Viet Messengerhomesign inmy accountregister
      
ebooks - truyên việt nam 
Truyện Dịch » Pearl S. Buck » Tình Yêu Sau Cùng [981] 
 
Rating:  
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   0.0/7 - 0 vote
    print ebook PRINT EBOOK  
     
    PAGE OF 9
     

    Tình Yêu Sau Cùng

    Pearl S. Buck

    Tình Yêu Sau Cùng



    Letters from Peking

    Tiểu thuyết tự sự



    Do gởi một cách bí mật quanh co, một bức thư đến tận tay Êly – riêng chỉ viết bức thư đã làm nguy hại đến đời sống của Diên Tôn, chồng nàng, mà nàng lại không rõ có còn được gặp lại?

    Xa cách chàng vì hố sâu của giống nòi khác biệt, cùng những sự ngăn cấm của cuộc cách mạng. Êly vẫn trung thành với tình yêu. Bình tĩnh bề ngoài, nàng săn sóc công việc trang trại ở Vermont, nhưng bức thư bí ẩn, nội tâm bi thảm xa vắng chồng, âm thầm giày vò nàng đêm ngày.

    Trong cảnh bốn mùa thay đổi theo một nhịp độ bất di bất dịch đã xảy ra câu chuyện dưới đây, tự thuật lại lòng can đảm tận tuỵ của một thiếu phụ đi đến một kết luận vừa lạ lùng, vừa không sao tránh được!

    P. S. BUCK


    Hai mươi lăm tháng chín năm 1950. tôi viết bức thư này ở thung lũng Vermont, nơi tôi sinh thành, sống trải qua cả tuổi thơ ấu. Sau rời nơi đây, lựa chọn xứ sở của người tôi yêu, bên kia bờ đại dương. Nhưng chiến tranh bùng nổ và người ta coi tôi như một kẻ xa lạ, không đếm xỉa gì đến tình yêu của tôi nữa. Bởi vậy, tôi lại trở về chốn cũ.

    Cách đây nửa tiếng, tôi xuống đồi, theo con đường đất quen, dưới vòm những cây phong lá vàng đỏ, để đón người đưa thư. Ở nơi núi non hẻo lánh này, mỗi tuần gã qua ba lần. Những ngày đó tôi dậy sớm, cảm thấy lòng bối rối. Tôi thường hy vọng nhận được lá thư từ Bắc Kinh, thư của Diên Tôn. Buổi sáng hôm nay, tôi nhận được lá thư đó. Đã nhiều tháng tôi không được tin chàng. Gã đưa thư lấy phong thư ở túi vải, chìa ra và bảo tôi:

    - Đây, bức thư bà chờ đợi.

    Tôi để cho gã đi khuất, sau còn một mình trên con đường, dưới bóng những cây phong khoác áo thu đỏ ối, bóc phong thư đọc tôi rõ ngay tin vẫn chờ đợi, vì vậy tôi không sửng sốt chút nào. Có hành động nào của Diên Tôn có thể làm cho tôi ngạc nhiên, phật ý hay buồn phiền đâu? Tôi đã yêu chàng và nay vẫn yêu. Mãi mãi tôi vẫn yêu chàng.

    Tôi đọc đi đọc lại bức thư, trong cảnh yên tĩnh của buổi sáng mùa thu. Không một làn gió và những lá vàng đỏ nhẹ nhàng rơi quanh tôi, tưởng như nghe thấy tiếng nói của Diên Tôn, đọc những lời chàng viết trong thư:

    Em yêu quý của anh,

    Đầu tiên, trước khi nói với em như anh bắt buộc phải nói, em tin rằng anh chỉ yêu có em. Mặc dù sau đây, anh làm gì nữa, em đừng quên rằng em mới là người yêu của anh. Nếu sau này, em không nhận được thư của anh, em nên biết hàng ngày anh vẫn viết cho em, viết tận đáy lòng.


    Đọc những lời này, tôi đã đoán được những dòng tiếp theo. Đọc hết bức thư, tiếng nói của Diên Tôn còn văng vẳng bên tai, tôi trở về đường cũ. Ngôi nhà vắng lặng khi Lê Ni đi học, nhưng cảnh yên tĩnh này hợp với tâm tính tôi. tôi vào phòng, ngồi ở bàn và viết. Cất bức thư vào ngăn bàn và khoá kỹ, tôi muốn quên hẳn bức thư. Ít ra cũng quên cho đến khi lòng đỡ tê tái. Vì vậy giãi bày tình cảm trên mặt giấy cảm thấy nhẹ được sầu tự vì ở đây chẳng còn ai để tỏ nỗi niềm mình được nữa!

    ° ° °

    Sáng nay, buổi mai bừng dậy như thường lệ. Những nông dân, chòm xóm của tôi bắt đầu làm việc từ rạng đông, tối đến ngủ ngay theo tục lệ Trung Hoa. Nhưng Diên Tôn lại ưa thích giờ yên tĩnh khi mọi người ngủ, vì vậy tôi cũng tập thói quen thức khuya như chàng.

    Tôi rất ưa thích buổi thức khuya như vậy trong ngôi nhà chúng tôi kiến trúc theo kiểu Trung Hoa. Tối đến, tất cả tiếng động ngoài phố đều ngừng bặt và qua bức tường ngăn thấp, vọng đến tiếng nỉ non của chiếc hồ cầm. Đó là ông Hứa, láng giềng của chúng tôi, vốn buôn tơ lụa lại hay kéo nhị hồ. Về mùa hạ, Diên Tôn và tôi ngồi dưới bóng cây dương, gần hồ cá vàng ,cả Lê Ni cũng ngồi đấy, cho đến giờ này thì Lê Ni không được phép thức nữa. Lê Ni là con một của chúng tôi.

    Con gái khác của chúng tôi chết từ lúc còn thơ ấu. Buổi sáng, con bé cười đùa, và buổi chiều thì không còn nữa. Tôi không biết bệnh tật nào khiến con tôi chết. Mối phiền muộn này như quả báo tình yêu của tôi đối với Diên Tôn và cũng do việc này tôi quyết định theo chàng sang Trung Hoa.

    Trong thời gian tưởng như vô tận, chúng tôi sống với nhau không có đứa con nào. Thấy Diên Tôn sầu muộn quá, tôi phải quên nỗi ưu tư của mình. Luôn luôn chàng khóc thương đứa trẻ xấu số. qua nhiều tháng, chàng thức trọng đêm, ăn uống ít, đến nỗi người chàng vốn mảnh khảnh, nay chỉ còn bộ xương. Tôi phải nuốt lệ lắng nghe lời than vãn của chàng.

    Chàng bảo tôi:

    - Đáng lẽ anh phải ở quê em mới đúng. Có lẽ ở Mỹ con chúng ta không chết. Anh có lỗi với em nhiều quá!

    Tôi dựa đầu vào ngực chàng:

    - Anh đi đâu, em cũng theo anh.

    Chàng nhìn tôi, vẻ lạ lùng:

    - Đó là sự khác biệt giữa người đàn bà Mỹ và Trung Hoa. Em nặng tình vợ chồng hơn tình mẫu tử.

    Tôi nói với chàng:

    - Gần anh, em chỉ là người vợ. Anh cũng biết rằng ở Mỹ, anh có được sung sướng đâu?

    Hồi đó đoán như vậy, đến nay tôi cho là đúng. Nếu ở Bắc kinh có đôi khi tôi tưởng nhớ đến những dãy núi trong sáng và không khí tinh khiết miền Vermont thì ở đây cũng không phải là tôi không sung sướng . Thành phố này là một hạt trân châu nạm kim cương, năm tháng và lịch sử đã mài giũa bóng loáng. Dân cư vui vẻ và lễ phép. Tôi tưởng tượng sẽ sống qua nhiều năm ở đây trong cảnh an lạc và sau một đời sống lâu dài gần Diên Tôn, chúng tôi sẽ an nghỉ giấc ngàn thu cạnh nhau mãi mãi.

    Vậy mà nay tôi lại trở về thôn xóm này ở miền Vermont, sống trong một trang trại vắng vẻ với con trai chúng tôi, Lê Ni nay đã mười bảy tuổi. Tôi cảm thấy không bao giờ còn gặp Diên Tôn nữa.

    Ngày ngày trôi qua giống nhau. Tôi trở dậy lúc sáu giờ sáng giúp Mạch vắt sữa bốn con bò, đặt thùng sữa ở cửa vựa thóc để cho xe qua đó lấy. rồi tôi quay vào nhà, với một thùng thiếc đầy sữa nữa để làm bữa sáng cho Lê Ni. Tôi làm việc như thói quen từ thuở nhỏ trên thửa đất này, trước là của ông tôi, sau để lại cho cha tôi và từ nay là gia sản của tôi.

    Xưa kia cha tôi rất ưa thích sáng chế nho nhỏ. Ông làm qua loa công việc trong trại, còn để thời giờ chế "máy móc" như ông thường nói. Một vài sự sáng chết của ông cũng đáng gọi là thành công như máy rửa trứng chẳng hạn. chúng tôi sống về hoa màu trong trại và có số tiền mặt của cha tôi thừa hưởng từ ông tôi để lại. cha tôi đã qua đời khi Diên Tôn và tôi lấy nhau. Lúc này chỉ còn mẹ tôi một mình ở trại. Sau mẹ tôi lại mất trước khi tôi sinh Lê Ni và để lại trang trại. Khi tôi ở Bắc Kinh, Mạch trông nom trang trại cho tôi, và nay thường ngày bác vẫn lại chơi như xưa. Sau Diên Tôn và tôi nhận thấy phải xa nhau, cuối cùng tôi trở về chốn cũ.

    Sáng nay Lê Ni xuống, hai má hồng đỏ vì khí trời mát mẻ ban đêm, nó ngủ thường để cửa sổ mở. Nó hôn tôi và nói:

    - Chào mẹ.

    Tôi trả lời:

    - Chào con.

    Diên Tôn rất lưu ý đến lễ nghi này.

    Chàng thường giảng giải cho con:

    - Khi con đi đâu, con phải xin phép cha mẹ nói cho người biết con đến nơi nào, lúc về con phải trình diện và hỏi thăm sức khoẻ người. Đó là lòng hiếu thảo.

    Lê Ni hỏi tôi:

    - Sáng nay mẹ có dễ chịu không?

    - Khá lắm, cảm ơn con.

    Chúng tôi mỉm cười, cùng liên tưởng đến Diên Tôn. Lê Ni giống bố như hệt. So với tuổi thì nó lớn. Gương mặt nhìn nghiêng thật đẹp, với đường nét mạnh dạn. Tóc và mắt đen nhánh, da nhẵn như xoa kem, làn da đó tưởng như chỉ có thể con cháu người Tàu mới có. Vậy mà Lê Ni lại là người Mỹ, vì nó chỉ còn một phần tư dòng huyết Trung Hoa. Thân hình nó chẳng có gì giống người phương Đông. Bộ xương lớn, chân tay đẹp nhưng nó không có dáng điệu sang trọng của bố.

    - Con ngồi đây điểm tâm xong đã.

    Đối với Lê Ni, bữa sáng nó ăn như hổ báo. Nó trộn bánh lúa mạch với đường đỏ và sữa. Diên Tôn không muốn dùng đường trắng, vì vậy chúng tôi vẫn ăn đường đỏ của người Trung Hoa.

    Nó xin tôi như thường lệ.

    - Thưa mẹ, cho con ba quả trứng.

    Rất may chúng tôi có nuôi gà. Nếu tôi phải mua trứng, mua thịt để vừa ý con, chắc cái vốn nhỏ bé của tôi chẳng mấy lúc mà tiêu tan. Tôi chưa thể nói "con tôi" vì Lê Ni là con chung của Diên Tôn và tôi. Tôi chưa biết đến mức nào bức thư mới thay đổi đời sống tôi nữa.

    Cửa sổ phòng ăn trông ra đường và ở ghế danh dự con tôi ngồi. Lê Ni có thể trông thấy xe nhà trường đến đón. Thoạt đầu ghế đó bỏ trống dành đợi ngày Diên Tôn về. Khi chúng tôi chia tay nhau trên bến Thượng Hải, chàng nghĩ có thể về quy tụ với nhau trong vòng ba tháng tới. Nhưng thời gian trôi chảy, không thấy chàng về, thư từ mỗi lúc một thưa. Lê Ni quyết định ngồi chỗ của bố trong khi chờ đợi, để dễ trông ra đường, còn tôi cũng chẳng thuận, chẳng chối từ.

    Có lẽ riêng tôi hiểu rằng bức thư đã lên đường. Lê Ni bỗng kêu lên:

    - Kìa xe đến.

    Sau khi ngấu nghiến ba quả trứng và bánh, nó cầm áo khoác, mũ và nói với tôi:

    - Chào mẹ!

    - Chào con!

    Khi muốn bắt chước các trẻ con Mỹ ở Thượng Hải, Lê Ni gọi tôi là mom hay ma, Diên Tôn phản đối kịch liệt. Chàng nói nghiêm nghị:

    - Mẹ là một danh từ rất hay. Ta yêu cầu con dùng chữ đó.

    Chàng nói với con bằng tiếng Trung Hoa như mỗi khi chàng dạy dỗ con và Lê Ni vâng lời chàng ngay.

    Còn một mình trong ngôi nhà yên lặng, tôi đi rửa bát đĩa, rồi lên dọng giường màn. Phòng tôi trước kia là phòng của cha mẹ tôi, chiếm cả chính diện của ngôi nhà. Năm chiếc cửa sổ trông ra một phong cảnh thay đổi hàng giờ, hàng ngày. Sáng nay, lúc tôi dậy, một vầng trăng đỏ, rộng và tròn ngả xuống sau những rặng núi cây cối um tùm. Ánh trăng lướt ngang in hình đen xẫm và nhọn hoắt, những cây bách hướng lên những tảng đá xám. Tôi mến chuộng sự yên lặng dưới các bức tường ngăn thấp ở Bắc Kinh, những còn yêu cả cảnh trí này.

    Tôi dọn dẹp xong chiếc giường rủ trướng của tôi, rồi lấy khăn lau bàn giấy, tủ đến mặt lò sưởi. Đôi khi tôi lấy làm lạ sao công việc lại nhẹ nhàng thế, còn ở Trung Hoa tôi tưởng ít nhất cũng phải năm người làm. Diên Tôn không muốn tự tay tôi làm. Thật ra tôi có hai bàn tay khá đẹp. Đó cũng chính là ý nghĩ đầu tiên của chàng:

    - Em có hai bàn tay thật đẹp!

    Tôi ngẩn ngơ hỏi chàng:

    - Thật vậy sao?

    Tôi thú thật, cũng không đến nỗi quá ngẩn ngơ đâu, nhưng tôi muốn chàng nhắc lại:

    - Đàn bà Mỹ ít người có bàn tay đẹp. Đó là điều anh nhận xét, mẹ anh người Trung Hoa có hai bàn tay cũng thật đẹp!

    Có lẽ chàng bắt đầu yêu tôi vì hai bàn tay của tôi nên nhắc nhở đến bàn tay của mẹ chàng. Nhưng nay tôi còn hiểu làm sao được nữa?

    Đã gần ba tháng, tôi không nhận được thư của Diên Tôn. Bức thư nhận được sáng nay gửi từ Hương cảng, chữ ngoài bì do một người lạ đề.

    Diên Tôn viết:

    Anh không muốn em băn khoăn, nếu thư từ của anh mỗi lúc một vắng. Anh không thể nói em rõ do cách nào bức thư này đến tay em. Em hãy dùng địa chỉ ghi ngoài bì thư trả lời anh. Có lẽ trước nhiều tháng nữa, anh không thể viết thư cho em được.

    Trước cuộc biến động với Nhật Bản, chúng tôi chưa bao giờ xa nhau. Khi nhận thấy chắc chắn rằng những tỉnh miền Bắc sẽ mất, không sao chống trả được, Diên Tôn muốn tôi đưa Lê Ni đi Trùng Khánh trước khi đường hoả xa Hán Khẩu gián đoạn.

    Tôi kêu lên:

    - Em không cùng đi với anh được sao?

    - Lúc nào được, anh sẽ để em theo ngay. Anh chỉ có thể đi, khi nào trường Đại học được lệnh di chuyển.

    Ở địa vị khoa trường của trường đại học, chàng có nhiều trách nhiệm. Nhận thấy chàng có lý và tôi đi Trùnh Khánh cùng với Lê Ni. Đó chẳng phải là một cuộc hành trình thư thái gì. Đoàn tàu chật ních người lánh nạn, họ bám cả lên nóc toa. Ở Hán Khẩu, bọn nhà giàu và đoàn tuỳ tùng chiếm cứ tất cả khách sạn. Cố khai thác cái uy thế còn lại người da trắng, tôi may mắn được một góc phòng cho hai mẹ con, rồi hết lời nói năng và trả bớt túi tiền mới thuê được hai chỗ trên chiếc tàu nhỏ ngược những dòng thác hiểm nghèo của sông Dương Tử để đi Trùng Khánh.

    Ở đó một vài tháng sau Diên Tôn mới tới kịp. Ôi! Còn sung sướng nào bằng được gặp mặt người yêu! Chàng tới, người gầy hơn trước, trông tưởng như cao lớn hơn. Nhưng chàng vui vẻ vì đưa được các giáo sư và sinh viên đến nơi đến chốn. Những thân hào trong thành phố đều mở cửa ngôi nhà tráng lệ của tổ tiên đón tiếp chàng.

    Khi ôm chàng trong tay, thấy chàng run, tôi biết rằng chàng đã kiệt sức vì công việc.

    Tôi nói:

    - Ở đây, anh có thể nghỉ ngơi được rồi đấy!

    Chàng đi vòng quanh xem ngôi nhà mới tôi sửa soạn đón chàng. Tôi vốn ưa thích căn phòng rộng lớn. Khi tìm thấy trang trại này ở vùng ngoại ô Trùng Khánh, quyết định thuê với điều kiện là chủ nhà bằng lòng để tôi phá mấy bức tường ngăn thành ba căn phòng nhỏ. Diên Tôn tán thành sự thay đổi này. Chúng tôi không mang được đồ đạc ở Bắc Kinh đi, nhưng tôi tin có thể mua được đủ vật dụng cần thiết, trong các tiệm nhỏ ở Trùng Khánh, người thợ Trung Hoa đâu có thiếu hoa tay và mỹ thuật. diên Tôn ngồi trong một chiếc ghế bành bằng mây có đệm và ngả đầu ra sau.

    Chàng thở dài và nhắm mắt lại.

    - Em thật có nghệ thuật tái tạo khung cảnh gia đình đó. Thật là thần tiên!

    Tôi không sao cầm được giọt lệ và phải ngưng viết…

    ° ° °

    Đã tới ngày 1 tháng 2. Đã nhiều tuần nay, cảnh trí miền Vermont bị mùa đông giam hãm, với rặng núi trắng toát, thung lũng yên lặng. Ba ngày nay, mặt trời nhợt nhạt và một làn gió ấm dịu đã làm tan các tảng tuyết, nhưng đó chỉ là một mánh khoé của tiết đông, vì lạnh giá sẽ trở lại. Những trận mưa tuyết lớn thường xảy ra vào các tháng ba và tháng tư. Bữa nay, thung lũng chìm đắm trong sương, không còn trông thấy núi non. Tầm mắt tôi không đi quá xa được ngưỡng cổng. Cha tôi đã dựng hàng rào vì mẹ tôi. Sinh trưởng ở Boston, bà không quen với phong cảnh rộng lớn bao la của rừng núi mà ở cửa sổ nào bà cũng trông thấy.

    Bà bảo ông cụ:

    - Tôi cần phải có hàng rào, nếu không có, tôi còn biết mình ở đâu nữa?

    Cha tôi dựng hàng rào khá xa, ở phía thảm cỏ lớn và một rừng nhỏ đầy phong trắng. Mẹ tôi rất ưng ý, ít khi bà đi quá xa hàng rào này. Bà xinh đẹp, nhưng tính tình cứng cỏi. Khi báo tin tôi định lấy Diên Tôn, bà phản đối không muốn tôi lập gia đình.

    Bà nói hôm tôi hỏi ý kiến bà:

    - Cảnh vợ chồng có đôi khi thật bất mãn đối với một người đàn bà nền nếp. Vì Diên Tôn thuộc một gia đình có truyền thống cổ kính của Trung Hoa…

    Có lúc ngập ngừng không dám cho mẹ tôi biết nguồn gốc phân nửa Trung Hoa của đại gia đình Diên Tôn. Trông chàng giống một người dân Caucase với cặp mắt lớn, mặc dù hơi xếch và vầng trán cao. Chàng rất đẹp trai, còn tôi chưa dám nhận mình là một thiếu nữ xinh đẹp. Tôi người hung nâu và nhỏ bé, mắt màu xám. Tôi đâu dám tin là mình đẹp? Ngay Diên Tôn cũng chưa bao giờ nói điều này. Da em rất mịn màng. Miệng em thật xinh tươi!

    Chàng chỉ nói có thế, chưa bao giờ nói đến sắc đẹp.

    Nếu ý nghĩ dấu nguồn gốc một phần Trung Hoa của Diên Tôn lướt qua đầu óc tôi thì thật ý nghĩ đó cũng chỉ thoáng qua thôi. Mẹ tôi rất tinh ý và đoán ra hết.

    Với vẻ ung dung từ tốn, tôi nói:

    - Ông thân của Diên Tôn ở Bắc Kinh. Ông là người Mỹ nhưng bà vợ, mẹ của Diên Tôn lại là người Trung Hoa.

    Cái miệng nhỏ bé của mẹ tôi bĩu ra:

    - Ồ! Càng không được đâu Êly!....

    Riêng chỉ có bà gọi tôi là Êly. Diên Tôn gọi tôi là Eve để tỏ tình yêu đương. Có những người khác lại đặt đủ thứ tên gọi.

    Chàng tuyên bố ngày lễ đính hôn của chúng tôi:

    - Eve, em là mối tình đầu của anh.

    Tôi hỏi chàng vẻ tinh ranh:

    - Có cần em gọi anh là Adam không?

    Với vẻ đùa nghịch, vừa châm biếm, chàng nói:

    - Anh ngờ rằng tín đồ Cơ đốc giáo không chấp thuận cái tên đó cho một người Trung Hoa đâu!

    Tôi đáp:

    - Anh nói anh là người Trung Hoa, nhưng chỉ có một phần. Em yêu cầu anh, anh Diên Tôn, khi em giới thiệu anh với mẹ em, anh hãy tỏ ra mình là người Mỹ.

    Nói đến lời này, thì bản chất người Trung Hoa trội bật hẳn lên. Chàng có vẻ bí hiểm, lễ phép mà lại lững lờ, tuy vẫn giữ vẻ khôi hài, đến nỗi tôi không hiểu rằng rồi đây trước mặt mẹ tôi thái độ của chàng sẽ ra sao. Thật đáng tiếc, cha tôi không còn nữa để hiểu chàng, chắc cha tôi phải quý mến chàng lắm. Cha tôi vốn tính tình cởi mở.

    Nhưng thật ra, tôi rất tin tưởng Diên Tôn, vì khi đến chào mẹ tôi, trông chàng rõ ra một người Mỹ đẹp trai, riêng duyên dáng thì tự nhiên và mớ tóc đen chải chuốt để lộ một phần nào nguồn gốc Trung Hoa thôi. Mắt chàng tinh nhanh ngay thẳng. Có những lúc cặp mắt chàng trông rõ ra người Á Đông, biểu hiện một tâm hồn tự chủ kiêu kỳ. Chàng đã lấy được lòng mẹ tôi một phần nào rồi.

    Tuy vậy, cuộc gặp gỡ đầu tiên này chưa làm tiêu tan hết nỗi lo âu của bà. Sau đó về khuya, mẹ tôi thường gọi tôi vào phòng. Bà ngồi trên ghế bành, mặc chiếc áo khoác ngủ bằng dạ xám, tóc quấn bằng mấy sợi dây da đen.

    Bà bảo tôi:

    - Êly, mẹ rất lo rồi sau này con cái con sẽ giống người Tàu.

    - Chúng có thể giống dòng họ của bố chứ?

    - Điều đó có gì chắc chắn. Mẹ tự hỏi làm sao chịu được nếu có một đứa cháu ngoại da vàng. Mẹ biết nói năng sao với bà con của mẹ ở Boston?

    - Mẹ đừng ngại, chúng con sẽ sống ở Bắc kinh.

    Bà sững sờ:

    - Con không thể sang sống ở Trung Hoa!

    Tôi viện lý:

    - Thế mẹ chẳng đến ở miền Vermont sao?

    - Nhưng mẹ chưa từng thấy ai thích đi Bắc Kinh!

    - Bà nội Diên Tôn có đi Bắc Kinh khi Diên Tôn còn nhỏ, bà cụ đến thăm các cháu. Bà thấy ở Bắc Kinh dễ chịu quá, nên ở luôn đến ngày chết, chắc mộ bà cũng vẫn còn ở đó.

    Mẹ tôi nói giọng sẵng:

    - Người ta không chọn nơi để chết.

    - Nhưng đó là ý muốn bà cụ Diên Tôn nói thế.

    Mẹ tôi thở dài.

    - Không bao giờ mẹ đi Bắc Kinh đâu.

    Tôi tươi cười nói:

    - Ai mà biết được?

    Hồi này tôi sung sướng quá, nên luôn luôn vui vẻ. Bà không quên lời hứa. Không bao giờ bà đi Bắc Kinh thật. Cưới nhau được một năm thì mẹ tôi mất vì bệnh phổi. Tôi vẫn nhớ mẹ tôi thường bảo vào mỗi mùa đông, vừa nói vừa run, chiếc khăn quàng lớn màu xám quấn ở cổ:

    - Những mùa đông giá rét lạnh ở Vermont này sẽ giết mẹ mất thôi!

    Quả vậy bà chết về mùa đông. Nhưng cũng một phần về nỗi lạnh lùng bà vẫn mang trong tâm khảm.

    ° ° °

    Buổi nay mặt trời chói lọi tràn ngập cả thung lũng, sức nóng làm tan làn hơi nhẹ bốc từ tuyết lên. Năm nay tôi lo ngại mùa xuân đến. Nay, cũng không cần đợi chỜ người phu trạm nữa. Vì không còn có thư của Diên Tôn. Sáng nay khi Mạch đưa thư từ buổi sáng, tôi lãnh đạm bảo hắn để lên bàn.

    Tôi còn nhiều việc phải làm, phải xén cây trái trong vườn trước khi nhựa phong dâng lên. Chúng tôi hái táo ở vườn những quả táo đẹp và ngon như ngày xưa. Trong các thứ táo có một loại tôi ưa nhất, có quả cân tới một "liu", dưới làn da đỏ, thịt táo dòn tan. Quả táo không ngọt quá mà cũng không chua.

    Mỗi lần tôi ăn táo lại nhớ đến Diên Tôn không ưa thích. Ở Tàu, táo nhạt, rắn và Diên Tôn chưa bao giờ thử nếm trái táo ở quê tôi, thứ táo rất ngon thơm. Có một ngày tôi mang cho chàng một giỏ đầy lê – thứ lê của trại Bắc Lệ - chàng sẽ không ăn hết một quả.

    Chàng bảo:

    - Lê mềm quá. Ở Bắc Kinh lê dòn và rất ngọt.

    Tôi trả lời, trêu đùa chàng:

    - Như vậy, không phải là trái lê rồi…

    - Hãy chờ, rồi em sẽ rõ…

    Chúng tôi sắp lấy nhau. Khi tôi nếm lê Bắc Kinh, tôi thấy ngon ngọt thật, hơn nữa để cả mùa đông quả lê vẫn tươi.

    Cả ngày tôi xén cây với Mạch. Bác ta người ít nói, cao và khô đét, răng bác rụng, từ lúc còn trẻ vì thức ăn không thích ứng. Bác khinh khỉnh nhìn chiếc bánh và thức ăn uống của tôi, mặc dù tôi mời mọc, bác vẫn từ chối không cùng ăn sáng và ngồi cách xa ra nhai mẩu thịt trong hai chiếc bánh mì lớn. Mạch biết tôi có sinh sống ít năm ở Trung Hoa, chắc bác cũng có nghĩ đến Diên Tôn, nhưng chưa bao giờ bác hỏi tôi ra, ngoài công việc trang trại. Xa hơn nữa, câu chuyện chỉ quanh quẩn về vài mẩu tin chẳng tốt đẹp gì ở thung lũng. Buổi nay chúng tôi không nói chuyện nhiều. Tôi bảo bác:

    - Tôi muốn làm xong công việc trong vườn này trước khi Lê Ni đi học về.

    Rồi chúng tôi lại bắt tay vào việc.

    Cứ như vậy tôi xén các cây táo. Tôi dùng cưa và xén khá tài tình. Thoạt đầu, tôi cưa cành lớn, mà bao giờ tôi cũng cắt cách mắt cây chừng ba bốn phân, sợ cây nứt. Khi lưỡi cưa đã giũa sắc, xóm giềng của tôi vẫn nói là đến lúc phải xén cây và như vậy mới đúng. Về mùa đông, tôi bôi dầu mỡ và giũa sắc lưỡi cưa và lưỡi liềm. Tôi có một máy mài cổ xưa dùng để giũa các dụng cụ lớn, còn các dụng cụ nhỏ, tôi mài bằng tay.

    ° ° °

    Cách hai ba ngày, Lê Ni lại hỏi tôi:

    - Mẹ có nhận được thư không?

    Tôi lắc đầu:

    - Mẹ sợ rồi mỗi lúc mỗi khó khăn, cha con không viết thư được nữa. Phong trào bài Mỹ do tuyên truyền khéo léo dấy lên chỉ tăng thêm ở Trung Hoa mà thôi.

    Lê Ni nghĩ ngợi:

    - Thật ra Cộng sản là thế nào?

    Tôi cắt nghĩa cho con tôi Các Mác là ai. Và làm thế nào ông đã thành công, nhờ mãnh lực khối óc đã chế ngự được hàng mấy mươi triệu đời sống con người bao thế kỷ nay!

    Tôi bảo Lê Ni:

    - Ngay cả đời sống chúng ta nữa. Vì ông ta mà gia đình chúng ta phải chia ly, con xa cách cha mẹ vợ xa cách chồng.

    - Liệu cha con có thoát được không?

    Tôi biết trả lời sao?

    - Mẹ thiết tưởng nếu nước Mỹ trở thành Cộng sản thì chúng ta vẫn ở đây, trung thành với dĩ vãng, tin tưởng ở tương lai chúng ta.

    - Con cũng không rõ nước Mỹ có phải là xứ sở của con không nữa.

    - Đó là xứ sở của con, vì đó là quê hương của mẹ. Vắn tắt thế thôi.

    Nhưng như thể có phải là tất cả đâu, chính tôi cũng không hiểu nữa. Một ngày kia, Lê Ni phải lựa chọn xứ sở của nó.

    Còn tôi cũng phải nói cho con tôi biết về bức thư của cha nó, mà tôi giấu trong ngăn kéo kín ở bàn giấy. Nhưng ngày qua ngày, ngày kia tới, tôi vẫn giấu kín việc này.

    Tối nay sau bữa ăn ở trong bếp, ngồi gần bếp sưởi, Lê Ni nhắc lại câu chuyện này. Ở đây có treo một chiếc nồi, tôi có thể đun nước trong những khi bão lớn mùa hạ làm tắt điện.

    - Con tưởng cha con có thể xếp đặt để gửi một bức thư đi.

    - Chúng ta con chưa rõ được cha con bị bó buộc như thế nào. Ông nội con là người Mỹ nên điều này nguy hiểm cho cha con.

    - Thế ông nội con nay ở đâu?

    Tôi chưa trả lời câu hỏi này ngay.

    Lê Ni vốn thích ăn táo. Luôn luôn ở trên bàn trong bếp, tôi có trữ táo trong cái bát gỗ lớn. Vừa nói chuyện, Lê Ni vừa ngoạm quả táo trắng.

    - Ông con hiện ở miền Kansas. Một ngày kia, chúng ta đi thăm ông. Chắc con còn nhớ, con vẫn gọi ông là Ba Ba.

    Đã từ lâu tôi có ý định đi thăm cha chàng. Đó là một trong thỉnh nguyện của chồng tôi vào ngày chia tay nhau ở Thượng Hải.

    Diên Tôn căn dặn tôi:

    - Em hãy cũng Lê Ni đi thăm cha. Ông rất vui vẻ một khi gặp được cháu nội.

    - Có phải vì lý do này mà anh cho em và con về Mỹ không?

    - Một phần thôi.

    - Nếu vậy thì em ở lại đây thôi.

    - Không, em cần phải đi và cả Lê Ni nữa.

    Chàng do dự không dám nói rõ với tôi điều mà chúng tôi ngầm hiểu, cả hai đều ngại nói lớn:

    - Vì ở đây em và con không được an toàn.

    Tôi thấy chàng lén nhìn xung quanh khi nói mấy lời này. Lần thứ nhất Diên Tôn lo sợ. vậy mà trước kia, trong cuộc chiến, cả bom đạn cũng không làm sờn lòng chàng được!

    Tôi sợ hãi hỏi chàng:

    - Thế còn anh?

    Chàng nói:

    - Anh một nửa là người Tàu. Anh sẽ dùng lá bài đó.

    tôi nói khẽ:

    - Nhưng họ nghĩ sao?

    - Họ sẽ thấy vai trò của anh hiện nay cần thiết.

    Tôi rất tiếc câu chuyện này chẳng diễn ra trong khung cảnh thân mật ở nhà chúng tôi tại Bắc Kinh, sau cánh cửa đóng kín. Như vậy có thể âu yếm tựa đầu vào ngực chàng, ép chàng phải nói sự thật cho tôi rõ. Nhưng ngày hôm đó đứng gần chàng, ở ngoài bến, giữa luồng gió tung lật mũ tôi lên, nên tôi chẳng nói gì được hơn là thầm hỏi chàng một câu ngớ ngẩn, vô nghĩa:

    - Còn anh Diên Tôn, tại sao anh muốn tỏ ra là cần thiết cho họ?

    - Cần phải lựa chọn và thử thách đã!

    Chúng tôi không có thời giờ nói nhiều hơn nữa. Chiếc phà đợi chúng tôi để đưa qua chiếc tàu lớn. Và giữa đám đông yên lặng này nói ra điều gì cũng là nguy hiểm. Xét cho cùng thì khi nào người ta – và nói riêng chúng tôi – trở thành ủ rũ và ngờ ngạo? Khi nào người ta mất niềm tươi vui và sự nhanh nhẩu? sự đổi thay diễn ra lần lần, nhưng sự biến cải thì thật đã hoàn toàn. Nó tóm tắt thể hiện trong sự yên lặng giữa Diên Tôn và tôi, khi chúng tôi chia tay nhau.


     
     
    PAGE OF 9
     

    nguồn: vnthuquan.net

     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN TRUNG HOATHƠHỒI KÝ / TÙY BÚTENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAIS
    KỊCH BẢNEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNNOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ








    TITLE:

    AUTHOR:

    CATEGORY:

    VIQR VNI
    English
    1.Cậu Chó [117885]
    2.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [106496]
    3.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [63895]
    4.Mao Trạch Đông, Cuộc Đời Chính Trị Và Tình Dục [60259]
    5.Hồn Ma Theo Dâm Phụ [59482]
    6.Thiên Đường [56840]
    7.Nắng Muộn Thu Vàng [50704]
    8.Lửa Hận Rừng Xanh [49620]
    9.Hoàn Hảo [48500]
    10.Từ Khi Có Em [46620]
    11.Lục Mạch Thần Kiếm [45778]
    12.Tiếu Ngạo Giang Hồ [44468]
    13.Một Lần Và Mãi Mãi [44062]
    14.Whitney, Em Yêu [43989]
    15.Tiếu Lâm An Nam I [38346]
    16.Cô Giáo Mai [35398]
    17.Người Đàn Ông Xa Lạ [35132]
    18.Điệu Ru Nước Mắt (Còn tiếp) [35033]
    19.Cô Gái Đồ Long [31670]
    20.Chú Tư Cầu (Còn tiếp) [30558]
    21.Nhục Bồ Ðoàn [27514]
    22.Báu Vật Của Đời [24788]
    23.Như Cõi Thiên Đường [24021]
    24.Biểu Tượng Thất Truyền [23504]
    25.Vương Quốc Của Những Giấc Mơ [23154]
    26.Anh Trai Em Gái [22289]
    27.Bong Bóng Mùa Hè Tập 2 [22049]
    28.Ánh Mắt Dịu dàng [21908]
    29.Đại Đường Song Long Truyện [20839]
    30.Mẹ Chồng Ăn Thịt Cả Nhà Nàng Dâu [20646]
    31.Người Bảo Hộ [18059]
    32.Xác Chết Loạn Giang Hồ [17302]
    33.Hôn Cái Nào, Cô Nàng Xấu Tính [16877]
    34.Bảy Viễn Thủ Lĩnh Bình Xuyên [16278]
    35.Đê Mê Đào Mộng [15989]
    36.Tầm Tần Ký [15975]
    37.Thần Điêu Đại Hiệp [15972]
    38.Lộc Đỉnh Ký [15694]
    39.Kim Bình Mai [15635]
    40.Hạnh Phúc Nhân Đôi [15630]
    41.Tru Tiên [15551]
    42.Đàn Chỉ Thần Công [14174]
    43.Nữ Tướng Miền Sơn Cước (Giặc Cái) [12840]
    44.Điều Kỳ Diệu [12740]
    45.Bởi Vì Yêu [12720]
    46.Đông Chu Liệt Quốc [12601]
    47.Chuyện Thần Thoại [12270]
    48.Không Như Loài Cỏ Dại [12042]
    49.Màu Mắt Thơ Ngây [11806]
    50.Hoa Thiên Lý (Còn Tiếp) [11759]
      Copyright © 2002-2010 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm