hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Phạm Thiên Thư » Đoạn Trường Vô Thanh[736] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   0.0/7 - 0 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     

    Đoạn Trường Vô Thanh

    Phạm Thiên Thư

    Đoạn Trường Vô Thanh



    MỤC LỤC  


     

    Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư được coi là tập truyện Hậu truyện Kiều công phu nhất cho đến nay, tác phẩm được ra mắt vào năm 1969, bao gồm 3290 câu lục bát, và đã được giải thưởng văn học toàn quốc (miền Nam Việt Nam) năm 1973.



    I. Xưa là giọt lệ

    Đoạn trường
    Sổ gói tên hoa
    Xưa là giọt lệ nay là hạt châu


    Vô thanh như tiếng reo ca bát ngát của nhật nguyệt khiến giọt lệ Vương Thuý Kiều trở thành sợi mây hồng cất cánh vèo bay qua tài mệnh nhị tướng kết nên hạt minh châu viên xá lợi của bậc nguyện vào địa ngục là thái độ tịch nhiên sấm sét của người vác thập tự trong cuộc đoạn trường là vòm trời xanh biếc Việt tính khai mở sau thi hào Nguyễn Du chiếc cầu hư ảo khói sương đưa giả tướng ngôn ngữ rã rời trong một vài trống canh mua vui dưới ngọn Hồng Lĩnh trên ba ngàn dòng thơ cô đọng cỏ hoa sau ba mươi năm tơ tưởng Thuý Kiều và thưa: Những hạt lệ đã nổi cánh thiên hương.

    25-7-1972
    Phạm Thiên Thư



    Nhuận sắc
    Đoạn Trường Vô Thanh


    Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên - Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng... Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy - Nay thêm đôi dòng tạ tội.

    21-4-1992
    Phạm Thiên Thư


    Bức thứ nhất:
    (Giãi bày tâm thức,
    Thuý Kiều sau cuộc đoạn trường)


    Lòng như bát ngát mây xanh
    Thân như sương tụ trên cành Đông mai
    Cuộc đời - chớp loé, mưa bay
    Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
    Thân Tâm Bệnh - nghiệp trần hồng
    Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
    Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
    Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
    Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
    Năm cung nước chảy lại chao phận mình (10)
    Đời Kiều trải mấy nhục vinh
    Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
    Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
    Xưa là Giọt Lệ - nay là Hạt Châu


    II. Sớm tếch bến hồng

    Bức thứ hai:
    (Thực chất tình yêu Kim, Kiều)



    Đền nhau tơ tóc duyên đầu
    Ba năm – trăng dãi hoa dầu thế thôi
    Ý người – sóng nổi, mây trôi
    Chốn xa tìm đến, đến rồi - lại đi
    Hiên Thu lần lữa cầm kỳ
    Chén quỳnh lạnh rượu, câu thi biếng vần (20)
    Trước còn nể nguyệt ươm Xuân
    Lần hồi lối cũ sương ngần hạt sa
    Kể từ hương lửa một nhà
    Phôi pha - thì nhớ, đậm đà - thì quên
    Kiều xưa như suối qua triền
    Rêu khô lệ đợi, trăng phiền dáng theo
    ° ° °
    Ngựa dong, phố sớm, thôn chiều
    Lang thang vó rụng, tiêu điều bụi bay
    Chàng Kim dường tỉnh dường say
    Mây xuôi nhớ tóc, hoa lay nhớ người (30)
    Mười lăm năm lại đơm tươi
    Duyên may, bọt sóng chim trời gặp nhau
    Lan xưa in đáy dòng sầu
    Trách chi con suối nhạt màu thời gian
    Trăng nao man mác tơ đàn
    Chừ nghe hờ hững đôi làn khói bay
    Lò trầm ai chửa ngừng tay
    Mà sao hơi lạnh như ngày mưa thưa
    Vui giờ nuối cái buồn xưa
    Chút gì để nhớ, để chờ, để không... (40)
    Tưởng đàn nối nhịp tơ đồng
    Thuyền trăng sớm tếch bến hồng bay lên
    Chơi vơi trong cõi diệu huyền
    Đời Kiều dệt một trường thiên tuyệt vời


    III. Ruổi rong nhật nguyệt

    Bức thứ ba:
    (Vẽ cuộc du sơn, Kiều nhìn đôi hài của mình,
    ngộ ra mọi cuộc tìm kiếm bi đát của kiếp người)



    Nửa Thu nhân tiết đẹp trời
    Non nghiêng - bút dựng, mây dời - mực sa
    Thênh thang cáng gấm, tàn hoa
    Chàng Kim ngựa trước, áo nhoà sắc cây
    Một nhà lên núi xem mây
    Rèm thưa hoa động, dấu giày sương đơm (50)
    Kiệu dừng bãi núi cỏ thơm
    Lên cao mới biết là đường quanh co
    Giải sông xanh vẳng câu hò
    Lau vàng thấp thoáng cánh cò về trưa
    Bà Vương chỉ áng mây đưa:
    Chân trời mờ mịt, quê xưa chốn nào
    Cuối thu hẳn chớm bông đào
    Vườn ta – ai biết giờ vào tay ai
    Thân già như hạt sương mai
    Cố thôn liệu có còn vài đêm huyên (60)
    Vân thưa: Trăm nhớ ngàn phiền
    Nhắc chi chuyện cũ, hồ quên bấy ngày
    Kim rằng: Sương nổi hoa lay
    Cố hương tưởng gợn gió may rùng mình
    Lời xưa "Đất dưỡng, trời sinh"
    Không ơn ngô lúa, cũng tình trầu cau
    Kiều nghe, môi điểm khoé sầu
    Vời trông cái nhạn về đâu tít mù
    Rừng vàng hiu hắt hơi Thu
    Ngàn hoa vẳng tiếng chim gù thiết tha (70)
    Đầu sông dằng dặc sóng xa
    Chèo ai nhẹ lướt la đà khói giăng
    Tay Kiều rẽ lối sương băng
    Mắt nàng ẩn nửa viền trăng dõi buồn
    Đá triền tựa ngó mây tuôn
    Bông may cỏ úa nẻo buồn hắt hiu
    Lưng non nhàn nhạt nắng chiều
    Trông hài mình - nhớ bao nhiêu dặm trường
    ° ° °
    Tưởng Từ - yên ngựa thanh gươm
    Ruổi rong nhật nguyệt, bốn phương là nhà (80)
    Tưởng mình - thưở lỡ chân sa
    Cành nghiêng, suối nhận kiếp hoa lạc loài
    Kim thì lẽo đẽo thiên nhai
    Mây bay gió thoảng, dấu ai mà tìm
    Mịt mờ cồn cát chân chim
    Lòng riêng hỏi mảnh trăng im cuối đường
    Rã rời bao dấu hài vương
    Gặp chi trong cuộc vô thường mà mong
    Cõi sầu sao rộng mênh mông
    Tìm đâu một chốn bụi hồng dung thân (90)
    ° ° °
    Chợt nghe tiếng trẻ trong ngần
    Trông lên Tiểu Nguyện đang lần bước hoa: (° )
    Con tìm bá mẫu gần xa
    Bây giờ mới biết mẹ qua chốn này
    Kiều vời, bảo: Nguyện ngồi đây
    Con ơi! Thử nắm bóng mây xem nào
    Trẻ reo: mẹ bắt được sao?
    Nàng cười, ôm Nguyện nghiêng vào vòng tay
    Chẳng ai bắt được mây bay
    Đêm đêm lơ lửng, ngày ngày lang thang (100)
    Khác chi cánh bướm nhuỵ vàng
    Tìm bay vơ vẩn dưới tàng hoa thơm
    ° ° °
    Thôn xa giải khói nhoà hơn
    Tà dương thẫm mảnh thâm sơn cuối trời
    Thoảng đưa tiếng gọi tiếng mời
    A hoàn tìm đến, mở lời cung nghinh
    Bẩm thưa: Quan sắp đăng trình
    Thỉnh bà lên kiệu, về dinh kịp đoàn
    ° ° °
    Sông Thu uốn lọn tơ vàng
    Bèo xuôi biêng biếc, sóng vang dập dìu (110)
    Chim di xao xác đường chiều
    Dường tha lác đác ít nhiều hạt sương
    Non nghiêng vách tía trời hường
    Sau lưng cửa núi mây vương mịt mờ


    IV. Bông chờ bên sông

    Bức thứ tư:
    (Kiều ngồi tựa hiên trăng mơ thấy
    bay lên như cánh hạc trời
    trong âm đàn chưa dứt tắt của lòng nàng).



    Kiều ngồi ngó mảnh trăng tơ
    Chùm sao Thu nở bông chờ bên sông
    Mênh mang dặm biếc cồn hồng
    Cúc tươi cánh nguyệt, liễu lồng tơ mây
    Phòng Thu trầm biếng hương gây
    Vườn trăng thêu nhạt dấu hài lối hoa (120)
    Côn trùng ri rả âm ba
    Gió đêm lãng đãng mưa ngà tơ phơi
    Dường trong hiu hắt Thu hơi
    Thôn sương chầy nguyệt cũng lơi nhịp sầu
    Đò đưa ai hát qua cầu
    Tiếng ca cùng nước sông mau lạnh lùng
    Lầu mai từ thưở tơ chùng
    Tay lan khép gió, năm cung bụi dày
    Đêm đêm nhớ ngón tơ này
    Đã từng đưa lá thuyền say sóng nhồi (130)
    Mà lòng âm hưởng chưa thôi
    Những khi quạnh quẽ - bồi hồi sóng thiêng
    Cây dài bóng xế nghiêng nghiêng
    Kiều ngồi xoã tóc trên thềm hương đưa
    Có trăng chia sẻ đời thừa
    Tình riêng - trăng tỏ bây giờ không trăng
    Nào đêm lối đẫm vườn băng
    Nào lầu khoá nguyệt giam hằng, thở than
    Nào Từ cưỡi gió quan san
    Mảnh trăng tri kỷ chưa tàn lòng nhau (140)
    Từ ngày nguyền bỏ tơ đau
    Trăng cài liễu tưởng - phím sầu quạnh thêm
    ° ° °
    Kiều đang chìm lắng nỗi niềm
    Dế im tiếng gọi - Kim thềm dáng ai
    Áo nào nguyệt giải sương phai
    Ngập ngừng bên giậu, hoa cài gió quanh
    Vườn sao lại rẽ hài xanh
    Riêng thềm tựa mộng, thiếp cành hoa xinh
    ° ° °
    Gió đưa phảng phất hương quỳnh
    Ướp con bướm mộng vô tình lại đây (150)
    Trăng vàng chênh mái hiên Tây
    Khoé tiên dìu dịu, bóng cây vật vờ
    Duới hoa thấp thoáng giọt tơ
    Ánh sao le lói vương bờ tóc bay
    Mi Kiều rũ nét lan say
    Thiếp đi mộng thực phương này là đâu
    ° ° °
    Lên non mây trắng lợp đầu
    Vờn bay theo ngọn cờ lau xạc xào
    Hai bên thắm lý tươi đào
    Kiều như cánh hạc bay vào phù vân (160)
    Cỏ vàng lấp mấy dòng chân
    Sáo tiên hoà với, đàn thần du dương
    Bỗng dưng biêng biếc non suơng
    Thành cây cầu lửng mây vương mịt mờ
    Trước sau chẳng bến chẳng bờ
    Bước chân theo tiếng trúc tơ dặt dìu
    Bâng khuâng trăm nỗi lòng Kiều
    Như dòng thơ nhẹ phiêu diêu ngang trời
    Chừng đâu sương cuộn mây dời
    Chừng đâu hạc ruổi hoa rơi mấy từng (170)
    Lênh đênh lả cánh lan rừng
    Nửa đêm chợt tỉnh ngó vừng trăng nghiêng
    Lòng Kiều mang mác nỗi riêng
    Nào hay thoáng mộng ứng điềm chi đây
    ° ° °
    Chân rời hiên nguyệt mái Tây
    Lò trầm khơi lửa bao ngày than trơ
    Lặng nhìn sợi khói ngẩn ngơ
    Còn leo lên ngọn mây mờ nữa sao
    Cây cầu lửng giữa trăng sao
    Phải chăng - cửa ngõ đi vào huyền căn (180)
    ° ° °
    Tiếng tơ kết kén ôm tằm
    Biết đâu hoá bướm - trăm năm một lần
    Nhớ nàng ứng mộng đêm xuân
    Giục nhau trả hết nợ nần bụi vuơng
    Sông xanh giở sổ đoạn trường
    Sóng đàn ơi, trả phím hường nổi trôi
    Tưởng đâu xác dạt sóng nhồi
    Hồn theo nước chảy bồi hồi tình xưa
    Đâu ngờ cái số hạt mưa
    Còn dài như một âm thừa chưa nguôi (190)
    Tưởng cung nguyệt trổ hoa tươi
    Nào hay mười ngón nước xuôi bẽ bàng
    Từ đêm vắng bặt tơ đàn
    Nợ nần ngày cũ chưa tan sợi nào
    Mông Thu phơ phất hiên đào
    Cầu mây còn bắc lối vào sông trăng
    Lụa ngà thẫm lệ hoen khăn
    Gà đâu tiếng gáy đã rần ngõ hoa


    V. So dây sóng gợn

    Bức thứ năm:
    (Kiều lại dùng đàn giải buồn, thì Kim Trọng
    tới thăm kể về cái chết kiên cuờng của một
    dư đảng Từ Hải với cây đàn đeo bên người)



    Tơ chùng tưởng cuốn mưa sa
    Hiên văn khép mở phên hoa khói trầm (200)
    Bao năm vùi giữa cát lầm
    Như cành sen trổ trong đầm hạ xanh
    Giờ Kiều lại nối âm thanh
    Thử đem sương gió tựu thành cung dây
    Tiếng đàn rã liễu rời mây
    Ngón tay dã hạc vờn bay dặt dìu
    Hai hàng lau lách đìu hiu
    Đồi phong lá gọi bóng chiều xác xao
    Hạt đàn tấm tức nao nao
    Suối tuôn mạch đá đau bào lòng non (210)
    Lơ thơ hoa trải đường mòn
    Bâng khuâng ráng đỏ theo con nhạn về
    Năm cung da diết đê mê
    Nắng hoen thềm phấn, mây kề song hương
    Ngón cong - đàn trổ nụ hường
    Ngón xuôi - tơ rụng, hoa vương mấy dòng
    Bước đàn cao thấp long đong
    Dư ba tóc biếc mơ mòng liễu xanh
    Lòng nào thoảng khói mong manh
    Lệ rơi ánh mắt tan tành sầu oan (220)
    Lúc thì như điếng, như tan
    Lúc thì phiêu lãng như làn trầm bay
    Hoá thân vào mấy cung dây
    Lửng lơ mây nhạc, vơi đầy dòng thơ
    ° ° °
    Chàng Kim giải mũ phất phơ
    Khi chau ngàn liễu, khi chờ non trăng
    Tiếng đàn im bặt dòng băng
    Sân ngoài chàng mới xin rằng: Tự nhiên
    Tóc vương tay nhuỵ băng nguyên
    Khoé môi khép nép nửa viền mận tươi (230)
    Kiều thưa: Mấy tiếng tơ lơi
    Tưởng đâu dừng phím như lời nguyền xưa
    Lòng riêng chưa tắt âm thừa
    Chiều nay lại rũ tiếng mưa giang hà
    Mải mê nào biết đâu là
    Nhóm hương cung thỉnh lên nhà thưởng âm
    ° ° °
    Kim rằng: Thăm gác Mai Trầm
    Dưới hoa tơ vẳng sương thầm hạt say
    Mái Đông tìm ghé nơi này
    Bên thềm nghe vẳng tơ bay dặt dìu (240)
    Mà sao hiu hắt muôn chiều
    So tơ xưa lại tiêu điều sầu hong
    Hay ta đòi đoạn việc công
    Chiều nay nghe thoáng nên lòng cảm ra
    Xin nàng thêm khúc tài hoa
    Thử xem thanh ứng có là khác hơn
    ° ° °
    Hương trà đôi chén khay sơn
    So dây sóng gợn lòng đờn lại tươi
    Hồn xanh xanh ngắt da trời
    Hoa Thu não nuột rung mười ngón son (250)
    Nửa cung ngơ ngác trăng non
    Nửa cung nắng quái sông còn vàng phai
    Chợt nghe Tiểu Nguyện reo ngoài:
    "Đàn chi khiến nở thêm vài ngọn bông!"
    Âm thừa gờn gợn mênh mông
    Ngoài song thấp thoáng bóng hồng Thuý Vân
    Cuối vườn cỏ úa, lui chân
    Dắt con, chẳng dám cho gần dư ba
    ° ° °
    Dâng chàng thêm một tuần trà
    Đèn khêu chênh mảnh gương ngà mái thơ (260)
    Kiều thưa: Vụng rối cung tơ
    Có buồn quân tử - xin nhờ lượng cao
    Từ đây dù có thế nào
    Tiếng đàn lại để rơi vào nguôi quên
    ° ° °
    Kim ngăn: Điều ấy chẳng nên
    Vì ta bao mối ưu phiền đảm đương
    Sáng nay ngồi trực công đường
    Trọng hình xử phạt những phường bất nhân
    Từ khi đất nổi sóng thần
    Hiển dương thánh đức yên quân bạo tàn (270)
    Bốn phương thành vững dân an
    Giặc xưa lòng núi đáy hang ẩn mình
    Như sương tan dưới bình minh
    Trừ gian cứ việc gia hình thẳng tay
    Huyện đường buổi sáng hôm nay
    Loạn quân có một tên này - vì đâu
    Trơ trơ lưng thẳng – nghênh đầu
    "Rằng: Tà, Chính - để mai sau sẽ bàn!"
    Sau lưng đeo một cây đàn
    Dường như kỷ vật còn mang bên người (280)
    Nói rồi, miệng ứa máu tươi
    Mắt trừng uất khí, gã cười như điên
    Khiến người nghe rợn ốc lên
    Cười xong thì xác đổ liền - Kiên trung
    Rõ là cái chết anh hùng
    Khiến lòng ta mãi vô cùng xót xa
    ° ° °
    Kiều nghe rời rã tay hoa
    Rưng rưng đặt chiếc tỳ bà cảm thương
    Nàng thưa: Quả chuyện lạ thường
    Khác chi da ngưa sa trường bọc thây (290)
    Những trang nghĩa sĩ xưa nay
    Ngại gì sinh tử chuyển xoay bụi hồng
    Rượu thề bát máu pha chung
    Thì trăm năm nguyện tấm lòng trăng soi
    Đàn kia xin được lần coi
    Dám nhờ quân tử cho đòi đưa sang
    Hẳn nơi động biếc lau vàng
    Tơ đàn ai đó còn vang vọng lời
    Gật đầu, chuyện dễ như chơi
    Nữa đây ta sẽ sai người đem dâng (300)
    ° ° °
    Chuông sương ngân vẳng mấy tầng
    Gió lay dầu dãi một vầng hoa hương
    Tiễn chàng cỏ lục vườn sương
    Sao bay dòng tóc, lá vương dấu hài


    VI. Vương mấy tơ đồng

    Bức thứ sáu:
    (Kiều mươn cây đàn xem - thì chính là cây đàn của
    Từ Hải - còn mang dấu khắc bài thơ cảm tác của nàng,
    nhân một đêm nghe tâm sự của Từ về cây đàn
    của Trần Nguyện Mai - người yêu đã khuất của chàng
    ở đất Châu Phong (Việt Nam) - và qua cây đàn này,
    Từ Hải cũng được một Thiền sư dạy lẽ Vô Thanh)



    Đèn khêu, cửa khép, ai hoài
    Trầm thơm lò cũ, vắn dài hàng ngân
    Đàn ơi! Tiếp tục tầm Xuân
    Ngờ đâu có lúc quây quần ánh trăng
    Còn dây tơ buốt lòng băng
    Tìm đâu một cánh chim bằng đã qua (310)
    Còn đây gỗ bạc trục ngà
    Theo ai sương sớm giang hà những xưa
    Còn dây xào xạc cung mưa
    Đàn ơi kim cổ không bờ cách ngăn
    Một chùm sao biếc hiên văn
    Theo tay nhật nguyệt Kiều lăn hạt sầu
    Thơ nàng - Từ khắc đôi câu
    Bây giờ dấu kiếm còn sâu bụi làn
    Nhớ người yên gió quan san
    Vó tung chuyển đất, tiếng ran lệch trời (320)
    Một hôm mắt nộ khí ngời
    Ầm rung giọng sấm tột vời chí cao
    Giận phường ô lại cường hào
    Đùng đùng bão nổi, ào ào mây đi
    Thanh gươm mở rộng biên thuỳ
    Yên dân riêng cõi, triều nghi rỡ ràng
    Cờ mây rợp, mặt trời vàng
    Sao rung kiếm động, rừng vang hịch truyền
    Rộng cho hoa cỏ truân chuyên
    Quân cơ trướng gấm đòi phiên dự phần (330)
    Nhớ đêm tạm gác việc quân
    Nhìn cây đàn cũ, hỏi dần duyên do
    Tơ chùng, trục bụi không so
    Gỗ phai màu nắng - dậy cho lẽ nào
    Dù trong muôn trận guơm đao
    Đàn theo yên ngựa, ra vào như không?
    Có chi vương mấy tơ đồng
    Gửi cây đàn cũ - lòng mong đáp đền
    ° ° °
    Từ rằng: Hận chửa nguôi quên
    Tấm thân còn đó, lời nguyền sao tan (340)
    Vời trông đất cũ mây ngàn
    Người xưa gửi nắm xương tàn khe sâu
    Anh linh hoà ánh tinh cầu
    Chừng nghe cây cỏ phai màu ngoài song
    ° ° °
    Ta từ quê cũ Châu Phong
    Nếp nhà thư kiếm, Lạc Long dõi nguồn
    Xuân xanh mười tám triêu dương
    Thánh hiền chí vững, cung gươm tài lừng
    Sơn hà - một đẫy sau lưng
    Quyết thanh nội loạn, quyết trừng ngoại xâm (350)
    Lửa hờn rèn chí nung tâm
    Anh em tìm chốn sơn lâm dựa mình
    Cõi biên vùng vẫy thân kình
    Cờ toan mở gió triều đình một phương
    Luỹ đồn rải rác non sương
    Chiêu binh nghĩa dũng, liệu đường tiến quân
    ° ° °
    Duyên trời gặp một giai nhân
    Cũng dòng thanh khí là Trần Nguyện Mai
    Chí nàng toan mở cõi ngoài
    Đèn chong gối sách, gươm mài ánh sao (360)
    Dặm hồng vó bụi tung cao
    Tóc xanh mây hạ, má đào hoa ban
    Nặng vì Dân, Nước - lo toan
    Lược Thao cùng với Thơ, Đàn sánh đôi
    Khi ngày điều trận ven đồi
    Khi đêm xướng hoạ, bồi hồi cầm thanh
    Hai ta mở cõi dựng thành
    Lòng người những muốn, trời xanh chẳng chiều
    Một phen binh giáp tiêu điều
    Vó bay theo vó, ngựa liều dặm băng (370)
    Giặc như lớp lớp mây giăng
    Phá tan đồn trại, san bằng luỹ tre
    Gươm vung - sấm giựt, chớp loè
    Hết xuyên bão nổi, lại đè sóng cao
    Song song gái kiệt trai hào
    Rừng gươm tên gió ra vào hai ta
    Mở đường máu quyết thoát ra
    Gió tan, hẹn dấy phong ba lại ngày
    Vó tung vượt mấy trùng vây
    Máu loang chân ngựa, non thây chật đồng (380)
    Cánh chim chưa thoát khỏi lồng
    Ngại ta chia trí, bận lòng ái ân
    Trao đàn lại, giữa vòng quân
    Vực sâu gieo nhẹ tấm thân tự tồn
    Sói lang còn ngẩn ngơ hồn
    Xuyên mây tiếng thét dập dồn giặc lui
    Dựng bờm ngựa cũng bừng vui
    Ầm ầm gió lớn cuộn vùi cỏ khô
    Núi giàn thế hiểm lô xô
    Một thân ngựa đạp trận đồ mà ra (390)
    ° ° °
    Yên dừng biên giới ngã ba
    Thanh gươm bốn biển không nhà - về đâu
    Năm ngàn nghĩa sĩ lạc nhau
    Tình duyên thoảng đã qua cầu gió bay
    Bốn phương biêng biếc ngàn mây
    Dường như thừa một thân này chẳng dung
    Nửa toan trở kiếm tranh hùng
    Nửa toan tìm chốn núi rừng tụ quân
    Cây đàn trên ngựa - phân vân
    Bốn dây tay chợt buông ngân tiếng hờn (400)
    Tiếng chi thác đổ mây vờn
    Chừng nghe kiếm gãy xanh rờn lửa reo
    Tiếng chi suối le tuôn theo
    Chừng nghe sương tụ, gió heo hút trời
    Chợt lưng non hiện bóng người
    Tay nương Thiền trượng, tới nơi, giật mình
    Thương nàng vì nước hy sinh
    Ta đang thiếp mệt, tâm tình nát tan
    Nhà sư cất tiếng hỏi han:
    Ai kia ôm mối đoạn tràng đi đâu (410)
    Vừa nghe như tỉnh lòng sầu
    Xuống yên thi lễ, cúi đầu tỏ thưa
    Thiền sư cười đáp: Ta chờ
    Đã lâu, mới vẳng một tơ não nùng
    Khác gì trống nổi trăng rung
    Khác gì nhỏ lệ anh hùng dưới sao
    Chí người như cánh chim cao
    Lạ thay! Lòng lại giam vào hữu thanh
    Cuộc đời - sương thoảng, mây nhanh
    Có Không - hạt móc đầu cành nhẹ rơi (420)
    Bao nhiêu đương thức loài người
    Che đi nguyên tánh toả ngời tự thân
    Muốn xoay chuyển lại cuộc trần
    Phải đồng sức mạnh toàn dân vẫy vùng
    Tay kia chẳng lướt năm cung
    Cho dâu biển trổ muôn trùng trái hoa
    Diệu hành - là tiếng Không Ta
    Không thanh âm ấy mới là âm thanh
    Dậy rồi, vóc hạc bay nhanh
    Viền trăng vô tướng đầu cành trượng treo (430)
    Lòng ta gió bão tan theo
    Mây hồng phất phới trên đèo hào quang
    Yên sương buộc chặt cây đàn
    Hai mươi năm lẻ chưa tan lời nào
    Tiếng thầm giục cánh chim cao
    Ngựa phai sắc gió, chiến bào nhạt mây
    Cây đàn - nàng mới hỏi đây
    Là di chúc, lẫn lời Thầy - còn vương
    ° ° °
    Mốt mai ta bỏ sa trường
    Sẽ đưa Kiều lại cố hương lần hồi (440)
    Bên dòng suối ngắm hoa trôi
    Cất gian lều nhỏ lưng đồi cỏ may
    Xuống đồng tát cá, bới khoai
    Vào non bẫy thú, nằm dài nghe chim
    Anh em nhớ đến nhau tìm
    Qua nương trẩy một giỏ sim làm quà
    Hứng nước suối thết bình trà
    Hái bầu nấu bát canh hoa cuời khàn
    Vuốt râu, viết sách, hưởng nhàn
    Then mây khoá một niết bàn bên khe (450)
    Mai sau viễn khách nào nghe
    Tìm thăm hang đá hỏi bè mây xanh
    Như Người phá giặc tan tành
    Vó mây Phù Đổng, công danh bọt bèo
    Vươn vai như biển dâng triều
    Đường về chỉ thấy sương chiều non giăng
    Kiều thưa: Rõ tấm can tràng
    Rồng thiêng ẩn cánh phượng hoàng bạt mây
    Phận hoa dám tưởng đâu ngày
    Song song đôi ngựa, cỏ cây tần ngần (460)
    Non cao mới biết trăng gần
    Đớn đau mới rõ dấu chân phi thường
    ° ° °
    Trò đời tranh bá đồ vương
    Ngàn năm phơi trắng bãi xương lập loè
    Lời than tiếng khóc còn nghe
    Gầm trời đâu chẳng khói che mịt mù
    Có chăng, goá phụ phòng thu
    Mạch sầu ngâm kỹ tiếng ru truyền đời
    ° ° °
    Từ nghe mắt thẳm trùng khơi
    Sương un chén ngọc, tay ngời ánh trăng (470)
    Nhìn cây đàn lạnh tơ băng
    Tóc bay mờ nhạt, sông Hằng sao thưa
    Cảm trong nữ tướng rừng xưa
    Tay Kiều hạ mấy dòng thơ lệ tràn
    Từ đem thích dưới thành đàn
    Bây giờ dấu cũ trơ làn sương phai
    ° ° °
    Đêm nay Kiều lại u hoài
    Lệ rơi đàn - bật dây ai não nùng
    Tiếng nào heo hút âm cung
    Ngoài song lãng đãng một vùng cỏ hoa (480)
    Hiển linh trong gợn âm ba
    Thành đàn cài nửa trăng tà nghiêng nghiêng
    Vai Kiều óng giải mây huyền
    Vuốt ve đâu gợn gió thiêng thoảng về
    Sao trời - ngỡ cánh hoa lê
    Dường như ánh mắt xưa kề mênh mông
    ° ° °
    Lại đêm trướng gấm trầm xông
    Từ nghe trinh bạch nỗi lòng nghĩa binh
    Hồ tổng đốc - Tướng triều đình
    Bỏ phường ô lại, chiêu nghinh hiền tài (490)
    Lại đem danh lợi chiêu bài
    Lại đem tông tích "rợ ngoài" truyền rao
    Còn đang vá giáp, mài đao
    Binh cơ trễ nải, anh hào phân vân
    Nửa vì đại nghĩa cố nhân
    Nửa e ngoại chủng, có phần hiềm nghi
    Thì thầm kẻ ở người đi
    Giáo gươm lơ đễnh, quân kỳ ngả nghiêng
    Lấy gì gióng trống thúc chiêng
    Gài ta vào thế tư riêng rõ ràng (500)
    Từ ngồi nung nấu tâm can
    Tuỳ cơ liều phải trá hàng một phen
    Chờ khi giáp mặt hai bên
    Rút đao bắt tướng, thế lên mấy hồi
    Chỉ còn ứng kế này thôi
    Con tin khi nắm chắc rồi - sẽ hay
    Bằng không - ngọt một đường bay
    Dù xa trăm thước đao này trệch đâu
    Rồi ta tuẫn tử qua cầu
    Cơ đồ trả lại cho mầu cỏ non (510)
    ° ° °
    Được thua một trận cười ròn
    Cái chi còn lại - hoạ còn văn chương
    Tội Kiều trải lắm đau thương
    Chẳng ơn xuân sắc lại chường gió Đông
    Cha già mẹ yếu ngùi trông
    Buồm đi cuối biển, bến mong sum vầy
    ° ° °
    Nghiêng nghiêng vò rượu nốc say
    Chống gươm sáu thước, dựng mày cọp thiêng
    ° ° °
    Kiều thưa: Chàng có chi phiền
    Phen này cho thiếp trận tiền được theo (520)
    ° ° °
    Mắt Từ như nửa trăng treo
    Rằng nơi bãi chiến lắm chiều gian nguy
    Việc quân - Kỳ, Chính còn tuỳ
    Thân ta muôn trận đã lỳ kiếm cung
    Ngại khi gươm giáo chập chùng
    Đất bằng kia lỡ bỗng vung sóng cồn
    Thôi! Nàng mắt khải hoàn môn
    Ngồi pha trà đợi, vân bôn ngựa về
    Qua sông chỉ ngọn kiếm thề
    Không yên thế giặc không về qua sông (530)
    Môi kia ai đậm cánh hồng
    Lầu xuân chờ nở một bông hướng vời
    Ta đi trong áng mây dời
    Tung cờ vĩnh cửu chơi vơi lá sầu
    Ngọn cờ ảo hoá thiên thâu
    Cuối đường vĩnh tuyệt rầu rầu cỏ xanh
    Lối ra - trống đổ tràng thành
    Hoa Thu trổ ngát, tinh anh dấu về
    Trái tim dũng sĩ không hề
    Cần chi một tấm mộ bia dựng buồn (540)
    Biết nhau - hạt lệ ngùi tuôn
    Cũng là rửa sạch đoạn trường gió bay
    Tử, Sinh - như áo đổi thay
    Lửa thiêng trao những bàn tay - chẳng tàn
    ° ° °
    Rồi Từ - như ánh sao tan
    Đêm nay loé giữa lòng đàn nao nao
    Trăng nghiêng nhớ mắt xưa nào
    Non xa còn khoác chiến bào nhạt sương
    Thanh trầm khơi nổi dòng thương
    Giàn Đông hoa đã ảnh hường sắc mây (550)


    VII. Trăm năm sương nổi

    Bức thứ bảy:
    (Kim Trọng tới thăm Kiều, chàng kể lại ác mộng của mình.
    Kiều khuyên Kim dấn thân, làm việc nghĩa)



    Ngựa Kim dừng vó mái Tây
    Mũ xanh ngọc đính duới cây sương mờ
    Ung dung áo lụa hài tơ
    Tiểu đồng đôi trẻ hầu chờ ngoài hiên
    Trà dâng chén ngát thuỷ tiên
    Chàng ngồi tựa án ưu phiền mông lung
    Rằng: Điềm chưa rõ cát hung
    Mà nay dư cảm hãi hùng còn vương
    Đêm qua mơ vượt non sương
    Trên đầu lau lách bên sườn cỏ gai (560)
    Chân chồn, móc đẫm hai vai
    Càng lên đường lại càng dài - hướng lên
    Khi ta vừa tới đỉnh trên
    Khắp nhìn thiên hạ, bốn bên mấy người
    Thì đâu, ngun ngút mù hơi
    Núi kia hoá chiếc cầu ngời trăng thanh
    Chân non - hoá khoảnh trời xanh
    Đầu non - hoá vực đá, ghềnh hiểm nguy
    Hai tay đất đá ôm ghì
    Cầu treo lơ lửng - còn gì dưới sâu (570)
    Đỉnh non lại hoá đầu cầu
    Tưởng lên lại hoá lao đầu xuống khe
    Mịt mù sương toả mây che
    Rơi như ngọn cỏ, thét nghe hãi hùng
    Tỉnh ra cảm sợ vô cùng
    Chẳng hay mộng ứng cát hung lẽ nào
    ° ° °
    Vừa nghe Kim kể chiêm bao
    Lòng Kiều như suối nao nao dồn về
    Khác gì mộng thoảng đêm kia
    Cũng cây cầu lững bốn bề trơ vơ (580)
    Ta bay cùng tiếng trúc tơ
    Chàng lên đỉnh ngọn ai ngờ - xuống sâu
    Trăm năm là mấy nhịp cầu
    Bước chân kiếm hỏi bể dâu ngậm lời
    Tử sinh một cõi con người
    Thấp, Cao, Thành, Bại - khóc cười dở dang
    Buồn vui trong giấc mơ màng
    Mấy ai thoát khỏi con đàng khói mây
    Kiều thưa: Bèo dạt sóng vầy
    Khuôn thiêng như mảnh trăng dầy lung linh (590)
    Ý người dấy cuộc phù sinh
    Cát, Hung cũng tự lòng mình thế thôi
    ° ° °
    Hẳn chàng nghị án hôm rồi
    Đêm qua tấc dạ bồi hồi chưa an
    Khiến trong ảo giác đêm tàn
    Chiêm bao - thiếp sẽ nhờ bàn - dở hay
    Bây giờ hoa cỏ chờ tay
    Phúc nhân gieo một chút này làm duyên
    Bốn phương sóng gió đã yên
    Ban ân bố đức là quyền mẹ cha (600)
    Móc mưa thấm đượm muôn nhà
    Thánh hiền mở sách, quan nha dẹp hình
    Lợi dân là vững triều đình
    Từ bi trải rộng, yên bình mới xong
    ° ° °
    Kim rằng điều đó - hằng mong
    Cửa quan thành chốn cửa Không đại từ
    Nhưng đời - hai lẽ công tư
    Lòng người ẩn hiện thực hư khó lường
    Dưới trên đâu dễ một đường
    Phép công cũng trọng, lòng thương cũng nhiều (610)
    Khó sao tròn vẹn đôi điều
    Làm quan như thể chơi diều gió to
    Nào ai ai biết thương cho
    Qua sông ai đã nhớ đò đưa sông
    Cứ theo mực thước cửa công
    Oán ân cũng lắm, mà lòng nào yên
    ° ° °
    Nhiều khi nhớ thú điền viên
    Quân cờ giậu trúc, ưu phiền ngoài tai
    Muốn đem treo ấn cửa cài
    Căng buồm, biển rộng sông dài thênh thang (620)
    Học đòi theo gã Từ quan
    Bên chùa cởi áo chuộc nàng dưới hoa
    Mái chèo lãng đãng yên ba
    Thần Phù xoã tóc la đà rong chơi
    ° ° °
    Kiều thưa: Đạo khí tột vời
    Trăm năm sương nổi mây dời là bao
    Cho dù bổng trọng quyền cao
    Tấm thân đâu chỉ ra vào quyền vinh
    Có mình cũng thể quên mình
    Cự tà hiển chính yên bình thế gian (630)
    Giữ cho lòng được bình an
    Huyện đường nào khác non nam ngủ dài
    Xưa nay hào kiệt anh tài
    Không sương gió - đã biết ai đá vàng
    Cửa công dù được một chàng
    Còn hơn để rặt những hàng bất nhân
    Một lòng vì nước quên thân
    Là quan chẳng trọng, là dân chẳng phiền
    Kim rằng: tâm Phật lời Tiên
    Tài nàng cai trị hẳn yên nước nhà (640)
    ° ° °
    Đã nghe ngựa hí hiên hoa
    Vó rơi khiến hạt sương sa ửng hồng
    Tiễn chàng ra chốn cửa công
    Thềm lam tương kính đôi vòng tay cung


    VIII. Tẩy nước cành dương

    Bức thứ tám:
    (Kiều đi thăm am xưa - nơi Giác Duyên đã dựng lên
    để nàng tu - am đã bị đốt, có người khắc trên tường
    bức tranh hạc, y như giấc mộng hiên thu của nàng)



    Kiều ngồi thêu đoá phù dung
    Gió lay những tưởng trùng trùng sóng xanh
    Con chim cẩm vũ trên cành
    Gọi chi thêm lạnh mấy nhành mưa bay
    Ngoài đồng hiu hắt bông may
    Tàng mây ẩm đục vào ngày trôi mau (650)
    Đường xa ngơ ngác cờ lau
    Am xưa liệu có phai màu khói sương
    Nhớ ngày tẩy nước cành dương
    Cửa Không yên gởi phận sương dần dà
    Sáng trông mái cỏ đầy hoa
    Như bông tuyết rụng cánh sa hàng hàng
    Ngừng tay nàng nhớ mang mang
    Cành Thu ngó lá Thu vàng vèo rơi
    Tàng lan như cất tay vời
    Thầy đi quẩy đẫy mây trời về chưa (660)
    Hay là tan tác gió mưa
    Nền rêu cây trút lệ thưa hoa tường
    Kiều truyền sửa kiệu lên đường
    Hầu theo đôi trẻ, quả hương tráp đào
    Sóng ùn khói trắng non cao
    Bãi xa cỏ úa dâng trào nước sông
    Tưởng chiều mắt lệ ngùi trông
    Tưởng người cứu độ cánh hồng là may
    Lênh đênh vẫn mặt sông này
    Bè giăng lưới đón, thuyền vầy hoa đưa (670)
    Thành đàn mười nhánh tay mưa
    Ngày nay hoa trổ, ngày xưa lệ ngần
    Núi rừng đâu rõ Thu Xuân
    Cánh chim nào nhớ dấu chân cát buồn
    Trách lòng tự đúc nên khuôn
    Trách người chia những vai tuồng thấp cao
    Vui buồn trong giấc chiêm bao
    Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can
    Nhớ Thầy Văn giảng Kim Cang
    "Khổ đau mới biết con đàng khói mây (680)
    Ngại gì người đó ta đây
    Mùa Xuân cây cỏ sum vầy trăm hoa
    Lênh đênh ngọn nước phù sa
    Vượt lên, thể nhập đại hoà biển dâu
    Lấy từ đâu, để về đâu
    Chợ mây tan hợp bên cầu mấy phiên
    Sao con lắm nỗi buồn phiền
    Chẳng như suơng sớm trên triền non bay
    Mặc ai tâm vọng nọ này
    Ván cờ cao thấp chua cay gượng cuời" (690)
    ° ° °
    Còn đang hướng mắt xa vời
    Núi xưa kiệu đã đến nơi hẹn lòng
    Tiếng chim thoảng lọt rèm hồng
    Sợi mưa bay ướp bềnh bồng hương lan
    Trông ra tủi hận vô vàn
    Am mây còn đống tro tàn nền trơ
    Rừng chiều lau lách bơ vơ
    Cây phơi cành lệ suơng mờ bao la
    Lòng Kiều lắm nỗi xót xa
    Trách mình quên mái hương xa bấy ngày (700)
    Thầy đi biền biệt ngàn mây
    Hỏi ai – hoa ngọn gió lay mấy nhành
    Mưa xoi rêu nhạt thềm xanh
    Cổng cao mối đắp, tường quanh chuột đùn
    Rì rào, dế gọi, trùng dun
    Vườn ngoài cỏ dại mấy lùm vươn cao
    Sân rêu vương dấu hài nào
    Không lâu hẳn có người vào đốt am
    Nàng truyền mấy đứa a hoàn
    Bệ xưa quét dọn, khói nhang lửa đèn (710)
    Kiều đang thơ thẩn quanh thềm
    Bỗng dưng thấy bức tường bên tạc hình
    Khắc con tiên hạc uốn mình
    Phiêu diêu hương nguyệt, lung linh vân đằng
    Rêu mờ, bụi phủ, nhện giăng
    Hạt mưa lấp lánh như hàng lệ rơi
    Chừng nghe tấc dạ bồi hồi
    Khác chi mộng thoảng đêm ngồi hiên Thu
    Cầu treo sương khói âm u
    Bước chân hạc nổi tít mù trăng sao (720)
    Bây giờ trước bức tường nao
    Vết hài nét hoạ thanh tao – cùng người
    Cứ xem nét ẩn nét tươi
    Chẳng từ đại chí, cũng nơi đạo trường
    Vết hài còn đậm dấu suơng
    Bức tranh rõ nét trên tường mới đây
    Hay là Tam Hợp sư Thầy
    Du phương để bức hoạ này nhủ ta
    Ý ngài thức tỉnh trần sa
    Quẩn quanh vọng tưởng vào ra ngại ngần (730)
    Sân ngoài mưa đọng dấu chân
    Tường trơ hạc cuốn phù vân rã rời
    Giác Duyên thầy khuất phương trời
    Mây ùn cửa núi, hoa rơi động ngoài
    Non xưa am vẳng u hoài
    Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông
    Biết đâu đã xả bụi hồng
    Hoá thân triền núi bãi sông nào chừng
    Sợi mưa ngơ ngác rưng rưng
    Hoa nghiêng lắng gió cây rừng vọng chim (740)
    Trên sông đôi giải mây chìm
    Nắng hoe tà áo tóc in dòng huyền
    ° ° °
    Kiệu phu chờ thỉnh ý trên
    Thơ đề thoắt uốn tay tiên bốn dòng
    Vai nghiêng vắt cạn lệ lòng
    Tơ Thu cuộn thẫm một vòng tà dương
    Nẻo về lối tím khe sương
    Hoa chân núi, lệ ven đường cùng rơi
    Thì thào khói sóng ùn hơi
    Nhạn sa dấu cát, mây dời sắc non (750)
    Đường dài thêm nỗi héo hon
    Cội lan đỉnh biếc hương còn vuơng theo


    IX. Năm cung trường lệ

    Bức thứ chín:
    (Đêm Kiều ngồi đọc thơ – cây đàn cũ "Gươm đàn nửa gánh"
    của Từ Hải - lại tự bật lên một tiếng não nùng)



    Giàn Đông chênh mảnh gương treo
    Ánh trăng pha hạt nến gieo lệ vàng
    Lung linh bóng nhạt thành đàn
    Kiều ngồi tựa án giở trang thơ sầu
    Tay tiên lả cánh nhiệm màu
    Mắt huyền thoáng hiện mấy câu suơng mờ
    Ngàn năm mực đọng dòng thơ
    Bút lan quyện gió trên tờ khói mây (760)
    Hạc nào qua, dấu còn đây
    Đường xưa chim để sầu này chan chan
    Thơ tình cuộn sóng chưa tan
    Hồn tình đáy chén bạch đàn đêm lên
    Lệ tình rơi vỡ bóng thuyền
    Chàng Trương – một khúc hát nguyền – tóc bay
    ° ° °
    Lửa tàn bóng lạnh lung lay
    Tường Đông lại chợt vẳng dây não lòng
    Cho sầu thêm võ hoa dong
    Tỳ bà đẫm một nét cong trăng vàng (770)
    Đêm qua tơ tóc bàng hoàng
    Bây giờ lại thoảng nốt đàn âm dương
    Hoa xưa tàn gió sa truờng
    Chút hương trinh bạch còn vương vấn hoài
    Bao năm theo ngựa lạc loài
    Năm cung trường lệ gởi ai anh hùng
    Rồng thiêng một thưở vẫy vùng
    Nghiệp riêng đã dứt, thù chung đã đền
    Vị gì nấc tiếng tơ lên
    Trong hơi gió vuốt rùng trên tỳ bà (780)
    Chén quỳnh trăng ẩn bóng hoa
    Bóng gieo xuống bức rèm là như mưa


    X. Hộp gỗ trầm hương

    Bức thứ mười:
    (Kiều nằm võng, đọc Thơ Kinh, khi vừa nhập diệu,
    thì cây đàn "Trần Nguyện Mai" cũng tự vỡ tan – Kiều truyền chôn đàn
    theo bên mộ nghĩa sĩ – Trồng lên nóc mộ đàn cây đông mai)



    Trời cao xanh hạt suơng thưa
    Tổ rơm gió động chim đưa giọng tình
    Bãi thu nhuộm khói bình minh
    Cò bay trắng lẫn bồng bình mây xa
    Kiều nằm soãi dưới giàn hoa
    Đu đưa nhịp võng tóc sa dòng huyền
    Xanh từ thảm cỏ xanh lên
    Hương từ gió lại, hương trên lụa hồng (790)
    Áo nàng tuyết điểm nhành bông
    Giếng huyền nét mắt, sen hồng viền tai
    Thơ Kinh thầm đọc sớm mai
    Chữ trong giấy quý, chữ ngoài chân chim
    Ý từ mây thấm vào tim
    Lời ra sỏi đá cũng im lặng mừng
    Dường trong tâm não tưng bừng
    Ý thơ cất cánh chim rừng hồ giang
    Làm cầu đưa trái tim sang
    Bờ kia – một đoá sen vàng chơi vơi (800)
    Võng như đưa tới ngọn trời
    Mở tung giả ngã lắng lời thiên nhiên
    Tay mười ngón muốt tơ tiên
    Cầm cong nhật nguyệt – hai miền mông lung
    Thêm huyền hoặc vẻ thu dung
    Bông hoa trong cõi vô cùng lại tươi
    Bâng khuâng Kiều hé môi cười
    Chợt nghe vách nắng rụng rời tiếng ngân
    Nghiêng mình dáng liễu dời chân
    Mái Đông ghé lại, xem gần, mới hay (810)
    ° ° °
    Cây đàn Từ - đứt tơ dây
    Thành đàn rời rụng những này gió sương
    Thấy từ thớ gỗ ám hương
    Thoáng con nhện trắng tìm đường tơ leo
    Mơ hồ ngựa chảy quân reo
    Hoa man mác lệ, gió heo hút vàng
    Kiều ôm đàn cũ sầu tàng
    Gỗ cau mặt thấm đôi hàng lệ xanh
    Tay nào bật khúc vô thanh
    Cho hoa kia trắng một cành tin xuân (820)
    Còn gì trong cõi phù vân
    Đàn ơi! Chẳng để ai ngần lệ thêm
    Bây giờ đàn lại lên yên
    Liềm trăng thái cổ - đêm huyền ngựa mây
    ° ° °
    Tóc Kiều gió phất phơ lay
    Môi chau nụ Hạ, mắt ngây giếng trời
    Gỗ xưa một nắm rã rời
    Hai tay ôm trọn lệ ngời chứa chan
    Nàng quỳ nghiêng tượng hiên lam
    Đàn tiêu mặt nhớ, lòng tan sợi buồn (830)
    Khác gì mây trải mưa tuôn
    Theo mưa mây cũng tan luôn bóng hình
    Rồi Kiều gói nắm u tình
    Cây đàn Từ - Nguyện còn hình gỗ trơ
    Chôn ngày xưa với đàn xưa
    Đoạn trường rơi lệ xin giờ thôi vương
    Liệm vào hộp gỗ trầm hương
    Chung quanh lót những hoa hường hoa mai
    Lò hương – khói ngẩn ngơ dài
    Mái Đông gió thoảng gieo vài lễ hoa (840)
    ° ° °
    Kiều truyền mấy đứa sai nha
    Đem hòm đàn nọ, hỏi nhà quản lao
    Nơi chôn dũng sĩ hôm nào
    Bên mồ, kỷ vật đặt vào táng theo
    Sườn đồi nắm đất cheo leo
    Nhành bia tuế nguyệt sương neo mấy hàng
    Lại truyền đánh gốc mai vàng
    Trồng lên nóc mộ cây đàn Nguyện Mai
    ° ° °
    Tơ tình theo gió ngàn bay
    Chờ xuân vàng cội hoa gầy hắt hiu (850)


    XI. Những đêm tàn rượu

    Bức thứ mười một:
    (Hồ Tôn Hiến thanh tra đất cũ, nhớ tiếng đàn Thuý Kiều.
    Trong tiệc thơ, có nhà văn kể lại đời nàng.
    Hồ ban tặng Kim Trọng cây đàn)



    Kim về tựa án đăm chiêu
    Chập chờn lửa múa, tiêu điều gió đưa
    Vào Đông tiết giá mưa thưa
    Cành trơ vàng rụng, đào vừa hồng khai
    ° ° °
    Huyện đường kể buổi sáng nay
    Có Hồ Tổng đốc nhân ngày thanh tra
    Đất bằng nhớ trận phong ba
    Thác là ngựa cuốn, gió là cờ reo
    Hồ cùng Từ Hải – một keo
    Nắng ngời kiếm kích, mây neo lọng tàn (860)
    Vài năm giặc giã tan hàng
    Mưu cơ đôi kế, ngọc vàng dăm rương
    Họ Từ - đối thủ phi thường
    Nam bang trí dũng chẳng nhường một ai
    Võ văn thao lược là tài
    Đức dung hào kiệt, trí ngoài thần cơ
    Nêu chính nghĩa, dựng màu cờ
    Danh vang trung thổ, khí mờ đẩu tinh
    Giá là rường cột triều đình
    Bốn phương mở cõi, thái bình cậy tay (870)
    Cứ xem người đó ta đây
    Trời cao hơn hẳn đất dầy - chẳng sai
    Xưa nay những bậc kỳ tài
    Tử sanh là chuyện bên ngoài, luận chi
    Tấn trò dâu biển qua đi
    Nghĩa nhân mới để chút gì làm duyên
    Mượn danh đãi sĩ chiêu hiền
    Che quân mai phục giáo khiên sáng loà
    Họ Từ thừa biết mưu ta
    Vẫn vào đất chết như là rong chơi (880)
    Vả chăng tuốt mũi gươm ngời
    Hai bên kéo một cuộc chơi đến cùng
    Dù cho trời đất chẳng dung
    Hùm thiêng trong rọ vẫy vùng chưa thôi
    Lại thêm thây chất nên đồi
    Nát nhầu cỏ nội, tả tơi lá ngàn
    Hẳn Từ chẳng vị giàu sang
    Lồng son sao đáng phượng hoàng khép thân
    Mà e gió dập mây vần
    Thêm hồn vô tội dưới chân ngựa giày (890)
    Một khi nát cỏ tàn cây
    Đời Kiều ắt hẳn thêm đày đoạ mưa
    Anh hùng nhi nữ nghìn xưa
    Vướng nhau vì một đường tơ diệu vời
    ° ° °
    Những đêm tàn rượu chơi vơi
    Trong ta chợt hiện bóng người hiên ngang
    Mắt Từ - kiếm ảnh chưa tan
    Khiến thân co lạnh trong làn khí thiêng
    Nghĩ mình muôn trận cung tên
    Việc quân trá thuật là quyền xưa nay (900)
    Ngại gì máu nhuộm hồng tay
    Thây oan chừng đã chất đầy đồng hoang
    Tử sanh - là luật sa tràng
    Giáo gươm là tín, trá gian là tài
    Chiến tranh – chẳng khác canh bài
    Mua vui trong cuộc trần ai nhọc nhằn
    Chỉ vì chút lợi chút danh
    Được thua đắp đỗi – tan tành tiếp nhau
    Đã thành cái lệ biển dâu
    Yếu thua, mạnh được – cao sâu đặt bày (910)
    Trừ khi Thánh Chúa vần xoay
    Yêu thương sự sống ngừng tay hận thù
    Lòng không biển thẳm non mù
    Hợp hoà cuộc thế thiên thu cậy nhờ
    Còn như trí thuật nghìn xưa
    Bày ra thêm những vực bờ tâm gian
    ° ° °
    Núi sông trải mãi xương tàn
    Đổi thành mấy đấu lương quan triều đình
    Cúi đầu lấy nhục làm vinh
    Mắt mờ tai điếc, dân tình mặc ai (920)
    Vật vờ áo mão cân đai
    Vào trong khúm núm, ra ngoài vây vo
    Tiếc cho thân cũng trong lò
    Tỉnh thôi tóc đã màu tro ngả chiều
    Hồn oan nào biết bao nhiêu
    Lẫn hơi gió lạnh ít nhiều oán pha
    Mắt Từ như lưỡi gươm loà
    Đêm đêm vào mộng nhìn ta lạnh lùng
    Trải qua muôn trận thư hùng
    Khơi sông máu hận đổi chung rượu đầy (930)
    Đã từng xé xác phanh thây
    Xem như phạt cỏ chém cây là thường
    Kể chi thiện ác thói thường
    Chiến tranh là đến yêu thương nhiệm mầu
    Mặc cho lũ quỷ không đầu
    Dắt nhau lủi thủi qua cầu tử sinh
    Từ hôm cái chết oanh linh
    Trong tâm ám ảnh, bên tình không yên
    Khiến ta u uất não phiền
    Đêm đêm thao thức ngó viền trăng phai (940)
    Bao giờ hoà hợp muôn loài
    Bên trong thịnh đức, bên ngoài điều phương
    Làm sao mở hết biên cương
    Trần gian dựng một thiên đường chung vui
    Cho hoa tươi góp ngàn tươi
    Cho ta dâng nốt cuộc đời góp công
    ° ° °
    Qua đây nhớ tiếng tơ đồng
    Ngày tàn binh lửa núi sông nhuộm cờ
    Tay Kiều lướt mấy dòng tơ
    Năm cung còn đến bây giờ vọng vang (950)
    Sông Thương nào sóng mang mang
    Tấm lòng nghĩa nước tình chàng chia đôi
    An Tiêm nào nỗi bồi hồi
    Hồn quê theo cánh diều trôi mây về
    Bốn dây như điếng như tê
    Nỉ non oán đọng, não nề sầu câm
    Bây giờ vẫn thoảng dư âm
    Tiếng đàn thanh lặng khóc thầm bấy nay
    Tơ xưa rụng ở đất này
    Ngọc xưa trầm dưới sông vầy lênh đênh (960)
    Đoạn trường sóng dọi trăng thanh
    Tưởng xiêm y đó còn xanh đến giờ
    Bãi chiều hoa trắng đong đưa
    Ngỡ tay người cũ phím tơ lạnh lùng
    Giờ nhìn kỹ nữ so cung
    Hồ ngồi tựa gối nhắp chung trà buồn
    Sân mưa sùi sụt dòng tuôn
    Dương như lệ tủi kiếp hường long đong
    Cùng tân khách ngỏ hận lòng
    Hồ tơ nay chạnh tiếng đồng tiệc quân (970)
    Ngày xưa, của một giai nhân
    Giết chồng, cứu nước muôn phần vẻ vang
    Rồi thân giao xuống Tiền Đàng
    Trăm năm vẹn nghĩa đá vàng sâu xa
    ° ° °
    Bấy giờ có một văn gia
    Thưa rằng chuyện ấy tôi đà rõ hay
    Giở trang tài mệnh xưa nay
    Cùng hoen nước mắt, càng dày túc duyên
    Dòng đời khi xuống khi lên
    Cũng là thử thách cánh thuyền thiên hương (980)
    Kể từ đất cũ họ Vương
    Kiều, Vân phận gái riêng vườn ẩn hoa
    Vương Quan, trai nối dòng nhà
    Soi trăng đọc sách đậm đà kinh luân
    Thuý Kiều vì hiếu quên thân
    Duyên trời vừa hé nụ xuân vội tàn
    Tưởng cùng Kim dệt phím loan
    Trăm năm hoà một bản đàn rồng mây
    Ai ngờ một sớm chia tay
    Mảnh trăng, đất nọ đất này nhớ nhau (990)
    ° ° °
    Kẻ đi buồn trắng ngàn lau
    Người về tay nhặt hoa cau lệ tràn
    Vận nhà gặp chuyện trái oan
    Vàng ba trăm lạng lễ quan mới thành
    Chuộc cha, nàng phải bán thân
    Dầu sôi lửa bỏng dám lần lữa đâu
    Cậy em trả mối tình đầu
    Hạt mưa liều phận, chôn câu nguyệt thề
    Rơi vào tay họ Mã kia
    Dầm sương dãi gió một xe bụi hồng (1000)
    Cánh bèo ngơ ngác trên sông
    Lầm nơi buôn hạnh, bán hồng mà trao
    Phận Kiều chưa ngọt tay dao
    Then sương đóng chặt hoa vào lầu xanh
    Lại lầm thêm mẹo Sở Khanh
    Miệng kêu chẳng thấu thôi đành phận câm
    Đứt lòng nức tiếng ca ngâm
    Rượu cười cợt khách lệ tầm tã riêng
    Nàng cùng chàng Thúc vầy duyên
    Tưởng qua dầu dãi lại thêm đoạ đày (1010)
    Chước ghen vợ Thúc mới hay
    Khiến mày mặt tủi – ngó mày mặt đau
    Trái oan đành phận tôi hầu
    Cá nằm đáy lưới lo rầu sớm hôm
    Vượt tường ẩn chốn Thiền môn
    Nhưng e thêm trận sóng cồn phong ba
    Lần thêm Bạc Hạnh, Bạc Bà
    Tưởng đâu mái ấm lại là lầu xanh
    Thôi thì sen lấm bùn tanh
    Gió mưa thêm nữa vầy cành thu mưa (1020)
    Não nùng nguyệt đón sương đưa
    Tình riêng còn ánh sao thưa cuối trời
    ° ° °
    Một hôm đất Việt có người
    Nghênh ngang đàn kiếm tìm nơi chuộc nàng
    Nửa năm duyên bén đá vàng
    Họ Từ nổi máu hồ giang quen ngày
    Đưa chồng ngựa nhạt yên mây
    Phòng thu khép kín đêm ngày mênh mông
    Người đi mù mịt non sông
    Cho hoa quỳ võ một bông hướng chờ (1030)
    Ngó sao, sao cũng hoen mờ
    Hỏi trăng, trăng cũng lặng lờ tuyết băng
    Nhện buồn thì giở tơ giăng
    Người buồn khâu áo, biết rằng gửi ai
    Gió phai màu lá hiên ngoài
    Lệ phai sắc gối đêm dài bóng câm
    ° ° °
    Một hôm binh giáp ầm ầm
    Từ về tráng khí hùng tâm chói loà
    Trai hào kiệt, gái anh hoa
    Một lời đã hẹn dẫu là trăm năm (1040)
    Bao phen ngậm lệ kêu thầm
    Nhục phơi mặt tái, sầu bầm dạ tuơng
    Kiều đem - ân oán tỏ tường
    Trả vay cho rõ lẽ thường quả nhân
    Những phường buôn liễu vùi xuân
    Đầu bêu cửa chợ xa gần hãi kinh
    ° ° °
    Thế rồi binh mã triều đình
    Cọp beo là dũng, ngạc kình là oai
    Tướng trời nổi trận gió bay
    Rạng ơn thánh thượng, một ngày giặc tan (1050)
    Thưởng công nàng với thổ quan
    Lênh đênh chèo quế, sóng lam dặt dìu
    Lòng ai tan tác muôn chiều
    Tiền Đường nước bạc gieo liều phù dung
    Chìm vào con nước - năm cung
    Cho đàn hoá sóng não nùng lòng ai
    Tiền căn chưa dứt thiên tài
    Cành vàng lại vướng mẻ chài thiện duyên
    Từ đây khoác áo hương thiền
    Nước dương tẩy oán tan phiền từ đây (1060)
    Mệnh đàn tưởng cuốn tơ dây
    Cửa Không chôn chặt những ngày xa xưa
    ° ° °
    Cuộc đời lắm nỗi tình cờ
    Khi trông không lại, chẳng chờ thì qua
    Từ Kim quẩy sách về nhà
    Chịu tang đất cũ, nhớ hoa đất người
    Nửa năm của lệch gió cười
    Hong đèn – sợ bóng, trông vời – tiếc trăng
    Đoạn tang vội vã vân đằng
    Lòng thu dặm bụi, ngựa băng nội dài (1070)
    Liễu xa những tưởng sầu ai
    Áo bay ráng đỏ, tóc gài mây xanh
    Đàn còn đợi ngẩn ngơ thanh
    Hiên văn sẽ lại nguyên vành trăng hương
    Một chiều giậu cũ dừng cương
    Bưởi phơi nụ lệ bên đường lất lây
    Hỏi nhà Vương - đã rời đây
    Hỏi nàng, đã đáp xe mây vân trình
    Hỏi tình, tình đã quên tình
    Vườn đào xanh cũ tưởng hình trâm rơi (1080)
    Tường xưa, mòn lệ trông vời
    Hoa xưa dột não lời thề hoa
    Buồng trầm xưa vẳng âm ba
    Còn rau sam, ấy nắng tà, vàng trơ
    Tỉ tê dế gọi trăng mờ
    Mấy tàu lá chuối xạc xờ gió lay
    Chàng Kim dõi đó tìm đây
    Sào phơi còn giải lụa dày dạn mưa
    Quẩn quanh nhặt chút hương thừa
    Chiếc hồn ma dại vật vờ thềm hoang (1090)
    Hỏi người tìm đến cuối làng
    Nhà Vương ẩn mái tranh tàn cột xiêu
    Hàn huyên nhắc lại chuyện Kiều
    Chứa chan khoé lệ, tiêu điều mày chau
    Tưởng nàng xa biệt ngàn dâu
    Bâng khuâng tóc biếc, giãi dầu mặt hương
    Tưởng hoa ngậm lệ canh trường
    Hồn theo cánh đóm tha phương lập loè
    Chừng đâu trong mảnh trăng kia
    Cùng soi hai mặt, cùng nghe lạnh lùng (1100)
    Trăng chung mà gối chẳng chung
    Lệ rơi lấp lánh một vùng ánh trăng
    Ước gì hoá được mây giăng
    Tìm nhau khắp chốn dẫu rằng tàn hơi
    Ước chi hoá hạt sương ngời
    Thiết tha đậu xuống tóc nguời miên man
    ° ° °
    Cứ theo ước nguyện của nàng
    Thuý Vân sẽ kết cùng chàng mối duyên
    Vương, Kim khuya sớm bút nghiên
    Bảng treo nhành quế tên điền rõ hai (1110)
    Bõ công kinh sách miệt mài
    Việc quan gánh vác, trong ngoài hiển vinh
    Lòng càng khơi ngọn lửa tình
    Trơ vơ trăng dõi, lung linh đèn sầu
    ° ° °
    Chàng Kim dong ngựa tìm châu
    Bâng khuâng nắng giãi, âu sầu suơng in
    Vẫn là mù mịt bóng chim
    Nhạn bay núi Bắc đi tìm biển Đông
    Kể gì đèn phố khói sông
    Mắt soi tám hướng, lòng mong mười chiều (1120)
    Cỏ hoa cũng tưởng Thuý Kiều
    Bâng khuâng suối bổng, đăm chiêu núi trầm
    Trời xanh thương kẻ có tâm
    Trong nơi tuyết giá hé mầm tin xuân
    Bao năm xuôi ngược đường trần
    Lang thang vó ngựa một thân võ vàng
    Được tin nàng – đã mất nàng
    Mạch sầu cắt nhỏ đôi hàng lệ xanh
    Kim nghe mới thấu ngọn ngành
    Kiếp hoa từ thuở lìa cành đớn đau (1130)
    Hết đày đoạ chốn thanh lâu
    Lại sa vào phận tôi hầu trớ trêu
    Kiếp người chừng được bấy nhiêu
    Mà bao hàng lệ tiêu điều thấm hoen
    Trách trời nỡ nặng lòng ghen
    Hết vùi tài trí, lại lèn giai nhân
    Cõi hồng đã rạc dấu chân
    Lòng mong dầu chỉ một lần thoáng qua
    Dẫu tình dang dở đôi ta
    Một lần thấy mặt âu là trăm năm (1140)
    Sông dài vừa gặp cá tăm
    Thì người xưa đã yên nằm đáy sông
    Ối thôi! Vỡ ngọc tàn hồng
    Thương nhau xin cảm nỗi lòng cho nhau
    Đàn tràng lập bến sông sâu
    Lệ tình rửa ngọc tươi màu băng nguyên
    Trả nhau vẹn nửa trăng nguyền
    Nước dương xin giải ưu phiền hờn oan
    Lênh đênh mặt sóng hoa tang
    Bó hoa nổi giữa mây vàng lô xô (1150)
    ° ° °
    Bỗng dưng hiện đến sư cô
    Nón gồi lá thẫm, dép bồ cỏ thơm
    Áo Đà vạt đậm hoàng hôn
    Quẩy kinh đầu gậy rẽ cồn lau vương
    Ảnh Kiều, vừa nhác bàn hương
    Mắt trầm tươi nét, dáng sương ngại ngần
    Nhà sư bỏ nón dừng chân
    Hai bên thi lễ thưa gần thưa xa
    Cửa Thiền còn ẩn tố nga
    Vừa nghe những tưởng đâu là chiêm bao (1160)
    Chàng Kim mắt lệ tuôn trào
    Kẻ sau người trước xôn xao lạy mừng
    Kéo nhau lên đỉnh cồn rừng
    Cây xao nhã điệu, chim bừng nhã thanh
    ° ° °
    Hương chiều ngan ngát am tranh
    Ngoài sân man mác mấy nhành lan rơi
    Dưới hoa thấp thoáng bóng người
    Quét hoa tay cũng lả ngời chùm hoa
    Nhìn nhau suối lệ tuôn oà
    Nỗi riêng tủi thẹn, nỗi nhà đoàn viên (1170)
    Phận bèo trôi dạt sông thiêng
    Ngờ đâu hai mảnh trăng nguyền chưa phai
    Một nhà sum họp trúc mai
    Thêm chim tấu nhạc, thêm đài bông dâng
    Bõ rài rạc ngựa bâng khuâng
    Bõ hiu hắt gió theo vầng mây xanh
    Cõi lòng cũng rộn yến oanh
    Viền trăng duới lại gặp vành trăng trên
    Dòng hương quyện sóng đàn lên
    Đổi tình cầm sắt thành duyên cầm kỳ (1180)
    Người kiệt nữ ấy là chi
    Đương Kim quan huyện, chính vì phu nhân
    ° ° °
    Hồ nghe vẻ mặt tần ngần
    Bờ sương ngạn liễu giang tân nhạt nhoà
    Tiểu đình trầm mặc hiên hoa
    Trà sen đọng nguyệt, tỳ bà dừng loan
    Sượng sùng khoé mắt thượng quan
    Nửa chi cay đắng, nửa san ngậm ngùi
    Sáng nay, Hồ mới sai người
    Đem cây đàn quý ban nơi huyện đường (1190)
    Thiên tình lại dệt đôi chương
    Thưởng công trị loạn, tuyên dương hiền tài
    Kim về tựa án thở dài
    Nến trong lệ đọng, mưa ngoài hiên thưa
    Tặng đàn hẳn nhắc tiếng xưa
    Trị dân – thầm nhủ như vừa so dây
    Ra vào, tư lự riêng tây
    Nghĩ mai thiết yến, đặt bày lo toan
    Ngoài hiên có tiếng a hoàn
    Dâng thơ đã nhác tên nàng đề phong (1200)
    Nến rơi lã chã giọt hồng
    Xem qua nhẹ nỗi bận lòng tối nay
    Chữ Kiều, lãng đãng hương bay
    Lủa pha sắc giấy ửng mây chiều mờ
    Đàn này, thiếp đã so tơ
    Quả là báu vật, bây giờ, tạ ơn
    Ấm thì mạch suối nào hơn
    Ngân thì tiếng hạc như vờn cồn trăng
    Trục đàn sáng ngọc tươi băng
    Xuân phơi khói núi, Thu giăng tơ trời (1210)
    Cảm riêng khó tả nên lời
    Xin cho tiện thiếp dự nơi tao đàn
    ° ° °
    Trước là đáp lễ thượng quan
    Sau cùng bằng hữu dâng làn cung tơ
    Tri âm tạ mối duyên thơ
    Chút lân tài đã đợi chờ mấy Đông
    Thiếp xin ghi tạc ơn lòng
    Đêm nay thảo vội đôi dòng bút trao
    ° ° °
    Đồi xa nai vọng tiếng gào
    Ngoài hiên nhoà nhạt cội đào đơm sương (1220)
    Bóng ai quạnh quẽ trên tường
    Gió Đông lùa mấy dòng hương nhạt màu


    XII. Dậy sóng Tiền Đường

    Bức thứ mười hai:
    (Nhờ tiếng đàn của Thuý Kiều, Hồ Tôn Hiến giải thoát
    khỏi con mắt ám ảnh của Từ Hải khi chết)



    Ngàn mai lợp trắng hiên lầu
    Hồ sen in dáng nhịp cầu lung linh
    Chênh vênh đôi mái tiểu đình
    Lẫn trong đảo liễu vươn mình xanh cong
    Ngàn đào gió gợn bên song
    Cành phơi sóng lục mơ mòng thiên nga
    Huyện đường mở tiệc thưởng hoa
    Quanh bờ liễu rũ đèn sa lồng vàng (1230)
    Dưới hoa thấp thoáng khách quan
    Giai nhân tài tử luận bàn văn chương
    Gió trầm ngan ngát thiên hương
    Hoàng hôn theo cánh nhạn hường về quanh
    ° ° °
    Sau rèm, phơ phất tinh anh
    Kiều ôm đàn, vuốt tóc xanh cúi chào
    Môi tươi chúm chím nụ đào
    Trán cao vòm tuyết, mi rào khoé nhung
    Não nùng một đoá phù dung
    Đôi tay hồng thạch so cung ngại ngần (1240)
    Xa đưa ấm giọng chim thần
    Chào mừng quan khách, xa gần dự thơ
    Nàng ngồi bên tấm rèm tơ
    Lung linh lửa nến, nhạt mờ dấu hoa
    Tóc mây biếc ngọn la đà
    Nửa phơi vóc liễu, nửa sa ráng trời
    Hồ quan tựa án trông vời
    Não nùng nét mặt rõ người năm xưa
    Tay Kiều hồng ngọc đong đưa
    Trầm im lặng khói, nến mờ ảo lay (1250)
    ° ° °
    Dây nào lơ thơ mây bay
    Nhỏ to như nhắc chuyện ngày hồng hoang
    Lòng Hồ tan loãng mênh mang
    Nỗi buồn khơi lại âm vang ngày nào
    ° ° °
    Lòng đàn bước thấp bước cao
    Dường như ngọn sóng xuôi vào trùng dương
    Đỉnh trầm cũng ngát thêm hương
    Cây đàn dậy sóng Tiền Đường trôi mau
    Tưởng muôn ngọn đổ qua đầu
    Mồ hôi đẫm mái tóc sầu Hồ quan (1260)
    Mắt Từ ám ảnh chưa tan
    Bỗng như vụt loé một làn gươm bay
    Mồ hôi ngỡ máu tuôn đầy
    Tay Hồ sửa tóc, mặt mày tái xanh
    Năm cung vàng ngọc tan tành
    Liễu tơ ướt sũng trời xanh rũ hồ
    Dây đàn chợt nín hư vô
    Tao nhân mặc khách còn ngơ ngẩn hồn
    ° ° °
    Lại run quỷ oán ma hờn
    Hơi đâu lạnh khối băng sơn bềnh bồng (1270)
    Dáng Kiều lau lách thu đông
    Như trăng úa gọi nước sông đi về
    Gió vờn cỏ nội lê thê
    Vệt sao lặn giữa tiểu khê hẹn hò
    ° ° °
    Ngón đàn thiên cổ so đo
    Tơ đồng lãng đãng theo lò hương gây
    Hạt sầu nức nở cung dây
    Tóc sa nét mực nến gầy lửa hiu
    Trán Hồ gợn nét đăm chiêu
    Đã bời gió tấp lại nhiều mưa đong (1280)
    Mắt Từ thoáng hiện ngoài song
    Nhìn Hồ trầm mặc như vòng trăng Thu
    Cành duơng trĩu ngọn sương mù
    Lồng đèn gió bạt lửa lu ngọn tàn
    ° ° °
    Tay tiên chợt ấm hơi đàn
    Mạch tuôn tí tách, trong làn xuân hương
    Nội ngàn hoa hé nụ sương
    Lò trầm man mác khói vương sợi dài
    Tưởng chừng chim họp ban mai
    Đậu về reo hát hiên ngoài triền miên (1290)
    Hồ nghe nhẹ bẵng ưu phiền
    Dây đàn ấm mạch suối thiêng tỉnh ngời
    Mắt Từ như cánh hạc trời
    Bay lên mất hút giữa nơi vô cùng
    Bấy giờ im bặt năm cung
    Trầm thưa thớt toả nến lung linh mờ
    Mắt Hồ vuơng ngấn lệ chờ
    Môi khô cười nụ hững hờ sầu quên
    ° ° °
    Ôm đàn khép nép hài tiên
    Tạ từ quan khách dáng quyên ngại ngần (1300)
    Tiệc đào tài tử giai nhân
    Vòng tay đưa tiễn trăng dần dần xê
    Lơ thơ liễu tựa hoa kề
    Hoa rơi tiễn bước hoa về cầu hoa
    Thêm trầm, thơ phú ngâm nga
    Sang canh eo óc tiếng gà vọng sương


    XIII. Ngỡ ngàng bọt nước

    Bức thứ mười ba:
    (Kim Trọng cứu giải oan nghi án của Ngô Khôi)



    Kim đang ngồi trước công đường
    Ngói cong mưa rụng, rêu tường lá bay
    Xạc xào gió cuộn hoa lay
    Cây nghiêng hàng gọi cuối ngày vàng trơ (1310)
    Núi xa thành dựng mây mờ
    Thôn xa khói tím vẩn vơ nhạt nhoà
    Ngoài sân lích chích bầy gà
    Gọi nhau đến dưới hiên nhà ủ con
    Chim nào buông điệu véo von
    Tưởng như đất cũ tiếng còn giục ta
    Bao năm chưa lại quê nhà
    Trải hồng một giải cỏ hoa dõi chờ
    Chênh vênh vách núi xanh mơ
    Thác cao ghềnh vắt dòng tơ ngang trời (1320)
    Trại hoa Đá Trắng thương ơi
    Mỗi tên đất – mỗi dấu đời vọng vang
    Thương từ nương sắn khóm lang
    Nhớ từ mùi đất bên đàng nhớ đi
    Lớn lên giữa núi xanh rì
    Cỏ cây như thể tứ chi thuộc mình
    Một thời chia nhục chia vinh
    Đã làm nên cõi tâm tình - là ta
    Bây giờ sợ khác trước xa
    Chắt chiu ảo ảnh như là thiên thu (1330)
    Kim còn tựa án ưu tư
    Tình neo cánh gió, ý từ hạt mưa
    ° ° °
    Dưới thềm đã vọng tiếng thưa
    Dẫn vào bà lão già nua tuổi trời
    Lưng còng, quần áo tả tơi
    Tay nương gậy trúc vẻ người chốn quê
    Kim truyền: lão ở đâu về
    Có chi oan ức đạt đề của công
    Bẩm quan già ở núi Đông
    Suốt đời cặm cụi vun trồng rau khoai (1340)
    Hiếm hoi được mụn con trai
    Ngô Khôi tên gọi, tuổi ngoài ba mươi
    Cảnh già mẹ goá, con côi
    Vào rừng hái nấm, lên đồi bẻ măng
    Nhà nghèo chưa đủ miếng ăn
    Kể chi đau ốm khó khăn khôn lường
    Năm xưa quan trấn địa phương
    Một hôm gặp ở giữa đường, bắt đi
    Giữ giam nào rõ tội chi
    Thân nghèo còn biết lấy gì đảm đang (1350)
    Hai năm còm cõi lang thang
    Dò la được biết đày sang huyện này
    Vội vàng chống gậy đi ngay
    Tấm thân muôn dặm đoạ đày nắng mưa
    Lần xin cơm cặn canh thừa
    Nhìn con lần cuối cho vừa nhớ mong
    Xác này bỏ chợ trôi sông
    Còn hơn tựa cửa ngùi trông lệ tràn
    Đánh liều, già đến cửa quan
    Cậy nhờ phụ mẫu xá oan cởi sầu (1360)
    Mẹ con cho đuợc nhìn nhau
    Làm thân trâu ngựa kiếp sau nguyện đền
    Vô cùng – cảm tạ ơn trên
    Thân này dầu nát không quên tấc thành
    ° ° °
    Mưa ngoài trĩu ngọn cỏ xanh
    Mây vương nắng quái bên thành mưa dây
    Rập đầu lạy trước án mây
    Trên khuôn mặt lão vương đầy lệ rơi
    Kim truyền tra sổ tìm người
    Rõ ràng án buộc những lời vu vơ (1370)
    Già nghe mừng tủi sững sờ
    Vẻ e quáng mắt, vẻ ngờ chiêm bao
    Lệnh truyền xuống bọn quản lao
    Giỏ khoai vội xách theo vào thăm con
    Trông già chàng những héo hon
    Bước chân từ mẫu trèo non đạp ngàn
    Đời còn lắm chuyện trái oan
    Bất công nhan nhản, lầm than dẫy đầy
    No nê chi bọn tớ, thầy
    Họp bè kết nhóm đạp giày dân đen (1380)
    Trời cao chẳng thể với lên
    Tiền tài thế lực bốn bên dập vùi
    Hùa nhau một lũ ăn người
    Tiếng kêu tắc nghẹn, tiếng cười hả hê
    Giận mình một thuở đam mê
    Trị dân thẳng mực ra bề tôi trung
    Nặng nề quỳ gối khom lưng
    Cũng phường bịt mắt tai bưng bấy ngày
    Vá trời khôn một bàn tay
    Đành đem chí gửi chén say giày vò (1390)
    Thôi thì đủ mặt đủ trò
    Thân tâm nô lệ vào cho đồng tiền
    Tưởng khi theo đuổi bút nghiên
    Mộng làm sáng đức thánh hiền cửa công
    Ngỡ ngàng bọt nước ra sông
    Chốn quê thèm đuợc làm ông đồ già
    Chính chân giữ lấy nếp nhà
    Đã làm không Hoá thì Hoà thái hư
    Khi ngày cao giọng thi thư
    Khi đêm thưởng nguyệt cùng sư đạo đàm (1400)
    Khi qua làng nước luận bàn
    Bảo răn như đạo, khuyên can thực lòng
    Còn hơn hoạn lộ long đong
    Giúp dân chẳng được như lòng ước ao
    Ta còn nhớ giấc chiêm bao
    Cầu treo dốc ngược rơi vào phù vân
    Theo Kiều lấy phúc làm nhân
    Cuối năm xin được thi ân giảm tù
    Những ai án tích lờ mờ
    Xin cho phóng thích, lượng nhờ quan trên (1410)
    Bút rồng đạo đạt đôi tên
    Ý tình tha thiết trình lên tỉnh đường
    ° ° °
    Bọt mưa nhuộm nắng mây huờng
    Cơn mây trên đỉnh phố phường về đâu
    Thì thùng nhịp trống tan hầu
    Ngoài sân ngựa cũng gục đầu hí vang


    XIV. Hoà tan dặm trường

    Bức thứ mười bốn:
    (Ngô Khôi tới dâng Kim Trọng đôi chim Đại Hồi,
    nhờ vậy Vương Quan đã tìm đuợc tung tích Hồ Ông
    (Thầy học của Kim, Quan, Kiều) - Dòng dõi Hồ Quý Ly (Việt Nam) – lưu lạc bên Tàu, là một học giả chủ truơng "Tri Hoà Hành Hoá")



    Guồng tơ nhật nguyệt mênh mang
    Cuốn hồng sương núi, phơi vàng xuân hoa
    Lưng trời lác đác chim qua
    Cánh theo gió ấm thiết tha tìm về (1420)
    Mây bay lả nét thơ đề
    Núi xanh thiên bút ngọn kề nghiên suơng
    Lầu cong mái đậm nắng vương
    Tiếng chim trong cụm hải đường xôn xao
    Huyện đường khuất giữa ngàn đào
    Đì đùng pháo nổ, ngạt ngào trầm xông
    Cúc vàng nở ngát hiên đông
    Mây trời cỏ đất mênh mông một màu
    Họ hàng đoàn tụ bên nhau
    Nhìn đàn trẻ nhỏ trước sau một bầy (1430)
    Ngày xuân mới gặp nhau đây
    Vương, Kim ngồi dưới tàng cây thưởng trà
    Chuyện gần rồi đến chuyện xa
    Tấm lòng hồi tưởng quê nhà đinh ninh
    Hai ta như bóng theo hình
    Leo lên cành bưởi luận bình văn thơ
    Nhân khi Thầy mải cuộc cờ
    Trốn trường ra tắm bên bờ Bảo Giang
    Qua nương bẻ trộm mía vàng
    Ăn xong nhặt sỏi bên đàng ném nhau (1440)
    Trở về nhận bốn roi đau
    Thế rồi lại trốn đi câu như thường
    Trong mình, giấu mấy nén hương
    Ghé vào bãi mộ bên đường phụ ma
    Sườn đồi đuổi bắt reo ca
    Buông diều cánh cốc la đà bay lên
    Trèo cây đa, bắt sáo đen
    Móc nhằm hang rắn một phen hoảng hồn
    Mùa đông rủ chó săn chồn
    Xuống khe đơm cá, lên cồn bẫy chim (1450)
    Bạn xưa còn nhớ như in
    Bây giờ ai biết bóng chim cuối trời
    Mùa nào chẳng có thú chơi
    Ngày nào chẳng đứng nghe lời rầy la
    ° ° °
    Sau lưng có tiếng hầu nha
    Xin đưa một kẻ vào là Ngô Khôi
    Dâng lên cặp chim Đại Hồi
    Lông tơ như thể phấn nhồi tuyết vương
    Quả là báu vật lạ thường
    Tên Khôi khép nép bên tường trình thưa (1460)
    Rằng con từ độ ơn nhờ
    Thượng quan minh xét, bao giờ dám quên
    Đoái thương đến phận dân hèn
    Tha về phụng dưỡng mẹ hiền sắt son
    Đức tày vạn biển nghìn non
    Dù cho sông cạn đá mòn không phai
    Quê nhà có ngọn Thiên Thai
    Đỉnh cao chót vót là đài Thông Linh
    Có hang Thánh Hoá, Tâm Bình
    Bên chùa Non Nước cảnh tình thanh u (1470)
    Có Thầy ở nước Đại Ngu
    Là Hồ ẩn sĩ dật cư chốn này
    Tổ tiên lưu lạc qua đây
    Cố hương cách mấy trùng mây quan hà
    Sống cùng ái nữ hiền hoà
    Sắc tài đôi vẻ tên là Ẩn Lan
    Sớm trưa cung cửi tầm tang
    Xuống khe giặt lụa, lên ngàn dạo chơi
    ° ° °
    Vương, Kim vừa thoáng nghe lời
    Nhìn nhau xúc động bồi hồi - Thầy xưa! (1480)
    Bao năm đằng đẵng ai ngờ
    Mây còn quyện núi, nước chưa qua cầu
    Vương truyền: Người hãy trình mau
    Tiểu thư còn biết hiệu "Sầu Hoa Dung"?
    ° ° °
    Họ Ngô xiết đỗi lạ lùng
    Quan đây, Thầy đó hẳn chung họ hàng
    Bẩm quan quả đúng hiệu nàng
    Người còn tôn bậc chúa lan tuyệt trần
    ° ° °
    Hai chàng nghe nói tần ngần
    Mỗi lời như dẫn xa dần vào mơ (1490)
    Mái trường cỏ lợp đơn sơ
    Xanh xanh ngõ trúc, ơ hờ then hoa
    "Làm Nên Hoá, Biết Nên Hoà"
    Chủ trương, riêng phải học gia kinh quyền
    Điều Thân, Tịnh Ý, Hoàn Nguyên
    Hoà vào xã hội, thiên nhiên đổi dời
    Tình thương, lẽ sáng thông ngời
    Giúp người Tự Chỉnh giữa đời ngăn che
    Lời Thầy khuyên nhủ răn đe
    Khi ngồi luyện tập, khi nghe văn bình (1500)
    Đạo trương thắm thiết ân tình
    Bao năm tấc dạ in hình chưa phai
    ° ° °
    Khôi rằng: Như loại chim này
    Tuy là dã điểu – lại hay nghĩa nghì
    Theo nàng – đuổi cũng không đi
    "Lý – Trần – Lê" hót vân vi núi ngàn
    ° ° °
    Lâng lâng như suối reo đàn
    Tưởng lời non nước hoà tan dặm trường
    Từ nghe Lan hát trên nương
    Đôi chim từ bỏ non sương theo cùng (1510)
    Suốt ngày như bạn vui chung
    Tiếng chim hoà vọng một vùng non xanh
    Thế rồi kết tổ trên cành
    Thời gian thoắt đã nở thành một đôi
    Nàng đặt tên chim Đại Hồi
    Ngày ngày tung cánh trong nôi mây hồng
    Con thường hầu hạ Hồ Ông
    Lên non hái thuốc, câu sông buông thuyền
    Tập tành chút ít bút nghiên
    Thảnh thơi riêng cõi uyên tuyền qua mau (1520)
    Đói no bữa cháo bữa rau
    Nửa nuôi thân mẫu, nửa hầu Tôn sư
    Từ ngày hoạ đến chẳng ngờ
    Duyên may gặp cửa quan, nhờ lượng trên
    Cho về phụng duỡng mẹ hiền
    Ơn cao lòng những mong đền một mai
    Nhân khi kể đến danh ngài
    Ẩn Lan gửi tặng chim này lễ xuân
    Gọi là báo đáp đôi phần
    Rạng soi thánh đạo trị dân an hoà (1530)
    ° ° °
    Kim truyền: Heo hút non xa
    Dùi mài kinh sử được là quý hơn
    Vị gì lặn lội xuyên sơn
    Qua đây đền đáp chút ơn bình thường
    Mẹ già sớm móc chiều sương
    Lỡ khi nắng gió bất thường, chớ khinh
    Sinh thành ân nghĩa cho mình
    Còn ta chút lượng hiếu sinh đáng gì
    Nghỉ chân dăm bữa – rồi đi
    Cho ta gửi chút quà về núi Đông (1540)


    XV. Ào ào ngọn gió

    Bức thứ mười lăm:
    (Kim, Quan du xuân - ra tay trừng trị
    bọn cường hào, vừa gây nên hai án mạng)



    Bâng khuâng huơng nội hoa đồng
    Làng xa bát ngát mấy vồng tre xanh
    Cỏ dài lả gió qua nhanh
    Chiều Xuân chim tụ trên cành mừng nhau
    Nắng chia vàng ửng hàng cau
    Thì thùng trống điểm nhịp chầu đình xa
    Đầu năm mở hội thưởng hoa
    Nào là Quan họ, nào là Trống quân
    Hai bên tuấn tử giai nhân
    Hoà nhau điệu hát trong ngần đầu thôn (1550)
    Sông dài chín ủng hoàng hôn
    Khói dâng lãng đãng bên cồn chim kêu
    Nhịp hò bơi chải giục đều
    Thuyền đua theo ngọn thuỷ triều như bay
    Tiếng nào la hét vỗ tay
    Ven đê thấp thoáng lửa bay đuốc hồng
    Mây phơi giăng đỏ đồi thông
    Chùa rêu núi vọng hồi chuông vân tường
    Vương, Kim cải dạng dân thường
    Thong dong thầy tớ lên đường dạo Xuân (1560)
    Dấu hài lân mẫn chúng nhân
    Bước đi cây cỏ xanh ngần vàng pha
    Nơi thì vào hội Đình Hoa
    Cây đu đầu ngõ la đà cành lên
    Gái quê má lúm đồng tiền
    Khăn vuông mỏ quạ, yếm viền gò xanh
    Mắt huyền tươi nét long lanh
    Thắt lưng hoa lý trên nhành vờn bay
    Người chờ đánh một vòng vây
    Bên kia trì xuống, bên này nhún thêm (1570)
    Cần tre lại vắt tung lên
    Nàng càng xanh mặt, chàng thêm hứng nồng
    Chung quanh tròn mắt cười trông
    Lắc lư đầu hướng theo vòng đu cao
    Nơi thì mở hội thôn đào
    Ngoài sân đô vật lăn vào quần nhau
    Trống cầm vừa đổ nhịp mau
    Hai thân hùng hục – một màu đồng hun
    Nơi thì chèo hát i uông
    Tiếng kèn eo ét, tấn tuồng múa may (1580)
    Diễn viên chỉ đó chỉ đây
    Sau cành đuốc lớn mặt mày đỏ ran
    Người xem dưới bục lấn tràn
    Áo hoen khăn bạc những làn mồ hôi
    Tập trung trống trút từng hồi
    Hoàng hôn lặng tắt sau đồi tùng xanh
    Cội mai phơ phất đôi cành
    Con ong kiếm mật bay nhanh bãi chiều
    Gió lùa ngọn cỏ đìu hiu
    Nam thanh nữ tú dập dìu lại qua (1590)
    ° ° °
    Bỗng nghe tiếng chạy tiếng la
    Rượt theo thằng bé quanh nhà lao xao
    Người xem không lối ra vào
    Trẻ kia còn biết ngả nào chuồn mau
    Hầm hầm mặt ngựa đầu trâu
    Quật theo đôi gậy, nắm đầu nhắc lên
    Lết đi như kéo tấm mền
    Buông tay, xác nọ rũ mềm lăn quay
    Một người xanh xám mặt mày
    Xông vào xác trẻ vừa lay vừa gào (1600)
    Con ơi! Con có làm sao
    Mẹ đây còn sống thế nào hở con!
    Trẻ kia hé mắt héo hon
    Nấc lên nhìn mẹ như còn thiết tha
    Buông thây con - mụ khóc oà
    Rú lên chồm đến người nhà vương tôn
    Gã tung đạp, hộc máu mồm
    Bước chân lảo đảo, mụ ôm bụng nằm
    Quân đâu kéo đến rầm rầm
    Nửa mau cấp cứu, nửa ngầm bủa vây (1610)
    Kim truyền: Trói hết bọn này
    Người quanh đổ lại tiếp tay tức thì
    Lôi thôi khăn áo tu mi
    Giáo gươm tuốt sáng dẫn đi một đoàn
    Mụ run tay chỉ bên đàng
    Thều thào, mấp máy hai làn môi khô
    Rằng con thân cô thế cô
    Chỉ còn đứa bé cậy nhờ thượng quan
    Dường như dồn hết hơi tàn
    Lời chi tắt nghẹn, xuôi bàn tay yên (1620)
    Bên trong trẻ khóc ré lên
    Vương truyền khiêng vực xác trên vào nhà
    Đầu giường còn bát cháo hoa
    Góc tường siêu thuốc hơi phà lửa sôi
    Nhìn hai thây chết bồi hồi
    Gặng tra mới có một người chịu thưa
    ° ° °
    Rằng chồng mụ nọ năm xưa
    Đày làm lính thú nắng mưa cuối trời
    Một hôm quần áo tả tơi
    Trốn về nhà giữa những lời hăm he (1630)
    Cái thân trên búa dưới đe
    Hết hào thuốc vặt, lại be rượu đầy
    Hết chiều tớ, lại hầu thầy
    Nai lưng làm mướn nuôi bầy nhặng xanh
    Ít tiền buôn bán để dành
    Cởi ra đút lót mấy anh sống nhờ
    Có thì giả bộ làm ngơ
    Bằng không xách cổ lên chờ cửa quan
    Thương con xót vợ cơ hàn
    Cắn răng ngậm miệng phàn nàn cùng ai (1640)
    Kéo cầy nuôi nợ - lệch vai
    Bao nhiêu đày đoạ rạc rài lắm phen
    Năm rồi có kẻ ghét ghen
    Thế là đóng cũi cài then nhốt vào
    Cái thân nhục nhã lính đào
    Tù cho đáng kiếp ai vào viếng thăm
    Mẹ con làm mướn quanh năm
    Thắt lưng buộc bụng khó khăn kể gì
    Tháng rồi sinh một hài nhi
    Có ai dám mướn thuê gì nữa đâu (1650)
    Cảnh nhà trăm mối lo sầu
    Thế rồi ngả bệnh nhấc đầu không lên
    Thằng cu lớn phải kiếm tiền
    Thuốc thang nuôi mẹ quanh miền xin ăn
    Kể chi hắt hủi nhục nhằn
    Cúi đầu lạy hết khó khăn phiền hà
    Xóm trong có một Hoạn gia
    Tiền kho bạc đụn đầy nhà quyền danh.
    Mấy đời dòng dõi công khanh
    Đè đầu bóp cổ dân lành nhiều phen (1660)
    Đã đành yên phận bùn đen
    Đạp quen người lại cố lèn thật đau
    Nuôi thêm một lũ đầu trâu
    Làng trên xóm dưới âu sầu bấy nay
    Đảo điên như trở bàn tay
    Quẹt công lừa của một bầy gian ngoan
    Bao người tù rục chết oan
    Bắt con, cuớp vợ tiêu tan dần dà
    Có ai tính chuyện kêu ca
    Nửa đêm ném lửa đốt nhà như chơi (1670)
    Đợi trời thì đã tàn hơi
    Căm bầm tím ruột, ngậm lời dạ thưa
    Tha hồ làm gió làm mưa
    Quan trên sợ thế còn chừa mặt ai
    Hoạn gia nổi tiếng một "ngài"
    Tham lam chật dạ, gái trai tính lừng
    Cầm đầu thêm bọn khuyển ưng
    Chuyên bề cướp giật, chuyên lùng gái tơ
    Chôn vùi bao kiếp đào thơ
    Ối thôi! Tội kể đã mờ trời cao (1980)
    Chiều nay thầy tớ tiêu dao
    Thằng cu vô phúc ném vào - lỡ tay
    Trông lên phách lạc hồn bay
    Co chân lủi đến chỗ này – rồi yên
    Nhờ ơn nhị vị quan trên
    Rộng soi mới dám trình lên đôi phần
    Nói cho cạn nỗi khổ dân
    Rồi ra nát thịt tan thân cũng đành
    Dù là voi đạp ngựa phanh
    Quyết đem đổi mạng cho thành tiếng kêu (1690)
    Khổ đau chất ngất bao điều
    Đèn trời soi rõ nay liều mạng thưa
    ° ° °
    Bỗng đâu lốc cuốn bụi mờ
    Ào ào ngọn gió vật vờ tàng me
    Ai ngờ sau chốn luỹ tre
    Lắm phường cẩu tặc kết bè hại nhân
    Chẳng kiêng phép nước xa gần
    Cậy thần cậy thế - gớm quân lột người
    Đường về Xuân cũng kém tươi
    Kim truyền đem trẻ về nơi công đàng (1700)
    Ra tay phá xích xiềng oan
    Bằng không ta sẽ cáo quan trở về


    XVI. Ai để hoa dung

    Bức thứ mười sáu:
    (Vương Quan hồi tưởng người yêu cũ – nàng Ẩn Lan (con gái Hồ ông)
    và dự định đi theo Ngô Khôi thăm Thầy học)



    Vương Quan thơ thẩn ngoài đê
    Ven sông in bóng hoa lê nở bừng
    Tiếng ai hú vọng trong rừng
    Mây phơi lụa tím trên sừng trâu tơ
    Nền trời nhàn nhạt màu mơ
    Sông đem ráng đỏ sóng hờ hững đi
    Sáo diều vọng tiếng vu vi
    Như chim nghiêng cánh tìm gì lưng mây (1710)
    Thôn xa nghển bóng cau gầy
    Vẻ như tư lự dõi bầy sẻ thưa
    Gió chiều giục nhớ thôn xưa
    Vườn mai hoa trắng bây giờ còn tươi
    Niềm quê vời vợi phương trời
    Lửa chiều thấp thoáng tưởng lời cố thôn
    ° ° °
    Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
    Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu
    Tiếng nàng hát vọng đôi câu
    Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ (1720)
    Lều tranh còn ủ chăn mơ
    Mối tình là một bài thơ vô đề
    Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề
    Gió Xuân nay có vỗ về suối hương
    Đêm nao ngồi học bên tường
    Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm
    Ngoài song thoảng tiếng hài im
    Như trăng buông hạt tơ chìm kiêu sa
    Lan cười đưa đến cho ta
    Sợi dài tóc buộc chùm hoa ngâu vàng (1730)
    Sách thơm áp má mơ màng
    Tỉnh ra hương thoảng bóng lan chập chờn
    Nhớ khi em dỗi em hờn
    Hai ta chia sẻ nắm cơm cháy vừng
    Nhớ đêm nằm võng ngó trăng
    Đếm ngôi "sao sáng" lại rằng "sáng sao"
    Giọng em lanh lảnh tiếng cao
    Răng em tươi hạt ngọc nào long lanh
    Nền trời mây lại qua nhanh
    Viền trăng vương phải đầu cành vỡ tan (1740)
    Những đêm trời tối như than
    Bắt con đom đóm trên giàn mồng tơi
    Cho em, em cất tiếng cười
    Hất tay em thả đóm trời tung bay
    Vòi ta đuổi bắt lại ngay
    Thả đi, đòi lại mãi đày đoạ nhau
    Gọi em là vẻ hoa sầu
    Lan đòi nụ bưởi cài đầu làm duyên
    Nhặt son trên núi mài nghiên
    Thơ anh em điểm dấu yên màu hồng (1750)
    Tưởng khi đỗ đạt thành công
    Tay đan suối tóc, hoa lồng trăng non
    Chưa thề sông cạn đá mòn
    Trang tình đã điểm dấu son đầu đời
    Dường trong ánh mắt tiếng cười
    Vẻ như ngượng ngập mở lời con tim
    Thế rồi – tăm cá bóng chim
    Theo Thầy ẩn dật dời miền đi xa
    Anh về lý vẫn đơm hoa
    Cuối thôn còn lại mái nhà xác xơ (1760)
    Hiên trăng soi quạnh bàn cờ
    Tìm chi con đóm cũng vờ vẩn bay
    Buồng đây, Lan vẫn ngồi may
    Bây giờ tơ nhện gió lay lạnh lùng
    Âu sầu ai để hoa dung
    Nền xưa giảng sách tiếng trùng ngân vang
    Tìm em đò dọc thuyền ngang
    Thấy đâu dấu vết chim sang đất nào
    Năm xưa em tựa cội đào
    Tên ai còn dấu khắc vào da cây (1770)
    Mấy lần anh lại chốn đây
    Hiên tranh đôi bướm vờn mây lững lờ
    Lòng buồn trăm mối vò tơ
    Sợ trông hoa nở, ngại chờ hứng thi
    Những đêm trăng sáng buồn chi
    Mà lòng sách vẳng tiếng gì chan chan
    Ngỡ chim gọi bạn trên giàn
    Ngỡ em phơi cái thời gian giậu ngoài
    Cánh lòng lại vượt ngàn mây
    Tìm đâu suối tóc tay cài hoa xưa (1780)
    Có đêm thao thức nghe mưa
    Tưởng em về tiếng guốc đưa ngại ngần
    Đông tàn còn thể chờ Xuân
    Đôi ta biền biệt sông Ngân nhạt nhoà
    Biết đâu em ở miền xa
    Nghe mưa mà chẳng như ta khóc mình
    Có đêm soi bóng lung linh
    Bâng khuâng một ngọn đèn tình trong sương
    Em thì biền biệt dáng hương
    Riêng hoa in bóng trên giường lơ thơ (1790)
    Tóc đan hoa ảnh lờ mờ
    Mộng xưa hoen ướt đôi tờ lệ thi
    Nước non cũng nhuốm sầu bi
    Người đi – úa cái Xuân thì – ai đây
    Dặm hồng biền biệt cồn mây
    Cỏ hoa chung giấc sum vầy bấy xuân
    ° ° °
    Thế rồi vâng lệnh song thân
    Xe duyên cùng với giai nhân xóm ngoài
    Có khi thức ngủ canh dài
    Mơ hồ còn tưởng dáng ai ngồi kề (1800)
    Tỉnh ra mới biết cơn mê
    Mảnh trăng cùng bóng hoa lê nhạt dần
    Tình đời rồi cũng phù vân
    Biết bao sóng gió xoá dần dư âm
    Dẫu lòng ôm mối tình câm
    Vùi sâu một nấm mù tâm lệ nhoà
    Bây giờ bắt được tin hoa
    Tấm lòng lại quặn xót xa lạ thường
    Sáng mai hành lý lên đường
    Thăm Lan biết mấy dặm trường ngựa bon (1810)
    ° ° °
    Sông dài cởi yếm hoàng hôn
    Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay
    Gió về đưa ngọn sóng say
    Tiếng ca mục tử cuối ngày gọi trâu
    Bãi xa cỏ tím rầu rầu
    Mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa


    XVII. Lòng như khối ngọc

    Bức thứ mười bảy:
    (Kiều, Vân hành huơng chùa Văn Chương, thăm Thầy Văn – nhà sư
    đã dạy Kiều kinh Kim Cương)



    Trời Xuân trong vắt mây thưa
    Nắng hồng như xoã guồng tơ buông dần
    Núi xa bút dựng xanh ngần
    Cõi thiêng lảnh giọng chim thần chợt ca (1820)
    Tiếng chuông lay nhẹ ngàn hoa
    Bóng mây dường cũng giao hoà lang thang
    Ngày rằm sắm sửa đèn nhang
    Kiều, Vân ngồi võng trên đàng hành huơng
    ° ° °
    Sáng nay vãn cảnh Văn Chương
    Lưng non đôi mái khói hương phụng thờ
    Của nhà sư kiêm nhà thơ
    Thường cùng mặc khách cuộc cờ tiêu dao
    Nghe xưa, cũng bực anh hào
    Chí cao chẳng thoả, ẩn vào cửa Không (1830)
    Riêng lòng ôm ấp non sông
    Kết liên hào kiệt tang bồng chờ khi
    Dần dà thấm nhập từ bi
    Lòng yêu muôn loại sá gì – một, hai
    Diệu hành chuyển đạo Như Lai
    Vẫn trong vạn pháp, vẫn ngoài sắc danh
    Y phương cứu giúp dân lành
    Đôi tay đinh lực như thành phục ma
    Chẳng nề trà rượu đàn ca
    Chốn nào chốn chẳng hiền hoà đạo duyên (1840)
    Thong dong nửa Phật nửa Tiên
    Thiền tâm hoá độ một miền sao trăng
    Chí người như cánh chim bằng
    Hát ca vi vút bên Hằng cát vương
    Về đây lập cảnh Văn Chương
    Am che mái cỏ bên sườn non cao
    Đường lên trải trắng bông đào
    Gió sa hương nhuỵ, trời vào lá cây
    Tao nhân thường gặp nhau đây
    Thưởng trà thiền vị nghe Thầy luận kinh (1850)
    Đậm đà giáo lý nhân tình
    Niết Bàn thành cõi phù sinh đổi dời
    Đã quen biết mấy năm trời
    Với Kim, thầy cũng là người cố tri
    ° ° °
    Ngày rằm chị rủ em đi
    Thong dong võng lụa hai vì phu nhân
    Bên đường cỏ nhuộm mầu Xuân
    Đôi con châu chấu xanh ngần vụt bay
    ° ° °
    Nhạn sa soi mặt sông đầy
    Lách lau đôi ngọn bông gầy thiết tha (1860)
    Bóng chùa lồng với bóng hoa
    Nắng Xuân lóng lánh vừa sa đôi làn
    Núi vuông Thiên Ấn ngọc lam
    Sông nghiêng lụa đậm dấu chàm thiên thư
    Rừng tùng thoảng mõ trầm tư
    Nổi trôi chuỗi hạt thái hư bềnh bồng
    Thảo trường lập phái Thi Tông
    Trường Sơn vẽ một nét cong vách ngời
    Mênh mang mây trải gấm phơi
    Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn (1870)
    Võng đưa bên suối tẩy trần
    Sỏi xanh vương vần dấu xuân tiên hài
    Đạo tràng chim mở hội mai
    Trầm theo sương đọng trên đài hoa vương
    Quanh co bậc đá vân hường
    Tóc ai phơ phất dòng hương cõi Thiền
    Chùa Văn Chương hiện bên triền
    Mái rơm nhàn nhạt dáng hiền như như
    Đón nàng vào mái Tâm Hư
    Vách treo dòng kệ Thiền sư cảm đề (1880)
    Ngoài hiên hoa nép mây kề
    Tiểu đồng ngơ ngẩn bên hè xinh xinh
    Sư Thầy đương khoá giảng kinh
    Sai trò dâng xuống riêng bình trà thơm
    Sửa sang hoa quả khay sơn
    Lên Chùa lễ Phật bướm vờn loanh quanh
    Cầu tre qua suối trong lành
    Hoa rơi nước cuộn, hoa cành nước in
    Sườn cao vách tím ngàn sim
    Thuyền câu bến nước sào im cắm chờ (1890)
    Trần gian riêng mộng riêng thơ
    Riêng u uẩn núi riêng hờ hững Xuân
    Vẳng đâu sáo quyện suối thần
    Vườn mai hiện mấy văn nhân thưởng trà
    Tao đàn cao giọng ngâm nga
    Thiền sư khoác áo nâu già trầm ngâm
    Tiếng kêu vi vút sơn lâm
    Hoa nghiêng cánh lẳng, hoa thầm nụ khai
    Dừng chân ven suối Thiên Thai
    Âm âm giải nước thay lời luyến thương (1900)
    ° ° °
    Nhớ khi đón lại huyện đường
    Thỉnh Thầy giảng lý Kim Cương độ đời
    Hoặc khi chuyện nước chuyện trời
    Mỗi lời nghe lại mỗi lời thanh cao
    Tiên dung đạo cốt tiêu dao
    Xét ra sư đệ, nghĩ vào tương tri
    Ung dung khi đến khi đi
    Lòng như khối ngọc lưu ly sáng loà
    Trong năm nhờ thỉnh Thầy qua
    Du phương người để cánh hoa võ vàng (1910)
    Sáng nay đầm ấm xuân quang
    Hành hương, mới có dịp sang thăm Thầy
    Lưng non man mác dòng mây
    Trắng in đáy suối, vàng xây thành cầu


    XVIII. Khói mờ ngoài sông

    Bức thứ mười tám:
    (Kiều gặp tên tội tù, chính là gã Bán tơ từng giá hoạ
    cho cha nàng. Gã cho biết vườn Thuý bây giờ đang rao bán,
    Vương ông cho lão hầu về chuộc lại)



    Kiều nằm trằn trọc canh thâu
    Tóc mây cài nửa trăng sầu nhạt phai
    Lá lan phơ phất hiên ngoài
    Bóng in vẽ một nét mày quạnh hiu
    Lòng chia trăm mối nghìn chiều
    Gió vô tình để tiêu điều lệ hoen (1920)
    Nhớ từng kỷ niệm thân quen
    Trái tim ấm chút lửa đèn ban sơ
    ° ° °
    Bao năm tưởng đã phai mờ
    Bỗng dưng gặp gã bán tơ năm nào
    Hôm qua cai ngục trình vào
    Một tên tội phạm xanh xao mặt mày
    Xét trong hành trạng người này
    Xưa buôn tơ lụa là tay lẫy lừng
    Gặp cơn binh lửa bỗng dưng
    Thế là sản nghiệp lên từng khói mây (1930)
    Nửa năm lính thú đoạ đày
    Trốn về rồi bị huyện này giữ giam
    Tấm thân tù tội cơ hàn
    Nghe tin sét đánh bàng hoàng bên tai
    Vợ con đã chết vì ai
    Hết lăn lộn, lại nằm dài rên la
    Sáng nay nàng mới nhận ra
    Đứa làm tan cửa nát nhà ngày xưa
    Là thằng vu hoạ Bán tơ
    Quẩn quanh, nào có ai ngờ gặp nhau (1940)
    Gió sương điểm bạc mái đầu
    Mắt sưng chín mọng trái sầu đỏ hoe
    Hắn ngồi nhổ cỏ bên hè
    Xương trơ như nắm xương tre rã rời
    Kiều nhìn, cổ những nghẹn lời
    Thấy chi ngoài một mảnh đời đau thương
    Nàng dò tin tức cố hương
    Hắn rằng có bạn buôn thường lại qua
    Mới hay vườn Thuý quê nhà
    Chủ đang rao bán, chờ ra kinh kỳ (1950)
    Vui buồn hồi tưởng những khi
    Gia đình bàn soạn tính về cố thôn
    ° ° °
    Ông Vương tóc giãi hoàng hôn
    Thở dài lặng ngắm khói dồn ngoài sông
    Hiện ra gốc ổi gốc bòng
    Bên tàng hoa khế tím hong nền chiều
    Lòng ông đau xót bao nhiêu
    Mỗi cây là mỗi ít nhiều vấn vương
    Mả mồ ở chốn quê huơng
    Lạc loài nắm đất tà dương giãi dầu (1960)
    Bà Vương lặng lẽ đâm trầu
    Tưởng khi dòng nước con cầu đón đưa
    Thiếu gì kẻ dạ người thưa
    Ngày xưa ai đó, bây giờ là ai
    Vả chăng xứ lạ quê người
    Riêng tư là thói người nơi thị thành
    Quê nhà dù cất mái tranh
    Mà trong thân tộc, mà quanh bạn bè
    Hiền hoà khóm trúc bờ tre
    Vẳng lên tiếng cuốc sang hè gọi khan (1970)
    Canh cua hoa lý điểm vàng
    Vại cà muối xổi nồng nàn thơm cay
    Trời còn cao, đất còn dày
    Có ao rau muống, có đầy chum tương
    Thân già lãng đãng bóng sương
    Tuổi trời còn lại mấy nương nắng chiều
    Luống khoai, bãi sắn ít nhiều
    Tự tay trồng tỉa muôn chiều thiết tha
    Còn hơn dinh thự nguy nga
    Nhà cao cửa rộng vẫn là của công (1980)
    Tưởng khi vác cuốc thăm đồng
    Mắt bà rơm rớm hai tròng lệ vui
    Còn Kim vẻ mặt bùi ngùi
    Trầm ngâm mắt vọng chân trời xa xăm
    Vân ngồi thêu áo băn khoăn
    Lòng chia hai ngả, khó khăn thốt lời
    Tiểu Nguyện vừa ghé tới nơi
    Mẹ ơi con chẳng muốn rời bà đâu
    Một nhà bàn tán giờ lâu
    Sau cùng ông gọi lão hầu lên sai (1990)
    Sẵn sàng tay nải, sớm mai
    Trở về quê cũ, dặm dài gió đưa
    Hỏi xem vườn Thuý bán chưa
    Liệu mà tâu lại, vàng đưa - về liền
    ° ° °
    Kiều nằm thao thức thâu đêm
    Ánh trăng bạc giắt đầu thềm gió sông
    Nhớ Thầy học cũ – Hồ ông
    Ngày xưa đèn sách – những mong hậu trình
    Thường khuyên: Mình đã loạn mình
    Cái tâm khiến luỵ cái hình lao đao (2000)
    Truyền đời xây tiếp tâm lao
    Cùng giăng bẫy quỷ - cùng nhào khe ma
    Khổ, Vui – từ một cái Ta
    Đã vào tật bệnh, tất ra mê trường
    Thấp-Cao, Chân-Giả, Đoản-Trường
    Chấp tranh máu lệ đau thuơng dẫy đầy
    Biến người thành cỏ thành cây
    Kéo luôn thần thánh tiếp tay tội đồ
    ° ° °
    Cánh buồm phù thế lô xô
    Càng chan chứa mộng – càng cô quạnh đời (2010)
    ° ° °
    Kiều đưa năm ngón rã rời
    Ngó tay mình mỉm nét cười bâng khuâng
    Nàng nghe lòng nhẹ lâng lâng
    Tiếng chim ngoài vọng trên tầng mây cao
    Chim di phiêu bạt phương nào
    Có qua ăn trái rừng đào sớm mai
    Hỏi giùm sứ giả Như Lai
    Làm chi cho sạch trần ai cát lầm
    Làm chi phổ nguyện Quan Âm
    Hay riêng sen trắng giữa đầm đủ chưa (2020)
    Hay rồi một trận gió mưa
    Bùn đen kia hẳn không chừa đài hương
    ° ° °
    Trăng ngoài lóng lánh cành sương
    Hoa nhìn trăng nép bên tường đùa vui
    Dưới hoa dế hát ngậm ngùi
    Trăng nghiêng tai lắng – viền tươi ngọc ngà
    Một trăng đẹp bấy nhiêu hoa
    Mà trăng có biết đâu là – là đâu...
    Ngàn năm vò võ mạch sầu
    Nửa ngâm đáy mắt nửa đầu non xanh (2030)
    Xin trăng soi dọc lộ hành
    Xin trăng chỉ hướng tựu thành mà đi
    Mốt mai cất bước từ ly
    Trăng núi biếc, lệ xanh rì hàn giang
    Một lòng trăng rộng mênh mang
    Trăng đâu riêng của một nàng lầu cao
    Nửa trăng lặn dưới rừng đào
    Còn xin nguyên nửa tan vào mộng ta


    XIX. Nàng rằng suối chảy

    Bức thứ mười chín:
    (Đã tậu lại vườn Thuý, ông bà Vương, Thuý Kiều và Hương Nhi
    sửa soạn về quê cũ. Vương Quan ghé lại thăm nói về Ẩn Lan)



    Cuối Xuân đường rụng đầy hoa
    Cánh rơi tưởng nụ mây sa bềnh bồng (2040)
    Kiều ra tựa cửa ngùi trông
    Đồi cao đã trắng mấy bông lau chiều
    Bên dòng lảnh tiếng chim kêu
    Qua cầu vó ngựa rơi đều tà dương
    Cổng tre mái ngói ráng hườn
    Cánh không buồn khép gió vương ơ hờ
    Tiếng ve trong cõi sương mờ
    Ngâm theo xác lá lơ thơ rụng vàng
    Hương nào theo gió tìm sang
    Như chim cánh vượt dặm tràng hoa rơi (2050)
    ° ° °
    Tin nhà đã gởi tới nơi
    Việc xong, lão bộc lên mời về quê
    Phòng riêng sửa soạn bộn bề
    Xôn xao lòng nhớ, não nề lòng xa
    Vương ông cùng với Vương bà
    Thuý Kiều cùng một trẻ là Hương Nhi
    Sửa sang hành lý mang đi
    Mốt mai thắng ngựa trở về cố hương
    Lòng nàng dan díu nhớ thương
    Bước chân tưởng những dặm trường sắt se (2060)
    Chia tay khóm liễu bờ tre
    Sụt sùi cây cỏ còn nghe lệ thầm
    Thôi từ tạ nhé tri âm
    Như sương ta cũng âm thầm nát tan
    Sớm mai phơi chuỗi ngọc lam
    Trang nghiêm một thoáng nhân gian bọt bèo
    Kìa sao thiên lý tiêu điều
    Vẽ chi những nét đăm chiêu ngậm lời
    Nhánh hoa u mặc ngó trời
    Một thân bên giậu mỉm cười héo hon (2070)
    Mây chiều lả xuống sườn non
    Dáng như lác đác hồn con hạc về
    Nửa vàng lau lách sầu chia
    Nửa xanh mây khói đầm đìa mang mang
    Giải hồng cuồn cuộn bến giang
    Buồm dong đôi tấm ráng vàng ngàn xa
    Thành Tây ải đỏ lạc hà
    Theo thuyền man mác cỏ hoa dương chiều
    Vàng ơi chi lắm tiêu điều
    Xanh ơi ngăn ngắt qua đèo hàn san (2080)
    Tím ơi cỏ nội ngút ngàn
    Màu gieo cuối bãi, màu tan ngọn triền
    Chim quyên xuống đất sầu riêng
    Mặt trời thu một hồi chiêng lửa hồng
    Xe ai đẩy hát trên đồng
    Tiếng ca bán rượu từng không lạnh bầu
    Dáng Kiều thơ thẩn vườn sau
    Dấu chân gieo nhẹ dấu sầu vẩn vơ
    Gió vàng áo nhạt màu mơ
    Hoàng hôn toả ngọn khói mờ ai hun (2090)
    Cỏ êm đã thoảng tiếng trùng
    Hoa cau hương quyện vài chum nước ngần
    Gió chiều cũng nhớ giai nhân
    Quẩn quanh theo với bước chân tìm gì
    ° ° °
    Rào tre lả ngọn tường vi
    Tiếng quen ngâm mấy câu thi ngoài tường
    Nàng trông ra thấy chàng Vương
    Ung dung dắt ngựa buộc cương dưới đào
    Hoa hiên cũng lả cánh chào
    Hiên lam Kiều đón em vào vấn an (2100)
    Vương rằng: Rong ruổi quan san
    Ngựa đeo trăng lạnh, vó tan sương chiều
    Cho dù thất suối tam đèo
    Chút hương hoa cũ ướp theo bấy ngày
    Mới về em vội qua đây
    Ẩn Lan gửi lượng trầm này kính dâng
    ° ° °
    Ngó em – Kiều lại thêm mừng
    Hoa in đáy mắt còn rưng rưng lòng
    ° ° °
    Nhà Thầy bên động Huyền Không
    Mái tranh tàng ần thu đông mịt mờ (2110)
    Tóc người đã bạc như tơ
    Bạn thân chim tụ, quân cờ hoa rơi
    Sớm lên đào thuốc dong chơi
    Chiều về dạy học khắp nơi tụ hiền
    Danh thơm đã nức mọi miền
    Làng trong mến chuộng, quan trên nể vì
    Chẳng ham quyền tước kinh kỳ
    Thong dong gậy trúc, đến, đi ngoài vòng
    Rượu thơ phơi phới một lòng
    Trà thơm viết sách, suối trong ngâm mình (2120)
    Xin Thầy được đón về dinh
    Sớm khuya vẹn nghĩa sư sinh một nhà
    Thác rằng tuổi đã nua già
    Núi non mến cảnh, cỏ hoa luyến người
    Ẩn Lan giờ vẫn đẹpp tươi
    Một chiều bên suối ngỏ lời hằng mơ
    Chỉ bông hoa nở ven bờ
    Nàng rằng: Suối chảy có chờ đâu hoa
    Nhắc chi chuyện cũ đôi ta
    Ngày nay Lan vẫn như là ngày xưa (2130)
    Vị gì chung nắng chia mưa
    Giữ thơm mộng cũ ngày chưa ngọc vàng
    ° ° °
    Kiều ngồi nghiêng tựa hành lang
    Gió lùa tóc quyện theo làn hương bay
    Hoa cà ráng ướp hiên Tây
    Sao hôm vừa mọc trên cây suơng chiều


    XX. Chải tóc thu phong

    Bức thứ hai mươi:
    (Kiều thăm lại chốn cũ, cho trồng cây Hoàng Mai
    trên nền am xưa. Đạm Tiên nhập thần cảnh tỉnh Thuý Kiều.
    Nàng thăm mộ đàn lần cuối, trước khi hồi hương)



    Rèm đào gió lọt phiêu diêu
    Kiệu phu chừng đã được điều tới sân
    Mây Thu phơi tóc xanh ngần
    Hiên lam nghe rộn bước chân chim vào (2140)
    Tưởng hoa sớm rụng mái cao
    Kiều nằm dõi bóng chiêm bao ơ hờ
    Ngang mình lệch mảnh chăn tơ
    Mắt nhung dịu thiếp đôi bờ cỏ xanh
    Tay dài tơ búp lan nhành
    Dáng Thu lãng đãng nhạt vành trăng cong
    Bên giường chải tóc thu phong
    Tai nghiêng nghiêng cánh sen hồng mát thơm
    Má đào gò ửng tuyết đơm
    Môi in nét trổ nụ hường ban mai (2150)
    Bên song khép nép lan đài
    Hoa trong thiêm thiếp hoa ngoài bâng khuâng
    Hương đêm còn thoảng lâng lâng
    Chăn tơ phủ xuống như tầng hoàng hoa
    Đôi hài cong mũi kiêu sa
    Im im lắng tiếng chim ca ngoài vườn
    Nghĩ ra nay sớm hành hương
    Vươn vai Kiều dậy, ngắm gương tần ngần
    Hương nhi đem áo lại gần
    Khoác lên vai ngọc gò xuân mịn hồng (2160)
    Qua hiên bướm nổi bềnh bồng
    Tung tăng gió vuốt vài bông cúc hiền
    Vườn ngoài non nỉ yến uyên
    Xách hoa lên kiệu gót tiên dịu dàng
    ° ° °
    Đồi thưa lấm tấm bông vàng
    Hoa Thu hỏi mấy lần sang đất này
    Đổi thay từng khắc từng ngày
    Mà vòng nguyên định chen đầy hoa dung
    Xét trong trời đất vô cùng
    Biển dâu sắp đặt lạ lùng cao xanh (2170)
    Bao nhiêu cung điện tan tành
    Xô đi, dựng lại dưới vành trăng tươi
    Thăng hoa cuộc sống con nguời
    Phế hưng trải rộng lẽ trời tự nhiên
    Đường dài sỏi nhạt thu thiên
    Trước sau biết mấy gót phiền qua đi
    Bóng người cổ tích còn chi
    Còn nghe gió kể chuyện gì bên nương
    Bước nào ngượng ngập yêu đương
    Bước nào rầm rập giáo gươm chói loà (2180)
    Bước nào lay lắt nua già
    Bước nào xe ngựa lại qua rộn ràng
    Nhớ không ngọn cỏ may vàng
    Ngày xưa lữ khách qua đàng còn không
    Hỏi mây mây trắng như bông
    Riêng đường sương tụ bụi hồng trăm năm
    Bãi sông cỏ lạnh căm căm
    Tưởng Từ áo vải xưa nằm chốn đây
    Phách thiêng khí vẫn loà mây
    Xưa ai trộm xác gò này mang đi (2190)
    Xưa ai đạp vỡ mồ bi
    Gò xưa còn bãi cỏ chi rầu rầu
    Tưởng chàng bẻ kiếm dựng râu
    Nốc nghiêng bát rượu, trên đầu cài trăng
    Cuộc ra vùng vẫy chim bằng
    Cuộc về đồn ải mưa giăng bóng cờ
    ° ° °
    Kiều ngồi như ngẩn như ngơ
    Dường đâu lãng đãng trong mơ hiện về
    Lâng lâng hương cận hoa kề
    Đạm Tiên buông giải tóc thề vương vương (2200)
    Tiếng nàng thoang thoảng khói hương
    Rằng: Không có hội đau thương đoạn tràng
    Quả, Nhân – tôi trót lỡ làng
    Khiến em vào chị - giục đàng trầm luân
    Giờ nên đuổi mộng khỏi thân
    Nhiều vương vấn cũ – dễ phần chiêu ma
    Dáng nàng lãng đãng mưa sa
    Giật mình mới biết mộng hoa lúc nào
    Vào Thu chim cũng xanh xao
    Tiếng kêu theo gió thoảng vào rèm thêu (2110)
    Não nùng thay nỗi lòng Kiều
    Nhìn bông lan ngọc đăm chiêu nền trời
    Hồn Tiên nhắn nhủ chơi vơi
    Chừng nghe còn vẳng trong lời hoàng khuyên
    ° ° °
    Nền xưa kiệu đã dừng nghiêng
    Dây hoa núi dại vàng nguyên ngọn tường
    Tàn lan lóng lánh hàng sương
    Hoa chao nhỏ hạt nước hương rùng mình
    Chập chùng đồi núi lung linh
    Vén rèn, xuống kiệu, dáng quỳnh mông lung (2120)
    Rã rời từng bước rêu nhung
    Hài reo giữa cõi vô cùng hoang mang
    Truyền phu đem cội mai vàng
    Trồng lên trên đỉnh nền hoang cỏ dày
    Giác Duyên thầy có về đây
    Trông hoa xin tưởng vóc gầy Kiều nhi
    Hoa này là nguyện đại bi
    Giữa đông, vàng rộ sá gì phận côi
    Thân con dù chốn xa xôi
    Lời Thầy, sóng dậy gió dồi dám quên (2230)
    ° ° °
    A hoàn sắp lễ dâng lên
    Sợi hương tím loãng trên nền cỏ cao
    Chắp tay khấn nguyện thì thào
    Khay hoa đậu cánh chim vào bỗng nhiên
    Kiều xin: Có phải Đạm Tiên
    Hương linh còn quyện chút duyên má hồng
    Cảm nhau – một sợi tơ đồng
    Thì xin bay đậu cành bông mai vàng
    Hoặc Từ dũng khí hiên ngang
    Anh linh lưu luyến trần gian chẳng lìa (2240)
    Đồ vương nuối mộng xưa kia
    Hay còn vì thiếp, chưa chia ngả đường
    Thì xin bay xuống đầu tường
    Khấn xong, chim cất cánh hường bay đi
    Lưng trời buông giọng từ quy
    Đáp vào rừng vắng như vì sao sa
    Run run Kiều chắp tay hoa
    Cúi đầu lễ vọng, hương nhoà khoé môi
    Tiếng chim lảnh lót bên đồi
    Dường như thê thiết bồi hồi bụi mưa (2250)
    ° ° °
    A hoàn lại cất tiếng thưa
    Thỉnh bà lên kiệu, cơn mưa – kịp về
    Ở đây sầu lặng buồn tê
    Sơn lam chướng khí lỡ bề ốm đau
    ° ° °
    Kiều nhìn phơ phất hoa lau
    Ngọn cờ tập trận - ngày đầu thơ ngây
    Đã vàng dặm cát đồi mây
    Thêm hiu hắt gió ngàn cây vật vờ
    Tàng hoa lan cũ trông chờ
    Vẻ đang thiêm thiếp giấc mơ tuyệt vời (2260)
    Mốt mai ta ở chân trời
    Riêng hoa còn mãi – sương rơi một tàng
    Rừng hoang trả lại rừng hoang
    Cội lan kia liệu hoa vàng bao Thu
    ° ° °
    Nhớ hồi Thầy lập am tu
    Chọn đây là cảnh thâm u hữu tình
    Sớm chiều niệm Phật nghe kinh
    Mảnh trăng ẩn chốn phù sinh điêu tàn
    Một chiều trồng gốc ngọc lan
    Thầy rằng: Mai mốt còn làn hương bay
    Đời người như cánh hoa lay
    Trần gian thơm một đôi ngày lại thôi
    Giờ Thầy Tam Hợp đâu rồi
    Nhớ ai hoa lạnh lùng rơi cánh buồn
    Lan còn hoa lệ sầu tuôn
    Hương bay vơ vẩn dõi muôn hướng tìm
    Mốt mai ta cũng theo chim
    Về thâu ngọc rớt vàng chìm sông Ngô (° )
    Đêm đêm tơ tưởng đi mò
    Sông Thương hoa có neo đò nhớ thương (2280)
    ° ° °
    Kiệu phu lại thỉnh lên đường
    Hồn lâng lâng kiệu, hồn vương vương rừng
    ° ° °
    Lá đưa khăn lệ rưng rưng
    Nhắn nhe chim cũng lạnh lùng tiếng ca
    Sông buồn đỏ quạnh âm ba
    Mây đưa đỏ bãi hoàng sa lạnh lùng
    Mắt buồn vời vợi mông lung
    Tiễn chân cội đá khóm tùng, ngất ngây
    Con tim chôn lại rừng này
    Theo hoa rụng xuống chân Thầy hôm mai (2290)
    Những đêm chớp biển mưa dài
    Hồn bên núi, xác phương ngoài – thảm chưa
    Mỗi xa mỗi bước rừng thưa
    Yên hà theo tiếng đò đưa thuyền về
    Chợ chiều rạ nhạt mái quê
    Hắt hiu gió gợn tái tê sóng trường
    Sào ai phất phới mây hường
    Nhịp hò mái đẩy khói sương ngút mù
    Kiều truyền kiệu ghé gò Thu
    Mộ đàn hoa nở âm u lối mòn (2300)
    Một gò cỏ úa héo hon
    Xưa kia Từ Hải – cũng chôn gò này
    Bây giờ liệt sĩ nằm đây
    Mộ đàn – thêm trắng một cây đoạn trường
    Lòng Kiều chín nhớ mười thương
    Hai mồ ngát một tuần hương Thuý Kiều
    Áo bay lẫn giữa mây chiều
    Bâng khuâng suối tóc, đăm chiêu nét ngài
    Chim nào hót giữa lùm mai
    Chừng như thoảng tiếng thở dài trên yên (2310)
    Gò xanh thơ thẩn gót tiên
    Chân trời cõi đất hai miền sầu chia
    Xương tàn nấm đất ai kia
    Núi sông – không một tấm bia để đời
    Anh em chí cả nghiêng trời
    Lòng chung chẳng thể tách rời – Bắc, Nam
    Vẫy vùng một cõi giang san
    Thương người cơ cực, chém quan tế cờ
    Ai từng tuốt kiếm ngâm thơ
    Chí toan sắp lại ván cờ máu tươi (2320)
    Ai từng nốc rượu cả cười
    Sau rung tiếng hát giữa nơi chiến trường
    Tưởng khi cờ cuộn mây vương
    Thành cao ném một ngọn thương san bằng
    Bây giờ mây uốn ngành trăng
    Gió ù cổ miếu, nhện giăng chiến bào
    Mồ chung le lói vì sao
    Hồn oan tử sĩ xạc xào cờ lau
    Cỏ hồng đỉnh núi thay màu
    Tưởng như sắc ngựa Phong Châu anh hùng (2330)
    Còn đâu trống giục kiếm cung
    Chiều nay ếch nhái lạnh lùng khua xa
    Trăm năm còn lại gò hoa
    Lất lây giải ánh lạc hà cô thôn
    ° ° °
    Nhà ai hun lá bên cồn
    Nhìn mây phu kiệu bồn chồn ngồi quanh
    Bãi sông rải rác mái tranh
    Trẻ vui ném sỏi dưới cành dương khô
    Sườn non nửa mảnh trăng nhô
    Cong thành một nét mơ hồ mi ai (2340)
    Lại nghe trong cội hoa mai
    Bật thêm tơ tóc rùng vai đàn bầu
    ° ° °
    Nàng dừng lắng đợi âu sầu
    Quả như tiếng vẳng hương lầu trước đây
    Hồn ai nấc tiếng ngân này
    Xưa nương đàn cũ, giờ cây mai vàng
    Tiếng ngân chìm đắm mơ màng
    Một dây to nhỏ hồn man mác trời
    Buông chi tiếng nhặt tiếng lơi
    Trong u ẩn gió nghe tơi tả lòng (2350)
    ° ° °
    Kiều còn thơ thẩn tiên dong
    Núi xa nhoà mấy vành cong sương mù
    Quạt trần khép mở vân du
    Hoa dung đáy nước cho dù khói vương
    Bâng khuâng bước dạo cầu sương
    Tóc bay dài một dòng hương la đà
    Có nàng cắp rổ bèo hoa
    Vén quần cánh nhuỵ lội qua sưối về
    Bè ai thả vó ven đê
    Nửa ngâm ráng đỏ, nửa kề mây xanh (2360)
    Gió Thu hiu hắt lùa nhanh
    Đáy khe cát trắng long lanh ngấn trời
    Qua cầu suối cũng đua tươi
    Bờ vai phơ phất tóc xuôi hững hờ
    Trên dòng tơ, dưới dòng tơ
    Hai dòng thêu một đoá mơ nhạt nhoà


    XXI. Tơ thiêng nhập hoá

    Bức thứ hai mươi mốt:
    (Kiều hồi tưởng buổi tối đánh đàn cho Kim Trọng và sư thầy
    Văn Chương nghe - Nhà sư trợ điển giúp Kiều tỉnh thức khỏi
    nghiệp đàn, hoà tâm cảm vào thiên nhiên đại đạo)



    Ngoài sân buông nắm tơ ngà
    Đêm Thu bắc chõng, Kiều ra ngó trời
    Ai treo chiếc ấn trăng ngời
    Đóng lên mấy giải mây dời mơ xanh (2370)
    Ấn trang nhỏ mực loang cành
    Con chim khách lạ bỏ nhành liễu bay
    Giọt trăng là hạt rượu say
    Vò trăng hoành thạch nghiêng đầy giàn dưa
    Gió lay vàng rụng như mưa
    Tưởng đâu âm vọng chuông chùa Văn Chương
    Trăng chân thường giữa vô thường
    Ánh trăng như với dạ hương hẹn hò
    Bây giờ cửa núi quanh co
    Trăng ơi có đổ đầy vò tâm ai (2380)
    ° ° °
    Nhớ hồi trên các Sương Mai
    Dâng Thầy Văn, được so vài cung tơ
    Ba người chìm lắng đêm thơ
    Âm dư tiền kiếp nghìn xưa dồn về
    Lòng riêng phiêu hốt đê mê
    Trời riêng nguyệt cận hoa kề bâng khuâng
    Mây ùn mười ngón lâng lâng
    Viền trăng hư ảo trên tầng khói xây
    Đất dồn nhựa mạch ngất ngây
    Ánh trăng đọng xuống mấy dây lặng chìm (2390)
    Tiếng nào bàng bạc ngàn sim
    Tiếng nào mạch máu ngàn tim rung thành
    Cây đàn tự vỡ nên thanh
    Tiếng đàn óng ánh trên nhành đọng sương
    Sóng đàn là giải thoát hương
    Dây đàn bốn mạch chân thường thiết tha
    Song ngoài chênh mảnh gương nga
    Áo người nhuốm nguyệt lay tà hàn quang
    Hương trời bát ngát mênh mang
    Sao trời lấp lánh, nến vàng lắng chia (2400)
    Bên này trầm mặc trăng nghe
    Bên kia sao kết đôi bè âm thanh
    Tay là sao hiện lên nhành
    Mười phương đổ xuống đan thành áng tơ
    Tóc huyền giải suối phất phơ
    Sông Ngân nước chảy qua bờ vai nghiêng
    Tay nào đẫm hạt trăng thiêng
    Hào quang lấp lánh một viền tâm hư
    ° ° °
    Dáng Thầy trầm mặc hiền từ
    Áo nhoà hạt quyện áng tơ vô vàn (2410)
    Tiếng tơ theo gió hoà tan
    Một chùm sao gãy, một làn trăng rung
    Cỏ cây cảm ứng vô cùng
    Chừng như xao động say vùng âm ba
    Lòng thiền trợ điện tố nga
    Phá tan cái nghiệp dư ba tội tình
    Sóng đàn tiền kiếp lung linh
    Bao năm xô đầy thuyền tình trăng ai
    Hạt sương lóng lánh lăn dài
    Cành đêm chợt rụng một vài sao băng (2420)
    Ba người ngồi đắm hiên trăng
    Tâm tư hoà dệt cung hằng phân vân
    Hơi thanh thoát chí hiền nhân
    Cung phong nhã khách, tiếng ngần ngại hoa
    Còn gì ngoài những thiết tha
    Ba lòng ứng một tay ngà mưa rơi
    ° ° °
    Kìa xanh xanh ngắt tơ phơi
    Kìa thăm thẳm nỗi hoa dời cành trao
    Là chi bát ngát trời cao
    Là chi hiện tướng trăng sao vô cùng (2430)
    Là vô thuỷ gặp vô chung
    Là chan chứa nguyệt năm cung sương mù
    Là hương rạo rực rừng Thu
    Cò bay theo trắng tiếng ru mẹ hiền
    Bản đàn khói lượn đền thiêng
    Tiếng con linh phượng nhiệm huyền chợt bay
    Nửa đời mệt lả đôi tay
    Trái tim siêu thoát sum vầy xa xăm
    Âm dư man mác hiên trầm
    Dường đâu vô vạn tơ tằm dệt đan (2440)
    Viền trăng dính giữa nền lam
    Phơi nghiêng nụ mướp trên tàn thu thanh
    Phím đàn cánh bướm vờn quanh
    Nến hồng tay ngọc, trầm xanh màu vòng
    Bước tơ cao thấp long đong
    Cảm ngoài như thiếu tình trong như thừa
    Dường như trở gió sang mùa
    Dường như réo rắt tơ mưa ngoài trời
    Lúc trầm mặc lúc chơi vơi
    Khi hong vẻ thuý, khi phơi dáng vàng
    Dưới hoa cỏ ngẩn ngơ hàng
    Trên sương trăng gõ tình tang dặt dìu
    Sóng tơ hoà vận nên Kiều
    Lòng ai vừa đổ cơn triều biển dâng
    Hơi đàn siêu thoát lâng lâng
    Mỗi tơ cảm ứng mỗi tầng thiên nhiên
    ° ° °
    Tưởng ngày dưới mái đông hiên
    Nụ hoa như ngón tay hiền chỉ đưa
    Cánh chim vượt cõi sương mờ
    Trang Kinh ẩn những bài thơ giải trần (2460)
    Khiến mình sương khói phân vân
    Khiến mình tĩnh ý xuất thần bâng khuâng
    Đêm rồi lả ngọn tơ dâng
    Thành đàn tan biến trong vần trăng lơi
    Cỏ hoa hiện tướng tự ngời
    Ngón tay măng trúc run lời nguyên âm
    Kim ngồi bóng nguyệt trầm ngâm
    Ba lòng chung một ý cầm hoà tan
    Tâm hư ai dạo nên đàn
    Năm cung tẩm nguyệt vô vàn tơ bay (2470)
    Gió ngừng ngan ngát hương say
    Riêng quỳnh hoa hé nét mày trong sương
    Cỏ ngàn thấp thoáng đêm vương
    Sóng vàng chan chứa khu vườn hào quang
    Xưa mênh mang giờ mênh mang
    Còn chi giữa thể Đạo, Đàn chia đôi
    Hiên hoa lãm thuý bồi hồi
    Tơ nghiêng nhập hoá ba người thẩm âm
    ° ° °
    Bây giờ còn vắng trong tâm
    Đâu không là khúc nguyệt cầm gió mây (2480)
    Tơ thương cỏ úa hoa gầy
    Tơ thương cánh bướm lạc bầy phân vân
    Tình vương cho nụ tầm xuân
    Đất trời thu lại một nhân uyên tuyền
    Tầng tầng lớp lớp thiện duyên
    Huyền cơ mở đóng, chung riêng vẹn toàn
    Lạ thay cũng một ngón đàn
    Mà trong tương ứng vô vàn khác xa
    Người đạt đạo kẻ tài hoa
    Tiếng đàn chừng mở riêng ra mỗi trời (2490)
    Chàng Kim áo nguyệt lay ngời
    Thầy Văn chừng để chí nơi vô cùng
    Trăng nhoà ảnh đậu mông lung
    Đất trời hội lại năm cung lặng chìm
    ° ° °
    Tóc Kiều xoã một dòng im
    Quạt trần phe phẩy sao in nhạt nhoà
    Bóng nàng lồng dưới bóng hoa
    Nhiệm mầu trăng cẩn tay ngà dưới chân


    XXII. Mây thu cuộn vàng

    Bức thứ hai mươi hai:
    (Kiều từ giã cỏ hoa, hoạ thơ tiễn biệt,
    lên đường về quê)



    Canh gà eo óc hương lân
    Đã nghe nhà dưới gia nhân dậy rồi (2500)
    Ngoài ao xốc gạo đồ xôi
    Tiếng con chó Quít buông hồi sủa trăng
    Sương mờ ngõ trúc giăng giăng
    Lá Thu hiu hắt qua mành rung êm
    Nhành lan sương trĩu đầu thềm
    Vẻ như phờ phạc trắng đêm đợi ngày
    Song hồng phơn phớt trăng lay
    Kiều ra sân dạo – đóm bay nhạt dần
    Gạch vuông từng mảnh sao ngần
    Tóc nàng tưởng dấu phù vân lay mờ (2510)
    Bếp xa ngọn lửa vật vờ
    Dưới giàn bầu nậm, Quít chờ vẫy đuôi
    Côn trùng ri rỉ im hơi
    Cỏ cây chừng cũng run lời tiễn đưa
    Cố hương đằng đẵng gió mưa
    Bao năm xa cách ai ngờ - còn khi
    Dặm về tưởng dặm từ ly
    Hoa sim tím chết ngày đi theo chồng
    Cánh chim Hát Núi ngoài đồng
    Tiếng ca bay vút từng không khói mù (2520)
    Cỗ xe gỗ liệm hồn thu
    Ngựa thiên lý soãi gật gù vó bay
    Đưa tay đồi trắng ngàn mây
    Đón ta lau lách có gầy thu dung
    Cầu ao lợp bóng tàng sung
    Còn rơi trái đỏ vương cùng nỗi mong
    Núi Diều xanh gợn đường cong
    Buồn lên hiên cỏ lại trông chiều về
    Bãi mồ biêng biếc tiểu khê
    Mùa Xuân tìm hỏi đoá lê thuở nào (2530)
    Còn ai qua ngõ bưởi đào
    Dừng chân mà nhớ hoa nào ngẩn ngơ
    Còn chăng suối đợi non chờ
    Cồn vàng nổi gió, sông tơ cuộn hình
    Bao năm sưởi ấm lòng mình
    Ai xưa đốt đuốc, ca tình - còn vang
    Đường trần bạc áo nữ lang
    Tiếng ca nâng bước lỡ làng, phân vân
    Làng quê đòi đoạn muôn phần
    Có đêm trở giấc mắt ngần ánh sương (2540)
    Mộng về hư ảo cố hương
    Mừng sao, muốn nuốt dặm trường cỏ non
    Lô nhô hoa trắng đồi son
    Chan đầy âm điệu lối mòn chim vui
    Nhưng rồi khi giấc mơ lùi
    Thêm ngao ngán dạ, thêm bùi ngùi châu
    Đành thôi bọt nước qua cầu
    Tương lai còn lại chút màu thiên thanh
    Tấm lòng bát ngát mây xanh
    Mà đời giam héo một cành thu ba (2550)
    ° ° °
    Kiều nhìn trăng khuất rừng xa
    Còn loang bụi phấn ngà ngà khói sông
    Tiếng chim thảnh thót giàn đông
    Mừng vui gọi áng mây bồng bềnh tơ
    Bướm bay từ cội sương mờ
    Cánh tung nắng mới qua bờ thảo phương
    Nụ hoa thức giấc bên tường
    Vô tình để ửng má hường nắng trong
    Đèo xa phơn phớt cỏ bồng
    Cành đa oằn một nét cong trữ tình (2560)
    Nhện giăng nội cỏ băng trinh
    Từng dây lưới ngọc in hình sao tan
    Xanh, Lam, Trắng, Tía, Đỏ, Vàng
    Long lanh làm đẹp mấy hàng hoa thu
    Người buồn lãng đãng sương mù
    Gió tai tải lạnh về ru nét mày
    Đồi tùng mờ mịt sương bay
    Nàng thầm lặng hướng một ngày xa khơi
    Xin từ tạ hạt chuông lơi
    Tiếng ngân tự thể sáng ngời Văn Chương (2570)
    ° ° °
    Ngậm ngùi khi sắp lên đường
    Đã nghe tiếng ngựa buộc cương rặng đào
    Chàng Kim thong thả đi vào
    Gió lay giải mũ xanh xao lá quỳnh
    Mắt ai chôn một trời tình
    Bóng sương thấp thoáng đôi hình khói mây
    Ngẩn ngơ sỏi đá nhìn cây
    Nao nao gió lạnh liễu gầy hỏi nhau
    Hoa rơi hai kẻ cúi đầu
    Chia tay ai chẳng ưu sầu như ai (2580)
    Lao xao tiếng vọng hiên ngoài
    Nhác trông đã thấy ba người tìm qua
    Nguyện theo tay níu áo bà
    Vân xem ái ngại nét hoa phớt buồn
    Bà Vương nôn nóng lên đường
    Tưởng như muôn dặm bụi hường giục xe
    Thôi thì to nhỏ nhắn nhe
    Mỗi câu thêm lại buồn nghe ngậm ngùi
    Xe phu loáng thoáng đôi người
    Lên đem hành lý nàng dời lầu mai (2590)
    Kiều vào sửa áo trâm cài
    Giò lan bạch ngọc vươn dài ngọn trông
    Cửa hờ, giường quạnh lầu không
    Ngoài sân Thu cúc trổ bông sớm vàng
    Mắt nhìn bốn hướng mênh mang
    Vuốt ve hoa cỏ, lên đàng về quê
    Mây trôi từng cụm ven đê
    Người đi kẻ ở sầu tê lòng quỳ
    Có ai mai mốt buồn chi
    Lên lầu tựa ngó những khi nắng tà (2600)
    Một phương rầu rĩ cỏ hoa
    Một phương lau lách nhạt nhoà thu phong
    Một phương xoã tóc chiều hong
    Một phương nhớ mảnh trăng cong nét mày
    Hai phương gió dạn mưa dày
    Đường đi ngại những non mây mịt mù
    Rừng buồn rung trái sầu u
    Người buồn phủi hạt mưa thu bẽ bàng
    ° ° °
    Hương nhi vội vã tìm sang
    Dâng lên đã nhác đôi hàng đề thư (2610)
    Hương rằng: Có một nhà sư
    Sớm nay tìm đến thưa: Từ chùa Văn
    Thư này gửi đến phu nhân
    Bây giờ chú hiện nghỉ chân nhà ngoài
    Ngập ngừng nàng mở xem ngay
    Mười bài tiễn biệt nhủ ai đăng trình
    Mỗi bài là một bài Minh
    Nghĩa sâu mối Đạo, chữ linh tụ thần
    Đọc xong Kiều lặng phân vân
    Bâng khuâng vóc liễu – tần ngần mày hoa (2620)
    Mắt nàng trầm lắng thu ba
    Ý lên đỉnh núi, chữ nhoà lòng trang
    Tay tiên rạng ngọc tươi vàng
    Thảo bài Đường luật liên hoàn phiêu diêu
    Gói trong một giải lụa điều
    Tạ lòng tri kỷ ít nhiều vấn vương
    Cho đem thơ lại khách đường
    Hiên Tây ngơ ngác chùm hương gượng cười
    ° ° °
    Tiễn đưa xoắn xuýt bao người
    Ba xe ngựa hướng chân trời xanh xanh (2630)
    Nẻo đi dằng dặc mây thành
    Bóng mây trĩu nặng mấy cành hắt heo
    Quan, Kim sóng ngựa đưa theo
    Chân non cát đỏ, lưng đèo sương bay
    Dùng dằng tay lại cầm tay
    Sầu Thu chan chứa giọt đầy giọt vơi
    Bánh lăn cọc cạch rả rời
    Ngựa say mây nhớ phương trời chảy đi
    Não nùng hai tiếng từ ly
    Buồn thưa thốt miệng, sầu chi chít lòng (2640)
    Qua khe ngó cá lòng tong
    Áo xanh ai đó in dòng suối xanh
    Nhớ nhà xe cuộn thêm nhanh
    Ải xa cổng đỏ mấy nhành hồng mai
    Đầu sông ai hát Nam Ai
    Giọng cao nước chảy, giọng dài đò đưa
    Nỗi buồn ngàn vạn xa xưa
    Luồn theo mạch máu bây giờ chưa tan
    Tiếng ca ngơ ngác lau vàng
    Lồng trong khói sóng tràng giang rụng rời (2650)
    Chim bói cá biếc mây trời
    Ven sông đậu hót trông vời nước mau
    Gió Thu san sát bông lau
    Giục người quẩy gánh hát câu ề à
    Bóng ai đã khuất cồn hoa
    Còn nghe gió thoảng tiếng ca ơ hờ
    Cỏ tranh ngoài nội bạc phơ
    Gió lay lay tưởng sóng vờ vật xuôi
    Tiễn theo mấy đoạn bùi ngùi
    Bẻ hoa rượu nhớ, gượng vui lên đường (2660)
    Kim, Quan dưới liễu gò cương
    Cỗ xe bánh đạp sỏi hường – tung bay
    Ngựa xuôi bờm dựng hí mây
    Bạn về hoa cũ giục hoài không đi
    Ngậm ngùi cu gáy từ ly
    Héo lòng ai có thương gì chim cu
    Con xe gỗ vượt dặm mù
    Mui cao chở những mây Thu cuộn vàng
    ° ° °
    Kiều ngồi hướng mắt mơ màng
    Chí cao Từ Hải - thiên đàng Phuơng Đông (2670)
    Vó câu vi vút non bồng
    Đàn xanh yên ngựa gươm hồng bóng trăng
    Hoa giờ còn đợi mưa giăng
    Cỏ cây nhớ cánh chim bằng đợi tươi
    Rừng Thu nhớ trận cả cười
    Cờ mây lá nhớ vọng trời Đại Nam
    Mắt xanh đây cửa khải hoàn
    Chờ trông chỉ thấy gió quan san về
    Dường trong hiu hắt sương kia
    Như đâu thấp thoáng nhành bia sa trường (2680)
    Sóng dài lấp lánh làn gươm
    Đồi phơi áo trận phong sương đổi màu
    Khí thiêng lau lách rầu rầu
    Người đồn: Gươm giáo đêm thâu rộn ràng
    Lên non trẻ hái hoa vàng
    Còn reo nhặt được kiếm han rỉ cùn
    Đêm về bần bật kiếm run
    Mồ hôi thép toát hiện hồn ba quân
    Rừng vương cốt ngựa trắng ngần
    Kiếp người mây nổi một lần qua mau (2690)
    Nghìn xưa lưu lại nghìn sau
    Còn chăng rêu mộ trơ màu vàng xanh
    Lại sông loang máu hùng anh
    Trăm năm đáy nước kết thành ngọc trai
    Người đem giũa chiếc trâm cài
    Trăng lên thoảng tiếng thở dài ngọc xưa
    Dường trong ánh chớp tơ mưa
    Có hồn tử sĩ vất vơ chửa tàn
    Cõi đời chất ngất hờn oan
    Cuộc cờ bày xoá mấy bàn đua tranh (2700)
    Ném ra xe ngựa tung hoành
    Thu về còn lại một vành trăng suông
    Bể dâu thay đổi bao tuồng
    Cái chi còn lại trong luồng gió xoay
    Bàn tay tiếp nối bàn tay
    Trả vay vay trả đoạ đày mãi nhau
    Một bầy tâm bệnh khổ đau
    Nghìn xưa vạch sẵn nghìn sau – một đàng
    Nghìn dòng máu lệ mênh mang
    Biết bao giờ mới chỉnh trang nguồn đời (2710)
    Núi sông rực rỡ con người
    Mở trang sử mới nơi nơi đẹp lành
    Cõi lòng bát ngát mây xanh
    Đổi xoay đương thức kết thành thiện duyên
    Giữa đời Tự Chỉnh như nhiên
    Trăm năm thoát mối đảo điên buộc mình
    Cho bao sỏi đá hồi sinh
    Bốn phương chung hưởng thái bình thịnh an
    ° ° °
    Cỏ cây thấp thoáng qua màn
    Dập dồn vó ngựa gõ khan mặt đường (2720)
    Non xa tím ngắt mây vương
    Sông xanh trời nhuộm, đồi hường nắng hong
    Tưởng ngày hoa lạc long đong
    Niềm quê sợ cả nỗi mong vụng thầm
    Sợ nhìn vóc núi trầm ngâm
    Tưởng đâu thành quách giam cầm chim bay
    Sợ đêm tơ tưởng bóng mây
    Oán sao trời đất đoạ đày mình riêng
    Sợ trông hoa lả trăng nghiêng
    Thêm đau đớn phận – người chuyên tay người (2730)
    Ngại trông xuân trổ màu tươi
    Bẽ bàng thêm nữa buồn ơi là buồn
    Ngại gì non đổ suối tuôn
    Nước đi có biết cành hương phai tàn
    Ngại trông xe cuộn bụi đàng
    Hồn quê theo dặm mây vàng giục xuôi
    Dối mình đùa cợt làm vui
    Lại nghe tẻ ngắt nụ cười tái tê
    Dám mong chi nữa ngày về
    Chân mây cỏ áy não nề một phương (2740)
    Bây giờ rong ruổi mây vương
    Mây bay tưởng những dặm trường thăng hoa
    Ngỡ cây đa đợi quê nhà
    Ai lên Quán Dốc hát mà trách ai
    Đá non hỏi nước sông dài
    Hoa trôi một thuở u hoài còn riêng
    Đèn còn sợi khói xanh thiêng
    Cho bông tầm gửi láng giềng còn leo
    Còn cây trúc đợi trăng treo
    Hỏi hoa vương giả có neo cánh tình (2750)
    Từ hoa đổ chuyến đăng trình
    Người qua ngõ nhỏ chạnh tình khóc hoa
    Lên nương có hái bông trà
    Ngó mây tím chết ngỡ tà áo bay
    Trở về chếnh choáng men say
    Chờ hoa bưởi rụng đưa tay đỡ buồn
    Giờ ta về lại cô thôn
    Liệu con nhện cũ neo hồn sầu chăng
    Cho dù trúc đã đâm năng
    Miếng trầu vôi đỏ dùng dằng trao thơ (2760)
    Đêm đêm cung nguyệt lay mờ
    Tưởng đâu con sáo bây giờ qua sông
    Xin từ tạ những ngùi trông
    Cho tôi quên nhé những bồng bềnh xa
    Tạ từ khe quỷ đường ma
    Cho tôi dựng lại mái nhà nhân gian
    Xin cùng cỏ biếc quá quan
    Một đường nhân ái rẽ làn mây bay
    Trong xe nàng nhẹ quơ tay
    Ngoài đồng lúa đã dâng đầy lúa hương (2770)


    XXIII. Bao năm tơ tưởng

    Bức thứ hai mươi ba:
    (Kiều nhìn qua màu xanh vách núi cố huơng mới ngộ ra chính
    hoàn cảnh thiên nhiên và thân thuộc ban đầu đã tạo nên
    tâm thức nàng - chỉ có quê hương mới mang lại thứ
    chân hạnh phúc – viên Ngọc Báu trong mình mà mãi lãng quên)



    Kiều qua muôn dặm bụi hường
    Thôn mây vần vũ, quán sương rạc rời
    Vượt non xe kiếm mặt trời
    Sang sông ngựa hí trông vời nước xanh
    Xe theo vó đổ mưa nhanh
    Người qua đồn cũ ngó thành rêu trơ
    Núi non thấp thoáng sương mờ
    Rõ ràng đâu phải giấc mơ đêm tàn
    Chao ơi suối tía đồi lam
    Bao năm tơ tưởng lòng tam tứ sầu (2780)
    ° ° °
    Cỏ cây xưa vẫn xanh màu
    Xanh ơi! Một cõi nhiệm màu trong ta
    Xanh từ mấy chục năm qua
    Dạy người khôn lớn yêu nhà yêu quê
    Ta đi – xanh gọi ta về
    Nôi ru trời đất bốn bề trăng sao
    Mặt trời luyện chí người cao
    Núi non giục vượt ba đào đấu tranh
    Cỏ hoa dậy đức hiền lành
    Chim muông nhịp bước xuân hành tiến đi (2790)
    Mây bay nhủ lẽ từ quy
    Mãi quên một cõi lưu ly toả ngời
    Mùa Xuân dậy lý đất trời
    Mùa Thu dậy tiếng ru hời gió thu
    Mùa Đông để trán ưu tư
    Hạ Vàng để mắt trầm từ thâm sâu
    Dậy hoà bốn biển năm châu
    Dậy khai địa ngục, dậy xâu mộng vàng
    Bản di chúc toả hào quang
    Mẹ, Cha thầm nhủ con đàng – vượt lên (2800)
    Lòng chung bát ngát cõi Tiên
    Trí ngời quẫy khúc Rồng thiêng vẫy vùng
    Giờ đây tâm trí tao phùng
    Tái sinh giữa tấm lòng chung sơn hà
    Xanh xanh đất mẹ hiền hoà
    Giang tay ôm đứa con xa bấy ngày
    ° ° °
    Nàng còn mặc khải ngất ngây
    Non cao phục xuống một bầy voi xanh
    Dây diều đây dựng quách thành
    Non ơi non vẫn yên lành đó non (2810)
    Ô kìa! Ngũ Nhạc chon von (° )
    Mai Sưu vươn ngọn hao mòn bạc sương
    Phượng Hoàng núi nghỉ cánh hương
    Bao năm theo gió tha phuơng gọi người
    Triền này, Cổ Vịt rừng tươi
    Triền kia, Đá trắng là nơi trại mình
    Nương khoai gốc sắn là tình
    Cỏ hoa mây suối tạc hình vóc ai
    Nhìn ra tre trúc vươn dài
    Cầu Giòng thôn, khói bay vài sợi lam (2820)
    Suối giăng lấp lánh tơ ngàn
    Đồi kia gởi nấm mộ tàn hoa leo
    Xe qua đàn trẻ ùa theo
    Dắt nhau lả tả hò reo rộn ràng
    Nắng chiều rũ xuống mênh mang
    Líu lo sáo đậu trên tàng Đá Đôi
    Khe sâu nước vọng bồi hồi
    Mái rêu Nghè Nấm lợp trời nhung xanh
    Đường viền sỏi đá quanh quanh
    Chốn xưa đã hiện nét tranh lạc hà (2830)
    ° ° °
    Ngực mừng tưởng vỡ tan ra
    Nàng truyền xuống ngựa thướt tha bộ về
    Bước chân nẫu nhớ mùi quê
    Đất truyền nhựa mạch, mừng tê tái người
    Lòng rạo rực hé môi cười
    Mở ra bát ngát hơn mười Kinh Thơ
    Cỏ cây tươi mắt xanh chờ
    Núi non chín ửng phất phơ ráng hường
    Ngồi trên cội đá ven đường
    Áo Kiều lay vạt tà dương nhiệm màu (2840)
    Nhìn trời ngâm khẽ đôi câu
    Ý thơ theo bướm quanh đầu vờn bay
    Cỏ cây ngan ngát hương say
    Đồi Thu chợt cánh chim bay hoạ đờn
    Tiếc đời hoài mấy năm hơn
    Tìm nơi bọt nổi mây vờn hồi sinh
    Nhãng quên Báu Ngọc trong mình
    Là quê hương kết muôn hình hào quang
    Bày chi địa ngục thiên đàng
    Bên trong sự sống mênh mang tràn đầy (2850)
    Bây giờ mới hiểu lời Thầy
    "Cỏ hoa đâu chẳng hiện bày chân ngôn
    Con người cứ mãi xa nguồn
    Đày mình giữa những chán chường quẩn quanh
    Cho người tu luyện rừng xanh
    Thầy xin cày cuốc tựu thành tự nhiên
    Mặc ai tìm kiếm Tây thiên
    Riêng ta biến cái não phiền thành hoa
    Hoài công sớm tối ê a
    Chi bằng hái cúc ươm trà ngẫm thu (2860)
    Tu mà chẳng biết mình tu
    Nhập cùng mối Đạo cho dù rong chơi
    Thân tự tại giữa đổi dời
    Một lòng vô bệnh – trí ngời lên cao
    Ngâm thơ giữa cõi trần lao
    Dù cho vọng niệm khác nào Như Lai
    Một khi minh triết xa người
    Còn chăng giả tướng giữa nơi hồng trần
    Phân chia này nọ, ngã, nhân
    Càng tìm càng vạt gót chân lạc nguồn" (2870)
    Bao năm trí bệnh đoạn trường
    Truân chuyên đã trải, đau thương đã rồi
    Dòng dòng nước mắt nổi trôi
    Bây giờ mới mở chân trời uyên ngôn
    ° ° °
    Tóc nàng dài sợi hoàng hôn
    Cò bay dằng dặc cô thôn gọi chiều
    Một vùng mây núi đăm chiêu
    Dưới chân giun dế nở đều trường ca
    Kiều lên trang trại quê nhà
    Mảnh trăng theo hiện lên tà áo lơi (2880)


    XXIV. Lắng tiếng chim vang

    Bức thứ hai mươi bốn:
    (Kiều đi hành hương đền Mẫu – ngôi đền
    mang nhiều kỉ niệm từ thủa ấu thơ)



    Dưới tàng đào lý hồng phơi
    Kiều ngồi rửa mặt chim khơi tiếng lòng
    Cánh hoa rụng trắng thau đồng
    Đáy in thăm thẳm từng không xám chì
    Sớm nay má ửng xuân thì
    Nét mày dìu dịu, đường đi não nùng
    Vai thon óng giải tơ nhung
    Vương qua gò yếm một vùng hạ xanh
    Tay lan trắng muốt đôi nhành
    Vớt hoa làm rụng hạt long lanh trời (2890)
    Lim dim nét mắt mê người
    Dịu đưa khăn lụa cổ ngời nhành cao
    Trên đào hoa dưới má đào
    Hai bông đua sắc nghiêng vào thau hương
    Ngó hoa mây cũng ửng hường
    Vờn đôi bướm nhỏ bên tường nịnh hoa
    ° ° °
    Xóm gần cho đến thôn xa
    Mấy ngày kéo đến đầy nhà viếng thăm
    Xa quê biền biệt bao năm
    Trùng hoa đất cũ – âm thầm sầu bi (2900)
    Lối xưa – rêu lục xanh rì
    Tường xưa – hồng rụng hoa Ty Tâm gầy
    Nàng về - lại trắng hoa bay
    Hoa đơm vì một nét mày Tố Nga
    Gót ai tía nở nụ cà
    Sáng lên dạo núi, chiều ra thăm đồng
    Áo hoa, nón giắt nụ hồng
    Chân dài, thắt một lưng ong dịu dàng
    Sen hường đôi cánh mơ màng
    Nghiêng mình giặt lụa, suối vàng dòng lơi (2910)
    Có trưa ngồi vẽ mây trời
    Có đêm đọc sách trăng rơi vàng thềm
    Ngoài song liễu lả lơi mềm
    Ngừng tay nàng tưởng áo xiêm ai về
    Nhìn hoa trĩu cánh trăng khuya
    Tắt đèn lặng ngắm sao chia mấy vần
    Có chiều vời trẻ hương lân
    Qua hiên dạy hát ngoài sân gió chờ
    Quây quần bên ánh trăng thơ
    Ôm đàn rung mấy nhánh tơ hoàn đồng (2920)
    Nàng riêng ở mái thư phòng
    Thơ treo đầy vách một lòng thênh thang
    ° ° °
    Sớm nay sắm sửa quả nhang
    Dâng hoa đền Mẫu thăm tàn lan xưa
    Thuở nào cánh rụng như mưa
    Nhặt về ướp kín trang thơ khói vờn
    Tục truyền chân Ngũ Nhạc Sơn
    Có đầu gối đá son hường màu da
    Một hôm trẻ đánh trâu qua
    Lưng non vẳng tiếng hát ca trẻ nào (2930)
    Tìm lên đầu gối đá cao
    Ngồi đây một vị hồng hào uy nghiêm
    Chung quanh hoa bướm chao nghiêng
    Lưng trời thêm tán mây viền rũ che
    Trẻ trâu Đa Cóc gần kề
    Tranh đem cờ quạt rước về thôn trang
    Trẻ Yên Mô lại xa làng
    Vòng tay làm kiệu vội vàng rước đi
    Bẻ lau làm ngọn linh kỳ
    Nón xâu cán lọng khác gì tàn hoa (2940)
    Cung nghinh vừa đến rừng nhà
    Giải mây đầu núi hoá ra kiệu rồng
    Thần Nhi cất tiếng cười trông
    Bay lên vút cánh chim hồng khuất mây
    Trẻ nhìn như ngất như ngây
    Chạy về đem chuyện tỏ bày trước sau
    Thôn làng người vội kéo nhau
    Ra coi một chiếc tán màu còn bay
    Thế rồi ghi sự tích này
    Dựng ngôi Đền Thánh tháng ngày lửa hương (2950)
    Riêng nơi đầu gối son hường
    Dựng thành Cửa Mẫu trầm vuơng sớm chiều
    Thềm lên đá xếp cheo leo
    Chung quanh tùng bách gió reo nhạc đàn
    Giữa sân trồng cội ngọc lan
    Bốn mùa hoa trải vô vàn cánh rơi
    Hành hương vừa tới chân đồi
    Mùi bông thanh khiết trao người phương xa
    ° ° °
    Chị em thuở chửa lìa nhà
    Hay thường theo mẹ dâng hoa cảnh này (2960)
    Kể từ gặp trận cát bay
    Cành Xuân vùi dập lắt lay bẽ bàng
    Nhiều đêm thoảng giấc mơ vàng
    Bước theo theo mãi con đàng quanh co
    Rừng xưa chim vẫn chuyện trò
    Thềm phơi quạnh quẽ, mái co lạnh lùng
    Dấu chân buông giữa mông lung
    Mà sao lạc mãi trong vòng khói sương
    Ngôi đền đôi mái trầm vương
    Tàn lan xanh đó bên đường chưa phai (2970)
    Tỉnh ra thương phận lạc loài
    Tưởng hoa còn rụng trên vai liễu mềm
    Thềm rêu tím ngắt ngôi đền
    Hồ như vóc dáng Mẹ hiền chờ ta
    Trách con nỡ bỏ quê nhà
    Trách sông chia cách đường xa lối về
    Cho lan nọ nhớ lan kia
    Một trăng vàng bủng sầu chia mấy lòng
    Cho dầu dãi nhớ long đong
    Buồn tê đầu lối, sầu hong cuối đường (2780)
    ° ° °
    Bây giờ lãng đãng qua nương
    Sách hoa theo vượt dặm trường phiêu diêu
    Chừng nghe mây nổi theo Kiều
    Mây bao nhiêu dặm bấy nhiêu dặm tình
    Đồi hồng chín mọng bình minh
    Bờ Tu, Trại Sắt ẩn mình sương bay
    Khoai môn xanh lẫn ngàn cây
    Qua đồi dứa đỏ nghe bầy nhạn xao
    Nương lang tiếp ruộng thuốc lào
    Lối qua Oẻ Ngựa, lối vào Yên Mô (2790)
    Chim Rừng Cấm hót líu lô
    Lẵng ai sách cả sương mờ chon von
    Chập chờn bướm trắng leo non
    Áo bay bạch lộ chân son tóc thề
    Bao năm bước lạc cửa mê
    Giờ như mây nổi hồn quê bừng bừng
    ° ° °
    Dấu chân khắc lối in rừng
    Nhựa thơm đất mẹ chôn từng dấu đi
    Thôn xa mấy cụm xanh rì
    Mái đền cong vút uy nghi hiện dần (3000)
    Tàn hoa trắng cội phù vân
    Tiếng chim khuyên rụng trong ngần như sương
    Bao năm vẫn một mùi hương
    Trước sau thơm đến dị thường trong ta
    Phải chăng hoa của quê nhà
    Thơm trong hoài niệm mới là mãi tươi
    Hoa cao quý bởi lòng người
    Mượn hoa sánh cái tuyệt vời hồng nhan
    Hương ơi! Thơm nhé đừng tan
    Đừng như lò biếc, đã tàn hương mơ (3010)
    Tay Kiều vuơng vấn ngàn tơ
    Nghe trong dáng dấp ngày thơ ấu về
    Tưởng khi mái tóc vương thề
    Nghiêng vai bạch thạch thơ đề trăng sao
    Tưởng khi gò má bông đào
    Áo bay hoàng hạc, ý vào hồn mây
    Ngày xưa cô bé qua đây
    Hoa nao dệt ý, cỏ ngây gợn tình (3020)
    Là hoàng hôn lẫn bình minh
    Cho ta tưởng suối, cho tình tự hương
    Núi non mở lá thần chương
    Hoa phô bóng Thuý, khói vương dáng Kiều
    Từ trâm cài tóc mây chiều
    Dặm Xuân, dại lỡ gieo liều gót hoa
    Bây giờ lắng gợn thu ba
    Cỏ cây lại trổ màu ra thuở nào
    Khám thờ bay sợi trầm cao
    Áo tơ rơi hạt nắng đào còn run (3030)
    Vẳng nghe chuông tự Chùa Hun
    Hồ đang vượt thức mây un ngọn đèo


    XXV. Kiều ngồi ven suối

    Bức thứ hai mươi lăm:
    (Kiều thăm lại mộ Đạm Tiên, bài thơ tức cảnh
    khắc trên cây ngày xưa, bay lên bốn con bướm,
    đậu trên bàn tay nàng như một đoá hoa)



    Kiều Thu lá úa bay vào
    Tiểu khê dải nước trong veo một dòng
    Ai đem tơ lụa ra hong
    Gió bay lụa xuống vàng lòng xuân thu
    Đôi bờ liễu rũ vi vu
    Soi khuê dung mãi – mãi từ bao Xuân
    Chờ ai tàn cuộc phù vân
    Lá bay tưởng tóc, bướm vần tưởng hoa (3040)
    Dòng Thu biền biệt quan hà
    Mãi đi riêng để liễu sa nụ vàng
    Đất xưa mộ nấm hàng hàng
    Bây giờ cỏ nội lau ngàn lất lây
    Cành lê trắng cũng hao gầy
    Tưởng hồn lưu lạc ngó mây đoạn trường
    Tàn tàn mộ quạnh khói hương
    Hiu hiu gió thổi nắm xương trở sầu
    Liễu xanh lả ngọn bên cầu
    Xuân thu chất chứa trên đầu mấy mươi (3050)
    Bẽ bàng thay đoá cúc tươi
    Cỏ cây như thế - mỉm cười chi hoa
    Biết đâu ngàn vạn năm qua
    Mối tình cây cỏ cùng ta kết nhiều
    Nên Thu hoa sắc tiêu điều
    Vì Thu ta cũng đăm chiêu võ vàng
    Buồn ra bãi mộ thăm nàng
    Thấy chi, trong đám đoạn tràng lá bay
    Tiểu khê cỏ vẫn xanh dày
    Mùa Thu chết đuối bóng mây giữa dòng (3060)
    Sầu dâng chan chứa trong lòng
    Mặt trời gác núi như vòng ngọc rơi
    Tiếng cò lẫn giữa mù khơi
    Về Nam cánh trắng muôn đời nổi cao
    ° ° °
    Kiều ngồi ven suối nao nao
    Sóng xanh tưởng hội xanh nào cuối Xuân
    Chốn này xưa nhớ dừng chân
    Khóc mồ bạc phận khắc vần thơ gieo
    Nước in kiều lẫn bóng Kiều
    Vó câu ngựa giục ít nhiều hương rơi (3070)
    Áo tơ thưa đẫm tơ trời
    Trời sa khói tím, suối dời dòng cam
    Một làn Xuân gợn mang mang
    Mắt giao sóng mắt mơ màng liễu tơ
    Đoạn trường từ mấy vần thơ
    Thân cây, trâm khắc chưa mờ sương phong
    Sóng thiêng thưở nổi hai lòng
    Mười lăm năm buộc bốn vòng tơ oan
    Kể từ có kẻ cáo gian
    Bánh xe đưa chiếc hoa tàn vụt bay (3080)
    Lầu xanh giam tấm thu gầy
    Hết tay lừa lọc lại tay lọc lừa
    Lỡ làng đành phận tơ mưa
    Giữ chi liễu thải hoa thừa mặc ai
    Thời gian gió dạt mưa dài
    Trời cao nguyện trả thân này cho qua
    Nghiệp đàn trót nợ âm ba
    Hết vào vực lửa lại sa bẫy ngầm
    Ngón tay mười mạch lệ thầm
    Ôm thân đi giữa cát lầm gió bay (3090)
    Đầu đường trôi nổi bóng mây
    Sau lưng còn lại những ngày vàng hoe
    Còn viền trăng đó bạn bè
    Nằm đêm dõi mộng chờ nghe gió trời
    Người cho chẳng được làm người
    Biến ra một thứ đồ chơi lạ lùng
    Ruột tằm quặn quại năm cung
    Bốn dây rên xiết gấm nhung đổi màu
    Thôi thì ngọc trả dòng châu
    Chút tình xin gửi đáy sâu Tiền Đường (3100)
    Thì thôi cho dứt đoạn trường
    Cầu qua nhịp thuý, lệ vương nhạc vàng
    Sông xanh sổ trải nguyên trang
    Tên ai lác đác đôi hàng sao rơi
    Bóng in tưởng dấu hoa ngời
    Dòng sông ảo hoá gọi mời thiên thu
    Còn chi biển hận non thù
    Sao giăng đáy nước, sa mù đầu non
    ° ° °
    Chừng nghe sông hát véo von
    Âm dư ngày cũ trong lòng hoà nhau (3110)
    Tơ xưa đan lưới ưu sầu
    Giờ đây hoá hiện nhịp cầu qua sông
    Sao rơi lấp lánh giọt hồng
    Người gieo mặt sóng bềnh bồng như sao
    Xuôi dòng dịch hoá nao nao
    Cửa ra ảo ảnh, lối vào như nhiên
    Thân ta một hạt lệ thiêng
    Đoạn truờng sổ quý thấm riêng một tờ
    Khởi từ lạch suối xanh mơ
    Rồi trôi nổi đến bên bờ sông Thương (3120)
    Bốc lên thành sợi mây hường
    Sợi mây cất cánh thiên hương trở về
    Bây giờ bên ngọn tiểu khê
    Mây tan thành hạt bồ đề hào quang
    ° ° °
    Bao nhiêu nghịch cảnh bên đàng
    Khiến ai đọng ngọc kết vàng đó thôi
    Sóng sông – giúp vượt cầu đời
    Sóng đàn – giúp vượt cầu hơi bảy màu
    Chẳng bờ trước, chẳng bờ sau
    Lại qua tim óc - một bầu trời xanh (3130)
    Bước lên – mỗi bước đẹp lành
    Năm châu hoà hợp – tự thành Một Hoa
    Thông linh Đất Mẹ, Trời Cha
    Hợp đoàn chim Lạc hót ca rộn ràng
    Đổi thay chuyển nghiệp trần hoàn
    Bốn phương Vuông Chỉnh – Một Đàng Tròn lên
    ° ° °
    Cây xưa Kiều khắc thơ tiên
    Giờ bay đàn bướm dịu hiền phất phơ
    Bốn con như bốn dòng thơ
    Quẩn quanh vờn mãi bên bờ vai thon (3140)
    Kiều đưa năm ngón tay son
    Lạ thay đàn bướm có con đậu vào
    Rung rung cành nguyệt cánh đào
    Nở trên cung mệnh khác nào dâng hoa


    XXVI. Báo ngày xuân quang

    Bức thứ hai mươi sáu:
    (Kim Trọng về thăm Kiều, dừng cương ngó dòng tiểu khê,
    chợt bao nhiêu tiếng đàn Kiều, theo nước chảy,
    hoá thành bản Vô Thanh, khiến Kim thấy được hào quang trên dung nhan Thuý Kiều)



    Cuối Thu theo gió tìm qua
    Bước đi là một giẫm nhoà nhạt sương
    Bạch đàn gỗ trắng bên đường
    Đàn chim khép cánh bụi đường quan san
    Đồi cao nở đoá hôn hoàng
    Tảng mây lấp mặt trời vàng vàng hoe (3150)
    Cồn rừng ung ủng khói che
    Diều hâu báo rét tiếng nghe mơ hồ
    Nẻo xa tím ngắt cỏ bồ
    Sương vàng lãng đãng bóng cô thôn chiều
    Quá quan Kim vượt tìm Kiều
    Bâng khuâng băng núi, tiêu điều vượt sông
    Nhớ người cương buộc chùm bông
    Áo xanh nắng nhạt, ngựa hồng gió phai
    Riêng trăng cật ngựa u hoài
    Cỏ xanh xanh tưởng dấu hài cố nhân (3160)
    Đêm thâu giục giã trăng gần
    Ngày dài vó soãi phù vân dập dồn
    ° ° °
    Về qua muôn dặm hoàng hôn
    Dừng cương Kim ngó cố thôn Thạch Đào
    Đất xưa Đố lá hội nào
    Hoa nay nhớ chuyện hoa nao mỉm cười
    Liễu xanh tha thướt dáng người
    Thầm trông dạc vóc, ngó vời gầy hoa
    Ngày nào mắt đắm thu ba
    Nước xuôi theo tóc la đà cài hương (3170)
    Tấc lòng lẫn nhớ pha thương
    Tiểu khê ơi! Sóng bên đường về đâu
    Một dòng chảy miết thiên thâu
    Còn in xanh chuyện tình đầu thơ ngây
    Chàng nhìn giải nước lùa mây
    Khe xanh biêng biếc hoá dây đàn lòng
    Sóng ngoài hoà với đàn trong
    Trên yên tượng ngọc mơ mòng năm cung
    ° ° °
    Tơ nào chén lệch trăng rung
    Nghiêng hiên Lãm Thuý tơ chùng sao rơi (3180)
    Tơ nào suối lượn chơi vơi
    Hương dâng sợi cũ đàn lơi dòng huyền
    Tơ nào hạc cất trầm lên
    Dưới hoa sương rụng, đầu thềm khói giăng
    Tơ nào rực rỡ hiên trăng
    Ba lòng neo một bến hằng đêm xưa
    Con tim rạo rực âm thừa
    Bây giờ rung với nước xưa một nhành
    Bản hoà bát ngát Vô Thanh
    Đoá phù dung mộng đã đành trắng tay (3190)
    Mơ hồ như một hoa dây
    Theo hương về cội, bao ngày xuân quang
    ° ° °
    Tiếng ngân đã bặt lòng đàn
    Hồn Kim thanh thoát trong ngàn liễu tơ
    Bếp hồng cao ngọn khói mơ
    Mùi rơm chiều thoảng bao giờ chưa quên
    Ngựa dài vó giục đường lên
    Mặt trời đỏ thẫm ngọn liềm đá trau
    Dáng Kiều thấp thoáng vườn rau
    Có con mèo mướp theo sau quện hoài (3200)
    Chiều vàng bướm cũng vàng bay
    Vờn trên hoa cải vàng dài bông hương
    Hoàng hôn phủ tóc Mỵ Nương
    Hào quang trời ửng thêm hường má Xuân


    XXVII. Tìm động hoa vàng

    Bức thứ hai mươi bảy:
    (Bốn người lẩy Kiều, canh bánh chưng đêm nơi thôn Bạch Vân
    (Quê hương Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm). Nhà sư kể chuyện vui
    chờ xuân - huyền thoại một bài thơ nơi Chùa Hương Tích, vì nghiệp luỵ
    thử thách đã nhập vào đời Kiều - đi suốt Đoạn trường,
    rồi thăng hoa trong Việt Tính Dân Tộc)



    Đêm khuya nơi xóm Bạch Vân
    Bốn người luộc bánh chưng xuân chuyện trò
    Lửa bừng lách tách reo hò
    "Chú miêu" nằm cạnh co ro sưởi mình
    Một chàng mảnh khảnh thi nhân
    Một người áo vải nông dân hiền từ (3210)
    Một Chiến sĩ, một Thiền sư
    Vây quanh bếp lửa hồng như ráng chiều
    ° ° °
    Thuốc lào nhả khói đăm chiêu
    Rung đùi sư bác lẩy Kiều ngâm nga
    "Thiện căn ở tại lòng ta
    Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài"
    ° ° °
    Thầy sao lắm vẻ cảm hoài?
    Chờ Xuân bạn kể nghe vài chuyện vui
    ° ° °
    Thầy se điếu xuống cả cười
    Thì dư nước mắt khóc người đã sao (3220)
    ° ° °
    Rằng: Xưa có gã chiêm bao
    Ngâm thơ rỗng bụng tạt vào chùa Hương
    Ăn nhờ đôi bữa rau tương
    Một đêm – chuông rụng trăng vương gió ngàn
    Lòng chàng siêu thoát mênh mang
    Sáng lên tìm Động Hoa Vàng chen mây
    ° ° °
    Gối tay ngủ cỏ nằm say
    Tỉnh trông – thì lách lau dày lối ra
    Giật mình thấy một chùm hoa
    Nhành lan Bạch Ngọc bên toà tịch tâm (3230)
    Ý thơ nổi dậy khôn cầm
    Cảm lan dệt một trường ngâm xuất thần
    ° ° °
    "Kiếp hoa trắng ngát hồng trần
    Nụ dài tưởng bút thi nhân đại đồng
    Dù nơi động núi sương phong
    Nhuỵ lan vẫn toả tấm lòng tinh anh
    Lá dài cong nhịp cầu xanh
    Vượt qua đoạn lệ trổ nhành hoa Tiên
    Thiên hương hé nụ cười hiền
    Biến thân qua vạn bút nghiên hoá Người" (3240)
    Thần Nhân ra khỏi cuộc đời
    Tim đông thành ngọc, vọng lời ngân xa
    ° ° °
    Thần Thơ quyện với Hồn Hoa
    Vào nàng con gái nguyệt ngà họ Vương
    Cỏ cây quanh động chùa Hương
    Hoá thân làm nhịp gió sương đời Kiều
    Nào là Mã, Sở gian điêu
    Huyện quan Kim Trọng, đại triều Hồ Tôn
    Cũng vì diệu dụng càn khôn
    Cho bài thơ tỉnh mê hồn bay cao (3250)
    Cho Thơ hoà với trăng sao
    Cho trăng sao hoá chiêm bao cõi Người
    Khí thiêng sông núi nên lời
    Cỏ cây giam kín một đời tinh anh
    ° ° °
    Thần Nhân mới ứng thân thành
    Một chàng Từ Hải áo xanh bạc màu
    Giang hồ bụi nhuốm hàm râu
    Đón bài thơ nọ khỏi cầu đau thương
    Lại vào sư bác Văn Chương
    Đem Kim Cương cắt tơ vương giấc vàng (3260)
    Cho Thơ hoà với mênh mang
    Cho mênh mang đọng hạt đàn Vô Thanh
    Đất dày nhập với trời xanh
    Đoạn trường xưa hoá trường thành lưng mây
    Áo thơ hồng quả tươi cây
    Tiếp thu lẽ sáng chan đầy Mạch linh
    Muôn loài mở cuộc hồi sinh
    Dựng lên khắp cõi bình minh Đại hoà
    Kiều giờ là cỏ là hoa
    Đường gân mạch máu xương da cũng nàng (3270)
    Bài thơ Thoát vận đoạn tràng
    Hoá thành hạt ngọc nghiêm trang Trời Người
    ° ° °
    Nhà nông nghe chuyện mỉm cười
    Xắn tay vớt bánh Chưng ngời lá Vuông
    Mặt trời Tròn bánh Dầy hương
    "Tròn Vuông Trời Đất" - lên đường sáng soi
    Trẻ reo pháo nổ từng hồi
    Bạch Vân Am ngát lưng đồi trầm mai
    Buồng trong thoảng tiếng ru hoài
    "Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan" (3280)
    Mây bay trời dựng tàn vàng
    Gió cao tung cánh Phượng hoàng núi Đông
    Rừng xa lá cuốn bềnh bồng
    Dáng như Sư tử dựng lông vươn mình
    Đất trời thắm lại Minh Minh
    Dân gian mở hội thái bình bốn phương
    ° ° °
    Thánh Nhân quẩy gói lên đường
    Bước chân Tự Chỉnh áo vương màu trời
    Dáng xa như úp chuông ngời
    Tiếng ngân đất trổ tuyệt vời trăm hoa (3290)
    ° ° °
    Non Hồng núi Tản chim ca
    Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi
    Núi sông chiếu diện tinh khôi
    Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng
    Mừng Người Trời Đất tưng bừng
    Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh


     
     
    nguồn: thivien.net

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Còn Một Đêm Nay

    Thanh Nam

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646836]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502830]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639957]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471681]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341272]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600893]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690032]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496897]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300818]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010776]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549020]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470202]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445930]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204100]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150757]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078878]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062620]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028952]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026558]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921865]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907656]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905346]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877085]
    29.Hắc Nho [852220]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840122]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756104]
    33.Tru Tiên [747836]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745345]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661957]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622482]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569436]
    39.Hoàn Hảo [557803]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536838]
    41.Tầm Tần Ký [512087]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456434]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450987]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434060]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427542]
    48.Cậu Chó [417317]
    49.If You Are Here [411882]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408303]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm