hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Phùng Mộng Long » Tam Ngôn ‐ Nhị Phách: Độc Chiếm Hoa Khôi[1172] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   0.0/7 - 0 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Tam Ngôn ‐ Nhị Phách: Độc Chiếm Hoa Khôi

    Phùng Mộng Long

    Tam Ngôn ‐ Nhị Phách


    Độc Chiếm Hoa Khôi



    MỤC LỤC 


     

    Bản tiếng Việt Phạm Thị Hảo

    Chọn dịch từ nguyên bản tiếng Hán: 三言二拍, 上海辞书出版社, 1997



    Phùng Mộng Long(1574 - 1646)

    Sinh vào năm thứ 2 thời Vạn Lịch triều Minh và mất thời Thuận Trị triều Thanh, là tác giả của tiểu tuyết nổi tiếng “Đông Chu Liệt Quốc”. Trước đây, tác giả thường được coi là người Ngô huyện tuy nhiên gần đây, sau khi tái bản “Thọ Ninh đãi chí”, mới xác định rằng ông quê ở Trường Châu, Trung Quốc.

    Phùng Mộng Long tự là Do Long, cũng có khi ký là Long Tử Do, quê ở Trường Châu, nay là Tô Châu, Giang Tô. Ông xuất thân từ gia đình có học vấn, từ nhỏ ông đã nổi tiếng tài hoa. Lúc còn trẻ, Phùng Mộng Long là người khá phong lưu, nhưng cũng lận đận trong thi cử. Năm 57 tuổi, ông được chọn làm Cống sinh (tức Cử Nhân). Trong đời vua Sùng Trinh nhà Minh, ông giữ chức tri huyện tại huyện Thọ Ninh, Phúc Kiến. Lúc quân Thanh xua quân xuống vùng phía Nam, ông từng tham gia vào hoạt động chống Thanh, khi chính quyền Nam Minh bị tiêu diệt thì ông buồn rầu mà chết.

    Cả cuộc đời Phùng Mộng Long gắn liền với việc nghiên cứu, chỉnh lí, sáng tác văn học phong tục, đạt được những thành tựu mà ít người sánh kịp. Một khối lượng đồ sộ gồm các tác phẩm sưu tầm, biên soạn và sáng tác đã được ông để lại với nhiều loại hình như văn học dân gian, sân khấu, truyện ngắn và cả tiểu thuyết.

    Tiêu biểu là bộ Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng Long đã rất quen thuộc ở Trung Quốc và Việt Nam. Nội dung tác phẩm xoay quanh cuộc tranh giành đất đai cũng như quyền lực giữa các nước chư hầu thời Xuân Thu và Chiến Quốc, cụ thể là từ Chu U Vương nhà Chu đến khi Tần Thuỷ Hoàng diệt thâu 6 nước Sở, Hàn, Yên, Triệu, Nguỵ, Tề, đưa thiên hạ về tay nhà Tần.

    Tác phẩm thứ hai cũng rất đáng chú ý là bộ Tam Ngôn (nguyên bản Cổ kim tiểu thuyết) gồm các quyên Dụ thế minh ngôn, Cảnh thế thông ngôn và Tỉnh thế hằng ngôn, lần lượt được khắc in vào trước sau niên hiều Thiên Khải nguyên niên, Thiên Khải năm thứ 4 và Thiên Khải năm thứ 7 (1624-1627). Những tiểu thuyết trong Tam Ngôn có nguồn gốc khác nhau, tình huống khá phức tạp. Một bộ phận nhỏ là những “thoại bản” lưu truyền ở các đời Tống, Nguyên, Minh được ghi chép sau đó được Phùng Mộng Long gia công sử chữa, còn phần lớn là Phùng Mộng Long đã dựa vào những bút kí, tiểu thuyết, truyền kỳ, những mẩu chuyện lịch sử, dân gian thời trước để sáng tác nên.



    TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC

    Tinh hoa văn học của nhân loại nào cũng cần được khám phá và tái khám phá. Mỗi tác phẩm lớn là một xứ sở kỳ diệu và mỗi lần ta tìm đến là thực hiện một cuộc phiêu lưu hoan lạc.

    Dịch thuật, giới thiệu và biên khảo về những tác phẩm tinh hoa sẽ mở ra các lối cổng dẫn vào những cảnh tượng văn chương khác nhau, qua những không gian và thời gian vừa hiện thực vừa kỳ ảo.

    Khát vọng hiểu biết và vui thú trong đời là bản tính của con người ở mọi nơi và mọi thời. Các tác phẩm văn chương thật sự vĩ đại đều mang lại hai điều đó: vui thú và hiểu biết. Nhưng hiểu biết là niềm vui hiếm khi tự đến một cách dễ dãi. Cần đón đợi và hồi đáp.

    Mọi tác phẩm tinh hoa cần được đón đợi và hồi đáp trong niềm hân hoan có tên là “ĐỌC”.

    ĐỌC. Cầm sách lên và đọc. Trong sách có bạn hiền, có người đẹp, có mọi thứ. Do vậy, chúng tôi chủ trương TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC, xem đó như cửa ngõ của hiểu biết và niềm vui.

    CÓ NĂM CỬA:

    • Kiệt tác:

    Mỗi kiệt tác sẽ được dịch trọn vẹn và giới thiệu cả tác giả lẫn tác phẩm trong phối cảnh văn hóa những đặc điểm thiết yếu.

    • Tuyển:

    Tuyển chọn những tác phẩm ngắn của một tác giả, một nền văn học hay một chủ đề mang tính điển mẫu (thuộc vòng đời hay vòng mùa).

    • Kiến thức:

    Những kiến thức mà người đọc hiện đại cần có: trào lưu văn học, các nền văn học, thể loại được trình bày gọn nhẹ, dễ tiếp nhận.

    • Nghiên cứu:

    Các công trình chuyên sâu về một vấn đề văn học, một tác giả thiên tài, lý luận phê bình

    • Mới:

    Về các hiện tượng văn học mới xuất hiện của nước ngoài đang gây chú ý hoặc đoạt các giải thưởng lớn. Mong ước chúng tôi là TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC sẽ tiến bước bền vững và được đón nhận thân tình.

    Tủ sách được biên soạn và dịch thuật từ những nhà giáo, dịch giả và nhà nghiên cứu có uy tín và tâm huyết với văn chương.

    NHẬT CHIÊU



    LỜI GIỚI THIỆU

    Trong kho tàng văn học cổ Trung Quốc có nhiều đỉnh cao nghệ thuật không chỉ rạng rỡ cho văn hóa Trung Quốc mà còn được độc giả nhiều nước hâm mộ, đánh giá rất cao. Đó là những thành tựu thơ ca, từ phú, tản văn với những tác phẩm tiêu biểu như “Kinh Thi”, “Sở Tử”, “Tản văn lịch sử”, “Tản văn Chư tử”, Thơ Đường, Thơ Tống nhiều thể loại khác như biền văn, tán khúc, tạp kịch, truyện ký, tiểu thuyết cũng có nhiều giá trị, trong đó tiểu thuyết là mảng văn học rất đáng chú ý.

    Tiểu thuyết Trung Quốc vốn phát triển muộn hơn các thể loại khác. Trong khi thơ ca, từ phú, tản văn có những thành tựu huy hoàng từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc (tức thế kỷ V-VI trước Công Nguyên), thì tiểu thuyết đương thời chỉ được xem là “Tiểu đạo”, là thứ ngôn luận tầm thường lưu hành nơi ngõ xóm, kể về những chuyện nhỏ mọn, vặt vãnh trong cuộc sống bình thường, không phải là thứ cao cả uyên thâm “ngôn chí”, “tải đạo”.

    Sang đến đời Đường (thế kỷ VII) mới có loại truyện chí quái, truyền kỳ, chủ yếu ghi chép các chuyện lạ về tôn giáo, dã sử. Đến đời Tống, những chuyện đó được soạn lại rồi được nghệ nhân kể chuyện phối hợp các động tác minh họa diễn kể trong những dịp hội hè, họp mặt, vui chơi. Các truyện kể đó được tập hợp lại thành loại tác phẩm gọi là “Thoại bản”. Cuối đời Tống, Thoại bản được phổ biến rộng rãi. Rồi có những văn nhân dựa theo thoại bản biên soạn lại, có gia công thêm bớt, nhuận sắc, thành một loại gọi là “Nghĩ thoại bản”(mô phỏng theo thoại bản). Hình thức này tiếp tục phát triển ở đời Nguyên. Các tác phẩm Nghĩ thoại bản của hai thời Tống - Nguyên được tập hợp thành bộ “Tuyên Hòa di sự” gồm hai tập thuật các chuyện từ thời Nghiêu - Thuấn trở đi cho đến đời Tống.

    Sang đời Minh, một số văn nhân lại làm việc nhuận sắc gia công cho các Nghĩ thoại bản, rồi tiến tới sáng tác ra những truyện ngắn viết bằng bạch thoại 1.

    Loại tác phẩm này nội dung tương đối phong phú, đã có nhiều yếu tố tiểu thuyết và trở thành cơ sở quan trọng để các tiểu thuyết gia đời Minh - Thanh dựa vào viết thành những kiệt tác lớn như “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Thủy Hử truyện”, “Tây Du ký”.

    Như vậy, “Thoại bản” và “Nghĩ thoại bản” chính là khởi nguồn, là tiền thân của thể loại thiểu thuyết thời Minh - Thanh, một bộ phận văn học đã phát triển rực rỡ với con số hàng ngàn bộ trong đó nhiều tác phẩm ưu tú đã thành giá trị cổ điển được lưu truyền và ảnh hưởng sang nhiều nước, trong đó có Việt Nam ta.

    Tác phẩm “Nghĩ thoại bản” tiêu biểu nhất và có ý nghĩa đặt cơ sở cho tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc là “Tam ngôn” và “Nhị phách” thường được gọi chung là “Tam ngôn - Nhị phách”. Người soạn “Tam ngôn” là Phùng Mộng Long. Người soạn “Nhị phách” là Lăng Mông Sơ.

    Phùng Mộng Long người cuối đời Minh, sinh năm 1575 mất năm 1646, có tên chữ là Do Long, là Tử Do, có nhiều tên hiệu là Long Tử Do, Mặc Thám Trai chủ nhân, Cố Khúc Tán nhân. Ông quê Trường Châu (nay là thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô) xuất thân trong một gia đình có nhiều tài năng nổi tiếng. Anh trai ông là họa gia Phùng Mộng Quế, em trai là nhà thơ Phùng Mộng Hùng, ba anh em được người đương thời tôn xưng là “Ngô Hạ Tam Phùng” (Ba ông Phùng đất Ngô) và rất mến mộ. Phùng Mộng Long học rộng biết nhiều, có chí làm quan, song đi thi nhiều lần không đỗ. Ông từng đi khắp nơi vừa du lịch vừa dạy học để sinh sống. Năm Thiên Khải thứ hai (1662) ông trở về Thái Hồ ở được mấy năm thì gặp vụ biến Chu Thuận Xương phản nghịch. Do ông có giáo thiệp với Chu Thuận Xương nên Chu bị ngồi tù, ông cũng bị liên lụy. Cuối cùng rồi ông cũng được thoát nạn. Đến năm Sùng Trinh thứ ba (1630) ông lại đi thi và đỗ bậc Cống sinh, được bổ làm Huấn đạo Đan Bồ, rồi chuyển đến Thọ Ninh làm Tri huyện 11 năm. Trong thời gian này ông có làm một việc được ca ngợi rất nhiều. Đó là, bấy giờ vùng này thịnh hành hủ tục dìm chết trẻ con gái. Ông đã tự tay khởi thảo cáo thị nghiêm cấm chuyện đó. Ông viết: “Mười tháng hoài thai, chịu bao đau đớn khổ sở, dù trai hay gái đều là cốt nhục sao lại nhẫn tâm dìm chết? Huống chi, sinh nam chưa chắc đã hiếu thuận, sinh nữ vị tất đã hư hỏng”. Cáo thị đã được dán lên và lệnh cấm khắp nơi có kết quả ngay.

    Năm Sùng Trinh thứ 17 (1664) quân khởi nghĩa Lý Tự Thành đánh vào Bắc Kinh, vua Sùng Trinh tự tử ở Môi Sơn. Phùng Mộng Long rất đau buồn trước tình thế hỗn loạn của đất nước. Quân Thanh kéo vào, dựng triều chính, ông ngấm ngầm ôm mộng trung hưng. Đến khi quân Thanh tiến đến phía nam, ông bắt đầu nỗ lực tuyên truyền chống Thanh, soạn ra sách “Trung hưng vĩ lược” để phổ biến.

    Năm Thuận Trị thứ ba triều Thanh (1646), vào mùa xuân, Phùng Mộng Long qua đời. Có thuyết nói ông bị quân Thanh giết chết.

    Phùng Mộng Long trước sáng tác nhiều thơ văn, tiểu thuyết, hí khúc, đều có thành tựu. Ông từng cải biên các bộ tiểu thuyết trường thiên như “Bình yêu truyện”, “Tân liệt quốc chí”, biên soạn các bộ ca khúc dân gian “Sơn ca”, “Quải kỹ nhi”, biên tập gia công tập tán khúc “Thái hà tân tấu”, viết các truyện truyền kỳ “Song hùng ký”,” Vạn sự túc” và có tập “Mặc Hám Trai truyền kỳ định bản”. Về thơ, ông có tập “Thất lạc tề cảo”. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Tam ngôn” luôn được gắn liền với “Nhị phách” của Lăng Mông Sơ, trở thành tác phẩm khởi đầu quan trọng của văn học thông tục Trung Quốc.

    Lăng Mông Sơ sinh năm 1580, mất năm 1664, tự Huyền Phòng, hiệu Sơ Thành, biệt hiệu Tức Không Quan chủ nhân, là người Ô Trình (nay là huyện Ngô Hưng tỉnh Triết Giang). Ông sớm có tài năng văn chương song lận đận trên đường khoa cử, đi thi mãi không đỗ. Năm 55 tuổi mới đỗ Cống sinh, được bổ làm Huyện Thừa Thiên Hải, sau làm thông phán Từ Châu.

    Năm Sùng Chinh thứ 17 (1644) Lý Tự Thành tấn công Từ Châu, ông ngã bệnh qua đời.

    Tác phẩm trước thuật của Lăng Mông Sơ rất phong phú. Các loại tạp luận kinh sử, tuyển bình thơ văn không dưới 20 loại song phần lớn bị thất tán. Được ghi trong “Tứ Khố toàn thư” thì có “Ngôn thi dực”, “Thi nghịch”, “Thi Kinh nhân vật khảo”, “Quốc môn tập”, “Nam âm tam lại”, “Đông Pha thiền hỷ tập”, “Hợp bình tuyển thi” và rất nhiều hí khúc. Cuối đời ông rất say mê việc in khắc các loại tiểu thuyết, hí khúc, khắc xong dùng son và mực trang điểm thêm cho đẹp, có những bản in nhiều màu lại có xen thêm hình vẽ rất hấp dẫn. Ông từng khắc những sách “Thế thuyết tân ngữ”, “Tây Sương ký”, “Tỳ Bà”, “Nam Kha” đều rất sắc sảo đẹp mắt.

    “Nhị phách” là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Cùng với “Tam ngôn”, tác phẩm này đã trở thành đối tượng nghiên cứu không thể thiếu của các nhà tiểu thuyết học Trung Quốc.

    “Tam ngôn” và “Nhị phách” đều là các bộ in gộp nhiều tập. “Tam ngôn” gồm 3 tập: “Dụ thế minh ngôn” (còn gọi là “Cổ kim tiểu thuyết”), “Cảnh thế thông ngôn” và “Tỉnh thế hằng ngôn”, mỗi tập 40 thiên, cả bộ 120 thiên. Những thiên truyện này có truyện cải biên bản cũ đời Tống - Nguyên - Minh, có truyện dựa theo tác phẩm văn ngôn (các bút ký, hý khúc, truyện truyền kỳ, truyện lịch sử, truyện truyền khẩu trong xã hội) rồi viết lại hoặc sáng tác thêm. Có nghĩa là “Tam ngôn” bao gồm cả sự chỉnh lý gia công cái cũ và độc lập sáng tác cái mới của nhà văn, là cơ sở của nghệ thuật tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc.

    “Nhị phách” gồm 2 tập: “Phách án kinh kỳ sơ khắc” và “Phách án kinh kỳ nhị khắc” mỗi tập 40 thiên, trong đó có 1 thiên trùng lặp, 1 thiên tạp kịch. Trong bài “Tựa tự viết” ký tên Tức Không Quán chủ nhân, tác giả nói rằng sách này “thu thập các truyện hay xưa nay rồi viết lại và mở rộng thêm ra “vậy nên tác phẩm toàn là sáng tác cá nhân. Tác giả căn cứ vào sử liệu và truyền thuyết dân gian rồi lựa chọn cái hay, sắp xếp diễn giải, hư cấu, viết thành tác phẩm của mình.

    Nội dung trong “Tam ngôn” và “Nhị phách” rất phong phú, đề tài rất rộng, đề cập nhiều phương diện của cuộc sống xã hội. Có những truyện phản ánh nền chính trị đen tối, vạch trần tội ác bọn quan lại tham ô thối nát, xử án bất công. Có những truyện tán dương các ông quan tốt sáng suốt thương dân. Có những truyện chê trách hành vi bội tín, phi nghĩa, phụ bạc. Nhiều hơn cả là những tác phẩm miêu tả đời sống của tầng lớp thị dân nơi thị thành khi nền kinh tế thương nghiệp bắt đầu phát đạt giữa đời Minh, thể hiện phong phú và sinh động ý thức tư tưởng, ý chí đấu tranh phản kháng các quan niệm cũ, tinh thần tích cực và khát vọng muốn có đời sống tốt hơn của họ.

    Một điều đáng chú ý là trong “Tam ngôn”, “Nhị phách”, tư tưởng “trọng nghề buôn” rất rõ, con người thương nhân được khẳng định. Phần nhiều họ là những nhân vật chính diện, chịu khó chịu khổ, trọng nghĩa khí, có đạo đức. Tiểu thương Thi Phúc trong “Thi Phúc ở hiền” tốt bụng, không tham lam. Chàng bán dầu Tần Trọng trong “Độc chiếm hoa khôi” (tên toàn văn là “Chàng bán dầu độc chiếm hoa khôi”) buôn bán thật thà nên thu hút được khách hàng.

    Nghề buôn được xã hội nhìn nhận khác xưa, nếu trước kia địa vị xã hội được xếp theo trật tự “sĩ, nông, công, thương”, với “thương” ở hàng cuối, thì trong “Tam ngôn”, “Nhị phách”, buôn bán được xem là nghề chính đáng, thương nhân được nâng địa vị, trong nhiều truyện tả xã hội lưu truyền câu thường ngôn “Nhất phẩm quan, nhị phẩm khách”. Khách tức là khách thương. Nhiều truyện tả thương nhân giàu có lên, an hưởng sung sướng.

    Một điểm đáng chú ý nữa là “Tam ngôn”, “Nhị phách” miêu tả nhiều về tình yêu và hôn nhân. Quan niệm mới mẻ chống lại đạo đức phong kiến thể hiện rất rõ. Qua các nhân vật, “tình” được coi trọng và được xem là cơ sở cho quan hệ nhân luân lý tưởng, “tình” là giá trị cao nhất của hôn nhân và gia đình. Đặc biệt khi đề cập chuyện tình cảm hôn nhân, nhân vật nữ luôn được khẳng định, thể hiện quan niệm chống lại đạo đức phong kiến truyền thống, ca ngợi hôn nhân tự chủ, đề cao nam nữ bình đẳng. Người phụ nữ nhìn nhận về giá trị con người để quyết định số phận cho mình cũng mới mẻ, thiết thực. Như trong truyện “Độc chiếm hoa khôi” miêu tả anh chàng Tần Trọng vừa nhìn thấy nàng hoa khôi nổi tiếng là “tay chân đờ đẫn, lòng dạ mê mệt”, và nàng Dao Cầm vốn đang được các công tử hào hoa giàu có say đắm xu phụ lại chỉ xúc động trước anh chàng nhân hậu thật thà này, vì thấy đây mới là người “chí thành quân tử”, “hiểu lòng hiểu người”, rồi chủ động tỏ ý định muốn chàng làm chồng. Đến lúc Tần Trọng mặc cảm tự ti nghĩ rằng “con người quen sống sung sướng sang trọng sao có thể làm vợ kẻ bán dầu rong này được” thì nàng đã thề “sẽ áo vải cơm rau với nhau, chết không oán hận” 2. Người phụ nữ còn có ý thức về nhân cách của mình, kiên quyết giữ gìn nhân cách đó. Nàng Đỗ Thập Nương trong truyện “Đỗ Thập Nương giận ném hòm châu báu” là điển hình của sự bảo vệ nhân cách phụ nữ. Nàng là một kỹ nữ đã nổi danh song luôn mong mỏi có một tình yêu bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Nàng đã nhận lầm Lý Giáp là người “Trung hậu thành thật”. Khi thấy rõ được bản chất xấu xa của hắn, nàng đã dùng lời lẽ nghiêm khắc đúng đắn mắng cho cả bọn một trận rồi ôm hòm châu báu lao người xuống sông, dùng cái chết để bảo vệ cho lý tưởng tình yêu và nhân cách trong sáng của mình. Truyện “Đánh đòn kẻ bạc tình” (tên toàn văn: “Kim Ngọc Nô đánh kẻ bạc tình”) không chỉ để bảo vệ nhân cách và quyền lợi của phụ nữ mà còn phê phán bọn phụ tình bạc nghĩa: Kim Ngọc Nô thông minh xinh đẹp lại giỏi giang khéo léo, do gia cảnh biến đổi phải lấy anh học trò nghèo khó tên là Mạc Kê. Ngọc Nô đã hết sức giúp đỡ chồng học tập, cuối cùng anh ta thi đỗ, được bổ làm quan. Thành đạt rồi, anh ta thay dạ đổi lòng. Khi đi nhậm chức, nửa đường anh ta đẩy vợ xuống sông. Ngọc Nô được một ông quan là Hứa Đức Hậu cứu sống, nhận làm con nuôi. Sau Mạc Kê lại làm thuộc hạ của Hứa Đức Hậu, được ông này gả con cho, Mạc Kê mừng rỡ. Nhưng Hứa phu nhân đã bày kế cho Ngọc Nô đánh cho chú rể một trận tơi bời ngay lúc động phòng.

    Trong các truyện miêu tả tình yêu và hôn nhân, phần lớn các nhân vật nữ được bênh vực hoặc ca ngợi, chứng tỏ các tác giả muốn thể hiện tư tưởng nam nữ bình đẳng, giải phóng phụ nữ, quan niệm mới mẻ so với đương thời.

    “Tam ngôn”, “Nhị phách” có nét mộc mạc của loại văn học thông tục song đọc rất hấp dẫn. Các tác phẩm ưu tú đều có cốt truyện hoàn chỉnh, tình tiết khúc chiết, chi tiết phong phú, khắc họa cá tính nhân vật rất rõ.

    Về thủ pháp nghệ thuật, hai bộ sách này rõ ràng là tinh tế hơn loại thoại bản nhiều, có thể thấy sự gọt giũa kỹ lưỡng khi miêu tả hoàn cảnh, động tác, đối thoại, chi tiết, đặc biệt là có chú ý miêu tả tâm lý. Nhiều chỗ miêu tả hoạt động tâm lý rất sinh động. Như truyện “Tưởng Hưng Ca thấy lại áo trân châu” tả anh chàng Hưng Ca đi buôn bán xa, ở nhà vợ đẹp bị người quyến rũ. Hưng Ca về thấy cái áo trân châu của mình đưa cho vợ giữ đã bị tặng cho người khác. Biết vợ có tư tình, chàng ta bỏ vợ nhưng trong lòng đau đớn giận hờn, rồi lại thương xót, hối hận và tự trách mình đã để nàng tuổi trẻ mà vò võ một mình ở nhà, bao mâu thuẫn trong lòng giằng xé tâm can, những chi tiết được miêu tả rất kỹ.

    Hay như chàng Tần Trọng trong “Độc chiếm hoa khôi”, gặp người đẹp thấy mê mẩn tâm thần, thấy nàng thân ái, bụng cũng tự tin, song nghĩ thân phận mình lại thấy tự ti, rất muốn cầu thân lại lo cầu chẳng được, cứ băn khoăn khắc khoải mãi, bao rối rắm phức tạp trong tận đáy lòng được khắc họa tường tận vừa hợp lý vừa hợp tình.

    Nghệ thuật miêu tả tâm lý là một bước tiến triển rất quan trọng, vì trước kia, các loại truyền kỳ, chí quái, các loại sử truyện, thoại bản thường chỉ chú trọng miêu tả ngôn hình bên ngoài, ít tả hoạt động tâm lý của các nhân vật. “Tam ngôn”, “Nhị phách” đã mở ra một hướng khai thác mới cho nghệ thuật tiểu thuyết phát triển sau này.

    Một thủ pháp thường dùng trong hầu hết các truyện là xen lẫn tình tiết bi và hài, tạo nên sự thú vị, đọc thấy chất vui nổi trội hơn nhiều. Như trong “Kiều Thái Thú sắp xếp lại các cặp uyên ương” tả bao chuyện buồn thương rắc rối vì hôn nhân bao biện song lại xen vào những chi tiết lý thú và kết thúc đầy kịch tính rất vui. Chuyện chú rể Mạc Kê bị vợ đánh trong “Đánh đòn kẻ bạc tình” khiến người đọc sau khi thương cảm cho cô dâu đã rất khoái trá ở đoạn kết. Truyện “Hồn ma chia gia tài” thì đúng là một màn hài kịch đặc sắc: để bênh vực quyền lợi cho người em bị người anh tham lam chiếm đoạt hết gia tài cha để lại, Đằng Đại Doãn đã dàn cảnh rồi trước mặt đông đảo mọi người, nói năng cử chỉ cứ như đang đối đáp với hồn người chết, và làm bộ nghe theo lệnh người chết, chia lại gia tài cho người em. Chi tiết vừa nghiêm túc vừa gây cười rất hấp dẫn.

    Về nhân vật, các truyện trong “Tam ngôn”, “Nhị phách” nói chung đều dùng lối miêu tả chất phác truyền thống mà người Trung Quốc gọi là “bạch miêu”, song các hình tượng nhân vật phần lớn đều sinh động, có cá tính, những Tưởng Hưng Ca, Tam Xảo Nhi, Mụ Tiết, Đỗ Thập Nương, Dao Cầm, Tần Trọng không chỉ biểu hiện hình hài rõ nét mà còn bộc lộ cả những tình cảm tâm tư biến đổi phong phú và chân thật.

    Về ngôn ngữ, “Tam ngôn”, “Nhị phách” là những tác phẩm tiểu thuyết ngắn đầu tiên viết bằng bạch thoại, thoát khỏi hẳn lối văn cô đọng hàm súc của tác phẩm văn ngôn, lời lẽ cũng trong sáng nhẹ nhàng và đặc biệt xen rất nhiều khẩu ngữ, do đó lời văn hoạt bát tự nhiên, rất hợp với khẩu vị của đại chúng và đó cũng chính là một đặc điểm của loại văn học thông tục.

    Về việc tuyển dịch các tác phẩm để giới thiệu trong tập sách này, chúng tôi chủ trương chọn các truyện tiêu biểu, có ý nghĩa, từng được nhiều người yêu thích.

    Vì mỗi truyện đều tương đối dài, nếu để nguyên tất cả thì tập sách quá dày, sẽ khó khăn trong việc in ấn nên chúng tôi dịch theo bản rút gọn của nhà xuất bản “Thượng Hải Từ thư” xuất bản năm 1977.

    Nhưng, để độc giả thấy rõ kết cấu nội dung và chi tiết phong phú của nguyên bản, chúng tôi dịch trọn vẹn tác phẩm đầu tiên của “Tam ngôn”: “Tưởng Hưng Ca thấy lại áo trân châu” và một truyện trong “Nhị phách”: “Thương nhân họ Trình được Thần Biển giúp”. Ta sẽ thấy lối tả tỉ mỉ cụ thể và thỉnh thoảng có xen vào mấy câu thơ hoặc mấy lời dẫn vốn là dấu vết của loại thoại bản do các nghệ nhân dân gian diễn kể trong các sinh hoạt văn hóa rất phổ biến đương thời. Khi dịch, chúng tôi chú ý thể hiện lối văn mộc mạc, hoạt bát của nguyên bản. Một số cách xưng hô thời xưa như “hiền tế” (cha vợ gọi con rể), “tiểu tế” (con rể xưng với cha vợ), “quan nhân” (vợ gọi chồng hoặc cách gọi lịch sự đối với người đàn ông còn trẻ), “lệnh ái”, “lệnh lang” (gọi một cách kính trọng con gái, con trai của người đối thoại) và một số thành ngữ, từ ngữ Hán thông dụng dễ hiểu, chúng tôi không hiện đại hóa mà để nguyên cho phù hợp với phong vị của tác phẩm truyện cổ. Bản dịch thế nào cũng có chỗ cần sự góp ý của độc giả. Xin chân thành lắng nghe và trân trọng cảm ơn.

    PHẠM THỊ HẢO



    CÁC TRUYỆN TOÀN VĂN


    Tưởng hưng ca thấy lại áo trân châu

    (Tam ngôn)

    "Sĩ chí thiên chung phi quý. Niên quá thất thập thường hy. Phù sanh thân hậu hữu thùy tri? Vạn sự không hoa du hý! Hưu sính thiếu niên cuồng đãng. Mạc tham hoa tửu tiện nghi. Thoát ly phiền não thị hòa phi. Tùy phận an nhàn đắc ý":

    (Quan hưởng ngàn chung cũng chẳng quý.

    Tuổi đã bảy mươi đã hiếm người.

    Tiếng tăm hão, chết rồi, ai biết?

    Muôn sự chẳng qua chỉ trò chơi!

    Tuổi trẻ chớ buông tuồng phóng đãng.

    Đừng ham hoa rượu dể trôi xuôi.

    Hãy tránh ưu phiền rắc rối.

    Vui vẻ an nhàn theo số trời).

    Đây là bài từ "Tây giang nguyệt" 3, khuyên người nên an phận thủ thường, sống theo duyên phận, chớ để cho bốn thứ "tửu, sắc, tài, tình" làm tổn hại tinh thần, ảnh hưởng hành vi, dẫn đến chỗ muốn sướng mà chẳng được sướng, được lợi rồi lại mất lợi.

    Nói đến bốn thứ trên thì "sắc" là lợi hại nhất. Mắt là môi giới cho tình, dẫn đến lòng sinh dục vọng. Khởi đầu là bụng dạ bồn chồn, sau đấy là hồn phi phách tán. Nếu như nơi rặng liễu tường hoa, ngẫu nhiên hội ngộ thì cũng có thể sự việc tốt lành. Nhưng chẳng may lại lòng nọ dạ kia, làm thương phong bại tục, chỉ cốt vui thú chốc lát cho mình mà không nghĩ đến tình nghĩa trăm năm cho kẻ khác thì giả như người có thê thiếp xinh đẹp mà bị kẻ khác trêu ghẹo thì sẽ thấy ra sao? Người xưa có bốn câu thơ rất hay:

    Nhân tâm hoặc khả mị

    Thiên đạo bất sai di

    Ngã bất dâm nhân phụ

    Nhân bất dâm ngã thê

    (Lòng người có khi tối

    Nhưng đạo trời chẳng sai

    Ta không trêu vợ người

    Vợ ta sẽ gặp may)

    Hôm nay tôi xin kể chuyện "Áo trân châu" để thấy chuyện nhân quả báo ứng là có thật, nêu ra để các con trẻ lấy đó mà làm gương.

    Truyện kể về một người họ Tưởng tên Đức, tiểu tự là Hưng Ca, người huyện Tảo Dương phủ Tương Dương tỉnh Hồ Quảng. Cha của Hưng Ca là Tưởng Thế Trạch, từ nhỏ đã thông thuộc đường đi Quảng Đông buôn bán. Tưởng Thế Trạch có vợ là La thị đã qua đời để lại con trai Hưng Ca mới lên 9 tuổi. Tình cha con quyến luyến nhưng lại không bỏ được con đường cơm áo ở Quảng Đông, vậy nên suy đi nghĩ lại mãi, Thế Trạch đành mang con đi theo, để dạy dỗ nó ít nhiều điều khôn nhẽ phải. Chú bé này nhỏ tuổi nhưng mặt mũi sáng sủa, má trắng môi hồng, cử chỉ đường hoàng, ăn nói lanh lợi, thông minh hơn cả người học thức, khôn ngoan chẳng kém kẻ tài ba. Mọi người đều xem là của quý vô giá.

    Tưởng Thế Trạch sợ người ta đố kỵ nên dọc đường không nói là con đẻ của mình mà nói là cháu đằng vợ họ La. Vốn là họ La cũng thường đi buôn bán ở Quảng Đông, họ Tưởng chỉ mới một đời chứ họ La thì đã ba đời, những nhà buôn bán trọ ở đó đều quen biết thân thiết. Việc Tưởng Thế Trạch đi buôn mới đầu cũng là do ông bố vợ họ La dẫn đi. Vì gần đây luôn bị kiện tụng, nhà họ La thất thế, ít qua lại vùng này, nay thấy Thế Trạch đem tới một cậu bé của nhà họ La mặt mũi xinh xắn, ứng đối thông minh thì ai cũng thích.

    Tưởng Hưng Ca theo cha đi làm khách thương được mấy lần là đã thông thạo, mọi cách thức đều biết, cha rất vui mừng. Đến khi chàng ta 17 tuổi, cha ngã bệnh quy tiên. Cũng may lúc này còn đang ở nhà, không phải làm ma đất khách. Hưng Ca khóc lóc một hồi, rồi đành phải gạt lệ lo toan tang ma đại sự.

    Đến hôm 49 ngày, họ hàng nội ngoại đều tới thăm viếng. Trong số khách có ông họ Vương là nhạc phụ tương lai của Hưng Ca, được bà con nhà họ Tưởng ân cần tiếp đãi. Trong khi trò chuyện, ai cũng khen Hưng Ca trẻ người mà giỏi giang, việc lớn gia đình chỉ một mình anh ta lo toan tất cả. Chuyện qua chuyện lại, rồi có người nói: "Thưa cụ Vương, bây giờ lệnh ái đã trưởng thành, sao không nhân dịp này cho cô cậu làm đám cưới để chung sống với nhau?"

    Ông Vương chưa quyết định. Rồi hôm đó từ biệt ra về.

    Bà con họ Tưởng đợi xong xuôi việc tang lễ, lại tới thúc giục. Mới đầu Hưng Ca không chịu, sau bị thôi thúc mãi, cũng cảm thấy một mình cô quạnh, đành bằng lòng vậy. Bèn nhờ bà mối sang nhà họ Vương xin cưới. Ông Vương từ chối nói: "Có gì thì nhà tôi cũng phải sắm sửa ít đồ, làm ngay sao được. Vả lại tang chưa đầy năm, cũng chưa nên cưới, đợi sau sẽ bàn".

    Bà mối về nói lại, Hưng Ca thấy vậy cũng phải thôi, không dám cố xin.

    Ngày tháng thoi đưa, chẳng mấy chốc đã qua một năm, Hưng Ca lễ trước bài vị cha rồi thay bỏ áo tang, lại nhờ bà mối sang nói, lần này mới được nhận lời. Mấy ngày sau tiến hành sáu lễ xong xuôi, rước cô dâu về nhà làm vợ.

    Bài "Tây giang nguyệt" có câu: "Hiếu mạc phiên thành hồng mạc, sắc y hoán khứ ma y" (Màn tang chuyển thành màn đỏ, áo màu đổi lại áo gai).

    Cô dâu này là con gái út của ông Vương, tên gọi Tam đại nhi, vì nàng ta sinh đúng ngày mồng 7 tháng 7 nên còn gọi là Tam Xảo Nhi. Nhà họ Vương có hai cô con gái lớn đã gả chồng, cô nào cũng xinh đẹp, khắp vùng đều khen, nên có mấy câu rằng: "Thiên hạ phụ đa nhân. Vương gia nữ sắc quả. Hữu nhân thú trước tha. Thăng tự vị phò mã" (Trong thiên hạ chẳng thiếu đàn bà, nhưng con gái nhà họ Vương thật hiếm có. Ai may mắn mà lấy được họ, thì khác nào được làm phò mã con vua).

    Tưởng Thế Trạch nghe nói ông Vương có con gái đẹp bèn đem lễ vật sang xin ngay từ khi còn nhỏ, định nhân duyên sớm cho hai đứa trẻ. Nay cưới được về nhà rồi, thấy quả là xinh đẹp dịu dàng, so với hai cô chị còn hơn rất nhiều. Thật là: "Tây Tử nước Ngô chẳng bằng, Nam Hậu nước Sở còn kém".

    Tưởng Hưng Ca vốn người đàng hoàng, nay lấy được vợ mỹ nhân, đúng là tốt lứa đẹp đôi, vợ chồng yêu quý nhau, sống rất hạnh phúc.

    Nhưng từ xưa đã vậy, khổ thường kéo dài, vui thường qua mau, hè qua đông tới, chẳng mấy chốc đã trọn kỳ tang. Hưng Ca một hôm nghĩ tới những ngày cha sống ở Quảng Đông, thế mà nay đã hơn ba năm. Ở đó vẫn còn nhiều món nợ chưa thu được. Đêm đó mới bàn cùng vợ, muốn lên đường đi một chuyến. Mới đầu vợ cũng bằng lòng, bảo "nên đi" nhưng sau lại nói đường xá xa xôi, vợ chồng đang ân ái mặn nồng, làm sao chia tay cho được. Nói rồi nước mắt tuôn rơi. Hưng Ca cũng thấy không xa nhau nổi, buồn bã một hồi rồi thôi không đi nữa. Thấm thoát, chẳng mấy chốc lại hai năm nữa trôi qua. Lần này Hưng Ca quyết định phải đi, bèn giấu vợ chuẩn bị hành lý, rồi chọn ngày lành, đến hôm trước khi đi năm ngày mới nói với vợ rằng: "Người ta thường bảo miệng ăn núi lở, vợ chồng ta rồi cũng phải thành gia lập nghiệp, sao có thể bỏ con đường cơm gạo đó được. Bây giờ là tháng hai, thời tiết ấm áp, nếu không đi thì còn đợi đến bao giờ nữa?"

    Biết không giữ nổi, Tam Xảo chỉ đành hỏi: "Chàng đi thì bao giờ về?"

    Hưng Ca nói: "Ta đi lần này là bất đắc dĩ, chậm nhất là một năm sẽ phải trở về" Tam Xảo chỉ vào cây xuân trước nhà bảo rằng: "Sang năm, cái cây này nẩy lá là thiếp đợi chàng về đấy". Nói rồi nước mắt lại như mưa. Hưng Ca lấy tay lau nước mắt cho nàng, bất giác nước mắt mình cũng ròng ròng, tình cảm ly biệt thật khôn tả xiết.

    Đến ngày thứ năm, hai vợ chồng sụt sùi khóc lóc, trò chuyện suốt đêm, không ngủ chút nào. Đúng canh năm, Hưng Ca trở dậy sắp xếp hành lý, đem các đồ tế nhuyễn ông bà để lại giao hết cho vợ giữ, riêng mình chỉ đem theo ít bạc, sổ nợ và quần áo đồ dùng cần thiết. Gia nhân thì chỉ mang theo thằng nhỏ, còn người già thì để lại cho Tam Xảo sai bảo hàng ngày. Lại sắp xếp cho hai vú già chuyên lo bếp núc và hai a hoàn một đứa là Tình Vân, một đứa là Noãn Tuyết chuyên hầu hạ trong phòng bà chủ không được rời xa. Sắp xếp đâu vào đấy, Hưng Ca nói với vợ: "Nàng hãy chịu khó ở nhà chờ đợi. Vùng này bọn trai trẻ lêu lổng không ít, nàng lại là người xinh đẹp, chớ có ngó ngàng gì trước cửa mà mang họa".

    Tam Xảo nói: "Chàng cứ yên tâm, đi sớm rồi về cho sớm!" Vợ chồng gạt nước mắt chia tay.

    Thật là:

    Trên đời ngàn vạn điều đau khổ,

    Chẳng gì hơn tử biệt sinh ly.

    Hưng Ca trên đường đi, suốt ngày chẳng để ý chuyện gì, chỉ đau đáu nhớ vợ. Chẳng bao lâu đã tới Quảng Đông, tìm vào quán trọ. Bọn người quen biết xưa đều kéo tới gặp mặt. Bày rượu tiếp đãi suốt bao nhiêu ngày, chẳng lúc nào rảnh. Lúc ở nhà đã hao phí sức lực, lúc đi đường lại vất vả mệt nhọc, bây giờ lại ăn uống bừa bãi quá nên Hưng Ca ngã bệnh. Suốt mùa hạ vẫn không khỏi, đến mùa thu thì chuyển thành bệnh lỵ. Ngày nào cũng phải mời thầy bắt mạch bốc thuốc điều trị, kéo dài mãi đến tận cuối thu mới khỏi. Thế là việc buôn bán phải gác lại, trước mắt thấy một năm không thể về được.

    Tuy nhớ nhà song lâu dần rồi cũng quen.

    Lại nói chuyện Tam Xảo Nhi ở nhà, từ khi chồng ra đi dặn dò như vậy, quả thật trong suốt mấy tháng trời nàng ta mắt không nhìn ra cửa, chân không bước khỏi lầu. Thời gian vun vút chẳng mấy chốc đã đến hết năm, nhà nào nhà nấy rộn ràng đốt pháo Tết, ăn cơm họp mặt vui vẻ. Tam Xảo Nhi trước cảnh đó càng thấy nhớ chồng, suốt đêm buồn ảo não. Thật là:

    Nến tàn, sầu khó cạn

    Xuân về, người chẳng về

    Sớm mai càng cô quạnh

    Thay áo mới làm chi!

    Hôm sau, ngày mồng một Tết. Hai đứa a hoàn Tình Vân, Noãn Tuyết nài nỉ khuyên bà chủ ra phía trước cửa xem phong cảnh một chút. Căn nhà của họ Tưởng phía trước liền với đường phố, phía sau là phòng ở. Tam Xảo thường chỉ ở phía sau. Hôm nay bọn nó nói mãi đành phải đi ra phía trước, bảo mở cửa sổ, buông rèm xuống rồi nhìn ra ngoài. Ngoài phố thật là nhộn nhịp. Tam Xảo nói: "Bao nhiêu người qua lại mà không thấy một thầy bói nào. Phải chi có mà gọi lại bói xem tin tức của ông chủ". Tình Vân nói: "Hôm nay ngày đầu năm, mọi người đều nghỉ chơi, ai mà đi bói toán" Noãn Tuyết tiếp lời: "Cô ơi, cứ để hai chúng con lo, nội trong năm ngày thế nào cũng tìm được một thầy bói".

    Đến ngày mồng bốn. Noãn Tuyết xuống lầu tiểu tiện, bỗng nghe ngoài phố có tiếng gõ tinh tang, tinh tang. Đó là thầy bói mù gõ rao mời khách. Noãn Tuyết vội vã, chạy ra ngoài gọi lão mù, rồi lại nhón chân chạy một hơi về lên lầu báo cho bà chủ. Tam Xảo bảo ngồi dưới nhà dưới, rồi xuống nghe thầy bói đoán giải. Ông thầy mù bắt đầu bói quẻ. Hai bà vú trong bếp nghe thấy rộn rã cũng chạy ra xem, rồi nói thay bà chủ: "Quẻ này xin hỏi về người đi xa". Ông thầy mù hỏi: "Có phải vợ hỏi về chồng không?". Bà già nói: "Phải". Ông thầy nói: "Thanh long trị thế, tài hào phát động, nếu vợ hỏi về chồng thì người đi hiện đang ở nửa đường, vàng bạc lụa là nhiều lắm, gió bão thì tịnh không. Thanh long thuộc mộc, mộc vượng vào xuân, đã lên đường lúc lập xuân rồi. Cuối tháng này hoặc đầu tháng sau ắt sẽ về đến nhà. Mang theo nhiều của cải" Tam Xảo biếu ông ba phân bạc để ông ta đi, rồi vui mừng lên lầu. Thật là "Vọng mai chỉ khát, họa bính sung cơ" (Ngắm mai khỏi khát, vẽ bánh no lòng).

    Phàm người đi đã không mong thì thôi, đã mong thì lòng dạ khắc khoải, lúc nào cũng bồn chồn. Tam Xảo tin lời thầy bói, chỉ một dạ nghĩ đến chuyện chồng về. Từ đó, cứ luôn luôn ra trước phía lầu, ngó qua rèm mà nhìn khắp phía. Mãi cho đến tuần đầu tháng Hai, cây xuân trước cửa đã nẩy chồi mà vẫn chẳng thấy tăm hơi.

    Nhớ đến lời hẹn của chồng trước lúc ra đi, Tam Xảo càng lo, một ngày mấy lần ngóng nhìn ra ngoài. Vừa hay lúc đó nhìn thấy một chàng trẻ tuổi tuấn tú. Đúng là "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Vô duyên đối diện bất tương phùng".

    Chàng trẻ tuổi này là ai vậy? Vốn không phải là người vùng này mà là người huyện Tân An thuộc Huy Châu, họ Trần tên Thương, người ta thường gọi là Đại Hỷ Ca sau gọi là Đại Lang. Chàng ta tuổi mới 24, đẹp trai tuy không hơn được Tống Ngọc, Phan An song cũng không thua kém.

    Đại Lang cũng đã mất cả song thân, gom tiền hai, ba ngàn lượng đến vùng Tương Dương này, mua gạo, đỗ về bán, thường một năm đi vài lần.

    Chàng ta ở ngoại thành, hôm nay ngẫu nhiên vào phố để đến cửa hiệu cầm đồ quen hỏi tin tức của nhà. Cửa hiệu đó ở ngay đối diện nhà họ Tưởng. Chàng ta ăn mặc thế nào? Đầu đội chiếc mũ bách trụ kiểu Tô Châu, mình mặc áo dài lụa Hồ màu trắng như bụng cá. Trông hệt như cách ăn mặc của Tưởng Hưng Ca.

    Tam Xảo nhìn xa, tưởng là chồng về, bèn vén rèm lên nhìn kỹ. Trần Đại Lang ngẩng lên, thấy một mỹ nhân rất trẻ ở trên lầu, thế là cứ chăm chăm nhìn không chớp mắt, trong lòng thấy rất thích.

    Tam Xảo không ngờ là nhận nhầm. Thấy không phải chồng, nàng ngượng đỏ bừng mặt, bèn chạy vội vào nhà trong, ngồi tựa vào thành giường, trống ngực đánh thình thịch. Nào ngờ anh chàng Trần Đại Lang kia đã bị ánh mắt của người đàn bà hút hết hồn vía. Về đến chỗ ở, cứ nhớ mãi không sao quên nổi, bụng nghĩ: "Vợ mình ở nhà tuy có chút nhan sắc nhưng sao bằng phân nửa của nàng này. Nếu như gặp được nàng một đêm thì có tiêu hết cả số tiền cũng không uổng". Rồi thở dài mãi. Bỗng chợt nghĩ ra ở hẻm phía đông có mụ Tiết bán đồ quý, thường quen biết giao dịch. Mụ này mồm mép khéo léo lại thông tỏ phố xá ngõ hẻm, nhà nào mà chẳng biết, phải đi bàn với mụ, nhất định là được.

    Đêm đó chàng ta trằn trọc mãi. Hôm sau mới tinh mơ đã dậy, kiếm chút nước lã rửa mặt, chải đầu rồi lấy một trăm lượng với hai đĩnh vàng lật đật vào thành.

    Chàng ta đi một mạch đến hẻm phía đông thành phố, đến gõ cửa nhà mụ Tiết. Mụ này đang đầu tóc bù xù, ngồi trong sân nhặt hạt châu. Nghe tiếng gõ cửa, mụ vừa thu hạt châu lại vừa hỏi "Ai đấy?"

    Trần Đại Lang nói: "Có việc cần, đến muộn sợ không gặp được". Mụ Tiết hỏi: "Có cần già này đưa ít đồ trang sức bằng trân châu ra xem không?" Trần Đại Lang nói: "Trân châu cũng sẽ mua, song còn có việc rất cần bà đây". Mụ Tiết nói: "Ngoài việc buôn bán loại hàng này, mọi việc khác già này không quen".

    Trần Đại Lang hỏi: "Nói ở đây được không?" Mụ bèn đóng cửa lại, mời chàng ta vào ngồi trong căn gác nhỏ rồi hỏi: "Đại quan nhân có việc gì sai bảo?"

    Nhìn xung quanh thấy không ai bèn lấy bạc trong tay áo ra, bày lên bàn nói: "Một trăm lượng bạc này, bà nhận rồi tôi mới dám nói" - "Chưa biết đầu đuôi thế nào, nhận sao được?" Đại lang nói: "Hay bà chê ít?" Lại vội vàng lấy ra hai đĩnh hoàng kim vàng óng đặt cả lên bàn, nói: "Mười lượng vàng này cũng xin biếu bà luôn. Nếu bà không nhận là bà cố ý không giúp rồi. Hôm nay tôi đến tìm bà chứ không phải bà đến cầu tôi. Chỉ vì chuyến làm ăn lớn này không có bà không xong nên tôi đặc biệt tới nhờ bà. Nếu làm không được thì số vàng bạc này bà cứ để mà dùng". Xưa nay các mụ mối lái buôn bán mụ nào chẳng ham tiền bạc? Nhìn thấy những thứ trắng xóa vàng óng đó sao lại chẳng động tâm? Mụ Tiết lúc này mặt mũi tươi cười: "Đại quan nhân sẽ khỏi phải trách, già này cả đời có bao giờ à uôm một đồng xu nào đâu. Hôm nay quan nhân sai bảo, già tạm nhận lấy, nếu việc làm không xong sẽ xin trả lại hết".

    Nói rồi cất vàng bạc vào túi, miệng nói: "Già này to gan lắm đấy!" Đem vào phòng trong cất giấu xong mụ quay ra gạn hỏi: "Hãy tạm thời chưa nói cảm ơn, xin quan nhân cho biết cần tôi làm việc gì?"

    Đại Lang nói: "Cấp thiết phải tìm ngay một báu vật cứu mạng. Không đâu có cả, chỉ có một nhà trên phố lớn có thôi, xin bà hãy đi mượn về đây!"

    Mụ Tiết cười: "Lạ thật! Già này ở đây hơn 20 năm, chưa từng nghe nói trên phố lớn có vật báu gì cứu mạng cả. Đại quan nhân bảo nhà đó là nhà nào?"

    "Cái nhà lầu ở đối diện với hiệu cầm đồ Uông Triều Phụng là nhà ai vậy?"

    Mụ Tiết nghĩ một lúc rồi nói: "Đấy là nhà của Tưởng Hưng Ca. Anh chồng đi ra ngoài buôn bán đã hơn một năm rồi, chỉ có cô vợ ở nhà".

    Đại Lang nói: "Cái vật báu cứu mạng cho tôi chính là phải mượn cô ấy đấy". Rồi kéo ghế lại sát cạnh mụ kể rõ sự tình của mình như thế, như thế.

    Mụ này nghe xong lắc đầu lia lịa: "Việc này khó lắm. Cô vợ này của Tưởng Hưng Ca mới lấy nhau chưa được bốn năm, vợ chồng như cá với nước, một bước chẳng rời. Bây giờ bất đắc dĩ chồng phải ra đi, cô ta không hề bước chân xuống lầu, thật đứng đắn lắm. Anh chàng Hưng Ca này tính tình hơi cổ quái, hay cáu lắm, già này chẳng có đến nhà anh ta bao giờ. Ngay cả cô vợ mặt mũi ngắn dài thế nào cũng chẳng biết, làm việc này sao được? Quan nhân cho bạc nhưng già này bạc phúc, không nhận được rồi".

    Trần Đại Lang nghe nói vậy vội vàng quỳ xuống. Mụ Tiết kéo dậy thì chàng ta nắm chặt lấy tay áo miệng nói: "Cái mạng sống này của Trần Thương này đều trông nhờ ở bà. Bà phải nghĩ ra kế gì cứu sống tôi! Khi nào được việc, sẽ biếu bà thêm một trăm lượng bạc nữa. Nếu bà không làm thì bà phải chết ngay ở đây thôi". Mụ Tiết luống cuống không biết làm sao, liên mồm nói: "Được, được, đừng có giết già này, đại quan nhân hãy đứng lên đi, già này sẽ nói".

    Lúc này Trần Đại Lang mới đứng dậy, vòng tay nói: "Có diệu kế gì, bà nói mau đi!"

    Mụ Tiết nói: "Việc này phải tính từ từ, chỉ cần kết quả, đừng có kể thời gian, nếu cứ hẹn ngày tháng thì già này chịu" Trần Đại Lang nói: "Nếu quả làm được thì chậm mấy ngày không sao. Chỉ cần bà nói kế hoạch thế nào?"

    Mụ Tiết nói: "Ngày mai, đừng sớm quá cũng đừng muộn quá, cứ ăn sáng xong ta gặp nhau ở hiệu cầm đồ Uông Triều Phụng. Quan nhân mang theo nhiều bạc vào, cứ nói là buôn bán với già này. Nếu thấy già này bước vào được cửa nhà họ Tưởng rồi thì quan nhân tới ngay" Trần Đại Lang nói: "Xin theo lời bà". Rồi vui mừng mở cửa đi ra.

    Ngày hôm sau, Đại Lang ăn mặc chỉnh tề, mang theo ba bốn trăm lượng bạc để trong một cái tráp lớn bằng da, bảo thằng nhỏ khoác đi theo đến hiệu cầm đồ. Nhìn sang căn lầu đối diện thấy cửa sổ đóng kín mít đoán chắc nàng ta không có nhà, bèn nói với người coi tiệm mượn một chiếc ghế đẩu đặt ngay chỗ cửa ngồi ngóng. Một lúc sau, thấy mụ Tiết ôm một cái hòm nhỏ tới. Đại Lang bèn gọi lại hỏi: "Trong hòm có gì vậy?". "Đồ trang sức bằng ngọc quý, đại quan nhân muốn dùng gì?". "Tôi đang cần mua đây".

    Mụ Tiết bước vào cửa hiệu cầm đồ, chào người coi hàng rồi mở cái hòm ra thấy trong để hàng chục gói ngọc, lại có mấy cái hộp nhỏ đựng đồ trang sức rất đẹp, rất khéo trông lóa cả mắt. Đại Lang chọn ra mấy viên ngọc trắng lớn và một số trâm cài, bông tai, để vào một cụm rồi nói: "Tôi mua tất cả chỗ này." Mụ Tiết liếc mắt nhìn rồi nói: "Đại quan nhân cần dùng thì lấy nhưng sợ người không chịu nổi món tiền to lớn này". Đại Lang hiểu ý bèn mở cái tráp, lấy bạc nén ra bày trắng xóa rồi lớn tiếng nói: "Bằng này lẽ nào không mua nổi hàng của bà sao?". Lúc này, có bảy, tám người nhàn rỗi cạnh đấy xúm lại xem. Mụ Tiết nói: "Già này đâu dám xem thường quan nhân. Số bạc này xin hãy thu lại đi, chỉ cần trả được giá là xong". Hai bên bèn người ra giá cao, kẻ trả giá thấp, cách nhau một trời một vực. Người bán không chịu xuống giá. Đại Lang bèn cầm hàng lên, không chịu trả thêm, cố ý ra ngoài hiên lật đi lật lại xem kỹ từng món, cái nói giả, cái nói thật, nhấc đi nhấc lại lấp la lấp lánh. Người xung quanh đều đến xem, hết người nọ đến người kia cứ nắc nỏm khen mãi. Mụ Tiết quát ầm lên: "Mua thì mua, không thì thôi, làm mất thời gian của người ta quá!"

    Trần Đại Lang nói: "Sao lại không mua". Hai người lại kỳ kèo một trận nữa. Vương Tam Xảo nghe thấy tiếng huyên náo ở trước cửa, bèn bước ra phía trước, vén rèm lên lén nhìn, thấy ngọc sáng long lanh, đồ quý óng ánh, trông rất thích. Lại thấy bà già với khách mua đang mặc cả mãi không xong, bèn bảo một a hoàn xuống gọi, bảo bà già mang hàng lên xem thử.

    Tình Vân vâng lời đi sang, kéo vạt áo mụ Tiết nói: "Bà chủ tôi mời bà sang".

    Mụ Tiết cố ý hỏi: "Nhà ai vậy cơ?"

    Tình Vân nói: "Nhà họ Tưởng ở ngay đối diện". Mụ Tiết bèn giật lấy hết hàng, vội vàng gói lại, miệng nói: "Tôi không có rảnh mà lôi thôi mãi với ông". Đại Lang nói: "Thế thêm một ít nữa có bán không?"

    "Không bán, không bán. Giá như thế thì tôi đã bán hết từ lâu rồi".

    Vừa nói vừa cho hàng vào hòm, khóa lại như cũ rồi ôm đi. Tình Vân nói: "Để cháu mang cho bà". "Không cần đâu". Thế rồi đi thẳng sang nhà đối diện.

    Trần Đại Lang trong bụng mừng thầm, cũng thu chỗ bạc lại, chào người coi cửa hiệu rồi về. Thật là: "Mắt đã nhìn cờ thắng. Tai đã nghe tin vui".

    Tình Vân dẫn mụ Tiết lên lầu gặp Tam Xảo. Nhìn thấy nàng mụ nghĩ: "Thật là người trời! Thảo nào mà Trần Đại Lang mê mệt. Mình mà là đàn ông thì cũng đổ". Rồi mụ nói: "Già này nghe tiếng bà là người hiền thục sáng suốt, nhưng không có duyên làm quen".

    Tam Xảo hỏi: "Bà cụ quý tính là gì?". "Già này họ Tiết, nhà ở hẻm phía đông gần đây, cũng là lân lý với bà đấy mà". Tam Xảo hỏi: "Những thứ vừa rồi sao bà không bán?". "Không bán thì già này mang đi làm gì? Chỉ nực cười cho cái ông khách ấy, được cái mẽ người tài giỏi nhưng không biết nhìn hàng".

    Nói rồi mở cái hòm, lấy ra mấy thứ trâm cài, bông tai cho Tam Xảo xem, miệng nói: "Bà xem, những thứ nữ trang này, đến tiền công làm cũng bao nhiêu đấy chứ!" Lại nhấc ra mấy chuỗi hạt châu nói: "Còn loại hạng nhất này, có nằm mơ!". Tam Xảo hỏi chàng kia trả giá thế nào. Mụ Tiết nói: "Người nhà đại gia bao giờ cũng thấy nhiều biết rộng, so với bọn đàn ông kia tinh tường hơn chục lần".

    Tam Xảo gọi a hoàn pha trà. Mụ Tiết nói: "Khỏi phiền trà nước gì. Già này còn có việc cần phải đi sang phố đằng kia, gặp người khách này mất bao nhiêu thì giờ, đúng là mua bán chẳng xong, lỡ cả công chuyện. Bây giờ cái hòm này khóa rồi cứ để đây, nhờ bà giữ hộ, già này đi một lát sẽ quay lại ngay". Nói xong đi ra. Tam Xảo bảo Tình Vân đưa bà ta xuống lầu. Ra khỏi cửa, bà ta đi về hướng Tây.

    Trong bụng rất thích mấy thứ đồ đó, Tam Xảo cứ đợi bà ta đến để mua. Suốt năm ngày không thấy đến. Đến trưa ngày thứ sáu, trời bỗng đổ một trận mưa lớn. Chưa dứt tiếng mưa bỗng nghe tiếng gõ cửa cồm cộp. A hoàn ra mở cửa, thấy mụ Tiết quần áo ướt sũng, cầm cái dù rách bước vào, miệng nói: "Tạnh ráo không chịu đi, cứ đợi mưa dầm dề!". Rồi để cái dù cạnh cầu thang, lên lầu chào hỏi: "Thưa bà chủ, bữa trước tôi sai hẹn". Tam Xảo vội vàng đáp lễ rồi hỏi: "Mấy hôm vừa rồi bà đi đâu vậy?"

    "Con gái mới sinh thêm đứa cháu ngoại, già này đến thăm. Ở lại mấy ngày, sáng nay mới về. Nửa đường trời mưa nên phải vào nhà người quen mượn cái dù, cũ rách nhưng không phải vận đen".

    "Bà được mấy người con trai con gái?"

    "Chỉ một thằng con trai, lấy vợ rồi. Con gái thì có bốn cô, cô này là thứ tư, lấy làm lẽ cho ông Chu Triều Phụng ở Huy Châu, mở cửa hàng bán muối ở ngay phía ngoài cửa Bắc này".

    "Bà có nhiều con gái, sao không để họ làm cho. Mà bản hương bản địa thiếu gì người một vợ một chồng, sao lại đi lấy lẽ người khác quê?". "Người khác quê nhưng có tình, tuy làm lẽ nhưng vợ cả chỉ ở tại nhà. Con gái tôi ở tại cửa hiệu, sai bảo kẻ hầu người hạ, quyền hành mọi thứ. Già này mỗi lần đến thăm đều được đối đãi là bậc người trên. Bây giờ con gái đẻ đứa con trai lại càng sướng nữa".

    Tam Xảo nói: "Thế cũng là nhờ bà mà được vậy". Vừa lúc Tình Vân bưng trà lên, hai người cùng uống. Lúc này mụ Tiết nói: "Hôm nay trời mưa, chẳng có việc gì, già này cả gan muốn bà cho xem một chút đồ trang sức của bà, được thấy đồ khéo đẹp cũng thích cái bụng".

    Tam Xảo nói: "Tôi sống cũng bình thường thôi, bà chớ có cười".

    Bèn lấy chìa khóa, mở rương hòm, lần lượt lấy ra rất nhiều vòng, xuyến, dây đeo. Mụ Tiết xem, khen mãi, rồi nói: "Bà có những đồ quý lạ thế này, còn để ý gì đến mấy thứ của tôi". Tam Xảo nói: "Bà nói quá. Tôi đang muốn biết bà bán thực giá bao nhiêu?". "Bà là người biết hàng biết của, tôi còn phải nói dông dài làm gì". Tam Xảo thu các thứ lại rồi lấy cái hòm của mụ Tiết gửi ra đặt lên bàn bảo: "Bà mở ra kiểm lại cho rõ ràng". Mụ Tiết nói: "Bà kỹ tính quá". Rồi mở ngay cái hòm lấy ra từng thứ một. Tam Xảo trả giá cũng không chênh lệnh mấy. Mụ Tiết chẳng tranh cãi gì, vui vẻ nói: "Như vậy thì cũng chẳng uổng, tôi có thiệt bớt mấy quan cũng không sao". Tam Xảo nói: "Có điều là hiện chưa đủ tiền, chỉ có thể đưa bà một nửa, đợi quan nhân tôi về sẽ trả hết. Cũng chỉ mấy ngày nữa là ông ấy về thôi". Mụ Tiết nói: "Chậm vài ngày không sao, chỉ có là giá cả nhân nhượng nhiều quá thì bạc phải là bạc đủ tuổi đấy". Tam Xảo nói: "Chuyện đó có khó gì", bèn chọn ra mấy thứ trang sức vài hạt châu thật thích, gọi Tình Vân dọn rượu cùng ngồi uống với mụ Tiết. Mụ nói: "Quấy rầy làm phiền bà quá".

    Tam Xảo nói: "Thường cũng rảnh rỗi thôi. Bà đến là có bạn trò chuyện. Nếu bà không ngại thì năng lại chơi".

    "Đa tạ bà có lòng yêu. Nhà tôi thì ồn ào không chịu được. Ở đây thanh tĩnh nhàn nhã quá".

    "Con trai bà buôn bán cái gì?"

    "Cũng chỉ tiếp những ông khách mua bán hạt châu, hàng ngày kiếm chút rượu. Già này may mà cứ đi hết nhà này đến nhà kia, rất ít ở nhà nên cũng được. Nếu chỉ quẩn quanh trong sáu thước đất thì ngốt chết mất".

    Tam Xảo nói: "Nhà tôi cũng gần, nếu không ngại thì cứ lại chơi chuyện vãn".

    "Cũng chả dám đến quấy rầy nhiều".

    "Bà nói gì vậy?"

    Chỉ thấy hai đứa a hoàn luân phiên đi đi lại lại, bày ra hai bộ bát đũa, hai tô gà, hai bát thịt muối, hai đĩa cá tươi, rồi các loại rau trái, tất cả mười sáu cái bát đĩa.

    Mụ Tiết nói: "Sao thịnh soạn thế này".

    "Toàn có sẵn cả, bà đừng chê dở nhé".

    Tam Xảo nói xong rót rượu mời mụ Tiết. Mụ Tiết đáp lễ lại, rồi hai người đối diện cùng uống. Tam Xảo tửu lượng cũng khá, mụ Tiết lại là một cây rượu, giờ ăn uống thấy thỏa lòng, chỉ giận là gặp nhau muộn quá. Hôm đó ăn uống cho đến chập tối. Tạnh mưa thì mụ Tiết từ tạ xin về, Tam Xảo lại lấy ra chiếc chén lớn bằng bạc mời thêm mấy chén rượu nữa rồi cùng ăn cơm tối luôn. Nàng nói: "Bà hãy ngồi lại chút nữa, tôi xin gửi bà nửa số tiền".

    Mụ Tiết nói: "Muộn quá rồi. Bà cứ tự nhiên, chẳng vội gì đêm nay, để sáng mai tôi lại nhận cũng được mà. Cả cái hòm này, tôi cũng không mang về đâu, sợ đường bùn lầy trơn trượt khó đi".

    Tam Xảo nói: "Thế thì ngày mai tôi đợi bà". Mụ Tiết chào rồi xuống lầu, cầm cái dù rách ra về.

    Lại nói Trần Đại Lang chờ mãi đã mấy ngày mà vẫn bặt vô âm tín. Hôm đó trời mưa, chàng ta đoán bà già này chắc ở nhà, bèn lội bùn đạp nước vào thành để xem tin tức ra sao. Trước hết vào quán rượu uống mấy chén, ăn chút điểm tâm rồi đến nhà mụ Tiết, hỏi thăm thấy vẫn chưa về. Trời đã tối, đang tính quay về thì nhìn thấy mụ Tiết mặt tươi hơn hớn, chân bước xiêu vẹo, đang đi vào hẻm. Đại Lang đón mụ, vái chào rồi hỏi: "Chuyện bà nói thế nào rồi?"

    Mụ vẩy tay nói: "Còn sớm mà. Bây giờ mới gieo hạt thôi còn chưa nảy mầm, phải năm sáu hôm nữa, khai hoa kết quả rồi mới tới được miệng ông. Ông đừng có dò hỏi gì ở đây, tôi không rỗi hơi". Thấy mụ ta say. Đại Lang đành quay về.

    Ngày hôm sau, mụ Tiết mua một ít trái cây đầu mùa, ít thịt cá tươi, nhờ một người đầu bếp nấu thành món đàng hoàng, lại mua thêm hai bình rượu ngon, đưa đến nhà họ Tưởng.

    Tam Xảo hôm đó chưa thấy mụ, vừa bảo Tình Vân mở cửa ra ngóng thì đúng lúc mụ tới.

    Tình Vân báo cho bà chủ biết. Tam Xảo xem mụ như khách quý, ra tận cầu thang đón. Mụ Tiết cảm ơn một hồi rồi nói: "Hôm nay già này ngẫu nhiên có được ly rượu nhạt, đem tới uống với bà cho vui".

    Tam Xảo nói: "Bà già này lại đáp lễ rồi, tôi chả nên nhận đâu". Mụ Tiết cứ giục hai a hoàn bày cả lên bàn. Tam Xảo nói: "Bà bày vẽ quá". Mụ Tiết cười: "Nhà nghèo, chả kiếm được gì ngon, chỉ chút rau dưa mời bà!"

    Tình Vân lấy bát đũa ra. Noãn Tuyết đốt lò lên. Một lát, rượu được hâm nóng, mụ Tiết nói: "Hôm nay là chút lòng của già này, xin mời bà chuyển sang ghế khách". Tam Xảo nói: "Ở tại nhà tôi, ai lại thế!" Hai bên nhường nhau mãi, cuối cùng mụ Tiết đành ngồi ghế khách. Thế là lần thứ ba gặp nhau, càng thấy thân thuộc.

    Giữa chừng, mụ Tiết hỏi: "Quan nhân nhà ta đi lâu thế chưa về, sao lại bỏ được bà ở nhà vậy?". Tam Xảo nói: "Thế đấy, bảo đi một năm rồi về mà không hiểu sao lại thất hẹn thế". Mụ Tiết nói: "Theo già này thì bỏ một nương tử như hoa như ngọc thế này thì có kiếm hàng đống vàng đống ngọc cũng chẳng bằng". Rồi lại nói: "Đại phàm những người đi giang hồ thường coi khách là nhà, coi nhà là khách. Như thằng con rể thứ tư của tôi là Chu Triều Phụng ấy, có vợ nhỏ rồi là sớm tối vui vầy còn nghĩ gì đến nhà nữa, có khi ba bốn năm mới về một lần. Ở chưa được hai tháng lại đi. Con vợ ở nhà một mình vò võ, có biết đâu chuyện bên ngoài của hắn".

    Tam Xảo nói: "Quan nhân nhà tôi thì không phải loại người như vậy". "Tôi chỉ nói chuyện vậy thôi chứ đâu dám so sánh đất với trời".

    Hôm đó hai người uống say mèm mới chia tay. Ngày thứ ba, mụ đến nhận nửa số tiền, Tam Xảo lại giữ lại ăn điểm tâm.

    Từ đó trở đi, lấy lý do còn nửa món tiền, mụ Tiết luôn luôn qua lại hỏi tin tức của Hưng Ca. Mụ này miệng lưỡi nhanh nhẹn, nói chuyện rất vui, lại thân mật với cả bọn a hoàn nên ai cũng thích. Tam Xảo cứ một ngày không thấy mụ là cảm thấy buồn tẻ, bèn bảo bọn gia nhân hỏi biết nhà để luôn luôn tới mời mụ. Trên thế gian này có bốn loại người nếu dính với họ là không thể rời được nữa. Bốn loại đó là: Tăng đạo, hành khất, kẻ ngồi dưng và đàn bà khéo mồm. Ba loại đầu còn đỡ, chứ loại đàn bà mồm mép này có thể luồn lỏi khắp mọi nhà. Cứ bà nào cô nào sợ sự lặng lẽ cô đơn thì cần họ tới lui. Mụ Tiết này vốn là kẻ xấu bụng, nhưng bằng những lời lẽ ngọt nhạt đã được Tam Xảo xem như bạn thân thiết, không thể thiếu được. Thật đúng là: "Họa hổ họa bì, nan họa cốt. Tri nhân tri diện, bất tri tâm" (Vẽ hổ vẽ da, xương khó vẽ. Biết người, biết mặt, bụng không lường).

    Trần Đại Lang mấy lần hỏi tin tức, mụ Tiết đều nói là chưa vội. Đến trung tuần tháng năm, tiết trời nóng dần, mụ Tiết trong khi trò chuyện với Tam Xảo chợt kể là nhà mình ở chật quá, lại hướng Tây, ngày hè rất khổ sở chứ không mát mẻ thoáng đãng như ở đây. Tam Xảo nói: "Nếu bà bỏ nhà được, đến đây ngủ cũng được đấy". "Được thì được quá, chỉ sợ ông nhà về thôi". "Ông ấy có về cũng không phải lúc nửa đêm canh ba đâu". "Bà không thấy phiền thì tối nay tôi sẽ mang chăn màn tới làm bạn với bà được không?" Tam Xảo nói: "Chăn màn có cả rồi, không cần phải mang tới. Bà cứ về nói với nhà một tiếng rồi đến đây".

    Mụ Tiết nói với con trai, con dâu rồi chỉ mang theo hộp gương lược đi. Tam Xảo nói: "Bà thật lắm chuyện, chả lẽ nhà tôi không có dầu sáp gương lược sao mà phải mang tới?" Mụ Tiết nói: "Già này xưa nay sợ dùng chung chậu chải chung lược. Bà dùng những thứ sang tôi đâu dám dùng, còn của các cô kia thì cũng chịu, tốt nhất là mang của mình tới. Thế bà cho tôi ở phòng nào?" Tam Xảo trỏ khoang nhỏ trước giường mình nói: "Tôi định để bà ngủ chỗ này để hai ta gần gũi, đêm không ngủ được thì trò chuyện với nhau".

    Nói rồi lấy ra một tấm mùng bằng sa màu xanh nhạt bảo mụ tự treo lên, rồi cùng ăn uống với nhau một lúc mới đi ngủ. Hai đứa a hoàn vốn nằm chỗ trước giường chủ, nay có bà già thì chúng ra ngủ ở phòng gần cạnh.

    Từ hôm đó, mụ Tiết cứ ban ngày len lỏi các phố buôn bán, chiều tối đến nhà họ Tưởng ngủ. Hai người nằm tuy cách cái màn song cũng giống như ngủ chung. Ban đêm cứ thì thà thì thầm người hỏi người đáp, mọi chuyện phố xá, cái gì cũng nói. Mụ Tiết có lúc loáng choáng, kể nhiều chuyện hồi trẻ đi với trai, khơi gợi lòng xuân của bà chủ này khiến gương mặt trẻ măng xinh đẹp đỏ bừng rồi lại nhạt, rồi lại đỏ bừng. Mụ già biết nàng đã động lòng.

    Thời gian thấm thoát, lại đã đến mùng 7 tháng 7, sinh nhật của Tam Xảo. Sáng sớm, mụ Tiết đã chuẩn bị hai món để mừng. Tam Xảo cảm tạ, giữ mụ lại ăn mì, mụ nói: "Hôm nay già này bận lắm, để đến tối sẽ lại cùng bà xem Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau". Nói rồi ra về.

    Xuống thang, đi được mấy bước thì gặp Trần Đại Lang. Trên đường không tiện nói chuyện hai người đi đến chỗ hẻm vắng. Đại Lang cau mày oán trách: "Bà nhiêu khê quá, xuân qua hè lại, bây giờ đã sang thu rồi mà cứ hôm nay bảo chưa vội, ngày mai cũng chưa vội, không biết là tôi sốt ruột đến thế nào. Kéo dài đến mấy ngày nữa, chồng nàng ta về thế là chuyện này xuống sông xuống biển, hại chết tôi à! Xuống âm ty thế nào tôi cũng đòi mạng bà".

    Mụ Tiết nói: "Cậu đừng có cáu, già này đang định đến tìm thì vừa hay gặp ở đây. Việc có thành hay không là ở đêm nay, cậu cứ phải làm theo tôi bảo, như thế như thế. Phải hết sức khẽ khàng, đừng để ai biết".

    Đại Lang gật gật đầu: "Kế hay, kế hay! Xong được việc nhất định sẽ có hậu tạ". Nói rồi hớn hở bước đi.

    Hôm đó, buổi chiều trời mưa nhỏ hạt, tối đến chẳng có trăng sao. Mụ Tiết mò mẫm dẫn Đại Lang đến mai phục chỗ phía trái gần đó, còn mình đến gõ cửa. Tình Vân thắp nến ra mở. Mụ cố ý sờ sờ vào ống tay áo nói: "Rơi đâu mất chiếc khăn tay rồi. Cô Tình phiền cô tìm giúp một chút!". Giọng dỗ dành khiến Tình Vân phải rọi đèn ra đường phố. Mụ già thừa cơ ra hiệu cho Đại Lang lẻn vào nhà, đến mai phục ở chỗ trống sau cầu thang. Rồi mụ già kêu lên: "Thấy rồi, thôi đừng tìm nữa!". Tình Vân nói: "Hay quá đèn cũng vừa tắt, cháu đi thắp lại cho bà". "Lối đi quen rồi chẳng cần đèn đâu".

    Hai người mò mẫm đóng cửa rồi lên lầu. Tam Xảo hỏi: "Bà mất cái gì vậy?". Mụ Tiết rút cái khăn nói: "Cái oan gia này đây, tuy chẳng đáng mấy tiền nhưng là của khách hàng ở Bắc Kinh tặng, của ít lòng nhiều mà". Tam Xảo nói đùa: "Chứ không phải quà của ông già nào tặng hả?". Mụ Tiết cười: "Đại khái cũng như thế".

    Tối đó, hai người vui vẻ uống rượu. Mụ Tiết nói: "Thức ăn ngon nhiều thế này, sao không cho bọn hầu hạ nhà bếp ăn với, bảo bọn chúng làm trò gì vui nhộn như ngày lễ đi!". Tam Xảo liền lấy bốn bát thức ăn và hai bình rượu đưa cho bọn a hoàn đem xuống lầu. Hai vú già và một anh đàn ông ăn một lúc rồi đi nghỉ cả.

    Trên này, mụ Tiết đang uống rượu hỏi: "Quan nhân sao mãi chưa về?". Tam Xảo nói: "Thế đấy, tính ra đã một năm rưỡi rồi". Mụ Tiết nói: "Ngưu Lang Chức Nữ một năm gặp nhau một lần, bà với ông nhà xa nhau hơn họ nửa năm. Người ta thường nói: "Nhất phẩm quan, nhị phẩm khách", làm khách thương thì chỗ nào chẳng có chuyện phong hoa tuyết nguyệt. Chỉ khổ cho người đàn bà ở nhà thôi". Tam Xảo thở dài cúi đầu im lặng. Mụ Tiết nói: "Già này lắm lời quá rồi. Đêm nay là ngày vui của Ngưu Lang, chỉ nên uống rượu vui vẻ, không nên nói chuyện buồn". Nói rồi rót rượu mời bà chủ. Thấy đã ngà ngà, mụ đem rượu cho hai a hoàn, nói: "Đây là rượu chúc mừng cho Ngưu Lang Chức Nữ, các cô hãy uống thêm vài chén, sau này lấy được ông chồng thương yêu nhau, một bước chẳng rời". Hai đứa không chối được, gắng uống đến nỗi say ngả say nghiêng. Tam Xảo bảo đi đóng cửa rồi cho chúng đi ngủ trước. Còn lại hai người uống thoải mái.

    Khi ăn, mụ Tiết luôn miệng trò chuyện: "Bà lấy chồng lúc bao nhiêu tuổi?" - "Mười bảy tuổi" - "Thất thân muộn thế khỏi thiệt, tôi mười ba tuổi đã thất thân rồi" - "Sao lấy chồng sớm thế?" - "Thật sự lấy chồng thì mười tám tuổi. Chẳng dấu gì bà, hồi đó tôi học may vá ở nhà bên cạnh, bị thằng chồng nó dụ dỗ, lúc đó cũng ham thấy nó đẹp đẽ, thế là bị với nó. Lần đầu rất đau, hai ba lần sau thì sướng. Chắc bà cũng thấy thế chứ gì?".

    Tam Xảo chỉ cười. Mụ nói tiếp: "Cái chuyện ấy nếu chưa biết thì không sao, biết mùi rồi không quên được, người cứ rấm rứt, ban ngày còn đỡ chứ ban đêm thật khó chịu". Tam Xảo hỏi: "Khi còn ở nhà bà đã ân ái nhiều lần như vậy, làm sao thành gái trinh mà đi lấy chồng được?". "Mẹ tôi cũng biết chuyện tôi, sợ sinh chuyện bẽ mặt, mới bảo tôi cách làm cho thành đồng nữ, tức là lấy nước vỏ thạch lựu nấu với phèn chua sống đem bôi. Rồi tôi giả bộ kêu đau thế là che mắt được".

    Tam Xảo lại hỏi: "Lúc còn chưa lấy chồng, ban đêm bà cũng thường phải ngủ một mình chứ gì?".

    Mụ tiết nói: "Còn nhớ hồi ấy ở nhà, anh trai tôi đi xa, tôi ngủ với chị dâu." - "Hai người đàn bà ngủ với nhau thì có gì thú?". Mụ bước sang ngồi sát vào người Tam Xảo nói: "Bà không biết đấy thôi, chỉ cần hai người hiểu nhau, biết lòng nhau, cùng thấy thú là cũng giải quyết được". Tam Xảo giơ tay đánh một cái vào vai mụ nói: "Tôi không tin, bà nói xạo". Mụ thấy nàng ta lòng dục đã động, bèn cố ý khêu gợi, nói: "Tôi năm nay 52 tuổi rồi mà ban đêm thường cũng thấy không chịu được vì chuyện ấy, huống hồ bà còn trẻ, khổ thật" - "Bà không chịu được thì đi hoang chứ?". Mụ nói: "Hoa héo liễu khô rồi, bây giờ ai mà còn ham tôi nữa. Chẳng dấu gì bà, tôi cũng có một cách tự cứu mình làm cho mình sướng." - "Bà chỉ xạo, cách gì nào?" - "Để chút nữa lên giường ngủ tôi sẽ nói kỹ với bà".

    Lúc đó, có một con thiêu thân bay tới lượn quanh ngọn nến, mụ Tiết bèn cầm quạt đập, cố ý quạt lửa tắt luôn. Mụ nói: "Ấy à! Tôi phải tự đi thắp đèn thôi!". Bèn mở cửa ra ngoài. Lúc này Trần Đại Lang đã bước lên thang lầu, phục sẵn cạnh cửa từ lâu rồi - đó đều là kế của mụ Tiết. Mụ nói: "Ôi quên mang cái châm đèn rồi", lại bước quay trở lại đồng thời dẫn Đại Lang vào chỗ cái phản mình nằm, phục tại đó. Mụ xuống lầu một lát, quay trở lên nói: "Khuya quá rồi, bếp núc tắt hết lửa, làm thế nào đây?". Tam Xảo nói: "Tôi quen ngủ có đèn rồi, trời tối mò mò sợ lắm". Mụ Tiết nói: "Tôi cùng ngủ với bà được không?". "Tốt quá!". Mụ nói: "Bà lên giường trước đi, tôi đóng cửa rồi đến ngay".

    Tam Xảo cởi quần áo, trèo lên giường, nói: "Bà cũng mau đi ngủ đi". Mụ đáp: "Vâng, tôi đến ngay đây!". Nói vậy nhưng lại tới chỗ phản kéo Trần Đại Lang dậy, đẩy anh chàng mình trần như nhộng này đến giường của Tam Xảo.

    Tam Xảo sờ sờ vào người, nói: "Bà nhiều tuổi mà người còn mượt mà thế!". Chàng kia không nói gì, chui luôn vào chăn rồi ôm ghì lấy nàng ta mà hôn hít. Tam Xảo lại tưởng là mụ Tiết bèn cũng giang tay ôm chặt. Chàng kia vươn mình thế là khởi sự. Nàng này một là do quá uống nhiều rượu, có ngà ngà say, hai là bị mụ già khiêu khích, lòng dục nổi lên, nên chẳng kể gì nữa, đúng là: Một bên, thiếu phụ hoài xuân nơi khuê các, một bên tài lang mộ sắc chốn khách đình. Một bên chịu đựng đã lâu, nay như Văn Quân được gặp Tương Như, một bên trông ngóng mỏi mòn, nay như Tất Chính hội cùng Trần Nữ. Nắng hạn gặp mưa lành, chẳng khác tha hương gặp cố tri.

    Trần Đại Lang vốn là tay sành sỏi chuyện gió trăng, làm cho người đàn bà mê mẩn tâm thần chẳng còn biết gì khác nữa. Xong cuộc mây mưa, Tam Xảo mới hỏi: "Thế chàng là ai vậy?" Đại Lang mới đem đầu đuôi câu chuyện từ lúc thấy mặt rồi ái mộ, rồi năn nỉ nhờ mụ Tiết bày kế thế nào thế nào kể hết, rồi nói: "Bây giờ là toại nguyện rồi, có chết cũng cam".

    Mụ Tiết bước tới nói: "Chẳng phải già này to gan đâu mà chỉ là vì: một là thương bà chủ tuổi xuân đơn độc, hai là muốn cứu tính mạng Đại Lang. Hai người như vậy cũng là nhân duyên trời định, chớ chẳng phải do tôi". Tam Xảo nói: "Chuyện đã thế rồi, nếu chồng tôi mà biết thì làm sao đây?"

    Mụ Tiết nói: "Chỉ có bà với tôi biết thôi, nay mua chuộc hai đứa a hoàn Tình Vân, Noãn Tuyết, không cho chúng nhiều lời thì còn có ai lộ chuyện nữa. Riêng già này thì chỉ làm sao cho đêm nào bà cũng được sung sướng thôi, có điều là sau này đừng có quên mụ già đấy".

    Đến thế này thì chẳng còn kể gì nữa, Tam Xảo lại cùng Đại Lang buông thả truy hoan, cho đến tận canh năm, trời đã sáng mà vẫn còn lưu luyến. Mụ Tiết giục Đại Lang trở dậy rồi đưa chàng ta ra cửa.

    Từ hôm đó, hôm nào họ cũng gặp nhau, khi thì Đại Lang đi cùng mụ Tiết, khi thì tự tới một mình. Hai đứa a hoàn bị mụ già ngọt nhạt dọa dẫm. Mụ lại bảo bà chủ cho chúng mấy cái áo. Anh chàng kia đến thỉnh thoảng cho ít bạc vụn để chúng mua quà ăn khiến chúng vui vẻ, cứ việc mình mình làm. Đêm này qua đêm khác, đi ra đi vào do hai a hoàn này đưa đón, chẳng có trở ngại gì cả. Hai người như keo với sơn, sống như vợ chồng. Trần Đại Lang thật lòng kết với Tam Xảo, luôn luôn tặng nàng áo quần sang, đồ trang sức đẹp, lại trả cho nàng nửa số tiền còn nợ mụ Tiết, rồi còn biếu mụ Tiết một trăm lượng bạc.

    Thấm thoát đã hơn một năm. Đại Lang đã tiêu hết ngàn lượng vàng. Tam Xảo cũng có hơn ba mươi lượng bạc đem tặng mụ Tiết. Mụ này chỉ cốt kiếm được số tiền bất nghĩa này nên chuyện gì cũng làm. Song người xưa có câu: "Ở đời chẳng có tiệc vui nào không tàn". Trần Đại Lang bỏ bê việc buôn bán lâu rồi, bây giờ cũng phải trở về quê. Đêm đó chàng ta nói cho nàng biết. Hai người ân ái nặng nghĩa nặng tình, không muốn rời nhau. Tam Xảo tình nguyện thu gom đồ tế nhuyễn đi theo chàng ta để thành vợ thành chồng mãi mãi. Trần Đại Lang nói: "Không được đâu, chúng ta gặp nhau thế nào trước sau đều do bà Tiết nghĩ ra cả. Bây giờ ông chủ chỗ tôi ở là ông Lã thấy tôi đêm nào cũng vào thành lẽ nào lại không nghi hoặc. Rồi trên thuyền lại đông người, che giấu làm sao? Hai đứa a hoàn thì không thể mang theo, nếu chồng nàng về thế nào chả truy rõ căn nguyên. Thôi nàng hãy ráng đợi, đến ngày này năm sau, tôi sẽ đến đây kiếm một chỗ kín đáo rồi liên hệ báo cho nàng biết. Khi đó hai ta sẽ cùng đi, ma quỷ chẳng biết, vậy chẳng hơn sao?"

    Tam Xảo nói: "Nếu năm sau chàng chẳng đến được thì làm sao?" Đại Lang bèn xin thề. Nàng nói: "Chàng đã thiệt lòng thì kẻ này cũng không phụ nhau. Khi chàng về đến nhà rồi thì hãy gởi lá thư cho bà Tiết để kẻ này yên tâm".

    Đại Lang nói: "Ta sẽ nhớ kỹ, không để sai sót chút nào". Mấy hôm sau, chàng ta thuê một chiếc thuyền, chuẩn bị đồ ăn đầy đủ rồi đến từ biệt Tam Xảo. Đêm đó lại càng quyến luyến, hai người cứ nói rồi lại khóc, rồi lại cuồng nhiệt ái ân, cứ thế suốt đêm không ngủ.

    Đến canh năm Tam Xảo trở dậy, mở rương lấy ra một vật quý gọi là "áo trân châu" đưa cho Đại Lang và nói: "Chiếc áo này là vật gia truyền nhà họ Tưởng từ tổ tiên để lại, mùa hè mặc nó sẽ thấy mát lạnh. Bây giờ trời đang nóng dần, dùng tốt đấy. Thiếp tặng nó cho chàng làm kỷ niệm, mỗi khi mặc nó xem như có thiếp liền bên cạnh".

    Đại Lang khóc nghẹn lời, người sụm xuống. Tam Xảo tự tay khoác chiếc áo vào cho Đại Lang rồi bảo a hoàn mở cửa, đích thân đưa tiễn, nói đi nói lại lời từ biệt rất trân trọng.

    Trần Đại Lang được chiếc áo trân châu, ngày ngày đều mặc sát bên mình. Đêm đến cởi ra cũng để vào trong chăn cùng ngủ, không lúc nào rời xa. Đường đi thuận buồm xuôi gió, chỉ hai tháng đã đến huyện Phong Kiều phủ Tô Châu. Nơi này là chỗ tụ tập nhiều người buôn bán, chàng ta liền đến một nhà buôn để bán hết hàng.

    Bỗng một hôm, chàng ta đi dự bữa tiệc rượu của một người đồng hương, gặp một người dáng phong lưu đẹp đẽ. Người đó chẳng phải ai khác mà chính là Tưởng Hưng Ca.

    Vốn là Hưng Ca mua được ở Quảng Đông một ít trân châu, đồi mồi, trầm hương. Bọn bạn hàng bàn bạc bảo nên đến Tô Châu mà bán. Hưng Ca từ lâu đã nghe câu: "Trên có thiên đường, dưới có Tô Châu, Hàng Châu", một bến lớn như thế này, nhất định phải đi một chuyến bán hết hàng rồi mới về. Thế là tháng 10 năm trước đến Tô Châu. Vì đổi tên giấu họ để buôn bán nên xưng là người họ La. Trần Đại Lang do đó không nghi hoặc gì. Hai người như bèo nước gặp nhau, dạng mạo tuổi tác xấp xỉ nên trò chuyện một lúc là thấy ái mộ. Biết được chỗ ở, hai người tới thăm viếng nhau, rồi thành thân thiết, đến gặp nhau luôn.

    Hưng Ca thu hết tiền nợ chuẩn bị trở về, mới đến chỗ Đại Lang từ biệt. Đại Lang bày rượu khoản đãi, lại vui vẻ trò chuyện, tâm đầu ý hợp. Lúc này là hạ tuần tháng năm, trời rất nóng bức, hai người cởi áo ra để uống rượu. Thế là Đại Lang để lộ ra cái áo trân châu.

    Hưng Ca kinh hãi, thấy lạ quá song không nhận, chỉ khen chiếc áo đẹp quá. Đại Lang nhân đã thân tình bèn hỏi: "Ở phố lớn nơi huyện của huynh có nhà của Tưởng Hưng Ca, huynh có quen không?"

    Đại Lang nói: "Chẳng giấu gì huynh, tiểu đệ với ông ta có chút dây dưa". Bèn đem chuyện tình cảm với Tam Xảo kể cho nghe, rồi kéo vạt áo trân châu ra, rưng rưng nước mắt nói: "Áo này chính là của nàng tặng cho đệ. Nếu huynh về đó, đệ có phong thư nhờ huynh chuyển hộ, sáng sớm mai đệ sẽ đưa đến chỗ huynh".

    Hưng Ca miệng thì nói: "Được chứ, được chứ!" nhưng trong bụng thì nghĩ: "Lại có chuyện lạ như vậy! Bây giờ có cái áo trân châu này làm bằng chứng rồi, không còn sai vào đâu được nữa". Rồi thấy đau đớn như kim châm vào ruột, thôi không uống nữa, vội vã đứng dậy từ biệt.

    Về đến chỗ ở, nghĩ đến lại buồn, buồn rồi lại nghĩ, tức mình không có cách nào bay luôn về nhà. Ngay đêm hôm ấy, chàng ta thu thập các thứ, sớm hôm sau lên đường về ngay. Bỗng thấy trên bờ có người hồng hộc chạy tới, té ra là Trần Đại Lang, đem một bao thư lớn tới gửi, dặn đi dặn lại là nhớ chuyển hộ. Thấy thế, Hưng Ca tái mặt, cảm thấy sống dở chết dở, không nói ra lời. Đợi cho Đại Lang đi rồi, chàng ta mới mở bao thư ra xem thấy bên ngoài gửi cho bà Tiết, xé ra thấy một chiếc khăn lụa hồng đào, lại có một cái trâm nữa chứ. Trong thư thì viết: "Có hai vật mọn, phiền bà đưa giúp cho nương tử thương yêu Tam Xảo làm kỷ niệm. Hẹn gặp nhau vào mùa xuân năm tới. Trân trọng, trân trọng".

    Hưng Ca cả giận, xé vụn tờ thư ném xuống sông, cầm chiếc trâm ngọc kẹp vào ván thuyền bẻ gãy làm đôi. Xong rồi lại nghĩ: "Mình hồ đồ quá, sao không giữ lại làm chứng cớ?" Bèn nhặt lại trâm và khăn lên, gói lại một gói rồi giục cho thuyền đi.

    Đi gấp về đến quê, vừa nhìn thấy đầu nhà mình bỗng rơi nước mắt nghĩ bụng: "Mới đầu vợ chồng yêu thương nhau biết bao nhiêu, chỉ vì mình tham cái lợi bằng đầu ruồi mà vứt bỏ nàng tuổi trẻ ở nhà vò võ cho nên mới ra nông nỗi này. Bây giờ hối hận thì sao kịp!". Trên đường đi thì nóng lòng chỉ mong chóng tới, nay tới nhà rồi thì vừa hận, vừa đau cứ đi một bước lại dừng một bước. Vào đến nhà, đành nhẫn nhịn miễn cưỡng gặp nhau. Hưng Ca lẳng lặng chẳng nói năng gì. Tam Xảo có tật giật mình, tự thấy xấu hổ quá, không dám bắt chuyện.

    Cất hành lý xong, Hưng Ca bảo đi thăm ông bà nhạc rồi lên thuyền ở một đêm, sáng hôm sau về nói với Tam Xảo rằng: "Cha mẹ nàng đều bị bệnh, rất nguy cấp. Tối qua tôi phải ở lại trông nom ông bà một đêm. Họ chỉ nhớ nàng, muốn gặp mặt. Tôi đã thuê sẵn kiệu để trước cửa, nàng mau đi về đi, tôi sẽ đi sau".

    Tam Xảo thấy chồng suốt đêm không về, thấy nghi nghi. Đến lúc thấy nói cha mẹ mình bị bệnh thì tưởng là chồng nói thật bèn cuống quýt đưa chìa khóa rương hòm cho chồng rồi gọi một vú già đi theo lên kiệu ngay. Hưng Ca gọi vú già lại, lấy trong tay áo ra một phong thư bảo đưa cho ông bố vợ và dặn: "Đưa thư xong, vú hãy theo kiệu về ngay!".

    Tam Xảo về nhà, thấy cha mẹ đều khỏe mạnh cả thì giật mình kinh hãi. Ông già Vương thấy con gái tự nhiên không gọi mà đến cũng thấy sợ. Bèn lấy phong thư từ tay bà vú ra đọc thì té ra là tờ ly hôn. Giấy viết thế này:

    "Người viết giấy ly hôn là Tưởng Đức, người huyện Tảo Dương phủ Tương Dương. Từ nhỏ đã nhờ mối lái mà lấy Vương Thị làm vợ. Nhưng sau khi vắng nhà, vợ tôi có nhiều lỗi lầm, phạm vào điều thất xuất. Do nghĩ tình chồng vợ, không nỡ nói rõ làm gì, nay tôi bằng lòng đem trả về nhà mẹ đẻ, cho tùy ý cải giá, không có ý kiến gì khác. Ly hôn thị thực".

    Trong bao thư còn có một chiếc khăn tay hồng đào và một cây trâm bị bẻ gãy. Ông Vương xem rồi sợ hãi, gọi con gái ra hỏi chuyện vì sao. Tam Xảo nghe nói bị chồng bỏ thì không nói gì cả chỉ sụt sịt khóc. Ông Vương hầm hầm đến ngay nhà con rể. Tưởng Hưng Ca vội ra vái chào. Ông Vương đáp lễ rồi hỏi: "Hiền tế, con gái ta đường đường chính chính đến làm vợ anh, nay nó có tội gì mà anh lại bỏ nó? Anh phải nói cho rõ".

    Hưng Ca nói: "Tiểu tế không tiện nói, xin cứ hỏi lệnh ái sẽ biết". Ông Vương nói: "Nó chỉ toàn khóc, có chịu mở miệng ra đâu, làm ta cứ điên cả ruột. Con ta từ nhỏ đã thông minh hiểu biết ngờ đâu nó lại phạm tội. Nếu tội cũng nhỏ thì hiền tế hãy nể mặt ta mà tha thứ cho nó. Các con định hôn với nhau từ khi bảy, tám tuổi, sau khi thành vợ thành chồng chưa hề cãi cọ nhau, thế là rất hòa thuận. Bây giờ con đi buôn xa về, mới ở nhà được năm ba ngày thì có chuyện gì chướng tai gai mắt con chứ? Con mà độc ác như vậy thì người ta cười cho, rằng con bạc nghĩa vô tình". Hưng Ca nói: "Cha là bề trên, con không dám nhiều lời. Nhà con có cái áo trân châu là vật tổ tiên truyền lại, vẫn để cho Tam Xảo giữ, giờ chỉ hỏi chiếc áo đó còn không? Nếu còn thì không nói nữa, nếu không còn thì xin đừng trách làm gì?".

    Ông Vương vội quay về nhà, hỏi con gái: "Chồng con chỉ hỏi cái áo trân châu con giữ, con đem cho ai rồi?" Tam Xảo nghe hỏi đúng chuyện quan trọng nhất thì xấu hổ đỏ bừng cả mặt, không nói được gì, rồi khóc òa lên khiến Vương ông chẳng hiểu ra sao.

    Bà Vương khuyên: "Con đừng có khóc mãi như thế, hãy nói sự thực thế nào cho cha mẹ biết để còn phân giải". Tam Xảo vẫn không chịu nói, cứ nức nở khóc mãi không thôi. Ông Vương đành đưa tờ giấy ly hôn với chiếc khăn và cây trâm bị gẫy cho bà Vương bảo cứ dỗ dần rồi hỏi cho rõ chuyện.

    Tam Xảo ngẫm nghĩ không hiểu sao chiếc áo trân châu lại bị bại lộ. Còn cái khăn và cây trâm gãy là ở đâu ra?

    Nghĩ một hồi rồi bỗng nói: "À hiểu rồi, cái trâm gãy là tỏ ý cắt đứt tình cảm, còn cái khăn này là ý muốn ta tự tận đây. Chàng nghĩ đến tình vợ chồng nên không nỡ nói thẳng ra để giữ cho ta khỏi tai tiếng. Thương thay bốn năm ân ái mà nay quyết tuyệt một ngày. Đó chỉ là tại ta có tội, phụ tấm ân tình của chồng ta. Bây giờ có sống ở trên đời này cũng chẳng ra gì, chi bằng chết đi cho xong".

    Bà Vương biết ý con muốn chết bèn khuyên rằng: "Con nghĩ cạn lắm, mới hơn hai mươi tuổi đầu, bông hoa còn chưa nở trọn, việc gì phải chết. Biết đâu chồng con hồi tâm nghĩ lại. Mà nếu nó không nghĩ lại, quyết bỏ thật thì người đẹp đẽ như con lo gì không có ai cầu. Con cứ yên tâm mà sống, đừng có sầu muộn nữa".

    Tam Xảo chẳng biết làm sao, đành phải thôi.

    Tưởng Hưng Ca lấy hai sợi dây trói Tình Vân và Noãn Tuyết lại tra khảo, hỏi cho ra đầu đuôi. Mới đầu chúng không chịu nói, sau đau quá không chịu nổi, phải kể hết ngọn ngành, mới biết mọi chuyện đều do mụ Tiết bày ra. Sáng sớm hôm sau Hưng Ca dẫn một tốp đến nhà, đánh cho mụ Tiết một trận tơi bời. Mụ biết mình có tội, chẳng dám ho he. Hưng Ca thấy vậy cũng hả giận, bèn gọi mối bán hai đứa a hoàn đi. Rồi lên lầu thu thập các đồ tế nhuyễn còn lại cùng các đồ vật, tất cả có mười sáu cái rương và hộp, lớn có, nhỏ có đem khóa kín lại. Vì sao làm vậy, vì nghĩ tình vợ chồng biết mấy yêu thương, nay bỏ nhau rồi lòng đau như dao cắt, nếu nhìn thấy vật sẽ lại nhớ tới người, vậy thì còn mở ra xem làm gì nữa?

    Giờ sang chuyện khác. Ở Nam Kinh có ông Tiến sĩ họ Ngô tên Kiệt được bổ làm tri huyện Triều Dương thuộc Quảng Đông, trên đường đi nhậm chức có qua Tương Dương. Vì không mang theo gia đình nên có ý muốn kiếm một người thiếp đèm đẹp. Có gặp nhiều cô gái song ông ta không thấy ưng. Bấy giờ nghe nói ở Tảo Dương có con gái nhà họ Vương nhan sắc xinh đẹp, nổi tiếng cả huyện, bèn bỏ ra món tiền nhờ mối đến cầu thân. Ông Vương cũng bằng lòng, chỉ e con rể cũ lời qua tiếng lại, bèn đích thân đi đến nhà họ Tưởng nói chuyện với Hưng Ca. Hưng Ca không ngăn trở gì cả. Tối hôm trước ngày cưới, Hưng Ca thuê người khiêng mười sáu cái rương và hộp vẫn khóa kín chưa hề động đến kèm theo cả chìa khóa chuyển đến thuyền của tri huyện họ Ngô nói là của bồi thường cho Tam Xảo đi lấy chồng. Tam Xảo thấy trong lòng thật hổ thẹn. Mọi người biết chuyện người thì khen Hưng ca trung hậu, kẻ thì cười chàng ta ngốc nghếch, có kẻ còn mắng là không có chí khí. Thật là lòng người chẳng giống ai.

    Lại nói chuyện Trần Đại Lang, sau khi bán hết hàng ở Tô Châu, trở về Tân An, lòng dạ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Tam Xảo, sớm tối luôn luôn nhìn chiếc áo trân châu mà thở dài sườn sượt. Vợ là Bình Thị biết chắc cái áo có gì kỳ quặc bèn lừa lúc chồng ngủ, lấy trộm rồi giấu lên trần nhà. Đại Lang ngủ dậy lấy áo mặc không thấy bèn hỏi Bình Thị, Bình Thị khóc lóc cãi cọ với chồng ầm ĩ đến mấy ngày.

    Buồn bực quá, Trần Đại Lang thu gom một ít tiền bạc rồi mang theo đứa tiểu đồng, lại đi Tương Dương. Gần đến Tảo Dương không may gặp một bọn cướp cướp sạch, thằng tiểu đồng bị chúng giết chết. Đại Lang nhanh chân chạy núp đằng sau bánh lái nên may mắn sống sót. Lúc này nghĩ về nhà cũng chẳng được, thôi hãy tạm đến chỗ ở trọ cũ chờ gặp được Tam Xảo, mượn nàng một ít rồi lo chuyện khôi phục lại làm ăn. Thế rồi buồn bã mà rời thuyền lên bờ.

    Đến nhà ông chủ họ Lã ở ngoại thành Tảo Dương, chàng kể hết mọi chuyện rồi nói: "Bây giờ tôi phải nhờ bà Tiết bán hạt châu để mượn người quen ít vốn buôn bán". Ông Lã nói: "Đại Lang không biết à, cái bà Tiết ấy vì rủ rê vợ Tưởng Hưng Ca làm chuyện đồi bại, năm ngoái Hưng Ca về đòi vợ cái áo trân châu gì đó. Cô vợ đã tặng nó cho tình nhân rồi còn nói năng gì được. Thế là Hưng Ca bỏ vợ, cho về nhà, bây giờ chị ta chuyển sang làm lẽ ông Tiến sĩ họ Ngô ở Nam Kinh. Mụ Tiết đó bị nhà họ Tưởng đánh cho tơi tả, ở đây không được đã chuyển sang huyện bên rồi".

    Đại Lang nghe tin như bị dội thùng nước lạnh. Thế rồi đêm hôm đó ngã bệnh. Bệnh ngày càng nặng, vừa tương tư vừa uất ức lại vừa sợ hãi, chàng ta nằm liệt hơn hai tháng trời không đỡ. Phiền ông chủ quá, Đại Lang phải cố gắng viết một lá thư nhờ ông Lã mướn người chuyển về quê bảo người thân đến đưa mình về nhà. Vừa hay khi đó ông Lã có người thừa sai quen biết có việc chuyển công văn đi Huy Ninh, rất tiện đường, bèn bảo Đại Lang bỏ ra năm lượng bạc đưa cho viên thừa sai, nhờ việc đó.

    Bình Thị được thư bèn thu thập tiền nong, lại xin cha cho mang theo con trai và con dâu đi cùng, rồi thuê một cái thuyền đi Tương Dương. Đến nơi thì Trần Đại Lang đã qua đời từ mười hôm trước rồi. Ông Lã bỏ ra ít tiền khâm liệm. Bình Thị khóc ngất đi, hồi lâu mới tỉnh, vội thay quần áo tang rồi xin ông Lã cho mở nắp quan tài để nhìn mặt chồng, nói sẽ mua một chiếc quan tài khác khâm liệm lại. Ông Lã nhất định không chịu, Bình Thị không làm sao được đành mua gỗ đóng một cái quách bao ngoài áo quan, mời các nhà sư đến làm lễ siêu độ cho chồng. Ông Lã đòi lại hai mươi lượng bạc các khoản, còn thì muốn làm gì thì làm, ông ta mặc kệ.

    Hơn một tháng sau, Bình Thị chọn ngày tốt để đưa linh cữu về quê. Ông Lã thấy người đàn bà này tuổi còn trẻ lại có nhan sắc, chắc cũng chẳng ở vậy được, nghĩ đến con trai mình là Lã Nhị còn chưa có vợ, có sẵn người ở đây, sao ta không giữ ở lại, sau này thành sự chẳng tiện sao! Bèn mua rượu mời con trai Bình Thị là Trần Vượng uống rồi nói rõ ý định, lại nhờ vợ Trần Vượng tìm cách nói kheo khéo xem sao. Nếu thuận lợi sẽ có hậu tạ. Vợ Trần Vượng là đứa ngu ngốc, có biết tế nhị là gì, chẳng đắn đo cao thấp, nói luôn cho mẹ chồng biết. Bình Thị nghe nói cả giận bèn tát luôn cho mấy cái và chửi cho một trận, lại cạnh khóe cho nhà chủ mấy câu nữa. Ông Lã cụt hứng, tức đấy mà chả dám nói năng gì. Bèn xui Trần Vượng trốn đi. Trần Vượng cũng thấy chuyện đã dở quá rồi bèn bàn với vợ, hai đứa lấy hết cả tiền bạc cùng đồ trang sức, ngay đêm đó đi biệt luôn.

    Ông Lã đã biết rõ nhưng lại trách Bình Thị rằng: "Nhẽ ra không nên đem cái bọn mất dạy ấy đi theo, còn may là chúng lấy đồ của cha mẹ mình, chứ nếu lấy của nhà khác thì có phải lôi thôi không!". Lại nói sợ linh cữu để lâu trở ngại, phải mau mang đi. Rồi lại nói đàn bà góa ở đây không tiện, nên dọn đi chỗ khác. Bình Thị bị thúc bách không chịu nổi, đành thuê một gian nhà nhỏ để ở, mướn người khiêng linh cữu về quàn tại đó. Cảnh ngộ thê lương này khỏi cần phải nói.

    Bấy giờ ở cạnh có người đàn bà là Trương Thất Tẩu, rất lanh lẹ, thấy Bình Thị cứ khóc lóc thì thường xuyên khuyên giải. Bình Thị cũng thường nhờ bà ta đem cầm hoặc bán cái quần cái áo để lấy tiền tiêu. Được mấy tháng thì hết cả quần áo để cầm cố. May là từ nhỏ đã có học chuyện may vá, mới định đến một nhà giàu nào đó làm việc nữ công để độ nhật. Khi bàn chuyện đó với Trương Thất Tẩu, bà này bảo: "Tôi chẳng tiện nói chứ chỗ nhà giàu chẳng phải là nơi người còn trẻ như chị vào ra. Rồi đến lúc muốn chết cũng chẳng được, mà sống thì phải được tử tế chứ, cuộc đời sau này còn dài, cứ làm mụ may vá thuê đến hết đời sao. Huống hồ lại bị tai tiếng, bị người ta coi rẻ, lại nữa, cái linh cữu này xử lý sao đây? Cũng là việc lớn của chị đấy. Rồi tiền thuê nhà, không lo được mãi đâu".

    Bình Thị nói: "Tôi cũng đã nghĩ đến những điều đó, nhưng mà chẳng biết làm sao". Bà Trương nói: "Tôi có một cách chị đừng trách tôi nói nhé. Chị xa quê hàng nghìn dặm, một thân một mình, trong tay không có một xu, muốn đưa linh cữu này về quê chỉ là điều hão huyền. Rồi chị thì ăn mặc thiếu thốn, sẽ khó mà giữ gìn. Mà giữ gìn mãi làm gì chứ? Theo ý ngu ngốc của tôi thì nên nhân lúc mình còn trẻ trung đẹp đẽ, tìm lấy một người tốt rồi sống với họ. Được ít tiền cưới, đem mua một miếng đất mà chôn chồng. Còn mình thì cũng có chỗ nương tựa, chẳng lo gì chuyện sống chết nữa".

    Bình Thị nghe nói cũng có lý, trầm ngâm một lúc rồi thở dài nói: "Thôi, thôi, tôi đem bán thân để chôn chồng, người ta cười thì cười!"

    Trương Thất Tẩu nói: "Nếu chị quyết định thì hiện nay tôi đã có một nơi, người này cũng chạc tuổi chị, rất đường hoàng, lại giàu có". Bình Thị nói: "Đã là phú gia thì họ chẳng chịu lấy người đã có một đời chồng rồi".

    Bà Trương nói: "Người này cũng đã bỏ vợ. Anh ta bảo với tôi rằng: Người chưa lấy chồng hay lấy chồng rồi cũng được, chỉ cốt giỏi giang xinh đẹp. Người như chị lo gì không vừa ý?". Vốn là Trương Thất Tẩu nhận lời tìm giúp Tưởng Hưng Ca một người. Vì vợ trước là Tam Xảo đẹp quá, nên bây giờ chỉ cần người đẹp. Bình Thị nhan sắc không được bằng Tam Xảo song cử chỉ nhanh nhẹn lòng dạ trong sáng, thấy cũng phù hợp.

    Hôm sau, bà Trương vào thành nói chuyện với Hưng Ca. Nghe kể rõ con người như vậy Hưng Ca cũng mừng. Bình Thị không đòi lễ vật gì, chỉ cần nhất là mua được một miếng đất để mai táng cho chồng thôi. Bà Trương qua lại mấy lần, thế là hai bên thuận ý hết.

    Sau khi xong việc cho chồng, tế lễ đầy đủ, Bình Thị khóc một trận thê thảm rồi cởi bỏ đồ tang. Đến hẹn, nhà họ Tưởng mang quần áo và đồ trang sức tới, lại chuộc chỗ quần áo đã cầm cố về. Rồi đêm động phòng hoa chúc từng bừng náo nhiệt.

    Thật là:

    Lệ cũ mọi điều quy củ

    Tân hôn mỹ mãn ân tình

    Tưởng Hưng Ca thấy Bình Thị cử chỉ đoan trang, lòng rất kính trọng. Một hôm, Bình Thị đang sắp xếp rương quần áo, Hưng Ca bước vào nhìn thấy cái áo trân châu. Chàng ta nhận ra, kinh hãi hỏi: "Áo này ở đâu ra vây?" Bình Thị nói: "Chuyện kỳ quặc lắm". Bèn kể hết mọi chuyện người chồng trước mặc nó, rồi vợ chồng cãi nhau, rồi giận dỗi xa nhau. Kể rồi lại nói: "Hồi trước gian nan quá, đã mấy lần tính đem cầm đi song thấy lai lịch nó không rõ, sợ có chuyện gì lôi thôi nên không dám để lộ cho người ta biết. Đến bây giờ thiếp cũng không biết nó ở đâu ra nữa."

    Hưng Ca hỏi: "Chồng cũ của mình là Trần Đại Lang còn gọi là Trần Thương, da trắng không để râu, tay trái để móng tay dài, phải không?". Bình Thị nói: "Đúng rồi". Hưng Ca lè lưỡi, chắp tay nhìn lên trời nói: "Như vậy là đạo trời rành rành, sợ thật!". Bình Thị hỏi thế là sao? Hưng Ca nói: "Cái áo trân châu này vốn là báu vật của nhà ta. Chồng của nàng dan díu với vợ ta rồi được áo này làm kỷ niệm. Lúc gặp chồng nàng ở Tô Châu, ta trông thấy chiếc áo, biết rõ chuyện, bèn về bỏ vợ. Ai ngờ chồng nàng lại đi buôn rồi chết. Ta muốn tục huyền có nghe nói nàng là vợ của thương nhân họ Trần nhưng đâu có biết chính là Trần Thương! Chẳng phải là quả báo sao?". Bình Thị nghe nói nổi da gà. Từ đó càng sống gìn giữ phải đạo.

    Có được vợ mới trông nom nhà cửa, một năm sau Hưng Ca lại đi Quảng Đông buôn bán. Rồi xảy ra chuyện: một hôm chàng ta đến huyện Hợp Phố bán hạt châu. Ông khách mua hàng đã già, chọn một hạt châu rõ to rồi lấy giấu đi luôn, hỏi không chịu nhận. Hưng Ca tức quá kéo tay áo lão để moi tìm không ngờ kéo mạnh quá khiến lão ngã lăn quay xuống đất. Vội tới nâng dậy thì lão đã tắt thở rồi. Con cháu và bà con xung quanh kẻ la người khóc. Rồi họ xông lại túm lấy Hưng Ca chẳng cho phân giải gì cả, đánh cho một trận tơi tả, rồi nhốt vào một cái phòng trống, ngay đêm đó viết đơn kiện, đợi sáng ra đưa lên quan huyện.

    Quan huyện nhận đơn, song vì hôm đó có công sự nên ra lệnh giam lại, hôm sau sẽ xử.

    Quan huyện này là ai vậy? Chính là Tiến sĩ họ Ngô tên Kiệt, người chồng sau của Tam Xảo. Ông này mới đầu trị nhậm huyện Triều Dương. Sau triều đình thấy ông thanh liêm, điều đến làm quan huyện Hợp Phố. Đêm hôm đó, Ngô Kiệt đọc kỹ đơn kiện, Tam Xảo rảnh rỗi ngồi bên cạnh, ngẫu nhiên liếc nhìn thấy tên người bị kiện là La Đức, thương nhân ở huyện Tảo Dương, đây chẳng phải Tưởng Hưng Ca còn ai nữa? Nghĩ đến tình xưa, bất giác lòng thấy đau đớn, nàng khóc mà nói với chồng. "La Đức chính là anh của tiện thiếp, nhận thừa tự cho cậu thiếp họ La, không ngờ đi buôn bán mà phạm tội thế này. Xin quan nhân hãy vì thiếp mà cứu mạng cho anh ta được về quê". Quan huyện nói: "Để xem xét thế nào đã, nếu quả có tội thì ta cũng khó mà tha cho được". Tam Xảo nước mắt ròng ròng, quỳ xuống năn nỉ. Quan huyện nói: "Nàng đừng có lo, ta sẽ có cái lẽ của ta".

    Sáng hôm sau thăng đường, Tam Xảo lại kéo tay áo, khóc nói: "Nếu anh thiếp không được cứu thì thiếp sẽ tự tận thôi, không còn thấy nhau nữa". Quan huyện bắt đầu xử kiện. Đầu tiên hỏi đến vụ này. Chỉ thấy hai anh em Tống Phúc, Tống Thọ vừa khóc vừa thưa: "Bởi tranh giành nhau hạt châu, hắn xông tới đánh, cha chúng tôi ngã xuống chết. Xin quan xử cho".

    Quan huyện hỏi những người làm chứng, người thì nói đánh chết, kẻ thì nói xô ngã.

    Tưởng Hưng Ca thưa: "Cha của họ lấy cắp hạt châu của tiểu nhân, tiểu nhân không chịu, tranh cãi với ông ta, ông ta già lão chân yếu, tự trượt chân ngã chết, không can gì đến tiểu nhân cả".

    Quan huyện hỏi Tống Phúc: "Cha ngươi bao nhiêu tuổi rồi?". Tống Phúc nói: "Dạ sáu mươi bảy".

    Quan huyện nói: "Người già dễ choáng, vị tất đã do đánh chết". Tống Phúc, Tống Thọ cứ khăng khăng nói là đánh chết. Quan huyện nói: "Có bị thương hay không còn phải kiểm nghiệm. Nếu nói bị đánh chết thì hãy đem thi thể ra để ở vườn sau, hết buổi sẽ khám nghiệm".

    Vốn nhà họ Tống này cũng là thuộc hàng phú quý có mặt mũi. Lão Tống đã từng làm lý trưởng, đời nào con cái chịu để cho mổ xẻ thi thể. Hai người khấu đầu nói: "Cha chúng con chết thế nào, mọi người đều thấy cả, chỉ xin quan lớn đến nhà chúng con chứng nghiệm chứ không nên mổ khám". Quan nói: "Nếu không thấy được dấu vết thương tích thì hung thủ đời nào chịu nhận tội?".

    Hai anh em nhà kia cứ xin mãi. Quan huyện nổi giận nói: "Các ngươi không chịu cho khám nghiệm thì ta không hỏi tội được". Bọn chúng rập đầu xin xử lý sáng suốt cho. Quan phán: "Người gần 70 tuổi chết cũng là đến số, nếu như không bị đánh chết mà lại vu tội cho người bình thường thì người chết lại mắc thêm tội. Còn như các ngươi, làm con mà đã trông được cha đến nhiều tuổi thế rồi, nay lại khoác cho ông ấy thêm một điều ác để chết không yên thì trong lòng các ngươi có nỡ được không? Còn tên La Đức, chuyện đánh chết người là giả song xô người ngã là thật, nếu ta không phạt nặng hắn thì các ngươi cũng không hả được giận. Vậy bây giờ ta bắt hắn mặc tang phục cùng hành lễ với các ngươi, tất cả tiền chi phí cho việc tang ma, hắn phải chịu hết. Các ngươi có đồng ý không?".

    Hai anh em nói: "Ngài xử như vậy, chúng con đâu dám không tuân theo".

    Hưng Ca thấy quan không dùng hình phạt, phân xử rõ ràng, vô cùng mừng rỡ. Thế là cả hai bên nguyên cáo bị cáo đều rập đầu tạ ơn. Thật là: "Công đường tạo nghiệp dễ dàng thôi. Muốn tích âm công phải cứu người. Mắt thấy đương triều Ngô Đại doãn. Giải oan xá tội, thảy đều vui". Lại nói Tam Xảo từ lúc chồng thăng đường xử án, lòng cứ nóng như lửa đốt. Vừa nghe nói buổi xử kết thúc là đón hỏi ngay. Quan huyện nói: "Ta xử như vậy, như vậy. Vì nàng nên không làm khổ gì anh ta".

    Tam Xảo muôn ngàn tạ ơn. Rồi nói: "Thiếp với anh trai xa nhau đã lâu, muốn được gặp mặt để hỏi tin tức cha mẹ. Xin quan nhân hãy tìm cách cho anh em thiếp tương kiến, ơn này thật lớn vô cùng". Quan huyện nói: "Việc này dễ thôi". Thử nghĩ xem, Tam Xảo bị Tưởng Hưng Ca bỏ, ơn dứt nghĩa tuyệt, thế mà sao tình cảm lại như thế? Vốn là vợ chồng họ rất thương yêu nhau, bởi Tam Xảo làm điều sai trái nên Hưng Ca bất đắc dĩ mà phải bỏ chứ lòng vẫn không nỡ, vì thế hôm nàng cải giá chàng đã đem mười sáu cái rương và hộp cho lại hết. Chỉ một việc đó đã khiến Tam Xảo vô cùng cảm động. Nay nàng được phú quý mà Hưng Ca lại gặp nạn hỏi không cứu sao được? Đó chính là tri ân báo ân vậy.

    Lại nói Tưởng Hưng Ca tuân theo lệnh quan, thực hiện đầy đủ mọi điều, anh em nhà họ Tống thôi không nói năng gì cả. Tang ma cho ông già xong xuôi, sai nhân lại dẫn Hưng Ca về huyện đường báo cáo. Quan huyện gọi vào tư dinh, bảo ngồi, rồi nói: "Ông anh bị chuyện kiện cáo này, nếu không có lệnh muội nhiều lần xin cho thì bản chức có thể đắc tội rồi". Hưng Ca không hiểu ra sao nên chẳng nói gì được. Một lát, quan huyện mời vào thư phòng rồi gọi tiểu phu nhân ra gặp mặt. Thử nghĩ mà xem, cuộc hội ngộ bất ngờ này có khác gì trong mơ? Hai người đó chẳng vái chào nhau, cũng chẳng nói năng gì, ôm chầm lấy nhau òa khóc, khóc thê thảm đến nỗi quan huyện đứng đó cũng động lòng nói: "Hai người hãy bớt đau thương đi, ta thấy tình cảm của các người không giống anh em, hãy nói rõ sự thật cho ta nghe rồi ta sẽ xử cho".

    Hai người vẫn khóc mãi không ai chịu nói. Bị quan gạn hỏi mãi, cuối cùng Tam Xảo mới đành quỳ xuống thưa: "Tiện thiếp có tội đáng chết ngàn lần, người này chính là chồng trước của thiếp". Tưởng Hưng Ca thấy không thể dấu nữa cũng quỳ xuống kể hết sự tình từ chỗ hai người yêu thương nhau rồi Hưng Ca bỏ vợ, rồi vợ tái giá như thế nào nói cho quan huyện nghe. Nói xong hai người lại ôm nhau khóc đến nỗi tri huyện Ngô cũng nước mắt ròng ròng mà nói: "Hai người yêu thương nhau thế, làm sao ta nỡ chia cắt các ngươi. Cũng may là chưa có con cái gì nên ta ra lệnh cho hai người về lại với nhau".

    Hai người rập đầu bái tạ. Quan bèn sai đem một kiệu nhỏ đưa Tam Xảo ra khỏi nha môn, lại gọi phu khiêng mười sáu cái rương và hộp đi theo, bảo Hưng Ca nhận cả lấy. Rồi sai một viên lại hộ tống về quê. Thật đúng là:

    Châu về Hợp Phố càng thêm đẹp

    Kiếm gặp Phong Thành sẽ rất linh

    Kính phục Ngô công ân đức hậu

    Tham tài, hiếu sắc xử công minh.

    Ông quan họ Ngô này sau được thăng vào bộ Lại ở Bắc Kinh, rất được sủng ái, rồi sinh được liên tiếp ba người con trai, đều học hành đỗ đạt, người ta bảo đó là ân đức được báo đền.

    Còn Tưởng Hưng Ca thì đưa Tam Xảo về, gặp gỡ với Bình Thị. Kể về hôn nhân thì Tam Xảo cưới trước, song lại đã bị bỏ. Còn Bình Thị thì cũng mai mối cưới xin chính thức, Bình Thị lại lớn hơn một tuổi, vậy nên để Bình Thị là chính phòng, còn Vương Thị là thứ phòng, hai người gọi nhau là chị em. Từ đó, một ông chồng hai bà vợ, sống đầm ấm với nhau đến già. Người sau có thơ rằng:

    Vợ chồng ân ái trước sau

    Thê thành ra thiếp vẫn câu vẹn tuyền

    Dữ lành, nhân quả nhãn tiền

    Trời xanh ngay đó, lọ phiền cầu ai.

    --------------------------------
    1Tức loại ngôn ngữ văn học rất gần với khẩu ngữ được sử dụng từ thời Đường - Tống trở đi. Trước đó, các sáng tác toàn viết bằng văn ngôn.
    2Một số trích dẫn tác phẩm trong "Lời giới thiệu" là từ các bản toàn văn, mà các bản tóm lược trong tập sách này đã bỏ bớt.
    3Từ là loại thơ làm theo các điệu hát có sẵn.

     
     
     
    nguồn: fb.com/romanbook

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Vùng Giông Bảo

    Nguyễn Đình Thiều

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646836]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502830]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639957]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471681]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341272]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600893]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690032]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496896]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300818]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010775]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549020]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470202]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445930]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204100]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150757]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078878]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062620]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028952]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026558]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921865]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907656]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905346]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877085]
    29.Hắc Nho [852220]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840122]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756104]
    33.Tru Tiên [747836]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745345]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661957]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622482]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569436]
    39.Hoàn Hảo [557803]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536838]
    41.Tầm Tần Ký [512087]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456434]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450987]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434060]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427542]
    48.Cậu Chó [417317]
    49.If You Are Here [411882]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408303]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm