hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Arthur Conan Doyle » Những Vụ Kỳ Án Của Sherlock Holmes[1199] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   5.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Arthur Conan Doyle

    Những Vụ Kỳ Án Của Sherlock Holmes



    MỤC LỤC 


     

    LÃO CHỦ THẦU Ở NORWOOD

    Holmes đã trở về London được vài tháng. Và theo lời đề nghị của anh, tôi bán căn hộ của mình để tới ở chung với anh. Một bác sĩ trẻ có tên là Verner đã mua lại phòng mạch của tôi ở Kensington với cái giá cao nhất mà tôi bạo phổi đưa ra. Vài năm sau tôi mới biết rằng, Verner là người bà con xa với Holmes, và chính bạn tôi là người bỏ tiền ra mua giúp phòng mạch này.

    Sáng nay, Sherlock Holmes ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành và thong thả mở tờ báo buổi sáng. Đột nhiên, chuông cửa réo ầm, tiếp theo là tiếng đập cửa uỳnh uỳnh, như thể có ai đó đang tông vào nhà chúng tôi. Cửa vừa mở, một người chạy vụt vào tiền sảnh, rồi tiếng chân vội vàng bước trên cầu thang. Và chỉ vài giây sau, một thanh niên mặt tái mét, cặp mắt ngơ ngác, đầu tóc bù xù, thở hổn hển lao vào phòng chúng tôi. Anh ta nhìn hai chúng tôi, Holmes đặt tờ báo xuống, nhìn anh ta có ý chờ đợi. Anh ta chợt hiểu, cần phải xin lỗi vì sự xuất hiện đường đột của mình.

    - Xin ông thứ lỗi, ông Holmes. - Anh ta nói oang oang - Xin đừng hiểu lầm, vì tôi gần như muốn phát điên… Thưa ông Holmes, tôi chính là John Hector McFarlane bất hạnh!

    Cứ như thể, chỉ cần cái tên là đủ giải thích cho sự vụ và chuyến thăm viếng kỳ cục này của anh ta vậy. Nhưng nét mặt không chút phản ứng nào của Holmes cho thấy rằng, cái tên ấy đối với anh chẳng gợi ra chút ý nghĩa nào, cũng như đối với tôi vậy.

    - Hãy hút một điếu thuốc lá đi, anh McFarlane! - Holmes chìa ra hộp thuốc - Tôi tin chắc rằng, với những triệu chứng như thế này thì bác sĩ Watson đây sẽ sẵn lòng kê cho anh một liều thuốc an thần đấy. Tiết trời mấy ngày nay thật nóng nực. Còn bây giờ, nếu anh đã cảm thấy bình tâm hơn, xin mời ngồi xuống chiếc ghế kia và nói chuyện với chúng tôi một cách từ tốn, chậm rãi! Làm ơn cho chúng tôi biết anh là ai và muốn gì. Anh xưng tên cứ như là chỉ cần nghe nói, tôi biết ngay anh là ai. Nhưng thành thực mà nói, ngoại trừ việc anh còn độc thân, là luật gia, hội viên Hội Tam Điểm và mắc bệnh hen suyễn ra, tôi chẳng biết gì hơn nữa đâu.

    Vốn đã quen với phương pháp của Holmes, tôi chẳng có khó khăn gì mà không theo kịp các lập luận của anh khi quan sát người khách. Thế nhưng, vị khách của chúng tôi thì vô cùng sửng sốt:

    - Vâng, đúng thế thật, thưa ông Holmes. Và ngoài những điều ông vừa nói ra, hiện giờ tôi còn là người đàn ông bất hạnh nhất London. Vì Chúa, xin ông đừng bỏ mặc tôi nhé! Nếu cảnh sát đến bắt tôi trước khi tôi kể hết câu chuyện, ông hãy nói với họ cho tôi vài phút, để tôi có thể kể cho ông nghe toàn bộ sự thật. Tôi sẽ yên tâm vào tù nếu tôi biết chắc ở bên ngoài vẫn còn có ông cứu giúp.

    - Bắt anh! - Holmes nói - Chuyện xem ra hấp dẫn đấy! Thế anh sẽ bị bắt vì tội gì?

    - Vì tội ám sát ông Jonas Oldacre ở Hạ Norwood.

    Khuôn mặt bạn tôi biểu lộ một niềm cảm thông. Vị khách của chúng tôi run rẩy cầm lấy tờ "Daily Telegraph" còn để trên đầu gối Holmes:

    - Nếu ông đã đọc báo thì chỉ liếc sơ qua là ông biết vì sao sáng nay tôi tìm tới đây. Hiện nay tôi đang là chủ đề bàn tán khắp thiên hạ. - Anh ta lật trang giữa của tờ báo - Nếu ông cho phép, tôi sẽ đọc ông nghe: "Vụ án bí ẩn ở Norwood. Một nhà thầu khoán nổi danh đã mất tích. Một vụ ám sát hay một vụ hỏa hoạn do dã tâm? Kẻ sát nhân đang bị truy lùng". Họ đang lần theo những manh mối này đấy, ông Holmes ạ, và họ sẽ lần đến tôi. Họ đã bám theo tôi từ ga London Bridge rồi, chỉ chờ có lệnh là bắt tôi thôi. Mẹ tôi sẽ tan nát cõi lòng. Bà ấy sẽ chết vì buồn tủi! - Anh ta vặn vẹo đôi tay một cách tuyệt vọng, đứng ngồi không yên.

    Tôi chăm chú quan sát chàng trai bị buộc tội giết người này. Anh ta có mái tóc vàng nhạt, khuôn mặt điển trai, đôi mắt xanh đầy lo sợ, đôi môi yếu ớt, râu ria nhẵn nhụi. Anh ta khoảng hai mươi bảy tuổi, ăn mặc đứng đắn, nói năng đường hoàng như một người Anh có giáo dục. Một cuộn giấy tờ lộ ra nơi miệng túi chiếc áo khoác mùa hè của anh ta.

    - Chúng ta phải chạy đua với thời gian thôi. - Holmes nói - Watson này, anh làm ơn đọc giùm tôi bài báo được không?

    Tôi đọc to câu chuyện vụ án đăng trên báo:

    "Đêm qua, hoặc có thể rạng sáng ngày hôm nay, một tội ác nghiêm trọng đã xảy ra ở vùng Hạ Norwood. Nạn nhân là ông Jonas Oldacre. Ông Oldacre độc thân, 52 tuổi, ngụ tại Deep Dene. Ông ta có tiếng là kỳ quặc, bí ẩn và không cởi mở. Ông ta đã làm chủ thầu nhiều năm, sau khi tạo được một gia sản kha khá thì giải nghệ. Sau nhà ông vẫn còn có một khoảng sân chứa đầy gỗ xây dựng. Và nửa đêm hôm qua, lúc khoảng 12 giờ, đống gỗ đã bốc cháy. Lính cứu hỏa tới ngay, nhưng gỗ khô bén lửa cháy dữ dội, không sao dập tắt được, cho tới khi cả đống gỗ cháy rụi. Lúc đó, ai cũng nghĩ chỉ là một trận hỏa hoạn bình thường. Nhưng một số dấu hiệu bất thường cho thấy một tội ác nghiêm trọng đã xảy ra. Mọi người rất ngạc nhiên khi không thấy chủ nhà xuất hiện chữa cháy. Một cuộc điều tra ngay sau đó cho thấy, ông ta đã biến mất. Giường không có người ngủ; két sắt trong phòng đã bị mở; một số giấy tờ quan trọng vương vãi trên sàn nhà. Và còn dấu hiệu của một cuộc vật lộn quyết liệt, nhiều vết máu vương lại trong phòng, còn cả một cái can gỗ sồi vấy máu ở cạnh. Được biết ông Jonas Oldacre đã tiếp khách đêm qua ở trong phòng, và cây gậy là của một luật sư trẻ tuổi người London, có tên là John Hector McFarlane, hiện đang làm cho hãng Graham và McFarlane, ở 426 Gresham Building, E.C. Cảnh sát tin rằng họ đã nắm được chứng cớ về động cơ phạm tội. Chúng ta hãy chờ đợi các bước điều tra tiếp theo.

    "Tin giờ chót - Vừa lúc báo lên khuôn, có tin đồn rằng John Hector McFarlane vừa bị bắt vì tội danh giết ông Jonas Oldacre. Chắc chắn rằng, ít nhất cũng có lệnh bắt giữ chính thức đối với ông này. Cuộc điều tra tại Norwood cũng có nhiều bước tiến mới quan trọng. Ngoài các dấu vết cho thấy cuộc vật lộn đẫm máu trong phòng nạn nhân, nhân viên điều tra còn phát hiện các cửa sổ trong phòng ngủ của nạn nhân ở tầng trệt đã bị mở, có nhiều dấu vết chứng tỏ một vật lớn đã bị kéo lê ra đống gỗ. Và sau chót, người ta khẳng định rằng, những mảnh vụn của thi thể nạn nhân đã được tìm thấy trong đống tro tàn. Giả thiết của cảnh sát là đã xảy ra một vụ án mạng nghiêm trọng, nạn nhân bị đánh đến chết trong phòng ngủ. Hung thủ đã đánh cắp giấy tờ và kéo xác nạn nhân ra đống gỗ rồi châm lửa đốt, nhằm phi tang. Cuộc điều tra được ủy thác cho thanh tra Lestrade thuộc Sở Cảnh sát Scotland Yard. Tin chắc với tài năng vốn có, ông sẽ lần ra manh mối vụ án".

    Sherlock Holmes nghe tôi đọc, hai mắt anh nhắm nghiền, các đầu ngón tay chụm lại.

    - Vụ này có vài điểm đáng chú ý đây. - Anh chậm rãi nói - Trước tiên, anh McFarlane, anh cho tôi hỏi là làm thế nào đến giờ này mà anh vẫn còn tự do, trong khi rõ ràng là đã đủ bằng chứng để bắt giữ anh rồi.

    - Tôi sống ở Blackheath, cùng với bố mẹ tôi. Nhưng đêm qua, vì có việc phải làm lúc khuya với ông Oldacre, tôi nghỉ lại trong một khách sạn ở Norwood, rồi từ đó đi thẳng đến văn phòng. Tôi chẳng hề hay biết gì về vụ này, cho đến khi lên tàu và đọc bài báo mà ông vừa nghe. Tôi biết mình đang gặp nguy hiểm nên ngay lập tức chạy vội tới đây cầu cứu ông. Tôi biết thế nào người ta cũng tới nhà hoặc đến văn phòng để bắt tôi. Có một người đã theo tôi từ ga và chắc chắn là… Ôi trời ơi! Gì thế này?

    Đó là tiếng chuông gọi cửa, rồi tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang. Vài phút sau, ông bạn quý Lestrade hiện ra nơi ngưỡng cửa. Qua vai ông ta, tôi thấy vài người cảnh sát mặc đồng phục đứng lố nhố ở phía ngoài.

    - Phải ông John Hector McFarlane đây không? - Lestrade hỏi.

    Thân chủ của chúng tôi đứng lên, mặt tái mét, không nói được lời nào.

    - Tôi bắt giữ ông vì tội hạ sát ông Jonas Oldacre ở Hạ Norwood.

    McFarlane quay về phía chúng tôi với vẻ tuyệt vọng, đoạn ngã phịch xuống ghế, như thể bị một cú đánh trời giáng.

    - Xin hãy từ từ một chút, ông Lestrade! - Holmes ngăn lại - Sớm hay muộn nửa tiếng đồng hồ với ông đâu có gì khác nhau. Ông đây sắp giải thích cho chúng ta hiểu rõ thêm về vụ án thú vị này. Biết đâu, nhờ đó mà chúng ta có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề.

    - Tôi nghĩ, tất cả đều đã quá rõ ràng rồi. - Lestrade nói đầy vẻ nghiêm khắc.

    - Tuy nhiên, nếu được ông cho phép, tôi rất quan tâm đến câu chuyện ông ta sẽ kể.

    - Ông Holmes, tôi thật khó lòng từ chối ông điều gì, vì trước đây ông đã giúp chúng tôi khá nhiều, Scotland Yard coi như vẫn còn nợ ông. - Lestrade tỏ vẻ nhân nhượng - Nhưng tôi phải ở đây, bên cạnh phạm nhân và tôi xin báo trước, bất kỳ điều gì anh ta nói ra cũng có thể sẽ là bằng chứng chống lại anh ta.

    - Tôi chẳng dám nài xin gì hơn. - Thân chủ của chúng tôi ủ rũ đáp - Tất cả những gì tôi mong muốn là xin các ông hãy nghe tôi nói và tìm ra sự thật.

    Lestrade nhìn đồng hồ.

    - Tôi cho ông đúng nửa tiếng thôi!

    - Trước hết, tôi xin làm rõ ngay, - McFarlane trình bày - rằng tôi không hề biết gì về ông Jonas Oldacre, ngoại trừ cái tên của ông ấy. Từ nhiều năm trước, cha mẹ tôi có quen biết ông ấy, nhưng đã lâu họ không liên lạc với nhau. Vì thế ngày hôm qua, tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông ấy tìm đến văn phòng của tôi trong thành phố vào lúc ba giờ chiều. Tôi càng sửng sốt hơn khi ông ấy nói cho tôi mục đích của chuyến viếng thăm. Ông ấy mang theo vài tờ giấy gỡ ra từ một quyển sổ, trên đó đầy những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đây các ông xem. - Anh ta nói rồi đặt mấy tờ giấy lên bàn - "Đây là bản chúc thư của tôi", ông Oldacre nói vậy. "Tôi muốn cháu soạn lại nó theo thể thức phù hợp pháp luật. Tôi sẽ ngồi đây chờ trong lúc cháu làm việc".

    "Tôi liền bắt tay vào việc. Nhưng tôi kinh ngạc biết bao khi nhận ra rằng ông ấy để lại toàn bộ tài sản cho tôi. Ông Oldacre là một người nhỏ bé, có cặp lông mày bạc trắng. Khi ngẩng lên nhìn ông, tôi bắt gặp ông chăm chú nhìn tôi với ánh mắt ấm áp. Tôi thật không thể tin vào mắt mình khi đọc các điều khoản của chúc thư. Nhưng ông ấy đã giải thích rằng ông ấy sống độc thân, chẳng còn họ hàng thân thích, rằng hồi còn trẻ ông ấy có biết bố mẹ tôi, ông ấy nghe nói tôi là một chàng trai rất đáng khen, và ông ấy tin chắc của cải của mình được trao lại cho một người xứng đáng. Tôi dĩ nhiên chỉ còn biết ấp úng nói lời cảm ơn. Bản di chúc được soạn xong, ông ấy ký tên và người thư ký của tôi đứng làm chứng. Đây, như tôi đã nói, chỉ là bản nháp thôi. Bản chính thức đã được soạn trên giấy màu lam nhạt. Sau đó ông Oldacre báo cho tôi biết là ông còn một số giấy tờ nữa như hợp đồng cho thuê nhà đất, chứng thư xác lập tài sản, giấy tờ thế chấp, cổ phiếu… mà tôi cần phải xem để hiểu. Ông ấy nói rằng chưa thể hoàn toàn yên tâm chừng nào mọi việc còn chưa được sắp xếp xong xuôi. Và ông ấy yêu cầu tôi đến nhà ông ở Norwood ngay trong đêm với bản chúc thư để còn sắp xếp mọi việc. "Con trai, nhớ đừng nói lời nào với cha mẹ con về việc này cho tới khi ta làm xong xuôi mọi thứ! Chúng ta sẽ dành cho họ một điều bất ngờ nho nhỏ". Ông ấy nhắc đi nhắc lại điều này và bắt tôi phải hứa danh dự.

    "Thưa ông Holmes, ông cũng biết là tôi không thể từ chối ông ấy điều gì, vì ông ấy là ân nhân của tôi. Tôi chỉ mong thực hiện được mọi tâm nguyện của ông ấy. Thế là tôi gửi một bức điện về nhà, nói rằng tôi có một việc quan trọng phải làm, chưa biết chừng nào mới về được. Ông Oldacre nói muốn mời tôi ăn tối lúc 9 giờ, vì ông không thể về nhà sớm hơn. Nhưng khó khăn lắm tôi mới tìm được nhà của ông ấy, đến tận 9 giờ rưỡi mới tới nơi. Tôi thấy ông ấy…"

    - Dừng một chút! - Holmes cắt ngang - Thế ai mở cửa?

    - Một bà trung niên, mà tôi đoán là quản gia.

    - Có phải bà ấy đã báo tin anh đến? Tôi đoán thế.

    - Vâng, đúng vậy.

    - Được rồi, anh nói tiếp đi. - Holmes gật đầu ra hiệu.

    McFarlane lau vầng trán lấm tấm mồ hôi và tiếp tục kể:

    - Bà ấy đưa tôi vào phòng khách, nơi bữa ăn đã được dọn sẵn. Ăn xong, ông Oldacre dẫn tôi vào buồng ngủ của ông ấy. Trong đó có một cái két sắt lớn. Ông ấy mở két lấy ra một đống tài liệu, và chúng tôi cùng xem. Khoảng hơn 11 giờ, gần 12 giờ chúng tôi mới xong việc. Ông ấy bảo không nên làm ảnh hưởng tới bà quản gia nên đưa tôi ra qua lối cửa sổ luôn mở rộng suốt buổi tối.

    - Thế tấm mành che có được hạ xuống không? - Holmes vừa chăm chú lắng nghe, vừa hỏi.

    - Tôi không chắc, nhưng tôi nhớ rõ rằng nó chỉ được hạ xuống phân nửa. Đúng, tôi nhớ là ông ấy phải kéo rèm lên để mở rộng cửa sổ. Tôi tìm mãi không thấy cây can của mình. Ông ấy bảo: "Không sao đâu con trai, chúng ta còn gặp nhau nhiều mà. Bác sẽ giữ giúp cây can này cho tới khi con đến lấy lại". Thế là tôi về, để ông ấy lại với cái két vẫn còn đang mở và đống giấy tờ tài liệu xếp trên bàn. Lúc đó quá muộn rồi nên tôi không về nhà cha mẹ mình ở Blackheath nữa. Tôi nghỉ đêm tại khách sạn Anerley Arms. Và tôi không hề biết gì hơn, cho đến khi đọc báo về vụ việc kinh khủng này vào sáng ngày hôm nay.

    - Ông có muốn hỏi thêm gì nữa không, ông Holmes? - Lestrade nhướn cặp lông mày lên hỏi.

    - Không, trước khi tôi tới Blackheath.

    - Chắc ông muốn nói tới Norwood?

    - Ồ vâng, đi Norwood, ý tôi hẳn là thế. - Holmes mỉm cười đầy ẩn ý.

    Dù Lestrade không chịu thừa nhận, nhưng kinh nghiệm đã cho ông ta thấy rằng bộ óc sắc sảo của người đứng trước mặt ông ta có thể sẽ tìm ra khối điều mà đối với ông ta là quá bí ẩn. Tôi thấy ông ta nhìn bạn tôi đầy vẻ tò mò.

    - Tôi nghĩ tôi có vài lời muốn nói với ông, ông Holmes ạ! - Ông ta nói - Này ông McFarlane, hai cảnh sát và chiếc xe ngựa đang đợi ông trước cửa đấy!

    Người thanh niên đáng thương đứng dậy, rời khỏi phòng sau khi hướng về chúng tôi cái nhìn cầu khẩn cuối cùng. Hai nhân viên cảnh sát đưa anh ta ra xe, còn Lestrade ở lại.

    Holmes cầm các tờ nháp chúc thư lên xem xét vô cùng chăm chú.

    - Tập tài liệu này có vài điểm đáng quan tâm đấy chứ, phải không, ông Lestrade? - Anh nói và đẩy tập giấy về phía Lestrade.

    Tới lượt viên thanh tra xem các giấy tờ. Ông ta rất ngạc nhiên.

    - Tôi chỉ có thể đọc vài dòng đầu, vài dòng giữa trang thứ hai và đôi ba dòng ở cuối. Những dòng này rõ như in, nhưng những chữ ở đoạn giữa thì rất xấu. Có đến vài chỗ tôi chẳng thể nào đọc được.

    - Ông nghĩ sao về điều đó?

    - Nói thật thì... Thế ông nghĩ sao?

    - Chúc thư này được viết trên tàu. Nét chữ dễ đọc viết tại nhà ga, chữ xấu viết trên đường đi, còn chữ xấu đến mức không đọc nổi là viết lúc tàu qua các khúc quanh. Một chuyên gia về chữ viết có thể nói ngay được rằng những giấy tờ này được viết trên một đường tàu ngoại ô, vì không đâu trong thành phố lại có đường tàu với một chuỗi liên tục các khúc quanh như thế. Giả dụ rằng cả chuyến đi đó được dành cho việc soạn thảo chúc thư thì hẳn đây phải là một chuyến tàu tốc hành, chỉ dừng một lần giữa hai ga Norwood và London Bridge.

    Lestrade phá lên cười.

    - Ông quá giỏi, vượt xa tôi khi đưa ra các giả thiết, ông Holmes ạ! - Ông ta vui vẻ thừa nhận - Thế những điều này có ích gì cho việc điều tra không?

    - Nó chứng thực cho câu chuyện của chàng trai trẻ. Chúc thư này Jonas Oldacre chỉ vừa mới soạn trong chuyến đi ngày hôm qua. Thật đáng quan tâm, phải không? Vì sao ông ta lại viết thứ tài liệu quan trọng như vậy một cách vội vã đến thế? Điều đó cho thấy ông ta nghĩ nó không có tầm quan trọng thực sự. Chỉ một người viết chúc thư mà không mong nó có hiệu lực thì mới làm như vậy.

    - Nhưng làm thế thì có khác gì viết ra bản án tử hình cho chính mình. - Lestrade nhận xét.

    - Ông nghĩ thế à?

    - Ông không cho là vậy sao?

    - Có thể, nhưng với tôi vụ việc này vẫn còn chưa sáng tỏ.

    - Chưa sáng tỏ? Vậy thế nào mới gọi là sáng tỏ đây?

    Một chàng trai bất ngờ được biết rằng mình sẽ được hưởng cả một gia tài nếu ông già chết. Hắn sẽ làm gì? Hắn chẳng nói cho ai hay, mà vội vã thu xếp để có thể gặp ông già ngay tối hôm ấy. Đợi đến khi người trong nhà đi ngủ, hắn mới ra tay giết ông già, thiêu xác ông ấy trong đống gỗ và tới một khách sạn gần đó để ngủ trọ. Vết máu trong phòng và trên cây gậy rất mờ. Rất có thể hắn ta đã không thấy những vết máu đó, yên trí là xác chết bị thiêu hủy sẽ xóa bỏ được mọi dấu vết. Thế chẳng phải mọi chuyện đã rõ như ban ngày rồi sao?

    - Tôi chỉ thấy nó rõ… như một trò đùa thôi. - Holmes lập luận - Ông không hẳn là người giàu trí tưởng tượng, nhưng hãy cứ thử đặt mình vào địa vị anh chàng này đi, ông có chọn ngay cái đêm mà ông nhận được bản di chúc để ra tay không? Ông có tự nhận thấy rằng bản thân sẽ lập tức gặp nguy hiểm vì hai sự kiện này liên quan chặt chẽ với nhau không? Và ông có chọn thời điểm có người quản gia dẫn vào nhà không? Cuối cùng, ông có đem giấu xác chết, nhưng bỏ lại cái can làm bằng chứng rằng mình chính là thủ phạm không? Lestrade, ông hãy thừa nhận rằng tất cả những điều này là rất phi lý đi.

    - Về chuyện cây can thì theo tôi, một tên tội phạm thường bất cẩn và hay mắc phải những sai lầm mà một người bình tĩnh có thể tránh được. Có thể hắn hoảng quá, chẳng dám quay lại căn phòng đó nữa. Hãy cho tôi một giả thiết nào đó phù hợp với thực tế hơn.

    - Tôi có thể cung cấp cho ông hàng nửa tá những giả thiết đó. - Holmes nói - Ví dụ, ông già đang đưa ra một tài liệu có giá trị thì một kẻ đầu đường xó chợ đi qua chỗ cửa sổ, mà mành chỉ kéo xuống lưng chừng. Hắn thấy những giấy tờ tài liệu đó. Thế là khi McFarlane ra về, hắn trèo vào, vớ lấy cây gậy, giết Oldacre rồi đào tẩu sau khi thiêu xác ông ta.

    - Thế sao gã đầu đường xó chợ ấy phải thiêu xác?

    - Vậy sao McFarlane phải làm vậy?

    - Để che giấu bằng chứng.

    - Thế thì có lẽ gã đầu đường xó chợ kia cũng muốn che giấu một vụ trả thù mà y là thủ phạm.

    - Thế sao gã ấy chẳng lấy đi thứ giấy tờ nào?

    - Vì đó là những thứ giấy tờ mà y chẳng có lợi lộc gì cả.

    Lestrade lắc lắc đầu. Tôi thấy ông ta có vẻ kém quả quyết hơn trước.

    - Ông Holmes này, ông cứ đi tìm cái gã đầu đường xó chợ của ông đi! Trong lúc ông tìm hắn, chúng tôi cứ điều tra gã trai trẻ này. Rồi sẽ biết ai là người có lý. Nhưng tôi lưu ý ông điểm này, theo chúng tôi biết thì giấy tờ trong phòng không hề bị lấy đi, và gã trai trẻ vừa bị bắt giữ là kẻ duy nhất trên đời chẳng cần lấy chúng, vì theo luật, anh ta là người thừa kế duy nhất, sớm muộn gì những tài liệu ấy cũng thuộc anh ta.

    Holmes có vẻ bất ngờ khi nghe câu này.

    - Trên cơ sở các bằng chứng thì tôi không phủ nhận giả thiết của ông rất có lý. - Anh đáp - Tôi chỉ muốn nói rằng, vẫn còn có những khả năng khác. Như ông vừa nói đấy, thời gian sẽ cho thấy ai đúng, ai sai. Chúc buổi sáng tốt lành! Hôm nay, tôi sẽ ghé qua Norwood xem cuộc điều tra của ông đến đâu rồi.

    Viên thanh tra ra về, còn Holmes đứng dậy và nhanh chóng chuẩn bị cho một ngày làm việc với tâm trạng vui vẻ và hăng hái.

    - Watson này, việc đầu tiên tôi làm, - Anh vừa khoác vội chiếc áo choàng, vừa nói - là đến ngay Blackheath.

    - Sao không phải là đến Norwood?

    - Bởi vì trong vụ này có mối liên quan giữa sự việc này với sự việc khác. Cảnh sát phạm phải một sai lầm rất lớn, là chỉ quan tâm đến một sự việc, vì có vẻ như đó mới là tội ác thực sự. Nhưng theo tôi, để giải quyết vụ này rõ ràng là cần phải làm sáng tỏ sự kiện thứ nhất - bản chúc thư được soạn thảo một cách đột ngột và một người thừa kế ngoài dự kiến. Làm rõ được điều đó thì vụ án sẽ có hướng giải quyết nhanh chóng. Tin rằng tối nay gặp anh, tôi sẽ nói cho anh hay mình đã làm được những gì cho anh bạn trẻ này, người đã đặt hết niềm tin vào tôi.

    Mãi khuya hôm đó Holmes mới trở về. Và chỉ cần liếc qua khuôn mặt lo âu, căng thẳng của Holmes, tôi cũng biết anh đã không đạt được những gì mong muốn. Suốt một tiếng đồng hồ, anh thả hồn theo tiếng vĩ cầm, như để giải tỏa những căng thẳng của mình. Cuối cùng, anh đặt cây đàn xuống và kể cho tôi nghe những rủi ro gặp phải.

    - Mọi việc tệ quá, Watson ạ, tệ hết mức có thể. Tuy tôi vẫn giữ vẻ thản nhiên với Lestrade, nhưng thực ra trong lòng tôi lại thầm nghĩ, lần này ông ta đi đúng hướng rồi, còn chúng ta mắc sai lầm. Bản năng của tôi đi theo một hướng, còn các sự kiện thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Tôi e rằng các thẩm phán chưa thông minh đến độ chấp nhận các giả thiết của tôi trước những dữ kiện thực tế của Lestrade.

    - Anh có tới Blackheath không?

    - Có chứ, tôi đến đó và ngay lập tức nhận ra rằng, cái lão Oldacre này là một kẻ đê tiện. Người cha đã đi tìm con trai, ở nhà chỉ còn người mẹ - một người phụ nữ nhỏ bé, duyên dáng với cặp mắt xanh lơ. Bà ấy run lên vì sợ hãi và tức giận, bà ấy không bao giờ tin con trai mình lại có thể gây tội tày trời như thế. Nhưng bà ấy không hề tỏ ra ngạc nhiên hay thương xót cho số phận của Oldacre. Trái lại, bà ấy nói về lão ta với vẻ cay độc, đến nỗi vô tình bà ấy lại giúp cho cảnh sát củng cố thêm lập luận hung thủ chính là con trai bà. Vì nếu con trai bà mà biết lão ta là người như thế, đương nhiên anh ta phải ghét cay ghét đắng lão, và càng có cơ gây tội ác. Bà ấy bảo: "Lão ta không phải là con người, mà là con khỉ hiểm độc và đầy mưu mô. Ngay từ trẻ, lão đã độc ác như một con thú dữ". "Bà biết ông ta từ hồi đó sao?" - Tôi hỏi thế. "Vâng, tôi biết rất rõ lão ấy. Lão ấy thực ra là người yêu cũ của tôi. Ơn Chúa, tôi đã đủ can đảm chia tay và kết hôn với một người đàn ông tử tế hơn lão, mặc dù ông ấy nghèo khó. Ông Holmes ạ, hồi ấy đã đính hôn với lão ấy rồi thì tôi mới nghe kể là lão ấy đã từng nhốt một con mèo vào lồng chim. Tôi khiếp sợ sự độc ác phi nhân tính đó và quyết định hủy bỏ hôn ước". Bà ấy lục tìm trong ngăn tủ và đưa cho tôi xem tấm ảnh một phụ nữ bị bôi lem luốc và rạch chằng chịt bằng lưỡi dao nhíp. "Là ảnh tôi đấy. Buổi sáng tôi cử hành hôn lễ, hắn gửi cho tôi bức hình này với những lời nguyền rủa đồi bại". "Vậy thì ít ra bây giờ ông ta cũng đã tha thứ cho bà, vì ông ta đã để lại cả gia tài cho con trai bà". "Con tôi và tôi không thèm nhận gì của hắn, dù hắn còn sống hay đã chết". - Bà ấy rít lên. "Ông Holmes ạ! Trời có mắt đấy. Thượng đế đã trừng phạt hắn, kẻ độc ác ấy, và trời đất sẽ minh giám cho sự trong sạch của con trai tôi".

    "Tôi cố thử vài ba hướng khác, nhưng chẳng thu được điều gì có ích, thậm chí một vài điểm còn chứng minh điều trái ngược với suy xét của chúng ta. Cuối cùng tôi bỏ cuộc và đến Norwood.

    "Ngôi nhà mang tên Deep Dane đó là một biệt thự kiểu mới, đứng sừng sững trên một thửa đất lớn. Phía trước có một bãi cỏ rộng, trải dài với những cây nguyệt quế. Bên phải ngôi nhà, cách đường một quãng là một khoảng sân chứa đầy gỗ, nơi đã phát hoả đêm qua. Tôi có vẽ qua sơ đồ ngôi nhà trong sổ đây. Cửa sổ phía tay trái là cửa sổ phòng Oldacre. Anh sẽ thấy là từ ngoài đường có thể nhìn vào qua cửa này. Đấy là những gì ngày hôm nay tôi thu thập được. Lestrade không có ở đó, nhưng người phụ tá của ông ta đã đón tiếp tôi khá nhiệt tình. Họ đã thực hiện một cuộc khám xét lớn. Cả buổi sáng, họ khui đống tro tàn, và ngoài những mẩu vụn xương người đã cháy thành than, họ còn tìm thấy những mẩu kim loại nhỏ đã phai màu. Tôi đã quan sát những mẩu kim loại này cẩn thận và nhận thấy đó là cái cúc quần dài. Thậm chí tôi còn đọc được trên một mẩu có chữ "Hyams". Đó là tên người thợ may của Oldacre. Tôi cố quan sát kỹ bãi cỏ để tìm những dấu vết, nhưng tiết trời khô làm đất rắn như đá. Tất cả những gì tôi thấy có thể là một xác chết, hoặc một kiện hàng lớn nào đó đã được kéo qua bờ cây, song song với đống gỗ. Đương nhiên, nó hoàn toàn phù hợp với giả thiết của cảnh sát. Tôi bò trên bãi cỏ đó, giữa cái nắng tháng tám, đến cả tiếng đồng hồ, để rồi chẳng thu được gì.

    "Sau đó, tôi lại vào phòng ngủ và xem xét kỹ lưỡng từng ngóc ngách. Những vết máu rất mờ, đã bị xóa và phai màu. Nhưng rõ ràng đó là những vết máu tươi. Cái can được để sang bên, mà vết máu trên đó cũng rất mờ. Đúng đó là cái can của thân chủ chúng ta. Anh ta cũng thừa nhận điều đó rồi. Trên thảm còn in dấu chân hai người đàn ông, nhưng không có dấu chân người thứ ba, điểm này càng củng cố thêm lập luận của cảnh sát. Họ đang dần tới đích, còn chúng ta thì cứ giẫm chân tại chỗ thế này.

    "Tôi chỉ còn có một tia hy vọng nhỏ, nhưng cũng chẳng ích gì. Tôi kiểm tra kỹ giấy tờ trong két; hầu hết đều đã được mang để trên bàn. Các giấy tờ này cất trong phong bì có gắn niêm phong, cảnh sát đã mở xem vài ba cái. Theo tôi thì các giấy tờ này không mấy giá trị; và tài sản trong ngân hàng của ông Oldacre không tốt lắm. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng tất cả giấy tờ không được để cả ở đấy. Hình như còn vài chứng thư chuyển nhượng tài sản, đặc biệt là những giấy tờ có giá trị lớn thì tôi không tìm ra được. Nếu chúng ta chứng minh được điều này thì sẽ làm lộ mâu thuẫn trong lập luận của Lestrade: Ai lại đi lấy cắp thứ mà chẳng mấy chốc nữa anh ta sẽ được sở hữu?

    "Cuối cùng, sau khi đã lục lọi, tìm kiếm mà chẳng phát hiện thấy gì, tôi đành thử vận may với bà quản gia. Bà ta tên là Lexington, một người nhỏ bé, da màu, ít lời, có cặp mắt dài và hẹp, không thật thà. Tôi tin rằng bà ta có biết gì đó, và nếu muốn, hẳn bà ta đã kể rõ. Nhưng bà ta câm như hến. Bà ta thừa nhận đã đưa McFarlane vào nhà lúc 9 giờ 30 phút, và cứ một mực hối hận giá mình đừng làm việc đó. Bà ta đi ngủ từ trước 10 giờ 30 phút, trong căn phòng ở đầu nhà phía bên kia. Bà ta khẳng định McFarlane để quên mũ và gậy trong đại sảnh. Chính tiếng chuông báo cháy đã đánh thức bà ta dậy. Ông chủ già nua tội nghiệp của bà hẳn nhiên đã bị giết chết. Còn ông ấy có kẻ thù nào không ư? Đương nhiên ai mà chả có. Nhưng ông Oldacre kín tiếng lắm, và các mối quan hệ của ông ấy chỉ là về công việc làm ăn. Bà ta đã xem mấy cái cúc quần và bảo đảm đó là của cái quần mà ông mặc đêm qua. Đống gỗ rất khô vì cả tháng vừa rồi làm gì có mưa. Lửa cháy khác nào bùi nhùi gặp gió; lúc bà ta ra đến nơi thì chỉ còn thấy lửa và lửa. Bà ta và đám lính cứu hỏa đều ngửi thấy mùi thịt cháy khét lẹt. Bà ta không hay biết gì về giấy tờ tài liệu, cũng như công việc làm ăn của ông chủ."

    - Thế đấy, Watson ạ, thế là tôi đành chịu thất bại. Nhưng mà…, nhưng… - Anh siết mạnh hai bàn tay như để khẳng định niềm tin của mình - Tôi biết rằng tất cả những chuyện này là dối trá. Từ sâu thẳm đáy lòng, tôi cảm thấy thế. Còn điều gì đó mà bà quản gia rõ ràng có biết nhưng chưa bị phát hiện. Trong mắt mụ ánh lên sự ương ngạnh, cố che giấu một lương tâm tội lỗi do đồng lõa với một tội ác mà mụ biết rõ. Nhưng nói thế cũng chẳng ích gì. Trừ phi chúng ta gặp may, chứ không đừng có mong vụ Norwood này được nêu trong bản báo cáo thưởng công.

    - Chắc là vậy. - Tôi nói - Nhưng chẳng lẽ vẻ ngoài lương thiện của can phạm không gây được chút thiện cảm nào với bồi thẩm đoàn hay sao?

    - Watson thân mến, lập luận thế là nguy hiểm đấy. Anh có nhớ Bert Stevens, tên sát nhân ghê tởm đã nhờ cậy chúng ta giải cứu hồi năm 1887 không? Có gã thanh niên nào trông như một đứa con gương mẫu trong gia đình lương thiện đến thế không?

    - Đúng, đúng vậy.

    - Nếu chúng ta không đưa ra được một giả thiết khác ổn hơn, chàng trai này sẽ tiêu đời. Giờ đây mọi bằng chứng đều chống lại anh ta, và mọi hướng điều tra đều củng cố luận cứ đầy bất lợi này. Chỉ có một chi tiết nhỏ ở đống giấy tờ thu hút sự chú ý của tôi. Biết đâu đó chẳng là điểm mấu chốt để chúng ta bắt đầu một hướng điều tra mới. Khi nhìn vào tập ngân phiếu của ông ta, tôi nhận thấy sự mất cân đối thu - chi là do một số lượng lớn các tấm séc đã được chi trả cho một ông có tên là Cornelius. Thú thật, tôi rất muốn biết cái ông Cornelius này là ai mà lại khiến nhà thầu khoán nghỉ hưu phải chuyển khoản cho ông ta nhiều tiền đến thế. Liệu có khả năng ông ta nhúng tay vào vụ này không? Cornelius có thể là một nhà môi giới chứng khoán, nhưng chẳng thể tìm thấy những cổ phần tương đương với các khoản chi trả lớn này. Vì thiếu đầu mối, giờ đây tôi phải tìm hiểu bên ngân hàng về cái ông Cornelius đã lĩnh các chi phiếu đó. Nhưng Watson thân mến ạ, tôi e rằng vụ này sẽ kết thúc bằng sợi dây thòng lọng mà Lestrade sẽ quàng vào cổ thân chủ chúng ta.

    Tôi không biết đêm hôm ấy Holmes có chợp mắt được chút nào không, nhưng lúc xuống ăn sáng, trông anh thật xanh xao, mệt mỏi; đôi mắt sáng lại càng sáng hơn bởi những quầng thâm bao quanh. Thảm dưới chân ghế anh ngồi phủ đầy tàn thuốc lá và vương vãi các trang báo sáng. Trên bàn có một bức điện tín đã mở.

    - Anh nghĩ sao về bức điện này hở Watson? - Anh ném nó sang cho tôi.

    Bức điện được gửi từ Norwood, nội dung như sau:

    "Chứng cứ quan trọng đã được tìm thấy. Tội lỗi của McFarlane đã được xác minh. Khuyên ông nên từ bỏ việc điều tra. Lestrade".

    - Nghe có vẻ nghiêm trọng đây. - Tôi nói.

    - Đó là tiếng reo hò mừng chiến thắng của Lestrade. - Holmes trả lời với một nụ cười chua chát - Tuy nhiên, bây giờ mà bỏ cuộc thì quá sớm. Dù sao thì chứng cớ quan trọng mới thấy này có thể sẽ là con dao hai lưỡi, biết đâu nó lại chặn đứng các hướng mà Lestrade đang đi ấy chứ. Anh ăn sáng đi, Watson, rồi chúng ta sẽ lên đường. Tôi cảm thấy, hôm nay tôi rất cần anh cùng đi và hỗ trợ.

    Holmes không ăn sáng. Một trong những điểm kỳ quặc ở anh là trong những thời khắc căng thẳng, anh tự cho phép mình không ăn uống gì. Anh lúc nào cũng tin rằng mình khỏe như voi, cho đến khi xỉu đi vì kiệt sức. "Bây giờ, tôi không hơi đâu mà tổn hao sức lực và tâm trí vào việc ăn uống". Cứ hễ tôi tỏ ý phê phán anh về chuyện ấy là sẽ nhận được câu trả lời như vậy. Vì thế, sáng hôm đó tôi chẳng mấy ngạc nhiên khi anh không đụng đến bữa sáng và vội vã lên đường tới Norwood. Một đám đông người hiếu kỳ đang vây quanh ngôi nhà Deep Dene. Lestrade đón chúng tôi với vẻ mặt rạng rỡ và thái độ hớn hở vì thắng thế.

    - Thế nào, ông Holmes? Ông đã tìm ra bằng chứng rằng chúng tôi sai chưa? Hẳn ông đã thấy cái gã đầu đường xó chợ ấy rồi chứ? - Ông ta đắc thắng kêu lên.

    - Tôi chưa rút ra được kết luận nào cả. - Bạn tôi đáp.

    - Nhưng chúng tôi thì ngay ngày hôm qua đã đi tới kết luận. Ông Holmes ạ, lần này thì ông nên thừa nhận là chúng tôi đã nhanh hơn ông một chút!

    - Chắc là ông đã đánh hơi thấy điều gì đó khác lạ rồi. - Holmes dò hỏi.

    Lestrade cười ha hả.

    - Đương nhiên ông cũng như chúng tôi thôi, ai lại muốn mình thất bại chứ. - Ông ta say sưa nói - Nhưng không ai có thể chiến thắng trong tất cả mọi trường hợp, phải vậy không bác sĩ? Xin mời các ông theo lối này! Tôi xin cam đoan với các ông rằng, tác giả tội ác là McFarlane chứ không phải ai khác.

    Ông ta đưa chúng tôi đi dọc hành lang, đến một đại sảnh tối tăm.

    - Đây là nơi McFarlane ra lấy mũ, sau khi gây tội ác. Các ông hãy nhìn xem. - Ông ta đánh một que diêm và chút ánh sáng soi rõ một vết máu tươi trên bức tường quét vôi trắng. Khi ông ta đưa que diêm lại gần hơn, tôi nhận thấy đó không chỉ là một vết máu. Đó là một dấu ngón tay cái in rất rõ. - Ông Holmes, ông hãy lấy kính lúp mà soi đi!

    - Thì tôi đang làm thế đây.

    - Ông cũng biết là không có hai người nào mà dấu ngón tay cái lại giống hệt nhau chứ?

    - Đúng vậy!

    - Vậy thì ông thử so cái dấu này với dấu ngón tay phải của anh chàng McFarlane lấy trên xi xem.

    Ông ta đưa cái dấu tay trên xi lại gần vết máu và chẳng cần kính lúp cũng có thể thấy ngay hai dấu tay là của cùng một người. Vậy là chắc thân chủ của chúng tôi chẳng còn hy vọng gì nữa.

    - Thế là đã xác định. - Lestrade nói.

    - Phải, thế là xác định. - Tôi lặp lại một cách miễn cưỡng.

    - Xác định! - Holmes tỏ vẻ đồng tình.

    Trong ngữ điệu của anh có gì đó đáng làm tôi phải dỏng tai lên nghe và tôi quay lại nhìn anh. Trên khuôn mặt anh có sự thay đổi lạ thường - một niềm vui sâu kín, cố nén giấu, nhưng vẫn tỏa sáng. Đôi mắt anh lấp lánh như hai vì sao đêm. Tôi có cảm giác dường như anh phải cố gắng lắm mới nhịn được cười.

    - Trời ạ! - Cuối cùng anh mới cất nên lời. - Ai mà ngờ được chứ? Vẻ bề ngoài thật dễ che mắt người ta! Một chàng trai trông tử tế đến thế! Đây thật là một bài học nhớ đời để lần sau chúng ta nên thận trọng với những cảm giác ban đầu, phải không ông Lestrade?

    - Vâng, thỉnh thoảng có vài người quá tự tin thế đấy, ông Holmes ạ! - Lestrade nói giọng mỉa mai rõ rệt.

    Nghe cái cách nói ngạo mạn ấy mà điên cả người, nhưng chúng tôi không thể tỏ ra bực tức.

    - Thật may mắn, cái gã trai trẻ ấy lại đi ấn ngón tay cái vào tường khi lấy mũ từ mắc chứ! Chà, cái hành động ấy đến là tự nhiên! - Bề ngoài Holmes cố tỏ ra bình tĩnh, nhưng toàn thân anh rung lên bởi một sự kích động khó kiềm chế - Nhân tiện hỏi ông, ông Lestrade, thế ai đã khám phá ra điều này vậy?

    - Bà quản gia, bà Lexington, đã chỉ cho lính trực đêm của tôi thấy.

    - Thế cái anh chàng trực đêm ấy đâu?

    - Anh ta vẫn đang gác trong phòng ngủ, nơi đã xảy ra vụ giết người, để không cho ai đụng tới những đồ đạc ở đó cả.

    - Nhưng tại sao hôm qua cảnh sát không phát hiện ra dấu tay này?

    - Vì chúng tôi có lý do gì đâu mà kiểm tra cả đại sảnh. Với lại, chỗ này cũng hơi khuất nữa, ông thấy đấy.

    - Không hẳn thế. Tôi chắc các ông chẳng nghi ngờ gì về việc cái dấu tay này mới có ở đây ngày hôm qua?

    Lestrade nhìn Holmes cứ như anh bị mất trí vậy. Còn tôi, phải thú thật, tôi cũng thấy ngạc nhiên trước vẻ cao hứng và cách nhận xét hơi phi lý của Holmes.

    - Phải chăng ông cho là đêm qua McFarlane rời khỏi xà lim để bổ sung thêm chứng cứ buộc tội chính mình? - Lestrade đã bực mình, xẵng giọng nói - Tôi có phải mời chuyên gia giám định nào trên thế giới đến đây để xem, liệu có phải dấu ngón tay cái của anh ta không đấy?

    - Thì đương nhiên đây là dấu tay anh ta rồi.

    - Thế là đủ. - Lestrade nói - Tôi là người thực tế, ông Holmes ạ! Tôi có đủ bằng chứng rồi, cứ thế mà kết luận thôi. Còn nếu ông muốn nói gì, cứ đến tìm tôi ở phòng khách. Tôi sang đó viết báo cáo đây.

    Holmes đã cân bằng trở lại, mặc dù tôi vẫn thấy trên khuôn mặt anh lấp lánh vẻ thích thú mà anh đã khéo che giấu.

    - Watson này, sự việc tiến triển ra chiều tiêu cực quá phải không? - Anh nói - Nhưng vẫn còn có vài điểm nhỏ có thể mang lại hy vọng cho thân chủ chúng ta.

    - Thật vui khi nghe anh nói thế. - Tôi tỏ ra hoan hỉ - Cứ tưởng thân chủ của chúng ta thế là tiêu đời rồi chứ…

    - Vẫn chưa đủ cơ sở để nói ra đâu, Watson thân mến ạ! Sự thật là có một điểm bất ổn trong chứng cứ quan trọng mà Lestrade vừa đưa ra.

    - Đó là điểm gì vậy?

    - Ở chính điểm này đây. Tôi biết, hôm qua lúc tôi kiểm tra đại sảnh thì không hề có dấu tay ấy. Nào Watson, chúng ta đi dạo một chút dưới ánh nắng mặt trời sẽ tốt hơn đấy.

    Vẫn còn lộn xộn phức tạp, nhưng đã có thêm chút hy vọng trở lại, tôi theo Holmes ra vườn. Anh xem xét cực kỳ tỉ mỉ các mặt nhà, rồi lại kéo tôi trở vào, đi khắp từ tầng hầm lên đến tầng áp mái. Hầu hết các phòng đều không có đồ đạc, nhưng Holmes vẫn kiểm tra kỹ lưỡng từng góc nhỏ. Cuối cùng, anh suýt la lên vì sung sướng khi dừng lại ở hành lang tầng trên cùng. Hành lang này chạy dài qua ba phòng ngủ chưa có người ở.

    - Vụ này vẫn có nhiều điểm kỳ lạ đấy, Watson ạ! - Anh hào hứng nói - Tôi nghĩ đã đến lúc chỉ cho ông bạn Lestrade thấy rồi. Lúc trước ông ta cười chúng ta, giờ đã đến lúc chúng ta trả đũa, nếu tôi suy đoán chuẩn xác vụ này. Phải, phải, tôi đã biết nên giải quyết thế nào rồi.

    Khi Holmes tìm đến thì ngài thanh tra của Scotland Yard vẫn đang cắm cúi viết.

    - Ông đang viết báo cáo vụ này đấy hẳn?

    - Dĩ nhiên rồi.

    - Ông không nghĩ vẫn còn quá sớm à? Tôi thấy chứng cớ của ông vẫn còn chưa đủ đâu.

    Lestrade biết Holmes quá rõ, nên không dám coi thường câu nói cảnh báo đó. Ông ta đặt bút xuống, nhìn anh với vẻ tò mò.

    - Ông định nói gì?

    - Vẫn còn một nhân chứng quan trọng mà ông chưa gặp.

    - Ông nặn đâu ra hắn?

    - Tôi nghĩ tôi tìm được đấy.

    - Vậy cứ thử xem.

    - Thử chứ! Ông có bao nhiêu cảnh sát viên ở đây?

    - Ba người, gọi cái là đến ngay.

    - Tốt. - Holmes nói - Họ to con, khỏe mạnh và có giọng nói thật vang?

    - Cao lớn và khỏe mạnh thì đúng rồi. Nhưng vì sao lại cần có giọng nói thật vang?

    - Rồi ông sẽ hiểu thôi. - Holmes nói - Làm ơn gọi người của ông đến. Tôi sẽ thử.

    Năm phút sau, cả ba cảnh sát đã tập hợp ở trong sảnh.

    - Các anh thấy một đống rơm lớn ở ngoài kia chứ? - Holmes nói - Làm ơn mang vào đây hai bó. Tôi nghĩ muốn dụ được nhân chứng quan trọng này thì rất cần sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các vị. Xin cảm ơn! Watson, trong túi anh vẫn có diêm phải không? Ông Lestrade này, mời ông đi cùng tôi lên bậc thềm trên cao kia.

    Như tôi đã nói, có một hành lang rộng chạy dọc ba phòng ngủ bỏ trống. Tới một đầu hành lang, Sherlock Holmes bố trí chúng tôi đứng theo hàng dọc. Các nhân viên cảnh sát mỉm cười đầy nghi hoặc, còn Lestrade nhìn Holmes với vẻ mặt xen lẫn ngạc nhiên, chờ đợi và mỉa mai. Holmes bước tới trước mặt chúng tôi với dáng vẻ của một nhà ảo thuật đang chuẩn bị biểu diễn.

    - Ông làm ơn phái một nhân viên đi xách về đây một xô nước đầy. Nào hãy đặt rơm lên sàn, nhưng đừng đặt sát vào tường. Tôi nghĩ chúng ta đã sẵn sàng.

    Lestrade đỏ mặt lên vì giận dữ.

    - Ông Holmes! Ông đang đùa với chúng tôi đấy à! - Ông ta thiếu chút nữa thì quát lên - Nếu ông biết điều gì thì cứ nói toạc ra, không cần đến cái trò dàn cảnh kỳ cục này.

    - Nào Lestrade, tôi xin bảo đảm rằng tôi có lý do đúng đắn để hành động như vậy. Ông có nhớ, lúc nãy ông đã tỏ ý chế giễu tôi không? Thế nên bây giờ cho phép tôi trịnh trọng chủ tọa một nghi lễ nho nhỏ. Watson này, anh làm ơn mở cửa sổ và ném một cây diêm đang cháy lên đống rơm được không?

    Tôi làm theo yêu cầu của anh. Bị gió cuốn, một làn khói xám tỏa ra khắp hành lang, rơm khô bén lửa nổ lách tách.

    - Nào, hãy xem chúng ta có tìm được nhân chứng quan trọng cho ông Lestrade không. Tôi có thể đề nghị các quý ông kêu thật to hai tiếng "Cháy nhà" được không? Nào! Một, hai, ba…

    - Cháy nhà! - Chúng tôi cùng hét thật to.

    - Cảm ơn. Nào, các ông lặp lại một lần nữa.

    - Cháy nhà!

    - Thêm một lần nữa, và cùng kêu to lên nhé!

    - Cháy nhà!

    Tiếng kêu của chúng tôi lớn đến nỗi ở đầu kia của vùng Norwood cũng nghe thấy.

    Tiếng kêu còn chưa dứt thì một chuyện lạ lùng xảy ra. Từ một bức tường bằng phẳng cuối hành lang mở ra một cái cửa và một người nhỏ bé như con thỏ bất thình lình vọt ra khỏi hang.

    - Tuyệt! - Holmes nói với một giọng thật bình tĩnh - Watson, anh đổ xô nước lên đống rơm, dập lửa đi! Lestrade, xin giới thiệu với ông một nhân chứng quan trọng của vụ án, ông Jonas Oldacre!

    Viên thanh tra sững người nhìn kẻ vừa xuất hiện. Còn tên kia, hấp háy mắt trong ánh sáng của dãy hành lang, hết nhìn chúng tôi lại nhìn ngọn lửa đang lụi dần. Ông ta có một bộ mặt thật ghê tởm: đầy mưu mẹo, tâm địa xấu xa, lông mi trắng, hai mắt màu xanh nhạt.

    - Thế này là thế nào? - Cuối cùng Lestrade cũng lên tiếng - Suốt khoảng thời gian vừa rồi, ông làm cái gì vậy?

    Oldacre bật ra một tiếng cười ngượng nghịu. Nhưng ông ta vội lùi lại trước bộ mặt đỏ gay, đầy giận dữ của viên thanh tra:

    - Tôi có gây ra tai họa gì đâu!

    - Không gây ra tai họa gì à? Ông đã làm tất cả những gì cần làm để đưa một người vô tội lên giá treo cổ. Nếu không có ông Holmes đây, thì hẳn là ông đã thành công với mưu mô ác độc đó rồi đấy.

    Kẻ gian ác bắt đầu tấm tức khóc:

    - Thưa ngài, tôi xin cam đoan, đó chỉ là một trò đùa không hơn không kém.

    - Ồ, một trò đùa hả? Nhưng tôi không sẵn lòng cười đâu. Hãy đưa ông này xuống phòng khách, để ông ta ngồi đó cho đến khi tôi xuống… Ông Holmes, - Lestrade nói sau khi ba viên cảnh sát đã dẫn Oldacre đi - tôi không thể nói trước mặt các thuộc hạ, nhưng trước mặt bác sĩ Watson, tôi xin thừa nhận đây là một trong những thành công rực rỡ nhất của ông. Mặc dù tôi vẫn chưa hiểu ông đã làm như thế nào, nhưng ông đã cứu được mạng sống cho một người vô tội và đã kịp ngăn một vụ tai tiếng lớn có thể làm tiêu tan danh tiếng của tôi trong Sở Cảnh sát Scotland Yard.

    Holmes mỉm cười, vỗ vai Lestrade:

    - Thay vì tiêu tan danh tiếng, tên tuổi ông bạn quý của tôi sẽ càng thêm lẫy lừng. Chỉ cần sửa đổi chút ít trong bản báo cáo mà ông đang viết và mọi người sẽ hiểu, với thanh tra Lestrade, đừng có dại mà "đánh trống qua cửa nhà sấm".

    - Ông không muốn được nêu tên sao?

    - Không cần, bản thân công việc này đối với tôi đã là một phần thưởng quý giá rồi. Có thể một ngày nào đó sau này, tôi sẽ lấy lại sự vẻ vang của mình khi cho phép ai đó viết dùm hồi ký. Watson này, chúng ta đến xem cái hang của con chuột này đi!

    Một bức vách ngăn đan bằng nan và trát thạch cao được bố trí trên 2m chiều dài cuối hành lang, với một cánh cửa được che giấu khéo léo. Ánh sáng lọt vào đó qua khe hở của các nan. Bên trong là vài ba món đồ, thức ăn, nước uống, cùng vài sổ sách, tài liệu.

    - Là một nhà thầu xây dựng có lợi thế đấy. - Holmes chỉ vào đó giải thích - Lão ta tự tạo cho mình chỗ ẩn náu nhỏ bé này mà chẳng cần người nào giúp, trừ cái mụ hầu già quý hóa mà tôi sẽ mau chóng bắt giữ nếu tôi là ông, Lestrade ạ!

    - Tôi sẽ nghe theo lời khuyên của ông. Nhưng làm thế nào mà ông tìm ra chỗ này, ông Holmes?

    - Tôi có thể khẳng định rằng, lão già quỷ quyệt này chỉ có thể trốn đâu đó trong nhà thôi. Khi tôi sải bước ở hành lang trên cùng, tôi đã khám phá ra nó ngắn hơn dãy hành lang phía dưới đến 2m. Thế là đã rõ hắn ở đâu. Tôi nghĩ, hắn chẳng có gan nằm yên đó nếu cháy nhà. Đương nhiên chúng ta có thể vào đây tóm cổ hắn, nhưng tôi muốn hắn tự thò mặt ra. Hơn nữa, tôi cũng muốn bóc mẽ ông một chút, vì hồi nãy ông đã chế nhạo tôi.

    - Thì ông đã trả đũa rồi đấy thôi. Nhưng làm thế nào mà ông biết được con quỷ ấy vẫn còn trong nhà chứ?

    - Nhờ dấu vân tay ấy, Lestrade ạ! Ông đã nói nó là bằng chứng quyết định, đúng vậy, nhưng nó quyết định chiều hướng hoàn toàn ngược lại! Tôi biết, ngày hôm kia, trên tường hoàn toàn không có cái dấu vân tay ấy. Ông cũng biết tôi rất hay chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt mà. Nhưng tôi đã xem xét kỹ lưỡng cả đại sảnh, và tôi nhớ chắc chắn rằng trên tường hoàn toàn không có dấu vết gì. Thế nên, dứt khoát ai đó đã in nó lên tường đêm qua.

    - Nhưng bằng cách nào?

    - Rất đơn giản. Khi niêm phong các túi tài liệu lại, Jonas Oldacre đã đề nghị McFarlane ấn ngón cái lên sáp mềm để tạo một dấu niêm phong. Mọi việc đã diễn ra chóng vánh và tự nhiên, nên tôi dám chắc chàng trai chẳng còn nhớ gì về chuyện đó. Ngay cả Oldacre cũng chẳng để ý rằng sẽ có lúc sử dụng đến cái dấu tay ấy. Nhưng khi ngồi trong "hang" nghiền ngẫm lại vụ việc, hắn chợt ngộ ra rằng cái dấu tay ấy sẽ là một bằng chứng vô cùng tai hại cho McFarlane. Sao lại dấu tay trên xi, bôi máu vào, rồi in lên tường, đối với hắn chỉ là trò trẻ con. Tự hắn đã làm việc này, hoặc có thể sai mụ hầu già. Nếu ông kiểm tra những giấy tờ tài liệu hắn mang theo vào trong "hang", bảo đảm ông sẽ thấy cái dấu niêm phong có in vết lăn tay trên đó.

    - Tuyệt quá! - Lestrade reo lên - Thật tuyệt! Thế là đã rõ rành rành. Nhưng còn mục tiêu của vụ lừa đảo này là gì vậy, ông Holmes?

    Tôi cố bấm bụng giấu một nụ cười khi thấy vẻ tự mãn xấc xược của viên thanh tra đột nhiên chuyển thành thái độ cung kính của một cậu học trò.

    - Tôi nghĩ không khó giải thích lắm. Lão già này là một kẻ độc ác, thâm hiểm và lắm mưu mô. Ông có biết ngày trước hắn bị mẹ của McFarlane từ chối không? Chắc là không rồi! Tôi đã chả bảo ông, lẽ ra hãy đến Blackheath trước, rồi mới đến Norwood. Hắn hết sức tức tối khi lời hứa hôn bị huỷ bỏ và suốt bao năm qua, hắn không hề quên được sự xúc phạm đó. Lúc nào hắn cũng muốn trả thù bà mẹ McFarlane mà chưa tìm được cơ hội thích hợp. Một, hai năm trở lại đây, công việc kinh doanh của hắn không được thuận lợi. Tôi nghĩ hắn đầu cơ bí mật gì đó và lâm vào tình trạng tồi tệ. Hắn nảy ra ý định quỵt nợ, và bắt đầu viết những chi phiếu có giá trị lớn cho một ông Cornelius nào đó. Tôi đoán, đây chỉ là một cái tên giả của chính hắn thôi. Tôi chưa lần tìm đầu mối của mấy chi phiếu này, nhưng tôi dám chắc chúng được chuyển khoản đến một tỉnh lẻ nào đó cho cái tên này. Và Oldacre cứ thỉnh thoảng lại đến sống ở đó với một cái tên khác. Hắn định thay tên đổi họ, rút hết tiền và bỏ trốn, đến sống ở một nơi xa lạ.

    - Rất có lý đấy. - Lestrade gật đầu tán thành.

    - Hắn nghĩ rằng, chỉ có giả bộ mất tích thì mới rũ bỏ được các chủ nợ đang bám theo hắn đòi tiền, đồng thời lại có thể trả thù người yêu cũ, bằng cách dàn cảnh bị con trai bà ấy giết… Quả là một màn kịch độc ác quá hoàn hảo. Hắn đã dàn dựng vở kịch đạt trình độ bậc thầy: nào là bản chúc thư minh chứng cho động cơ phạm tội; một chuyến viếng thăm bí mật, ngay cả cha mẹ chàng trai cũng không được biết; rồi cái can bỏ quên của chàng trai tội nghiệp; vết máu trên tường; những mẩu xương người đã cháy thành than và cả mấy cái khuy trong đám cháy nữa chứ. Mưu mô thật hoàn hảo. Tất cả ken dày như những mắt lưới, mà mới chỉ vài giờ đồng hồ trước, ngay cả tôi cũng thấy vô vọng, không tìm ra lối thoát. Nhưng hắn thật không may, khi Thượng đế không phú cho hắn tài hoa nghệ sĩ: đó là biết điểm dừng. Hắn muốn bảo đảm rằng kế hoạch này hoàn hảo, muốn siết chặt sợi dây thòng lọng quanh cổ chàng trai. Thế là, hắn tự xây nên rồi lại tự phá bỏ hết đi. Lestrade này, xuống nhà đi! Tôi muốn hỏi hắn thêm mấy câu.

    Tên vô lại vẫn đang ngồi trong phòng khách nhà hắn với hai viên cảnh sát kèm hai bên.

    - Thưa ngài, tôi đùa, chỉ đùa thôi mà; không có ý gì hơn. - Hắn rên rỉ - Tôi xin thề, tôi chỉ định trốn đi một thời gian để xem người ta nghĩ gì về tôi. Tôi chắc rằng các ngài không bất công đến mức cho rằng tôi định hại cậu McFarlane thông minh tội nghiệp đó chứ?

    - Việc ấy đã có bồi thẩm đoàn quyết định. - Lestrade nói - Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng phải bắt giữ ông vì tội âm mưu hãm hại người khác, nếu không muốn nói là âm mưu giết người.

    - Và chắc chắn là ông sẽ được biết các chủ nợ của ông sẽ tịch biên tài khoản trong ngân hàng của ông Cornelius. - Holmes đế thêm vào.

    Lão già giật mình và hướng ánh mắt nảy lửa dữ tợn về phía bạn tôi.

    - Một ngày nào đó tôi sẽ trả món nợ này. - Hắn gầm lên như một con thú dữ.

    Holmes nở một nụ cười khoan dung:

    - Tôi nghĩ, vài năm tới ông sẽ bận rộn lắm đấy. Nhân tiện cho hỏi, ông vứt gì vào đống gỗ cùng với cái quần cũ của ông đấy? Một con chó chết, mấy con thỏ, hay con gì khác? Ông không nói à? Ôi! Ông thật chẳng dễ chịu chút nào! Tôi dám chắc là ông đã giết vài con thỏ để lấy máu, và sau đó ném chúng vào lửa. Watson, nếu anh có viết bản tường trình, cứ ghi là "thỏ" nhé!

    Rồi cả hai bước nhanh ra ngoài với dáng vẻ vô cùng thanh thản. Họ tới gặp chàng trai bất hạnh Mc Farlanne đón anh ta trở về.


     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Nơi Gió Cát

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646383]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502204]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639436]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471018]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340386]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600274]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689471]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490783]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300095]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010176]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972321]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469891]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445481]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150518]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078425]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062489]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028648]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026281]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959337]
    25.Quỷ Bảo [921590]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907464]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876860]
    29.Hắc Nho [852024]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842901]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839986]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755920]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744904]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622350]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569275]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536741]
    41.Tầm Tần Ký [511894]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455931]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450743]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439763]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433959]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417105]
    49.If You Are Here [411807]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408042]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm