hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[789] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG III. PHÚ, NHẠC PHỦ VÀ THƠ ĐỜI HÁN

    1. PHÚ

    a. Phú là gì?

    Nói đến văn học đời Hán thì ai cũng liên tưởng ngay đến lối phú vì trong các loại văn mà người ta thường gọi là “thuần tuý” – như thơ, phú, từ, tiểu thuyết – thì phú đời Hán rất thịnh: văn nhân nào cũng luyện nó, cũng như đời Đường, văn nhân nào cũng làm thơ vậy. Cơ hồ như người đời Hán dùng lối phú để định văn tài mỗi nhà.

    Tiếng phú 賦 vốn để chỉ một cách hành văn mà quy tắc là “trực trần kỳ sự” 1 , sau đó dùng để chỉ một thể văn tả cảnh vật, tâm sự một cách diễm lệ, du dương.

    Thể văn ấy có vần, có điệu, gần như thơ; có thể nói nó là một loại thơ, hoặc một loại giữa thơ và tản văn. Nó phát sinh ở cuối đời Chiến Quốc, tại phương Nam (xin coi lại đoạn xét về Tống Ngọc), tới đời Hán được phổ cập; do đó có người nói văn học đời Hán chịu ảnh hưởng của phương Nam nhiều hơn phương Bắc. Lời ấy không phải là vô lý.

    b. Tạo sao phú phát đạt ở đời Hán?

    Như trên chúng tôi đã nói, đời Hán dân được hưởng thái bình trong 300 năm mà nhà vua thích văn nhân ca tụng mình nên bọn này được nhàn nhã, kiệt lực viết những bài khoe cảnh bình trị đường thời và tài đức của thiên tử.

    Phú là thể văn hợp với công việc làm vui tai mắt bề trên ấy, nó không cần ý tứ cao kỳ, chỉ cần lời lẽ bóng bẩy, du dương; như vậy tất nhiên nó phải được thịnh.

    c. Tư Mã Thương Như 司馬相如 (179?-117)

    * Tiểu sử:

    Tác giả nổi tiếng nhất về phú là Tư Mã Tương Như, tự Tràng Khanh 長卿. Chàng là người xứ Thục, rất đa tài, văn hay, đờn giỏi.

    Khi bỏ quê lên Tràng An, tới con sông đầu làng, chàng viết lên cầu: “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không ngồi xe cao bốn ngựa, không lại qua cầu này nữa).

    Song con người ấy phóng đãng nhất mực, mua được một chức quan nhỏ, làm trong ít lâu, chán, cáo bệnh, qua chơi nước Lương, rồi trở về Thục. Tới đâu chàng cũng dùng ngọn bút và cây đờn để làm vui tai vua chúa cùng các nhà quyền quý. Một hôm, trong bữa tiệc, chàng được thấy một người đàn bà họ Trác, mới goá chồng, còn trẻ, đẹp mà nhà rất giàu. Nàng Trác Văn Quân mê tiếng đờn của Tương Như, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Cha nàng giận, nhất định từ con. Cặp trai gái đó mở một quán rượu để mưu kế sinh nhai, vợ nấu bếp, chồng tiếp khách. Trác ông thấy thế, vừa thương con, vừa ngại xấu mặt mình, bất đắt dĩ phải chia cho Văn Quân: đầy tớ 100 người, tiền 100 vạn lạng. Nhờ vậy Tương Như bỗng hoá ra đại phú.

    Hán Vũ Đế thích bài Tử hư phú 子虛賦, vời chàng Tương Như lại triều, cho một chức quan, sai chàng cầm cờ tiết, thay thiên tử về Ba Thục dụ bọn phụ lão phục tùng nhà Hán. Lần này, thoả chí bình sinh, chàng áo gấm vinh quy được quê hương đón rước long trọng. Từ đó Trác ông mới hết khinh thị chàng.

    Chàng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bệnh, lui về quê rồi chết. Con người ấy hoàn toàn là một nghệ sĩ, thiên tài có dư, tuy cũng có lúc túng bấn, bán văn lấy tiền, nhưng vốn không phải là phường ham danh lợi; chỉ đáng tiếc cho chàng lãng phí tài hoa để mua vui thiên hạ, nên không lưu lại thành tích gì cao quý cho đời sau.

    * Tác phẩm:

    Sách Hán Thư của Ban Cố chép chàng viết được 29 bài phú, nhưng thực ra chỉ có 5 bài là chắc chắn của chàng:

    - bài Tử hư chép những sản vật ở từng miền, cũng như một bài địa lý có vần, khéo thì khéo mà vô giá trị về văn nghệ.

    - bài Thượng lâm 上林 tả cảnh săn bắn.

    - bài Thiên tử du liệp phú 天子游獵賦 khuyên nhà vua không nên săn bắn vì nguy hiểm.

    - bài Đại nhân 大人 kể chuyện thần tiên.

    - và bài Trường môn 長門 làm hộ cho một phi tần họ Trần; nàng bị vua Vũ Đế ghét bỏ, đem ngàn vàng nhờ Tương Như viết cho nàng một bài phú tả tình luyến ái của nàng để vua đọc tới, cảm động nhớ lại tình xưa.

    Bài ấy rất hay, lời ai oán vô cùng, như đoạn dưới đây:

    左右悲而垂淚兮,涕流離而從橫。舒息悒而增欷兮,蹝履起而彷徨。揄長袂以自翳兮,數昔日之愆殃。無面目之可顯兮,遂頹思而就床。搏芬若以為枕兮,席荃蘭而茞香。忽寑寐而夢想兮,魄若君之在旁。惕寤覺而無見兮,魂迋迋若有亡。眾雞鳴而愁予兮,起視月之精光。觀眾星之行列,畢昴出於東方。望中庭之藹藹兮,若季秋之降霜。夜曼曼其若歲兮,懷鬱鬱其不可再更。澹偃蹇而待曙兮,荒亭亭而復明。妾人竊自悲兮,究年歲而不敢忘。

    Thế hữu tả hữu bi nhi thùy lệ hề, thế lưu ly nhi tung hoành. Thư tức ấp nhi tăng hi hề, sỉ lý khởi nhi bàng hoàng. Du trường duệ dĩ tự ế hề, sổ tích nhật chi khiên ương. Vô diện mục chi khả hiển hề, toại đồi tư nhi tựu sàng. Bác phân nhược dĩ vi chẩm hề, tịch thuyên lan nhi chỉ hương. Hốt tẩm mị nhi mộng tưởng hề, phách nhược quân chi tại bàng. Dịch ngộ giác nhi vô kiến hề, hồn duống duống nhược hữu vong. Chúng kê minh nhi sầu dư hề, khởi thị nguyệt chi tinh quang. Quan chúng tinh chi hàng liệt, Tất Mão xuất ư đông phương. Vọng trung đình chi ái ái hề, nhược quý thu chi giáng sương. Dạ mạn mạn kỳ nhược tuế hề, hoài uất uất kỳ bất khả tái canh. Đạm yển kiển nhi đãi thự hề, hoang đình đình nhi phục minh. Thiếp nhân thiết tự bi hề, cứu niên tuế nhi bất cảm vương.

    Buồn ngó chung quanh mà rỏ lệ hề, nước mắt ròng ròng chảy dọc ngang. Rán thở dài mà thêm nghẹn hề, xỏ giày đứng dậy mà bàng hoàng. Vung tay áo để che mặt hề, nhớ hồi xưa lầm lỗi mà sinh tai ương. Mặt mày coi tiều tuỵ hề, bèn buồn lòng mà lên giường. Vò bông như để làm gối hề, trải cỏ thơm mà ướp hương. Hốt ngủ quên mà nằm mộng hề, phách như ở bên quân vương. Chợt tỉnh mà chẳng thấy hề, hồn hốt hoảng như mất cái gì. Nghe gà gáy mà rầu lòng hề, dậy coi trăng sáng long lanh. Coi sao bày hàng hề, Tất, Mão 2 hiện ở phương Đông. Nhìn ra sân thấy lạnh lẽo hề, như tháng chín trời gieo sương.Đêm dằng dặc như năm hề, lòng uất uất mà chẳng nguôi. Lặng lẽ trăn trở đợi sáng hề, trời hừng hừng đã rạng đông. Thiếp trộm buồn tủi hề, cho tới già chẳng dám quên.

    d. Dương Hùng

    Dương Hùng 揚雄 (53 trước – 19 sau) tự là Tử Vân 子雲, trước tác nhiều, nhưng chỉ chuyên môn mô phỏng; về phú thì mô phỏng Tư Mã Tương Như, viết bài Thục đô phú 蜀都賦, về luận thuyết thì mô phỏng Luận Ngữ và Kinh Dịch để soạn những thiên Pháp ngônThái Huyền (法言, 太玄).

    Ngoài ra, các văn nhân khác ai cũng truyền được vài bài phú; lượng tuy nhiều mà phẩm thì kém và phải đợi đến đời Đường mới thấy những bài bất hủ. Vậy tuy nói là Hán phú nhưng ta nên nhớ không phải chỉ có phú đời Hán mới hay đâu.

    e. Ảnh hưởng của Phú

    Vì vần lựa tiếng cho đẹp, cho kêu, nên nhà viết phú nào cũng phải có một số dụng ngữ rất dồi dào. (Đọc vài đoạn của Tư Mã Tương Như trên kia, độc giả chắc đã nhận thấy nhiều chữ rất lạ). Nhờ đó mà một bộ tự điển đầu tiên xuất hiện ở đời Hán; bộ ấy nay đã thất truyền.

    Nhưng, mặt khác, văn hoá ra cầu kỳ, thiên tài không thể nào phát huy trong công việc gọt tỉa quá mực đó, tất phải mai một, đến nỗi Vương Sung đã lớn tiếng mạt sát lối văn ấy và ngay như Dương Hùng tuy thích viết phú cũng phải nhận rằng công việc sáng tác ấy chỉ là một thuật nhỏ mọn, kẻ tráng phu không thèm làm. Nặn óc soạn một bài ca địa lý có vần để khoe tài như bài Tử hư phú, thật uổng công biết bao!

    Phú ảnh hưởng rất lớn đến văn học đời sau. Lối văn biền ngẫu mà cách đây nửa thế kỷ còn thịnh hành ở Trung Quốc và nước ta, chính do lối phú mà ra.

     

    2. NHẠC PHỦ 樂府

    a. Nhạc phủ là gì?

    Nhạc phủ vốn là tiếng để chỉ một quan thự (tức công sở bây giờ) mà đời Đương gọi là giáo phường. Các quan trong nhạc phủ có nhiệm vụ thu thập và soạn các bài ca. Bài nào được lựa thì gọi là nhạc phủ khúc, sau gọi vắn tắt là nhạc phủ. Thành thử danh từ nhạc phủ chỉ nhiều thể văn có vần, phổ vào nhạc được.

    Xét về hình thức thì đại thể có 2 loại:

    • loại ảnh hưởng Sở Từ (phương Nam) câu thường có 7 chữ, dùng chữ hề để đưa đẩy. Loại này là gốc lối thơ thất ngôn.
    • loại chịu ảnh hưởng của Kinh Thi (phương Bắc) thường mỗi câu có 5 chữ 3 . Loại này là gốc lối thơ ngũ ngôn.

    Về nội dung, nhạc phủ phô diễn ý thức của đủ các giai cấp, nhất là của giai cấp nông dân vì những bài dân ca được lựa nhiều nhất. Bài nào cũng tự nhiên, tình nồng nàn, phần nhiều đượm vẻ buồn, có giọng than thở cho đời người ngắn ngủi, nhân tình éo le, cảnh ngộ trắc trở, lòng người bạc đen…

    b. Trích ít bài

    Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu vài khúc được truyền tụng nhất.

    Hạng Võ khi lâm nguy, thua quân Lưu Bang, than thở với người yêu là nàng Ngu Cơ, lời rất bi tráng:

    力拔山兮,氣蓋世,

    時不利兮,騅不逝。

    騅不逝兮,可奈何?

    虞兮,虞兮,可奈何?

    Lực bạt sơn hề, khí cái thế,

    Thời bất lợi hề, chuy bất thệ.

    Chuy bất thệ hề, khả nại hà?

    Ngu hề Ngu hề, khả nại hà?

    Sức nhổ núi hề, khí hơn đời,

    Thời bất lợi hề, ngựa chẳng đi.

    Ngựa chẳng đi hề, biết làm sao?

    Ngu 4 ơi, Ngu ơi, biết làm sao?

    Lưu Bang lên ngôi thiên tử rồi, về cố hương ở đất Bái, bày tiệc rượu, say sưa với bà con hàng xóm, cất chén ứng khẩu ca:

    大風起兮,雲飛揚,

    威加海內兮,歸故鄉,

    安得猛士兮,守四方。

    Đại phong khởi hề, vân phi dương,

    Uy gia hải nội hề, quy cố hương,

    An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương.

    Gió lớn thổi hề, mây bay ngang,

    Uy khắp trong nước hề, về cố hương,

    Sao được mãnh tướng hề, giữ bốn phương.

    Lời hào hứng mà tả được cái đắc chí và nỗi lo lắng muốn giữ ngôi báu của kẻ may mắn và thành công.

    Tới thời Hán Võ Đế, một phong trào hành lạc và cảm thán về đời người ngắn ngủi như thổi khắp Trung Quốc.

    Dân thì than thở:

    生年不滿百,

    常懷千歲憂。

    晝短苦夜長,

    何不秉燭遊?…

    Sinh niên bất mãn bách,

    Thường hoài thiên tuế ưu.

    Trú đoản khổ dạ trường,

    Hà bất bỉnh chúc du?

    Đời sống chẳng đầy trăm,

    Bụng thường lo ngàn năm.

    Ngày ngắn khổ đêm dài,

    Sao chẳng đốt đèn chơi?

    .

    mà bực vua chúa như Võ Đế cũng yếm thế, muốn tu tiên?

    秋風起兮,白雲飛,

    草木黃落兮,雁南歸。

    蘭有秀兮,菊有芳,

    懷佳人兮,不能忘。

    汎樓船兮,濟汾河,

    橫中流兮,揚素波。

    簫鼓鳴兮,發櫂歌,

    歡樂極兮,哀情多,

    少壯幾時兮,奈老何。

    Thu phong khởi hề, bạch vân phi,

    Thảo mộc hoàng lạc hề, nhạn nam quy.

    Lan hữu tú hề, cúc hữu phương,

    Hoài giai nhân hề, bất năng vương.

    Phiếm lâu thuyền hề, tế Phần hà,

    Hoành trung lưu hề, dương tố ba.

    Tiêu cổ minh hề, phát trạo ca,

    Hoan lạc cực hề, ai tình đa,

    Thiếu tráng kỷ thời hề, nại lão hà.

    Gió thu nổi hề, mây bay ngang,

    Cây cỏ vàng rụng hề, nhạn về Nam.

    Lan có sắc hề, cúc có hương,

    Nhớ giai nhân hề, tình vấn vương.

    Chèo thuyền lầu 5 hề, sang sông Phần,

    Khi đâm ngang hề, sóng trắng ngần.

    Hoan lạc hết hề, buồn lòng ta,

    Trẻ bao lâu hề, già tính sao?

    Nhưng những bài cảm động nhất thường xuất trong dân gian, như bài Thập ngũ tòng quân chính dưới đây:

    十五從軍征,

    八十始得歸。

    道逢鄉里人:

    家中有阿誰?

    遙望是君家,

    松柏冢累累。

    兔從狗竇入,

    雉從樑上飛。

    中庭生旅穀,

    井上生旅葵。

    烹谷持作飯,

    採葵持作羹。

    羹飯一時熟,

    不知貽阿誰?

    出門東向望,

    淚落沾我衣!

    Thập ngũ tòng quân chinh,

    Bát thập thuỷ đắc quy.

    Đạo phùng hương lý nhân:

    Gia trung hữu át thuỳ?

    Dao vọng thị quân gia,

    Tùng bách trủng luy luy.

    Thỏ tòng cẩu đậu nhập,

    Trĩ tòng lương thượng phi.

    Trung đình sinh lữ cốc,

    Tỉnh thượng sinh lữ quỳ.

    Phanh cốc trì tác phạn,

    Thái quỳ trì tác canh.

    Canh phạn nhất thời thục,

    Bất tri di át thuỳ.

    Xuất môn đông hướng vọng,

    Lệ lạc chiêm ngã y!

    Mười lăm tuổi tòng chinh,

    Tám mươi mới được về.

    Trên đường gặp người làng:

    “-Nhà tôi còn có ai?

    - Xa xa là nhà cụ,

    Tùng bên mả sum suê.

    Thỏ theo lỗ chó vào,

    Trĩ trên lương xập xoè”.

    Ngoài sân lúa dại mọc,

    Trên giếng quỳ dại xanh.

    Giã gạo để nấu cơm,

    Hái rau để nấu canh.

    Cơm canh một lát chín,

    Nào biết mời ai ăn?

    Ra cửa nhìn phía đông,

    Lệ rỏ, áo ướt đầm!

    Lời chân thành mà nghệ thuật miêu tả cũng đã khéo, không kém những bài thơ xã hội của Đỗ Phủ đời Đường.

    Tả tình người vợ bị ruồng rẫy mà vẫn nhớ chồng thì như bài Thượng sơn thái mi vu:

    上山採蘼蕪,

    下山逢故夫。

    長跪問故夫,

    新人復何如?

    新人雖言好,

    未若故人姝。

    顏色類相似,

    手爪不相如。

    新人从門入,

    故人从閣去。

    新人工織縑,

    故人工織素。

    織縑日一匹,

    織素五丈餘。

    將縑來比素,

    新人不如故。

    Thượng sơn thái mi vu,

    Hạ san phùng cố phu.

    Trường quỵ vấn cố phu:

    - Tân nhân phục hà như?

    - Tân nhân tuy ngôn hảo,

    Vị nhược cố nhân thù.

    Nhan sắc loại tương tự,

    Thủ trảo bất tương như.

    Tân nhân tòng môn nhập,

    Cố nhân tòng các khứ.

    Tân nhân công chức khiêm,

    Cố nhân công chức tố.

    Chức khiêm nhật nhất thất,

    Chức tố ngũ trượng dư.

    Tương khiêm lai bỉ tố,

    Tân nhân bất như cố.

    Lên núi hái rau vu,

    Xuống núi gặp chồng cũ.

    Quỳ gối xin hỏi chàng:

    - Người mới hơn thiếp chăng?

    - Người mới tuy là đẹp,

    Chẳng đẹp bằng người cũ.

    Nhan sắc thì tương tự,

    Tay chân khéo chẳng đủ.

    Người mới cửa trước vào,

    Người cũ cửa sau ra.

    Người mới dệt lụa, là,

    Người cũ dệt sồi, dũi.

    Dệt là ngày một tấm,

    Dệt dũi năm trượng dư.

    Đem là so với dũi,

    Người mới chẳng bằng cũ.

    Chỉ 80 chữ mà thành một màn kịch tả rõ tính tình 3 nhân vật, lòng ân hận của người chồng và nổi khổ âm thầm của người vợ cũ. Giọng mộc mạc, nhưng mỗi câu khác chi một lời than!

    Nhiều bài ca dài hơn cũng có nghệ thuật miêu tả ấy, như bài Cô nhi hành 孤兒行 kể nổi thống khổ của một đứa trẻ côi cút, bị anh và chị dâu hành hạ; bài Mạch thượng tang 陌上桑 kể chuyện nàng La Phu, một chinh phụ có đức hạnh, mắng kẻ quyền quý lại buông lời bướm ong với mình. Nổi danh nhất là bài Khổng tước đông nam phi 孔雀東南飛 tả tâm sự người đàn bà muốn giữ tiết với chồng mà bị cha mẹ ép tái giá, phải tự trầm. Người chồng hay tin đó, treo cổ lên cây. Hai nhà đều thương con, cho hợp táng ở bên núi Hoa Sơn, phía đông phía tây trồng tùng, bách, bên tả bên hữu trồng ngô đồng. Cành lá những cây đó chằng chịt, ở trong tự nhiên xuất hiện một cặp chim bay nhảy, líu lo không lúc nào rời nhau; người trong miền gọi là chim uyên ương.

    Bài dài 1785 chữ, được các học giả Trung Quốc nhận là tiểu thuyết bằng thơ đầu tiên của họ.

    Cảm động nhất là đoạn tả người vợ bị mẹ chồng đuổi về nhà, 2 vợ chồng quyến luyến nhau, cùng thề:

    君當作磐石,

    妾當作蒲葦,

    蒲葦紐如絲,

    磐石無轉移。

    Quân đương tác bàn thạch,

    Thiếp đương tác bồ vi.

    Bồ vi nữu như ti,

    Bàn thạch vô chuyển di.

    Nguyện chàng thành bàn thạch,

    Còn thiếp thành cỏ bồ.

    Cỏ bồ quấn như tơ,

    Bàn thạch thì trơ trơ.

    và đoạn tả người chồng bị ép cưới vợ khác, chưa chịu thì nghe tin vợ cũ bị mẹ và anh ép tái giá bèn chạy ngựa lại thăm, nhắc lại lời thề xưa, và trách móc:

    磐石方且固,

    可以卒千年。

    蒲葦一時紐,

    便作旦夕間。

    卿當日勝貴,

    吾獨向黃泉。

    Bàn thạch phương thả cố,

    Khả dĩ tốt thiên niên.

    Bồ vi nhất thời nữu,

    Tiện tác đán tịch gian.

    Khanh đương nhật thắng quý,

    Ngô độc hướng hoàng tuyền.

    Bàn thạch vuông, kiên cố,

    Ngàn năm chẳng đổi dời.

    Cỏ bồ một thời quấn,

    Chỉ sáng đến chiều thôi.

    Cô ngày nay vinh hiển,

    Suối vàng mặc tình tôi.

    Người vợ sụt sùi đáp:

    何意出此言!

    同是被逼迫,

    君爾妾亦然。

    黃泉下相見,

    勿違今日言。

    Hà ý xuất thử ngôn!

    Đồng thị bị bức bách,

    Quân nhĩ thiếp diệc nhiên.

    Hoàng tuyền hạ tương kiến,

    Vật vi kim nhật ngôn.

    Lời sao mới lạ thay!

    Đều là bị bức bách,

    Lòng đó như lòng này.

    Suối vàng sẽ gặp mặt,

    Chớ trái lời hôm nay.

    Hồ Thích phê bình những bài dân ca ấy, nói: “Văn học từ Hán trở về sau, sở dĩ bảo tồn được chút sinh khí là nhờ ca khúc trong dân gian mỗi thời đều cấp cho văn học những thể tài sống và một phong thú mới mẻ”.

    Lời ấy cố nhiên là thiên lệch, song ta cũng phải nhận rằng dân ca tuy kém phần đẽo gọt, diễm lệ mà rất tự nhiên, thành thật, cảm người rất sâu.

     

    3. THƠ

    Nhiều bài nhạc phủ ở trên dùng thể ngũ ngôn. Vậy ta có thể nói thơ ngũ ngôn xuất hiện trước hết ở trong dân gian rồi sau, các văn nhân thấy nó chỉnh tề, dễ ngâm, dễ làm, nên thừa nhận nó, phát huy nó.

    Thuyết xưa cho rằng 19 bài thơ ngũ ngôn đầu tiên là của Mai Thặng 枚乘, hoặc của Lý Lăng 李陵, Tô Vũ 蘇武 (3 nhân vật đời Tây Hán) là sai. Các học giả bây giờ nghiên cứu và chứng minh rằng tới đời Đông Hán, văn nhân mới biết dùng thể ấy: Ban Cố có vài bài vịnh sử, khí vị luân lý nhiều hơn là hứng thú về văn nghệ.

    Tới thời kỳ Kiến An, cuối đời Hán, ngũ ngôn thi mới phát triển mạnh mẽ, giữ một địa vị quan trọng trong văn học.

    Thơ thất ngôn, gốc ở Sở từ cũng xuất hiện ở đời Hán. Văn nhân đầu tiên dùng thể ấy là Trương Hành 張衡 (79-139) trong bài Sầu thi 愁詩. Nhưng thể ấy mãi đến đời Đường mới cực thịnh.

     

    TÓM TẮT

  • Phú là một thể văn xuôi có vần, có điệu, tả cảnh vật, tâm sự một cách diễm lệ.
  • Phú thịnh ở đời Hán, nhưng tới đời Đường mới có nhiều tác phẩm bất hủ. Nó là gốc của lối văn biền ngẫu lưu hành mãi tới đầu thế kỷ này.
  • Các nhà viết phú đời Hán thường dùng thể ấy để ca tụng vua chúa, nên lời tuy đẹp mà ít sinh khí. Nổi danh nhất là Tư Mã Tương Như với những bài Tử hư, Thiên tử du liệp gián, Trường môn…
  • Nhạc phủ là những bài ca được triều đình lựa và phổ vào nhạc. Có 2 loại chính: loại 7 chữ chịu ảnh hưởng của Sở từ và loại 5 chữ chịu ảnh hưởng của Kinh Thi.
  • Văn nhạc phủ không đẽo gọt như phú, mà miêu tả rất rõ ràng, ý rất chân thành, dễ cảm người nghe. Bài Khổng tước đông nam phi được truyền tụng nhất.
  • Thơ ngũ ngônthất ngôn đều xuất hiện ở đời Hán. Tới thời Kiến An thơ ngũ ngôn mới thịnh và tới đời Đường thơ thất ngôn mới phát triển mạnh mẽ.
  • Ban Cố là văn nhân đều tiên dùng thể ngũ ngôn; Trương Hành là người đầu tiên dùng thể thất ngôn.

    --------------------------------
    1Nghĩa là nói thẳng điều mình muốn nói, không dùng tỉ dụ gì cả.
    2Tất, Mão là tên hai vì sao.
    3Có tác giả như Dung Triệu Tổ trong cuốn Trung Quốc văn học sử đại cương sắp loại này riêng vào loại thơ ca 5 chữ. Như vậy cũng có lý, vì nó vừa là những bài thơ, vừa là những bài ca.
    4Tức nàng Ngu cơ.
    5Thuyền có từng lầu.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Bàn Tay Máu 5

    Phi Long

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646374]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502171]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639423]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4470998]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340382]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600266]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689429]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490724]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300092]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010118]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972320]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469858]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445476]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150479]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078419]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062479]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028645]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026274]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959332]
    25.Quỷ Bảo [921587]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907459]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876850]
    29.Hắc Nho [852012]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842898]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839983]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755905]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744902]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622349]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569273]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536740]
    41.Tầm Tần Ký [511893]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455925]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450741]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439762]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433957]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417102]
    49.If You Are Here [411806]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408041]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm