hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nhật Tiến » Hành Trình Chữ Nghĩa Tập 3 - Một Thời Như Thế[2185] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 2 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nhật Tiến

    Hành Trình Chữ Nghĩa Tập 3


    Một Thời Như Thế



    MỤC LỤC 


    Phần Thứ Nhất - Hà Nội- Thời Hoa Niên
      Tuổi Thơ Thế Hệ Chúng Tôi

    Phần Thứ Hai - Một Thời... Thiếu Nhi
      1. Thế Giới Tuổi Thơ Của Tôi
      2. Nội Dung Các Tiết Mục Sinh Hoạt Linh Tinh Của Tờ Thiếu Nhi
      3. Nhà Văn, Nhà Thơ, Nhà Biên Khảo Lê Minh Quốc
      4. Nhà Văn-Nhà Báo Với Vấn Đề Kiểm Duyệt
      5. Một Vòng Thị Trường Sách Bán Xon Trên Vỉa Hè Sài Gòn
      6. Tạp Ghi - Nhật Tiến
      7. Xuân Ất Mão -1975, Một Mùa Xuân Đầy Ảm Đạm
      8. Ông Khai Trí Và Tờ Thiếu Nhi Tại Miền Nam Trước 1975
      9. Vĩnh Biệt Ông Khai Trí
      10. Trường Hợp Hồi Hương Sinh Sống Lúc Cuối Đời Của Ông Nguyễn Hùng Trương
      11. Lời Kết Cho Phần "Một Thời... Thiếu Nhi"

    Phần Thứ Ba - Một Thời... Hải Ngoại
      1. Thân Phận Giáo Chức Ở Quê Nhà
      2. Phát Biểu Trong Đại Hội Phụ Huynh Của Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng
      3. Những Dự Phóng Cho Tương Lai Các Lớp Việt Ngữ
      4. Cô Bé Đánh Vần
      5. Hãy Chấm Dứt Việc Hạ Nhục Anh Chị Em Văn Nghệ Sĩ Ở Quê Nhà
      6. Về Dòng Văn Chương Phản Kháng
      7. Viếng Thăm “Đông Hồ Thi Nhân Kỷ Niệm Đường” Tại Hà Tiên
      8. Trao Đổi Giữa Nhật Tiến Và Nguyễn Đình Chính

    Phần Thứ Tư - Một Thời... Chữ Nghĩa
      1. Thế Giới Nhân-Bản Của Nhật Tiến
      2. Đinh Quang Anh Thái Báo Người Việt Phỏng Vấn Nhật Tiến
      3. Mặc Lâm Mạn Đàm Với Nhà Văn Nhật Tiến
      4. Anh Thiện Ơi ! Hãy Ngơi Nghỉ!

     

    Lời Nói Đầu

    Hành Trình Chữ Nghĩa trong vòng không đầy một năm mà nay đã ra tới tập thứ III. Nhiều độc giả quan tâm hẳn sẽ nêu câu hỏi:

    " Có cái gì đáng viết mà ra liên tục đến thế ?"

    Thay cho lời nói đầu, tôi xin giải đáp thắc mắc này.

    Nói cho đúng ra, trong sinh hoạt Văn học Nghệ thuật ở miền Nam trước đây và ở hải ngoại sau này, tất cũng có nhiều điều đáng viết và cần phải viết lại lắm chứ. Bởi đó là chứng tích của một thời tuy đã qua nhưng không phải là đã phai tàn.

    Chính cái thời ấy, tạm tính từ năm 1954 cho đến năm 1975, không kể những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của nhiều thời gian trước đó, ở miền Nam đã hình thành một xã hội có những nét sinh hoạt văn hóa đặc thù, vừa không mất truyền thống tốt đẹp của dân tộc vừa thể hiện một bản sắc văn hóa tôn trọng tự do, nhân phẩm, nó hoàn toàn khác biệt với hình thái cũng như nội dung của xã hội CS ở miền Bắc cũng ở cùng một thời điểm đó.

    Nói một cách cụ thể, thì chỉ ở miền Nam trước đây mới là chỗ để cho mọi sinh hoạt văn hóa phục vụ con người có cơ hội được nở rộ.

    Sách vở, báo chí đem lại cho mọi người ý thức tự do dân chủ.

    Các nhà sáng tác và các nghệ sĩ trình diễn đã góp phần hun đúc và  tạo dựng những mẫu người có lý tưởng cao đẹp, luôn đề cao nhân phẩm và quyền làm người.

    Các nhà giáo dục đã đào luyện nên nhiều thế hệ, lớp này kế tiếp lớp kia qua đường lối, chính sách giáo dục dựa trên những nhu cầu cơ bản của  Con Người và của truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

    Sau 30-4-1975, dù ở phe chiến bại, những người miền Nam cũng không mong gì hơn là mô hình xã hội đẹp ấy sẽ được duy trì để các thế hệ đi sau vẫn có thể được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí thương yêu giữa những con người để cùng tiến bước theo đà tiến hóa chung của nhân lọai.

    Nhưng sự thực đã không xẩy ra như tất cả mọi người ước muốn.

    Trải gần 40 năm cầm quyền, Đảng CSVN đã phá nát mọi truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đạo đức xã hội càng ngày càng suy đồi. Quyền làm người bị chà đạp thô bạo. Công lý nhầu nát trước sức mạnh của đồng tiền hay của bạo lực.  Nói chung, xã hội miền Nam VN trước 1975 đã hoàn toàn bị biến chất và chỉ có cơ hội được vực dậy một khi chế độ hiện hành ở VN hoàn toàn bị sụp đổ.

    Cái triển vọng tương lai ấy chắc chắc rồi nó sẽ tới và nó phải tới.

    Trong tiến trình hình thành những vận động đổi thay ấy, tất đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhiều hình thức đấu tranh khác nhau của nhiều người, nhiều phía.

    Riêng đối với những người làm công tác văn hóa thì nhiệm vụ gìn giữ và khôi phục những giá trị truyền thống là một công việc nhất thiết không thể bỏ qua.

    Những ghi chép trong mấy cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa này không ngoài mục tiêu đó.

    Nhưng ghi chép không phải là để phô trương. Thường thường khi muốn phô trương thì sẽ có sự thêm thắt, lắm khi mất cả sự trung thực. Điều này không cần thiết, bởi di sản tinh thần cơ bản nhất mà chúng ta trao lại cho các thế hệ đi sau chính là sự trung thực.

    Có thể thế hệ Cha, Anh cũng đã mắc phải những sai lầm, nhưng đó không phải là những lầm lỗi chính yếu. Chính nền nếp sinh hoạt, tác phong, đạo đức xã hội cùng những ý thức tôn trọng tự do, tôn trọng phẩm giá cũng như quyền làm người  thường được thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt văn hóa xã hội ở miền Nam trước đây mới là tài sản tinh thần mà chúng ta cần truyền đạt lại cho con cháu với lòng ước mong là chúng sẽ kế tục những gì còn dang dở để góp phần vào công cuộc tạo dựng ở quê hương sau này một đời sống đáng sống, một xã hội vừa có tự do tư tưởng vừa chan hòa tình người, trong đó nhân phẩm phải được đề cao và quyền làm người phải được tôn trọng.

    Dĩ nhiên độc giả cũng sẽ tìm thấy ở đây, trong cuốn sách này, những ghi nhận linh tinh, có khi  hạn hẹp qua công việc của người viết ở một thời đã qua.

    Điều này dễ hiểu, vì một cá nhân không thể bao gồm mọi chuyện, mọi thứ.

    Tuy nhiên, nếu đem tổng hợp với những nỗ lực ghi chép của nhiều người khác, ta sẽ thấy hiện ra cả một nền văn hóa dồi dào và phong phú rất đáng trân trọng và xứng đáng để khuyến khích các thế hệ đi sau gìn giữ và phát triển.

    Ý hướng của những tập sách này là như vậy, mong sẽ làm sáng tỏ được những thắc mắc nếu nó được đặt ra.

    Và xin mời bạn đọc đi vào một cuộc hành trình chữ nghĩa, tuy chỉ là hành trình của một người viết nhưng ắt cũng phản ánh được đôi ba hình bóng của một thời mà chúng ta đã từng sống, từng trải qua và luôn luôn ước mong nó được gìn giữ và phát triển tốt đẹp hơn.

    Garden Grove ngày 8 tháng 10-2012
    NHẬT TIẾN



    Phần Thứ Nhất

    Hà Nội- Thời Hoa Niên


    Thời điểm : Hà Nội 1944-1954

    Tuổi Thơ thế hệ chúng tôi….

     

    Thế hệ của tôi là những người sinh ra trong khoảng gần giữa thập niên 30 của thế kỷ trước. Nghĩa là khi Đệ Nhị Thế Chiến xẩy ra (1939-1945)  thì chúng tôi cũng đã đủ trí khôn để có thể ghi gói trong đầu vài kỷ niệm của thời kỳ ấy.

    Như tôi còn nhớ năm 1944, bóng đèn nhà nào cũng đều phải chụp cái abat-jour, tức cái chụp đèn để che bớt ánh sáng cho phi cơ Đồng Minh "khỏi nhìn thấy" ! Hầu hết mọi nhà đều thấy có đào riêng một cái hầm trú ẩn.

    Ở nhà tôi, cái hầm này được đào ngay giữa phòng ngủ, nắp che là tấm "ghế ngựa" tức những tấm phản bằng gỗ lớn được ghép lại làm giường nằm. Khi có còi báo động thì mọi người trong nhà choàng dậy, khỏi chạy ra ngoài, cứ lục tục kéo nhau rút xuống hầm mà thật ra nó cũng chẳng kiên cố gì mấy ngoài sự đem lại cho mọi người cái cảm giác được an toàn. Đã thế, tuy vách và sàn hầm đã được trát vữa hẳn hoi, nhưng chỉ là loại vữa chứa xi-măng thì ít, cát trộn thêm thì nhiều nên nước ngầm phía dưới cứ rỉ vào hầm khiến có khi xuống hầm cứ phải lội nước lõng bõng. Ấy là thường xuyên, cứ vài ngày cả nhà đã phải xúm lại hì hục múc nước từ hầm rồi chuyển từng xô ra ngoài đem đổ đi.

    Vào thời gian Đồng Minh thả bom xuống Hà Nội dữ dội hơn thì nhiều nhà nhát gan đã phải mang cơm nắm muối vừng để "chạy loạn", sáng đi, chiều tối quay về. Thường thì chúng tôi vào đóng đô trong Văn Miếu, tức Quốc Tử Giám mà chung quanh đã đào sẵn rất nhiều "tăng sê" (tranchée) tức hầm trú ẩn. Rồi có lúc lại nghe đồn ngay giữa thủ đô thì dễ bị ăn bom hơn là ngoại thành, thế là mọi gia đình lại kéo nhau hàng đoàn đi xuống Ô Kim Mã,  leo qua Núi Bò để vào đền Voi Phục, gần Ô Cầu Giấy bây giờ. Núi Bò thật ra chỉ còn là một cái đồi vẹt, dốc thoai thoải, ở đó có vài  lò sản xuất  kẹo Bột và kẹo Vừng mà bọn trẻ tụi tôi rất mê, nhất là mê cái mùi thơm của đường bốc ra ngào ngạt cả một vùng quanh đó!

    Đền Voi Phục là một khu đất rộng, cây cối um tùm, có nhiều khoảng trống riêng biệt ẩn dưới những tàn cây xum xuê , nhiều bóng mát. Thế mà dưới những cái tàn cây lý tưởng đó, nhiều chú Ba Tầu đã bầy ra những bàn mạt chược để sát phạt nhau từ sáng đến chiều. Họ ăn uống nhồm nhoàm, cười nói toàn tiếng Tầu om sòm tíu tít trong những tiếng xoa bài kêu lách cách ở khắp mọi chỗ khiến cho cả khu chẳng còn có vẻ gì là nơi chốn để "chạy bom",  "chạy loạn" cả !

    Viết ra như vậy để bạn đọc thấy là trí nhớ của tôi, dù đã bị thời gian bào mòn trong hơn ba phần tư thế kỷ, thế mà cũng không đến nỗi bị làm cho phai mờ đi hết. Nhất là cái quả bom Đồng Minh rơi ngay cạnh cái tăng-sê đào sát vách tường Văn Miếu,  nơi gia đình chúng tôi núp lúp xúp ở dưới,  thì tôi khó mà có thể quên được.

    Quả bom rớt chỉ cách chúng tôi khoảng hơn chục thước. May mà nó không nổ ! Lúc còi báo động hú lên báo tin chấm dứt cuộc oanh tạc, khi leo lên mặt đất, tôi còn trông thấy nó hình thuôn dài, mầu nhôm trắng xóa, nom  như một con cá khổng lồ nằm ngoan ngoãn trên mặt cỏ. Coi như là một phen hú hồn nhưng bọn nhãi tụi tôi thì sau này lại được dịp kể lể rành rọt khi bất cứ ai hỏi đến.

    Thế rồi Thế Chiến chấm dứt và Hà Nội đi vào một chu kỳ rực rỡ đủ thứ mầu cờ của các nước Đồng Minh. Hồi ấy hầu như nhà nào cũng đều treo ở trước cửa một dây dài mang đủ loại cờ, nào cờ Anh, cờ Mỹ, cờ Nga, cờ Pháp, cờ Ấn Độ, có cả cờ  Tầu Tưởng Giới Thạch với ngôi sao 12 cánh nằm ở góc trái trên cùng…. Đó là những nước nằm trong phe "Đồng Minh" chiến thắng trục "Đức-Ý-Nhật". Đó cũng là thời điểm đầu tiên tôi được nhìn  thấy những hàng chữ bằng tiếng Anh viết trên những tấm biểu ngữ, hoặc lên vải, hoặc lên tường ở khắp mọi nơi : "Viet Nam to the Vietnamese !".

    Dân Hà Nội bình dân chẳng hiểu ất giáp gì bèn dịch ngay ra thành tiếng Việt và câu dịch này đã phổ biến rất sâu rộng hồi bấy giờ: "Việt Nam to thế, Việt Nam mẹ sề !"

    ° ° °

    Thế rồi đến ngày 19 tháng 8, Hà Nội tràn ngập cờ đỏ sao vàng mà chúng tôi gọi là cờ Việt Minh. Chuyện chính trị diễn tiến thế nào, những âm mưu tiêu diệt người Quốc Gia thâm độc và tàn bạo ra sao, lũ trẻ chúng tôi không hề quan tâm (vả lại biết gì mà quan tâm) nên chỉ thích tham dự những trò chơi mà theo ý chúng tôi  là rất mới mẻ và vui vẻ. Đặc biệt là "trống ếch" của nhi đồng. Tôi không hiểu ai và vì lý do gì đã đặt ra cái tên như thế nhưng thực chất nó chỉ là một dàn trống bao gồm 1 cái trống lớn, hai cái trống con và một cái phèng la. Có thể nói không khu phố nào lại không có một dàn trống như thế do các đoàn viên Nhi Đồng Cứu Quốc  hay Thiếu Niên Tiền Phong tập gõ om sòm suốt ngày để sửa soạn cho những cuộc diễn hành, mít tinh, biểu tình xẩy ra như cơm bữa.

    Và trong bầu không khí "vui vẻ, mới mẻ đó", chúng tôi đã tham dự cuộc đánh trận giả bên Hồ Gươm đúng vào dịp tết Trung Thu năm đó. Hai phe Ta và Địch ném nhau bằng vỏ quả bưởi khiến vỏ bưởi trôi lềnh bềnh trắng xóa cả một vùng nước hồ xanh biếc.

    Rồi toàn thành phố, khu nào cũng đều tổ chức một bữa cơm gọi là "Cơm Đoàn Kết",  trong đó các nhà ở hai dẫy  phố đều đem bầy bàn ăn ra đường để mọi người ăn chung với nhau một bữa. Thực đơn có món rau muống luộc được đặt tên là "Món Độc Lập", món giá sào là món "Tự Do", món muối vừng  là món "Hạnh Phúc". Ối chà chà, lòng người dân Hà Nội vào thời điểm đó, ai cũng hân hoan, phấn khích và ai cũng đều tưởng như mình đang được ôm cả mớ Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc vào lòng.

    Đó là lý do mà Tuần Lễ Vàng ( khởi sự từ ngày 16-9 chấm dứt ngày 23-9-1945 ) khi phát động đã được dân chúng hưởng ứng nhiệt liệt. Nhiều thương gia, kỹ nghệ gia, công tư chức, thậm chí đến cả những người bán rong hay những bà nội trợ cũng đều sốt sắng dốc ống, tháo đồ trang sức đang đeo để hưởng ứng cuộc quyên góp mà theo ước lượng của Bộ Tài Chính hồi đó, chính phủ đã thu được khoảng 370 kilô vàng và 20 triệu tiền Đông Dương mà tính theo thời giá bây giờ thì 20 triệu này cũng phải tương đương với trên 60 triệu đô la.

    Còn thanh niên nam nữ thì lòng yêu nước lại càng bùng lên sôi nổi. Họ đã nhất tề tham gia một cách nồng nhiệt vào những tổ chức quân sự như Vệ Quốc Quân, Công an  Xung Phong, Tự vệ Thành. Sau này, các lực lượng đó khi rút ra khỏi Hà Nội thì trở thành Trung đoàn Thủ Đô, một danh xưng mà khi nhắc đến, lòng ai cũng đều ngưỡng mộ vì những chiến công cũng như vì những tấm gương tiết liệt thà chết để bảo vệ Tổ quốc khi cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ vào tháng 12-1946.

    Riêng bọn nhỏ chúng tôi thì hầu như đã được âm nhạc thổi vào tâm hồn bầu không khí hào hùng của lịch sử dân tộc qua những bài hát mà chúng tôi nghêu ngao suốt thời thơ ấu như những bài Anh Hùng Xưa, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hội Nghị Diên Hồng, Thăng Long Hành Khúc, Trưng Nữ Vương, Việt Nam Hùng Tiến….và còn biết bao nhiêu bài khác nữa.

    Cho đến khi khôn lớn hơn chút nữa thì  những gương anh hùng tiết liệt nhiều khi còn như ở ngay trước mắt như Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái, Phó Đức Chính, Cô Giang, Cô Bắc..v….v…tất cả hầu như đã là những cái nôi êm đềm bảo bọc và gây dựng cho  thế hệ chúng tôi tình yêu quê hương, đất nước .

    Nhắc lại cả một giai đoạn sôi nổi, ồn ào, hăng say, nồng nhiệt của thời điểm này tôi muốn nói lên một điều rằng : Cuộc kháng chiến chống Pháp có toàn thể mọi người tham gia, là do động cơ của lòng yêu nước cũng như do truyền thống chống xâm lăng của dân tộc chứ chẳng phải vì mọi người đã được "dạy dỗ " như guồng máy tuyên truyền của nhà nước CSVN rỉ rả trong suốt hơn 60 năm qua :

    "Bác Hồ và Đảng ta cũng đã thể hiện tấm gương hết lòng vì nước, vì dân nên nhân dân ta đã có niềm tin vững chắc vào lãnh tụ kính yêu, vào Đảng mới nhất tề đứng lên quyết chiến như vậy."

    Không ! Năm 1946, nhân dân Việt Nam bao gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, từ Tư bản cho đến Tiểu Tư sản, từ trí thức, trung lưu, lao động nơi thành phố cho đến địa chủ, phú hào, nông dân nơi đồng quê….v.v. toàn quốc nhất tề đứng vào hàng ngũ kháng chiến là do lòng yêu nước xuất phát từ tình tự dân tộc, từ truyền thống chống thực dân Pháp thời Văn Thân, Đề Thám, Nguyễn Thái Học cùng nhiều phong trào yêu nước khác, chứ chẳng vì Đảng Cộng Sản như sách báo trong nước vẫn thường kể công như thế.

    Nhưng đó là chuyện đã thuộc vào lịch sử. Tôi không muốn những trang thuần túy nói về thuở đầu đời này của thế hệ chúng tôi lại sa vào chuyện biện bạch một sự thật vốn đã được làm sáng tỏ từ lâu trong lịch sử.

    ° ° °

    Cuộc Kháng chiến toàn quốc nổ ra vào đúng 8 giờ tối hôm 19-12-1946 .

    Trước đó, dân Hà Nội đã tản cư hết ra các làng quê lân cận.

    Gia đình tôi cũng rời Hà Nội khá sớm sủa, vào khoảng gần cuối năm 1946, nhưng rồi cũng hồi cư khá sớm sủa, vào khoảng giữa năm 1947, tức rời Hà Nội để "chạy tản cư" mới chỉ trong vòng hơn 6 tháng.

    Ấy thế mà trong 6 cái tháng nổi trôi ấy, tôi cũng đã đi qua biết bao nhiêu địa danh của vùng trung du Bắc Việt : Nào ở làng làng Vân Canh ít tháng thì di chuyển tới vùng rồi Sấu  Giá, rồi lội qua sông Đào đi về làng Trúc Động, rồi lên Đất Đỏ, rồi ngồi thuyền đi ngược sông Hồng qua cầu Trò, Sơn Tây, Việt Trì rồi lết bộ qua những vùng thuộc huyện Thạch Thất để vào tỉnh Hưng Hóa, rồi cũng lại đi bộ từ Hưng Hóa tới bến Trung Hà để qua phà sang thị xã Phú Thọ…Đám người gồng gánh, bồng bế nhau đi như thế hầu hết là dân Hà Nội. Nhưng rồi đi đâu, làm gì cuộc sống sẽ ra sao…chẳng một ai có thể trả lời. Tiền ăn đường, tiền dự trữ để sinh sống…tất cả chỉ trông vào ít chỉ vàng, nhẫn, xuyến hay thậm chí cả những thúng đồ đồng, đồ bát sứ, bát mẫu quý giá gồng gánh mang đi từ Hà Nội cứ ngả ra bán dần trên đường ‘chạy loạn";

    Đám đồng hành tản cư với chúng tôi ấy, tưởng sẽ còn lếch thếch dắt díu nhau đi xa lên mạn ngược hơn nữa, nhưng nào ngờ đã phải rã đám ngay tại thị xã Phú Thọ sau một cuộc dội bom của Pháp xuống thành phố này vào chỉ đúng một hôm sau khi tất cả chúng tôi đặt chân tới.

    Bị trúng bom tan nát, chúng tôi đã bỏ cuộc hành trình dự tính đi Thái Nguyên, Tuyên Quang mà quay ngược đường trở lại, sau khi đã cử hành một đám tang tập thể trong đó có 18 gia đình đi theo sau 18 cái  xe bò chở những quan tài của các nạn nhân trong cuộc dội bom vừa rồi.

    ° ° °

    Hà Nội - năm 1947, ngày tôi trở lại – hãy còn nhiều chỗ chỉ có tàn than và những cái cột nhà cháy. Mọi người lớn di chuyển đều phải xài loại giấy tùy thân do Pháp cấp, gọi là giấy Laissez- Passer. Lính Pháp da đen, người Phi châu đầy nhan nhản. Họ đứng gác ở các công sở, họ kiểm tra giấy tờ ra vào thành phố ở các cửa Ô.

    Hà Nội như con bệnh vừa hồi sinh hãy còn thoi thóp thở và tất nhiên là vắng người.

    Nhưng chỉ hơn một năm sau, mọi sự được phục hồi nhanh chóng. Tiếng xe điện leng keng đã bắt đầu rộn rã. Người hồi cư trở về buôn bán tấp nập. Và nhiều trường học đã mở cửa lại. Chỉ trong vòng 5 năm sau đó, cho đến 1952, 1953 thì mọi sinh hoạt đã trở lại bình thường.

    Hà Nội đã xuất hiện nhiều tiệm sách với khung cửa kính sáng choang, bên trong bầy đầy ắp sách báo mới ra chen giữa những văn phòng phẩm đủ các loại, thứ nào thứ nấy mới toanh và đầy sức quyến rũ, như tập vở học sinh in hình Shirley Temple, bút máy Kaolo vỏ ngoài là bút máy nhưng bên trong thì chỉ cắm ngòi bút phải chấm mực. Loại bút máy thứ thiệt như Wearever, Pilot, Chatodo thì phải mãi sau này, khoảng năm 1952, 1953 mới thấy có.

    Tuy nhiên, điều mà chúng tôi say mê nhất, không phải là những thứ văn phòng phẩm đắt tiền dù chúng tôi cũng chẳng bao giờ ước ao, mà chính là những sách mới ra vào thời kỳ đó.  Đó là những tác phẩm của các nhà văn đương thời như Ngọc Giao với Quán Gió, Cầu Sương, Hà Bỉnh Trung với Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình, Triều Đẩu với Trên Vỉa Hè Hà Nội, Hồ Hữu Tường với Thu Hương, Chị Tập, Phi Lạc Sang Tầu, Mộng Sơn với Vượt Cạn, Linh Bảo với Gió Bấc, Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, Trại Tân Bồi, Sao Mai với Nhìn Xuống….và còn nhiều tác giả khác nữa như Văn Thuật, Thy Thy Tống Ngọc, Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam, Huy Sơn, Thế Phong…v..v…

    ° ° °

    Trong bầu không khí thấm đẫm tính chất văn học nghệ thuật của thế hệ đàn anh như vậy, bọn trẻ chúng tôi như bị cuốn hút vào lãnh vực sáng tác. Có đứa làm thơ, có đứa viết tùy bút, lại viết cả truyện ngắn hay truyện dài. Những "mầm non" ấy sau này đơm hoa kết trái, tạo nên một lớp cầm bút kế thừa theo đúng tính chất "Tre già, măng mọc".

    Phải nói rằng sinh hoạt văn nghệ của giới trẻ hồi đầu thập niên 50 ở Hà Nội là rất sôi nổi.  Có thể kể Hiệp Nhân, học sinh lớp đệ Tam tự in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc mà thầy Nguyễn Uyển Diễm, giáo sư môn Văn đệ Nhị Cấp đã đem giới thiệu trước nhiều lớp mà thầy đang giảng dạy. Rồi Lê Ninh ra giai phẩm Lửa Lựu; Nguyễn Nam Tê vừa đạp xích lô, vừa làm thơ để ra tập Tin Về Đất Bắc; Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; Song Hồ, Kiều Liên Sơn, Song Nhất Nữ (bút hiệu của anh Đặng Bá Ngư), Hồ My, Tạ Vũ v.v… đều có thơ, truyện  in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp… ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại, Đời Mới ở… Sài Gòn.

    Nếu kể về kỷ niệm riêng tư với những nhân vật này thì tôi phải nhắc tới một người bạn rất thân thiết hồi đó là anh Nguyễn Đức Cầu, sau này nổi tiếng với bút hiệu Hùng Phong.

    Vào khoảng 1950 - 1951, nhà của Nguyễn Đức Cầu ở phố Hàng Than, còn nhà tôi thì ở dốc Hàng Kèn (góc phố Nhà Chung và Tràng Thi bây giờ). Khi đó phố hàng Kèn còn mang tên là Rue Jaureguiberry, mà thật tình tôi không biết và cũng chẳng cần biết cái ông Tây này là ông nào. Về sau, tên phố được đổi ra là phố Quang Trung, và giữ mãi cho tới tận bây giờ.

    Hai đứa chúng tôi quen nhau từ hồi còn theo học lớp Nhất ở trường Hàng Vôi mà tên gọi chính thức là "Trường nam tiểu học Nguyễn Du. ". Ngôi trường này ở gần hồ tắm công cộng dành cho con nít thường gọi là Ấu Trĩ Viên, nơi chúng tôi cũng thường hay bơi lội ở đó. Ấu Trĩ Viên nay thì không còn, nhưng ngôi trường hàng Vôi thì trải trên nửa thế kỷ nó vẫn còn gần y nguyên như vậy, trừ mấy cây bàng ngoài sân đã bị chặt đi, và một khoảng đất trống trong sân cũng đã được xây thêm lớp học.

    Thỉnh thoảng Cầu hay đạp chiếc xe sơn mầu xanh rêu, một bên tay lái đã bị gẫy hẳn, và anh chỉ lái xe bằng có mỗi một tay. Anh đến chơi với tôi, nói chuyện văn nghệ và không khi nào quên mang theo cây đàn Banjo để gẩy nhiều bản nhạc vừa mới xuất hiện trên thị truờng cho tôi nghe. Tiếng đàn của Cầu nghe rất giòn giã, những lúc Cầu "vê’ nhiều dây vào những đoạn cần láy dài, mọi người trong nhà dù đang làm gì thì cũng lắng hết tai để nghe. Mà  "người trong nhà " ở đây đâu phải chỉ có một gia đình. Căn gác của nhà tôi ở có tất cả 4 phòng thì 4 gia đình đã thuê chung.

    Phía trước, ngon lành nhất, có balcon nhìn xuống đường là nơi gia đình của một ông Thiếu Úy nhẩy dù cư ngụ (khi đó binh chủng Nhẩy Dù hình như vẫn còn thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp vì lon Thiếu Úy của ông này đeo trên cầu vai có một vạch vàng).

    Phòng bên cạnh là nhà của một bà giáo đã góa chồng, có một đứa con trai bằng tuổi tôi. Bà giáo này rất quý tôi, có nhiều buổi , bà gọi tôi vô để đọc dictée tức là chính tả bằng tiếng Pháp cho tôi viết. Mỗi lần viết xong, tất nhiên là đìa lỗi (fautes), bao giờ bà cũng kiên nhẫn giảng giải từng chữ cho tôi nghe. Nhiều khi tôi cứ phải chống chế vì cái dốt của mình :

    -  Bây giờ chúng cháu đã đổi qua chương trình Việt, mỗi tuần chỉ học có 4 giờ Pháp văn thôi. Mọi thứ ngày xưa như Écriture, Leçon de Choses, Travail Manuel……nay hóa thành Tập viết, Cách trí, Thủ công…hết rồi.

    Bà giáo ngước đôi mắt qua những tròng kính trắng vừa to vừa nặng, và bảo tôi :

    - Mấy giờ thì mấy giờ cũng phải cố giữ lấy căn bản để mà đọc hiểu được văn hóa Pháp. Tiếng Pháp là thứ ngôn ngữ có văn phạm minh bạch, rõ ràng, rành mạch nhất thế giới.

    Bên cạnh nhà bà giáo là gia đình một ông công chức góa vợ, không biết làm ở sở nào, nhưng cô con gái cưng độc nhất của ông thì vô cùng xí xọn, nói tiếng Pháp như đầm, rõ ra là dân trường Tây. Tất nhiên lũ học trò cà mèng chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lân la để léng phéng.

    Kể lể như vậy để thấy căn nhà tôi đang ở cũng chỉ coi như một đơn vị đi share phòng.  Cho nên tiếng đàn của Cầu mà cất lên là ai cũng có thể nghe thấy, thậm chí kể cả những nhà khác đang cư ngụ ở dưới tầng một.

    Ngoài tài gẩy đàn, Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu năm ấy mới là cậu học trò lớp đệ Lục (năm thứ hai bậc trung học) mà đã là tác giả của một phóng sự dài nhiều kỳ lấy tên là Con Cò Mày Đi Ăn Đêm (viết về những đường dây buôn lậu từ hậu phương vào thành) trên tờ nhật báo Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên. Tôi thật tình không hiểu cái anh chàng Cầu ấy, người nhỏ thó, tóc húi cua, miệng luôn tươi cười và hay cười thành tiếng "‘hề ..hề" ấy làm cách nào mà lại có thể là viết được một thiên hồi ký "động trời" như thế.

    Đã thế, ngoài việc viết phóng sự cho báo hàng ngày, Hùng Phong còn tự viết, tự thuê in, và tự phát hành một tờ tuần báo thiếu nhi khổ nhỏ, cỡ 32 trang nhưng chỉ in đen trắng mà không có mầu. Dẫu vậy, thật cũng không thể ngờ được sức làm việc và cái đầu nhiều sáng kiến và tham vọng của anh. Chỉ tiếc là tờ báo đã chết yểu ngay sau vài số vì một cậu học trò đơn thương độc mã lại ít tiền như anh làm sao có thể cạnh tranh được với những tờ báo chuyên nghiệp hơn như tờ Ngày Xanh của nhà văn Anh Hợp hay tờ Tuổi Ngọc của hoạ sĩ Thy Thy Tống Ngọc đã ra trước đó nhiều năm và rất được giới học trò ưa chuộng.

    Sự thất bại của Cầu trong việc ra báo thiếu nhi, vì lý do tế nhị tôi cũng không muốn hỏi rõ ngọn ngành. Chỉ biết, hằng ngày, tôi vẫn cuốc bộ ra đầu phố Hàng Trống gần Hồ Gươm, nơi có tờ báo Liên Hiệp được treo trên một cái giá ngay trước cửa toà soạn để ai không có tiền mua báo đều có thể đọc ... chùa và tôi đã say mê theo dõi thiên phóng sự của Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu tại đó.

    Việc treo báo ở cửa toà soạn cho ai cũng được đọc, không phải chỉ là sáng kiến của riêng báo Liên Hiệp mà hầu hết các báo lớn ở Hà Nội trong thời kỳ đó như các tờ Giang Sơn, Tia Sáng, Chánh Đạo, Công Tội, Thanh Niên ...v..v...đều có mỹ tục này.

    Ngoài ra, Sở Thông Tin của thành phố cũng dựng một dãy các bảng treo nhật báo ở ngay trước cửa Rạp Philharmonique nhìn qua Cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Nay cái rạp này đã trở thành nơi thường trực trình diễn môn Múa Rối Nước, hầu hết là du khách ngoại quốc vào xem.

    Ngay bên cạnh rạp Philharmonique là Nhà Thông Tin Đô Thành. Đây là căn nhà một tầng chỉ có một phòng rất rộng, đặt trên nền cao, khi vô phải bước lên nhiều bậc thềm. Vừa thoạt bước lên bậc thềm chót, nhìn vô trong là người ta đã thấy ngay hai bức chân dung đen trắng, khổ rất lớn, mặt kính nhìn ra ngoài của Nam Phương Hoàng Hậu và Hoàng đế Bảo Đại treo kế bên nhau. Trong hình, bà  Nam Phương còn đội khăn hoàng hậu, bận áo gấm thêu, chứ Hoàng Đế thì nay đã tây hóa hoàn toàn. Ngài bận áo veste, đeo cà-vạt, mặt mũi phương phi, nom bệ vệ như một chính khách ngoại quốc chứ  không ra vẻ một ông vua chút nào. Ấy vậy mà chỉ trước đó vài năm, tức năm 1949, nhiều học sinh ở  bậc tiểu học đã phải tập trung đi phất cờ tiếp rước "Hoàng Đế hồi loan" và mỗi đứa tham dự đã được thưởng 2 đồng coi như tiền ăn bánh, uống nước!

    Ở giữa Phòng Thông Tin là một cái bàn hết sức rộng, có ghế dài bao quanh, có thể ngồi luôn một lúc dễ tới ba, bốn chục người. Trên mặt bàn thì ôi thôi, có đủ thứ nhật báo, từ Nam chí Bắc. Chính từ chỗ này mà lũ học trò chúng tôi được biết, được đọc nhiều tờ nhật báo xuất bản ở Sài Gòn như Thần Chung, Tiếng Dội, Tin Điển, Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới ….với những tên tuổi các nhà văn quen thuộc lẫy lừng như Phú Đức, Bà Tùng Long, Dương Hà, Hồ Biểu Chánh, Tô Nguyệt Đình, Phi Vân, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Ngọc Sơn…đặc biệt là Hồ Hữu Tường với tờ báo Phương Đông tung ra chủ trương "Trung Lập Chế" (1953) mà lũ học sinh trung học Đệ Nhị Cấp chúng tôi đặc biệt theo dõi sau khi đã từng say mê những tác phẩm đã in thành sách của ông như Thu Hương, Chị Tập, Phi Lạc Sang Tầu…v..v…

    Bên cạnh những nhật báo quen thuộc bầy trên bàn cho độc giả ngồi coi thoải mái, báo trong Nam thì như đã kể ở trên, còn báo Hà Nội thì có những tờ như Công Tội, Giang Sơn, Liên Hiệp, Tia Sáng, Chánh Đạo, Ngày Mai, Dân Chủ, Tiếng Dân….hay những tờ ra hàng tuần như Cải Tạo, Hồ Gươm, …lại còn những tủ kệ bầy chung quanh tường, trong có những tạp chí văn hóa, văn nghệ như Thế Kỷ, Quê Hương, Thời Tập, Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Đời Mới …hoặc những tờ báo dành cho trẻ em như Ngày Xanh (của nhà văn Anh Hợp), Tuổi Ngọc (của họa sĩ Thy Thy Tống Ngọc), một số tờ  rập theo khuôn của những tờ báo của thời tiền chiến như Cậu Ấm, Trẻ Em, Truyền Bá, Nhi Đồng Họa Bản , nhưng sau sống không nổi, đã im lìm đóng cửa.

    Trong cả "rừng" báo chí đọc miễn phí như thế, tất nhiên là chúng tôi mê tơi theo dõi đủ mọi loại tin tức từ Nam chí Bắc, nhưng bao giờ chúng tôi cũng chú ý tới những truyện ngắn, truyện dài in từng kỳ trên các trang báo như Dao Bay, Người Nhạn Trắng, Lệ Hằng Phục Thù, Ngày Xuân La Bích Vân, Độc Nhỡn Kiếm..v…v..hay những tiểu thuyết in trên báo trong Nam như Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Châu Về Hiệp Phố của Phú Đức, Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh….v..v…tuy nhiên tôi vẫn thích tác giả Ngọc Sơn hơn với cuốn Hồng và Cúc chẳng hạn, vì lối viết mới mẻ hơn, kết cấu câu truyện cũng ‘đời thường" hơn so với nhiều tác phẩm của thời đó. Một số nhà văn theo kháng chiến ở trong Nam như Vũ Anh Khanh với Nửa Bồ Xương Khô, Lý văn Sâm với Kòn-Trô, Xin Đắp Mặt Tôi Mảnh Lụa Hồng, hay Thẩm Thệ Hà với Vó Ngựa Cầu Thu….lũ chúng tôi cũng là những độc giả theo dõi rất sát các tác giả này.

    Riêng trong lãnh vực văn nghệ , thì hầu như chúng tôi chú trọng tới nhất là tờ Đời Mới !

    Đây là một tạp chí ra hằng tuần, khuôn khổ giống như tờ Newsweek bây giờ. Bìa giấy trắng láng, in hai mầu đen và đỏ và không bao giờ đi ra ngoài 2 mầu này. Chủ Nhiệm báo Đời Mới khoảng giữa thập niên 50 là ông Trần văn Ân, Chủ bút là Hà Việt Phương, một bút hiệu của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh thuộc khuynh hướng Đệ Tứ,  và cũng là thân phụ của nhà báo Duy Sinh sau này. Tổng Thư ký tòa soạn báo Đời Mới là ông Tế Xuyên có người phụ tá đắc lực là kịch tác gia Minh Đăng Khánh, mà thật không ngờ, sau khi di cư vào Nam, tôi được Minh Đăng Khánh coi như một trong những người bạn thân thiết của ông.

    Phải nói là bọn "làm văn nghệ lau nhau" chúng tôi mê nhất là tờ Đời Mới. Hễ anh nào có bài được in trên Đời Mới, dù chỉ là một bài thơ ngắn ngủi thì cũng đã được nhìn với ánh mắt kiêng nể, như là một thi sĩ thứ thiệt,  "có tác phẩm in trên Đời Mới" hẳn hoi !

    Một trong những người có thơ in trên Đời Mới là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm, học sinh lớp Đệ Tam trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, ngôi trường tọa lạc ở ngay gần phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội. Năm ấy (1952) Nguyễn Thanh Đạm đã lấy bút hiệu là Song Hồ, thường ngồi chổng mông, chui vào cái quầy  kính của một cửa tiệm sửa  đồng hồ để làm thơ. Trời thì nóng, không gian thì chật hẹp (anh vừa đi học, vừa đi làm) thế mà trong thơ có khi cũng thấy có hình ảnh của sông Seine, của Vườn Lục Xâm Bảo, trời lại có tuyết bay để có cớ ký ở dưới bài thơ là "Paris, ngày…" ra cái điều mình là một thi nhân lãng tử, lang thang trên khắp mặt địa cầu. Ấy vậy mà lũ chúng tôi không lấy làm kỳ, trái lại còn phục lăn ra nữa !

    Sau này, Song Hồ có nhiều tác phẩm như Hai Cánh Hoa Tim (Huyền Trân 1969), Thơ Song Hồ ( Khai Trí- 1964), Đá và Hoa (Hướng Dương-Hoa Kỳ1992), Rock and Flower ( bản dịch Anh ngữ cuốn Đá và Hoa do tác giả dịch và tự xuất bản 1998).

    Điều rất đáng tiếc là ông đã  soạn xong cuốn "Việt Nam Mãi Mãi" , một tuyển tập gồm toàn Ca dao, Thơ và Hình ảnh do Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm chụp. Bộ sách dầy tới 1.400 trang, do nhà sách Khai Trí sửa soạn in năm 1975 thì miền Nam sụp đổ và bản thảo bị thất lạc không biết đi đâu, về đâu.  Ngoài ra , ông còn  có tập Thơ "Đám Cháy Trên Địa Cầu" gồm 1.600 câu Thơ (không được phép in năm 1973), và cuốn "Văn Học và Đời Sống" một  tiểu luận văn học. Hai cuốn này đều còn ở dạng bản thảo cũng đã đều bị CS  tịch thu và thiêu hủy hết.

    Nhớ đến  bạn bè xưa cũ, tôi không thể không nhắc tới  Vũ Khắc Mai Anh,  cũng là một tay viết tiểu thuyết dài xuất sắc nhất trong bọn trẻ yêu văn nghệ chúng tôi.

    Vũ Khắc Mai Anh nhà ở phố Hàng Đồng, năm 1952 mới chỉ là học sinh lớp đệ Ngũ của trường Chu văn An.  Thế nhưng, sức viết của Mai Anh thì lại rất khỏe. Anh chuyên xài loại giấp thệp, khổ lớn có kẻ dòng để viết văn. Trong cặp-táp của anh, lúc nào cũng có từng xấp truyện đang viết giở, chữ nhỏ li ti, chỉ cần liếc qua cũng đã thấy mất vía vì số lượng chữ mà anh sản xuất mỗi ngày. Vào thời điểm ấy, Mai Anh đang có truyện dài Duyên Kiếp in từng kỳ trên báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Thạch. Rồi nhà xuất bản Chính Ký ở phố Sinh Từ đã in cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, cuốn Phũ Phàng mà tôi còn nhớ cái bìa in litho đủ mầu, trên vẽ một chàng trai đang ngồi rầu rầu trước ngôi mộ của một thiếu nữ vừa sớm qua đời. Mấy cây nhang cắm cạnh bia mộ tỏa khói bay lên lững lờ, tản mạn như càng khiến cho cảnh trí thêm …phũ phàng ! Cuốn truyện này của Mai Anh tuy là tác phẩm đầu tay nhưng bán rất chạy, đã gây xôn xao rất nhiều trong đám bạn bè văn nghệ chập chững của chúng tôi lúc bấy giờ. Đã thế, trong cái cặp-táp căng phồng, sách thì ít, bản thảo thì nhiều, Vũ Khắc Mai Anh còn cho biết anh đang viết tiếp một cuốn nữa !

    ° ° °

    Phải nói là tuy Hà Nội ở vào cái thời bị mệnh danh là "vùng tạm chiếm" và tiếng súng của cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn chưa ngưng nghỉ, nhưng bầu không khí sinh hoạt văn nghệ của thời kỳ đó vẫn âm thầm mà phong phú và đa diện mà nghiêm túc, vẫn thật  xứng với danh nghĩa là Thăng Long Ngàn Năm Văn Vật.

    Tất nhiên, một câu hỏi cũng rất đáng nêu ra là vào thời kỳ đó, bọn học sinh chúng tôi đa số đã nghĩ gì về cuộc chiến vẫn đang xẩy ra ? Ý thức chính trị của họ khi đó ra sao ?

    Dầu sao thì những nhận xét của tôi nêu ra dưới đây cũng chỉ là ý kiến cá nhân và có tính chất hết sức tổng quát. Tuy nhiên tôi vẫn muốn đề cập tới để góp phần soi lại quá khứ, bởi nếu nhiều người khác cũng góp phần viết lại với những nhận định dồi dào, phong phú khác thì chân dung của thế hệ trẻ vào thập niên 50 thế kỷ trước cũng sẽ được làm cho rõ nét hơn.

    Cho nên, về mặt tâm tưởng và ý thức chính trị, tôi nhận thấy đa số bọn trẻ chúng tôi hồi đó, dù đã "dinh tê" (entrer = vào) vào Thành , tức bỏ vùng hậu phương để hồi cư về Hà Nội,  nhưng hầu như những ấn tượng sâu xa của  những ngày Mùa Thu Tháng Tám 1945 chưa bị phai nhòa. Kháng chiến là để chống thực dân Pháp. Điều này dĩ nhiên là ai cũng ủng hộ và hoan nghênh. Vì vậy hiển nhiên là đa số học sinh Hà Nội vào khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước thường có đầu óc thiên về hậu phương hơn.

    Chẳng thế mà trường Chu văn An (khi đó còn tọa lạc ở phố Hàng Bài, chưa dời lên phố hàng Than để nhường chỗ cho trường Nguyễn Trãi mới thành lập) cứ thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải trắng xóa sân trường và việc học sinh bãi khóa, nghỉ học thì cứ xẩy ra xoành xoạch. Tất nhiên hành động bãi khóa này, chủ chốt thì ít (do Ủy Ban Học Sinh Kháng Chiến Đô Thành xách động) nhưng "a dua’ thì nhiều. Vừa vui vừa được nghỉ học, ai chả thích, chứ hầu như không mấy ai đặt ý nghĩa chính trị vào những dịp bãi khóa đó, ngoài sự có cảm tình với kháng chiến như đã nói ở trên.

    Cho đến năm 1953 thì tình hình có đổi khác khi những tin về các cuộc phát động đấu tố bắt đầu, tạo thành dư luận tại Hà Thành mà điển hình gây sôi nổi nhất là vụ bà Cát Thành Long, một người đóng góp rất nhiều công của cho Kháng Chiến đã bị đem ra xử bắn coi như bị làm dê tế thần mở màn cho một phong trào đấu tố phá nát đồng quê kể cả sự hủy diệt tình nghĩa giữa những bà con trong xóm làng.

    Bọn trẻ chúng tôi bắt đầu quan tâm đến vấn đề Cộng sản khởi đi từ những chuyện đấu tố đó. Nhưng mới chỉ coi là "quan tâm " đến thôi, chứ ý thức "chống Cộng" trong đa phần lũ chúng tôi hồi đó dường như vẫn còn rất mờ nhạt, mãi cho đến lúc dân Bắc ồ ạt di cư vào Nam.

    Cuộc di cư vĩ đại này không phải chỉ là một tình cờ của lịch sử. Biết bao nhiêu con người cùng với gia đình hay thân nhân của dân phải bỏ nhà bỏ cửa mà đi, vốn đã phải trả bằng xương máu cho những cuộc đấu tố kể trên, mở đầu cho thời kỳ công khai dẫn dắt đất nước đi theo chế độ Cộng Sản mà ông Hồ và các đồng chí của ông có dã tâm muốn thực hiện.

    Một triệu người đã vượt thoát ra đi, trong đó cũng có một số rất đông bọn trẻ chúng tôi mà tôi có thể kể ra như Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu, như Nguyễn đình Toàn, như Cung Thúc Tiến, như Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm và những Huy Sơn, Thế Phong, Vũ Mai Anh, Dương Vy Long, Hồ Nam tức Lê Nguyên Ngư…v..v....

    Có thể nói, thời gian đầu khi mới di cư vào Nam, bọn trẻ chúng tôi có đời sống không dễ dàng gì. Một số tiếp tục nốt bậc trung học nhờ gia đình khá giả, còn đa phần thì nằm ép rệp sống qua ngày hoặc bỏ đi tứ tán khắp mọi nơi.

    Cũng đã có một thời gian, dễ cả hàng năm, một nhóm nhỏ chúng tôi trong đó có cả Nguyễn đình Toàn, Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm sống túm tụm với nhau dưới mái lá tồi tàn và thấp tịt ở Xóm Gà bên Gia Định.

    Nguyễn đình Toàn bắt đầu sáng tác Nhạc và làm Thơ ở thời gian này. Anh hay ôm cây đàn guitar Espagnol vừa đàn vừa hát nghêu ngao. Rồi Toàn cũng viết truyện trên những trang bản thảo sử dụng mặt sau của những bản tin cũ của Việt Nam Thông Tấn Xã thường được bán cho những hàng ve chai làm giấy gói đồ. Hồi đó, Toàn ký bút hiệu là  Tô Hà Vân. Cái tên Nguyễn đình Toàn chỉ xuất hiện khi in cuốn Chị Em Hải, tác phẩm đầu tay do Cơ sở Báo chí và Ấn loát Tự Do xuất bản. Cuốn này đã nổi tiếng ngay và độc giả không ai còn biết đến cái tên Tô Hà Vân nữa.

    Một thời gian sau, Song Hồ theo đại tá Hồ Hán Sơn đi Tây Ninh làm đài phát thanh cho Phật giáo Hòa Hảo. Được một năm, anh trở lại Sài Gòn đi dạy học. Đây cũng là thời gian mà học giả Hoàng văn Chí cho in " Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" , một tác phẩm "mở mắt" cho chúng tôi biết thêm thế nào là tính cách "toàn trị" của chế độ miền Bắc cũng như số phận đau thương của những văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

    Kể từ năm 1954, sau hơn bốn năm bị hoàn toàn xa lìa mọi thứ tin tức của miền Bắc, tác phẩm " Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" kể trên đã được hầu hết giới văn nghệ ở miền Nam đón nhận nồng nhiệt, hầu như ai cũng đọc, ai cũng có thể ghi gói một đôi điều để kể lại về biến cố văn học này. Hơn thế nữa, nhiều đoạn thơ, văn của văn nghệ sĩ miền Bắc tham gia phong trào này cũng đã được giới văn nghệ trẻ chúng tôi thời đó truyền tụng, nhắc nhở, và trong lòng mỗi người không khỏi dấy lên nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa, có khi cả căm giận.

    Trong số những tác giả của phong trào này, tôi rất thích cụ Phan Khôi với truyện Ông Năm Chuột, trong đó ông nói xéo bọn cán bộ văn công nhà nước là ít học mà cứ nhẩy vô lãnh vực uốn nắn văn chương, tư tưởng:

    "Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi".

    Sự căm phẫn như được đẩy lên cao hơn khi cuốn sách của Cụ Hoàng văn Chí tiết lộ chi tiết như sau :

    Nhân dịp cụ Phan Khôi thượng thọ 70 tuổi, giữa lúc cụ bị Đảng quy vào tội phản động, không một ai dám lai vãng đến chúc thọ, cụ bèn làm một bài thơ trong có 2 câu :

    Lên bẩy mươi rồi mẹ nó ơi !

    Thọ ta, ta chúc lọ phiền ai.

    Thế mà ông Nguyễn Công Hoan, chắc muốn lấy lòng nhà nước nên đã làm bài họa như sau :

    Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi

      Thọ mi, mi chúc chớ hòng ai

      Văn Chương ! Đù mẹ thằng cha bạc !

      Tiết tháo ! Tiên sư cái mẽ ngoài

      Lô-dích, trước cam làm kiếp chó

      Nhân Văn, nay lại hít gì voi

      Sống dai thêm tuổi, cho thêm nhục

      Thêm nhục cơm trời, chẳng thấy gai.

     Có thể nói, cái tên Nguyễn Công Hoan trước đây đối với tôi là một thần tượng qua những tác phẩm của ông mà tôi đọc rất nhiều từ khi còn bé, như Lá Ngọc Cành Vàng, Cô Giáo Minh, Kép Tư Bền, Bước Đường Cùng….

    Tuy nhiên,  sau bài thơ rất bất nhân này, thần tượng trong tôi hoàn toàn sụp đổ !

    Cho nên, dưới mắt tôi, và có thể là với hầu hết anh chị em văn nghệ sĩ miền Nam ở thời điểm cuối thập niên 50, thì những tên tuổi Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Ðạt, Hoàng Cầm... đều là những người cầm bút hào hùng, dũng cảm, khi võ khí trong tay họ chỉ có tâm huyết và ngòi bút mà dám đứng lên đương đầu với cả một guồng máy đang ra sức tiến hành một chế độ toàn trị mệnh danh là "chuyên chính vô sản".

    Rồi sau  năm 1956, vì đã không có cuộc Tổng tuyển cử thống nhất đất nước như đã ghi trong Hiệp định Gènvève năm 1954, chúng tôi đã nhận thấy miền Nam đang hình thành một khung trời tự do, hoàn toàn khác miền Bắc, mà chúng tôi có bổn phận phải gìn giữ. Chính tại đây, miền Nam này đã mở rộng vòng tay để tiếp đón cả triệu người từ miền Bắc ùa vô với chan hòa tình cảm. Không có chuyện kỳ thị Bắc, Nam. Không có chuyện chèn ép, phân biệt xuất xứ, nguồn gốc hay thân phận của những kẻ ăn nhờ ở đậu. Tất cả đã quây quần dưới chung một thể chế tự do để cùng nhau xây dựng và hình thành một quốc gia với tên gọi Việt Nam Cộng Hòa.

    Nhớ lại năm 1976,  trong cái gọi là "Khóa Bồi Dưỡng Chính trị cho các văn nghệ sĩ", khi phải ra "điển hình" để trả lời động cơ nào đã khiến tôi sáng tác, tôi đã trả lời trước cả khóa học :

    " Tôi di cư vào Nam năm 18 tuổi. Khi đó tôi chưa có ý thức chính trị gì nhiều, nhưng trước mắt tôi là cả triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điều này cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã phải có vấn đề. Tuy nhiên, ý định vào Nam của tôi chỉ thực sự bắt nguồn từ cái tính thích phiêu lưu của tuổi trẻ. Vả lại sau hai năm, sẽ có tổng tuyển cử và tôi sẽ có thể trở về quê quán của mình. Sau đó thì chuyện tổng tuyển cử không được thực hiện và tôi nhận ra rằng miền Nam dần dà hình thành một quốc gia được rất nhiều nước trên thế giới công nhận. Cho nên tôi đã phục vụ quốc gia này trong tư cách một công dân, và trong tư cách công dân ấy, tôi đã viết tác phẩm đó cũng như nhiều cuốn khác."

    Với sự kiện huỵch toẹt không tránh né này, ban điều hành Khóa học không hạch hỏi gì tôi thêm nữa.

    Mà nói đúng ra, cái điều tôi trình bầy ở trên chỉ là nói lên một sự thật hiển nhiên.

    Sau năm 1954, miền Nam đã hình thành một chính thể, mà tại đó, mọi người dân đều có cơ hội sinh sống trong bầu không khí tự do.  Mọi người đều có cơ hội phát triển khả năng của mình. Và riêng về sinh hoạt văn học nghệ thuật thì trong suốt hơn 20 năm sau đó, cả một nền văn hóa khác biệt hoàn toàn với miền Bắc đương thời đã được tạo dựng bởi rất đông các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ thuộc đủ mọi loại bộ môn mà sức lan tỏa của nền văn hóa này vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ.

    Việc khôi phục lại một nên văn hóa đặt trên cơ sở Dân Tộc, Khoa học, Đại Chúng hẳn là điều mong mỏi của nhiều người. Trong suốt hơn 30 năm ở hải ngoại, đã có biết bao nhiêu ngòi bút góp phần nỗ lực vào công cuộc duy trì nền văn hóa đó.

    Những trang sách kế tiếp của cuốn này cũng không ra ngoài công việc nhìn lại quá khứ với mục đích gìn giữ những gì tốt đẹp trong lãnh vực chữ nghĩa đã qua đi..

    Dĩ nhiên, những trang sách tôi gom được lại cũng chỉ nằm trong lãnh vực thu hẹp của một cá nhân trong một cuộc hành trình chữ nghĩa.

    Xin hãy cũng chỉ coi đây như là một trong nhiều mảnh rời mà nhiều người đi trước đã để lại cho thế hệ sau.

    Hy vọng sau này, các bạn trẻ sẽ ghép thành một toàn cảnh chung ngõ hầu có thể nhìn lại những công trình mà thế hệ Cha, Anh đã góp phần trước đó khi họ thực thi nhiệm vụ gìn giữ truyền thống văn hóa của đất nước.

    Bây giờ, thế hệ ấy sắp qua đi và lại trông chờ ở thế hệ kế tiếp. Chính sự mặc nhiên tiếp nối  này mà từ ngàn xưa tới nay, dân tộc ta vẫn luôn luôn có một nền văn hóa liên tục trong lịch sử.


     
     
     
    nguồn: nhavannhattien.wordpress.com

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Lạc Đường Vào lịch Sử

    Nguyễn Mạnh Côn

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646836]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502830]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639957]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471681]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341272]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600893]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690032]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496896]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300818]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010775]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549020]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470202]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445930]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204100]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150757]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078878]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062620]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028952]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026558]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921865]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907656]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905346]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877085]
    29.Hắc Nho [852220]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840122]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756104]
    33.Tru Tiên [747836]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745345]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661957]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622482]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569436]
    39.Hoàn Hảo [557803]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536838]
    41.Tầm Tần Ký [512087]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456434]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450987]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434060]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427542]
    48.Cậu Chó [417317]
    49.If You Are Here [411882]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408303]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm