hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[928] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG II. VĂN XUÔI ĐỜI TẦN, HÁN

    1. VĂN KÝ SỰ: SỬ HỌC

    a. Lã Thị Xuân Thu

    Lã Bất Vi 呂不韋 (chết ở đời Tần Thuỷ Hoàng) vốn là một con buôn, có óc đầu cơ bực nhất cổ kim. Ông hi sinh cả gia sản lẫn người yêu để vận động cho thái tử Dị Nhân về làm vua nước Tần, nhân đó được làm tể tướng. Khi Tần Thuỷ Hoàng lên ngôi, gọi ông là trọng phụ 1 , quyền ông rất lớn. Ý hẳn con người buôn vua ấy cũng thầm nhận rằng chức tể tướng của mình bất quá chết đi là hết, muốn lưu danh thiên cổ thì phải có “tấc lòng” văn chương kia, nên thu dụng hết văn nhân trong nước, sai họ soạn bộ Lã Thị Xuân Thu 2 呂氏春秋 để chép những truyện trong đời Xuân Thu. Bất Vi lần này lại thành công nữa; bây giờ người ta còn nhắc đến ông, chính nhờ bộ ấy.

    Có học giả bảo Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋 của Tuân Tử viết, có kẻ lại nói của Lý Tư. Điều ta biết chắc chắn bộ ấy do nhiều người hợp tác nên văn chương không được đều, giọng mỗi chỗ một khác. Lấy đại thể mà xét thì lời thận trọng, nghiêm trang, tuy không tươi đẹp mà cũng đáng là một tác phẩm có giá trị và soạn rất công phu.

    Tương truyền Lã Bất Vi cho bày nó ở Hàm Dương để văn nhân trong thiên hạ lại coi: nếu ai dám sửa được một chữ thì thưởng ngàn vàng. Tất nhiên không ai dám sửa vì uy quyền của Lã quá lớn.

    b. Sử Ký của Tư Mã Thiên

    * Tiểu sử:

    Tới đời Hán, ta thấy xuất hiện 2 bộ sử vĩ đại là Sử Ký 史記 của Tư Mã Thiên 司馬遷 và Hán thư của Ban Cố.

    Tư Mã Thiên đã làm một cuộc cách mạng lớn lao trong phương pháp viết sử và dương danh cho Trung Quốc trên văn đàn thế giới.

    Ông tự là Tử Trường 子長 (145?-87? Tr.C.N) là con một sử quan, Tư Mã Đàm 談, hồi nhỏ đã thông cổ văn, 20 tuổi đi chu du khắp nước, khảo sát về địa lý, phong tục từng miền, gặp di tích nào cũng ngừng lại nghiên cứu; phàm những cảnh kỳ quan cùng quê hương các vĩ nhân ông đều để gót tới.

    Đến nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông), coi miếu của Khổng Tử, thấy học trò cúng tế Ngài hằng ngày và tập nghi lễ, ông bồi hồi, không muốn bước đi mà viết:

    天下君王志於賢人眾矣,當時則榮,沒則已焉。孔子布衣,傳十余世;學者宗之,自天子王侯,中國言六藝者,折中於夫子。可謂至聖矣。

    Thiên hạ quân vương chí ư hiền nhân chúng hĩ, đương thì tắc vinh, một tắc dĩ yên. Khổng Tử bố y, truyền thập dư thế; học giả tông chi, tự thiên tử vương hầu, Trung Quốc ngôn lục nghệ giả, chiết trung ư Phu tử. Khả vị chí thánh hĩ.

    Bực quân vương và hiền nhân trong thiên hạ nhiều lắm, đương sống còn vinh hiển mà chết thì hết. Đức Khổng Tử là người áo vải mà truyền đến nay trên mười đời; các học giả đều tôn ngài làm thầy, từ thiên tử, vương hầu đến các nhà học lục nghệ 3 đều dẫn lời ngài để định lẽ phải. Đúng là bực chí thánh vậy.

    Đến Trường Sa, chỗ Khuất Nguyên trầm mình, rỏ lệ nhớ lại người xưa rồi đọc bài “Giả Nghị điếu Khuất Nguyên” mà thêm nghĩ ngợi triền miên.

    Sau ông làm chức lang trung, phụng mệnh đi dẹp Ba Thục. Sau cha mất, ông thay cha giữ chức thái sử và bắt đầu soạn bộ Sử Ký.

    Hồi ấy Lý Lăng, một vị anh hùng đi dẹp rợ phương Bắc, bị vây mà không được tiếp viện. Quân địch đông hơn gấp bội, ông can đảm chống cự không nổi, phải tạm đầu hàng để bảo toàn sinh mệnh hầu đợi cơ hội rửa nhục. Nhưng ở triều đình có kẻ gièm pha, bảo ông phản quốc; vua Hán nghe, giết cả 3 họ ông.

    Tư Mã Thiên biết Lý Lăng là tôi trung, cả gan bênh vực Lý ở giữa trào. Vua bất bình, bắt ông chịu tội hoạn, một trong những tội nhục nhã nhất thời đó. Theo luật lệ ông có thể bỏ tiền ra chuộc tội, nhưng ông vốn nghèo mà bạn bè không ai có lòng nghĩa hiệp dám ra mặt giúp, sợ vua ghét lây, ông đành nuốt hận chịu nhục, dùng những ngày sống thừa để hoàn thành bộ Sử Ký.

    Trong bài tựa bộ ấy, ông tự ví với các thành hiền đời trước:

    太史公遭李陵之禍,幽於縲紲,乃喟然而歎曰:“是餘之罪也夫?>是餘之罪也夫?身毀不用矣。”退而深惟曰:“夫詩書隱約者,若遂其志之思也。昔西伯拘羑里,演周易;孔子戹陳、蔡,作春秋;屈原放逐,著離騷;左丘失明,厥有國語;孫子臏腳,而論兵法;不韋遷蜀,世傳呂覽;韓非囚秦,說難,孤憤。詩三百篇大抵聖賢發憤之所為作也。此人皆意有所鬱結,不得通其道也。故述往事,思來者。”於是卒述陶唐以來,至於麟止,自黃帝始。

    Thái sử công tao Lý Lăng chi hoạ ư ư ly tiết, nãi vị nhiên nhi thán viết: “Thị dư chi tội dã phù? Thị dư chi tội dã phù? Thân hủy bất dụng hĩ”. Thoái nhi thâm duy viết: “Phù Thi Thư ẩn ước giả, nhược toại kỳ chí chi tư dã. Tích Tây Bá cù Dữu Lý, diễn Chu Dịch; Khổng Tử ách Trần, Sái, tác Xuân Thu; Khuất Nguyên phóng trục trước Ly Tao; Tả Khâu thất minh, quyết hữu Quốc Ngữ; Tôn Tử tẫn cước nhi luận binh pháp; Bất Vi thiên Thục, thế truyền Lã giám; Hàn Phi tù Tần Thu nan, Cô phẫn. Thi tam bách thiên đại để thánh hiền phát phẫn chi sở vi tác dã. Thử nhân giai ý hữu sở uất kết, bất đắc thông kỳ đạo dã, cố thuật vãng sự tư lai giả”. Ư thị tốt thuật Đào Đường dĩ lai, chí ư lân chỉ, tự Hoàng Đế thủy.

    Ông Thái sử 4 gặp cái hoạ Lý Lăng, bị giam trong cảnh xiềng xích, bùi ngùi than rằng: “Đó là lỗi của ta ư? Đó là lỗi của ta ư? Thân ta bị huỷ không dùng được nữa”. Rồi mà nghĩ kỹ lại rằng: “Những lời nói bóng bẩy trong Kinh Thi, Kinh Thư là để diễn cái chí của cổ nhân. Hồi xưa Tây Bá 5 bị giam trong ngục Dữu Lý mà viết Chu Dịch; Khổng Tử bị nguy ở Trần, Sái mà soạn Xuân Thu; Khuất Nguyên bị phóng mà làm thiên Ly Tao; Tả Khâu mù mới có bộ Quốc Ngữ; Tôn Tử què chân mới bàn về binh pháp; Bất Vi phải đày qua Thục mà bộ Lã Thị truyền lại đời sau; Hàn Phi bị tù ở Tần mới có 2 thiên Thuế Nan và Cô phẫn; 300 thiên trong Kinh Thi đại để là thánh hiền phát phẫn mà làm ra. Những vị đó đều có nỗi uất kết, không nói rõ được lòng mình, nên thuật việc cũ để đời sau suy nghĩ”. Nghĩ vậy rồi, ông Thái sử mới kể việc từ Đào Đường 6 đến đời Hán Vũ Đế bắt được con lân thì ngừng, bắt đầu từ đời Hoàng Đế.

