hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Tiếu Tiếu Sinh » Kim Bình Mai - Tập I[231788] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   2.5/7 - 638 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
    PAGE OF 54
     

    Kim Bình Mai - Tập I

    Tiếu Tiếu Sinh

    Kim Bình Mai


    Tập I



    Dịch giả: Phan Văn Các

    Lời Giới Thiệu

    Bạn đọc đang tiếp xúc với bộ tiểu thuyết trường thiên, một pho "kì thư" rất đặc sắc của nền văn học cổ điển Trung Hoa.

    Đó thực sự là lịch sử cuộc đời đầy tội ác và sinh goạt gia đình nhơ bẩn của Tây Môn Khánh, một kẻ hãnh tiến xuất thân từ một chủ hiệu sinh dược, nhưng do những mánh khóe bóc lột và hành vi ác bá, kéo bè kéo cánh, thông lưng với quan lại một bước nhảy tót lên đia vị một thổ hào thân sĩ giàu tiền của, đầy quyền thế. Từ cái bàn đạp đó, ngoi lên vin vào quan hệ nghĩa phụ nghĩa tử với Thái Kinh, một viên đại thần hiển hách ở triều đình lúc bấy giờ, Tây Môn Khánh đã trở thành Đề hình Thiên hộ ở bản huyện, tham lam tàn ác, bẻ cong phép nước, ăn tiền hối lộ, hại người lương thiện, và sống cuộc đời dâm ô cực kỳ bỉ ổi.

    Quả đã phơi bày bộ mặt thật của xã hội đương thời qua những trang sách tràn đầy hơi thở hiện thực. Qua mối quan hệ chằng chịt của nhân vật chính Tây Môn Khánh với mọi lớp người trong xã hội, tác giả đã khắc họa chân dung sinh động cùng trạng thái tinh thần muôn vẻ của hàng loạt nhân vật, từ những viên hoạn quan làm mưa làm gió trong cung đình ngay bên nách hoàng đế, đến những tên lưu manh du thủ du thực, những tay dao búa chuyên nghiệp, những tên côn đồ bip bợm lừa đảo đầy rẫy ngoài phố chợ. Qua những hành vi đê tiện và những mánh khóe tội lỗi của chúng, tác giả đã vẽ lên khá tỉ mỉ mà khái quát một bức tranh xã hội đen tối tàn khốc, trên thực tế đó cũng chính là xã hội mà tác giả đang sống, xã hội phong kiến Trung Quốc thời Minh từ sau Chính Đức đến giữa Vạn Lịch Nhân vật chính Tây Môn Khánh trước hết là một con quỷ dâm dục hiện hình, một mình y đã có một thê và năm thiếp nhưng còn sẵn sàng cưỡng dâm từ con gái nhà lành đến đàn bà góa bụa, giết chồng đoạt vợ, kể cả vợ bạn, em dâu y cũng không tha. Dâm dục đi đôi với tàn bạo là nét bản chất xuyên suốt cuộc đời y cho đến kết thúc bằng cái chết vì bệnh dâm dục.

    Bên cạnh Tây Môn Khánh là Phan Kim Liên được xây dựng như một nhân vật điển hình của hạng phụ nữ tà dâm, xảo quyệt. Thông dâm với Tây Môn Khánh, thị đã nhẫn tâm và quỷ quyệt đầu độc chồng là Võ Đại, rồi khi chồng đã ngấm thuốc chết hẳn "hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, cắn cả vào môi chảy máu, tai mũi và cả mắt đều ứa máu ròng ròng" thì thị cùng Vương bà "kéo xác Võ Đại ra sau nhà, lau sạch vết máu đội mũ đi giày cho tử tế, lấy khăn phủ lên mặt cho Võ Đại rồi cả hai cùng ngồi khóc". Thị lập bàn thờ chồng với bài vị "Vong phu Võ Đại lang chi linh", nhưng sẵn sàng hú hí với Tây Môn Khánh ngay trước bàn thờ ấy.

    Xoay quanh các nhân vật chính đó, thôi thì đủ hạng vô lại cặn bã của xã hội :

    Ứng Bá Tước và Tạ Hi Đại bợ đỡ nịnh hót, Trương Thắng và Lưu Nhị du thủ du thực, thằng quýt con sen Lai Vượng, Thu Cúc, con hát Lưu Quế thư, kép hề Vương Kinh, cho đến thái giám, môn quan, tăng lữ, ni cô, đạo sĩ, bà mối... tất cả đám người kí sinh trong xã hội đô thị.

    Trên phương diện xây dựng hình tượng nhân vật cụ thể, tác phẩm đã sáng tạo khá thành công một loạt tính cách điển hình có xương có thịt.

    Trên tiến trình văn học của dân tộc Trung Hoa, có một vị trí quan trọng.

    Thời Minh, nhất là từ Gia Tĩnh (1522-l566), xã hội tương đối ổn định, kinh tế có chiều phát triển, xu thế đô thị hóa tăng dần, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của thể loại văn học mới : trường thiên tiểu thuyết. Song hành với điều kiện xã hội đó là sự tiến bộ của kỹ thuật in khắc. Đến thời Vạn Lịch (1573- 1620) đã xuất hiện một cục diện phồn vinh của thể loại này với hàng loạt tác phẩm ngày nay còn được biết.

    Tiểu thuyết Trung Quốc thời này có thể chia làm bốn loại:

    Thứ nhất, chiếm số lượng áp đảo là tiểu thuyết lịch sử diễn nghĩa, đại thể phỏng theo Tam quốc chí diễn nghĩa, kể chuyện lịch sử bằng ngôn ngữ thông thường dễ hiểu. Có thể nói, suốt từ Xuân Thu Chiến Quốc đến Minh sơ, tiểu thuyết lịch sử diễn nghĩa thời này đã phủ kín cả chiều dài lịch sử Trung Quốc.

    Trong đó tiêu biểu nhất là Bắc Tống chí - truyện của Hùng Đại Mộc. Nhìn chung loại tiểu thuyết lịch sử diễn nghĩa này miêu tả tính cách nhân vật còn tương đối ít, kết cấu không chặt, tình tiết nhiều lúc thiếu gắn bó, còn câu nệ quá nhiều vào sự thật lịch sử, nghệ thuật còn sơ lược, thường còn nằm trên ranh giới giữa lịch sử với văn học.

    Thứ hai, là tiểu thuyết phong thần, tiêu biểu nhất là Phong thần diễn nghĩa. Loại này phần nhiều kể lại những chuyện li kỳ hoang đường, thiếu ý nghĩa xã hội sâu sắc.

    Thứ ba là tiểu thuyết "công án", nổi tiếng nhất là Hải Cương Phong tiên sinh cư quan công án truyện của Lí Xuân Phương, 71 hồi, mỗi hồi kể một chuyện với nhân vật xuyên suốt là người thẩm án Hải Thụy. Về thể tài có thể xem là tổng tập tiểu thuyết bút kí, tựa như tập truyện vụ án.

    Thứ tư là tiểu thuyết "thế tình" (tình đời). Loai này lúc đó còn hiếm, ngày nay được biết chỉ có Kim Bình Mai và Ngọc Kiều Lí, nhưng Ngọc Kiều Lí thì đã thất truyền. (Thẩm Đức Phù trong Dã hoạch biên nói ông từng xem Ngọc Kiều Lí). Loại này ngày nay thường được gọi là tiểu thuyết xã hội.

    Trước Hồng lâu mộng hơn một trăm năm, được coi là tác phẩm mở đường cho tiểu thuyết xã hội Trung Quốc. Từ năm 1940, đề tựa cho Bình ngoại chi ngôn của Diêu Linh Tê, Giang Đông Tễ Nguyệt gọi là "tiểu thuyết của tiểu thuyết", còn Ngụy Bệnh Hiệp thì so sánh với tác phẩm của Đickens ở Anh, Sêkhov ở Nga, đồng thời cho rằng Thủy hử kể nhiều võ hiệp, Hồng lâu chuyên nói tình yêu, Nho lâm ngoại sử miêu tả tình thái xã hội - nhưng hạn chế trong đám hủ nho, ý nghĩa xã hội đều không rộng lớn bằng.

    Trong bài Bàn về Hồng lâu mộng, Hà Kì Phương có nhắc đến mối quan hệ giữa Hồng lâu mộng với :

    Hồng lâu mộng quả là cái bóng soi ngược hình của. Dĩ nhiên Hồng lâu mộng sinh sau nhưng vượt trội nhiều mặt, đặc biệt là ngôn ngữ văn học đạt tới đỉnh cao của tiểu thuyết cổ điển, rõ ràng không sánh được.

    Ngay cả sau khi bị liệt vào hạng "sách cấm" thì giới văn học vẫn xếp nó vào một trong "tứ đại kì thư" (bốn cuốn sách lớn kì thú) của tiểu thuyết trường thiên Minh Thanh :

    Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký và. Tất cả các giáo trình văn học sử ở các trường Đại học Trung Quốc đều giảng và đều công nhận đó là con chim én báo mùa xuân của thể loại truyện dài do cá nhân sáng tác ở Trung Quốc.

    Lỗ Tấn nói trong Trung Quốc tiểu thuyết sử lược :

    "Tiểu thuyết lấy chuyện Võ Tòng đánh cọp tìm anh trong Thủy hử truyện làm ngòi dẫn, mượn danh thời Tống để tả thực thời Minh, phản ánh hiện thực xã hội thời Minh" đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản dịch sớm nhất là bản Mãn văn khắc in năm Khang Hi 47 (1708), không ghi tên dịch giả, dịch theo bản "Trương Phúc Pha đệ nhất kì thư".

    Ở phương Tây, sớm nhất là bản dịch hồi thứ nhất của, thực hiện bởi A.P. Bazin :

    Histoire de Wou Song et de KimLien trong Chine moderne (Trung Quốc hiện đại) xuất bản năm 1853. (tiếng Pháp).

    Năm 1927 có bản tiếng Anh Chin Ping Mei, the adventurous of His Menching ở New York.

    Năm 1928 có bản tiếng Đức Djin Ping Me của Oto Kibat. Tiếng Hungari, tiếng Thụy Điển, tiếng Phần Lan đều đã có bản dịch.

    Ở Nhật Bản đã có nhiều bản dịch khác nhau. Bản dịch đầy đủ 100 hồi sớm nhất là của Cương Nam Nhân Kiều in thành 4 tập, hoàn thành đầu thế kỉ này. Năm 1951, có bản dịch của Tiểu Dã Nhẫn và Thiên Điền Cửu Nhất theo nguyên bản từ thoại.

    Ở Việt Nam lâu nay lưu hành khá rộng rãi bản in của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1989 loại trọn bộ 4 tập, in 20.000 bản và loại trọn bộ 8 tập, cũng in 20.000 bản, nội dung hoàn toàn như nhau kể cả lời giới thiệu và ghi chú ở đầu sách:

    "In theo bản của nhà xuất bản Chiêu Dương - 1969, có đối chiếu bản gốc và tham khảo các bản khác", song không cho biết tên dịch giả và bản gốc cũng như các bản tham khảo khác là bản nào.

    Căn cứ vào nội dung truyện và tiêu đề ngắn gọn của từng hồi trong bản dịch, chúng tôi đoán rằng dịch giả đã dùng một nguyên bản thuộc hệ văn bản thứ ba mà chúng tôi sẽ phân tích ở dưới trong phần khảo về văn bản, mà theo nhận định chung của giới nghiên cứu ở Trung Quốc thì hệ văn bản thứ hai mang tên từ thoại mới là văn bản tiêu biểu.

    Thử so sánh tiêu đề hồi đầu và hồi cuối của hai loại văn bản đó ( tạm dịch ) Hệ văn bản 3 Hệ văn ban 2 Hồi 1 Bạn bè kết nghĩa vui thú ăn chơi Đồi Cảnh Dương, Võ Tòng đánh hổ, Phan Kim Liên chê chồng, bán trăng hoa.

    Hồi 100 Dòng Tây Môn tuyệt tự Hàn Ái Thư đến hồ tìm bố mẹ, Phổ Tĩnh sư tiến bạt quần oan.

    Có thể thấy hai loại văn bản này khác nhau khá xa.

    Dưới đây, đặc biệt giới thiệu hai vấn đề mà giới nghiên cứu ở Trung Quốc cũng như trên thế giới hết sức quan tâm, hai vấn đề đã gây tranh cãi hàng trăm năm, cùng với những kết quả nghiên cứu mới nhất trong hai thập kỉ qua (sau "cái cách mở cửa").

    Một là vấn đề "văn bản ".

    Bộ tiểu thuyết này đã từng mang nhiều tên gọi khác nhau, số tên gọi không kém gì Thủy hử hay Hồng lâu mộng. Mà sự khác nhau trong tên gọi thường kèm theo sự xê dịch về nội dung. Theo trình tự thời gian có thể sơ lược giới thiệu như sau :

    Ở thời kỳ chép tay, thì tên gọi rất đơn giản, chỉ gọi là, được ghép từ tên ba nhân vật quan trọng :

    Phan Kim Liên, Lý Bình Nhi, Bàng Xuân Mai - mỗi tên lấy một chữ đại diện. Sau khi đưa khắc in, có người gọi là truyện thì tên sách đề là Tân khắc từ thoại. Đó là tên gọi ở thời kỳ đầu mới khắc in. Về sau, những người xuất bản thường chụp lên đầu tên sách một số mũ nào đó, thế là thành các tên như Túc bản từ thoại (bản đầy đủ), Hội đồ cổ bản từ thoại (bản cổ có tranh vẽ) v.v...

    Cuối đời Minh, do chỗ từ thoại có tăng thêm, tỉa bớt hoặc sửa chữa khá nhiều, hoặc có vẽ tranh, bình luận, hình thành một hệ văn bản mới nên tên sách cũng thay đổi theo, gọi là Tân khắc tú tượng phê bình (bản khác mới có tranh thêu và lời bình) hoặc Tân thuyên tú tượng phê bình nguyên bản (thêm chữ "nguyên bản"). Người ta quen gọi loại này là "bản Sùng Trinh" 1. Tú khắc cổ bản bát tài tử từ thoại cũng thuộc loại này.

    Dưới thời Khang Hi nhà Thanh, Trương Trúc Pha, tức Trương Đạo Thâm, người Bành Thành, rất tán thưởng sách này, mệnh danh nó là Thiên hạ "đệ nhất kì thư". Lấy Tân khắc tú tượng phê bình Kim Bình Mai làm bản nền, họ Trương đã tiến hành phê bình một cách toàn diện và có hệ thống, đến mức thành một hệ văn bản mới, lưu truyền khá rộng rãi, ảnh hưởng tương đối sâu sắc, đầu quyển thường ghi là Cao Hạc đường phê bình Đệ nhất kì thư và ở trang bìa giả, thôi thì đủ : nào là Đệ nhất kì thư, nào là Đệ nhất kì thư, Đệ nhất kì thư tú tượng. Tú tượng đệ nhất kì thư. Tứ đại kì thư đệ tứ chủng, Tăng đồ tượng túc bản, Tăng đồ tượng Cao Hạc thảo đường kì thư toàn tập, nào là Hội đồ đệ nhất kì thư, Hiệu chính gia phê Đa thê giám toàn tập, Tân thuyên hội đồ Đệ nhất kì thư Chung tình truyện v.v... Thời Gia Khánh (Thanh), trên cơ sở bản nền có lời bình của họ Trương, đã ra đời một bản rút gọn gọi là Tân khắc kì thư.

    Thời Dân Quốc, có người gia giảm cắt gọt " có lời bình của họ Trương", xào xáo lại, bôi râu vẽ mặt thêm, cho ra đời cái gọi là " chân chính', đặt tên là Hội đồ chân bản Kim Bình Mai. Từ đó về sau lại có thêm những là Cổ bản, Tiêu điểm cô bản cổ bản, Cảnh thế kì thư v.v và v.v... Chúng là hàng rởm vỗ ngực tự xưng là "chân" (thật) "cô" (hiếm), cổ (xưa), nhưng là thứ hàng rởm đã thành công trong công cuộc mập mờ đánh lận con đen, và đã từng lưu hành rộng rãi một thời.

    Cho đến nay tính ra lưu truyền có đến mấy chục bản khác nhau, có thể quy nạp thành ba hệ văn bản :

    1- Hệ văn bản "từ thoại" :

    Hệ này, Tôn Khải Đệ gọi là từ thoại, học giả Nhật Bản gọi là "bản từ thoại", học giả Mỹ gọi là "hệ bản A".

    Bản sớm nhất của hệ này là bản khắc năm Vạn Lịch 45, cũng là bản sớm nhất trong các truyền bản đã biết. Hệ này nay còn lại tương đối hoàn chỉnh chỉ có ba bộ : một hiện ở Đài Loan (trước lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh), hai bộ Ở Nhật Bản.

    Đặc điểm tương đối nổi bật của hệ văn bản này là ở hai chữ "từ thoại". Từ thoại vốn là một hình thức nghệ thuật "thuyết xướng" (kết hợp hát với nói lời bạch, xen kẽ văn xuôi với văn vần), hình thức này có từ thời Tống, thịnh hành thời Nguyên - Minh. từ thoại tuy mang tên như vậy song không thể coi là "từ thoại" chính cống nữa mà nó rõ ràng là một pho trường thiên tiểu thuyết mang màu sắc "từ thoại" mà thôi.

    2- Hệ văn bản "tú tượng phê cải" (có tranh thêu và có sửa chữa). Hệ văn bản này gồm hai loại nhỏ : loại "bản Sùng Trinh" và loại "bản Trương Bình".

    Hệ văn bản này có hai đặc điểm mà các hệ văn bản khác không có : 1 / lời phê lời bình ; 2 / tranh thêu.

    So với hệ văn bản "từ thoại" nói trên, hệ này chặt chẽ, trong sáng, hợp lí thông đạt hơn, văn bản "từ thoại" vì đưa vào quá nhiều thơ ca từ phú không liên quan gì mấy với phát triển của tình tiết nên làm yếu chất tiểu thuyết.

    a. Loại văn bản Sùng Trinh : bản khắc sớm nhất được coi là khắc dưới thời Sùng Trinh nhà Minh.

    Hiện còn tám bộ lưu giữ ở tám nơi khác nhau :

    - Thư viện Thủ đô (Bắc Kinh) - Thư viện Thượng Hải - Thư viện Đại học Bắc Kinh Trung Quốc - Thư viện Thiên Tân - Thư viện Trung ương Đài Loan - Nội các văn khố - Trường Đại học Tôkiô Nhật Bản - Trường Đại học Thiên Lý b. Loại văn bản Trương Bình (khởi đầu từ Trương Trúc Pha như đã nói ở trên).

    3- Hệ văn bản rút gọn :

    Các văn bản này, nhất là những văn bản mang danh "chân bản", "cổ bản" phần nhiều là "đồ rởm", xưa nay không được giới học thuật coi trọng. Sở dĩ như vậy trước hết là do những kẻ làm sách giả đã tùy tiện thêm bớt rất nhiều, đã thế lại dám rêu rao là "chân", là "cổ". Loại văn bản này ra đời muộn, đến nay chỉ khoảng bảy tám chục năm, từng có thời gian lưu truyền rộng rãi, cho đến nay vẫn chưa phải đã hết ảnh hưởng.

    Hai là vấn đề "tác giả " Tác giả là ai ? Vấn đề này đã làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu. Bản từ thoại khắc in ở thời Vạn Lịch nhà Minh ghi là tác. rõ ràng là một bút danh có nghĩa là "chàng cười", "chàng hay đùa" (Tiếu là cười, còn sinh là tiếng tự xưng hoặc tiếng gọi người trẻ tuổi). Bài Tựa đầu sách từ thoại kí tên Hân Hân Tử, đặt trước tên tác giả một địa danh là Lan Lăng. Lan Lăng là một ấp của nước Sở thời Chiến Quốc, thời Hán đặt thành huyện, thời Tấn kiêm cả quận, thời Tùy bỏ cả quận lẫn huyện, thuộc địa phận huyện Dịch tỉnh Sơn Đông ngày nay. Thời Đường lại đặt huyện, thời Nguyên bỏ. Ngoài ra, thời Tấn có lần gửi huyện Lan Lăng ở huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô, và đặt thành quận Nam Lan Lăng, đến thời Tùy cũng bỏ. Nhiều người nghĩ rằng Hân Hân Tử, (nghĩa rộng là "ông vui vui") cũng chỉ là một biến dạng của mà thôi. Ngoài ra, tác phẩm của Tiếu Tiếu Sinh chỉ thấy có một bài từ Ngư du xuân thủy bảo tồn được trong tập tranh đời Minh là Hoa doanh cẩm trận (nghĩa là "trại hoa trận gấm").

    Từng có người đoán là Triệu Nam Trinh (1551-1627) hoặc Tiết Ứng Kỳ (khoảng 1550- ?) nhưng đều không đưa ra được chứng cứ trực tiếp.

    Giáo sư Chu Tinh sau mấy chục năm chuyên nghiên cứu ở khoa Trung văn trường Đại học sư phạm Thiên Tân, trong cuốn khảo chứng của mình xuất bản tháng 10-1980 cho rằng tác giả Kim Bình Mai là Vương Thế Trinh(1526-1590) đỗ Tiến sĩ dưới triều Gia Tĩnh, làm quan đến Hình bộ Thượng thư, tác giả của Gia Tĩnh dĩ lai thủ phụ truyện, Yêm Châu sơn nhân tứ bộ cảo, Độc thư hậu, Vương thị thư uyển, Hoa uyển... Thật ra từ cuối thời Minh đã có người cho rằng được Vương Thế Trinh viết ra để trả thù cho bố.

    Ngụy Tử Vân trong đích vấn thế dữ diễn biến (Nxb Đài Loan thời báo, 1981) cho rằng ngôn ngữ Sơn Đông ở trong truyện thật ra là thứ ngôn ngữ lưu hành ở các tỉnh phía Bắc, đồng thời chỉ rõ từ Đông Tấn về sau Giang Nam cũng có Lan Lăng, từ đó phủ đinh lập luận nói rằng tác giả phải là người Sơn Đông. Căn cứ vào tập quán sinh hoạt của nhà Tây Môn Khánh miêu tả trong truyện, Ngụy Tư?

    Vân cho rằng phải là một người Giang Nam đã sống lâu trên đất Bắc.

    Năm 1981, giáo sư Từ Sóc Phương trường Đại học Hàng Châu đăng bài nói rằng tác giả Kim Bình Mai là Lí Khai Tiên (1501-1568).

    Đầu năm 1984, tân chứng của Trương Viễn Phần được Tề Lỗ thư xã xuất bản, trong đó tác giả khẳng định rằng Lan Lăng Tiếu. Tiếu Sinh chính là Giả Tam Cận, nhà văn huyện Dịch thời Minh.

    Thật ra ý kiến này đã được Trương Viễn Phần đề cập trong một bài đăng tạp chí Bão độc năm 1981.

    Phúc Đán học báo tháng 7-1984 đăng bài của Lý Thời Nhân "Thuyết Giả Tam Cận viết Kim Bình Mai không thể đứng được" kèm theo phụ đề "Chúng ta nên chú ý thái độ và phương pháp khảo chứng", đồng thời công bố liền hai bài " tác giả Đồ Long khảo" và " tác giả Đồ Long khảo tục" của Hoàng Lâm. Đi theo hướng tìm kiếm của Ngụy Tử Vân, Hoàng Lâm đã phát hiện được Đồ Long, một người nguyên quán ở huyện Ngân tỉnh Triết Giang từng làm quan ở Bắc Kinh, từng ký tên là Tiếu Tiếu tiên sinh ở hai cuốn sách đời Minh là Sơn trung nhất tịch thoại (Một buổi chuyện trò trong núi) và Biến địa kim (Vàng khắp nơi). Đồ Long (1542-1605) tự là Trường Khanh, lại có một tự nữa là Vĩ Chân, hiệu là Xích Thủy, đỗ Tiến sĩ dưới thời Vạn Lịch, từng làm tri huyện Thanh Phố, tri huyện Dĩnh Thượng, và Chủ sự bô.

    Lễ. Khảo trong từ thoại hồi thứ 48 có việc Hoàng Mỹ ở phủ Khai Phong gửi thư cho Tuần án sử Sơn Đông là Tăng Hiếu Tự, gọi Tăng mỗ đang giữ chức Tuần án Ngự sử Đô sát viện bằng chức danh "Đại trụ sử", chức danh này trước chưa từng nghe nói, người đọc cũng thường không để ý. Tra trong Cổ kim quan chế diên cách do Đồ Long soạn thì dưới phần khảo chứng của mục Đô sát viện có tìm thấy câu "Tại Chu vi Trụ hạ sử, Lão Đam thường vi chi" (Thời Chu là Trụ hạ Sử, Lão Đam từng làm chức ấy) v.v., chứng tỏ cách xưng hô hiếm hoi ấy trong truyện quả có khả năng chính là do Đồ Long viết. Ngụy Tử Vân khảo sát kinh lịch của Đồ Long thấy rằng rất có khả năng Đồ Long viết sách ấy để phúng dụ hoàng đế lúc bấy giờ. Có hai lí do : một là Đồ Long từ năm Vạn Lịch 12 bị cách chức về sau không ngóc đầu lên được nữa, khốn nghèo cho đến chết, hoàn toàn là vì trong khi làm tri huyện Thanh Phố một lần dâng thư mừng sinh nhật Hoàng trưởng tử, đã phạm phải điều cấm kỵ của Hoàng đế, hẳn vì thế mà có lòng oán hận ; hai là Đồ Long từ sau khi bị cách chức, thường được người bạn là Lưu Thủ Hữu ở Ma Thành tiếp tế, đến sau khi chết năm Vạn Lịch 33, người đời lại truyền rằng con Thủ Hữu là Lưu Thừa Hỉ có đủ trọn bộ sách này. Đối chiếu những điều nói trên, dường như Đồ Long viết là điều có thể tin được.

    Năm 1985, nguyên mạo thám sách (Tìm kiếm diện mạo ban đầu của ) của Ngụy Tử Vân được Học sinh thư cục Đài Loan xuất bản, ông Đồng Văn đề tựa có nhắc lại bài viết Bình Mai dữ Vương Thế Trinh của Ngô Hàm cũng từng đề cập tới một "Đồ Xích Thủy nổi tiếng về tạp kịch và văn chương", mà Xích Thủy chính là hiệu của Đồ Long. Ông Đồng Văn lấy đó để khẳng định thêm khả năng thừa nhận Đồ Long là tác giả.

    Dĩ nhiên đối với một "câu đố" đặt ra đã bốn thế kỉ nay và trong thời gian đó đã lần lượt ra đời hơn chục đáp án khác nhau để rồi lần lượt bị bác bỏ thì chưa thể khẳng định ngay Đồ Long là đáp án chính xác.

    Tuy nhiên, chí ít thì đáp án này cũng đã đứng được ngót mười lăm năm nay. Những ai quan tâm đến văn học Trung Quốc nói chung và nói riêng hẳn là hứng thú theo dõi.

    Phan Văn Các 1-1999


    Hồi 1

    BẠN BÈ KẾT NGHĨA, VUI THÚ ĂN CHƠI

    Niên hiệu Chính Hòa đời Huy Tông triều Tống, tại huyện Thanh Hà, phủ Đông Bình, tỉnh Sơn Đông, có một người con nhà gia thế, tướng mạo cực khôi ngô nhưng có tính xa xỉ hoang phí, khoảng hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, họ Tây Môn, húy Khánh. Cha là Tây Môn Quỳ, thường tới vùng Xuyên Quảng mua bán dược phẩm, nên có mở tại huyện Thanh Hà một cửa hiệu bán thuốc khá lớn. Gia đình Tây Môn có nhà cửa đồ sộ, kẻ ăn người ở tấp nập, ngựa nuôi từng bảy, tuy chưa phải là thập phần phú quý nhưng cũng vào loại hào phú tại huyện Thanh Hà. Vợ chồng Tây Môn Qùy viên ngoại thì cha mẹ đều đã quy tiên, chỉ có một con trai nên yêu quý như hòn ngọc trên tay. Người con trai này vì được nuông chiều quá mức nên không chịu học hành, suốt ngày chỉ rong chơi phóng đãng. Sau khi cha mẹ mất thì không chịu lo làm ăn, chỉ vui với mấy món côn quyền học được, lại say mê cờ bạc rượu chè. Bạn bè toàn hạng chẳng ra gì, người bạn tương đắc nhất họ Ứng, tên Bá Tước tự Quang Hầu, nguyên là con trai thứ của Ứng viên ngoại, gia đình làm nghề dệt lụa, nhưng đã sa sút. Ứng Bá Tước chỉ quanh quẩn những nơi quen biết để sống qua ngày, và được bạn bè đùa đặt tên là Ứng Hoa Tử. Ứng Hoa Tử rất giỏi các môn cờ bạc. Người bạn thân thiết thứ nhì họ Tạ, tên Hy Đại, tự Tử Thuần, vốn là con cháu một gia đình nhà quan, được hưởng tập ấm tại huyện Thanh Hà. Tạ Hy Đại vì cha mẹ mất sớm nên sống lông bông, nhưng lại có tài gảy đàn tỳ bà. Hai người này là bạn tâm đầu ý hợp của Tây Môn Khánh. Ngoài ra cũng có vài người bạn khác, nhưng toàn là hạng phá gia phi tử. Một người là Chúc Thật Niệm, tự Cống Thành, một người là Tôn Thiên Hóa, tự Bá Tu Xước, hiệu Tôn Quả Chủy. Một người là Ngô Điển Ân, trước làm chức Âm dương sinh trong huyện, nhưng sau bị cách chức, chuyên tới vay tiền đám quan lại trong huyện, do đó thường lai vãng với Tây Môn Khánh. Lại còn một người em của Vân Tham tướng, tên là Vân Lý Thủ, tự Phi Khứ. Một người nữa là Thường Trĩ Tiết, tư.

    Kiên Sơ. Một người khác là Bốc Chí Đạo, một người nữa là Bạch Lãi Quang.

    Lãi Quang thường hay rủ vài chục bạn bè tới tìm Tây Môn Khánh để bắt Khánh bỏ tiền ra cho mọi người uống rượu vui chơi. Một người hoang phí xa xỉ như Tây Môn Khánh mà lại gặp đám bạn bè như vậy thì dẫu có tiền rừng bạc biển cũng phải hết đần. Quả nhiên chỉ vài năm sau, Tây Môn Khánh đã làm tiêu tan gia sản ông cha để lại, chỉ còn cái nhà đang ở là chưa bán mà thôi. Cửa hiệu dược phẩm tuy vẫn còn, nhưng vốn liếng hầu hết đã về tay người khác. Tuy nhiên Tây Môn Khánh tính tình hung bạo, thường dựa vào thanh thế của cha để lại, đồng thời được bốn tên gian thần trong triều là Cao, Dương, Đổng, Thí nâng đỡ, nên chuyên áp bức người trong huyện để làm tiền, cả huyện ai cũng sợ, gọi Tây Môn Khánh là Tây Môn Đại quan nhân. Vợ Tây Môn Khánh là trần thị mất sớm, chỉ sinh được một con gái tên là Tây Môn Đại Thư. Lúc Tây Môn Qùy còn sống thì đã hứa. gả Đại Thư cho Trần Kính Tế, con trai của Trần Hồng, thân gia của Dương Đề đốc, chỉ huy mười tám vạn cấm quân tại Đông Kinh. Sau này Tây Môn Khánh cưới con gái của Tả vệ Ngô Thiên Hộ tại huyện Thanh Hà, làm kế thất. Ngô thị vào khoảng hai mươi lăm tuổi, vì sinh vào ngày rằm tháng rám nên còn có tiểu danh là Nguyệt Thư. lúc về làm vợ Tây Môn Khánh thì mọi người quen gọi Ngô thị là Nguyệt nương. Nguyệt nương là người hiền thục đảm đang, nhưng gia đình chỉ còn có tiếng mà không có miếng. Nguyệt nương rất mực phục tòng chồng, nhưng vì không có tiền cung phụng cho chồng nên thường phải chịu điều nọ tiếng kia.

    Một hôm Ứng Bá Tước tới chơi, cùng Tây Môn Khánh chuyện vãn. Tây Môn Khánh nói tới chuyện gia sản táng tận, ứng Bá tước bảo:

    - Việc gì anh phải lo, anh là người tài mạo kiêm toàn, muốn có vàng bạc châu báu, có hầu thiếp đẹp đâu phải là khó.

    Tây Môn Khánh hỏi:

    - Ứng nhị ca nói vậy nghĩa là thế nào ?

    Ứng Bá Tước bảo:

    - Nhà họ Lý có cô con gái là Lý Kiều Nhi, gia đình đó giàu có ức vạn, hiện đang kén chồng cho con, nếu ca ca tới đó đánh tiếng xin làm rể, có phải là được cả người lẫn của không ?

    Tây Môn Khánh cười:

    - Thiên hạ làm gì có chuyện như vậy ?

    Ứng Bá tước nói:

    - Nếu ca ca không tin, thì cứ đi theo tôi.

    Tây Môn Khánh mừng lắm, liền vào nhà trong thay quần áo đẹp, rồi cùng gia nhân Đại An Nhi theo Ứng Bá Tước tới nhà họ Lý. Tới nơi, Đại An Nhi đứng ngoài, Ứng Bá Tước dẫn Tây Môn Khánh vào trong.

    Lý Kiều Nhi ra tiếp. Tây Môn Khánh liếc nhìn, thấy nàng quả có nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn. Ứng Bá Tước nói với Lý Kiều Nhi:

    - Vị này là thân thích của Dương Đề đốc, chỉ huy mười tám vạn cấm quân tại Đông Kinh, tức là Tây Môn Đại quan nhân. Cà huyện Thanh Hà không ai là không biết Đại quan nhân. Chỉ hiềm Đại quan nhân đây chưa có con trai, nên muốn lập nhị phòng. Vì lẽ đó mà tôi xin tới đây làm ông mối.

    Lý Kiều Nhi nói:

    - Ngài dạy quá lời, chúng tôi đâu được cái diễm phúc đó.

    Nói xong trộm ngắm Tây Môn Khánh từ đầu tới chân, thấy tướng mạo khôi ngô tuấn tú thì trong lòng thập phần ưng ý, bèn xin phép mời Ứng Bá Tước vào nhà trong, hỏi lại cho rõ, sau đó bằng lòng đê?

    Ứng Bá Tước đứng ra mai mối. Đôi bên đồng ý là sính lễ chỉ cần hai trăm lạng bạc, mọi việc khác Ứng Bá trước xin đứng ra lo hầu cho cả hai bên. Xong xuôi, Ứng Bá Tước trở ra nói lại cho Tây Môn Khánh biết. Tây Môn Khánh lại nhờ Ứng Bá Tước trở vào ấn định rõ ràng mọi việc với Lý Kiều Nhi. Bàn định xong thì trời đã muộn. Tây Môn khánh cáo từ ra về còn Ứng Bá Tước thì được Lý Kiều Nhi mời ở lại ăn cơm.

    Về tới nhà, Tây Môn Khánh lén thâu thập tất cả đồ trang sức của Trần thị để lại, cùng tư trang tế nhuyễn của Ngô Nguyệt nương, hôm sau đem hết cho Ứng Bá Tước nhờ lo mọi chuyện.

    Chưa đầy mười ngày sau thì Tây Môn Khánh cưới Lý Kiều Nhi về làm thứ phòng. Ngô Nguyệt nương vô cùng sầu muộn lại thấy Lý Kiều Nhi đem theo ba ngàn lạng nên càng không dám nói gì.

    Tây Môn Khánh là người tham tiền hiếu sắc, sau khi cưới được Lý Kiều Nhi, có được nhiều tiền, bèn cưới thêm người vợ thứ ba là Trác Nhị Thư. Trác Nhị Thư thể chất mong manh yếu đuối, thường hay bệnh tật.

    Một hôm, Tây Môn Khánh bảo Ngô Nguyệt nương:

    - Hôm nay là hai mươi lăm tháng Chín rồi, mồng ba tháng sau là tới kỳ hội họp với anh em. Hôm đó nàng phải cho dọn hai chiếu rượu thịnh soạn, rồi gọi vài con hát tới cho anh em người ta vui vẻ. Nàng nhớ lo liệu tử tế cho ta.

    Ngô Nguyệt nương nói:

    - Thôi đừng nhắc tới những người đó nữa, theo tôi thì họ không phải là những người tốt, trái lại tôi cho là những người hại chàng mà thôi. Chàng mà còn giao du với họ thì gia đình không bao giờ khá được đâu. Vả lại hiện Trác Nhị Thư đang bệnh, tôi khuyên chàng đừng nên rượu chè quá độ.

    Tây Môn Khánh tức giận bảo:

    - Thôi im đi, đừng nói nữa, ta không nghe đâu, bực mình lắm. Cứ như nàng nói thì trong đám anh em bè bạn của ta không có ai là người tốt hay sao ? Ai thì không nói làm gì. cứ như Ứng nhị ca là người tốt bụng, ai nhờ gì cũng được hài lòng. Ứng nhị ca lại là người tháo vát, lo việc gì cũng trôi chảy. Lại phải kể tới Tạ Tử Thuần nữa chứ. Tử Thuần cũng là người lanh lợi giỏi giang. Nhà mình nay đang cần nhiều người giúp đỡ, nay mình mở tiệc kết tình huynh đệ với bạn bè là chỉ có lợi mà thôi. Mai đâu mình còn nhờ va?

    người này người kia chứ.

    Ngô Nguyệt nương tiếp lời:

    - Kết nghĩa bằng hữu huynh đệ là điều tốt, nhưng chỉ sợ sau này không ai cho mình nhờ vả, hiện thời chỉ thấy họ nhờ vả mình mà thôi.

    Tây Môn Khánh cười:

    - Thì mình cho người ta nhờ vả cũng là điều tốt chứ sao ?

    Vợ chồng đang nói chuyện thì Đại An Nhi, tên gia nhân thân tín của Tây Môn Khánh, tướng mạo đẹp đẽ và rất lanh lợi, vào thưa:

    - Có Ứng nhị thúc và Tạ đại thúc tới.

    Tây Môn Khánh bảo:

    - Ta cũng vừa nhắc xong thì họ tới.

    Vừa nói vừa bước ra phòng khách. Tại phòng khách, Ứng Bá Tước và Tạ Hy Đại đang ngồi chờ.

    Ứng Bá Tước hôm nay đội khăn lượt den, mặc áo đoạn màu thanh thiên, chân đi hài tơ. Tạ Hy lại cũng ăn mặc chững chạc lắm. Thấy Tây Môn Khánh bước ra, cả hai đều đứng dậy vái chào. Tây Môn Khánh đáp lễ mời ngồi, gọi gia nhân pha trà, rồi nói:

    - Hai người tới thật đúng lúc. Mấy hôm nay tôi buồn quá, chẳng đi được tới đâu, mà cũng chẳng thấy bạn bè tới thăm.

    Ứng Bá Tước nói:

    - Ca ca trách vậy cũng phải, nhưng anh em mình mỗi người một việc, cũng ít khi rảnh rỗi, nhiều khi muốn tới thăm ca ca mà cứ gặp chuyện này chuyện kia cản trở.

    Tây Môn Khánh hỏi:

    - Mấy hôm nay nhị ca ở đâu ?

    Ứng Bá Tước đáp:

    - Hôm qua thì tôi sang nhà họ Lý thăm đứa nhỏ em gái của Quế Khanh, cháu gái của Nhị tẩu đây, nó tên là Quế Thư Nhi, lâu nay tôi không gặp nó. Nó còn nhỏ mà đã đẹp lắm, chắc nay mai lớn lên phải là tuyệt thế giai nhân chứ không chơi. Cũng hôm qua mẹ nó. hai lần khẩn khoản nhờ tôi mai mối, điệu này thì chắc lại khó lòng lọt tay ca ca.

    Tây Môn Khánh nôn nóng:

    - Nếu quả có sắc đẹp như vậy thì tại sao mình không tới thăm cho biết ?

    Tạ Hy Đại tiếp lời:

    - Ca ca chưa tin hay sao? Quả là muôn phần xinh đẹp.

    Tây Môn Khánh lại hỏi:

    - Hôm qua nhị ca ở bên đó, còn mấy hôm trước thì ở đâu ?

    Ứng Bá Tước đáp:

    - Hôm trước khi Bốc Chí Đạo từ trần, tôi phải ở đó giúp đỡ, bận rộn suốt mấy ngày. Sau khi đưa đám thì chị dâu Bốc Chí Đạo dặn đi dặn lại tôi rằng có gặp ca ca thì xin lỗi giùm, vì hoàn cảnh eo hẹp, chẳng có tiệc tùng gì cả nên không dám báo tin cho ca ca. Nhà đó cứ áy náy lắm.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Tôi cũng có nghe là Bốc đệ bệnh nặng, không ngờ đã chết. Lúc trước Bốc đệ có tặng tôi một chiếc quạt Kim Xuyên, tôi đang không biết phải tặng lại thứ gì thì nay Bốc đệ đã ra người thiên cổ.

    Tạ Hy Đại tiếp lời:

    - Anh em mình có mười người tất cả, nay như vậy là thiếu mất một rồi.

    Đoạn quay sang nói với Ứng Bá Tước:

    - Mồng ba tháng sau là tới kỳ họp mặt, chẳng lẽ anh em mình đây lại làm tốn kém cho Đại quan nhân sao ?

    Tây Môn Khánh chặn lời:

    - Thì có gì mà tốn kém? Anh em mình họp nhau lại, nếu là uống rượu mua vui thì chẳng nói làm gì, nhưng là họp nhau để kết nghĩa đệ huynh thì làm ở nhà cũng giảm phần trang nghiêm. Chi bằng mình chọn một ngôi chùa, tới đó viết một tờ sớ kết nghĩa, mình cùng lạy, nhận làm anh em, nguyện sau này che chở giúp đỡ nhau. Việc này cũng không nên tốn kém xa phí làm gì, nhưng là việc chung thì anh em mình tùy tiện, mỗi người đóng góp ít nhiều, biện một cái lễ tam sinh. Không phải là tôi không lo nổi việc này mà phải bắt anh em đóng góp, nhưng đây là chuyện kết nghĩa, cho nên người nào cũng phải có phần mình, như vậy mới quý.

    Ứng Bá Tước vội nói:

    - Ca ca nói rất phải, cần nhất là lòng thành, anh em cứ tùy tiện lo hết lòng mình là được. Tốn kém cũng chẳng bao nhiêu.

    Tây Môn Khánh cười:

    - Thì cứ gọi cho có phần mà thôi.

    Tạ Hy Đại nói:

    - Kết nghĩa thì phải mười người mới tốt. Bốc Chí Đạo không còn, mình phải tìm người thay vào mới được.

    Tây Môn Khánh trầm ngâm giây lát rồi bảo:

    - Ở đây có Hoa nhị ca, là cháu của Hoa Thái giám, cũng có tiền bạc, nhà ở ngay sau nhà tôi, chỉ cách có bức tường, vẫn hay sang trò chuyện với tôi, tính tình cũng được lắm, chi bằng mình mời Hoa nhị ca kết nghĩa.

    Ứng Bá Tước vỗ tay hỏi:

    - Có phải là Hoa Tử Hư chăng?

    Tây Môn Khánh đáp:

    - Phải.

    Ứng Bá Tước cười bảo:

    - Nếu vậy thì xin mời vị Đại quan đó đi chỗ khác, kết nghĩa với ông đó thì sau này anh em mình đến có một tiệm rượu mất.

    Tây Môn Khánh cười bảo:

    - Đang nói chuyện đứng đắn thì lại ăn nói bậy bạ, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới rượu chè.

    Ba người cười nói trò chuyện một hồi. Yây Môn Khánh gọi Đại An Nhi tới bảo:

    - Ngươi sang xin gặp Hoa nhị gia, thưa rằng mồng ba tháng sau ta có lễ kết nghĩa giữa mười người anh em, ta mời Hoa nhị gia làm anh em kết nghĩa. Ngươi nhớ kỹ Hoa nhị gia trả lời sao rồi trở về thưa lại cho ta. Nếu Hoa nhị gia không có nhà thì thưa với Nhị nương cũng được.

    Đại An Nhi vâng lời bước ra. Ứng Bá Tước nói:

    - Tới hôm đó thì mình định tới chùa miếu nào đây?

    Tạ Hy Đạ nói:

    - Chùa miếu thì ở đây chỉ có một hai cái. Chùa của tăng sĩ thì có chùa Vĩnh Phúc, miếu của các đạo sĩ thì có miếu Ngọc Hoàng. Tùy mình muốn tới đâu thì tới.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Việc kết nghĩa không phải do các vị tăng sĩ đứng ra làm được, vả lại mấy hòa thượng đó tôi không quen biết. Chi bằng tới miếu Ngọc Hoàng, nơi đó rộng rãi yên tĩnh mà Ngô Đạo quan lại là chỗ quen biết với tôi.

    Bá Tước bảo:

    - Ca ca nói rất đúng, các hòa thượng của chùa Vĩnh Phúc thì chỉ quen biết với Tạ tẩu tẩu mà thôi.

    Hy Đại cười:

    - Chỉ được cái ăn nói bậy bạ, đây là chuyện đứng đắn, đùa được hay sao?

    Ba người đang nói cười vui vẻ thì Đại An Nhi trở về thưa:

    - Hoa nhị gia không có nhà, tôi thưa với Nhị nương, Nhị nương vui lắm, bảo rằng: "Nếu Tây Môn Đại gia có lòng như vậy thì không nhận lời sao được, để rồi ta sẽ nói lại để phu quân ta sang bái kiến Đại gia đúng ngày". Sau đó lại mời tôi uống trà.

    Tây Môn Khánh bảo hai bạn:

    - Hoa nhị ca quả có người vợ lanh lợi mà hiền thục.

    Ba người tiếp tục uống trà nói chuyện. Lát sau Bá Tước và Hy Đại đứng dậy nói:

    - Thôi, mình tạm biệt, chúng tôi còn đi báo tin cho các anh em khác biết, để họ lo chuẩn bị phần của họ. Còn ca ca thì nên tới nói trước với Ngô Đạo quan một tiếng.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Biết rồi, tôi cũng không dám lưu giữ đâu.

    Nói xong tiễn hai người ra cửa. Ứng Bá Tươc đi được vài bước bỗng quay lại bảo:

    - Hôm đó phải cho mời con hát mới được.

    Tây Môn Khánh gật đầu cười:

    - Phải có chứ, để anh em mình cùng vui một bữa.

    Ứng Bá Tước cùng Tạ Hy Đại nắm tay mà đi.

    Tới ngày mồng một tháng Mười, Tây Môn Khánh dậy sớm, đang ngồi trong phòng với Nguyệt nương thì có gia nhân bên nhà họ Hoa sang. Tây Môn Khánh cho vào. Tên gia nhân nhà họ Hoa bước vào, tới trước mặt Tây Môn Khánh quỳ lạy rồi đứng sang một bên mà thưa:

    - Tôi là gia nhân bên Hoa gia, xin bái chào Tây Môn Đại nhân. Hôm nọ Đại nhân có cho người sang nói điều kết nghĩa, nhưng hôm đó gia gia tôi có việc vắng nhà, nên không tự mình nghe điều thỉnh giáo được. Gia gia tôi xin y lời là mồng ba sẽ dự buổi họp mặt, nên hôm nay sai tôi mang phần đóng góp sang trước, Đại nhân chi dùng vào việc kết nghĩa, nếu thiếu thì xin cho biết để gia gia tôi bù thêm.

    Nói xong đưa một cái hộp màu vàng lên. Tây Môn Khánh đứng dậy mở hộp ra thấy bên trong có một lạng bạc bên nói:

    - Như thế này là nhiều rồi, không cần phải thêm nữa. Đến ngày kia thì mời chủ ngươi dậy sớm tới miếu họp mặt với anh em.

    Tên gia nhân vâng lời, vừa định quay ra thì Nguyệt nương gọi lại rồi sai đại a hoàn Ngọc Tiêu đem bánh trái ra cho, đoạn bảo:

    - Đây là ta cho ngươi để về uống trà. Ngươi về thưa với Hoa đại gia và nương nương là Tây Môn Đại nương.nói rằng hôm nào rảnh, mời nương nương sang đây chơi.

    Tên gia nhân nhận quà, cúi đầu lạy tạ quay ra. Đúng lúc đó thi gia nhân của Ứng Bá Tước là Ứng Bảo Giáp mang phần đóng góp tới. Đại An Nhi dẫn ứng Bảo Giáp vào chào lạy rồi nói :

    - Gia gia tôi đã thu góp đầy đủ các phần của các gia gia, sai tôi đem tới, xin Đại nhân nhận cho.

    Nói xong đưa một cái hộp lên. Tây Môn Khánh mở ra thấy trong có tám gói, bèn đưa cho Nguyệt nương mà bảo:

    - Nàng giữ lấy để ngày mai tới miếu mà mua các vật cần dùng.

    Ứng Bảo Giáp cáo từ. Tây Môn Khánh đứng dậy định vào thăm Trác Nhị Thư, nhưng chưa kịp tới phòng Trác Nhị Thư thì Ngọc Tiêu đã chạy theo thưa:

    - Đại nương mời Đại gia ra nói chuyện:

    Tây Môn Khánh gắt:

    - Chuyện gì sao vừa rồi không nói ?

    Đoạn quay ra phòng ngoài. Nguyệt nương thấy chồng ra thì chỉ vào mấy bao giấy cười bảo:

    - Chàng coi phần đóng góp đây này. Chỉ có Ứng nhị gia là đóng được một tiền hai xu, còn mấy người khác thì người năm xu, người ba xu, mà toàn là thứ xấu. Nhà mình quả chưa thấy thứ tiền xấu như thế này bao giờ. Bây giờ mình nhận của họ thì cũng mang tiếng, chi bằng hoàn lại cho họ là hơn.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Trả lại thì cũng bỉ mặt người ta, mình không dùng được thì thôi, có thiếu hụt thì mình ứng ra, cũng chẳng đáng bao nhiêu.

    Nói xong liền quay vào nhà trong thăm Trác Nhị Thư.

    Hôm sau là ngày mồng hai, Tây Môn Khánh xuất ra bốn lạng bạc, gọi gia nhân tới sai mua một con lợn, một con dê, năm vò rượu Kim Hoa, gà vịt và vàng hương. Sau đó lại gọi ba gia nhân là Đại An Nhi, Lai Bảo và Lai Hưng đem năm tiền tới miếu Ngọc Hoàng rồi dặn:

    - Các ngươi tới thưa với Ngô sư phụ rằng ngày mai ta sẽ phiền Ngô sư phụ tổ chức giùm lễ kết nghĩa đệ huynh, xin sư phụ làm giúp trước một lá sớ kết nghĩa, ngày mai ta sẽ xin sang sớm. Nhớ nói là xin sư phụ lo liệu tươm tất giùm cho. Bọn Đại An Nhi vâng lời kéo nhau đi, lát sau trở về thưa:

    - Chúng tôi đã đưa tiền và thưa rõ ràng, sư phụ dã hoan hỷ nhận lời.

    Tây Môn Khánh gật đầu.

    Hôm sau là ngày mồng ba. Tây Môn Khánh dậy sớm tắm rửa sạch sẽ rồi gọi Đại An Nhi vào bảo:

    - Ngươi sang mời Hoa nhị gia qua đây ăn sáng rồi cùng ta tới miếu. Sau đó ngươi sang Ứng nhị gia, giục Nhị gia gọi mọi người đến miếu cho sớm.

    Đai An Nhi vâng lời đi ngay. Nhưng Hoa Tử Hư vừa được mời sang thì Ứng Bá Tước đã dẫn mọi người tới, gồm Tạ Hy Đại, Tôn Thiên Hóa, Chúc Thật Niệm, Ngô Điển ân, Vân Lý Thủ, Thường Trĩ tiết.

    Bạch Lãi Quang. Kể cả Tây Môn Khánh và Hoa Tử Hư thì cả thấy là mười người.

    Mọi người vái chào nhau. Bá Tước nói:

    - Bây giờ đi là được rồi.

    Tây Môn khánh nói:

    - Thì để ăn sáng uống trà xong đã, mời tất cả anh em vào ngồi một phút.

    Mọi người vui vẻ kéo vào. Lát sau ăn sáng xong, Tây Môn Khánh mũ áo dẹp đẽ cùng mọi người lên đường tới miếu Ngọc Hoàng.

    Từ xa đã thấy cổng miếu sừng sững, bên trong là miếu điện nguy nga, xung quanh tường cao bao bọc. Từ cổng miếu có ba con, đường dẫn vào trong, theo con đường giữa mà vào thì tới chính điện, đi vòng sau chính điện, qua một cái cổng nhỏ nữa là tới đạo viện của Ngô Đạo quan. Hai bên cổng nhỏ này cỏ xanh hoa thắm, lại có những cây tùng cây bách xanh tươi. Mặt trước của đạo viên là ba gian đại sảnh, đó là nơi sớm tối Ngô Đạo quan làm công quả. Sảnh đường trần thiết rất tề chỉnh, ở giữa là cửa Hạo Thiên Kim Khuyết của Ngọc Hoàng Thượng Đế, hai bên treo tử phủ tinh quan, lại có treo hình bốn Đại Nguyên soái là Mã, Triệu, Ôn Hoàng.

    Ngô Đạo quan đã ra trước đại sảnh nghiêng mình đón tiếp, mời bọn Tây Môn Khánh vào uống trà.

    Mọi người vừa uống trà vừa ngắm quang cảnh trong đại sảnh. Bạch Lãi Quang nắm tay Thường Trĩ Tiết, đứng dậy bước tới coi hình Mã Nguyên soái, thấy oai phong lẫm lẫm dị thường, tướng mạo cực kỳ uy nghi, nhưng lại thấy vẽ ba cặp mắt. Bạch Lãi Quang bèn bảo Thường Trĩ Tiết:

    - Ca ca này, như vậy là làm sao? Gì mà tới những mấy cặp mắt vậy ?

    Ứng Bá Tước nghe được bèn bước tới bảo:

    - Dốt qúa, Nguyên soái có nhiều cặp mắt là để nhìn các đệ đó, để xem các dê có điều gì xấu xa không ?

    Mọi người nghe vậy đều cười. Thường Trĩ Tiết lại chỉ vào hình Ôn Nguyên soái mà bảo:

    - Hình vẽ này cũng kỳ quái khác thường.

    Bá Tước cười lớn gọi:

    - Ngô tiên sinh à, xin tới đây nói chuyện vui.

    Ngô Đạo quan bước tới, Ứng Bá Tước nói:

    - Có một vị đạo sĩ lúc chết gặp Diêm Vương, Diêm Vương hỏi: "Ngươi là người như thế nào?", vị đạo sĩ trả lời rằng mình là đạo sĩ Diêm Vương sai phán quan tra xét lại thì thấy đúng. Phán quan lại tâu rằng đạo sĩ này không mắc tội nghiệt nên Diêm Vương cho đạo sĩ đó được sống lại. Trên đường về dương thế, đạo sĩ gặp một người quen là một nho sĩ. Nho sĩ hỏi: "Làm sao mà sư phụ được sống lại vậy?" Đạo sĩ đáp: "Diêm Vương thấy tôi là đạo sĩ nên cho sống lại". Nho sĩ ghi nhớ lời đó, tới lúc được gọi trình diện Diêm Vương thì nhận bừa mình là đạo sĩ. Trong khi Diêm Vương sai phán quan tra sổ thì thấy hai tay của nho sĩ xanh xám như chàm, bèn hỏi, nho sĩ đáp rằng: "Vì lúc còn sống thường sờ vào áo của Ôn Nguyên soái". Bởi vậy bây giờ mọi người mới thấy áo Ôn Nguyên soái xanh như chàm, như trong bức hình này chẳng hạn.

    Ứng Bá Tước dứt lời, mọi người cười phá lên, rồi tiếp tục đi xem hình Hoàng Nguyên soái, thấy cũng oai phong lẫm liệt, cạnh đó là hình Triệu Nguyên soái, mặt đen sì, bên cạnh có vẽ một con hổ thật lớn.

    Bạch Lãi Quang chỉ vào bức tranh mà bảo:

    - Mọi người coi con hổ này, chẳng lẽ nó ăn cỏ sao, đi theo người mà không ăn thịt người.

    Ứng Bá Tước cười bảo:

    - Đệ không biết rằng hổ là người bạn luôn đi theo Nguyên soái hay sao?

    Tạ Hy Đại lè lưỡi bảo:

    - Bạn như vậy thì tôi xin chịu, lúc đói thì bạn ăn cả mình.

    Ứng Bá Tước cười, nói với Tây Môn Khánh:

    - Tử Thuần sợ loại bạn đi theo mình rồi ăn thịt mình. Như vậy thì có khác gì bảo chúng tôi đây theo ca ca để ăn thịt ca ca. Ca ca không sợ hay sao ?

    Mọi người cười ầm lên. Ngô Đạo quan bước tới nói:

    Qúy quan nhân nói tới chuyện hổ, tôi cũng xin thưa là hiện nay huyện Thanh Hà đây đang bị hổ đe doạ, đã có mấy người bị hổ vồ rồi, đến cả những người đi săn cũng bị hổ sát hại, khoảng mười người gì đó.

    Tây Môn Khánh ngạc nhiên:

    - Hổ ở đâu tới đây ?

    Ngô Đạo quan nói:

    - Nếu vậy thì Qúy quan nhân không biết gì sao ? Cách đây ít ngày tôi có sai tiểu gia nhân sang Thương Châu để lấy tiền và gạo, lúc về nói rằng trong huyện Thanh Hà của mình đây, ở con đường đi Thương Châu, trên sườn núi Cảnh Dương, có một con hổ trán trắng thường hay xuất hiện ăn thịt người qua lại. Dân buôn bán buộc phải đi qua nơi đó thì họp nhau thành toán đông mà đi. Hiện trên huyện đang treo giải thưởng năm mươi lạng bạc cho ai trừ được con hổ đó. Thật thương cho đám thợ săn, bị hại không biết bao nhiêu mà kể rồi.

    Bạch Lãi Quang hăm hở nói:

    - Nếu vậy thì hôm nay mình làm lễ kết nghĩa xong, ngày mai tới đó bắt hổ, vừa trừ được hại cho dân lại vừa có tiền nữa.

    Tây Môn Khánh bảo:

    - Sinh mạng của Bạch đệ không đáng tiền đâu.

    Bạch Lãi Quang cười bảo:

    - Đã có tiền rồi thì còn cần đến tính mạng làm gì.

    Mọi người cùng cười. Ứng Bá Tước nói:

    - Để tôi lại xin kể chuyện vui nho mọi người nghe. Có một người bị hổ vồ, người con trai bèn vác dao xông tới định giết hổ cứu cha. Người cha đang bị hổ ngoạm chặt, thấy vậy bảo con rằng: "Con ơi, có giết hổ thì cẩn thận kẻo hư bộ da hổ đó".

    Mọi người nghe xong cười ha hả. trong khi đó Ngô Đạo quan đã sửa soạn xong, bước tới nói:

    - Xin các Quan nhân tới thắp hương và đốt vàng.

    Lại lấy lá sớ ra nói:

    - Đây là lá sớ đã viết rồi, chỉ còn chừa chỗ để viết tên tuổi và thứ bậc, xin các vị cho biết thù vị và tôn húy để tôi viết vào.

    Mọi người cùng nói:

    - Tự nhiên là Tây Môn Đại quan nhân đây là huynh trưởng của chúng tôi rồi.. Tây Môn Khánh tiếp lời:

    - Đâu được, phải tính theo tuổi tác chứ. Ứng nhị ca lớn tuổi hơn tôi, xin để ứng nhị ca làm huynh trưởng.

    Ứng Bá Tước vội cướp lời:

    - Nói như vậy là hại tôi rồi. Thời bây giờ chỉ nên tính ngôi thứ theo tài ba địa vị chứ đâu tính theo tuổi tác. Tính tuổi thì có lẽ tôi lớn tuổi hơn cả, nhưng nếu để tôi làm đại ca thì có hai điều không ổn. Thứ nhất, Đại quan nhân đây là người có uy có đức, anh em ai nấy đều phục. Thứ nhì, tôi thường được mọi người gọi là ứng nhị ca, nay làm đại ca thì việc xưng hô sẽ rất bất tiện. Giả dụ có hai người tới, một người gọi tôi là Ứng đại ca, còn người kia lại gọi là Ứng nhị ca, như vậy rồi làm sao ?

    Tây Môn Khánh cười:

    - Ứng nhị ca thật vui vẻ, lúc nào cũng khôi hài được.

    Tạ Hy Đại nói:

    - Tây Môn ca ca không nên từ chối nữa.

    Mọi người cũng nhao nhao bắt Tây Môn Khánh phải nhận làm đại ca. Tây Môn Khánh hai ba lần từ chối không được đành nhận làm đại ca. Người thứ nhì là Ứng Bá Tước, thứ ba là Tạ Hy Đại, thứ tư là Hoa Tử Hư. Sở dĩ Hoa Tử Hư được tôn làm tứ ca, vì là người có tiền. Ngoài ra, mấy người còn lại tự phân ngôi thứ với nhau.

    Ngô Đạo quan theo đó mà viết tên tuổi mọi người vào sớ, rồi thắp hương, mời mọi người theo vi.

    thứ quỳ trước bàn thờ. Sau đó Ngô Đạo quan cất giọng đọc sớ kết nghĩa, nội dung toàn những chuyện tốt đẹp như là yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Sớ đọc xong, mọi người theo thứ tự tiến lên thắp hương lễ thần, sau đó vái nhau mỗi người tám vái trước bàn thờ, cuối cùng làm lễ tạ thần và đốt vàng. Xong xuôi, Ngô Đạo quan cho bày la hai thiếu rượu thịt thịnh soạn. lây Môn Khánh chủ tọa, mọi người theo vị thứ mà ngồi. Ngô Đạo quan ngồi bên tiếp rượu. Rượu được vài tuần, mọi người bắt đầu cười nói ầm ý, mời mọc ồn ào, không còn giữ gìn gì nứa. Giữa lúc vô cùng náo nhiệt đó thì Đại An Nhi chạy tới kề tai Tây Môn Khánh thưa:

    - Đại nương sai tôi thưa với gia gia rằng Tam nương ở nhà lâm bệnh, xin gia gia về cho sớm.

    Tây Môn Khánh lập tức đứng dậy nói với mọi người:

    - Không phải là tôi muốn làm mất vui bữa tiệc kết nghĩa hôm nay, nhưng người vợ ba của tôi đang lâm trọng bệnh ở nhà, vậy cho tôi được cáo từ trước, hôm khác sẽ xin chuột lỗi.

    Hoa Tử Hư nói:

    - Tôi về cùng đường với đại ca, tôi xin tháp tùng đại ca.

    Ứng Bá Tước nói:

    - Hai vị tài chủ đi hết rồi chúng tôi ở đây làm sao ? Hoa tứ đệ phải ngồi lại mới được.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Gia đình Hoa tứ đệ đây cũng neo người, để Hoa tứ đệ về cùng với tôi cho có bạn, vả lại cũng để bên Hoa gia được yên lòng.

    Đại An Nhi tiếp lời:

    - Lúc tôi tới đây thì cũng thấy hoa Nhị nương sai người đem ngựa tới rước Hoa nhị gia đó. Vừa dứt lời thì thấy một gia nhân bước vào thưa với Hoa Tử Hư:

    - Ngựa đã có sẵn, nương nương mời gia gia về.

    Tây Môn Khánh cùng Hoa Tử Hư bước ra cảm tạ Ngô Đạo quan, rồi nói với bọn Ứng Bá Tước rằng:

    - Thôi để chúng tôi về, anh em ở đây xin cứ tự nhiên.

    Nói xong lên ngựa mà về. Gần tới nhà. Tây Môn khánh từ biệt Hoa Tử Hư rồi vào thẳng nhà. Gặp Ngô Nguyệt nương. Tây Môn Khánh hỏi ngay:

    - Trác nhị thư làm sao ?

    Nguyệt nương đáp:

    - Trong nhà có người bệnh, chàng nên có mặt ở nhà luôn. Tôi sợ chàng quá vui với họ nên sai Đại An Nhi tới mời về cho sớm. Trác Nhị Thư hồi này bệnh tình một ngày thêm nặng, chàng cũng nên lưu tâm săn sóc.

    Tây Môn Khánh vội vào trong thăm Trác Nhị Thư rồi cả ngày hôm đó ở nhà.

    Thời gian qua mau, thấm thoắt đã tới trung tuần tháng Mười. Một hôm, Tây Môn Khánh ngồi tại phòng khách, đang gọi gia nhân đi mời lang y tới coi mạch cho Trác Nhị Thư thì Ứng Bá Tước tươi cười bước vào. Đôi bên vái chào rồi an vị. Ứng Bá Tước nói:

    - Chẳng hay bệnh tình tẩu tẩu ra sao ?

    Tây Môn Khánh đáp:

    - Cứ mỗi ngày một nặng thêm, chẳng biết làm sao cho khỏi.

    Đoạn hỏi:

    - Hôm đó mọi người vui vẻ không ? Tới chừng nào mới về ?

    Ứng Bá Tước đáp:

    - Vì Ngô Đạo quan hết sức lưu giữ nên mãi tới quá canh hai mới giải tán. Tôi say gần chết, đại ca về nhà sớm mà lại hay.

    Tây Môn Khánh lại hỏi:

    - Hôm nay nhị đệ đã ăn cơm chưa ?

    Ứng Bá Tước không tiện đáp là chưa ăn, nên chỉ nói:

    - Thì đại ca thử đoán xem.

    Tây Môn Khánh bảo:

    - Chắc ăn rồi.

    Ứng Bá Tước che miệng cười:

    - Như vậy là đoán sai rồi.

    Tây Môn Khánh cười:

    - Đồ quỷ, chưa ăn thì nói là chưa ăn, còn nói lôi thôi làm gì. Đoạn gọi gia nhân dọn cơm rượu ra.

    Ứng Bá tước cười bảo:

    - Đáng lẽ là tôi ăn cơm rồi, nhưng vì có một chuyện hay lắm, phải vội tới nói đại ca nên chưa kịp ăn đó.

    Tây Môn Khánh hỏi:

    - Chuyện gì mà hay với không hay ?

    Ứng Bá tước đáp:

    - Thì cũng là chuyện hôm trước Ngô Đạo quan nói về con nghiệt súc ở núi Cảnh Dương đó. Hôm qua con nghiệt súc bị một người dùng võ thuật hạ rồi.

    Tây Môn Khánh nói:

    - Nhị đệ lại nói chuyện bá láp rồi, tôi không tin như vậy.

    Ứng Bá tước nói:

    - Đại ca không tin thì để tôi xin nói rõ cho đại ca nghe. Người dũng sĩ tay không giết hổ đó họ Võ, tên Tòng, là con thứ nhì trong gia đình. Ngày trước tị nạn tại trang trại của Tử Đại quan nhân. Sau dó thì bị bệnh. bệnh khỏi thì ra đi nói là tìm anh ruột của mình:

    Lúc người dũng sĩ họ Võ đi ngang Cảnh Dương thì thình lình gặp hổ, bèn dùng quyền cước đánh chết mãnh hổ. Ứng Bá Tước vừa nói vừa vung tay vung chân, cứ như là chính mình đã hạ mãnh hổ vậy. Tây Môn Khánh bảo:

    - Nếu vậy thì ăn cơm xong, mình thử tới coi.

    Ứng Bá Tước nói:

    - Đại ca à, hay mình đi ngay đi, rồi có đói thì ghé cao lâu tửu điếm nào ăn uống sơ sài cũng được.

    Chưa nói xong thì đã thấy Lai Hưng bưng cơm ra. Tây Môn Khánh bảo Lai Hưng:

    - Vào thưa với nương nương là khỏi cần lo cơm nước gì, rồi ngươi dem quần áo ra đây cho ta.

    Thay quần áo xong. Tây Môn Khánh nắm tay Ứng Bá Tước mà đi. Giữa dường gặp Tạ Hy Đại. Ta.

    Hy Đại cười hỏi:

    - Hai ca ca đi coi vụ đánh hổ phải không ?

    Tây Môn Khánh đáp:

    - Phải.

    Tạ Hy Đại nói:

    - Đường bây giờ đang tắc, đi không được đâu.

    Do đó mấy người bèn vào một quán rượu bên đường gọi rượu uống. Lát sau bỗng nghe ngoài đường ồn ào tiếng nhạc ngựa và tiếng trống, mọi người ùa ra coi, thì ra đó là đám rước người có công đánh hổ. Đi trước là lính huyện, rồi tới một tráng sĩ cưỡi ngựa bạch. Tây Môn Khánh biết đó là người đánh hổ, bèn đưa tay chỉ mà bảo:

    - Các đệ coi, người như thế kia thì đâu phải là có sức bạt sơn cử đỉnh để hạ nổi mãnh hổ.

    Mấy anh em vừa uống rượu vừa bàn tán. Nay nói về người tráng sĩ đả hổ, đó là một thanh niên tướng mạo hùng dũng lẫm liệt, thân dài bảy thước, mặt mũi khôi ngô, khoảng hai mươi lăm tuổi, vai hùm lưng gấu, hai mắt như sao. Đó là Võ nhị lang ở huyện Dương Cốc. Trên đường đi tìm anh, Võ nhị lang đã ra tay trừ họa cho dân huyện Thanh Hà. Tri huyện Thanh Hà nghe tin liền cho lính tới đón rước về huyện đường. Tới nơi, Võ Tòng liệng xác hổ xuống sân rồi tiến vào huyện đường, Tri huyện bước ra nghênh tiếp, thấy Võ Tòng tuy khôi ngô tuấn tú nhưng bề ngoài không phải là người có sức mạnh đả hổ. Sau khi được mời ngồi, Võ Tòng kể lại đầu đuôi câu chuyện mình tay không đánh hổ, quan lại nghe xong thảy đều kinh ngạc, kính phục lắm. Tri huyện thân rót ba chung rượu mời Võ Tòng rồi sai xuất kho, lấy năm mươi lạng bạc ra thưởng. Võ Tòng thưa:

    - Tôi tài hèn sức mọn, nhờ phúc đức của Tướng công mà may mắn trừ được nghiệt súc này, thật không dám nhận công, nên cũng không dám nhận thưởng. Các thợ săn trong huyện đã vất vả nhiều vì nghiệt súc này, xin tướng công lấy tiền đó thưởng cho họ, như vậy lại biểu lộ được cái đức của tướng công.

    Tri huyện nói:

    - Nếu vậy thì xin tùy tráng sĩ chia tiền thưởng cho họ.

    Đám thợ săn nghe nói Võ Tòng đánh chết mãnh hổ nên kéo tới đầy sân huyện để chiêm ngưỡng. Võ Tòng bèn chia số bạc năm mươi lạng cho đám thợ săn ngày trước mặt Huyện quan. Huyện quan thấy Võ Tòng nhân đức trung hậu như vậy thì yêu mến lắm, có ý tiến cử, bèn bảo:

    - Tráng sĩ là người huyện Dương Cốc thì cũng là chỗ lân lý của bản huyện, cho nên ta muốn mời tráng sĩ giữ giùm một chức Đô đầu trong huyện này để giúp ta trừ đạo tặc, chẳng hay ý tướng sĩ ra sao ?

    Võ lòng quỳ xuống tạ Ơn mà nói:

    - Nếu được tướng công thương đến thì muôn đời kẻ hèn này không quên ơn.

    Tri huyện mừng lắm, bèn làm văn thư ngay, cử Võ Tòng làm Đô đầu. Các Lý trưởng và những nhà tai mắt trong vùng kéo tới bái kiến Võ Tòng. Võ Tòng cho thết tiệc suốt mấy ngày, tuy có ý định trở về huyện Dương Cốc để tiếp tục tìm anh, nhưng vì đã trở thành một Tuần phủ Đô đầu của huyện Thanh Hà nên đành ở lại. Từ đó xa gần đều nghe danh Võ Tòng.

    Trở lại quán rượu bên đường, Tây Môn Khánh uống hơi nhiều nên có vẻ say, ứng Bá Tước thấy vậy bèn bảo:

    - Đại ca à, chúng mình về thôi.

    Tây Môn Khánh không đáp, chỉ gục xuống bàn mà ngủ. Trong cơn mộng chập chờn. Tây Môn Khánh dường như thấy mình tới một ngôi biệt thự, bên ngoài có đề hàng chữ "Nhất phiên phong tín nhị phiên hoa", bên trong là một vườn toàn kỳ hoa dị thảo, lại có một cái hồ trong đó hoa sen đua hương phô sắc, đặc biệt là có mấy đóa sen màu hoàng kim. Tây Môn Khánh ngạc nhiên lắm, không ngờ trên đời lại có loại hoa sen màu hoàng kim như thế, bèn tự tiện vào hái một bông đem về nhà định kỷ niệm, nhưng đang lúc thò tay hái thì thấy người tráng sĩ đả hổ bước tới gọi, đồng thời vỗ mạnh vào vai. Tây Môn Khánh lạnh toát cả người, bàng hoàng tỉnh mộng. Tây Môn Khánh mở mắt nhìn xung quanh thì biết mình đang ở quán rượu, và hai người bạn vẫn còn đang tiếp tục uống, bèn đem chuyện trong mộng kể lại cho hai bạn nghe, Ứng Bá tước nói:

    - Mộng này thật lạ, có lẽ phải nhờ mấy vị tăng trong chùa Vĩnh Phúc giải cho mới được.

    Tạ Hy Đại nói:

    - Trời cũng đã muộn rồi, mà tẩu tẩu ở nhà lại đang bệnh, mình nên về đi đã.

    Tây Môn Khánh đứng dậy trả tiền rồi chia tay với hai bạn là về.

    Về tới nhà, nghĩ lại giấc mộng, Tây Môn Khánh tuy cho là điềm tốt nhưng không giải được, trong lòng cứ nghĩ ngợi buồn phiền. Chợt nhớ tới lời ứng Bá tước định tới chùa Vĩnh Phúc nhờ mấy vị hòa thượng giải mộng thì Trác Nhị thư lại lâm cơn mê sảng. Nguyệt nương sai a hoàn Ngọc Tiêu ta mời Tây Môn Khánh vào phòng Trác Nhị Thư. Tây Môn Khánh vội bước vào.

    Nguyệt nương nói:

    - Hôm nay Tam nương lại mê man.

    Tây Môn Khánh bước tới nhìn, biết là bệnh tình trầm trọng hơn nhiều, bèn lấy một tấm danh thiếp, sai Đại An Nhi tới mời Thái y đến chữa trị. Sau đó mũ áo đoàng hoàng cưỡi lừa tới chùa Vĩnh Phúc...

    Lại nói về Võ Tòng, một hôm đang tản bộ trên đường thì nghe đằng sau có một người gọi tên mình mà bảo:

    - Hiền đệ à, hiền đệ đã được cử làm Đô đầu ở huyện này nên không còn nghĩ đến ta nữa chăng ?

    Võ Tòng kinh ngạc quay lại, thì không ai xa lạ, chính là Võ Đại, người anh ruột mà bấy lâu nay chàng vẫn ra công tìm kiếm.

    Nguyên là Võ Đại từ khi anh em thất lạc, vì gặp buổi gạo châu củi quế nên mới tới đường Tử Thạch trong huyện Thanh Hà, dựng nhà mà ở, kiếm kế sinh nhai, nhưng Võ Đại tướng mạo xấu xí, sức lực yếu đuối nên thường bị người khinh thường kiếm ăn cũng chật vật lắm, bên mình chỉ có đứa con gái mười hai tuổi là Nghênh Nhi. Cha con sống heo hút như vậy được chừng nửa năm thì tiền bạc hết nhẵn, phải tới nương náu tại nhà họ Trương ở phường Đại Nhai. Người trong nhà họ Trương thấy Võ Đại thật thà nên cũng thương tình giúp đỡ nhờ đó Võ Đại có vốn, làm nghề bán bánh để sống qua ngày. Nhà họ Trương thấy vậy càng quý mến, giúp đỡ tận tình. Võ Đại tương đối đã dễ chịu.

    Chủ gia đình họ Trương là Trương Đại Hộ, gia tài ức vạn, có cả trăm căn nhà trong huyện, năm đó đã ngoại lục tuần mà dưới gối không một mụn con. Mẹ là Từ thị, lo việc nhà rất nghiêm khắc nên trong nhà không có nữ gia nhân trẻ tuổi. Đại Hộ thường đấm nghe than rằng:

    - Tôi ngần này tuổi rồi, một mụn con không có, trai không có mà gái cũng không, gia tài ức vạn cũng chẳng làm gì.

    Người mẹ bảo:

    - Nếu vậy thì để mua mấy a hoàn tập cho chúng hát xướng đàn ca ngày đêm hầu hạ cho bớt phiền muộn.

    Đại Hộ mừng lắm, tạ Ơn mẹ. Mấy hôm sau, người mẹ nhờ mai mối mua cho Đại Hộ hai a hoàn trẻ đẹp, một người tên là Phan Kim Liên, người kia tên là Bạch Ngọc liên. Ngọc liên khéo léo nhiều tài. Kim Liên là con gái của Phan Tài ở ngoài cửa Nam, từ nhỏ dã có nhan sắc hơn người, lại có đôi bàn chân nhỏ bé rất xinh. Sau khi cha chết, người mẹ nghèo khổ quá, nên từ năm chín tuổi Kim liên đã bị mẹ bàn vào phủ Vương Chiêu Tuyên. Tại đây Kim Liên được học đàn hát lại được học cả chữ nghĩa. Kim Liên chỉ mới mười ba, đã tỏ ra quyền biến lanh lợi, giỏi âm nhạc, khéo trang diềm, rành việc nữ công may vá, viết chữ, đọc được sách, cử chỉ yểu điệu, biết quyến rũ người khác. Đến năm nàng mười lăm tuổi thì Vương Chiêu Tuyên qua đời, người mẹ mới xin cho nàng ra để bán cho nhà họ Trương với giá ba mươi lạng bạc. Trương Đại Hộ cho cả Kim Liên lẫn ngọc Liên học âm nhạc, Kim liên đã biết sẵn nên học rất mau. Kim Liên học đàn tỳ bà, còn ngọc Liên học đàn tranh. Từ thị rất quí hai người, cho hai người ở chung một phòng, lại thường cấp tiền bạc xiêm y và các đồ trang sức. Nhưng về sau Ngọc Liên từ trần, chỉ còn lại Kim Liên, lúc đó khoảng mười tám tuổi, nhan sắc lồ lộ muôn phần kiều diễm, được Trương Đại Hộ nạp làm thiếp. Nhưng chưa được nửa năm sau thì Đại Hộ lâm trọng bệnh. Kim Liên bị Từ thị hành hạ đánh đập. Đại Hộ biết chuyện, thương lắm, định tìm người đàng hoàng đem Kim Liên gả cho. Người trong nhà đều nói là Võ Đại thực thà trung hậu, nên gả Kim Liên cho Võ Đại. Trương Đại Hộ cho là phải, bèn gọi Võ Đại tới, gả Kim liên cho mà không đòi hỏi một xu, lại còn thêm cho tiền bạc nữa, tính ra cũng ba trăm lạng. Sau đó thỉnh thoảng lại ngầm giúp tiền bạc cho Võ Đại nữa. Ít lâu sau, Đạn Hộ trở bệnh mà chết. Từ thị bèn trục xuất Võ Đại và Kim Liên. Võ Đại tìm tới thuê hai căn nhà của Tây Vương Hoàng Thân ở đường Tử Thạch, sống với nghề làm bánh. Phần Kim l.iên thì từ khi về làm vợ Võ Đại mặt mày xấu xí, tính tình quê mùa chất phát thì ghét lắm thường tìm chuyện cãi cọ, rồi oán trách Trương Đại Hộ cho rằng trong đời hết đàn ông con trai rồi hay sao mà lại đem mình gả cho một người như Võ Đại. Cho hay đàn bà con gái trời cho chút nhan sắc, lại có tính tình lanh lợi, thì đâu có chịu sống yên với người chồng tầm thường. Từ xưa tới nay, giai nhân tài tử được sống bên nhau là điều hiếm có Phần Võ Đại thì cứ chăm chỉ làm ăn, ngày ngày đi bán bánh, đến tối mới về nhà. Kim Liên ở nhà một mình thì suốt ngày chỉ nhìn nhan sắc mình trong gương mà than vắn thở dài thương tiếc cho mình.

    Âu cũng là thói thường của đàn bà con gái, chẳng nên trách làm gì.

    Một hôm, nhân có người gánh hàng xén đi ngang, Kim Liên vén rèm ra gọi mua kim chỉ, mua xong, lại buông rèm xuống mà quay vào nhà. Nào ngờ Tây Môn Khánh đi ngang trông thấy, nhận ngay ra nhan sắc tuyệt trần, liền để ý, nhưng muốn bước tới hỏi thử thì không tiện vì có Ứng Bá Tước cùng đi, không khéo léo thì không thành sự. Đang lúc trù trừ chưa biết tính sao thì một người đàn bà từ nhà kế bên bước ra, đó là Vương ma ma.

    Vương ma ma gọi:

    - Ứng nhị thúc! Đi đâu vậy ?

    Ứng Bá Tước biết rõ tâm sự của Tây Môn Khánh, nhưng chưa biết tìm cách nào để giúp, chợt nghe gọi, quay lại nhận ra Vương ma ma thì vui mừng hỏi ngay:

    - Nhà bên cạnh đây là của ai vậy ? Tên tuổi nghề nghiệp thế nào Vương ma ma đáp:

    - Nhà bên trái nhà tôi là của người họ Trương, có con trai làm việc trong huyện, gia đình chừng bảy tám người, gia pháp nghiêm ngặt lắm. Nhị ca có quen biết họ Trương chăng ?

    Ứng Bá tước bực mình nói:

    - Còn nhà bên này thì sao ?

    Vương ma ma đáp:

    - Nhà bên này là của một người buôn bán, nhị gia hỏi làm gì?

    Ứng Bá Tước nói bừa:

    - Nhà đó hình như của Vương Hoàng Thân, tôi có người bạn cũng muốn thuê nhà của Vương Hoàng Thân, nên muốn hỏi giá cả như thế nào.

    Vương ma ma nói:

    - Thì nhà đó là của Vương Hoàng Thân rồi, cả huyện Thanh Hà này ai lại không biết. Nếu muốn hỏi giá cả thuê nhà thì để tôi hỏi cho rồi hôm nào tôi tới cho biết.

    Ứng Bá Tước hỏi tiếp :

    - Nhà đó buôn bán, nhưng mà buôn bán gì vậy ? Sao suốt ngày cứ buông rèm kín mít như thế ? Lại chẳng thấy bóng người nào cả.

    Vương ma ma nói:

    - Chuyện người ta thì mặc người ta, để tâm làm gì ?

    Nói xong quay vào nhà. Ứng Bá Tước thấy Vương ma ma không chịu nói về người thiếu nữ vừa rồi thì trong lòng nghi hoặc lắm, bèn cùng Tây Môn Khánh tiếp tục đi. Cũng lúc đó Võ Đại đi bán bánh trở về, từ xa thấy ứng Bá Tước đứng nói chuyện với Vương ma ma. Lúc Võ Đại tới gần thì ứng Bá Tước cũng vừa bỏ đi. Võ Đại lấy làm lạ lắm. Ứng Bá Tước và Vương ma ma thì không thấy Võ Đại.

    Vào tới nhà, Võ Đại càng sinh nghi, bèn bàn tính với vợ là dọn nhà đi nơi khác. Kim Liên nói:

    - Ở đây thuê mướn chật hẹp cũng bất tiện, chi bằng gom góp tiền bạc mua một căn nhà đàng hoàng mà ở cho người ngoài khỏi khinh khi.

    Võ Đại nói:

    - Làm gì có tiền bây giờ ?

    Kim Liên hỏi:

    - Chàng là thân đàn ông mà không kiếm ra tiền. Thôi, mấy thứ trang sức của tôi đó, đem cầm đi mà lấy tiền, sau này có ăn thì sẽ chuộc lại.

    Võ Đại nghe lời vợ, gom góp cầm cố được ít tiền, thuê một căn nhà lầu bốn phòng, ở gần huyện, rất đẹp đẽ yên tĩnh. Sau khi dọn tới nhà mới, Võ Đại lại vẫn tiếp tục bán bánh. ít lâu sau thì Vương ma ma cũng dọn tới ở nhà kế bên, lại trở thành hàng xóm của Võ Đại như trước.

    Tình cờ hôm nay Võ Đại gặp lại em ruột mình. Anh em gặp nhau mừng rỡ khôn xiết. Võ Đại mời em về thà, lên lầu nói chuyện, lại gọi vợ ra gặp mặt, đoạn nói với vợ:

    - Người dũng sĩ tay không đả hổ tại núi Cảnh Dương ngày trước, chính là em của chúng ta đây.

    Hiện nhị đệ đang sung chức Đô đầu.

    Kim Liên chắp tay nói với Võ Tòng:

    - Xin chào thúc thúc, chúc thúc thúc vạn phúc.

    Võ Tòng cũng vội thi lễ, cúi gập người mà vái. Kim Liên bước tới đỡ Võ Tòng dậy mà bảo:

    - Xin thúc thúc tự nhiên để tôi khỏi mang tội.

    Võ Tòng vội quỳ ngay xuống nói:

    - Xin tẩu tẩu nhận lễ ra mắt của tôi.

    Hai người cứ dùng dằng rồi cả hai đều quỳ xuống lạy nhau. Sau đó, Nghênh Nhi đem trà ra. Anh em Võ Đại, Võ Tòng uống trà trò chuyện. Võ Tòng thấy nhan sắc chị dâu mình thì không được yên lòng. Lát sau, Võ Đại ra phố mua đồ ăn để làm tiệc đãi em. Võ Tòng ở lại trên lầu, bỗng nghe tiếng Nghênh Nhi khóc dưới nhà, vội xuống hỏi:

    - Sao cháu khóc vậy ?

    Nghênh Nhi không đáp, chỉ nhìn Kim Liên. Kim liên nói:

    - Thúc thúc không biết, con súc sinh này hư lắm, lại được ca ca của thúc thúc nuông chiều nên không biết sợ ai, tôi nói nó cũng chẳng thèm nghe.

    Võ Tòng bảo:

    - Tẩu tẩu cũng chẳng nên trách mắng cháu. Cháu nó còn nhỏ, mà ca ca tôi không có con trai, chỉ có mụn con gái dó là niềm an ủi mà thôi.

    Kim Liên nói:

    - Thúc thúc không biết đấy thôi, có phải là tôi đánh nó đâu, chẳng là hồi nãy tôi sai nó sang bên Vương ma ma cạnh đây mượn cái bình rượu về để mua rượu mời thúc thúc, vậy mà nó lơ đễnh thế nào, làm vỡ ngay cái bình rượu của người ta. Cũng may là tôi với Vương ma ma là chỗ thân tình chứ không thì phải đền cho người ta rồi.

    Võ tòng nói:

    - Nếu vậy thì thôi, có gì phải nói nữa.

    Đoạn bước ra cửa đứng chờ anh, rồi nhân đó định dạo bước xem phố xá loanh quanh, nhưng Kim Liên đã bước theo nói:

    - Xin nhị thúc đừng đi đâu, nhà tôi đi mua đồ ăn cũng sắp về rồi đó.

    Võ Tòng quay lại nói:

    - Tôi cũng chỉ định đi loanh quanh đây mà thôi. Cũng lúc đó, Vương ma ma từ bên cạnh chạy ra hỏi Kim Liên:

    - Vị này là ai vậy, có phải là thân thích của đại gia bên nhà chăng ?

    Kim Liên đáp:

    - Ma ma à, đây là em ruột của đại gia tôi, mới sung chức Đô đầu đó Vương ma ma nói:

    - Thảo nào tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt, nhưng sao anh em ruột mà khác nhau một trời một vực như vậy ?

    Võ Tòng quay lại nhìn thẳng vào Vương ma ma Vương ma ma cúi đầu mà quay vào nhà. Võ Tòng thấy Vương ma ma có vẻ gian xảo, bèn hỏi Kim liên:

    - Người đàn bà vừa rồi có phải là Vương ma ma ở kế bên chăng ?

    Kim Liên đáp:

    - Phải đó Đang nói chuyện thì Võ Đại mua rượu thịt về tới, đưa cho vợ bảo làm tiệc mau mau. Kim Liên nói:

    - Một mình tôi làm sợ không kịp, có lẽ nên cho Nghênh Nhi sang mời Vương ma ma qua đây làm giúp, rồi mời Vương ma ma dùng tiệc luôn cho vui.

    Võ Đại nói:

    - Vậy cũng được.

    Rồi tự mình chạy sang nhờ Vương ma ma.

    Tiệc làm xong, cho dọn tại cái bàn lớn trên lầu rồi mời Võ Tòng ăn. Bữa tiệc rất thịnh soạn. Vương ma ma thấy cái bình rượu mình cho mượn bị vỡ một miếng nhỏ bèn hỏi Kim Liên:

    - Cái bình rượu sao lại thế này ?

    Kim Liên nói:

    - Cũng tại cái con súc sinh nhà này đó, thôi để cha nó kiếm cái khác đền cho ma ma.

    Nói xong hâm rượu, tự tay mang lên lầu. Võ Đại mời em ngồi đối diện với mình. Võ Tòng hỏi:

    - Cháu Nghênh Nhi đâu ?

    Võ Đại nghe hỏi, đang định gọi con thì Kim Liên đứng bên nói:

    - Chắc nó lại ra đường chơi rồi chứ không đâu.

    Nói xong ngồi xuống cạnh chồng, trót rượu ra mời Võ Tòng.

    Võ Đại bảo:

    - Hôm nay nhị đệ chắc rảnh rang, xin cứ uống rượu thật tình.

    Võ Tòng đáp:

    - Chỉ sợ trong huyện có chuyện gì cần mà thôi.

    Anh em vừa ăn uống vừa chuyện trò. Võ Tòng ăn uống no say rồi nói:

    - Thôi tôi cũng đủ rồi, xin để hôm khác tới thăm ca ca và tẩu tẩu Nói xong đứng dậy cáo từ. Vợ chồng Võ Đại đưa tiễn Võ Tòng ra tới đường. Võ Đại bảo:

    - Nhị đệ cũng nên năng tới đây với tôi, anh em mình trò chuyện, chẳng gì cũng là ruột thịt. Vả lại nhị đệ bây giờ đường đường là một vị Đô đầu trong huyện này, hàng xóm láng giềng biết tôi là anh ruột của nhị đệ thì cũng phải nể vì.

    Võ Tòng vâng lời rồi cáo từ mà về...

    --------------------------------
    1Sùng Trinh là niên hiệu của Minh Nghệ Tông (1628-1644), ông vua cuối cùng của nhà Minh

     
     
    PAGE OF 54
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISKỊCH BẢNEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Trong Vòng tay Đàn Ông

    Nguyễn Thụy Long

    1.Tinh Thần Biến [16777215]
    2.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    3.Vũ Thần [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5626242]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5475836]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4614301]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4441926]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4311007]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3571711]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2668249]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2316314]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2280971]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [1993253]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1970710]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1543592]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1456531]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1430123]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1200411]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1139889]
    20.Cô Gái Đồ Long [1066108]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1055545]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1017373]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1016302]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [948812]
    25.Quỷ Bảo [908954]
    26.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [901933]
    27.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [895269]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [869014]
    29.Hắc Nho [840713]
    30.Điệu Sáo Mê Hồn [831470]
    31.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [831468]
    32.Hóa Huyết Thần Công [745431]
    33.Tru Tiên [742906]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [735718]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [654130]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [619540]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [590978]
    38.Nghịch Thủy Hàn [559943]
    39.Hoàn Hảo [553830]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [530476]
    41.Tầm Tần Ký [507589]
    42.Thiên Đường [450105]
    43.Song Nữ Hiệp Hồng Y [446625]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [440441]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [437042]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [426584]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [417549]
    48.Cậu Chó [412372]
    49.If You Are Here [409631]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [399834]
      Copyright © 2002-2016 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm