CLOSE
Add to Favotite List

vmBOARDS

  • Thanh-Thanh 6 years ago

    BỤI ÐẤT VÀ HƯ-VÔ

    Trưa ngày 25 tháng 12 năm 1974, tôi đang cùng với bạn-bè dự một bữa ăn nhân dịp Nô-En tại nhà của một thuộc-viên thì được Sĩ-Quan Trực từ Phòng Tình-Hình gọi máy đến báo-cáo một tin-tức khác thường.
    Vào khoảng 11g30 vừa rồi, có một chiếc trực-thăng đáp xuống cạnh Trường Tiểu-Học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam. Từ trên phi-cơ bước xuống một thiếu-tướng và một trung-tá Việt-Nam Cộng-Hòa, cùng với một người đàn-ông và một người đàn-bà Hoa-Kỳ. Người đàn-ông có mang theo một cái hộp trên tay.
    Viên trung-tá vào trường, dẫn bác Cai Trường ra, giới-thiệu với mấy người kia; rồi bác Cai Trường vào trong mang ra một cái xẻng, theo sự chỉ-dẫn của hai người Mỹ, đào một cái lỗ, ngay giữa hàng-rào phân chia khoảng sân bên hông trường ấy với con đường hương-lộ bên ngoài, chôn xuống đó cái hộp từ tay của người đàn-ông Hoa-Kỳ, lấp đất lại, rồi xóa sạch dấu đất mới, để chỗ đó trông giống bình-thường như không có việc gì xảy ra.
    Xong, bốn người kia trở lên trực-thăng bay đi, và bác Cai Trường vào trường.
    Mọi việc xảy ra mau lẹ như đã được sắp-đặt từ trước rồi.
    Lúc chôn cái hộp là vào khoảng 12 giờ trưa.
    *
    Tôi đoán là có cái gì bí-mật, mà nhà chức-trách địa-phương giấu kín, hoặc không biết rõ nên Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam chỉ báo-cáo đơn-giản thế thôi. Cho nên, do tò-mò nghề-nghiệp, tôi về nhà sớm và bắt tay vào việc ngay.
    Sau khi gọi điện-thoại hỏi Trung-Tâm Hành-Quân thuộc Sư-Ðoàn I Không-Quân và Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I, tôi tổ-chức một chuyến đi vào Quảng-Nam quan-sát tại chỗ, đồng-thời tiếp-xúc với các mật-viên quanh vùng, để biết thêm chi-tiết về vụ này...
    *
    Bác Nam thanh-minh:
    – Tôi cứ tưởng là chỉ cần báo-cáo những gì liên-can đến cộng-sản mà thôi, còn đây là vấn-đề tình-cảm cá-nhân mà các người trong cuộc đã yêu-cầu tôi giữ kín giùm...
    Thiếu-Tá Sơn đỡ lời tôi:
    – Không ai trách-móc bác đâu. Bác hãy kể chuyện về người Mỹ tên Sam đi.

    Bác Nam kể:
    – Ðầu năm 1971, Toán Dân-Sự-Vụ của Thủy-Quân Lục-Chiến Hoa-Kỳ hoạt-động tại Quận Ðại-Lộc thay đổi cấp chỉ-huy.
    “Người mới đến là Đại-Úy Sam, một thanh-niên đẹp trai, hiền-lành, nhã-nhặn, bình-dân. Anh rất lanh-lợi và có nhiều sáng-kiến hay.
    “Công-tác nổi bật đầu tiên là anh thành-lập một Hội Việt-Mỹ cho Quận Ðại-Lộc. Anh chịu khó đi thuyết-phục để mời vào Hội không những chỉ các viên-chức chính-quyền như Quận-Trưởng, Phó Quận-Trưởng, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực, Trưởng Chi Thông-Tin, Trưởng Phòng Văn-Hóa Giáo-Dục, Hiệu-Trưởng Trường Trung-Học, các sĩ-quan thuộc Chi-Khu, Xã-Trưởng, giáo-sư, giáo-viên, phụ-huynh học-sinh, học-sinh tiểu+trung-học, v.v... như thường-lệ, mà anh còn mời cả các thương-gia, nông-dân, tài-xa, tài-công, lâm-dân, ngư-dân, v.v... cùng với một số tu-sĩ Phật-Giáo trong vùng.
    “Với Hội Việt-Mỹ của Sam, sinh-hoạt ở đây sinh-động hẳn lên. Hội-viên gồm mọi tầng-lớp xã-hội. Sách+ báo từ phía Hoa-Kỳ phân-phát, phổ-cập hầu như đến từng gia-đình. Hoạt-động không chỉ thu gọn trong các kỳ họp, mà còn thể-hiện qua bất-cứ cơ-hội nào có người Mỹ xuất-hiện trong làng xóm Việt-Nam.
    “Sam đề-nghị, và được phía Việt-Nam đồng-ý, dùng phòng học của Lớp Năm trường tiểu-học Lộc Mỹ này làm nơi trao-đổi văn-hóa, dạy tiếng Anh vào buổi tối, vì nơi đây thuận-tiện cho sự đi lại của mọi người.
    “Phòng này nằm ở đầu dãy, bên hông có một cửa sổ nhìn ra hàng-rào che khuất tầm mắt của người qua đường. Phía bên kia đường, các ông thấy đấy, có một cây đa cành lá sum-suê, rễ ở gốc cây cao hơn mặt đất, người nào vóc cao mà đứng lên trên đám rễ, tựa vào gốc cây nhìn vào cửa-sổ thì trông thấy mặt cô giáo rõ-ràng.
    “Giáo-viên Lớp Năm là cô Diệu-Hương, hoa-khôi toàn Quận, năm ấy vào khoảng hai mươi, dịu-dàng, lễ-phép, đứng-đắn, siêng-năng.
    “Phòng học Lớp Năm trước kia là nơi cô đến soạn bài, chấm bài cho học-sinh, và tự học thêm chương-trình đại-học vào các ngày nghỉ và mỗi buổi tối, thì nay còn là nơi cô đến làm công-việc của Hội với tư-cách thư-ký, học tiếng Anh, dạy tiếng Việt cho ngưới Mỹ, giúp chiếu phim, điều-khiển máy ghi-âm, v.v...
    “Cha mẹ cô thuộc giới trung-nông, sùng Ðạo Phật và chịu ảnh-hưởng Ðạo Nho.
    “Sự giao-tiếp giữa cô với Sam, trong khung-cảnh chung của sự tiếp-xúc giữa hai bên Việt-Mỹ, có bắt tay, có vỗ vai, nhất là giữa đàn-bà con-gái Việt Nam với đàn-ông Hoa-Kỳ, bề ngoài là chuyện tự-nhiên, nhưng cha+mẹ cô rất lo, nên đã nhờ tôi theo dõi, ngăn ngừa giùm, sợ đi quá xa.
    “Tôi là Cai Trường, làm liên-lạc-viên của Hội, vừa sắp dọn rồi cất dẹp mọi thứ trước và sau mỗi buổi, vừa tham-dự học tiếng Anh và dạy tiếng Việt, nên tôi có mặt hầu hết mọi lần Sam và Diệu-Hương gặp nhau. Và tôi đã thấy ngay một mối tình trai+gái chớm nở giữa hai người, ngày càng sâu nặng hơn.
    “Quả thật là tôi đã có đồng-lõa với hai người.
    “Thứ nhất là vì tôi thấy Đại-Úy Sam thật tình yêu Diệu-Hương, muốn xây-dựng lâu dài. Anh đi lễ chùa vào rằm, mồng một âm-lịch, tìm hiểu Ðạo Phật, học hỏi phong-tục tập-quán Việt-Nam. Anh biếu quà và tham-gia mọi cuộc vui với trẻ em vào các dịp cuối tuần, nghỉ hè, Trung Thu. Anh đưa Y-Tế Mỹ đi săn-sóc từng cụ già, cứu-trợ từng nạn-nhân bị Việt-Cộng pháo-kích, giật mìn. Anh giúp lợp nhà, sửa đường, đào mương, tích-cực hơn cả cán-bộ của mình. Dân-chúng nhờ anh rất nhiều.
    “Mà điều quan-trọng là anh trân-trọng người yêu, không hề sỗ-sàng bậy-bạ như đa-số người Mỹ khác. Sam nói riêng với tôi là anh sẽ xin chính-thức cưới Diệu-Hương. Tôi biết là có nhiều cô-gái Việt-Nam lấy chồng Mỹ đường-hoàng, nên tôi yên tâm.
    “Thứ nữa là vì tôi nghĩ: nếu cho cha+mẹ cô biết thì chắc ông+bà sẽ cấm hẳn cô tới+lui với Hội Việt-Mỹ; mà không có cô thì Hội tất-nhiên sẽ tan, vì anh sẽ dời Hội đi nơi khác, tôi mất việc làm với đồng lương cao và tiền lời bán đồ giải-khát, bánh, kẹo, cháo, chè mỗi đêm.
    “Mãi đến hôm nay, giữ đúng lời hứa với hai người trong cuộc, tôi vẫn chưa kể cho cha+mẹ cô biết về mối tình giữa hai người.
    “Huống chi Đại-Úy Sam thì đã về nước từ sau Nô-En năm ấy, và cô Diệu-Hương thì cũng đã bỏ đi đâu biệt-tích từ sau Nô-En năm ngoái, 1973...”
    – Từ khi Sam rời Việt-Nam, đến khi Diệu-Hương đi biệt, là hai năm trời, hai người có còn liên-lạc với nhau hay không? Ðời sống tình-cảm của cô thế nào?
    – Anh vẫn gửi thư đều-đặn, hàng tháng, cho cô, qua tôi; tôi đều chuyển lại tận tay; nhưng cô nói là cô không trả lời. Tôi không được biết trong thư anh nói những gì.
    “Có nhiều thanh-niên Việt-Nam cũng như vài ba người Mỹ có vẻ săn đón cô hơn, nhưng cô đối xử với họ bề ngoài tự-nhiên như đối với Sam trước kia, chứ không có gì khác hơn.
    “Cuối năm 1972 thì cô đổi về dạy ở Tam-Kỳ, thuộc Tỉnh Quảng-Tín; cuối tuần về nhà thường ghé thăm tôi.
    “Tôi hiểu là cô rất buồn, ít nói hơn, da xanh hơn...
    “Ðây là bức thư của cô đã viết cho Sam vào dịp Nô-En năm ngoái. Cô không gửi nó qua Mỹ mà lại nhờ tôi cất giữ như một bằng-chứng hoặc một di-vật lưu lại cho Sam; tôi không mở xem. Cô đã dặn tôi: nếu đến hết ngày Nô-En năm nay, tức là 12 giờ khuya hôm nay, mà Sam vẫn không trở lại gặp cô, thì xin tôi hãy giải giùm lời thề, bằng cách đốt nó ở gốc cây đa, là nơi anh đã đứng đó nhiều lần hướng về cửa sổ say-đắm nhìn vào...”
    *
    Lộc-Mỹ, ngày 25/12/1973

    Anh Sam yêu-dấu,
    Ðây là bức thư đầu tiên mà cũng là bức thư cuối cùng em gửi anh, người đàn-ông đầu tiên mà cũng là người đàn-ông cuối cùng trong đời em. Nội-dung chỉ là EM YÊU ANH. Nhưng vấn-đề không chỉ đơn-giản như ba tiếng “em yêu anh”.
    Anh là người Mỹ học-thức, giàu-có, mạnh-khỏe, trẻ-trung, can-đảm, cần-cù, nhân-ái, vị-tha, hào-phòng, tự-do.
    Những quân-nhân như anh, ngoài các cuộc hành-quân còn dành thêm tâm-trí, công-sức và thì-giờ để làm công-tác xã-hội giúp ích cho người xung quanh, thật là hiếm-hoi. Trong cương-vị của anh, anh xứng-đáng tiêu-biểu cho một dân-tộc hùng-cường, nghĩa-hiệp, vượt vạn dặm trùng-dương đến đây hy-sinh xương máu để bảo-vệ, kiến-thiết, và phát-triển Việt-Nam nghèo-yếu khổ-nạn quê-hương em.
    Anh là một thanh-niên lịch-thiệp, nói theo các bạn em là “con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai”, yêu đời, yêu người, biết kính già quý trẻ, biết tôn-trọng những giá-trị tinh-thần, nhất là tôn-trọng người mình yêu.
    Anh đã cho em biết thế nào là mãnh-lực ái-tình, thế nào là tình yêu không phân chia chủng-tộc, màu da. Anh vừa lãng-mạn phác-họa một cảnh gia-đình hạnh-phúc tràn-trề, vừa thực-tế dự-trù sau khi xuất-ngũ sẽ tiếp-tục học lấy bằng Master, lấy bằng Ph.D., dọn đường cho sự-nghiệp tương-lai. Anh đặt kế-hoạch cho tiền-đồ của cả hai chúng mình. “Anh đã cho em Niềm Tin trong Tình Yêu”...
    Nhưng vì cha+mẹ em không chấp-nhận việc một người con-gái Việt-Nam lấy chồng người nước ngoài (em biết điều đó qua nhiều lần ông+bà phê-bình người khác trước mặt em, và qua lời ông+bà nói với bác Nam mà bác ấy kể lại với em), nên em đành phải giấu-giếm mọi người, trừ bác Nam mà em đã thú thật sau này.
    Yêu nhau mà phải lén-lút, còn gì bực-bội và xấu-hổ bằng!
    Hy-vọng duy-nhất của em là chờ đến ngày em hai mươi mốt tuổi, là tuổi hợp-pháp tự mình quyết-định hôn-nhân của mình; nhưng không phải là để tự-do làm giấy hôn-thú với anh, mà là để dễ thuyết-phục song-thân em chấp-nhận mối tình của chúng mình, vì em không thể làm một đứa con bất-hiếu – bất-hiếu vì làm trái ý cha+mẹ, bất-hiếu vì làm cha mẹ mất mặt với mọi người.
    Nhưng, nếu ông+bà vẫn không đồng-ý thì sao? Ðó là điều mà em không dám giải đáp, vì chỉ nghĩ đến là em đã thấy sợ rồi.
    Ðùng một cái, anh được lệnh hồi-hương. Một việc bình-thường mà thời-gian qua đắm chìm trong tình yêu em không nghĩ đến. Hết hạn tùng-quân thì phải về thôi!
    Tuy thế, có lý nào chấm dứt mọi sự ngang đây sao anh?
    Nhưng anh đã trấn-an em. Anh hứa là sẽ tìm đủ mọi cách trở lại Việt-Nam, dù với tư-cách quân-nhân hay nhân-viên dân-chính, thường-dân.
    Qua năm 1972 thì Hội Việt-Mỹ dời đi nơi khác.
    Em sống xa anh, lại không còn gần những cảnh sinh-hoạt thân quen do anh tạo nên và vẫn mang đậm dấu ấn của anh, nên em cảm thấy cuộc sống trống vắng, lạt-lẽo vô cùng, dù anh vẫn gửi thư về đều đều; nên qua Nô-En thì em đã xin thuyên-chuyển về dạy ở Tam-Kỳ.
    Em về Tam-Kỳ để gần căn-cứ Chu-Lai, để được thấy các bạn anh nhiều hơn, để đỡ nhớ anh hơn, và để càng nhớ anh hơn.
    Anh yêu! Cuộc đời không chiều lòng người. Nô-En 1972 anh chưa trở lại được, nhưng vẫn còn nhiều hy-vọng, vì chiến-tranh vẫn còn. Nô-En 1973 anh không trở lại được, thì đâu còn hy-vọng, vì chiến-tranh không còn. Phải chăng hy-vọng chỉ còn, tình yêu của chúng ta chỉ còn, khi vẫn còn chiến-tranh, cuộc chiến khốc-liệt mà chúng mình muốn sớm kết-thúc? Nhưng, kết-thúc như thế nào, có phải là trong chia-lìa, mất-mát, đổ-vỡ, đau-thương không anh?
    Nô-En năm nay em có một quyết-định mới. Em bỏ gia-đình, em bỏ việc làm, em thử... tìm về Hư-Vô, một cõi sắc-không không-sắc – như anh đã có nghiên-cứu và nói là đã lĩnh-hội được rồi – vì cuộc đời quả là bể khổ, oái-oăm phi-lý quá, phải không anh? Cha+mẹ em ép buộc em phải kết-hôn với một người mà em không yêu. Thế là em đã có lý-do để thoát-ly gia-đình mà không làm cho ai đổ lỗi cho anh.
    Thời-hạn ba năm của lời thề xưa vẫn còn. Anh còn một năm để giải lời thề trước cây đa làng cũ. Anh còn một năm để thử-thách lòng anh. Em đã cố tình không viết một dòng chữ nào cho anh từ hai năm qua, trừ lời nhắn miệng với các người bạn mà anh nhờ gặp, rằng em trọn đời yêu anh và sẽ trung-thành với anh, cốt để giúp anh trắc-nghiệm tình anh. Nếu anh trở lại được, thì anh đi tìm em được; Tình Yêu sẽ hướng-dẫn anh. Nếu anh không tìm ra em, mà anh vẫn muốn tìm em, thì đêm Nô-En 1974 em sẽ chờ anh ở Nhà Thờ năm xưa; chậm lắm là vào 12 giờ khuya ngày 25, phút cuối cùng của thời-gian thử-thách, em sẽ chờ anh ở gốc cây đa.
    Ở gốc cây đa đó, em đã đón nhận nụ hôn đầu tiên của người khác phái, em đã trao anh nụ hôn đầu tiên của người con gái, là lần đầu tiên em ngây-ngất mê-ly, là lần đầu tiên em sẵn-sàng chết đi trong vòng tay siết chặt của người yêu. Ôi, nụ hôn ngọt-ngào như lời thề-nguyền buổi sáng mùa xuân cuộc đời, mà cũng là nụ hôn đắng-cay mùi vị chia-ly chúng mình dành cho nhau trước ngày anh xa em.
    Anh không sợ ma, em không sợ ma, nhưng hầu hết những người dân làng ở đây đều sợ ma. Nhờ họ sợ ma nên họ để yên cho chúng mình gặp nhau giữa khuya bên gốc cây đa nhiều đêm. Những lần ấy, anh có biết đâu, em lo sợ vô cùng: không phải là sợ có người biết được mối tình mà chúng mình giữ kín, mà là sợ Việt-Cộng tìm cách ám-hại anh, vì chúng đã hơn một lần muốn nhờ tay em...
    Bây giờ thì anh đã hiểu rồi đấy. Nụ hôn biểu-hiện lời thề. Ðời em chỉ hôn một người; người đó, trên đạo-lý, đã là chồng em.
    Em còn nhớ mấy câu Kinh Thánh mà anh đã giảng cho em: “Không được thề dối!” và “Không được phạm tội ngoại-tình!”; và: “Hễ ai ly-dị vợ mà không phải vì cớ vợ mình gian-dâm thì tức là khiến cho nàng ngoại-tình!” (Matthew 5:33, 27, 32)...
    Em không ngoại-tình, em không gian-dâm; em chỉ yêu một mình anh. Nếu không có anh thì em sẽ là hư-vô, vì đời trở nên hư-vô.
    Ðây cũng là một cuộc thử-thách tối-trọng và tối-hậu về phần em: do nơi anh, và do lời hẹn của anh, em sẽ trở về sống với hạnh-phúc trần-gian, hay sẽ tiếp-tục và vĩnh-viễn trở thành sắc-không...

    D.H.
    *

    – Và đây là mười hai bức thư của Sam; Diệu-Hương không ghé lấy từ mười hai tháng nay...
    Trời đã xế chiều. Tôi tranh-thủ mở đọc bức thư mới nhất của người thanh-niên đã từng một thời là Đại-Úy Sam:

    New York, December 1974
    Diệu-Hương, người yêu duy-nhất của anh:
    Cả ba năm nay em không viết thư cho anh. Anh chấp-nhận, vì đó là ý muốn của em mà em đã nói cho anh biết trước rồi; nhưng trong thâm-tâm anh bao giờ cũng mong ước và ngóng chờ thư em.
    Vậy mà giờ đây thì anh không còn trông đợi thư em nữa, em biết vì sao không?
    Ngay khi gặp em là anh yêu em. Ðồng-thời, sau khi đã ở Việt-Nam rồi, đã hiểu Việt-Nam rồi, là anh yêu luôn Ðất Nước và đồng-bào em.
    Anh về Hoa-Kỳ không phải chỉ để vận-động trở lại Việt-Nam với em mà thôi, mà là còn để nói lên tiếng nói của lương-tri, chống lại phong-trào phản-chiến, kêu gọi tinh-thần khử-bạo phù-nguy vốn là truyền-thống cao-đẹp của dân-tộc Hoa-Kỳ.
    Thế nhưng kết-quả ngược lại.
    Ma-quỷ đang hồi cực mạnh; người ta không nghe tiếng nói thống-thiết của những con người chính-trực như anh, thậm-chí bác đơn thỉnh-cầu của anh xin được một lần trở lại Việt-Nam.
    Và bây giờ thì nước Mỹ đã bỏ cuộc rồi.
    Anh còn mặt-mũi nào sống trên đời này mà làm người thua cuộc, hả em? nhất là trong cuộc tình của chúng mình mà hạn chót của lời thề đã đến rồi.
    Trong quá-khứ, nước Mỹ đã từng cứu Pháp, giúp Ðức, tiếp-trợ Âu-Tây, nâng Nhật-Bản, vớt Ðại-Hàn, che-chở Á-Ðông.
    Trong tương-lai, nước Mỹ chắc-chắn sẽ còn hành-hiệp cái-thế độ-nhân.
    Nhất-định mọi người sẽ phải xét lại thái-độ yếu hèn của ngày hôm nay.
    Riêng đối với em, anh đã giữ tròn danh-tiết cho em.
    Trong đêm cuối cùng, bên gốc cây đa, em đã lịm người trong vòng tay anh, phó mặc hoàn-toàn cho anh. Nhưng anh kính-trọng tinh-thần văn-hóa Ðông-Phương...
    Anh sẽ không để cho ai biết gì về mối tình vô-vọng của chúng mình.
    “Khối tình mang xuống tuyền-đài khôn tan...”
    Nếu còn có thoáng chốc nào em nhớ đến anh, thì xin em hãy tin rằng, đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình, anh vẫn chỉ biết một lòng yêu em.
    Tình Yêu ấy là sinh-khí cho hình-hài này, vốn là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất mà thôi.
    Xin cho linh-hồn anh được thanh-thoát, làm một Romeo, một Trương Chi...

    SAM
    *

    Thiếu-Tá Sơn, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh sở-tại, nãy giờ ghé mắt cùng đọc theo tôi, phát-biểu:
    – Như thế là cô Diệu-Hương đã tái xuất-hiện ở Nhà Thờ đêm qua, và sẽ có mặt ở gốc cây đa đêm nay...
    Tôi nghĩ: “Ðoạn cuối câu chuyện không thuộc nhiệm-vụ của mình. Mình chỉ tìm biết xem cô là ai, lâu nay làm gì, ở đâu; thế thôi”.
    Tôi bắt tay từ-giã Sơn:
    – Tất cả thư-từ, và những việc gì xảy ra đêm nay, về sau, hoàn-toàn để tùy bác Nam giải-quyết. Bây giờ thì tôi phải về; còn nhờ anh Hòa trong Quảng-Ngãi, anh Song trong Quảng-Tín, và anh Ðảm ngoài Thừa-Thiên, dĩ-nhiên là cả anh nữa, tìm xem cô đang tu ở chùa nào...
    *
    Ðà Nẵng, ngày 25 tháng 12 năm 1974
    PHIẾU TRÌNH
    Kính trình...
    tại SÀI-GÒN
    Tiếp theo công-điện số...
    Kính xác-nhận điện-trình sơ-khởi về việc...
    Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I xác-nhận chính Thiếu-Tướng Hoàng Văn Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, thừa lệnh Cấp Trên, với sự hướng-dẫn của trung-tá Quận-Trưởng Quận Đại-Lộc, đã dùng trực-thăng đưa hai người Mỹ liên-hệ đến Xã Lộc-Mỹ trưa ngày hôm nay, 25-12-1974.
    Hai người Mỹ ấy là đại-diện của một văn-phòng Chưởng-Khế Mỹ, thi-hành di-chúc của một người tên Sam.
    Theo di-chúc của Ông Sam thì sau khi ông tự-tử chết đi, thi-hài được thiêu thành tro, đem đến chôn ở hàng-rào của trường tiểu-học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam, Việt-Nam, ngay hướng mắt nhìn từ gốc cây đa vào khung cửa sổ Lớp Năm, giữa ngày Nô-En năm nay...
    Chúng tôi đã đến tận nơi tìm hiểu, được biết:
    Nguyên...
    *

    Sáng sau, tôi đang đọc lại bản lưu Phiếu Trình nói trên thì Sĩ-Quan Trực Phòng Tình-Hình báo-cáo rằng các Chánh Sở Ðặc-Cảnh các Tỉnh đã có mặt sẵn, đang chờ lệnh tôi trên máy điện-đàm.
    Thiếu-Tá Thái Văn Hòa của Tỉnh Quảng-Ngãi được tôi hỏi trước, trả lời:
    – Ở Tỉnh Quảng-Ngãi có chùa Thiên-Ấn và nhiều chùa khác, nhưng không có ni-cô nào giống với đối-tượng cần tìm...
    Thiếu-Tá Ðặng Văn Song, Chánh-Sở của Tỉnh Quảng-Tín, báo-cáo là chưa tìm ra.
    Chánh-Sở Trương Công Ðảm của Tỉnh Thừa-Thiên liền xin xác-nhận:
    – Ngoài này chúng tôi đã tìm ra được cô rồi.
    “Cô ở ngay Chùa Sư-Nữ nổi tiếng của Miền Trung. Tại đây, cô giấu lý-lịch; ngoại-trừ Sư-Bà trụ-trì, còn với người khác thì cô xưng một tên khác, nhưng thường chỉ dùng pháp-danh mà thôi. Cô không bao giờ tiếp-xúc với người ngoài chùa. Trước đây đã có nhiều người từ trong Ðại-Lộc ra tìm, nhiều lần mà không gặp được. Riêng ngày hôm kia, cô đã xin phép đi vào Quảng-Nam thăm nhà...”
    Tôi cám ơn các anh, rồi hỏi Thiếu-Tá Lâm Minh Sơn của Tỉnh Quảng-Nam tình-hình đêm qua thế nào.
    Sơn đáp:
    – Ðêm qua, chúng tôi không thấy Diệu-Hương đến gốc cây đa. Có lẽ cô đã nấp kín, cũng gần đâu đó mà thôi. Nhưng không thấy Sam xuất-hiện thì cô đến đó làm gì!
    “Còn bác Nam thì, vào lúc 12 giờ khuya, sau khi đốt xong bức thư của cô ở gốc cây đa, đã chôn luôn các bức thư của Sam vào chỗ đã chôn cái hộp mới được đưa đến từ nửa vòng trái đất bên kia...”

    LÊ XUÂN NHUẬN

    0
Reply
  • B
    butlong 6 years ago

    Tôi đã nhìn thấy tựa sách Vòng Tay Lửa của Nguyên Vũ nhưng không biết làm thế
    nào để đọc được nó.
    Rất mong được giúp đỡ.

    0
  • mailfish 6 years ago

    truyện Vòng Tay Lửa 1 đang được scan và tiếp tục đăng

    0
  • B
    butlong 6 years ago

    cám ơn rất nhiều. Chờ đợi bao lâu nay, giờ sắp thành hiện thực.

    0
Reply
  • ThườngSơn 7 years ago

    Thường Sơn xin chào tất cả
    Dạo nầy VM ngày càng phát triễn, chắc không còn ai nhớ Thường Sơn hén

    0
  • mailfish 7 years ago

    fish là đàn ông mà còn nhớ Thuờng Sơn huống chi mấy cô chắc nhớ Thường Sơn nhiều nhiều hihihihi

    0
  • ThườngSơn 7 years ago

    Fish ơi!! Mấy cô mà nhớ chắc là đòi nợ TS đó hahah lol

    0
  • mailfish 7 years ago

    Nợ tình hả Thương Sơn ?

    0
  • ThườngSơn 7 years ago

    TS làm gì có tình mà nợ hahah

    0
  • Rainman 6 years ago

    Hé-lo ban minh TS...
    R đã trở lại và còn lợi hại hơn haaaaaaaaaaaaa

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago


    Đây là một bài thơ của Thanh-Thanh trong tuyển-tập "Vietnamese Choice Poems" của Nhuan Xuan Le, gồm nhiều thi-sĩ nhất, mà thơ được dịch sang thơ tiếng Anh, tác-phẩm được Nhà Tổng-Phát-Hành Amazon đưa vào danh-sách "Favorite Books of the Year" trong Mục "Best Books of 2014":



    THANK YOU, AMERICA!
    First published in “Wind in the Night Sky”
    (Maryland: The National Library of Poetry, 1993)

    Thank you, America! for rescuing us from hell,
    Humble humans deprived of all rights to life.
    In our old country our enemies cruelly quell
    Laborers, intellects, revolutionaries, monks alike.

    Thank you, America! for teaching us systematism
    By which military is only a part of attribution.
    In our late republic existed militarism
    Causing dictatorship to erode the constitution.

    Thank you, America! for the example to settle
    The difference between politics and religion.
    In our poor nation the priests did meddle
    In worldly powers, and it was mutual demolition.

    Thank you, America! for granting us medium
    To develop our bodies and expand our minds.
    In our left-behind state there is no freedom
    To work and enjoy, think and express any kinds.

    Thank you, America! for nursing us deep hope
    For a near future we can True Virtue attain
    So that our Motherland emerge on the globe,
    Our People, with your help, Man’s Value regain.

    THANH-THANH



    CẢM-TẠ HOA-KỲ

    Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã cứu chúng tôi
    Thoát quỷ dữ cướp Quyền Người, Quyền Sống.
    Trên quê cũ, chúng trù nòi, dập giống,
    Dù trí-thức, bình-dân, cách-mạng, tu-hành.

    Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ về bài học phân-ranh
    Giữa quân-lực với quyền-hành chính-trị.
    Nước cũ chúng tôi, nằm trong tay vũ-bị,
    Dị-ứng độc-tài nên cơ-cấu khuynh-vong.

    Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ về gương sáng nêu chung,
    Phân-lập rõ giữa giáo-quyền, chính-sự.
    Dân cũ chúng tôi bị khuôn rào trí-lự,
    Giáo-sĩ độc-tôn nên sự-nghiệp suy-đồi.

    Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã hiến sẵn sinh-môi
    Cho thể-xác lẫn tinh-thần phát-triển.
    Dân nước chúng tôi mất tự-do thể-hiện
    Quyền làm ăn, suy nghĩ, phát-biểu, an-sinh.

    Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã nuôi dưỡng Niềm Tin
    Về một Tương-Lai phục-hồi chân-giá-trị
    Cho Quê Mẹ chúng tôi rỡ-ràng địa-vị
    Trên mặt địa-cầu ai nấy góp công xây...


    THANH-THANH



    From: Loc Vu
    Date: July 26, 2015 at 1:59:59 AM PDT
    To: Loc Vu
    Subject: Thank you America


    Giao Chỉ San Jose
    Kính gửi quý độc giả trên internet
    Chúng tôi xin gửi đến các bạn vào dịp cuối tuần này tổng cộng 5 tài liệu. Thứ nhất là bài Cảm ơn nước Mỹ, nói về ngày tổ chức về đề tài này thứ bẩy 15 tháng 8-2015 tại San Jose. Phần thứ hai là l thư riêng mời đồng hương tại San Jose vui lòng đến dự. ...

    Số1 Cảm ơn nước Mỹ.
    Sau khi đã viết về chương trình Cảm ơn anh, người thương phế bình VNCH, xin giới thiệu quý vị về công cuộc vận động khiêm tốn hơn dành cho ngày Cảm ơn nước Mỹ. Chúng tôi mời đồng bào tham dự ngày cảm ơn Hoa Kỳ lúc 10 giờ sáng thứ bảy 15 tháng 8-2015 tại Santa Clara County số 70 W. Hedding San Jose.
    Đây là một chương trình đơn giản nhưng hết sức khác biệt và vô cùng ý nghĩa. Sẽ có phần tiếp tân, triển lãm, tổng kết thành quả xã hội dân sinh cho chức quyền cấp liên bang và địa phương trình bày. Sẽ có phần văn nghệ chọn lọc, phần chiếu phim duyệt lại con đường định cư 40 năm qua. Nhân dịp này chúng tôi cũng xin ghi lại những nỗ lực nước Mỹ đã dành cho dân ty nạn Việt Nam trong 4 thập niên vừa qua. Năm nay đặc biệt là năm kỷ niệm 80 năm đạo luật về số an sinh xã hội ra đời năm 1935. Năm nay cũng là năm sinh của medicare (1965). Đạo luật này đã đạt đến tuổi 50. Thêm một bước nữa, chúng ta ghi nhận người Việt tỵ nạn đã định cư dưới triều đại của 7 vị tổng thống Hoa Kỳ. Đó là các ông Ford, Carter, Reagan, Ông Bush cha, ông Clinton, ông Bush con và bây giờ là ông Obama. Tổng thống Ford là người quay lưng lại Sài Gòn nhưng chính ông chấp thuận đón tiếp trẻ mồ côi Việt Nam và đồng thời ra lệnh tổ chức chào đón 135 ngàn ty nạn đầu tiên đến từ Việt Nam. Sau ông Ford là đến ông tổng thống Carter. Ông là người có duyên nợ nhiều nhất với thuyền nhân dù chỉ trải qua có một nhiệm kỳ. Đạo luật quan trọng là Refugee Act ký ngày 17 tháng 5-1980 bao gồm vấn đề tiếp nhận và định cư ty nạn mà phần lớn là từ Việt Nam đến. Ông Carter cũng là người tăng cấp khoản nhận dân Việt từ 17 ngàn lên 50 ngàn một tháng khi thuyền nhân tràn ngập càc trại Đông Nam Á. Cũng trong năm 1980 chính phủ ban hành luật nhận con lai được gọi rất tình cảm là con lai hồi hương.Amerasian Homecoming Act. Riêng về chương trình ODP ra đi có trật tự toàn thế giới dự trù nhận 623,500 người thì riêng Mỹ đã nhận 458,367. Một đạo luật khác tạm gọi là luật nhận HO do tổng thống Reagan ký năm 1988 được coi là một dữ kiện lịch sử quan trọng sau chiến tranh Việt Nam. Cũng cần ghi nhận thêm rằng ngay khi vào Hoa Kỳ, dân Việt được hưởng trợ cấp dưới nhiều hình thức do các đạo luật về an sinh ra đời từ 80 năm trước dưới thời của tổng thống Roosevelt. Trong các năm 1952 qua năm 1965 đã có luật về di dân và quốc tịch nằm chờ sẵn. Chúng ta là di dân tỵ nạn dù đến sau mấy chục năm nhưng đã thụ hưởng ngay quyền lợi di dân từ ngày đầu. Đó là những lý do hết sức thực tế để ít nhất cần đứng lên nói lời cảm ơn nước Mỹ. Chúng tôi tổ chức lần này sẽ có sự hiện diện của tất cả các vị dân cử của 15 thành phố trong quận hạt thung lũng điện tử Santa Clara.Đồng thời cũng có mời các vị thị trưởng và quận hạt láng giềng từ San Francisco đến Alameda, Oakland. Xin quý vị đồng hương ghi nhận và tham dự.Trân trọng kính mời. (IRCC, Inc/Dân Sinh Media/Việt Museum)
    Số 2
    THANK YOU AMERICA Kính gửi quý thân hữu và khán thính giả.
    Thứ Nhất: Chúng tôi xin đại diện cho cơ quan IRCC, Dân Sinh Media và Việt Museum kính mời quý vị bớt chút thì giờ đến dự ngày họp mặt qua đề tài Cảm ơn nước Mỹ. Sẽ bắt đầu từ 10 giờ sáng ngày thứ bẩy 15 tháng 8-2015 tại hội trường Santa Clara County 70 W. Hedding San Jose. Chương trình gồm có tiếp tân thức ăn nhẹ, xem triển lãm phía ngoài và 12 giờ trong hội trường bắt đầu nghi lễ, chiếu phim, văn nghệ, thông tin tổng kết 40 năm định cư, tuyên dương và lời cảm ơn nước Mỹ. Chi tiết được ghi trong thiệp mời đính kèm bằng Anh Ngữ.
    Thứ hai: Xin lưu ý đây cũng là dịp ghi dấu 80 năm, kể từ 1935 chính phủ ban hành luật phúc lợi dân sinh qua chương trình cấp thẻ an sinh xã hội. Ghi dấu ngày ban hành luật Medicare 50 năm.(1965). Ghi dấu 40 năm ngày người Việt đầu tiên qua tỵ nạn định cư tại Mỹ.(1975). Ghi đấu 39 năm thành lập cơ quan thiện nguyện IRCC (1976)
    Thứ Ba: Sẽ có sự hiện diện của các dân biểu, thượng nghị sĩ, thị trưỏng tất cả các thành phố Bay Area, các giám sát viên, các thành phần trong cộng đồng Việt Nam Vịnh Cựu kim Sơn. Chương trình sẽ đơn giản nhưng đầy ý nghĩa và diễn tiến bằng Anh Ngữ. Quý vị nên mời bạn Mỹ và đặc biệt là các gia đình bảo trợ tham dự. Xin thông báo cho chúng tôi để dành chỗ trong hội trường. ...

    0
  • 7 years ago

    Link to the book "Vietnamese Choice Poems" on amazon :http://www.amazon.com/Vietnamese-Choice-Poems-Nhuan-Xuan/dp/1493121960/ref=la_B00IVOHASW_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1439522037&sr=1-1

    0
  • Rainman 6 years ago

    Thiệt tinh.. Đọc mà chẳng hiểu gì, lơ mơ sao đo.
    Chắc nên chuyển wa mục politics hở Fish...

    Heheheh.. Longgggggggggggggggggg time no see.

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago

    BÀI THƠ CUỐI CÙNG

    gửi Thanh-Thanh

    Lòng buồn như một chiều mưa
    Run run viết một bài thơ... cuối cùng...

    Không hiểu vì sao tôi cũng viết
    Những giòng thơ lạnh giữa chiều nay.
    Lòng cô đơn quá, sầu không hết;
    Nắng loãng chiều tang phủ gót giày...

    Đọc mãi vần thơ tự xứ Trung,
    Những vần thơ giá buốt như đông:
    Chao ôi! sâu kín là rung động
    Im lặng trong hồn, ai biết không?

    Muốn viết bao nhiêu, muốn nói nhiều;
    Hỡi ơi! tình-cảm đã hoang-liêu!
    Cuộc đời hơn một lần đi vắng,
    Lặng-lẽ trong tim mấy vạn chiều...

    Tôi thấy lòng tôi: ôi! xuyến-xao
    Từng niềm rưng-rức, ý nao nao...
    Từng con giông-tố, từng nhung-nhớ,
    Chất mãi trong tim tự kiếp nào...

    Nhưng viết làm sao? tàn-nhẫn lắm!
    Mộng vàng là mộng bấy nhiêu thôi!
    Mà viết làm chi? đau-khổ lắm!
    Hai kẻ hai phương trọn kiếp rồi!

    Tôi muốn lần nào trong giấc mơ
    Cầm tay khẽ đọc một bài thơ...
    Hoa mai rũ nhẹ trên đôi tóc,
    Lưu-luyến bừng trong ánh mắt chờ...

    Nào phải vô-tình qua trước cửa,
    Lảng-lơ như một kẻ qua đường!
    Đã có nhiều đêm nghe thắc-mắc...
    Nhưng đành... đành vậy! phủi mùi hương.

    Thanh ạ! lòng tôi là thế đấy,
    Tình tôi nhỏ quá! biết làm sao?
    Người xa hun-hút, xa-xôi quá!
    Muốn nối đường tim, chẳng chịu vào!

    Tôi ở nơi đây với mẹ già,
    Chợ ngày hai buổi, tháng năm qua...
    Đi trong sa-mạc, trong hiu-quạnh!
    Thơ viết rồi thôi, mộng chẳng hoa!

    Không biết bao nhiêu những lá thư
    Mà tôi đã đọc tự ngày xưa...
    Tâm-tình gửi mãi vào trong giấy,
    Nhưng chẳng bao giờ tôi biết mơ...

    Những bóng người qua đến lỡ-làng,
    Lòng tôi vẫn chỉ một mùa hoang!
    Bao nhiêu bến nước tôi không cắm,
    Không đợi, không chờ, không cả sang...

    Nhưng đến hôm nay, nhận của người
    Một bài thơ máu, một tình côi!
    Tôi nghe xao-xuyến tràn trên mắt;
    Nhưng, biết làm sao, hỡi cuộc đời!

    Chỉ mộng mà thôi, mộng đấy thôi!
    Hai ta xa cách, có trăm lời
    Cũng không nối được hai phương ấy,
    Cột được linh-hồn cho cả đôi!

    Rồi sáng hôm nào, trời hửng nắng,
    Chất đầy xao-xuyến ở trong tim,
    Tôi đi thơ-thẩn, đi xa vắng...
    Đọc nhỏ tên người giữa vắng im...

    Muốn đốt làm gì trang giấy bé?
    Những phong thư lạnh gửi ngày xưa...
    Không! tôi muốn giữ trong tâm-tưởng
    Một bóng vời xa, nếu đã mờ...

    Tôi viết lòng tôi bằng máu mực,
    Miền Trung xa vắng, hỡi Miền Trung!
    Chiều nay rên-siết căng trong mắt,
    Gửi một bài thơ... cho... cố-nhân...

    Sài-Gòn, Hè 1953
    H. CH.
    (thư gửi Thanh-Thanh ngày 10-6)

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago

    MỘT NGÀY MÙA HẠ
    Ở SAN FRANCISCO

    Tôi đến “Xen-Phơ-Răng”
    Giữa trưa trời sẫm tối
    Sương phủ mờ . dốc cao
    Người đông như trẩy hội

    Mặt biển mờ mờ xa
    đàn hải âu nghiêng cánh
    từng cánh buồm lướt qua
    gió hiu hiu thấm lạnh

    Ðứng bên này eo biển
    nhìn sang bên kia bờ
    từng nhịp cầu lơ lửng
    còn đọng hồn người xưa

    Người xưa ơi, Strauss (*)
    mãi mãi dòng thời gian
    tim óc người vô tận
    trên đường nét kỳ quan

    Tôi đến San Fran
    con đường ngoằn dốc thoải
    như bầy cua bò ngang
    đoàn xe quành rỗi rãi

    Xuống thấp rồi lên cao
    bốn hướng vòng xuôi ngược
    những con đường dọc ngang
    dập dờn như sóng nước

    Từng dãy phố chập chùng
    xếp chồng bên vách núi
    bàn tay nào vẽ nên
    thiên nhiên nào diệu vợi?

    Tôi đến San Fran
    bỗng nhòe, đôi mắt ướt
    trông qua Thái Bình Dương
    tưởng chừng như đứt ruột ...

    SONG NHỊ

    (*) Joseph B. Strauss, kỹ sư thiết kế và thực hiện cầu Golden Gate, một trong bảy kỳ quan của nhân loại.


    A SUMMER DAY
    IN SAN FRANCISCO

    I arrived in San Francisco at noon
    on a dark day similar to nightfall.
    The slopes hazed far above with fog;
    People crowded like in a festive mall.

    The distant sea surface was dim;
    the petrels inclined their wings still;
    the sails glided past one after another;
    the breeze brought a breath of chill.

    From this side of the straits,
    I looked at the other along each span
    and felt as if the suspended bridge
    still retained the spirit of a gone man.

    Oh, Strauss (*), the old engineer!
    Your heart and mind being so sublime
    with marvelous lines in your design
    have and will still live through time.

    I got to San Francisco on the winding
    and sloping streets with pleasure;
    Like the transversely crawling crabs,
    the line of vehicles rounded at leisure.

    Going downwards then back upwards
    around in four and each way trend,
    the horizontal and vertical roads
    drifted up and down as if waves bend.

    The rows of houses one upon another
    heaping up round the mountain side:
    whose hands were so skillful to create?
    what masterpiece did nature to us confide?

    I entered San Francisco City
    feeling tears in my eyes suddenly start;
    I gazed far over the Pacific Ocean
    and suffered pain in my deep heart...

    Translation by THANH-THANH

    (*) Joseph B. Strauss, the engineer who designed and built the Golden Gate Bridge, one of the seven wonders of the world.

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago

    KHÓC CHA

    Trời mùa đông tâm hồn con giá lạnh
    Con về đây nhưng cha đã đi rồi!
    Không bao giờ còn thấy mặt cha tôi
    Bao giọt lệ trào dâng trong khóe mắt

    Lòng nghẹn ngào nhói đau như dao cắt
    Chỉ vài ngày con đã mất cha yêu.
    ngày xưa, cha nghiêm khắc rất nhiều
    Vì mong muốn con nên người hữu dụng

    Công ơn cha như trời cao bể rộng
    Như suối nguồn tuôn chảy mãi không ngừng
    Nhớ nụ cười và khuôn mặt bao dung
    Ôi tiếng nói ôn tồn khi giáo dục

    Nhớ cả những ngọn roi vì lười học
    Bởi ham vui với bè bạn gần nhà…
    Biết làm sao kể lại hết tình cha?
    Giọt nước mắt lăn dài trên gò má
    Ngày hôm nay con không còn cha nữa
    Tìm đâu ra hình bóng của cha tôi???

    VŨ UYÊN GIANG


    HOT TEARS FOR DAD

    The world is in winter but colder is my inner heart;
    Here I do return but from this life Dad did depart.
    From now on I cannot see any longer my father's shine;
    How to stop from my eyes the stream of fervid brine!

    My inside shoots as if cut by knives, the stings gather;
    Only in a few days I have lost my beloved father!
    I reminisce the old days you were so formidable
    Just because you wanted me to become serviceable.

    Your immense merit was like high sky, vast ocean,
    Your watercourse of love never ceased its motion.
    How I recall your merciful smile and generous face,
    Temperate voice when educating me in each case.

    I even remember the rod to your good will to bend
    For being work-shy festal with a neighboring friend...
    Of your bosom I can't find any word that fully speaks;
    Drops of choler are rolling down on my hollow cheeks.

    From now on I do not have any more my dear Dad;
    Where on earth can I find my father's image – So sad!

    Translation by THANH-THANH

    0
Reply
  • F
    fremontdragon 7 years ago

    Hi there,
    can we download comic book as doing ebook to tablẻt if so how do we do that ?
    Thanks.

    0
  • mailfish 7 years ago

    You can download most of our comics in CBR format. Llike Tintin, Lucky Luke, Asterix, Spirou.. Just click on "download cbr" below the thumbnail image.

    The comics without the "download cbr" link we probably haven't made the CBR files for or not are available for download.

    Which comics do you wish to download ?



    0
  • ThườngSơn 7 years ago

    Chào Fish, Fish khỏe không?

    0
  • mailfish 7 years ago

    welcome back Thương Sơnnnnnnnnn ! ! !

    mấy năm nay đi đâu biệt tăm biệt tích vậy ? cưới vợ hay đi tu ?

    cụng ly

    0
  • ThườngSơn 7 years ago

    TS cưới 15 cô vợ, bị hành hạ dữ quá nên đi tu lol

    0
Reply
  • ThườngSơn 7 years ago

    Thời gian

    Thời gian có bóng không em
    Cho tôi được núp dưới thềm quạnh hiu
    Đời sao có những buổi chiều
    Buồn vương phố thị, cô liêu ngập lòng.

    Thời gian có nghĩa gì không
    Mà sao con sáo sang sông chẳng về
    Đời sao nhiều nỗi đam mê
    Chỉ riêng tôi vẫn đi về lặng câm

    Đường khuya từng bước riêng thầm
    Nghe tim gõ nhịp đếm lầm thời gian
    Trở về quá khứ miên man
    Còn nghe tiếng nhạc theo nàng sang sông

    Rồi nghe ký ức bềnh bồng
    Mười thu rồi lại mười đông thật buồn …


    Thường Sơn

    http://www.thuongson.net

    0
Reply
  • L
    leevaan 7 years ago

    Nếu có thể mong các Adm vui lòng cho các Truyện Z28 thành EPUB được
    không? Cám ơn rất nhiều.....

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago

    MÙA XUÂN NÀO CHO MẸ

    Có Mùa Xuân nào cho Mẹ không em?
    Dĩ vãng buồn, và ký ức không quên:

    Đêm chạy giặc Tháng Tư Đen ngày đó!
    Mẹ dắt dìu cả đàn con khốn khó
    Vượt trùng dương với thuyền nhỏ mong manh
    Trên đại dương bị hải tặc hoành hành
    Mẹ tuẫn tiết liệt oanh ngời Gái Việt
    Oan khiên đó! Chừ làm sao em biết?

    Ba mươi năm rồi, dân Việt chịu đau thương
    Ba mươi năm rồi, người Việt sống tha phương
    Sống rải rác khắp cùng trên thế giới

    Mùa Xuân này, xin em cho anh gởi
    Một đóa hồng đến người Mẹ năm xưa
    Với lòng thành cầu nguyện sớm trưa
    Cho hồn Mẹ ngày mai thanh thoát.

    HÀ ĐÌNH HUY


    ANY SPRING FOR MOM?

    Is there any Spring for Mom, my dear?
    The sad past and memory would never clear:

    Fleeing from the enemy that Black April's night,
    Mom guided her poor children in a sorry plight
    Crossing the ocean in a small fragile boat.
    Alas! while at sea the pirates atrociously smote;
    She committed suicide proud of being a Viet lady.
    Such misfortune, now how could you see, baby?

    For thirty years, Vietnamese have endured pain;
    Thirty years already, they have suffered in bane
    Living scattered every where on this earth.

    This Spring, kindly take from me of my life's worth
    A rose to the Mom of Boat People that old time.
    In all sincerity we pray day and night in chime
    For Mom's Soul to be at leisure in Ultimate Bliss.

    Translation by THANH-THANH

    0
  • chú tiểu 7 years ago

    Brilliant !!

    Cám ơn

    0
Reply
  • minhtuong 8 years ago

    Ký Ức Mùa Thu

    Thu về ai chẳng vương sầu nhớ
    Em gói giùm đôi chiếc lá xanh
    Ta biết em buồn như xác lá
    Hồn thu cũng rách ở trên cành

    Thời gian thì vẫn trôi biền biệt
    Hương cũ nào vương trên dấu môi
    Chiều xuống bên đời nghe gió hát
    Bâng khuâng chợt nhớ tuổi xa người

    Ta chờ em đến dù trong mộng
    Mà bóng thời gian vẫn miệt mài
    Yêu dấu trong ta giờ hấp hối
    Một mình ngồi khóc tuổi thơ bay

    Thời gian rồi cũng không về lại
    Kỷ niệm ngày xưa sẽ bạc màu
    Thu đến xin mang giùm ký ức
    Kẻo đời làm mất mát hư hao.

    Minh Tường

    0
  • Thanhxuanca 8 years ago

    Bài thơ đọc ... Quá tuyệt đinh. Sâu sắc tiểu muội cảm ơn tác giả bài thơ nè nha...

    0
  • MinhTuong 7 years ago

    Cám ơn bạn Thanhxuanca đã vào đọc thơ và để lại lời khen rất chân tình . Chúc bạn luôn an vui ....!

    0
  • ClassicalMood 7 years ago

    Bài thơ hay nhưng rất tiếc còn lỗi chính tả: "mất mát" thay vì "mất mác". Đề nghị sửa
    gấp để bài thơ hay với đúng chữ của nó.

    0
  • minhtuong 7 years ago

    Cám ơn ClassicalMood đã nhắc nhở ...MT đã sửa thành thật cảm ơn !

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago


    SAU NĂM 2000
    trong tuyển-tập thơ Outstanding Poets of 1994
    Maryland: The National Library of Poetry, 1994.
    (20 năm trước)

    Sau năm hai ngàn, ta vẫn sống an-nhiên;
    Loài súc-vật, loài côn-trùng cũng thế.
    Cây cỏ mọc mầm, vi-trùng nhiễm thể;
    Ðời vẫn thường, mưa+nắng như xưa nay.

    Quả đất vẫn tròn, và chẳng ngừng quay;
    Biển chẳng cạn, khí trời không đặc lại.
    “Ngày tận-thế” chỉ hù ai dốt+dại;
    Thế-giới, loài người: chẳng mất đi đâu!

    Chiến-tranh vẫn còn, từ Á sang Âu,
    Ðể thử-thách lòng hiếu-hòa nhân-loại.
    Bệnh-tật, ngu, nghèo: vẫn còn tồn-tại;
    Ích-kỷ, tham, tàn: chẳng sót chừa ai!
    *
    Tuy thế, bao giờ trong cảnh thương tai
    Cũng vẫn có lương-tâm và thiện-chí:
    Bậc tài+đức cứu dân qua vận bí
    Cho yên+vui thịnh-vượng đến muôn nhà.

    Ta còn có nhiều bước tiến thêm xa,
    Còn thám-hiểm nhiều hành-tinh viễn+dị.
    Ðã bước an-toàn vào tân-thế-kỷ
    Ta cần tự mình quyết-định chính đời ta!

    THANH-THANH



    AFTER THE YEAR 2000
    Thanh-Thanh. Outstanding Poets of 1994.
    Maryland: National Library of Poetry, 1994.


    After the year two thousand, we will be still alive,
    And so will other animals and worms.
    There still will be vegetables and germs,
    And mundane life as ever, rain or shine.

    Not the earth to stop revolving will tend,
    Neither the seas to dry, nor the air to condense;
    Each day will be a new one, not the last hence;
    And the world – humanity – will face no end.

    Wars will continue to erupt here and there
    As an ordeal to test Man’s thirst for Peace.
    Poverty, ignorance, and diseases will not cease
    For egoism, greed, and cruelty will not care.
    *
    But, anywhere on the globe, in any event,
    There always will be conscience, common sense.
    The elites still will vow the innocent’s defense,
    For people to be safe, prosperous, and content.

    We still will have much more progress to make
    And many more stars to explore and win.
    Having set safe the twenty-first century to begin,
    We need self-reliance striving for our own sake.

    THANH-THANH

    Kinh Thánh (do Trương Tiến Đạt giải mã):
    From: dattientruong@hotmail.com
    To: dattientruong@hotmail.com
    Subject: Sấm Ma-la-ki: Trận Thế Chiến III sắp xảy ra
    Date: Fri, 23 May 2014 23:24:29 +0000
    Sấm Daniel: Giáo Hoàng Francis sắp bị truất phế
    * Các cuộc Đảo chánh tại Vatican và Mac-tư-khoa sẽ xảy ra trong Mùa Giáng Sinh cuối tháng 12 năm 2014 và Đầu Năm 2015. Giáo Hoàng Francis bị truất phế. Tổng Thống Nga Putin bị sát hại.
    * Trận Nguyên Tử Thế Chiến III sẽ bùng nổ vào lúc 6 giờ chiều ngày 4 tháng Giêng năm 2015.
    * Ngày 20 tháng 6 năm 2017 sẽ là ngày Tận Thế.


    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Phím Đợi

    Ai treo niềm nhớ ngoài hiên vắng
    Cho bóng trăng ngà khuất nẻo xa
    Lạc dấu tình xưa trên phím đợi
    Trăng non ta chợt thấy trăng già

    Ru em nửa giấc nồng dang dở
    Mộng ngọc đêm thâu chợt lỡ làng
    Chăn gối chưa len vào giấc điệp
    Khối sầu trọn kiếp mãi riêng mang

    Cõi nhớ đêm nay buồn dịu vợi
    Góc đời trăng úa chẳng buồn lay
    Ai đem nhốt ánh trăng vào tối
    Làm khuyết tình nhau giữa tháng ngày

    Em thả ta vào cõi nhớ chung
    Mà sao lỗi hẹn..phím tơ chùng
    Niềm riêng gói cả buồn lưu xứ
    Ta trọn đời ôm nỗi nhớ nhung.

    Minh Tường

    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Cho Tôi Tìm Lại Thuở Ban Đầu

    Tôi xin tìm lại thuở ban đầu
    Trên bóng thời gian cố lướt mau
    Một chút yêu thương và đắm đuối
    Để hương xưa chẳng nhạt phai màu

    Tôi xin trở lại con đường vắng
    Để đứng chờ em buổi hẹn hò
    Được nhớ, được yêu và được khóc
    Cho lòng xao xuyến mối duyên thơ

    Tôi xin tìm lại khung trời mộng
    Ngào ngạt trong chiều hương tóc bay
    Em cứ che nghiêng vành nón lá
    Làm thơ tôi dệt tháng năm dài

    Tôi xin giữa mãi bao hoài niệm
    Mà bóng thời gian chẳng trở về
    Nghe đắng trên môi đời nghiệt ngã
    Bao mùa mưa nắng rũ cơn mê…

    Minh Tường

    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Em Giấu Gì Trong Sắc Lá Thu

    Anh say tia nắng hoàng hôn nhạt
    Của những chiều thu gợi nỗi sầu
    Vương vấn đâu đây màu mắt đợi
    Em còn nghe nhớ buổi xa nhau.?

    Mùa thu sao mãi gieo sầu nhớ
    Ký ức về theo những ngọt ngào
    Một thuở má hồng môi đỏ thắm
    Giờ còn trong chỉ giấc chiêm bao

    Em giấu gì trong sắc lá thu..?
    Làm mây ngơ ngẩn, áng mây mù
    Góc trời hoang phế ươm vàng mộng
    Lạc bước anh vào cõi viễn du

    Ngoài sân giọt nắng chiều hiu hắt
    Em vẽ vàng thu chỉ một màu
    Mắt nhớ, môi cay, hồn giá buốt
    Thu về chạm khẽ một vùng đau.

    Minh Tường

    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Em Vẽ Trời Thu Sắc Mộng Vàng

    Em vẽ trời thu sắc mộng vàng
    Anh về trải lá đón mùa sang
    Nắng còn e ấp bên thềm vắng
    Nhưng bóng nàng thu đẹp ngỡ ngàng

    Em nhớ mùa thu hay nhớ anh
    Tương tư một đóa nở bao lần ?
    Dường như trong gió chiều se sắt
    Có cả hương tình xanh rất xanh ?

    Em đã bao lần thấy nhớ nhung
    Mà sao khóe mắt lệ rưng rưng ?
    Mùa thu vừa mới về qua ngõ
    Nhìn lệ em tuôn bỗng ngại ngùng

    Bao giờ thu hết mang màu úa
    Giọt nắng chiều phai hết đọa đày
    Hoa lá thôi không còn kết nụ
    Thì tình anh hết ngẩn ngơ say…

    Minh Tường

    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Cảm Thu

    Bên ngoài ô cửa ngàn tia nắng
    Như cũng hững hờ bớt chói chang
    Chắc hạ âm thầm quay gót ngọc
    Nên muôn tia nắng ngủ mơ màng

    Hoàng hôn kéo đến như thầm gọi..
    Ngọn gió về ngang úa cõi lòng
    Đâu đó mùa thu đang thổn thức
    Ngỡ ngàng tìm kiếm mộng tình chung

    Ráng chiều nhuộm đỏ bên triền núi
    Vàng lá thu rơi cuối nẻo đồi
    Rạo rực tận cùng bao đắm đuối
    Như tình một thuở mới lên ngôi

    Mùa thu giờ đã khoe màu mới
    Bàng bạc mây chiều lơ lửng bay
    Ai vẽ hồn thu vàng giấy trắng..?
    Sao nghe hoang lạnh lối đi gầy.

    Minh Tường

    0
Reply
  • MinhTuong 7 years ago

    Thu Sắp Về Em Có Biết Không

    Em có về theo tiếng gió ru ?
    Sao nghe xa vắng cõi xa mù
    Anh gom màu nắng về xây mộng
    Mà mộng úa tàn dưới nắng thu

    Thu sắp về em có biết không ?
    Nên sương giăng nhẹ giữa mênh mông
    Anh còn lưu lyến hương mùa hạ
    Nhưng nắng chiều phai nhạt cả lòng

    Nắng trốn thu vì bởi lá bay
    Chiều vàng cuốn nhẹ gió heo may
    Áo em nhuộm kín mùa thu cũ
    Say đắm lòng anh ngập lối này..

    Thu sắp về gieo nỗi nhớ nhung
    Thơ treo giọt nhớ đã bao lần
    Mai này em có về chốn cũ
    Đừng giẫm lá vàng dưới gót chân..!

    Minh Tường

    0
Reply
  • NguoiTho 7 years ago



    LỄ TẠ ƠN


    Tạ ơn trời Phật đoái thương con
    Dâu bể bao phen vẫn sống còn
    Ngước mặt nhìn đời không hổ thẹn
    Hiếu trung giữ vẹn tấm lòng son

    Tạ ơn Tổ Quốc Việt Nam yêu
    Ân huệ cho con đã quá nhiều
    Hơn bốn ngàn năm trang sử Việt
    Hào hùng bất khuất biết bao nhiêu

    Tạ ơn Cha Mẹ hạ sinh con
    Nuôi dưỡng dạy răn được vẹn tròn
    Điều phải biết theo, sai biết tránh
    Công ơn Cha Mẹ lớn tày non

    Tạ ơn tất cả khắp xa gần
    Dòng họ, gia đình, bạn hữu thân
    Đã mến thương tôi trong cuộc sống
    Cho đời đẹp mãi tựa mùa Xuân

    Tạ ơn nước Mỹ, nhân dân Mỹ
    Mở rộng vòng tay đón thế nhân
    Cứu giúp bao người trên Thế giới
    Mầu da chủng tộc chẳng hề phân

    Tạ ơn Sư Trưởng, quý Cô, Thầy
    Trí tuệ cho con tự bấy nay
    Ân đức khai tâm trân quý ấy
    Đã đủ hành trang cuộc sống này.

    TỪ PHONG



    THANKSGIVING


    Thank you, the Buddha who's had pity on me
    So that from so many vicissitudes of life I am free;
    Raising my eyes to look at anyone without shame,
    Filial piety and loyalty kept, I've attained my aim.

    Thank you, my beloved Vietnam fatherland
    For lavishing your favor on me, I understand,
    Over four thousand years our history inheritable
    How many examples magnanimous, indomitable!

    Thank you my kind parents who gave me birth
    Brought me up, educated; proud to be on earth,
    I know the evil to avoid, with the good to comply:
    The credit is due to them, the merit mountain-high.

    Thank you everybody everywhere far and near,
    My lineage, my family precious, my friends dear
    Who have been fond of me in this life in chime,
    Our existence is always beautiful like springtime.

    Thank you, America, the Americans humane
    For receiving with wide arms people mundane
    Rescuing, relieving on the globe so many a soul
    Not distinguishing race, color, just those in dole.

    Thank you, Abbot, my Master, each bonze, nun
    For giving me Wisdom long since well done.
    Your rich graces to develop my mind wakerife
    Have provided me with enough luggage in life.

    Translation by THANH-THANH

    0
Reply
TO TOP
SEARCH