    Nỗi uất hận của ông hiện rõ trong bộ Sử Ký. Khi chép lại đời những cặp tri kỷ hồi xưa, như Quản Trọng, Bão Thúc, hoặc đời những hiệp sĩ như Kinh Kha, văn ông nồng nàn, cảm động vô cùng. Vì nghèo mà bị nhục, nên ông ca tụng sự làm giàu:

    倉廩實而知禮節,衣食足而知榮辱。禮生於有而廢於無。故君子富,好行其德,小人富,以適其力。淵深而魚生之,山深而獸往之,人富而仁義附焉…夫千乘之王,萬家之侯,百室之君,尚患不足而況匹夫編戶之民乎?

    Sương lẫm thực nhi tri lễ tiết, y thực túc nhi tri vinh nhục. Lễ sinh ư hữu nhi phế ư vô. Cố quân tử phú hiếu hành kỳ đức, tiểu nhân phú dĩ thích kỳ lực. Uyên thâm nhi ngư sinh chi, sơn thâm nhi thú vãng chi, nhân phú nhi nhân nghĩa phụ yên… Phù thiên thặng chi vương, vạn gia chi hầu, bách thất chi quân, thượng hoạn bất túc nhi huống thất phu biên hộ chi dân hồ?

    Kho vựa có đầy rồi mới biết lễ tiết, y thực có đủ rồi mới biết vinh nhục. Giàu có thì lễ mới sinh, nghèo khó thì lễ phải bỏ. Cho nên người quân tử mà giàu thì thích thi hành đức mình, kẻ tiểu nhân mà giàu thì làm theo ý mình. Vực có sâu thì cá mới sinh sản, núi có cao thì loài thú mới tới, người ta giàu thì mới thêm nhân nghĩa… Tới bực vương có nghìn cỗ xe, bực hầu có vạn nhà, bực quân có trăm nhà, còn lo không đủ, huống hồ bọn thất phu, dân thường ư?

    ĐẶC SẮC BỘ SỬ KÝ

    Hai ngàn năm nay, ai cũng nhận Sử Ký là một công trình sáng tác vĩ đại.

    Đứng về phương diện sử học, nó có bốn đặc điểm:

    • Nó là bộ sử đầu tiên chép việc nhiều đời, không như những bộ sử trước chỉ chép về riêng một đời.
    • Tác giả trọng niên đại (chronologie). Sử gia trước ông không theo một quy tắc nào nhất định trong sự kê niên đại 7 , tới ông mới lập ra niên biểu của 12 nước chư hầu và niên biểu của lục quốc. Đó là một sự phát minh rất lớn.
    • Ông không những chép hành vi của vua chúa mà còn ghi cả văn hóa như lễ, nhạc, triết học, văn học… Sử gia ở Âu Châu tới thế kỷ 19 mới có nhãn quan rộng như vậy. Về phương diện ấy, ông đã hơn hẳn những sử gia Hi Lạp, La Mã rất xa.
    • Thái độ của ông rất thành thực: điều nào chưa nghiên cứu rõ thì tồn nghi, nếu có nhiều thuyết bất đồng thì kê hết.

    VĂN CỦA SỬ KÝ

    Ông học rộng, lịch duyệt nhiều, lại có tâm hồn cao thượng, nỗi lòng u uất nên văn ông cảm người rất sâu, tuy bình dị mà hùng mạnh, siêu dật, nhiều khi bóng bẩy, thấm thiết; nó phát tự lòng cũng nhiều như tự óc.

    Khi kể chuyện mà dẫn cổ văn thì ông đổi ra lối văn đương thời cho người đọc dễ hiểu. Chép một việc gần mà dùng đối thoại thì người ta nói làm sao, ông ghi đúng làm vậy, không sửa lại cho thành văn ngôn. Văn pháp đó rất mới nẻ.

    Ông tả nhân vật nào thì như hiện lên trên giấy; thiên viết về Kinh Kha vô cùng linh động. Lối văn tự sự rất giàu tình cảm, như thiên viết về Bá Di.

    Nhờ những đặc sắc ấy mà bộ Sử Ký ảnh hưởng rất lớn đến đời sau; nhiều người bắt chước phép hành văn trong đó. Chúng tôi xin trích dưới đây một đoạn phê bình Hạng Vũ và một đoạn tả tình tri kỷ của Quản Trọng, Bão Thúc.

    吾聞之周生,曰“舜目蓋重瞳子”,又聞項羽亦重瞳子。羽豈其苗裔邪?何興之暴也?夫秦失其政,陳涉首難,豪傑蠭起,相與並爭,不可勝數。然羽非有尺寸,乘势起隴畝之中,三年遂將五諸侯滅秦,分裂天下,而封王侯;政由羽出,號為霸王。位雖不終,近古以來未嘗有也。

    及羽背關懷楚,放逐義帝而自立,怨王侯叛己,難矣。自矜功伐,奮其私智而不師古,謂霸王之業,欲以力徵,經營天下,五年卒亡其國,身死東城,尚不覺悟而不自見責,過矣。乃引“天亡我,非用兵之罪也”,豈不謬哉!

    Ngô văn chi Chu sinh viết: “Thuấn mục cái trùng đồng tử”. Hựu văn Hạng Võ diệc trùng đồng tử. Võ khởi kỳ miêu duệ da? Hà hưng chi bạo dã? Phù Tần thất kỳ chính, Trần Thiệp thủ nạn, hào kiệt phong khởi, tương dữ tịnh tranh, bất khả thắng sổ. Nhiên Võ phi hữu xích thốn, thừa thế khởi lũng mẫu chi trung, tam niên toại tương ngũ chư hầu diệt Tần, phân liệt thiên hạ nhi phong vương hầu; chính do Võ xuất, hiệu vi Bá vương. Vị tuy bất chung, cận cổ dĩ lai, vị thường hữu dã.

    Cập Võ bội Quan hoài Sở, phóng trục Nghĩa Đế nhi tự lập, oán vương hầu bạn kỷ, nan hĩ. Tự căng công phạt, phấn kỳ tư trí nhi bất sư cổ, vị bá vương chi nghiệp, dục dĩ lực chinh, kinh doanh thiên hạ, ngũ niên tốt vong kỳ quốc, thân tử Đông Thành, thượng bất giác ngộ nhi bất tự kiến trách, quá hĩ. Nãi dẫn “thiên vong ngã, phi dụng binh chi tội dã ”, khởi bất mậu tai!

    Ta nghe Chu sinh nói vua Thuấn có 2 đồng tử, lại nghe mắt Hạng Võ cũng có 2 đồng tử. Võ phải dòng vua Thuấn chăng? Sao mà hưng thịnh mau như vậy? Chính trị nhà Tần thất sách, Trần Thiệp đứng đầu gây hoạ cho Tần, hào kiệt nổi lên như ong, tranh giành lẫn nhau, không thể đếm hết. Mà Võ tay không, thừa thế nổi ở chốn quê mùa, 3 năm đem 5 nước chư hầu diệt Tần, chia thiên hạ phong cho các vương hầu; chính lệnh do Võ đưa ra, hiệu là Bá Vương. Võ ở ngôi tuy không được bền, nhưng từ đời cận cổ đến nay, chưa ai phát mau như ông.

    Tới khi Võ bỏ đất Quang Trung mà về Sở, đuổi Nghĩa Đế mà tự lập lên, rồi lại oán các vương, hầu là phản mình, như vậy khó thành công được. Rồi tự khoe tài công phạt, gắng theo ý mình mà không bắt chước cổ nhân, muốn dùng sức mạnh lập nghiệp bá vương, kinh doanh thiên hạ, chỉ 5 năm mất nước mà thân Võ thì chết ở Đông Thành, lại còn không giác ngộ, không tự trách mình, như vậy là có lỗi vậy. Rồi còn đổ cho “Trời bỏ ta, chứ không phải tại ta vụng dùng bình” như thế chẳng là lầm lẫn ư?

    管仲鮑叔

    吾始困时,嘗與鮑叔賈,分財利多自與;鮑叔不以我為貪,知我貧也。吾嘗為鮑叔謀事而更窮困;鮑叔不以我為愚,知時有利,不利也。吾嘗三仕三見逐於君;鮑叔不以我為不肖,知我不遭時也。吾嘗三戰三走;鮑叔不以我怯,知我有老母也。公子糾敗,召忽死之,吾幽囚受辱;鮑叔不以我為無恥,知我不羞小節,而恥功名不顯於天下也。生我者父母,知我者鮑子也…

    QUẢN TRỌNG, BÃO THÚC

    …Ngô thủy khốn thời, thường dữ Bão Thúc cổ, phân tài lợi đa tự dữ; Bão Thúc bất dĩ ngã vi tham, tri ngã bần dã. Ngô thường vi Bão Thúc mưu sự nhi canh cùng khốn; Bão Thúc bất dĩ ngã vi ngu, tri thời hữu lợi, bất lợi dã. Ngô thường tam sĩ tam kiến trục ư quân; Bão Thúc bất dĩ ngã vi bất tiếu, tri ngã bất tao thời dã. Ngô thường tam chiến tam tẩu; Bão Thúc bất dĩ ngã khiếp, tri ngã hữu lão mẫu dã. Công tử Củ bại, Thiệu Hốt tử chi, ngô u tù thụ nhục; Bão Thúc bất dĩ ngã vi vô sỉ, tri ngã bất tu tiểu tiết, nhi sỉ công danh bất hiển ư thiên hạ dã. Sinh ngã giả phụ mẫu, tri ngã giả Bão tử dã…

    QUẢN TRỌNG, BÃO THÚC

    …Ta hồi mới, khốn cùng, thường cùng với Bão Thúc buôn bán, ta chia lợi, giữ lấy phần hơn cho ta; Bão Thúc không cho ta là tham, biết ta vì nghèo mà phải làm vậy. Ta thường mưu việc cho Bão Thúc mà càng thất bại; Bão Thúc không cho ta là ngu, biết rằng thời có lúc lợi, có lúc bất lợi. Ta thường 3 lần làm quan mà bị vua đuổi cả 3 lần; Bão Thúc không cho ta là không có tài, biết rằng ta không gặp thời. Ta thường 3 lần ra trận, 3 lần thua chạy; Bão Thúc không cho ta là khiếp nhược, biết ta giữ sinh mạng vì còn mẹ già. Công tử Củ 8 thua, Thiệu Hốt chết theo, ta chịu nhục ở trong tù tối tăm; Bão Thúc không cho ta là vô liêm sỉ, biết ta không thẹn vì tiểu tiết 9 mà thẹn vì công danh không rỡ ràng trong thiên hạ. Sinh ta là cha mẹ, biết ta là Bão tử…

    c. Hán Thư 漢書 của Ban Cố 班固

    Ban Cố (32-92) sinh trong một gia đình thế phiệt. Cha tên Ban Bưu 班彪 là một nhà khảo cứu về sử, em là Ban Siêu là một danh tướng đời Hán. Ông nối chí cha, soạn bộ Hán Thư. Vì có kẻ ghen ghét, ông bị hạ ngục; sau theo một đại tướng đi dẹp rợ Hung Nô, đại tướng đó thua, ông bị hạ ngục lần thứ nhì rồi chết trong đó. Thiệt cũng lạ, 2 sử gia nổi danh nhất Trung Quốc đều có tài, có đức mà đều bị trọng tội một cách rất oan uổng.

    Ban Cố để lại bài Lưỡng đô phú 兩都賦 được thiên hạ thưởng thức, nhưng tác phẩm bất hủ của ông là bộ Hán Thư, chép nối bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên. Thiên viết về nhiều đời, còn ông chuyên chép về đời Hán, nên tác phẩm của ông tường tế hơn. Văn ông minh bạch, cẩn nghiêm, trang nhã, có nhiều màu sắc nhưng kém vẻ hùng kính.

     

    2. VĂN NGHỊ LUẬN

    Văn nghị luận đời Tần, Hán không phát huy rực rỡ bằng văn ký sự và so với đời Chiến Quốc cũng kém xa, nhưng ta cũng nên xét qua vài nhà như Lý Tư, Giả Nghị, Đổng Trọng ThưVương Sung.

    a. Lý Tư 李斯

    Lý Tư 李斯 là học trò Tuân Tử, làm tể tướng, giúp nhà Tần thống nhất Trung Quốc, về văn hóa ông nổi tiếng về bài “Gián trục khách thư” 諫逐客書 (Thư can vua đừng đuổi khách ở phương xa lại), trong đó có câu:

    夫物不產於秦,可寶者多;士不產於秦,願忠者眾。今逐客以資敵國,損民以益雠,內自虛而外樹怨於諸侯,求國無危,不可得也。

    Phù vật bất sản ư Tần, khả bảo giả đa; sĩ bất sản ư Tần, nguyện trung giả chúng. Kim trục khách dĩ tư địch quốc, tổn dân dĩ ích thù, nội tự hư nhi ngoại thụ oán ư chư hầu, cầu quốc vô nguy, bất khả đắc dã.

    Vật không sản xuất ở Tần mà đáng quý, không phải là ít; kẻ sĩ không sinh ở Tần mà nguyện trung với Tần, cũng nhiều. Nay đuổi khách ở phương xa để cho nước địch thêm tài, hại dân mà thêm thù, trong thì tự hoá ra nghèo, ngoài thì gây oán với chư hầu, như vậy mà cầu cho nước không nguy thì không thể được.

    Văn của Lý Tư sắc sảo, mạnh mẽ, nhưng ông chỉ dùng nó để ca tụng bọn vua chúa, tư tưởng kém đặc sắc, rút cục bị gièm pha và chết chém (208 tr.C.N)

    b. Giả Nghị 賈誼 (200-168)

    Nhiều bộ văn học sử Trung Quốc không kể tên Giả Nghị, thực là thiếu sót. Ông sinh trong một gia đình tầm thường, nhờ đa tài mà được tuyển làm bác sĩ. Đời ông phảng phất như đời Khuất Nguyên, mới đầu cũng được vua rất tin cậy, ông đề nghị nhiều sự cải cách về chính trị, tập tục; sau cũng bị gièm pha, phải đày ra Trường Sa làm chức thái phó cho Trường Sa vương, rồi cũng được gọi về kinh và làm thái phó cho Lương Hoài Vương. Lần này ông hoàn toàn chán nản, nhân Lương Hoài Vương té ngựa chết, ông tự lấy làm xấu hổ vì sự bất cẩn của mình, ủ rũ trên một năm rồi chết hồi 33 tuổi.

    Ông viết tờ sớ Trần chính sự 陳政事 xét về chính trị và hình thế Trung Quốc, nghị luận rõ ràng, lời lẽ hùng hồn. Bài Quá Tần luận 過秦論 bàn về những lỗi của nhà Tần, nổi tiếng nhất. Chúng tôi tiếc khuôn khổ của cuốn này không cho phép trích bài luận dài đó được, chỉ xin trích đoạn đầu trong bài tựa Trị an sách để độc giả thấy lòng nhiệt thành của ông với việc nước.

    臣竊惟事勢可為痛哭者一,可為流涕者二,可為長太息者六,若其它背理而傷道者,難遍以疏舉。

    進言者皆曰:天下已安已治矣。

    臣獨以為未也。曰安且治,非愚則諛,皆非事實知治亂之體者也。夫抱火厝之積薪之下而寢其上,火未及燃,因謂之安;方今之勢,何以異此?

    Thần thiết duy sự thế khả vi thống khốc giả nhất, khả vi lưu thế giả nhị, khả vi trường thái tức giả lục, nhược kỳ tha bội lý nhi thương đạo giả, nan biến dĩ sơ cử.

    Tiến ngôn giả giai viết: Thiên hạ dĩ an, dĩ trì hĩ.

    Thần độc dĩ vi vị dã. Viết an thả trị, phi ngu tắc du, giai phi sự thật tri trị loạn chi thể giả dã. Phù bão hỏa thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên, nhân vị chi an; phương kim chi thế, hà dĩ dị thử?

    Thần trộm nghĩ sự thế có một điều đáng thống khốc, có hai điều đáng sa lệ, có sáu điều đáng thở dài; còn những điều khác trái lẽ, thương đạo, dù kể qua loa cũng khó hết được.

    Những kẻ dâng lời đều nói: Thiên hạ đã yên, đã trị rồi.

    Riêng thần cho rằng chưa. Bảo là yên và trị thì không phải là ngu, cũng là nịnh, đều không phải là sự thực và biết cái bản thể của trị loạn. Kẻ kia nằm trên đống củi, dưới đặt mồi lửa, lửa chưa kịp bắt mà bảo là yên; tình cảnh ấy bây giờ khác gì vậy?

    Tới Trường Sa, ông nhớ Khuất Nguyên, làm một bài văn điếu Khuất Nguyên, lời rất lâm li. Ông điếu người xưa mà chính là tự điếu ông:

    造託湘流兮,敬弔先生。遭世罔極兮,迺隕厥身。烏虖!哀哉兮!逢時不祥。鸞鳳伏竄兮,鴟鴞翱翔。闒茸尊顯兮,讒諛得志。賢聖逆曳兮,方正倒植。

    Tháo thác Tương lưu hề, kính điếu tiên sinh. Tao thế võng cực hề, nãi vẫn quyết thân. Ô hô! Ai tai hề! Phùng thời bất tường. Loan phượng phục thoán hề, si hào cao tường. Tháp nhung tôn hiển hề, sàm du đắc chí. Hiền thánh nghịch duệ hề, phương chính đảo thực.

    Tới bờ sông Tương hề, kính điếu tiên sinh. Gặp thời cực tệ hề, phải huỷ thân mình. Ô hô! Thương thay hề! Nhằm thời chẳng may. Loan phượng chịu nép hề, cú mèo nhởn bay. Hèn mọn thì vinh hiển hề, nịnh hót được đắc chí. Thánh hiền thì lảo đảo hề, ngay thẳng bị dựng ngược.

    c. Đổng Trọng Thư 董仲舒

    Đổng Trọng Thư 董仲舒 là một nhà nho chân chính, học rất siêng, 3 năm không ra tới vườn, mài miệt nghiên cứu kinh sách, nhưng chỉ tìm nghĩa từng chữ, từng câu chứ tuyệt nhiên không phát huy được điều gì.

    Ông làm quan bị biếm, về ẩn ở quê nhà, soạn bộ Xuân Thu phồn lộ 春秋緐露 10 có tính cách luân lý hơn là văn chương, lời bình dị và cẩn trọng. Ông đại biểu cho tư trào phương Bắc trong đời Hán.

    d. Vương Sung 王充 (27-100)

    Vương Sung nhà nghèo, làm quan nhỏ rồi về dạy học, có óc phê bình sâu sắc, cực lực chỉ trích lối văn hoa mỹ và không thành thực ở đương thời. Ông cũng rất ghét lối mô phỏng cổ văn làm cho lời hoá tối. Đại ý ông bảo: “Viết cũng như nói, là để người ta hiểu, viết cho người ta không hiểu thì viết làm gì? Ngôn ngữ cổ nhân khác với ngôn ngữ ta, nên cổ văn thường khó hiểu. Văn bây giờ mà cố ý làm cho khó hiểu thì là không khéo”.

    Tác phẩm có danh của ông là cuốn Luận hành 論衡 bàn về đạo lý có ích cho phong giáo.

     

    3. TRUYỀN KỲ

    Trong đời Hán đã thấy xuất hiện nhiều truyền kỳ mà hầu hết đều thất lạc và đều chép chuyện các tín đồ đạo Lão tìm cách tu tiên.

     

    TÓM TẮT

    1. Sử học đời Hán rất phát đạt. Có bộ:

    • Lã Thị Xuân Thu của nhiều người viết.
    • Sử Ký của Tư Mã Thiên mà phương pháp viết rất mới mