hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Truyện Dịch » Lee Child » Một Phát Một Mạng[11451] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   2.0/7 - 2 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
    PAGE OF 17
     

    Một Phát Một Mạng

    Lee Child

    Một Phát Một Mạng



    Nguyên bản: One Shot



    Giới thiệu

    Sáu phát. Năm mạng. Một thành phố miệt trong rơi vào cảnh kinh hoàng. Nhưng chỉ trong vài giờ đồng hồ cảnh sát đã giải quyết xong vụ việc. Một vụ ăn chắc. Trừ một điều. Kẻ bị buộc tội khăng khăng: Các ông bắt lầm người rồi. Rồi tiếp theo, tất cả những gì hắn nói là: Tìm Reacher cho tôi.

    Jack Reacher sống kiểu tự cung tự cấp. Kẻ độc hành luôn chẳng tha những chuyện bất bằng, có sức hấp dẫn đàn bà không cưỡng nổi. Mối liên kết nào giữa một cựu quân cảnh với kẻ rõ ràng là tâm thần bất ổn này đây?

    Những người từng trải gọi Reacher là "người hùng hành động của những độc giả có đầu óc". Sắc sảo, kích thích, đọc là nghiện ngay, Một phát một mạng, cuốn best-seller trinh thám nổi tiếng nhất của Lee Child chắc chắn sẽ khiến bạn không rời mắt nổi.

    Một phát một mạng là cuốn sách thứ chín trong mười một cuốn sách về Jack Reacher đã xuất bản. Loạt sách này của Lee Child đã được bán bản quyền đến ba mươi chín quốc gia.



    Giới thiệu về tác giả

    LEE CHILD là tác giả của mười một cuốn truyện trinh thám về nhân vật Jack Reacher, bao gồm cả những cuốn bestseller của New York Times, "Persuader" (tạm dịch Kẻ thuyết phục) và "The Enemy" (Kẻ thù). Tác phẩm đầu tiên của ông "Killing Floor" (Sàn nhà thảm sát) đoạt cả hai giải Anthony và Barry dành cho truyện trinh thám đầu tay hay nhất. Bản quyền nước ngoài trong loạt truyện Jack Reacher được bán ra ba mươi chín quốc gia. Child người gốc Anh, nguyên là nhà văn viết cho truyền hình, sống tại New York và ở đây đang viết cuốn truyện thứ mười hai về Jack Reacher, "Nothing to Lose" (Không còn gì để mất).



    Dành tặng Maggie
    Người bạn đầu tiên và tốt nhất của Jack Reacher ở Hoa Kỳ

    Chương 1

    Thứ Sáu. Năm giờ chiều. Có thể là thời điểm khó khăn nhất để di chuyển qua một thành phố mà không bị ai nhìn thấy. Mà cũng có thể là dễ nhất. Bởi vì vào năm giờ chiều ngày thứ Sáu chẳng ai quan tâm đến bất cứ điều gì. Ngoại trừ con đường trước mặt.

    Gã đàn ông mang khẩu súng trường lái xe về hướng Bắc. Không nhanh, không chậm. Không gây chú ý. Không có gì nổi bật. Gã ngồi trong một chiếc xe minivan 1 màu sáng đã khá xộc xệch và cũ kỹ. Trong xe chỉ có mình gã. Gad mặc một chiếc áo mưa sáng màu và một chiếc mũ len méo mó cũng sáng màu, loại mà những ông già hay đội trong sân gôn khi tắt nắng hoặc trời đang mưa nhẹ. Ngang mũ có một băng hai tông màu đỏ. Chiếc mũ được kéo sụp xuống. Chiếc áo mưa cài kín lên trên. Gã mang kính râm cho dù chiếc xe có kính sậm màu và bầu trời bên ngoài khá u ám. Và nghĩ gã mang găng tay cho dù còn ba tháng nữa mới đến mùa đông và thời tiết chẳng lạnh chút nào.

    Dòng xe dồn lại chỉ còn bò chầm chậm khi đường số Một bắt đầu lên dốc. Rồi tắc lại hoàn toàn ở chỗ hai làn đường bị thu làm một vì lớp nhựa đường bị xới lên để sửa sang. Khắp thành phố chỗ nào cũng thấy sửa đường.

    Suốt năm nay việc lái xe quả là một cơn ác mộng. Hố lớn hố nhỏ trên đường, xe tải chở đá dăm, chở bê tông, xe xịt nhựa đường. Gã đàn ông mang súng bỏ tay khỏi tay lái. Kéo tay áo lên. Xem giờ.

    Mười một phút.

    Cứ kiên nhẫn.

    Gã nhấc chân khỏi bàn đạp phanh cho chiếc xe nhích lên. Rồi gã lại ngưng nơi con đường thu hẹp lại, vỉa hè mở rộng ra - nơi bắt đầu khu mua sắm trung tâm. Hai bên trái phải đều có những gian hàng lớn, cái sau lại cao hơn cái trước vì độ dốc của ngọn đồi. Những vỉa hè rộng tha hồ cho khách mua sắm dạo quanh. Những cột cờ và cột đèn bằng gang sắp hàng dài như những tên lính gác ngăn giữa dòng người đi bộ và xe cộ. Không gian cho người rộng hơn cho xe cộ. Dòng xe di chuyển rất chậm. Gã lại xem đồng hồ.

    Tám phút.

    Cứ kiên nhẫn.

    Một trăm thước sau khu phố đã bớt vẻ sầm uất. Cảnh ùn tắc cũng đỡ hơn. Đường số Một mở rộng ra và con phố lại trở nên hơi lụp xụp. Những quán bar và những cửa hiệu rẻ tiền. Rồi một bãi đậu xe bên trái. Rồi lại cảnh sửa chữa, nơi người ta đang mở rộng bãi đậu xe. Đi thêm chút nữa, con đường bị một bức tường thấp chặn lại. Phía sau nó là một quảng trường lộng gió dành cho khách bộ hành với một cái hồ cảnh và đài phun nước. Bên trái quảng trường, tòa nhà thư viện cũ của thành phố. Bên phải, một tòa nhà văn phòng mới xây. Phía sau quảng trường, một tòa cao ốc ốp kính màu đen. Đường số Một đột ngột ngoặt sang phải trước mặt bức tường bao quanh quảng trường rồi chạy tiếp về hướng Tây, qua những con ngõ hậu bề bộn và những bến tàu cất hàng rồi xuôi xuống bên dưới đường xa lộ treo của bang.

    Nhưng gã đàn ông trên chiếc minivan giảm tốc độ trước khi đến khúc rẽ trước mặt quảng trường và rẽ để vào bãi đậu xe. Gã chạy thẳng lên đường dốc. Ở đó không có thanh chắn đường vì mỗi chỗ đậu có đồng hồ tính tiền riêng. Như vậy là không có nhân viên thu tiền, không nhân chứng, không vé đậu xe, không dấu vết bằng văn bản. Gã đàn ông trong xe biết tất cả những điều đó. Gã lái vòng xe theo đường dốc đến tầng thứ hai rồi chạy thẳng đến góc xa tít phía sau. Để máy xe nổ nhè nhẹ một lát, mở cửa chuồi người nhẹ nhàng ra khỏi xe rồi dời một cái trụ chắn đường màu cam khỏi chỗ đậu mà gã đã chọn. Đó là chỗ trong cùng của bãi đậu xe cũ, ngay kế bên phần mới đang được xây thêm.

    Gã lái xe vào chỗ đậu đó và tắt máy. Ngồi yên một chốc. Bãi đậu xe im ắng, những chiếc xe nằm yên lặng đã choán kín mọi chỗ đậu. Chỗ đậu mà gã đã giành trước bằng cái trụ chắn đường là chỗ duy nhất còn lại. Bãi đậu xe luôn luôn đầy cứng. Gã biết điều đó. Đó là lý do vì sao người ta đang nới rộng nó ra. Người ta đang mở rộng nó ra gấp đôi diện tích hiện có. Bãi này chủ yếu dành cho khách mua sắm. Vì thế nó mới im ắng như thế này. Không có người nào đầu óc bình thường lại ra về lúc năm giờ cả, để khỏi bị kẹt vào giờ lưu thông cao điểm. Khỏi bị kẹt giữa những công trường sửa đường dang dở. Hoặc họ ra về từ lúc bốn giờ hoặc chờ cho đến sáu giờ.

    Gã đàn ông trong xe nhìn đồng hồ.

    Bốn phút.

    Thoải mái đi.

    Gã mở cửa buồng lái và lách ra. Lấy ra khỏi túi một đồng hai mươi lăm xu và bỏ vào khe cột thu tiền. Vặn mạnh cần gạt, nghe tiếng đồng xu rơi xuống, nhìn vạch số nhảy lên một giờ đồng hồ. Không có tiếng động nào khác. Không có gì khác trong không khí ngoại trừ mùi của những chiếc xe đang đậu. Mùi xăng, mùi cao su, mùi khói thải lạnh lẽo.

    Gã đứng yên bên chiếc xe. Dưới chân gã mang một đôi ủng cao cổ cũ. Vải kaki da lộn, những lỗ xâu đơn, đế kếp trắng, do hãng Clarks of England chế tạo, được lính trong Lực lượng Đặc biệt rất khoái dùng. Một kiểu dáng kinh điển, có lẽ từ sáu mươi năm nay chưa thay đổi.

    Gã liếc nhìn lại cột tính tiền. Năm mươi chín phút. Gã không cần đến năm mươi chín phút. Gã mở cánh cửa trượt sau xe, chồm vào trong, mở một tấm bạt để lộ ra cây súng. Nó là một cây Springfield M1A Super Match tự động nạp đạn, báng súng bằng gỗ óc chó Mỹ, nòng súng loại nặng chế riêng, ổ đạn chứa được mười viên, đạn cỡ .308. Nó là phiên bản thương mại của khẩu bắn tỉa tự động nạp đạn M14 quân đội Mỹ đã sử dụng trong suốt những năm xa xưa khi gã còn tại ngũ. Nó là một thứ vũ khí rất khá. Có lẽ không hẳn hoàn toàn chính xác ngay phát đầu tiên như một khẩu súng kiểu chốt thuộc cỡ hàng đầu, nhưng nó được lắm. Nó sẽ chơi rất được. Gã không định nhắm từ những khoảng cách quá xa. Nó được nạp đạn Lake City M852. Loại đạn phối hợp hắn ưa nhất. Vỏ đồng thau Match Lake City đặc biệt, thuốc súng Federal, những đầu đạn Sierra Matchking 168 grain 2 đầu lõm đuôi thuôn. Đạn nạp vào tốt hơn khẩu súng, có lẽ vậy. Hơi thiếu tương xứng một chút.

    Gã lắng nghe sự im lặng xung quanh rồi nhấc khẩu súng khỏi băng ghế sau. Mang nó theo đến nơi tiếp giáp giữa bãi đậu xe cũ và phần đang xây dựng. Có một cái rãnh chừng một phân giữa phần bê tông cũ và mới. Như một đường phân chia ranh giới. Gã đoán đó là một khe giãn nhiệt. Đề phòng cái nóng mùa hè. Gã đoán người ta sắp trám đầy nó bằng hắc ín mềm. Ngay phía trên nó là một dải băng màu vàng và đen có ghi Chú Ý, Không Được Vào giăng ngang hai cây cột. Gã quỳ một chân xuống rồi trườn người qua. Đứng dậy và bước vào khu xây dựng mới còn ngổn ngang.

    Có những phần nền bê tông đã được trát láng, có phần còn thô nhám đang chờ lớp phủ trên cùng. Những tấm ván nằm rải rác đây đó để có chỗ giẫm lên. Những đống bao giấy đựng xi măng nằm bừa bãi, một số còn đầy nguyên, một số đã hết. Có thêm nhiều khe giãn nhiệt chưa trám. Có hàng dây bóng đèn trần, tắt ngúm. Những xe cút kít trống không, lon nước rỗng đã bẹp, những cuộn dây điện, những đống gỗ đủ kích thước, những đống đá nghiền, những máy trộn bê tông nằm im tiếng. Bụi xi măng xám xịt bay khắp mọi nơi, mịn như bột tắm, và mùi vôi ướt thoảng qua.

    Gã đàn ông mang súng bước tiếp trong bóng tối cho tới khi đến gần góc Đông Bắc của khu mới. Gã dừng lại, tì mạnh lưng vào cái cột bê tông nhám và đứng yên. Nhích dần từng chút một về phía tay phải, quay đầu cho tới khi gã có thể thấy nơi mình đứng. Nơi gã đứng cách bức tường vành đai mới của bãi đậu xe chừng tám bộ. Nhìn về phía Bắc. Bức tường cao chừng ngang hông. Đang xây dở. Nó có những chiếc bu lông bắt vào để đỡ những đoạn chắn đường bằng kim loại để chặn xe cộ khỏi tông vào bê tông. Có những đế khoan sẵn trên sàn chờ những cột đồng hồ mới.

    Gã đàn ông mang súng nhích lên và xoay người một chút cho tới khi cảm nhận được góc của cây cột nằm giữa các nhánh xương bả vai. Gã xoay đầu lại. Giờ thì gã nhìn về hướng Đông Bắc. Nhìn thẳng vào quảng trường công cộng. Cái hồ cảnh là một hình chữ nhật dài và hẹp chạy dài trước gã. Có lẽ nó dài khoảng tám mươi bộ và ngang hai mươi bộ. Nó như là một bình chứa nước lớn nằm ngay đó. Như là một cái hồ lớn trũng trên mặt đất. Nó được bao quanh bằng bốn bức tường gạch cao ngang hông người. Nước vỗ vào những mặt tường bên trong hồ. Tầm mắt gã nằm chính xác trên đường chéo từ góc mặt trước gần kề của nó đến góc xa phía sau của nó. Nhìn qua, nước sâu khoảng ba bộ. Đài nước phun lên ngay chính giữa hồ. Gã có thể nghe thấy tiếng nước, cũng như nghe thấy tiếng luồng xe rất chậm trên đường, và cả tiếng chân người đi bên dưới gã. Tường chắn phía trước hồ nằm khoảng ba bộ phía sau bức tường ngăn cách quảng trường với đường số Một. Hai bức tường thấp, chạy song song sát nhau khoảng hai mươi bộ, từ Đông sang Tây, chỉ chừa lại chiều rộng vừa đủ cho một lối đi hẹp ở giữa.

    Gã đang ở trên tầng hai của bãi đậu xe, nhưng vì đường số Một chạy dốc lên trên nên quảng trường luôn. chỉ nằm dưới gã chưa tới một tầng. Hiển nhiên sẽ là một góc xéo xuống dưới, nhưng cũng ít thôi. Bên Federal, những đầu đạn Sierra Matchking 168 phải quảng trường gã có thể nhìn thấy cánh cửa tòa nhà văn phòng mới. Tòa nhà khá tồi tàn. Nó đã được xây xong và vẫn chưa được ai thuê cả. Gã biết điều đó. Vì thế, để khu trung tâm mới còn giữ được chút tín nhiệm, chính quyền bang nhét đầy những văn phòng chính phủ vào tòa nhà đó. Sở Đăng kiểm đặt trong đó, cũng như văn phòng tuyển quân kết hợp của cả Hải quân-Không quân-Thủy quân lục chiến. Có lẽ văn phòng của Sở An sinh xã hội cũng ở trong đó. Có lẽ Sở Thuế nữa. Gã đàn ông mang súng không chắc lắm. Và gã cũng chẳng quan tâm.

    Gã quỳ xuống rồi nằm sấp hẳn xuống. Bò thấp là phương thức di chuyển chủ yếu của dân bắn tỉa. Trong thời gian còn tại ngũ gã đã bò thấp hàng triệu dặm. Đầu gối, cùi chỏ và bụng. Nguyên lý chiến thuật tiêu chuẩn của dân bắn tỉa và máy bay chỉ điểm là tách ra khỏi đại đội một nghìn thước và bò vào vị trí. Trong thời gian huấn luyện nhiều khi gã phải mất nhiều giờ cho chuyện đó, để tránh khỏi bị ống nhòm của quan sát viên phát hiện. Nhưng lần này gã chỉ phải bò có tám bộ. Và theo như gã biết thì không có chiếc ống nhòm nào đang quan sát mình.

    Gã đến được chân tường và nằm ép chặt người xuống nền bê tông gồ ghề. Rồi gã co mình lên trong tư thế ngồi. Rồi gã chuyển sang quỳ. Gã gập chân phải gọn bên dưới. Gã chống cẳng chân trái thẳng lên. Gã tựa cùi chỏ tay trái lên đầu gối chân trái. Nâng súng lên. Tựa phần cuối của thân súng lên bức tường bê tông thấp. Nhích súng lui tới để lựa thế cho đến khi cảm thấy vững vàng và thoải mái. Tư thế quỳ, giáo trình huấn luyện gọi nó như thế. Đây là một tư thế khá được. Theo kinh nghiệm của gã, tư thế này chỉ thua tư thế nằm sấp có giá đỡ súng mà thôi. Gã hít thở thật sâu. Bắn một phát, hạ một mạng. Đó là nguyên tắc của dân bắn tỉa. Muốn thành công đòi hỏi kiềm chế, yên lặng và bình tĩnh. Gã hít vào sâu, thở ra chậm rãi. Cảm thấy thư giãn. Cảm thấy thoải mái như ở nhà.

    Sẵn sàng.

    Xâm nhập thành công.

    Giờ thì chờ cho đến đúng thời điểm.

    * * *

    Gã chờ khoảng bảy phút, nằm yên, thở nhẹ, giữ cho đầu óc không suy nghĩ gì hết. Gã nhìn tòa nhà thư viện bên tay trái. Bên trên và phía sau nó, xa lộ treo cuốn lại trên các trụ đỡ, như thể ôm lấy tòa nhà to lớn cũ kỹ bằng đá vôi, ấp ủ nó, che chở nó. Rồi xa lộ lại trải thẳng ra và vượt qua phía sau tòa cao ốc ốp kính đen. Nó gần như ngang bằng với tầng lầu bốn phía sau đó. Bản thân tòa cao ốc có biểu tượng con công của đài NBC 3 trên một tảng đá nguyên khối gần cổng chính, nhưng gã đàn ông mang súng biết rằng đó chỉ là một chi nhánh nhỏ không chiếm hết cả tòa nhà. Chắc hẳn không hơn một tầng lầu mà thôi. Phần còn lại chắc là những công ty luật chỉ có một người, hay các phòng kế toán công cộng, hay những văn phòng của các công ty địa ốc hay bảo hiểm, hay những công ty đầu tư. Hay để trống.

    Người ta đang ra khỏi tòa nhà mới bên phải. Những người vừa lấy được bằng lái mới, hay nộp lại những biển số xe cũ, hay đi đầu quân, hay tranh cãi với bọn công chức cửa quyền của liên bang. Rất đông người. Những văn phòng chính phủ đang đóng cửa. Năm giờ chiều thứ Sáu. Người ta từ các cánh cửa đi ra và bước theo một chiều phải - trái ngay trước mặt gã, dồn lại vào một hàng khi bước vào khoảng hẹp và đi qua phía cuối cái hồ cảnh giữa hai bức tường thấp. Như những con vịt trong trường tập bắn. Hết con này đến con khác. Một khu vực giàu mục tiêu. Tầm đạn khoảng một trăm bộ. Ước chừng như thế. Chắc chắn chưa đến ba mươi lăm thước. Rất gần.

    Gã chờ.

    Một số người rà những ngón tay qua màn nước khi bước đi. Các bức tường cao vừa đúng tầm để làm điều đó. Gã đàn ông mang súng có thể nhìn thấy những đồng xu bằng đồng sáng lấp lánh trên nền gạch lát màu đen dưới nước. Chúng di động và nhấp nhô ở chỗ vòi nước phun khơi động mặt nước.

    Gã quan sát. Gã chờ đợi.

    Dòng người đông dần lên. Bây giờ có nhiều người bước ra cùng lúc đến nỗi họ phải dừng lại, tụ thành nhóm, nhích đi thật chậm, và chờ để làm thành một hàng người duy nhất để đi qua giữa hai bức tường thấp. Giống như dòng xe cộ ùn tắc lại ở dưới con đường số Một. Một cái cổ chai. Ông đi trước đi. Không, ông đi trước đi. Điều này làm cho mọi người chậm lại. Giờ thì họ là những con vịt di chuyển chậm trong trường bắn.

    Gã đàn ông mang súng hít sâu vào rồi thở ra, và chờ đợi.

    Rồi gã không chờ nữa.

    Gã siết cò súng, tiếp tục siết.

    Phát đầu tiên trúng vào đầu một người đàn ông khiến ông ta chết tức khắc. Tiếng súng nổ lớn rồi thêm một tiếng rắc siêu âm từ đầu đạn với một luồng sương mù màu hồng từ cái đầu phụt ra và ông ta rớt xuống như một con rối bị cắt dây.

    Một mạng ngay phát đầu tiên.

    Xuất sắc.

    Gã bắn rất nhanh, từ trái qua phải. Phát thứ hai trúng ngay đầu người kế tiếp. Có kết quả như phát đầu tiên, rất chính xác. Phát thứ ba trúng đầu một người đàn bà. Cùng một kết quả. Ba phát trong vòng có lẽ hai giây. Ba mục tiêu bị triệt hạ. Bất ngờ tuyệt đối. Không một phản ứng nào trong chừng nửa giây. Sau đó là hỗn loạn. La thét. Kinh hoàng. Mười hai người bị mắc kẹt trong không gian hẹp giữa bức tường của quảng trường và bức tường của cái hồ. Ba người đã chết. Chín người còn lại xô nhau chạy. Bốn người chạy tới phía trước, năm người kia bổ nhào tránh những cái xác và chạy lui lại. Năm người này va vào dòng người vẫn đang tiến về phía trước. Những tiếng thét đột ngột cất lên. Một khối những người kinh hoảng dồn cứng lại ngay trước mặt gã đàn ông mang súng. Khoảng cách chưa đến ba mươi hai thước. Rất gần.

    Phát súng nhắm vào đầu thứ tư của gã giết chết một người đàn ông mặc vest. Phát thứ năm trượt hoàn toàn. Viên đạn Sierra Matchking bay sát vai một người đàn bà rồi rít lên, lao thẳng vào cái hồ và biến mất. Gã không màng đến nó, rê họng súng chút xíu, phát thứ sáu bắn trúng sống mũi một người đàn ông và phá vỡ đầu ông ta.

    Gã đàn ông ngừng bắn.

    Gã hụp người xuống dưới bức tường của bãi đậu xe và bò lui lại ba bộ. Gã ngửi thấy mùi thuốc súng, và giữa tiếng vang u u trong tai gã có thể nghe thấy tiếng phụ nữ la khóc, tiếng chân chạy và tiếng cho răng rắc khi người ta phá hàng rào mà chạy trên con đường bên dưới. Gã nghĩ, Đừng lo, những kẻ nhỏ bé kia. Mọi chuyện chấm dứt rồi. Giờ ta đi đây. Gã nằm sấp, vun những vỏ đạn thành một đống. Chất đồng Lake City sáng lấp lánh trước mắt gã. Gã bụm năm cái vỏ đạn vào đôi bàn tay mang găng, nhưng cái thứ sáu lăn đi rồi rơi xuống một khe giãn nhiệt chưa trám. Rớt thẳng xuống cái rãnh nhỏ sâu hai mươi phân rộng một phân. Gã nghe một tiếng vang khô, lặng lẽ khi nó chạm đáy.

    Quyết định sao?

    Tất nhiên là mặc nó.

    Không còn thì giờ đâu.

    Gã nhét năm cái vỏ đạn vào túi áo mưa rồi bò lui lại trên những đầu ngón chân, ngón tay và bụng. Gã nằm im một lát lắng nghe tiếng la khóc. Rồi nhổm người đứng lên. Quay người, bước lui theo con đường đã đưa gã tới đây, nhanh nhẹn nhưng bình tĩnh, đi qua đống bê tông gồ ghề, dọc theo những tấm ván lót lối đi, xuyên qua bóng tối và bụi mù, luồn dưới dải băng màu vàng và đen. Trở lại chiếc xe.

    Cánh cửa sau vẫn để mở. Gã gói khẩu súng đang còn ấm trong tấm bạt rồi đẩy cánh cửa đóng lại. Leo lên xe và nổ máy. Liếc nhìn cột thu tiền qua cửa kính. Gã còn đến bốn mươi bốn phút. Gã lùi xe thẳng vào đường dốc dẫn ra. Lái xuôi dốc và ra khỏi lối ra không có người trông, rồi rẽ phải, rồi rẽ phải tiếp vào những đường phố ngang dọc phía sau những siêu thị. Gã đã chạy qua khoảng dưới đường xa lộ rồi mới nghe tiếng còi báo động đầu tiên. Gã thở ra. Những tiếng còi hướng về phía Đông, còn gã thì chạy về phía Tây.

    Gã nghĩ, Công việc thật mỹ mãn. Xâm nhập kín đáo, bắn sáu phát, hạ gục năm mục tiêu, thoát ra êm thấm, thật suôn sẻ êm như mơ.

    Rồi gã chợt mỉm cười. Những con số thống kê của quân đội sau nhiều năm cho biết rằng, trong quân đội hiện đại muốn xóa sổ một mạng kẻ thù phải mất hết khoảng mười lăm nghìn viên đạn do bộ binh bắn. Nhưng đối với những tay bắn tỉa chuyên nghiệp thì kết quả cao hơn thế. Cao hơn rất nhiều. Cụ thể là cao hơn đến mười hai nghìn rưởi lần. Trong quân đội hiện đại, một tay bắn tỉa hạ một mạng kẻ thù chỉ với đúng một-phẩy-hai viên đạn. Và một trên một-phẩy-hai ngẫu nhiên lại trùng với con số năm trên sáu. Chính xác là tỷ lệ đó. Số học đơn thuần. Thế là, ngay cả sau ngần ấy năm, một tay bắn tỉa được đào tạo bài bản vẫn đạt được thành tích mà những huấn luyện viên ngày xưa của hắn đòi hỏi. Chắc hẳn họ phải lấy làm hài lòng về điều đó.

    Nhưng các huấn luyện viên đã huấn luyện những tay bắn tỉa cho mặt trận, chứ không phải cho tội phạm ở đô thị. Với tội phạm ở đô thị, những nhân tố không có trên mặt trận tham gia vào rất nhanh chóng. Những nhân tố này có khả năng thay đổi định nghĩa về thoát ra êm thấm. Trong trường hợp cụ thể này, giới truyền thông phản ứng nhanh nhất. Không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì vụ nổ súng này xảy ra ngay trước cửa sổ chi nhánh địa phương của hãng NBC. Có hai điều xảy ra trước cả khi cả chục khách bộ hành khiếp vía bấm số 911 trên điện thoại di động của họ cùng một lúc. Trước tiên, tất cả máy quay phim cỡ nhỏ trong văn phòng NBC bắt đầu hoạt động. Những máy quay được khởi động và hướng ống kính ra các cửa sổ. Thứ hai, một người dẫn chương trình thời sự địa phương tên là Ann Yanni bắt đầu duyệt lại cái mà cô ta biết rằng nó sẽ là bản tin nóng đầu tiên trong đời mình. Cô ta run rẩy hoảng sợ vô cùng, nhưng biết ngay đây chính là cơ hội. Vì thế, cô ta khởi sự biên soạn ngay trong đầu mình. Cô ta biết rằng từ ngữ tạo nên sự kiện, và những chữ bật lên trong đầu cô trước tiên là bắn tỉa và nhẫn tâm và tàn sát. Sự điệp âm 4 có được hoàn toàn do bản năng. Tính sáo rỗng cũng vậy. Nhưng tàn sát là cách cô ta nghĩ về nó. Và tàn sát là một từ tuyệt hay. Nó chuyển tải sự bừa bãi, sự thất thường, sự tàn bạo, sự dã man. Nó không xác định động cơ, cũng không xác định nhân vật. Nó là từ chuẩn xác nhất cho câu chuyện này. Cùng lúc đó cô ta hiểu nó không thích hợp cho tiêu đề bên dưới hình ảnh. Dùng chữ vụ thảm sát sẽ hay hơn. Vụ thảm sát đêm thứ Sáu? Vụ thảm sát trong giờ cao điểm? Cô ta chạy đến bên cửa và hy vọng gã chuyên viên đồ họa sẽ phát kiến ra được một điều gì đại loại như vậy.

    Trên mặt trận cũng không có lực lượng công lực của thành phố. Một chục cú phôn gọi 911 cùng lúc đã thắp sáng tổng đài khẩn cấp như một cây thông Noel, rồi cảnh sát địa phương và đội cứu hỏa cùng xuất phát trong vòng bốn mươi giây. Tất cả đều được lệnh xuất phát với đèn xe nhấp nháy và còi hụ. Mọi xe cảnh sát, mọi nhân viên điều tra, mọi kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường, mọi xe cứu hỏa, mọi nhân viên y tế, mọi xe cứu thương. Thoạt đầu thật là hỗn loạn. Những cú phôn đến 911 đều rất hốt hoảng và không mạch lạc tí nào. Nhưng hiển nhiên ở đây có tội ác, và chúng rõ ràng là rất nghiêm trọng, vì thế viên thanh tra chỉ huy của Đội Phòng chống tội phạm nghiêm trọng được trao quyền chỉ huy tạm thời. Ông là một tay kỳ cựu với hai mươi năm kinh nghiệm làm cho sở cảnh sát, từ một nhân viên tuần tra quèn đã xây dựng sự nghiệp lên tới tận đây. Tên ông là Emerson. Ông đang cố lái xe qua những làn xe chậm chạp, nôn nóng, tuyệt vọng, lách tránh những công trường, tuyệt nhiên không biết được điều gì đang xảy ra. Cướp, ma túy, băng đảng thanh toán nhau, khủng bố... ông không có thông tin gì rõ ràng cả. Không một chút thông tin gì thì đúng hơn. Nhưng ông bình tĩnh. Tương đối bình tĩnh. Nhịp tim ông vẫn giữ dưới mức một trăm năm mươi. Ông có một kênh phát sóng nối trực tiếp với tổng đài 911, nôn nóng được thông báo thêm khi đang lái xe.

    Nhân viên tổng đài thét to, "Thêm cú di động nữa gọi đến."

    Emerson thét lại, "Ai?"

    "Phòng Thủy quân lục chiến, văn phòng tuyển quân."

    "Hắn là nhân chứng à?"

    "Không, hắn ở trong nhà, nhưng bây giờ thì ra ngoài rồi."

    Emerson nghiến răng. Ông biết rằng mình sẽ không phải người đầu tiên đến được hiện trường. Thậm chí không phải là người thứ hai hay thứ ba. Ông biết rằng hẳn là mình cầm cờ chót rồi. Vì thế ông cần có tai mắt cho mình. Càng sớm càng tốt. Một tay Thủy quân lục chiến à? Được đấy.

    "Ông nói, "Ok, nối cho hắn đi."

    Những tiếng tách khá lớn vang lên, rồi tiếng lạo xạo trong máy, và Emerson nghe một âm thanh mới. Bên ngoài trời, tiếng la khóc vọng từ xa, tiếng nước vỗ. Đài phun nước, ông nghĩ vậy.

    Ông hỏi, "Ai đó?"

    Giọng nói đáp lại, bình tĩnh nhưng vội vã, vang lớn trong tiếng thở, áp sát vào điện thoại di động.

    "Tôi là Kelly, Thượng sĩ, Quân đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Ông là ai?"

    "Emerson, sở cảnh sát. Tôi đang lái xe, khoảng mười phút nữa sẽ đến. Ở đó có gì?"

    Người lính thủy trả lời, "Năm hy sinh."

    "Năm người chết?"

    "Xác nhận."

    Cứt thật!

    "Số bị thương?"

    "Theo tôi thấy thì không có ai cả."

    "Năm người chết và không ai bị thương?"

    "Xác nhận." Người lính thủy lặp lại.

    Emerson không nói gì nữa. Ông đã từng thấy cảnh bắn nhau ở nơi công cộng. Ông từng thấy người chết. Nhưng ông chưa từng thấy chỉ có người chết mà thôi. Nổ súng ở nơi công cộng luôn luôn có người bị thương kèm theo với người chết. Thường là với tỷ lệ một trên một, ít nhất là vậy.

    Ông hỏi, "Anh có chắc là không ai bị thương không?"

    "Chắc, thưa ngài." Người lính thủy trả lời.

    "Những người chết là ai?"

    "Thường dân. Bốn nam, một nữ."

    "Cứt thật!"

    "Rõ, thưa ngài." Anh lính nói.

    "Anh đang ở đâu khi đó?"

    "Trong phòng tuyển quân."

    "Anh thấy những gì?"

    "Không thấy gì cả."

    "Anh nghe những gì?"

    "Tiếng súng nổ, sáu phát."

    "Súng ngắn?"

    "Súng trường, tôi nghĩ vậy. Chỉ một khẩu thôi."

    "Một khẩu súng trường? "

    "Một khẩu bán tự động, tôi nghĩ vậy. Nó bắn nhanh, nhưng nó không ở chế độ tự động toàn phần. Tất cả các nạn nhân đều bị bắn vào đầu."

    Một tay bắn tỉa, Emerson nghĩ. Cứt thật. Một gã khùng có vũ khí giết người.

    Ông hỏi, "Giờ thì hắn chuồn chưa?"

    "Thưa ngài, không còn tiếng súng nào khác."

    "Có thể hắn vẫn còn ở đó?"

    "Có thể như vậy, thưa ngài. Mọi người đã tìm nơi ẩn núp. Giờ đây phần lớn họ đang ở trong thư viện."

    "Anh đang ở đâu?"

    "Núp sau bức tường của quảng trường, thưa ngài. Có một vài người cùng núp với tôi."

    "Hắn đã ở đâu?"

    "Không thể nói chắc được. Có lẽ ở trong bãi đậu xe. Phần mới dựng. Người ta chỉ vào đó. Có lẽ đã có chớp lửa đầu nòng. Và đó là tòa nhà lớn duy nhất nằm trực diện với những nạn nhân."

    Một khu ổ chuột, Emerson nghĩ. Nơi ẩn náu cho một con chuột khốn khiếp.

    Người lính thủy nói, "Đám truyền hình đang có mặt ở đây."

    Emerson nghĩ, Chó thật.

    Ông nói, "Anh có đang mặc quân phục không?"

    "Nguyên bộ, thưa ngài. Cho phòng tuyển quân mà."

    "Tốt lắm. Hãy cố giữ trật tự cho tới khi người của tôi đến."

    "Rõ, thưa ngài."

    Rồi đường dây im bặt và Emerson lại nghe tiếng thở của nhân viên tổng đài của ông. Ông nghĩ, Nhân viên đài truyền hình và một thằng khùng có khẩu súng trường. Cứt, cứt, cứt thật. Áp lực, sự soi mói và phỏng đoán, như mọi lần khác có nhân viên truyền hình và một thằng khùng mang súng. Ông gạt sang chế độ liên lạc với tất cả các xe trong đơn vị.

    Ông nói, "Tất cả các đơn vị, nghe đây. Đây là một tên điên đơn độc mang súng trường. Chắc hẳn là một khẩu bán tự động. Bắn bừa bãi vào đám đông. Nhiều khả năng là bắn từ khu vực mới của bãi đậu xe. Hắn có thể vẫn còn ở trong đó hoặc đã cao bay xa chạy rồi. Nếu hắn đã biến, thì có thể là đi bộ hoặc bằng xe. Vì thế, tất cả những đơn vị cách xa hơn mười khối phố hãy dừng lại và làm một chốt chặn bao quanh. Không cho bất cứ ai vào hay ra, rõ chưa? Không xe cộ, không khách bộ hành, không một ai trong bất cứ trường hợp nào. Còn tất cả những đơn vị trong vòng mười khối phố, hãy tiến vào trong, phải thật thận trọng. Nhưng đừng để cho hắn thoát. Cấm để vuột hắn. Chúng ta phải thắng, anh em ạ. Chúng ta cần phải tóm tên này trong hôm nay, trước khi bọn CNN tóm được gáy chúng ta."

    Gã đàn ông trong chiếc minivan bấm nút bộ phận điều khiển từ xa trên tấm che nắng và cánh cửa nhà để xe cuốn lên. Gã lái xe vào bên trong và lại bấm nút, cánh cửa hạ xuống phía sau gã. Gã tắt máy xe, ngồi yên trong chốc lát. Rồi gã xuống xe, bước qua phòng ngoài và vào nhà bếp. Gã vỗ nhẹ vào đầu con chó rồi bật tivi.

    Những nhân viên y tế mặc áo giáp tiến vào phía sau của thư viện. Hai người trong bọn họ ở lại bên trong để tìm những người bị thương trong đám đông đang ẩn núp ở đây. Bốn người còn lại đi ra phía trước và cúi thấp người chạy xuyên qua quảng trường rồi núp sau bức tường. Họ bò đến những xác người và xác nhận rằng họ đều đã chết. Rồi họ ở lại đó. Nằm bất động sát đất cạnh những tử thi. Emerson đã ra lệnh, Không phơi mình ra một cách không cần thiết cho tới khi bãi đậu xe đã được lục soát kỹ.

    Emerson đậu xe lại một nơi cách quảng trường hai khối phố và ra lệnh cho một viên trung sĩ mặc quân phục điều khiển cuộc lục soát trong bãi đậu xe, từ trên xuống dưới, từ góc hướng Tây Nam ra. Những cảnh sát mặc đồng phục lục soát kỹ tầng thứ tư, rồi tầng thứ ba. Rồi tầng hai. Rồi tầng một. Khu vực cũ rất khó giải quyết. Đèn thắp không đủ sáng và xe đậu đầy, và mỗi chiếc xe đều có khả năng là một nơi để núp. Gã có thể núp ở trong, ở dưới hay phía sau một chiếc xe. Nhưng họ không tìm thấy ai cả. Họ không gặp khó khăn lắm với khu vực sửa chữa mới. Trong đó không có chút ánh sáng nào, nhưng không có xe nào đậu cả. Đám cảnh sát chỉ việc đi xuống cầu thang và lần lượt quét qua từng tầng bằng đèn pin.

    Không một ai ở đó.

    Viên trung sĩ thở phào nhẹ nhõm và gọi điện báo cáo lại.

    Emerson khen ngợi, "Làm tốt lắm."

    Và quả thật đáng khen. Thực tế là họ lục soát từ góc phía Tây Nam ra và để yên không đụng gì đến góc Đông Bắc. Không có chút gì bị xáo trộn cả. Do đó, vì may mắn hay vì nhờ phán đoán đúng mà ngay từ đầu sở cảnh sát đã thực hiện bước đầu hoàn hảo của cuộc điều tra mà sau này sẽ được đánh giá là hoàn hảo từ đầu đến cuối.

    Đến bảy giờ thì trời đã bắt đầu tối và Ann Yanni đã lên truyền hình mười một lần. Ba lần lên NBC, tám lần kia là của đài địa phương. Riêng cá nhân cô ta thì hơi thất vọng với cái tỷ lệ đó. Cô ta dễ dàng nhận thấy một chút hoài nghi của văn phòng biên tập đài đối với công trạng của mình. Hễ có đổ máu là có tin để đưa là châm ngôn của bất cứ tổ chức truyền thông nào, nhưng vụ đổ máu ở xa quá, xa với New York hay Los Angeles. Nó không xảy ra trong một khu đô thị hào nhoáng nào đó bên cạnh thủ đô Washington D.C. Nó có vẻ như chuyện của một-thằng-cà-tửng-từ-miệt-trong. Không một khả năng sẽ có một nhân vật quan trọng nào đó đi ngang mũi súng của tên này cả. Vì thế, nó không phải là loại hàng độc cho giờ phát thanh cao điểm. Và thật sự thì Ann cũng không có chi tiết gì nhiều để cung cấp. Chưa ai trong số người bị thảm sát. Sở cảnh sát địa phương thì giấu kín những con bài của họ cho tới khi các gia đình đã được thông báo riêng. Do đó, cô ta không có những câu chuyện hậu trường cảm động để chia sẻ với khán thính giả. Cô ta không biết chắc trong số những nạn nhân nam có ai là trụ cột của gia đình. Hay là người ngoan đạo. Cô ta cũng không biết người đàn bà có phải là một người mẹ hay một người vợ không. Cô ta cũng không có nhiều hình ảnh để cung cấp. Chỉ là một đám đông bị cảnh sát chặn lại cách hiện trường năm khối phố, và một cảnh quay dài và yên lặng chạy dọc theo cái màu xám xịt của đường số Một, và những cận cảnh thảng hoặc về bãi đậu xe, nơi mà dường như mọi người đoán rằng tay bắn tỉa đã ở đó.

    Cho tới tám giờ thì Emerson đã có nhiều tiến triển. Nhân viên của ông đã lấy được hàng trăm lời khai. Thượng sĩ Thủy quân lục chiến Kelly vẫn nói chắc rằng anh nghe được sáu phát súng. Emerson nói chung tin lời anh ta. Khả dĩ có thể tin tưởng các tay lính Thủy quân lục chiến về những điều như thế này. Rồi một người khác nhớ ra rằng điện thoại di động của mình chắc là mở suốt lúc đó, đang gọi tới hộp thư thoại của một người bạn. Công ty điện thoại lấy lại bản ghi âm và có thể nghe thấy sáu phát súng yếu ớt trên đó. Nhưng những nhân viên giám định pháp y chỉ tìm thấy năm vết đạn trong năm xác chết. Như vậy là có một phát bắn trượt. Ba nhân chứng khác thì hơi mơ hồ, nhưng cả ba đều khai rằng họ thấy một cột nước nhỏ bắn lên từ cái hồ làm cảnh.

    Emerson ra lệnh tháo cạn nước hồ.

    Phòng cứu hỏa thi hành việc này. Họ lắp các đèn pha và tắt vòi phun, rồi dùng máy bơm để hút nước đổ vào hệ thống thoát nước của thành phố. Họ ước chừng có khoảng tám chục nghìn ga-lông nước, và việc này sẽ xong trong một giờ.

    Trong lúc đó, những kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường dùng ống hút và đèn chiếu la-de để ước là chừng những đường đạn gây chết người. Họ cho rằng bằng chứng từ nạn nhân đầu tiên sẽ đáng tin cậy nhất. Có lẽ ông ta đang đi từ phải qua trái băng qua quảng trường thì viên đạn bay tới. Sau đó, có khả năng những nạn nhân về sau xoay người, quay lại hay di chuyển theo những lối bất khả đoán khác. Vì thế, họ đưa ra kết luận của mình hoàn toàn dựa trên người đầu tiên. Đầu ông ta vỡ toang, nhưng có vẻ khá rõ ràng là viên đạn đã đi từ cao xuống thấp và xuyên từ trái qua phải. Một kỹ thuật viên đứng thẳng trên điểm đó và một người khác cầm một cái ống hút tì vào thái dương của anh ta theo đúng góc phù hợp và giữ nó thật vững. Rồi người đầu tiên bước tránh ra, và một người thứ ba bắn một tia la-de xuyên qua cái ống hút. Nó tạo ra một điểm đỏ bé tí trên góc phía Đông Bắc của phần bãi đậu xe đang xây thêm, ở tầng hai. Những nhân chứng đã khai rằng họ thấy chớp lửa đầu nòng lóe lên ở đó. Giờ thì khoa học đã chứng thực cho lời khai của họ.

    Emerson phái nhân viên khám nghiệm hiện trường tội ác vào trong bãi đậu xe và bảo họ rằng họ muốn điều tra bao lâu cũng được. Nhưng ông bảo họ đừng có trở về tay không.

    Ann Yanni rời khỏi tòa cao ốc ốp kính đen lúc tám giờ ba mươi và dẫn theo một toán quay phim xuống khu vực phong tỏa của cảnh sát cách đó năm khối phố. Cô ta đoán rằng mình có thể nhận ra một vài nạn nhân bằng phương pháp loại trừ. Những người có thân nhân chưa trở về nhà ăn tối có thể đang nhóm lại ở đó mong chờ tin tức. Cô ta quay hết hai mươi phút băng. Cô không có được thông tin cụ thể nào hết. Thay vào đó, cô có hai mươi phút đầy những khóc lóc, rên xiết hoặc sự hoang mang chết lặng. Cả thành phố đều đang đau quặn và kinh hoàng. Cô ta đã bắt đầu với cảm giác kiêu hãnh thầm kín rằng mình đang ở trung tâm sự kiện, và kết thúc đầy nước mắt và trong dạ như muốn bệnh.

    * * *

    Bãi đậu xe là nơi đã giúp giải quyết xong vụ án. Đó là một cái mỏ từ trên trời rơi xuống. Một kho vàng. Một nhân viên tuần tra ở cách đó ba khối phố đã lấy lời khai của một khách hàng thường xuyên của bãi đậu xe. Nhân chứng nói rằng chỗ đậu cuối cùng trên tầng hai đã bị một cái trụ chắn đường màu cam chặn lại. Vì thế, nhân chứng phải rời bãi đậu xe để đậu ở một nơi khác. Ông rất bực mình về chuyện này. Một nhân viên của chính quyền thành phố nói rằng không ai ra lệnh đặt cái trụ ở đó. Không phải thế. Không thể nào như thế được. Không có lý do gì để nó nằm ở đó cả. Vì thế, cái trụ được bỏ vào bao tang vật và mang đi. Rồi người đó nói rằng có một máy quay an ninh kín ở lối vào và lối ra, được nối với một máy thu băng trong phòng bảo trì. Cuốn băng được lấy ra và mang đi. Rồi ông ta lại nói rằng việc mở rộng bãi đậu xe này đang ngưng lại chờ được cấp tiền và đã không hoạt động trong hai tuần nay. Vì thế, bất cứ điều gì xảy ra trong vòng hai tuần trở lại không dính líu gì tới ông hết.

    Những kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường khởi đầu ở dải băng màu vàng và đen Chú Ý Không Được Vào. Vật đầu tiên họ tìm thấy là một tí xíu cô tông màu xanh trên mặt bê tông thô nhám ngay bên dưới của dải băng. Chỉ một sợi xơ bé tí phải nhìn thật kỹ mới thấy. Như thể đã có người quỳ một chân xuống để chui bên dưới nó và để lại một chút vải quần jeans của hắn. Họ chụp hình sợi xơ vải rồi nhặt nó lên nguyên vẹn bằng một mẩu băng dính trong. Rồi họ mang đèn hồ quang cực mạnh vào và đặt chúng rọi thấp chiếu ngang qua sàn nhà. Ngang qua lớp bụi xi măng đã đóng hai tuần. Họ thấy những dấu chân rất rõ. Những dấu chân thật hoàn hảo. Tay trưởng nhóm kỹ thuật gọi cho Emerson bằng chiếc Motorola của mình.

    Anh ta nói, "Hắn mang đôi giày rất quái."

    "Loại giày gì mà quái?"

    "Ông có bao giờ nghe đến kếp chưa? Nó là một loại cao su thô. Gần như cao su sống. Rất dính. Nó dính lấy mọi thứ. Nếu tóm được tên này, chúng ta sẽ tìm thấy một đôi giày đế kếp dính đầy bụi xi măng. Và chúng ta cũng sẽ thấy một con chó trong nhà của hắn."

    "Một con chó?"

    "Chúng tôi tìm thấy lông chó ở đây, lông này dính vào đế giày kếp từ trước đó. Rồi lại bị cọ rơi xuống ở nền bê tông gồ ghề. Và những sợi thảm. Chắc là từ những tấm thảm ở nhà hay trong xe của hắn."

    Emerson nói, "Cứ tiếp tục đi."

    Lúc chín giờ kém mười, Emerson thông báo ngắn gọn cho viên giám đốc sở cảnh sát của ông để chuẩn bị một cuộc họp báo. Ông không giấu giếm điều gì. Tất cả tùy thuộc vào quyết định của viên giám đốc, điều gì nên tiết lộ và điều gì giữ lại.

    Emerson nói, "Sáu phát đạn được bắn ra và năm người chết. Tất cả đều bắn vào đầu. Tôi dám cá rằng đây là một tay súng đã được huấn luyện. Chắc hẳn là một cựu quân nhân."

    Ông giám đốc nói, "Hay là một tay thợ săn?"

    "Bắn nai và bắn người có khác biệt lớn. Kỹ thuật có thể giống nhau, nhưng cảm xúc thì khác."

    "Chúng ta giấu FBI vụ này có được không vậy?"

    "Đây không phải là khủng bố. Mà là một tên điên hành động đơn lẻ. Trước đây chúng ta đã từng gặp dạng này rồi."

    "Tôi muốn mình có thể nói một cách tự tin về việc tóm cổ hắn."

    Emerson nói, "Tôi biết."

    "Thế thì tôi có thể tự tin đến mức nào?"

    "Cho tới lúc này thì chúng ta đã có được thông tin hay, nhưng không phải là cực kỳ."

    Vị giám đốc gật đầu không nói gì thêm.

    Đúng chín giờ, Emerson nhận được một cú điện thoại từ nhà nghiên cứu bệnh học. Nhóm chuyên viên của ông ta đã chụp X-quang cả năm cái đầu. Tổn hại tế bào nghiêm trọng, những lỗ vết thương vào và ra, không có đạn bị kẹt lại bên trong.

    Nhà nghiên cứu bệnh học nói, "Đầu đạn lõm. Tất cả đều xuyên thủng."

    Emerson quay lại nhìn cái hồ cảnh. Ông nghĩ, Sáu viên đạn còn dưới đó. Năm viên xuyên thủng và một viên bắn trượt. Cái hồ cuối cùng cũng cạn vào lúc chín giờ mười lăm. Những vòi hút cứu hỏa bắt đầu hút không khí. Tất cả những thứ còn lại là chừng bảy phần mười phân cặn bùn mạt đá, và nhiều rác rưởi. Emerson ra lệnh chỉnh góc chiếu của những ngọn đèn lại và điều mười hai tân binh từ học viện trèo qua tường chắn quanh hồ, sáu người từ đầu này và sáu người từ đầu bên kia.

    Những kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường ở phần mở rộng của bãi đậu xe ghi được bốn mươi tám bước chân đi và bốn mươi bốn bước quay trở lại. Thủ phạm rất tự tin nhưng thận trọng trong khi đi vào, và bước sải dài hơn khi đi ra. Vội vã. Dấu chân cỡ giày số mười một. Họ tìm được những sớ vải trên cây cột cuối cùng trước góc phía Đông Bắc. Loại vải được ngâm kiềm, theo phỏng đoán, từ một chiếc áo mưa màu sáng, ở chiều cao ngang bả vai, như thể hắn đã tì mạnh lưng vào cột bê tông nhám rồi xê dịch vòng quanh nó để nhìn ra ngoài quảng trường. Họ phát hiện ra bụi bị xáo động mạnh trên sàn nhà ở giữa cây cột và bức tường bao quanh. Và thêm nhiều những sợi sớ vải màu xanh và sợi sớ áo mưa, và những mảnh vụn cao su kếp nhỏ xíu, bạc màu và cũ kỹ.

    Tay chỉ huy nhóm kỹ thuật nói, "Hắn bò thấp. Đầu gối và cùi chỏ trên lối đó, và đầu gối, ngón chân, và cùi chỏ đi ngược trở lại. Bao giờ chúng ta tìm được đôi giày của hắn, sẽ thấy chúng đều bị vẹt đi ở đằng trước."

    Họ tìm được nơi gã đã ngồi dậy và quỳ. Thẳng ngay phía trước vị trí đó, họ thấy những vụn sơn dính trên mép tường.

    Tay chỉ huy nhóm kỹ thuật nói, "Hắn tựa khẩu súng ở đó. Dịch chuyển qua lại để lấy thế cho vững."

    Anh sửa thế và nhắm ánh mắt qua chỗ dính sơn, như thể đang nhắm một khẩu súng. Cái mà anh thấy trước mặt mình là Emerson, đang bước đi trước cái hồ cạn nước, cách đó chưa đến ba mươi lăm thước.

    Những tân binh từ học viện mất ba mươi phút dưới cái hồ cạn và mang lên đủ thứ vụn vặt, gần tám đô la tiền xu, và sáu đầu đạn. Năm viên chỉ còn là những cục chì lỏng méo mó, nhưng viên còn lại nhìn mới tinh. Nó là loại đạn đầu lõm đuôi thuôn, đúc tuyệt đẹp, gần như chắc chắn là một viên .308. Emerson gọi với lên viên chỉ huy nhóm kỹ thuật trên bãi đậu xe, "Tôi cần anh xuống đây."

    Anh ta trả lời, "Không, tôi cần ông lên đây."

    Khi lên tầng hai, Emerson bắt gặp tất cả những nhân viên kỹ thuật đang chụm đầu cúi xuống, tay cầm đèn pin chiếu thẳng vào một khe nứt trong bê tông.

    Tay chỉ huy nhóm kỹ thuật nói, "Khe giãn nhiệt. Và nhìn xem cái gì rơi trong đó này."

    Emerson chen vào nhìn xuống và thấy ánh đồng lóe lên.

    Ông nói, "Một cái vỏ đạn."

    "Tên đó mang những cái khác đi rồi, nhưng cái này lăn mất."

    Emerson hỏi, "Dấu tay?"

    Tay kỹ thuật trả lời, "Chúng ta có thể hy vọng được. Không mấy ai mang bao tay khi nạp đạn."

    Làm sao lấy nó ra khỏi chỗ đó?"

    Tay kỹ thuật đứng dậy, rọi đèn pin tìm cái hộp điện trên trần nhà. Có một cái ngay gần đó, còn mới, có những đầu dây điện thò ra như những nhánh dương xỉ. Anh nhìn xuống sàn nhà ngay dưới đó và thấy một mớ những đoạn dây thừa vương vãi. Anh chọn một đoạn dây nối đất dài khoảng nửa mét. Anh lau sạch rồi bẻ nó thành hình chữ L. Nó khá cứng và nặng. Chắc hẳn quá mức cần thiết cho loại đèn trần huỳnh quang mà anh đoán bãi đậu xe sẽ dùng. Có lẽ đó là lý do tại sao dự án bị ngưng lại chờ ngân sách. Có lẽ thành phố đang dùng tiền sai chỗ rồi.

    Anh lách sợi dây vào khe hở và luồn nó thẳng xuống cho tới khi đầu kia lọt gọn vào trong cái vỏ đạn rỗng. Rồi anh nhấc nó lên một cách thật thận trọng để không bị trầy xước. Anh thả ngay nó vào trong bao nhựa đựng tang vật.

    Emerson nói, "Gặp nhau ở đồn nhé. Trong một giờ nữa. Tôi sẽ đi hù viên công tố quận."

    Ông bỏ đi, theo một đường song song với dãy dấu chân. Rồi ông dừng lại bên bãi đậu xe trống.

    Ông nói lớn, "Đổ hết đồng hồ tính tiền ra. Lấy dấu tay trên tất cả những đồng hai mươi lăm xu."

    Tay kỹ thuật hét trả, "Vì sao? Ông nghĩ thằng khốn đó trả tiền à?"

    "Tôi muốn chiếm hết các chốt."

    "Có là điên ông mới trả tiền đậu xe ngay trước khi bắn vỡ sọ năm người."

    "Anh không bắn vỡ sọ năm người trừ phi anh là thằng điên."

    Tay kỹ thuật nhún vai. Đổ hết những cột thu tiền ư? Nhưng anh ta nghĩ chắc đám thanh tra được trả lương cho những cơn sáng suốt kiểu đó, nên anh vẫn bấm điện thoại di động gọi tay nhân viên liên lạc của thành phố quay trở lại.

    Cứ đến chặng này, bao giờ cũng có ai đó thuộc phòng công tố quận nhúng tay vào, bởi trách nhiệm khởi tố hoàn toàn đặt trên vai viên công tố quận. Trước tòa, không phải sở cảnh sát thua hay thắng. Mà là phòng công tố quận. Do đó phòng công tố quận tự đánh giá bằng chứng theo cách của mình. Họ có đủ điều kiện khởi tố hay không? Những điều kiện đó yếu hay mạnh? Nó như là một cuộc diễn tập vậy. Như là một phiên tòa trước khi có phiên tòa. Lần này, vì tính chất nghiêm trọng của vụ án, nên Emerson trình diễn trước chính viên công tố quận. Một tay tổ đây, kẻ thật sự phải đứng ra tranh cử. Và tái ứng cử.

    Họ tiến hành một cuộc họp tay ba tại văn phòng của Emerson. Emerson, tay chỉ huy khám nghiệm hiện trường, và công tố viên. Viên công tố quận tên là Rodin, đó là phiên bản rút gọn của một cái tên Nga vốn dài hơn nhiều trước khi các ông cố tổ của ông ta đến Mỹ. Ông ta năm mươi tuổi, sạch sẽ gọn gàng, và rất thận trọng. Văn phòng của ông có một tỷ lệ chiến thắng ngoại hạng, nhưng chủ yếu là do ông sẽ không truy tố bất cứ điều gì chưa hoàn toàn ăn chắc. Hễ có điều gì không hoàn toàn chắc ăn, thì Rodin bỏ cuộc sớm và đổ lỗi cho cảnh sát. Ít ra theo đánh giá của Emerson thì là như vậy.

    Rodin nói, "Tôi rất cần những tin tức thực sự có giá trị. Cả thành phố đang lên cơn sốt hoảng."

    Emerson đáp, "Chúng tôi biết chính xác vụ này diễn biến như thế nào. Chúng tôi có thể mô tả nó từng bước một."

    Rodin hỏi, "Anh biết hắn là ai rồi ư?"

    "Chưa biết. Ngay lúc này hắn vẫn là ngài X."

    "Thế thì trình bày cho tôi các chi tiết đi."

    "Máy quay an ninh ghi lại một đoạn băng đơn sắc quay một chiếc xe minivan sáng màu chạy vào bãi đậu xe mười một phút trước lúc nổ súng. Không thể thấy được bảng số vì nó dính đầy bùn đất, và góc quay không tốt lắm. Nhưng chắc nó là một chiếc Dodge Caravan, không còn mới, cửa kính đen lắp sau. Và lúc này chúng tôi cũng đang xem lại những cuộn băng cũ vì rõ ràng là trước đây hắn đã vào bãi đậu xe và chiếm bất hợp pháp một chỗ đậu xe bằng một trụ chắn ăn trộm được ở một khu công trường của thành phố trước đó."

    "Có thể chứng minh nó bị ăn trộm không?"

    "Thôi được, 'lấy được'." Emerson trả lời.

    "Có thể hắn làm việc cho sở cầu đường thành phố chẳng hạn?"

    "Có thể lắm."

    "Anh có nghĩ là cái trụ chắn đó của công trường trên đường số Một không?"

    "Khắp nơi trong thành phố đều đang sửa chữa."

    "Đường số Một là nơi gần nhất."

    "Tôi thật sự không quan tâm cái trụ chắn ở đâu ra."

    Rodin gật đầu, "Vậy là hắn giành sẵn cho mình một chỗ đậu xe?"

    Tới phiên Emerson gật đầu. "Ngay ở chỗ bắt đầu bãi xe mới. Vì thế cái trụ chắn ở đó không làm ai nghi ngờ. Chúng ta có nhân chứng nhìn thấy nó ít nhất là một giờ trước đó. Và trên cái trụ có dấu tay. Rất nhiều dấu tay. Ngón cái và ngón trỏ khớp với dấu tay trên đồng xu mà chúng tôi lấy ra từ đồng hồ tính tiền."

    "Hắn trả tiền đậu xe à?"

    "Rõ ràng là có."

    Rodin ngưng lời.

    Ông nói, "Bằng chứng này không ổn. Bị cáo sẽ khai rằng hắn để cái trụ chắn ở đó vì một lý do hoàn toàn vô tội. Anh hiểu chứ, thế là ích kỷ nhưng vô tội. Và đồng xu có thể nằm trong đó từ nhiều ngày rồi."

    Emerson mỉm cười, Cảnh sát nghĩ theo kiểu của cảnh sát, luật sư nghĩ theo kiểu của luật sư.

    Ông nói, "Vẫn chưa hết, hắn đậu xe và đi bộ qua khu công trường mới. Ở rất nhiều nơi hắn đã lưu lại dấu vết từ giày và áo quần của hắn. Và hắn có mang theo trên người bằng chứng về hiện trường, chủ yếu là bụi xi măng. Chắc hẳn là rất nhiều."

    Rodin lắc đầu. "Điều đó chỉ chứng tỏ hắn có ở hiện trường một lúc nào đó trong hai tuần vừa qua. Chỉ có thế thôi. Không đủ cụ thể."

    Emerson nói, "Chúng ta đã có cái ổ khóa ba chiều nhờ vũ khí hắn dùng."

    Điều đó làm cho Rodin chú ý.

    Emerson nói tiếp, "Hắn bắn trượt một phát, đạn bay xuống hồ nước. Và ông biết không, đó chính là kiểu bắn thử một khẩu súng ở phòng thí nghiệm đạn đạo. Họ bắn vào một bể chứa nước dài. Nước làm giảm tốc độ và cản viên đạn lại mà không để nó xây xát chút nào cả. Thế nên chúng ta có một viên đạn mới nguyên còn cả đường rãnh trong nòng súng mà chúng ta cần để gắn nó với một khẩu súng xác định."

    "Anh có thể tìm ra khẩu súng xác định đó không?"

    "Chúng ta có những vụn sơn phủ ở chỗ hắn tì súng lên trên bức tường."

    "Hay lắm."

    "Tất nhiên. Chúng ta sẽ tìm ra khẩu súng rồi so với vết sơn và dấu trầy. Đáng tin tưởng như là AND vậy."

    "Anh sẽ tìm ra khẩu súng chứ?"

    "Chúng tôi có tìm thấy một vỏ đạn. Nó có những dấu vẹt từ bộ phận đẩy đạn ra. Thế là chúng ta có một đầu đạn và một vỏ đạn. Kết hợp lại, chúng gắn cây súng với tội ác. Những vết trầy xước gắn cây súng với địa điểm là bãi đậu xe. Bãi đậu xe gắn tội ác với kẻ đã để lại những dấu vết."

    Rodin không nói gì. Emerson hiểu rằng ông ta đang suy nghĩ về phiên tòa. Đôi khi những chứng cứ kỹ thuật lại khó thuyết phục. Nó thiếu một khía cạnh con người.

    Emerson nói, "Trên vỏ đạn có in dấu tay khi hắn nạp đạn. Cùng một dấu của ngón cái và ngón trỏ trên đồng xu trong cột thu tiền, và trên trụ chắn đường. Thế là chúng ta có thể gắn tội ác với cây súng, và cây súng với đạn và đạn với kẻ sử dụng nó. Thấy chưa? Tất cả mọi thứ đều liên hệ với nhau. Thủ phạm, khẩu súng, tội ác. Thật là rõ ràng."

    "Cuốn băng video có chiếu cảnh chiếc minivan đang chạy ra không?"

    "Chín mươi giây sau cú gọi 911 đầu tiên nhận được."

    "Hắn là ai?"

    "Chúng ta sẽ biết ngay khi nhận được báo cáo so sánh dấu vân tay."

    "Nếu hắn có trong hồ sơ vân tay."

    Emerson nói, "Tôi nghĩ hắn là một tay súng trong quân đội. Tất cả các quân nhân đều được nhập liệu. Vì thế, sớm hay muộn chỉ là vấn đề thời gian thôi."

    Chỉ là bốn mươi chín phút. Một nhân viên văn phòng gõ cửa bước vào. Anh ta cầm một xấp giấy. Chúng cho biết một cái tên, địa chỉ và tiểu sử, và những thông tin bổ sung từ khắp mạng lưới thu thập lại. Cả một tấm hình bằng lái xe. Emerson cầm tờ giấy xem qua, rồi lại kiểm tra thêm một lần nữa. Ông mỉm cười. Đúng sáu tiếng đồng hồ sau khi phát đạn đầu tiên được bắn ra, ông đã nắm được tình huống của vụ việc trong tay. Một cú ăn chắc.

    Emerson nói, "Tên hắn là James Barr."

    Cả văn phòng im lặng.

    "Hắn bốn mươi mốt tuổi. Hắn sống cách đây hai mươi phút lái xe. Hắn từng phục vụ trong quân đội. Xuất ngũ hạng danh dự mười bốn năm trước. Chuyên viên bộ binh, mà tôi cá điều đó nghĩa là một tay bắn tỉa. Sở Đăng kiểm cho biết hắn lái một chiếc Dodge Caravan đăng ký từ sáu năm trước, màu xanh be."

    Ông đẩy xấp giấy qua mặt bàn cho Rodin. Rodin nhặt lên, rà soát cẩn thận, một lần, hai lần. Emerson quan sát ánh mắt ông ta. Thấy ông đang nghĩ thủ phạm, khẩu súng, tội ác. Cứ như ông đang quan sát một máy đánh bạc ở Vegas hiện ra ba trái anh đào cùng lúc. Keng keng keng! Một cú chắc như bắp.

    "James Barr," Rodin nói như thể ông đang nhấm nháp thưởng thức từng âm thanh của cái tên. Ông tách riêng bức ảnh trên bằng lái ra rồi ngắm nó thật kỹ. "James Barr, chúc mừng ngài bắt đầu thời kỳ khốn đốn!"

    Emerson nói, "Tuyệt đối đồng ý," và chờ một lời khen.

    Rodin nói, "Tôi sẽ thảo trát bắt và lục soát nhà và xe của hắn. Mấy ông quan tòa sẽ sắp hàng ký nó cho xem."

    Ông rời phòng và Emerson gọi cho giám đốc sở cảnh sát để báo tin lành. Ông giám đốc nói ông sẽ sắp xếp một cuộc họp báo lúc tám giờ sáng ngày mai. Ông nói muốn Emerson có mặt ở đó, xuất hiện như một nhân vật chính. Emerson xem đó là tất cả những lời khen ngợi mà ông sẽ nhận được, mặc dù ông không khoái đám báo chí mấy.

    Những tờ trát đã hoàn tất trong vòng một giờ, nhưng cuộc vây bắt phải mất đến ba giờ chuẩn bị. Trước hết, cảnh sát chìm xác nhận rằng Barr đang ở nhà. Nơi hắn ở là một ngôi nhà một tầng không có gì đặc biệt. Không mới, mà cũng không quá xập xệ. Lớp sơn cũ bên hông, nhựa đường mới trải trên lối vào. Đèn còn sáng và tivi đang mở trong một phòng chắc hẳn là phòng khách. Bản thân Barr thoáng xuất hiện qua một cửa sổ có đèn. Có vẻ hắn đang ở một mình. Rồi lát sau có vẻ như hắn đi ngủ. Đèn tắt và căn nhà trở nên vắng lặng. Thế là một khoảng ngưng khá lâu theo sau. Yêu cầu tiêu chuẩn là phải chuẩn bị rất cẩn thận cho việc chế ngự một kẻ có trang bị vũ khí trong một tòa nhà. Đội cảnh sát đặc nhiệm SWAT ra tay. Họ xem xét bản đồ khoanh vùng do chính quyền thành phố cung cấp, rồi đi đến quyết định trong hành động như thường lệ. Âm thầm bao vây, bố trí một lực lượng áp đảo chờ ở mặt trước và mặt sau, tấn công mạnh và bất ngờ ở cửa trước và cửa sau cùng lúc. Emerson được giao trách nhiệm chính trong cuộc truy bắt, ông mặc bộ áo giáp toàn thân, mượn thêm một cái mũ sắt. Một phụ tá phòng công tố sẽ sát cánh bên ông, để đảm bảo tính hợp pháp của kế hoạch. Không thể để luật sư của bị cáo có bất cứ cơ hội nào bắt bẻ sau này. Đội y tế cũng trong tình trạng sẵn sàng. Hai nhân viên thú y cũng đi cùng vì nhân viên điều tra hiện trường đã giả thiết trong nhà này có chó. Cả thảy có ba mươi tám người tham gia trong kế hoạch này, và tất cả họ đều rất mỏi mệt. Hầu hết mọi người đã làm việc mười chín giờ tục. Giờ tuần tra thường lệ, cộng thêm giờ phụ trội. Vì thế không khí vô cùng căng thẳng và lo lắng. Người ta thường cho rằng chẳng có ai chỉ sở hữu một khẩu súng tự động mà thôi. Nếu hắn đã có một thứ vũ khí, thì hắn còn có nhiều thứ khác nữa. Có thể còn có súng máy tự động toàn phần. Có thể có cả lựu đạn hay bom nữa.

    Nhưng cuối cùng cuộc vây bắt dễ như trở bàn tay. James Barr hầu như không tỉnh dậy. Họ phá tung cửa nhà hắn vào lúc ba giờ sáng, và thấy hắn đang ngủ trên giường một mình. Hắn vẫn ngủ tiếp dù trong phòng ngủ có mười lăm cảnh sát vũ trang tận răng chĩa mười lăm khẩu súng và mười lăm ngọn đèn pin vào người hắn. Hắn khẽ trở mình khi viên chỉ huy đội đặc nhiệm SWAT vứt chăn gối của hắn xuống nền nhà, tìm xem có vũ khí cất giấu không. Hắn không có gì cả. Hắn mở mắt. Lắp bắp một câu nghe như là Gì vậy? Rồi cuộn người lại trên tấm nệm phẳng, co người chống lại cái lạnh bất ngờ, và ngủ tiếp. Hắn là một người to lớn, da trắng và lông khắp thân thể đang đổi từ màu đen qua xám. Bộ đồ ngủ quá chật đối với hắn. Hắn có vẻ uể oải lừ đừ, và trông hơi già hơn tuổi bốn mươi mốt.

    Con chó của hắn là một con chó lai già, nó miễn cưỡng tỉnh dậy và từ trong bếp loạng choạng đi ra. Đội thú y lập tức tóm lấy nó và lôi thẳng ra xe của họ. Emerson cởi mũ sắt ra và chen vào căn phòng ngủ chật hẹp. Nhìn thấy một chai Jack Daniel chỉ còn ba phần tư trên bàn ngủ, bên cạnh một chai thuốc màu cam, cũng chỉ còn có ba phần tư. Ông cúi xuống nhìn. Thuốc ngủ. Hợp pháp. Được bác sĩ mới đây kê cho một người có tên là Rosemary Barr. Nhãn trên chai ghi: Rosemary Barr. Uống một liều khi mất ngủ.

    Viên phụ tá văn phòng công tố hỏi, "Rosemary Barr là ai? Hắn có vợ rồi à?"

    Emerson nhìn quanh căn phòng. "Trông không giống như vậy."

    Viên chỉ huy đội đặc nhiệm SWAT hỏi, "Định tự tử à?"

    Emerson lắc đầu, "Hắn phải nốc hết mớ thuốc ấy, với nguyên chai Jack Daniel nữa. Tôi đoán ông Barr tối nay chỉ bị khó ngủ, thế thôi. Sau một ngày bận rộn và năng suất."

    Căn phòng bốc mùi ẩm mốc. Mùi của chăn màn bẩn và mùi người ít tắm gội.

    Viên phụ tá phòng công tố nói, "Chúng ta cần phải thật cẩn thận nhé. Ngay lúc này hắn bất lực. Luật sư của hắn sẽ nói rằng, hắn hoàn toàn không có khả năng hiểu luật Miranda 5 . Thế nên chúng ta không thể để hắn nói một điều gì. Và nếu hắn có nói điều gì đó, thì chúng ta cũng không thể nghe được."

    Emerson gọi các nhân viên y tế. Yêu cầu họ khám cho Barr để chắc rằng hắn không giả vờ, cũng như không phải trong tình trạng sắp chết. Họ lăng xăng trong vài phút, nghe nhịp tim của hắn, bắt mạch, đọc nhãn thuốc. Rồi họ tuyên bố hắn hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh, có điều ngủ quá say.

    Viên chỉ huy đội đặc nhiệm SWAT nói, "Rối loạn nhân cách. Không có chút lương tâm gì hết. "

    Viên phụ tá phòng công tố nói, "Mà chúng ta có chắc đúng là tên này không?"

    Emerson tìm thấy một quần tây vắt qua lưng ghế, và lục túi quần. Lấy ra một cái ví nhỏ. Tìm thấy bằng lái. Đúng tên và đúng địa chỉ. Và tấm ảnh cũng đúng luôn.

    Ông nói, "Đúng là tên này rồi."

    Viên phụ tá phòng công tố nhắc lại, "Chúng ta không thể để hắn nói bất cứ điều gì. Chúng ta cần giữ cho đúng luật."

    Emerson nói, "Dù thế nào đi nữa, tôi cũng sẽ đọc luật Miranda cho hắn nghe. Mọi người hãy ghi nhận này."

    Ông lay mạnh vai Barr và gã chỉ hé mắt nhìn lại. Rồi ông đọc luật Miranda. Quyền được giữ im lặng, quyền được có luật sư. Barr cố gắng lắng nghe nhưng không được. Rồi hắn lại lăn ra ngủ.

    Emerson nói, "OK. Giải hắn đi."

    Họ quấn hắn vào trong một cái chăn, hai cảnh sát lôi hắn ra khỏi ngôi nhà và lên xe. Một nhân viên y tế và viên phụ tá phòng công tố đi cùng xe với hắn. Emerson ở lại và khởi sự lục soát ngôi nhà. Ông tìm thấy chiếc quần jeans màu xanh bị cọ xước trong ngăn tủ phòng ngủ. Đôi giày đế kếp được đặt ngay ngắn trên sàn nhà dưới đó. Chúng phủ đầy bụi bặm. Chiếc áo mưa trong ngăn tủ ngoài hành lang. Chiếc Dodge Caravan màu xanh be trong nhà để xe. Khẩu súng bị trầy ở dưới tầng hầm. Nó nằm giữa nhiều khẩu khác gác trên một cái kệ được gắn dính vào tường. Trên chiếc bàn dài bên dưới, là năm khẩu súng ngắn chín ly. Và những hộp đạn, gồm cả một hộp đạn loại .308 Lake City M852 168 grain đầu lõm đuôi thuôn đã vơi một nửa. Cạnh những cái hộp, là những lọ thủy tinh chứa vỏ đạn rỗng. Sẵn sàng để tái chế, Emerson nghĩ. Sẵn sàng nạp đạn bằng tay. Cái lọ để ở ngoài cùng cái bàn chứa đúng năm vỏ đạn. Đồng Lake City. Nắp lọ vẫn để mở, như thể năm vỏ đạn sau cùng chỉ vừa được ném vội vào đó. Emerson cúi xuống ngửi. Trong chiếc lọ có mùi thuốc súng. Lạnh và cũ, nhưng không quá cũ.

    Emerson rời khỏi nhà James Barr lúc bốn giờ sáng, những chuyên viên giám định pháp y thế chỗ ông, họ sẽ rà soát lại nơi ấy thật kỹ. Ông hỏi người trung sĩ trực ban của mình và được biết rằng Barr vẫn đang bình an ngủ trong xà lim riêng, có giám sát y tế thường trực. Sau đó ông về nhà và chợp mắt trong hai giờ trước khi tắm rửa thay đồ để sẵn sàng cho cuộc họp báo.

    Cuộc họp báo dập tắt câu chuyện tức thì. Để câu chuyện sống được nó cần có một kẻ thủ ác vẫn còn ở đó. Nó cần hắn phải tự do, hằn học, ẩn núp, bí ẩn và nguy hiểm. Nó cần sự sợ hãi. Nó cần biến những công việc nhàm chán thường ngày như đổ xăng, đi siêu thị hoặc đi bộ đến nhà thờ trở nên lộ liễu và liều lĩnh. Thế nên biết rằng tên ấy đã bị phát hiện và bị bắt, thậm chí trước khi đợt tin tức thứ hai kịp tung ra, thì đó quả là một tai họa đối với Ann Yanni. Ngay lập tức cô ta biết các sếp của mình đang nghĩ gì. Không ăn thua, chấm dứt và kết thúc, chuyện đã xong. Tin của ngày hôm qua, theo nghĩa đen. Có lẽ vốn đã chẳng là gì quan trọng. Chỉ là một tên điên bẩm sinh miệt trong nào đó quá khờ khạo, không lẩn trốn nổi qua một đêm. Hẳn là ngủ với con em họ nó và nhậu loại bia rẻ tiền Colt 45. Chẳng có gì là nham hiểm cả. Cô ta sẽ được lên một bản tin nóng nữa để tóm tắt lại tội ác này và tường trình về cuộc bắt bớ, thế là xong. Trở lại đời thường mờ nhạt.

    Tóm lại là Ann Yanni thất vọng, nhưng cô ta giấu kỹ vẻ thất vọng ấy. Cô ta đặt nhiều câu hỏi và cố làm ra vẻ khâm phục. Được nửa chừng thì cô ta bắt đầu lắp ráp một đề tài khác. Một câu chuyện mới. Người ta sẽ phải thừa nhận cảnh sát đã làm việc một cách đầy ấn tượng. Và tên thủ phạm này không phải là một tên điên. Không nhất thiết. Một tên xấu xa ngoại hạng đã bị một đội cảnh sát còn ngoại hạng hơn tóm cổ. Ngay ở miệt trong. Một việc mà ở những miền duyên hải phải mất khá nhiều thời giờ, trong những vụ án nổi tiếng trước đây. Chuyện này có câu khách được không? Cô ta bắt đầu sắp xếp các tựa đề trong đầu. Nhanh nhất nước Mỹ? Như là nhại lại cái tên Tuyệt nhất nước Mỹ?

    Ông sếp nhường sân khấu cho thanh tra Emerson sau chừng mười phút. Emerson tường trình chi tiết về nhân dạng và lý lịch của thủ phạm. Ông mô tả một cách ngắn gọn. Chỉ các dữ kiện thôi, thưa bà. Ông mô tả sơ lược cuộc điều tra. Ông trả lời những thắc mắc. Ông không huênh hoang. Ann Yanni nghĩ rằng ông cảm thấy cảnh sát đã gặp may. Rằng họ đã được biếu không nhiều thứ mà bình thường không có.

    Sau đó, Rodin bước lên. Ông ta nói năng như thể sở cảnh sát mới chỉ dính líu đến đoạn đầu một vụ đụng độ nhỏ, và công việc thật sự bây giờ mới bắt đầu. Văn phòng của ông sẽ xem xét lại mọi việc và đưa ra những quyết định cần thiết. Và vâng, thưa cô Yanni, bởi vì ông nghĩ rằng những tình huống đã chứng thực cho nó, chắc chắn ông sẽ theo đuổi một mức án tử hình cho James Barr.

    * * *

    James Barr thức dậy trong phòng giam của mình lúc chín giờ sáng ngày thứ Bảy, vẫn còn lừ đừ vì bị say thuốc. Ngay lập tức, hắn được lấy dấu vân tay và được đọc cho nghe luật Miranda một lần, rồi thêm một lần nữa. Quyền được giữ im lặng, quyền được có luật sư. Hắn chọn thái độ giữ im lặng. Không có nhiều người làm như thế. Không nhiều người có thể làm như thế. Nhu cầu được nói thường rất mãnh liệt. Nhưng James Barr thắng được điều đó. Hắn chỉ ngậm chặt miệng lại và giữ nguyên như thế. Có nhiều cố gắng bắt chuyện với hắn, nhưng hắn không trả lời. Không một lần nào. Không một lời nào. Emerson khá mừng rỡ vì điều đó. Sự thật là Emerson không hẳn đã muốn Barr nói ra bất cứ điều gì. Ông thích sắp xếp mọi chứng cứ, nghiên cứu kỹ lưỡng nó, thử nghiệm nó, đánh bóng nó tới khi ông có thể lường trước được lời buộc tội mà không cần phải nghe lời thú tội. Những lời thú tội quá dễ dàng bị bên bào chữa cáo buộc trở lại là do ép cung hay tâm thần lộn xộn, đến nỗi ông đã hiểu được rằng cần tránh xa chúng. Chúng cứ như đường đặc trên bánh kem. Chúng là thứ ông ít muốn nghe nhất, không phải thứ ông cần nhất. Không như những chương trình cảnh sát bắt cướp trên tivi, ở đó thẩm vấn liên miên là một dạng nghệ thuật trình diễn. Thế nên ông chỉ đứng ra ngoài mọi sự, mà để cho đám kỹ thuật viên của mình hoàn tất công việc chậm chạp và kiên nhẫn của họ.

    Em gái của James Barr chưa lập gia đình và thuê một căn hộ ở khu trung tâm. Tên cô là Rosemary. Như hầu hết dân chúng trong thành phố, cô đã bàng hoàng và chết lặng. Cô đã xem tin tức đêm thứ Sáu. Sáng thứ Bảy cô lại xem lần nữa. Cô nghe một thanh tra cảnh sát nhắc đến tên anh mình. Thoạt đầu, cô nghĩ là do nhầm lẫn. Chắc cô đã nghe nhầm. Nhưng ông này cứ nhắc đi nhắc lại, James Barr, James Barr, James Barr. Rosemary bật khóc. Thoạt đầu cô khóc vì bối rối, rồi vì hoảng sợ, sau rốt vì giận dữ.

    Sau đó cô buộc mình phải bình tĩnh, và làm một việc gì đó.

    Cô làm thư ký cho một công ty luật có tám người. Giống như phần lớn những công ty trong các thành phố nhỏ ở miệt trong, công ty của cô nhận làm đủ mọi thứ. Và họ đối xử với nhân viên khá tốt. Tiền lương không nhiều, nhưng có những khoản khác bù thêm. Một trong những khoản đó là một phúc lợi trọn gói. Một cái khác là cô được gọi là chuyên viên pháp lý thay vì chỉ là thư ký. Một cái khác nữa là lời hứa rằng công ty sẽ bao lo hoàn toàn miễn phí những vấn đề luật pháp cho nhân viên và gia đình của họ. Hầu hết những vấn đề đó là về di chúc, thuế má và ly dị, và rắc rối với công ty bảo hiểm trong các vụ tông xe. Chứ không phải là vấn đề bào chữa cho một người anh đã trưởng thành bị buộc tội lầm trong một vụ bắn tỉa tàn bạo chấn động thành phố. Cô biết điều đó. Nhưng cô nghĩ rằng mình phải thử một chuyến xem sao. Bởi vì cô hiểu anh của mình, và cô biết anh không thể phạm tội.

    Cô gọi điện cho sếp trực tiếp của mình vào số máy nhà. Anh ta chủ yếu chỉ là một chuyên viên về thuế, thế nên anh gọi cho luật sư về hình sự của công ty. Tay luật sư này lại gọi cho tay quản lý, và ông này tổ chức một cuộc họp toàn thể các thành viên của công ty. Họ họp trong giờ ăn trưa tại một quán ăn miền quê. Từ phút đầu tiên, chương trình của buổi họp đã là làm thế nào để khước từ yêu cầu của Rosemary Barr một cách tế nhị nhất. Việc bào chữa cho một tội như thế này không phải là loại công việc mà họ đủ tầm xử lý. Hay có dự định xử lý. Nó có những dính líu với chuyện quan hệ quần chúng. Họ có ngay sự đồng thuận về điểm đó. giờ. Nhưng họ là một nhóm chung thủy với nhau, và Rosemary là một nhân viên tốt đã làm cho họ nhiều năm. Họ biết là cô không có tiền vì thuế của cô do họ khai. Họ đoán rằng anh của cô cũng không có tiền. Nhưng hiến pháp bảo đảm cho quyền được tư vấn pháp luật, và họ không đánh giá cao những luật sư do tòa chỉ định. Vì thế, về mặt nguyên tắc đạo đức họ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan.

    Tay luật sư hình sự giải quyết chuyện này. Ông tên là David Chapman. Ông là một cựu chiến binh từng xin trải, có quen biết Rodin ở phòng công tố. Ông biết ông này khá rõ. Thật tình thì ông không thể không biết. Họ là hai người cùng một giuộc, lớn lên trong cùng một khu phố, làm việc trong cùng một ngành, mặc dù ở hai phía trái ngược nhau. Thế nên Chapman đến phòng hút thuốc và dùng điện thoại di động của ông để gọi về nhà viên công tố. Hai tay luật sư có một cuộc thảo luận kỹ lưỡng và thẳng thắn. Rồi Chapman quay lại bàn ăn.

    Ông nói, "Đây là một vụ thua chắc. Anh của cô Barr có tội đứt đi rồi. Vụ khởi tố của Rodin sẽ diễn ra như trong sách giáo khoa vậy. Có trời biết chứ, một hôm nào đó nó sẽ trở thành một bài học giáo khoa thật đấy. Ông ta có đủ mọi thứ chứng cớ. Không có một chút hy vọng le lói nào cả."

    Tay quản lý hỏi, "Lão ấy có thẳng thắn với anh không?"

    Chapman trả lời, "Bạn cũ với nhau không làm bậy đâu."

    "Thế thì sao?"

    "Tất cả những gì mà chúng ta phải làm là xin được giảm tội. Nếu chúng ta có thể kéo từ phát tiêm tử hình xuống còn chung thân không tại ngoại thì đã là một kỳ công rồi. Đó là tất cả những gì cô Barr có quyền mong đợi. Hay thằng anh khốn kiếp của cô, xin phép được nói như thế."

    "Chúng ta sẽ can thiệp đến đâu?" Tay quản lý hỏi.

    "Chỉ đến giai đoạn tuyên án thôi. Bởi vì hắn sẽ phải nhận tội."

    "Anh có sẵn lòng nhận làm vụ này không?"

    "Trong hoàn cảnh này thì đành vậy thôi."

    "Chúng ta sẽ phải mất bao nhiêu giờ cho nó?"

    "Không nhiều. Thực tế là chúng ta không thể làm được điều gì cả."

    "Có tình tiết giảm nhẹ nào?"

    "Hắn là cựu chiến binh Vùng Vịnh, tôi tin như vậy. Do đó, chắc hẳn có những tác động hóa học còn sót lại. Hay một thứ hội chứng hậu chấn thương tâm lý phát triển chậm gì đó. Có lẽ chúng ta có thể thuyết phục Rodin đồng ý trước. Chúng tôi có thể bàn xong trong giờ ăn trưa."

    Tay quản lý gật đầu. Quay sang tay chuyên viên về thuế. "Nói với cô thư ký của anh là chúng tôi sẽ làm hết khả năng để giúp anh cô ấy trong lúc ngặt nghèo này."

    Barr được dời từ phòng tạm giam của sở cảnh sát đến nhà tù của hạt trước khi cả em gái lẫn Chapman có được cơ hội gặp gã. Người ta lấy đi chăn và bộ đồ ngủ của gã và gã được phát đồ lót bằng giấy, một bộ áo liền quần màu cam, và một đôi dép tông cao su. Nhà tù của hạt là một nơi không thú vị chút nào. Nơi này khá hôi hám và ồn ào. Nó chật chội vượt chuẩn cho phép và tình trạng căng thẳng về mặt xã hội và chủng tộc được kiểm soát bên ngoài lại được để mặc cho lộng hành ở đây. Mỗi phòng giam nhét ba mạng mà lính gác thì thiếu. Những người mới vào được gọi là tù con so, và tù con so bị bỏ mặc tự lo liệu lấy thân.

    Nhưng Barr đã có thời đi lính, do đó cú sốc chuyển đổi văn hóa này tác động tới gã ít hơn những người khác. Gã sống sót qua cảnh làm tù con so trong hai giờ, rồi được đưa đến phòng thẩm tra. Người ta bảo rằng có một luật sư đang chờ ở đó. Gã thấy một cái bàn và hai chiếc ghế được bắt dính xuống sàn trong một căn phòng nhỏ không có cửa sổ. Ngồi trên một chiếc ghế là một người mà gã mơ hồ nhận ra mình đã gặp ở đâu đó rồi. Trên bàn có một chiếc máy ghi âm cỡ bỏ túi. Giống như một chiếc Walkman.

    Người đàn ông ngồi trên ghế nói, "Tôi là David Chapman. Tôi là biện lý biện hộ tội hình sự. Tức là một luật sư. Em gái của anh làm việc ở công ty tôi. Cô ấy yêu cầu chúng tôi giúp anh."

    Barr không nói gì cả.

    Chapman nói, "Vì thế tôi có mặt ở đây."

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman nói tiếp, "Tôi đang ghi âm lại cuộc nói chuyện này. Ghi vào băng. Tôi nghĩ anh đồng ý chứ?"

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman nói. "Tôi nghĩ chúng ta từng gặp nhau. Tại buổi tiệc Giáng sinh của công ty chúng tôi, đúng không?"

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman chờ.

    Ông hỏi, "Anh được người ta giải thích về lời buộc tội chưa?"

    Barr vẫn không nói gì.

    "Lời buộc tội rất nghiêm trọng đấy."

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman nói tiếp, "Tôi không thể giúp anh nếu anh không tự giúp chính mình."

    Barr chỉ nhìn ông đăm đăm. Chỉ ngồi yên và im lặng trong nhiều phút. Rồi gã nhổm người về phía cái máy ghi âm và nói lời đầu tiên kể từ buổi chiều hôm trước.

    Gã nói, "Họ bắt lầm người rồi."

    Barr lặp lại, "Họ bắt lầm người rồi."

    Chapman hỏi ngay lập tức, "Vậy nói cho tôi biết ai là kẻ đúng đi." Ông ta đã lão luyện về chiến thuật trong tòa án. Ông biết cách đưa mọi việc vào nhịp điệu. Hỏi, đáp, hỏi, đáp. Đó là cách làm cho người ta thổ lộ. Họ rơi đúng vào nhịp và phun ra hết.

    Nhưng Barr chỉ rút lui trở lại sự im lặng.

    Chapman nói, "Hãy làm rõ chuyện này."

    Barr không trả lời.

    Chapman hỏi, "Anh có chối lời buộc tội đó không?"

    Barr vẫn không nói gì.

    "Có hay không?"

    Không một lời đáp.

    Chapman nói tiếp, "Bằng chứng đầy ra rồi. Tôi e rằng quá nhiều nữa kìa. Anh không thể giả ngốc đâu. Chúng ta cần bàn chuyện vì sao anh làm điều đó. Chỉ có vậy mới giúp được thôi."

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman nói, "Anh muốn tôi giúp anh chứ? Hay là không?"

    Barr vẫn không nói gì.

    "Có lẽ là do thời kỳ tham chiến đã qua của anh. Hay sự căng thẳng hậu chấn thương. Hay một thứ tổn thương về tinh thần nào đó. Chúng ta cần tập trung vào nguyên do."

    Barr vẫn không nói gì.

    Chapman nói, "Chối tội không phải là một giải pháp. Chứng cớ rành rành ra rồi."

    Barr vẫn không nói gì.

    "Chối tội không phải là một giải pháp."

    Barr nói, "Tìm Jack Reacher cho tôi."

    "Ai?"

    "Jack Reacher."

    "Đó là ai? Một người bạn của anh à?"

    Barr không trả lời.

    Chapman hỏi, "Một người nào đó mà anh quen à?"

    Barr vẫn không nói gì.

    "Một người nào đó mà anh từng quen à?"

    "Cứ tìm người ấy cho tôi."

    "Hắn ở đâu? Hắn là ai chứ?"

    Barr không nói gì.

    Chapman hỏi, "Jack Reacher là bác sĩ à?"

    Barr lặp lại, "Bác sĩ à?"

    Chapman hỏi, "Đó là một bác sĩ?"

    Nhưng Barr không nói nữa. Gã chỉ đứng lên khỏi bàn, bước tới cánh cửa phòng và đấm cửa cho tới khi người lính gác mở cửa ra, dẫn gã về căn phòng giam chật cứng của mình.

    Chapman sắp xếp gặp Rosemary Barr và tay điều tra viên của công ty ở văn phòng của ông. Tay điều tra viên là một cảnh sát về hưu mà phần lớn những công ty luật trong thành phố cùng thuê. Tất cả các công ty đều trả tiền trước để giữ chân ông. Ông là một thám tử tư được cấp giấy hành nghề. Tên ông là Franklin. Ông chẳng có gì giống với một tay thám tử trên các chương trình tivi. Ông làm mọi việc của mình ở bàn giấy, với những cuốn danh bạ điện thoại và dữ liệu trong máy vi tính. Ông không ra ngoài, không mang súng, không đội mũ. Nhưng không ai địch lại nổi ông trong việc kiểm tra dữ liệu hay truy tìm kẻ đào thoát, và ông vẫn còn rất nhiều bạn làm việc trong sở cảnh sát.

    Ông nói, "Chứng cứ vững như bàn thạch. Tôi nghe nói vậy. Emerson chỉ huy vụ này và ông ta rất đáng tin cậy. Thực tình thì Rodin cũng vậy, nhưng vì một lý do khác. Emerson là người rất kiên quyết và Rodin thì lại là một tên hèn. Không một ai trong hai người đó nói điều gì, trừ khi họ có chứng cứ hẳn hoi."

    Rosemary Barr nói, "Tôi không thể tin được là anh ấy làm chuyện đó."

    Chapman nói, "Ờ thì, tất nhiên có vẻ như anh ta chối, ấy là tôi hiểu được có thế. Và anh ta đòi gặp một tay nào đó có tên là Jack Reacher. Một tay mà anh ta quen hay đã từng quen. Có bao giờ cô nghe cái tên này chưa? Cô biết hắn là ai không?"

    Rosemary Barr chỉ lắc đầu. Chapman viết cái tên Jack Reacher xuống một mảnh giấy rồi đẩy cho Franklin. "Tôi đoán có lẽ hắn là một bác sĩ tâm lý. Barr nhắc đến cái tên ấy ngay sau khi tôi nói cho anh ta biết chứng cứ vững chắc như thế nào. Do đó, có lẽ tay Reacher này là người có thể giúp chúng ta xin giảm án. Có lẽ hắn đã chữa trị cho Barr trước đây."

    Barr nói, "Anh của tôi chưa bao giờ đi điều trị tâm lý."

    "Cô biết chắc như vậy à?"

    "Chưa bao giờ."

    "Anh ta ở thành phố bao lâu rồi?"

    "Mười bốn năm. Từ khi giải ngũ."

    "Cô có thân thiết với anh ta không?"

    "Anh em tôi sống cùng nhà."

    "Nhà của anh ta?"

    Rosemary gật đầu.

    "Nhưng cô không còn sống ở đó nữa?"

    Rosemary nhìn lảng đi.

    Cô nói, "Không, tôi chuyển nhà rồi."

    "Có thể anh của cô đi khám tâm thần sau khi cô dời đi?"

    "Nếu vậy thì anh ấy đã nói với tôi rồi."

    "OK, vậy trước đây thì thế nào? Thời gian còn trong quân đội?"

    Rosemary không nói gì. Chapman quay qua Franklin.

    Ông nói, "Vậy có thể Reacher là bác sĩ quân y của anh ta. Có thể hắn có thông tin về một chấn thương cũ. Hắn có thể rất hữu ích."

    Franklin nhận mảnh giấy.

    Ông nói, "Trong trường hợp này thì tôi sẽ tìm hắn."

    Rosemary Barr nói, "Dù sao chúng ta cũng không nên tính chuyện giảm án. Chúng ta nên tính tới những nghi vấn hợp lý. Tới sự vô tội."

    Chapman nói, "Chứng cứ rất vững. Anh ta sử dụng chính khẩu súng của mình mà."

    Franklin mất ba giờ truy tìm Reacher mà không ra. Trước tiên, ông rà soát khắp những hội đoàn của bác sĩ tâm lý. Không kết quả. Rồi ông lên mạng tìm những nhóm bảo trợ chiến tranh Vùng Vịnh. Không dấu vết. Ông thử với hệ thống thông tin Lexis-Nexis 6 và với tất cả những cơ quan thông tin. Không có gì cả. Sau đó ông bắt đầu lại và truy cập hồ sơ lưu trữ của Trung tâm hồ sơ nhân sự quốc gia. Nó có danh sách tất cả quân nhân hiện nay và trước đây. Ông tìm ra tên của Jack Reacher trong đó khá dễ dàng. Reacher gia nhập quân đội năm 1984 và giải ngũ hạng danh dự vào năm 1997.

    Còn James Barr thì nhập ngũ năm 1985 và giải ngũ năm 1991. Như thế là có sáu năm trùng nhau. Nhưng Reacher không phải là bác sĩ gì cả. Không bác sĩ tâm lý gì hết. Ông là một sĩ quan quân cảnh. Một thiếu tá. Có lẽ là một nhân viên điều tra cao cấp cũng nên. Barr kết thúc binh nghiệp với chức thấp, Chuyên viên E-4. Bộ binh, không phải là quân cảnh. Thế thì đâu là điểm liên hệ giữa một thiếu tá quân cảnh và một chuyên viên bộ binh E-4? Rõ ràng phải có một điều gì đó có ích, nếu không thì Barr nhắc đến cái tên này làm gì. Nhưng nó là cái gì đây?

    Sau ba giờ, Franklin nghĩ rằng ông sẽ chẳng bao giờ tìm ra, bởi vì Reacher hoàn toàn biến mất khỏi tầm nhìn sau năm 1997. Biến mất tuyệt đối. Không có dấu vết nào của ông ta ở bất kỳ nơi đâu. Ông ta vẫn còn sống, theo Cơ quan quản lý an sinh xã hội cho biết. Ông ta không ở tù, theo Trung tâm thông tin tội phạm quốc gia. Nhưng ông ta đã biến mất. Ông ta không có hồ sơ tín dụng. Ông ta không đứng tên sở hữu một bất động sản, hay xe cộ, hay thuyền bè nào. Ông ta không nợ nần. Không cho ai vay nợ. Không địa chỉ. Không số điện thoại. Không lệnh truy nã treo, không án tích. Không vợ. Cũng không con. Ông ta là một bóng ma.

    Trong ba giờ đó James Barr gặp rắc rối lớn. Khởi đầu khi gã bước ra khỏi phòng giam của mình. Gã rẽ phải để tới chỗ máy điện thoại công cộng. Hành lang khá hẹp. Gã va vào một kẻ khác, vai chạm vai. Rồi gã phạm một sai lầm tồi tệ. Gã ngước mắt lên khỏi sàn nhà, liếc nhìn người kia và xin lỗi.

    Một sai lầm tồi tệ, bởi vì một tay tù con so thì không được chạm mắt với một tù nhân khác. Làm thế là có hàm ý vô lễ. Đó là luật tù. Gã không hiểu điều đó.

    Kẻ mà hắn chạm mắt là một tên người Mễ. Tên này xăm mình theo lối băng đảng, nhưng Barr không nhận ra. Lại một sai lầm tồi tệ nữa. Lẽ ra gã nên quay nhìn lại sàn nhà, tiếp tục bước và cầu xin Chúa. Nhưng gã không làm như vậy.

    Mà lại nói, "Xin lỗi."

    Rồi gã nhướng mày, thoáng cười theo cái kiểu tự trách mình, như là nói, Ở đây kinh thật nhỉ?

    Sai lầm trầm trọng. Một sự suồng sã, và lại giả định có tình thân thiện nữa.

    Tên người Mễ hỏi, "Mày nghía cái gì vậy?"

    Lúc đó thì Barr hiểu hoàn toàn. Mày nghía cái gì vậy? Đây là một lời kiếm chuyện đã thành chuẩn mực. Trại lính, quán rượu, góc phố, hẻm tối, nó không phải là câu nói mà người ta muốn nghe chút nào.

    Gã nói, "Không có gì." Và nhận ra là mình đã làm cho tình huống tồi tệ hơn nhiều.

    "Mày coi tao không là cái gì à?"

    Barr cúi nhìn lại sàn nhà và bước đi, nhưng đã quá trễ. Gã cảm thấy tia mắt tên người Mễ trên lưng mình và bỏ ngay ý nghĩ dùng điện thoại công cộng. Những cái điện thoại nằm ở cuối hành lang và gã không muốn bị dồn vào bẫy kẹt. Thế nên gã đi một vòng dài ngược chiều kim đồng hồ và về phòng giam của mình. Gã trở về phòng an toàn. Không nhìn ai, không nói. Gã nằm xuống giường của mình. Khoảng hai giờ sau, gã cảm thấy ổn rồi. Gã nghĩ mình có thể giải quyết được một lời hù dọa nhỏ nhặt về chuyện cơ bắp. Và gã to con hơn tên người Mễ. Gã to con hơn cả hai tên người Mễ.

    Gã muốn gọi điện cho em gái. Gã muốn chắc rằng cô bình an.

    Gã lại đi đến khu điện thoại công cộng.

    Gã đến được đó mà không bị làm phiền gì cả. Đó là một nơi nhỏ hẹp. Có bốn cái điện thoại trên tường, bốn người đang nói chuyện, bốn hàng người khác đang chờ sau họ. Tiếng ồn, tiếng lê chân, tiếng cười rồ dại, sự sốt ruột, sự giận dữ, không khí ôi chua, mùi mồ hôi, mùi tóc bẩn và mùi nước tiểu khắm lặm. Chỉ là một cảnh tượng nhà tù bình thường, theo những gì James Barr hình dung trước.

    Rồi nó không còn là một cảnh bình thường nữa.

    Những người đứng trước gã biến mất. Đúng là biến mất. Họ đơn giản là tan mất khỏi tầm mắt. Những kẻ đang nói chuyện cúp ngang nửa chừng và tránh lui lại sau gã. Những kẻ đang sắp hàng tản mất. Trong nửa giây thôi cái hành lang đang đông đảo và ồn ào trở thành vắng hoe và yên lặng.

    James Barr quay người lại.

    Gã thấy tên Mễ có hình xăm. Tên Mễ cầm dao và mười hai thằng bạn sau lưng gã. Cây dao là một cái cán bàn chải răng bằng nhựa dán đầy băng với một đầu mài nhọn hoắt, như là một cái dùi. Đám đằng sau đều là những tên nhỏ con chắc nịch, đứa nào cũng xăm y hệt. Chúng đều cắt tóc ngắn với những kiểu rối rắm cạo ngang sọ.

    Barr nói, "Khoan đã."

    Nhưng tên người Mễ không khoan, và tám phút sau Barr đã trong tình trạng bất tỉnh. Người ta tìm thấy gã sau đó, nằm trên sàn nhà, bị đánh mềm nhũn như trái chuối, vô số vết đâm và nứt sọ, và chảy máu nghiêm trọng. Sau đó, giới tù nhân bảo nhau rằng gã bị như thế cũng đáng đời. Gã đã khinh thường đám Latinh. Nhưng chúng cũng bảo nhau rằng gã không phải yên lặng mà đi. Trong lời đồn có chút khâm phục kín đáo. Những tên Mễ cũng ăn đòn chút ít. Nhưng không nhiều như Barr. Gã được tải vào bệnh viện thành phố, được khâu lại và được đem phẫu thuật để làm giảm thoát áp suất từ bộ não bị sưng. Rồi gã được ném vào khu chăm sóc đặc biệt được bảo vệ, trong tình trạng hôn mê. Các bác sĩ không biết chắc bao giờ thì gã có thể tỉnh lại. Có thể trong một ngày. Có thể trong một tuần. Có thể trong một tháng. Có thể chẳng bao giờ. Các bác sĩ không rõ lắm, và họ cũng chẳng mấy quan tâm. Họ đều là dân thị trấn này.

    Viên giám thị gọi điện thoại vào giữa khuya cho Emerson. Rồi Emerson gọi báo cho Rodin. Rồi Rodin gọi báo cho Chapman. Rồi Chapman gọi báo cho Franklin.

    Franklin hỏi ông, "Vậy giờ thì sao rồi?"

    Chapman trả lời, "Chẳng có gì cả. Mọi chuyện ngưng lại. Anh không thể xử một người đang bị hôn mê."

    "Vậy khi hắn thức dậy thì sao?"

    "Nếu hắn khỏe thì họ sẽ tiến hành, tôi đoán vậy."

    "Nếu hắn không khỏe thì sao?"

    "Thì họ sẽ không làm gì cả. Không thể xử một kẻ có đời sống thực vật."

    "Vậy mình làm gì đây?"

    "Chẳng làm gì cả." Chapman nói, "Đằng nào chúng ta cũng chẳng coi trọng nó quá. Barr phạm tội rõ ràng quá rồi, không ai có thể làm gì nhiều cho hắn đâu."

    Franklin gọi điện thoại báo cho Rosemary Barr, vì ông không biết đã có ai khác làm cái việc khó khăn này chưa. Và ông thấy chưa có ai thật. Thế nên tự ông thuật lại tin này. Rosemary không phản ứng ồn ào gì lắm. Cô chỉ yên lặng. Như là cảm xúc của cô đã tới hạn rồi.

    Cô nói, "Chắc là tôi nên đến bệnh viện."

    Franklin trả lời, "Nếu cô muốn."

    "Anh ấy vô tội, ông biết đó. Chuyện này không công bằng chút nào."

    "Hôm qua cô có gặp anh ta không?"

    "Ông muốn nói là tôi có thể chứng minh anh ấy ngoại phạm không à?"

    "Cô có thể làm vậy không?"

    "Không." Rosemary nói, "Tôi không thể. Tôi không biết hôm qua anh ấy ở đâu. Không biết anh ấy đã làm gì."

    "Có những nơi nào anh ta thường xuyên đến không? Rạp chiếu phim, quán rượu, đại loại như thế?"

    "Không có."

    "Anh ta thường qua lại bạn bè nào?"

    "Tôi không biết chắc."

    "Bạn gái?"

    "Lâu rồi không có."

    "Hay lui tới thăm người thân nào khác?"

    "Chỉ có hai anh em chúng tôi thôi."

    Franklin không nói gì nữa. Một khoảng lặng dài và lo âu.

    Rosemary Barr hỏi, "Giờ sẽ ra sao?"

    "Tôi không biết chắc."

    "Ông đã tìm ra kẻ mà anh ấy nhắc đến chưa?"

    "Jack Reacher ư? Chưa, rất tiếc. Không dấu vết gì cả."

    "Ông sẽ tiếp tục tìm chứ?"

    "Thật sự tôi không thể làm thêm điều gì nữa."

    Rosemary Barr nói, "Thôi được, vậy thì chúng ta phải lo liệu mà không có người ấy vậy."

    Nhưng ngay lúc họ đang nói chuyện trên điện thoại khuya hôm thứ Bảy, Jack Reacher đang trên đường đến với họ.

    --------------------------------
    1Minivan: loại xe hơi từ sáu đến mười hai chỗ ngồi (tất cả các chú thích đều của người dịch).
    2Đơn vị đo trọng lượng, 1 grain = 0,0648g.
    3NBC: National Broadcasting Company USA: Công ty Truyền thông Quốc gia.
    4Nguyên văn tiếng Anh: bắn tỉa, nhẫn tâm và tàn sát lần lượt là sniper, senseless và slaying lặp lại cùng âm s ở đầu mỗi từ.
    5Miranda Right: một quyền dân sự được ghi trong hiến pháp Hoa Kỳ, cảnh sát phải đọc quyền này trước khi bắt một ai đó để họ hiểu quyền của mình. Tạm dịch như sau: "Ông/bà có quyền giữ im lặng. Tất cả những gì ông/bà nói và làm sẽ có thể được sử dụng để chống lại ông/bà trước tòa. Ông/bà có quyền có luật sư, nếu ông/bà không có, chính quyền sẽ chỉ định một vị cho ông/bà."
    6Lexis-Nexis: là một hệ thống lưu trữ báo chí, các văn bản luật và kinh tế trực tuyến của Mỹ, lưu giữ lại những thông tin có từ năm 1770 trở đi.

     
     
    PAGE OF 17
     
    nguồn: e-thuvien.com

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISKỊCH BẢNEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Buồn Ga Nhỏ

    Thanh Nam

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Vũ Thần [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5619592]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5463299]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4600454]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4423531]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4294395]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3553939]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2655166]
    11.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2271335]
    12.Phàm Nhân Tu Tiên [2230139]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [1983311]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1969623]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1540570]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1448521]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1421355]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1197109]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1134772]
    20.Cô Gái Đồ Long [1059868]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1051388]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1010878]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1010481]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [943423]
    25.Quỷ Bảo [902532]
    26.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [899714]
    27.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [888432]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [864688]
    29.Hắc Nho [833905]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [825817]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [825320]
    32.Hóa Huyết Thần Công [739870]
    33.Tru Tiên [738263]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [730052]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [649847]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [617532]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [590098]
    38.Nghịch Thủy Hàn [554583]
    39.Hoàn Hảo [551666]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [526651]
    41.Tầm Tần Ký [503896]
    42.Thiên Đường [448197]
    43.Song Nữ Hiệp Hồng Y [441867]
    44.Xu Xu, Đừng Khóc [435781]
    45.Đạo Ma Nhị Đế [434842]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [422608]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [412474]
    48.Cậu Chó [409052]
    49.If You Are Here [408436]
    50.Từ Khi Có Em [397401]
      Copyright © 2002-2016 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm