hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Christian Bernadac » Những Tên Ác Quỷ Của Y Khoa Dưới Thời Đệ Nhị Thế Chiến[886] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   6.5/7 - 2 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Christian Bernadac

    Những Tên Ác Quỷ Của Y Khoa Dưới Thời Đệ Nhị Thế Chiến



    MỤC LỤC 


     

    16

    DÙNG ĐẾN BÚA TÀI XỒI ĐỂ CHỈ TRẮC NGHIỆM CHIẾC MŨ ĐÁ BANH

    Nào! Hãy ngồi trên các chiếc ghế kia đi.

    Đã từ một giờ hơn, các thí vật của khối 46 tại trại Buchwald chỉ đợi chờ có mỗi lệnh ấy. Mệt lả cả người, lại vừa run sợ, họ dán mắt vào các chiếc hộp nhỏ kỳ lạ bằng gỗ để trên bàn, và không hiểu trong ấy chứa đựng những gì? Tất cả bọn họ đều trần trụi và sự ốm gầy của họ được xem như là một đám ma trơi (da bọc xương) còn sống. Tại sao lại là bọn họ? Chiếc máy phóng thanh ở đâu đó vang lên, gọi đám người ấy đến trước cổng trại. Như vậy họ chỉ biết được số phận thật sự của mình vào giờ chót mà thôi. Họ có thể tưởng tượng… nhưng tiếng khua của các dây xích sắt họ về với thực tại.

    "Khối" 46 bị cô lập riêng ra và bao quanh bằng các sợi kẽm gai, cửa cái và cửa sổ đều được khóa kỹ. Khu nầy được kiến trúc bằng đá, thật đúng là một "bệnh viện đờ luých" luôn luôn chứa thường trực được khoảng 400 mạng tù, ở đây nhân viên y tá khá đông, bị đặt dưới một kỷ luật thật gắt gao và một sự im hơi gần như câm nín; tuy nhiên về thức ăn thì thật dồi dào và thay đổi món luôn; còn sách đọc giải trí thí có các quyển sách của thư-viện Iéna "được ân cần cho mượn và có thể dặn trước nữa" (theo lời các bác sĩ Waltz, Ciepielowsky và của nhiều tù nhân khác).

    Các "thí vật chính thức" do văn phòng chính trị cục tuyển chọn; theo nguyên tắc phải đeo thẻ đính hình tam giác màu xanh dấu hiệu riêng của các tù nhân phạm trọng tội. Nhưng tên Kapo, một số y tá và cả các y sĩ nữa đã tráo sửa danh sách và cho thay vào đó bằng tên các nạn nhân bị chỉ định do bọn người như là các bạn bè của chúng, các người đỡ đần cho chúng, các Kapo khác, hay các phần tử thế lực của ủy ban kín về tù nhân, mách bảo cho chúng. Như vậy, nơi khu vực rộng lớn nhưng bưng bít kia là nơi mà mỗi người phải tranh đấu để tồn tại vì các bè phái đối nghịch tìm đủ mọi cách để loại bỏ các đối thủ của họ. Do đó tất cả mọi người đều có thể bị lâm nguy và biến thành nạn nhân của một cuộc tranh vật.

    Tiếng của tên "kapo" Arthur Dietzsch lại vang lên:

    - Xiềng bọn chúng lại.

    Tức thì các y tá xích bọn tù nhân trong các dây xích, kết chùm bằng các ống khóa móc.

    Tưởng cũng nên nói rõ là tên kapo Dietzsch kia đúng là một mẫu người thật ác ôn côn đồ! Hắn ta không bao giờ di chuyển đi đâu mà không có chiếc gậy dài và luôn có vũ khí kèm lựu đạn, hầu sử dụng cấp thời để đàn áp mọi cuộc nổi loạn.

    - Tôi (theo lời khai trong cuộc thẩm vấn ngày 26-12-1946 tại Staumuhlen) sinh ở Plauen, ngày 02-10-1901, thuộc quốc tịch Đức. Ngày 1-4-1920, tôi tình nguyện vào quân đội Đức và đến ngày 01-10-1923, được thăng lên cấp bậc thiếu úy. Căn cứ vào đầu óc có ý thiên về xã hội và các tin tức mà tôi trao cho các Nghiệp đoàn Lao Động, về "Chiếc nón Đồng", tôi bị bắt ngày 01-12-1923 và bị kết án 14 năm tù, về tội phản bội. Tôi đã phải chịu đựng bao cực hình qua nhiều nhà tù và nhiều trại tập trung. Vào mùa hè năm 1937, tôi bị đưa đến trại Buchenwald, và ở luôn đây cho đến "ngày giải phóng". Năm 1938, tôi được cử làm thơ ký tại bệnh xá và đến tháng giêng 1942, tôi được chỉ định làm phụ tá cho bác sĩ Ding.

    Như vậy có nghĩa là tên đối lập kiên trì của đảng quốc xã đã lại trở thành "công cụ về tội ác" của các kẻ thù đáng tởm nhứt của hắn. Vì thực ra, cuộc thí nghiệm về bệnh đậu lào càng đặt vào đầu hắn "ít khoa học chừng nào, lại càng tốt chừng nấy". Alfred Balachowsky, trưởng phòng thí nghiệm tại viện Pasteur, bị tù đày năm 1943, và "đã được sử dụng" vào việc chế tạo thuốc chủng ngừa bệnh đậu lào của trại đã khéo phác họa một hình ảnh khách quan của tên "gần như y sĩ ác quỉ" ấy:

    - Trong đường hướng khoa học của khối 46 được giao cho bác sĩ Ding thì việc thực hiện các cuộc thí nghiệm lại hoàn toàn nằm trong tay tên "Kapo" Arthur Dietzsch. Đến lúc hắn rời khỏi trại, thì hắn có cưới một cô gái giang hồ tại trại Buchenwald về làm vợ. Dietzsch là hiện thân của sự tàn bạo từ tinh thần đến cả thể chất và cũng chính hắn ta đã tự tay giết chết nhiều ngàn tù nhân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.

    Vào tháng mười năm 1941, sau chuyến công du tại viện Pasteur ở Ba lê (cũng là cơ sở của Bác sĩ Girode mà tại nơi nầy, Bác sĩ Ding đến nghiên cứu các phương pháp mới về cách chế tạo thuốc chủng ngừa "bệnh sốt phát ban" (typhus exanthémique) phát xuất từ buồng phổi các con thỏ). Bác sĩ Ding lại lên đường trở về nắm quyền điều khiển khu trại thực nghiệm. Ông ta hỏi có người nào tình nguyện theo giúp ông ta không? Chẳng thấy có một ai động đậy gì cả. Cuối cùng Ding đã phải hỏi thẳng Dietzsch, và hắn ta chịu nhận lãnh phần tiếp tay cho Ding. Với vai trò mới bỗng dưng hắn lại được rất nhiều quyền lợi trong trại nầy. Và nếu như trong thực tế, hắn không có quyền sinh sát đối với các tù nhân, thì ít ra hắn cũng có điều kiện thuận tiện để tuyển lựa bất cứ ai mà hắn muốn chọn, để làm thí vật… Là một kẻ thô lỗ, ngu đần, hung ác, dâm bạo, và say sưa, hắn nhận lãnh như là phần thưởng của công việc hèn hạ của mình, nhiều lợi lộc vật chất khá to tát hơn cả quyền lợi của bọn S.S nữa. Quyền uy của hắn trong trại thật là tuyệt đối và hắn còn lộng hành đến mức còn dám đối đãi bất nhã với các hạ sĩ quan S.S nữa…

    Tên "Kapo" nầy tiến lại gần các tù nhân bị xiềng trong chiếc ghế và bảo:

    - Thế là xong! Bây giờ hãy ngoan nào! Người ta đã nuôi kỹ các người trong mấy tuần qua, vậy các người hãy tỏ ra biết điều với các con vật nhỏ dễ thương nầy đấy nhé.

    Rồi hắn phá lên cười và đưa chiếc hộp đầu tiên cho một y tá, thúc dục:

    - Hành động đi nào! Trên chân và trên đùi…

    Các chiếc hộp được áp đặt vào bắp chân ở phía bên trong bắp vế và được cột chặt vào bằng sợi dây cao su. Đoạn các y tá mở chiếc nấp bẫy sập và vài con rận chí thương hàn bị bỏ đói, bám nhanh vào da thịt các tù nhân. Bữa ăn của chúng kéo dài trong khoảng 20 phút.

     

    Trong lúc mới khởi đầu các chiến dịch tại Nga, các cơ sở y tế Đức đã phải hết sức kinh ngạc và theo như lời khai của tướng Handloser thì:

    "Các cơ sở y tế ấy không đủ thì giờ để thực hiện các công tác trừ rận tại vùng chiến trận. Và tiếp liền sau đó là đã xảy ra việc có hơn 10 ngàn trường hợp mắc phải bệnh dịch (typhus) và đã làm cho khoảng 1.300 người bị chết. Thế mà vào tháng 12-1941, chúng tôi lại bị giới hạn trong việc sản xuất thuốc chủng ngừa, chỉ còn khoảng 35.000 đơn vị mỗi tháng".

    Tình trạng ở độ, thật hết sức bi đát 1 các phúc trình từ mặt trận gởi về, báo cho biết rằng những cơn lốc làm giao động cả ba quân và các binh đoàn không chịu tiến quân nếu họ không được chủng ngừa một cách có hiệu quả. Nhưng làm sao bảo vệ cho toàn thể quân đội được, nên chỉ có các sĩ quan, các y sĩ là được chích thuốc chủng ngừa Weigl (vaccine, weigl), một loại thuốc được các phòng thí nghiệm biết rõ sự công hiệu của nó từ lâu… nếu không thì đã có loại chủng khác ít tốn kém, được khám phá và trắc nghiệm cấp thời rồi. Có nhiều phiên họp của các giới hữu trách y khoa của chế độ Đức quốc xã, các Giám Đốc phòng thí nghiệm cùng với các xưởng sản xuất đã được tổ chức và sau hết là phiên họp cao cấp ngày 29-12-1941 đã quyết định làm cuộc thí nghiệm một loại thuốc chủng ngừa mới:

    - Các người tham dự, 2 đều đồng ý cho là cần thiết làm cuộc trắc nghiệm về "tính cách hiệu lực" của chất huyết thanh trị bệnh thương hàn, rút từ lòng đỏ trứng và sức đề kháng của chất nầy. Các thí nghiệm trên thú vật không đủ bảo đảm giá trị, mà cần phải có thêm các thí nghiệm được thực hiện trên con người nữa.

    Để rồi các giáo sư và y sĩ ấy có dịp lên án tử ít nhất cũng khoảng 300 tù nhân.

    - Dường như là trong lần mới khởi sự, Himmler không có giữ một vai trò điều khiển nào trong việc sắp xếp và việc thành lập "ban nghiên cứu bệnh đậu lào và mầm độc nhiễm" tại trại Buchenwald đã được sát nhập vào Viện Y tế của lực lượng Waffen SS hay nói cách khác hơn, đấy chính là khối 46 nầy vậy. Nhưng ông ta cũng có theo dõi, tán đồng và còn ra lệnh cho viên bí thư của ông ta "thông báo cho nhóm Ahnenerbe được biết về vai trò của mình":

    - Người ta có thể bảo rằng Reichsfuhrer SS đã khuyến khích các cuộc thí nghiệm nói trên.

    Và chẳng thấy có ai trách móc ông ta, dù chỉ một lần thôi, đã cho công việc tiến hành như vậy.

    Thế rồi đến ngày 5 tháng giêng 1942, Ding đã chích cho năm thí vật đầu tiên một phân lượng một phân khối (1cm3) chất thuốc loại mầm Rickettsias-Prouazecki, được sáng chế từ Viện Robert Koch cho đến khi căn trại được giải phóng, đã có khoảng 1000 tù nhân đã bị thí nghiệm như vậy.

    Và theo lời chứng của tù nhân Heinz Rotheigener:

    - Tại một phòng của khối 46 có khoảng 100 tù nhân, kể cả tôi, gồm người Tiệp khắc, Ba lan, Do-thái và Đức. Người ta gọi tên chúng tôi bằng máy phóng thanh. Trong mấy ngày trước đó, đã có 60 người khác, cũng được gọi đến đây bằng cách như vậy. Trong khoảng thời gian độ ba tuần lễ, chúng tôi được cho tăng gấp đôi khẩu phần và cuối thời gian nầy chúng tôi đã bị làm lây độc. Sau đó khoảng một tuần thì xảy ra chứng vọp bẻ nhưng nhẹ thôi, kế đến là chúng tôi bị nôn mửa, rồi thêm bị chứng nhức đầu thật dữ dội, chúng tôi ăn uống không còn biết ngon miệng là gì nữa. Sự đau đớn càng trở nên khóc liệt hơn đến nỗi người ta có cảm giác như là cái đầu sắp bị nổ tung ra. Chỉ cần một chút cử động nhẹ thôi cũng đủ làm cho chúng tôi đau đớn không chịu được.

    Tiếp theo là lời chứng của tù nhân Victor Holbert:

    - Các người bị lây độc đã đau đớn kinh khủng, và bị lên sốt từ 40° đến 41° trong vòng từ 3 đến 4 tuần lễ. Đã có hơn phân nửa số người bị chết đi trong thời kỳ bị nóng sốt ấy. Và những ai còn sống sót, thì cũng bị hốc hác, vàng võ, gầy trơ ra như bộ xương sau khi được trả về trại. Họ lại còn bị biến thành đội tạp dịch với các công tác thật nặng nề rồi lại bị chết đi vì những hình phạt khổ sai ấy.

    Và thêm đây nữa là lời chứng của Eugène Kogon, tù nhân thơ ký, của Bác sĩ Ding.

    Mỗi người đều rõ khối 46 là một nơi thật khủng khiếp, nhưng ít ai có được một ý niệm chính xác về cái gì xảy ra ở nơi ấy. Tất cả những người có liên hệ đến khu trại ấy, đều bị in trong trí một nỗi kinh hoàng đến chết khiếp đi được. Các thí vật được "lựa chọn" biết rằng họ đang thử liều với cuộc sống.

    - Hơn nữa ở nơi trại tập trung nầy, người ta chỉ biết đại khái là tên Kapo Arthur Dietzsch đã áp dụng một kỷ luật sắt tại khối 46. "Thật đúng là nơi thống trị độc đoán của con mèo chín đuôi".

    Người nào bị chỉ định về khu trại nầy chỉ còn biết chờ chết thôi, một cái chết mỏi mòn và rất khủng khiếp mà người ta đã không ngừng tưởng tượng ra như là các hành hạ hay sự tước đoạt chút tự do còn lại sau cùng của con người. Chính trong những điều kiện tâm lý ấy mà các thí vật đã phải chờ đợi… tới phiên mình, nghĩa là ngày cũng như đêm không biết lúc nào, người ta sẽ mang đến cho họ một tai họa nào đó mà họ chưa rõ nhưng hẳn là bi đát lắm như là một hình thức chết nào đó thật hãi hùng! Việc làm cho "lây độc" đã rất mạnh, (quá mạnh như là viên giám định Leo Alexander đã phải nói tại tòa án, người ta đã dùng đến chiếc búa tài xồi chỉ để trắc nghiệm chiếc nón đội của cầu thủ đá banh) đến nỗi bệnh đậu lào luôn phát triển dưới một tình trạng thật nguy kịch. Rồi với tên Kapo Dietzsch lại thường xảy ra thêm những cảnh tượng rất ghê khiếp. Các bệnh nhân luôn e ngại rằng người ta sẽ chích cho họ một mũi thuốc chết người. Sau một khoảng thời gian nào đó, khi chứng lây độc đã ngự trị rồi, thì các triệu chứng thường xuyên của bệnh đậu lào lại xuất hiện và ai cũng hiểu được rằng đấy là một chứng bệnh rất đáng ngại. Nhất là, trong 2 năm sau cùng tại viện nghiên cứu, các triệu chứng mang một tình trạng thật đáng sợ. Có vài trường hợp như là các bệnh nhân mê sảng thác loạn thần kinh, bỏ ăn và tử xuất đã chiếm một bách phân khá lớn. Những người nào còn sống sót được, cũng là nhờ vào cái hình vóc lực lưỡng của cơ thể, sức chịu đựng dẻo dai, hay nhờ có sự hiệu quả của một cuộc chủng đậu, thì lại phải chứng kiến cảnh những người bạn của họ đang phải tranh vật với tử thần. Họ đã phải sống trong bầu không khí thật căng thẳng, khó mà tưởng tượng ra cho được. Các người sống sót nầy lại không biết rồi cái gì sẽ xảy ra thêm nữa cho họ, rồi người ta có còn sử dụng họ vào các mục đích nào khác nữa không.

    Hoặc là họ sẽ thật sự không còn sợ chết nữa, chính vì họ đã là những kẻ còn sót lại và đã là các nhân chứng nạn nhân của các cuộc thí nghiệm kia?

    Đấy chỉ là phần "ngoại cảnh" và "màu nét". Còn về công trình khoa học thì sao?

    Các cuộc nghiên cứu nầy nhằm vào hiệu lực của các loại thuốc chủng ngừa, có những nguồn phát xuất khác nhau như là: thuốc chủng của dược viện Behring bào chế bằng cách cấy màng noãn hoàng của trứng gà (theo phương pháp Cox, Gildemeister, Haagen); thuốc chủng Durand-Giroud, chế tạo bằng phổi thỏ bởi viện Pasteur ở Ba-lê; thuốc chủng rút từ phổi chó (Bucarest); thuốc chủng lấy từ gan chuột (Đan Mạch). Có điều rất lạ, đáng để ý là hai loại thuốc chủng sau cùng được giáo sư Rose gởi đến trại Buchenwald. Vị nầy là trưởng phân bộ nghiên cứu về các chứng bệnh thuộc vùng nhiệt đới tại viện nghiên cứu Robert Koch ở Bá linh. Ông là một giáo sư thật can đảm. Trong một buổi hội về ngành quân y, ông đã dám cả gan đứng lên với tất cả sự công phẫn, phản đối các cuộc thí nghiệm trên con người của khối 46, vừa khả quyết rằng các thí nghiệm đó thật là trái với đạo đức và rằng các kết quả thu đạt được cũng như các kết quả đã được tìm thấy qua các cuộc thí nghiệm trên thú vật. Nhưng khoảng một năm sau, giáo sư Rose lại thay đổi ý kiến (có thể là ông cảm thấy mình bị đe dọa chăng!) và cho gởi thuốc chủng của ông đến bác sĩ Ding. Khối 46, lại một lần nữa, thí nghiệm thêm hằng chục loại trị liệu chống lại bịnh sốt phát ban (typhus exanthématique), theo sự yêu cầu của các viện bào chế quân đội, cũng như tư nhân. Eugène Kogon cho rằng:

    - Lợi ích khoa học của các cuộc thử nghiệm ấy gần như không có gì cả, hoặc có chăng cũng chỉ là rất ít giá trị, vì cách thức làm lây bệnh rất là phi lý nếu không muốn nói là điên rồ; đáng lý ra thì phải khám phá cái giá trị giới hạn của liều vi trùng làm lây bịnh và phương cách lây độc sát với thực tế nhứt, nghĩa là gần với mức truyền độc bởi các con rận, chí: song tác dụng ấy phải kém hơn, để làm vô hiệu hóa dần dần sự chủng ngừa mà người ta đã làm trước đó hoặc, lâm thời để có một tác động nào đó trên sự chủng ngừa ấy. Nhưng việc làm nầy rất công phu và rất khó khăn đối với các ngài y sĩ nhà ta. Thế nên, trong kỳ đệ nhứt tam cá nguyệt của năm 1943, khi số thuốc được cung cấp từ Viện Robert Koch, bị mất tất cả tính độc nhiễm và khi sự tiêm chủng (bằng chích thịt, chích dưới da hoặc cấy trên da được thực hiện bằng cách rạch cho chảy máu và bôi thuốc vào) không đem lại được một kết quả nào, thì người ta lại thí nghiệm một cách quá y là giản dị bằng cách chích vào mạch máu thí vật hai phân khối máu tươi cũng trích từ thí vật ấy, nhưng lại được tẩm vi trùng thật mạnh. Tất nhiên là kết quả đã vượt ngoài điều mong ước, và trong đa số các trường hợp kết quả thật là thảm khốc. Từ khi phương pháp làm lây bệnh ấy dược áp dụng thì tử suất tăng lên đến hơn năm mươi phần trăm đó là không kể đến trường hợp của những người mà người ta gọi là "chứng nhân" nghĩa là trường hợp của những người không được tiêm ngừa trước, để người ta có thể theo dõi tiến trình đều đặn của bệnh trạng trong thân thể họ. Đám người nầy bị chết gần hết. Vậy sau đó, người ta bớt dần lượng độc nhiễm xuống còn một phần mười phân khối nhưng lượng ấy không làm mất tác dụng gây chết chóc, vì độ độc nhiễm cao của loại mầm sinh bệnh trên con người đã gia tăng do sự "truyền thụ" chỉ trong một loạt thí nghiệm thôi, người ta có thể nhận thấy hiệu lực thật sự của thuốc chủng chống bệnh sốt phát ban (typhus exanthématique) điều chế ngay lại Buchenwald: với số 20 người đã được chủng ngừa trước, không có người nào bị chết cả, và sự diễn biến của chứng bệnh lại ít nguy hại hơn so với ngay cả các thí vật đã được chủng ngừa bằng thuốc chủng thuộc loại tốt nhứt, thuốc chủng của Weigl (vaccin de weigl) được chế biến bằng ruột của các rận chí trong khi trên tổng số hai mươi "chứng nhân" được truyền độc cùng một lượt thì mười chín người đã bị chết vì sự truyền độc ác hại đó.

    Các y sĩ tù nhân được dùng cho công tác sản xuất thuốc chủng, dành cho quân đội Đức, đã phải sống trong cảnh phập phồng lo sợ cho đến ngày trại được giải phóng, bởi vì các sản phẩm được họ chế tạo ra không có tính cách kháng nhiễm chống lại bệnh đậu lào:

    - Ding trong buổi họp toàn thể lần đầu tiên có lưu ý với chúng tôi rằng nếu có một vài hành động phá hoại xẩy ra thì tất cả chúng tôi sẽ bị bắn bỏ… nhưng chúng tôi đã quyết định với các nhà vi trùng học và ông giám đốc sản xuất Marian Ciepielowsky, chế ra các thuốc chủng nhẹ, không có tính cách đối kháng… Bác sĩ Ding đòi chúng tôi sản xuất thật nhiều lượng thuốc chủng. Chúng tôi chế ra hai loại: một loại với số lượng thật lớn, hoàn toàn vô hiệu được đưa ra mặt trận, còn loại thứ hai chỉ số lượng ít thôi, nhưng rất hiệu quả và được dùng trong những trường hợp đặc biệt, như là dành cho chúng tôi hay các bạn chúng tôi làm việc trong những nơi nguy hiểm của trại. Ding chưa bao giờ hay biết về các cuộc sắp xếp nầy của chúng tôi. Vì ông ta không đủ kiến thức thật sự về vi trùng học nên ông ta không thể nào biết được sự bí mật của việc sản xuất. Ông hoàn toàn nghe theo các báo cáo mà các chuyên viên (toàn là bọn tù nhân chúng tôi) phúc trình cho ông. Khi ông ta thấy có được chừng ba mươi hoặc bốn mươi lít thuốc chủng để gởi về Bá linh là đủ để cho ông quay sướng lắm rồi. Song le chúng tôi vẫn còn e ngại một điều là khi thuốc dùng tiêm ngừa cho các đoàn quân SS đang chiến đấu tại Nga, bọn họ bị ngã bệnh và chết đi vì tính chất vô hiệu của các thuốc chủng được chúng tôi chế ra. Như vậy điều bí mật có thể bị phá và các chuyên viên ở bên ngoài – quân SS có những chuyên viên ấy – có thể điều tra và phát giác được sự thật của thuốc chủng vừa được sản xuất và cho sử đụng ở đấy. May là các điều nghĩ lo như vậy đã không xảy ra và việc làm mạo hiểm của chúng tôi, cứ được tiếp tục cho đến tháng ba năm 1944.

    Khi Mrugowsky biết được sự phá hoại nầy tại phòng xử của tòa án Nuremberg, ông ta nói với vị Chánh thẩm:

    - Điều nầy tiêu biểu cho một thái độ không phù hợp chút nào với các quan niệm về tình nhân loại đã được quí ngài nhân chứng nầy phát biểu hôm nay.

     

    - Hãy nhìn kìa Kogon, anh sẽ tìm ra được điều mà anh phải giải đáp. Đấy là mấy góa phụ đang muốn tìm một sự an ủi…

    Bác sĩ Ding càng ngày càng tỏ ra tín nhiệm Kogon hơn, người tù nhân được ông ta chọn làm bí thư. Với sự cộng tác của các tội phạm khác, Kogon đã thảo các bản tin về y học cho ngài y sĩ, và thảo luôn cả các bức thư tình cho ông ta nữa. Là con người dễ bị giao động, được đánh dấu qua sự thiếu thốn tình thương của buổi thiếu thời, mà ông đã phải chịu làm thân một đứa con hoang, thiếu hẳn sự yêu chìu, ông ta lấy tên của người cha nuôi và lại phải bỏ cái tên nầy chỉ vài tuần trước, khi căn trại được giải phóng, vì ông hiểu rằng phe Đồng Minh sẽ truy được ra ông và xem như là một tội phạm chiến tranh. Thế nên ông đã đổi tên thành bác sĩ Schuler ngay vào giờ phút ấy.

    Năm 1936, với tuổi 24, ông có ý định vào quân dội, nhưng chuyện lại không thành vì ông là đứa con vô thừa nhận. Nhưng bên lực lượng SS, họ lại chịu thu nhận ông ta và ông được phục vu tại cơ quan y tế của đơn vị "Đầu lâu của Tử thần". Và chuyện tiếp theo như chúng ta đã biết.

    Trong những ngày cuối cùng tại trại Buchenwald, không những ông ta thay tên mà còn đổi cả thái độ nữa. Ông còn bị viên bí thư thuyết phục làm ngơ cho một vài công tác cấp cứu do Ủy ban bí mật tại trại phát động. Khu trại được giấu các người đã bị lên án tử khá khỏe mạnh ẩn giữa các con bệnh truyền nhiễm, được Ding Schuler đặt tên là: "Ultimum Refigium Judoerum" (nơi trú cuối cùng của người Do-thái). Y sĩ nhà ta cảm thấy vận cùng sắp đến nơi, nên đã cùng tên ác ôn Diezsch cho đốt tất cả các tài liệu nào thấy có phương hại đến họ. Nhưng Kogon lại giấu trong tờ giấy bồi, quyển nhật ký, ghi sự diễn tiến của các thí nghiệm:

    - Ngày hôm sau, tôi nói với Ding rằng, quyển nhật ký chưa bị đốt. Ông ta tỏ ra rất kinh ngạc và hỏi tôi có nghĩa rằng quyển nhật ký đó sẽ có thế cấu thành một vũ khí nguy hại cho ông không. Tôi trả lời với ông rằng nếu như ông có thể chứng tỏ được trước tòa là chính ông đã cứu quyển sổ nhật ký ấy khỏi bị cháy thì chính hành động ấy sẽ chứng minh được một cách hùng hồn, cái ý hướng lương thiện của ông ta. Và sau khi nghe tôi phân trần như vậy, ông ta cảm thấy có vẻ hữu lý và chấp nhận giữ quyển sổ lại.

    Đến khi bị Đồng Minh bắt giữ, Ding đã cân phân và thấy rõ mối nguy hại của một bản án có thể dành cho ông ta. Nên ngày 25-6-1945, tại khám đường Freising, ông ta đã tự tử… Nhưng ngày hôm sau, ông thấy mình tỉnh dậy, trên một chiếc giường của bệnh viện. Ông mô tả mối toan tính khá bi thương của mình như sau:

    - Vào lúc 2 giờ sáng, tôi đã toan tự tử vì những việc làm trong những năm về trước và cũng vì hoàn cảnh của tôi không còn chịu đựng nổi nữa. Thần kinh tôi luôn luôn căng thẳng và căng thẳng cùng độ. Theo các tin tức mới nhứt thì các thành phố Leipzig và Weimar, nơi mà tôi đinh ninh là sẽ gặp lại thân nhân, đã bị lọt vào tay của quân Nga. Tôi hết còn hy vọng được gặp lại gia đình. Mọi biến chuyển đã xảy ra quá đột ngột trong tình cảnh của tôi, khiến tôi đã phải tin rằng mình sẽ bị ghi tên vào danh sách các bị cáo của vụ kiện Buchenwald và không thể còn định được gì cho tương lai mình ít nữa cũng trong rất nhiều năm. Vợ tôi ở lại một mình với hai đứa con không nơi nương tựa, sau khi tất cả các sản nghiệp của tôi bị mất đi. Tháng năm vừa rồi vợ tôi hẳn đã lại sanh đứa con thứ ba, nhưng tôi không được biết gì cả về tình trạng gia đình tôi… Ngoài lưỡi lam cạo râu tôi còn dùng thêm năm viên morphine, năm viên codéine và mười một viên A. P. C của Mỹ chế tạo. Nhưng lưỡi dao nầy không đủ bén để tôi cắt được các dây gân nằm trên mạch máu. Với một đường rạch song song cũng khá sâu, tôi cố thử cắt mạch máu bằng chiếc kéo nhỏ, nhưng tôi bị quấy rầy bởi các người đi tìm phòng. Tôi nằm lại và quấn chiếc khăn quanh tay… Nhưng tôi lại bị ngất đi… để rồi khi tỉnh dậy thấy mình được băng bó và nằm trên một chiếc giường khác.

    Nhưng hai tháng sau đó, y sĩ đại úy Ding Schuler đã được toại nguyện trong ý muốn tự tử của ông ta.

     

    Bác sĩ Wlademar Hoven là người hỗ trợ của Ding tại khối 46. Khi nào Ding đi vắng một hoặc hai tuần, thì được anh chàng bác sĩ có số đào hoa "Bellegueule" thay thế. Hoven thật đáng được ban tặng cho cái mỹ danh ấy vì anh ta có rất nhiều người đàn bà đã phải quì-lụy dưới chân y, hay lấy làm hãnh diện được nằm gọn trong vòng tay của anh chàng. Anh ta đúng là một mẫu Rudolphe Valentino (tên một tài tử chiếu bóng người Ý nổi danh nhờ nét vẻ đẹp trai) với bàn chân nhỏ nhắn, dáng chải chuốt khá hấp dẫn và rất ư là "play-girl", lại còn thêm các chiếc răng trắng bóng thật khiêu khích, đã làm cho rất nhiều mệnh phụ giàu sang và có tuổi chết mê, chết mệt vì anh ta, trong những lần xuất hiện, trước ống kính. Thật đúng là một "loại gà mái trai lơ", anh ta sưu tầm các loại trang sức đàn ông như các chiếc bật lửa, chiếc hộp đựng thuốc điếu bằng vàng nạm kim cương…

    Anh chàng "Bellegueule" nầy lại hay đua đòi, chạy theo các trò lố lăng tại Balê. Có những kẻ xấu miệng quả quyết rằng, vào thời ấy, anh ta chỉ chú trọng đến những người thừa kế giàu sang… nhưng thôi hãy đề cập qua chuyện khác. Chúng ta gặp lại anh chàng vào lúc anh ký giấy đầu quân vào lực lượng SS. Tuy nhiên anh chàng đĩ đực núp váy đàn bà ấy cũng tự học và đậu được cấp bằng tú tài năm ba mươi hai tuổi với "nhiều sự giúp đỡ và dễ dãi", để bắt trớn qua ngành y khoa và tiến bước thật nhanh, chỉ mới có 2 năm sau ngày thi cuối học trình mà đã được làm phụ tá cho vị y sĩ trưởng của tất cả các trại tập trung. Ở những nơi nầy các tù nhân lại phải làm việc thay cho anh ta: có 2 tù nhân tên là Sitte và Wegerer đã làm cho anh ta một luận án tiến sĩ thật hay về đề tài nói về cách điều trị bệnh lao phổi gây nên bởi bụi than. Rồi "Bellegueule" nhà ta cứ việc học thuộc lòng bản văn ấy và được chấm đỗ với lời khen của hội đồng giám khảo tại Đại học Fribourg ở Brisgau. Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện về bà trưởng trại Buchenwald đã không thể cầm lòng nổi trước "sức hấp dẫn cực kỳ" của anh chàng và để đáp lại, Hoven đã không ngớt ca ngợi việc sưu tập các hình xâm in trên da người của bà ta. Ông chồng bà ta biết rõ mọi sự thân mật giữa hai người, nhưng để trừng phạt tên y sĩ lường gạt ái tình nầy ông lại đành mời anh chàng gia nhập vào "hội vơ vét" của ông ta: gian lận và ăn cắp vàng, bạc giấy, nữ trang, rượu thuốc, đồ hộp… Nhưng các hành động của hội nầy quá lộ liễu nên đã khiến cho cả bọn bị "Ban Thanh tra SS" của các trại giam bắt giữ. Ông trưởng trại và anh bạn quý của gia đình ông, rất lấy làm xấu hổ vì phải nằm chung trong một xà lim. "Bellegueule" giờ biến thành, như một "trái táo héo" Thật là khác xa với cái thời lộng lạc về nét dáng và tài y học của thuở nào. Các văn bằng của anh ta chỉ còn dùng để thanh toán các bệnh nhân trong các dãy phòng bệnh viện mà người ta muốn thu hồi các chiếc giường. Sau mỗi công tác, khi anh ta vừa thanh toán xong mươi hoặc hai mươi tù nhân bằng các mũi chích "sodium đó d’Évipan" anh ta thờ ơ cho tay rút ra một điếu thuốc miệng vừa huýt sáo càn; "Rồi lại thêm một ngày đẹp trời đã trôi qua".

    Mengele, ông ta ít ra cũng thuộc được nguyên một bản La Tosca.

    Các bằng chứng phạm tội chất chồng lên bọn họ. Có đến hơn 10.000 trang cáo trạng. Và ông trưởng trại Koch đã bị xử bắn, nhưng Hoven… lại được phóng thích một tuần trước khi căn trại được giải phóng, ông dự thẩm tòa án Đức chỉ giữ lại cái tội "ngu ngốc" của anh ta, nhưng còn kết luận thêm:

    - Theo kiến thức và khả năng của anh ta thì thật khó mà mang được cái danh vị y sĩ.

    Và "Bellegueule" biến mất vào vùng đồng quê… Nhưng hai ngày sau đó lại bước qua lại chiếc cổng rào kẽm gai với hai chú lính Mỹ luôn miệng nhai kẹo cao su áp tải hai bên.

     

    Trước các vị thẩm phán của tòa án Nuremberg anh ta tìm lại được sự vững tin. Anh ta đã tin tưởng rằng hai mươi tháng tù mà Ban Thanh tra SS đã buộc anh ta phải chịu trước khi được tha bổng, hẳn đủ để minh oan cho anh ta dưới mắt của phe Đồng Minh. Anh ta tự cho mình như là người phá hoại số một các cuộc thí nghiệm của Ding về bệnh đậu lào.

    - Một ngày nọ, có những tù nhân đến nói với tôi rằng có một chuyến tải rận gây bệnh thương hàn vừa đến nơi! Ding hôm ấy vắng mặt, tôi đến ngay khối 46, thấy có khoảng năm mươi chiếc hộp, trong mỗi chiếc đựng khoảng 600 con rận. Tôi cho bít các hộp ấy lại bằng chất sáp và với sự tiếp giúp của Dietzsch, liệng các chiếc hộp ấy vào lò lửa. Tôi làm bản phúc trình nói rằng "với tư cách là y sĩ của trại, tôi không chịu trách nhiệm về một loại bệnh truyền nhiễm có thể xảy ra". Lần thứ hai một sĩ quan mặc quân phục bộ binh lại mang rận đến nữa. Số rận ấy do một Viện ở Lemberg cung cấp. Khi tôi đến nơi thì các chiếc hộp đã được cột chặt vào bắp vế các tù nhân. Số rận nầy liền bị hủy diệt và theo tôi được biết, thì không có một thí vật nào bị truyền nhiễm bệnh đậu lào cả.

    Ông chánh thẩm hỏi:

    - Nhưng anh là người thay thế của Ding mà?

    - Đúng vậy, nhưng tôi không được giao cho một trách nhiệm nào cả. Khi nào Ding vắng mặt, thì các cuộc thí nghiệm cũng ngưng theo.

    Lời biện hộ của anh ta về các cuộc "thực hiện y khoa" lại càng kỳ lạ hơn nữa.

    - Tại trại, có một số đông tù nhân ganh tị với địa vị chiếm giữ của một số tù nhân khác. Thật vậy, vài tên tù "chính trị" có được những địa vị then chốt và sống thoải mái hơn các tù nhân khác, nên nhiều người trong bọn nầy cố tìm cách làm giảm hạ uy tín của bọn tù được biệt đãi kia. Khi vấn đề bị phát giác, các tên tù "thế lực" liền cho xử tử bọn họ ngay. Tôi luôn được thông báo về các việc ấy, hầu cung ứng cho các chứng nghiệm y khoa về cái chết và chỉ việc ghi rằng họ bị chết thông thường.

    Có vài trường hợp, chính tôi đã giết chết họ bằng các mũi thuốc tiêm chất phénol nhưng là do theo lời yêu cầu của các người đồng tù của họ. Có một lần, bác sĩ Ding có mặt tại nhà thương và bảo rằng tôi không khéo tay, và chính tay ông ta, chích lấy mấy mũi. Ba tù nhân đã bị chết trong ngày ấy trong khoảng thời gian không đầy một phút. Tổng số các loạt bị giết lên đến khoảng 150 người…

    Tại trại Buchenwald, như quí vị đã biết "bà Trưởng" trại đã sưu tập các mảnh da người có xâm hình và một vài y sĩ đã sưu khảo các "chiếc đầu được làm cho teo nhỏ."

    Joseph Ackermann, một tù nhân, khả quyết:

    - Một hôm nọ, Bác sĩ Hoven đứng gần bên tôi nơi cửa sổ phòng khám nghiệm tử thi. Ông ta có chỉ cho tôi một người tù đang làm tạp dịch trong sân, rồi bảo: "Tôi muốn có chiếc sọ của tên đó nằm trên bàn việc của tôi từ bây giờ cho đến sáng ngày mai". Người tù đã được lệnh trình diện tại phòng y tế. Người ta ghi số hiệu của hắn để rồi chiếc xác được mang đến phòng giải phẫu ngay trong ngày hôm ấy. Cuộc khám nghiệm tử thi sau khi chết, cho thấy rằng người tù kia bị giết do một mũi thuốc tiêm. Chiếc sọ được chế luyện và mang đến cho bác sĩ Hoven.

    Trước lời cáo buộc nầy, y sĩ nhà ta đỏ mặt tía tai và lắp bắp trả lời:

    - Đấy là một sự láo khoét to tát nhất mà tôi mới được nghe trong đời, vì chưa bao giờ tôi quan tâm đến việc giải phẫu tử thi cũng như về các chiếc sọ người.

    Wlademar Hoven bị tuyên án tử hình và bị hành quyết trong sân của khám đường Landsberg. Anh ta hít hơi thật dài lần cuối cùng, rồi nhắm mắt lại, cúi đầu xuống thì thầm.

    - Hoven khốn khổ của tôi…

     

    Riêng giáo sư Haagen, lại được may mắn hơn Ding và Hoven. Giờ chúng ta hãy xét đến vai trò của ông ta trong các cuộc thí nghiệm khác về bệnh đậu lào đã được thực hiện tại trại Natzweiler; ông bị tòa quân sự tại Metz kết án khổ sai chung thân. Các quan tòa tại Lyon lại biến khổ hình nầy, vào thời kỳ đó đã được xem như là một khoan hồng, thành hai mươi năm tù ở. Trong khoảng thời gian ấy, Haagen lại được cưới vợ trong tù và còn tuyên bố với người nào thích nghe ông ta nói:

    - Nếu không có tụi Pháp ấy nhốt giữ tôi, chắc chắn là tôi đã đoạt giải Nobel rồi.

    Thành thật mà nói trong lãnh vực khoa học, Haagen đã biểu thị được một "giá trị đảm bảo" nếu đem ông ta so với đám y sĩ "vô loại" khác, đã thí nghiệm tại Buchenwald.

    - Tôi tên Eugen Haagen. (lý lịch do người Mỹ lấy được ngày 17-1-1947) sanh ngày 17-6-1898 tại Bá linh. Là bác sĩ y khoa từ năm 1924. Tôi được cử làm bác sĩ phụ tá cho bệnh viện Từ thiện. Năm 1926, tôi trở thành phụ tá khoa học tại Sở Vi khuẩn học thuộc Bộ Y tế tại Bá linh. Chính nơi nầy tôi đã sáng lập ban nghiên cứu các mầm độc nhiễm và khảo sát về các loại nhọt, bướu, ung thư. Năm 1928, tôi được suy cử làm phụ tá cho Viện Rockefeller Nữu ước trong thời gian một năm. Năm 1929, tôi ở lại Bá-linh và năm 1930, tôi được đề cử làm hội viên của Viện Rockefeller tại Nữu ước với nhiệm vụ nghiên cứu về bệnh đậu lào tại phòng thí nghiệm của Viện nầy. Tôi đã thành công trong việc nuôi giữ mầm của loại bệnh bệnh sốt rét vàng da (hoàng nhiệt) và thực hiện các cuộc cấy trùng nhân tạo cho thuần loại ấy, điều giúp sáng chế ra được loại thuốc chủng ngừa chống lại bệnh hoàng nhiệt, mà hiện nay đang được sử dụng trên khắp hoàn cầu. Sau ba năm gián đoạn công tác tại Bá linh, nơi tôi đã từng điều khiển ban nghiên cứu về các loại vi trùng và các loại bướu.

    Rồi vì lý do có sự sáp nhập xứ Phổ vào nước Đức, ban vi trùng học bị giải tán và tôi được chuyển sang qua Viện Robert Koch. Tại đây tôi được bổ làm trưởng nhiệm sở và làm giáo sư từ ngày 1 tháng ba 1936. Đến ngày 1 tháng mười 1941, tôi được đề cử làm giáo sư về vi khuẩn học và về khoa vệ sinh tại Đại học đường Strasbourg, đồng thời là giám đốc Viện vệ sinh, Tôi đã ở lại đấy cho đến ngày thành phố Strasbourg bị mất.

    Vậy thì chúng ta thấy rõ rằng các "công việc trong quá khứ", của giáo sư Haagen rất đáng được ca ngợi. Các nhân viên tình báo của các nước thuộc phe chiến thắng đã lăn mình vào các cuộc "săn tìm những bộ óc" còn được tự do, ngay sau ngày chiến thắng.

    Họ còn thực hiện một cách âm thầm các cuộc bắt cốc nữa. Trên danh sách các bộ óc được săn đuổi của bọn người nầy, có cả tên của giáo sư Haagen.

    - Chính tại Saafed trên sông Saale thuộc vùng Thuringe nơi mà tôi đã chuyển đến một phần của viện tôi, tôi đã bị người Mỹ bắt giữ vào tháng tư 1945. Đến tháng 6 tôi được trả tự do. Và tiếp theo đó tôi được nhà chức trách quân sự Nga mời điều khiển một viện nghiên cứu vừa mới được thành lập để khảo sát về các loại vi khuẩn và các loại bướu. Tôi đã chấp nhận và hoạt động tại Viện nầy ở Bá-linh cho đến ngày 16 tháng mười một 1946. Ngày hôm ấy, nhân một chuyến đi thăm viếng ở vùng Zehlendorf trong khu vực người Mỹ kiểm soát, bất ngờ tôi bị một quân cảnh Anh bắt giữ, dù không có giấy trát đòi, cũng không có giấy tờ gì nốt. Tôi đã bị cưỡng bách đưa đến nhốt tại trại giam Minden của người Anh, hết hai tháng rưỡi. Thật rõ đây là một trường hợp bắt cóc. Đến tháng giêng 1947 tôi được giao cho nhà cầm quyền Pháp và được dẫn trở lại Strasbourg.

    Tất nhiên là chúng ta sẽ không bao giờ biết hết được bề trái của cuộc chiến nầy khi mà người Anh, người Nga và nhất là Mỹ là lăn mình vào các cuộc tranh chiếm cho được các nhà bác học của cựu chế độ Quốc Xã. 3 Chỉ có người Pháp là tỉnh cơn mê thật trễ tràng. Thí dụ như các nhà bác học nguyên tử của Hitler đã gom giấu các loại pile nguyên tử và tài liệu của họ vào trong một căn hầm nằm dưới một nhà thờ. Quân đội Pháp đã đến đây, nhìn qua rồi lại bỏ đi. Hai ngày sau, các người Mỹ đã biết rõ loại "bom A" sẽ có thể được hoàn thành trong vòng tám tháng", lo lục lạo và thu nhặt vừa vật liệu lẫn nhân viên canh giữ. Nhà bác học Pháp, Joliot Curie chỉ còn tìm thấy được tại chỗ vài mảnh vụn than luyện (coke).

    - Than nầy dùng để làm pile chăng?

    - Không phải, dùng để sưởi ấm.

    Vân vân và vân vân. Cuối cùng, người Pháp được Anh giao nạp Haagen. Điều nầy thật dễ hiểu, vì lẽ ông ta đã hành sự trên lãnh thổ Quốc gia họ trong thời chiến.

    Các bằng chứng phạm tội chất chồng. Trước hết là các bức thư lạ lùng được khám phá thấy tại Strasbourg. Haagen vừa tiếp nhận một chuyến công voa tù nhân từ trại Auschwitz gởi đến:

    "Ngày 13 tháng mười hai, người ta khởi thực hiện một cuộc thanh sát các tù nhân với mục đích là xác định năng lực của bọn họ trong việc thí nghiệm chủng ngừa bệnh dịch truyền nhiễm. Trong số 100 người được chọn lựa, có 18 người đã bị chết trong lúc di chuyển, chỉ có độ 12 người là khả dĩ sử dụng được cho các cuộc thí nghiệm, miễn là làm thế nào cho họ có thể hồi phục lại sức khỏe trong trạng thái bình thường. Việc nầy sẽ đòi hỏi một thời gian khoảng từ hai đến ba tháng. Riêng các người còn lại đã ở trong một tình trạng đến nỗi không thể nào sử dụng được trong các mục tiêu nói trên. Các thí nghiệm cốt dùng để trắc nghiệm một loại thuốc chủng mới, nên chỉ có thể mang lại những kết quả tốt đẹp khi được thí nghiệm với các thí vật được nuôi nấng bình thường mà sức mạnh thể chất của họ phải tương đương với sức lực của hàng quân sĩ. Thế nên, tôi yêu cầu gởi đến cho tôi 100 tù nhân tuổi từ 20 đến 40 thật khoẻ mạnh và có thể chất thế nào để cung cấp được một "thí liệu" như đã sánh trên."

    Bức thư thật xúc tích về các điều kiện thể chất của tù nhân trại Auschwitz và sự diễn tiến của cuộc chuyên chở bọn họ. Có điều là Haagen đòi hỏi những con người "rắn chắc". Nếu ông muốn có những người "tù bình thường" thì ông chỉ việc chọn lấy họ ngay tại trại Natzweiler. Y tá tù nhân Hendrick Nales gặp được Haagen trong cuộc thăm viếng đầu tiên của ông ta nơi "trạm Ahnenerbe" tại trại Natzweiler-Struthof:

    Đó là vào cuối năm 1943. Một thời gian ngắn sau khi một đoàn tù nhân của trại Birkenau gần bên trại Auschwitz, được chở đến để dùng cho các cuộc thí nghiệm về bệnh đậu lào. Haagen kiểm xét họ và cho họ rọi kiếng bằng quang tuyến X. Ông nhận thấy rằng bọn tù ấy không thế dùng làm thí nghiệm được. Ông muốn phản kháng với Bá linh và đòi được cung cấp các tù nhân mạnh khoẻ hơn… Những người sống sót đã tham dự vào một chuyến Himmelfahrtstransport…

    Himmelfahrtstransport có nghĩa là "thăng thiên" là một mỹ từ thường được dùng trong trại tập trung để chỉ chiếc lò thiêu xác.

    Hendrick Nales khai tiếp:

    - Có khoảng 90 tù nhân mới nữa được chở đến nơi, Bọn họ được chẩn khám và xác nhận thấy xứng hợp. Giáo sư Haagen liền chia bọn họ ra làm hai toán. Các người thuộc toán 1 được nhân một sự chủng ngừa bệnh đậu lào trước. Toán 2 không được chích ngừa gì cả. Tôi nghĩ rằng, khoảng 10 đến 14 ngày sau đó, tất cả các thí vật đều bị nhiễm độc theo lối nhân tạo về bệnh đậu lào. Tôi không biết phải khai thế nào cho rõ, vì tôi không phải là y sĩ nhưng tôi đã có mặt tại đó khi sự việc xảy ra. Và kết quả là ba mươi người đã bị chết. Tôi có bằng chứng về vụ nầy, vì tôi giữ các tấm thẻ của các người chết ở Natzweiler.

    Cô nữ trợ tá và cô thơ ký của Haagen có phàn nàn với Bác sĩ Graefe, phụ tá của Haagen như sau,

    - Những thí nghiệm trên con người là một trọng tội!

    - Các người hãy im đi. Đấy là bọn Ba lan chớ đâu phải con người.

    Georges Hirtz, tiến sĩ vạn vật học, kiêm dược sư ngày 20-5-1943, thật đã có tham dự tất cả công việc thí nghiệm đầu tiên của vị giáo sư.

    - Khoảng 20 tháng năm 1943, một toán từ 20 đến 23 tù nhân Ba lan lại được đưa đến nữa. Họ bị nhốt trong một căn trại mà họ phải tẩy sạch bằng một dung dịch chất lysol (một loại thuốc sát trùng).

    Nhiều ngày đã trôi qua. Haagen đến và cho chủng ngừa các nhân viên y tế, trại trưởng và viên phụ tá của ông ta với các ống thuốc thường dùng của viện Robert Koch, đoạn:

    - Các người tù Ba lan bị các y sĩ cho tiêm vào lồng ngực một mũi chất lỏng màu xám vàng. Họ không được khám nghiệm và tất cả các mũi chích đều được dùng với chỉ mỗi một cây kim không được khử trùng, từ người nầy đến người khác. Các người Ba lan được dẫn về trại, Chỉ duy nhất có mình tôi có thể vào trong ấy được thôi để mang thức ăn và lấy nhiệt độ cho họ.

    Câu hỏi của tòa: Chất lỏng màu vàng xám kia có phải là một thứ vi trùng nhiễm độc của bệnh đậu lào hay là một loại thuốc chủng ngừa?

    - Tôi không thề nói rõ được điều nầy. Nhưng có hai sự việc chứng tỏ được rằng chất lỏng ấy rất độc hại: các người nào có bổn phận chăm sóc bọn họ đều được chích ngừa, thêm nữa là các người Ba lan vừa đến nơi đã phải tẩy độc khu trại bằng dung dịch "lysol", cốt để giết các thứ ruồi, rận, chí, rệp… Tôi phải lấy nhiệt độ cho họ 3 lần mỗi ngày. Sau thời gian khoảng từ 36 đến 48 giờ, nhiệt độ bắt đầu lên đến 40 độ và có khi còn cao hơn thế nữa. Bước qua ngày thứ hai và ba thì tôi thấy có hai xác chết trên giường ngủ của họ. Việc lên cơn sốt kéo dài khoảng từ 6 đến 8 ngày và đến cuối thời khoảng nầy thì họ có những biến chứng, có vẻ bị lung lạc và sợ sệt; và nhiều triệu chứng khác nữa được phát hiện. Đến lúc đó, tôi không còn có thể theo dõi diễn biến của công cuộc thí nghiệm được nữa vì tôi bị đưa qua đội trừng giới. – Câu hỏi: Anh có thấy xác chết của hai người Ba lan à?

    - Trả lời: Chính tôi đã đích thân đặt mấy cái xác ấy vào trong các túi bằng giấy và chúng bị đốt trong lò thiêu ở Natzweiler.

    Vậy đấy là các chứng từ chính yếu của bản cáo trạng tố giáo sư Eugen Haagen. Rồi ông ta sẽ tự biện giải bằng cách sao đây?

    Chuyện thật là giản dị: bằng lối phủ nhận các sự thật hiển nhiên.

    - Các cuộc thí nghiệm ư?

    - Thí nghiệm nào? Đấy chỉ là các cuộc chích ngừa, bởi vì trại Shirmeck và Natzweiler đang bị đe dọa về sự truyền nhiễm của bệnh đậu lào.

    - Tốt! Hãy thú nhận rằng đấy là một điều nghịch lý đi vì cho chủng ngừa 20 người để đương đầu với một bệnh dịch chăng?

    - Vì tôi có rất ít thuốc chủng!

    - Tốt! Bệnh truyền nhiễm đã phát khởi rồi, còn ông thì lại biến đi đâu lúc ấy? Có vô lý không chứ?

    - Lúc ấy, tôi có những buộc ràng quân sự phải lo tròn.

    - Tốt! còn các chuyến công voa phát xuất từ trại Auschwitz thì sao?

    - Tôi không có đòi hỏi gì cả.

    - Tốt! và những người đã chết thì sao?

    - Người chết nào? Không bao giờ có người chết.

    - Tốt! ông có nghĩ đến việc xin phép Himmler chủng ngừa cho trại là cần thiết không?

    - Giáo sư Hirt không muốn có những người ở ngoài lực lượng SS vào trại.

    - Tốt! còn về trạm nghiên cứu Ahnenerbe thì sao?

    - Tôi không bao giờ ngước đầu lên để xem coi có cái gì đặc biệt nằm bên trên chiếc cửa chính.

    - Tốt! cô Edith Schmitt, nhân viên phụ tá của ông đã khai rằng ông đã chích ngừa cho 150 người ở trại Natzweiler và có 50 người của toán kiểm soát đã bị chết?

    - Cô ta nhớ lầm rồi, cô đã lầm với thời kỳ đang có dịch truyền nhiễm.

    - Tốt! nhân chứng Tiến sĩ Hirtz có nói về hai người chết mà chính ông ấy đã cho bọc vào các chiếc túi giấy và chúng tôi đã tìm thấy gì trong sổ kiểm soát của cô nữ trợ tá kỹ thuật ngày 6 tháng bảy, thời kỳ mà nhân chứng đề cập đến? Chúng tôi tìm thấy câu nầy "hai tên kia không còn ở đấy nữa"? Vậy là sao?

    - Sao là sao! Tôi không biết gì cả.

    - Điều đó có nghĩa là các tù nhân đã bị đưa đi. Không có người chết nào cả.

    - Tốt! nhưng mà bác sĩ nầy! Ông không thể phủ nhận sự có mặt trong trại của các con chuột bạch, các kho dự trữ vi trùng thật sự; chúng ở đấy há không phải là để làm dễ dàng công việc lây độc các tù nhân hay sao?

    - Ồ, đấy là những con chuột bạch khôn ngoan và thuần khiết được chúng tôi mang đến cho các người tù. Họ rất vui sướng được nuôi nấng các con vật ấy, chớ nào phải vi trùng gì đâu!

    - Tốt! tốt! tốt lắm!

    … Qua sự "tóm lược vắn tắt" nầy của hằng ngàn trang về lời biện minh của Eugen Haagen tôi xin dành lại cho quí vị tìm câu kết luận. Tôi chỉ xin thêm điều nầy: ngoài diễn biến thường lệ của các cuộc thí nghiệm trên con người trong các trại tập trung, Haagen còn theo đuổi thêm các cuộc nghiên cứu sưu tầm khác nữa. Không ai bắt ông phải làm trắc nghiệm cho sự phát minh của ông về một thứ thuốc chủng "vi trùng còn sống" mới. Ông đã không chống nổi sức cám dỗ của trại tù nhân ấy nằm quá gần bên các phòng thí nghiệm của ông ở Strasbourg. Căn trại ấy, nơi mà sự bí mật được giữ thật kỹ. Tại sao không? Nhưng loại "thuốc chủng vi trùng sống" của ông chắc chắn đã bị làm cho dịu bớt một cách không đủ. Rốt lại cùng vẫn là chuyện dùng chiếc búa tài xồi để trắc nghiệm chiếc mũ đội đầu của các cầu thủ bóng tròn,

     

    Các Cơ sở Y tế Đức rất thường hay giao dịch với nhiều viện nghiên cứu khắp nơi trên hoàn cầu, để tìm mua các loại thuốc chủng ngừa. Họ còn tung cả "điệp viên" qua tận Nam-Mỹ và Hoa-kỳ để "mua" thật nhiều huyết thanh (sérum). Ở Ba-lê, Viện Pasteur đã đẩy đưa mọi sự hợp tác. Đó luôn luôn không phải là chuyện dễ. Bác sĩ Tréfoeul, tuy làm Giám đốc Viện, nhưng thật ra ông là bào chế trưởng của phe kháng chiến:

    - Là kho y dược, được nhà cầm quyền Pháp (lưu vong) tại Luân Đôn yểm trợ, số thuốc men cần thiết cho kháng chiến quân đã được thả dù xuống phần đất địa của chúng tôi, đoạn cho đưa về viện Pasteur; nơi đây, số thuốc được chế biến lại đúng liều, và để được tái phân phối về cho các bệnh viện ở tỉnh; nơi đây, thuốc sẽ được bí mật dự trữ và đặt thuộc quyền sử dụng của quân kháng chiến.

    Lẽ dĩ nhiên là thuốc đó được các nơi gởi, cho bóc nhãn hiệu rất kỹ lưỡng, Ví dụ như thuốc "Dagénan" chẳng hạn, đã được mạo bằng nhãn hiệu "Rhône-Poulenc" thật khéo. Tuy nhiên có một lần, chất "đáo tinh" (insuline) được gởi đến với nhãn hiện Mỹ quốc "EliLily and Co" và một nhật ký được ghi thật rõ. Lập tức, người ta lật đật lột bỏ các nhãn hiệu nguy hiểm ấy và thay vào đó bằng các nhãn hiệu vô hại nhứt.

    Các loại thuốc thả dù xuống được đựng trong các chiếc thùng đúng với loại thường dùng có hình ống, cao khoảng 1m20 và rộng 60 phân.

    - Chất idde, dầu campbre, chất morphine và Cafeine được đưa đến thật nhiều, thuốc đỏ (merchurochrome) bằng thùng mười kí lô, bột "sulfamide" bằng thùng năm mươi kí lô! Nếu có ai vô tình thắc mắc về các số lượng ấy thì liền được trả lời ngay là các thứ thuốc ấy được dùng cho ngựa: "Con ngựa đâu phải như con chuột!"

    Sự hiện diện của các dụng cụ các "túi bao" đựng thuốc, bông gòn, đồ băng bó bằng bột thạch cao, cũng khó mà tránh được sự để ý, mặc dù dãy hầm của chúng tôi được đào sâu dưới đất có một diện tích khá rộng, giống như là cái chiến lũy Maginot thật sự vậy!

    - Người ta lại còn phải giới hạn bớt số người tâm phúc nữa, có như vậy việc đề phòng mới mong bảo đảm được. Trong trường hợp Ba lê bị oanh tạc nặng nề thì sao? Có nên trông cậy vào người Đức để tổ chức cứu trợ được không?

    Ngược lại là đàng khác vì chính các sĩ quan quân y Đức rất thường hay đến viện Pasteur để xin thuốc. Trước tiên, thì họ xin xỏ cái đã, kể cả sự van nài nữa, nhưng thường thì đe dọa nhiều hơn. Ví dụ như họ thiếu chất "sérum" ngừa phong đòn gánh chẳng hạn, họ phải vất vả lắm mới lấy được một vài ống, trong khi đó, hằng trăm hằng ngàn ống được đưa vào bưng biền cho kháng chiến quân…

    Một ngày nọ, bọn Đức lại đòi chất "sérum" ngừa bệnh yết hầu (sérum antidiphtérique) ông Tréfouel giải thích rằng loại nầy rất hiếm, đến ngay cả cho dân chúng Pháp cũng còn thiếu nữa! Bọn họ nằn nì.

    - Các ông tiếp xúc trực tiếp với công chúng, nếu có bệnh truyền nhiễm phát hiện, thì chính các ông sẽ là những người đầu tiên bị nguy hiểm.

    Và theo sự nhận xét của một vị trưởng phái đoàn:

    - Chúng mình được tiếp đãi rất tử tế, nhưng rốt cuộc lại vẫn về tay không!

    Một trong ba sĩ quan ấy, một người Áo lòn tay ra sau lưng khều Bác sĩ Tréfouel và nói nhỏ với ông ta: "cứ tiếp tục".

    - Điều ấy làm tôi thấy vui vui. Thỉnh thoảng tôi có gặp lại ông ta (người Áo ấy) nhưng ông ta lại chẳng bao giờ dám có một hành động biểu lộ giống như vậy nữa.

    Một lần khác, vào năm 1943, lại báo trước một chuyện không hay. Để có chất "sérum" quân Đức đã đạt được một lệnh của Bộ Y tế Pháp (Chính phủ Vichy của Thống chế Pétain).

    - Hãy tuân phục hoặc là chúng tôi chiếm Viện Pasteur.

    - Tôi rất muốn bào chế cho quí ngài thuốc đó, nhưng tôi không có ngựa.

    - Chúng tôi sẽ cung cấp ngựa cho ông.

    - Quí ngài, cũng biết là số ngựa sẽ bị giết chết rất lớn…

    - Ông sẽ có đủ số mà ông cần, nhưng có điều là xác ngựa sẽ phải thuộc quyền sở hữu của quân đội Đức.

    Đến đây thì bác sĩ Noël Bernard, phó Giám đốc viện Pasteur, lại chen vào hỏi:

    - Các ngài có cần phải giữ chúng trong rượu cồn không?

    Câu nói ấy đã làm cho các người Đức không nhịn được cười. Họ đã cho đưa đến phòng thí nghiệm Garche 109 con ngựa. Nhưng tất cả các con vật ấy như là tình cờ lần lượt bị chết sạch, nội trong vòng sáu tháng.

    Và cũng lại bác sĩ Tréfouel, ông lại giận hờn!. Ông cho rằng các con ngựa đã không thích hợp với sự miễn dịch và từ rày về sau, ông sẽ chỉ chịu nhận các con vật được các vị thú y sĩ của ông lựa chọn.

    Theo như ý nói trên, người Đức cho biết họ đang có 60 con ngựa; và các vị thú y sĩ được gởi đến tận nơi để xem xét và chỉ chọn được có năm con trong số ngựa ấy. Tréfouel cả quyết rằng người ta đã làm phiền rộn bọn ông quá lắm mà chẳng thấy ích lợi vào đâu… và cứ như vậy mà tiếp tục mãi.

    Ban Giám đốc của viện Pasteur lợi dụng việc ấy để phàn nàn là thiếu nhân viên. Vì không những việc ấy giúp họ tránh được các sự trưng tập mà còn cho phép họ kéo được một số tù về làm việc cho họ như khởi đầu là việc xin thêm một người làm vườn.

    Người Đức muốn trưng tập người gác cổng. Ban Giám đốc cho rằng thật khó có người nào thay thế được hắn vì chỉ có một mình hắn là biết mặt tất cả các nhân viên trong Viện. Nếu trường hợp có một kẻ lạ mặt (có thể là một tên "khủng bố"!) đến đánh cắp một mẫu mầm truyền nhiễm, Viện Pasteur mà có được phòng giữ cẩn mật thì đó cũng là vì quyền lợi của người chiếm đóng!

    --------------------------------
    1Bệnh sốt phát ban: typhus exanthématique còn được gọi là loại bệnh đậu có "sử tính" bởi vì các dấu vết của nó được tìm thấy trong hầu hết các biến cố trọng đại của lịch sử. Địch đầu tiên mà sự mô tả xem như không thể bị nghi ngờ, đã được ghi nhận vào năm 1489, trong cuộc bao vây kinh thành Grenade (kinh đô của một vương quốc Ả Rập cũng là tiểu quốc Hồi giáo duy nhất tại xứ Tây ban nha xưa, sau đó kinh thành nầy bị bao vây và đến năm 1492 thì bị thất thủ vào tay các vị vua Thiên chúa giáo, như vua Ferdinand II le Catholique của xứ Aragon và Sicile và vợ là hoàng hậu Isabelle Ière la Catholique, của xứ Castille) đã có đến 17.000 người chết trong các đạo binh của vua Ferdinand và hoàng hậu Isabelle la Catholique, kế đến, người ta tìm thấy bệnh nầy xuất hiện tại các mặt trận ở Ý vào năm 1505 và 1550, ở Hung gia Lợi vào năm 1553 và thường ở trong tất cả mọi trận chiến và mọi cuộc bao bây, nơi các người công hãm cũng như ở những kẻ bị bủa vây. Mặt trận của Hoàng Đế Nã phá luân tại Nga, cũng đã nếm mùi loại bệnh dịch khủng khiếp nầy, tại Vilna, thủ đô xứ Liluanie thuộc Liên bang sô viết trong số 30.000 tù nhân, có đến 25.000 bị chết đi, và trong cuộc rút quân, bệnh đậu lại phát dậy thêm những cuộc tàn hại mới nữa và các quân sĩ của Đại Binh lại còn mang cả loại bệnh nầy về ngay tại đất Pháp.
    Trong trận Đại chiến 1914-18, tại các xứ Nam Tư, Ba lan, Áo, Nga và Lỗ ma ni, bệnh dịch nầy thường đã gây cho số nạn nhân bị thiệt mạng cao hơn cả số người chết bị gây ra bởi súng đạn.
    Sau một thời gian bị ngấm ngầm nhiễm bệnh trong khoảng chừng 12 ngày, chứng bệnh khởi phát lại thật bất ngờ, như loại bệnh cảm cúm bằng cơn sốt cảm đau đầu và bị chứng ê ẩm, mệt lả cả người. Nhiệt độ vẫn giữ ở mức 40°C, trong khi hai triệu chứng quan trọng khác lại xuất hiện, là sự nổi mụt vào ngày thứ 5 và tiếp theo là cơn mê man của bệnh thương hàn.
    a. Sự nổi mụt nầy (éruption) giống như mụt nổi của chứng bệnh sởi, nhưng trái hẳn với loại bệnh nầy là chỉ mọc ở mặt và ở cổ.
    b. Cơn mê man của bệnh thương hàn (tuphos theo tiếng Hy lạp có nghĩa là sự yếu lả), đem lại cho bệnh nhân một dáng vẻ rất đặc biệt là bất động và lạnh lùng với mọi vật vây quanh, dã dượi bần thần như nửa tỉnh nửa mê, bệnh nhân dường như sống trong một giấc mơ chìm đắm. Bệnh điếc lại càng tách biệt hẳn bệnh nhân với thế giới bên ngoài, để rồi người ta thật khó mà đạt được một sự đáp trả hay làm cho hắn đưa được chiếc lưỡi ra khỏi miệng. Thường thì bệnh nhân chỉ phác sơ những động tác không nhứt định và đến buổi chiều lại, thường khởi sự nói mê, đấy là sự mê sảng đôi khi lặng lẽ nhưng vào những lần khác thì lại thật dữ dội, với những ảo giác kèm theo. Người mắc bệnh thương hàn tìm cách quật khởi mà cũng có thể tìm cách tự tử nữa, đấy là điều buộc người ta lúc nào cũng phải lo canh giữ họ luôn.
    Trong khoảng 30% của các trường hợp, sự diễn biến có thể đưa đến cái chết, mà thường là do sự xây xẩm yếu tim. Trong các trường hợp trị được lành bệnh, nhiệt độ bắt đầu hạ từ từ, khởi vào ngày thứ 14, bệnh nhân thoát ra khỏi cảnh hôn mê và từ từ trở lại với đời sống bình thường (Theo L. C. Brumpt).
    2Theo quyển nhật ký của Bác sĩ Ding, thì các người tham dự trong phiên họp ấy là: Giáo sư Handloser, Tổng thanh tra ngành quân y; Bác sĩ SS Conti, Tổng trưởng Bộ y tế; Giáo sư Reiter, chủ tịch ủy ban bảo vệ sức khỏe; Giáo sư Gildemeister, giám đốc nghiên cứu Robert Koch, và giáo sư SS Mrughsky, y sĩ trưởng ngành SS. Buổi họp nầy được tổ chức tại viện y tế của lực lượng Waffen SS tại Bá Linh.
    3Đọc: "Cuộc săn tìm Vũ khí Bí mật của Hitler" – Sông Kiên xuất bản.

     
     
     
    nguồn: tve-4u.org

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Ngày Mới

    Thạch Lam

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646494]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502402]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639511]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471154]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340448]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600350]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689601]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2491455]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300142]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010271]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972325]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548828]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469932]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445578]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204040]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150542]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078548]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062533]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028695]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026322]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959393]
    25.Quỷ Bảo [921649]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907491]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905256]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876883]
    29.Hắc Nho [852071]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842991]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840009]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755939]
    33.Tru Tiên [747724]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745012]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661871]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622361]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592474]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569309]
    39.Hoàn Hảo [557741]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536754]
    41.Tầm Tần Ký [511901]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456103]
    43.Thiên Đường [452675]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450776]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439773]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433980]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427327]
    48.Cậu Chó [417118]
    49.If You Are Here [411818]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408134]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm