hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Christian Bernadac » Những Tên Ác Quỷ Của Y Khoa Dưới Thời Đệ Nhị Thế Chiến[938] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   6.5/7 - 2 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Christian Bernadac

    Những Tên Ác Quỷ Của Y Khoa Dưới Thời Đệ Nhị Thế Chiến



    MỤC LỤC 


     

    14

    KẾ HOẠCH "ỐNG THU LÔI"

    Tôi đã nói với anh là tôi không muốn. Nó là một con dao hai lưỡi. Nó là một cái boomerang 1 có thể quay trở về với anh với một tốc độ nhanh hơn là khi anh phóng đi.

    Hitler lên án gắt gao "chiến tranh vi trùng", không phải vì ông lo lắng cho nhân loại mà vì ông tin rằng kẻ thù của Đức-quốc-xã không bao giờ dám ra tay sử dụng trước loại vũ khí ghê gớm đó. Nó vừa ghê gớm vừa không sao kiểm soát được. Ông chấp thuận thành lập một ủy ban để chuẩn bị những biện pháp phòng vệ.

    - Chúng ta phải hành động như một ống thu lôi vậy.

    Hitler vừa tìm được cái tên để gọi ủy ban phụ trách việc đề phòng những cuộc tấn công bằng vi-trùng. Ông đã dùng đúng danh từ Blitzableiter (Ống thu lôi).

     

    Ngày giải phóng Ba-Lê, binh sĩ Mỹ đã bắt được trong một nghĩa trang một toán quân nhân Đức đang canh giữ một ngôi mộ.

    Ngày 20 tháng 3 năm 1949, Đô Đốc Ellis đã tuyên bố vụ nầy trên đài phát thanh Nữu-Ước. Trong Đệ nhị thế chiến ông đã giữ chức chỉ huy trưởng cơ-quan tình báo của Hải-quân. Theo ông các sĩ quan tình báo về y khoa đã khám phá được:

    - Đúng là trung tâm của một cuộc chiến vi trùng thực sự. Ở đó, họ đã có sẵn vật liệu để gây bệnh cho tất cả thành phố Ba-Lê. Những quân nhân Đức ở nghĩa trang đã bị bắt ngay lúc họ đang chờ đợi lệnh phát động cuộc chiến tranh vi trùng qua chiếc máy truyền tin với luồng sóng ngắn của họ. Họ định dùng khí taboun 2 để làm cho người thành điên loạn và dùng các vi trùng của bệnh dịch hạch.

     

    Cuộc chiến tranh đặc biệt nầy thật giống y như truyện con quái vật của Loch-Ness. Thật ra thì có chánh quyền nào, chiến lược gia nào không từng ngẫm nghĩ, hoàn tất, việc sử dụng vi trùng… nơi phòng thí nghiệm? Từ cái ngày mà con người tiền sử khám phá ra được chất độc giết người của một vài loại thảo mộc, từ cái ngày mà họ biết bỏ thuốc độc vào giếng nước của kẻ thù, là con người của những bộ lạc, những bộ tham mưu đã chuẩn bị cuộc "chiến tranh về bệnh tật". Tuy nhiên, chắc chắn không có quốc gia nào có nhiều sáng kiến độc đáo như nước Đức của Hitler. Có lẽ bạn sẽ nói với tôi rằng: Hitler đâu có cho rằng cần thiết phải chế tạo loại vũ khí vi trùng đó. Đúng vậy, nhưng còn Himmler, một trong những hiền "nhân con" người hay lo liệu trước ông ta phải tiên liệu những điều có thể xảy ra chứ. Thể theo lời yêu cầu của một số y sĩ, ông cho họp các nhà "thông thái" của ông lại để thành lập một lực lượng phụ trách việc ngăn ngừa sử dụng vũ khí vi trùng trước khi tìm được cái tên để gọi lực lượng nầy. Ông còn đòi hỏi cả việc thực hiện các cuộc thí nghiệm về bệnh dịch hạch trên con người.

    - Về sau, không có một tòa án quân sự nào có đủ bằng cớ để chứng minh là các cuộc thí nghiệm ấy đã được thực hiện, nhưng một sự kiện cần phải được đặc biệt lưu ý là Thiếu tướng y sĩ Schreiber giáo sư Đại học y khoa Bá Linh, đã từng điều khiển ngành khoa học Quân y đã muốn khơi vấn đề của loại chiến tranh ấy lên ở Nuremberg:

    - Trong lúc chiến tranh, về phía người Đức đã có những hành động vi phạm những điều luật bất di bất dịch của nền đạo đức y khoa. Tôi thấy cần phải đưa ra ánh sáng vụ nầy. Ấy là vì sự ích lợi cho dân tộc Đức, vì nền y khoa của người Đức và vì sự đào tạo những thế hệ trẻ trung của ngành y học Đức.

    Đó là sự chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh về sinh vật học để gây ra bệnh dịch và đưa đến những cuộc thí nghiệm trên con người sống. Tôi đã có ý chờ đợi coi tòa án nầy có tự khơi vấn đề ấy ra không. Khi thấy là không, tôi mới quyết định tự mình đưa ra lời khai trình nầy.

    Sau khi đọc những giòng chữ trên, chúng ta thấy khó lòng mà kết tội toàn thể giới y sĩ Đức. Hơn nữa thái độ của những "người khác" về chuyện nầy lại càng không thể hiểu được hơn. Schreiber tiếp tục trình bày:

    - Tháng ba năm 1945, tôi có tiếp giáo sư Blome tại văn phòng của tôi ở Hàn-lâm-viện quân y. Ông là chủ tịch y sĩ đoàn của Đức kiêm chức vụ giám đốc chương trình "Ống thu lôi". Ông từ Posen đến và có vẻ rất bị kích động… Hồng quân đã tiến tới Posen, ông bị rượt khỏi viện của ông. Trước khi rút lui, ông đã cố gắng phá hủy tất cả phòng thí nghiệm của ông bằng cách nhờ một phi cơ Stuka ném xuống đấy một quả bom, nhưng bom lại không nổ. Ông lo sợ vô cùng vì đã để lại tất cả những cơ sở dùng để thực hiện những cuộc thí nghiệm trên con người sống.

     

    Giáo sư Kliewe là Giám đốc trung tâm chiến tranh sinh vật học thuộc Nha Tổng Giám đốc Thanh tra của ngành Quân y, ông đã tranh đấu trong suốt thời gian chiến tranh để thuyết phục Fuhrer chuẩn nhận ý tưởng về cuộc "chiến tranh vi trùng". Ông viện dẫn rất nhiều lý lẽ. Trong bản tường trình đầu tiên ông đã kê khai ngay một bài báo đăng trong tạp chí Dix neuvième siècle của người Anh. Trong số tháng 7 năm 1934, tạp chí nầy đã đưa ra những tài liệu xác nhận rằng ngày 18 tháng 8 năm 1933 vào lúc 14 giờ 4 phút, nhiều điệp viên Đức đã nghiên cứu việc rắc các vi khuẩn truyền nhiễm tại công trường La Concorde và công trường la République, tại các máy hút không khí ở miệng đường xe điện ngầm và tại các lỗ thông hơi của các đường hầm. Dĩ nhiên, Ba lê là trọng tâm của vấn đề!

    Rất hùng biện, Kliewe kể lại những trường hợp trước kia:

    - Năm 1916 tòa Đại sứ Đức ở Bucarest (thủ đô Lỗ ma ni) dời đi, để lại văn phòng cho tòa Lãnh sự Hoa kỳ, viên đệ nhứt tham vụ của tòa Đại sứ, đã tham dự vào việc lục soát các khu vườn xung quanh, nơi mà người ta đã khám phá thấy trong một chiếc hộp chôn giấu dưới đất năm ống cấy vi trùng gây bệnh cho súc vật.

    - Năm trước đó, dịch thổ tả đã làm chết hai trung đoàn quân sĩ Nga đóng ở Galicie vì các giếng nước đã bị bỏ thuốc độc.

    - Năm 1917, khi rút lui, quân Đức đã bỏ lại những công trình cấy vi trùng mà về sau người Pháp đã phát giác ra được.

    - Gần phân nửa số ngựa của quân đội ở mặt trận Miền Đông đã bị nhiễm độc vì chứng cam ngựa (chảy nước mũi) và đã ngã chết. Do đó nhiều nhân viên đã bị bắt giữ. Cuộc đình chiến xảy ra đã chấm dứt vụ nầy. Nhưng đối với mọi người, từ đây loại vũ khí vi trùng không còn là một giả thuyết nữa.

    Có một người, trong trận 14-18 đã tha thiết khẩn cầu áp dụng loại chiến tranh vi trùng và trong cuộc chiến 1941 lại phát động một cuộc "vi trùng chiến" nữa. Ông đã gởi tới tấp đến các vị lãnh đạo của Đức quốc xã nhiều bức thư, vô số báo cáo, những điều tổng kết… Đó là y sĩ đại tá Winter:

    - Tháng 4 năm 1916, khi làm y sĩ ở tổng hành dinh quân đoàn 21, tôi đã đệ trình lên Tổng trưởng Chiến tranh một bức giác thư. Trong đó tôi trình bày về một cuộc chiến tranh vi trùng và tôi đã đưa ý kiến nên tấn công Luân Đôn và các hải cảng Anh bằng một loại vũ khí công hiệu nhất và cũng kinh khủng nhất, đó là: vi trùng dịch hạch… Tôi cũng đã trình bày ý kiến nầy với vị phụ tá Chỉ huy trưởng Quân y. Sau khi lặng lẽ nghe tôi trình bày, ông ta tiễn tôi ra cửa và nói rằng: "Nếu chúng ta áp dụng biện pháp nầy, chúng ta sẽ không còn xứng đáng hiện hữu với tư cách là một quốc gia nữa". Một lần nữa, nước Đức đang lâm vào cuộc chiến một mất một còn. Chúng ta không thể nào lùi bước được nữa. Đối với những địch quân như thế, thì phải loại bỏ vấn đề nhân đạo ra, tất cả những hòa ước đều trở thành vô nghĩa; điều nầy cũng được áp dụng ngay cả cho các bản văn đã được ký kết giữa Đức và Anh quốc căn cứ theo hiệp định Genève ngày 27 tháng bảy năm 1925, theo đó cả hai nước đều cam kết không dùng khí độc hay vi trùng sẽ trong cuộc chiến. Tuy nhiên, vũ khí vi trùng trở nên phương tiện hữu hiệu nhất để chiến thắng Anh, Mỹ, ngay trên quê hương họ. Hiện tại số người chống đối cuộc chiến nầy còn khá đông đảo, nhưng họ chống đối không phải vì lý do đạo đức, mà chỉ vì họ thiếu ý thức trách nhiệm và vì họ sợ sệt. Cuộc chiến tranh toàn diện không cho phép chúng ta chú trọng quá đến vấn đề đạo đức. Chiến tranh chỉ biết có một định luật thôi. Đó là tiêu diệt kẻ thù bằng mọi giá, với mọi phương tiện. Miễn là có thể chiến thắng!

    Thật là một ý tưởng tuyệt diệu! Nhưng chưa hết đâu! Sau khi chứng minh sức chịu đựng của nhiều loại vi khuẩn vừa hữu hiệu vừa nẩy nở nhanh chóng; dầu phải sống một tháng ngoài trời, Winter tiếp tục thuyết trình:

    - Tôi đã nghiên cứu tỉ mỉ những chi tiết kỹ thuật cần thiết, nhưng tôi không viết ra đây vì lý do cơ mật, chương trình sau nầy phải được giao cho một ủy ban chuyên môn. Trong đó sẽ không có chỗ cho những người rụt rè vì tinh thần mô phạm hay những kẻ phản đối vì lý do nhân đạo. Một hành động như vậy đòi hỏi phải có những người cương quyết, quả cảm dám chấp nhận mọi gian nguy để phục vụ đất nước.

    Trong cuộc tranh đấu sống còn, tôi phải kể tên bá tước Rebenklow. Ông là người không hề biết dừng lại trước các loại vũ khí mà ta cần sử dụng, hay trước những giá trị mà ta phải hủy diệt đi. Sau khi hòa bình rồi, ta sẽ tu bổ lại những sự tổn hại. Tôi còn muốn xác định rằng: chiến tranh vi trùng còn có một điều lợi nữa là nó rất ít tốn kém. Chúng ta có thể dùng vi trùng bệnh dịch hạch vì nó là loại có sức hủy diệt khủng khiếp nhất.

    Và, bây giờ giải quyết sao đây? Xin được như nguyện! Kliewe đã vung "chiếc dù thu lôi" của ông ta lên và đáp!

    - Những tư tưởng về chiến tranh vi trùng nầy đã được viết ra vì tình yêu tổ quốc nhiệt thành. Chúng bao gồm những đề nghị quan trọng mà các nhà chuyên môn đã bàn luận trước rồi. Dù sao, cuộc chiến tranh vi trùng nầy có được tuyên bố dưới hình thức nầy hay hình thức khác, hoặc không bao giờ được chấp nhận, đó là quyền của Fuhrer.

     

    - Tôi được một con!

    - Tôi xui xẻo quá không được con nào cả! Mấy con vật quỷ quái nầy hình như biến đâu mất hết rồi!

    Toán lính lại lom khom tản mác trong các cánh đồng ở Speyer tìm kiếm. Trước đây vài phút, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một chiếc phi cơ đã thả xuống một quả bom chứa toàn giống bọ khoai. Các "Cơ sở khoa học" của quân đội đã làm lại chiến dịch Bordeaux. Nếu cuộc thí nghiệm ở Speyer thành công, thì hằng triệu ký sinh trùng sẽ đươc thả xuống các vườn nho, và các rẫy bái xung quanh.

    Sáu giờ sau khi thùng đựng bọ khoai đã chạm tới đất, kết quả không có vẻ khả quan chút nào:

    - Chúng tôi đã tìm được 23 con.

    Cuộc lùng kiếm vẫn tiếp tục. Khi màn đêm buông xuống, các sĩ quan đều nản lòng. Trong số mười bốn ngàn con họ phải thu nhặt lại thì hết mười ba ngàn chín trăm bốn mươi ba con đã bay đâu mất!

    - Thưa Đại tá, hiện giờ được tất cả là 57 con!

    Khoai tây ở vùng Bordelais và ở nước Anh vừa thoát khỏi một tai nạn khủng khiếp. Ủy ban "Ống thu lôi" vẫn không nao núng. Các sở thú y thuộc quân đội đang chiếm đóng ở Pháp đang phụ trách việc thu nhặt nhiều ngàn con bọ tiêu địch (coléoplère) loại chỉ háu ăn độc một thứ khoai tây, Ủy ban sắp làm cho dân Anh phải chết đói! Bằng cách nào?

    - Bằng cách gởi những con bọ theo các tù binh Đức của Churchill. Thuyết trình viên là giáo sư Klieve kết luận một cách vắn tắt:

    - Chúng ta đã thử gởi các con bọ khoai từ Pháp sang Anh theo các tù binh chiến tranh, khi đến nơi thì thì giống bọ nầy đều chết cả. Các tù binh chiến tranh đã bị phạt.

     

    Nhà hóa học Heinrich Schmitt đề nghị với Fuhrer một phương tiện chắc chắn tiêu diệt được nước Nga:

    - Ta chỉ cần đầu độc tất cả tù binh Nga bằng cách tiêm vào họ một loại vi trùng gây bệnh hiểm nghèo trước khi thả họ. Bệnh nầy chỉ phát hiện hai tuần lễ sau đó.

    Kliewe trả lời:

    - Không có nhân sự đủ điều kiện để thực hiện. Việc thình lình rút bỏ hằng ngàn công nhân sẽ làm thiệt hại nặng nề công cuộc sản xuất của chúng ta.

    Nếu Hitler đã phát động cuộc chiến tranh vi trùng, thì đây là những thảm họa đe dọa quân Đồng Minh. Họ dự định:

    - Cuộc tấn công bằng vi trùng sẽ diễn ra tại chiến tuyến. Dĩ nhiên với điều kiện tất cả quân sĩ ta được chích ngừa chu đáo rồi. Trận chiến nầy có thể thực hiện dọc theo tiền tuyến, trong một vài vùng bị rút bỏ. Trong trường hợp nầy, ta có thể thả những con thú loại gặm nhắm đã bị tiêm vi trùng dịch hạch và truyền nhiễm xuống. Ta có thể đầu độc bằng cách bỏ xuống giếng những vi trùng dịch tả, thương hàn hay kiết lỵ. Ta đầu độc thức ăn bằng vi trùng thương hàn hoặc vi khuẩn lạp trường độc đầu độc cỏ khô của ngựa bằng vi trùng bệnh quần đinh (nhọt chùm) hay bệnh cam ngựa. Những pháo đài cô lập, những trung tâm phát triển quân đội, những hải cảng sẽ cho chúng ta có cơ hội tốt để tấn công bằng vi trùng.

    - Tất cả những dụng cụ nầy đều được phi cơ mang đi. Công tác gồm có việc treo vào phi cơ, ngụy trang cho địch không thấy, làm những đám mây nhân tạo và sau hết thả bom hay thả dù các thùng đựng vi trùng xuống đất. Thí dụ như trong trường hợp gây ra bệnh dịch hạch, ta sẽ thả những chiếc lồng đựng chuột bị nhiễm độc xuống. Vừa chạm mặt đất, các chiếc lồng sẽ tự động mở cửa ra.

    Chúng ta hãy tiếp tục đọc các bài nghiên cứu của Ủy ban "Ống thu lôi":

    - Nói chung, những đặc công phá hoại sẽ làm việc với một ít dụng cụ tẩm độc. Khi cơ hội thuận tiện và có sự hợp tác của quần chúng địa phương, ta sẽ thực hiện những cuộc đầu độc qui mô hơn. Mục tiêu là những khu phố không được canh phòng cẩn mật hay những nơi dân cư thưa thớt. Trên đất địch, việc sử dụng mầm gây bệnh để phá hoại được dự liệu như sau:

    1 – Tán thành bột các bộ phận của thú vật đã bị nhiễm bệnh (quần đinh, bệnh sốt Malte (brucellose), bệnh tularémie, 3 bệnh dịch hạch). Đựng bột nầy vào trong các ống nhỏ, rồi đem vất vào các đường xe điện hầm, các nhà ga, các cầu vệ sinh công cộng. Nếu ban đêm thì có thể vất ngay ngoài đường, trong các hành lang, v. v.

    2 – Tất cả những bột vi trùng hay những chất lỏng cấy vi trùng đều được sử dụng như trên. Ta còn có thể dùng các cống Compte gouttes để truyền các mầm bệnh thương hàn, kiết lỵ dịch tả. Ta nhểu dung dịch vi trùng trên các quả nấm để mở cửa, các khăn lau, các gối nằm, các băng xe. Ta có thể nhỏ giọt vào thức ăn thức uống, nhất là vào bia, sữa, bột làm bánh và nước tắm.

    3 – Các ống nước, giếng nước trong thành phố hay làng mạc, các cơ xưởng quân sự đều có thể bị đầu độc bằng vi trùng đựng trong mấy chiếc ống hay thùng được ngâm lạnh.

    4 – Các con rận đã bị nhiễm bệnh truyền nhiễm (typhus) có thể được thả vào những nơi công cộng như quán nước, rạp chiếu bóng, rạp hát…

    5 – Ta có thể trộn phân của các con rận bị truyền nhiễm với thuốc bột hay tro tàn thuốc rồi đem rải ở các cầu vệ sinh, các hí viện, các tửu lầu, các phòng họp, các tiệm hấp tẩy hay giặt ủi.

    6 – Ta lấy các mầm truyền nhiễm bệnh ban sốt (do sữa gây ra) trên các phân tử thượng bì, sấy khô đi và trộn với rơm thái nhỏ để đem rải trên các đồng cỏ hay các chuồng súc vật. Các miểng chai, các vụn kim loại cũng có thể dùng để trộn với các thức ăn của súc vật.

    7 – Chất lỏng chứa vi khuẩn bệnh cam ngựa cũng có thể dùng trét vào lỗ mũi, miệng mắt của ngựa, lừa. Ta còn có thể trét lên các máng ăn, các thùng nước uống; bôi lên các cây lược và bàn chải dùng trong các chuồng ngựa.

    8 – Ta có thể phát không cho quân sĩ những kẹo và thuốc lá đã tẩm vi trùng.

    9 – Ta có thể chích chất lạp trường độc tố vào các hộp thức ăn, vào xúc xích, vào thịt hun khói, vào mỡ heo, vào fromage, vào mứt.

    10 – Tẩm độc các ống kem và bàn chải đánh răng bằng vi khuẩn bệnh thương hàn.

    Chúng ta chưa kể hết các chứng tích về việc tẩm độc vào đường sucre, vật liệu xây cất, quần áo, thuốc hút. Trong các bản báo cáo mà Đồng Minh đã tìm thấy trong nhà của giáo sư Kliewe, ta thường tìm thấy những câu như thế nầy:

    - Việc sử dụng 4 một cách qui mô loại vũ khí vi trùng chưa thực hiện được, nhưng việc gây mầm bệnh đang tiến hành khả quan với các vi khuẩn và độc tố. Chúng tôi có nhiều thí dụ về vấn đề nầy.

    Chúng ta có thể căn cứ vào những sự kiện trên để kết luận rằng các cuộc thí nghiệm cũng đã được thử ở Pháp, Anh và các xứ miền Đông. Các tòa án y học đã lướt nhanh qua vấn đề tế nhị nầy. Trong chiến tranh, mỗi nước đều đã chuẩn bị một chương trình vũ khí "vi-trùng". 5 Ngay ở Ba lê cũng đã xảy ra một vụ. Câu chuyện xảy ra vào tháng 12 năm 1941. Tám trăm người lính Đức cùng dùng điểm tâm trong một câu lạc bộ. Sau đó tất cả đều bị bệnh thương hàn.

    Bệnh dịch đã thực sự xảy ra và cơ quan Quân y đã kết luận "Phá hoại bằng sự cấy vi trùng".

    Theo lời khai của giáo sư Mrugowsky ở Nuremberg:

    - Ở Posen và Lublin, trong các nhà hàng của Đức, phong trào kháng chiến Ba Lan đã cung cấp cho những người bồi bàn các ống chích đựng chất lỏng chứa vi trùng để trộn vào thức ăn hay rượu bia. Do đó, nhiều sĩ quan Đức bị đầu độc và chết. Câu chuyện bị bại lộ ngay. Trước tòa án, các bị can đều nhìn nhận việc nầy và đều bị kết án xứng đáng. Chính tôi (giáo sư Mrugowsky" đã khám phá được các chai dán nhãn "Dùng để đánh bóng" nhưng thực sự chúng chứa đựng vi trùng bệnh thương hàn và thổ tả.

    Nhưng sự bí mật lớn lao nhất trong cuộc chiến tranh đặc biệt nầy chính là vụ "những quả khí cầu của người Nhật"… Mãi đến mười hai năm sau sụ Hiroshima, quân đội Mỹ mới tiết lộ bí mật ấy ra và sau đó cố né tránh không muốn đề cập đến vấn đề "chiến tranh vi trùng"

    Năm 1957, tướng Wilbur, cựu Tham mưu trưởng phụ trách Bảo vệ miền Tây Hoa Kỳ, tiết lộ:

    Ngày 18 tháng 4 năm 1942, khi cho oanh tạc Tokyo, tướng Doolittle đã làm tổn thương nặng nề lòng tự ái của người Nhật. Để tìm cách trả thù, người Nhật bèn nghĩ ra việc thả các quả cầu bay vượt Thái bình dương để tấn công miền Tây Hoa-Kỳ. Các quả cầu nầy chứa những quả bom lửa và bom nổ mà một bộ máy đặc biệt sẽ điều khiển cho đáp xuống những cánh đồng, những nông trại và những thành phố của Mỹ. Công cuộc chuẩn bị đã kéo dài trong suốt hai năm. Trong sáu tháng, từ tháng mười một năm 1944 đến tháng tư năm 1945, người Nhật đã thả chín ngàn quả khí cầu như vậy.

    Đường kính của mỗi quả đo được mười thước và cao độ được dự liệu là mười ngàn đến mười một ngàn năm trăm thước. Mặc dầu người Nhật không điều khiển được những quả cầu nầy sau khi chúng đã bay đi ngay cả bằng radio, nhưng người ta đoán cũng có khoảng một ngàn quả đã bay đến lục địa Mỹ châu. Người ta đã định được các điểm rơi từ Alaska đến Mễ-Tây-Cơ. Trong vùng Tây-Bắc Hoa-Kỳ và miền Tây Gia nã đại, người ta đã tìm thấy gần hai trăm quả khí cầu nầy trong tình trạng hầu như nguyên vẹn. Các mảnh vụn của bảy mươi lăm quả khác đã được nhặt lại từ các địa điểm khác hay được vớt lên ngoài khơi bờ Thái bình dương. Sau hết, theo sự nhận thấy các vụ nổ trên trời, thì có ít nhất cũng một trăm quả đã nổ tung ngay trên không trung.

    Ngày nay, người ta gần như có thể chắc chắn rằng một số trong các quả khí cầu ấy đã chở các loại vũ khí vi trùng. Thật vậy, lúc bấy giờ, hằng trăm vị thú y bác sĩ, giám đốc và giáo sư các viện nông học đều được động viên tại chỗ. Các nông dân được lệnh phải thông báo tất cả các chứng bệnh mà gia súc của họ mắc phải.

    Người Mỹ thí vẫn giữ bí mật các vụ "oanh tạc" ấy, còn người Nhật chỉ xác định được sự đến nơi của một quả khí cầu mà thôi. Trong số chín ngàn quả chỉ có một quả bay đến đích, chiến dịch "khí cầu" xem như hoàn toàn thất bại. Thế nên tháng 4 năm 1945, người Nhật cho ngưng ngay kế hoạch tấn công nầy.

    Vậy mà, mãi đến mười hai năm sau, sự mô tả các quả cầu nầy vẫn còn gây kinh ngạc cho tất cả các kỹ thuật gia quân đội trên khắp thế giới:

    - Túi dằn trong mỗi quả khí cầu là ba mươi bao cát, mỗi bao nặng ba kí-lô. Nếu quả khí cầu vừa xuống dưới cao độ mười ngàn thước, thì một hệ thống đu cân dính liền với một khí áp biểu sẽ bỏ rơi bớt đi một bao cát còn nếu khí cầu lên quá cao độ mười một ngàn năm trăm thước thì có một phần điều khiển tự động khác mở một xú bắp để một số lượng khinh khí (hydrogène) thoát ra.

    Tại sao lại có một sự nghiên cứu tinh mật về một cao độ bất biến đến như vậy (nếu chỉ để thả bom thì ở cao độ nào lại không thả bom được!) nếu không phải là để đảm bảo sự thành công của việc rải vi trùng vào đất địch? Vấn đề hãy còn đang được đặt ra. 6

    --------------------------------
    1Boomerang: là một khí giới hình lưỡi liềm của người Úc dùng để phóng đi xa. Nếu không trúng đích lại trở về chỗ cũ – Nghĩa bóng: hành động ngậm máu phun người trước dơ miệng mình.
    2Taboun là một thứ khí không màu, không mùi sẽ tấn công vào hệ thống thần kinh của con người qua buồng phổi và hai mắt. Nạn nhân sẽ chết trong vòng một đến năm phút. Nếu mắt và đường hô hấp đều đã được bảo vệ thì khí nầy cũng có thể thấm vào da qua lớp quần áo để gây ra cái chết trong khoảng thời gian nhanh nhất là mười phút, chậm nhất là hai giờ. Thời đó, người ta chưa tìm được thứ thuốc nào để giải độc có hiệu quả cả.
    3Tularemie: Một bệnh truyền nhiễm gây nên bởi loại vi trùng batérium tularense bệnh dịch của thỏ và di truyền sang người. Bệnh tularémie trước tiên phát hiện ở Hoa kỳ, đoạn ở Nhựt bổn, và bây giờ sang đến Âu Châu.
    4Bản báo cáo ngày 21-9-1943 gởi cho Nha Quân-Y.
    5Ở Hoa-kỳ, theo sự yêu cầu của chánh phủ, các bác sĩ Théodore Rosebury và Elvin Kabat đã thảo một bản phúc trình về những kết quả có thể gặt hái được nếu sử dụng vũ khí vi trùng. Trước tiên hai ông loại bỏ ngay các chứng bệnh không truyền nhiễm nhanh chóng… công hiệu của nó yếu và không chắc chắn như: bệnh cùi (thời kỳ nhiễm bệnh quá dài), bệnh đậu mùa (nhiều người đã được chủng ngừa), bệnh lao (ít truyền nhiễm và lây rất chậm), bệnh dịch hạch (loại bọ chét truyền bệnh nầy yếu đuối dễ chết), bệnh hoại thư v. v… Trái lại, họ có thể dùng các vi khuẩn hay độc tố của một vài chứng bệnh ít lan tràn và ít người biết đến như bệnh lạp trường độc, bệnh của Weil, bệnh quần đinh, bệnh dịch hạch xoài… Thí dụ như đối với dạ dầy và ruột, không có chất độc nào mạnh hơn chất lạp trường độc Toan (toxine botulique). Trong một vài ngày, nó có thể làm chết 60 hay 70% nạn nhân. Bỏ vào nước uống, nó có thể giết sạch dân chúng của cả một vùng, trước khi người ta tìm được biện pháp cứu chữa và phòng ngừa. Theo một giáo sư Gia-Nã-Đại tên là Carter, thì chỉ cần dùng năm mươi gam chất lạp trường độc toan là đủ tiêu diệt dân chúng của phân nửa quả địa cầu và với năm mươi gam độc tố phong đòn gánh (toxine télanique) là đủ sức giết một trăm triệu người.
    Về cách dùng vi khuẩn hay mầm truyền nhiễm, người ta đề nghị dùng chất lỏng hòa tan (suspensions liquides) hay hợp chất khô (préparations sèches) đựng trong các ống bằng thủy tinh. Ống nầy có một bộ máy phát hơi chạy bằng gaz dùng để phân tán những tác nhân sinh bệnh (germ pathogènes) trong một xạ kính nào đó chung quanh điểm rơi.
    Mặc dầu nghiên cứu hoàn toàn hạn chế trên một bình diện thuần túy "khoa học" các bác sĩ Rosebury và Kabat vẫn nhìn nhận rằng: nếu dùng vũ khí vi trùng thì sẽ gây ra những "hậu quả tinh thần tàn khốc".
    6Trường hợp các phi đội Thần phong, các máy bay tự tử của Nhựt cũng thể, vấn đề cũng đã được đặt ra và cũng chưa được giải đáp. Các phi công có bị cho uống thuốc kích thích trước khi tình nguyện lao đầu vào hạm đội Mỹ bằng chiếc khu trục cơ "zero" chỉ trang bị bằng một quả bom 250 ký của họ không? Thủy Sư Đô đốc Ohnishi, người sáng chế ra loại "vũ khí người" ấy và cũng là người tuyển lựa "các anh hùng cứu quốc" lúc nào cũng có một số đông y sĩ đi theo giúp việc. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, ông đã mổ bụng tự sát bằng thanh gươm võ sĩ đạo của mình. Ông đã đưa hai ngàn năm trăm mười chín sĩ quan và phi công Nhựt vào con đường tự sát.

     
     
     
    nguồn: tve-4u.org

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Một Mai Khi Hòa Bình

    Nhã Ca

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646644]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502538]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639721]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471310]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340903]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600529]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689839]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493170]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300424]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010492]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972332]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548895]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470024]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445699]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150626]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078691]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028825]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026450]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959443]
    25.Quỷ Bảo [921712]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907577]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877025]
    29.Hắc Nho [852161]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843170]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840067]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756015]
    33.Tru Tiên [747770]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745203]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661909]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622427]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592491]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569362]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536789]
    41.Tầm Tần Ký [511987]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456250]
    43.Thiên Đường [452700]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450857]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439787]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427377]
    48.Cậu Chó [417250]
    49.If You Are Here [411854]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408214]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm