hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Bette Bao Lord » Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần[16895] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   0.0/7 - 0 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Bette Bao Lord

    Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần



    MỤC LỤC 


     

    Kẻ Khẩn Cầu

    Thứ tư ngày 14 tháng 5, năm 1989 bí thư đảng Triệu Tử Dương viết một bức cáo thị kêu gọi sinh viên quay lại học đường vì lý do sức khỏe. Ông cũng xác định phong trào sinh viên xuống đường là một phong trào yêu nước và hứa không bắt tội những sinh viên lãnh đạo.

    Vì những lời phát biểu của Triệu Tử Dương không thực sự phủ nhận bài bình luận ngày 26 tháng 4, sinh viên lại xuống đường. Hơn một triệu người đổ ra đường phố để biểu đồng tình với những người đang kêu gọi dân chủ hóa chính phủ.

    Tôi chẳng thể đoán được tuổi ông ta vì lúc nào chiếc mũ cũng lệch xuống che kín khuôn mặt. Răng ông vàng nám vì khói thuốc nhưng khi tôi mời thuốc theo nguyên tắc xã giao của người Trung Hoa thì ông lại chối từ. Ông đeo máy trợ tai nhưng lúc nói ông lại nói nhỏ đến độ tôi ước gì mình cũng có máy trợ tai để nghe cho dễ. Hai tay ông xoăn vào nhau khi ông mở đầu câu chuyện bằng tình hữu nghị giữa Đài Loan và Trung Hoa, về ước vọng nối kết Đài Loan và Trung Hoa của tất cả mọi người Trung Hoa, về những thành quả của các phong trào cải cách. Cung cách nói chuyện cho thấy rõ ràng là tất cả những điều này ông đã thuộc lòng từ lâu.

    Sau khi câu chuyện xã giao kết thúc, ông bắt đầu đi vào vấn đề chính. Ông giải thích lý do nào đã khiến ông bỏ ra suốt ba ngày trời đi xe lửa đến gặp tôi để giúp cho một người bạn thân đang gặp khó khăn về vấn đề nhà cửa. Ông đã tìm đủ mọi cách để giải quyết vấn đề. Giờ đây chỉ còn một cách duy nhất cuối cùng là đến gặp bà đại sứ.

    Khi nghe xong tôi đã ngẩn người kinh ngạc vì ông đã vượt một quãng đường xa như thế để đến gặp tôi, nhưng sự mong mỏi ngây thơ của ông không làm tôi ngạc nhiên lắm. Tôi đã quá quen với những chuyện cầu khẩn của những người lạ. Tuần nào tôi cũng nhận được hàng loạt những yêu cầu khẩn khoản qua thư hoặc điện thoại. Nào là nhờ xin giấy thông hành, học bổng, công việc, nhà cửa, ly dị và cả cưới xin. Cứ mỗi lần như thế tôi lại nói rõ cho những người yêu cầu hiểu là tôi chẳng có quyền hành gì có thể ảnh hưởng đến các vấn đề của các nhà chức trách Hoa Kỳ và Trung Hoa. Tôi trình bày gián tiếp sự bất lực của tôi đối với vấn đề họ yêu cầu hơn là nói rõ cho họ biết rằng người Hoa Kỳ không thích nhờ cậy vào những người bạn quyền thế và lạm dụng quyền thế để làm việc tư hoàn toàn trái với pháp luật và có thể bị mang tiếng hoặc bị tù. Tuy rằng trên lý thuyết đây cũng là những điều đòi hỏi về tư cách của các nhân viên trong chánh phủ Trung Hoa nhưng gần như tất cả những người yêu cầu tôi giúp đều biết sự thật quá rõ: Ở Trung Hoa quen biết với những người quyền thế là một cách tuyệt hảo để giải quyết các vấn đề khó khăn của đời sống. Quen biết với những người quyền thế thực sự có khi còn quý hơn là chính mình được đứng vào phương vị quyền thế đó.

    Bởi thế, khi tìm cách trình bày với những người yêu cầu giúp đỡ rằng tôi bất lực, tôi vẫn thường đưa ra những thí dụ điển hình về sự bất lực của tôi. Tôi kể rằng, ngay cả đến chọn người cộng sự với tôi ở tòa đại sứ hoặc ngay cả đến tìm người nấu ăn tôi cũng không có quyền lựa chọn. Tất cả 250 người làm việc cho tòa đại sứ, từ lao công cho đến tài xế, người đưa thư, tổng đài viên điện thoại, người phụ giúp nghiên cứu, hết thảy đều do văn phòng dịch vụ ngoại giao Trung Hoa gửi đến. Bao giờ bản cáo thị cũng ngấm ngầm nêu rõ: "Ngoài ông X ra chẳng còn nhân viên nào khác."

    Trong năm đầu tiên nhà tôi làm đại sứ ở Trung Hoa, theo lẽ thì có ba người nấu bếp cho tôi. Đầu bếp A đã từng phục vụ 4 đại sứ tiền nhiệm và được đặt bí danh là "Thánh." Bí danh đó đúng hoàn toàn. Anh ta lấy việc nấu ăn cho cả trăm người một ngày làm vui. Chưa có người đầu bếp nào có thể tiết kiệm bằng anh. Mặc cho tất cả thực khách hết sức no say, gần như chẳng khi nào anh để còn đồ ăn dư. Đầu tiên tôi không tài nào hiểu nổi tại sao lúc nào khi đưa danh sách những người đến dự tiệc ở tòa đại sứ anh ta cũng hỏi tôi bao nhiêu khách là người Hoa Kỳ, bao nhiêu khách là người Trung Hoa. Tôi thắc mắc chẳng hiểu anh ta hỏi vậy để làm gì? Cuối cùng tôi hỏi thẳng. Thường thì câu trả lời của anh lúc nào cũng là thừa, nhưng lần đó câu trả lời vừa khôn ngoan lại vừa súc tích chẳng khác nào lời Khổng Tử: "Bà không biết à? Người Hoa Kỳ lấy say làm vui, người Trung Hoa lấy no làm vui."

    Mặc dù tôi cố tình nhắc nhở, thực đơn của đầu bếp A rất ít khi thay đổi. Chủ trương của anh là khiến khách no đủ, chứ không lấy những cách trình bày hoa lệ làm chuẩn. Anh ta có thể kể vanh vách tất cả mọi thứ ở cả dưới hầm, trong kho và trong tất cả 12 cái tủ lạnh. Anh giữ lại tất cả mọi thứ bất kể mốc meo, mùi vị ra sao, bất kể tôi nài nỉ anh đổ bỏ thế nào. Đầu bếp A là người rất mực rụt rè và ít khi tham gia bàn bạc những chuyện không hay trong nhà. Lúc nào anh cũng chỉ thích quanh quẩn với những dụng cụ nấu bếp và gần như chẳng có ý muốn tiếp xúc với ai khác nữa.

    Bỗng nhiên một hôm tôi được tin sở dịch vụ ngoại giao bổ nhiệm anh đến làm cho tòa đại sứ Trung Hoa ở Nga và người đầu bếp thay thế anh ta là đầu bếp B.

    Chẳng bao lâu sau, tôi bắt đầu hối hận đã bỏ qua đầu bếp A một cách dễ dàng. Đầu bếp B tự phụ là anh có tài vừa giữ bếp sạch trắng tinh, vừa nấu bất kể bao nhiêu bữa ăn với rượu Cordon Blue cũng được. Tuy thế, anh lại thường xuyên vắng mặt, hay nổi giận bất ngờ và lúc nào cũng hành động độc đoán với những người trong gia đình. Mặc dầu vậy, tôi vẫn cố chịu đựng để giữ hòa khí và tránh gây rắc rối trong vấn đề nấu nướng cho khách.

    Rồi một hôm đầu bếp B bỗng xin nghỉ. Lý do: áp huyết cao. Đây là căn bệnh của những nhân viên phòng dịch vụ ngoại giao hay đưa ra để nại cớ nghỉ dài hạn vẫn được ăn lương. Thường là qua đường dây của một bác sĩ quen. Nhiều tuần sau đó, tôi tìm đủ cách để dỗ dành anh ta trở lại. Cuối cùng, anh ta thú thực: "Thầy Phổ Nhẫn đã xem tướng và cho biết rằng tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa. Chính vì thế nên tôi không muốn hại đến tiếng tăm của bà đại sứ rủi lỡ tôi qua đời ngay trong lúc nấu nướng." Tôi đành chấp nhận để anh ta đi.

    Chẳng bao lâu sau, tôi lại hối hận đã không bỏ công để tìm cho đầu bếp B một người thày bói khác.

    Sở dĩ tôi cảm thấy hối hận như thế là vì đầu bếp C, người thay thế đầu bếp B chẳng những đã gây nguy hiểm cho riêng anh ta mà còn cho cả gia đình tôi và tất cả những thực khách khác nữa. Một người vừa thiếu kinh nghiệm, vừa thiếu khả năng và vừa thường xuyên phạm phải lỗi lầm như thế mà lại tự tạo cho mình được một sự tự tin tột độ như thế quả là một điều phi thường. Trước bữa tiệc Lễ Tạ Ơn vài giờ tôi đến để xem anh ta chuẩn bị gà Tây ra sao. Anh chỉ mới thấy gà Tây có một lần từ trước đến nay: ở sở thú. Khi thấy 6 con gà Tây được quay vàng óng, niềm hân hoan tràn ngập khiến tôi nhẹ cả người. Tôi ngồi luôn trên một cái thùng carton gần đó.

    Có lẽ có ai ở gần nghe tiếng động chỗ thùng carton nơi tôi ngồi xuống lên tiếng hỏi thùng chứa gì nên tôi nghe tiếng người đầu bếp trả lời: "Hành nhập cảng từ Hoa Kỳ."

    Hành? Tôi có đặt mua hành bao giờ đâu? Hành có bán ở ngay trong địa phương và giá lại rẻ mạt thì ai lại đi đặt ở Hoa Kỳ làm gì?

    Tôi nhìn vào trong thùng. Thoạt nhìn những củ trong thùng trong cũng giống hành nhưng quả thật không phải hành. Tôi ngửi thử một củ, hai củ nữa rồi ba củ. Mùi vị quả không giống hành tí nào. Khi tôi sắp sửa cắt thử một củ ra thì chợt nhớ đến lời vợ của một nhân viên trong phái đoàn được ủy nhiệm sang Trung Hoa. Bà ta là một người thích trồng cây kiểng trong vườn. Trước đây bà có hứa sẽ gửi cho tôi một ít củ dạ hương.

    Tôi trố mắt nhìn vào thùng dạ hương đã vơi đi phân nửa và rồi ngập ngừng hỏi: "Anh. . . anh có dùng. . .?"

    Đầu bếp B trả lời ngay: "Ồ có chứ! Dĩ nhiên tôi phải dùng đúng hành Hoa Kỳ nhồi gà Hoa Kỳ cho hợp với dịp lễ Hoa Kỳ chứ!"

    Tôi thét lên: "Trời ơi, đừng ai chạm đến món gà Tây hết."

    "Chúng tôi đâu dám, món đó nguyên để dành riêng cho khách."

    Khách! Trong cơn hoảng hốt tôi quên bẵng đi mất vấn đề khách. Tôi nhìn đồng hồ. Trời đã quá muộn không thể đổi món khác được nữa. Trong cơn tuyệt vọng tôi chợt nghĩ có thể người Tàu vẫn ăn củ dạ hương? Biết đâu?

    Tôi bảo người tài xế đến một tiệm thuốc Bắc gần đó để hỏi.

    Trong khi đó tôi chạy đến tiệm thuốc tây ở gần tòa đại sứ. Tiệm thuốc tây đóng cửa. Tôi gọi bác sĩ tòa đại sứ Đức. Ông đi vắng. Tôi gọi bác sĩ tòa đại sứ Nhật. Cũng đi vắng. Tôi gọi chuyên viên nông nghiệp đến để hỏi xem củ dạ hương có độc hay không. Anh ta được một trận cười thỏa thích nhưng chẳng thể trả lời được câu hỏi của tôi.

    Người tài xế đến tiệm thuốc Bắc đã quay lại.

    "Họ bảo sao?"

    "Họ bảo người Trung Hoa không ăn củ dạ hương, nhưng có thể người Hoa Kỳ ăn. . ."

    Tôi lại quay lại phòng y tế của tòa đại sứ. Phòng y tế mở cửa nhưng bác sĩ lại ở Hồng Kông. Tôi hỏi người y tá xem cô có quyển tự điển nào liệt kê các loại cây độc, hay không. Người y tá đưa tôi một quyển, tôi lật đến mục củ độc và dưới mục củ độc có ghi củ dạ hương.

    Tôi chợt nghĩ không hiểu nếu đổ hết những củ dạ hương đã nhồi thì thịt gà Tây có còn dùng được nữa hay không? Nhỡ ngày mai có 100 xác chết trong tòa đại sứ thì sao?

    Tôi chớp mắt, cố xua tan đi hình ảnh rùng rợn và chợt nhìn thấy bức hình một khuôn mặt đang cười dán trên tường phòng bác sĩ. Tôi ước gì khuôn mặt đừng cười. Khuôn mặt vàng vọt với chiếc lưỡi thè dài ra xanh lè. Cô hồn của buổi Lễ Tạ Ơn sắp tới? Tôi bắt đầu cảm thấy rùng rợn chẳng khác gì khuôn mặt lè lưỡi đang cười thì nhìn thấy số điện thoại của Trung Tâm khảo nghiệm chất độc ở Atlanta, tiểu bang Georgia cũng dán trên đó.

    Tôi gọi ngay và chỉ tốn mất khoảng 15 phút. Có lẽ giờ đó là khoảng 4 giờ sáng ở Atlanta.

    "A lô, có phải Trung Tâm khảo nghiệm chất độc đây không? Tôi đang gọi ở Bắc Kinh."

    "Trời ơi. Bắc Kinh thật à, chúng tôi chưa từng nhận được điện thoại ở Bắc Kinh bao giờ. Chỉ có một lần chúng tôi được điện thoại ở Ba Lan, nhưng lần đó cách đây cũng khá lâu rồi."

    "Ông không thể tưởng tượng được. . ."

    "Tôi tưởng tượng được chứ, người vừa mới gọi chúng tôi cho biết con ông đã nuốt hết một hộp banh bóng bàn, và người trước đó báo tin chúng tôi rằng vợ ông nấu tôm với hột cỏ giống Kentucky. Và trước đó ít lâu-- "

    Tôi ngắt lời ông ta để trình bày chuyện đầu bếp C. Ông bảo rằng tôi phải đổ hết những củ dạ hương nhồi phía trong.

    "Còn thịt gà tây thì sao?"

    "Tôi sẽ hỏi bác sĩ rồi gọi lại cho bà."

    Trong khi đó người đầu bếp vẫn bình thản như chẳng có chuyện gì xảy ra và chỉ nhẹ thở dài khi tôi đổ tất cả những củ dạ hương anh ta nhồi bên trong những con gà Tây anh nấu mà chẳng cần đoái hoài gì đến việc nếm thử xem mùi vị ra sao.

    Trong lúc chờ đợi tin của Trung Tâm khảo nghiệm ở Atlanta, lòng tôi lo sợ chập chồng, chẳng hiểu khách sẽ nghĩ sao khi phải dùng thịt gà Tây nhồi đậu phọng, khoai tây và những món lẩm cảm khác thay vì được ăn món nhồi chính hiệu.

    Khách vừa đến thì Trung Tâm khảo nghiệm gọi: "Thịt gà Tây vẫn có thể dùng được. Nhưng xin bà đừng gác điện thoại ngay. Tất cả những người ở đây có lời muốn nói với bà. Máy điện thoại bỗng im bặt vài giây và rồi có tiếng chúc: "Chúc tất cả những người bên đó một buổi Lễ Tạ Ơn như ý."

    Sáng sau, tâm thần tôi đã hoàn toàn bình phục. Tôi đang tẩn mẩn uống ly cà phê và liếc qua tờ Trung Hoa nhật báo thì thấy trong trang 5 có tin các khoa học gia tường trình rằng họ mới tìm ra một dược chất có thể chống được bệnh ung thư. Dược chất đó chính là củ dạ hương.

    Riêng về đầu bếp C thì tuy tôi hết lòng mong mỏi anh ta nghỉ việc mà chẳng có chương trình ủy nhiệm đặc biệt hoặc vấn đề số mạng nào đến triệu anh ta đi. Anh vẫn cứ tiếp tục vui vẻ làm việc ngày này qua ngày khác. . .

    Tôi đã nhiều lần kể chuyện này với những người kêu gọi tôi giúp đỡ để chứng minh sự bất lực của mình, nhưng họ vẫn tưởng là tôi đặt chuyện. Làm sao họ có thể tin lời tôi trong khi chỉ cần một lời nói bóng gió nhẹ nhàng nhất của một nhân vật có địa vị ở Trung Hoa về chuyện ơn nghĩa cũng đã đủ để cho những người cấp dưới hết sức thành toàn ngay."

    Thông thường tôi vẫn tránh không phải tiếp xúc trực diện với những người yêu cầu. Trách nhiệm duy nhất của những người gác cửa suốt 24 tiếng trước nơi cư ngụ của tôi là cấm ngặt không để cho bất kỳ người Trung Hoa nào xâm nhập vào được. Tuy thế, họ lại không bao giờ hỏi, chứ đừng nói gì đến chuyện giữ lại bất kỳ người nào trông có vẻ ngoại quốc. Bất kể người đó dáng dấp trông khả nghi thế nào. Có lần tôi vừa mở cửa ra đã thấy đầy du khách Hoa Kỳ đến chụp hình. Một lần khác tôi thấy 3 người Ẳ Rập ăn mặc theo kiểu Arafat đang chờ tôi ra tiếp. Đã không biết bao nhiêu lần những người đến tìm văn phòng nhà tôi được cho phép vào hẳn nơi gia đình tôi cư ngụ.

    Tuy tôi biết rõ những người gác cửa chẳng phải thực sự có mục đích bảo vệ tôi, nhưng tôi vẫn ngấm ngầm cảm phục những người lính gác nông dân đó. Họ chưa bao giờ tự ý rời chỗ canh gác bất kể mưa bão, ngày đêm. Chỉ có một lần họ cho phép một người Phi Luật Tân bạn tôi quên giấy thông hành được vào cửa. Tuy giáng dấp ngưòi bạn tôi trông cũng giống Trung Hoa, họ lại cho phép bạn tôi vào theo một trường hợp ngoại lệ. Họ bắt bạn tôi nói tiếng "Phi Luật Tân." Sau khi bạn tôi nói một câu tiếng Phi họ để cô vào.

    Ngoại trừ lần đó còn thì họ tra vấn tất cả những người Trung Hoa khác muốn vào chỗ tôi bất kể chức vụ, địa vị hoặc thường dân. Thông thường để tránh không phải gặp những cuộc tra vấn đó, tôi thường cho người nhà ra đưa khách vào.

    Tuy rằng sự thành công của các phong trào cải cách đã cho phép người Trung Hoa có quyền tiếp xúc với người ngoại quốc, những người Trung Hoa đến gặp tôi đều biết rõ rằng tất cả những tin tức những người gác cổng thâu thập được đều được cho vầo hồ sơ của Bộ Mật Vụ để có thể dùng tố cáo họ trong tương lai, khi chính sách thay đổi hoặc khi chồng tôi không còn ở đây nữa.

    Tôi chẳng bao giờ biết được người khách đội mũ che mặt đã tìm cách nào để được cho phép đến gặp tôi. Và một khi đã lỡ giáp mặt, tôi chẳng thể nào không tiếp ông ta vì phong tục Trung Hoa đòi hỏi chủ phải lịch sự với khách, dẫu có là khách chẳng được mời. Hơn nữa, nếu tôi từ chối không tiếp ông ta thì ông ta sẽ liên tục viết thư cho tôi và phong tục Hoa Kỳ đòi hỏi tôi phải viết thư trả lời. Vẫn như bao giờ, tôi không còn lối thoát nào khác.

    Ông ta bắt đầu kể chuyện người bạn.

    Nếu không nhờ Đặng Tiểu Bình thì có lẽ giờ này người bạn thân nhất của tôi vẫn còn bị tù. Đặng Tiểu Bình đã cho lệnh ân xá hàng trăm ngàn tù nhân bị tù oan. Lúc này bạn tôi đã 80 và chỉ còn có một mắt. Mặc dù tuổi cao, sức yếu là thế mà mỗi tuần anh vẫn không quản ngại đường xa, vẫn đón những chuyến xe buýt chật như hũ nút, vượt qua bao dặm đường để đến thăm tôi mỗi tuần ba lần. Cứ mỗi lần vừa đến là anh lại phải nằm nghỉ ngay vì quá mệt.

    Lý do chính là vì anh chẳng thể ở nhà. Tuy anh đã nằm trong ngục suốt ba mươi năm mà vợ anh vẫn nhất định không chịu tha thứ cho anh. Bà ta nhất định không tha thứ cho một vị tướng Quốc Dân Đảng đã quyết định ở lại với binh sĩ để đón tiếp Hồng Quân bằng những tô mì do chính anh nấu, và quyết định không đưa gia đình sang Đài Loan.

    Giờ đây, vì buộc phải sống chung nhà với anh, vợ anh nhất quyết không nói năng gì với anh. Bà ta coi như anh không có ở đó. Con trai và con dâu anh cũng đối xử với anh như vợ anh. Ngay cả những đứa cháu nội cũng lạnh lùng với anh.

    Sống ngay giữa những người ruột thịt mà phải thui thủi như một bóng ma thì quả thật trong bất cứ trường hợp nào cũng là một cực hình. Cực hình này còn khiến anh đau khổ hơn vì nhà anh chỉ là một túp lều dựng bên vỉa hè, bất cứ làm gì cũng không tránh khỏi chạm mặt nhau. Anh bạn tôi dù có muốn đọc sách cũng không được và cứ đến giờ ăn thì anh thà nhịn đói còn hơn là phải trực diện với sự lạnh lùng của người nhà.

    Theo luật thì khi anh được thả, nhà cửa của anh được phục hồi, nhưng cũng theo luật thì không ai được tự ý dời chỗ nếu chưa được chính phủ cho phép. Bên nào cũng có luật pháp chỉ định nhưng đã 6 năm rồi mà vẫn chẳng có gì thay đổi. Bạn tôi đã già rồi. Sức khoẻ cũng đã yếu lắm. Anh còn chờ được bao lâu nữa?

    Nếu bà, với tư cách là một bà đại sứ, có thể thông báo với chính quyền là bà muốn đến thăm anh ta thì có thể chính phủ sẽ xét xử trường hợp của anh ta sớm hơn thay vì để mất sĩ diện.

    Tôi hứa rằng nếu có dịp ghé ngang nơi tỉnh người khẩn cầu, tôi sẽ đến thăm người bạn ông ta. Tuy nhiên tôi cũng thận trọng nói rõ rằng ông ta không nên đặt quá nhiều tin tưởng vào chuyến viếng thăm của tôi, nhất là vào lúc này, khi cả hàng ngàn Hoa Kiều đang quay về thăm viếng Trung Hoa mỗi năm. Làm sao mà chính quyền có thể thay đổi nhà cửa cho hàng trăm ngàn người cùng một lúc cho dù là họ quả có thực lòng muốn vậy? Quả thật tôi cũng nhìn nhận rằng vào những năm đầu thập niên 70 họ quả có làm thế để tạo ấn tượng tốt với những du khách ngoại quốc đầu tiên đến Trung Hoa. Họ đã làm thế cho tôi.

    Mỗi khi có người Trung Hoa tâm sự với tôi, tôi thường tâm sự lại với họ. Lần này tôi kể với người khách câu chuyện tôi về Trung Hoa thăm cậu vào năm 1973 ở Tây An. Bầu không khí thật là lạ lùng. Đây là nói một cách nhẹ nhàng nhất. Cậu tôi gần như chẳng nói gì cả. Và mỗi khi có nói thì lại nói toàn chuyện hoan hô đảng và nhà nước. Ông không hề nói đến vấn đề nhà cửa bị Vệ Binh Đỏ lục soát, cướp phá. Ông không hề đả động gì đến vấn đề bệnh hoạn kỳ quặc của ông.

    Những người trong họ khác cho tôi biết cậu tôi mắc bệnh thần kinh gần như ngay sau khi Vệ Binh Đỏ vào nhà. Cậu tôi lúc nào cũng sợ không dám ra khỏi nhà. Khi nào bắt buộc phải ra khỏi nhà, cậu tôi thường mang theo một chiếc ghế nhỏ vì những khi đi ra ngoài, như thế cậu tôi thường lên cơn kinh hãi bất chợt. Đôi khi cậu tôi phải ngồi từng giờ bên vệ đường trước khi có thể tiếp tục đi bộ. Cứ mỗi khi thấy có người mặc áo sơ mi trắng ngắn tay đi qua là cậu tôi lại động cơn kinh sợ. Hôm đó là một ngày hè và những thiếu niên cháu ngoan bác Mao hết thảy đều mặc áo trắng ngắn tay.

    Tuy tôi biết rõ tình trạng sức khoẻ và những khó khăn với quá khứ chính trị của cậu tôi, khi gặp lại ông tôi tưởng ông đã hoàn toàn bình phục. Căn nhà ông ở thật rộng rãi và nhiều đồ đạc bày biện hơn tất cả những căn nhà khác tôi thấy. Quần áo cậu tôi và gia đình trông thật là lành lặn. Người nào cũng nói cuộc sống thật là tốt lành. Nhưng ai trông cũng có vẻ khác lạ một cách khó hiểu. Tôi có cảm tưởng cô tôi lúc nào cũng lục đục như người cần tìm kiếm vật gì. Căn nhà chỉ có mỗi ba phòng mà cô tôi cứ hết đi lộn phòng này lại đi lộn phòng kia. Và lúc nào cô tôi cũng chỉ chực nhét thức ăn vào miệng tôi ở một mức độ đều đặn vượt xa những đòi hỏi của tập quán chiều đãi cổ truyền ở Trung Hoa.

    Nhưng tôi vẫn chẳng nghi ngờ gì cả. Thập niên sau cô tôi mới thực sự kể lại câu chuyện. Sau khi có tin tôi về, hàng trăm người sống ở dọc những con lộ tôi đi ngang được lệnh quét tước, sơn lại nhà cửa và mặc những quần áo đẹp nhất khi tôi đi ngang. Và trước khi máy bay tôi hạ cánh, cả gia đình cậu tôi được cấp phát cho quần áo mới và đưa vào ở căn nhà của một cán bộ cao cấp. Sau khi tôi về gia đình cậu tôi lại bị trả về nơi cư ngụ xập xệ và phải trả tiền cho tất cả những bộ quần áo đã dùng. Mãi cho đến ba năm sau, khi cuộc cách mạng văn hóa chấm dứt, cậu tôi mới được ân xá.

    Câu chuyện tâm sự của tôi mở thêm những nhịp cầu tâm sự khác. Người khách đến thăm tôi bắt đầu kể chuyện đời ông.

    Cho đến mãi năm 1958 tôi mới lập gia đình. Lúc đó tôi 40 mà nhà tôi mới 19 và cho đến ngày nay tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì nhà tôi lại có thể yêu thương một người như tôi. Ai nghe chuyện cũng lấy làm kinh ngạc. Ai điên khùng gì mà đi lập gia đình với một kẻ phản cách mạng như tôi? Người ta kết luận rằng nhà tôi chắc phải ăn nằm với tôi từ trước.

    Chúng tôi chung sống với nhau cho đến khi cuộc cách mạng văn hóa khởi đầu. Và rồi dân làng bắt đầu không để chúng tôi yên, họ đã đòi hỏi nhà tôi phải "có quyết định rõ rệt" với tôi. Họ bắt nhà tôi tuyên bố không liên hệ với tôi nhưng nhà tôi lại bướng bỉnh từ chối. Thế là họ bắt hai chúng tôi phải làm việc ở hai chỗ ruộng khác nhau, tôi ở mãi phía Đông và nhà tôi ở mãi phía Tây. Còn con chúng tôi thì sao? Tôi hỏi. Họ trả lời rằng đó không phải là việc của tôi. Rồi một bà lão hàng xóm can đảm và tốt bụng bước ra. Bà ta chửi mắng thậm tệ chúng tôi là những quân theo phò tư bản, những quân đàn áp nhân dân, những quân tôn thờ Bè Lũ Bốn Tên và một loạt những tội chính trị khác. Chửi xong, bà đòi quyền trông coi đứa bé. Bà bảo rằng đứa bé hoàn toàn vô tội. Chúng tôi thầm cảm ơn lòng bồ tát của bà thật quảng đại như lòng Phật Quan Âm.

    Nhưng trong khi chúng tôi làm việc ngoài đồng cả ngày thì đứa bé đói sữa cứ khóc đòi sữa. Bà lão lại chẳng có tiền để mua.

    Một hôm vì không thể chịu được tiếng khóc của đưá bé, bà lão đành ôm đứa bé ra mãi tận cánh đồng phía Tây nơi nhà tôi làm việc. Nhà tôi đã nghe con khóc từ xa nhưng không dám ngừng tay trong lúc đang công tác nên cố gắng đợi. Cuối cùng, khi đứa bé đã ở trong tầm tay, những người cán bộ cấm không cho nhà tôi cho con được bú.

    Bà lão lại ôm con tôi trở ngược qua phía Đông đến gặp tôi. Bà đặt đứa bé xuống chân tôi và bảo rằng bà thật tình xin lỗi chẳng thể để đứa bé chết trên tay mình được. Bà quay lưng chầm chậm cất bước. Tôi ôm con lên, đứa bé đã hoàn toàn im lặng.

    Bỗng nhiên một nữ Vệ Binh Đỏ bất thần chặn đường tôi và la lối rằng tôi đánh cô ta. Tôi cố đi vòng thì cô ta tru tréo lên. Cô nói rằng tôi đánh cô. Tuy tôi không có quyền lên tiếng nhưng tôi vẫn lên tiếng. Tôi hỏi rằng làm sao tôi có thể đánh cô trong khi tay tôi đang bế một đứa bé. Khi nghe tôi nói thế cô ta lồng lộn. Tôi quỳ xuống van xin cô và những vệ binh đỏ khác muốn hành hạ hoặc đòi hỏi gì tôi cũng được nhưng tôi xin hãy mang con tôi đến chỗ mẹ nó trước khi quá trễ.

    Cô ta giật đứa bé khỏi tay tôi rồi ném con tôi xuống đất. Lạ lùng thay đứa bé hoàn toàn không bị thương tích gì và sống được cho đến đêm khi tôi bế nó về nhà gặp mẹ.

    Đêm đó trời nổi cơn giông bão. Cơn giông đang đùng đùng giữa độ nhưng tôi không thể đợi được nữa. Tôi đẩy cả nhà tôi lẫn con tôi ra giữa lúc trời đang bão và lấy hết sức bình sinh chặn lấy cửa ra vào, lòng cầu nguyện rằng nếu không có tôi biết đâu nhóm vệ binh đỏ chẳng buông tha cho nhà tôi và đứa bé. Biết đâu nếu chạy xa về các miền đất hoang phía Bắc thì nhà tôi sẽ được yên. Tôi cứ giữ chặt cửa cho đến khi trời đã hừng đông.

    Mười năm sau, khi vừa được Đặng Tiểu Bình phục hồi quyền công dân, tôi liền lên đường tìm nhà tôi. Nhà tôi đang sống với một người chồng khác. Tôi chẳng trách gì nhà tôi. Nếu không có người chồng mới đỡ đần có lẽ nhà tôi cũng chẳng sống nổi. Nhà tôi và người chồng mới sinh được một đứa bé gái. Lúc này cả hai đứa bé và nhà tôi đều đang sống với tôi. Tất cả 5 chúng tôi đều cho rằng cuộc sống ở thị thành dẫu sao cũng đỡ hơn ở thôn quê.

    Nhưng nếu so sánh hoàn cảnh của tôi với hoàn cảnh bạn tôi thì những sự khó khăn của tôi thật là nhỏ nhen và không đáng kể, quả thực không đáng kể tí nào.

    Ông ta không kể thêm chi tiết gì về cuộc đời của người bạn. Ông nói rằng tôi phải đến làng ông để nghe trực tiếp câu chuyện bạn ông ta kể.

    Tôi tiễn ông ra cửa, ông cười. Giọng cười nghe thật sảng khoái. Ông bảo rằng cho đến nay ông chưa hề nghĩ mình lại có dịp kể lại cho ai nghe câu chuyện đời ông chứ đừng nói đến kể cho tôi nghe mà lại kể ngay ở tòa đại sứ Hoa Kỳ nữa.

    Khi nhìn thấy bóng dáng cái chòi canh ngoài cổng, tôi cho rằng có lẽ tôi nên tiễn ông ra cửa. Ra đến mặt lộ, ông lại cười. "Những chuyện chẳng ai tưởng tượng được lại cứ xảy ra trong những khung cảnh oái oăm thật buồn cười. Có lần tôi cũng chẳng thể tin được là chỉ cần khoảng thời gian của một cơn giông tố về đêm cũng đủ để người ta rụng hết không còn một sợi tóc."

    Lần đầu tiên ông ta giơ nhẹ chiếc nón đội trên đầu.


     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Vùng Giông Bảo

    Nguyễn Đình Thiều

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5637592]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5490739]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4629542]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4460262]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4331346]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3590269]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2681682]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2416051]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2291908]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2003261]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1971818]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1545876]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1465417]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1439508]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1202573]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1146032]
    20.Cô Gái Đồ Long [1073199]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1059872]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1024168]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1022152]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [955818]
    25.Quỷ Bảo [916975]
    26.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [904023]
    27.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [902627]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [874470]
    29.Hắc Nho [847497]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [838311]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [836678]
    32.Hóa Huyết Thần Công [751804]
    33.Tru Tiên [745607]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [741303]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [659475]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [621229]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [591936]
    38.Nghịch Thủy Hàn [565656]
    39.Hoàn Hảo [555784]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [534420]
    41.Tầm Tần Ký [510112]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [452319]
    43.Thiên Đường [451713]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [446700]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [438765]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [431366]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [423708]
    48.Cậu Chó [415370]
    49.If You Are Here [411031]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [404672]
      Copyright © 2002-2016 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm