MỤC LỤC
- 1. Ơn Mẹ Thâm Sâu
- 2. Bát Chỉ Phi Ma
- 3. Không Sơn Tam Nghĩa
- 4. Lục Ngọc Di Đà
- 5. Cô Lâu Xuất Hiện
- 6. Bóng Ma Nơi Quê Cũ
- 7. Quái Khách Trong Động Cổ
- 8. Những Việc Bất Ngờ
- 9. Di Thế Sơn Trang
- 10. Bí Mật Trong Rương Sắt
- 11. Chuyển Biến Khó Hiểu
- 12. Kinh Thần Thạch Cổ
- 13. Bí Mật Quanh Pho Di Đà
- 14. Huyết Thủ Độc Lịnh
- 15. Hận Phác Thư Sinh
- 16. Đồng Chung Đạo Nhân
- 17. Huyết Hải Địa Khuyết
- 18. Một Tia Sáng Nhỏ
- 19. Phăng Lần Manh Mối
- 20. Đồng Chung Thật, Đồng Chung Giả
- 21. Cùng Thần, Túy Quỷ
- 22. Vạn Thú Thần Quân
- 23. Hạ Lan Đẫm Lệ
- 24. Hồng Nhan Gặp Nạn
- 25. Biến Động Tại Bạch Lộc
- 26. Thiền Môn Kinh Biến
- 27. Sương Mù Đã Tan
- 28. Cái Lời Nhỏ Nhen
- 29. Xa Nhau Trong Gang Tấc
- 30. Bát Chỉ Thần Thâu
- 31. Tình Yêu Bền Vững
- 32. Chân Giả Khó Lường
- 33. Hoa Đà Gặp Nạn
- 34. Nắng Ấm Cỏ Tươi
- 35. Huyết Thần Cửu Kinh
- 36. Máu Nhuộm Ải Tình
- 37. Anh Hùng Họp Mặt
- 38. Bút Tích Của Ai
- 39. Oan Khiếp Vong Hồn
- 40. Thất Khuyết Đạo Nhân
- 41. Dễ Được Dễ Mất
- 42. Đội Gai Xông Pha
- 43. Tuyệt Kỹ
- 44. Một Đêm Kinh Biến
- 45. Ma Nữ Tình Sầu
- 46. Thực Cốt Băng Ty
- 47. Một Chiều Bão Tố
- 48. Nam Thiên Song Sát
- 49. Hoa Sơn Dấy Binh
- 50. Biển Lửa Li Hồn
- 51. Sai Một Nước Cờ
- 52. Cạm Bẫy Dãy Đầy
- 53. Biến Động Tại Hàn Hải
- 54. Cái Lỗi Của Cao Tăng
- 55. Nhân Ma Quỷ Kế
- 56. Cao Thủ Tranh Tài
- 57. Cánh Bằng Lướt Gió
- 58. Ô Mộc Hoạt Phật
- 59. Minh Chủ Võ Lâm
Cái ngày Phlôrêntinô Arixa nhìn thấy Phecmina Đaxa ngay ở cửa ra vào Nhà Thờ lớn, có thai sáu tháng, rất tự nhiên trong tư thế mới của mình: một thiếu phụ quyền thế và sang trọng, chính là ngày anh quyết chí phấn đấu bằng được để trở thành một người giàu có và nổi tiếng xứng đáng với cô. Anh không hề nghĩ đến tình thế bất lợi lúc ấy: Cô đã là gái có chồng, bởi vì anh quyết định rằng bchết, cứ như thể việc đó hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân anh. Dù không biết cái chết ấy sẽ xảy ra khi nào và như thế nào, nhưng anh đã dự tính nó như là một sự kiện không thể nào tránh được và do đó anh sẵn sàng chờ đợi, chờ đợi một cách thật bình tĩnh không hề nông nóng, không hề náo nức, dẫu có phải đợi chờ cho đến cuối thế kỷ cũng cam lòng.
Anh bắt đầu từ đầu. Không hề báo trước, anh đến văn phòng của ông chú Lêông XII, chủ tịch Ban lãnh đạo và Tổng giám đốc Hãng Tàu thủy Caribê và anh bày tỏ lòng quyết tâm phục vụ trong hãng của ông chú mình. Ông chú Lêông XII còn đang rầu lòng về việc anh tự ý bỏ chân điện báo viên ở làng Lâyva nhưng ông đã nguôi phần nào vì nghĩ rằng con người sinh ra không phải bao giờ cũng vào đúng cái ngày cha mẹ mong muốn mà cuộc đời từng nhiều lần buộc nó phải tự sinh ra nó, phần vì Đôn nể bà quả phụ của người anh ruột đã chết từ năm trước, chết mà vẫn còn hận và chẳng để lại của cải thừa tự gì cả. Vậy là ông chú cho thằng cháu lêu lổng vào làm việc trong hãng của mình.
Đó là quyết định độc đáo của riêng Đôn Lêông XII Lôayxa. N. Bên trong cái vỏ ngoài của nhà buôn không tâm hồn, có tiềm ẩn một niềm vui độc đáo từng làm nẩy sinh một dòng nước mắt ở vùng hoang mạc Goahira, cái dòng suối từng nhấn chìm một đám tang long trọng trong tiếng khóc trước tiếng hát đau thương của Đôn qua bài in questatomba oscura 1. Với mái tóc quăn xoắn tít lại và đôi môi dày bì bì của mình, Đôn chỉ còn thiếu cây đàn lia và chiếc miện vòng nguyệt quế để trở thành người giống hệt Nêrông, kẻ gây nên đám cháy trong kho huyền thoại Kitô giáo. Sau khi lo việc quản lí những chiếc tàu ọp ẹp mà lúc này vẫn còn nổi được chỉ là nhờ sự lãng quên của nỗi bất hạnh và giải quyết những vấn đề ngày càng gây cấn của việc giao thông đường thủy, Đôn dành hết thời gian còn lại để làm phong phú thêm tập thơ trữ tình của mình. Đôn chỉ thích đi hát trong các đám tang. Đôn có giọng hát của một người chèo thuyền, nó tự nhiên chứ không theo các qui tắc sư phạm gì hết, nhưng lại có sức mạnh làm rung động lòng người. Có ai đó đã kể với Đôn rằng Enhricô Caruxô, chỉ đơn thuần bằng giọng hát đã có thể làm vỡ các lọ hoa thành từng mảnh vụn và thế là Đôn cố bắt chước ông ta trong nhiều năm liền, định với tiếng hát sẽ làm vỡ tan kính cửa sổ. Các bạn bè của Đôn mang về cho Đôn những bình hoa thủy tinh mỏng ở khắp nơi họ đặt chân đến và tổ chức các uộc vui đặc biệt để Đôn thực hiện ước mơ từng ấp ủ lâu ngày. Chẳng bao giờ Đôn làm được. Tuy nhiên, trong miền sâu thẳm của tiếng hát rền vang như sấm động của Đôn như một thứ ánh sáng mềm mại từng làm rạn nứt trái tim những người nghe, nó cũng tựa như những bình thủy tinh của Carusô trứ danh, và điều này đã khiến Đôn trở thành người rất được kính trọng trong các đám tang. Chỉ trừ một trường hợp duy nhất mà thôi, ấy là lần Đôn bị tay giáo sĩ vốn không thể nào chịu nổi sự tuyên truyền học thuyết Luyte ngay trong nhà thờ của mình đã buộc Đôn phải câm họng khi Đôn có ý định tốt đẹp sẽ hát bài When Wake up in Glory 2, một tang khúc xứ Luixiana, một tang khúc lời hát rất hay và cảm động.
Vậy là, giữa những thú vui đặc biệt đối với nhạc kịch và nhạc giao hưởng xứ Napolit, tài năng sáng tạo và tinh thần kinh doanh bất chấp chiến thắng của Đôn trở thành yếu nhân của hãng tàu thủy trong thời huy hoàng nhất của nó. Từ tay không mà Đôn làm nên như hai người anh quá cố của Đôn và cả ba anh em nhà này đều thành đạt như ý nguyện mặc dù họ đều là con hoang và đều chịu chung một kết cục như nhau là chẳng bao giờ được bên họ nội thừa nhận. Ba anh em họ đều là tinh hoa của cái mà lúc ấy được mệnh danh là giới quí tộc của quầy bán hàng, mà lễ đường của họ là Câu lạc bộ Thương nghiệp. Tuy nhiên ngay cả khi Đôn thu xếp phương tiện vật chất để sống như một Hoàng đế La Mã vì Đôn rất giống ngài, ông chú Lêông XII sống tại thành phố cổ cho tiện công việc cùng với vợ và ba người con, theo một cung cách rất đúng đắn trong một ngôi nhà giản dị ấy thế mà cũng chẳng bao giờ Đôn thoát được danh tiếng xấu về một anh giàu mà keo kiệt. Nhưng cái vẻ lộng lẫy duy nhất của ngôi nhà vẫn là tính giản dị: một ngôi nhà của ngư dân cách nơi làm việc chừng hai dặm đườ
ng, đồ nội thất chẳng có gì ngoài sáu chiếc ghế, một cái chum nước, một chiếc võng mắc ngoài hiên để Đôn nằm nghỉ mỗi chủ nhật. Không một ai có thể định nghĩa về Đôn chính xác bằng Đôn khi có ai đó bảo Đôn là một người giàu có.
- Tôi không phải là người giàu có, - Đôn nói: - Tôi là một người nghèo nhưng có tiền. Hai loại người đó vốn không phải là một.
Cái phong cách sống lạ lẫm ấy trong vài lần từng được một số người ca ngợi trong một bài diễn văn coi nó là một sự điên dại thông thái, đã cho phép Đôn nhìn ra ngay cái mà không một ai từng nhìn thấy trước và cả sau này tiềm ẩn trong con người Phlôrêntinô Arixa. Kể từ ngày anh đến văn phòng với vẻ buồn rười rượi và một cuộc đời hai mươi tuổi vẫn chưa đâuđâu để xin vào làm việc trong hãng tàu thủy, chú Piô XII đã thử thách anh bằng một chế độ làm việc hà khắc nơi trại lính đủ sức đánh gục những kẻ ương ngạnh nhất. Nhưng Đôn đã không thể làm cho anh phải khiếp sợ. Điều mà chẳng bao giờ ông chú Piô XII nghi ngờ là tính cách ấy của người cháu không nảy sinh từ sự cần thiết phải tồn tại, cũng chẳng nảy sinh từ tính cách bốc trời của người cha để lại, mà nảy sinh từ một khát vọng tình yêu mà không một trở lực nào của cõi đời hoặc cõi thần có thể bẻ gãy được.
Những năm đầu tiên là những năm khốn khổ nhất khi người ta giao cho anh chức thư kí của Văn phòng Tổng hợp, một chức vụ xem ra đã được cân nhắc cẩn thận để chỉ giao cho anh thôi. Lôtariô Tugut, người thầy dạy nhạc cũ của ông chú Piô XII, là người đã khuyên Đôn rằng hãy trao cho người cháu công việc viết lách nơi bàn giấy vì anh ta là một người say mê văn chương nhất trần đời đến mức đọc sách không hề biết mệt mỏi, không hề phân biệt văn hay hay văn dở. Ông chú Piô XII không nghe theo sự đánh giá về người cháu trong cách đọc sách nghiến ngấu ấy vì Lôtariô Tugut cũng đã nhận xét về Đôn rằng Đôn là một học trò kém cỏi nhưng tiếng hát của Đôn từng khiến bia mộ chí trong nghĩa địa cũng phải khóc thét lên. Dù sao chăng nữa, ông người Đức này cũng có lí ở cái phần ít nghĩ đến nhất và đó là việc Phlôrêntinô Arixa viết bất cứ đề tài gì cũng viết với tất cả nỗi đam mê của lòng mình đến mức ngay các tài liệu chính thức cũng đều nhuốm màu sắc ái tình. Các bản kê khai hàng hóa trên tàu đệ trình lên sở hải quan vẫn được viết với một lối văn chương rất vần điệu mặc dù anh đã cố gắng hết sức để tránh lối văn này; những bức thư giao dịch thương mại vì vẫn mang âm hưởng trữ tình nên thiếu hẳn tính chất nghiêm túc. Ông chú Piô XII phải đích thân đến văn phòng mang theo cả xấp công văn dày cộp để đúng qui chuẩn nên không thể kí tên vào được trả lại cho anh và Đôn tạo cho anh dịp thuận lợi cuối cùng để mà hối cải:
- Nếu cháu không đủ khả năng viết một bức thư giao dịch thương mại thì cháu đi quét rác ở ngoài bến cảng - Đôn nói với anh.
Phlôrêntinô Arixa chấp nhận lời đe dọa ấy. Anh phấn đấu hết sức mình để học cho được lối viết giản dị thiết thực của văn xuôi thương mại bằng cách mô phỏng các mẫu được lưu trữ trong kho chứng thư với một tinh thần miệt mài như trước đây anh từng bắt chước các nhà thơ thời thượng. Đó là thời kì anh đến phố Lôt Excribanôt để tiêu khiển những giờ nhàn rỗi, để giúp các tay đang yêu không biết chữ viết những lá thư tình có tẩm hương, nhờ đó anh tự làm dịu nhẹ trái tim đầy ắp những từ ngữ yêu đương chưa được dùng tới trong các bảng kê khai đệ trình lên sở hải quan. Sáu tháng sau, dù phải trăn trở nhiều, anh vẫn không thể vặn được cổ c thiên nga bướng bỉnh của mình. Vậy là khi ông chú Piô XII lần thứ hai vẫn thấy anh chứng nào tật ấy, Phlôrêntinô Arixa đành phải thú nhận sự bất lực của mình nhưng anh thú nhận với lòng kiêu hãnh:
- Thưa chú, điều duy nhất mà cháu thích là tình yêu, - anh nói.
- Cháu ạ, điều tệ hại là ở chỗ nếu không kinh doanh tàu thủy thì không có tình yêu.
Để thực hiện lời đe dọa của mình, Đôn Lêông XII cho anh đi quét rác ở ngoài cảng, nhưng Đôn hứa với anh rằng sẽ từng bước nâng bậc lương cho tới khi nào xứng đáng với năng lực của anh. Đôn đã thực hiện đúng như thế. Không một công việc nào, dù vất vả hay hèn kém đến đâu chăng nữa có thể khuất phục nổi anh, không một đồng lương thấp kém nào có thể làm mất đạo đức của anh và về phần mình không một phút giây nào anh không thể hiện thái độ kiêu hãnh vốn có của mình trước thái độ xấc xược của những người cai quản anh trong công việc. Nhưng cũng không lúc nào anh lại ngây ngô cả: kẻ nào dám phá ngang con đường anh đi thì sẽ phải gánh chịu mọi hậu quả của một quyết định rất tàn bạo đủ khả năng làm mọi chuyện nấp sau diện mạo thiểu não của anh. Như điều ông chú Lêông XII từng nhìn thấy trước và mong muốn anh nắm được tất cả mọi việc trong suốt ba mươi năm đầy say sưa và kiên quyết. Anh đã làm mọi việc với một khả năng tuyệt vời đáng khâm phục nhờ nghiêm chỉnh nghiên cứu kỹ lưỡng mọi chi tiết trong mớ bòng bong của công việc kinh doanh, một công việc phức tạp có thể so sánh với các phức tạp của nghề làm thơ. Nhưng không bao giờ anh giành được tấm huân chương chiến công mà ông chú hằng mong ước ở anh, đó là việc viết một bức thư thương mại được chấp nhận, chỉ một mà thôi. Không hề có ý định và cũng chẳng hề biết nữa, bằng cuộc đời mình anh đã chứng tỏ chân lí của mình, cho đến hơi thở cuối cùng vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng không ai có tinh thần thực tiễn hơn, không một người thợ đẽo đá nào cần mẫn hơn và cũng không một người quản lí nào lại thông minh và đáng sợ hơn các nhà thơ. Điều đó chí ít ra cũng là điều ông chú Lêông XII kể lại cho anh nghe. Đôn vốn là người chỉ nói về cha anh vào những lúc tâm hồn Đôn thanh thản và là người vẫn giữ ý niệm cho rằng cha anh là một kẻ mơ mộng hão huyền hơn một nhà kinh doanh.
Đôn kể cho anh biết rằng Piô Kinhtô Lôayxa biến các văn phòng làm việc thành nơi vui chơi hơn là nơi làm việc và bao giờ ông cũng thu xếp các công việc để vắng nhà vào ngày chủ nhật với lí do: đón hoặc tiễn một con tàu. Hơn thế nữa ông còn ra lệnh dựng một nồi hơi ngay trong sân các cửa hàng. Một nồi hơi chẳng để làm gì nhưng lại có cả một chiếc còi tàu và khi bà vợ nghi ngờ thì ông bảo một ai đó kéo cho nó lên y hệt tiếng còi tàu ở ngoài cảng. Do để ý suy nghĩ, ông chú Lêông XII tin chắc rằng Phlôrêntinô Arixa được hoài thai ngay trên một chiếc bàn viết trong một văn phòng nào đó được cửa kín đáo và một buổi chiều chủ nhật oi bức giữa lúc ở nhà mình bà vợ của cha anh nghe thấy tiếng còi tiễn biệt của một chiếc tàu chẳng bao giờ rời bến cảng. Khi bà vợ biết chuyện thì đã muộn để buộc ông phải thú tội vì ông đã chết rồi. Bà sống thêm rất nhiều năm, tàn tạ trong đau khổ vì không có con trai nỗi dõi, nhưng lại nguyền rủa đứa con hoang trước Thượng đế.
Hình ảnh người cha khiến Phlôrêntinô Arixa phải suy nghĩ lao lung. Mẹ anh nói về ông như một con người chứ tuyệt không có năng khiếu kinh doanh thương mại nhưng cuối cùng đã kết thúc đời mình trong các công việc kinh doanh đường sông vì người anh cả của ông từng là người cộng sự thân cận vị thuyền trưởng kì cựu nhất người Đức tên là Hoan B.Ơnbơc, người phụ trách trước của nghề hàng hải. Họ đều là con hoang của chính một bà mẹ, một người nấu bếp chuyên nghiệp, với những người đàn ông khác nhau và tất cả đều mang họ của một cha cố ngẫu nhiên gặp trong buổi xưng tội, trừ tên của ông chú Lêông XII vốn là tên của một cha cố đang ngụ ở đây trong lúc Đôn ra đời. Cái tên Phlôrêntinô Arixa là tên của người ông ngoại của tất cả bọn họ, như vậy là cái tên ấy đã truyền tới đứa con trai của Tranxitô Arixa qua cả một thế hệ những đức giám mục.
Lúc nào Phlôrêntinô Arixa cũng giữ kè kè một cuốn vở trong đó cha anh ghi lại các bài thơ tình, có một số bài được cấu tứ bởi tình yêu của Tranxitô Arixa và các trang của cuốn vở này đều được trang trí hình ảnh những trái tim bị thương. Có hai sự việc khiến Phlôrêntinô Arixa phải ngạc nhiên. Một phong cách viết của anh, mặc dù anh chọn phong cách này chỉ vì nó là một trong số các phong cách được thể hiện trong cuốn sách giáo khoa mà anh yêu thích hơn cả. Sự việc thứ hai bắt gặp trong cuốn vở này là một câu châm ngôn mà anh cứ nghĩ là của chính mình viết ra nhưng thực ra nó đã được cha viết trong cuốn vở trước khi anh ra đời rất lâu. Đó là câu châm ngôn: Cái duy nhất khiến ta đau khổ đến chết được là cái không thuộc về tình yêu.
Phlôrêntinô Arixa cũng nhìn thấy hai bức ảnh chân dung duy nhất của cha anh. Một bức được chụp ở Xăngta Phe khi ông còn rất trẻ, bằng đúng tuổi của anh khi anh nhìn thấy nó lần đầu tiên, mặc một chiếc áo khoác ngoài nom ông như đang đội lốt gấu, và ông dựa lưng vào bệ đá một bức tượng chỉ còn lại những chiếc ủng mà thôi. Đứa bé đứng bên cạnh ông là ông chú Lêông XII đội chiếc mũ của thuyền trưởng. Trong một bức ảnh khác, cha anh đứng cùng với một nhóm người có vũ trang và ông là người cầm khẩu súng hỏa mai nòng dài nhất và là người có bộ ria vàng vương mùi khói thuốc súng sực nức cả bức ảnh là một nhà tam điểm và tự do cũng như các anh em ông vậy. Tuy nhiên ông lại muốn đứa con trai vào học trong trường dòng. Phlôrêntinô Arixa không cảm thấy sự giống nhau giữa hai cha con của mình nhưng theo như lời ông chú Lêông XII nói thì cha anh cũng bị người ta mắng mỏ vì tội để cho tính chất trữ tình đậm màu trong các công văn giấy tờ giao dịch thương mại. Tóm lại Phlôrêntinô Arixa không thấy mình giống cha trong các bức ảnh, không thấy được, không đồng tình với hình ảnh do bà mẹ, vì quá yêu, cố tình vẽ sai lạc đi. Tuy nhiên, sau nhiều năm, trong lúc đứng trước gương chải tóc, Phlôrêntinô Arixa đã phát hiện ra sự giống nhau của cha con mình và chỉ đến lúc này, anh mới hiểu rằng khi người ta bắt đầu già thì người ta cũng bắt đầu nhận ra mình giống cha mình.
Ở phố Vênhtanat anh không nhớ ông. Anh tưởng mình biết rằng có một thời gian ông ngủ ở đây vào lúc ông mới yêu Tranxitô Arixa, nhưng sau khi bà sinh nở ông không đến thăm bà nữa. Lễ ghi tên ở nhà thờ của Phlôrêntinô Arixa xảy ra trước ngày chúng ta sử dụng thủ tục khai sinh rất nhiều năm. Tại giáo khu Xăngtô Tôribiô người ta thấy tài liệu ghi rõ về anh như sau: Con hoang của một cô con hoang chưa chồng tên là Tranxitô Arixa. Trong tài liệu này không thấy có ghi tên người cha,
người lúc ấy vẫn cố giữ kín tên trước những đòi hỏi cần thiết của đứa con cho đến ngày cuối cùng. Điều kiện này đã khép cánh cửa trường dòng đối với Phlôrêntinô Arixa nhưng nó cũng giúp anh thoát được việc nhập ngũ trong thời kì đẫm máu nhất của cuộc nội chiến của chúng ta, vì anh là đứa con duy nhất của một bà mẹ không chồng.
Sau giờ học, tất cả các ngày thứ sáu Phlôrêntinô Arixa đều ngồi chờ trước cửa văn phòng Hãng tàu thủy Caribê và trong lúc ngồi chờ, cậu giở lại cuốn sách vẽ tranh con vật từng được giở nhiều lần đã nhàu nát. Người cha bước vào văn phòng không nhìn cậu. Ông mặc chiếc áo dạ dài, mà sau này Tranxitô Arixa đã chữa lại để cậu dùng, với gương mặt thánh Hoan Êvănghêlixta ở trên bàn thờ Chúa. Khi ông bước ra, sau nhiều giờ ở trong văn phòng và cẩn thận để không một ai nom thấy, kể cả người đánh xe của mình, trao cho cậu số tiền đủ chi dùng cho cả tuần. Hai cha con không nói gì với nhau một lời, không chỉ vì ông không muốn đã đành mà còn vì cậu cũng rất sợ ông. Có một ngày, sau khi phải chờ đợi quá lâu so với mọi bận, người cha đưa cho con số tiền và nói:
- Đây, hãy cầm lấy và đừng có đến đây nữa.
Đó là lần cuối cùng Phlôrêntinô Arixa nhìn thấy ông. Nhưng thời gian qua đi, có lẽ anh cũng hiểu rằng ông chú Lêông XII, người ít hơn cha anh chừng mười tuổi, tiếp tục mang tiền trợ cấp đến cho Tranxitô Arixa và là người lo lắng cho bà khi Đôn Piô Kinhtô Lôayxa qua đời. Cha anh chết vì một cơn đau bụng không được chăm sóc cẩn thận, chết đi không để lại một chữ nào, không kịp trối trăn điều gì ngõ hầu có lợi cho đứa con trai duy nhất: một đứa con rơi vãi ở ngoài đời.
Bi kịch của Phlôrêntinô Arixa trong lúc anh làm nhân viên thư kí của Hãng tàu thủy Caribê là ở chỗ anh không thể tránh được cảm hứng trữ tình của mình vì anh không thể không nghĩ đến Phecmina Đaxa và không bao giờ rèn tập để viết mà không nghĩ đến cô. Sau đó, khi anh chuyển sang đảm nhận một vài công việc khác thì anh lại có quá nhiều tình cảm yêu đương mà không biết dùng vào đâu, thế là anh đưa tặng lại cho những người tình không biết chữ bằng cách viết hộ họ những lá thư tình ở phố Lôt Escribanôt. Sau giờ làm việc, bao giờ anh cũng đến địa điểm này, với cử chỉ duyên dáng anh cởi chiếc áo dạ khoác ngoài ra, vắt nó lên tay ghế, cởi hàng cúc trước chiếc áo véxtông để suy nghĩ dễ dàng hơn, và đôi lúc anh ở lại cho đến tối mịt mới về, để bằng những lá thư cháy bỏng cổ vũ những kẻ buồn ủ rũ. Đôi lúc anh gặp một người đàn bà khốn khổ đang có chuyện rắc rối với một người con trai, gặp một cựu chiến binh cố đòi chính phủ phải cấp lương hưu cho mình, gặp một ai đó bị mất trộm và muốn làm đơn yêu cầu nhà nước phải giải quyết, nhưng dù có cẩn thận viết đến mức nào đi nữa cũng không thể làm hài lòng bọn họ bởi vì điều duy nhất mà anh có thể chinh phục một người nào đấy ấy là những bức thư tình. Đối với các khách hàng mới hầu như anh không phải hỏi họ nhiều bởi vì chỉ cần nhìn con mắt trắng trợn đã đủ để anh thấu tâm trạng của họ rồi và thông qua hình thức không thể tránh khỏi: viết mà lúc nào cũng nghĩ đến Phecmina Đaxa và chỉ nghĩ đến cô mà thôi. Anh mải miết viết hết trang này đến trang khác một lá thư chan chứa tình yêu. Vừa được một tháng, anh cần phải thiết lập một kỷ luật tự tiết chế mình không để cho khát vọng của những người đang yêu dìm mình ngạt thở.
Một kí ức dễ chịu nhất của anh hồi đó là kí ức về một cô gái rất bẽn lẽn, cô ta hầu như còn trẻ ranh, với giọng nói run run đề nghị anh viết hộ một bức thư trả lời một bức thư không thể trì hoãn được mà cô vừa nhận, và Phlôrêntinô Arixa nhận ra bức thư đó đã được anh viết ra ngay buổi chiều hôm trước. Anh trả lời bức thư ấy bằng một bút pháp khác hẳn, một bút pháp phù hợp với lứa tuổi và tâm trạng đang cảm động khôn xiết của cô gái, với một lối chữ viết cũng từa tựa như của cô ta bởi vì anh biết cách đánh lừa kiểu chữ viết sao cho nó phù hợp với từng trường hợp, với từng tính cách của mỗi người. Anh viết thư ấy mà cứ nghĩ đến cái điều Phecmina Đaxa có thể đã trả lời anh nếu như cô yêu anh say đắm như chính cái cô gái ngây thơ không nơi bám víu kia đang yêu người thanh niên cầu hôn nọ. Dĩ nhiên, hai ngày sau, anh lại phải viết một bức thư của anh người yêu với lối chữ viết, phong cách văn chương và loại tình yêu mà chính anh đã thể hiện trong bức thư đầu tiên và như vậy anh đã thực hiện trách nhiệm của mình với chính mình. Trước một tháng cưới nhau, anh và ả, cả hai người đều thầm lén đến cảm ơn anh vì chính anh đã tỏ tình trong bức thư của anh người yêu và cũng chính anh đã nhiệt tình chấp thuận nó trong lá thư trả lời của cô người yêu: họ sẽ cưới nhau.
Chỉ khi họ có đứa con đầu lòng, qua một cuộc nói chuyện rất vô tình, họ mới biết rằng những lá thư của cả hai người đều do chính một người viết thuê viết ra và thế là cả hai người cùng đi đến phố Lôt Escribanôt để mời anh làm cha đỡ đầu cho thằng bé. Trước sự kiện những ước mơ của anh đã có tác dụng thực tế hiển nhiên này, Phlôrêntinô Arixa cực kì phấn chấn đến mức tự anh hối hận làm sao mình không viết một cuốn sách: Bí mật của những người đang yêu, một cuốn sách thơ mộng hơn, rộng lớn hơn cái cuốn sách cho đến lúc ấy được bán rộng rãi ở các phố với giá hai mươi xu một bản và đang được nửa số dân thành phố thuộc lòng. Anh sắp xếp các tình huống trong đó Phecmina Đaxa và anh có thể gặp được nhau và anh viết rất nhiều thư mẫu cho đủ mọi trường hợp được trao đổi với nhau một cách hợp lí. Cuối cùng anh viết được mấy ngàn bức thư đóng thành ba tập dày cộp như cuốn từ điển của Côvarubiat, nhưng không một nhà xuất bản nào của thành phố này dám nghĩ đến việc in chúng vì vậy chúng bị quăng quật ở ghế sôpha cùng với đống giấy lộn bởi vì Tranxitô Arixa cự tuyệt dứt khoát việc đào các chum chĩnh đựng số của cải giành dụm được để phung phí vào việc in ấn các tập thư một cách bốc đồng của cậu con trai. Những năm sau này, khi Phlôrêntinô Arixa có đủ điều kiện tiền nong để xuất bản cuốn sách ấy thì anh phải vất vả lắm mới nhận ra một thực tế hiển nhiên là các bức thư tình ấy đã lỗi mốt rồi.
Trong lúc anh dò dẫm những bước đi đầu tiên ở Hãng tàu thủy Caribê và viết hộ những lá thư tình ở phố Lôt Escribanôt, những người bạn thời trẻ của anh đều có ý nghĩ sáng tỏ rằng họ dần dần mất anh và anh sẽ chẳng bao giờ trở về với họ nữa. Quả đúng như thể thật. Ngay khi anh trở về sau chuyến du lịch trên sông, anh nhìn thấy một số trong bọn họ với hi vọng sẽ làm anh khuây khỏa nỗi nhớ Phecmina Đaxa, anh đã đi chơi bi-a với họ, đến dự các buổi khiêu vũ cuối cùng của họ, anh sẵn sàng chơi đố giữ các bạn gái, sẵn sàng cùng họ làm mọi việc có ích để mình lại trở thành một thanh niên đáng yêu trước đây. Sau đó, khi ông chú Lêông XII nhận anh vào làm việc trong hãng anh chơi đôminô với các bạn cùng làm việc ở văn phòng trong Câu Lạc bộ Thương mại, và những người này bắt đầu thừa nhận anh như người cùng cánh với mình khi anh chỉ nói đến công việc của hãng và không gọi trọn vẹn tên của nó mà chỉ gọi tên viết tắt H.T.C. Anh đã hoàn toàn thay đổi, thay đổi tới cả cách ăn uống. Dù hoàn cảnh thay đổi và bất bình thường đi nữa, kể từ dạo ấy cho đến ngày cuối cùng của đời mình, trên bà bao giờ thực đơn của Phlôrêntinô Arixa vẫn chỉ là một bữa điểm tâm, một tách cà phê đen; bữa trưa một khoanh cá rán và một tô cơm trắng; bữa tối trước khi đi nằm, một tách cà phê sữa và một mẩu bơ. Anh uống cà phê vào tất cả mọi giờ, ở bất cứ đâu trong bất cứ hoàn cảnh nào, mỗi ngày uống tới 30 tách nhỏ. Đó là thứ cà phê do anh pha lấy, giống hệt như dầu thô và lúc nào cũng được đựng trong một chiếc phích ngay trong tầm tay. Tật nghiện cà phê đến mức ấy là trái với ý muốn kiên cường của anh và trái với những cố gắng phi thường của anh nhằm trở lại làm mình trước khi bị thất bại trong tình yêu.
Thực ra chẳng bao giờ anh lại là người như trước đây. Chiếm lại Phecmina Đaxa là mục đích duy nhất của đời anh và anh rất tin tưởng sớm hay muộn gì mình cũng giành được mục đích ấy. Anh tin lắm đến mức anh thuyết phục được Tranxitô Arixa đi xa hơn cả điều anh mong muốn; bà mua đứt ngôi nhà và tiến hành sửa sang toàn bộ nó. Họ làm ngay một phòng tiếp khách ở nơi trước đây là phòng ngủ và ở tầng trên xây dựng một phòng ngủ cho vợ chồng anh và một phòng ngủ nữa giành cho đám con cái của họ sắp ra đời, cả hai buồng ngủ này đều rất rộng rãi và được trang hoàng đẹp mắt, và tại khoảng không rộng rãi vốn trước đây là kho chứa thuốc lá họ làm một vườn hoa lớn trồng đủ loại hoa hồng và nó là nơi để Phlôrêntinô Arixa suy tư vào lúc tâm hồn thanh thản buổi ban mai. Địa điểm duy nhất được để nguyên, coi như một bằng chứng thú vị của thời quá khứ, là phòng được dùng làm cửa hàng. Gian sau cửa hàng nơi Phlôrêntinô Arixa ngủ vẫn được giữ nguyên trạng; chiếc vòng treo ngang và chiếc bàn bừa bộn sách vở nhưng anh lại lên ở phòng mà tương lai được giành làm phòng ngủ của vợ chồng tại tầng trên. Phòng này rộng rãi và mát mẻ hơn so với các nơi khác trong ngôi nhà và hơn nữa nó có một sân hiên thật dễ chịu, về ban đêm khi gió biển thổi vào mang theo hương hồng ngào ngạt nhưng đồng thời nó cũng là nơi thích hợp hơn cả đối với tinh thần kiên nghị của Phlôrêntinô Arixa.Tường phòng phẳng lì được quét vôi trắng lốp. Phòng có đồ nội thất quí giá, gồm một chiếc giường nhà tù, một chiếc bàn ngủ với một ngọn nến cắm trên miệng chai, một chiếc tủ quần áo cũ kĩ, một thùng nước với chậu rửa mặt của nó.
Công việc sửa sang lại ngôi nhà kéo dài gần ba năm và ba năm này là thời kì hồi phục tạm thời của thành phố nhờ sự phồn thịnh của ngành hàng hải và trao đổi thương mại, đó chính là những nhân tố từng khuếch trương oai phong của thành phố trong suốt thời kì thuộc địa và trong hai thế kỷ nay, chúng biến thành phố này thành cửa ra vào của châu Mĩ. Nhưng thời kì này cũng là thời kì Tranxitô Arixa bộc lộ những triệu chứng đầu tiên của căn bệnh không phương cứu chữa. Những khách hàng quen của bà đến cửa hàng ngày một già hơn, ngày một xanh xao hơn, ngày một còm cõi hơn và bà không nhận ra họ sau một nửa cuộc đời giao dịch với họ hoặc nhầm lẫn câu chuyện buôn bán của người này với người khác. Sự nhầm lẫn này rất nguy hiểm trong chuyện buôn
bán, nhất là kiểu buôn bán của bà: không cần giấy tờ gì hết mà chỉ cần lời nói danh dự là đủ nhằm bảo đảm danh giá của chính bà hoặc cho chính khách hàng. Thoạt đầu người ta tưởng bà bị nặng tai nhưng ngay lập tức người ta nhận ra ngay rằng bà đang bị mất trí nhớ. Vậy là bà thôi không làm nghề cầm cố nữa. Số của cải bà tích lũy được cũng đủ để bà mua sắm đồ nội thất trang bị cho ngôi nhà và hơn thế nữa bà còn giữ được rất nhiều hạt ngọc đáng giá nhất của thành phố mà những người chủ của chúng không cách nào có thể chuộc lại được.
Lúc này Phlôrêntinô Arixa phải đồng thời quan tâm tới quá nhiều nhiệm vụ nhưng vẫn không bao giờ chịu để cho nhiệt tình của mình bị suy giảm trong công việc của một kẻ đi săn trộm. Sau kinh nghiệm thực tế với bà quả phụ Naxarê, kinh nghiệm từng mở cho anh con đường đi tới những mối tình ngoài đường, anh tiếp tục săn những con chim đêm cô đơn trong vài năm liền, vẫn giữ nguyên ảo tưởng sẽ tìm được niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau do Phecmina Đaxa gây ra cho mình. Nhưng sau đó anh không thể nói được rằng cái thói quen ngủ bừa với đàn bà không mang một chút hi vọng gì của mình là một đòi hỏi của lương tri hay chỉ đơn thuần là một đòi hỏi thấp hèn của xác thịt. Anh đến khách sạn ngoài cảng ngày một thưa hơn không chỉ vì những ham muốn của anh hiện đang tỏa ra nhiều hướng mà còn vì anh không thích để cho người ta nhìn thấy mình có mặt ở đấy giữa những khuôn mặt khác nhau thuộc số những kẻ thân quen và danh giá mà họ từng quen biết anh rất rõ. Tuy nhiên, trong ba trường hợp vội vã anh đã sử dụng thủ thuật thường thấy trong thời đại mình: anh cải trang cho những cô gái hay hoảng hốt sợ người nhận được mặt mình thành đàn ông rồi cùng các cô bước vào khách sạn ngoài cảng với điệu bộ của những kẻ thác loạn thức qua đêm. Ít nhất có hai trường hợp không thiếu kẻ nhận ra anh và người cùng với mình được cải trang không đến bàn nhậu mà ngược lại đi thẳng vào phòng giường nằm và thế là danh dự vốn bị mai một ít nhiều của Phlôrêntinô Arixa liền bị một đòn chí tử. Cuối cùng anh thôi không đến khách sạn này nữa và những lần hiếm hoi anh đến đây không phải là để trác táng đến nỗi ngày hôm sau phải dậy muộn, mà ngược lại hoàn toàn anh đến đây là để tìm một nơi nghỉ ngơi sau những trận thác loạn quá sức ở nơi khác.
Nói như thế quả không ngoa cho anh. Khoảng năm giờ chiều anh ra khỏi văn phòng làm việc và thế là anh đi trong vòng bay phấn chấn của chú diều hâu đang sức trẻ. Thoạt đầu anh bằng lòng với những gì mà đêm tối giành cho mình. Anh dựng các cô gái phục vụ ở ngoài vườn hoa dậy, các cô gái da đen ở ngay trong chợ, các cô gái mĩ miều ở ngoài bãi tắm, các cô gái Mĩ ngay trên tàu thủy từ Tân Ooclêăng tới. Anh dẫn các cô ra ngoài bờ đập, nơi một nửa số dân thành phố vẫn làm chính điều đó ngay từ lúc mặt trời lặn, anh mang các cô đến nơi có thể và đôi lúc cả những nơi không thể mà hành sự, bởi vì có không ít trường hợp anh phải hành sự thật chớp nhoáng ngay tại phòng đợi tối tăm và làm điều đó có thể bằng bất kì hình thức nào ở ngay sau cánh cửa chính.
Tháp ngọn đèn hải đăng luôn luôn là một nơi ẩn náu thích hợp mà Phlôrêntinô Arixa thường nhớ đến với niềm hoài nhớ khôn nguôi khi ông bước vào tuổi già bởi vì nó là nơi ông hưởng hạnh phúc khá trọn vẹn, nhất là về ban đêm và ông nghĩ rằng có thể có gì đó của tình yêu của mình đã theo ánh sáng ngọn hải đăng để đến với những người đi biển. Vậy là anh tiếp tục đến chơi ngọn hải đăng, đến thường xuyên hơn so với bất kì nơi nào, trong lúc người bạn coi đèn hải đăng vui vẻ, hào hứng đón tiếp anh với bộ mặt của thằng khờ vốn là tấm màn che tốt nhất đối với những con chìm đêm hay hoảng sợ. Phía bên dưới tháp có một căn nhà dựng ngay bên bờ biển nơi sóng vẫn táp vào những tảng đá lởm chởm nhô ra biển. Đó là nơi tình yêu diễn ra đắm đuối hơn cả vì nó có cái thi vị của một vụ đắm tàu. Nhưng sau đêm tình tự đầu tiên, Phlôrêntinô Arixa vẫn thích tháp có ngọn đèn hải đăng hơn vì đó anh có thể quan sát toàn cảnh thành phố, có thể ngắm nhìn những ánh lửa chập chờn trên những chiếc thuyền đánh cá ngoài biển và cả ánh đèn những chiếc thuyền của ngư dân trên các đầm lầy xung quanh.
Ở thời kì này anh hình thành những lí thuyết tương đối đơn giản về mối quan hệ giữa thể trạng sức khỏe của phụ nữ và khả năng đáp ứng tình yêu của họ. Anh không thích típ người ham nhục dục, đó là những người đàn bà tưởng như có đủ khả năng nuốt sống cả con cá sấu nhưng ở trên giường lại rất thụ động. Típ người anh thích hoàn toàn ngược lại: đó là những người đàn bà nom tựa con nhái bén, gầy gò mà nếu gặp họ ở ngoài đường chẳng một ai tốn công quay mặt lại nhìn ngắm họ, đó là những người đàn bà khi cởi hết sống áo ra thì hầu như họ chẳng có gì đáng kể và ta sẽ phải mủi lòng thương hại khi nghe thấy xương hóc họ kêu roàn roạt ở ngay cú đụng đầu tiên, thế nhưng họ có thể ném vào sọt rác cái chàng lắm mồm trong số những kẻ ve vãn họ. Anh ghi lại những nhận xét thiếu chín chắn ấy với ý định sẽ viết phần phụ chương cho cuốn: Bí mật của những người đang yêu, nhưng ý định ấy cũng chịu chung số phận với ý định trước đây sau khi anh làm quen Auxênhxia Santăngđê. Với kinh nghiệm từng trải của một con chó cái già, bà hết vần anh sang trái lại vần anh sang phải, túm lấy đầu anh, nhấc anh lên, hạ anh xuống và thế là anh như một người mới sinh ra lần thứ hai. Bà bẻ gãy thành từng mẩu vụn thứ lí thuyết quá ư mĩ miều của anh và bà dạy cho anh điều duy nhất cần phải học để biết yêu là không một ai nên dạy đời cả.
đã có cuộc sống vợ chồng hòa thuận trong hai mươi năm liền, có ba người con trai và cả ba người này đều lấy vợ và có con rồi, vậy là bà có thể được trọng vọng và được coi là người đàn bà hạnh phúc nhất trong thành phố. Có một điều chẳng bao giờ được làm sáng tỏ, ấy là việc bà là người đã bỏ chồng, hay chính ông mới là người bỏ bà, hoặc cả hai người cùng bỏ nhau khi ông bỏ nhà đi sống mãi mãi với cô nhân tình và thế là bà cảm thấy mình hoàn toàn được tự do để ngay giữa ban ngày, đón rước Rôxênhô Đê La Rôsa vào cửa chính nhà mình. Rôxênhô Đê La Rôsa là thuyền trưởng của con tàu khách, vốn là người đàn ông bà vẫn thường nhiều đêm lén lút rước ông vào cửa sau. Cũng chính Rôxênhô Đê La Rôsa, không hề suy tính, là người dẫn Phlôrêntinô Arixa về nhà Auxênhô Santăngđê hai lần.
Ông đưa anh về nhà ăn cơm trưa. Ông còn mang về nhà cả một hũ sành bọc trong rọ mây đựng thứ rượu tự cất lấy và các thứ thực phẩm ngon nhất cần thiết để làm món sancôchô tuyệt ngon, một món ăn chỉ có thể có được nhờ làm với thịt gà nuôi trong sân, thịt ngon, lợn sữa và rau tươi trồng ở ven sông. Nhưng ngay từ phút đầu tiên, Phlôrêntinô Arixa đã tỏ ra không thú vị lắm trước món ăn tuyệt vời, trước cái vẻ đẫy đà của nữ chủ nhân cũng như vẻ đẹp lộng lẫy của ngôi nhà. Anh thích chính cái ngôi nhà, lộng lẫy và thoáng mát có bốn cửa sổ nhìn ra biển, và phía sau là toàn cảnh thành phố cổ. Anh thích đồ vật đã nhiều lại đẹp lộng lẫy từng cho ta cảm giác về cái phòng khách vừa bừa bộn vừa sinh động chứa đầy các hàng thủ công mỹ nghệ mà thuyền trưởng sau Rôxênhô Đê La Rôsa sau mỗi chuyến đi đã tha về cho đến khi phòng không thể chứa thêm được nữa mới chịu thôi. Tại hành lang nhìn ra biển có một chú vẹt mào nhốt trong lồng. Đó là con vẹt mào giống Malaxia có bộ lông trắng muốt vẻ suy tư cho ta cảm giác nó đang suy tư dữ lắm: một con vẹt tuyệt đẹp mà chưa bao giờ Phlôrêntinô Arixa được nhìn thấy.
Thuyền trưởng Rôxênhô Đê La Rôsa rất hào hứng trước cái hào hứng của khách và nghe ông kể tỉ mỉ lai lịch của từng thứ một cho anh nghe. Trong lúc ông kể, ông uống từng ngụm rượu một và uống không hề ngừng nghỉ. Cơ thể ông giống như một bức tượng xi măng đúc khổng lồ, không chỗ nào không có lông trừ cái đầu, bộ ria mép thô kệch, nhưng thái độ lại rất lịch sự đáng yêu. Cơ thể ông cường tráng là vậy nhưng không một cơ thể cường tráng nào có thể chịu đựng nổi cái lối uống rượu của ông. Trước khi ngồi xuống bàn ăn, ông đã uống cạn một hũ rượu và sau đó ông còn uống tiếp, thế là ông ngã uỵch một cái, sấp mặt xuống mâm để đầy cốc tách và chai rượu. Auxênhxia Santăngđê phải nhờ Phlôrêntinô Arixa giúp một tay để lôi thân xác bất động như một con cá voi đến tận giường nằm, rồi cởi xống áo cho ông ngủ yên ở đấy. Sau đó, trong một thứ đống lõa mà cả hai người phải chịu ơn cuộc hội ngộ ngẫu nhiên này, cả hai người cũng cởi quần áo ở phòng bên cạnh mà không cần phải đặt vấn đề trước, rồi bọn họ tiếp tục thường xuyên cởi quần áo như vậy trong suốt bảy năm nữa những khi vị thuyền trưởng này phải đi làm nhiệm vụ. Họ chung đụng với nhau mà chẳng hề có chuyện gì nguy hiểm xảy ra vì thuyền trưởng Rôxênhô Đê La Rôsa vẫn thường có thói quen mỗi bận tàu ông vào bến cảng bao giờ ông cũng kéo cói báo tin mừng đã trở về: ba hồi dài để báo tin cho bà vợ và chín người con của ông, hai hồi đứt quãng mang âm sắc nhớ thương gửi cho nhân tình.
Auxênhxia Santângđê đã xấp xỉ năm mươi tuổi và người ta có thể dễ dàng nhận ra tuổi của bà nhưng bà có một bản năng tình yêu rất riêng biệt đến mức không một thứ lý thuyết dù là khoa học dù là giả tạo có đủ khả năng đè bẹp được nó. Qua lộ trình những con tàu rời bến, Phlôrêntinô Arixa biết chắc khi nào có thể đến với bà và anh thường xuyên đến chơi mà không hề báo trước giờ. Không một lần nào anh đến, dù ban ngày hay ban đêm mà anh không thấy bà đang trong tình trạng chờ đợi mình. Bà mở cửa cho anh trong trạng thái như mẹ đẻ của mình, người vẫn nuôi dưỡng bà cho đến khi bà lên bảy tuổi: nghĩa là bà khỏa thân hoàn toàn đầu chít một dải nơ. Bà không để anh tiến thêm một bước vào trong nhà trước khi cởi quần áo cho anh, bởi vì lúc nào bà cũng nghĩ rằng việc một người đàn ông ăn mặc chỉnh tề trong nhà mình là một điều cực kỳ xúi quẩy. Điều này chính là nguyên nhân gây ra sự bất đồng thường xuyên giữa bà với thuyền trưởng Rôxênhô Đê La Rôsa, vì ông này có quan niệm rằng trong lúc hút thuốc mà cởi truồng là một thói quen xấu và đôi lúc ông thích kéo dài cuộc ái ân hơn là việc phải dập tắt điếu thuốc xì gà Cuba. Trái lại, Phlôrêntinô Arixa rất thích được ở truồng, và Auxênhxia Săntângđê cởi quần áo cho anh với một thái độ thích thú ngay sau khi đó
ng cửa lại. Không để anh có thời gian chào bà, không để anh có thời gian bỏ mũ ra, không để anh kịp tháo cặp kính cận ra, bà cứ thế hôn anh và để cho anh hôn mình những cú hôn sôi nổi, cứ thế cởi hết cúc trước, lần lượt từ dưới lên trên, trước tiên là hàng cúc quần: cứ mỗi cái hôn một chiếc cúc quần được cởi, tiếp đó là khóa thắt lưng, cuối cùng là hàng cúc áo vêxtông và cúc áo sơ mi cho đến khi thân xác anh trần ra như một con cá sống giữa lòng mương. Sau đó bà để anh ngồi xuống trong phòng khách rồi cởi đôi ủng cho anh, tuột quần cho anh qua hai xương háng để cùng một lúc tuột luôn cả xi líp của anh xuống tận hai mắt cá chân, cuối cùng bà tháo tất cho anh. Phlôrêntinô Arixa thôi không hôn bà và cũng không để cho bà hôn anh nữa, để làm cái công việc duy nhất thuộc về mình trong cái nghi thức rất chuẩn xác ấy: cởi chiếc đồng hồ quả quýt và cặp kính cận ra, sau đó nhét cả hai thứ vào trong một chiếc ủng để khỏi bỏ quên chúng. Bao giờ anh cũng có hành động thận trọng ấy, không bao giờ anh quên cái công việc ấy một khi anh khỏa thân trong nhà người khá
Trong lúc anh chưa nhét xong đồng hồ và kính vào trong ủng thì bà đã tấn công anh, không để cho anh có thời gian làm bất cứ việc gì. Cuộc ân ái diễn ra ngay ở trên chiếc ghế sôpha nơi bà vừa lột hết xống áo của anh và chỉ thỉnh thoảng họ mới làm tình với nhau ở trên giường. Bà nhét anh xuống dưới, bà làm chủ toàn bộ con người anh, biến anh thành của mình và cho riêng mình, hai mắt lim dim nhắm lại mà dò tìm tâm hồn mình trong bóng tối hoàn toàn, rồi tiến lên rồi dừng lại, rồi lại chạy theo con đường vô hình của mình, rồi lại đổi hướng định đi theo một con đường khác đông đặc hơn, một cách đi khác mà không bị đắm chìm trong bãi lầy nhầy nước từ trong bụng bà chảy ra, rồi lại bằng một thứ tiếng địa phương bà rên rỉ nói thứ tiếng nói kêu vo ve của loài muỗi mà tự hỏi và tự trả lời cho chính mình rằng cái của ấy đang ở đâu trong màn sương mù mà chỉ bà biết và khao khát mong muốn cho riêng mình, cho đến khi kiệt sức không còn mong chờ ai, cho đến khi chỉ một mình bà đầu hàng trong vựa thẳm của lòng mình với một tiếng nổ hân hoan trước thắng lợi hoàn toàn: Một tiếng nổ làm rung chuyển thế giới. Phlôrêntinô Arixa mệt phờ người, thấy mình bị mất mát, trôi nổi trên vũng mồ hôi của cả hai người, nhưng anh có cảm giác rõ ràng mình chỉ là một công cụ hưởng thụ của bà mà thôi. Anh bảo: "Em làm tình với anh như thể em được thêm một người nữa". Bà ta bảo: "Trái lại hoàn toàn, em làm tình với anh như thể em bỏ bớt đi một người thì có". Vậy là anh vẫn giữ lại cái cảm giác rằng bà ta mang theo mình tất cả với một lòng thèm khát đáng thương. Anh cảm thấy tự hào rồi ra khỏi nhà với quyết tâm sẽ không trở lại. Nhưng rồi không vì một nguyên cớ nào bỗng nhiên anh tỉnh ra. Với một tinh thần cực kỳ minh mẫn của nỗi cô đơn lúc đang nửa đêm và với kỷ niệm về tình yêu trầm lắng của Auxênhxia Santângđê anh thấy đó là một cạm bẫy của hạnh phúc mà anh vừa thù ghét vừa ao ước. Đó là một cạm bẫy mà anh không tài nào tránh được nó.
Có một ngày chủ nhật anh đến chơi nhà Auxênhxia Santângđê sau hai năm họ thân quen nhau. Khi anh đến, việc đầu tiên bà ta làm, đáng lẽ lột truồng anh ra thì bà lại gỡ cặp kính cận của anh để hôn anh dễ dàng hơn và qua hình thức này Phlôrêntinô Arixa biết rằng bà bắt đầu yêu anh say đắm. Mặc dù ngay từ ngày đầu tiên anh cảm thấy dễ chịu trong ngôi nhà này và anh yêu nó như yêu ngôi nhà của mình, không bào giờ anh ở lại đây quá hai giờ đồng hồ mỗi bận đến chơi, cũng chẳng bao giờ ngủ lại và chỉ có một lần anh ở lại ăn cơm vì Auxênhxia Santângđê khẩn khoản mời anh. Trên thực tế anh không đi quá điều cần phải đi: Mỗi bận đến chơi anh chỉ mang theo một bông hồng đơn lẻ, một tặng phẩm duy nhất, cho bà để rồi sau đó biệt tăm cho đến lần gặp gỡ sau không được hẹn trước. Nhưng ngày chủ nhật Auxênhxia Santângđê gỡ cặp kính cận cho anh để hôn anh, phần vì thế phần vì cả hai người ngủ đi lúc nào không hay sau khi với nhau, cả hai người đều khỏa thân nằm trên giường rộng của vị thuyền trưởng đợi cho buổi chiểu trôi đi. Khi thức dậy, Phlôrêtinô Arixa vẫn nói chuyện về ký ức của mình trước tiếng kêu của con vẹt mào mà âm sắc chói tai của nó cho mình cảm giác về bản tâm con vật này khác hoàn toàn với sắc đẹp lộng lẫy của chính nó. Nhưng khung cảnh thanh tĩnh của ngôi nhà thật là trong trẻo trong hơi nóng lúc bốn giờ chiều, và qua cửa sổ phòng ngủ hiện lên khuôn mặt nhìn nghiêng của thành phố cổ với ánh chiều rực rỡ tãi ở phía sau nó, tãi trên mặt biển rực rỡ trải tới tận Hamaica, Auxênhxia Santângđê chìa bàn tay mạo hiểm dò tìm con vật của anh đang nằm ngủ thì Phlôrêntinô Arixa gạt phắt tay bà đi, nói: "Bây giờ không, vì anh cảm thấy có gì là lạ. Hình như có ai đang nhìn trộm chúng mình đấy". Bà ta quay lại kêu con vẹt mào bằng tiếng cười sung mãn của mình. Bà nói: "Không một người đàn bà nào, ngay cả bà vợ của Giônat, cũng không thể ngửi được cái cớ anh vừa nêu ra". Dĩ nhiên, bà cũng không tán thành cái cớ ấy, nhưng vẫn thừa nhận cái ý định tốt đẹp của người nói ra nó. Cả hai lại ân ái với nhau rõ lâu trong im lặng mà không hề nhắc đến tình yêu. Đến năm giờ chiều, mặt trời hãy còn cao lắm, bà ta bước xuống giường, vẫn khỏa thân, đầu chít một sợi nơ, đi vào nhà bếp để kiếm thức ăn, nhưng bà chưa bước được một bước ra khỏi phòng ngủ thì đã kêu toáng lên đầy hoảng hốt.
Không thể tin được điều đó. Những đồ vật duy nhất còn lại trong nhà là những ngọn đèn treo. Những thứ khác, những bàn ghế có ký tên, những chiếc thảm Ấn Độ, những bức tượng, những đồ nữ trang bằng đá và bằng kim loại quý nhiều vô kể, nghĩa là tất cả những gì từng làm cho ngôi nhà trở nên lộng lẫy và dễ mến nhất thành phố, tất cả, ngay cả con vẹt mào thiêng liêng, tất cả đều đã bốc hơi. Các đồ vật ấy đều được mang đi theo hành lang nhìn ra biển, mang đi thật nhẹ nhàng không hề làm kinh động đôi tình nhân đang ân ái. Chỉ còn lại phòng khách trống rỗng với bốn cửa sổ mở toang cửa nhìn ra biển và bức tường hậu nổi lên hàng chữ nguệch ngoạc: Điều này xảy ra với các người chính vì những hành động thiếu chín chắn của các người! Thuyền trưởng Rôxênhô Đê La Rôsa chẳng bao giờ hiểu được vì sao Auxênhxia Santăngđê không tố cáo vụ mất trộm và cũng chẳng cho phép người ta nói lại chuyện bất hạnh của mình.
Phlôrêntinô Arixa vẫn tiếp tục đến thăm bà ngay tại ngôi nhà bị cướp hết đồ đạc mà tiện nghi của nó được thu hẹp lai với ba chiếc ghế bọc da do bọn kẻ trộm bỏ sót trong nhà bếp và những thứ còn lại trong phòng ngủ lúc bọn họ đang có mặt. Nhưng anh đến thăm bà thưa hơn trước đây, không phải vì ngôi nhà nghèo hèn đi như bà ta đoán già nói toạc ra như thế, mà vì sự tân kỳ của những chiếc xe khách do lừa kéo được sử dụng vào thời kỳ đầu của thế kỷ này. Đối với anh chúng là một cái tổ hào phóng và mới mẻ của những con chim tự do. Một ngày bận anh đi xe: Hai bận đến nhiệm sở, hai bận trở về nhà. Trong lúc ngồi trên xe anh đọc sách thật nhưng phần lớn anh giả vờ đọc. Chí ít ra trong lúc đi xe này anh làm quen và hẹn hò với các con chim đêm cùng đi trên xe. Về sau này, khi ông chú Lêông XII giao cho anh một chiếc xe hai lừa kéo, loại xe y hệt xe của tổng thống Raphaen Munhôt thì lòng anh nhớ không nguôi thời kỳ đi xe khách như là thời kỳ phong phú nhất cuộc đời kẻ đi săn trộm: Không có một kẻ thù nào nguy hiểm bằng một chiếc xe chờ ở ngoài cửa. Anh có ý thức về điều này rất rõ ràng đến mức hầu như anh giấu xe ở nhà mình và trong các cuộc săn đuổi tình yêu của mình anh đi bộ để săn mồi, để xóa đi mọi vết tích của mình kể cả những vết xe lăn trên cát bụi. Vì lẽ đó Phlôrêtinô Arixa, với tâm trạng luyến tiếc, luôn luôn nhớ tới chiếc xe khách do những chú lừa đã gầy nhom lại lở loét kéo và khi ngồi trong xe này chỉ một cú liếc mắt anh đã có thể biết chắc ái tình đang ở chỗ nào. Tuy nhiên, trong hàng loạt những ký ức rối bời đan chéo nhau anh đã không thể nào xóa nhòa được cái ký ức về một con bò lạc mà ngay cả tên của cô ta anh cũng không biết và đó là cô gái anh không cùng sống trọn vẹn một đêm vui náo nức, nhưng nó đã đủ làm anh phải đắng lòng trong quãng đời còn lại trước khung cảnh vui nhộn vô tư của đêm hội cacnavan.
Với tinh thần dạn dĩ dám đi một mình trong khung cảnh ngày hội nhộn nhạo, cô gái buộc anh phải để ý tới mình ngay từ khi còn đi trên xe khách. Có lẽ cô chưa quá hai mươi tuổi và đi chơi trong trạng thái không hoàn toàn hào hứng tham gia ngày hội cacnavan. Cô đóng giả một người bệnh, mái tóc vàng óng, dài và mượt mà, để nó tự nhiên buông ngang vai, mặc một chiếc áo tunica bằng vải phin thường và không thêu thùa gì hết. Cô sống trong trạng thái hoàn toàn xa lạ với tiếng nhạc ồn vang phấn khích ở ngoài đường, trước những vốc phấn trắng tung lên, trước những dòng nước amilin phun vào hành khách khi xe đi qua mà những con lừa kéo của chúng đi trong thân hình trắng toát màu hồ, đầu chúng đội mũ kết hoa trong suốt ba ngày hội sôi động. Nhưng lúc ồn ào hỗn độn Phlôrêntinô Arixa mời cô ta đi ăn kem vì anh không nghĩ rằng có thể đi xa hơn được nữa. Cô gái nhìn anh mà chẳng hề ngạc nhiên. Cô nói: "Được thôi em nhận lời, xin nói trước để anh biết: Em điên đấy". Nghe vậy, anh bật cười vui vẻ và dẫn cô lên ban công hiệu bánh kem để xem xe hoa diễu hành. Sau đó anh thuê một chiếc áo có mũ trùm đầu, mặc áo vào rồi cùng cô hòa lẫn trong đám người vừa đi vừa nhảy múa ở Quảng trường hải quan và họ cùng nhau vui hội như đôi tình nhân vừa mời chào đời, bởi vì thái độ lơ đễnh lúc ban đầu của cô biến mất và hiện cô đang vui đến cực điểm cùng với không khí sôi nổi của đêm hội: Cô nhảy hăng say và khéo léo như một vũ nữ chuyên nghiệp và quả thật cô là người hay tưởng tượng và hoạt bát, thích ứng với cuộc vui và là người có một niềm vui thật sôi nổi.
- Anh không biết rằng anh đang lẩnn khi đi chơi với em, - Cô gào lên trong tiếng cười ngây ngất giữa không khí vui tràn trề của đêm hội cacnavan. Em là một con điên trong nhà thương điên đấy.
Đối với Phlôrêntinô Arixa, đêm ấy là một đêm anh trở về với những đêm vui của tuổi vị thành niên khi anh chưa đau cái nỗi đau thất tình. Nhưng anh biết rằng một hạnh phúc dễ dãi sẽ chẳng bền được lâu và anh
biết được điều này nhờ những bài học thấm thía hơn là những kinh nghiệm. Vậy là trước khi tàn đêm, như vẫn thường xảy ra sau khi người ta phát phần thưởng cho những ai cải trang khéo nhất, anh giao hẹn với cô gái rằng cả hai sẽ cùng nhau đến ngọn đèn hải đăng để ngắm buổi bình minh thức dậy trên biển. Cô gái nhận lời đầy thích thú nhưng với điều kiện là sau khi người ta phát phần thưởng xong thì mới đi.
Phlôrêntinô Arixa vẫn giữ mãi ý nghĩ sáng tỏ rằng chính sự chậm trễ ấy đã cứu sống mình. Quả nhiên thế, khi cô gái vừa ra hiệu cho anh để cả hai người cùng đi đến ngọn đèn hải đăng thì hai nhân viên bảo vệ và một y tá nhà thương điên Đivina Paxtôra xúm đến ôm lấy cô gái. Họ đã truy lùng cô ngay sau khi cô trốn thoát, tức là lúc ba giờ chiều, và lực lượng an ninh công cộng. Cô ta đã chặt đầu một nhân viên gác cổng và làm bị thương nặng hai người khác bằng con dao dựa giằng được của người thợ làm vườn. Chả là vì cô muốn đi dự dạ hội cacnavan nhưng bị những người này cản trở. Nhưng không một ai nghĩ ràng cô ta đang nhảy ở ngoài đường phố mà chỉ nghĩ rằng cô ta đang ẩn trốn trong một ngôi nhà nào đó giữa vô khối ngôi nhà trong thành phố mà họ từng lùng sục tới cả những bể nước ngầm của chúng.
Việc dẫn cô về nhà thương điên không phải là dễ. Cô ta tự vệ bằng chiếc kéo làm vườn giấu trong yếm ngực và người ta phải cần tới sáu người đàn ông mới mặc nổi cho cô chiếc áo của người điên, trong khi đám đông vui hội tại Quảng trường Hải quan vỗ tay và reo hò náo nhiệt mà tưởng rằng cái vụ bắt người đẫm máu kia là một trong những trò hề vẫn thường xảy ra trong đêm hội cacnavan. Phlôrêntinô Arixa đau đớn bần thần cả người và kể từ hôm thứ tư ngày lễ Tro trở đi, ngày nào anh cũng đi qua trên phố Đivina Paxtôra, tay mang theo một hộp sôcôla. Anh dành nó cho cô gái. Anh đứng mà nhìn những người đàn bà điên bị giam từ các cửa sổ ném cho mình những lời thô tục mà anh chìa ra cho họ những hộp kẹo sôcôla khiến họ xô đẩy nhau, tranh giành nhau làm ầm ĩ cả phòng giam người điên để xem may ra cô ta có thò đầu qua song cửa quan sát không. Nhưng không bao giờ anh nhìn thấy cô gái ấy. Mấy tháng sau, khi anh xuống xe lừa kéo, một em bé gái đi cùng với người cha đã chìa tay xin anh một chiếc kẹo sôcôla trong cái hộp trên tay anh. Người cha mắng em bé và vội vàng xin lỗi anh, nhưng Phlôrêntinô Arixa đưa ngay cho bé gái cả cái hộp kẹo mà nghĩ rằng hành động của nó đã giảit mình khỏi mọi nỗi đắng cay và anh vỗ vai của người cha để ông ta yên lòng.
- Đó là những chiếc kẹo giành cho một mối tình đã bị quỷ tha ma bắt mất rồi, - anh nói với ông ta.
Như một niềm an ủi của số phận, cũng ngay trên xe khách do lừa kéo ấy anh đã làm quen với Lêôna Catxiani, vốn là người vợ thật sự của đời anh, mặc dù cả anh lẫn cô không bao giờ ý thức đầy đủ về điều này và cũng chẳng bao giờ chung đụng xác thịt với nhau. Anh cảm thấy sự có mặt của cô gái ngay trước lúc nhìn thấy cô, khi anh đi trên chuyến xe khách năm giờ chiều để trở về nhà: Đó là một cái nhìn rất vật chất đã chạm phải người anh, nó tựa như một ngón tay cốc nhẹ vào người anh. Anh ngước mắt lên và anh nhìn thấy cô gái ngồi ở đầu đối diện, nhưng rất rõ nét giữa những vô vàn hành khách ngồi trên xe. Cô gái không chịu lảng tránh ánh mắt sang nơi khác. Trái lại, cô cứ trân trân nhìn anh rất trơ trẽn đến mức anh chỉ có thể nghĩ rằng cô ta là người da đen, trẻ trung và kháu khỉnh, nhưng không nghi ngờ gì: Cô ta như một con điếm. Anh đã bỏ qua cô ta trong cuộc đời mình bởi vì anh không thể chịu nổi cái nhục phải trả giá cho ái tình. Không bao giờ anh trả giá, hoặc phải mua ái tình.
Phlôrêntinô Arixa xuống xe ở bến cuối cùng ngay tại Quảng trường Lôt Côchêt 3, và anh vội vàng lẩn vào chợ đang đông người vì bà mẹ đợi anh vào lúc sáu giờ chiều. Khi vừa ló ra ở phía bên kia đám người họp chợ anh lại nghe rõ tiếng đế giày của đàn bà nện rất vui nhộn trên mặt đường nhựa. Anh quay đầu lại, nhìn để tự thuyết phục mình về điều đã được biết rõ: chính là cô ta. Cô ta ăn mặc y hệt như những cô gái nô lê trong các bức tranh với một chiếc váy phồng nhiều nếp gấp mà mỗi bận nhảy qua những ổ gà nó vung vẩy như đang khiêu vũ, một chiếc áo để hở cả hai vai trần, một chuỗi vòng hạt sặc sỡ màu, một chiếc khăn trắng. Những thứ trang sức này đều đã được anh quen biết trong khách sạn ngoài bến cảng. Thường vẫn xảy ra điều này: vào lúc sáu giờ chiều bọn gái điếm vẫn chưa hề ăn điểm tâm và thế là họ chỉ còn mỗi một biện pháp sử dụng tình dục như là một con dao găm của kẻ cướp đường và các cô sẽ dí ngay nó vào yết hầu người đàn ông bị họ gặp đầu tiên ngoài đường phố: muốn sống hay muốn chết. Để thử xem có đúng thế không, Phlôrêntinô Arixa liền đổi hướng đi, anh rẽ vào con đường Căngđilênô rất vắng và thé là cô ta cũng cố dấn thân để đuổi kịp anh. Anh dừng bước, quay mặt lại, chặn đường cô ta bằng hai cánh tay giang rộng ra. Cô ta cũng đứng lại ngay trước mặt
- Nhầm to rồi cô em xinh đẹp ạ, - Anh nói. - Anh sẽ chẳng cho em tiền đâu.
- Dĩ nhiên là thế, - Cô ta nói. - Điều anh vừa nói hiện rõ trên gương mặt anh rồi.
Phlôrêntinô Arixa nhớ lại câu nói của viên thầy thuốc gia đình, cha đỡ đầu của anh lúc còn nhỏ. Nhưng đề cập tới bệnh táo bón kinh niên của anh, viên thầy thuốc nói: "Thế gian này được chia thành hai loại người: loại ị được và loại không ị được". Về thứ lý thuyết này, viên thầy thuốc đã xây dựng nó thành một thứ lý thuyết về cá tính mà ông cho rằng có lẽ còn sáng tỏ hơn cả thuật xem tử vi. Nhưng với kinh nghiệm thu được trong nhiều năm tháng của cuộc đời Phlôrêtinô Arixa đã diễn dạt nó dưới một dạng khác: "Thế gian này được chia thành hai loại người, loại làm tình và loại không làm tình". Anh vốn không tin có loại người thứ hai này: Khi họ ra khỏi con đường hẹp, có một cái gì đó đối với họ hết sức lạ kỳ đến mức cả hai cùng hãnh diện về tình yêu và làm như thể họ vừa sáng tạo ra nó vậy. Những kẻ thường xuyên làm tình với nhau, trái lại, họ chỉ sống riêng cho cái chuyện ấy. Họ cảm thấy dễ chịu bởi vì họ biết rõ ràng cuộc đời mình phụ thuộc vào thái độ thận trọng biết giữ kín chuyện riêng tư của người kia chẳng bao giờ họ nói thêm nữa về những chiến tích của mình, chẳng tin tưởng ở bất cứ ai họ cùng làm những động tác giả để đánh lừa người khác cho đến khi họ nổi tiếng là những người bất lực, những kẻ lạnh lùng và trước hết là những kẻ ái nam ái nữ nhưng là trường hợp của Phlôrêntinô Arixa. Nhưng họ rất làm thích thú trước sự nhầm lẫn ấy bởi vì chính sự nhầm lẫn đến lượt nó lại che chở cho họ. Họ cùng thuộc giới những người kín đáo mà những người bạn thân thiết có thể nhận ra nhau trong thế giới này không cần đến một thứ ngôn ngữ chung. Vì thế mà Phlôrêntinô Arixa không ngạc nhiên trước câu trả lời của cô gái: Cô ta là một trong những người thuộc giới mình và vì thế anh biết rằng cô biết.
Đó là một khuyết điểm trong đời anh, một khuyết điểm không thể dễ dàng cho qua được đến mức không giây phút nào, không ngày nào trong suốt cuộc đời cho đến phút cuối cùng, lương tri không nhớ tới điều đó. Cái mà cô gái đòi hỏi ở anh không phải là ái tình, càng không phải là thứ ái tình phải mua bán, mà là việc làm một việc làm bất kỳ nào đó với một thứ lương tháng thế nào cũng xong trong Hãng tàu thủy Caribê. Phlôrêntinô Arixa cảm thấy ngượng ngùng chết được về hành động mình dẫn cô ta đến gặp người phụ trách nhân lực trong hãng và ông này nhận cô vào làm việc với cấp bậc lương thấp nhất trong bộ phận tổng hợp. Cô đã làm việc tại đây trong ba năm liền với thái độ, khiêm tốn và tận tụy.
Các phòng làm việc của Hãng tàu thủy Caribê ngay từ hồi đầu thành lập, nhìn thẳng ra cầu cảng, khác hẳn với cảng của những con tàu vượt đại dương ở mé bên kia vịnh, cũng khác hẳn với bến thuyền của chợ ở vịnh Animat. Đó là một tòa nhà gỗ mái lợp tôn, một ban công dài có hàng cột đỡ ở phía mặt tiền, vài cửa sổ có lưới sắt chắn ngang ở cả bốn mặt và qua những cửa sổ này tàu hiện nguyên hình trên cảng giống như những bức tranh treo trên tường. Khi các ông chủ hãng người Đức xây dựng ngôi nhà này, các ông cho sơn đỏ toàn bộ mái tôn, sơn màu trắng bóng toàn bộ những tấm ván thưng chung quanh nên ngôi nhà nom y hệt một chiếc tàu thủy chạy trên sông. Sau đó người ta cho sơn màu xanh nước biển và ở thời Phlôrêntinô Arixa vào làm việc tại hãng thì ngôi nhà này bị bụi phủ đầy chẳng có màu sắc rõ ràng, và trên mái tôn đã han rỉ, bên cạnh những tấm cũ có và những tấm tôn mới. Phía sau ngôi nhà, trên một cái sân lát đá xung quanh rào lưới sắc có hai cửa hàng lớn mới được xây dựng gần đây, và ở phía cuối là một đoạn kênh bị bịt kín hai đầu trong đó chứa thứ nước bẩn, bốc mùi xú khí. Đây là nơi để mục ruỗng những thứ bỏ đi trong một nửa thế kỷ kinh doanh đường sông. Đó là xác những chiếc tàu được dùng làm tư liệu lịch sử: từ Ximôn Bôliva cắt băng chạy thử cho đến những chiếc tàu tân tiến hơn đã sử dụng quạt điện trong các phòng giường nằm. Phần lớn những chiếc tàu này đã bị tháo gỡ các phụ tùng để dùng vào các tàu còn đang sử dụng nhưng vẫn còn nhiều chiếc còn tốt mà dường như chỉ cần sơn quét và cho chạy lại thì chúng vẫn chạy tốt không hề làm kinh động ngay cả những con kỳ đà và cũng chẳng làm bật gốc những cây hoa súng vàng từng mang lại vẻ hoài nhớ cho những chiếc tàu này.
Bộ phận quản lý của hãng ở tầng trên của ngôi nhà. Tầng này được chia thành các phòng làm việc nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi và được trang hoàng đẹp mắt, chúng tựa như những phòng giường nằm ở trên tàu, bởi vì chúng được thiết kế bởi các kỹ sư đóng tàu chứ không phải do các kiến trúc sư thông dụng bình thường. Ông chú Lêông XII làm việc trong một phòng y hệt các phòng khác, chỉ khác một chi tiết thôi, ấy là việc vào tất cả các buổi sáng, trên bàn viết của Đôn phải có hoa tươi, bất kỳ loại hoa có hương thơm nào cũng được, cắm trong bình hoa thủy tinh. Tầng dưới của ngôi nhà là bộ phận phục vụ khách đi tàu trong đó có một phòng đợi kê các tấm ghế băng thô và một quầy bán vé cùng một phòng thu nhận hàng gửi. Phần còn lại của tầng dưới là nơi làm việc của bộ phận tổng hợp mà chỉ riêng cái tên tổng hợp của nó cũng đủ cho ta ý niệm về một công việc không cụ thể, về một kết quả không cụ t
hể mà những nhân viên ở đây đóng góp cho công việc kinh doanh của hãng, và đó cũng là nơi những vấn đề không được giải quyết trong suốt quá trình tồn tại của hãng này sẽ nhận được cái chết thảm hại. Đó chính làm việc của Lêôna Catxiani, người bị khuất đi sau chiếc bàn viết của học trò giữa những tải ngô chất đống và đống giấy tờ gồm những vấn đề không có phương hướng giải quyết. Đó cũng là ngày ông chủ Lêông XII đến thăm phòng này để xem xem mình có nghĩ được điều gì bổ ích ngõ hầu giúp cho bộ phận tổng hợp làm việc tốt hơn. Sau ba giờ hỏi han, suy nghĩ và kiểm tra công việc cụ thể với những người làm công trong bộ phận này, Đôn trở về phòng làm việc của mình mà lòng đau đớn vì ý tưởng sáng tỏ này: không gặp bất kỳ một giải pháp nào ngõ hầu giải quyết quá nhiều vấn đề, ngược lại hoàn toàn, Đôn gặp những vấn đề mới, muôn hình muôn trạng mà không một giải pháp nào có thể giải quyết được.
Ngày hôm sau, khi Phlôrêntinô Arixa bước vào phòng làm việc của mình đã thấy một bản tường trình của Lêôna Catxiani cùng với lời đề nghị của cô rằng anh hãy nghiên cứu kỹ bản tường trình này và sau đó nếu anh thấy nó thích hợp thì hãy trình lên ông chú anh. Cô là người duy nhất không hề nói một lời trong suốt buổi chiều trước khi Đôn Lêông XII kiểm tra công việc tại đấy. Cô đã giữ đúng thái độ đúng mức của một nhân viên loại thường, nhưng trong bản tường trinh này cô cũng nói rõ việc làm này không với mục đích xấu xa mà chỉ là để tôn trọng những người phụ trách bộ phận tổng hợp. Đó là một thái độ chân thành hiếm thấy. Ông chú Lêông XII những muốn thay đổi tổ chức về căn bản bộ phận này nhưng Lêôna Catxiani nghĩ ngược lại hoàn toàn. Cô nghĩ: cứ theo lô gich đơn giản mà xét thì sẽ thấy bộ phận tổng hợp trên thực tế không tồn tại, nó chính là cái thùng rác chứa đầy những vấn đề phức tạp nhưng vô nghĩa mà những bộ phận khác thoái thác trách nhiệm đã ném chúng xuống đây. Giải quyết cho vấn đề này là giải tán bộ phận tổng hợp và trả lại vấn đề trên cho các phòng để họ tự giải quyết lấy.
Ông chú Lêông XII không hề biết Lêôna Catxiani là ai và cũng chẳng nhớ rõ ai có thể là Lêôna Catxiani trong buổi họp chiều hôm qua nhưng khi đọc bản tường trình, Đôn đã gọi cô lên văn phòng và hai người đóng cửa lại nói chuyện với nhau trong hai giờ liền. Họ nói về mọi vấn đề. Vấn đề nào cũng được đề cập ngắn gọn phù hợp với phương pháp mà Đôn sử dụng để làm quen với nhân viên. Bản tường trình thật là giản dị và đầy đủ và giải pháp đã có hiệu quả mong muốn. Nhưng ông chú Lêông XII không quan tâm lắm đến bản tường trình, mà ngược lại quan tâm đến cô gái. Điều mà ông quan tâm đến cô là những môn học duy nhất sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học được cô học ở trường Sombrêria. Ngoài ra cô đang học tiếng Anh theo phương pháp cấp tốc tại gia mà không cần có thầy dạy và từ ba tháng nay về ban đêm cô đang học đánh máy chữ, đó là một nghề mới mẻ đầy triển vọng như trước đây người ta từng nói đến nghề điện báo viên và từng được nói đến trước khi có máy hơi nước.
Khi kết thúc cuộc nói chuyện, ông chú Lêông XII bắt đầu gọi cô chỉ bằng tên Lêôna, một tên trùng của mình, một cách rất thân mật và từ đó trở đi Đôn chuyên gọi cô theo cách ấy. Đôn đã quyết định ký văn bản để giải thể bộ phận tổng hợp, trả lại các vấn đề chưa được giải quyết về các phòng để các phòng giải quyết, đúng như ý kiến của Lêôna Catxiani và Đôn đặt ra một chức vụ không có tên gọi, cũng không có những công việc đặc biệt và giao cho cô chức vụ ấy. Trên thực tế cô là thư ký riêng của Đôn. Buổi chiều ấy, sau khi chôn vùi một cách lặng lẽ bộ phận tổng hợp, ông chú Lêông XII hỏi Phlôrêntinô Arixa rằng anh đã lôi được Lêôna Catxiani từ xó xỉnh nào về và anh đã trả lời chú mình rất thật thà.
- Vậy cháu hãy trở lại xe khách và hãy mang về đây cho chú tất cả các cô gái như cô này mà cháu gặp được, - Đôn nói với anh. - Với hai hoặc ba cô gái như cô Lêôna, chúng ta sẽ vớt được chiếc tàu chở bị chìm của cháu đấy.
Phlôrêntinô Arixa hiểu điều đó là một trò đùa tếu đặc trưng cho tính cách của ông chú Lêông XII, nhưng ngày hôm sau anh không thấy chiếc xe mà trước đây sáu tháng hãng giành cho anh đi và anh hiểu rằng người ta lấy lại xe để anh đi xe khách công cộng mà tìm các nhân tài còn mai danh ẩn tích. Về phần mình, Lêôna Catxiani liền được hãng chấm dứt mọi nghi ngờ trước đây và được tin cẩn hoàn toàn. Trong ba năm tiếp theo cô vẫn đảm nhiệm công việc theo dõi chung và bốn năm sau đó cô bước tới ngưỡng cửa của văn phòng tổng thư ký nhưng cô từ chối ngay chức vụ này bởi vì hiện nay cô chỉ thấp hơn Phlôrêntinô Arixa có một bậc mà thôi. Cho đến thời điểm này cô đang làm việc dưới quyền của anh và cô chỉ muốn được như vậy thôi mặc dù trên thực tế sự việc diễn ra ngược lại hoàn toàn: Chính Phlôrêntinô Arixa cũng không biết rằng anh mới là người đang làm việc dưới sự điều khiển của cô. Quả thật là như vậy: anh chỉ làm mỗi việc thực hành những điều cô nghĩ ra và đề xuất trong Ban lãnh đạo chung để giúp anh leo lên cấp bậc ngày càng cao nhằm chống lại những kẻ thù giấu mặt của anh.
Lêôna Catxiani có một biệt tài ranh ma trong việc điều hành các chuyện kín và bao giờ cô cũng biết cần phải dừng lại đúng lúc. Cô là người có năng lực, tính tình trầm lặng và một trí thông minh ngọt ngào. Nhưng khi cần thiết, nhất là khi tâm hồn đau khổ, thì rũ bỏ hết mọi ràng buộc để trở thành một người có cá tính thô bạo. Nhưng chưa bao giờ cô nổi giận vì mình và cho mình. Mục đích duy nhất của đời cô là bằng bất cứ giá nào cũng phải quét cho sạch những cản trở trên cái thang danh vọng, kể cả máu nếu không có biện pháp tốt hơn, để cho Phlôrêntinô Arixa bước lên địa vị từng d mà anh không hề tính toán kỹ đến sức mạnh của chính mình. Dĩ nhiên Lêôna Catxiani đã làm điều đó bằng tất cả mọi hình thức với một khát vọng quyền lực không gì có thể đè bẹp nổi của cô nhưng thực ra cô làm với một ý thức rõ ràng rằng mình làm cho anh mà thôi. Quyết tâm của cô là thế, đến mức chính anh chàng Phlôrêntinô Arixa kia cũng bị mất phương hướng hành động và trong một thời điểm bất hạnh anh định cản bước cô gái mà cứ nghĩ rằng cô gái đang cản bước mình. Lêôna Catxiani đã đặt anh vào đúng vị trí của mình.
- Xin anh đừng tưởng nhầm, - cô nói với anh. - Em sẽ từ bỏ mọi thứ này nếu anh muốn, nhưng xin anh hãy nghĩ cho kỹ đã.
Phlôrêntinô Arixa - quả thật vẫn chưa hề nghĩ tới - lúc này phải suy nghĩ cho thật chính chắn những khả năng của mình cho phép và đã trao cho cô vũ khí của anh. Sự thật là trong hoàn cành những cuộc tranh giành nội bộ diễn ra một cách thầm lặng trong hãng kinh doanh thường xuyên có khủng hoảng, trong hoàn cảnh thất bại nặng nề diễn ra trong việc săn lùng tình yêu không mệt mỏi và trong hoàn cảnh hình ảnh Phecmina Đaxa ngày càng mờ nhạt đi, chính anh chàng Phlôrêntinô Arixa lại không có lấy một phút giây bình yên trong tâm hồn mình trước hình ảnh rực rỡ của người phụ nữ da đen dữ dằn đội lốt con vật thân hình bê bết bùn cứt và tình yêu. Đến mức nhiều lần trong thâm tâm, anh từng đau khổ lấy làm tiếc rằng cô gái lại không phải cái điều trên thực tế anh đã nghĩ ở buổi chiều làm quen với cô để với nguyên tắc ứng xử của mình xóa sạch vết tích và có thể ngủ với cô cho dù cô phải trả giá bằng những hạt vàng cốm cũng vui lòng, bởi Lêôna Catxiani vẫn cứ là cô gái anh gặp trên xe khách buổi chiều ấy, cô vẫn mặc những bộ váy áo kêu sột soạt, vẫn đội những chiếc khăn đầy sắc màu, vẫn đeo những chiếc vòng tay làm bằng xương, những vòng cổ và nhẫn đeo tay làm bằng đá giả ngọc, vẫn là một cô gái dạn dĩ ở ngoài đường. Sự thay đổi rất ít ỏi mà năm tháng qua đi để lại dấu ấn trên diện mạo của cô đó là hậu quả của những công việc cô làm vì lợi ích của anh. Cô đi trong lứa tuổi chín chắn nhất, rực rỡ nhất. Những niềm vui hân hoan của đàn bà trong cô càng sôi động hơn và cơ thể người Phi hăng say của cô ngày càng săn chắc hơn. Phlôrêntinô Arixa không tự quay trở lại thời kỳ mười năm trước đây để bằng cách ấy chuộc lại khuyết điểm ban đầu của mình. Cô gái làm tất cả để giúp anh trên mọi phương diện nhưng đã không giúp anh trong phương diện tình yêu này.
Có một đêm ở lại làm việc cho đến khuya, như lâu nay vẫn thế kể từ sau khi bà Tranxitô Arixa qua đời, Phlôrêntinô Arixa lúc ra về nhìn thấy trong phòng làm việc của Lêôna Catxiani đèn vẫn thắp sáng. Anh mở cửa mà không hề gõ cửa để xin phép và anh thấy cô gái vẫn còn ở trong phòng: một mình ngồi trên bàn viết, vẻ nghiêm nghị, tr, mắt đeo cặp kính mới cho cô diện mạo của một viện sĩ viện Hàn lâm. Với một cú giật mình đầy thú vị, Phlôrêntinô Arixa nhận ra chỉ có hai người, anh và cô gái ở trong nhà, còn ở bên ngoài: bến cảng vắng bóng người, thành phố im lìm như đang ngủ, đêm vĩnh hằng trùm trên mặt biển sợ sệt, tiếng còi buồn rú kêu ở ngoài khơi của một chiếc tàu cập bến chậm hơn một giờ. Anh đứng hai tay chống háng, như điệu bộ anh từng làm trước đây trên con đường hẹp Canđilênô để chặn bước cô gái. Bây giờ Phlôrêntinô Arixa làm lại cái điệu bộ ấy chỉ là để cô gái không nhận ra đầu gối anh không được săn chắc như xưa nữa.
- Lêôna của lòng anh, em hãy nói đi, nói cho anh biết, - anh nói. - Đến bao giờ chúng ta thoát ra khỏi tình trạng hiện nay!
Cô gái bình tĩnh gỡ cặp kính cận ra, vẫn tự chủ tuyệt đối và với nụ cười rạng rỡ chiếu sáng tâm hồn anh. Chưa bao giờ cô xưng hô sàm sỡ với anh.
- Ôi, Phlôrêntinô Arixa thân mến, - cô nói, - đã mười năm nay em ngồi ở đây để đợi anh hỏi điều đó đấy.
Đã chậm mất rồi, thời cơ đã đi qua rồi cùng cô gái ngồi trên xe khách do lừa kéo. Thời cơ ấy luôn luôn ở bên cạnh cô gái trên chính chiếc ghế cô ngồi, nhưng bây giờ nó đã vĩnh viễn ra đi. Sự thật là sau khi biết bao trò ranh mà kín đáo cô từng làm vì anh, sau bao việc nhơ nhuốc cô từng chịu đựng thay cho anh, bây giờ cô đi xa hơn anh rất nhiều trong cuộc đời và hiện đang ở một thời điểm còn xa hơn rất nhiều so với cuộc đời anh. Cô yêu anh quá tha thiết đến mức đãng lẽ để đánh lừa anh cô lại muốn tiếp tục làm ra vẻ yêu anh nhiều hơn dù có phải làm cho anh biết qua một hình thức bất ngờ nhất, đau khổ nhất.
- Đứng! - Cô bảo anh - Em có cảm tưởng em bên anh như đang nằm bên cạnh đứa con trai mà chẳng bao giờ em
có được.
Phlôrêntinô Arixa cảm thấy ớn xương sống trước câu trả lời ấy. Anh nhận ra rằng câu nói cuối cùng kia chưa chắc đã là của cô gái. Anh nghĩ rằng khi một người đàn bà nói rằng không thì họ đang đợi anh phải van nài trước khi họ có quyết định cuối cùng; nhưng với cô thì lại khác: Không thể chơi trò mạo hiểm để nhầm lẫn đến lần thứ hai. Anh rút lui một cách vui vẻ, thậm chí còn cảm thấy thú vị, vì đối với cô chuyện này thật chẳng dễ dàng. Từ đêm ấy trở đi, bất cứ lúc nào bọn họ có dịp đứng trong bóng tối, dục vọng xác thịt trong con người Phlôrêntinô Arixa cũng tan biến đi mà anh không hề cảm thấy cay đắng và anh hiểu rằng người là bạn của một người đàn bà mà không cần phải ăn nằm với họ.
Lêôna Catxiani là người duy nhất mà Phlôrêntinô Arixa có thể nói cho biết chuyện thầm kín giữa anh với Phecmina Đaxa. Số rất ít những người biết chuyện này đã bắt đầu quên rồi, họ quên vì những lý do có sức mạnh lớn nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa ba người trong số ít ỏi ấy đã mang điều bí mật kia xuống mồ rồi: Ba mẹ anh là một người từ lúc trước khi chết đã xóa câu chuyện này khỏi trí nhớ của mình, Gala Plaxidia là hai, vốn là người phục vụ Phecmina Đaxa như hầu hạ con gái mình, bà Escôlaxtica Đaxa không thể quên được là ba, người đã mang đến cho anh bức thư tình đựng trong ví da mà anh nhận được lần đầu tiên trong đời và là người đã không thể tiếp tục sống thêm rất nhiều năm sau. Lêrenxô Đaxa, người mà lúc này anh không biết đích xác còn sống hay đã chết, có thể lộ chuyện này ra với mẹ bề trên Phrăngca đê la Lút với hy vọng bà ta sẽ không đuổi học con gái mình, nhưng có rất ít khả năng ông ta đi tuyên truyền nó. Chỉ còn lại mười một nhân viên điện báo ở cái tỉnh xa xôi của Hinđêbranđa Sanchêt, những người nhận những bức điện có ghi rõ họ tên và địa chỉ chính xác của anh và sau hết là Hinđêbranđa inHHHhh
Sanchêt và bày chị họ ương bướng của cô ta.
Phlôrêntinô Arixa quên mất rằng bác sĩ Huvênan Uchinô có thể cùng ở trong số những người biết chuyện thầm kín giữa anh và Phecmina Đaxa. Hinđêbrađa Sanchêt đã làm cho bác sĩ biết chuyện thầm kín của hai người trong chuyến đến thăm thành phố lần đầu tiên. Nhưng cô đã để lộ chuyện dưới hình thức hết sức ngẫu nhiên và trong thời điểm bất ngờ nhất đến mức bác sĩ Huvênan Uchinô có thể nghe tai này liền để lọt tai kia, như cô ta nghĩ, mà đúng hơn bác sĩ cũng chẳng thèm để ý. Đúng vậy, Hinđêbrađa Sanchêt từng nhắc đến Phlôrêntinô Arixa như là một trong những bài thơ đang mai danh ẩn tích mà theo cô họ đủ khả năng giật giải trong các Dạ hội thơ cơ. Bác sĩ Huyênan Ucbinô vất vả lắm mới không nhớ ra Phlôrêntinô Arixa là ai và cô nói với bác sĩ với thái độ chẳng vô tình chút nào nhưng cũng không có manh tâm rằng đó là người yêu duy nhất của Phecmina Đaxa trước khi cô lấy chồng. Cô nói với bác sĩ rằng đó là một tình yêu hết sức ngây thơ và nhất thời đến mức chỉ là một ký ức để làm mủi lòng người mà thôi. Bác sĩ Huyênan Uchinô cãi lại mà chẳng hề nhìn cô: "Tôi không hề biết cái anh chàng ấy lại là nhà thơ kia đấy". Nói xong ngài quên luôn cũng như ngài từng quên biết bao chuyện khác bởi vì nghề nghiệp của ngài buộc ngài phải nhanh chóng quên những gì cần phải quên.
Phlôrêntinô Arixa nhận thấy rằng những người biết chuyện thầm kín giữa mình và Phecmina Đaxa, trừ mẹ anh r thuộc phía Phecmina Đaxa. Về phía anh chỉ có mỗi một mình anh, một mình anh với sự bức bối cần phải được chia xẻ với một người nào đó nhưng cho đến lúc này chưa một ai đáng mặt để anh tin cẩn. Lêôna Catxiani là người duy nhất có thể tin tưởng được và anh chỉ chờ dịp và đang tìm cách thức hợp lý nhất để mà thổ lộ chuyện riêng tư với cô. Anh đang suy nghĩ để tìm một buổi chiều hè oi bức bác sĩ Huyênan Ucbinô trèo lên cầu thang dốc của Hãng Tàu thủy Caribê, cứ mỗi bậc ngài lại dừng một lát cố chịu cái nóng như thiêu đốt lúc ba giờ chiều, rồi ngày thở dốc xuất hiện ở phòng làm việc của Phlôrêntinô Arixa, người ướt đẫm tới tận ống quần, và nói như đứt hơi: "Tôi nghĩ rằng có lẽ trời sắp nổi bão mất". Rất nhiều lần Phlôrêntinô Arixa nhìn thấy ngài có mặt ở đâu tìm ông chú Lêông XII. Nhưng chưa bao giờ anh thấy mình có cảm giác đến lạ rằng việc này dứt khoát có liên quan tới một chuyện gì đó của cuộc đời anh.
Đó cũng là thời kỳ bác sĩ Huyênan Ucbinô đã vượt qua được những chặng đường hiểm hóc trong nghề nghiệp để khẳng định vị trí của mình và hiện nay đang như một gã ăn mày tay cầm mũ đi gõ hết cửa này đến cửa khác để quyên góp sự ủng hộ cho các viện nghệ thuật của mình. Một trong số những người hào hiệp đóng góp cho ngài bao giờ cũng là ông chú Lêông XII, người vào đúng lúc này vừa mới chợp mắt để ngủ trưa trong vòng mười phút đồng hồ ngay trên chiếc ghế lò xo đặt cạnh bàn viết. Phlôrêntinô Arixa đề nghị bác sĩ Huyênan Ucbinô hãy làm ơn đợi một lát ngay tại phòng làm việc của ông chú Lêông XII và về một khía cạnh nào đó mà nó còn là phòng chờ của khách trước khi vào tiếp kiến vị chủ hãng tàu thủy.
Họ đã từng gặp nhau trong nhiều dịp, nhưng chưa bao giờ lại giáp mặt nhau như vậy, có thể nói là mặt đối mặt và Phlôrêntinô Arixa có cảm giác thầm lặng rằng mình như đang muốn buồn nôn. Cuộc gặp gỡ kéo dài mười phút nhưng đó là mười phút dài đằng đẵng tưởng như không bao giờ kết thúc trong đó Phlôrêntinô Arixa đã ba lần hy vọng ông chú mình thức dậy sớm hơn thường lệ và cũng đã nhiều lần anh nhắc chiếc phích đựng cà phê đen lên. Bá sĩ Huyênan Ucbinô không uống một tách nào. Ngài bảo: "Cà phê là của độc hại". Rồi ngài vẫn tiếp tục nói về một đề tài mà không nghĩ rằng người nghe có nghe không Phlôrêntinô Arixa không tài nào chịu nổi cái phong cách khác người rất tự nhiên của ngài, cách nói lưu loát và dùng chữ chọn lựa của ngài, cái cách tu từ của ngài rất khéo léo đến mức những từ nhạt nhẽo nhất qua miệng ngài cũng có ý nghĩa bản chất, dường như chỉ vì chúng được ngài nói ra. Bỗng nhiên, bác sĩ thay đổi để lái câu chuyện một cách thật bất ngờ.
- Ông
Phlôrêntinô Arixa bị hỏi bất ngờ. Thực tình anh đã tham dự biết bao buổi hòa nhạc và các lần trình diễn nhạc kịch từng được tổ chức ở thành phố này, nhưng anh cảm thấy mình không đủ khả năng tiếp tục một cuộc nói chuyện về âm nhạc có tính chất phê bình hoặc trao đổi nhận xét của cá nhân. Anh thích và tiếp thu âm nhạc hiện đại rất nhạy bén, nhất là nhạc van trữ tình, vốn có một nét tương đồng nào đấy với những bản nhạc do chính anh sáng tác từ hồi mới thức dậy hoặc với những vần thơ cho riêng mình, đó là điều không thể nào từ chối được. Anh chỉ cần nghe qua một lần thôi và ngay sau đó không một sức mạnh nào của Thượng đế có thể dập tắt dòng âm nhạc ấy cứ vang lên trong tâm tưởng anh nhiều đêm trường. Nhưng đó không phải là một câu trả lời nghiêm chỉnh của một câu hỏi nghiêm chỉnh của một nhà chuyên môn.
- Tôi thích Gacđen, - anh trả lời.
Bác sĩ Huyênan Ucbinô hiểu anh. "À, tôi đã nghe rồi - ngài nói - Đúng là nhạt mốt đấy". Và thế là ngài từ bỏ việc kể lại một cách chi tiết những kế hoạch mới của mình mà như lâu nay ngài sẽ thực hiện bằng được không cần tới sự bảo trợ chính thức của chính quyền. Ngài nói để anh nhận ra tính chất kém cỏi đến mủi lòng của những vở kịch cho đến giờ có thể vẫn được duy trì và ngài nói về những vở diễn tuyệt vời của thế kỷ trước. Quả có như vậy: một năm nay ngài bán cổ phiếu để vời gánh hát bộ ba Corto-Casan-Tibô đến Nhà hát kịch và không một vị nào trong chính quyền thành phố biết họ là ai trong khi chính tháng ấy chỗ ngồi đã được bán hết nhẵn cho khán giả đi xem gánh hát kịch trinh thám của Ramôn, xem đoàn hài kịch của Đôn Manôlô Đê La Prexa, xem nhóm Santanêrat, những nghệ sĩ thay đổi hóa trang nhanh không thể tưởng được đã thay y phục ngay trên sân khấu vào lúc ánh chớp xanh lè lóe sáng, xem nghệ sĩ Đanisơ Đantanh mà người ta quảng cáo là vũ nữ cổ của Polies Bergère, xem đến cả anh chàng Ursux đáng sợ, một người khỏe mạnh xứ Baxcơ đánh nhau tay không với con bò tót hung dữ, loại bò quen chọi nhau. Tuy nhiên cũng chẳng nên tự ca thán làm gì một khi chính những người Âu đang làm gương trong việc dấn thêm một bước nữa vào các cuộc chiến dã man trong khi chúng ta bắt đầu bước vào thời kỳ hòa bình sau chín cuộc nội chiến liên miên trong một nửa thế kỷ mà nếu nhìn nhận cho kỹ thì chúng chỉ có thể là một mà thôi: bao giờ cũng chỉ là một cuộc chiến tranh duy nhất mà thôi. Sự kiện duy nhất trong cái bài diễn văn hào hứng kia khiến Phlôrêntinô Arixa phải để ý là khả năng làm sống lại những Dạ hội Thơ ca, một trong những chiến tích vang dội nhất và bền lâu nhất trong số những công việc bác sĩ Huyênan Ucbinô từng trù liệu trong quá khứ. Anh phải cắn lưỡi thật đau để khỏi buột miệng kể cho ngài biết rằng chính anh đã là một người tham gia đầy nhiệt tình của cuộc th hàng năm từng hấp dẫn và lôi kéo những nhà thơ lừng danh nhất, không chỉ các nhà thơ trong nước mà còn có cả những nhà thơ thuộc khu vực Caribê.
Hầu như câu chuyện vừa mới bắt đầu thì hơi nóng trong không khí bỗng trở lạnh ngay tức khắc, một cơn gió lốc xô đập các cánh cửa và cửa sổ khiến chúng đập thình thình và phòng làm việc rung chuyển chao đảo đến tận nền móng tựa như cây đèn nền đang lung lay. Bác sĩ Huyênan Ucbinô dường như không nhận ra cơn gió đang ập đến bất thình lình. Ngài nói để phân biệt nó với những cơn bão hồi tháng bảy, rồi bỗng nhiên ngài nói về bà vợ mình. Ngài không chỉ ca ngợi Phecmina Đaxa như một người cộng sự nhiệt tình mà còn là linh hồn các công việc của mình. Ngài bảo: "Nếu không có bà nhà tôi thì tôi sẽ chẳng phải là ai trong cõi đời này". Phlôrêntinô Arixa nghe ngài nói trong lúc cố giữ vẻ bình thản, và thỉnh thoảng anh gật gật đầu tỏ ý tán thưởng, không dám ho he nói lấy một lời vì anh sợ giọng nói của mình sẽ phản lại mình. Tuy nhiên, chỉ thêm hai hoặc ba câu nói nữa cũng đủ để cho anh hiểu rằng trong hoàn cảnh bận nhiều việc bác sĩ Huyênan Ucbinô vẫn còn đủ thời gian để chăm sóc người vợ rất chu đáo như chính sự chu đáo của anh, và sự thật này khiến tâm hồn anh nhức nhối. Nhưng anh không thể phản ứng như ý muốn của mình, bởi vì lúc này trái tim mách bảo anh biết một trong những hành động tội lỗi của bọn gái điếm từng tác động trực tiếp đến trái tim: nó cho
anh thấy rõ ràng mình và người đàn ông kia vốn lúc nào cũng là kẻ thù riêng. Rằng anh và người đàn ông kia là những nạn nhân của chính một nỗi đam mê chung: hai con bò mộng cùng bị buộc dưới chính một cái ách. Lần đầu tiên trong hai mươi bảy năm liên tục chờ đợi, Phlôrêntinô Arixa không thể chịu nổi cái đau nhoi nhói trong tim mình: người đàn ông đáng kính kia cần phải chết để anh là người được hưởng hạnh phúc...
Cơn bão đã đi xa nhưng chỉ trong vòng mười lăm phút đồng hồ nó đã làm tốc mái những ngôi nhà ở các xóm thợ quanh đầm lầy và phá sập nhà của một nửa thành phố. Lại một lần nữa bác sĩ Huyênan Ucbinô hài lòng trước tấm lòng hào hiệp của ông chú Lêông XII và ngài ra về ngay không đợi mưa tạnh hẳn và ngài mang đi luôn cả chiếc ô cá nhân Phlôrêntinô Arixa cho mượn để ngài ra tới chỗ xe đợi. Nhưng anh không hề quan tâm đòi lại nó, ngược lại anh lấy làm vui lòng nghĩ rằng Phecmina Đaxa sẽ phải nghĩ ngợi khi biết ai là chủ của chiếc ô. Trong lúc lòng anh đang bàng hoàng trước cuộc nói chuyện đầy cảm kích thì Lêôna Catxiani đi qua phòng làm việc và anh cảm thấy đây là dịp duy nhất để mình thổ lộ chuyện thầm kín mà không cần phải băn khoăn thêm nữa, và việc này giống như thể việc khạc ra được một vật nghẹn nơi cổ không để cho mình sống thêm nữa: bây giờ hay chẳng bao giờ thổ lộ chuyện riêng tư với Lêôna Catxiani. Anh bắt đầu hỏi cô nghĩ gì về con người bác sĩ Huyênan Ucbinô. Cô gái không cần phải suy nghĩ đã trả lời anh: "Đó là người là rất nhiều việc, có lẽ quá nhiều việc, nhưng em nghĩ rằng không một ai biết bụng dạ ông ta ra làm sao". Sau đó, cô đăm chiêu suy tư mà lấy hai hàm răng đều đặn của người đàn bà da đen cắn nát chiếc tẩy và cuối cùng cô nhún vai để xua đi một vấn đề cô vô tình gây nên.
- Có lẽ chính vì thế mà ông ta làm biết bao nhiêu việc - Cô nói - Làm để khỏi phải nghĩ mà.
Phlôrêntinô Arixa định bụng lưu ý cô:
- Điều khiến anh đau lòng là ông ta cần phải chết, - anh nói.
- Trên thế gian này ai mà chẳng phải chết, - cô nói.
- Đành vậy, - anh nói. - Nhưng lão này cần phải chết trước tất cả mọi người.
Cô gái chẳng hiểu gì cả: cô lại nhún vai chẳng nói chẳng rằng rồi bỏ đi. Thế là lúc này Phlôrêntinô Arixa biết chắc rằng trong một đêm tương lai nào đó trên chiếc giường hạnh phúc cùng Phecmina Đaxa, anh sẽ kể cho người yêu biết rằng anh không hề thổ lộ chuyện kín giữa hai người cho bất kỳ ai ngay cả người duy nhất giành được quyền được biết chuyện này. Không, không bao giờ anh kể chuyện riêng tư này cho bất kỳ ai, kể cả Lêôna Catxiani, không chỉ vì anh không muốn mở cho cô ta xem chiếc hòm trong đó đựng vật báu này từng được gìn giữ cẩn thận suốt nửa cuộc đời mà còn vì chỉ đến lúc này anh mới hiểu rằng mình đã để mất chìa khóa của nó rồi.
Tuy nhiên, điều khiến lòng anh cảm động hơn cả trong buổi chiểu hôm ấy không phải chuyện vừa rồi. Vẫn còn lại trong anh nỗi hoài nhớ những năm tháng tuổi trẻ, cái ký ức sống động về các cuộc Dạ hội Thơ ca, mà tiếng vang của nó cứ ầm vang cả khung cảnh vùng Antidat vào ngày mười lăm tháng tư hàng năm. Bao giờ anh cũng là một trong những người tham gia cuộc thi nhưng bao giờ cũng vậy anh là người dự giải bí mật. Hai mươi tư năm trước đây, ngay từ khi người ta mở cuộc thi đầu tiên, anh đã vài lần dự thi nhưng cũng chẳng bao giờ anh được giải, ngay cả giải khuyến khích cũng không được. Nhưng anh không coi trọng điều đó bởi anh làm thơ, thi thơ không vì ham muốn giành được giải mà trái lại vì đối với anh cuộc thi thơ này có một sức hấp dẫn mê hồn: Phecmina Đaxa là người được giao cho việc bóc những phong bì niêm phong cẩn thận và đọc tên những người trúng giải trong buổi lễ công bố giải thưởng, rồi kể từ đó trở đi anh quyết định làm thơ để dự giải trong các năm
Lẩn mình trong bóng tối kề hàng ghế đầu tiên, với một bông hoa trà tươi rói bị sức rung động của con tim khao khát làm cho lay động rung rinh trên ve áo, Phlôrêntinô Arixa ngắm nhìn Phecmina Đaxa mở ba bì thư được niêm phong cẩn thận ngay trên sân khấu Nhà hát quốc gia vào đêm đầu tiên cuộc thi thơ. Anh tự hỏi trong trái tim cô sẽ xảy ra điều gì khi cô phát hiện ra anh là người giành được giải Bông Lan vàng. Anh tin chắc rằng cô nhận ra ngay chữ viết, rồi ngay lập tức cô nhớ lại những buổi chiều ngồi thêu dưới những bóng cây hạnh đào ở ngoài vườn, nhớ mùi hoa dành dành ướp thơm những phong thư, nhớ khúc nhạc van Nữ thiên thần được tấn phong lẫn trong gió những đêm khuya thanh vắng. Nhưng điều đó đã không xảy ra: Bông Lan vàng, giải thưởng vinh quang nhất của nền thơ ca quốc gia, lại được trao cho một người Hoa ngụ cư. Thái độ phản đối ầm ĩ chung mà sự quyết định trao giải kia gây nên đã khiến mọi người nghi ngờ tính chất nghiêm túc của cuộc thi thơ. Nhưng sự quyết định trao giải nhất cho một người Hoa ngụ cư là hoàn toàn đúng đắn và sự thống nhất tuyệt đối của ban giám khảo đã có được sự bình giá xác đáng đối với nghệ thuật làm thơ xônê rất tuyệt vời của nhà thơ này.
Không một ai nghĩ rằng người trúng giải lại là một người Hoa. Anh ta đến đây vào thời gian cuối thế kỷ trước nhằm chạy trốn dịch sốt rét vàng da từng tàn phá đất nước Panama đang trong lúc xây dựng con đường sắt nối liền hai bờ đại dương. Anh ta đến đây cùng với những người Hoa khác và họ đã ở lại đây cho đến khi chết, họ sống trong phong tục tập quán của người Trung Hoa, sinh con đẻ cái và đông đúc lên, họ giống nhau như đúc đến mức - người này với người khác trong bọn họ. Thoạt đầu, người ta cứ tưởng nhầm họ chưa quá mười tuổi đầu, thế mà trong số họ lại có những người có vợ có con và cả chó giữ nhà. Nhưng chỉ trong ít năm, người Hoa tràn ngập cả bốn phố ngoại vi thành phố cùng với những người Hoa mới đã lẻn vào đất nước này không để lại dấu tích lai lịch ở sở hải quan. Một số trong số những người Hoa trẻ trung kia bỗng chốc trở thành các vị trưởng lão già nua với những nếp nhăn đầy mặt đến mức không ai có thể giải thích nổi làm sao họ già đi nhanh thế. Nhân dân, với cảm nhận của mình, đã phân họ thành hai loại người: Những người Hoa xấu và những người Hoa tốt. Những người xấu là như những chú Ba Tàu mở các cửa hàng buồn tẻ ở ngoài bến cảng, là nơi họ ăn như một vị hoàng đế và chết bất đắc kỳ tử ngay bên bàn, bên cạnh một chiếc đĩa ếch rán tẩm bột hướng dương mà về những cửa hàng này người ta vẫn nghĩ rằng chúng chỉ là những bức màn che cho các vụ buôn bán thịt sống và đủ loại buôn bán gian lận khác. Những người tốt là những người Hoa làm việc ở các cửa hiệu giặt là, những người kế tục được cả một khoa học được sùng phục, những người trả lại cho khách hàng những chiếc áo sạch bong như mới, cổ và tay áo phẳng lỳ như bánh thánh vừa được cán xong. Người đánh bại bảy mươi hai địch thủ được rèn luyện tốt nhất trong cuộc thi thơ là một trong những chú khách tốt bụng ấy.
Khi Phecmina Đaxa đọc không một ai hiểu nổi tên của người được giải. Người ta không hiểu không chỉ vì nó là một cái tên lạ lẫm mà còn vì bằng bất kỳ hình thức nào không một ai biết rõ người Hoa được gọi tên như thế nào. Nhưng người ta chẳng phải suy nghĩ nhiều bởi vì anh người Hoa được giải từ dưới đã bước lên sân khấu miệng nở một nụ cười tươi tắn mà những người Hoa thường có mỗi khi về đến nhà sớm hơn thường lệ. Anh ta đến đây với niềm tin chắc thắng đến mức đã mặc sẵn cả chiếc áo lụa vàng thường dùng trong những lễ hội mùa xuân để nhận những giải thưởng. Anh ta nhận Bông Lan vàng mười tám cara và thích thú hôn lên nó trong khung cảnh ồn vang tiếng reo cười mỉa mai của những kẻ không tin. Anh ta điềm tĩnh, đứng đợi ngay ở giữa sân khấu. Anh ta cứ đứng im vẻ rất bình tĩnh như một vị thánh tông đồ của một Đấng Toàn năng khác kém phần bi thương hơn Đấng Toàn Năng của chúng ta và khi công chúng vừa trở lại im lặng anh ta đọc bài thơ được giải của mình. Không ai hiểu bài thơ. Nhưng khi tiếng hò reo vừa chấm dứt, Phecmina Đaxa thong thả đọc lại bài thơ đó với giọng trong trẻo của cô và công chúng liền chú ý nghe và thảy đều ngạc nhiên ngay từ dòng thơ đầu tiên. Đó là một bài xônê thuộc trường phái Thi Sơn thuần khiết, mà chỉ có bàn tay bậc thầy mới xen nổi vào trong bài thơ. Sự giải thích duy nhất có thể có được là cái ý tưởng hài hước nhằm chế nhạo các cuộc Dạ hội Thơ ca kia đã được một nhà thơ thuộc loại bậc thầy cấu tứ và anh chàng người Hoa này đã vay mượn nó với một cam kết giữ kín điều bí mật cho đến khi xuống mồ. Nhật báo Thương Mại, tờ báo truyền thống của chúng ta, định dựng dậy vinh dự dân tộc với một bài nghiên cứu bác học và hơi có vẻ mông lung khó hiểu về tính chất cổ kính và sự ảnh hưởng văn hóa của người Hoa ở vùng Caribê và quyền chính đáng của họ được tham gia các cuộc Dạ hội Thơ ca. Người viết bài nghiên cứu này không hề nghi ngờ rằng tác giả của bài xônê được giải kia chính là người đã cấu tứ nên bài thơ và ông ta đã nói rõ điều đó ngay trên nhan đề của bài viết: Tất cả mọi người Hoa đều là nhà thơ. Những người khởi xướng ra cái ý thơ hài hước kia, nếu quả thật là như vậy, đã mục ruỗng trong mồ với điều bí mật được giữ kín. Về phía mình, anh chàng người Hoa được giải nhất cuộc thi thơ đã chết vào đúng cái tuổi của người phương Đông mà không được xưng tội, và được chôn cùng với Bông Lan vàng trong chiếc quan tài, nhưng vẫn mang nỗi đắng cay không giành được cái điều hằng mong ước trong đời, đó là danh tiếng một nhà thơ. Nhân cái chết của anh ta, trên báo chí người ta nhắc lại cái vụ rắc rối từng được lãng quên trong các Dạ hội Thơ ca, các cô trinh nữ phô trương những chiếc sừng dê đặt lại các sự vật: đối với thế hệ mới bài xônê rất tồi tệ đến mức không một ai không nghi ngờ rằng trên thực tế bài thơ đãột anh người Hoa đã chết làm ra.
Phlôrêntinô Arixa luôn luôn nhớ vụ rắc rối ấy bên cạnh kỷ niệm về một người đàn bà đẫy đà không quen biết ngồi bên cạnh mình. Thoạt đầu buổi lễ công bố giải thưởng, anh phải để ý đến bà vì cái nước da trắng ngà của bà ta, vì mùi thơm thoát ra từ cái khổ người to béo hạnh phúc của bà ta, vì bộ ngực đồ sộ mà trên ve áo có gài một bông hoa ngọc lan giả của bà ta. Bà ta vận bộ váy áo nỉ bó khít lấy cơ thể, một bộ đồ như cái màu đen của đôi mắt háo hức và sôi nổi của bà ta. Mái tóc bà ta đen nhánh ôm lấy vai được giữ chặt bởi c
hiếc lược của người digan. Bà ta đeo vòng tay, một vòng cổ và vài chiếc nhẫn cùng một loại, tất cả đều bóng lộn. Bà ta còn chấm một nốt ruồi ở má phải. Trong tiếng hoan hô vang lần cuối, với vẻ mặt ái ngại chân thành bà nhìn Phlôrêntinô Arixa.
- Hãy tin rằng tự đáy lòng em rất buồn cho anh, - bà nói với anh.
Phlôrêntinô Arixa cảm động thực sự không chỉ vì lòng thông cảm xứng đáng đối với anh mà còn vì anh ngạc nhiên rằng ai đó cũng đã biết chuyện riêng tư của mình. Bà ta nói rõ: "Em biết được điều đó vì em thấy bông hoa trà cứ rung rinh lay động trên ve áo anh trong lúc cô ta xé bì thư. Bà chìa cho anh xem bông hoa ngọc lan làm bằng nỉ đang ở trong tay mình và bà ta tự mở lòng mình với anh:
- Vì thế, em cởi bông hoa của em, - bà nói.
Bà ta suýt khóc vì thất bại nhưng Phlôrêntinô Arixa, bằng sự nhảy cảm của kẻ săn đêm, liền cổ vũ bà:
- Chúng ta hãy đi tới một nơi nào đấy để cùng khóc với nhau.
Anh cùng đi với bà về nhà. Bây giờ họ đang đứng trước cửa nhà. Lúc này đã nửa đêm rồi, ngoài đường không một bóng người qua lại. Anh liền thuyết phục bà rằng hãy mời anh uống một cốc brandy trong lúc cùng nhau lần giở cuốn anbom để xem những bức ảnh ghi lại những sự kiện xã hội trong mười năm mà bà ta nói rằng bà ta vẫn giữ được. Mánh khóe đó đã lỗi thời nhưng lần này bất thình lình anh sử dụng, bởi vì bà ta là người đã nói về những tập anbom ảnh trong lúc họ đi bộ từ Nhà hát Quốc gia về nhà. Họ cùng nhau bước vào nhà. Điều đầu tiên Phlôrêntinô Arixa nhìn thấy từ ngoài phòng khách là cánh cửa phòng ngủ duy nhất đang mở cho thấy một chiếc giường rộng và sang trọng, đầu và đuôi giường có dát những cành lá bằng đồng, một chiếc khăn thêu kim tuyến. Chính hình ảnh phòng ngủ ấy khiến anh lúng túng. Có lẽ bà ta cũng nhận ra tâm trạng anh bởi vì bà ta đi vội đến đóng cửa phòng ngủ lại. Sau đó bà mời anh ngồi xuống ghế sôpha có con mèo đang ngủ, rồi bà đặt bộ sưu tập anbom của mình xuống bàn. Phlôrêntinô Arixa thong thả lần giở các trang anbom mà nghĩ nhiều hơn đến những bước sắp tới của câu chuyện giữa hai người rồi bỗng nhiên anh ngước mắt lên và nhìn thấy bà ta ngấn lệ. Anh khuyên bà hãy khóc cho thỏa, không ngần ngại gì cả, bởi vì tiếng khóc có tác dụng làm dịu nhẹ tâm hồn ta. Nhưng bà ta lại yêu cầu anh cởi bộ cúc chiếc nịt vú để mình khóc được dễ dàng hơn. Anh vội vàng giúp đỡ bà, bởi vì chiếc nịt vú được đóng rất chắc chắn nhờ hàng cúc ở phía sau lưng. Nhưng anh cũng chẳng phải cởi cúc, bởi vì chiếc nịt vú vừa mở ra nhờ sức đẩy của chính bà và thế là toàn bộ ngực đồ sộ của bà lộ ra thở căng lên.
Phlôrêntinô Arixa, vốn không bao giờ để mất cú thảng thốt ban đầu cả trong những trường hợp dễ dãi nhất, thong thả cho tâm hồn mình thám hiểm trên làn da bà ta bằng cách lấy ngón tay mơn trớn trên cổ bà, và bà ta rên rỉ trong tiếng rên của bé thơ đang khóc. Thế là anh hôn lên cổ bà, hôn nhẹ nhàng thôi, như đã lấy tay mơn trớn lên chỗ đó vì bà ta ngay lập tức quay ngoắt người lại, đối diện với anh là một thân xác đẫy đà, nóng hôi hổi của bà ta. Hai người ôm lấy nhau lăn lộn vài vòng trên sàn nhà. Con mèo đang ngủ trên sôpha thức dậy, kêu ư ử rồi nhảy chồm qua thân xác hai người. Bọn họ dò tìm lẫn nhau và đã gặp được nhau bất kể hình thức nào, đang ôm nhau lăn lộn trên đống anbom rách gáy, trên đống quần áo, người đầm đìa mồ hôi, và họ cũng chẳng thèm tránh những cú cào đầy giận giữ của con mèo vốn bị họ vô ý chọc tức. Từ đêm sau trở đi, bất chấp những vết xước còn rỉ máu do mèo cào trên người, họ tiếp tục làm tình với nhau, cứ như vậy trong vài năm liền.
Khi anh nhận ra rằng mình bắt đầu yêu bà thì bà đã ở thời kỳ hồi xuân của tuổi tứ tuần, còn anh gần tròn ba mươi tuổi. Bà ta tên là Xara Nôriêga, người từng có mười lăm phút được chúc mừng vì đã giật giải nhất với cuốn thơ nói về tình yêu của những người nghèo nhưng nó chẳng bao giờ được xuất bản. Bà là giáo viên dạy môn Nếp sống văn minh và môn Khái niệm về Luật hình sự tại các trường công và sống bằng đồng lương của mình trong một căn nhà thuê ở khi phố cổ Hêtxêmani. Bà từng có vài ba người yêu nhưng không một ai bà nghĩ rằng sẽ cưới làm chồng, vì thật là khó mà tìm được một người đàn ông cùng hoàn cảnh và cùng lứa tuổi với bà chịu cưới làm vợ một người phụ nữ mà anh ta đã ăn nằm trước khi cưới xin. Ngay chính bà cũng không nghĩ đến chuyện nuôi ảo tưởng ấy sau mối tình chính thức đầu tiên. Lần ấy bà yêu một thanh niên mười tám tuổi, người từng yêu bà say đắm đến mức có thể làm bất cứ điều gì nhưng chính anh ta chạy trốn trách nhiệm của mình một tuần trước ngày làm lễ thành hôn đã định để bà mất mặt với thiên hạ về cô người yêu bị sỏ mũi, hay đúng hơn là tai tiếng về một cô gái chưa chồng mà con ong đã tỏ đường đi lối về, như cách nói của thời ấy. Tuy nhiên, cái kinh nghiệm đầu tiên ấy, vừa phũ phàng vừa nhất thời, không hề để lại trong bà một mảy may ý nghĩ hờn tủi mà chỉ để lại một ý nghĩ sáng tỏ rằng có chồng hay không có chồng, có Thượng đế hoặc không có luật lệ, sống chỉ đáng sống khi ở trên giường lúc nào cũng có một người đàn ông. Điều mà Phlôrêntinô Arixa thích thú ở bà ta hơn cả là khi làm tình với nhau bà ta phải mút các đầu vú giả của trẻ con để đạt tới đỉnh cao của sự khoái cảm giữa hai người. Họ đã có cả một xâu đủ mọi cỡ to nhỏ, đủ mọi hình hài, đủ mọi màu sắc những cái vú giả mà họ thấy ngoài chợ và Xara Nôriêga treo ngay ở đầu giường để có thể lần tìm được trong những lúc khẩn thiết.
Mặc dù bà ta cũng như anh không bị ràng buộc gì và hơn nữa có thể bà ta không phản đối công khai hóa quan hệ giữa hai người nhưng ngay từ lúc đầu Phlôrêtinô Arixa đã ra điều kiện: hai người chỉ quan hệ với nhau thật kín đáo và coi mối quan hệ này như một cuộc mạo hiểm thầm kín. Anh khẽ khàng lách mình vào cửa sau, bao giờ cũng vào lúc đêm rất khuya và lẻn ra về trước khi trời hửng sáng một lúc. Anh cũng như bà đều biết rõ rằng một trong những ngôi nhà chung đụng và đông người như nhà của bà ta, sớm muộn gì hàng xóm cũng biết rõ chuyện của hai người mặc dù họ cố tình che giấu để đánh lừa hàng xóm. Dù chỉ là một hình thức đơn giản, Phlôrêntinô Arixa luôn luôn là như vậy, như anh thường đối xử với những cô gái khác trong suốt cuộc đời anh. Không bao giờ anh phạm một khuyết điểm không những với bà mà cả với những người đàn bà khác, cũng không bao giờ phạm tội phản bội. Nói như thế hoàn toàn không hề cường điệu một tí nào cả. Chỉ có một lần anh để lại dấu ấn của sự cam kết và suýt nữa cả hai phải trả giá bằng cả cuộc đời. Trên thực tế anh ứng xử như là một người chồng vĩnh viễn của Phecmina Đaxa, một người chồng chung thủy nhưng kiên trì, giải thoát mình khỏi chính sự trói buộc của bản thân nhưng không làm cho Phecmina Đaxa phải khó chịu vì nhận thấy anh phản bội mình.
Sự kín đáo tương tự như thế không thể tiếp tục mà không bị nhầm lẫn. Chính bà Tranxitô Arixa khi chết vẫn tin rằng đứa con được hoài thai nhờ tình yêu và được nuôi dưỡng cho tình yêu đã được miễn dịch trước mọi hình thức của tình nhờ ở chính sự thất vọng đầu tiên trong tuổi thanh niên của nó. Tuy nhiên, rất nhiều người tốt gần gũi anh hơn cả, những người biết rõ cá tính bí hiểm và sở thích những bộ quần áo thần bí và các loại nước hoa lạ lẫm của anh đều cùng có chung mối hồ nghi rằng anh chỉ được miễn dịch trước phụ nữ chứ không phải miễn dịch trước tình yêu. Phlôrêntinô Arixa biết rõ điều đó nhưng không bao giờ chịu cải chính. Xara Nôriêga cũng chẳng thèm bận tâm đến điều đó như vô số những cô gái khác anh yêu, và ngay cả những người đàn bà làm cho anh sung sướng và cũng sung sướng với anh, bà ta chấp nhận điều đó như một điều hiển nhiên: anh chỉ là một người đàn ông tạm bợ mà thôi. Anh đã tiến đến chỗ có mặt ở nhà bà vào bất kỳ thời giờ nào, nhất là vào buổi sáng ngày chủ nhật, vốn là những ngày thanh nhàn hơn cả. Bà ta liền bở dở công việc đang làm, dù việc gì cũng mặc lòng, rồi toàn tâm sức hiến thân cho anh ngõ hầu làm cho anh hạnh phúc ngay trên chiếc giường rộng lúc nào cũng được chuẩn bị sẵn cho anh và nó cũng là chiếc giường mà chẳng bao giờ bà ta cho phép anh có những hành động mang tính chất lễ nghi. Phlôrêntinô Arixa không hiểu nổi người đàn bà chưa hề có chồng làm sao lại có thể hiểu được kỹ lưỡng người đàn ông đến như vậy và cũng không hiểu làm sao bà ta điều khiển được thân thể ngọt ngào của mình rất lẹ làng và dịu hiền đến mức như một con cá heo đang bơi ở dưới nước. Bà ta tự bào chữa bằng cách nói rằng: "Trước hết, tình yêu là một tài nghệ bẩm sinh". Bà ta bảo: "Hoặc con người sinh ra đã biết rồi hoặc chẳng bao giờ biết". Phlôrêntinô Arixa đau thắt lòng nghĩ rằng bà ta phóng đãng hơn là điều bà ta giả vờ nhưng ngay lập tức anh buộc phải nuốt giận làm lành bởi vì anh cũng nói với bà ta, như từng nói với tất cả các cô gái khác, rằng bà ta là nhân tình duy nhất của mình. Giữa những việc anh ít thích thú, có việc anh cần phải bằng lòng với việc để con mèo cùng nằm trên giường. Đó là con mèo hay ghen nên Xara Nôriêga đã bọc móng nó lại để trong khi bọn họ ân ái với nhau nó không thể cào vào người họ.
Tuy nhiên, trong lúc họ gần như đạt đến đỉnh cao của lạc thú nhờ vần nhau trên giường cho đến khi mệt lử, bà ta vẫn thích giành những phút giây mệt mỏi sau khi làm tình cho thơ ca vốn được bà ta sùng kính. Không những bà có một trí nhớ đáng phục với những bài thơ trữ tình của thời đại mình, những bài thơ mới lạ của loại thơ ca này được in thành sách mỏng với giá hai hào được bán rong ngoài đường, mà ta còn lấy kim găm những bài thơ bà thích thú nhất lên tường để có thể giọng rung ngân nhất bà đọc vào bất cứ lúc nào. Bà ta cũng đã từng lấy các bài học Nếp sống văn minh và Khái luận về Luật hình sự vận thành thơ mười hai chân kiểu như người ta vẫn đặt thơ để nhớ mặt chữ mà viết cho đúng chính tả, nhưng những bài thơ này không được dư luận công chúng tán thưởng.
Đó là niềm hứng khởi đến cao độ của bà ta từng được tuyên bố mà đôi lúc trong khi ân ái với nhau bà vẫn ngâm vang những vần thơ, và Phlôrêntinô Arixa phải lấy cái vú giả của trẻ em nhét thật lực vào miệng bà gần như thể nhét nó vào miệng đứa bé đang khóc để nó nín đi.
Lúc quan hệ yêu đương của họ nở rộ nhất, Phlôrêntinô Arixa đã hỏi bà ta
rằng một trong hai trạng thái: nằm trên chiếc giường kêu cọt kẹt và trạng thái ngồi trong những buổi chiều thanh bình ngày chủ nhật, đối với bà trạng thái nào là tình yêu thì Xara Nôriêga đã an ủi anh bằng một luận cứ rất đơn giản rằng khi nào cả hai đều khỏa thân thì khi ấy là tình yêu. Bà ta bảo: "Tình yêu tâm hồn được kể từ thắt lưng trở lên còn tình yêu xác thịt kể từ thắt lưng trở xuống". Đối với Xara Nôriêga cái định nghĩa này rất hay để cấu tứ một bài thơ về tình yêu được phân định, một bài thơ mà cả hai người cùng viết bằng bốn tay và là một bài thơ bà ta gửi đi tham dự Dạ hội. Thơ ca vì bà nghĩ rằng không một ai cho đến lúc ấy đã sáng tác được một bài thơ mới lạ như vậy. Nhưng nó đã không trúng giải.
Xara Nôriêga cứ hậm hực trong lòng hoài trong lúc Phlôrêntinô Arixa đưa bà về nhà. Bởi có một điều bà không giải thích được nên bà cứ nghĩ rằng việc không tặng giải cho bài thơ của mình là một thủ đoạn của Phecmina Đaxa nhằm chống lại Phlôrêntinô Arixa trong lúc cùng đi, không để ý đến bà. Anh đang buồn rầu kể từ lúc trao giải thưởng bởi từ lâu nay anh không nhìn thấy Phecmina Đaxa đã đi học. Tuy nhiên, nếu cái tuổi làm mẹ của Phecmina Đaxa trước đây vẫn chưa hiện rõ nét thì đêm ấy, trước anh nó đã được bộc lộ rõ phần vì eo lưng xổ ra đôi chút và cách đi đứng có thư thái hơn, phần vì giọng nói không được trong trẻo như xưa khi bà đọc danh sách những bài thơ được giải thưởng.
Anh định nhớ lại những ký ức của mình nên lần giở những trang anbom phản ánh các Dạ hội Thơ ca trong lúc Xara Nôriêga đi chuẩn bị cái ăn. Anh thấy tờ bìa những tờ tạp chí, những tấm bưu thiếp ngả màu vàng thuộc loại vẫn được bày bán và cứ thế anh trở về với quá khứ, nó như một sự ôn lại đầy huyền ảo cái sự trớ trêu của cuộc đời mình. Cho đến lúc này anh vẫn duy trì quan niệm viển vông cho rằng thế giới là cái đang biến đổi mà theo nó phong tục, mốt thời trang cũng thay đổi, tất cả đều thay đổi trừ Phecmina Đaxa. Nhưng đêm ấy, lần đầu tiên trong đời, bằng một hình thức sáng tỏ anh thấy cuộc đời đang làm thay đổi Phecmina Đaxa như thế nào, thấy cuộc đời của chính anh cũng thay đổi như thế nào trong khi anh không làm gì ngoài việc chờ đợi. Chẳng bao giờ anh nói chuyện với ai về Phecmina Đaxa bởi vì anh tự biết rằng mình không đủ khả năng nói đến tên bà mà làn môi mình không tái nhợt đi. Nhưng đêm ấy, trong lúc anh giở các anbom như biết bao đêm thức trắng buồn tẻ trong ngày chủ nhật anh từng làm, Xara Nôriêga đã có được một trong những cảm nhận sáng rõ bất chợt đến từng làm lạnh bầu máu nóng trong người bà.
- Một con đĩ, - bà nói.
Bà ta nói vậy khi đi qua chỗ anh nhìn thấy bức ảnh chụp Phecmina Đaxa đóng giả con báo đen trong vũ hội giả trang và bà chẳng cần phải nói rõ tên để Phlôrêntinô Arixa biết rằng bà nói đến ai. Vì sợ mối quan hệ nào đầy có thể làm đảo lộn cuộc đời mình, anh vội vàng tự vệ một cách thận trọng. Anh bảo rằng anh chỉ quen biết Phecmina Đaxa từ xưa, rằng chưa bao giờ hai người chào hỏi nhau, rằng anh không hề biết một tí gì về đời tư bà ta nhưng anh thú nhận bà ta là một người phụ nữ làm nên sự nghiệp của mình từ tay không và trở nên nổi tiếng nhờ chính những công tích của mình.
- Không phải thế đâu. Bà ta được như ngày hôm nay là nhờ có một cuộc hôn nhân vụ lợi với một người đàn ông mà bà ta không yêu, - Xara Nôriêga ngắt lời anh. - Đó là cái cách hèn mạt nhất để làm điếm đấy anh ạ.
Bà Tranxitô Arixa cũng đã nói như thế với Phlôrêntinô Arixa để an ủi anh trong những ngày anh thất tình nhưng bà nói không gay gắt như thế mà vẫn giữ được tính chất nghiêm khắc trong cách nhìn đạo đức. Bị ớn lạnh tới tận tủy nhưng anh không tìm thấy một câu trả lời nào cho thật đúng lúc để đáp lại lời thóa mạ của Xara Nôriêga và do vậy anh cố tình lảng tránh câu chuyện. Nhưng Xara Nôriêga không để anh lảng tránh chừng nào anh chưa chịu đứng về phía mình để cùng công kích Phecmina Đaxa. Chỉ bằng một nhận thức cảm tính không thể giải thích được, Xara Nôriêga cứ khăng khăng cho rằng Phecmina Đaxa là tác giả cái mưu toan không trao giải cho bài thơ của mình. Thực ra, không có lấy một lý do nào để có thể tin được điều đó họ không quen biết nhau, không nhìn thấy nhau bao giờ và Phecmina Đaxa hoàn toàn không có liên quan gì với việc tổ chức cuộc thi thơ, nếu như chuyện riêng tư của Phlôrêntinô Arixa với Phecmina Đaxa trước đây vẫn được giữ kín. Bằng một hình thức dứt khoát, Xara Nôriêga nói: "Đàn bà chúng tôi đều là thầy bói cả đấy, anh ạ". Và thế là bà ta chấm dứt cuộc tranh luận giữa hai người.
Từ lúc đó trở đi, Phlôrêntinô Arixa bắt đầu nhìn Xara Nôriêga bằng một con mắt khác. Đối với bà ta năm tháng cũng qua đi. Tính tình sôi động trẻ trung của bà ta cũng héo tàn đi vô phương cứu vãn, tình yêu của bà ta cũng chỉ đọng lại trong lúc khóc sụt sùi, vì hai quầng mắt bà bắt đầu thâm quầng, biểu hiện không thể chối cãi được của những người đàn bà già nua đang chịu đắng cay. Bà ta là một bông hoa của hôm qua rồi. Mặt khác, trong lúc lòng hậm hực vì bài thơ không được trao giải, bà ta không để ý đến cốc rượu brandy của mình: trong lúc bọn họ ăn cơm trộn với dừa được hâm nóng lại, bà ta cân nhắc xem ai đóng góp ít ai đóng góp nhiều vào việc sáng tác bài thơ không trúng giải rồi trên cơ sở đó mà biết mỗi người đáng được bao nhiêu cánh hoa của Bông Lan vàng kia. Không phải là lần đầu tiên bọn họ giải trí trong các cuộc hội thi của người Bixăngty nhưng anh lại nhân cơ hội này để nhấm nháp cái đau của vết thương vừa mới mở và cả hai người lại lao vào cãi lộn vô ích từng trả lại cho họ những nỗi niềm ân hận của năm năm yêu thương.
Khi chỉ còn mười phút nữa thì đúng mười hai giờ đêm, Xara Nôriêga treo lên một chiếc ghế để lên dây cót chiếc đồng hồ quả lắc và bằng cách này bà nhắc anh nhớ đến giờ giấc, có lẽ bà muốn nói mà không cần phải nói ra miệng rằng đã đến giờ anh nên ra về rồi. Lúc ấy Phlôrêntinô Arixa cần phải nhanh chóng cắt đứt tận gốc mối quan hệ xác thịt không có tình yêu giữa hai người và anh tìm cơ hội để mình là người giữ phần chủ động như lâu nay anh vẫn làm như vậy. Anh thầm cầu mong Thượng đế giúp Xara Nôriêga sẽ cho phép mình nằm lại trên giường bà để anh còn nói với bà rằng không, rằng giữa họ với nhau bây giờ chẳng còn gì nữa. Anh mời bà ngồi bên cạnh mình khi bà ta lên xong dây cót đồng hồ. Nhưng bà ta cố ý giữ một khoảng cách nhất định nên đã ngồi xuống chiếc ghế xalông của khách. Phlôrêntinô Arixa chìa cho bà ta ngón tay ướt rượu brandy để bà ta mút nó như bà ta vẫn thích làm động tác này trước khi hai người ân ái với nhau. Bà ta liền tránh ngón tay:
- Bây giờ thì không, - bà ta nói. - Tôi đang đợi chờ một người khác.
Kể từ khi bị Phecmina Đaxa ruồng bỏ, Phlôrêntinô Arixa đã học để biết cách giữ cho mình là người có những quyết định cuối cùng. Trong hoàn cảnh khác ít cay đắng hơn có lẽ anh đã đứng vững trước thái độ tẩy chay của Xara Nôriêga và chắc chắn hai người sẽ lại vần nhau ở trên giường cho đến khi tàn đêm bởi vì anh tin rằng một người đàn bà đã ăn nằm với một người đàn ông một lần thì sẽ tiếp tục ăn nằm với anh ta mỗi khi anh ta muốn miễn là lúc nào cũng phải biết cách làm mủi lòng cô ta. Bởi niềm tin ấy đã là tất cả, anh đã vượt lên tất cả, kể cả những cuộc mặc cả bẩn thỉu của ái tình, với mục đích không để cho bất cứ người đàn bà nào có điều kiện nắm lấy quyền quyết định cuối cùng. Nhưng đêm ấy, anh cảm thấy nhục nhã quá lắm đến mức anh cầm cả cốc rượu brandy uống ực luôn một ngụm, và làm tất cả để bà ta nhận ra thái độ căm phẫn của mình rồi bỏ ra về không hề chào tiễn biệt. Chẳng bao giờ họ gặp lại nhau nữa.
Quan hệ với Xara Nôriêga là một quan hệ trong những quan hệ dài lâu và ổn định nhất của Phlôrêntinô Arixa, mặc dù nó không phải là mối quan hệ duy nhất mà anh duy trì trong năm năm ấy. Khi anh biết rằng mình cảm thấy hạnh phúc khi ở bên cạnh bà, nhất là khi cả hai cùng trên giường, nhưng không bao giờ anh có thể lấy bà thay cho Phecmina Đaxa, thì các đêm của kẻ đi săn cô đơn của anh liền trở nên sôi nổi hơn, do đó anh phải tổ chức các đêm ấy một cách hợp lý để có thể tận dụng thời gian và sức lực của mình đến mức cao nhất. Tuy nhiên Xara Nôriêga giành được phép màu để an ủi anh trong một thời gian. Chí ít ra anh cũng có thể sống mà không nhìn thấy Phecmina Đaxa, vẫn trong xa cách như trước đây, khi vào bất kỳ giờ nào anh ngừng cái việc cần phải làm để có thể tìm cô gái trên con đường không rõ ràng do những điềm báo mách bảo anh, trên con đường ít nghĩ tới nhất, trong những địa điểm không có thực vốn là nơi cô gái không thể có mặt, cứ thế anh lang thang không phương hướng với nỗi khát khao trong lồng ngực vốn không để cho anh yên lấy một lúc khi chưa nhìn thấy cô gái. Trái lại, việc cắt đứt quan hệ với Xara Nôriêga lại một lần nữa khiến anh náo nức sống lại những nỗi niềm hoài nhớ từng ngủ yên, lại một lần nữa anh cảm nhận rõ nét những kỷ niệm xưa: những buổi chiều ngoài vườn hoa và những lần tập đọc không dứt của cô gái mình yêu, nhưng lần này càng sống động hơn, càng tươi rói hơn bởi một niềm mong muốn bức thiết rằng bác sĩ Huyênan Ucbinô cần phải chết.
Đã từ lâu anh biết rằng mình quyết chí đem lại hạnh phúc cho một bà góa đến lượt người đàn bà góa ấy cũng mang lại khoái lạc cho anh, và điều đó không làm anh bận tâm. Ngược lại, anh đang chuẩn bị, nhờ biết họ quá rõ trong cuộc săn đuổi của kẻ đi săn cô đơn, Phlôrêntinô Arixa đã đi đến kết luận rằng thế gian có nhiều bà góa hạnh phúc. Anh từng nhìn thấy họ khóc lóc thảm thiết bên tử thi người chồng mà van lạy người ta hãy chôn sống mình trong cùng một chiếc quan tài để khỏi phải một mình đương diện với những may rủi trong tương lai nhưng khi họ làm quen với thực tại của cuộc đời mới của mình rồi thì người ta thấy họ, với sức sống vừa hồi sinh còn non tươi, đang vươn lên từ tro tàn. Họ bắt đầu sống như những cây tầm gửi trong những ngôi nhà hiu quạnh, lại trở thành người tin cậy của các cô hầu gái, thành người yêu thương của chính những chiếc gối êm của mình, chẳng có gì để mà làm sau nhiều năm chịu tang buồn tẻ. Họ tiêu xài thì giờ rảnh rỗi vào việc đơm lại những chiếc cúc trên chiếc áo sơ mi của người chồng đã quá cố mà trước đây không có thời
gian làm, họ là đi là lại những chiếc áo hồ bột ở tay và cổ áo để cho chúng lúc nào cũng sạch bong và phẳng phiu. Họ vẫn để xà bông cho người quá cố trong bồn tắm, vẫn đặt những chiếc gối có thêu tên của người quá cố trên giường nằm, vẫn để bát đĩa họ ngay trên mâm cơm, để phòng khi từ cõi chết những người chồng đã chết vẫn tự nhiên trở về, như thể họ lại tắm, lại ngủ, lại ăn như lúc còn đang sống. Nhưng trong những công việc lễ nghi cô đơn ấy, họ đã dần dần nhận thức được rằng lại một lần nữa họ là chủ nhân của những khao khát của chính mình, sau khi đã từ bỏ không chỉ tên riêng của chính mình mà còn cả bản thể đích thực của chính mình, tất cả những cái đó nhằm đổi lấy một sự yên ổn mà thực ra chỉ là một trong những ảo tưởng của những cô gái đang thì yêu đương mà thôi. Chỉ có các bà góa mới biết người đàn ông như điên như dại như thế nào, và có lẽ đó là những kẻ yêu các bà, còn đối với người đ các bà góa phải nuôi dưỡng cho đến hơi thở cuối cùng, bú mớm cho y, thay tã lót cho y, đùa vui với y như một người mẹ để xoa dịu nỗi sợ trong lòng y mỗi sáng mai y ra đường để đối mặt với thực tại cuộc sống, khi các bà nhìn thấy y, vốn đã được mình cổ vũ, ra đường để nuốt chửng thiên hạ thì lúc ấy họ mới là những người lo sợ rằng y sẽ không bao giờ trở lại với mình. Đó chính là cuộc đời. Tình yêu, nếu có thực, là một sự việc khác hẳn: một cuộc đời khác.
Trái lại, trong niềm vui thanh thản của cuộc sống đơn lẻ, các bà góa phụ phát hiện ra rằng cách sống đáng giá hơn là cách sống mọi yêu cầu của cơ thể, ăn khi thấy đói, yêu không cần phải giấu diếm, ngủ không cần phải giả vờ để trốn chạy các cuộc làm tình với người chồng chính thức, cuối cùng họ là chủ nhân của quyền được sử dụng cả một chiếc giường rộng rãi cho bản thân mà không ai tranh giành với họ một nửa chiếc ga trải giường, một nửa bầu không khi để thở, một nửa cái đêm để ngủ cho đến khi thân xác họ thỏa thuê trong giấc mơ của chính mình và đơn lẻ thức dậy một mình, Phlôrêntinô Arixa bắt gặp họ vừa ra khỏi nhà thờ sau lễ Misa năm giờ sáng, mặt trùm kín vải đen và trên vai mang một con quạ của số phận mình. Kể từ lúc nhìn thấy anh trong ánh sáng của buổi bình minh các bà góa vội vã vượt qua đường, rẽ lối để khuất mình sau các khu nhà với bước chân gấp gáp, những bước chân của những con chim non bởi vì chỉ việc đi gần một người đàn ông thôi đã có thể làm vấy bẩn đạo đức chính chuyên của họ. Tuy nhiên, anh tin chắc rằng một người đàn bà góa buồn thương, hơn bất cứ một người đàn bà góa nào khác, có thể mang cho mình một hạt giống của hạnh phúc.
Nhờ có biết bao đàn bà góa của cuộc đời mình, kể từ bà quả phụ Naxarêt, Phlôrêntinô Arixa đã dần dần đi đến một cái nhìn sáng tỏ rằng những người đàn bà đã cưới chồng sẽ hạnh phúc biết bao sau cái chết của chồng mình. Điều mà cho đến lúc nào đối với anh chỉ là một ảo tưởng đơn thuần, nhờ có các bà góa để trở thành một khả năng có thể cầm nắm được. Nhưng anh chỉ bắt gặp những lý do thích đáng để cho Phecmina Đaxa phải là một bà góa như những bà góa mà anh đã từng quen biết, được chuẩn bị sẵn sàng về mặt đời sống để đón tiếp anh như cần phải thế mà không hề băn khoăn ân hận gì về tội lỗi gây ra cái chết của người chồng, cởi mở tâm hồn để cùng anh phát hiện ra một niềm hạnh phúc khác hạnh phúc gấp hai lần, với một tình yêu được sử dụng hàng ngày đã trở thành phép màu để sống, và một tình yêu khác đối với bà ta từng được gìn giữ cẩn thận có sức miễn dịch trước cái chết.
Có lẽ anh sẽ không háo hức như vậy nếu anh nghi ngờ rằng làm sao Phecmina Đaxa còn xa đến như vậy đối với những tính toán viển vông kia, khi hầu như anh chỉ nhìn thấy chân trời của một thế giới trong đó có điều đã hiển nhiên, trừ phần ngược lại. Trong thời đại ấy nếu giàu có thì sẽ có nhiều thuận lợi nhưng đồng thời cũng có nhiều cái bất lợi, điều đó là hiển nhiên, nhưng một nửa thiên hạ đều háo hức mong được giàu có coi như đó là điều kiện để có thể trở thành bất tử. Phecmina Đaxa đã từ chối Phlôrêntinô Arixa trong một ánh chớp trí tuệ của tuổi trưởng thành từng vụt tắt ngay với một cuộc khủng hoảng đáng thương nhưng chưa bao giờ ba nghi ngờ rằng cái quyết định ấy của mình là không được đúng đắn.
Trong thời kỳ có hành động ấy bà không thể tự giải thích về những lý do nào ẩn sau lẽ phải đã đem lại cho bà cái ý nghĩ sáng rõ kia, nhưng nhiều năm sau này, trước khi bước vào tuổi già, trong một cuộc nói chuyện ngẫu nhiên về Phlôrêntinô Arixa bỗng nhiên và không hiểu vì sao bà đã phát hiện ra những lý do ấy. Tất cả những người tham gia cuộc nói chuyện đều biết rõ địa vị hoàng thái tử trong Hãng Tàu thủy Caribê ngay trong thời thịnh vượng nhất của hãng này, tất cả đều nói chắc như đinh đóng cột rằng đã nhìn thấy anh nhiều lần, kể cả những dịp giao dịch trực tiếp với anh, nhưng không một ai có thể bằng của trí nhớ miêu tả đúng con người anh. Đó chính là lúc Phecmina Đaxa nhận ra những nguyên nhân bất chợt từng ngăn không cho mình yêu anh. Bà nói: "Chao ôi, ông ấy cứ như thể một cái bóng!". Đúng thế: cái bóng của một người nào đó mà không một ai có thể nhận ra và quen biết. Nhưng trong lúc bà phải chịu đựng sự cai quản của bác sĩ Huyênan Ucbinô, vốn là một người đàn ông khác hẳn, bà cảm thấy đau khổ vì sự ám ảnh về tội lỗi: một ý nghĩ đau khổ mà bà không đủ khả năng chịu đựng nổi. Khi cảm thấy mình đang bị ám ảnh bởi ý nghĩ về tội lỗi kia thì ngay lập tức trong người bà rộn lên một nỗi lo sợ đặc biệt mà chỉ có thể kìm chế được nó khi có ai an ủi trong lương tri bà. Ngay từ thuở bé, khi đánh vỡ một chiếc đĩa trong nhà bếp, khi có ai ngã, khi bị kẹt tay ở cánh cửa thì ngay lập tức cô bé quay về phía người lớn tuổi đứng cạnh mình nhất để đổ tội cho họ: "Tại bà đấy!". Thực ra, điều quan trọng ở đây không phải là việc đổ tội cho ai hoặc cô tự phải thừa nhận tính ngây thơ của mình mà là: hãy để cho cô yên.
Đó là nỗi ám ảnh rất dễ thấy đến mức bác sĩ Huyênan Ucbinô nhận ra ngay tính chất đe dọa của nó đối với tổ ấm gia đình của ngài và ngay lập tức ngài vội vàng nói với vợ mình: "Em đừng lo ngại, em yêu dấu của anh, tất cả là tại anh hết". Bởi vì không có gì khiến ngài lo lắng bằng những quyết định bất thường và dứt khoát của vợ mình, và ngài tự nhận thấy rằng những quyết định ấy đều có nguồn gốc từ một nỗi ám ảnh về tội lỗi đã phạm phải. Tuy nhiên, nếu chỉ bằng một câu nói an ủi thôi sẽ không dẹp tan được tâm trạng hoang mang của Phecmina Đaxa là để ủng hộ bác sĩ Huyênan Ucbinô. Thượng đế biết rõ Phecmina Đaxa đã cố gắng như thế nào để không cùng đinđêbranda khi cô này đến phòng điện báo để làm quen với Phlôrêntinô Arixa. Phecmina Đaxa cũng muốn nhìn thấy anh một lần nữa để đứng trước anh xem lại những nghi ngờ của mình, cũng muốn nói chuyện riêng với anh, cũng muốn hiểu sâu anh hơn để khẳng định rằng sự quyết định bất ngờ của mình sẽ không đẩy mình đi tới một quyết định khác còn nghiêm trọng hơn, tức là việc phản dàn hòa với cha mình trong những vụ tranh chấp cá nhân. Nhưng cô đã làm điều đó, trong cái phút sang trang mới của cuộc đời cô. Cô làm điều đó mà không hề đếm xỉa đến vinh quang sớm có của anh, không hề đếm xỉa đến một trong những công tích hiển hách của anh ta. Cô làm điều đó chỉ vì cô lo sợ thời cơ sẽ qua đi và sự đe dọa của tuổi hai mươi mốt của một người con gái chưa chồng: đó là giới hạn cuối cùng để cô trao mình cho số phận định đoạt. Cái giây phút duy nhất ấy đã đủ để cho cô đi đến quyết định như cô từng thấy trước trong luật lệ của Thượng đế và của con người: cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Lúc ấy tất cả mọi nỗi nghi ngờ đều được xóa sạch, và cô có thể làm mà không hề ăn năn hối tiếc về cái điều mà chân lý đã chỉ cho cô như là điều đúng đắn nhất, hãy quên đi những kỷ niệm về Phlôrêntinô Arixa mà không cần phải rơi lệ, cô xóa sạch hình bóng anh, và hãy để cho đám cây thuốc phiện trổ hoa ngay tại khoảng không mà hình ảnh anh ngự chiếm trước đây. Điều duy nhất mà cô tự cho phép mình là tiếng thở dài não ruột, tiếng thở dài cuối cùng: "Ôi một con người đáng thương".
Tuy nhiên, ngay khi vợ chồng họ từ Châu Âu trở về sau chuyến du chơi tuần trăng mật, trong cô lại bắt đầu nẩy sinh những hoài nghi còn nguy hiểm hơn. Trong lúc bọn họ chưa mở xong những rương hòm mang về, tháo gỡ hết các kiện hàng, chưa lấy hết các thứ để trong mười một cái thùng, những đồ vật cô chuẩn bị cho mình sẽ sắm vai bà chủ và mệnh phụ ở ngôi nhà cổ kính của Hầu tước Casanđuêrô, thì chính lúc ấy cô đã nhận ra những hoài nghi mới của mình cùng với cái mùi chết chóc tù đọng ngay trong ngôi nhà cô chọn nhầm này, và còn tồi hơn thế nữa, cùng với một người đàn ông vốn không được như cô mong muốn. Cô phải chịu đựng mất sáu năm liền mới thoát ra khỏi tình trạng ấy. Những con người làm cô khó chịu nhất, làm cô thất vọng nhất là Đônha Blăngca, một bà mẹ chồng cay nghiệt và các cô chị em dâu quá đần độn, mà họ chưa mục ruỗng khi còn sống trong một phòng giam kín là vì chính họ đã mang sẵn cái phòng giam ấy ngay trong tâm hồn họ.
Bác sĩ Huyênan Ucbinô, vốn đã từ bỏ trách nhiệm đối với dòng họ, làm ngơ trước những lời van nài của mẹ và các chị em gái mà tin rằng sự hiểu biết của Thượng đế và khả năng thích nghi không lường hết của người vợ có thể sẽ sắp đặt các sự kiện đâu vào đấy. Ngài đau khổ trước sự tàn tạ của mẹ mình mà niềm vui sống của cụ trong thời kỳ trước đã khẳng định nguyện vọng dòng họ sẽ trường tồn ngay cả ở nhữngkhông tin tưởng nhất. Đúng thế, người đàn bà đẹp, thông minh, có sự cảm thụ rất độc đáo trong giới quý tộc của mình, trong gần bốn mươi năm đã là cả tâm hồn lẫn thể xác của thiên đường xã hội mình. Cảnh góa bụa làm cho cụ đau khổ đến mức cụ không tin rằng mình chính là mình nữa, nó từng làm cho cụ tay yếu chân mềm và ngoa ngoắt, và trở nên hay hờn giận đối với mọi người. Lời giải thích duy nhất có thể có được về sự khó chịu của cụ là nỗi hận trong lòng cho rằng người chồng đã hy sinh thân mình vì đám người da đen một cách có ý thức, theo như lời cụ nói, nhưng thực ra sự hy sinh mình duy nhất chính đáng của ông cụ lại là sự hy sinh để chính bà cụ được sống sót qua nạn dịch tả. Trong mọi trường hợp, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc của Phecmina Đaxa chỉ thực sự có được trong suốt
chuyến du chơi tuần trăng mật ở Châu Âu của họ, và nó là cái duy nhất có thể giúp cô ngăn cản sự đắm chìm cuối cùng đang dừng lại vì sợ hãi trước quyền lực của bà mẹ Ngài, chứ không phải các chị em dâu, cũng không phải bà mẹ chồng, là người mà Phecmina Đaxa quy cho tội đã đặt cạm bẫy của thần chết trong đó cô đang vướng phải. Mãi sau này cô mới nghi ngờ rằng đằng sau quyền lực chuyên môn và danh tiếng lẫy lừng của ngài, cái con người mà cô lấy làm chồng kia là một kẻ yếu hèn không cách nào cứu vớt nỗi: một kẻ bất hạnh đáng thương nhưng đang khoe mẽ nhờ uy tín xã hội của dòng họ mình.
Cô chạy trốn mọi thứ để chỉ sống với đứa con trai mới sinh. Cô từng cảm thấy nó ra khỏi con người mình với sự nhẹ nhõm được giải thoát khỏi một cái gì đó vốn không phải của mình và cô từng đau khổ trước cảm giác về mình không phải là mình khi nhận thấy bản thân chẳng hề có lấy một mảy may tình yêu thương đối với đứa hài nhi vừa lọt lòng mẹ mà bà đỡ chìa cho cô xem: nó còn đỏ hon hỏn, người đầy nhớt và máu tươi, với cái tràng hoa cuốn nơi cổ. Nhưng rồi trong cái dinh thự cô đơn cô học để làm quen với thằng bé và hai mẹ con cô dần dần quen nhau, chính ở đây với niềm vui rộn ràng cô phát hiện ra rằng những đứa bé không chỉ muốn là con mà còn muốn được nuôi dưỡng bằng tình thương mến. Trong ngôi nhà bất hạnh của mình, cô chỉ sống cho thằng bé và do đó không một thứ gì, không một ai khiến cô phải khó chịu. Nỗi cô đơn, cái vườn hoa nơi nghĩa trang, cuộc sống nhàn tản trong những căn hộ phòng rộng thênh thang không cửa sổ, tất cả đều hùn sức lại nhấn chìm cô. Cô cảm thấy bức rứt khó chịu trong những đêm mất ngủ trước những tiếng gào thét của các bà điên trong nhà thương điên ngay cạnh nhà. Cái tập quán ngày nào cũng bày tiệc với những chiếc khăn trải bàn được thêu ren cầu kỳ, với những chiếc cốc thìa nĩa đều bằng bạc và những ngọn đèn đám ma chỉ để cho năm bóng ma ngồi ăn tối với cà phê sữa và bánh rán bơ, các tập quán ấy làm cô ngượng ngùng đến chín cả người. Cô nguyền rủa những buổi chiều cầu kinh rôsariô, những cử chỉ âu yếm lẫn nhau ngay tại bàn ăn, cô nguyền rủa những lời bình phẩm có ý thường xuyên dè bỉu các cách thức cô thu dọn bàn ăn cái cách đi đứng hấp tấp của đàn bà con gái thuộc giới hạ lưu, cái lối ăn vận như hề xiếc của cô, cô nguyền rủa những lời dè bỉu trước cách thức dân giã trong việc âu yếm chồng và cho con bú mà không dùng khăn che kín vú lại của cô. Khi nhà này có thói quen mời bạn bè tới nhà vào lúc năm giờ chiều để uống cà phê, ăn bích quy ngon với mứt hoa quả theo đúng như mốt mới có ở nước Anh, thì cụ bà Blăngca phản đối các lối sống thuốc cho ra mồ hôi để trị bệnh sốt mà lại không chịu ăn sôcôla với những lát sắn rán bơ. Ngay cả những giấc mơ của mình, Phecmina Đaxa cũng không thể tránh được những lời phê phán nghiệt ngã của bà mẹ chồng. Có một buổi sáng, Phecmina Đaxa kể lại rằng cô mơ thấy một gã lạ mặt mình trần như nhộng đi khắp các hành lang trong dinh thự để ăn xin những vốc tro, thì cụ bà Blăngca liền cắt ngang lời cô, nói:
- Một người đàn bà đứng đắn không thể có những giấc mơ kiểu ấy.
Hai nỗi bất hạnh lớn nhất của cô nằm trong cảm giác lúc nào cũng ở trong ngôi nhà xa lạ. Một là món cà ăn hầu như hàng ngày được nấu dưới mọi hình thức mà cụ bà Blăngca không chịu thay đổi để tôn trọng người chồng đã quá cố và ngược lại Phecmina Đaxa không muốn ăn. Ngay từ thuở nhỏ cô đã nguyền rủa các loại cà, vì trước khi nếm thử bao giờ cô cũng có cảm giác chúng mang mùi thuốc độc. Chỉ có lần ấy, bằng mọi cách cô phải thừa nhận rằng có một cái gì đó đã thay đổi có lợi cho cuộc đời mình, bởi vì cô đã nói như vậy ngay tại bàn ăn vào lúc cô năm tuổi, và cha cô buộc cô phải ăn hết cả một xanh cà đủ cho sáu người ăn. Cô cứ tưởng mình sẽ chết, trước hết vì thứ nôn ra toàn những cà là cà và sau đó vì thìa mỡ con hải ly mà người ta dùng sức mạnh bắt cô uống để cứu cô khỏi đòn trừng phạt. Cả hai thứ đó đọng lại trong ký ức cô như một sự tẩy rửa đường ruột, phần vì mùi vị, phần vì nỗi sợ thuốc độc và rồi trong những bữa ăn trưa đáng nguyền rủa tại dinh thự của Hầu tước Casanđuêrô, cô phải nhìn đi nơi khác để khỏi phải khó chịu trước các mùi lợm mửa của mùi dầu con hải ly.
Nỗi bất hạnh thứ hai của cô là cây thụ cầm. Có một ngày rất có ý thức về điều muốn nói, cụ bà Blăngca nói:
- "Ta không tin các cô gái đứng đắn mà lại không biết chơi đàn piano". Đó là một mệnh lệnh mà ngay cả con trai cụ cũng định cãi lại bởi vì những năm tháng đẹp nhất của tuổi thơ ngay đã trôi đi trong các lớp học đàn piano và ngay cả khi trưởng thành ngài vẫn hài lòng về điều đó. Ngài không thể giải thích để vợ mình cũng phải làm theo mệnh lệnh trói buộc kia bởi vì lúc ấy Phecmina Đaxa đã hai mươi lăm tuổi đầu và cũng có cá tính như ngài. Nhưng điều duy nhất mà thuyết phục được mẹ mình hãy thay đàn piano bằng thụ cầm với một lý lẽ chắc chắn rằng thụ cầm là nhạc cụ của các thiên thần. Đó là lý do vì sao người ta mang từ thành phố Viên về đây cây thụ cầm tuyệt đẹp, nó tựa như vàng, nó vang lên những âm thanh du dương như nó vốn có và nó trở thành một trong những báu vật đáng giá nhất của bảo tàng thành phố, cho đến khi những ngọn lửa đã thiêu cháy nó cùng với tất cả những gì nó có ở bên trong. Để vượt qua cái bản luận tội ấy, Phecmina Đaxa liền học với tất cả sức mạnh. Thoạt đầu cô học một người thầy của tất cả những người thầy được người ta đưa từ thành phố Môngpôt về đây và người thầy này đã chết đột tử sau mười lăm ngày dạy học, sau đó cô tiếp tục học vài năm dưới sự dạy dỗ của một nhạc sĩ lớn nhất của trường dòng, mà hơi thở của kẻ đào huyệt của ông ta làm đảo lộn mọi âm thanh hài hòa của cây đàn thiêng liêng.
Ngay chính cô cũng phải ngạc nhiên trước thái độ phục tùng của mình. Bởi mặc dù không thừa nhận nó trong thâm tâm mình cũng chẳng thừa nhận nó trong những cuộc cãi vã thầm lặng với chồng vào những giờ mà trước đây họ hiến dâng cho thần ái tình, Phecmina Đaxa đã nhanh chóng tham dự vào tấm mạng nhện phức tạp gồm những định kiến và những thỏa thuận của thế giới mới của mình. Thoạt tiên cô thường nói một câu có tính chất lễ nghi để khẳng định quan điểm tự do tư tưởng của mình: "Hãy ném vào đống cứt chiếc quạt vốn là thứ thời gian thoáng qua." Nhưng sau đó, do náo nức trước những vinh dự đã giành được, nhưng lại sợ sệt trước nỗi xấu hổ và lời báng bổ, cô tự thể hiện là người sẵn sàng chịu đựng hết mọi thứ, ngay cả đến sự sỉ nhục với niềm hy vọng rằng cuối cùng Thượng đế sẽ mủi lòng mà thương hại cụ bà Blăngca, người mà trong những lúc cầu khẩn bao giờ cũng thành tâm xin Thượng đế hãy gửi mình vào cõi chết.
Bác sĩ Huyênan Ucbinô tự đánh giá sự hèn yếu của con người mình bằng những luận cứ đã lỗi thời mà không hề tự hỏi lòng xem chúng có trái với tôn giáo của mình không. Ngài không thừa nhận rằng những mâu thuẫn với vợ mình có nguồn gốc từ không khí lạ trong ngôi nhà mình mà lại cho rằng chúng có nguồn gốc từ chính bản chất của hôn nhân: hôn nhân chẳng qua là một sự bày đặt khó hiểu mà chỉ có thể có đươc bởi Thượng đế quá ư vô công rồi nghề. Hôn nhân hoàn toàn ngược lại với mọi lý lẽ khoa học: hai người vốn không quen biết nhau, chẳng có dây mơ rễ má gì với nhau, với những cá tính khác hẳn nhau, với trình độ văn hóa khác nhau, và ngay cả các bộ phận sinh dục cũng khác nhau, thế rồi bỗng nhiên người ta thấy họ cam kết sống với nhau, ngủ chung với nhau trên cùng một chiếc giường, cùng chia sẻ hai số phận mà có lẽ đã được định hướng khác nhau. Ngài bảo rằng: "Vấn đề của hôn nhân là tất cả các đêm sẽ được kết thúc sau khi làm tình với nhau và rồi cẩn phải làm lại nó vào tất cả các buổi sáng trước khi ăn điểm tâm". Còn tồi tệ hơn thế nữa là trường hợp hôn nhân của bọn họ, Ngài nói, nó nẩy sinh từ hai giai tầng xã hội đối nghịch nhau trong một thành phố vẫn còn mơ các vị phó vương trở lại nắm quyền. Thứ vôi vữa duy nhất có thể gắn chặt các mối quan hệ hôn nhân là một cái gì đó không thể kiểm nghiệm được và rất dễ thay đổi, đó là tình yêu, nếu như nó có thật và trong trường hợp hôn nhân của bọn họ, khi họ cưới nhau họ chưa có tình yêu và số phận chỉ việc đặt họ đối diện với thực tế khi họ suýt nữa sáng tạo ra tình yêu.
Đó là tình trạng cuộc sống vợ chồng họ ở vào thời kỳ nhà có cây thụ cầm. Họ vui với nhau nhờ những ngẫu nhiên thú vị, tỷ như khi cô bước vào nhà tắm trong lúc Ngài đang tắm và thế là bất chấp những cuộc cãi vã, bất chấp món cà độc, bất chấp những người chị em chồng lẩn thẩn và bà mẹ đẻ ra họ, Ngài vẫn còn tương đối yêu cô để bảo cô hãy xoa xà phòng cho mình. Cô cũng bắt đầu xoa xà phòng cho Ngài bằng những mẩu vụn của tình yêu còn lại sau chuyến du chơi ở Châu Âu, và thế là cả hai đều để cho ký ức cũ lôi cuốn, rồi làm lành với nhau mà thật lòng không muốn, rồi yêu nhau mà không nói ra lời, và kết thúc việc làm lành khi người mệt phờ vì tình yêu được thỏa mãn ngay ở trên sàn nhà tắm, người đầy bọt xà phòng, trong lúc đó vẳng đến tai họ lời bàn tán của các cô người ở từ ngoài nhà giặt: "Ông bà không có con nữa chẳng qua là vì ông bà không ăn nằm với nhau mà thôi." Thỉnh thoảng thôi, sau khi từ một cuộc vui náo nhiệt trở về, nỗi hoài nhớ ẩn sau cánh cửa liền đánh họ ngã gục và thế là lại xảy ra một cuộc bùng nổ kỳ diệu trong đó tất cả lại một lần nữa như trước đây và trong vòng năm phút đồng hồ họ lại là những người yêu nhau sôi nổi trong tuần trăng mật.
Nhưng ngoài những dịp hiếm có ấy ra, một trong hai người lúc nào cũng tỏ ra mệt mỏi, cũng tỏ ra uể oải hơn người kia vào giờ đi ngủ. Cô có kéo dài thời gian ở trong buồng tắm để cuộn điếu thuốc lá trong giấy thơm, rồi hút một hơi, và trong khi hút cô sống lại những tình cảm yêu đương được an ủi khi cô còn trẻ và tự do ngay trong nhà của mình, khi cô còn là chủ nhân duy nhất của thân xác mình. Bao giờ cô cũng kêu nhức đầu, kêu trời oi nóng, lúc nào cũng vậy, hoặc cô giả vờ đang ngủ, hoặc bảo rằng mình đang thời kỳ kinh nguyệt, lúc nào cũng kinh nguyệt. Cô cứ nói mãi như vậy đến mức bác sĩ Huyênna Ucbinô không chịu được và có lần ở ngay trên lớp học ngài nói rằng sau mười năm lấy chồng bọn đàn bà có kinh nguyệt tới ba lần trong một tuần. Ngài nói thế là để làm dịu nhẹ đi các cảm giác
hậm hực trong lòng mình mà không thể tự thú được.
Bất hạnh chồng lên bất hạnh, trong nắm khốn quẫn nhất của cuộc đời mình Phecmina Đaxa buộc phải đối chọi với điều sớm hay muộn tất phải xảy ra: đó là sự thật về những chuyện buôn bán ma quái của cha mình mà chẳng bao giờ cô được biết. Nhà chức trách tỉnh này đã cho mời bác sĩ Huyênan Ucbinô đến văn phòng của mình để báo cho ngài biết chuyện chẳng lành đã xảy ra với ông bố vợ ngài, rồi quan tỉnh trưởng kết thúc gọn lỏn trong một câu: "Không có một luật lệ thiêng liêng và nhân hậu nào mà con người ấy không nắm vững". Một số trong số những vụ việc nghiêm trọng nhất mà Lôrenxô Đaxa làm được là do ông ta đã nấp sau cái bóng quyền lực của người con rể và do đó thực khó mà tin rằng bác sĩ Huyênan Ucbinô và vợ lại không hay biết gì. Vì biết chắc rằng danh tiếng duy nhất có thể bảo vệ được ông bố vợ là danh tiếng của bản thân ngài, và nó là cái duy nhất đủ sức đứng vững được, ngài đã dùng toàn bộ sức nặng của quyền lực mình để tham gia vào việc bênh vực bố vợ và chỉ bằng lời nói danh dự ngài đã dành được việc bưng bít cái vụ om xòm này. Vậy là Lôrenxo Đaxa đã đi khỏi thành phố ngay trên chuyến tàu thủy đầu tiên để không bao giờ trở lại. Ông trở về quê hương bản quán như một trong những hành khách từng thỉnh thoảng làm như vậy để đánh lừa tình cảm nhớ nhung quê hương và đằng sau cái hành động lừa dối kia có một cái gì đó thuộc về bản chất sự thật này: từ lâu nay ông vẫn thường trèo lên một chiếc tàu của quê hương để chỉ uống một cốc nước mát được lấy từ những suối nguồn của quê mình. Ông ra đi mà không ngoắt tay lại, mà tự bào chữa rằng mình là kẻ vô tội, và vẫn cố thuyết phục chàng rể kia rằng ông chỉ là nạn nhân của một âm mưu chính trị mà thôi. Ông ra đi mà nước mắt lã chã rơi vì con bé, như lâu nay ông vẫn gọi Phecmina Đaxa như vậy kể từ sau khi cô cưới chồng, ông ra đi mà nước mắt lã chã rơi vì thằng cháu, vì mảnh đất này vốn là nơi giúp ông trở nên giàu có và tự do, là nơi ông giành được chiến tích biến con gái thành một mệnh phụ nổi tiếng trên cơ sở những cuộc thương lượng bẩn thỉu. Ông ra đi trong tình trạng già nua và bệnh hoạn nhưng ông còn sống dai hơn nhiều so với điều không một nạn nhân nào của ông dám mong ước. Phecmina Đaxa không thể ghìm được một tiếng thở dài nhẹ nhõm khi cái tin ông chết đến tai cô và cô cũng không để tang ông để khỏi phải trả lời người khác hỏi thăm. Nhưng trong vài tháng ròng cô khóc lóc với một nỗi giận dữ thầm lặng mà không biết vì sao. Khi cô đóng cửa buồng tắm lại để hút thuốc lá là lúc cô khóc thương cha mình.
Điều vô lý trong mối quan hệ của hai người trong những năm bất hạnh ấy là việc chưa bao giờ họ xuất hiện trước công chúng hạnh phúc đến thế. Bởi vì trên thực tế đó là những năm họ giành được những thắng lợi to lớn nhất đối với thói ganh ghét ngầm của xã hội thượng lưu vốn không chịu thừa nhận họ như thế: những con người trôi nổi và yêu thích cái mới lạ và do đó là những kẻ đã vi phạm lề lối cổ truyền. Tuy nhiên, cái cuộc sống ấy đối với Phecmina Đaxa lại có phần dễ dàng hơn cả. Cái cuộc sống trần tục của giới quý tộc từng gây bao ngỡ ngàng khi cô chưa quen với nó, chẳng qua chỉ là một hệ thống những ật lệ trói buộc, những nghi thức nhạt nhẽo, những lời nói sáo cũ và với hệ thống ấy mọi người trong giới quý tộc của mình làm vui lòng nhau để khỏi phải tự vẫn. Đặc trưng nổi bật của cái thiên đường phù phiếm mang tính chất tỉnh lẻ ấy là nỗi sợ những gì chưa được biết tới. Bằng một hình thức giản dị hơn cả, Phecmina Đaxa từng định nghĩa lối sống ấy như sau: "Vấn đề của cuộc sống xã hội là hãy rèn tập để tự chủ trước nỗi sợ sệt; vấn đề của cuộc sống vợ chồng là hãy rèn luyện để tự chủ trước nỗi buồn chán." Cô phát hiện ra điều đó ngay lập tức kể từ khi cô bước vào phòng khánh tiết của Câu lạc bộ Xã hội, kéo theo sau một mình cái đuôi dài của cô dâu. Phòng khánh tiết hôm ấy lạ hẳn đi trong hương sắc của đủ loài hoa, trong tiếng nhạc van bừng sáng, và chật ních đám đàn ông đang vã mồ hôi hột và đám đàn bà run rẩy cho đến lúc ấy vẫn chưa biết vì sao bọn họ đã chiến thắng cái trò đe dọa mờ ám kia. Cô mới tròn hai mươi tuổi đời và hầu như chỉ ra khỏi nhà khi phải đến trường, thế mà chỉ cần đưa mắt nhìn khắp một lượt cô đã đủ hiểu rằng kẻ thù của mình không vì căm giận mà phải so vai rụt cổ lại mà chính vì sợ hãi mà phải đứng đần mặt ra. Đáng lẽ làm cho họ phải sợ hãi hơn, như cô đang ở trong trạng thái ấy, thì cô đã ban ân cho họ, giúp họ làm quen mình. Không một ai khác biệt với điều cô từng nghĩ phải như thế, như chính điều cô cảm thấy khi mình đứng trước các thành phố khác nhau, nghĩa là cô không thấy chúng đẹp hay là xấu mà cô chỉ việc ghi khắc hình ảnh chúng vào trong trái tim mình. Đối với Pari, bất chấp những cơn mưa dai dẳng dầm dề, bất chấp những người bán hàng lôi thôi lết thếch, bất chấp tính tình thô lỗ của những người lái xe của thành phố này, Pari buộc cô thường xuyên nhớ đến nó như một thành phố đẹp tuyệt trần, không chỉ vì trên thực tế nó có phải hay không phải là thế mà còn vì nó luôn luôn gắn bó với nỗi hoài nhớ những năm tháng hạnh phúc nhất của đời cô. Về phần mình, bác sĩ Huyênan Ucbinô đối chọi lại bằng những vũ khí được sử dụng thông minh hơn và với thái độ nghiêm chỉnh có tính toán kỹ. Không có gì xảy ra mà vắng mặt bọn họ: những cuộc diễu hành của dân chúng, các Dạ hội Thơ ca, những hoạt động nghệ thuật, các cuộc xổ số, các cuộc mít tinh ái quốc, chuyến du lịch đầu tiên trên bóng thám không. Bọn họ tham dự tất cả các hoạt động xã hội ấy và hầu như bao giờ cũng có mặt ngay từ lúc người ta có ý định tổ chức và cho đến khi chúng được thực hiện. Không một ai có thể nghĩ rằng trong những năm tháng bất hạnh của họ lại có một người nào đó hạnh phúc hơn bọn họ, lại có một cặp vợ chồng nào đó hòa thuận như vợ chồng họ.
Ngôi nhà người cha để lại đã cho Phecmina Đaxa một chỗ chạy trốn không khí ngột ngạt đến khó thở của tòa dinh thự nhà chồng. Ngay sau khi khuất được con mắt của đám đông, cô lẩn ngay vào công viên Lôt Evanhêliôt và ngay tại đây cô tiếp đón những người bạn gái mới cũng như cũ hồi đi học hay hồi ở nhà học vẽ tranh, đó là một nơi thay thế vô tư cho lòng bội tín. Cô sống những giờ dễ chịu của người mẹ son rỗi với tất cả những gì còn lại của tuổi ấu thơ. Cô lại mua những chú quạ hương, thu nhặt những con mèo hoang, và để cho Gala Plaxidia chăm nom. Gala Plaxidia là người mà lúc này đã già nua và chậm chạp bởi bệnh hen xuyễn, nhưng vẫn còn giàu nhiệt tình để sửa sang lại ngôi nhà. Cô lại mở cửa sổ phòng máy may là nơi Phlôrêntinô Arixa lần đầu tiên nhìn thấy cô và là nơi bác sĩ Huyênan Ucbinô bắt cô thè lưỡi ra để tìm hiểu trái tim cô và cô biến phòng này thành đền thờ của quá khứ của mình. Có một chiều đông, cô đi đóng cửa ban công, trước khi cái ban công này bị bão tố đánh đập, cô đã nhìn thấy Phlôrêntinô Arixa ngồi trên ghế đá dưới bóng cây hạnh đào ngoài công viên, mặc bộ quần áo của người cha được may lại và tay cầm quyển sách mở trang để phía trước mặt, nhưng cô không sợ rằng cái hình ảnh kia là điềm báo trước của cái chết. Cô dám mạnh dạn tự nói với lòng mình rằng có lẽ với anh mình sẽ có hạnh phúc, và chỉ hạnh phúc với anh thôi trong ngôi nhà kia mà cô với bao tình yêu thương từng sửa sang lại cho anh cũng như anh đã sửa sang lại ngôi nhà mình để cho cô, và chính cô tự cho phép mình hiểu lấy những điểm tận cùng của nỗi bất hạnh mà cô đã đi tới. Thế là cô lấy hết sức bình sinh và buộc người chồng phải tranh luận trực tiếp với mình chứ không được quanh co, phải mặt đối mặt với cô, phải đấu tranh với cô, phải cùng khóc với cô vì đã để mất thiên đường của ái tình, cho đến khi cả hai người cùng nghe tiếng gà gáy sáng cuối cùng, cùng nhìn thấy ánh sáng làm nổi rõ những đường viền của dinh thự, cùng nhìn thấy mặt trời lên. Lúc ấy người chồng mặt nở ra vì nói nhiều quá, người phạc phờ vì mất ngủ, với trái tim kiên cường hơn nhờ khóc lóc nhiều, đã buộc lại dây giày, thắt chiếc dây lưng, nghĩa là ngài thắt lại tất cả những gì thuộc về người đàn ông cần phải làm trước khi ra khỏi nhà, và ngài nói rằng: "anh đồng ý, em thân yêu ạ, rằng chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm lại ái tình bị mất ở Châu Âu: ngay ngày mai và mãi mãi chúng ta phải tìm cho được cái tình yêu ấy". Đó là một quyết định hết sức sáng tỏ đến mức ngài đi gặp ngay và thỏa thuận với nhà bằng En Têxôrô việc bán đứt toàn bộ bất động sản của gia đình nhưng đã bị thất tán ngay từ những nguồn gốc của nó trong các cuộc mua bán, nhượng lại, và cả trong các văn tự, mà về thực chất giá trị của bất động này chỉ có ngài mới biết đích xác rằng vì nó không phải là kho của cải không thể tính xuể như người ta từng đồn đại mà thực ra nó chẳng đáng là bao để phải nghĩ nhiều. Số của cải ấy, thường được chuyển thành vàng và có lẽ đã được chuyển dần cho các nhà băng ở nước ngoài để đến mức hiện nay họ, ngài và vợ ngài, chẳng còn gì ngay cả ba thước đất chôn người chết cũng không có nốt.
Vậy là quả thật Phlôrêntinô Arixa vẫn tồn tại ngược hẳn với điều cô phỏng đoán. Anh đang đứng ở bến cảng có con tàu vượt đại dương của Pháp đậu khi cô cùng chồng và đứa con trai đi trên chiếc xe do những chú vàng kéo đến đây và anh nhìn thấy bọn họ xuống xe như bao lần anh từng nhìn thấy họ trong các hoạt động xã hội: nghĩa là rất đàng hoàng. Họ đi cùng đứa con trai được giáo dưỡng theo kiểu mà qua đó cho phép ta nhận ra nó sẽ phải như thế nào khi ở tuổi trưởng thành: Nghĩa là nó sẽ phải như thế nào. Bác sĩ Huyênan Ucbinô vui vẻ vẫy mũ chào Phlôrêntinô Arixa và nói: "Chúng tôi đi Phần Lan đây". Phecmina Đaxa gật đầu chào anh. Phlôrêntinô Arixa nhận ra cô chào mình và anh cũng khẽ ra hiệu chào cô. Phecmina Đaxa để ý tới anh mà không hề động lòng trắc ẩn trước những biểu hiện quá sớm của việc anh sẽ hói đầu. Đúng là anh rồi, y hệt như điều cô từng nhận ra anh: một cái bóng của một người nào đó chưa bao giờ quen biết cả.
Phlôrentinô Arixa cũng đang ở trong thời kỳ vất vả. Hiện nay anh đã đi tới sự bình lặng hoàn toàn của người có tuổi, đã chán ngấy công việc của kẻ đi săn trộm, đã phải làm việc ngày càng căng thẳng hơn và hơn thế nữa anh phải lo sức khỏe của Tranxitô Arixa hiện đang s
uy sụp nghiêm trọng: bà cụ hầu như không còn nhớ được gì nữa, trí nhớ của bà đã bị xóa nhòa hoàn toàn. Ngay cả khi đôi lúc bà cụ quay về phía anh ngồi trên ghế xích đu đang đọc sách và bà cụ ngạc nhiên hỏi anh: "Anh là con ai vậy?". Anh bao giờ cũng trả lời rất thật thà nhưng bà cụ lại cắt ngang câu trả lời của anh và hỏi ngay:
- Con yêu, con hãy nói cho mẹ biết, - bà cụ nói. - Ta là ai vậy?
Bà cụ béo phì ra rất nhiều đến mức không thể đi lại được và cả ngày ngồi ở cửa hàng mà giờ đây chẳng còn gì để bán, cứ việc trang điểm cho bản thân suốt từ lúc gà gáy sáng lần đầu cho đến tận khuya ngày hôm sau, vì trên thực tế cụ ngủ được rất ít. Bà cụ tự đội lên đầu mình chiếc miện có cài hoa giấy, rồi tô môi son, thoa phấn lên mặt và hai cánh tay, và cuối cùng bà cụ sẽ hỏi bất cứ người nào ở gần mình rằng thấy mình thế nào. Những người hàng xóm biết rằng bà cụ đang đợi chỉ một câu trả lời thường xuyên: "Cụ là Curacachita Mactinêt". Sự đồng nhất này, lấy tích từ một nhân vật trong một truyện thiếu nhi, là cái duy nhất khiến bà cụ hài lòng. Cụ ngồi trên ghế xích đu mà đung đưa, lấy chiếc quạt lông hồng mà quạt cho mình, cứ thế cho đến khi bà cụ lại làm công việc thường ngày của mình: Lại đội lên đầu chiếc miện gài hoa giấy, lại tô môi, kẻ mày, thoa phấn trên mặt. Lại một lần nữa bà cụ hỏi người đúng bên cạnh: "Thấy tôi thế nào hả?". Khi bà cụ biến thành mụ hoàng hậu gây cười cho hàng xóm, trong một đêm Phlôrêntinô Arixa cho phá đi quầy bán hàng, tủ trưng bày hàng hóa ở cửa hàng cũ, bịt kín cửa ăn thông ra đường phố, và sửa sang nó theo đúng như phòng ngủ của Cucarachita Mactinêt mà anh đã nghe thấy bà cụ thường miêu tả, rồi từ độ ấy trở đi không bao giờ nghe thấy cụ hỏi mình là ai nữa.
Theo yêu cầu của ông chú Lêông XII, Phlôrêntinô Arixa đã thuê một người đàn bà có tuổi chăm nom bà cụ, nhưng cụ già đáng thương thường ngủ nhiều hơn thức và đôi lúc còn cho ta cảm giác chính cụ đã quên mình là ai. Do đó Phlôrêntinô Arixa ở nhà kể từ lúc đi làm về cho đến khi dỗ được bà cụ ngủ. Anh không đến Câu lạc bộ Thương mại để chơi đôminô và bẵng đi một thời gian khá lâu anh cũng chẳng thăm những người bạn gái quen biết trước đây anh vẫn thường đến với họ, bởi vì trong trái tim anh đã có một cái gì đó thay đổi sâu sắc kể từ cuộc gặp gỡ đáng sợ với Ôlimpia Xutêla.
Đó là cuộc gặp gỡ nguy hiểm. Phlôrêntinô Arixa vừa đưa ông chú Lêông XII về nhà trong lúc một trong số những cơn giông tháng mười thường buộc chúng ta phải nghỉ việc đang thổi rất mạnh, và từ trên xe anh nhìn thấy một cô gái nhỏ nhắn, mảnh mai, mặc một bộ váy áo diện như váy áo của cô dâu. Anh nhìn thấy cô lảo đảo chạy bên này sang bên kia vì gió mạnh đang thổi phồng chiếc ô trên tay cô như đang định cuốn cô ra biển. Anh đưa cô lên xe và cho xe chạy về thẳng nhà cô, một ngôi nhà cũ được sửa sang chắc chắn có thể sống trong nó, mặt đối mặt với biển. Trong sân nhà dầy những chuồng chim bồ câu có thể được nhìn thấy rõ ngay từ ngoài đường cái. Ở trên xe cô ta kể cho anh biết rằng cô ta đã lấy chồng được gần một năm nay. Chồng cô là một anh nông dân chuyên đi buôn chuyến mà Phlôrêntinô Arixa vẫn thường thấy nhiều lần trên các tàu thủy của hãng mình, người vẫn bốc lên bờ những chiếc hòm đựng đủ loại hàng hóa và cả một thế giới chim bồ câu nhốt trong một cái lồng có lưới vây kín chung quanh như loại lồng mà các bà mẹ vẫn nhốt trẻ sơ sinh mỗi bận phải đi lại trên tàu thủy. Dường như Ôlimpia Xulêta là con gái một gia đình nuôi ong. Nhận xét đó không chỉ bắt nguồn từ bộ mông vổng và eo lưng thắt đáy của cô mà còn bởi toàn bộ con người cô: Bộ tóc quăn màu đồng hun, nước da rám nắng, đôi mắt tròn và tươi tắn hơi khác thường một chút, một giọng nói trong trẻo dường như chỉ được dùng để nói những điều thông minh, ý nhị và vui vẻ. Phlôrêntinô Arixa cảm thấy cô là một người con gái ý nhị hơn là người con gái hiếu động và anh quên ngay cô sau khi đã đưa cô về đến nhà, là nơi cô chung sống với người chồng, ông bố chồng và một số thành viên khác của gia đình.
Mấy ngày sau, Phlôrêntinô Arixa gặp người chồng ở bến cảng đang bốc hàng lên tàu, và khi con tàu nhổ neo, anh nghe rõ trong tai mình có tiếng nói của quỷ dữ. Chiều ấy, sau khi đưa ông chú Lêông XII về nhà, anh giả tảng như là mình ngẫu nhiên cho xe chạy qua nhà Ôlimpia Xulêta và anh nhìn thấy cô đang cho bồ câu ăn ở phía trong hàng rào. Từ trên xe anh gào lên gọi cô gái: "Bao nhiêu tiền một con bồ câu đấy?". Cô ta nhận ra anh và trả lời bằng giọng nói vui vẻ: "Không bán đâu". Anh hỏi"Làm thế nào để có một con bây giờ?". Vẫn không ngừng tay cho chim ăn, cô trả lời anh: "Đưa cô gái nuôi bồ câu đi trên xe khi cô ta gặp mưa giữa đường!". Vậy là đêm ấy anh trở về với tặng vật của Ôlimpia Xulêta: một con bồ câu đưa thư trong nách cánh có sẵn một chiếc vòng kim loại.
Chiều hôm sau, vào đúng giờ cho chim ăn, cô gái xinh đẹp nuôi bồ câu ấy lại nhận thấy con bồ câu đã làm quà tặng anh mà hiện nay đang có mặt ở chuồng và cô nghĩ rằng chắc là nó trốn về đây. Nhưng khi cô bắt đầu lấy nó khám kỹ thì thấy nó mang theo một mẩu giấy cuốn quanh vòng kim loại: Một lá thư tỏ tình. Đó là lần đầu tiên Phlôrêntinô Arixa đã để lại chứng tích trên thư từ và đây chẳng phải là lần cuối cùng, mặc dù trong trường hợp này anh thận trọng không ký tên. Buổi chiều hôm sau, ngày thứ tư, đang lúc bước vào trong nhà mình thì một kẻ không quen đưa cho chính anh con bồ câu ấy nhốt trong một cái lồng và nói lời nhắn mà anh đã thuộc lòng: "Cô nuôi chim bồ câu gửi cho ông cái lồng chim này đây và cô ấy nhờ cháu nói lại với ông rằng ông hãy làm ơn đóng kín cửa chiếc lồng lại kẻo con bồ câu này lại bay mất và đây là lần chót mà cô ấy gửi trả cho ông đấy!". Anh thật không biết giải thích như thế nào về hiện tượng này: Hoặc giả là con chim bồ câu ấy đã đánh rơi mất thư trên đường bay về nhà, hoặc giả cô gái nuôi chim bồ câu lại làm ra vẻ ngây thơ, hoặc giả chính cô ta gửi cho anh con bồ câu này để anh lại gửi thư cho cô. Tuy nhiên, trong trường hợp sau cùng này lẽ tự nhiên cô ta có thể gửi trả con bồ câu cùng với bức thư trả lời.
Buổi sáng ngày thứ bảy, sau khi suy nghĩ lao lung, Phlôrêntinô Arixa lại cho con bồ câu mang bức thư không ký tên bay về nhà chủ. Lần này anh chẳng phải đợi sang ngày hôm sau. Buổi chiều, chính thằng bé ấy mang đúng con bồ câu ấy nhốt trong lồng khác mang đến cho anh cùng với lời nhắn nhủ của cô nuôi chim bồ câu rằng đây cô ấy trả lại cho ông con bồ câu đã xổng chuồng bay về, rằng lần trước cô gửi trả vì cô là người được giáo huấn tử tế, lần này gửi trả là vì cô thương hại ông, nhưng nếu ông lại để nó xổng, cô sẽ không trả lại nữa đâu, thật đấy. Tranxitô Arixa vui chơi với con bồ câu mãi đến khuya, bà cụ bắt nó ra khỏi chuồng, bế nó trong hai cánh tay và cố lòng ru nó ngủ bằng những bài hát ru con và bỗng nhiên bà cụ phát hiện ra trên vòng đeo ở cổ chân con vật có một mẩu giấy ghi đúng một dòng chữ: Em không nhận những bức thư nặc danh. Phlôrêntinô Arixa đọc bức thư ấy mà tim anh đập rộn ràng như thế đó là đỉnh cao của cuộc mạo hiểm đầu tiên của mình và đêm ấy hầu như anh không thể ngủ được, nằm trên giường mà người cứ trăn trở đầy xao xuyến. Sáng tinh mơ ngày hôm sau, trước khi đi làm, anh thả con bồ câu mang theo một phong thư tình có ký rõ tên anh và ngoài ra, trên vòng chân con vật anh còn đeo thêm một bông hồng tươi tắn, đỏ thắm nhất, thơm nhất trong vườn nh
Cuộc săn đuổi ái tình này cũng chẳng dễ dàng gì. Sau ba tháng bị săn đuổi ráo riết, cô gái xinh đẹp nuôi chim bồ câu vẫn chỉ nói một điều duy nhất: "Em không thuộc số những cô gái ấy". Nhưng không bao giờ cô không nhận thư tình của anh cũng chẳng bao giờ để lỡ những cuộc hẹn hò mà Phlôrêntinô Arixa sắp đặt như những cuộc gặp gỡ vô tình giữa hai người. Lúc nào anh cũng đóng vai người xa lạ: Người yêu chẳng bao giờ ra mặt, người rất nhiệt tình đối với tình yêu nhưng đồng thời cũng là người tầm thường nhất, người không cho phép bất kỳ ai để lại trong trái tim anh một dấu ấn của mối tình giữa hai người, kẻ đi săn lén lao ra đường chơi hết mình với sự lôi cuốn của những phong thư tình có ký tên rõ ràng, với những tặng vật lộng lẫy, với những cú mạo hiểm thiếu thận trọng để mò tới nhà người đàn bà nuôi chim bồ câu, ngay cả trong hai trường hợp người chồng không đi chợ và cũng chẳng đi xa. Kể từ những ngày đầu tiên của kẻ đi săn lén, đây là lần duy nhất anh cảm thấy mình bị mũi tên của thần ái tình xuyên qua trái tim mình.
Sáu tháng sau cuộc gặp gỡ đầu tiên, bọn họ lại gặp nhau trong một buồng giường nằm của một chiếc tàu thủy đậu tại cảng đang trong quá trình sơn lại. Đó là một buổi chiều kỳ diệu. Ôlimpia Xulêta có một tình yêu rất vui vẻ, nó tựa như tình yêu của con bồ câu mái đang gù trống, và cô thích được khỏa thân hoàn toàn vài giờ trong một sự nghỉ ngơi kéo dài mà đối với cô nó cũng nồng say như tình yêu vậy. Phòng giường nằm đang được sửa lại, đang sơn dở, và cái mùi sơn kia thật tuyệt để cô gái mãi mãi khắc họa buổi chiều hạnh phúc này trong ký ức của mình. Bỗng nhiên thể theo những đòi hỏi của một ý nghĩ bất chợt đến với mình, Phlôrêntinô Arixa mở nắp một hộp sơn đỏ ở ngay trong tầm tay, rồi anh lấy ngón tay trỏ quẹt sơn vẽ trên mu... của người đàn bà nuôi chim bồ câu một mũi tên đỏ màu máu chỉ về phía hạ bộ và viết một dòng chữ: Cái con ngài này là của anh. Ngay chính đêm ấy, Ôlimpia Xulêta khỏa thân trước mắt người chồng mà không nhớ hàng chữ ấy, còn anh chồng chẳng nói một lời, cũng chẳng thay đổi thái độ, anh ta chẳng thể hiện sự khó chịu gì hết, mà chỉ lẳng lặng đi vào nhà tắm tìm con dao cạo râu trong lúc cô mặc chiếc áo ngủ và thế là anh ta dùng con dao ấy cứa một nhát vào cổ người đàn bà đẹp nuôi chim bồ câu.
Phlôrêntinô Arixa không biết chuyện ấy mãi đến những ngày sau khi người chồng chạy trốn bị bắt lại và y đã nói rõ lý do cũng như hình thức gây tội ác của y trước các nhà báo. Trong rất nhiều năm, Phlôrêntinô Arixa vẫn còn sợ hãi khi nghĩ đến những bức thư tình có ký tên rõ ràng, anh tính từng năm người chồng phải ngồi tù, người mà anh biết rõ ràng qua những chuyến đi buôn trên tàu thủy của hãng mình. Nhưng thực lòng anh không sợ con dao cạo cứa vào cổ cũngụ tai ti
ếng vừa rồi bằng việc anh sợ cái sự kiện không may này: Phecmina Đaxa biết chuyện anh không chung thủy với mình. Trong những năm chờ đợi, người đàn bà có tuổi chăm nom Tranxitô Arixa phải ở lại chợ quá lâu so với giờ định trước do bị một cơn mưa rào không đúng mùa bất thình lình trút xuống và khi về đến nhà thì thấy cụ Tranxitô Arixa chết rồi. Cụ ngồi trên ghế xích đu, đầu đội chiếc vương niệm cài hoa giấy, mặt được điểm son phấn, như lâu nay cụ vẫn làm thế, với đôi mắt rất sống động và một nụ cười rất ranh mãnh đến mức người đàn bà trông nom cụ không nhận ra rằng cụ đã chết vừa được hai giờ đồng hồ. Trước đó ít lâu cụ đã chia cho đám trả con hàng xóm kho của cải của mình gồm vàng và đá quí được chôn cất dưới gầm giường. Cụ bảo chúng rằng đây là những thứ có thể ăn như kẹo và do đó Phlôrêntinô Arixa không thể thu hồi lại được một thứ gì trong số những thứ quí giá nhất. Phlôrêntinô Arixa chôn cụ tại điền trang cũ mệnh danh là Nghĩa trang Thổ tả và anh trồng trên mộ cụ một khóm hồng.
Ngay từ những chuyến viếng thăm nghĩa trang đầu tiên, Phlôrêntinô Arixa phát hiện ra rằng cạnh mộ mẹ mình là mộ Ôlimpia Xulêta, không có bia mộ, nhưng tên và ngày chết của cô được ai đó dùng ngón tay viết trên thành mộ khi xi măng còn ướt và anh ghê rợn mà nghĩ rằng đó là một sự cười cợt đẫm máu người chồng. Khi cây hồng trên mộ mẹ trổ hoa, anh hái một bông để lên mộ cô, trong trường hợp anh không thấy có ai ở bên cạnh, rồi sau đó anh tỉa một nhánh hồng ở mộ mẹ mang sang trồng ở mộ cô. Cả hai khóm hồng này sinh sôi nẩy nở rất nhanh đến mức Phlôrêntinô Arixa phải mang kéo và một số cọc sắt ở vườn nhà đến để tỉa cành và chống đỡ cho cây mọc ngay thẳng. Nhưng hai khóm hồng này phát triển nhanh và mạnh vượt ra ngoài sức lựa của anh: chỉ mấy năm sau khi anh trở lại thăm, hai khóm hồng này đã mọc lan ra tựa như cây cỏ hoang dại trùm kín cả hai ngôi mộ. Và cái nghĩa trang chuyên dùng để chôn người chết trong nạn dịch tả, kể từ dạo ấy trở đi, được gọi tên là nghĩa trang Hoa Hồng, cho đến khi có một vị thị trưởng nào đó, người kém phần thực tế hơn là sự thông thái của nhân dân, chỉ trong một đêm đã cho trồng hoa hồng trên khắp nghĩa trang này, vào ở ngay cổng và ngài cho treo một tấm biển: Nghĩa trang Đại đồng.
Cái chết của bà mẹ để lại Phlôrêntinô Arixa một lần nữa lao vào những công việc đầy hứng thú của mình: Công việc ở văn phòng, những cuộc gặp gỡ theo thứ tự chặt chẽ với các cô nhân tình thường ngày của mình, những ván cờ đôminô ở Câu lạc bộ Thương mại, những cuốn sách tình, những chuyến viếng thăm nghĩa trang ngày chủ nhật. Đó là sự ôxy hóa của thói quen, rất buồn tẻ và rất đáng sợ, nhưng nó lại che chở anh khỏi nỗi lo lắng về tuổi tác của mình. Tuy nhiên, có một ngày chủ nhật trong tháng chạp, khi những khóm hồng trên hai ngôi mộ mọc um tùm giao cành sang nhau, anh nhìn thấy những con chim họa mi đậu trên hàng dâiện đèn vừa được mắc xong, và bỗng anh nhận ra rằng biết bao thời gian đã qua đi kể từ ngày bà mẹ mất, biết bao thời gian đã qua đi kể từ cái buổi chiều tháng chạp mà Phecmina Đaxa gửi cho anh một bức thư nói rằng vâng, rằng cô yêu anh mãi mãi. Cho đến tận lúc ấy anh đã hoạt động như thể thời gian không qua đi với bản thân mình mà chỉ qua đi với những người khác. Ngay như cái tuần trước đây, anh gặp lại một trong những cặp vợ chồng lấy nhau nhờ có những bức thư tình anh viết hộ và anh đã không nhận ra đưa con lớn, vốn là con đỡ đầu của anh. Thế là anh tự che giấu nỗi ngượng ngùng của bản thân bằng một câu nói tỏ ý đầy thán phục: "Chao ôi, lớn quá nhỉ, người lớn rồi còn gì nữa!". Anh luôn luôn như vậy mặc dù cơ thể anh đã để lộ những dấu hiệu của tuổi già đáng phải lo ngại, bởi vì lúc nào anh cũng có cái sức khỏe bền như lim của những người không hay ốm. Tranxitô Arixa vẫn thường bảo: "Cái bệnh duy nhất mà con trai tôi mắc phải ấy là bệnh thổ tả". Dĩ nhiên bà cụ đã nhầm lẫn giữa bệnh thổ tả với tình yêu ngay từ trước khi trí nhớ của bà cụ bị giảm sút. Nhưng dù sao đi nữa, bà cụ vẫn cứ nhầm to, vì con trai cụ đã sáu lần bị bệnh lậu rồi, nếu như viên thầy thuốc nói rằng không phải là sau mà đúng hơn chỉ là một bệnh ấy thôi và cái bệnh này xuất hiện lại sau mỗi khi anh bị thất bại. Ngoài ra anh đã một lần bị bệnh sưng bạch hạch, lần đầu bị bệnh sa đì, và sáu lần bị bệnh eczêma, nhưng cả anh và cả những người khác đều không xem chúng như là bệnh tật mà lại coi chúng như là những chiến công.
Vừa lúc bốn mươi tuổi anh đã phải đến thầy thuốc nhờ ông ta khám bệnh vì anh thấy người mình cứ mỏi nhừ. Sau khi khám xét kỹ càng, người thầy thuốc bảo anh: "Chẳng có bệnh tật gì cả. Những thứ đau này chẳng qua do tuổi tác mà thôi." Anh trở về nhà mà chẳng bao giờ tự hỏi xem lời phán định của thầy thuốc có liên quan gì tới mình không. Bởi điều duy nhất đáng phải lưu ý của quá khứ đời anh là những năm tháng đẹp đẽ sống trong tình yêu thuở ban đầu với Phecmina Đaxa và chỉ những gì có liên quan đến cô mới liên quan đến cuộc đời anh. Do vậy mà cái buổi chiều anh nhìn họa mi đậu trên dây điện đèn, anh đã điểm duyệt lại quá khứ của mình kể từ ký ức xa xưa nhất, điểm duyệt lại vô vàn những mối nguy hiểm mà anh phải vượt qua để đạt tới địa vị lãnh đạo hiện nay trong hãng tàu thủy, điểm duyệt lại những sự kiện không thể đếm được từng xui khiến anh đi đến cái quyết định mạnh mẽ: bất chấp tất cả, anh sẽ làm hết sức mình để Phecmina Đaxa là của anh và anh là của cô, và chỉ đến lúc này anh mới nhận ra rằng anh đã để cho cuộc đời của mình trôi đi. Một cơn rùng mình lạnh buốt xương sống làm tối sầm mắt anh lại và anh buộc phải buông chiếc cưa của người làm vườn ra và vội bám vào tường thành nghĩa trang để cho cú đạp đầu tiên của tuổi già không quật ngã mình.
- Của khỉ, - anh hoảng hốt kêu-thế mà đã ba mươi năm rồi!
Quả thế thật. Dĩ nhiên đó cũng là ba mươi năm đã qua đi đối với Phecmina Đaxa, nhưng đối với cô, chúng là những năm tháng êm đẹp của đời mình. Những ngày kinh sợ trong dinh thự Casanđuêrô đã chìm sâu xuống đáy sọt rác của ký ức rồi. Cô sống trong ngôi nhà mới của mình ở La Mănga, hoàn toàn làm chủ số phận mình, với một ông chồng mà cô lại yêu thích hơn trong số những người đàn ông thuộc cõi đời này nếu cô phải chọn lựa lần nữa, với một đứa con trai đang theo học trường y để tiếp nối truyền thống của gia đình và một cô gái giống hệt cô khi cô ở tuổi nó, đến mức đôi lần cô nao núng bởi cảm giác mình đang được lập lại ở chính cô con gái này. Kể từ sau chuyến du lịch bất hạnh từng được dự tính trước để không bao giờ trở lại sống trong nỗi hoang loạn thường xuyên, đã ba lần cô du chơi sang Châu Ân.
Cuối cùng có lẽ Thượng đế đã nghe thấy trong lời cầu nguyện của một người nào đó: Phecmina Đaxa và bác sĩ Huyênan Ucbinô sống ở Pari được hai năm, khi mà bọn họ vừa mới bắt đầu tìm kiếm cái còn sót lại của tình yêu trong đống đổ vỡ thì có một bức điện khẩn cấp đến vào nửa đêm đã đánh thức họ dậy. Bức điện báo cho họ biết tin rằng bà cụ Blăngca đang bị ốm nặng và ngay sau đó họ lại nhận tiếp bức điện nữa báo tin cụ đã tạ thế. Bọn họ trở về ngay tức khắc. Phecmina Đaxa bước xuống cầu tàu trong chiếc tunica rộng thùng thình đượm màu tang tóc mà độ rộng của nó vẫn không đủ che kín cái bụng lùm lùm của cô. Quả nhiên, lại một lần nữa cô có thai, và cái tin cô có thai lại là khởi hứng cho một bài hát trong suốt năm đó: Điều gì xảy ra với người đẹp ở Pari mà sao cứ mỗi bận trở về đều mang thai sắp đẻ. Bất chấp tính chất suồng sã của lời văn, bác sĩ Huyênan Ucbinô vẫn ra lệnh cho người ta hát nó trong các buổi dạ hội tại Câu lạc bộ Xã hội mãi cho đến những năm sau này, coi đó như một bằng chứng về tinh thần vui vẻ của ngài.
Dinh thự quý báu của Hầu tước Casanđuêrô, mà về tầm rộng lớn và vinh quang của nó không bao giờ có được tin tức chính xác, được bán lần đầu với giá phải chăng cho Ngân quỹ thành phố và sau này được bán lại cho chính phủ trung ương với một giá cực hãi, khi một nhà nghiên cứu người Hà Lan đang đào bới để chứng minh rằng dưới dinh thự này là một ngôi mộ đích thực của Crixtôp Côlông: ngôi mộ thứ năm của Đại đô đốc. Những chị em gái của bác sĩ Huvênan đã vào sống trong tu viện của các nữ tu dòng Phranxixcô để Salê, họ bị buộc phải tu kín và Phecmina Đaxa ở lại nhà cũ của cha để cho đến khi nhà số năm ở phố La Măngga được mua bán xong. Bà dõng dạc bước vào ngôi nhà mới, bước vào để sai phái, và dọn về đây những bàn ghế giường tủ sản xuất tại Anh quốc được mua về từ chuyến du lịch đầu tiên sang Châu Âu, chuyến đi t ngoại tuần trăng mật, và các đồ nội thất cần phải bổ sung được mang về sau chuyến du chơi ở Châu Âu để củng cố tình yêu của hai người, rồi ngay từ ngày đầu bà đã bắt đầu để ở khắp nơi trong khu nhà những con vật lạ mà bà từng trèo lên các con tàu thuộc vùng Caribê để mua. Bà bước vào ngôi nhà với người chồng vừa giành lại được, với thằng con trai được nuôi dưỡng chu đáo với đứa con gái sinh nở sau bốn tháng vợ chồng họ từ Châu Âu trở về và nó được đặt tên là Ôphêlia. Về phần mình, bác Huvênan Ucbinô hiểu rằng thật là khó lòng giành lại người vợ hoàn hảo như người vợ trong chuyến du chơi sang Châu Âu để hưởng tuần trăng mật bởi vì phần tình yêu mà ngài muốn được tận hưởng lại là cái phần bà giành cho các con, nhưng bà đã rèn luyện để sống và hạnh phúc với những gì còn lại. Sự hòa thuận bấy lâu từng ao ước rất nhiều nay bỗng nhiên đạt được ở ngay nơi không ai nghĩ tới: ở ngay bữa cơm tối thịnh soạn có một bát canh ngon và Phecmina Đaxa không biết là thứ gì. Bà bắt đầu ăn rất ngon miệng, bà rất thích đến mức người ta bưng lên hầu bà bát thứ hai và bà lấy làm phiền lòng vì theo phép lịch sự không thể ăn tới bát thứ ba khi bà biết rằng mình vừa ăn hết hai bát canh cà đầy với tất cả niềm thích thú. Bà không còn sợ cà nữa và từ độ ấy trở đi, tại ngôi nhà số năm phố Măngga, người ta lại ăn cà dưới mọi hình thức chế biến và hầu như ăn thường xuyên như hồ còn sống tại dinh thự Casanđuêrô, và cà là món ăn được mọi người rất ưa thích đến mức trong những giờ rảnh rỗi của tuổi già bác sĩ Huvênan Ucbinô vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng ngài muốn có thêm một đứa con gái nữa để đặt cho nó cái tên mà cả nhà yêu thích: Bêrênhêna Ucbinô.
Lúc ấy Phecmina Đaxa hiểu rằng, ngược lại với cuộc sống xã hội, cuộc sống gia đình rất quanh co và không thể nhìn rõ được. Đối với bà thật khó mà thiết lập được những sự khác nhau thực tế giữa trẻ em và người lớn, nhưng trong những phân tích cuối cùng bà vẫn thích trẻ em hơn bởi vì chúng có quan điểm rõ ràng hơn. Hầu như vừa bước sang tuổi trưởng thành, bị tước hết mọi ảo tưởng, bà bắt đầu nhìn rõ cái nhàm chán của cuộc đời vốn không chỉ là những niềm mơ ước trong tuổi thanh xuân, cái thời ở công viên Lôt Êvănghêliôt, chẳng bao giờ được thực hiện mà nó còn là một cái gì đó bà chẳng bao giờ dám nói ngay với chính mình: bà chỉ là một người hầu gái sang trọng. Ở ngoài xã hội bà đã trở thành một mệnh phụ đươc yêu quí, được kính trọng nhất, đồng thời cũng là một mệnh phụ đáng sợ hơn cả, nhưng trong gia đình bà chẳng là gì hết ngoại trừ điều người ta đòi hỏi bà nhiều hơn và không tha thứ cho bà trong công việc nội trợ nếu như có sơ suất. Lúc nào bà cũng sống một cuộc đời phụ thuộc vào người chồng: là người có quyền tuyệt đối của một vương quốc rộng lớn của niềm hạnh phúc được ngài xây dựng lên và cái niềm hạnh phúc ấy bao giờ cũng dành riêng cho ngài. Bà biết rõ rằng ngài yêu mình sâu sắc nhất, yêu mình hơn bất kỳ ai trên cõi đời này nhưng bà chỉ là của riêng ngài mà thôi: yêu bà để bà tận tụy hầu hạ ngài.
Nếu có sự kiện nào đó khiến bà khổ sở thì đó là các bữa ăn hàng ngày, một cái án khổ sai chung thân. Bởi vì không những chúng lúc nào cũng phải được dọn đúng giờ mà còn phải tinh tươm, còn phải đúng như sở thích của ngài mà khi làm món ăn không phải hỏi ngài xem thích món ăn nào và nấu như thế nào. Nếu như đôi lần bà hỏi ngài, như một trong vô số những lễ nghi vô tích sự của tập quán gia đình này, thì ngài vẫn dán mắt vào tờ báo mà trả lời gọn lỏn: "Ăn gì cũng xong". Ngài nói thật bụng, với điệu bộ thật đáng yêu, bởi vì ngài không thể nào hiểu nổi một người chồng độc đoán. Nhưng khi ngồi ăn thì không thể món ăn bất kỳ nào cũng được, mà phải đúng là cái món ngài thích và phải rất tinh tươm: nghĩa là thịt khi ăn phải để người ăn không nhận ra là thịt; nghĩa là món cá khi ăn phải không để người ăn nhận ra là cá, nghĩa là thịt gà khi ăn phải để người ăn không thấy có lông. Ngay cả trong mùa không có măng tây cũng phải bằng bất kỳ giá nào kiếm được măng tây để cho ngài có thể thích thú ngay trong cái mùi nước giải thơm lựng của mình. Chỉ cần ngài thoáng có ý nghi ngờ là lập tức ngài gạt món ăn trên bàn sang một bên rồi nói: "Cơm canh gì mà nhạt tèo, dường như nó được nấu ra không phải bằng tình thương". Trong câu nói này ngài đã buộc những người khác phải suy nghĩ lao lung. Có một lần ngài nếm rượu táo, ngài trả lại ngay cốc rượu và nói: "Cái của nợ này có mùi cửa sổ". Từ Phecmina Đaxa đến các cô hầu gái đều lấy làm ngạc nhiên vì không ai biết một người nào đó đã uống thứ rượu được cất từ cửa sổ, nhưng khi nếm thử món rượu để xem xem nó như thế nào thì bọn họ đã hiểu ra: "đúng là nó có mùi cửa sổ thật."
Ngài là một người chồng hoàn hảo. Không bao giờ ngài cúi xuống nhặt một thứ nào đó rơi ở dưới sàn nhà, cũng không hề đóng cửa, không hề tắt đèn. Trong bóng tối buổi ban mai, khi quần áo ngài thiếu một chiếc cúc, Phecmina Đaxa nghe thấy ngài nói rằng: "Người ta phải cần tới hai người vợ, một cô để ân ái và một cô để đơm cúc quần áo khi nó bị khuyết". Tất cả các buổi sáng, ngay từ ngụm cà phê đầu tiên uống trong ngày và ngay từ thìa canh nghi ngút khói nóng, ngài thốt ra tiếng kêu đau đớn chẳng khiến ai giật thột, và tiếp một câu nói cho thỏa cơn bực lòng: "Ngày mà tôi đi khỏi cái nhà này hẳn các người sẽ biết rằng cần phải như vậy vì tôi ngấy đến tận cổ cái việc cứ ngồi vào bàn ăn là miệng bị bỏng phồng ra". Ngài bảo rằng chẳng bao giờ các bữa cơm trưa được nấu cho ngon lành và độc đáo như những bữa trưa trong ng không thể ngồi ăn vì đã uống thuốc tẩy ruột, và ngài cứ đinh ninh tin rằng đó là sự bội phản của người vợ đến mức ngài đi đến quyết định sẽ không uống thuốc tẩy ruột nếu bà vợ không cùng tẩy ruột với mình.
Bực mình trước thái độ làm thinh không chịu hiểu biết của chồng, bà yêu cầu ngài tặng mình một tặng phẩm độc đáo nhân ngày sinh của bà. Đó là việc ngài thay mình đảm đương công việc nội trợ trong một ngày thôi. Ngài vui vẻ chấp thuận ngay, và từ sáng sớm ngài bắt tay vào công việc. Ngài dọn một bữa điểm tâm thật thịnh soạn nhưng ngài lại quên mất rằng bà không thích ăn trứng tráng và cà phê sữa. Sau đó ngài ra lệnh chuẩn bị bữa trưa mừng sinh nhật có mời tám khách ăn cơm và ngài cố gắng hết sức để làm tròn bổn phận người cai quản gia đình còn tốt hơn cả bà đến mức gần mười hai giờ trưa ngài phải đầu hàng công việc mà không có lấy một động tác hổ thẹn. Ngay từ phút đầu tiên ngài nhận ra rằng mình hoàn toàn không quen biết công việc đến mức không biết các dụng cụ để ở đâu, nhất là trong nhà bếp, và những người hầu cứ để mặc cho ngài chạy đi chạy lại tìm kiếm chúng, tìm kiếm từng cái một bởi vì các cô cũng về hùa với bà chủ để trêu chọc ngài. Đến mười giờ trưa người ta vẫn chưa thể quyết định sắp bữa tiệc vì nhà cửa chưa lau quét, phòng ngủ vẫn chưa dọn dẹp xong, phòng vệ sinh vẫn chưa được cọ rửa, ngài quên không thay giấy vệ sinh, không thay ga trải giường như ngài đã vội bảo tay đánh xe đi tìm lũ trẻ, và ngài nhầm lẫn chức phận của các cô người hầu: sai người đầu bếp đi dọn phòng ngủ và sai bọn hầu phòng đi nấu ăn. Đến mười một giờ trưa, sắp tới giờ khách đến dùng cơm, nhà cửa vẫn cứ bề bộn đến mức Phecmina Đaxa không chịu nổi đành phải ra tay dọn dẹp và chỉ huy công việc. Bà làm trong lúc cười ngặt nghẽo nhưng không phải bà cười với thái độ của người chiến thắng và đúng hơn bà cười vì mủi lòng thương hại đối với người chồng quá ư vụng về trong công việc nội trợ. Ngài cảm thấy đau đớn trước thất bại của mình nhưng lại khéo chống chế bằng luận điệu quen thuộc: "Chí ít ra, nó cũng không tồi tệ hơn như cái việc anh đi tìm hiểu em mà cứ giả vờ đi chữa bệnh hồi ấy". Nhưng bài học lại rất bổ ích, không chỉ đối với ngài. Trong những tháng sau đó, bằng những con đường khác nhau bọn họ, bác sĩ Huvênan Ucbinô và Phecmina Đaxa, cùng đi tới một kết luận thông minh rằng quả là không thể chung sống với nhau dưới một hình thức nào khác cũng như không thể yêu nhau dưới một hình thức nào khác: trên cõi đời này không gì khó hơn là tình yêu.
Ngay trong giai đoạn lộng lẫy nhất của cuộc đời mới, Phecmina Đaxa đã nhìn thấy Phlôrêntinô Arixa trong nhiều dịp khác nhau và ngày càng gặp ông nhiều hơn khi ông càng leo nhanh lên địa vị lãnh đạo Hãng Tàu thủy Caribê hơn và bà tự rèn luyện để gặp ông mà vẫn giữ được thái độ tự nhiên đến mức nhiều lần bà quên không chào ông. Bà nghe nói đến ông nhiều hơn, thường xuyên hơn, vì bậc thang danh vọng mà ông đi trên nó với tinh thần thận trọng nhưng không thể giấu kín được của ông trong Hãng Tàu Thủy Caribê là một đề tài thường xuyên được đề cập tới. Bà thấy hình thức của ông ngày một khá hơn, thấy ông bớt rụt rè hơn, thấy ông người đẫy đà hơn trước, thấy ông đàng hoàng thư thái hơn, thấy ông biết cách khéo léo hạn chế bớt tốc độ hói tóc. Điều duy nhất khiến bà mãi mãi nhớ tới thời gian và kiểu cách ăn mặc là những bộ quần áo tối màu của ông, những chiếc áo lêvita cổ lỗ của ông, chiếc mũ duy nhất, những chiếc cà vạt của nhà thơ mà của hàng tạp hóa trước đây của mẹ ông vẫn bán, chiếc ô buồn tẻ của ông. Phecmina Đaxa đã quen nhìn ông với một hình thức khác và đã kết thúc ở việc thôi không liên hệ ông với Phlôrêntinô Arixa hồi mới thức dậy say đắm bà vẫn ngồi dưới tán lá vàng rơi ở công viên Lôt Êvăngghêliôt. Tóm lại, lúc nào bà cũng thấy ông như vậy, và lúc nào bà cũng vui lòng trước những tin tốt đẹp về ông mà người ta nói đến tai bà, bởi vì dần dần những tin tức ấy đã an ủi bà trước mặc cảm về tội lỗi của mình.
Tuy nhiên, khi bà tưởng rằng mình đã hoàn toàn xóa nhòa hình bóng ông trong ký ức thì ông lại xuất hiện một cách bất ngờ và trở thành một bóng ma ám ảnh trong những nỗi hoài nhớ của bà. Đó là những làn gió dịu nhẹ đầu tiên của tuổi già khi bà bắt đầu cảm thấy rằng có một cái gì đó đã xảy ra trong cuộc đời, nó gắn với việc bà thường vẫn nghe thấy sấm nổ trước khi trời mưa. Đó là vết thương không thể chữa lành của tiếng sấm cô đơn, khô khốc và đúng hẹn, thường vẫn rền vang vào lúc ba giờ chiều trong tất cả các ngày của tháng mười tại vùng núi Vidanuêva mà ký ức về nó cùng với năm tháng qua đi càng ngày càng trở nên tươi rói. Trong lúc những hồi ức mới chỉ ít ngày đã chìm đi trong ký ức sâu thẳm thì những hồi ức về chuyến đi hào hùng đến tỉnh của người chị họ Hinđêbranđa ngày một trở nên sống động hơn đến mức tưởng như chúng vừa xảy ra ngày hôm qua. Bà nhớ tới làng Manaurê, cái làng miền núi, nhớ đường phố duy nhất của nó, nhớ ngôi nhà đầy hoảng sợ nơi bà thức dậy với chiếc áo sơ mi ướt đẫm nước mắt thương Pêtra Moralêt, người đàn bà chết vì tình rất nhiều năm trước ngay trên chính chiếc giường bà nằm. Bà nhớ tới cái mùi quả ổi lúc ấy mà chẳng bao giờ bà gặp lại, bà nhớ tới những điềm báo trước hết sức rõ nét đến mức tiếng động đều đều nhỏ nhẹ của chúng bị nhầm lẫn với tiếng động của mưa rơi, bà nhớ tới những buổi chiều rực rỡ màu đá tôpa của làng Xăng Hoan đến Xêsa, khi bà đi chơi cùng bầy chị em họ vui vẻ ồn ĩ và bà cứ phải nghiến chặt hai hàm răng lại kẻo tim bay ra khỏi ngực mỗi khi bọn họ đến gần trạm điện báo. Bà bán tống bán táng ngôi nhà của cha mình bởi vì bà không thể chịu đựng nổi nỗi đau thương của thời mới thức dậy, không chịu nổi quang cảnh công viên Lôt Êvănghêliôt cô quạnh được nhìn từ ban công nhà mình, không chịu nổi cái mùi thơm khó hiểu của những bông hoa dành dành trong những đêm không thể chịu nổi cái hoảng hốt trước những hình ảnh bà mệnh phụ cổ kính đến nhà vào một buổi chiều tháng hai đã quyết định số phận bà, và nói chung và không thể chịu đựng nổi những gì khiến ký ức bà trở về thời kỳ gợi nhớ Phlôrêntinô Arixa. Tuy nhiên, bao giờ bà cũng có đủ bình tĩnh để mà hiểu rằng những thứ ấy không phải là những ký ức của tình yêu, cũng chẳng phải là nỗi niềm hối hận, mà đúng ra chúng chỉ là hình ảnh của một nỗi bực mình từng để lại trong bà dấu ấn của những dòng nước mắt. Vì không biết điều đó, bà đang bị đe dọa bởi chính cái cạm bẫy của lòng thương hại rằng mình đã làm mất tương lai của Phlôrêntinô Arixa.
Bà bám chắc lấy người chồng. Và việc này xảy ra đúng vào lúc ngài cần đến bà hơn cả, bởi vì ngài già hơn bà mười tuổi đang lúc một mình loạng choạng mò mẫm trong đám sương mù của tuổi già và hơn nữa ngài lại là một người đàn ông và già yếu hơn bà. Cuối cùng họ đã hiểu nhau rất sâu sắc chứ không như trước đây khi cuộc sống vợ chồng của họ chưa được ba mươi năm. Khi ấy họ như một người bị phân làm hai, phải khó chịu với nhau bởi sự thường xuyên phải dò đoán ý nghĩ của nhau mà không chịu nói thẳng nó ra cho nhau biết hoặc bởi sự tình cờ nực cười này: Trước công chúng người này học vào chuyện mà người kia sẽ nói đến. Giờ đây họ chung sống rất hòa thuận bên nhau, cùng chịu đựng những hiểu lầm hàng ngày, những bực mình tức thời và thoáng qua, những chuyện lẩm cẩm mà cả hai cùng gây ra cho nhau, cả những ý nghĩ tinh nghịch rực rỡ của sự đồng lõa giữa hai vợ chồng. Đây là thời kỳ họ yêu nhau say đắm nhất, không vội vã cũng chẳng thái quá và cả hai người đều là những người có lương tâm tốt đẹp và biết ơn những chiến thắng vẻ vang của họ đối với thế lực chống đối mình. Tuy nhiên, cuộc đời vẫn đặt họ trước những thử thách chết người khác, đúng thế, những không quan trọng nữa: bọn họ đã ở một bến bờ khác rồi.
--------------------------------1 | Trong mồ tối. |
2 | Tiếng Anh: Khi tỉnh giấc ở Glory. |
3 | Những chiếc xe. |
File EPUB hình như bị thiếu bạn ơị..
Cám ơn Bạn nhiều nhé..
NX