CLOSE
Add to Favotite List
EBOOKS » Daphné Du Maurier » Rebecca


Chương 17

Phải là đến gần bảy giờ tôi mới ngủ. Tôi nhớ là trời đã sáng rõ lắm rồi, và rèm cửa chẳng có tác dụng gì, ánh sáng xuyên qua chúng và tạo thành những vệt trên tường. Tôi nghe thấy bọn gia nhân xếp lại bàn ghế trong vườn hồng và cất những dây đèn điện. Giường của Maxim vẫn trống không và trần trụi. Tôi nằm duỗi dài ngang giường tôi, cánh tay vắt ngang mắt theo một kiểu rất lạ kỳ và điên cuồng. Không ngủ hẳn nhưng ở biên giới của bất tỉnh và cuối cùng mê man. Lúc tôi tỉnh dậy, đã quá mười một giờ, và Clarice hẳn đã vào mà tôi không nghe thấy, bởi vì bên cạnh tôi có để một khay thức ăn và một ấm chè đã nguội và những quần áo của tôi đã được xếp gọn.

Tôi uống cốc nước chè nguội, vẫn còn tê buốt, u mê bởi giấc ngủ nặng nề và chưa đẫy giấc. Chiếc giường trống rỗng của Maxin đưa tôi về thực tế và một nỗi đau nhói kỳ lạ trong tim, và tất cả hãi hùng của buổi đêm hôm qua lại tràn ngập lòng tôi một lần nữa. Chàng vẫn không đi nằm. Bộ pyjama của chàng vẫn để đó, gấp nguyên để trên da trải giường đã mở nhưng vẫn nguyên vẹn. Tôi tự hỏi Clarice đã nghĩ thế nào lúc mang chè vào buồng tôi. Nó có nhận thấy không? Nó có đi kể lại với những gia nhân khác và bọn chúng có bàn tán với nhau lúc ngồi ăn điểm tâm không? Tôi tự hỏi, như vậy thì làm gì được tôi và tại sao ý kiến của những gia nhân nói với nhau lại gây cho tôi một nỗi sầu não đến thế? Chỉ tại vì tâm trí tôi hẹp hòi, tôi luôn luôn sợ hãi những câu chuyện ba láp.

Chính vì thế mà tối hôm qua tôi đã đi xuống nhà trong bộ áo xanh, lẽ ra ẩn náu trong buồng riêng. Sự việc đó chẳng có gì là đẹp đẽ, là dũng cảm. Đó chỉ là một hy sinh thảm thương cho nguyên tắc. Tôi xuống không phải vì tình yêu Maxin, cũng không phải vì Béatrice, cũng không phải vì Manderley. Tôi đã đi xuống bởi vì tôi không muốn để cho các khách khứa tưởng là tôi cãi nhau với Maxim. Tôi không muốn lúc về nhà họ bàn tán với nhau: “Chắc chắn là hai vợ chồng không hoà thuận và ông ấy có vẻ không được sung sướng!”. Tôi đã xuống vì bản thân tôi, vì tính tự kiêu nhỏ bé của tôi. Vừa nhấm nháp nước chè nguội, tôi vừa suy nghĩ với một tinh thần mệt mỏi và thất vọng rằng tôi sẽ chấp nhận sống ở một đầu nhà Manderley, còn Maxim ở một đầu kia và bên ngoài không ai biết gì. Nếu chàng không còn tình cảm với tôi, nếu chàng không bao giờ còn hôn tôi nữa, không bao giờ còn nói với tôi những câu chuyện cần thiết, tôi cho rằng tôi sẽ có thể chịu đựng được nếu như tôi được chắc chắn là không ai biết gì ngoài hai chúng tôi. Nếu chúng tôi có thể làm cho bọn gia nhân không nói năng gì, chúng tôi có thể đóng kịch trước mọi cuộc giao tiếp, trước vợ chồng Béatrice, rồi khi nào chỉ có một mình, chúng tôi sẽ rút lui ai về buồng nấy, sống một cuộc đời riêng rẽ…

Ngồi trên giường, nhìn những bức tường, nhìn ánh mặt trời luồn vào qua cửa sổ và nhìn chiếc giường trống của Maxim, tôi tự nghĩ không còn có gì xấu hổ đê tiện bằng một cuộc hôn nhân thất bại. Thất bại sau ba tháng như của tôi. Bởi vì tôi không còn hoài bão nữa, tôi không còn muốn tự lừa phỉnh mình nữa. Buổi tối hôm qua đã chứng minh cuộc hôn nhân của tôi đã thất bại. Tất cả những điều mọi người có thể nói, nếu họ biết, là đúng cả. Chúng tôi không hợp nhau. Chúng tôi không thể là những người bạn đường của nhau. Chúng tôi không phù hợp với nhau. Tôi quá trẻ so với Maxim, quá thiếu kinh nghiệm, và điều quan trọng hơn cả, tôi không phải cùng tầng lớp với chàng. Vấn đề mà tôi yêu chàng với một mối tình bệnh hoạn, bị thương tổn, tuyệt vọng, như một đứa trẻ con hoặc một con chó, không làm thay đổi được gì cả. Không phải là loại tình yêu mà chàng cần. Chàng cần đến thứ khác mà tôi không có khả năng, thứ trước kia chàng đã có. Tôi nghĩ đến niềm sung sướng trẻ con mà tôi đã có, nghĩ rằng mình đã đem lại hạnh phúc cho Maxim là người đã từng biết một hạnh phúc lớn lao hơn thế nhiều. Ngay cả bà Van Hopper, mặc dù tư tưởng tầm thường, ý nghĩ thấp kém, cũng đã hiểu rằng tôi sai lầm “Tôi sợ rằng cô sẽ hối tiếc!”.

Tôi đã không nghe bà, tôi cho là bà cứng nhắc và độc ác. Nhưng bà đúng, đúng hoàn toàn. Nhận xét cuối cùng này của bà trước khi từ giã tôi: “Cô tưởng ông ấy yêu cô à? Ông chỉ có một mình, ngôi nhà lớn và trống rỗng ấy, ông không thể chịu được” là câu mà tôi cho là khôn ngoan nhất, đúng đắn nhất mà từ xưa tới nay bà chưa bao giờ nói được. Maxim không yêu tôi, không bao giờ yêu tôi. Cuộc hành trình trăng mặt của chúng tôi sang Ý, không đáng kể đối với chàng, cuộc sống chung của chúng tôi cũng không hơn gì. Vấn đề mà tôi đã cho là tình yêu tôi, không phải là tình yêu. Chàng là một người đàn ông, tôi là vợ chàng, và chàng chỉ có một mình, tất cả là thế. Chàng không thuộc về tôi, chàng thuộc về Rebecca. Như bà Danvers đã nói, Rebecca luôn luôn có mặt ở trong nhà, ở trên cánh tây, ở trong thư viện, ở trong phòng khách nhỏ trong hành lang, dưới phòng trống. Ở ngay trong phòng thay quần áo nhỏ trong đó treo chiếc áo mưa, ở trong vườn, trong các khu rừng, và trong căn nhà nhỏ ngoài bãi biển. Tiếng bước chân của Rebecca vang lên trong hành lang, hương thơm đượm mãi trên cầu thang. Bọn gia nhân vẫn tiếp tục tuân theo mệnh lệnh của Rebecca, những đĩa mà chúng tôi ăn là những đĩa mà Rebecca ưa. Những bông hoa mà Rebecca thích tràn đầy trong các phòng. Rebecca vẫn luôn luôn là chủ Manderley. Tôi chẳng có gì để làm ở đây cả. Tôi bị lầm đường lạc lối đến đây như một con ngốc đến nơi đất cấm. “Rebecca đâu?” Bà nội Maxim đã kêu lên như vậy. Rebecca, luôn luôn là Rebecca. Tôi không bao giờ rũ bỏ được Rebecca.

Có lẽ tôi ám ảnh Rebecca cũng như Rebecca ám ảnh tôi. Rebecca nhìn từ phía trên cao hành lang xuống, như bà Danvers nói. Rebecca ngồi bên cạnh tôi lúc tôi đọc thư trên bàn giấy. Chiếc áo mưa mà tôi đã mặc, chiếc khăn mùi xoa mà tôi đã dùng, đều là của Rebecca. Có thể là Rebecca đã trông thấy tôi dùng chúng. Con chó Jasper là của Rebecca, ngày nay nó chạy theo gót chân tôi. Những bông hoa hồng mà tôi hái là của Rebecca. Rebecca có căm tức tôi và sợ tôi như tôi đối với Rebecca không? Rebecca có muốn Maxim lại một lần nữa một mình trong nhà? Tôi có thể chống nhau với một người sống chứ không thể với một người chết. Nếu có một người đàn bà nào ở Luân Đôn mà Maxim yêu, mà Maxim viết thư, đến thăm, ăn uống, và ngủ với chàng tôi có thể đấu tranh. Chiến địa sẽ cân bằng giữa hai chúng tôi. Tôi không sợ. Lòng tức giận, lòng ghen tuông là những thứ mà người ta có thể vượt qua được. Một ngày kia, người đàn bà đó sẽ già đi, sẽ mệt mỏi hoặc thay đổi. Maxim sẽ không yêu người đó nữa. Nhưng còn Rebecca sẽ không bao giờ già nua. Rebecca sẽ luôn luôn vẫn như thế. Và tôi không thể chiến thắng Rebecca được. Rebecca mạnh hơn tôi quá nhiều.

Tôi ra khỏi giường và mở các tấm rèm. Ánh nắng tràn đầy trong phòng. Những người làm vườn đã sửa sang lại vườn hồng. Tôi tự hỏi những người khách sẽ nói thế nào lúc này về buổi dạ hội.

- Anh có thấy là cũng thành công như trước kia không?

- À có!

- Tôi thấy là dàn nhạc chơi hơi chậm.

- Bữa ăn thật là ngon!

- Chị Béatrice đã bắt đầu già.

- Em còn muốn thế nào trong bộ quần áo ấy…

- Anh thấy là ông chủ có vẻ rất không vui.

- Bao giờ chả thế!

- Em thấy người vợ trẻ thế nào?

- Bình thường, hơi buồn.

- Không hiểu cuộc sống vợ chồng đó có thành công không?

Tôi chợt nhận thấy có một mẩu giấy nằm dưới khe cửa. Tôi nhặt nó lên. Tôi nhận ra nét chữ vuông của Béatrice. Chị đã ngoáy bằng bút chì sau bữa điểm tâm:

“Chị gõ cửa mãi không được và chị kết luận là em đã nghe theo lời khuyên của chị, em đã nghỉ cho lại sức sau những mệt mỏi ban đêm. Anh Giles phải vội về vì có điện thoại từ nhà nói anh phải thay chân một người nào đó trong một trận đấu bóng và bắt đầu lúc hai giờ. Anh sẽ chơi ra sao với tất cả sâm banh ban đêm, chỉ có Trời mới biết. Chị thấy bắp chân mềm nhũn, nhưng chị đã ngủ được một giấc. Bác Frith có nói là Maxim đã xuống ăn điểm tâm từ sáng sớm và rồi người ta không trông thấy cậu ấy đâu nữa. Em làm ơn chuyển lời chào thân ái của anh chị và cám ơn về buổi dạ hội mà anh chị đã được vui chơi nhiều. Đừng nghĩ ngợi đến bộ quần áo nữa. (Chữ này được gạch đít).

Tái bút: Cả hai em phải đến chơi anh chị sớm”.

Chị đã ngoáy trên đầu thư: chín giờ rưỡi, và lúc này đã gần mười một giờ rưỡi. Hai người đã ra đi được hai giờ. Bây giờ họ đã ở nhà rồi. Buổi trưa hôm nay, chị Béatrice sẽ mặc một bộ đồ nhẹ và đội một chiếc mũ lớn và nhìn anh Giles chơi bóng. Sau đó hai anh chị sẽ uống nước chè dưới một cái lọng. Giles sẽ rất nóng, mặt đỏ bừng và Béatrice nói chuyện và cười đùa với các bạn.

“Vâng, chúng tôi có tham dự buổi dạ hội ở Manderley. Rất vui. Tôi tự hỏi tại sao anh Giles còn đủ sức chơi!”.

Mỉm cười với Giles, chị tâng bốc anh sau lưng. Hai anh chị đều đã già dặn không còn lãng mạn nữa. Họ đã cưới nhau được hai mươi năm và có một đứa con trai lớn sắp vào Đại học Oxford. Họ rất sung sướng. Cuộc hôn nhân của họ đã thành công. Họ không bị thất bại sau ba tháng như tôi.

Tôi không thể ở lâu mãi trong buồng được. Người ta sắp đến để dọn dẹp. Có thể là Clarice đã không nhận thấy chiếc giường còn nguyên của Maxim. Tôi liền làm nhàu nát nó để cho những người hầu gái không biết gì, trường hợp Clarice không tiết lộ.

Tôi tắm rửa, mặc quần áo và rồi đi xuống. Người ta đã cất ván trong buồng trống và các chậu hoa. Các giá đàn của các nhạc công cũng không còn trong hành lang. Những người làm vườn đã quét sạch xác pháo bông. Sắp sửa không còn dấu vết gì của buổi dạ hội ở Manderley nữa. Lúc chuẩn bị thì lâu thế, lúc quét dọn thì lại thật nhanh!

Tôi nhớ đến bà mặc áo hồng đứng bên cạnh cửa phòng khách, tay cầm đĩa thức ăn làm tôi nhớ lại một việc mà tôi đã mơ thấy cách đây đã lâu. Robert đang đánh bóng bàn trong phòng ăn.

- Chào Robert! – Tôi nói.

- Xin chào bà.

- Anh có biết ông chủ ở đâu không?

- Sau bữa điểm ông đã đi ra ngay trước khi ông Giles và bà Béatrice xuống. Từ đó chưa thấy ông về.

Tôi quay trở lại, vào phòng khách nhỏ rồi quay gọi điện thoại xin phòng giấy của lãnh địa. Có thể là Maxim đến Frank. Tôi cảm thấy cần phải giải thích để chàng rõ hôm qua tôi đã hành động như vậy là không cố ý. Ngay cả nếu như từ nay không được nói với chàng nữa, tôi cũng cần phải làm thế. Điện thoại viên trả lời Maxim không có đây và nói thêm:

- Ông Frank Crawley có đây, bà có cần nói không?

Tôi toan từ chối nhưng không kịp, trước khi bỏ ống nghe xuống, tôi đã nghe thấy tiếng nói của Frank:

- Có vấn đề gì đấy?

Đó là một kiểu mở đầu lạ thật. Anh ta không chào hỏi gì hết. Tại sao anh ta lại hỏi có vấn đề gì xảy ra?

- Anh Frank, tôi đây. Anh Maxim đâu?

- Tôi không biết, tôi không gặp. Anh ấy không đến đây hôm nay.

- Anh ấy không đến bàn giấy à?

- Không.

- Thôi được, chẳng có gì quan trọng.

- Chị không gặp anh trong bữa điểm tâm à?

- Không. Lúc đó tôi chưa dậy.

- Anh ấy ngủ thế nào?

Tôi lưỡng lự. Frank là người độc nhất mà tôi muốn cho biết:

- Anh ấy không đi nằm đêm vừa rồi.

Đầu dây bên kia im lặng như thể Frank suy nghĩ kỹ trước khi trả lời. Cuối cùng anh nói rất chậm rãi.

- À, tôi hiểu rồi.

Cách nói ấy của anh không làm tôi hài lòng.

- Anh cho là anh ấy đi đâu?

- Tôi không biết. Có thể chỉ là đi dạo chơi.

- Anh Frank, tôi cần phải gặp Maxim. Tôi cần phải giải thích về chuyện tối hôm qua.

Frank không trả lời, tôi hình dung bộ mặt lo lắng của anh, những nếp nhăn trên trán, tôi liền nói tiếp:

- Maxim tưởng tôi cố ý làm như thế?

Giọng tôi tan tác mặc dù đã cố gắng, nước mắt đã làm lóa mắt tôi buổi tối qua mà tôi đã giữ không cho đổ ra, bây giờ mới chảy xuống má tối sau sự chậm trễ mười sáu giờ.

- Maxim đã coi như là một trò hề, một trò đê tiện, ghê tởm!

- Không đâu! – Frank nói – Không phải thế!

- Có đấy, tôi bảo đảm với anh như thế. Anh không nhìn thấy mắt anh ấy như tôi. Anh không ở bên cạnh anh ấy suốt một đêm để quan sát anh ấy như tôi. Anh ấy đã không thèm nói với tôi một lần nào, không thèm nhìn tôi một lần nào. Chúng tôi đứng bên nhau suốt đêm mà chẳng nói với nhau một câu!

- Đông người như vậy, không thể thế được! Tất nhiên tôi có quan sát anh ấy. Như thể tôi không biết anh Maxim! Xin chị hãy nghe…

- Tôi không giận anh ấy đâu! – Tôi ngắt lời – Nếu anh ấy cho là tôi cố ý biểu diễn trò hề ghê tởm và bỉ ổi ấy, anh có quyền nghĩ những điều xấu nhất về tôi, và anh ấy có quyền sẽ không bao giờ nói với tôi nữa, nhìn thấy tôi nữa!

- Xin chị đừng nói như vậy. Chị không biết chị đang nói gì.

- Ôi! Có thể phải có xấu mới có tốt. Điều đó làm cho tôi hiểu được một vấn đề mà lẽ ra tôi phải hiểu từ trước, mà tôi phải nghĩ tới lúc lấy Maxim.

- Chị muốn nói gì?

Giọng nói của anh sắc và lạ lùng. Tôi tự hỏi nếu như Maxim không yêu tôi thì có can hệ gì đến anh, tại sao anh muốn giấu tôi?

- Vấn đề về Maxim với Rebecca!

Lúc tôi thốt ra tên đó, tôi thấy lạ lùng và chua chát như một câu cấm. Không phải là một điều nhẹ nhõm đối với tôi, nói ra cho thích, nhưng là một điều xấu hổ nóng bỏng như một lời xưng tội.

Frank không trả lời ngay. Tôi nghe thấy tiếng anh lấy lại hơi ở đầu dây bên kia.

- Chị muốn nói gì? – Frank hỏi lại và giọng anh mạnh và sắc hơn. – Chị muốn nói thế nào?

- Maxim không yêu tôi, anh ấy yêu Rebecca. Anh ấy không quên được, đêm ngày anh ấy nghĩ đến Rebecca. Anh Frank, Maxim không bao giờ yêu tôi, chỉ yêu Rebecca. Rebecca. Rebecca!

Tôi nghe tiếng Frank thốt lên một tiếng phản đối, nhưng bây giờ làm anh ấy bực mình cũng chẳng sao cả. Tôi nói tiếp:

- Bây giờ anh đã biết tôi nghĩ gì. Bây giờ anh đã hiểu!

- Xin chị hãy nghe tôi. Tôi cần phải gặp chị. Cần phải gặp, chị nghe chưa? Một vấn đề quan trọng chủ yếu tôi không thể nói trong điện thoại được. Alô, alô, thưa chị…

Tôi đột ngột bỏ ống nghe xuống và rời khỏi bàn giấy. Tôi không muốn gặp Frank. Anh ấy chẳng làm gì được cho tôi. Chẳng ai có thể làm gì được, trừ chính bản thân tôi. Mặt tôi đỏ và sưng lên vì nước mắt. Tôi đi lại trong phòng khách nhỏ và cắn góc chiếc mùi xoa. Tôi có trong lòng một cảm tưởng rất mạnh là sẽ không bao giờ gặp Maxim nữa. Đó là một niềm tin vững chắc phát sinh từ một bản lĩnh mờ tối. Chàng đã ra đi để không bao giờ trở lại. Tôi biết rõ ràng Frank cũng cho là như vậy nên mới không dám nói với tôi qua điện thoại. Anh ấy không muốn làm tôi phải sợ hãi. Nếu lúc này tôi lại gọi điện thoại, Frank sẽ không còn ở bàn giấy nữa. Nhân viên ở đấy sẽ nói với tôi: “Ông Crawley vừa mới ra.” Và tôi thấy Frank đầu không mũ lên chiếc xe nhỏ của anh để chạy đi tìm Maxim.

Tôi đi ra cửa sổ nhìn xuống chỗ rừng trống, ở đó có con chim đang huýt sáo. Mùa hoa sơn lựu đã qua rồi, chúng không nở hoa trước một năm nữa. Những bụi cây lớn có vẻ ảm đạm và trần trụi. Một làn sương mù bốc lên từ mặt biển và tôi không còn trông thấy rừng đằng sau bãi cỏ. Trời nóng bức ngột ngạt. Tôi tưởng tượng những vị khách của chúng tôi hôm qua nói với nhau:

“May quá hôm qua không có sương mù này, nếu không cuộc pháo hoa đã không thành”. Tôi đi sang phòng khách lớn rồi từ đó đi ra bãi bằng. Mặt trời đã biến mất sau bức tường sương mù. Người ta có thể nói một sự khô cằn đã ập xuống Manderley, làm cho nó mất hẳn bầu trời và ánh sáng.

Tôi đi qua những bãi cỏ cho đến tận lề rừng. Sương mù đã đọng trong các cành cây và chảy xuống đầu tôi như những giọt mưa nhỏ. Con Jasper đi theo tôi, bực tức, đuôi cụp xuống, lưỡi đỏ thè lè ra. Tiếng biển vọng đến tận chỗ tôi từ phía bên kia rừng. Sương mù trắng bao quanh tôi, bốc về nhà một mùi muối và rêu ẩm. Tôi để tay lên bộ lông con Jasper và thấy nó ẩm. Khi tôi quay trở về nhà, tôi không còn phân biệt được đường đi cũng như những bức tường xung quanh. Tôi chỉ còn nhận thấy bản thể mù mờ của ngôi nhà, những cửa sổ của cánh tây và những bồn hoa của sân bằng. Ở cửa phòng lớn có cánh tay để ngỏ, và có ai đó ở cửa sổ nhìn xuống bãi cỏ. Bóng dáng người đó ở trong bóng tối, và trong một lúc hãi hùng tôi tưởng là Maxim. Rồi người đó cử động, tôi trông thấy một cánh tay giơ ra để đóng cánh cửa, và tôi nhận ra đó là bà Danvers. Bà ta đã quan sát tôi trong lúc tôi đứng im lặng ở lề rừng, tắm trong sương mù trắng xoá. Bà ta đã trông thấy tôi từ bãi bằng chậm rãi đi xuống bãi cỏ. Có thể bà đã nghe thấy tôi nói chuyện điện thoại với Frank do sợi dây nối phòng khách nhỏ với buồng bà. Vậy là bà đã biết Maxim đêm qua đã không ngủ trong phòng tôi. Có thể bà đã nghe thấy tiếng tôi, biết là tôi khóc. Bà biết tôi đã đóng vai trò của tôi mặc áo xanh đứng suốt đêm bên cạnh Maxim, chàng không nói và không nhìn tôi. Bà ta biết vì chính bà muốn thế. Đó là một thắng lợi, thắng lợi của bà và của Rebecca.

Tôi nhớ như tôi đã trông thấy bà chiều hôm qua, rình mò tôi qua cánh cửa sổ ngỏ bên cánh tây, với nụ cười quỷ sứ trên bộ mặt trắng bệch và nhăm nhúm. Tôi tự nhủ, đó là một người đàn bà sống như tôi, thở và bằng xương bằng thịt. Bà ta không chết như Rebecca. Tôi có thể nói với bà nếu như tôi không nói được với Rebecca.

Bỗng nhiên tôi thấy muốn trở về nhà, tôi đi qua các bãi cỏ, qua phòng trống và trèo lên cầu thang lớn. Tôi quành hành lang, đi qua cửa cánh tây và đi theo hành lang tối tăm và lặnh lẽ đến tận buồng Rebecca. Tôi xoay quả đấm cửa buồng và bước vào.

Bà Danvers vẫn đứng ở gần cửa sổ, cánh cửa vẫn mở. Tôi lên tiếng:

- Bà Danvers, bà Danvers!

Bà quay lại và tôi trông thấy cặp mắt bà đỏ ngầu và mọng lên vì nước mắt như của tôi, và trên bộ mặt trắng bệch của bà có những bóng hằn sâu.

- Có gì thế ạ! – Bà ta hỏi và giọng bà rồ khàn vì khóc như của tôi.

Tôi không ngờ bà lại như thế này. Tôi tưởng bà mỉm cười như hôm qua, độc ác, xảo quyệt. Bà không như thế chút nào. Bà là một bà già buồn rầu và ốm yếu.

Tôi lưỡng lự, tay vẫn để lên quả đấm cửa, không biết nói gì và làm gì. Bà Danvers tiếp tục nhìn tôi bằng cặp mắt đỏ ngầu và sưng mọng và tôi chẳng tìm thấy gì để trả lời bà.

- Tôi đã để bản thực đơn trên bàn giấy như thường lệ – bà ta nói – Bà có muốn thay đổi gì không?

Tiếng nói của bà khuyến khích tôi. Tôi rời cánh cửa và tiến vào giữa phòng.

- Bà Danvers. – tôi nói. – Tôi đến không phải để nói với bà về thực đơn. Bà cũng biết thế, phải không?

Bà không trả lời. Bàn tay trái của bà mở ra và đóng lại. Tôi liền nói tiếp:

- Bà muốn thế nào? Đã thành công rồi phải không? Bà muốn chuyện xảy ra như thế phải không? Bây giờ bà đã hài lòng và sung sướng chưa?

Bà ta quay đầu đi và nhìn về phía cửa sổ như bà đã làm lúc tôi bước vào. Bà nói:

- Tại sao bà đến đây? Ở Manderley này người ta không cần đến bà. Chúng tôi ở đây tất cả đều yên lành cho đến khi bà tới. Tại sao bà ở đâu không ở đó, ở đằng ấy, bên Pháp phải không?

- Bà hình như quên mất là tôi yêu ông Winter?

- Nếu bà yêu ông ấy, lẽ ra không nên lấy mới phải.

Tôi không biết nói thế nào. Tình hình là điên rồ, là hư không.

- Tôi không thay đổi gì ở Manderley. Tôi không ra lệnh, tôi đã để bà toàn quyền. Lẽ ra tôi đã phải là người bạn gái của bà nếu bà muốn, nhưng bà đã tuyên bố chống lại tôi ngay từ đầu. Tôi đã nhìn thấy thế trên bộ mặt bà vào lúc tôi bắt tay bà.

Bà ta không trả lời, bàn tay bà vẫn tiếp tục xoè ra và đóng vào. Tôi nói tiếp:

- Có rất nhiều người thành hôn hai lần, nam cũng như nữ. Hàng ngày có hàng nghìn đám cưới lần thứ hai. Người ta nói rằng tôi đã phạm tôi khi lấy ông Winter, một tội bất kính đối với người đã chết. Có phải là chúng tôi không có quyền sung sướng cũng như bất kỳ ai?

- Ông Winter nào có được sung sướng! – Bà ta nhìn tôi nói. – Thằng ngốc cũng thấy thế. Chỉ cần nhìn vào mắt ông ấy. Ông luôn luôn như ở dưới địa ngục, và cứ như thế kể từ khi bà ấy mất.

- Không đúng thế! Không đúng thế! Ông ấy sung sướng khi cả hai chúng tôi cùng ở bên Pháp, ông trẻ ra, cười nói vui vẻ.

- Một người đàn ông chứ sao? Một người đàn ông bao giờ chả vui sướng trong một cuộc hành trình trăng mật! Ông Winter chưa đến bốn mươi ba tuổi.

Bà ta có một nụ cười khinh bỉ và nhún vai.

- Tại sao bà dám nói với tôi như thế? Tại sao?

Tôi không còn sợ bà ta nữa. Tôi tiến lại gần bà và lay cánh tay bà. Tôi nói tiếp:

- Chính bà đã làm tôi phải mặc bộ áo ấy buổi tối qua. Không có bà, chẳng bao giờ tôi có ý kiến đó. Bà làm như thế bởi vì muốn làm hại ông Winter, muốn làm cho ông phải đau khổ. Phải chăng ông đã đủ đau khổ chẳng cần bà phải làm cho ông thấy cái trò hề xấu xa và bỉ ổi ấy! Phải chăng bà cho rằng nỗi đau khổ, nỗi sầu thảm của ông sẽ mang lại bà Winter cho ông?

Bà ta giằng tay ra, mặt biến sắc vì tức giận:

- Vì sao tôi phải quan tâm đến nỗi buồn thảm của ông ấy? Ông ấy có bao giờ lo đến nỗi niềm của tôi? Bà tưởng rằng thấy bà ngồi vào chỗ bà ấy, đi lên những bước chân của bà ấy, mõ vào công việc của bà ấy, là cuộc sống cho tôi hay sao? Và nghe thấy Frith, Robert và những người khác gọi bà là “bà”? “Bà” ra ngoài, “bà” yêu cầu ô tô lúc ba giờ. Trong khi đó bà của tôi với nụ cười và bộ mặt đẹp, dáng đi quyến rũ, bà chính cống đã an nghỉ nơi lạnh lẽo, bị lãng quên trong hầm mộ của nhà thờ. Nếu ông phải đau khổ, chỉ là xứng đáng cho ông vì đã lấy người vợ trẻ như bà trước khi mười tháng trôi qua. Ông ấy phải trả giá, có thế thôi! Tôi đã trông thấy bộ mặt ông, cặp mắt ông. Ông đã tự tạo địa ngục cho mình, chẳng kết tội ai được. Ông ấy biết bà ấy trông thấy, biết ban đêm bà ấy về nhìn ông. Bà không về một cách ngon lành, loại bà ấy không như thế. Bà ấy không phải là người chịu nuốt những điều xúc phạm một cách lặng lẽ. Bà ấy có tất cả can đảm và gan lì của con trai, bà Winter của tôi. Bà ấy phải là con trai, tôi vẫn thường nói với bà thế. Chính tôi đã nuôi nấng bà ấy hồi còn bé. Bà cũng biết thế phải không?

- Không, không, như thế để làm gì hả bà Danvern? Tôi không muốn nghe thêm nữa…

Nhưng bà ta cứ nói huyên thuyên như một con điên, ngón ta bà vò nhàu vải đen của áo váy mình.

- Hồi đó bà ấy xinh đẹp lắm. Đẹp như một tấm hình, những người đàn ông đều quay lại nhìn bà, và bà chưa đến mười hai tuổi. Bà ấy biết thế và nháy mắt với tôi. Bà ấy bảo với tôi: “Em sau này sẽ rất đẹp phải không Danny?”. Hiểu biết của bà ấy chẳng khác gì của một người lớn. Bà ấy nói chuyện với các ông các bà cũng ranh ma và tinh quái chẳng khác gì một cô gái mười tám. Bà ấy nắm mũi ông bố mà dắt có lẽ cũng giống như bà mẹ trước kia hồi còn sống. Và gan dạ thì chẳng ai bằng. Ngày kỷ niệm sinh nhật lần thứ mười bốn, bà ấy cầm cương xe bốn ngựa làm cho ông Jack, người anh họ, cứ phải cố gắng đòi lại dây cương. Hai người ẩu đả nhau phải đến ngót năm phút, trong lúc mấy con ngựa thả sức phóng. Cuối cùng chính bà ấy đã thắng. Bà đã quất đét roi ngựa trên đầu ông anh họ làm ông phải chạy bổ xuống, vừa cười vừa chửi. A! Người ta có thể nói hai người xứng đôi với nhau, bà ấy và ông Jack. Người ta đã bắt ông ta phải đăng ký vào hải quân, nhưng ông ta không chịu được kỷ luật, tôi cũng không trách ông, ông quá kiêu hãnh để mà tuân theo kỷ luật, ông ấy giống như bà của tôi.

Tôi nhìn bà Danvers sững sờ và ghê sợ, trên môi bà có một nụ cười ngây ngất đến kỳ lạ làm bà già hẳn đi, làm bà sống động hẳn lên. Bà nói tiếp:

- Chẳng ai nói được câu cuối cùng với bà ấy. Bà ấy làm điều gì đều tuỳ theo ý thích, sống một cách tùy tiện và khỏe như một con sư tử con. Tôi nhớ hồi bà mười sáu tuổi cưỡi một con trong đàn ngựa của ông cụ, một con vật bất kham quá sức đối với cô gái con ông chủ, như người chăn ngựa nói. Tôi trông thấy cô gái, bộ tóc phất phơ trước gió, quất con ngựa đến chảy máu và ấn sâu đinh thúc ngựa vào sườn nó. Và lúc cô gái xuống, con ngựa run lẩy bẩy cả tứ chi, cô nói với tôi: “Có thế nó mới rút được kinh nghiệm, phải không Danny?”

Và cứ như thế cô gái ấy bước vào đời, có tôi cùng đi. Bà ấy chẳng biết sợ gì, chẳng biết sợ ai. Và cuối cùng là bà ấy bị quỵ. Không phải vì một người đàn ông, cũng không phải vì một người đàn bà. Chính biển cả đã thắng bà ấy. Biển cả mạnh hơn, biển cả đã thắng!

Bà Danvers ngừng lại, mồm bà còn mấp máy một cách lạ kỳ và cụp mép xuống. Rồi bà khóc lên ầm ỹ, thở hổn hển, miệng há hốc và cặp mắt ráo hoảnh.

- Bà Danvers! – Tôi nói.

Đứng trước mặt bà, tôi không biết làm gì. Tôi không còn nghi ngờ bà nữa. Tôi không sợ bà nữa. Nhưng nhìn thấy người đàn bà đó nức nở khóc, mắt ráo hoảnh, tôi cảm thấy rợn người và thấy mình ốm yếu.

- Bà Danvers, bà không được khoẻ đâu, bà cần phải đi nằm. Tại sao bà không về buồng nghỉ? Tại sao bà không đi nằm?

Bà ta nhìn tôi một cách man rợ:

- Bà không thể để cho tôi yên được sao? Trình bày cho bà biết nỗi sầu thảm của tôi thì làm gì được hả? Tôi không xấu hổ, tôi không tự giam mình để khóc trong buồng như ông Winter đã làm đằng sau cánh cửa đóng khóa.

- Bà nói sao? Ông Winter đâu có làm như thế!

- Sau khi vợ chết, ông đã làm thế đấy! Ông đã đi đi lại lại trong thư viện. Tôi đã nghe thấy, đã trên một lần nhìn qua lỗ khóa thấy. Ngang dọc như một con thú trong chuồng.

- Tôi không muốn biết, tôi không muốn! Bà nên đi về phòng bà thì hơn.

- Đi về phòng tôi! – Bà ta nói và chống lại ý tôi. – Đi về phòng tôi? Bà chủ thấy là tôi nên đi về phòng thì hơn! Và sau đó? Bà sẽ chạy đi nói với ông Winter: “Bà Danvers không tốt với em. Bà Danvers hỗn xược!” Bà sẽ chạy theo ông nói tất cả như ngày mà ông Jack đến thăm tôi.

- Tôi đã không kể gì với ông Winter cả.

- Đó là một câu nói dối, – bà ta kêu lên. – Ai đã có thể nói nếu không phải là bà? Không có ai khác ở đây cả. Frith và Robert đều đi vắng và không một người đầy tớ nào biết. Ngày hôm đó tôi toan cho bà một bài học, cho ông ấy nữa. Cho ông ấy đau khổ, đó là điều tôi tự nhủ. Điều đó can hệ gì đến tôi? Ông ấy đau khổ thì việc gì đến tôi? Tại sao tôi không có quyền được tiếp ông Jack ở Manderley? Đó là sợi dây độc nhất còn lại cho tôi với bà Winter. Ông ấy nói: “Tôi không muốn con người ấy đến đây. Tôi cảnh cáo bà lần này là lần cuối cùng”. Vậy là ông chưa quên được mối ghen tuông của mình!

Tôi nhớ lại thấy tôi nép mình trong hành lang lúc thấy cánh cửa phòng thư viện mở ra, tôi nhớ lại giọng nói giận dữ của Maxim thốt lên những câu bà Danvers vừa nhắc. Ghen tuông. Maxim ghen tuông…

- Ông đã ghen lúc Rebecca còn sống và bây giờ vẫn còn ghen lúc Rebecca đã chết rồi, - bà Danvers đã nói thế. – Ông cấm cửa Jack ngày nay cũng như trước kia. Như vậy chứng tỏ ông ấy vẫn chưa quên bà ấy, bà không tin sao? Tất nhiên ông ấy ghen. Tôi cũng vậy, cũng như tất cả mọi người biết Rebecca. Rebecca chỉ làm cho người ta cười. Bà ấy bảo tôi: “Tôi sống theo kiểu của tôi. Danny, chẳng ai ngăn cản được tôi”. Những người đàn ông chỉ nhìn thấy bà cũng đủ mê. Tôi đã được trông thấy họ ở đây, những người đàn ông mà bà ấy gặp ở Luân Đôn và đưa lên đây để nghỉ những ngày cuối tuần. Bà ấy đưa họ đi chơi thuyền, tắm biển, và buổi tối vào cắm trại trong ngôi nhà nhỏ trong vịnh. Họ tán tỉnh bà ấy, tất nhiên. Bà ấy cười và lúc về kể lại cho tôi nghe tất cả những gì họ đã nói và đã làm. Bà ấy chẳng quan tâm gì đến, đó chỉ là một trò chơi đối với bà, chỉ là một trò chơi! Ai không ghen tuông được? Tất cả chúng tôi đều ghen tuông, đều điên rồ vì bà ấy, ông Winter, ông Jack, ông Crawley, tất cả những ai biết bà ấy, tất cả những ai đến Manderley.

- Tôi không muốn biết! – Tôi nói. – Tôi không muốn biết!

Tôi lùi ra phía cửa sổ do sợ hãi và kinh hoàng. Bà ta nắm lấy tay tôi và vặn nó:

- Tại sao bà không đi đi? Ở đây chẳng ai cần đến bà. Cả ông chủ nữa cũng chẳng cần đến bà. Ông không quên được bà ấy. Ông lại muốn chỉ có một mình trong nhà, một mình với bà ấy. Chính bà mới là người phải nằm trong hầm mộ nhà thờ, chứ không phải bà ấy. Chính bà phải chết chứ không phải bà ấy!

Bà ta đẩy tôi ra phía cửa sổ đã mở rộng. Tôi trông thấy sân bằng dưới tôi, mù mờ và xám xịt trong sương mù trắng. Bà Danvers nói tiếp:

- Bà hãy nhìn kìa, dễ lắm có phải không? Tại sao bà không nhảy xuống, không có gì đau đớn đâu. Đó là một cách nhanh chóng và êm ả. Tại sao bà không thử xem sao?

Sương mù tràn ngập cửa sổ rộng, trắng đục và bám vào mắt tôi. Tôi bám hai tay vào thành cửa sổ. Bà Danvers nói tiếp:

- Bà đừng sợ, tôi không đẩy bà đâu. Bà tự nhảy lấy một mình. Ở lại Manderley này làm gì? Bà không có được hạnh phúc. Ông Winter không yêu bà. Đời bà còn gì nữa? Tại sao bà không nhảy để chấm dứt tất cả? Sau đó bà sẽ không còn khổ sở nữa.

Tôi trông thấy những bồn trồng hoa dưới sân bằng và màu xanh đặc của những hoa hydrangens. Thềm nhà xám bóng, đều và không ghồ ghề. Chính sương mù đã làm chúng có vẻ xa như thế. Thực tế là chúng không xa như thế, cửa sổ không cao như thế.

- Nhảy đi, - bà Danvers thì thầm. – Nhảy đi, đừng sợ!

Sương mù đặc lại, tôi không còn trông thấy sân bằng nữa. Tôi không còn phân biệt được những bồn hoa cũng như những bậc thềm nhẵn. Không còn có gì xung quanh, đám mây trắng kia đượm mùi rêu rong, ẩm ướt và lạnh. Tôi nhắm mắt lại…

Lúc bàn tay tôi sắp rời thành cửa sổ, sương mù trắng và im lặng kèm theo nó bỗng nhiên bị tan rã, bị xé toang bởi một tiếng nổ làm rung chuyển cửa sổ. Các miếng kính rung lên trong khung. Tôi mở mắt ra và nhìn bà Danvers. Lại một tiếng nổ thứ hai, rồi tiếng thứ ba, rồi một tiếng thứ tư. Âm vang của chúng làm rung chuyển cả không gian và những con chim rừng bay vụt lên về phía nhà làm thành tiếng vang ầm của chúng.

- Cái gì thế? – Tôi hỏi mà không hiểu – Chuyện gì xảy ra thế?

Bà Danvers bỏ cánh tay tôi ra. Bà nhìn qua cửa sổ vào đám sương mù. Bà nói:

- Đó là những tín hiệu có tàu đắm trong vịnh.

Chúng tôi cùng dỏng tai lên về phía sương mù. Rồi chúng tôi nghe thấy tiếng những bước chân chạy trên sân bằng phía dưới chúng tôi.



BOOK COMMENTS

  • 3.5/7 - 4 ratings
    TO TOP
    SEARCH