hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nhật Tiến » Hành Trình Chữ Nghĩa[2302] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   5.5/7 - 2 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nhật Tiến

    Hành Trình Chữ Nghĩa



    MỤC LỤC 


     

    Lời Nói Đầu

    Hồi xưa, thuở còn trẻ, khoảng thập niên 50 ở Hà Nội, ai đã từng thích viết văn thì thường hay sinh hoạt trong những Bút Nhóm. Có nhiều tên tuổi của những sinh hoạt Bút Nhóm đó sau này trở thành những cây bút thành danh như Nguyễn Đình Toàn, Song Hồ, Dương Vy Long, Hồ My, Tạ Vũ, Vũ Mai Anh, Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu…v.v…

    Khoảng năm 1952, nhờ sự khích lệ của bạn bè trong Nhóm, tôi cũng đã được đăng một truyện ngắn đầu tiên trên báo Giang Sơn, tờ nhật báo của bác sĩ Hoàng Cơ Bình ở Hà Nội. Thế rồi sau đó, tôi cứ tiếp tục hăm hở viết và có bài trên các báo ở thời đó như Giang Sơn, Chánh Đạo, Thời Tập, Cải Tạo, Hồ Gươm…v..v…Những năm chập chững đó, tôi không ngờ đã là những bước khởi đầu cho một cuộc hành trình chữ nghĩa không ngơi nghỉ,  kéo dài cho tới năm nay (2012) thì đã là đúng 60 năm. Gọi là không ngơi nghỉ vì sau Hiệp định Gènève 1954, tôi di cư vào Sài Gòn gặp được nhiều cơ hội tốt đẹp để có thể  tiếp tục tham gia các sinh hoạt văn hóa, liên tục cho tới tháng 4-1975.

    Bẵng đi gần 5 năm, từ 1975 đến 1979 tưởng như sẽ không bao giờ còn có dịp cầm bút trở lại, thế mà tôi lại vượt thoát ra đi, may mắn tới được bến bờ tự do, để cuối năm 1979, ngồi dưới túp lá tả tơi của trại tỵ nạn Songkhla Thái Lan, tôi lại có thể tiếp tục trở lại với sinh hoạt chữ nghĩa. Hiện nay, trong tay tôi còn 2 bản thảo, một cuốn mang tên Bèo Giạt Mây Trôi viết dở dang, một cuốn sắp hoàn tất, sẽ in trong nay mai, mang tựa đề "Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác Dưới Mái Nhà Trường XHCN".

    Trong suốt cuộc hành trình chữ nghĩa dài dằng dặc đó, tất nhiên tôi đã để lại trên đường đi khá nhiều dấu ấn. Vui có, buồn có, hay có, dở có, thất bại đã  lắm mà thành công thì cũng được ít nhiều. Tuy nhiên chẳng bao giờ, tôi cảm thấy phải hối tiếc về bất cứ điều gì mình đã viết ra, dù cho có phải trải qua bất cứ giai đoạn khó khăn nào của thời thế.

    Thông thường, những dấu ấn trên đường đi, ta vốn chỉ nên coi là những kỷ niệm. Mà kỷ niệm nào trong quá khứ dù vui hay buồn thì cũng chỉ nên ghi gói trong lòng. Cuộc hí trường trong đời một con người, bất quá cũng chỉ kéo dài trong giới hạn dăm bẩy chục năm, nhiều lắm là trăm năm. Rồi hai tay buông xuôi. Mọi thứ trên hình hài sẽ trở về với cát bụi.

    Nhưng hình hài thì về với cát bụi, còn những dấu ấn để lại trong phạm vi tinh thần thì có sẽ phai mờ trong lớp bụi thời gian hay không ?

    Tôi nghĩ là không, vì nếu nó phai mờ trong trí nhớ để không còn được ai nhắc nhở tới thì lịch sử đâu còn lý do gì mà tồn tại ?

    Cho nên, trong sinh hoạt chữ nghĩa, đừng tưởng cứ hạ bút xuống rồi là phủi tay hết trách nhiệm. Rất có thể một vài năm sau, có khi cả chục năm sau, hay lâu lắc hơn nữa, ở những thế hệ kế tiếp cũng vẫn sẽ có kẻ lần mò vào thư viện tìm đọc lại những trang sách báo cũ để tìm hiểu về các lớp cha, anh với những gì mà họ đã làm, đã đóng góp cho lịch sử, và ngay cả về phương thức xử thế, đạo đức, nhân cách của họ nữa.

    Nhưng tiếc thay, trong cả rừng sách báo còn lưu trữ đó, vàng thau mọi thứ đã vô cùng lẫn lộn. Ở giữa những trang giấy mang tâm huyết của nhiều tác giả thì cũng đã tồn tại nhiều thứ giả trá của những tên lộn sòng nhân danh ngòi bút đã và đang còn tiếp tục quấy hôi bôi nhọ lên sinh hoạt chữ nghĩa bằng cách sẵn sàng vấy bùn lên bất cứ ai mà chúng ganh ghét. Thậm chí có nhiều trường hợp chúng coi nạn nhân như một thứ bàn đạp, sẵn sàng giẫm lên danh dự, tư cách, sự nghiệp của người khác để thỏa mãn một thứ mặc cảm tự ti hay hòng tạo dựng những nấc thang danh vọng cho bản thân mình. Tình trạng này thật sự đã và đang còn làm vẩn đục thị trường chữ nghĩa từ nhiều chục năm qua. Và vì đây là xứ sở tự do, nên sự tự do đã bị lạm dụng với một tinh thần rất vô trách nhiệm nên nó vẫn đang còn được nuôi dưỡng để tiếp tục kéo dài.

    Trong cuộc hành trình của chữ nghĩa như đã kể trên, chính tôi đã từng là nạn nhân của nhiều tên lộn sòng vào giới cầm bút qua nhiều vụ xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, chà đạp danh dự một cách bất cận nhân tình. Rất nhiều thứ ngôn từ thô lỗ, hạ cấp đã được bọn chúng sử dụng để lăng mạ tôi một cách vô tội vạ, cứ như thể chúng có toàn quyền áp đặt lên những người chúng ghét bất cứ hình phạt nào, chẳng cần quan tâm đến truyền thống giữ gìn lương tâm, liêm sỉ của một con người mang danh nghĩa cầm bút.

    Nhưng đã có một thời gian dài tôi hoàn toàn giữ im lặng trước những đòn thù vũ bão đó. Một phần vì tôi bận rộn nhiều chuyện phải làm, một phần khác, tôi tự nghĩ không nên phí thì giờ vào cái việc cứ phải săm soi lo gột rửa gót giầy giữa lúc trời còn đang mưa.

    Tuy nhiên có những vụ vì lý do an ninh, có khi đến cả sinh mạng của người công chính mà tôi bó buộc phải lên tiếng. Đây là trường hợp tên Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút tờ Làng Văn ở Canada, vào thời điểm 1994, hắn vu khống tôi quyên góp của văn nghệ sĩ hải ngoại tới 18 ngàn đô la rồi đem về nước trao cho nhà văn Hoàng Lại Giang, Giám đốc phía Nam của nhà xuất bản Văn Học để nhà văn này in cuốn Tuyển Tập Văn Chương Hải Ngoại của 35 tác giả ngoài nước.

    Hắn viết rằng số tiền này tôi đã trao tận tay cho Hoàng Lại Giang để lo việc in ấn, nhưng sách thì không in mà tiền thì biến mất. Thử hỏi vào thời điểm 1994, VN hãy còn ở giai đoạn sơ khởi vừa mới mở cửa như thế, thì trong vòng vây của các thế lực bảo thủ ở trong nước, vấn đề  an ninh hay sinh mạng của nhà văn Hoàng Lại Giang sẽ ra sao khi bị nghi ngờ nhận tiền đút lót của người nước ngoài, im ỉm giữ một mình không chia chác cho ai ? Trước tình cảnh này, tôi bó buộc phải lên tiếng trả lại sự thật cho vụ này, vì nhà văn Hoàng lại Giang chưa bao giờ cầm một xu teng nào do chính tôi trao lại ( Xin mời đọc bài viết ở trang 125).

    Rồi một chuyện khác. Có thể độc giả nhiều nơi tại hải ngoại vốn ra đi từ những ngày đầu sau biến cố 30-4-1975, sẽ khinh miệt cá nhân tôi đến mức độ nào, khi đọc những lời vu khống, bịa đặt một cách trắng trợn của tên Nguyễn Thiếu Nhẫn đăng trên tờ SaiGon Times của nhà thơ Thái Tú Hạp xuất bản ở Los Angeles với nội dung cho thấy rằng :

    ... " ...sau 30 tháng 4 năm 1975, ông Nhật Tiến đã đeo băng đỏ, hướng dẫn "công an nhân dân" đi bắt giữ văn nghệ sĩ phản động để lập công với nhà cầm quyền Việt Cộng, rốt cuộc chẳng được trả công bèn dẫn vợ con xuống thuyền vượt biển, gặp cướp Thái Lan!"

    Từ bấy đến nay (1995), thời gian cũng đã trên hai chục năm qua, các văn nghệ sĩ bị kẹt lại, bị CS bắt cầm tù hồi năm 1975, 1976 đã được trả tự do hết và rất nhiều người đã ra định cư tại hải ngoại. Nhiều người còn tiếp tục viết sách, viết báo ở ngay  California này. Thế mà Nguyễn Thiếu Nhẫn có trưng ra được một bằng cớ nào về vụ tôi đeo băng đỏ, hướng dẫn công an nhân dân đi bắt văn nghệ sĩ đâu? Bởi làm sao mà trưng bằng cớ được khi mà trong suốt 20 năm vừa qua, những văn nghệ sĩ bị CS bắt cầm tù đã ra định cư ở hải ngoại  không hề có một ai lên tiếng về chuyện này, lý do dễ hiểu là chuyện đó  hoàn toàn do Nguyễn Thiếu Nhẫn bịa đặt. Với tâm địa nhân danh người cầm bút nhưng sẵn sàng bịa chuyện để hạ nhục người khác như thế, thử hỏi tất cả những gì do Nguyễn Thiếu Nhẫn viết ra có còn đáng được tin cậy nữa hay không ? (Xin coi bài phỏng vấn của Vị Giang, trang 133).

    Nói chung thì nếu tôi có bắt buộc phải lên tiếng một đôi lần trong quá khứ thì đó cũng chỉ là chuyện chẳng đặng đừng. Và phải nói cho chân thật rằng tôi thật sự đau buồn khi phải chứng kiến những con người công chính trong sinh hoạt văn chương chữ nghĩa như Phan Nhật Nam, như Hà Thúc Sinh, như Đỗ Ngọc Yến hay Nguyễn Chí Thiện….tất cả cũng đã từng là nạn nhân của các cuộc vùi giập không thương tiếc.

    ° ° °

    Quả là đời sống có muôn ngàn hoàn cảnh, nỗi niềm kể sao cho hết. Nhưng khi ngồi nhìn lại cả một hành trình chữ nghĩa kéo dài đã tới 60 năm, tôi thấy việc gom lại những bài viết có tính cách tiêu biểu, những đọan tường thuật hay những ghi nhận về các biến cố lớn lao đáng ghi nhớ trong suốt khoảng thời gian dài nói trên, thành những tập tài liệu lưu trữ hay tham khảo thì cũng là việc nên làm. Đó là lý do bạn đọc đã cầm trên tay cuốn đầu tiên trong nhiều tập Hành Trình Chữ Nghĩa sẽ còn tiếp tục ấn hành trong tương lai.

    Và bởi vì mỗi thời điểm có những biến cố hay dữ kiện phát sinh trong hoàn cảnh lịch sử của thời điểm đó, nên trước mỗi bài viết, tôi in thêm dấu nhãn thời gian của từng bài. Đây là một dụng ý cần thiết, vì nó nhắc nhở rằng bạn đọc đang lùi về quá khứ. Và để nhận biết rõ ràng các tâm trạng đang được diễn tả, người đọc cũng cần lui nhận thức của mình về thời gian đó. Bởi mỗi thời điểm đều có một hoàn cảnh lịch sử đi kèm, nó chi phối hay phản ánh cung cách ứng xử hay suy nghĩ của mọi con người. Trong cương vị của người đã từng viết, từng phát biểu trong nhiều cuộc phỏng vấn, chính tôi cũng chỉ là một cá nhân đã từng chia sẻ nhiều suy tư hay cảm nhận của mọi người vốn đang sinh sống trong hoàn cảnh lịch sử đó.

    NHẬT TIẾN
    California ngày 8 tháng 2 năm 2012



    Chương 1

    Thời điểm Hà Nội 1950 -1954

    NHỮNG NGƯỜI BAO NĂM CŨ

     

    Năm mươi năm trời khi đã trôi qua thì phải kể là những năm cũ, và những con người đã từng sinh hoạt với nhau trong thời điểm ấy phải là những người thuộc bao năm cũ. Tôi muốn nói đến những bạn bè văn nghệ vào thời kỳ họ còn trẻ trung, còn mang những tâm hồn tràn đầy tươi sáng và tấm lòng yêu văn chương nghệ thuật của họ còn đầy sôi nổi, nhiệt thành. Họ chính là những bạn đồng lứa, đồng hành với tôi, hoặc trước tôi chỉ vài ba tuổi và tất cả hầu như chỉ mới vừa mới chính thức bước vào làng văn hay mới chập chững những bước đầu tiên với ước mơ trở thành người cầm bút. Có người hiện còn sống, cũng có nhiều người đã vĩnh viễn ra đi. Tên tuổi của họ cho đến nay, có thể vẫn còn được độc giả nhớ đến nhưng cũng có nhiều bút hiệu hầu như nay đã bị vùi sâu theo dòng đời quên lãng. Đó là những Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Nguyễn Nam Tê, Mọc Đình Nhân, Vũ Mai Anh, Hùng Phong, Kiều Liên Sơn, Huy Sơn, Hiệp Nhân, Lê Ninh, Hồ My, Song Hồ, Tạ Vũ..vân...vân...

    Tại Hà Nội, vào thời điểm đầu thập niên 50, bọn trẻ chúng tôi đã bước vào thế giới của văn nghệ một cách vô cùng say mê. Tuy chưa bước qua hay vừa bước qua tuổi mười tám mà nhiều người đã có thơ, có văn, có truyện in trên báo hay thậm chí, in cả thành sách. Hùng Phong, bút hiệu của Nguyễn Đức Cầu, năm ấy mới là cậu học trò lớp đệ lục (năm thứ hai bậc trung học) mà đã được đăng một phóng sự dài nhiều kỳ lấy tên là Con Cò Mày Đi Ăn Đêm (viết về những đường dây buôn lậu từ hậu phương vào thành) trên tờ nhật báo Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên. Rồi Vũ Mai Anh học trò lớp đệ ngũ Chu văn An được nhà xuất bản Chính Ký ở phố Sinh Từ in những tiểu thuyết Duyên Kiếp, Phũ Phàng; Hiệp Nhân lớp đệ tam tự in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc; Lê Ninh ra giai phẩm Lửa Lựu; Nguyễn Nam Tê vừa đạp xích lô, vừa làm thơ để ra tập Tin Về Đất Bắc; Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; Song Hồ, Kiều Liên Sơn, Hồ My, Tạ Vũ v.v… có thơ in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại ở Sài Gòn.

    Đất nước vào thời kỳ đó vẫn còn đang chìm đắm trong chiến tranh, nhưng sự tàn phá của nó so ra không bằng một góc của cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua. Ở nhiều nơi, nhiều thành phố đời sống dân chúng vẫn mang vẻ thanh bình, và cái đời sống thanh bình của thuở ấy so ra không có những thay đổi khốc liệt hay những tệ nạn kinh hoàng như cuộc sống thanh bình ở quê nhà hiện nay.

    Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hồi cư về sinh sống ở Hà Nội vào khoảng 1952. Hình như trước đó, năm 1949, tuy mới 16, 17 chưa tới tuổi thành niên nhưng anh đã là một chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Lăn lộn qua nhiều chiến trường, lòng "anh chiến sĩ" không nguôi nhớ về Hà Nội. Chẳng hiểu chàng nhớ tới ai mà ngay giữa rừng thông Thái Nguyên, vùng núi rừng Việt Bắc, Song Hồ đã viết bài thơ đầu tiên mang tên "Thư Gửi người Em Hà Nội" trong có những câu :

    Anh viết lá thư về Hà Nội

    Giữa lúc bóng chiều

    Ngả mầu sắc tối

    Lòng người chiến sĩ căm căm

    Đã bao tháng năm ?

    Chưa bức thư nào

    Về thăm người em gái nhỏ

    Không biết anh đi từ độ nọ

    Người em còn nhớ tới không?

    Hay ở nơi đây

    Ánh sáng Kinh Thành

    Em cười trên tay kẻ khác

    Nhưng anh vẫn tin

    Tình em còn mộc mạc

    Như tình anh

    Mối tình giữa buổi chiến tranh…..

    Song Hồ (1949)

    Sau này, khi trở về Hà Nội, Song Hồ tiếp tục đi học lại (trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham) và tiếp tục làm thơ. Thơ của anh khi đó không còn vấn vương tình ái nữa mà mang nặng tính cảm hoài về thời cuộc, thế sự :

    Đây Hà Nội  trời mưa tuôn rả rích

    Bê bết bùn lầy nước đọng nhớp nhơ

    Đèn nê-ông tỏa ánh điện xanh lơ

    Nhạc cuồng loạn, gót giầy lay lắc ván

    Một rồi hai, trăm ngàn rồi đến vạn

    Đèn nhạt đèn xanh đèn tím đèn vàng

    Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang

    Mầu biến đổi là lòng người biến đổi

    Hiện dần trong bóng tối

    Có người  con gái miền quê

    Khăn yếm bỏ đi rồi

    Làn tóc loăn xoăn

    Đỏ mọng đôi môi

    Chiều thứ bẩy

    Giầy đinh vang hè phố…..

    Song Hồ (1953)

    Nhắc đến Song Hồ thì sau này bạn bè không thể quên được bài thơ anh đã làm vào năm 1981, tuy ngắn gọn mà đã diễn tả được hoàn cảnh tan hoang, kinh hoàng, khốn khổ mà dân chúng miền Nam đã phải chịu đựng sau khi CS vừa tiến chiếm miền Nam :

    HỠI EM NHỎ CÔ ĐƠN

    Hỡi em nhỏ cô đơn!

    Đang lang thang ngoài phố.

    Em ơi đi đâu đó?

    Cho ta hỏi đôi lời:

    - Cha đâu? - Bị cải tạo !

    - Mẹ đâu? - Buôn chợ trời !

    - Anh đâu? - Ở Cam Bốt !

    - Chị đâu? - V­ượt biên rồi !

    - Ông đâu? - Đấu tố chết !

    - Bà đâu? - Buồn qua đời !

    - Cô đâu? - Kinh tế mới !

    - Bác đâu? - Tự tử rồi

     Thôi ! thôi ! Không hỏi nữa !

    Tim ta quá bồi hồi

     Sao em còn nhỏ tuổi

    Đã biết nhiều chuyện đời 

    Sao mảnh đất nhỏ bé

    Xẩy nhiều chuyện rụng rời….

    …….

    (1981)

     

    Trở lại khuynh hướng sáng tác của những người làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ giữa thập niên 50, khoảng từ 1951 đến 1954, ngoài ca ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, nội dung sáng tác cũng đã mang nhiều dấu tích xã hội vì họ cũng suy tư về các hoàn cảnh sống lầm than, những cuộc đời bị đối xử bất công, bị chìm đắm trong sự cùng quẫn nghèo khó. Nhẹ nhàng mang tính chất học trò nghèo khó thì có những câu thơ của Tạ Vũ viết năm 1952:

    Bạn ơi

    Trên trang giấy trắng,

    Dòng mực chảy đều

    Tai nóng bừng vì bài toán không ra

    Có nhớ đến tôi

    Bỏ trường - không học phí

    Duyên thế hệ thôi từ nay cách biệt !

    Tạ Vũ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì, có lúc lại vào nằm ở khu nuôi trẻ không nhà trong chùa Tầu gần phố Sinh Từ Hà Nội, chen chúc cùng với đám mồ côi cùng lứa tuổi để viết những dòng thơ như sau :

    Ánh đèn không soi mái phố

    Linh hồn dắt díu về đây

    Chăn đâu cho đầy giấc ngủ !

    Nôn nao cơm lưng dạ dầy !

     Thao thức nằm nhìn bóng tối

    Nghẹn ngào khóc dưới cửa ô

    đêm mơ thấy đời đổi mới

    Sáng ra buồn hơn bao giờ ....

    50 năm trời không gặp lại, nhưng tôi được biết, sau này Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ, và anh đã có thời nổi tiếng là một thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.

    Sâu sắc, già giặn hơn Tạ Vũ của năm 1953 thì có Song Nhất Nữ vơi bài Cửa Ô cũng được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy :

    Cửa Ô

    (Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)

    Mầu sắc u huyền,

    Đất trời nghiêng ngửa,

    Đô thành bừng lửa.

    Ngoại ô này lành lạnh sống trong đêm...

    Ánh đèn le lói

    Chìm đắm triền miên

    Nơi đây son phấn,

    Nơi đây kim tiền,

    Nơi đây trụy lạc,

    Nơi đây nghèo hèn

    Đêm về những giấc mơ điên

    Đêm về ngùn ngụt túi phiền lầm than

    Đêm về vàng bệch đèn tàn

    Đêm về điên loạn cung đàn xót xa

    Cửa Ô xa...

    Có nhiều bóng ma...

    Đi trong bê tha...

    Đi trong xênh phách

    Đi trong đói rách

    Đi trong lệ nhòa

    Thất thểu... la cà...

    Bóng ma... bóng ma...

     Đâu đây vàng ngọc lụa là,

    Cửa ô... ngõ hẻm... a ha! Cuộc đời!

      Song Nhất Nữ

    1953 (Nhựa Mới)

    Nguyễn Quốc Trinh, tác giả tập thơ Ươm Đẹp ngoài những vần thơ trữ tình:

    Hoa bừng dưới gót em qua

    Tôi cười dưới gót em xa

    Bát ngát Thơ ngân tiếng guốc

    Đường hương mở đón chân ngà,

    chàng trai ấy  cũng có khuynh hướng xã hội như bài thơ Dễ Hiểu sau đây:

    Dễ Hiểu

    Vì mải gò lưng kéo

    Cày cho kẻ khác no

    Chiều về nhai cỏ héo

    Chuồng hẹp nằm co ro

     Vì sống như trâu bò

    Kiếp này sang kiếp khác

    Cha già cha phát ho

    Mẹ già xương xộc xạc

     Vì đời buồn xơ xác

    U ám như đêm nghèo

    Mồ hôi chua áo rách

    Muối mặn quả cà meo

     Hoa đẹp nở vườn nào

    Thơ bầy trong tủ kính

    Con choắt vợ xanh xao

    Ngựa xe người đủng đỉnh

     Vì tôi muốn anh muốn

    Vì chúng ta cùng muốn

    Đêm già: xô ngã xiên !

    Ngày non:  cười thẳng dướn !

      NGUYỄN QUỐC TRINH

    (Ươm Đẹp-1953)

    Một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng trong giới bạn bè non trẻ chúng tôi là Nguyễn Thị Hồ My (sau đổi thành Hồ My). Đó chẳng phải là một nhà thơ nữ mỹ miều nào mà chỉ là bút hiệu của một chàng thư sinh cũng đang mài đũng quần ở bậc trung học. Cái sự tuy là nam nhi mà lại ưa lấy bút hiệu phái nữ hình như là một cái mốt của đám sáng tác trẻ trung ở thời kỳ đó, như Song Nhất Nữ  là bút hiệu của anh Đặng Bá Ngư (nay anh đã không còn nữa) hay Nguyễn Thị Yếm Thắm là bút hiệu của Nguyễn Yên Tri, một anh chàng học trò cùng lớp, cùng trường với tôi từ khi còn ở bậc tiểu học. Xin nhắc lại một bài thơ của Hồ My sáng tác năm 1953:

    Đi Đêm

    Viết tặng người lầm than

    Bên mái hàng hiên

    Một bóng người thấp thoáng đi đêm

    Gót mòn xiết tiếng rên rên,

    Như khóc cuộc đời tăm tối.

    Đêm nay dưới ánh đèn le lói

    Bóng mẹ già, vợ dại, con thơ,

    Đang bơ vơ

    Đang thao thức

    Đang rạo rực

    Đang mong chờ

    Nóng lòng mong kẻ bên bờ đường khuya.

     Tiếng guốc kéo lê thê

    lóc cóc

    lách cách

    Như nửa tỉnh nửa mê

    Đau thương lên bước bên hè

    Đêm dài, phố vắng, đường khuya một mình

     Bên hiên cố ý hay vô tình

    Guốc lê mãi gieo buồn người mất ngủ

    Mẹ già, con nhỏ.

    Vợ dại ai nuôi!

    Lang thang giữa lúc tối trời

    Lệ trào mặn chát trên môi!

    Vang hè phố vắng

    Tiếng bước vọng xa xôi

    Chập chờn chiếc bóng chơi vơi

    Hỡi ôi! Thương lấy kiếp người đi đêm.

    HỒ MY

    Ngoại Ô Hà Nội 20-10-53

    (Báo Tia Sáng / tháng 10-1953)

    ° ° °

    Bây giờ là thời điểm tháng 12 năm 2002, kể như là 50 năm tròn đã trôi qua. Ngồi đọc lại những tác phẩm cũ của bạn bè bao năm cũ, tôi như sống lại cái không khí của một thời "Ươm đẹp", cái thời mà cũng đã từng có nhiều chàng trai vừa lớn, mang những ước mơ dùng văn chương nghệ thuật để làm đẹp cho cuộc đời, mong cuộc đời vơi đi những nhọc nhằn, những bất công, những nghèo hèn, những thiếu thốn.

    Nhưng nằm giữa lòng Hà Nội vào một đêm của thời điểm năm 2000, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng rao hàng trong ngõ hẻm của một ngày đông lạnh giá. Tiếng rao sà sã cố ngoi lên từ một làn hơi đã sắp tàn lụi đập vào cái tĩnh lặng của nửa khuya về sáng nghe ai oán  như tiếng vạc kêu  đêm,  nó cũng ám ảnh giấc ngủ của tôi như tiếng guốc kéo lê trên hè phố mà Hồ My đã diễn tả cách đây một nửa thế kỷ. Nghĩa là vẫn còn có những cuộc sống lầm than ngay giữa lòng Hà Nội dù 50 năm trời cách biệt đã trôi qua. Đó là chưa kể tới những cảnh huống đau lòng khác mà xưa nay chưa bao giờ có,  như bán máu trở thành một phương tiệân kiếm sốùng, bán thân xác cho đàn ông Đài Loan, Trung Quốc dưới danh nghĩa đi làm dâu xứ người và trong lòng của những thành phố sa hoa rực rỡ, có những kẻ đốt tiền bằng cả năm lương của người lao động để mua một trận cười. Như thế, những hình ảnh Cửa Ô xa của Song Nhất Nữ: Cửa Ô xa... Có nhiều bóng ma... Đi trong bê tha...Đi trong xênh phách Đi trong đói rách Đi trong lệ nhòa Thất thểu... la cà... Bóng ma... bóng ma... nào có khác gì hình ảnh của những con người thất thểu đi trong bóng đêm của các thành phố bây giờ, ngủ dưới gậm cầu, chen chúc nhau dưới những mái hiên hay lang thang trên những đống rác cao ngút đầu để xăm xoi đào bới.

    Hà Nội vào những năm đầu thiên niên kỷ 21 còn nhiều bất công, nhiều chênh lệch, nhiều hoàn cảnh xót xa, não lòng hơn 50 năm trước. Những câu thơ của Nguyễn Quốc Trinh viết từ 50 năm trước bỗng trở thành những lời như vừa được sáng tác gần đây :

    Vì mải gò lưng kéo

    Cày cho kẻ khác no

    Chiều về nhai cỏ héo

    Chuồng hẹp nằm co ro!

    Tôi không hiểu tuổi trẻ Hà Nội bây giờ có ươm những giấc mơ làm đẹp xã hội như những tuổi trẻ Hà Nội thời 50 năm trước hay không? Họ bị chèn ép để không còn sáng tác được hay lòng họ đã lạnh tanh trước những biến đổi phũ phàng của thời kỳ kinh tế thị trường, hay vì cả hai? Nhưng dù là vì bất cứ lý do nào thì khi mở lại những trang sách cũ, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại những con người của bao năm cũ. Thành phố xưa bây  giờ đã có biết bao nhiêu thay đổi. Hồ Gươm xưa hẳn đã chứng kiến biết bao nhiêu vật đổi sao dời. Tôi mong mỏi thế hệ trẻ bây giờ đừng bao giờ lạnh tanh trước những nỗi bất công của đời sống, trước những hoàn cảnh thống khổ của con người, bởi vì thế hệ chúng tôi, vốn cũng mang nhiều xót xa, buồn bã nhưng bao giờ cũng ngước lên nhìn cuộc đời với ánh mắt tin tưởng, tin ở đất nước, tin ở con người, và dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn  tìm mọi cơ hội để vươn lên.

    NHẬT TIẾN

    (Cali-Tháng 12-2002)


     
     
     
    nguồn: nhavannhattien.wordpress.com

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Vùng Giông Bảo

    Nguyễn Đình Thiều

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646836]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502830]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639957]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471681]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341272]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600893]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690032]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496896]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300818]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010775]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549020]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470202]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445929]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204100]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150757]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078878]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062620]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028952]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026558]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921865]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907656]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905346]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877085]
    29.Hắc Nho [852220]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840122]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756104]
    33.Tru Tiên [747836]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745345]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661957]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622482]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569436]
    39.Hoàn Hảo [557803]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536838]
    41.Tầm Tần Ký [512087]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456434]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450987]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434060]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427542]
    48.Cậu Chó [417317]
    49.If You Are Here [411882]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408303]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm