hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Arthur Conan Doyle » Những Vụ Kỳ Án Của Sherlock Holmes[1275] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   5.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Arthur Conan Doyle

    Những Vụ Kỳ Án Của Sherlock Holmes



    MỤC LỤC 


     

    SÁT THỦ "BỜM SƯ TỬ"

    Có một vụ án kỳ lạ, khó giải quyết, nên sau khi tôi nghỉ làm rồi mà họ vẫn tìm đến chỗ tôi. Sự việc xảy ra sau khi tôi đã về ở ẩn tại một biệt thự nhỏ tại Sussex. Lúc ấy, tôi chỉ tập trung vào cuộc sống điền viên thanh thản của mình, đó chính là cuộc sống mà tôi khao khát ngay khi còn ở London. Từ khi tơi nghỉ làm đến nay, Watson hầu như biến mất khỏi cuộc sống của tôi. Chỉ thỉnh thoảng lắm, anh ấy có đến nghỉ cuối tuần, quan hệ của chúng tôi bây giờ cũng chỉ đến mức ấy. Do vậy, tôi phải tự ghi chép lại vụ án.

    Biệt thự của tôi nằm ở phía nam dãy núi Downs, mặt quay ra biển. Ở góc này, bờ biển toàn vách núi đá vôi trắng, muốn xuống biển chỉ có duy nhất một con đường khúc khuỷu, dài, trơn và rất dốc. Ở đầu kia con đường, dù là khi thủy triều lên, bãi biển cũng toàn đá, sỏi, kéo dài hàng trăm mét. Nhưng chỗ nào cũng có các vòng cong gấp tạo các hõm, hình thành một bãi tắm rất lý tưởng. Mỗi khi triều lên, những bãi tắm đó lại đầy nước. Trên suốt bãi biển kéo dài sang hai bên chừng vài dặm, chỉ có một vịnh nhỏ cắt ngang.

    Biệt thự của tôi đứng đó, lẻ loi. Tôi, người quản gia và đàn ong của tôi, đó là toàn bộ thành viên ở đây. Ngoài nửa dặm, có một trường học tư thục nổi tiếng của Harold Stackhurst. Đó là một ngôi trường lớn, dành cho những thanh niên tới học các nghề khác nhau, dưới sự dẫn dắt của những giáo viên giàu kinh nghiệm. Từ khi tôi tới sống ở đây, ông chủ ngôi trường và tôi có quan hệ rất tốt. Và đó cũng là người bạn duy nhất mà không cần phải mời, cứ tối tối lúc nào đến chơi cũng được.

    Khoảng cuối tháng 7 năm 1907, một trận bão lớn càn quét qua eo biển, nước biển dâng lên tận chân vách đá, sau khi rút đi còn để lại một hồ nước mặn lớn. Sáng sớm, gió thổi nhè nhẹ, bãi biển được thau rửa trông rất sạch sẽ. Tôi men theo con đường nhỏ đi dạo ra tận mép biển. Nghe đằng sau có tiếng gọi, hóa ra là Harold đang vẫy tay gọi tôi.

    - Một buổi sáng tuyệt vời, thưa ngài Sherlock Holmes!

    - Ông đi bơi phải không?

    - Ngài lại suy đoán rồi. - Ông ta cười, chỉ tay vào cái túi căng phồng - Đúng vậy, anh McPherson sáng sớm đã đi rồi, có thể tôi sẽ gặp anh ta tại đó.

    Fitzroy McPherson, giáo viên dạy các môn tự nhiên trong trường, là một thanh niên khỏe đẹp, nhưng sau khi mắc chứng phong thấp chuyển thành bệnh tim, anh ta gầy đi nhiều. Nhưng dù thế nào thì anh ta vẫn là một vận động viên bẩm sinh, rất xuất sắc trong các môn không đòi hỏi vận động quá căng thẳng. Đông hay hè, anh ta vẫn kiên trì đi bơi, do tôi cũng thích bơi nên thường gặp anh ta.

    Đúng lúc ấy, chúng tôi nhìn thấy anh ta. Đầu anh ta lộ ra ở mãi tít cuối con đường nhỏ. Rồi cả người anh ta hiện ra trên vách đá, lắc la lắc lư như say rượu. Đột nhiên anh ta giơ hai tay lên đầu, hét lên một tiếng thất thanh rồi ngã vật ra đằng trước. Hai chúng tôi hối hả chạy tới, đỡ anh ta dậy. Không xong rồi, đôi mắt đờ đẫn thất thần và hai gò má tái nhợt là điềm báo của cái chết đang đến gần. Anh ta mấp máy môi nói ra vài lời như muốn cảnh báo chúng tôi, nhưng tiếng đã không còn rõ nữa. Tuy nhiên qua cử động của môi, tôi ghép lại được chữ "Bờm sư tử". Nói xong hai câu đó, tay anh ta duỗi thẳng, người vật sang một bên và trút hơi thở cuối cùng! Anh ta chỉ mặc quần, khoác chiếc áo mưa, đi đôi giày vải chưa kịp buộc dây. Khi ngã xuống, chiếc áo mưa mà anh ta khoác rơi ra, để lộ ra cả thân hình.

    Chúng tôi rất ngạc nhiên: Lưng anh ta có rất nhiều vết hằn màu tím thẫm, cứ như bị ai đó dùng roi mảnh quất rất mạnh liên hồi vậy. Chiếc roi gây ra vết thương này hẳn phải rất đàn hồi, vì quanh phần vai và lườn anh ta đều đầy những vết sưng do chiếc roi dài. Khuôn mặt co giật đến biến dạng chứng tỏ anh ta đau đớn khủng khiếp. Bỗng có một bóng đen tiến đến, hóa ra là ông Ian Murdoch đã tới bên chúng tôi. Ông ta là giáo viên toán, người cao gầy, da ngăm đen, do trầm tính ít nói, cô độc, nên ít bạn bè. Hình như ông ta đang sống với thế giới của những con số, những đường tròn trừu tượng cao siêu của mình, chả liên quan gì đến cuộc sống bình thường cả. Ông ta bị học sinh coi là… quái vật. Điều đó không chỉ biểu hiện ở đôi mắt đen, màu da đen, mà thỉnh thoảng còn biểu hiện ngay cả ra ở tính khí lúc ông ta giận dữ nữa; có thể phải dùng hai chữ "điên cuồng" mới hình dung ra được. Có lần, ông ta bị con chó nhỏ của McPherson quấy nhiễu, ông ta đã tóm lấy đầu nó, quẳng ra ngoài cửa sổ. Nếu không vì ông ta là một giáo viên giỏi thì chắc đã sớm bị đuổi rồi. Con người phức tạp và kỳ quái ấy đến bên cạnh chúng tôi.

    - Ôi Chúa ơi! Chúa ơi! Tôi biết làm gì đây? Tôi giúp gì được chăng? - Ông ta bị sốc thực sự.

    - Vừa rồi ông có ở chỗ anh ta không? Ông có thể nói cho chúng tôi biết chuyện gì xảy ra chứ?

    - Không. Tôi không biết gì cả. Tôi phải làm gì bây giờ? - Ông hãy đến ngay đồn cảnh sát địa phương trình báo đi!

    Ông ta không nói gì, quay đầu đi như chạy. Tôi chủ động nhận làm vụ án này, còn Harold ở lại với người chết. Theo bản năng, việc đầu tiên là tôi ghi lại có những ai đang ở bờ biển. Từ cuối con đường nhỏ, tôi có thể bao quát cả dải bờ biển, chẳng thấy một ai; chỉ ở tít xa, có hai, ba bóng người đang đi về phía làng Fulworth. Tôi bước xuống con đường nhỏ thì thấy bước chân đi lên và đi xuống của cùng một người. Nhưng, sáng nay có thấy ai đi dọc theo con đường này ra biển đâu? Có chỗ tôi còn thấy dấu bàn tay mở rộng, ngón chĩa lên in lại trên vách đá. Điều này có thể cho thấy, anh chàng đáng thương kia đã từng ngã ở đây. Đoạn cuối con đường nhỏ là hồ nước mặn do thủy triều rút đi để lại. Cạnh đấy, McPherson đã từng thay quần áo, vì còn một chiếc khăn lông của anh ta sót lại trên tảng đá. Chiếc khăn gấp gọn gàng và còn khô; xem ra anh ta còn chưa xuống nước. Khi tôi tìm kiếm giữa những hòn đá trơ cứng đó, một đôi lần tôi phát hiện thấy cả vết giày vải lẫn vết chân trần của anh ta, chứng tỏ anh đang chuẩn bị xuống tắm.

    Vụ này rõ ràng cần được làm sáng tỏ. Có thể nói, đó là một trong những vụ kỳ dị nhất mà tôi gặp trong đời. Đương sự chỉ vừa tới bờ biển trong mười lăm phút. Harold đã theo anh ta từ trường học, điều này không cần nghi ngờ gì cả. Anh ta đi tắm, quần áo đã cởi ra rồi. Sau đó anh ta lại vội vã mặc vào, quần còn xộc xệch, cúc chưa cài, có thể anh chưa xuống nước, hoặc ít nhất là chưa kịp lau khô người đã quay về ngay. Nguyên nhân khiến anh ta đổi ý là do anh bị đánh bằng roi rất tàn tệ, đau đớn đến mức phải mím chặt môi lại, còn chút sức lực cố bò ra khỏi nơi đó rồi chết. Kẻ nào làm cái việc độc ác như vậy? Dưới chân vách đá còn có một số hang động nhỏ, nhưng bị ánh mặt trời chiếu vào nên không có chỗ ẩn nấp. Phía xa còn mấy bóng người nữa, nhưng họ ở rất xa, chắc không liên quan gì tới vụ án được. Trên biển cũng có vài chiếc thuyền, song cách khá xa; nếu có thời gian có thể hỏi han những người trên thuyền. Trước mắt đã thấy mấy manh mối để điều tra, nhưng quả thực là chẳng có gì rõ ràng cả.

    Khi tôi quay trở lại bên người chết thì thấy mấy người đứng ngó xem. Đương nhiên Harold vẫn ở đó. Murdoch đã mời cảnh sát Anderson đến. Anh ta có dáng cao to, chậm chạp, nhưng khỏe mạnh, mang đậm dòng máu Sussex. Anh ta im lặng lắng nghe, rồi ghi lại những ý chính mà chúng tôi nói. Cuối cùng, anh ta kéo riêng tôi ra một chỗ, thì thầm:

    - Thưa ngài Sherlock Holmes, tôi xin ngài chỉ giáo cho. Với tôi, đây là một vụ án lớn, nếu mắc để sai sót, cấp trên sẽ khiển trách tôi.

    Tôi nói hãy mời cấp trên của anh ta tới, ngoài ra cần mời một bác sĩ, trước khi họ đến không được di chuyển bất cứ thứ gì ở hiện trường. Trong khi chờ đợi, tôi kiểm tra túi áo của người chết. Trong đó có một chiếc khăn tay, một cái kẹp đựng danh thiếp kiểu gấp lại, lộ ra một góc tờ giấy. Tôi lấy tờ giấy, giao cho cảnh sát. Nét chữ trên đó là của một phụ nữ, viết nguệch ngoạc: "Em nhất định sẽ đến! Mong anh yên tâm. Maudie".

    Xem ra có vẻ đây là cuộc hò hẹn của đôi tình nhân. Nhưng, thời gian và địa điểm lại không cụ thể. Viên cảnh sát để tờ giấy vào lại chỗ cũ và cho cả các thứ khác vào trong túi áo choàng. Vì không có tiến triển gì thêm, tôi đề nghị họ kiểm tra kỹ dưới chân vách đá, rồi quay về nhà ăn sáng.

    Hai giờ sau, Harold đến nói với tôi, thi thể đã được chuyển về Gables để khám nghiệm. Ông ta còn mang tới một số tin tức rất quan trọng và chính xác đúng như dự đoán của tôi. Còn dưới chân vách đá, không phát hiện được thêm gì cả. Nhưng khi họ kiểm tra bàn làm việc của McPherson thì đã phát hiện ra vài bức thư có quan hệ rất mật thiết. Người gửi thư chính là tiểu thư Maud Bellamy ở làng Fulworth. Ông ấy giải thích:

    - Thư đã được cảnh sát mang đi. Nhưng tôi không biết nó có liên quan gì đến tai họa kia không, trừ chuyện cô gái đó có hẹn gặp anh ta.

    - Nhưng, chắc không thể là ở chỗ mà mọi người thường đến bơi chứ?

    - Hôm nay, ngẫu nhiên mấy học sinh lại không đi bơi cùng anh ta. Murdoch giữ họ lại. - Harold chau mày - Ông ta kiên trì theo đuổi việc giảng giờ đại số trước buổi ăn sáng. Ông ta có vẻ rất đau buồn vì chuyện xảy ra hôm nay.

    - Nhưng tôi nghe nói họ không hợp nhau.

    - Có một dạo thế thật. Nhưng một năm nay, có thể nói hai người lại rất gần gũi nhau. Tính cách của họ thì quả không hợp nhau lắm.

    - Hóa ra là vậy. Tôi nhớ mang máng hình như ông đã nói với tôi, có lần do việc xử tệ với con chó mà họ đã cãi nhau.

    - Việc đó lâu rồi.

    - Nhưng có thể để lại chút oán hận nào đó?

    - Không thể! Tôi tin họ là bạn bè thật sự.

    - Vậy được rồi. Chúng ta phải cùng đi điều tra tình hình của cô gái. Ông có quen cô ta không?

    - Cô ấy là cô gái đẹp, hoa khôi thực sự ở đây; đi tới đâu cô ấy cũng thu hút sự chú ý của mọi người. Tôi biết McPherson đang theo đuổi cô ấy, nhưng không ngờ đã phát triển tới mức như trong thư.

    - Cô ấy là người thế nào?

    - Cô ấy là con gái của Tom Bellamy. Ông ta sở hữu toàn bộ các xe tắm và tàu thuyền của Fulworth. Trước kia ông ấy chỉ là người đánh cá, nhưng giờ thì đã khác. Ông ấy và con trai William cùng kinh doanh, buôn bán.

    - Chúng ta có cần đến thăm họ một chút không?

    - Lấy cớ gì được nhỉ?

    - Cớ thì dễ tìm ra thôi. Người chết chẳng phải bị đối xử tàn bạo đến tận lúc chết đó ư? Nhất định là có kẻ dùng roi, nếu quả thực những vết thương trên người anh ta là do bị roi đánh. Ở nơi hẻo lánh này, số người anh ta giao du có hạn. Lần theo con đường này, chúng ta có thể phát hiện ra một động cơ nào đó, từ động cơ, chắc chắn có thể tìm ra được hung thủ.

    Ngôi làng cổ này nằm trên một vùng đất hình bán nguyệt, quanh bờ vịnh. Phía sau làng, có mấy công trình kiến trúc hiện đại mọc lên, dựa vào sườn đồi. Harold dẫn tôi vào một ngôi nhà như vậy.

    - Đây chính là biệt thự Haven mà Bellamy gọi là "Sơn trang cảng biển", một ngôi biệt thự bằng đá xanh và có ngọn tháp bên góc. Với một người từ tay trắng đi lên thì quả là không tệ chút nào. - Ông ta bình luận.

    Cửa vườn đang mở, một người từ trong đi ra. Dáng người cao gầy, hơi còng, không phải ai khác mà chính là thầy giáo dạy toán Murdoch. Một lúc sau, chúng tôi gặp nhau ở giữa đường.

    - Xin chào! - Harold gọi ông ta. Ông ta cũng gật đầu, liếc nhìn chúng tôi rồi bước nhanh đi. Nhưng ông hiệu trưởng kéo tay ông ta lại hỏi giọng gay gắt:

    - Ông lên đó làm gì vậy?

    - Thưa ông, trong trường, tôi là cấp dưới của ông, nhưng tôi không hiểu tôi có nghĩa vụ gì mà phải báo cáo mọi việc làm của cá nhân tôi cho ông biết. - Ông ta mặt đỏ lự, nổi cáu cự lại.

    - Ông nói vậy là hơi quá đấy.

    - Câu hỏi của chính ông cũng không lịch sự chút nào cả!

    - Ông luôn có biểu hiện phóng túng vô lễ như vậy, tôi không thể chịu đựng được nữa. Mời ông nhanh chóng đi tìm nơi khác! - Ông hiệu trưởng sôi tiết nói to.

    - Tôi cũng định thế từ lâu. Hôm nay, tôi đã mất đi người duy nhất khiến tôi còn muốn ở lại trường của ông.

    Nói xong, ông ta sải chân bước nhanh. Ông hiệu trưởng tức giận nhìn theo hét lên:

    - Ngài đã thấy hạng người chả ra gì thế này bao giờ chưa?

    Lúc ấy, trong óc tôi đã bắt đầu nảy sinh mối hoài nghi mơ hồ, hình như Murdoch đã vớ được cơ hội đầu tiên để mở ra một lối thoát tội. Có thể chuyến viếng thăm nhà ông Bellamy sẽ làm cho vấn đề sáng tỏ ra thêm. Ông hiệu trưởng cố kìm nén, hai chúng tôi cùng bước vào nhà ông Bellamy.

    Bellamy là người đàn ông trung niên, có bộ râu hung hung đỏ, ông ta hình như cũng đang nổi cơn tam bành:

    - Thưa ngài, không, tôi không muốn biết các chi tiết. - Ông ta chỉ vào một anh chàng khỏe mạnh nhưng nét mặt sa sầm, đang ngồi ở góc nhà - Con tôi và tôi đều cho rằng McPherson theo đuổi Maudie là một sự nhục nhã. Anh ta chưa bao giờ nhắc tới chuyện kết hôn, nhưng thư từ và hẹn hò thì nhiều lắm. Còn có nhiều việc mà chúng tôi đều không tán thành. Con gái tôi mất mẹ, chúng tôi là người bảo vệ nó, chúng tôi quyết…

    Cô gái bước vào, ông ta không nói gì nữa. Phải thừa nhận rằng, cô ấy đi đến đâu là mang lại sự rạng rỡ đến đó. Ai có thể tưởng tượng được, một bông hoa kiều diễm như vậy lại sinh ra trong một gia đình và trong hoàn cảnh như thế này. Tôi tin, bất kỳ chàng trai nào cũng có thể bị cô gái này chinh phục. Cô gái đẩy cửa bước vào, mở to đôi mắt sâu thẳm đầy căng thẳng đứng ngay trước mặt ông hiệu trưởng.

    - Tôi đã biết tin anh McPherson chết rồi. - Cô gái nói - Xin chớ lo lắng, hãy kể tỉ mỉ cho tôi nghe với!

    - Không cần phải lôi em gái tôi vào chuyện đó. - Chàng trai đang ngồi ở góc nhà gầm lên.

    Cô em trừng mắt nhìn anh, đe:

    - Đó là việc của em, William ạ! Xin anh để em xử lý theo cách của em. Nếu em có thể giúp tìm ra tội phạm, thì cũng là chút thành ý nhỏ nhoi đối với người đã khuất.

    Cô nghe hai chúng tôi kể vắn tắt lại tình hình. Sự trầm tĩnh và chăm chú cao độ của cô khiến tôi cảm thấy cô không chỉ xinh đẹp mà tính cách còn rất cứng rắn nữa. Xem ra, cô đã biết tiếng tôi từ trước, bởi cuối cùng cô nói:

    - Thưa ngài Sherlock Holmes, mong ngài tìm ra hung thủ để trừng trị theo pháp luật! Dù chúng là ai, ngài cũng luôn nhận được sự hợp tác của tôi. - Cô vừa nói vừa nhìn cha và anh trai, vẻ thách thức.

    Tôi đáp:

    - Cám ơn cô! Tôi rất coi trọng trực giác của phụ nữ đối với những việc như thế này. Cô vừa nói "chúng", như vậy là cô khẳng định, không chỉ có một người liên quan đến vụ này phải không?

    - Vì tôi rất hiểu anh McPherson. Anh ấy là người dũng cảm và mạnh mẽ, nếu chỉ có một người thì không thể đối phó với anh ấy được!

    - Tôi vốn định nói chuyện riêng với cô, nhưng xem ra cha cô chắc không cho phép. - Rồi tôi nói tới mảnh giấy hẹn trong túi của anh ta: - Về mảnh giấy ấy, cô có thể giải thích một chút không?

    - Điều ấy chẳng có gì bí mật cả. - Cô đáp - Chúng tôi hẹn nhau để đính hôn. Sở dĩ chúng tôi không tuyên bố chỉ là do ông chú già đã dọa hủy bỏ quyền thừa kế của anh ấy nếu anh ấy không kết hôn theo như nguyện vọng của ông ta.

    - Lẽ ra con phải nói sớm cho chúng ta biết chứ! - Ông Bellamy gào lên.

    - Cha à, nếu cha đồng ý thì con đã sớm nói cho cha biết rồi!

    - Ta không tán thành con gái giao du với kẻ có địa vị xã hội không tương xứng.

    - Chính vì cái nhìn phiến diện của cha, nên chúng con không thể nói cho cha biết. Còn về lần hẹn hò ấy, - Cô lấy trong túi áo ra một mảnh giấy nhàu nát - đây là thư trả lời anh ấy viết:

    "Em thân yêu!

    Như thường lệ, khi mặt trời lặn, em hãy gặp anh ở chỗ cũ bên bờ biển! Đó là quãng thời gian duy nhất anh có thể đi được.

    F.M"

    - Hôm nay là thứ ba. Tôi định tối nay sẽ gặp anh ấy.

    - Thư không gửi qua bưu điện, vậy cô làm sao nhận được nó?

    - Xin ngài cho phép tôi không phải trả lời câu hỏi này, vì thực ra nó chẳng có liên quan đến việc điều tra của ngài. Tôi đảm bảo, mọi việc có liên quan, tôi đều sẽ trả lời đầy đủ.

    Cô ấy làm thế thật, nhưng chả có gì hữu ích thêm nữa. Cô ấy không cho rằng vị hôn phu của cô có kẻ thù ngầm, nhưng lại thừa nhận, chính cô có vài người theo đuổi rất cuồng nhiệt.

    - Xin được hỏi cô, ông Murdoch là một người trong số họ phải không?

    Cô đỏ mặt và tỏ ra hốt hoảng:

    - Đã từng có thời gian tôi cho rằng đúng là như vậy. Nhưng sau khi biết quan hệ giữa McPherson và tôi thì tình hình thay đổi rồi.

    Nỗi nghi ngờ về con người cổ quái kia càng được khẳng định thêm. Nhất thiết phải điều tra ông ta, phải kiểm tra phòng riêng của ông ta mới được. Ông hiệu trưởng cũng tỏ ý muốn giúp tôi, vì bản thân ông cũng rất nghi ngờ. Rồi chúng tôi rời biệt thự Haven với hy vọng đã nắm được một đầu của đoạn chỉ rối đó.

    Một tuần nữa lại trôi qua. Cuộc điều tra vẫn giẫm chân tại chỗ. Giám định tử thi không phát hiện ra manh mối gì, đành phải gác lại để tìm chứng cứ khác. Ông hiệu trưởng cũng kín đáo điều tra thầy giáo dạy toán Murdoch, nhưng không thu được kết quả. Tôi cũng kiểm tra tỉ mỉ lại hiện trường lần nữa mà chẳng có gì mới. Chưa có vụ án nào khiến tôi cảm thấy bất lực như vụ này, tôi không đưa ra được phán đoán khả dĩ nào. Sau đó đã xảy ra vụ việc về một con chó.

    - Thưa ngài, có tin xấu về con chó của McPherson.

    Một buổi tối, người quản gia của tôi đột nhiên nói sau khi thu thập được những tin tức từ kênh riêng của bà ta.

    - Con chó ấy làm sao?

    - Chết rồi! Nó chết vì thương chủ nó.

    - Ai nói với bà như vậy?

    - Mọi người đều đang nói về chuyện này. Con chó ấy cả tuần không ăn uống gì. Hôm nay, hai học sinh trong trường đã phát hiện ra nó chết ở bãi biển, đúng chỗ chủ nó đã chết.

    - Chính ở chỗ ấy ư?

    Trong óc tôi lóe lên một cảm giác mơ hồ - đó dứt khoát là chuyện lớn rồi đây! Chó chết, như vậy cũng là hợp với bản tính trung thành và thân thiện của loài chó. Nhưng sao lại ở đúng chỗ đó? Vì sao một bãi biển hoang vu lại nguy hiểm đối với cả một con chó? Lẽ nào nó cũng phải chết bởi kẻ hận thù kia? Đúng vậy, cảm giác còn rất mơ hồ, nhưng đã dần hình thành trong óc tôi một cách suy nghĩ mới. Vài phút sau, tôi đi thẳng vào trường học, tìm thấy ông hiệu trưởng Harold ở trong phòng làm việc. Theo yêu cầu của tôi, ông cho gọi hai học sinh đã phát hiện ra con chó chết đến.

    - Đúng vậy! Con chó nằm chết trên bờ hồ nước ấy. - Một cậu học sinh khẳng định - Hẳn là nó đi tìm dấu chân của chủ nó.

    Tôi nhìn con chó trung thành đang nằm trên chiếc thảm để ở giữa sân. Người nó cứng đờ, hai mắt lồi ra, bốn chân co rúm lại, biểu hiện sự đau đớn cực độ.

    Sau đó, tôi đi ra chỗ hồ bơi. Mặt trời đã xuống núi, những vách đá vôi ngả bóng đen sì, phủ kín mặt hồ, khiến mặt nước xám xịt. Nơi này thật lạnh lẽo, chỉ có hai con chim đang bay trên trời, vừa bay vừa cất tiếng kêu. Trong ánh nắng chiều yếu ớt, tôi nhận ra dấu chân con chó nhỏ còn in trên cát, xung quanh hòn đá nơi chủ nó để chiếc khăn. Tôi đứng đó suy nghĩ rất lâu, trong lúc bóng đêm càng lúc càng dày thêm. Trong đầu tôi, những ý tưởng đang cuồn cuộn chảy. Rõ ràng tôi muốn tìm kiếm cái gì đó rất quan trọng và tôi biết nó đang ở đâu đây, mặc dù không sao tìm ra được gì. Đó là cảm giác của tôi khi đứng ở một nơi đầy tử khí này. Cuối cùng, tôi đành quay trở về nhà.

    Đi hết con đường mòn, đột nhiên, một ý tưởng lóe lên trong đầu tôi như ánh chớp, tôi nhớ ngay ra một điều quan trọng mà tôi đã khổ sở tìm kiếm suốt bao lâu. Trong đầu tôi chứa đựng cả một khối tri thức mới, tuy không theo trật tự nào nhưng lại rất cần thiết cho công việc của mình. Óc tôi như một gian kho chứa, trong đó có rất nhiều túi, khiến ngay cả tôi cũng chỉ có khái niệm mơ hồ về chúng. Tôi luôn nghĩ, trong đó ắt có thứ rất quan trọng đối với vụ án, dẫu nó vẫn chỉ lờ mờ thoắt ẩn thoắt hiện. Nhưng tôi biết mình sẽ có cách làm nó hiện rõ ra. Rất kỳ bí và thật khó tin, nhưng lại luôn có thể. Tôi cần phải kiểm chứng về điều này.

    Trong nhà tôi có một căn gác xép chứa đầy sách vở. Tôi quay về và leo ngay lên đó, lục lọi cả giờ đồng hồ. Sau cùng, tôi cầm một cuốn sách có bìa màu cà phê, chữ in nhũ rồi đi ra. Tôi vội vã lật giở tới chương mà tôi nhớ. Đây đúng là một giả thuyết có phần không tưởng, nhưng tôi không thể không làm rõ khả năng đó, vì nếu không tôi sẽ không thể nào yên tâm được. Tôi ngủ rất muộn và nôn nóng chờ sự việc sẽ diễn ra vào ngày mai.

    Thế nhưng công việc lại gặp một số trở ngại khá rắc rối. Tôi vừa vội vàng uống xong tách trà buổi sáng, định ra bãi biển thì viên cảnh sát Bardle ở Sở Cảnh sát tới - một người đàn ông rắn rỏi, đứng đắn nhưng hơi đần độn. Anh ta có vẻ lúng túng đề nghị với tôi:

    - Hôm nay, tôi đến đây chỉ là thăm viếng không chính thức và cũng không muốn nói nhiều. Nhưng thực sự là chúng tôi không có cách gì giải quyết vụ án này. Vấn đề là, liệu tôi có nên bắt ông ta?

    - Anh định nói là bắt Murdoch phải không?

    - Đúng. Nghĩ đi nghĩ lại, thực sự chẳng còn ai khác. Chúng tôi đã khoanh vùng rất hẹp các nghi can rồi, nếu không phải ông ta thì là ai?

    - Anh có chứng cớ gì để buộc tội ông ta không?

    Quá trình thu thập chứng cứ của anh ta giống với những giả thuyết vốn đeo bám tôi. Trước tiên là tính cách ngang ngạnh và những bí mật xung quanh Murdoch. Sự nóng giận bột phát biểu hiện ra khi ông ta quẳng con chó qua cửa sổ. Thêm nữa, trước đây ông ta đã cãi cọ với McPherson, và còn có thể căm hận vì anh ta theo đuổi tiểu thư nhà ông Bellamy nữa… Anh ta nắm chắc tất cả những vấn đề quan trọng nhưng chẳng có gì mới, trừ một điểm đó là Murdoch hình như đang chuẩn bị rời khỏi nơi này.

    - Đã có tất cả những chứng cứ bất lợi đối với ông ta như vậy, mà nếu để ông ta đi thì tôi sẽ rơi vào tình cảnh thế nào đây?

    - Giả thiết của anh có những lỗ hổng rất lớn. - Tôi phân tích - Sáng hôm xảy ra sự việc, ông ta có thể đưa ra những chứng cứ ngoại phạm. Ông ta đang giảng toán cho học sinh tới phút chót. Ngoài ra chớ quên rằng, ông ta không thể một chọi một với một người rất khỏe như McPherson để hành hung được. Cuối cùng là vấn đề hung khí dùng để ra tay nữa.

    - Ngoài loại roi mềm ra thì còn có thể là gì khác?

    - Anh đã khám nghiệm kỹ các vết thương chưa?

    - Tôi đã xem xét rồi, bác sĩ pháp y cũng đã khám nghiệm rất kỹ.

    - Nhưng tôi đã dùng kính lúp để quan sát thật kỹ lại, thấy chúng có những điểm rất khác biệt. - Tôi đến bàn lấy ra một bức ảnh phóng to - Đây là phương pháp mà tôi dùng để xử lý các vụ án loại này.

    - Thưa ngài, ngài làm việc quả là rất hoàn hảo.

    - Nếu không thì tôi đã không thành thám tử! Thôi, chúng ta hãy cùng xem kỹ các vết thương quanh vai phải nhé. Anh xem có gì đặc biệt nào?

    - Không, tôi không thấy gì cả.

    - Rõ ràng là độ sâu của vết thương không đều nhau. Đây là điểm có rỉ máu, kia là điểm không rỉ máu. Vết thương ở đây cũng vậy. Anh nói xem, thế là thế nào?

    - Tôi nghĩ chẳng ra! Còn ngài?

    - Có thể tôi biết mà cũng có thể không. Không lâu nữa, tôi nghĩ sẽ đưa ra đáp án chính xác. Một khi mô tả được dụng cụ gây ra vết thương, thì sẽ tìm được ra hung thủ ngay.

    - Tôi có một ví dụ hơi thô thiển. - Viên cảnh sát gợi ý - Nếu đặt một tấm lưới bị nung đỏ lên lưng thì điểm gây chảy máu sẽ là các nút giao nhau của các sợi dây đan lưới…

    - Hoặc chúng ta có thể nói một cách xác đáng hơn, đó là một loại roi gồm chín sợi bằng da, trên đó có rất nhiều những nút rắn chắc chăng?

    - Quá đúng! Ngài Sherlock Holmes, ngài nói rất đúng!

    - Nhưng cũng có thể không hoàn toàn như vậy. Dù gì đi nữa, hoàn toàn chưa đủ chứng cứ để bắt người. Ngoài ra, còn câu nói của nạn nhân trước khi tắt thở: "Bờm sư tử" nữa chứ.

    - Tôi đã cố suy đoán, liệu có phải là Ian...?

    - Tôi cũng đã nghĩ tới, nhưng nghe thì không thấy giống chút nào! Tiếng nói của anh ta mà tai tôi ghi nhận, tôi khẳng định đó là từ "Bờm sư tử".

    - Ngài có giả thiết nào khác không, thưa ngài Sherlock Holmes?

    - Cũng có, nhưng tôi đang tìm cách kiểm chứng chắc chắn đã. Trước đó, tôi không muốn bàn tới.

    - Vậy khi nào thì có thể tìm được?

    - Sau một giờ nữa, mà có lẽ không đến một giờ đâu…

    Viên cảnh sát gãi gãi cằm, nhìn tôi bán tín bán nghi:

    - Tôi rất hy vọng hiểu được cách nghĩ trong đầu ngài, ngài Holmes ạ! Phải chăng là những chiếc thuyền cá kia?

    - Không đâu, lúc ấy chúng ở cách nơi xảy ra án mạng rất xa.

    - Vậy có phải là Bellamy và đứa con trai to lớn của ông ta chăng? Họ chẳng có chút cảm tình nào với nạn nhân cả.

    - Không. Trước khi chưa làm rõ, tôi sẽ không nói gì cả. - Tôi cười trừ - Thưa ngài cảnh sát, nếu 12 giờ trưa nay ngài tới chỗ tôi…

    Chúng tôi chuẩn bị chia tay thì có một sự việc hãi hùng xảy ra. Nhưng đó cũng chính là khởi điểm để kết thúc vụ án này.

    Cửa nhà tôi đột nhiên mở tung ra, Murdoch loạng choạng bước vào, mặt cắt không còn giọt máu, đầu tóc rối bù, áo quần xộc xệch, đôi tay dài gầy gò bám chặt lấy cái bàn, miễn cưỡng đứng lên:

    - Rượu brandy! Brandy! Mau mang đến đây!

    Ông ta thở hổn hển, nói xong thì khe khẽ rên lên, rồi ngã xuống chiếc ghế tràng kỷ.

    Tiếp sau đó, ông hiệu trưởng Harold cũng thở hổn hển chạy vào với bộ quần áo nhàu nhĩ như Murdoch và đầu cũng không đội mũ, vẻ mặt hốc hác.

    - Mau đem brandy ra đi! - Ông hiệu trưởng gào lên - Ông ta suýt chết. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ông ta tới đây. Ông ta đã ngất hai lần trên đường đi rồi…

    Sau khi uống nửa cốc rượu nóng, sự việc đã thay đổi một cách kỳ diệu. Murdoch chống một tay, nâng người lên, cởi bỏ áo ngoài:

    - Mau đem thuốc đến! Thuốc phiện, dầu thoa! - Ông ta hét toáng - Cái gì cũng được. Mau mau chấm dứt cơn đau vô hạn này đi cho tôi!

    Nhìn vết thương trên lưng Murdoch, chúng tôi cùng thốt lên những tiếng kêu hãi hùng. Trên vai ông ta toàn là những vết thương hình lưới sưng mọng ngang dọc, giống hệt những vết thương gây ra cái chết của McPherson.

    Sự đau đớn đó thật ghê sợ, bởi ông ta chốc chốc lại thở dốc, mặt tái mét, hai tay cào ngực, trán đẫm mồ hôi. Ông ta có thể chết bất cứ lúc nào. Mỗi lần cho uống rượu brandy là ông ta đều tỉnh lại. Lấy tăm bông chấm dầu cải bôi lên vết thương, có vẻ như làm dịu bớt sự đau đớn của những vết thương bí hiểm này. Cuối cùng, ông ta ngả đầu xuống gối, chút sức lực sót lại dường như bị dốc cạn làm ông ta nửa tỉnh nửa mê, nhưng ít ra cũng không cảm thấy đau đớn nữa. Chúng tôi không thể hỏi ông ta được điều gì.

    Một lát sau, ông hiệu trưởng Harold nói với tôi:

    - Lạy Chúa! Việc gì vậy, hả ngài Sherlock Holmes? Cuối cùng là chuyện gì vậy?

    - Ông phát hiện ra ông ta ở đâu?

    - Ngay trên bãi biển, ở chính nơi McPherson chết. Nếu tim ông ta cũng yếu như McPherson thì ông ta cũng chết lâu rồi! Trên đường, đã hai lần tôi ngỡ là ông ta… đi rồi.

    - Ông thấy ông ta trên bãi biển ư?

    - Khi tôi nghe thấy tiếng kêu của ông ta, tôi đang đi trên con đường nhỏ chỗ vách đá. Ông ta đứng ở mép nước, người lắc la lắc lư như say rượu. Tôi vội chạy tới khoác cho ông ta cái áo rồi đỡ ông ta dậy, dìu về đây. Vì Chúa, Sherlock Holmes, ngài hãy nhanh nhanh nghĩ ra cách gì đó để làm sáng tỏ vụ này đi! Không thể ở đây được nữa rồi! Lẽ nào một người tiếng tăm như ngài lại không có cách gì ư?

    - Tôi nghĩ là mình có cách đấy. Ông và cả ngài cảnh sát nữa, hãy đi với tôi! Hãy xem ta có bắt được hung thủ hay không.

    Để Murdoch cho bà quản gia chăm sóc, ba chúng tôi cùng tới cái đầm chết người kia, khăn và quần áo của Murdoch vẫn còn để cả đống trên hòn đá. Tôi từ từ đi quanh hồ, hai người bám sát sau tôi. Phần lớn cái đầm này rất nông, nhưng chỗ sâu nhất chừng năm thước lại ở ngay dưới mỏm đá nơi mà vách đá bờ biển lượn lõm vào khoảng 1-1,5m. Đây là nơi người ta thường tới bởi vì nước ở đây trong vắt như pha lê. Dưới vách núi là những hòn đá xếp thành dãy dài. Tôi đi dọc theo những mỏm đá, quan sát rất kỹ chỗ nước sâu. Chính ở nơi sâu nhất đó, tôi đã thấy cái mà tôi cần tìm. Tôi reo lên đắc thắng:

    - Sứa độc Cyanea! Cyanea! Mau lại đây xem "Bờm sư tử"!

    Quả thật con sứa độc này trông giống như một túm lông bờm của sư tử bị nhổ ra. Nó cuộn lại như một trái bóng nằm trên thềm đá ở sâu dưới mặt nước chừng 1m. Nó động đậy theo làn sóng, dưới đám lông màu vàng còn có rất nhiều tua màu trắng. Nó co vào, giãn ra một cách nặng nề và chậm chạp.

    - Con vật gây ra tội ác đây rồi, phải tiêu diệt nó đi thôi! - Tôi hét to - Mau đến giúp tôi một tay, Harold!

    Phía trên vách đá vừa may có một hòn đá rất to, chúng tôi cố sức đẩy nó xuống. "Ùm" một cái, nó đã bị lăn xuống nước. Sau khi sóng lặng, chúng tôi nhìn thấy hòn đá to ấy đang nằm đè lên trên một mỏm đá ở dưới đáy hồ, con sứa độc bị ép chặt bên dưới. Một lớp dầu đặc từ dưới đó chảy loang ra, dần dần nổi lên trên mặt nước.

    - Hừ! Chuyện này ngoài sức tưởng tượng của tôi, làm khó cho tôi mãi! - Viên cảnh sát cũng kêu lên - Thưa ngài Sherlock Holmes, đó là con gì vậy? Tôi chưa thấy nó bao giờ cả. Con vật này từ đâu tới chứ không có ở vùng Sussex này.

    - Không có nó càng tốt. - Tôi nói - Có lẽ cơn bão Tây Nam đã thổi nó dạt vào đây. Mời hai vị theo tôi về nhà, tôi sẽ đọc cho hai vị nghe câu chuyện hãi hùng của một người lần đầu tiên gặp nó, một tai ương khủng khiếp của biển cả.

    Trở về văn phòng, chúng tôi thấy Murdoch đã dần hồi phục và ngồi lên được. Ông ta vẫn thấy mắt hoa, đầu váng, thi thoảng vẫn bị co giật vì quá đau đớn. Ông ta lắp bắp nói mình chẳng hiểu việc gì đã xảy ra, chỉ thấy người lúc ấy đột nhiên đau đớn đến tận xương tủy vì bị các móc nhọn quất vào mình, phải cố hết sức mới leo lên bờ được.

    - Tôi có một cuốn sách. - Tôi giải thích - Lần đầu tiên nói rõ được một việc tưởng chừng không bao giờ làm rõ. Cuốn sách có tên là "Bên ngoài nhà", của một nhà nghiên cứu sinh vật nổi tiếng. Ông kể rằng có một lần ông đã gặp loài vật khủng khiếp ấy, độc tính của nó chẳng kém gì chất độc của loài rắn đeo kính, nhưng mức độ gây đau đớn còn lớn hơn rất nhiều. Vì vậy ông ta đã miêu tả tỉ mỉ về Cyanea Capillata, tên đầy đủ của con quái vật giết người này. Tôi xin trích đọc một đoạn:

    "Khi người bơi gặp phải một khối tròn, trơn mềm, màu hung, giống như đám lông bờm sư tử điểm bạc, thì phải hết sức cảnh giác, vì đó chính là loài sứa độc Cyanea Capillata".

    "Tác giả kể về việc chính ông đã một lần gặp loài vật này khi đi tắm trên biển Kent. Ông thấy nó tỏa ra những "cái vòi" dạng sợi trong suốt hầu như không nhìn thấy được, dài tới 5m. Tất cả những ai chạm vào nó đều gặp nguy hiểm chết người, dù là ở xa, chính ông cũng suýt mất mạng."

    "Những tua dạng sợi đó tạo ra những vết hằn đỏ trên da, nhìn kỹ thấy giống như ban đỏ, mỗi nốt ban giống như một mũi kim bị nung đỏ châm vào dây thần kinh".

    "Ông giải thích rằng, thậm chí một vết thương nhỏ nhất cũng gây đau đớn khủng khiếp, những đau đớn khó nói thành lời. "Đau lan ra cả vùng ngực, như bị đạn bắn vào. Tim đột nhiên ngừng đập, sau đó lại đập như điên loạn, cứ như chực nhảy ra khỏi lồng ngực vậy." Ông gần như đã chết, mặc dù chỉ chạm vào những vòi độc đó ở trong nước biển đang có sóng, chứ không phải ở trong đầm nước phẳng lặng. Ông nói, sau khi bị trúng độc, ông không nhận ra mặt mình nữa: sắc mặt nhợt nhạt, nhăn nhúm khác thường, chẳng ra hình dạng gì cả. Ông ấy vội tu cả chai rượu brandy và có lẽ vì vậy mà thoát chết".

    Quay sang ông thanh tra, tôi nói:

    - Anh hãy cầm tạm cuốn sách này, trong đó đã miêu tả đầy đủ tấn bi kịch của McPherson rồi.

    - Đồng thời, nó cũng xóa sạch những nghi ngờ đối với tôi. - Murdoch nói xen vào, khuôn mặt tuy vô cùng đau đớn nhưng vẫn để lộ nụ cười châm biếm - Thưa ngài cảnh sát, tôi không trách ngài, cũng không trách ngài Holmes đây, bởi sự nghi ngờ của các vị là hoàn toàn có thể hiểu được…

    - Không đúng, thưa ông Murdoch. Tôi đã bắt tay vào phá vụ án này rồi. Nếu tôi ra bờ biển sớm hơn một chút, theo kế hoạch đã định, thì có thể đã tránh được tai nạn này cho ông.

    - Nhưng thưa ngài, làm sao ngài biết được?

    - Tôi là người thích đọc đủ các loại sách, nhớ dai dẳng những chi tiết kỳ dị trong đầu. Mấy tiếng "Bờm sư tử" của McPherson cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi nhớ rằng đã đọc nó ở trong một cuốn sách nào đó. Các ngài thấy đấy, chỉ vài chữ đó thôi cũng đã đủ miêu tả về loài vật khủng khiếp ấy. Tôi tin rằng, khi McPherson nhìn thấy nó là lúc nó đang nổi trên mặt nước, anh ta chỉ kịp nhớ ra duy nhất cái tên đó để cảnh báo chúng ta.

    - Như vậy, ít nhất là tôi cũng đã được chứng minh sự trong sạch của mình. - Murdoch từ từ đứng dậy - Nhưng tôi còn có đôi câu muốn được giải thích, bởi tôi biết các ngài đã điều tra chuyện gì về tôi rồi. Tôi thực sự yêu cô gái đó, nhưng từ khi cô ấy chọn McPherson, ý nguyện duy nhất của tôi là giúp cô ấy tìm được hạnh phúc. Tôi tình nguyện tránh sang một bên, làm người liên lạc cho họ; tôi đã chuyển thư cho họ. Bởi với tôi, cô ấy là người thân cận nhất, nên tôi đã vội vã đến gặp và báo cho cô ấy tin dữ về cái chết của anh bạn trẻ của tôi. Cô ấy không muốn tiết lộ cho các ngài biết về quan hệ giữa chúng tôi, vì sợ các ngài không hiểu được sự thành thật của tôi mà còn gây thêm rắc rối nữa. Xin lỗi các ngài, giờ tôi xin phép về trường, tôi muốn nghỉ ngơi…

    Một lúc sau, Harold cũng ra về. Ông ta bắt tay tôi, xin lỗi về những phiền phức do vụ án gây ra cho tôi. Còn thanh tra cảnh sát thì chân thành nói lời cảm ơn:

    - Thật tuyệt! Tôi có nghe nói nhiều về ngài mà vẫn chưa tin. Nhưng nay thì tôi đã hoàn toàn bị khuất phục. Thật kỳ diệu!

    Tôi buộc phải từ chối lời khen:

    - Phải chi xác của McPherson ở dưới nước thì tôi đã nghĩ ngay tới con sứa độc mà không chậm chạp như vậy trong việc phá án. Chính cái khăn lau đã làm tôi bị lạc hướng, vì tôi nghĩ anh ta không nhảy xuống dưới nước. Tại sao ngay lúc ấy tôi không nghĩ ra là anh ta bị một con vật dưới nước tấn công nhỉ? Dù sao tôi cũng đã để mất phương hướng. Ông thanh tra, thường thì tôi luôn qua mặt các ông, nhưng lần này con sứa độc đã phục thù giúp các ông rồi.


     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Ngày Mới

    Thạch Lam

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646644]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502538]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639721]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471310]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340903]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600529]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689839]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493169]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300424]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010492]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972332]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548895]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470024]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445699]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150626]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078691]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028825]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026450]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959443]
    25.Quỷ Bảo [921712]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907577]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877025]
    29.Hắc Nho [852161]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843169]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840067]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756015]
    33.Tru Tiên [747770]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745203]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661909]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622427]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592491]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569362]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536789]
    41.Tầm Tần Ký [511987]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456250]
    43.Thiên Đường [452700]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450857]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439787]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427377]
    48.Cậu Chó [417250]
    49.If You Are Here [411854]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408214]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm