MỤC LỤC
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12
- Chương 13
- Chương 14
- Chương 15
- Chương 16
- Chương 17
- Chương 18
- Chương 19
- Chương 20
- Chương 21
- Chương 22
- Chương 23
- Chương 24
- Chương 25
- Chương 26
- Chương 27
- Chương 28
- Chương 29
- Chương 30
- Chương 31
- Chương 32
- Chương 33
- Chương 34
- Chương 35
- Chương 36
- Chương 37
- Chương 38
- Chương 39
CHƯƠNG 27
Ngày 28 tháng Tư năm 1944, khi nghiêng người soi gương, Oskar nhận thấy bụng mình bắt đầu phệ ra trước thềm sinh nhật thứ ba mươi sáu. Nhưng chí ít hôm nay khi ông ôm hôn các em gái, sẽ chẳng có ai tố giác ông nữa. Bất cứ tên chỉ điểm nào trong đám kỹ thuật người Đức chắc cũng ngã lòng sau khi SS thả Oskar ra khỏi cả Pomorska và Montelupich, hai nơi đều được xem là bất khả tác động.
Nhân dịp này, Emilie gửi lời chúc từ Czechoslovakia như thường lệ, còn Ingrid với Klonowska thì tặng quà ông. Quy ước trong nhà của ông hầu như không thay đổi gì sau bốn năm rưỡi ở Cracow. Ingrid vẫn là ái cơ, Klonowska là bạn gái, và Emilie là người vợ vắng mặt một cách dễ hiểu. Những oán hận và hoang mang mỗi người phải chịu đựng, nếu có, cũng không được ghi lại, nhưng vào năm thứ ba mươi bảy trong đời Oskar, có một điều dễ nhận thấy là mối quan hệ với Ingrid đã xuất hiện đôi chút lạnh lùng; còn Klonowska, một người bạn trung thành, vẫn bằng lòng với cuộc tình năm thì mười họa, trong khi Emilie vẫn coi cuộc hôn nhân của họ là bất khả chia lìa. Trước mắt, tất cả đều tặng quà và bưng kín miệng bình.
Không chỉ có họ chúc mừng sinh nhật Oskar. Amon cho phép Henry Rosner mang cây vĩ cầm tới phố Lipowa vào buổi tối, dưới sự hộ tống của giọng nam trung xuất sắc nhất trại lính Ukraine. Amon, ở thời điểm này, đang rất ưng bụng về mối quan hệ với Schindler. Để đổi lấy sự ủng hộ của gã với trại Emalia, vừa mới hôm trước Amon đã ngỏ ý và được sử dụng vĩnh viễn chiếc Mercedes của Oskar - không phải chiếc xe cà tàng mà Oskar mua lại của John trong một ngày, mà là chiếc thanh lịch nhất trong ga ra của Emalia.
Cặp đôi trình diễn ngay ở văn phòng. Không có khán giả nào khác ngoài Oskar. Có vẻ như ông muốn ở một mình. Khi tên lính Ukraine vào nhà vệ sinh, Oskar tiết lộ với Henry lý do mình chán nản. Tình hình chiến sự làm ông bực bội. Sinh nhật ông đến trong khiếm khuyết. Quân Nga đã dừng bước tại đầm lầy Pripet ở Belorussia và trước Lwów. Nỗi sợ của ông làm Henry khó hiểu. Lẽ nào ông không rõ, anh tự hỏi, nếu quân Nga không bị chặn lại, việc kinh doanh ở đây sẽ đi tong.
“Ta vẫn hay xin Amon cho anh đến ở hẳn đây,” Oskar bảo Rosner. “Anh và vợ con. Nhưng hắn không chịu. Hắn quá thưởng thức anh. Nhưng rồi sẽ đến lúc…”
Henry biết ơn ông. Nhưng anh cảm thấy cần chỉ ra rằng tại Płaszów, gia đình anh được an toàn chẳng kém ai. Em dâu anh bị Goeth bắt quả tang hút thuốc khi đang làm việc và bị lệnh xử bắn. May mà một hạ sĩ quan xin báo cáo Herr Commandant rằng đây là bà Rosner, vợ của anh Rosner chơi accordion. “À,” Amon nói, và xá tội cho cô. “Nhớ đấy, cô gái, nghiêm cấm hút thuốc trong giờ làm việc.”
Henry chia sẻ với Oskar rằng chính vì thái độ ấy của Amon - miễn tội cho anh em nhà Rosner vì tài năng âm nhạc - mà anh và Manci đã quyết định đưa cậu con trai tám tuổi Olek vào trại. Trước đó họ gửi cậu ở nhà bạn bè trong Cracow, nhưng cứ mỗi ngày trôi qua là thêm một phần mạo hiểm. Một khi vào trong, Olek có thể trà trộn vào lũ trẻ con, nhiều đứa không có tên trong hồ sơ nhà tù, có mặt ở đây nhờ âm mưu của tù nhân và sự làm ngơ của một số nhân viên cấp thấp. Tuy nhiên đưa được Olek vào trại mới là việc khó. Poldek Pfefferberg, nhân dịp lái xe vào thị trấn lấy đồ nghề, đã đưa cậu bé vào. Lính Ukraine suýt phát hiện ra cậu ngoài cổng, khi cậu vẫn là người ngoài và đang vi phạm mọi quy chế chủng tộc ở vùng Đức thuộc. Chân cậu tòi ra khỏi chiếc hộp giữa hai mắt cá chân Pfefferberg. “Chú Pfefferberg, chú Pfefferberg.” Poldek nghe tiếng cậu đúng lúc lính Ukraine đang lục soát đằng sau xe. “Chân cháu thò ra ngoài rồi.”
Giờ nghĩ lại Henry đã có thể cười, dù mỏi mệt, vì phía trước còn nhiều gian truân. Nhưng Schindler phản ứng dữ dội, với một cử chỉ dường như xuất phát từ nỗi ưu phiền chếnh choáng trĩu nặng trong ông vào tối sinh nhật này. Ông nhấc chiếc ghế và giơ về phía tấm chân dung Führer. Trong một giây, tưởng chừng ông sẽ quật vào bức hình. Nhưng rồi ông xoay gót, chầm chậm hạ chiếc ghế xuống cho đến khi bốn chân cách đều mặt đất, rồi nện nó xuống mặt thảm, làm bức tường rung rinh.
Rồi ông hỏi: “Ngoài ấy chúng đang đốt xác, phải không.”
Henry nhăn mặt, như thể xú khí đã lan vào đây. “Bắt đầu rồi,” anh thừa nhận.
°
Giờ đây, khi Płaszów đã là - theo ngôn ngữ hành chính - Trại Tập trung, cư dân ở đây cảm thấy an toàn hơn khi chạm mặt Amon. Các sếp ở Oranienburg không cho phép hành quyết chóng vánh. Những ngày gọt khoai chậm cũng có thể bị xử tử tại chỗ đã qua. Nay họ chỉ có thể bị kết liễu theo đúng quy trình. Họ phải ra tòa, biên bản phải sao thành ba bản gửi lên Oranienburg. Bản án phải được sự phê chuẩn từ cả văn phòng của tướng Glücks lẫn Cục W (đặc trách kinh tế) của tướng Pohl. Bởi nếu một viên Commandant sát hại lao động lành nghề, Cục W có thể bị đòi bồi thường. Allach-Munich, Ltd., công ty sứ sử dụng lao động khổ sai tại Dachau, vừa nộp đơn đòi bồi thường 31,800 RM bởi “do dịch thương hàn bùng phát vào tháng Một năm 1943, chúng tôi không có tù nhân để sử dụng từ 26 tháng Một đến mồng 3 tháng Ba năm 1943. Chúng tôi cho rằng mình đủ tiêu chuẩn đòi bồi thường theo Điều 2 Quỹ Giải quyết bồi thường…”
Khả năng Cục W phải bồi thường càng cao nếu việc thất thoát lao động lành nghề lại bắt nguồn từ nhiệt tình của một sĩ quan SS hiếu sát.
Thế nên, để đỡ phiền hà vì thủ tục giấy tờ, Amon đành tự chế trong phần lớn thời gian. Những người sống quanh gã trong mùa xuân và đầu hè năm 1944 cảm nhận được sự an toàn ấy, dù họ chẳng biết gì về Cục W hay tướng Pohl hay Glücks. Với họ, lòng nhân từ ấy cũng bí hiểm không kém gì tính cuồng sát của Amon.
Thế nhưng, như Oskar vừa đề cập với Henry Rosner, SS đang đốt xác tại Płaszów. Nhằm chuẩn bị cho đợt tấn công của quân Nga, SS bắt đầu xóa sổ các cơ sở ở miền Đông. Treblinka, Sobibor và Bełżec được sơ tán từ mùa thu năm ngoái. Lực lượng SS ở đây được lệnh đặt thuốc nổ phá hủy phòng hơi ngạt và lò thiêu xác, không để lại bất kỳ dấu vết nào, tiếp đó được điều động sang Ý chống quân du kích. Khu tổ hợp khổng lồ Auschwitz, nằm trong vùng an toàn ở Thượng Silesia, sẽ hoàn thành nhiệm vụ lớn lao tại miền Đông, và khi xong việc, lò thiêu sẽ được vùi xuống lòng đất. Bởi không có lò thiêu làm chứng cứ, người chết chẳng thể đưa ra nhân chứng, và chỉ như tiếng thì thầm trong gió, như hạt bụi vô danh trên tán bạch dương.
Trường hợp Płaszów không đơn giản như vậy, vì xác chết rải khắp nơi. Trong cơn phấn khích mùa xuân 1943, thi thể - nhất là những người bị giết trong hai ngày cuối cùng của ghetto, được vứt bừa xuống những nấm mộ tập thể trong rừng. Giờ đây Cục D bắt Amon phải tìm lại tất cả.
Các ước tính về số thi thể chênh lệch nhau rất xa. Tài liệu của Ba Lan, dựa trên kết quả của Ủy ban Điều tra về Tội ác Phát xít ở Ba Lan và các nguồn khác, khẳng định có 150.000 tù nhân, nhiều nguồn từ nơi khác đến, đã vào Płaszów và năm trại phụ của nó. Trong số này, họ cho rằng 80.000 người đã chết tại đây, chủ yếu trong các vụ hành quyết tập thể ở Chujowa Górka hoặc vì bệnh dịch.
Những con số ấy khiến người sống sót, vẫn chưa quên công việc gớm ghiếc là đốt xác người chết, phải ngỡ ngàng. Họ khẳng định đã hỏa thiêu từ tám ngàn đến mười ngàn xác - một con số tự nó đã đầy khiếp đảm và không ai có ham muốn phóng đại. Khoảng cách giữa hai số liệu thu hẹp lại khi tính đến thực tế rằng việc hành quyết người Ba Lan, Digan và Do Thái vẫn tiếp diễn trên Chujowa Górka và nhiều điểm khác quanh Płaszów suốt năm ấy, và SS bắt đầu đốt xác ngay sau khi thảm sát tại lô cốt Áo. Ngoài ra, nỗ lực thu gom tất cả xác chết trong rừng của Amon cũng không thành công. Các cuộc khai quật hậu chiến còn phát hiện thêm hàng nghìn thi thể và ngày nay, khi Cracow được đô thị hóa đến tận Płaszów, người ta vẫn tìm thấy hài cốt khi đào móng.
Oskar nhìn thấy dãy giàn thiêu ở triền đất bên trên khu nhà xưởng khi viếng thăm Płaszów ngay trước sinh nhật ông. Tuần sau, khi ông trở lại, tình hình càng thêm nhộn nhịp. Xác chết được các tù nhân nam, mặt đeo mặt nạ, mồm ho sặc sụa, khai quật. Sau đó người ta dùng chăn, xe cút kít và nệm rơm khiêng xác chết ra bãi đốt và xếp lên khung gỗ. Các giàn thiêu hình thành như vậy, từng lớp một, cho đến khi cao ngang vai thì được tưới xăng và châm lửa. Pfefferberg kinh hoàng chứng kiến sự sống nhất thời được ngọn lửa thổi vào xác chết, khiến chúng ngồi dậy, hất tung thanh gỗ đang cháy đi, tứ chi vươn ra, mồm há hốc trong tiếng thét cuối cùng. Một tên lính SS từ trạm khử rận chạy giữa dãy giàn thiêu, huơ súng, và quát lác rầm rĩ. Tàn tro xác chết bám lên tóc và quần áo phơi ở vườn sau dãy villa của các sĩ quan cấp dưới. Oskar ngỡ ngàng khi chứng kiến các sĩ quan thản nhiên hít khói như thể tro bụi trong không khí là hệ quả từ một vụ nổ công nghiệp đàng hoàng và không tránh khỏi. Trong màn sương, Amon ruổi ngựa đi rong cùng Majola, vẻ bình thản. Còn Leo John đưa đứa con trai mười hai tuổi đi bắt nòng nọc ở bãi lầy ngoài rừng. Ngọn lửa và xú khí chẳng hề làm chúng sao nhãng cuộc sống thường nhật.
Oskar, ngả người ra sau trên ghế lái chiếc BMW, cửa sổ kéo lên, mùi soa bưng kín miệng và mũi, nghĩ đến cảnh chúng đang thiêu nhà Spira cùng những người khác. Ông bị choáng khi SS hành quyết tất cả cảnh sát ghetto và gia đình vào Giáng sinh năm ngoái, ngay sau khi Symche Spira vừa hoàn thành chỉ đạo việc dỡ bỏ ghetto. Chúng đưa tất cả lên đây, cùng vợ con, vào một chiều u ám và bắn họ khi mặt trời lạnh lẽo lịm tắt. Chúng bắn cả những kẻ trung thành nhất (Spira và Zellinger) lẫn những người ương ngạnh nhất. Spira cùng bà vợ rụt rè và hai đứa con chậm tiến mà Pfefferberg từng kiên nhẫn kèm cặp - tất cả trần truồng đứng giữa một bầy súng, run rẩy nép vào nhau, bộ đồng phục OD đậm chất Napoleon của Spira giờ chỉ còn là một mớ quần áo để tái chế, vứt lại ở cửa lô cốt. Và Spira vẫn tiếp tục trấn an tất cả rằng điều đó không thể xảy ra.
Vụ hành quyết làm Oskar bị sốc bởi nó chứng tỏ không có sự cúc cung tận tụy nào là đủ cho một người Do Thái bảo toàn tính mạng. Và giờ đây chúng đang thiêu xác nhà Spira một cách vô danh và vô ơn như lúc chúng hành quyết họ.
Kể cả nhà Gutter! Chuyện xảy ra sau một bữa tiệc tại nhà Amon năm ngoái. Oskar về sớm, nhưng sau đó nghe mọi người kể lại. John và Neuschel bắt đầu chọc ghẹo Bosch. Cả hai chê y nhát. Bosch vẫn huênh hoang ta là cựu chiến binh lăn lộn chiến hào. Nhưng chúng chưa thấy y hạ sát ai bao giờ. Cả hai nhai lại hàng tiếng đồng hồ - trò đùa đinh của buổi tiệc. Cuối cùng, Bosch ra lệnh dựng David Gutter cùng con trai từ trại nam, bà Gutter và con gái bên trại nữ dậy. Một lần nữa, đây là số phận của những đầy tớ trung thành. David Gutter là Chủ tịch cuối cùng của Judenrat, và đã hợp tác trong mọi chuyện - chưa bao giờ lên phố Pomorska lý luận về phạm vi các Aktion của SS hay quy mô những đoàn tàu đi Bełżec. Gutter ký mọi giấy tờ và xem mọi yêu cầu là hợp lý. Bên cạnh đó, ông ta còn là tay sai của Bosch cả ở trong lẫn ngoài Płaszów, thay mặt y lên Cracow với hàng xe tải đồ đạc mới bọc nệm hay từng túi đầy trang sức để bán ngoài chợ đen. Và Gutter làm vậy vì bản chất vô lại, nhưng chủ yếu vì tin rằng như vậy sẽ giúp vợ con mình được miễn xá.
Đúng hai giờ buổi sáng buốt giá ấy, một cảnh sát Do Thái, Zauder, bạn Pfefferberg và Stern, về sau bị Pilarzik bắn trong cơn cuồng sát khi say, nhưng đêm đó còn là gác cổng trại nữ, đã nghe thấy vụ việc - Bosch lùa cả nhà Gutter vào một hõm đất gần trại nữ. Lũ trẻ van xin, nhưng David và bà Gutter đón nhận số phận một cách bình thản, biết có kêu cầu cũng chẳng ích gì. Và giờ đây Oskar chứng kiến, tất cả những bằng chứng ấy - nhà Gutter, nhà Spira, những kẻ nổi loạn, giáo sĩ, trẻ con, các cô gái xinh đẹp dùng giấy tờ Aryan - tất cả đang quay lại ngọn đồi điên loạn ấy để chờ bị tiêu hủy, đề phòng việc quân Nga đến Płaszów và bới bèo ra bọ.
Oranienburg có thư căn dặn Amon rằng, trong tương lai việc phi tang thi thể phải hết sức chu đáo, và sẽ cử chuyên gia từ một công ty kỹ thuật ở Hamburg đến điều nghiên vị trí xây lò thiêu. Trước mắt xác chết sẽ được chôn tạm, đánh dấu kỹ càng chờ ngày khai quật.
Lần sau quay lại, khi thấy tầm cỡ của ngọn lửa trên Chujowa Górka, phản ứng đầu tiên của Oskar là ở yên trong xe, cỗ máy Đức tỉnh táo ấy, và lái thẳng về nhà. Trên thực tế, ông tiếp tục viếng thăm bạn bè ở xưởng, rồi tạt qua văn phòng Stern. Ông nghĩ với bằng ấy tro bụi vương trên cửa sổ, sẽ không có gì lạ nếu cư dân Płaszów tính đến khả năng tự sát. Ai ngờ chính ông mới là người suy sụp. Ông không buồn hỏi những câu quen thuộc, kiểu như “Thế nào, Herr Stern, nếu Chúa lấy mình làm nguyên mẫu để tạo ra con người, vậy thì chủng tộc nào giống Người nhất? Dân Ba Lan hay dân Czech?” Hôm nay, ông chẳng còn chút cười cợt nào nữa. Thay vào đó ông gầm gừ, “Mọi người nghĩ sao?” Stern đáp, Tù nhân vẫn là tù nhân. Họ làm việc, và hy vọng sẽ sống sót.
“Tôi sẽ cứu mọi người ra,” Oskar bỗng gừ lên. Ông đấm tay xuống bàn. “Tôi sẽ cứu tất cả ra.”
“Tất cả?” Stern hỏi. Ông không nhịn nổi. Đây đâu phải là thời của những cuộc cứu rỗi tập thể kiểu Kinh Thánh.
“Ít ra là ông,” Oskar đáp. “Ông.”