phó với mọi trở ngại. Cũng may không ai nói gì. Chỗ ngồi rộng đôi chút. Tôi duỗi thẳng chân ra phía trước thênh thang. Tối nay, may ra ngủ được, nếu vì lý do nào đó, khó ngủ, tôi sẽ dùng Valium.
Tôi nhớ đến Lan và gói thuốc. Không biết giờ này Lan ở đâu ? Chúng tôi còn có hy vọng gặp lại nhau trong một trại tù nào không ? Còn Hùng, Phúc, Nhân, Mậu, Huy giờ này ra sao ? Con tầu đưa tôi về hướng nào trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua ? Nói đến Cộng Sản là nói đến bí mật và xảo quyệt ! Chúng luôn luôn tìm mọi cách để làm sai lạc dự đoán của đối phương. Chính vì vậy, nên lúc nào chúng tôi vẫn chỉ là những “kẻ mù sờ voi” trước ý đồ của họ. Để tránh ám ảnh không đâu, tôi hỏi:
- Này, người bạn trẻ, tên gì nhỉ ?
- Tên Hạnh, Bố !
-Trước bạn ở đơn vị nào ?
- Lực lượng đặc biệt !
- A, trước đây, tôi cũng có quen vài người thuộc đơn vị đó như ông Tiêu, Đình, Viên và Lưu. Chẳng biết bây giờ họ ở đâu ?
Hạnh ngó tôi chằm chằm, vì không ngờ tôi quen nhiều chức sắc của Binh chủng đặc biệt này.
- Ông Đình và Viên, nhảy xuống giữa núi rừng Lào - Việt, trước ngày 30-4-75, nhưng tôi tin, họ đã vượt sông Cửu Long qua Thái Lan rồi. Còn ông Lưu vì hoạt động tại Vạn Tượng nên đã dọt ngay được. Ông Tiêu cấp lớn quá, chắc còn kẹt, không biết bị học tập cải tạo nơi nào ?
- Trước ngày 30-4-75, bạn ở đâu ?
- Mới từ biên giới Lào Việt trở về, gặp ngay ngày 30-4, cái đó mới đau chứ ! Nếu tôi còn hoạt động ở miền biên giới, sức nào Cộng Sản tóm được ?
- Sao không chuồn cha nó đi cho rồi ! Lực lượng đặc biệt thiếu gì phương tiện. Cuộc sống trong rừng rậm đối với các bạn quá quen thuộc, còn sợ cái nổi gì !
- Cũng khó lắm ! Lúc trước, mỗi lần “nhảy”, đều có các phần vụ chuyên môn lo lắng, từ sợi dây đến khẩu súng, chiếc dao găm. Nói tóm lại chúng tôi khỏi lo gì hết, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ, đến ngày giờ đã ấn định trước, ra điểm hẹn chờ “câu” về !
- Bạn đã được huấn luyện tại đâu ?
- Thái Lan ! “Học khổ thấy mẹ” ! Trong suốt thời gian huấn luyện không được ra ngoài chơi bời gì ráo trọi. Học xong là về, cũng mang tiếng đi học tại ngoại quốc! Chán bỏ cha !
- Trong Bản Tự Khai, bạn có viết ra không ?
- Sợ gì không viết! Tôi viết hết ông ạ ! Tôi nhảy ra Bắc mấy lần, ở bao lâu, liên lạc với ai, địa điểm nào, giết bao nhiêu Cách Mạng v.v... nói tóm lại, khai tuốt luốt! Đằng nào cũng chết, vì tin như vậy, nên chẳng cần giấu diếm !
Tôi nhìn Hạnh, một khuôn mặt rắn đanh như tạc bằng đá, tưởng như không còn cảm xúc. Tôi nói thì thầm:
- Đời sống của mấy bạn coi như đã được quyết định từ ngày đặt bút ký vào bản hợp đồng giao phó mình cho chiến trường. Sự sống chết đối với các bạn nào có nghĩa gì ? Nhưng tại sao ở hoàn cảnh này bạn lại không tìm con đường nào khác để tự giải quyết, như trốn trại chẳng hạn !
- Trước sau gì cũng phải trốn trại thôi ! Chịu gì nổi ?
- Trốn trước vẫn hơn, “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” mà !
- Lo gì chuyện đó ông ? khi mình đã “hạ quyết tâm”, việc khó đến đâu cũng xong !
- Tuổi trẻ, mấy bạn hay chủ quan lắm ! Chớ có khinh địch ! Chúng ta đã thua trận và gánh chịu những nhục nhằn trong hơn năm nay và còn bao lâu nữa, một phần cũng do khinh địch đấy bạn ạ -Tôi nhếch mép cười.
- Này, xin ông bỏ dùm cái nụ cười đó đi. Nhìn nó tôi không chịu nổi ! Ông có thể chửi tôi, nếu cần, có thể đánh tôi, nhưng đừng có cái cười khinh mạn đó !
- Xin lỗi, nếu nụ cười của tôi có làm bạn phật ý. Tôi đâu có ý chê bai gì tuổi trẻ. Sự thua trận này, đâu phải do một tình cờ gây ra, mà do nhiều dữ kiện tích lũy sâu xa từ bao năm trước. Nó như căn nhà, bề ngoài sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong, kèo cột đã bị mối đục hư, chờ cơn lốc bất ngờ nào đó, sẽ sụp đổ. Cộng Sản là cơn lốc đó !
- Đã nhiều lần, tôi nghe cái ví dụ đó rồi, khổ lắm, Bố già ! Tuổi trẻ chúng tôi, lúc trước chưa được hưởng thụ gì những ân huệ của cuộc đời, đã bị quăng vào lò lửa. Chẳng biết lớp tuổi trẻ của Bố già chiến đấu ra sao? Có lý tưởng gì không ? chứ lớp tuổi chúng tôi nếu có hăng say chiến đấu chăng nữa, hoàn toàn do ý thức cá nhân. Tôi có mặt trong Lực Lưọng Đặc Biệt, cũng chỉ vì thích mạo hiểm, thích có nhiều tiền, để mỗi lần về thăm Saigon, có thể đưa em đi ăn đi chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác thoải mái, để khỏi sợ cao bồi, du đảng ăn hiếp vì luôn luôn trong mình có vũ khí !
- Này, bạn Hạnh, ở Lực Lượng Đặc Biệt làm gì có nhiều tiền, bất quá cũng chỉ được phụ cấp đặc biệt, cộng vào số lương hàng tháng, vì hành quân trong rừng không tiêu đến, cộng chung cũng chả đáng bao nhiêu, tại sao bạn nói, có thể ăn chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác mỗi đêm ?
- Ông già đời trong quân đội mà chẳng hiểu gì ráo trọi ! Có chuyến chúng tôi được thả xuống giữa khu rừng thuốc phiện của Lào, hỏi có ngu lắm mới không dắt trong người vài ký ? Bố hiểu chưa ?
Tôi không nói gì, nhưng chợt nghĩ lại những điều tên y tá Việt Cộng đã nói với tôi ở Long Giao. Đây, thêm yếu tố nữa, cộng vào những yếu tố đã có sẵn, nó như giọt cuối làm tràn nước ra khỏi miệng ly. Tôi vẫn tin, mọi kết quả đều có nguyên nhân, mà nguyên nhân chính đưa miền Nam đến thua trận, do thiếu người lãnh đạo ! Miền Nam trước đây 5 bè, 7 mối, ai cũng vỗ ngực tự tôn vinh mình là yêu nước, đảng phái nào cũng tưởng chỉ có chủ thuyết của mình là tuyệt đối sáng suốt, có thể đưa dân tộc lên đài vinh quang! Nhưng khi thời thế đã đưa đến tay họ quyền lực, họ lại lo củng cố địa vị, quyền hành cá nhân và gia đình, bè phái, do đó, vì tranh dành đố kỵ, các làn sóng chống đối dù âm thầm, dù công khai nổi lên, gây chia rẽ ! Mỗi lần đảo chính, mỗi lần chỉnh lý, tiềm lực quốc gia lại suy yếu, tiến dần đến bờ vực thẳm của đổ vỡ!...
- Ông đã ngủ chưa ? - Hạnh hỏi
- Chưa !
- Sao ông nhắm mắt, nói lảm nhảm vậy ?
- Có lẽ, mấy bữa nay mệt quá, tâm trí bị xáo trộn!
- Cho xin ngụm nước, ông !
Tôi đưa chiếc bi-đông cho Hạnh. Cũng như lần trước hắn ngữa cổ tu ừng ực. Khi chiếc bi-đông được trao lại, không còn một giọt !
- Bố già thông cảm ! Khát quá ! Khi nào cần, tôi đi xin.
- Thế nhỡ đêm tôi khát, bạn đang ngủ, chả lẽ tôi đánh thức bạn dậy để xin nước cho tôi uống sao ?
Hạnh không nói gì, cầm chiếc bi-đông, đứng dậy lần từng bước tới chỗ anh xâm trái tim và mũi tên trên ngực. Anh này, vẫn chụp chiếc mũ trên mặt, đương ngáy đều, mồm há hốc! Hạnh cúi xuống, cho tay ấn vào thân hình, lay lay :
- Ê, ngủ gì, ngủ lắm thế, chưa tối “xưởng cưa” đã hoạt động. Còn nước không ?
- Đù mẹ, đứa nào phá giấc ngủ, tao đập chết cha bây giờ ?
- Dữ vậy, mày ? Tao đây! còn nước không ?
Anh kia mở mắt nhìn, bỗng nhổm dậy :
- A, tưởng ai, nước đây anh !
Hắn đưa bi-đông cho Hạnh. Hạnh trút nuớc sang chiếc bi-đông của tôi.
- Cảm ơn nghe, ngủ đi !
Hạnh lại lần từng bước về chỗ. Vài tiếng lầu nhầu cất lên khe khẽ . Tôi nhìn Hạnh, mỉm cười :
- Bạn hay thiệt, nếu tôi, ăn đòn là cái chắc !
- Em út mà ! Hắn là vệ sĩ của một ông Tưóng đó! Ông Tướng vọt rồi, nó đi tù. Tụi vệ sĩ phần đông hung hản. Các ông Tướng dùng họ, như dùng loại “berger siêu đẳng” mà !
- Bạn nói chứ không phải tôi đâu nghe !
- Có gì mạt sát đâu mà Bố già phải dè chừng, cũng như Tổng Thống Mỹ dùng gorille vậy thôi !
Tôi cảm thấy quá mệt, không muốn khơi chuyện để Hạnh nói thêm. Hồi chiều hắn ngủ đã chán mắt, tối nay muốn thức bao lâu chẳng được. Còn tôi, nếu đêm nay mất ngủ nữa, mai chắc gì không đau ?
Nhắm mắt, kéo chiếc áo mưa lên ngực, tôi mong chợp mắt được ít tiếng để lấy sức cầm cự với cuộc hành trình vô phương huóng kéo dài đến bao lâu chẳng biết ?
Sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc khi ánh nắng đã chiếu sáng một bên khoang hầm. Qua đêm ngủ đầy giấc, trong người thấy bớt mệt mỏi. Tôi đưa hai tay lên cao, duỗi chận cho đỡ mỏi. Những khóp xương kêu lục cục sau mỗi cái vặn mình. Nằm kế bên, Hạnh mở hé mắt.
- Đêm qua Bố già ngủ ngon quá hé ?
- Mất ngủ sao ? chắc ban ngày bạn làm một giấc quá xá, chứ gì ?
- Có lẽ vậy ! Cả đêm chập chờn. Thức lâu mới biết đêm dài thật, nhất là đêm dưới căn hầm này ! Bố già cho xin bi thuốc.
Cũng như hôm qua, Hạnh kéo một hơi dài, hắn không say, hai con mắt chỉ lờ đờ chút ít.
- Bạn hút thuốc lào đã lâu chưa ?
- Cũng mới biết hút, từ ngày đi tù, hết tiền mua thuốc lá. Có thể tôi lạ lắm, rượu uống không say, thuốc gì hút cũng không say kể cả á phiện. Âu đó, cũng là một thiệt thòi, vì không say là mất đi cái hứng thú. Cũng do đó, tôi ít uống rượu, ít hút thuốc, mỗi ngày chỉ hút một hai lần, có cũng được, không chẳng sao ?
- Thế bạn nghiện cái gì ?
- Lúc trước, nghiện đàn bà, nhưng từ ngày vào tù, vấn đề đó coi như cai hẳn. Không nhắc, chẳng nghĩ tới !
Tôi rất đồng ý với Hạnh về vấn đề này. Trong hơn một năm đi học tập cải tạo, tôi chưa hề nghe thấy ai nói tới đàn bà, dù người trẻ nhất. Vấn đề sinh lý có lẽ, bị quên lảng vì mọi người như bị cuốn hút vào môi trường đặc biệt. Ở đấy lo âu, buồn phiền làm tê liệt những sợi dây thần kinh sinh lý ! Hạnh phanh áo. Lồng ngục nở nang, trông như pho tượng. Với sức mạnh và tuổi trẻ như vậy, phải cúi mình tuân theo kỷ luật của những tên lính Cộng Sản nhà quê, quả thực một nhục nhằn !
- Bố già còn gì ăn không ? Đêm không ngủ, đói quá !
Tôi đưa Hạnh cục lương khô còn lại. Hắn bóc giấy ăn ngon lành, không cần chiêu nước !
- Này, Bố già có đồng ý với tôi, hơn năm nay tụi mình được nghỉ xả hơi không ?
- Thôi bạn a, tôi không thích cái kiểu nghỉ này chút nào !
- Dù thích hay không, Bố già cũng phải thừa nhận rằng, lúc trước mình làm việc bỏ cha. Lúc nào cũng công tác, cũng nhận lệnh này, lệnh nọ. Về Saigon chưa nghỉ được mấy bữa, lại cầm sự vụ lệnh hành quân! Lại chuẩn bị lên đường, sống cả tháng trong rừng già biên giới, đụng chạm với sống chết mỗi ngày. Tiên sư tụi Cộng Sản, khi nó “lên lớp”, nó bảo mình là “giai cấp ăn bám” được hưởng đặc quyền, đặc lợi, giai cấp “nắng không ưa, mưa không chịu, mát trời đi chơi!”, Bố già nghĩ có tức không ?
- Nó nói tuy không đúng 100%, nhưng cũng chẳng sai, nếu áp dụng cho một số người ở miền Nam trước đây. Trong lúc các chiến sĩ đang chiến đấu gian khổ ở khắp chiến trường thì Thủ Đô vẫn sống phây phây, ai có tiền cứ ăn chơi phè phỡn. Những chiếc xe hơi mới nhất, chạy bon bon đầy phố, trên chở những khuôn mặt phì nộn ngập bơ sữa. Những căn phòng gắn máy điều hòa không khí vừa dùng làm việc, vừa để du hí. Các ngân hàng thi nhau mọc với lãi xuất cao ! Các câu lạc bộ tại các Bộ Tư Lệnh hằng đêm vẫn tổ chúc dạ vũ cho Tướng, Tá ăn chơi. Những màn vũ sexy hay Strip-Tease khiêu dâm ! Những hộp đêm, những sòng bài mạt chưọc, xì-phé thâu đêm, suốt sáng, từ ngày này qua ngày khác. Làm việc sáng tạo thì không, chạy áp phe nước bọt lúc nào cũng tấp nập, hỏi làm sao quân đội có tinh thần chiến đấu, xã hội thăng tiến ?
- Ờ nhỉ !
Hạnh nhìn tôi, như chợt phát giác ra điều gì mới lạ, rồi tiếp:
- Vì cái đó, mình thua sao, Bố già ?
- Không hẳn vậy, nhưng nói để chứng minh sự đánh giá của kẻ thù không có gì quá đáng đâu !
Tôi cầm điếu, nhồi thuốc đưa lên môi. Theo sau tiếng điếu rít, một bụm khói trắng đục tỏa dầy. Vì không có gió nên khói vương vất đó đây trước khi tan hẳn vào không khí.
Sau gần 40 tiếng đồng hồ, không đái ỉa, trong người thấy nôn nao. Tôi đứng dậy, nhìn về phía cầu thang. Đám người đứng lổn nhổn. Thấy ngại, nhưng dù sao cũng phải cố gắng “một lần cho xong”. Tôi tìm chỗ, đặt từng bước chân dè đặt. Mỗi bước chân, nếu sơ ý, có thể gây nên hậu quả không hay. Đoạn đường từ chỗ tôi đến cầu thang, nếu đường thẳng, không quá 30 bước, nhưng lúc này sao nó xa thăm thẳm, quá gian nan ?
- Không có mắt à ? Đi dẫm cả lên đồ của người ta vậy ?
- Xin lỗi, xin lỗi !
- Xin lỗi, cái đéo gì ! Đi phải nhìn chứ ?
Tôi thấy không nên trả lời trong hoàn cảnh này, im lặng là vàng, nên mặc ai muốn chửi cứ chửi, tôi vẫn cứ len lỏi từng bước. Sau cùng cũng đến được chân thang.
Lần thứ nhất, tôi đến đây làm “công tác vệ sinh”. Khi ở Suối Máu, sự chờ đợi đi cầu mỗi sáng đã làm con người khốn khổ, nhưng chỉ khốn khổ trong sự đợi chờ do tên cảnh vệ làm khó. Đằng nay chính anh em làm khó, trong lúc cùng chung cảnh ngộ !
- Đù mẹ, ỉa gì lâu quá vậy ? Còn ăn nữa sao ?
Sự chờ đợi làm con người dễ bực tức. Đi đái lâu cũng bị chửi, đi iả lâu cũng bị chửi. Anh nào đi đái, còn có hy vọng lên sớm một chút, anh nào đi cầu chỉ chờ mà chết! Riêng tôi, biết rằng chết, vẫn cố chờ. Chừng nửa giờ sau, tôi đã nắm được cái gióng sắt thứ nhất của chiếc cầu thang. Chỉ còn một người nữa đến lượt mình. Phía sau tôi, đã đứng đông nghẹt, mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, khổ sở. Không hiểu sao, mãi chưa có người xuống. Một tiếng hét:
- Mau lên, chờ vãi ra quần rồi !
Không tiếng trả lời. Một lát, có người đi xuống, mặt mũi cũng không vui vẻ gì, chẳng biết anh ta đã trút xong gánh nợ đời chưa ? Người đứng trước tôi leo nhanh hai bậc một. Anh này lên rồi, cũng chẳng xuống nhanh hơn. Tôi chờ muốn hụt hơi. Nhưng rồi anh cũng xuống. Mặt mũi anh này khá hơn chút đỉnh. Vì không đến nổi gấp gáp, tôi leo từng bước một, vã lại, chiếc cầu thang hơi dốc, sợ trượt chân. Tiếng nói theo sau.
- Lẹ lẹ, nghe ông !
- Yên chí !
Tuy nói vậy, nhưng không tin mình có thể xuống mau hơn mọi người.
Khi leo hết cầu thang, tôi quẹo mấy bước về phía trái. Một chiếc thùng “phuy” đặt sát vách, bên dưới có chiếc thùng gỗ dùng làm bậc bước. Tôi leo lên. Tự nhiên người chao nghiêng, tôi phải chống tay vào vách cho khỏi té. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Nước tiểu làm ướt từng vũng. Chờ cho cơn sóng qua đi, tôi lại leo. Khi đã ngồi yên trên miệng “phuy”, người cứ chao qua, chao lại liên hồi, làm tắc nghẽn cả đường tiêu lẫn tiểu. Hai bàn chân bắt đầu đau vì bị mép thùng nghiến, nếu sơ ý có thể bị lọt xuống ! Trường hợp này không biết sao nói ! Thấy khó quá, ngồi lâu cũng vô ích, tôi đứng dậy bước xuống. Một cơn sóng lại làm tôi khựng lại.
Tôi vịn tay vào vách, bước liều xuống. Khi hai chân đã đặt vững trên sàn sắt, tôi mới yên tâm ! Sự vất vả trong cuộc “hành trình gian khổ” coi như vô ích ! Tôi chưa thực hiện được phần nào ý muốn.
Nhìn thấy tôi, nhiều tiếng nói:
- Đó, cứ như ông này, anh em đâu có khổ vì chờ! Nên theo gương tốt, nghe chưa các ông ? Thôi, ông này, leo lẹ lên !
Tôi chẳng biết nên cười hay nên khóc vì chỉ riêng tôi mới rõ được lòng mình! Tôi lê đôi dép đầy nước tiểu trở về. Con đường trở về, gian nan không thua gì lúc đi. Cũng tiếng cằn nhằn xen lẫn câu chửi thề, kèm theo những cái nhìn tóe lửa. Tôi vẫn giữ im lặng, chẳng xin lỗi, cũng chẳng trả lời. Tôi hoàn toàn thông cảm họ. Mỗi ngày họ phải chịu bao nhiêu bước chân nước tiểu dơ dáy, qua lại chỗ nằm, ngồi, hỏi làm sao không tức giận ? Còn ban đêm tránh sao khỏi có người đi tiêu, tiểu bất tử làm mất giấc ngủ ?
Nhưng tuy chửi bới hung hăng như vậy, chưa có vụ ấu đả nào ! Đó là điều may.
Về đến chỗ, tôi thở phào, tự hứa, cố nhịn cho tới khi nào không nhịn được hãy hay !
- Nay ông Khánh, ông quan sát xem nó chạy hướng nào ?
- Có lẽ, hướng Bắc quá ! Từ sáng tôi để ý ánh nắng thấy chiếu từ huớng Đông. Để lát nữa, tôi xung phong lên đổ thùng phân, lúc ấy sẽ biết rõ !
- Bao giờ đổ ?
- Lúc nãy nó kêu, chưa ai nhận !
Một chiếc đầu từ miệng hầm ngó xuống:
- Ê, anh nào lên đổ thùng phân. Sóng đánh tràn ra ngoài rồi !
Tôi nhìn thấy Khánh giơ cao tay:
-Có tôi! Cần anh nữa, theo tôi !
Không tiếng trả lời. Hạnh đột nhiên đứng lên:
- Tôi !
Nói xong, Hạnh cởi áo, xắn quần, bước ra khỏi chỗ.
- Bố già cho qua chút !
Tôi né người để Hạnh len qua mặt và đống đồ chật cứng.
Hai người bước những bước rộng, tiến đến phía cầu thang. Chẳng ai nói điều gì !Đám người chờ ở chân cầu thang nhớn nhác.
- Xin anh em đừng ai đi cầu nữa, để chúng tôi thi hành nhiệm vụ. Làm xong, sạch sẽ, anh em đi thả giàn.
Khánh vừa nói vừa trèo lên thang. Từ trên, một người vừa đi xuống vừa túm quần. Tôi ngóng chờ Khánh chóng làm xong công việc để biết kết quả !
Tôi kéo hơi thuốc lào. Vì trong người không được khỏe nên thuốc kém ngon !
- Bố cho mượn chút !
Thế là chiếc điếu của tôi lại đi chu du, chả biết bao giờ mới hoàn khổ chủ ?
Tôi nhìn quanh. Những khuôn mặt đã phần nào quen thuộc. Tuổi trẻ lúc nào cũng đùa nghịch được. Họ nô giỡn, cười nói, hình như không quan tâm đến hoàn cảnh, dù lợi hay bất lợi cho họ. Con tầu đưa họ ra Côn Sơn hay Phú Quốc hoặc tới miền Bắc, họ cũng chẳng cần. Cuộc chiến đã tàn rồi. Cái chết không nằm kề bên nữa, nay chỉ còn sự sống, dù cho sự sống mất tự do, mất quyền làm người ! Tuy không nói ra, nhưng ít nhiều gì họ cũng hy vọng, hết hạn 3 năm theo đúng chính sách đã in trên giấy trắng mực đen, họ sẽ được thả về, để từ đó, họ làm lại cuộc đời !
Tôi hỏi một người ngồi gần nhất:
- Nay anh bạn trẻ, tên gì nhỉ ?
- Tên Quân, Bố !
- Có gia đình chưa ?
- Dạ, có vợ, 3 con.
- Sao, lấy vợ sớm thế ? Hãy còn trẻ mà ! Đến 30 chưa ?
- Đúng 30, sao Bố đoán hay thế ?
- Cũng đoán mò thôi, Đại úy chưa ?
- Mới Trung thôi, khóa 7/72 Thủ Đức mà ! Ban 2 Tiểu Đoàn lên gì nổi ?
- Cấp nhỏ, sao cũng đi đây ?
- Đù mẹ, nó đưa đâu biết vậy. Từ Long Khánh đến Kà Tum, qua Hóc Môn, rồi lên tầu. Chán quá, muốn ra sao thì ra. Đéo cần, Bố há ?
- Đến nước này, cần hay không cũng vậy thôi !
Giữa lúc đó, tôi nghe tiếng “ồ” từ cầu thang vọng lại. Tôi nhìn thấy Hạnh và Khánh, người ướt đẫm như vừa vớt dưới nước lên. Khánh cười toe toét.
- Đúng quá, đúng quá các ông ạ !
- Đúng sao ? - Có tiếng hỏi.
- Ra Bắc chứ sao nữa. Tôi nhìn thấy dãy núi phía Đà Nẵng, nơi xưa kia tôi thường lái tầu qua lại, lầm sao được ? Thôi, thế là dứt khoát !
Hạnh trở về chỗ, mở túi đồ lấy chiếc quần mới. Anh mượn tôi chiếc áo mưa thay khăn tắm. Sau khi thay quần xong, Hạnh ngồi xuống, xin tôi bi thuốc.
- Ê, anh nào mượn điếu, làm ơn cho lại nghe !
Chờ chừng 5 phút sau, chiếc điếu mới đến tay Hạnh. Anh nhồi thuốc kéo một hơi, vừa nhả khói vừa nói:
- Chao ôi, khiếp quá ! Ngày mai xin chào thua, có hai đứa mà phải khiêng một phuy đầy cứt. Khiêng đếch nổi, phải vần dần. Xin thêm người, nó không cho. Khi đẩy được phuy cứt xuống biển, người mình cũng là thùng phân rồi ! Đổ xong, lại rửa thùng, rửa phòng. Các bố đái ẩu, không chịu đái vô lỗ, đái mẹ nó ngay dưới sàn, như cái hồ nươc tiểu.
Hạnh dựng chiếc điếu ngay bên cạnh chỗ ngồi.
- Cái điếu này dính cứt rồi nhé, từ nay đừng ai mượn !
Tôi nhìn hai cánh tay Hạnh để trần, mỗi bên có xâm một con rồng. Mỗi lần cử động, thân con rồng nhúc nhích theo bắp thịt, trông thật linh động.
Giờ phát nước đã đến. Chiếc vòi nhựa lại được thả xuống. Hai tay cầm hai chiếc bi-đông, Hạnh đứng lên, tiến lại phía vòi nước. Chỉ một loáng, hai bi-đông đã đầy tràn. Hạnh quay nhanh người, nhìn tôi cười:
- Đó, Bố già xem, hôm qua lỡ một buổi. Từ nay cho tới lúc lên bờ, xin phục vụ Bố già hết mức ! Bố chịu chưa ?
Kể từ phút Khánh cho biết, con tầu đang di chuyển về hướng Bắc, tôi chợt nghĩ đến “ân nhân” đã báo cho biết trước, nhưng tôi không tin. Tôi suy nghĩ hoài về vấn đề này. Tại sao họ đưa chúng tôi đi xa vậy ? Ở ngoài đó có những nhà tù rộng và kiên cố lắm sao ? Thế còn các trại tù Côn Sơn, Phú Quốc họ để làm gì? Những câu hỏi đó được đặt ra, tôi cố tìm cách trả lời sao cho hợp lý ! Tôi đã xa miền Bắc hơn 20 năm. Với khoảng thời gian ấy, sau bức màn tre Cộng Sản đã làm những gì, nào tôi có biết ? Cái guồng máy Công An của chế độ Cộng Sản chắc chắn đã nghiền nát những gì chống lại, hoặc có thể chống lại họ. Nếu họ có đưa chúng tôi ra Bắc cũng là để “cách ly” chúng tôi ra khỏi môi trường quen thuộc, không còn khả năng hoạt động, như cái cây bị bứng khỏi vùng đất màu, nếu không chết, cũng ngất ngư, chẳng hy vọng gì đơm hoa kết trái ! Cộng Sản vốn thâm độc, không từ chối hành động tàn ác nào, nếu hành động đó có lợi cho họ !
Thời gian qua tuy chậm nhưng cũng hết một ngày nữa dưới hầm. Hai bữa nay trời không mưa. Suốt ngày, một mảnh trời xanh ngắt hiện trên miệng hầm cho tới khi ánh chiều vụt tắt, ngọn đèn đỏ lòm bật sáng làm căn hầm càng nóng nực. Sau hai ngày một đêm sống chen chúc, người nào cũng biểu lộ sự chán mỏi qua dáng điệu. Họ ít nói, ít cười hơn hôm qua, ngay cả sự văng tục và chửi bới cũng đỡ gay gắt. Tôi nhìn sang bên, Hạnh đã ngả đầu vào bao đồ mắt nhắm lại. Không biết Hạnh ngủ hay thức, hoặc đang suy tính chuyện gì, tôi thấy không nên lên tiếng, có thể cắt đứt dòng suy nghĩ của hắn. Có thể Hạnh đang nghĩ tới kỷ niệm, có thể đang mưu tính việc trốn trại ! Đôi lông mày cau lại như có điều gì bực tức !
Đêm nay, tôi cũng muốn đi vào giấc ngủ càng sớm càng tốt vì suy nghĩ nhiều, nhức đầu, chẳng đem lại kết quả nào vì trong hoàn cảnh này mình không có quyền quyết định ! Tất cả đều do kẻ thù chi phối từ miếng ăn thức uống, giờ giấc và địa điểm đến, đi ! Rồi mai đây, khi tỉnh giấc, có thể sẽ được lên bờ, một bến bờ xa lạ nào đó ! Có thể vẫn ngồi đây trong căn hầm chật hẹp này, để chờ đợi bất cứ cái gì xảy đến !
Tiếng thở của Hạnh đều đều, tôi biết hắn đã ngủ. Tôi cũng nhắm mắt. Trong đầu tôi, tự nhiên quay cuồng từng chuỗi hình ảnh từ buổi ấu thơ tới hôm nay. Tôị thảng thốt bao nhiêu, khi gặp lại những kỷ niệm tưởng đã quên đi, ai ngờ bây giờ lại hiện lên rõ ràng như mới xẩy ra hồi hôm. Tôi nghe nói, trước khi lìa khỏi cuộc đời, mỗi con người đều có sự hồì tưởng như vậy. Nó là cuộn phim trung thực nhất, chỉ chiếu riêng cho mình xem, cả tốt lẫn xấu đều được phô bầy, nhưng đã quá muộn để hối hận hay tiếc nuối !.. Tôi đi vào giấc ngủ và ước mong nó là giấc ngủ cuối cùng !...
Tôi thức giấc từ sớm. Bầu trời trên miệng hầm còn tối đen. Thỉnh thoảng có một ngôi sao xa lắc thoáng hiện rồi mất hút... Tầu vẫn đang chạy. Chiếc tầu Sông Hương khá lớn nên không bị ảnh hưởng nhiều của sóng gió đại dương. Tôi quơ tay tìm điếu, nhồi thuốc. Điếu thuốc đầu tiên trong ngày bao giờ cũng vậy, gây sự đê mê, thích thú. Bên cạnh, Hạnh vẫn ngủ say như các anh em xung quanh. Từ cuối hầm, phía gần cầu thang, cũng có vài đốm lửa vụt sáng, vụt tối. Tiếng ngáp kéo dài như muốn trút hết mệt mỏi sau một đêm ngủ không thoải mái.
Mầu trời đã lờ mờ sau miệng hầm. Tên bộ đội, đeo A.K., thò đầu nhòm xuống. Hắn không đội mũ, mái tóc bị gió thổi rối bù. Từ dưới nhìn lên, không rõ mặt, nhưng tôi biết các tên lính Cộng Sản đều trẻ, trong hạn tuổi nghĩa vụ ! Sự căm thù giữa những tên lính Cộng Sản và chúng tôi nếu có, chẳng qua do tuyên truyền khích động của Đảng và nhà nước, chứ riêng con người, dù Nam, dù Bắc, chưa gặp nhau lần nào, làm sao có thể nhìn nhau bằng con mắt thù hận ? Chỉ trừ những ai đã đụng chạm chiến trận hoặc có bà con, anh em bị chiến tranh làm thiệt hại về sinh mạng hay vật chất, lúc ấy, lòng căm thù mới có lý do phát động !
- Bố già thức sớm thế ? - Hạnh vươn vai, những khớp xương kêu răng rắc !
- Tối qua ngủ sớm, đẫy giấc là dậy ! Không biết bữa nay cặp bến chưa ?
- Cái đó, phải hỏi ông Khánh Hải Quân !
Tôi quay đầu nhìn về phía Khánh. Hắn còn ngồi nguyên chỗ, mắt vẫn nhắm.
Đã hai đêm, hai ngày, “công tác vệ sinh” cá nhân, tôi vẫn chưa thực hiện được. Tôi cảm thấy trong người bồn chồn, bực bội, nhưng nghĩ đến “đoạn đường gian khổ” cần phải vượt, lại thấy ngại ngần. Thôi, cố nhịn, sớm muộn gì bữa nay cũng tới bờ, lúc đó giải quyết, chưa muộn! Cố quên đi, nghĩ sang chuyện khác, vừa lúc đó tôi nghe tiếng Khánh kêu mệt vì đêm qua khó ngủ.
- Bạn Khánh ơi ! Sao, bữa nay có thể cặp bến được không ?
- Cái đó hơi khó đoán đấy các cụ ạ! Vì chiếc tầu này có thể ghé hai bến, một Vinh, hai Hải Phòng. Chẳng hiểu họ ghé bến nào ? Nếu Vinh có hy vọng đến sớm.
- Hôm qua lên boong, ông có đoán được tốc lực của nó không ?
- Khoảng 25 hải lý một giờ tối đa. Cũng may, mấy bữa nay biển êm.
Khối người dồn nén dưới căn hầm lại tìm cách nhúc nhích cho đỡ mỏi. Tiếng nói cười tuy không còn ròn rã như hôm trước, nhưng cũng đủ làm căn hầm nhộn nhịp. Tôi muốn xếp lại túi hành trang, sao cho gọn để dễ dàng trong việc di chuyển, nên ngỏ ý nhờ Hạnh giúp một tay. Hạnh sẵn lòng, cố thu hẹp nơi ngồi để đủ chỗ cho tôi đặt chiếc túi vải đeo lưng. Tôi bỏ ra từng thứ trước mặt.
- Sao mang lắm thế này ? Bố già không té xuống sông lúc leo thang là may lắm đó !
- Ấy, đã vứt nhiều trước khi đi rồi đấy !
- Phải vứt nữa, nếu Bố già không muốn gục xuống giữa đường !
Tôi ngửng nhìn Hạnh:
- Vứt hết, lấy gì dùng ?
- Bố không thấy chúng tôi hành quân sao ? Sống cả tháng trong rừng già, mang nặng cả quần áo, thuốc men, dụng cụ, vũ khí và lương thực không quá 20k. Nhiều lúc còn quăng bớt cho đỡ nặng, đỡ vướng gai góc. Di chuyển đến đâu, phải xóa dấu tích đến đấy, nên chậm lắm. Mang nặng, lúc cần vứt hết, cũng vậy thôi !
Tôi không nói gì cứ lẳng lặng thu xếp từng thứ một. Gói thuốc Lan đưa, tôi để riêng một nơi, để khi cần tìm cho dễ. Thấy tôi như vậy, Hạnh không nói thêm. Tất cả đã được dồn vào một túi, như trước khi rời Suối Máu, chưa bị khám xét. Tôi nhờ Hạnh nâng lên khoác thử vào vai. Kể cũng hơi nặng, nhưng không sao vì tôi tin, đi đâu rồi cũng có tầu, xe. Lo gì! Có xa lắm cũng chỉ đeo từ vài trăm thước đến 1 cây số là cùng ! Tôi đặt chiếc túi đeo lưng xuống, ngồi dựa lưng vào. Chiếc túi cao đụng đến vai.
Đây, ngày thứ ba, chúng tôi sống trong hầm tầu.
Nhìn ánh nắng xê dịch dần trên vách sắt, chúng tôi không còn nghi ngờ gì, con tầu đang tiến dần về phía Bắc. Bây giờ mọi người chỉ còn mong giờ tầu cặp bến để thoát khỏi cảnh chật chội. Chúng tôi sống như nhưng con vật trước giờ đưa đến lò sát sinh. Mỗi lần chuyển trại, hình như Cộng Sản lại cố tình “leo thang”, đẩy chúng tôi vào môi trường khốn khổ hơn, bắt buộc chúng tôi phải chấp nhận. Tôi nghĩ, đó cũng là nghệ thuật đầy ải con người, làm nó quen dần. từng bước một, từ thấp đến cao, từ dễ tới khó ! Ở Long Giao, nếu Cộng Sản bắt mọi người phải làm Bản Tự Khai ngay sau khi nhập trại, chắc chắn họ sẽ nhận được một số lượng đông đảo Bản Tự Khai bố láo, bố lếu không thành khẩn ! Nhưng họ đã khôn ngoan, cho chúng tôi thảo luận, nói cho sướng miệng, rồi từ đó, siết dần lại qua kỹ thuật khai thác, làm mọi ngườii về sau, có muốn khai man cũng e dè vì đã trót công khai nói ra hết rồi ! Cái kỹ thuật khai thác này, Cộng sản Việt Nam học được của Liên Xô và Trung Cộng, thêm vào cái xảo trá, quỷ quyệt của riêng mình làm nó càng hiệu quả !
Từ Long Giao chúng tôi chuyển về Suối Máu, nay lên tầu ra Bắc, từng bước một, Cộng Sản đã dẫn dắt chúng tôi đi lần xuống đáy Địa Ngục.
Vào khoảng xế chiều, con tầu bỗng đứng lại, đổi hướng. Tiếng Khánh nói to:
- Cặp bến đó, anh em !
- Sao ông biết ?
- Nghề của tụi tôi mà !
Chừng hai tiếng sau, chiếc tầu dừng lại thật. Anh em ở dưới hầm nhốn nháo, đứng cả dậy, trong tư thế sẵn sàng. Từ trên miệng hầm, một tên sĩ quan Cộng Sản, mang quân hàm Trung tá thò đầu xuống nói:
- Xin giới thiệu, các anh sắp đặt chân lên thước đất đầu tiên của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa !
Nói xong, hắn biến mất. Cũng kể từ đó, không một lần, tôi gặp lại tên trung tá có nét mặt xương xương, trông có vẻ trí thức ấy nữa, dù tôi đã đi qua nhiều trại Cải Tạo trong 5 mùa mưa nắng, rét mướt của miền Bắc nghèo nàn, khắc khổ.
Mọi người ai nấy đều đứng trước túi hành trang của mình. Nhưng chiếc thang chưa hạ xuống, anh em ngữa mặt ngó lên chờ đợi. Các anh Đội Trưởng kêu gọi những người thuộc đội mình sẵn sàng rời khỏi hầm tầu khi có lệnh.
Thấy chờ đợi lâu quá, có người lại ngồi xuống lôi điếu ra kéo. Khói thuốc có sức quyến rũ, chỉ loáng sau, tiếng điếu rít liên tục khói tỏa mờ mịt. Trời lúc này đã chạng vạng. Mẩu mây tim tím như miếng nhung vuông vắn đóng khung trên miệng hầm. Miền Bắc đây rồi, nhưng chúng tôi chưa ai đoán được mình lên bến Vinh hay Hải Phòng, phải chờ lúc nữa mới nhận biết . Chiếc thang sắt được thả xuống. Mọi người xô đến, ai cũng muốn lên trước. Chiếc thang quá hẹp, một đám người dính cứng vào chân thang như khối bê tông.
Tên bộ đội từ cao nói xuống:
-Từng người một “neo nên” !
Lạ thay, tiếng nói như có uy lực thần bí, đám đông giãn ra. Từng người thứ tự leo lên. Những chiếc túi đeo lưng to kềnh, che lấp cả thân hình người mang nó, lúc lắc theo nhịp bước chân chậm, nặng nề ! Hạnh đã rời khỏi chỗ từ lúc nào. Cũng từ lúc đó, tôi và Hạnh không còn gặp lại nhau, dù chúng tôi cũng cải tạo chung một không gian, nhưng khác trại.
Tôi leo lên thang khi căn hầm đã trống trải, chỉ còn vài người đứng đợi tới phiên mình. Trước khi leo, tôi ném cái nhìn cuối cùng xung quanh căn hầm ngập ngụa rác rưởi, giấy dơ, bao mì ăn liền. Đúng là cái thùng rác to chưa đổ. Từng bước một, tôi nắm tay thang leo dần. Chiếc túi vải đeo lưng siết chặt hai bên vai như muốn kéo tôi ngã về phía sau. Khi leo qua miệng hầm, tôi men theo chiếc hành lang nhỏ, chui qua căn phòng hẹp để xuống chiếc cầu thang khác đưa tới boong tầu. Từ căn phòng hẹp này, có thể nhìn thông sang một căn phòng lớn chưa đầy xe Honda, Suzuki, tủ lạnh, bàn ghế, tủ sắt, quạt máy, quạt trần, máy giặt v.v... của Mỹ, chở về Hà-nội . A, người ghét, của yêu là vậy !
Trên boong lúc này chật ních người cải tạo. Bây giờ tôi mới biết, không phải con tầu chỉ chở số anh em chúng tôi, mà nó có tới 3, 4 chiếc hầm như vậy. Số người xuống bến chưa kịp, số dồn lên mỗi lúc mỗi nhiều, nên sự ứ đọng không thể tránh. Tôi bị dòng người chen lấn xô đẩy ra tới cầu thang bên hông tầu. Chiếc thang này tương đối rộng, chạy nghiêng nghiêng theo thân tầu, dễ đi. Xuống đến “ke”, tôi, người cuối cùng trong đội. Anh em nhìn tôi như trách móc về sự chậm trể. Bến tầu khá lớn, chắc mới được xây dựng trong những năm gần đây vì mầu xi-măng còn mới dưới ánh đèn pha sáng rực. Rất nhiều bộ đội, ôm A.K. gác kín vòng ngoài. Tôi nhìn con tầu lần cuối. Ngay trên chiếc lan can chạy vòng quanh boong tầu, cũng có rất nhiều vũ khí đủ loại, hướng nòng về phía chúng tôi.
Một tên mang quân hàm Thiếu úy hỏi:
- Đội mấy đây ?
- Dạ, Đội 15 !
- Hai đồng chí đưa đội này đi !
Tên Thiếu úy cho lệnh hai tên bộ đội cầm A.K. đứng gần đó. Một tên tiến lên, ra lệnh cho chúng tôi đi theo hắn, còn tên kia theo sau.
Chúng tôi đi sau ánh đèn pin, xuôi xuống mé sông. Chiếc tầu đổ bộ đã há mồm sẵn, chờ ! Tên bộ đội bảo chúng tôi đi xuống, đưng nép mình vào một bên, dành chỗ cho các đội khác. Chiếc tầu này chắc mới được chi viện, mầu sơn bóng loáng sạch sẽ. Lát sau, 3 đội nữa xuống chật cứng khoang tầu. Chiếc nắp hậu tự động kéo lên. Tiếng máy chạy rè rè. Một hồi còi ré lên, chiếc tầu từ từ tách bến. Chúng tôi đứng bên trong không nhìn thấy gì vì bị đóng cứng trong chiếc hộp thép. Chiếc tầu lừ lừ trôi trong đêm tối, chừng 15 phút sau dừng lại. Tấm chắn hậu tự động thả xuống. Tôi nhìn thấy chiếc tầu đậu cách bờ một khoảng khá xa, có lẽ vì nước ròng nên không ghé sát được.
Từ trong lòng tầu nhìn lên bờ, dưới ánh đèn điện sáng trưng, tôi thấy đứng chật ních một hàng Công An áo vàng, dài cả mấy chục thước, mỗi tên dắt theo con chó berger cao gần tới hông. Con nào, con nấy thè lưỡi, đỏ lòm ! Đó, chúng tôi được đón tiếp trên thước đất thứ nhất của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ! Chó và Công An làm hàng rào danh dự ! Chúng tôi lội bì bõm, nước ngập tới đầu gối, từ chiếc tầu đổ bộ vô bờ. Vì đeo quá nặng, có người ngã nghiêng xuống nước! Ánh điện chói chang sáng rực khoảng trời. Sự mắc điện ở nơi này chắc mới thực hiện, do sự có mặt của chúng tôi, vì khi đến bờ, nhìn chung quanh chỉ có vài căn nhà lá mới dựng, còn toàn là đồng ruộng.
Lên đến bờ, chúng tôi được hướng dẫn đến chiếc bàn, ở đây có những người đội mũ không vành trắng, mặc blouse, dài gần tới mắt cá chân. Người nào cũng cầm sẵn trong tay ống chích. Chúng tôi lần lượt đi qua, mỗi người nhận một mũi chích và 4 viên thuốc. Quá đấy mươi bước, có chiếc bàn khác, mỗi người lại nhận thêm 2 trái chuối, xong được dẫn đến bãi đất trống, ngồi nghỉ. Đã mấy ngày đêm, không tiêu tiểu, nhân dịp này, tôi xin phép đi. Tên bộ đội, chỉ chỗ ở phía mé sông. Bỏ túi đeo lưng xuống, nhờ anh em coi hộ, tôi đi ngay ra phia chỉ định. Thật sung sướng như chưa bao giờ sung suớng như vậy. Từ ngày đi học tập cải tạo, tôi mới được làm công việc tiêu hóa một cách thoải mái, mát mẻ như thế này. Không thối tha, ruồi muỗi, gió thổi hây hây !
Khi quay về, vừa kịp lúc anh em được chuyển đi nơi khác. Tôi xốc vội túi đeo lên vai, lúp xúp đi theo anh em. Chúng tôi di chuyển chừng 500 thước đến một căn nhà lón, như nhà kho. Đi vào bên trong, tôi chẳng thấy gì, ngoài đống lửa đã tàn, than còn đỏ hồng, thỉnh thoảng lại bùng lên khi có gió. Tên bộ đội chiếu đèn pin soi khắp chỗ. Dõi theo ánh đèn pin, chỗ nào cũng tro than ngập ngụa, tôi rùng mình khi nghĩ mình phải ngủ qua đêm tại chỗ này.
- Tối nay các anh nghỉ ở đây ! Mọi người không được ra khỏi cửa. Khi cần, phải xin phép cán bộ cảnh vệ trước. Nếu được phép, mới di chuyểh, không tuân theo, các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nghe rõ chứ?
- Nghe rõ.
Tên bộ đội đi ra. Ánh đèn pin thoáng còn, thoáng mất chìm sâu vào bóng tối.
Cứ như vậy, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, căn nhà rộng rinh, đã đầy người. Tôi “tranh thủ” buông mùng, trải tấm nylon xuống, ngả lưng cho đỡ mỏi sau mấy đêm ngủ ngồi. Cũng may, tối nay vừa đặt người xuống nằm lơ mơ, tôi ngủ lúc nào không hay !
Hôm sau, khi thức giấc, đống lửa đêm qua đã vạc, tuy nhiên vẫn còn hơi nóng. Chung quanh vắng lặng như tờ. Đi ra phía cửa, tôi cho tay đẩy nhẹ. Cánh cửa nặng mở hé ! Tôi thò đầu nhìn ra ngoài, những đống than đá cao như núi rải rác đó đây. Một tên bộ đội đeo A.K. đứng cách căn nhà chừng 20 thước, đang cho chân đá những cục than vương vải, coi đó như trò giải trí ! Xa hơn chút nữa, một dòng sông khá rộng, mặt nước phẳng lì, không bóng con thuyền xuôi ngược. Chiếc xà-lúp cũ kỹ đậu ở mé bờ chở đầy than đá. Phía bên kia, hàng cây xanh rì, vài mái nhà ẩn hiện. Ôi, quê hương tôi, sau mấy chục năm xa cách, buổi sáng nay được nhìn lại, tự dưng lòng thấy bồi hồì. Tôi chưa xác định được đây là đâu, thuộc tỉnh nào ? Từ khe cửa, khó có thể quan sát cho đúng vị trí nơi mình có mặt, nhất là phong cảnh không gợi cho mình địa điểm. Tôi quay vào kéo hơi thuốc lào. Sau cơn ngây ngất, tôi cuốn mùng, gấp tấm nylon cho vào túi đeo lưng, gọn gàng. Nếu có lệnh di chuyển, đã sẵn sàng.
Trời sáng rõ, anh em thức giấc hết. Nhìn quang cảnh căn nhà phát sợ. Không hiểu sao tối qua tôi đã ngủ, giấc ngủ ngon lành ? Ngoài tro than, còn biết bao nhiều giấy vụn, lá bánh, vỏ chuối, phân người lâu ngày đã khô, phân trâu bò v.v... Chắc căn nhà này đã có anh em chúng tôi ngủ qua đêm trong những đợt chuyển trại trước. Cánh cửa được mở rộng. Một tên bộ đội đi vào hỏi:
- Mấy anh Đội Trưởng đâu ?
Các Đội Trưởng ra trình diện.
- Sáng nay, mấy anh được tư do nghỉ ngơi. Anh nào muốn tắm rửa có thể ra hố bom phía bên. Nếu giặt giũ phải phơi phóng có trật tự. Đi tiêu, tiểu phải qua khu đất trống, phía bên kia bờ cây thấp. Nghe rõ chưa ?
- Nghe rõ !
Thấy được tắm rửa, giặt giũ , ai nấy mừng quá vội vàng mở túi lấy đồ. Tôi cũng làm như anh em, mang quần áo ra hố bom tắm giặt. Đường kính vũng nước khoảng 15 thước, nước khá trong, nếu nhìn từ xa. Chắc đây, hố bom do không quân Mỹ ném vào cuối năm 71. Khi đến gần, tôi thấy xung quanh đầy phân trâu bò. Nơi này thường ngày là chỗ trâu bò đầm mình. Những vết chân thú ăn sâu xuống đất bùn, còn in rõ. Nhưng, lấy nước làm sạch, chúng tôi cũng lội xuống giặt giũ, tăm rửa, có anh bơi vòng vòng, lăn ngụp như trong hồ bơi nhà “xéc” ! Nước tù, lâu ngày bị khuấy, nên mùi nước thum thủm đưa lên mũi làm buồn mửa. Tôi kỳ cọ qua loa, giặt nhanh chiếc áo và quần lót xong đi lên. Khổ nỗi, chỗ lên lại ngập bùn, nên khi tắm xong, chân ngươi nào cũng như đi giầy ống phải phơi nắng cho khô, bóc lớp bùn đi, chứ không tìm đâu ra nước rửa !
Buổi trưa chiếc jeep kiểu Liên Xô chở đầy thùng lương khô, đậu ngay trước cửa. Các Đội Trưởng theo số người đến lĩnh. Sau đó, phát nước uống. Anh em người nào cũng chứa đầy bi-đông để dành, khi khát, cứ múc nước trong thùng. Cũng may trời nắng, quần áo chóng khô, tôi gấp lại cất đi. Bữa trưa, tôi không ăn lương khô mà bóc nốt gói mì được phát trên tầu ra ăn, chẳng cần ngâm nước. Lương khô khó nuốt lại hay khát nước! Gói mì đẩ nát ngướu, tôi đổ ra tay, đưa dần vào miệng. Bữa nay, ăn đã thấy ngon, có lẽ có thể bắt đầu làm quen với thời khắc và món ăn mới. Ăn xong, tôi uống ly nước đầy, làm một khói thuốc lào, rồi trải tấm nylon năm khèo. Quả thực tôi không quen thân với ai thuộc Đội 15 dù cho anh em đã cũng sống chung 7, 8 tháng trời tại Suối Máu. Do đó, nếu có chuyện trò cũng chỉ để nói chơi cho khuây khoả chứ không hề tâm sự. Trong hoàn cảnh này, thiếu người bạn thân, quả là thiệt thòi lớn.! Có tiếng giải thích về địa điểm, ngay gần chỗ tôi ngồi.
- Đây, bến Sáu Kho, bên kia, Hải Phòng !
- Sao ông biết ?
- Tôi nhìn thấy dãy núi đổ đãi ra cửa biển Đồ Sơn. Khi trước, nơi đây là bến đò, bây giờ, căn cứ của Hải quân.
Tôi lắng nghe, để tìm hiểu đích xác nơi mình có mặt.
- Đéo biết rồi tụi nó đưa mình đi đâu. Các toán di chuyển trước đều phải qua đây cả, nên mới iả đái tùm lum, bẩn thỉu thế này. Anh em mình đi đâu, bê bối đấy!
- Đâu phải lỗi do mình, đêm nó không cho ra ngoài, làm sao đái iả ? Túng phải tính chứ ?
Tiếng nói chìm dần.
Buổi trưa không khí oi ả, chẳng ai ngủ được. Anh em lại quây quần nói chuyện, hút thuốc lào vặt. Vì mới xa miền Nam có mấy ngày nên số lượng thuốc lào chưa hao hụt bao nhiêu, anh em còn có thể mời nhau hút qua hút lại thoải mái. Nhưng dần dà về sau, thuốc lào “3 số 8” trở nên một món hàng đắt giá, vì thuốc lào miền Bắc, nơi thổ sản nổi tiếng như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng nay là Thống Nhất, An Thái đều nhạt phèo hút như rơm vì đã thuộc Quốc Doanh.
Khoảng 5 giờ chỉều, chúng tôi được lệnh chuẩn bị. Quang cảnh căn nhà kho rộng như vậy tự nhiên thấy chật đi vì người qua, kẻ lại tấp nập .Tiếng giũ mền, giũ nylon phành phạch, bụi bay mù ! Nhưng chỉ nửa giờ sau, căn nhà lại rộng rinh vì mọi người đã thu gọn hành trang, người nào đứng trước đồ vật của người đó. Lịnh tập họp được truyền đi. Anh em đeo hoặc gánh đã sẵn sàng. Tên bộ đội gọi từng Đội. Đội tôi ra gần chót.
Buổi chiều mùa hạ miền Bắc trong bối cảnh hoà bình, trông hiền hoà như bức tranh. Dòng sông chảy êm đềm phía trước mắt, mầu nước sáng hơn mầu trời, long lanh như tấm gương vĩ đại. Đằng xa hàng cây xanh mướt chạy dài tạo nên đường viền đăng-ten ở cuối chân trời. Đàn chim nhỏ bay lượn lờ như những cánh lá rơi theo chiều gió cuốn chưa chịu rớt, trông vui mắt. Chiếc thuyền nhỏ đang lướt trôi giữa dòng nước, gió thổi căng cánh buồm to bằng mảnh chiếu trông thật dễ thương ! Tôi đi từng bước trên con lộ đen đúa đầy tro than. Khẩu A.K. luôn luôn chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng khai hoả, nếu chúng tôi có hành động chống đối, cũng như hồi tối qua, bên bờ sông, nếu có ai chạy trốn sẽ bị Công An suỵt đàn chó berger xé xác !...
Nhìn qua cung cách đối xử của nhà nước Cộng Sản với chúng tôi, họa có ngu lắm mới không thấy rõ sự căm thù. Họ đã nói ra miệng: “Tội các anh, trời không dung, đất không tha, tre trúc không ghi hết, nước biển Đông không rửa sạch, Cách Mạng không bao giờ quên mối thù này đâu !”
Đang di chuyển, bỗng nhiên tôi nghe tiếng chỉ đứt. Một bên vai nhẹ hẫng .
- Chết cha ! Tôi kêu lên, nhưng đã muộn ! Một bên quai đeo đã rời khỏi túi vải. Chiếc túi sà xuống, làm người tôi bị lệch, rất khó đi. Trong lòng vô cùng bối rối, không biết phải giải quyết ra sao trong tình huống này ? Anh em vẫn di chuyển đều một nhịp. Tôi chậm bước tụt lại phía sau. Tên bộ đội giục:
- Anh kia, đi mau “nên” chứ?..
Tôi cố gắng đi nhanh, nhưng không cách nào đều bước được. Chỉ một quãng đường là đuối sức. Tôi bỏ nốt chiếc quai còn lại ra khỏi vai, dùng hai tay đưa nó lên vai, như vác bao gạo. Thấy dễ chịu hơn lúc trước, tôi chạy lúp xúp mong đuổi kịp anh em đã bỏ xa cả mấy chục thước. Tên bộ đội bám sát luôn luôn giục giã . Khi bắt kịp anh em, tôi cảm thấy những bước chân đã lảo đảo không còn chính xác nữa. Tôi muốn quăng đại chiếc túi đeo lưng ở giữa đường, đi tay không cho nhẹ nhàng. Tuy nghĩ vậy, nhưng thực tế, lại không dám, vì vứt dễ, nhưng sau khi vứt rồi, lấy gì dùng ? Tôi mong chóng đến điểm dừng, để có thời giờ buộc lại chiếc túi, nhưng sao đi hoài chẳng tới ! Tôi thở dốc từng cơn, tiếng thở mệt nhọc như kẻ sắp trút hơi thở cuối cùng, vĩnh biệt cuộc đời ! Bỗng nhiên, chân tôi khuyu xuống, chiếc túi đeo lưng lăn ra xa. Anh em cứ mải miết đi, không ai ngó lại Tên bộ đội cứ luôn miệng “mau nên”. Tôi buồn và tức quá thốt ra tiếng nói khẽ, bực bội: “mau cái con c...!” Tôi lồm cồm đứng dậy, chạy ra phía chiếc túi cúi xuống vác lên. Lần này tôi ôm nó ngang bụng, như ôm đứa bé con 6,7 tuổi. Cũng chỉ vài chục bước, hai cánh tay rã rời, buông nó xuống. Cũng may vừa lúc đó tôi nhìn thấy anh em đã dừng lại, kẻ đứng người ngồi cách tôi khoảng 50 thước. Trời bắt đầu tối. Bóng đêm nuốt dần cảnh trí như con quái vật khổng lồ nuốt con mồi. Có bóng nguời chạy lại phía tôi, khi đến gần, nhận ra Quân, người bạn trẻ ngồi gần tôi trên tầu Sông Hưng. Không hiểu sao Quân lại nhập vào Đội tôi, và từ lúc nào ?
- Bố già, để con vác dùm. Bố cứ đi tay không đến chỗ anh em tập họp.
Quân vác chiếc túi của tôi lên vai nhẹ nhàng như vác chiếc bao giấy. Nhìn Quân, tôi biết mình đã già!... Quân đặt chiếc túi đeo lưng xuống, rồi nhìn tôi cười. Ngồi thụp xuống, tôi cầm sội dây quai tìm hiểu vì sao nó đứt ? Khi ở Suối Máu, tôi đã chiu khó tháo từng sợi chỉ trong chiếc dây đeo băng đẹn của quân đội Mỹ. Những sợi chỉ tháo từ sợi dây này rất chắc, thế mà cũng không chịu nổi sức nặng, đã đứt bung. Tôi cố tìm cách buộc lại để đeo đỡ, chờ lúc nào có hoàn cảnh sẽ khâu lại. Mệt quá, tôi nằm lăn ra bãi cỏ đầy tro than. Trên chiếc “cầu cao” có mấy người, cả đàn ông lẫn đàn bà, đang xúc than đổ vào chiếc xà-lan phía dưới. Tiếng nói cười của họ làm không khí nơi đây đỡ phần u uất. Chắc họ biết rõ chúng tôi, những người khách lạ, nên họ vừa làm vừa nhìn xuống, nói với nhau những gì, không nghe rõ! Tên bộ đội đứng lởn vởn phía xa, có lẽ, đây là phần đất an toàn, nên họ không cần canh phòng cẩn mật như ở trong Nam.
- Đi xe lửa đó anh em !
Một tiếng nói cất lên, không đoán được do ai ? Tiếng điếu cầy lại rít ren réc đó đây. Mỗi lần nghỉ, anh em chẳng biết làm gì để khuây khỏa ngoài điếu thuốc. Chúng tôi kẻ nằm, người ngồi lổn nhổn. Tiếng nói chuyện thì thào, to nhỏ. Tôi nhìn lên trời. Mầu mây đen kịt như tảng hắc ín vĩ đại, không một ánh sao. Từ phía xa, thỉnh thoảng có lằn chớp lóe lên như ảo ảnh. Tôi nhìn đồng hồ, đã gần 9 giờ tối. Những toa tầu chở súc vật khi trước nay dùng chở than nhem nhuốc, nằm im lìm trên đường rầy trông như một dãy hang nhỏ. Tôi nghĩ, lát nữa đây, chúng tôi sẽ lên các toa tầu, có ghế ngồi thoải mái. Con tầu, hồi còn trẻ, tôi đã đi từ Hà-nội xuống Hải Phòng. Nó không hiện đại như những con tầu của các quốc gia tiên tiến mà tôi đã có dịp được biết, nhưng còn hơn ngồi bó gối mấy ngày đêm trong căn hầm chiếc Sông Hương, trông bề ngoài rất đẹp đẽ, hiền hoà, mà trong lòng nó là hỏa ngục !
Có tiếng còi tầu rúc từ xa. Tôi nghe tiếng máy chạy xình xịch đều đều rõ dần. Hình như họ đang dồn toa. Ánh đèn đỏ báo hiệu lúc lắc, chao qua chao lại như mời gọi ! Tiếng động rầm rầm, do sự nối toa tạo nên. Những chiếc toa đen sát chỗ chúng tôi bỗng lùi lại chạy tuốt về phía sau, móc vào chiếc toa khác, có đèn sáng trưng. Tôi chú ý nhìn về phía đó. Trong chiếc toa sáng đèn có nhiều tên bộ đội trang bị vũ khí đứng lổn nhổn, có đứa thò đầu ra ngó lên vòm trời.
Một toán bộ đội đi lần theo đường sắt, chiếu đèn pin nhìn vào mỗi toa để kiểm soát. Chúng để lại ở mỗi toa một tên vũ trang, đứng ngay lối lên. Chừng 15 phút sau, hồi còi rúc vang. Sau hồi còi, tên bộ đội vũ trang cho lệnh chúng tôi lên tầu. Những chiếc toa đen dơ dáy ít phút trước đây, tôi trông giống như chiếc hang, nay chúng tôi được lệnh leo lên, mỗi bên 25 người, hành trang để ở ngăn giữa. Tên bộ đội có sắc mặt lạnh lùng. Từng người lần lượt leo lên. Đội Trưởng đếm số người chia đều cho mỗi bên. Trong mỗi ngăn chỉ có chiếc cửa sổ nhỏ khá cao, phải đứng kiểng chân mới nhìn ra ngoài được. Nếu người nào cao không quá 1 thước 60, khỏi nhìn. Vừa leo lên, đã biết ngay tối nay lại phải sống trong đia ngục ! Một đêm trắng sẽ trôi qua với muôn vạn nhục nhằn ! 25 người chen chúc trong một ô vuông quá chật, do đó mọi người lại ngồi sát nhau, bó gối. Trong toa không một ngọn đèn, tối và nóng nực vô cùng. Có người mới lên đã không chịu nổi không khí ngột ngạt, cứ nghểnh cổ ghé mặt sát chiếc cửa sổ nhỏ trên cao giăng mắt cáo để thở. Cánh cửa được kéo lại, chỉ còn để hở khe, chừng 10 phân. Một sợi dây xích luồn qua và chiếc ổ khóa lồng vô bóp lại. Tiếng “cách” báo cho biết chúng tôi đã hoàn toàn bị cô lập. Tên bộ đội từ ngoài nói vào:
- Các anh sẽ đái qua cái khe cửa này, còn iả vào túi nhựa, xong quăng ra ngoài, nghe rõ chứ?
Sau khi nghe tiếng “rõ”, những bước chân dẫm xào xạo trên sỏi đá nhỏ dần rồi mất hút ! Chắc nó đã trở về chiếc toa sáng đèn với các phương tiện tối thiểu đã dành cho chúng.
Ngồi trong một góc, tôi úp mặt xuống đầu gối, suy nghĩ hoài về cách xử sự qua tàn tệ của Cộng Sản đối với những người thua trận! Chúng tôi không chủ quan để đến lúc này còn cho rằng, mình tài giỏi và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà mạnh, có ý chí cao. Nhưng chỉ biết, nếu chúng tôi, từ người Binh II tới các ông Tướng đừng mất tinh thần chiến đấu trong những ngày đầu của trận đánh Buôn Mê Thuột, cứ kiên trì chống trả với quân thù trên từng thước đất quê hương thì dù người Mỹ có bỏ Việt Nam, còn lâu Cộng Sản mới chiến thắng? Thảng hoặc, nếu có chiến thắng đi nữa, lực lượng quân sự của chúng cũng bị tiêu diệt phần lớn, chứ không còn nguyên vẹn như hôm nay. Nhưng lúc này ván bài đã lật, có hối tiếc cũng vô ích, chỉ làm chán nản, buồn bực, đi đến phẫn chí!
Con tầu lắc mạnh trước khi chuyển bánh. Tiếng bánh nghiến vào đường sắt từng nhịp đều đều, từ chậm đến nhanh. Giữa một kích thước chật hẹp, anh em không ai nói với ai điều gì. Người nào cũng ngồi dựa lưng vào vách ngủ gà ngủ gật. Chỗ để hành trang tuy còn rộng, nhưng Đội Trưởng đã nằm dài choán chỗ.
Ngồi mãi quá mỏi, tôi đứng lên ghé mắt vào chiếc cửa lưới. Hơi gió thổi làm mát mặt, tôi hơi thấy dễ chịu, nhưng toàn thân, mồ hôi dâm dấp. Mùi quần áo quện mồ hôi xông lên khó chịu. Đứng mãi mỏi chân, lại ngồi tụt xuống. Tôi cố gây giấc ngủ, không tài nào được. Chắc chắn, điệu này, dù không muốn, tôi cũng phải gánh chịu những giờ phút cực kỳ thê thảm! Nhưng thời gian vẫn luân hành theo nhịp độ của nó.
Con tầu nghiến đường sắt nuốt đoạn đường dài. Máy tầu đang ngon trớn, bỗng hạ dần tốc độ. Tiếng bánh sắt nặng nề nghiến xuống đường rầy nhức nhối, rồi nó ngừng lại. Tôi kiểng chân nhòm ra ngoài. Đúng là ga Hà-nội. Sở dĩ tôi nhận ra ngay vì miền Bắc không còn có nhà ga nào lớn hơn nó. Tôi đinh ninh mình sẽ bị nhốt tại Hỏa Lò. Sân ga lúc này vắng hoe vì đã quá nửa đêm. Những tên bộ đội chạy lăng xăng với những bộ quân phục nhàu nát. Vài tên Công An áo vàng đứng nhìn đoàn tầu. Tất cả mọi người đều thức và chờ đợi việc gì sẽ xảy ra. Nhưng chờ mãi, canh cửa vẫn khóa. Một vệt sáng yếu ớt len qua khe hở không soi tỏ được vật gì bên trong. Vài tiếng ngáp to chán nản âm vang trong bóng tối. Tiếng đầu máy chuyển ầm ầm bên ngoài với từng hồi còi khàn khàn, rền rĩ càng làm cho không khí nặng nề. Bỗng thân tầu rung mạnh, từng chặp, từng chặp, rồi từ từ trôi đi, nhưng không, có lẽ nó dồn toa. Con tầu đậu khá lâu, chẳng biết để làm gì, nhưng rồi nó cũng chuyển mình chầm chậm khi trời bắt đầu mờ sáng.
Tiếng bánh sắt lại đều đều nghiến đường rầy. Tôi ngồi thụp xuống, nhưng chỗ ngồi quá chật và bí hơi, đành phải đứng lên cho dễ thở. Tất cả Hà-nội đều đang ngủ say qua làn sương mù buổi sớm. Tầu chạy khoảng 15 phút, băt đầu bò vào cầu Long Biên. Vì cầu bị hư hại nhiều sau những đợt ném bom, nên nó bò rất chậm. Tôi kiểng chân ngó ra ngoài.
Ôi, Hà-nội! Tôi cố mở to mắt nhìn cái thành phố thân yêu nơi tôi cất tiếng khóc chào đời, đã sống và lớn khôn với bao kỷ niệm vui, buồn! Hà-nội đó, trước mắt tôi đang mất dần hình ảnh. Tại sao con tầu không dừng lại ít phút để tôi có thể chiêm ngưỡng và nhớ lại những gì lâu ngày bỏ quên trong trí nhớ.
Con đường bờ sông với chiếc cột đồng hồ cũ kỹ vẫn còn đó, qua bao nhiêu phế hưng thời đại.
Xuôi xuống nữa là viện Bảo Tàng, cái kiến trúc đặc biệt như chiếc phi cơ đậu ở phi trường nếu từ cao nhìn xuống vì kiến trúc sư họa kiểu là cựu phi công người Pháp.
Những dãy phố cổ, cao thấp không đều mang sắc thái của Hà-nội. Nào phố Mới, phố hàng Mắm, phố hàng Thiếc, hàng Bạc, hàng Mành, nào ngõ Phất Lộc v.v... Tất cả những con phố đó thuộc về Hà-nội cổ xưa. Trước kia, ở miền Nam, có ai là người miền Bắc, nhớ Hà-nội, muốn tìm lại chút ít kỷ niệm qua hình ảnh phố phường, chỉ có thể tìm lại một phần nào tại Hội An, Đà Nẵng. Nay, giữa tôi và phố phường quen thuộc kia chỉ gang tấc, mà sao xa cách ngàn trùng?
Cả con đê kia nữa, thuở nhỏ tôi đã qua lại nhiều lần, đã từng chạy nhảy trên bãi cát vàng óng nổi lên thành vồng giữa mùa nước cạn, cũng như đã bao lần trong mùa nước lớn, tôi nhìn những lượn sóng đỏ ngầu phù sa vỗ vào chân đê như muốn phá vỡ, để tràn vào thành phố!
Và cây cầu Long Biên này nữa, mỗi nhịp đều nhắc nhở kỷ niệm. Từng thanh gỗ âm vang dưới từng bước chân. Mỗi lần xe chạy, mỗi lần các thanh gỗ lát cầu rung rung từng điệp khúc vội vã, rên siết mang nhiều hình ảnh của tàn phai!
Còn đây, bãi giữa, một mảnh phù sa bồi đắp qua mỗi mùa nước, những vườn dâu xanh biếc trải dài mút mắt. Dăm ba con đò qua lại, tiếng mái chèo nhịp nhàng khua động phá tan nỗi u tịch của không gian quạnh vắng.
Mỗi phút, con tầu đưa tôi ra xa Hà-nội! Con tầu chạy rầm rập qua những nhịp cầu. Vì không thò đầu ra ngoài được nên tôi không đoán biết đoàn tầu dài hay ngắn? Chỉ biết, tiếng “cành cạch” khua vang âm điệu lê thê. Nhà ga Gia Lâm đã hiện ra trước mắt. Con đê chạy vòng theo khúc uốn của sông Hồng tạo nên đường cong tuyệt mỹ. Con dốc đổ xuôi vào phố Gia Lâm, con phố duy nhất với những căn nhà cũ kỹ dẫn tới con đường vào phi trường dân sự. Gia Lâm đối với Hà-nội cũng như Thủ Thiêm đối với Sàigòn. Một bên, ánh sáng tượng trưng cho tiến bộ. Một bên, nếp sống mộc mạc hòa hợp với thiên nhiên.
Sau hơn 20 năm cách biệt, buổi sớm nay tôi gặp lại Hà-nội, Gia Lâm và cây câu Long Biên qua chiếc cửa sổ nhỏ giăng mắt cáo. Trong lòng dâng lên nỗi nghẹn ngào vì không bao giờ có thể ngờ, mình còn có hoàn cảnh gặp lại Hà-nội trong một tư thế khốn khổ như thế này! Hơi thở của tôi vẫn là hơi thở của Hà-nội, một Hà-nội sau hai mươi mấy năm chinh chiến vẫn giữ nguyên phong thái của một thành phố cổ kính. Chẳng biết bên trong Hà-nội ra sao, chứ bên ngoài tôi chưa thấy chút gì thay đổì, dù nhỏ nhặt qua mắt nhìn thực tế. Từ trong chiếc toa chở trâu bò, tôi được quân thù đánh giá ngang hàng với súc vật, nhưng trên bình diện đời sống, tôi vẫn là con người có đầy đủ trí năng và thẩm quyền để nhận xét về giá trị của Hà-nội, của thành phố đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi từ ngày đầu có mặt. Tôi gặp Hà-nội buổi sáng nay không phải để tiếc nuối hay hối hận mà chính để qua sự hiểu biết và trưởng thành, nhận định đúng mức cái còn và cái mất của mình đối với thành phố yêu dấu này. Tôi đã mất Hà-nội hôm nay, nhưng tôi còn Hà-nội trong kỷ niệm mãi mãi!
Vệt mây hồng chạy dài phía cuối trời hướng đông, báo hiệu một ngày khởi đầu, khi con tầu vừa ra khỏi ga Gia Lâm. Người trưởng Ga tay cầm lá cờ đỏ phất qua phất lại. Chỉ vài phút, hình ảnh đó đã chìm khuất. Tôi chỉ ghi nhận được nét mặt răn rúm, bộ râu mép lưa thưa, chiếc mũ kết bạc mầu!
- Ông ơi, có nhìn thấy gì lạ không?
- Nản bỏ cha, chẳng có gì lạ, ai muốn đọc khẩu hiệu, tôi nhường chỗ cho coi!
- Thành phố Hà-nội có to bằng Sàigòn không ông?
- Hà-nội làm sao to bằng Sàigòn được! Khi tầu qua Hà-nội, trời mới mờ sáng! Cả Hà-nội đang ngủ say trong chiến thắng! Tầu chạy ven thành phố mà, vì tôi sinh ra ở đây nên biết rõ đó thôi. Thế ông chưa coi phim “Một ngày của Hà-nội” sao?
- Coi rồi, nhưng tôi người miền Nam, chưa ra Bắc lần nào, làm sao có ý niệm chính xác về Hà-nội? Do đó, tôi muốn được nhìn một lần cho biết!
- Thôi, chịu khó chờ, khi nào được tha, thế nào cũng phải qua Hà-nội, lúc ấy có tự do mặc sức ngắm. Nào cảnh Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Hoàn Kiếm. Nào Ba Đình, “Lăng Bác”. Nào công viên Thống Nhất! Thiếu gì cảnh đẹp!
Anh bạn miền Nam ngước mắt nhìn.
- Ngày nào được tha, nếu cùng về, ông dẫn tôi đi thăm cảnh Hà-nội và nói cho nghe về lịch sử mỗi cảnh đẹp nhé!
Không trả lời, tôi ngó anh bạn miền Nam với niềm cảm ơn sâu xa, vì anh đã mến quê hương tôi qua Hà-nội trong tưởng tượng. Tôi ao ước, anh sẽ giữ mãi cảm tình đó trong lòng, đừng bao giờ bắt tôi phải nói về Hà-nội xưa và nay. Cùng là người Việt Nam , nhưng sống ở hai đầu Nam - Bắc, chưa một lần, anh được thấy Hà-nội ; còn tôi vì hoàn cảnh đẩy đưa, đã được sống, được biết cả 3 miền Trung, Nam, Bắc.
Trong thời gian chia đôi đất nước theo hiệp định Genève, một phần miền Trung với kinh đô Huế thuộc về miền Nam. Địa đầu giới tuyến, dòng sông Bến Hải thuộc Quảng Trị, ngàn vạn năm sau vẫn còn đó và lịch sử không bao giờ xóa mờ được ranh giới Quốc, Cộng trong thời gian chinh chiến tàn bạo, gây nên bao nhiêu đổ vỡ điêu tàn, máu đổ thành sông, xương cao bằng núi, để giữ vững mầu cờ tượng trưng cho lý tưởng!
Ngày hôm nay, Việt Nam đã thống nhất trên phương diện địa lý, nhưng trong lòng mọi người dân miền Nam chắc gì đã thừa nhận sự cai trị bạo tàn của chế độ Cộng Sản?
Tiếng đường sắt kêu đều đều dưới sức nặng của những toa tầu chuyển động trên nó. Tiếng động rất đặc biệt, không làm khó chịu lỗ tai lại có tác động ru ngủ.
Lúc này mọi người đã tỉnh táo, tuy vừa trải qua một đêm cực kỳ nóng bức và chật chội. Khói thuốc lào, thưốc lá bay mù mịt cùng với tiếng nói thì thào.
Mặt trời chiếu từng làn ánh sáng rực rỡ xuống cảnh vật. Tôi cứ nghểnh cổ nhìn ra ngoài. Những cánh đồng sau vụ gặt mùa chiêm tháng 5, gốc rạ chưa cắt đâm tua tủa trên một chiều rộng xa thẳm, xen kẽ có những chỗ ngập nước trắng xóa. Cảnh vật này, tôi đã thấy nhiều lần từ lúc tuổi thơ, nhưng có đôi chút khác biệt. Bây giờ đôi chỗ, có hàng cây dưong cao ngòng mọc ngang dọc, chia cắt cánh đồng thành nhiều mảng. Một con đường đỏ như son, rộng rãi bằng phẳng, có thể di chuyển xe hơi dễ dàng, nhưng tôi chỉ nhìn thấy những chiếc xe đạp xuôi ngưọc, qua lại!
Con tầu bớt dần tốc lực rồi ngưng tại một địa điểm giữa khoảng không có nhà ga. Tôi nhìn qua bên kia đường. Một dãy nhà lá cũ kỹ, chạy dài theo mép đường, mái che bằng những miếng giấy dầy sơn hắc ín để tránh mưa nắng. Hàng cột xiêu vẹo. Nhiều tấm liếp chắn cửa rách nát, tố cáo sự nghèo nàn. Từ một trong những căn nhà đó, các tên bộ đội khiêng ra từng thúng bánh mì, đưa đến mỗi toa tầu. Chiếc khóa được mở. Hai tên bộ đội leo lên, đưa cho mỗi người 2 ổ bánh mì, một gói đường và gói ruốc cá nhỏ. Sau khi phân phối xong, hai tên đó nhảy xuống, tên khác leo lên với khẩu A.K. và chiếc ghế đẩu. Hắn đặt chiếc ghế ngay lối đi, rồi cho tay kéo cánh cửa vào sát chỗ hắn ngồi. Một hồi còi rúc, con tầu lại chuyển bánh. Có anh háu đói, cho ổ bánh mì vào miệng cắn. Tôi thấy anh ta cầm chặt ổ bánh trong tay lay lay, rồi giật mạnh.
- Đù mẹ, bánh gì mà dai như giẻ rách! Dứt muốn gẫy răng!
Tuy nói vậy, nhưng ổ bánh cũng biến vào bụng anh trong nháy mắt!
Tôi ngồi xuống, lúc này trong toa đã có chút gió vì cửa đã hé mở một khoảng. Tôi nghĩ, nếu cửa toa cứ đóng kín như hôm qua, thế nào cũng có người ngất xỉu!
Con tầu nuốt ậm ạch từng cây số đường sắt. Nó bò càng chậm khi băng qua chiếc cầu sắt bắc ngang sông Lô trước khi vào ga Việt Trì. Nó lừ lừ chạy thẳng. Tôi nhìn vào chiếc sân ga bé nhỏ, thấy những người dân quê gồng gánh, tay xách, nách mang như hệt cảnh tôi đã nhìn, cách đây mấy chục năm. Cái chính sách ‘‘Trước sau như một” của Cộng Sản, hình như áp dụng bao trùm tất cả đời sống của người dân miền Bắc, từ tinh thần đến vật chất. Do đó, cái gì mình đã thấy, còn phải tiếp tục thấy và biết mãi mãi! .. Cái nếp sống văn minh, tiến hóa, con người luôn luôn đòi hỏi, hầu như không được chấp nhận dưới vòm trời Cộng Sản!
Con tầu vận chuyển đếu nhịp. Từng dãy đồi núi phía xa chập chùng dưới ánh nắng chan hòa. Trời cao và trong, không một gợn mây. Cảnh trí đã thay đổi chứ không buồn nản như đồng bằng. Tỉnh lỵ Phú Thọ kia rồi, một thành phố được dựng lên bên bờ sông Hồng.
Tỉnh lỵ Phú Thọ, thuộc miền Trung Du, với những ngọn đồi trà bát ngát cùng những dãy đồi trồng cây sơn, nổi tiếng tốt nhất vùng Đông Nam Á. Nơi đây, rất nhiều phong cảnh đẹp, đã cung cấp cho các họa sĩ nhiều chất liệu để tạo nên những tác phẩm mỹ thuật. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, tôi đã gặp lại Phạm Duy và nhiều bạn khác tại nơi đây. Bỗng nhiên, tôi hồi tưởng đến khoảng thời gian xa xôi, khi tôi còn là một thanh niên mang trong người nhiều hoài vọng. Cái tỉnh lỵ đang ẩn hiện dưới mắt tôi kia, cách đây 30 năm, nó và tôi đã quen biết. Những dãy phố bị phá hủy do lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, ngổn ngang gạch đá, những quán cà-phê ca nhạc, kẻ ra, người vào tấp nập. Những chiếc “xà-cột”‘ đeo lủng lẳng bên vai, những khẩu súng cả dài lẫn ngắn hiện diện ở khắp nơi, nói lên không khí hào hùng của một dân tộc bất khuất, quyết đấu tranh để dành lại Tự Do, Độc Lập sau 80 năm nô lệ! Ôi, ngày đó xa rồi, xa thật rồi! Hôm nay tôi đứng trong chiếc toa chở súc vật, nghểnh cổ nhìn qua ô cửa nhỏ để nhớ lại “cái tôi” ngày trước, mới ngoài 20 tuổi, tràn đầy sức sống, và bây giờ, tôi tên tù chính trị đang bị dẫn giải đến nhà lao mới, chưa biết ở địa điểm nào, giữa vùng núi đồi miền Bắc?
Nơi nào tôi nhìn, cũng in đầy kỷ niệm thời kháng chiến. Cũng trên con đường tầu này, cách đây 30 năm, tôi đã bước trên nó. Từng bước chân, tôi dẫm lên đá, tạo nên âm thanh rào rạo. Có những đoạn đường sắt bị bóc đi, trông giống như con lộ nhỏ đang sửa sang. Tầu chạy qua Phú Thọ chừng hơn chục cây số bỗng dừng lại đột ngột. Mọi người nhốn nháo tưởng đã đến nơi. Tên bộ đội thò đầu nhìn ra, rồi ôm cây A.K nhảy xuống. Lợi dụng dịp này mấy người đứng ngoài len lén nhìn qua khoang cửa.
- Đến nơi rồi sao? - Một người ngồi trong, hỏi vọng ra.
- Không biết, nhung chắc chưa đâu, chỗ này đồng trống, chung quanh chẳng có nhà cửa gì cả.
- Đây là đâu? Ông nào người Bắc, làm ơn ra coi dùm!
- Tầu mới qua ga Phú Thọ mà! chắc hư cha nó rồi!
Vì tên bộ đội áp tải không có đó, anh em xô ra cửa, mọi người đều cố thò mặt ra ngoài để lấy chút gió và nhìn phong cảnh miền Bắc. Những tên bộ đội áp tải đứng tụ tập nói chuyện. Thỉnh thoảng lại cất tiếng cười hô hố. Chúng văng tục tùm lum. Lính tráng ở đâu cũng vậy! Nửa giờ, rồi một giờ qua đi, tầu vẫn chưa chạy. Vì không hiểu chuyện gì xảy ra, chúng tôi cứ thản nhiên hút thuốc, uống nước. Lũ trẻ con đi học về, nhìn thấy đoàn tầu đổ, chúng tò mò ngó vào mỗi toa. Bỗng một đứa trong bọn, kêu to:
- A, Việt gian, chúng mày ơi!
Sau câu dó, cả bọn hò reo rầm trời. Chúng lui ra xa, cúi xuống nhặt đá. Một trận mưa đá bay đến. Tiếng đá chọi vào vách toa kêu chan chát. Nếu chẳng may trúng ai, chắc cũng đau lắm, có thể gây chảy máu. Tụi trẻ con vừa ném đá vừa chửi rủa chúng tôi bằng những câu tục tỉu. Lũ bộ đội đứng ngay đấy, chỉ “suỵt, suỵt” lấy lệ, xong chúng lại quay đầu nói chuyện. Có lẽ đây là chính sách của nhà nước! Qua chuyện này, tôi thầm phục tụi Cộng Sản đã có công giáo dục trẻ con biết căm thù cả những gì mà chính chúng cũng không hiểu vì sao phải căm thù? Sự dừng tầu lại quãng đường này chắc cũng nằm trong ý đồ của Cộng Sản muốn làm nhục chúng tôi!
Một hổi còi rúc vang, con tầu lại bắt đầu chuyển bánh. Không hiểu sao, trưa nay tôi lại có thể ngủ được giấc dài, trong toa tầu bẩn thỉu và chật chội như thế này? Khi tỉnh dậy, ánh nắng đã tràn vào quá nửa toa. Tôi biết đã muộn. Nhìn đồng hồ, gần 4 giờ chiều. Con tầu bớt dần tốc lực, chạy chầm chậm. Tên bộ đội áp tải đứng dậy, thò đầu ra ngoài. Hắn cho chân đẩy chiếc ghế vô trong, xốc lại áo quần. Qua cử chỉ ấy, tôi đoán biết sắp đến nơi. Quả nhiên, con tầu dừng lại hẳn.
-Mấy anh chuẩn bị xuống!
Tất cả đã chuẩn bị sẵn, nên lúc này có vẻ thảnh thơi. Những chiếc túi đeo lưng được cầm sẵn trong tay, chờ đúng lúc để đưa lên vai. Tôi xem lại chiếc quai bị đứt. Tuy đã buộc lại, nhưng tôi nhận thấy không bảo đảm chút nào. Muốn chắc, phải có nhiều thì giờ khâu lại bằng sợi nylon. Không biết sao hơn, tôi đành phải vác nó trên vai. Tôi nhảy ra khỏi toa, quay nhìn vào nhà ga, chữ Yên Bái sơn đỏ chói nổi bật dưới nắng chiều. A, Yên Bái, cái tỉnh lỵ này đối với tôi cũng không xa lạ gì trong thời gian kháng chiến. Ở nơi này, tôi và Văn Cao đã sống với nhau một thời gian, đã uống nhiều bữa rượu giữa đống gạch ngói ngổn ngang. Chúng tôi đã đứng trên cây cầu nhìn dòng nước chảy mải miết sau mỗi cơn lũ. Ôi, thời gian, với đôi cánh lạnh lùng nó cứ bay hoài hoài không kể chi đến bao nỗi tàn phai của kiếp sống phù du! Cái tỉnh ly nhỏ bé nằm sau hàng cây thưa kia, tuy không xa tôi bao nhiêu, nhưng không cách nào tôi nhìn lại nó được. Những người dân ngó chúng tôi bằng con mắt thờ ơ, coi như không dính dáng gì. Cộng Sản thường rêu rao, Cách Mạng cần phải giữ chúng tôi để bảo vệ an ninh và cũng do lời yêu cầu của vợ con chúng tôi nữa. Nếu để chúng tôi tự do, nhân dân có thể nổi giận giết chết! A, Cộng Sản nhân đạo ghê! Vì mạng sống của kẻ thù không đội trời chung mà phải lo giữ gìn, nuôi ăn, kiếm chỗ cho ở, còn giáo dục để trở thành “những con người tốt cho Xã Hội Chủ Nghĩa”! Mỉa mai thay, qua kinh nghiệm sống hơn một năm dưới chế độ nhà tù Cộng Sản, chúng tôi đã quá ê chề tủi nhục! Cho tới hôm nay, đứng trên mảnh đất của Xã Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi vẫn luôn luôn là đối tượng chính trị của Cộng Sản, không dễ gì họ buông tha một cách dễ dàng! Mỗi giai đoạn chúng tôi trải qua, đều có ý nghĩa nhất định, nằm trong ý đồ của Cộng Sản. Từ Long Giao qua Suối Máu, từ Suối Máu ra Bắc, không phải là những cuộc du lịch, mà đích thực, nó là những mắt xích, những cửa ải đưa dần xuống đáy Đia Ngục bắt buộc phải kinh qua, ít ai được miễn trừ!
Đoàn người đã ra hết ngoài lộ đá. Tôi vác chiếc túi đeo lên vai, băng qua đường tầu lổn nhổn đá, rác rến quăng bừa bãi. Sự bẩn thỉu này làm tôi nhớ lại quang cảnh những sân ga, thuở nhỏ tôi đã thấy mỗi lần theo mẹ về quê. Âu đó là nét sống độc đáo của người dân miền Bắc, chỉ có khác, bây giờ không còn ai mặc váy, tất cả đàn bà đều mặc quần, dù già hay trẻ! Khi tôi ra tới đường, mọi người đã di chuyển được một quãng khá xa.
Sợ bị bỏ lại sau, tôi cố gắng chạy theo cho kịp, nhưng chiếc túi trên vai cứ lúc lắc tăng thêm sức nặng và làm đôi chân chậm bước. Tôi đành đi từ từ, muốn ra sao cũng được. Tên bộ đội áp tải như không cần để ý đến tôi. Tay nó cầm khẩu A.K. đã cũ đi theo sát đám đông. Trong đầu tôi thoáng nẩy ra ý nghĩ: trốn! Tôi nhìn quanh quất, không nơi nào có thể ẩn núp, không khuôn mặt nào có thiện cảm, để giúp đỡ tôi trong mưu toan. Tôi vội xóa bỏ ngay ý nghĩ đó, lại lầm lủi vác chiếc túi đi từng bước mệt mỏi trên con lộ buồn tênh!
Con lộ quá dài, tôi cảm thấy khó chiu đựng hơn nữa. Tôi muốn vứt ngay chiếc túi đó đi, vì mỗi bước chân là hao mòn, thiếu hụt. Quẳng mạnh chiếc túi xuống mặt đường, chiếc túi lăn ra xa. Một ý kiến nẩy ra trong đầu. Tôi đến gần nhặt lên, rồi dùng hết sức quăng thêm lần nữa. Chiếc túi lần này không lăn mà nằm chình ình ngay giữa lộ. Thấy làm cách này không được, tôi xốc lên, đeo vào vai. Tôi cho tay đỡ bên quai bị đứt với chủ ý làm nhẹ bớt, như vậy có lẽ được! Mồ hôi vẫn đầm đìa! Đưa tay gạt ngang mặt, tôi thấy mắt cay xè! Nhìn phía trước không thấy ai, kể cả tên bộ đội áp tải, tôi rảo bước! Sao con đường dài thế, chẳng biết còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn? Tôi không ngờ phải di chuyển xa như vậy, nhưng đã đến hoàn cảnh này, chẳng còn cách nào hơn là cố gắng. Hai chữ “CỐ GẮNG” binh chủng Dù thường dùng mỗi lần cần khuất phục khó khăn chiến trường. May mắn thay, tôi đã nhìn thấy dòng sông và bến đò. Đó là bến Ô Lâu, mấy chục năm trước, tôi đã từng qua lại. Chiếc phà máy chất đầy người sắp sửa tách bến.
Trông thấy tôi, tên bộ đội áp tải hét lớn:
- Mau ”nên”, mau ”nên”!
Tôi bước vội xuống con dốc. Khi vừa đăt được hai chân vào sàn phà, tôi té xỉu. Cũng nhờ anh em đông nền không ngã, tôi chỉ khuỵu gối xuống, đầu ngã vào túi đồ của ai chẳng biết!
- Ai bảo mang cho lắm, nghèo mà ham!
Nghe thấy tiếng mỉa mai, tôi hé mắt nhìn, nhưng hình như mọi người chẳng ai chú ý đến tôi. Chiếc phà nổ máy, đi ngược lên một quãng khá xa rồi mới băng ngang. Dòng nước cuốn mạnh đưa chiếc phà lạng dần xuống phía bến.
Con sông khá rộng làm tôi nhớ đến việc qua phà trên dòng sông Bassac ở Cần Thơ. Nhưng chiếc phà ở đây đơn giản, chứa được ít người, ít xe. Còn chiếc phà ở Cần Thơ quá đồ sộ, chứa cả chục chiếc xe đò và hành khách cùng những người qua lại bất ngờ!
Chiếc phà từ từ cập bến. Tia nắng cuối của một ngày chiếu trên những ngọn cây rừng phía xa trông vừa đẹp vừa rờn rợn. Chúng tôi lục tục lên bến. Từ bên này nhìn sang, phía bên kia đã đầy người đứng đợi.
Tôi, người cuối ra khỏi lòng phà, lết từng bước leo lên chiếc dốc khá dài trước khi gặp con lộ trải nhựa! Đi độ mấy chục thước, thấy anh em đứng lại uống nước . Mừng quá, tôi cố đi nhanh tới, đặt túi đeo xuống, lấy chiếc bi-đông ra, mở nắp xin nước. Tên bộ đội đã lớn tuổi, đeo quân hàm Thượng sĩ nói:
- Báo cáo mấy anh biết, nước đây “nà’ của nhân dân địa phương nấu để mấy anh giải khát! Mấy anh đáng tội chết, nhưng nhân dân tuân theo “nời ” dạy của Đảng và nhà nước không trừng trị,”‘nại” còn cho nước uống đấy! Mấy anh phải học tập cải tạo cho tốt để đền ơn Đảng và nhà nước cũng như nhân dân đã tha tội cho mấy anh!
Nói xong, hắn nghiêm mặt nhìn khắp lượt. Khát quá, tôi định đưa bi-đông nước lên miệng, nghe hắn nói vậy, không còn đủ can đảm để uống, dù mồ hôi ra nhiều, cơn khát làm cháy cổ.
- Uống mau “nên” rồi đi!
Tên bộ đội bỏ cây súng từ trên vai xuống, cầm trong tay. Anh em dù chưa uống hết vì nước quá nóng, cũng vội vã bỏ ly, bỏ bát xuống, mang đồ lên vai, hoặc gánh gồng lếch thếch. Tôi vẫn là kẻ cuối cùng luôn luôn cầm đèn đỏ. Khi vừa quẹo về phía mặt, tôi bỗng nhìn thấy đoàn xe vận tải dân sự đậu dài theo mép lộ. Tôi biết, đoàn xe này sẽ đưa chúng tôi đến trại mới. Mấy tên bộ đội đeo băng tay đỏ, có in hàng chữ “Kiểm soát quân sự” mầu vàng. Đó, những tên quân cảnh Việt Cộng. Theo lệnh, mọi người dừng lại, cách đoàn xe khoảng 20 thước. Lúc ấy, chúng tôi đứng nhốn nháo, không còn phân chia thành đội rõ ràng. Chiếc jeep kiểu Liên xô phóng tới, cuốn theo đám bụi mù. Tiếng thắng kêu ren réc. Tôi bỏ chiếc mũ vải đang đội, úp vào mặt che bụi. Cơn bụi tan, tôi thấy tên bộ đội có khuôn mặt khắc khổ, đôi mắt sắc như dao, đảo qua đảo lại. Gã Thượng sĩ lúc nãy xỉ vả chúng tôi, đứng kế bên nói nhỏ điều gì. Tên kia gục gặc đầu ra chiều đồng ý, xong hắn lại leo lên xe jeep phóng thẳng ra bến phà.
Chúng tôi được lệnh, 30 người một xe, cứ tuần tự từ xe đầu đến xe chót. Đoàn người tự nhiên nhộn nhịp, ai cũng muốn lên trước, cứ là như nếu không lên kịp, Việt Cộng sẽ bỏ lại dọc đường! Những người khỏe mạnh đi phăng phăng. Từng toán, rồi từng toán lần lượt lên. Tôi lên chiếc xe gần cuối. Lòng xe khá rộng, đồ đạc để giữa, hai bên có ghế ngồi. Lần thứ nhất, chúng tôi được di chuyển bằng xe hơi có ghế ngồi, dù bằng gỗ. Tên quân cảnh ngồi sát ca-bin. Tấm bạt được cuốn lên như bức sáo .
Chúng tôi di chuyển công khai trước mặt mọi người, thay vì đi ban đêm như hồi còn ở trong Nam. Có lẽ, Cộng Sản nghĩ, đây một thành tích vĩ đại, họ đã đạt được sau hơn 20 năm đấu tranh gian khổ, cần phải phổ biến rộng rãi trước nhân dân miền Bắc để gây ảnh hưởng chính trị.
Trời đã nhá nhem. Đoàn xe vẫn đứng im chưa nhúc nhích. Tôi quay nhìn phía sau lưng. Rừng núi đã sẫm mầu không còn phân biệt được rõ ràng chiều sâu của cảnh vật. Cơn mệt đã tan, tôi đưa chiếc bi-đông lên miệng. Mùi lá vối nồng nồng làm nhớ lại tuổi ấu thơ, mẹ tôi thường nấu cho uống vì nó mát và lạnh. Sau này lớn lên, đi phiêu bạt nhiều nơi, miệng lưỡi làm quen dần với trà núi Vũ Di, cà-phê Moka, cacao, Ovaltine, và những loại rượu mạnh có tính cách kích thích hơn chất nước hiền hòa, thơm mát của quê hương đất Bắc! Tôi không ngờ trong chuyến đi tù nay lại có dịp được trở về quá khứ. Nhưng quá khứ, sự thực, đối với tôi, chỉ còn là kỷ niệm, thứ kỷ niệm thô sơ, thanh thoát không bị chi phối vì lý do chính trị!
Đoàn xe đã đầy người.
Khi xe chuyển bánh, trời ập tối. Ánh đèn pha rọi thành từng vệt dài, xe nọ chiếu sang xe kia, tạo nên dòng ánh sáng thẳng tắp. Hai bên đường hoang vắng, không một ánh đèn chứng tỏ nơi đây, miền đất hoang vu. Bụi tung mù mịt che khuất tầm nhìn. Nhưng chỉ lát sau, khoảng cách giữa hai chiếc xe đã khá xa. Nhờ đó, anh em đỡ phải hít bụi. Khi đoàn xe chạy vòng khúc quanh, tôi nhìn những vệt sáng thoáng còn, thoáng mất do sự chớp đèn làm hiệu khi qua khúc đường vòng nguy hiểm. Đoàn xe càng chạy càng lên cao. Những dãy núi như gần lại, đôi lúc lù lù chắn ngang mặt, tưởng như chiếc xe sẽ đâm sầm vào. Nhưng không, từ khúc quanh nọ đến khúc quanh kia, mỗi khúc quanh, chiếc xe lại lạng nghiêng như muốn lật sấp. Nhưng người lái xe khá giỏi, có lẽ đã chạy quen trên con đường này hằng đêm, nên biết trước quãng nào có thể chạy nhanh, hoặc chậm!
Chiếc xe có tôi ngồi, cứ chồm lên, chúi xuống, lạng qua lạng lại làm nôn nao. Hai ổ bánh mì phát hồi sớm, tôi mới ăn hết một. Tôi nghĩ có lẽ do đói nên trong người bồn chồn. Cho tay vào túi đeo lưng mò tìm ổ bánh và gói đường. Ổ bánh mềm xèo, èo uột trong tay với gói đường ướt nhẹp thấm qua giấy gói. Tôi đưa ổ bánh lên miệng, nghiến chặt hai hàm răng cắn vào ổ bánh như cắn vào miếng cao su. Gói đường cầm trong tay đã bể. Tôi đưa cả bàn tay lên miệng thè lưỡi liếm. Mùi bánh chua chua trộn vào đường tạo thành hương vị đặc biệt, khó nuốt, nhưng tôi cố nhai cho ra nhiều nước miếng để dễ trôi qua cuống họng. Cứ thế, từng miếng một, tôi ngoạm hết ổ bánh và gói đường. Sau cùng, chiêu ngụm nước. Thế là xong bữa ăn cực nhọc. Thuở niên thiếu, đã nhiều lần, tôi phải ăn bánh mì, uống nước phông-tên trừ cơm, nhưng chưa có lần nào tôi cảm thấy ớn bánh mì như tối nay, trên quãng đường núi rừng trùng điệp, giữa đêm tối trong lòng chiếc xe đưa mình đến nhà tù mới, chưa biết nơi nào?
Quả nhiên, sau khi ăn xong, trong người thấy dễ chịu, không cồn cào như trước. Chiếc xe vẫn chạy lảo đảo như lên đồng. Xe vừa leo khỏi con dốc cao, bỗng tôi nhìn thấy vầng trăng tròn xoe treo lơ lửng trên đầu núi. Làn ánh sáng dịu dàng tỏa xuống núi rừng thâm u càng làm cảnh vật thêm phần bí mật. Đây không phải lần thứ nhất, tôi gặp núi rừng trong đêm trăng sáng. Trong đời tôi đã được sống nhiều đêm trăng giữa núi rừng. Nhưng, những lần đó, hoàn cảnh và cương vị của tôi không cùng chung ước lệ với cuộc sống đêm nay. Cũng trên quãng đường này, khi trước, tôi đã sống bằng tất cả niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ trong nhiệm vụ thiêng liêng, đóng góp công sức mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại của dân tộc! Nay, cũng trên quãng đường này, tôi, một tù nhân của Cộng Sản! Ngày trước, tôi bỏ hàng ngũ về “Thành” không phải vì miếng cơm, manh áo, mà đích thực đã thấy ý đồ của Cộng Sản, lợi dụng sức mạnh của toàn dân làm sức mạnh của Đảng để đấu tranh cho quyền lợi riêng của giai cấp vô sản. Tôi có mặt trong hàng ngũ miền Nam cũng không ngoài mục đích chiến đấu cho Tự-Do.
Đau thay, trong thời gian phục vụ Quân Đội Cộng Hòa, tôi đã bị cục An Ninh Quân Đội điều tra vì lý do thân Cộng! Không, một triệu lần không! Nếu trong đời làm văn học của tôi, có đôi bài mang tính chất xã hội, cũng chỉ vì tôi không muốn nhìn thấy những bất công tồn tại trong một xã hội tiến bộ, dư thừa vật chất!
Tôi chợt nghĩ đến nhân vật của Georghiu trong “Giờ thứ 25”! Trăng càng lên cao càng sáng. Làn ánh sáng dịu dàng tỏa nhẹ trên cảnh vật núi rừng đẹp như giấc mơ. Đoàn xe vẫn tiếp tục leo đèo xuống dốc, nhưng leo nhiều hơn xuống. Núi rừng âm u bao quanh chúng tôi như những bức trường thành bất tận. Đoàn xe di chuyển trong đêm trông giống lũ quái vật đang tiến vào đấu trường. Ngoài tiếng máy xe, tuyệt nhiên không còn tiếng động nào khác. Con đường, chúng tôi đang di chuyển, khi trước nó hẹp, nhiều ổ gà, nhưng nay đã nới rộng, sửa sang lại trong chiến dịch Điện Biên để chuyển quân và pháo!
Chúng tôi ngồi ê cả hai bên mông, vẫn chưa đến nơi. Bên ngoài sương mù đã buông bức mành mỏng. Vầng trăng tròn xoe như chiếc đĩa thủy ngân treo lơ lửng giữa vòm trời thếp bạc. Chiếc xe tự nhiên chạy chậm lại. Tiếng máy rú lên có vẻ mệt mỏi, nó đang leo con dốc quá cao. Từ trên, tôi dòm xuống, chiếc đi sau ở xa, mãi dưới thấp . Khi xe vừa vượt qua con dốc, vẫn chạy từ từ thay vì sang số để chạy nhanh. Tôi nghiêng đầu nhìn qua bên, thấy có dãy nhà lá nằm ngay ven lộ. Một đám đông, cả trẻ con lẫn người lớn đứng trải dài theo mép lộ. Khi chiếc xe vừa lăn chậm chậm trước đám đông, những viên đá tới tấp ném vào xe với lời chửi rủa.
- Đồ Việt gian, tiên sư cha quân bán nước! ề! ê!
Vì bất ngờ, nên anh em có người bị ném trúng vào mặt kêu oai oái, có người bị trúng ngực, trúng tay! Bị trúng hai cục vào lưng, tôi vội cong người xuống, úp mặt vào đống đồ. Những viên đá vẫn ném ào ào vào thùng xe kêu dòn như tiếng pháo. Khi không còn nghe thấy tiếng chửi và tiếng đá, tôi ngửng lên. Phía tên quân cảnh ngồi, mảnh bạt đã buông xuống từ lúc nào, che kín. Tôi biết ngay, việc ném đá và chửi rủa này nằm trong kế hoạch của nhà nước. Giữa đêm khuya ở miền rừng núi giá lạnh, ai điên gì thức chờ đoàn xe chở chúng tôi qua để ném đá? Oán thù chi dữ vậy?
Trong suốt quãng đường từ bến đò Ô Lâu lên tới Sơn La chúng tôi bị ném đá và chửi rủa hai lần nên rút kinh nghiệm, mỗi khi nhìn thấy nơi nào có nhà, chúng tôi đều cúi rạp mình xuống. Do đó, lần thứ nhì không ai hề hấn gì !
Đoàn xe cứ mải miết di chuyển, trăng lên tới đỉnh trời vẫn chưa đến trại. Đã 6 giờ trôi qua! Gió thổi lạnh buốt. Tôi lấy chiếc áo mưa choàng vào người để chắn gió Anh bạn ngồi bên ngả đầu vào vai tôi ngủ gật. Trong lòng xe, vài người có lẽ quá mệt, tựa đầu vào thành xe, mắt nhắm lại, thỉnh thoảng lại bò nhoài về phía trước mỗi khi xe lắc lư. Như thế, vào khoảng 1 giờ sáng, chiếc xe dừng lại trước một bờ rào tre nhọn hoắt, người lái xe mở cửa nhảy xuống. Từ trong rào, tên bộ đội xách súng chạy ra. Họ nói nhỏ gì với nhau, nghe không rõ. Nhìn về phía sau, chỉ thấy còn một chiếc đậu cách xe tôi khoảng mươi thước. Tôi vô cùng ngạc nhiên, không hiểu đoàn xe mấy chục chiếc kia di về phía nào, nay chỉ còn lại hai chiếc?
Người lái xe leo lên, đóng cửa cái rầm! Máy lại nổ, chiếc xe tiến lên, quẹo qua, lùi lại để quay đầu. Chiếc sau cũng làm chung động tác. Chiếc xe chở tôi lại dẫn đầu. Tiếng máy đều đều phá tan sự yên lặng của núi rừng. Thời gian trôi chầm chậm. Vầng trăng đã lệch đi một chút. Tôi khép chặt áo mưa để tránh lạnh. Tên quân cảnh vẫn ôm chặt khẩu A-K ngồi nghiêm chỉnh. Suốt quãng đường dài như vậy, tôi để ý không thấy hắn tỏ vẻ mỏi mệt, hay uống một ngụm nước. Binh chủng Quân cảnh, dù ở quân đội nào cũng vậy, là binh chủng chịu nhiều kỷ luật khắt khe, do đó, sự nghiêm túc của tên Quân cảnh Việt Cộng hiện diện trong chiếc xe này không làm tôi ngạc nhiên. Chiếc xe lại lên xuống theo cơn dốc. Đến một ngã ba, nó quẹo trái. Chiếc sau vẫn bám sát. Giữa khu rừng núi mênh mông trong đêm khuya, hai chiếc xe xả ga chạy vun vút như cuộc chạy đua với tử thần. Có lẽ, thời gian làm họ vội vàng. Sự đi nhầm đường, nhầm trại đã buộc họ phải thu ngắn thời gian di chuyển. Ánh sáng đèn pha chiếu vào vách núi trông rõ từng lùm cây, khóm cỏ. Xe chạy men theo sườn núi. Bên dưới, một vùng tối tăm thăm thẳm. Tôi rùng mình khi nghĩ chỉ sơ sẩy nào đó, tính mạng chúng tôi sẽ chìm sâu dưới hốc đá vô tri!
Vài ánh đèn thấp thoáng phía xa. Tôi nghĩ nơi ánh đèn kia, có thể một khóm làng, có thể Trại Cải Tạo, điểm hẹn của chúng tôi. Chiếc xe hạ dần tốc độ rồi dừng lại ngay đầu trạm gác.
Lần này thay vì người lái xe nhảy xuống, tên bộ đội ngồi trên ca-bin mở cửa. Hắn cầm một tập giấy trong tay và chiếc đèn pin. Hắn rọi đèn vào trạm gác. Tên gác hỏi:
- Ai?
Tên kia không đáp, cứ tiến đến, nói nhỏ với tên gác, rồi đi thẳng vô. Lát sau, hắn và một tên khác cùng ra. Tên quân cảnh trèo qua thành xe, cho lệnh:
- Mấy anh, xuống!
Mọi người lần lượt nhảy khỏi lòng xe. Từng gói đồ được chuyển theo. Chúng tôi tập họp hàng một. Sau khi điểm số, tên bộ đội mới từ trong ra, cho lệnh chúng tôi đi vô, theo ánh đàn pin soi đường. Từ chỗ xe đậu, chúng tôi phải đi sâu vào, qua một chiếc cầu gỗ, đi leo qua con dốc nhỏ đến một khu nhà đang làm dở dang. Tiếng nước chảy róc rách qua các đường máng làm bằng những ống bương to sát mé nhà.
- Đêm nay, các anh nghỉ tạm đây, mai tính!
Tên bộ đội nói xong, chiếu đèn pin quanh gian nhà. Thoáng nhìn, dưới mặt đất tràn đầy tre nứa tươi, bốc mùi chua chua. Căn nhà không rộng bao nhiêu, chứa 60 người, quá chật! Tôi đặt chiếc túi đeo lưng xuống, tay quơ đều đống tre nứa vụn trên mặt đất ngay chỗ đứng, thành nơi ngủ. Trong hơn một năm sống qua hai trại Cải Tạo miền Nam, tôi phần nào đã làm quen với bất ngờ, nhất là chỗ ngủ. Đã đi tù Cộng Sản phải biết chấp nhận tất cả những áp bức, đầy ải, phải biết quên đi những gì gọi là nhân phẩm, tự ái! Phải quan niệm rõ ràng, đây là cuộc trả thù không đổ máu, nhưng kẻ bị trả thù sẽ chết dần mòn qua những năm dài gian khổ, đói khát, qua những uất ức, qua những hối hận, qua những nhớ thương, chờ ngày giờ nào không còn chịu dựng được nữa, sẽ trả lại cuộc đời hơi thở quý báu mà bố mẹ đã nâng niu, chăm sóc từ thuở lọt lòng!
Trải tấm nylon trên đống tre nứa, tôi nằm lăn ra như một xác chết!
Sáng hôm sau, khi tỉnh giấc, màn sương mù dầy đặc phủ kín cảnh vật. Tôi không nhìn thấy gì ngoài 5 thước, trước mắt. Anh em, số đông còn ngủ. Có lẽ, sau đêm di chuyển dài, không ai còn đủ sức để làm việc gì sáng nay, dù việc nhẹ! Có nhiều người co quắp không đắp mền. Những khuôn mặt đen đúa vì nắng gió. Phần lớn họ đều trẻ, tôi không quen ai. Sự xáo trộn lúc lên xe đã làm Đội tan rã. Có lẽ, đây cũng nằm trong kế hoạch giữ tù của Cộng Sản, họ không muốn mọi người quá quen nhau để có thể dễ dàng tuyên truyền, cấu kết chống lại họ!
Hồi kẻng khua vang. Tiếng động dội vào vách đá vọng lại rền rĩ! Kẻng! Trại tù nào cũng phải nghe tiếng kẻng, riết rồi, trở nên quen thuộc. Nhưng sao tiếng kẻng sớm nay lại làm lòng tôi bồi hồi xúc động? Tôi nhớ đến tiếng gồng của đồng bào Thượng trong các buổi đại lễ tại các Buôn, Sóc thuộc vừng Gia Rai, Kontum, Buôn Mê Thuột. Địa danh Buôn Mê Thuột hiện ra làm đầu tôi choáng váng, như có ai cầm chiếc búa chim bổ xuống. Buôn Mê Thuột nơi diễn ra trận đánh mở đầu, cũng là trận đánh cuối, để xóa nền Đệ Nhị Cộng Hoà, sau hơn 20 năm, đổ bao nhiêu xương máu để tồn tại. Nghĩa Trang Quân Đội, một chứng tích vừa oai hùng vừa bi thương và cuộc chiến đã kết thúc dưới hình thứ “đầu hàng vô điều kiện” là sự phản bội đê hèn nhất trước vong linh các chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ miền Nam.
Sương mù tan dần. Tôi nhìn thấy nhiều bóng người qua lại ở căn nhà kế cận. Một người đi lại phía tôi.
- A, ông! Lên đây đêm qua hé!
- Ừ, ông ở lâu chưa? - Tôi hỏi Tính, người bạn mang cấp Thiếu Tá.
- Hơn một tháng rồi, tôi đi đợt đầu. Căn nhà các ông ở, làm chưa xong. Các anh em bên Trại B sang làm giúp đấy, trong đó có Phúc và Văn Quang!
- Trại B, gần đây không?
- Khoảng 3 cây.
- Họ có sang làm tiếp không?
- Chắc không! Tôi nghĩ, các ông sẽ tiếp tục! có ai đi lấy bắp ăn sáng chưa?
- Chưa!
- Ai làm Đội Trưởng?
- Chưa có ai!
- Phải bầu tạm, lo cho sáng nay đã. Lát nữa cán bộ đến, sẽ trình lại!
Tính nói xong, bỏ đi.
Lúc này đã có nhiều người dậy. Tôi mang ý kiến của Tính ra nói. Một anh, người dỏng cao, giơ tay nhận làm Đội Trưởng.
- Anh em mình mới tới, tất cả bao nhiêu người?
Sau một hồi đếm đi đếm lại, đúng 60. Anh Đội Trường “hờ” nhờ tôi hỏi Tính xem thủ tục lãnh phần ăn sáng ra sao? Đựng bằng gì, cho 60 phần ăn?
Tính nói:
- Cứ xuống khai với nhà bếp, có 60 anh em mới đến đêm qua, họ biết mà. Đồ dùng thì nhà bếp cho mượn.
Anh Đội Trưởng “hờ” đi xuống nhà bếp nằm dưới thấp. Sương mù đã tan, dãi mây trắng giăng ngang dẫy núi phía trước, đẹp như bức tranh. Ở dưới chân núi, rất nhiều mái lá nhấp nhô. Màu vàng óng của tre nứa nổi bật giữa mầu xanh thẫm của núi rừng tạo nên hòa sắc tuyệt diệu! Trại tù này khá lớn, được xây dựng giữa khu lòng chảo rộng. Xung quanh núi rừng bao che như vòng tay khổng lồ, ôm đàn con nhỏ. Nhiều con đường mòn chạy ngang dọc như vẽ vào khung cảnh nơi đây những nét tài hoa.
Tôi giương đôi mắt nhìn theo đàn chim rừng bay vút như cắt ngang vòm trời, Đội Trưởng “hờ” đã khệ nệ bưng thúng bắp nấu, còn bốc hơi ngùn ngụt.
- Anh nào khéo tay chia đi!
- Một “chén tầu thủy” đủ không?
-Thì coi, nếu thiếu, chia lại!
Thế là 60 cái chén nhựa được xếp quây tròn, quanh chiếc thúng. Một anh dùng cái chén được phát trên tầu Sông Hương, múc đầy, rồi dùng chiếc đũa gạt ngang miệng. Chia xong, còn dư một chút, anh lại chia đều.
Chén bắp nấu đầu tiên, trong trại tù mới, chúng tôi ăn ngon lành, vì từ hôm xuống tầu, chưa lần nào được ăn một bữa có đun nấu! Lương khô, mì gói, ăn nhiều nóng ruột. Sáng nay, dù món bắp nấu, chưa phải món ăn lý tưởng, nó cứng như đá, nhưng ít ra cũng nóng sốt, lạ miệng, nên ai nấy ăn hăm hở. Chỉ một loáng, mọi người đã tìm chỗ rửa chén.
Kể từ hôm nay, giữa tôi và miền Nam hoàn toàn cách biệt, chẳng biết ngày nào mới gặp lại để được đi dưới ánh nắng chói chang mà không nóng, được hưởng những làn gió mát mỗi chiều. Quanh năm không dùng áo ấm; đêm đêm, tấm đắp mỏng đủ tạo nên giấc mộng yên lành!...
Khi anh em ngôi đông đủ chờ cán bộ đến sinh hoạt, tôi nhìn thấy một anh, gò má sưng to như trái ổi, dòng máu khô chảy dài trên má. Vài người khác kêu đau ngực, đau tay, vì bị trúng đá đêm qua. Tôi cởi áo nhờ anh kế bên coi hộ xem lưng có sao không? Anh nói: chỉ hơi tím thôi!
- Đù mẹ, mỗi lần di chuyển, mỗi lần bị ném đá thế này thì bỏ cha!
- Họ giết mình còn được nữa là!...
Mọi người nín thinh sau hai câu đó!
Tính lai đến tìm tôi vì anh ở gần. Tôi hỏi:
- Sao, ở đây dễ chịu không? Họ điểm nghiệm có khó không? Ho thu gì?
- Tù ở đâu cũng vậy! Chính sách chung mà! Ông cẩn thận có thuốc men cất kỹ. Nó thu đó!
Nghe thấy thu thuốc, tôi sợ quá, ngỏ ý nhờ Tính giữ dùm vì anh đã ở trước, qua khỏi cuộc điểm nghiệm rồi. Tính nhận lời. Tôi tìm gói thuốc, đưa Tính.
- Thuốc gì đây ông? Có Chloroquine không?
Tôi giật mình, sợ Tính đoán được ý định của mình nên câu trả lời có vẻ như coi thường:
- Có ít viên đề phòng sốt rét. Ông cần, có thể lấy ít viên xài!
- Không, hỏi vậy thôi. Ở rừng núi, trước sau gì cũng ngã nước. Ông có nghe thấy câu ngạn ngữ “Nước Sơn La, ma Vạn Bú ” rồi chứ?
- Có, nhưng đây là đâu?
- Sơn La! Thế lúc di chuyển ông không nhìn thấy núi non trùng trùng, điệp điệp à? Núi giăng như lưới, vì thế mới gọi: Sơn La! Nước độc ghê gớm! Người miền xuôi lên làm ăn, sớm muộn gì cũng ngã nước, rồi bỏ xác tại đây!
Nghe Tính nói, tôi rùng mình, nhìn thẳng phía trước. Những lớp núi như đan vào nhau, ngọn cao, ngọn thấp, nối tiếp như những lớp trường thành trùng điệp bằng dá, khó qua nổi!
- Thế chúng mình sẽ phải bỏ xác ở đây sao? - Tôi hỏi Tính.
- Cái đó chưa rõ ạ! Ông biết tin về Hùng và Lan không?
Nghe Tính nhắc đến Hùng và Lan, tôi sững mắt nhìn :
- Sao, có chuyện gì thế?
- Tôi đi cùng chuyến tầu với họ. Vì là chuyến đầu, nên tụi Cộng Sản cẩn thận lắm. Anh em chẳng những bị nhốt vào toa trâu bò, cánh cửa duy nhất lai bị khóa kín, do đó, thiếu không khí. Ông Hùng bị chết ngạt. Có lẽ, sau mấy đêm cực nhoc ở dưới hầm tầu thủy, nay lại bị nhốt kín trong toa trâu bò cả đêm. Nghe đâu, ông ta bị bệnh phổi nặng, không còn sức chịu đựng!
- Chuyến tầu chúng tôi đi, cửa có hé mở!
- Chính vì cái chết của Hùng và nhiều người khác ngất ngư, nên các chuyến sau, họ mới mở hé đó, ông!
- Thế còn trường hợp của Lan?
- Lan khác. Hắn tự tử!
- Sao biết?
- Ông biết “Đức đen” không?
- Có!
- Chính “Đức đen” đã nói với tôi về trường hợp của Lan. Lan đã chết dưới chân hắn. Cộng Sản đã bắt hắn phải ký vào tờ khai tử của Lan với tư cách nhân chứng!
- Đức có ở chung trại này không?
- Không, họ phân chia số người ra nhiều trại lắm. Cả mấy chục xe cùng khởi hành, khi đến nơi chỉ còn vài xe.
- Tụi tôi cũng vậy! Đức kể với ông hồi nào?
- Ở bến đò Ô Lâu, trước khi lên xe!
Tin Hùng và Lan mất làm tôi choáng váng. Hùng người cán bộ chiến tranh chính trị nhiệt tình trong công tác, bị anh em chụp mũ “tên Cộng Sản nằm vùng” đã chết một cách khổ nhục trong toa chở trâu bò, bỏ lại mẹ già, vợ và những đứa con yêu quý trong đó có 2 đứa cũng đi học tập cải tạo như bố. Còn Lan, đã giữ đúng lời nguyền “nếu tụi Cộng Sản đầy ải và làm nhục, tôi sẽ kết thúc đời sống bằng độc dược”. Số độc được, Lan đã chia cho tôi một nửa, tôi còn giữ và nhờ Tính giấu dùm để tránh sự tịch thu của Cộng Sản qua cuộc điểm nghiệm. Những viên thuốc mầu đo đỏ một ngày nào, sẽ đưa tôi ra khỏi cuộc đời, trong trường hợp tôi không còn khả năng chịu đựng ê chê, nhục nhã!
Chúng tôi bầy hết mọi thứ trên tấm nylon. Hai tên cán bộ xem xét từng thứ một.
- Anh nào có thuốc tây bỏ ra trình. Chúng tôi không tịch thu đâu, chỉ tập trung “nại” để các anh cùng dùng khi đau ốm! Trại mới được tổ chức theo yêu cầu, nên còn thiếu thốn, nhất ”nà” vấn đề thuốc men, do đó chúng tôi phải khắc phuc bằng cách “bình quân” số thuốc tây các anh có, để khi anh nào đau yếu chúng tôi sẽ phát “nại”. Cũng “nà no” cho các anh cả thôi! Cách Mạng chúng tôi, không dùng!
Sau câu nói, các vỉ thuốc được đưa ra, từ thuốc cấm đến trụ sinh. Tên cán bộ dồn tất cả vào chiếc túi nylon. Ngoài vấn đề thuốc, dao kéo và những đồ dùng bằng sắt cũng bị tịch thu. Nhờ có Tính, số thuốc của tôi còn nguyên vẹn!
Sau cuộc điểm nghiệm, chúng tôi được đi tắm giặt . Một tên bộ đội vũ trang đưa dẫn. Bây giờ tôi mới nhìn rõ con đường tối qua đã đi. Con đường khá rộng, tương đối bằng phẳng. Cây cầu gỗ bắc qua con suối nhỏ. Tôi ngó xuống, những viên đá đen nhánh, to, nhỏ, chồng chất lên nhau làm dòng nước chẩy len lách thành những chiếc vòi nhỏ róc rách, nhìn vui mắt. Tháng này chưa phải mùa lũ, nên các dòng suối nhỏ đều cạn. Từ chiếc cầu, tôi nhìn ra xa một con đường mòn đỏ quạch chạy ngoằn ngoèo trên triền đồi cao bằng tòa nhà 10 tầng đổ xuống. Có mấy bóng người đang trèo ở lưng chừng. Nhìn dáng điệu và mầu quần áo, tôi biết ngay, anh em đi lao động. Trên con dốc kia, leo lên, tụt xuống mỗi ngày với tre nứa trên vai, coi bộ khó khá được!
Ra tới lộ đá, tên bộ đội đưa chúng tôi đi xuôi xuống, chừng hơn một cây số tới bên hông quả núi bị vạt một góc để làm đường. Hắn cho lệnh dừng, rồi chỉ tay cho chúng tôi đi theo lối mòn ra suối.
Một dòng suối khá rộng, nước chẩy ào ạt tuy giữa mùa khô! Mọi người cởi nhanh quần áo dầm mình xuống! Tôi nằm dài trên tảng đá lớn chìm sâu, để dòng nước chảy qua người. Từ ngay đi tù, chưa lần nào tôi được tắm thoải mái như vậy. Nghe trong người sảng khoái. Từng lỗ chân lông như nở ra để đón nhận hơi mát. Tắm gội chán chê, tôi giặt giũ rồi lên bãi cỏ ngồi chờ.
- Đi về, mấy anh!
Tên bộ đội từ ngoài đường gọi. Tất cả vội vàng đi lên, tay người nào cũng nặng chĩu đống quần áo ướt. Chúng tôi về đến nhà, đã gần trưa, sắp tới giờ cơm.
Tính chờ tôi ở đầu nhà:
- Ông đi tắm suối hả?
- Tắm khoái thực ông ạ, nhưng vô ích, vì từ suối về nhà, mồ hôi lại ra đầm đìa, tắm cũng như không!
- Thôi, lần sau muốn tắm, chờ buổi tối, tôi đưa ông đi tắm máng nước phía dưới, gần nhà bếp cho khỏe.
- Họ cấm mà!
- Vì thế, mới tắm buổi tối! Ông này ngây thơ bỏ cha!
Tiếng kẻng báo giờ cơm đã đánh. Tính quay về.
Chúng tôi, những người mới nhập trại, nhưng chóng làm quen với hoàn cảnh. Việc phân công nhanh, vì ai cũng biết rõ nhiệm vụ của mình. Đội Trưởng “hờ’ buổi sáng nay được anh em bầu chính thức. 6 Tổ được thành hình. Tổ 1 chịu trách nhiệm lo cơm nước cho anh em hôm nay, mai Tổ 2 rồi cứ thế tuần tự đảm trách.
Bữa cơm trưa chỉ có cơm và canh bí đao nấu muối. Người nào mang được món mặn, bỏ ra ăn. Qua mấy ngay không có cơm, bữa nay được ăn, dù gạo đỏ, cũng quý hóa. Sau khi chia phần, mỗi người được hơn hai “chén tàu thủy”! Ai ăn khoẻ, chắc không đủ!
Buổi chiều chúng tôi dọn dẹp nhà cửa. Bao nhiêu tre nứa được gom lại một chỗ. Chắc chắn, chúng tôi sẻ ngủ đất đêm nay và nhiều đêm nữa. Khí hậu núi rừng Sơn La rất độc, ngủ đất sao chịu nổi? Trong lúc chúng tôi đang dọn dẹp, bên ngoài có tiếng tre nứa quăng ầm ầm. Tôi nhìn ra, mấy anh em, quần ao treillis ướt đẫm mồ hôi và đất đỏ bám đầy, đang đứng thở sau khi quăng được bó dang, nứa xuống đất. Có người cúi xuống cởi những sợi dây rừng cuốn tròn lại, cầm chặt trong tay. Một tên bộ đội lù lù đi đến.
- Sao, bó này của anh nào?
- Dạ, của tôi, cán bộ!
- Còn bó này?
- Dạ, của tôi!
- À, bó này chưa đạt tiêu chuẩn nhá? Các anh “nao” động bầy nhầy “nắm”. Mức khoán đề ra “nà” mỗi anh 12 cây dài 4 mét trở “nên”, đường kính 7 phân. Anh “nấy” cây này có được 3 mét không?
Người có bó dang, đứng im không nói gì. Tên bộ đội, nhìn anh ta bằng con mắt nghiêm khắc.
- Anh tên gì? Tổ mấy, Đội mấy?
- Dạ, tên Kha.
- Gì Kha mới được chứ? Trai này có mấy Kha đấy!
- Dạ, Trương Đình Kha, Tổ 2, Đội 28.
Tên bộ đội lạnh lùng:
- Ngày mai, anh “nấy” gấp đôi!
Sau khi điểm xong, tên bộ đội đi ngược lên trên đồi, nơi có những đội khác ở.
Buổi chiều núi rừng, trời chóng tối. Ban ngày và ban dêm là hai cảnh khác biệt. Nếu ban ngày núi rừng cho ta cái cảm giác hùng vĩ và khơi động trí mạo hiểm, thì ban đêm núi rừng lại làm ta e ngại. Mỗi bóng tối có thể là một cạm bẫy, một đe dọa! Tôi nhìn những mỏm núi nhọn cắt lên nền trời như chiếc lưỡi cưa khổng lồ bất động. Chỉ trong ít phút nữa thôi, cảnh vật sẽ bị xóa mờ rồi chìm đắm vào một vùng hoang vu đầy bí mật!
Chưa muốn ngủ, tôi ngồi trên tảng đá, chờ trăng lên. Những mái tranh ẩn hiện trước mắt tôi lúc này, không tăng thêm phần sinh động cho khung cảnh.
Hàng ngàn con người đang sống dưới những mái tranh ấy, họ đang suy nghĩ gì về hiện tại và tương lai? Nỗi đau khổ của con người nhiều hay ít cũng còn thuộc vào sự suy nghĩ cửa mỗi cá nhân về nó. Nếu nhìn bề ngoài, không ai có thể đoán nổi họ đang nghĩ gì, vì tất cả đều cố giấu thực chất của mình trước sự dò xét của mọi người. Cũng như tôi đã giấu Tính về ý đồ tự sát, qua gói thuốc gửi hắn cất dùm trước khi bị điểm nghiệm!
Cảnh vật sáng dần. Tuy chưa nhìn thấy, nhưng tôi biết trăng đã lên. Trời rất trong, càng nhìn càng thăm thẳm. Có vài tiếng kêu buồn bã của đàn chim ăn đêm từ xa vọng lại, xen kẽ tiếng “tắc kè” tặc lưỡi nghe khắc khoải. Cả một vùng rộng lớn quanh tôi như chìm lắng vào giấc ngủ quá sớm. Làn sương mù đã buông nhẹ, tôi cảm thấy lanh, sợ bị đau, đi vào nhà.
Anh em nhiều người còn thức, ngồi quây quần xung quanh ngọn nến, vừa ‘kéo pháo” vừa nói chuyện. Danh từ “kéo pháo” mới được sáng tạo để chỉ việc rít điếu cầy. Những câu chuyện thường nhắc lại “quá khứ oanh liệt” để tiếc, để thương.
- Thôi, xin các ông dẹp chuyện cũ lại, nói mãi nhục lắm!
Giọng nói khàn khàn, lè nhè như sắp đi vào giấc ngủ nhưng chắc chưa ngủ được vì tiếng nói chuyện.
- A, ông Khiêm, ông buồn ngủ cứ ngủ, chúng tôi nói chuyện cho vui mà!
- Không ai cấm các ông nói, nhưng nói chuyện khác! Cái thời oanh liệt đó, đã chết rồi! Quên đi!
- Quên thế chó nào được? Mình phải nhắc nhở, để nung nấu ý chí chứ? Ông không thích nghe, kệ ông!
Lời qua lại có vẻ gay go, Đội Trưởng sợ có chuyện không đẹp xẩy ra, vội nói:
-Thôi anh em, chuyện gì mai giải quyết, bây giờ ta đi ngủ, kẻng rồi!
Những điếu thuốc cuối rít lên, trước khi ngọn nến được thổi tắt. Căn nhà tối om như chiếc vực!
Sáng hôm sau thức dậy, sau khi ăn sáng xong, được lệnh đi học tập Nội Quy. Chúng tôi ra phía cổng, băng qua con lộ đến khu nhà có chiếc sân gạch rất rộng. Ở phía cưối sân, một căn nhà gỗ 5 gian khá khang trang. Có lẽ đây, căn nhà xưa kia giàu có, bị tich thâu làm trụ sở Hợp tác xã. Bên trong nhà chứa đầy thóc, bắp và bí đao. Ngay thềm nhà, kê chiếc bàn trên trải tấm vải đỏ. Chúng tôi được lệnh ngồi ngoài sân. Trời nắng chang chang. Mới sáng, ánh nắng đã đổ xuống sân gạch, hơi nắng hắt lên hừng hực. Chừng 15 phút sau, tên bộ đội mang quân hàm Đại úy từ ngoài cổng đi vô, bước lên thềm, môi nở nụ cười gây thiện cảm. Xung quanh lố nhố toàn “cối xanh”. Một tên, đặt chiếc cặp da trên mặt bàn, nói:
- Xin giới thiệu với các anh, Đại úy Trại Trưởng sẽ sinh hoạt với các anh trong ít phút về vấn đề Nội Quy.
Nói xong tự hắn vỗ tay. Chúng tôi vỗ tay theo. Những giọt mồ hôi bắt đầu thấm ướt lưng và ngực.
Tên Đại úy mở cặp, kéo ra xấp giấy. Hắn mở nắp túi áo lôi cặp kính trắng đeo lên mắt. Hắn trạc 50 tuổi. Khuôn mặt vuông vức, có vẻ cuồng tín. Hắn đọc từng điều một, trong bản nội quy gồm 12 điều. Hầu hết nội quy trong các Trại Tập Trung Cải Tạo đều giống nhau, nếu có khác, chỉ một, hai chi tiết do mỗi Trại Trưởng đề xuất. Có 3 điều, không bao giờ thay đổi:
- Cấm không được xưng hô bằng cấp bậc cũ, tất cả đều gọi nhau bằng anh, già cũng như trẻ!
- Cấm không được nói tiếng nước ngoài.
- Cấm không được tồn trữ các loại sách báo, tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy!
Mỗi điều, tên Đại Úy nói ra, chúng tôi đều cắm cúi ghi chép, vì phải học thuộc.
Đang nói thao thao, bỗng tên Đại úy ngừng lại chỉ tay ra ngoài.
- Kìa, các anh xem, mấy anh đang đi kia được hưởng “quy chế tự giác” sắp được thả rồi! Mấy anh đó, bị bắt từ 1965 trong chuyến nhảy ra miền Bắc. Các anh ấy “núc” này, đi “nại” tự do như người dân thường. Còn như tên Khang, tên “Nương” mấy thằng “ngụy ác ôn” Cách Mạng đã tha tội chết cho đi học tập cải tạo mà chúng còn trốn trại. Chỉ nay mai, bị bắt “nại” chúng nó sẽ bị cùm, cùm!
Tên Đại úy quắc mắt, nghiến răng, nếu có tên Khang và Lương ở đấy, chắc hắn phải ăn thịt!
Chúng tôi quay mặt nhìn ra ngoài, có hai anh đeo túi vải đang đi trên lộ. Tuy ở xa, tôi cũng thấy họ còn trẻ, tuy đã bị giam giữ trên 10 năm, giữa núi rừng Việt Bắc!
Buổi học tập Nội Quy đến gần trưa mới xong.
Chúng tôi ra về, quần áo ướt đẫm mồ hôi. Về đến nhà, ai nấy đều mở nắp bi-đông, hoặc lon gô, uống nước.
Bữa cơm trưa nay, không ai muốn ăn, dù có cơm, canh nóng hổi. Buổi chiều, chúng tôi phải khai báo lý lịch. Sáng hôm sau, lại nhận lệnh đi nghe nói chuyện, tại khu nhà dưới đồi. Một tên đeo quân hàm Trung úy, đứng trước một đám đông ngồi bệt dưới đất. Hắn cười, nói :
- May quá, đáng nhẽ hôm nay, báo tin buồn cho mấy anh về vấn đề hạ mức ăn, nhưng nhờ sự can thiệp tích cực của Trại trình lên Trên, Trên đã chấp thuận giữ nguyên mức ăn cũ 18 kí mỗi tháng, thay vì 15 kí!
Tiếng vỗ tay rào rao, hoan hỉ! Thế là buổi hội tan, ai nấy quay về nhiệm vụ của mình.
Những ngày kế tiếp, chúng tôi phải lao động, chẻ tre, vạt nứa, làm vách nhà và sạp nằm. Sáng, tổ trục mượn dao ở kho, chiều, hết giờ lao động mang trả. Mỗi tối đều có sinh hoạt để phê bình kiểm thảo công tác ở giữa sân, do tên quản giáo điều khiển. Chúng tôi đều phải nghe một luận điệu đại khái:
- Nói chung, đại bộ phận các anh đã ý thức được nhiệm vụ của mình, nhưng còn một số vẫn dựa dẫm,”nề mề”, không thích “nao động”! Ngày mai, Tổ 1 và 2 phải hoàn thành tấm vách trước mặt. Tổ 3, làm chân sạp. Tổ 4, đan phên, Tổ 5 và 6, chẻ tre, nứa, phục vụ cho các Tổ. Các anh nghe rõ chứ?
- Rõ!
Đó, tối nào cũng từng ấy chữ, tên quản giáo nói như con vẹt. Còn chúng tôi, tai nọ bay qua tai kia, không chú ý tới nữa!
Trong vòng hơn 2 tuần lễ, chúng tôi thi hành xong công tác. Căn nhà đã có vách, sạp nằm. Mỗi tối thay vì nằm đất, chúng tôi nằm trên những tấm phên nứa, cách mặt đất khoảng 6 tấc. Nhưng chúng tôi chỉ được nằm trong vài đêm.
Đúng 16 ngày, kể từ hôm đến, chúng tôi được lệnh chuyển trại.