hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Tú Mỡ » Giòng Nước Ngược - Tập I [619] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     

    Giòng Nước Ngược - Tập I

    Tú Mỡ

    Giòng Nước Ngược


    Tập I



    MỤC LỤC  


     

    TỰA
    VĂN BÁC HỌC VÀ VĂN BÌNH DÂN

    Cũng như nhiều nền văn minh cổ kim, văn chương nước ta có rõ rệt hai giòng: Giòng bác học và giòng bình dân.

    Giòng bác học, ta có thể ví với con sông, hai bên bờ có đê kiên cố để làn nước không tự do tràn ra đồng bằng được, phải lặng lẽ theo lòng sông mà chảy thẳng ra biển. Chỗ nào ngòng ngoèo quá thì người ta đào lạch cho nước thông mau, chỗ nào nông quá thì người ta khơi sâu thêm cho nước dễ thoát.

    Trái lại, giòng bình dân chỉ ví như cái suối chảy trong vùng đồi núi hoang vô, quanh co, lượn khúc cạnh rừng lau mọi rợ hay bên bờ rậm dầy cỏ sắc hoa dại, có khi thì thầm róc rách trong khe, có khi ầm ầm đổ xuống thành ngàn thành thác, lại có khi gặp tảng đá lớn ngáng giữa giòng, hung tợn vọt ngược lên cao.

    Đê và lạch đối với con sông, cũng như, đối với nền văn chương bác học những luật lệ qui tắc nhất định mà các văn nhân đạo mạo tự bắt buộc phải theo. Ở nước ta, tuy không có những sách văn pháp như ở bên Thái Tây, song đời đời người ta cứ lề lối cũ của Tàu mà bắt chước, không hề dám suy suyển. Văn sách, kinh nghĩa phải thế nào, thi phú, từ khúc phải thế nào, đặt câu bằng bằng trắc trắc ra sao, làm bài phá thừa luận kết ra sao, nhất nhất không dám mảy may thay đổi.

    Văn chương bình dân thì chẳng mấy khi theo luật lệ qui tắc. Khi nào miễn cưỡng theo, cũng hục hặc phá phách như con ngựa bất kham, vì dùng vần thất niêm thất luật be bét, dùng chữ và tiếng sai nghĩa lung tung. Song, chính nhờ đómà nền quốc văn đã có lắm chữ mới và lối văn mới đặt rất bạo, thí dụ như những thổ ngữ, những thi ca lục bát, song thất lục bát, tứ tự, cùng là các lối vè có vần ở giữa câu.

    Về hình thức thì thế, mà về ý tưởng cũng vậy. Trong văn chương bác học, ta thấy đầy những điển tích chép nhặt trong các sách Tàu. Trong một bài diễn văn, ông Lê Dư đã bênh vực cho nền văn bác học bằng một câu rất có ý nghĩa: "Văn không có điển tích không phải là văn". Nào chỉ có điển tích. Văn chương bác học nước ta lại còn phải ở trong khuôn phép thánh hiền, không bao giờ được vượt ra ngoài những tư tưởng luân lý, như tam cương, ngũ thường.

    Không dùng điển tích, không hề đạo mạo, đó là hai tính cách cốt yếu của văn chương bình dân. Và tuy cũng theo luân lý cổ nhưng văn chương bình dân xiết bao giản dị với những tính tình chân thành, với những nguyện vọng thiết thực. Khi bọn bình dân gặp một sự gì trái ngược với tính tình và nguyện vọng của họ, họ liền mạnh bạo thốt ra những lời văn oán trách chẳng chút rụt rè che đậy bằng những ý tứ mập mờ, bóng bảy, cao xa. Ta hãy nghe bài hát sau này của một người đàn bà nhà quê, về thời vua Minh Mệnh:

    Tháng tám có chiếu vua ra
    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
    Không đi thì chợ không đông
    Đi thì bóc lột quần chồng sao đang
    Có quần ra quán bán hàng
    Không quần đứng nấp đầu làng trông quan

    Lời văn thành thực giản dị mà táo bạo và ngộ nghĩnh ấy, không hề thấy có trong văn chương bác học, tuy văn chương bác học cũng nhiều khi nhiễm tư tưởng trào phúng, - cái trào phúng nặng nề đầy điển tích và nhút nhát rụt rè đối với kẻ có quyền thế.

    Vì vậy, muốn biết tập quán, phong tục trong dân về thời nào, không gì bằng đọc văn bình dân, nghĩa là những ca dao tục ngữ của thời ấy: Đó là những cái gương phản chiếu tính tình và nguyện vọng của cả một thời đại. Hát một câu ca dao hay, ta biết cổ nhân vui hay buồn, sung sướng hay khổ sở. Ta ngậm ngùi rằng tác giả không để tên để tuổi lại hậu thế. Song đó cũng là một tính cách bình dân: Sống không để ai biết đến, có danh vọng cũng không cần ai hay. Những áng văn vô danh kia, đời đời ta truyền khẩu cho nhau, không bao giờ để mai một đi, như thế cũng đủ làm hài lòng bọn bình dân rồi, vì họ đã lưu được lại cái linh hồn chân thật của cả một nòi giống.

    Song tuy thế mà thỉnh thoảng ta vẫn thấy một vài tác giả có chân tài trong phái bình dân. Đó là một sự rất hiếm trong văn giới nước ta, vì bọn học giả mình thường chỉ biết ngày xưa theo văn Tàu, ngày nay theo văn Tây, - có khi theo một cách nô lệ, - mấy ai đã lưu ý đến văn chương bình dân.

    Mà thực ra thì ta vẫn khao khát được đọc văn bình dân, ta vẫn quý trọng các nhà văn bình dân. Cô Hồ Xuân Hương tuy lẳng lơ nhưng vẫn được ta yêu tài và truyền tụng những bài thơ cợt nhả. Vì cô là một nhà văn bình dân. Ông Tú Xương tuy mỉa đời mà vẫn được đời kính mến. Vì ông là một nhà văn bình dân. Và ngày nay Tú Mỡ tuy tinh nghịch đùa bỡn, chế nhạo mà vẫn không mấy người ghét được. Vì Tú Mỡ cũng là một nhà văn bình dân.

    So sánh Tú Mỡ với ông Tú Xương và cô Xuân Hương, hẳn có người cho là hơi quá, vì họ thấy hai bậc văn hào kia tuy viết văn giản dị song đều ở trong phái nho học, còn Tú Mỡ thì lại là một nhà Pháp học. Nhưng văn bình dân không cần cỗi rễ ở đâu hết, quý hồ tả được tính tình và cốt cách của cả một dân tộc là đủ rồi.

    Mà văn Tú Mỡ thì cũng như văn ông Tú Xương, văn cô Hồ Xuân Hương, cũng như những câu ca dao tục ngữ, quả thực hoàn toàn có tính cách An Nam.

    Khái Hưng
    ngày 25 tháng 9 năm 1934


    Đề tặng

    Ít lời lẽ ngang phè
    Mấy vần thơ lỗ mỗ
    Tặng anh Nguyễn Tường Tam
    Ðáp tấm ơn tri ngộ

    Ngày 27 tháng 5 năm 1934
    Tú Mỡ


    ° ° °

     


    "Điếu" đức tụng

    Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc tuý
    Còn thú vị nào hơn thú vị yên vân!
    Từ vua, quan, đến hạng bình dân,
    Ai là chẳng bạn thân với điếu...
    Từ ông thừa, trở lên cụ thiếu,
    Đi ngoài đường, phi điếu bất thành quan.
    Ngồi công đường, vin xe trúc nghênh ngang,
    Hút mồi thuốc, óc nhà quan thêm sáng suốt.
    Nhà thi sĩ gọt câu văn cho chuốt,
    Tất phải nhờ điếu thuốc gọi hồn thơ.
    Lại những khi óc mỏi, mắt mờ,
    Nhờ điếu thuốc mới có cơ tỉnh tớm...
    Dân thuyền thợ thức khuya, dậy sớm,
    Phải cần dùng điếu đóm làm vui.
    Khi nhọc nhằn lau trán đẫm mồ hôi,
    Vớ lấy điếu, kéo một hơi thời cũng khoái.
    Dân cày cấy mưa dầm, nắng dãi,
    Bạn tâm giao với cái điếu cầy.
    Lúc nghỉ ngơi, ngồi dưới bóng cây,
    Rít mộì thuốc, say ngây say ngất.
    Rồi ngả lưng trên đám cỏ tươi xanh ngắt,
    Dễ thiu thiu một giấc êm đềm.
    Bạn nhà binh canh gác thâu đêm,
    Nhờ điếu thuốc mới khỏi lim dim ngủ gật.
    Nội các thức say sưa nghiện ngập,
    Ngẫm mà coi, thú nhất thuốc lào.
    Nghiện thuốc lào là cái nghiện thanh tao,
    Chẳng hại tiền của, mà chẳng hao sĩ diện.
    Chốn phòng khách, anh em khi hội kiến,
    Có thuốc lào câu chuyện mới thêm duyên.
    Khi lòng ta tư lự không yên,
    Hút mồi thuốc cũng giải phiền đôi chút.
    Nghe tiếng điếu kêu ròn, nhìn khói bay nghi ngút,
    Nỗi lo buồn theo khói vút thăng thiên.
    Cái điếu cùng ta là bạn chí hiền,
    Từ thiên cổ tơ duyên chặt kết.
    Cũng có kẻ muốn dứt tình khăng khít,
    Vùi điếu đi cho hết đa mang.
    Nhưng nỗi nhớ nhung bứt rứt tấm gan vàng,
    Chút nghĩa cũ lại đa mang chi tận tuỵ.
    Cho nên: bảo điếu thuốc lào là quốc tuý,
    Thật là lời chí lý không ngoa.
    Thuốc lào, ta hút điếu ta,
    Điếu ta thọ với sơn hà muôn năm...

     

    "Phở" đức tụng

    Trong các món ăn "quân tử vị",
    Phở là quà đáng quý trên đời.
    Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
    Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
    Náy bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ,
    Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
    Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
    Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mủi.
    Như xúc động tới ruột gan bàn phổi,
    Như giục khơi cái đói của con tì.
    Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì,
    Xới một bát nhiều khi chưa thích miệng.
    Kẻ phú quý cho chí người bần tiện,
    Hỏi ai là đã nếm không ưa,
    Thầy thông, thấy phán đi sớm về trưa,
    Điểm tâm phở, ngon ơ và chắc dạ.
    Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả,
    Phở xơi no cũng đỡ nhọc nhằn.
    Khách làng thơ đêm thức viết văn,
    Được bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí…
    Bọn đào kép, con nhà ca kỹ,
    Lấy phở làm đầu vị giải lao.
    Chúng chị em sớm mận tối đào,
    Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc.
    Phở là đại bổ, tốt bằng mười thang thuốc bắc,
    Quế, phụ sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì.
    Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì,
    Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch.
    Anh em lao động đồng tiền không rúc rích,
    Coi phở là môn thuốc ích vô song.
    Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công,
    Chưa chén phở, vẫn còn chưa đủ món.
    Chớ chê phở là đồ ăn hèn mọn,
    Dẫu sao thành Ba-Lê còn phải đón phở sang.
    Cùng các cao lương vạn quốc phô trương,
    Ngon lại rẻ, thường hay quán giải.
    Sống trên đời, phở không ăn cũng dại,
    Lúc buông tay ắt phải cúng kem.
    Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.

     

    Ông cụ non

    Nhớ thuở còn hàn vi,
    Chửa nên danh phận gì.
    Trí anh to tát lạ,
    Chẳng thẹn tiếng nam nhi.

    Bàn tính những công cuộc,
    Lợi dân cùng ích nước.
    Lưu danh cùng núi sông,
    Mới thỏa lòng ao ước.

    Nay ngoáp chiếc lương to,
    Yên thân được ấm no.
    Đã quăng chí nguyện cũ,
    Khối óc như thò lò.

    Nghiễm nhiên mặt trưởng giả,
    Thờ chủ nghĩa nhàn hạ,
    Đội mũ ni che tai,
    Việc đời thây kệ cả!

    Ngày bốn buổi đi về,
    Ăn no lại ngủ khè.
    Ngoài câu truyện bếp nước,
    Chắng thiết để tai nghe.

    Làm bạn với non bộ,
    Uốn cành cây cổ thụ.
    Hết trưa lại đến chiều,
    Lẩn thẩn như ma xó.

    Uống rượu rồi ngâm thơ,
    Say sưa khéo phỡn phờ.
    Khác chi đồ cổ hủ,
    Xác sống mà hồn mơ.

    Người ta khi phú quý,
    Càng phải phấn tâm trí.
    Anh mới nếm phong lưu,
    Cớ sao vội chết dí!

    Non bộ kia nên xếp,
    Chơi gì cảnh nhỏ hẹp.
    Nọ giang sơn Việt Nam,
    Mới thật là xinh đẹp.

    Túi thơ thắt lại thôi,
    Nậm rượu quẳng cho rồi.
    Cái thứ đùi rung nẩy,
    Chờ khi sáu bảy mươi.

     

    Ông nghị đi hội đồng về

    - Ông ơi, ông đi đâu về
    Có vẻ phỡn phè, phấn chấn hỡi ông?
    - Rằng tôi đi họp hội đồng
    Mỗi năm một bận, hết lòng vì dân
    Gật gù, nghe đọc diễn văn
    Vì dân giáng sức mấy lần vỗ tay
    Trăm công, nghìn việc, nặng thay!
    Vì dân nên phải đêm ngày miên man
    Bao chương dự toán luận bàn
    Vì dân sái cổ gật tràn đòi phen
    Nhờ trời công việc đã yên
    Vì dân phải xuống Khâm Thiên giải sầu
    Quản gì thức mấy đêm thâu
    Vì dân khai trí mấy chầu tổ tôm
    Mỗi năm vất vả mươi hôm
    Một bầu nhiệt huyết vẫn ôm kè kè

     

    Bài phú "thầy phán"

    (Tự trào)

    Sở có một thầy:
    Mặt mũi khôi ngô
    Hình dung chững chạc
    Quần là ống sớ, áo vận khuy vàng
    Khăn lượt vành giây, ô che cán bạc
    Bảnh bao lắm mốt, trời nắng, mưa: giầy nọ, giầy kia
    Lịch sự đủ vành, mùa rét, nực: mũ này, mũ khác
    Ra phết quan thông, quan phán, đua ngón phong lưu
    Rập rìu tài tử, giai nhân, điểm mùi đài các
    Trong đóm ngoài đuốc, trông ra mầu mỡ riêu cua
    Tiếng cả nhà thanh, xét kỹ thân hình pháo xác
    Cuối tháng ba mươi, ba mốt, giấy bạc rung rinh
    Qua ngày mười một, mười hai, ví tiền rỗng toác
    Sổ tiêu tính phác, hy hoay cộng cộng, trừ trừ
    Lương tháng thấy vèo, tuyu nguỷu ngơ ngơ, ngác ngác
    Ấy cũng bởi vung tay quá trán, mới đâm đầu vương lấy nợ như lông lươn
    Mà lại còn quen thói bốc trời, chết đến đít vẫn coi tiền như cỏ rác
    Ăn toàn ăn sỏi, khi Hiệp Thành, khi Nguyên Lợi, khi Đông Hưng, khi Nhật Tân
    Chơi cũng chơi sành, tối Pa-lát, tối Pa-tê, tối Sán Nhiên, tối Quảng Lạc
    Bè bạn những sừ tham, sừ ký, một bọn trai lơ
    Nhân tình nào con hát, con đào, cùng phường đĩ rạc
    Chức đệ tam chi thư ký, nhà nước cấp bằng
    Hàm điển tịch chi hàn lâm, trào đình ban sắc
    Tiếng Lang-sa thoắng trơn nước chẩy, những "uẩy" cùng "nông"
    Câu Hán tự giốt đặc cán mai, đọc "tộ" hoá "tác"
    Giở những giọng văn chương sốc nổi "tam tổ thánh hiền"
    Bàn những điều nghĩa khí viển vông "thiên hô bát sát"
    Hai buổi đến ung dung ư buồng giấy, sổ to, sổ nhỏ bày liệt, bày la
    Mấy giờ ngồi chễm chệ ư ghế mây, mực đỏ, mực đen viết chi, viết chát
    Lỡ buổi đi trưa, nhìn trước nhìn sau lấm lét, rụt rè như rắn ráo mồng năm
    Lỡ khi lầm lỗi, đứng lên ngồi xuống băn khoăn, ủ rũ như diều hâu tháng chạp
    Hễ động lúc luôn tay bận bịu, mặt nặng bằng đá đeo, gắt ỏm mắm tôm, cau cau có có, kêu ca việc này khó, việc nọ dài
    Chẳng bù khi khểnh cẳng ngồi rồi, cười ròn như nắc nẻ, tán nhăng phó-mát, cợt cợt, bông bông, bình phẩm xếp kia lành, xếp ấy ác
    Truyện nào có ra chuyện, giở dại giở khôn
    Đùa nào có ra đùa, nửa nạc nửa mỡ
    Vắng mặt chủ nghịch nô như quỷ sứ, tầm váo, tầm vênh
    Thấy hút Tây vờ vĩnh khéo ma bùn, nhớn nhơ, nhớn nhác
    Chỉ những ước được thưởng mề đay năm bẩy chiếc, sở nguyện thầy cũng khá cao xa
    Lòng chỉ mong xơi lên lương bổng bốn năm đồng, hy vọng thầy thật là to tát
    Nhiên nhi:
    Luống hợm mình thế kia thế khác, lập loè sĩ diện với bà con
    Còn đắc chí ta đây kẻ giờ, khinh khỉnh vênh vang cùng xóm mạc
    Sự nghiệp có thế thôi, người ngoài cuộc tưởng rằng ghê gớm, chẳng trách nào ai cũng ước ao!
    Công danh không mấy hột, kẻ qua cầu mới biết giở giang, dám nhắn nhủ khách đừng khao khát

     

    Bầu cử

    Thiên hạ nôn nao họ rủ nhau:
    Người ra ứng cử, kẻ đi bầu.
    Phen này lắm cậu gia tài vỡ,
    Mà chức "Ông dân" 1 đã chắc đâu!

    Họ kéo từng đàn xuống xóm hát,
    Lu bù ngày ấy sang đêm khác
    Phen này ông quyết xuống KT 2
    Mở tiệm cô đầu có lẽ phát

    Họ mời nhau chén tại cao lâu
    Thả cửa sâm panh với rượu Tầu
    Các chú 3 phen này càng béo bở
    Annam còn lắm cuộc đi bầu!

    Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết:
    Công tâm công ích lời tâm huyết...
    Phen này mở hiệu viết văn thuê
    Dẫu chẳng làm giầu cũng đỡ kiết

    Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh
    Nghe đâu mỗi vé một "rồng xanh" 4
    Phen này có lẽ mưa ra bạc,
    Mà nghị viện ta lắm phỗng sành!

    Họ lại ra công làm quảng cáo
    Đen ngòm cả cột mấy tờ báo
    Chương trình đem đọc thật là kêu,
    Thử nghĩ sau này ai nói láo.

    Họ kể xấu nhau như hát hay,
    Hàng rau, hàng cá cũng thua tài,
    Phen này bào chế tha hồ đắt:
    Thuốc tím 5 cần mua để rửa tai.

    Xem cuộc mua danh thực dữ dội,
    Người hay, kẻ dở, trò thơm thối...
    Quốc dân được lợi cuộc mua vui,
    Chẳng phải mất tiền xem hát bội.


    Bài thơ này có phỏng theo bài Chúc Tết của Tú Xương.

     

    Bốn lần đi thi

    (Tả cảnh một ông phán làm việc ở tỉnh xa, bốn lần về Hà thành thi tham biện)

    Lần đầu về thi tại Hà thành
    Anh em tấp nập đến tiễn hành
    Tiệc rượu linh đình thật vui vẻ
    Chén thù chén tạc chúc công danh

    Đi về tốn bao tiền phí lộ
    Thế mà thi cử lại cóc đỗ
    Lời chúc hôm xưa chẳng được thành
    Anh em an ủi chia buồn hộ

    Cách một năm sau lại về thi
    Được tiệc trà soàng tiễn chân đi
    Bạn rằng: "khoa trước anh đã rủi
    Chắc hẳn công danh đến khoá nhì"

    Tại mình, tại trời, hay tại số
    Mà đến khoa này lại vô bổ?
    Bạn lại hỏi thăm chỉ lắc đầu
    Không ai chê cười mà sấu hổ

    Năm sau, đi thi lần thứ ba
    Được vài bốn anh tiễn ra ga
    Suông tình đưa mấy lời chúc tụng
    Mất cả tiệc rượu lẫn tiệc trà

    Khoa này tưởng khác hai khoa trước
    Chẳng may trời làm trượt vẫn trượt
    Giở về, bạn hỏi thi thế nào?
    Cay đắng đáp rằng: "Tớ lại bước!"

    Đến bận thứ tư về Hà thành
    Bạn hỏi làm gì, nói dối quanh
    Không tiệc, không trà, không kẻ tiễn
    Một mình lủi thủi lối công danh

    Một mình đi thi, một mình biết
    Chẳng khiến ai mừng cùng ai tiệc...
    Con đường danh lợi, đường chông gai
    Phen này có bương đỡ tha thiết

    Kết luận
    Cái cuộc ganh đua khó lạ nhường
    Thấy ai lận đận nghĩ mà thương
    Vinh hoa là bả cho người thật!
    Một bước công danh, bước đoạn trường

     

    Chồng gàn

    Mợ thấy chồng người lên chức "tham"
    Xe nhà ngất ngưởng ngự đi làm
    Lương sơi mỗi tháng hàng gang bạc
    Mợ tưởng danh lừng khét đất Nam

    Mợ về mợ dục tôi xoay học
    Khuân sách trong hòm chúi mũi đọc
    Nhà nước sang năm mở khoá thi
    Vác cây bút sắt ra cầy cục...

    Thấy tôi chỉ mải viết văn thơ
    Mợ mắng tôi rằng: "Khéo vẩn vơ!
    Luyện tập làm gì văn quốc ngữ
    Lao tâm, tổn trí, mất thì giờ!"

    Mợ bắt tôi theo đời vật chất
    Học mong thi đỗ, nhờ hòn đất
    May ra ngoáp được con ruồi xanh
    Mợ sẽ lên bà "tham biện tắt"

    Tôi vốn trời sinh tính khác người
    Không ưa bôn tẩu như ai ai
    Phàm danh, tục lợi lòng không bợn
    Chỉ thích cuộc đời dản dị thôi

    Áo quần ưa mặc the cùng vải
    Ghét rượu, ghét chè, ghét trai gái
    Thuốc phiện, bạc bài lại rất kiêng
    Lương dẫu không cao vẫn thừa thãi

    Ơn trời mắt sáng, chân tay lành
    Xe đạp trèo lên phóng rất nhanh
    Hà tất xe nhà đầy tớ kéo
    Chẳng là không hợp lẽ trời sinh

    Đời người bóng ngựa nhoáng qua sổ
    Không lẽ chỉ lo thi với đỗ
    Nếu chẳng góp gì với núi sông
    Trăm năm cũng mục như cây cỏ

    Hai chữ công danh chán lắm rồi
    Làm ăn cứ miễn đủ tiêu thôi
    Tôi van, đừng bắt tôi thi nữa
    Xin để linh hồn tôi thảnh thơi!

     

    Duyên con vồ

    "Me tây" kia trở về già
    Vớ anh phán kiết la cà kết duyên
    Anh thời say chị lắm tiền
    Chị mê anh trẻ, có duyên mặn mà
    Trúc mai xum họp một nhà
    Rõ rằng trúc mọt, mai già sánh đôi
    Mình mình với lại tôi tôi
    Anh làm cho chị tưởng đời còn xuân
    Chị thời vỗ đức lang quân
    Sắm cho xe ngựa, áo quần bảnh bao
    Ngờ đâu anh thắng bộ vào
    Anh đi sớm mận, tối đào lung thiên
    Một lần chị để anh yên
    Hai lần chị nổi cơn ghen tam bành
    Ba lần chị phát lôi đình
    Lót tay lá chuối lôi anh phú về...

     

    Giầu và nghèo

    (Độc vần)

    Đồng bạc sinh ra kẻ khó, giầu
    Vụng xoay thời khó, khéo thời giầu
    Giầu đeo tiếng xấu không bằng khó
    Khó giữ danh thơm chẳng kém giầu!
    Chớ hợm mình giầu khinh bỉ khó
    Đừng than thân khó ghét ghen giầu
    Ai ôi, giữ lấy lòng trong sạch
    Bận bịu làm chi nỗi khó, giầu

     

    Hồ Gươm phú

    Tặng cô Thoại Ngữ, người bạn xa chưa quen biết. (Hội Khai trí Tiến Đức có mở cuộc thi văn chương, trong các môn thi có bài phú Hồ Gươm, hạn vần: ’’Hồ đó, gươm đâu?’’ Tú Mỡ thấy đầu đề hay, cũng hứng bút viết chơi. Viết chơi thôi, không dự thi, và cố nhiên không lấy thưởng...!)

    Nghìn năm văn vật
    Nhất chốn kinh đô.
    Tuy nhiều thắng cảnh,
    Đâu đẹp bằng hồ...

           *

    Thợ Tạo đã tài xếp đặt,
    Công người cũng khéo điểm tô.
    Giữa trần tục xen nơi tiên cảnh,
    Trong thị thành nổi đảo san hô.

    Sỏng biếc lăn tăn, lấp lánh vàng gieo ngấn nước,
    Cây xanh rườm rạp, lơ thơ liễu rủ quanh bờ.
    Đền Ngọc Sơn tháp bút nguy nga, tôn cảnh non bồng tịch mịch.
    Cầu Thê Húc màu son đỏ thắm, chắn làn nước cuốn lô xô.
    Nào những khi gió nồm hây hẩy, nào những khi sương toả lở mờ,
    Xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa một vẻ,
    Nào những lúc nắng mới rung rinh, nào những lúc trăng soi vằng vặc,
    Sáng, trưa, chiều, tối, bao cảnh nên thơ.

    Qua tỉnh Hà đây,
    Dạo hồ Kiếm đó,
    Ngắm cảnh ngày nay,
    Nhớ hồi sử cũ:

    Diệt vua nguỵ Quý Ly,
    Gớm tướng Minh Trương Phụ,
    Giả danh nghĩa hiệp khôi phục Trần gia,
    Giở ngón gian hùng đoạt thâu Việt thổ.

    Dân lành hai nhăm triệu, rắp đem làm kẻ tì nô;
    Nước cũ bốn nghìn năm, dìm đặt dưới quyền đô hộ.
    Trên, bọn quan quân tàn bạo, chỉ lo vơ vét, thoả dạ tham ô;
    Dưới, dân sưu dịch nặng nề, cam chịu lầm than, nhiều bề cực khổ.
    Nào xuống bể mò trai, lấy ngọc, ai oán vô cùng.
    Nào lên rừng tróc tượng, săn tê, căm hờn quá độ.

    May sao:
    Nhà nông Lê Lợi,
    Kẻ sĩ Lam Sơn,
    Thấy dân khốn đốn,
    Động lòng xót thương

    Quyết chí lớn tảo trừ giặc nước
    Dựa thần thiêng trao tặng lưỡi gươm.
    Hào kiệt ra tay phất cờ cứu quốc,
    Anh hùng lập nghiệp, khởi nghĩa xưng vương.

    Trận Tuy Động, Vương Thông kinh hồn, mảnh giáp chẳng còn, bon về cố quốc.
    Ải Chi Lăng, Liễu Thăng bỏ xác, đầu lâu lăn lóc tại chốn sa trường.
    Vùng vẫy ngoại mười năm, quét sạch non sông quân Bắc tặc;
    Lẫy lửng trong vạn thuở, mở mang bờ cõi đất Nam. Phương.

    Ôi!
    Nghìn thu đất nước
    Một cuộc bể dâu
    Hồ Gươm vẫn đó.,
    Thần kiếm chìm đâu?

    Chỉ thấy tượng đồng cao chót vót,
    Đứng trông làn nước vẩn xanh ngầu!
    Toà nhà Khai trí ben đền, trống bài điếm chát tom, thái bưởng quá nhỉ!
    Vườn cảnh Bônbe trước mặt, khách phồn hoa nhộn nhịp, vui vẻ xiết bao!

     

    Hư danh

    Bác kia, ruộng cả ao liền
    Lắm bạc, nhiều tiền, chạy tước, mua danh
    Bài ngà với áo thụng xanh
    Súng sa súng sính như anh phường chèo
    Về làng khao vọng ỉ eo
    Ăn trên, ngồi trốc, eo sèo thịt sôi
    Bây giờ cơ nghiệp đi đời
    Thẻ ngà, giấy sắc đem mài mà ăn

     

    Khai bút rông

    Là văn sĩ chẳng lẽ không khai bút
    Chẳng hay ho cũng nặn nọt một bài
    Ngót hai năm xổng bút mỉa mai đời
    Thì Tết đến cũng phải có bài thơ... rắc rối
    Rót thêm mực, thay ngòi bút mới
    Thảo mấy dòng cảm khái sau đây

    Thơ rằng:
    Tú chi tú ấy nực cười thay!
    Chẳng phải Nho mà chẳng phải Tây!
    Rửng mỡ trêu đời, văn mách qué
    Thế mà cũng tiếng... bấy lâu nay!

    Ngồi ngâm nga, đùi rung chuyển nghế mây
    Rồi chép lại, rắp thả ngay "Giòng nước ngược"
    Bắt chước cụ Tú Xương thủa trước
    Hỏi mợ Tú rằng: "Nghe được hay chăng?"
    Bĩu môi, mẹ đĩ phê rằng
    "Nôm na mắch qué, lố lăng, ngược đời!"
    Đầu năm đã bị rông rồi
    Chắc là văn viết ngược đời quanh năm!

    Bài này nhại theo bài "Tết đến dán câu đối" của Tú Xương.

     

    Khuyên ai kén vợ

    I
    Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền
    Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên
    Tốt duyên gặp được người như nguyện
    Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên

    II
    Lấy vợ khuyên ai kén vợ soàng
    Cần chi giầu có với quan sang
    Quý hồ nội trợ tề gia giỏi
    Cái cảnh gia đình mới vẻ vang

    III
    Lấy vợ khuyên ai cốt chữ tình
    Xin đừng vụ lợi, chớ ham danh
    Mấy người tiểu kỷ vì danh lợi
    Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh

    IV
    Lấy vợ không nên kén vợ giầu
    E rằng ỷ của lại khinh nhau
    Hổ thay! cái tiếng nhờ lưng vợ!
    Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu!

    V
    Lấy vợ không nên lấy ả đầu
    Hoa tàn, nhị rữa, tiết còn đâu
    Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn
    Chẳng trách phương ngôn đã có câu...! 6

    VI
    Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều
    Một bà thôi cũng đủ thương yêu
    Ai về nhắn nhủ phường tham thịt
    Cả lẽ làm chi, tổ ỷ eo...!

     

    Kiệu bay

    Đám rước làng ta đã tới đền
    Vía bà động cỡn, tốc bay lên
    Các cô chân kiệu siêu lơ chạy
    Mấy mụ đồng quan lẽo đẽo rên
    Pháo đốt, nhang bay mù đảo địa
    Con công, cái bán lễ huyên thiên
    Thánh bà mới biết linh thiêng thật
    Gặp cái ô tô, kiệu đứng liền!

     

    Kinh tế khủng hoảng phú

    Ghê thay nạn kinh tế!
    Ghê thay nạn kinh tế!
    Nguyên bởi từ đâu?
    Hại sao đến thế!
    Trong vạn quốc, từ nhỏ đến to
    Khắp muôn dân, cả lớn lẫn bé
    Cũng băn khoăn vì tài chính lung lay
    Đều nhăn nhó bởi bán buôn tắc bế
    Làm ăn lủng củng, dưới con dân khôn nỗi xoay xu
    Xuất nhập hụt hao, trên nhà nước khó đường thu thuế
    Hạng quan lại đang ăn tiêu rộng rãi, cũng cắn răng vâng lệnh sụt lương
    Bọn sinh viên vừa thi đỗ vênh vang, đành bấm bụng đóng vai vô nghệ
    Sĩ đã buồn tênh
    Nông càng quẫn tệ
    Mừng được năm hoà cốc phong đăng
    Rủi gặp lúc thông thương đình trệ
    Tiền hòm rỗng tuếch, lấy chi mà nộp thuế, nộp sưu
    Thóc vựa chứa chan, lo để đấy mọc mầm, mọc rễ
    Bởi nông phu tiền thiếu gạo thừa
    Nên thương mại khách thưa hàng ế
    Buôn thua bán lỗ, hiệu nhỏ to vỡ nợ đùng đùng
    Mượn quịt vay lường, kẻ hơn thiệt kiện nhau chí choé
    Nhà kỹ nghệ hàng không trôi chẩy, giảm bớt nhân công
    Bọn thợ thuyền việc ít nằm khàn, khó tìm sinh kế
    Việc tuy không sẵn, miệng vẫn phải ăn
    Gạo chẳng ai cung, hàm không nhẽ trễ
    Túng phải tính liều
    Đói đâm ê trệ
    Nẩy nòi trộm cướp, khó giữ cho yên
    Vỡ tổ ăn mày, cứu sao cho suể
    Kinh tế khủng, ái tình cũng khủng, lo ế chồng phụ nữ chổng mông gào
    Sự nghiệp suông, loan phụng đành suông, hoãn lấy vợ nam nhi quay mặt... kệ!
    Cả đến sóm hoa đưa liễu đón, vừa độ nào anh yến sôn sao
    Cũng trải phen phách mốc đàn meo, nay đã thấy làng chơi vắng vẻ
    Nghĩ cũng lo thay
    Nguy khôn xiết kể
    Mới trong ít độ, tứ dân đà tấn tới rật lùi
    Cứ thế này lâu, nhân loại sẽ văn minh tắc tị
    Chấn hưng kinh tế, hỏi ai nào đại thánh ra tay?
    Cứu vãn tiền đồ, còn đợi có phúc tinh giáng thế

     

    Mề đay

    Ông phán cành cạch 7 mươi năm nay
    Mà được bốn, năm chiếc mề đay
    Những khi tết nhất hoặc yến tiệc
    Ông đeo trước ngực hai dẫy đầy

    Cái bạc, cái vàng, đủ các hạng
    Này cái "Cao-mên", cái "Vạn Tượng"
    Này cái "Danh dự", cái "Rồng Nam"
    Thiên hạ trông vào thực là choáng

    Ông hỏi tôi rằng: "Cớ làm sao
    Tôi cũng đi làm, chức cũng cao
    Chẳng xin lấy độ răm mười chiếc
    Để dương danh giá với đồng bào?"

    - Thưa ông: Tôi đây cũng vẫn biết
    Huy chương nhà nước là quý thiệt!
    Để thưởng công lao kẻ tận tâm
    Khuyến khích lòng người cho được việc

    Tôi tự xét tôi đứa bất tài
    Công danh sự nghiệp chẳng bằng ai
    Chỉ biết đi, về ngày bốn buổi
    Cuối tháng lĩnh lương mang về nhai

    Nếu ông không phải người lỗi lạc
    Nếu cũng như tôi, như kẻ khác
    Mà cũng được một mớ huy chương
    Tôi xin chịu ông người quái quắc

    Dám xin hỏi ông: "Sự trạng gì?
    Hoặc là cứu khổn với phò nguy
    Hoặc là hi sinh vì nghĩa vụ
    Hoặc là... hoặc là... cái chi chi?"

     

    Mỡ mà chẳng... mỡ

    Tặng bạn Nam Hương
    (Thơ thất ngôn thập nhị cú)


    Tú Mỡ, nghe tên rõ chướng phè
    Làm thiên hạ tưởng béo xù ghê
    Chẳng thua cụ Ỷ lườn nung núc
    Cũng hệt ông Vâm bụng lặc lè

              *

    Mà hoá người thon như cái nhái
    Té ra mình sác tựa con ve
    Đôi hàng sườn sụn da căng sát
    Hai hũm quai xanh nước đỏ be
    Màu mỡ vì chưng ra cả bút
    Thân hình nên mới ngẳng như que
    Tú này béo mép, người không béo
    Há phải như ai tướng lợn xề...!<

     

    Mười thương

    Một thương tóc lệch đường ngôi,
    Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn san.
    Ba thương hôm sớm điểm trang,
    Bốn thương răng ngọc hai hàng trắng phau.
    Năm thương lược Huế cài đầu,
    Sáu thương ô lục ngả màu thanh thiên.
    Bảy thương lắm bạc nhiều tiền,
    Tám thương động tí nữ quyền giở ra.
    Chín thương cô vẫn ở nhà,
    Mười thương... thôi để mình ta thương mình...

     

    Nhắn nhủ ông nghị

    Áo sa, khăn nhiễu, giầy ban
    Kính trắng gọng vàng, tay cắp cặp da
    Ấy là ông nghị vùng ta
    Súng sa súng sính đi ra hội đồng
    Mấy lời nhắn nhủ cùng ông
    Có ra hội đồng thì miệng phải to
    Xin đừng khúm núm co ro
    Nói không ra tiếng họ cho rằng đần
    Cũng đừng ngẩn mặt tần ngần
    Ngồi nghe diễn thuyết ngủ dần thiu thiu

     

    Phụ bạc

    Nhớ xưa còn thủa hàn vi
    Chàng thời đi học, thiếp đi chạy hàng
    Sớm hôm đầu đội vai mang
    Yên phận bần hàn, kiếm gạo nuôi nhau
    Lần hồi bữa cháo bữa rau
    Chàng lo học tập mai sau thành tài
    Công danh tiến bước kịp người
    Mở mặt với đời, thiếp cũng hiển vinh
    Bây giờ chàng đã nên danh
    Chê thiếp vụng dại, nỡ đành phụ công
    Khi nghèo còn vợ còn chồng
    Đến khi phú quí, chồng đông, vợ đoài

     

    Quan phán

    Rất sang quan phán đầu toà
    Ngất ngưởng xe nhà, chân bắt chéo khoeo
    Ắn chơi xa xỉ đến điều
    Đêm đêm nhà hát, chiều chiều cao lâu
    Ở nhà mặc cảnh túng, sầu
    Vợ, con, cha, mẹ cơm rau là thường
    Chầu rượu quan chi cực sang
    Tiền nuôi cha mẹ cưa gan từng đồng

     

    Tú Mỡ với Quan Ôn

    Xuân đã sang hè, trời nắng rát
    Trong xóm, thấy mấy ông "Kỳ nát"
    Lục tục kéo nhau đi quyên tiền
    Để mà sắm sửa lễ Kỳ yên
    Đút lót Quan Ôn khỏi tác ác
    Người răm ba hào, kẻ đồng bạc
    Các ông thu được món tiền to
    Đi mua đồ giả đốt ra tro
    Nào là vàng mã, nào mũ mãng
    Nào là voi ngựa, nào lính tráng
    Nào cờ, nào biển, nào thuyền rồng
    Văn minh thêm khẩu súng thần công!
    Voi ngựa rỗng lòng, thuyền thủng đáy
    Thần công tắc tị, bánh không chạy
    Các ông man trá cả quỷ thần
    Phúc chả thấy đâu, tội vào thân!
    Còn về phần riêng tôi, Tú Mỡ
    Đừng hòng quyên tiền tôi mà nhỡ!
    Tính tôi thẳng tuột, lòng tôi ngay
    Chẳng lừa hại ai, chẳng quắt quay
    Trần đời ghét nhất thói ăn lễ
    Quan Âm, quan Dương thời cũng thế!
    Tôi tôn thần thánh, kính Phật Trời
    Nhưng chẳng sợ ai, chẳng lễ ai
    Ăn uống chơi bời, tôi điều độ
    Năng tập thể thao, giạn nắng gió
    Quan Ôn dù có muốn lôi thôi
    Thời cũng khó lòng bắt nổi tôi...

     

    Tủi cho bà Tú Mỡ

    (Báo Phụ Nữ Thời Đàm mới tái thế đã có bài tán tụng những đức tính của bà thượng Phạm Quỳnh, khen nức, khen nở, khen thở chẳng được. Tú Mỡ nghĩ đến cái "nái sề" đức tính chẳng kém gì ai, mà chẳng thấy ai khen nên có bài thơ cảm.)

    Vừa rồi báo Phụ Nữ
    Khen bà Lớn kia dữ!
    Nức nở đức Bà hiền
    Hiền hơn bà Khổng Tử...

    Khen bà khéo đẻ con
    Mát mẻ đẻ con khôn
    Cô cậu như tranh, đối
    Như tiên chốn núi Non...

    Khen bà giỏi nội trợ
    Bến nước chăm non khá!
    Cơm dẻo lại canh ngon,
    Một tay săn sóc cả.

    Khen bà tính nhu mì
    Nhũn tựa con chi chi
    Bà ký... lên... bà Thượng
    Chẳng kiêu mà chẳng kỳ

    Chị em khen nức nở
    Một tấm gương rờ rỡ...
    Tôi nghĩ đến nhà tôi,
    Tủi cho bà Tú Mỡ.

    Cũng khéo đẻ xon xon
    Ba vuông lại bảy tròn
    Cũng chăm việc bếp nước
    Cơm dẻo mà canh ngon.

    Tính nết cũng nhu mì
    Nhũn rừ há kém chi...!
    Mợ Hàn kiêm mợ Tú
    Chẳng bắc bậc kiêu kỳ

    Nào thấy ai đăng báo
    Treo gương làm quảng cáo?
    Hoạ chăng chỉ có tôi
    Rủ rỉ khen láo quáo...

    À...! Lỗi tại thằng tôi,
    Chỉ quen thơ thẩn thôi
    Chẳng làm nên cụ Lớn,
    Nên thế vậy, than ôi...!

     

    Tự thuật

    (Thất ngôn thập bát cú)

    Ở sở "Phi-Năng" 8 có một thầy
    Người cao dong dỏng lại gầy gầy
    Mặc thường soàng sĩnh, ưa lành sạch
    Ăn chỉ thều thào, thích tịnh chay
    Tom chát quanh năm vài bốn bận
    Say sưa mỗi tháng một đôi ngày
    Tính vui trò chuyện cười như phá
    Lòng thẳng căm hờn nói toạc ngay
    Siên sỏ vào tay hơi khá khá
    Ở ăn thì nết cũng hay hay!
    Yêu người chân thật, người hào hiệp
    Ghét kẻ chui luồn, kẻ quắt quay
    Võ vẽ hay làm văn quốc ngữ
    Sì sồ ít nói tiếng Âu Tây
    Bạn mà bàn đến thi cùng cử
    Thời vội van luôn: Tớ lạy mày!...
    Bởi tính ngang phè như chánh bứa
    Già đời chẳng được cái mề đay

    1925


     

     


    Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu

    Trong phòng khách cụ Trời
    Cậu nhỏ dâng văn bôi
    Xẩy tay đánh rơi vỡ
    Nguyễn Khắc Hiếu ra đời

    Từ khi Hiếu xuất thế
    Vẫn nhớ cảnh thiên tiên
    Bữa cơm thường phải rượu
    Nhưng túi lại rỗng tiền

    Liền xoay nghệ văn chương
    Viết bừa bán phố phường
    Thơ chay tha hồ uống
    Say khướt suốt đêm trường

    Rượu ngon thức nhắm ngon
    Giọng văn lại càng giòn
    Khối tình con, tình lớn
    Giấc mộng lớn, mộng con.

    Thích chí nằm ngâm nga
    Tiếng động vang Ngân Hà
    Trời hỏi: "Ai ngâm thế?"
    Muôn tâu: Ấy Tản Đà!

    Trời nổi trận lôi đình
    Rằng: "Cái thằng tiên ranh
    Ta đầy xuống hạ giới
    Cho hắn chịu nhục hình

    Ai ngờ hắn vẫn nhàn
    Ngày tháng ngâm thơ tràn
    Các người ai có cách
    Bắt hắn phải gian nan?"

    Chư tiên đồng thanh nói:
    "Tội nặng nhất trần phàm
    Là bắt anh Khắc Hiếu
    Làm chủ báo An Nam"

     

    Vợ chồng đời nay

    Bây giờ thời buổi văn minh
    Phu phụ chi tình có vẻ khác xưa
    Mợ tham, mợ đốc nhởn nhơ
    Lấy chồng ngồi ruỗi, ăn nhờ chiếc lương
    Suốt ngày son phấn điểm trang
    Tiêu khiển đêm trường: nhà hát, tổ tôm
    Con thời sẵn vú nuôi ôm
    Nước, cơm sẵn bếp tận mồm bưng lên
    Phong lưu, chồng vợ là tiên
    Hễ cậu kém tiền, giở luật cởi duyên
    Tung hô "nam nữ bình quyền"!

     

    Văn tế bảo hộ

    A ha! Bảo hộ! Bỗng nhiên trời hại!
    Suy thịnh lẽ thưởng, nào ai ái ngại?
    Đọc bài điếu này, dạ ta thiết tha,
    Ngươi có khôn thiêng chớ oán giận ta.
    Nhớ ngươi thuở trước, xâm chiếm Đông Dương,
    Mưu tinh chước quỷ, nham hiểm khôn lường.
    Trước thả cố đạo, sau dắt con buôn,
    Rốt đến binh lính, trăm khéo nghìn khôn.
    Bá Đa mở lối, Đồ Phổ theo đường;
    Gia Long mắc bợm, Tự Đức phải nhường.
    Sự sinh sình sự, muốn yên chẳng yên,
    Được chân lấn cổ, có voi đòi tiên;
    Chiến tranh lẵng nhẵng, hiệp ước lung tung
    Rốt cuộc công lý, phải thua bạo hung.
    Nhớ ngươi đô hộ, đủ khoé gian ngoan,
    Giả vờ nhân nghĩa, che đậy tham tàn.
    Miệng rằng: khai hoá, sách viết: văn minh;
    "Khai" mòn sản vật, "hoá" tận dân tình.
    Nhớ người cai trị, thật tối dã man:
    Trong là địa ngục, ngoài bảo thiên đàng;
    Núi sông khai thác, ruộng đất mở mang,
    Chẳng qua tư lợi, há vì dân gian;
    Học hành giỏ giọt, trường có công khai,
    Chỉ đủ đào tạo một số tay sai.
    Nhớ người thâm thiểm: dĩ man, trị man
    Nuôi đàn ưng khuyển, dung bọn ô quan,
    Cho dễ bóp nặn đám dân hiền lành,
    Cho dễ đàn áp bọn sĩ tinh anh.
    Nhớ ngươi vơ vét, đã hả dã tâm,
    Xấu xa đậy điệm, độc địa ngấm ngầm

    Nay đến cực điểm, trăm họ lầm than:
    Binh lửa thảm khốc, sinh linh điêu tàn;
    Sưu cao thuế nặng, lột da róc xương,
    Thóc gạo tích trữ, đói chết đầy đường.
    Ngươi tưởng cùng ta, nợ báo còn dài,
    Nhưng nhìn dĩ vãng, hòng gì tương lai!
    Trời nào chứng mãi cho người rông càn:
    Hại nhân nhân hại, thiên địa tuần hoàn.
    Nước ngươi đổ nát, nhà ngươi tan tành;
    Vận ngươi đã mạt, số ngươi đã đành.
    Giữ mình chẳng nổi, còn bảo hộ ai?
    Nay ngươi bị diệt, âu cũng lòng Trời.
    Tám mươi năm lẻ, đã biết nhau rồi!
    Tiếc than chi nữa, đời thế là thôi.
    Tây phương cực... nhục, hồn ngươi đi về.
    Nước ta giải phóng, dạ ta hả hê.
    Ba hồn bảy vía, ngươi chóng siêu sinh.
    Biến về nước mẹ, cùng ta dứt tình.
    Ngươi có khôn thiêng, hiểu thấu lòng ta.
    Chớ còn lẩn quất, Nam quốc sơn hà.
    A ha! Sướng thay!
    Thượng hưởng!

    19-3-1945

     

    Xoay hòn đất

    Có một anh,
    Biếng lười như hủi,
    Cờ bạc như tinh.
    Rượu chè như quỉ,
    Trai gái như ranh.

    Mà cứ muốn,
    Làm giàu làm có,
    Nên giá nên danh.
    Sinh con gái tốt,
    Đẻ con trai lành.

    Nghĩ đến câu,
    Tất tươi tất tả,
    Lật đà lật đật.
    Thầy địa cố tìm,
    Mồ cha lo cất,
    Có người bà con,
    Mách cho thầy khách.
    Ăn nói đắn đo,
    Nước cơm hạch sách.

    Thôi thì,
    Rượu nồng dê béo,
    Của ngon vật lành.
    Món xào đồ nấu,
    Cháo lòng tiết canh.
    Cung lão địa lý,
    Quá ông thân sinh.
    Ăn no lòi kèn,
    Uống say nứt ruột.
    Thầy tỏ lời khen:
    "Anh nầy bụng tốt"
    Cảm tấm lòng thành,
    Cho ngôi đất sộp.
    Nào hổ, nào rồng
    Về sau kết phát,
    Hẳn quá ước mong.
    Giàu to danh lớn,
    Con đàn cháu đông.
    Lo xoay ngôi mộ,
    Trả xong công thầy.
    Chứa chan hi vọng,
    Mong mỏi đêm ngày.
    Cho hòn đất phát,
    Đợi thời vận hay.

    Thế mà,
    Đông đi xuân lại,
    Tháng trọn ngày qua.
    Vẫn trần như nhộng,
    Vẫn xác như vờ.
    Cô độc cô quả,
    Cầu bất cầu bơ...
    Người đời, ngu dại,
    Nghĩ mà ngùi thương.
    Toàn vẹn thân xác,
    Hòng nhờ nắm xương.
    Đào lên chôn xuống,
    Đặt dọc xoay ngang.
    Để cầu phú quý,
    Khéo chuyện hoang đường.

     

    Giòng nước ngược - Tập I, Trung Bắc Tân Văn, 1934.
    Sách này in tại Trung Bắc Tân Văn, 61-63 Hàng Bông, Hanoi.
    Ngoài những quyển thường có in 20 quyển bằng giấy Vergé Baroque Crême,
    đánh số từ 1 đến 20.

    --------------------------------
    1Ông dân đối lập với thằng dân (ông dân biểu).
    2Xóm cô đầu Khâm Thiên ở Hà Nội.
    3Chú khách. Người Việt thường gọi Hoa kiều là chú khách.
    4Tờ giấy bạc Đông Dương 5 đồng vẽ con rồng xanh.
    5Thuốc sát trùng.
    6Lấy quan, quan cách; lấy khách, khách về Tầu; lấy nhà giầu, nhà giầu hết của.
    7Tục ngữ mới: "Cành cạch như ông phán gãi giấy".
    8Tiếng Pháp: Sở Tài chính.

     
     
    nguồn: thivien.net

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Một Mai Khi Hòa Bình

    Nhã Ca

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646836]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502830]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639957]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471681]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341272]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600893]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690032]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496897]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300818]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010776]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549020]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470202]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445930]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204100]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150757]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078878]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062620]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028952]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026558]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921865]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907656]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905346]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877085]
    29.Hắc Nho [852220]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840122]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756104]
    33.Tru Tiên [747836]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745345]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661957]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622482]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569436]
    39.Hoàn Hảo [557803]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536838]
    41.Tầm Tần Ký [512087]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456434]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450987]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434060]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427542]
    48.Cậu Chó [417317]
    49.If You Are Here [411882]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408303]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm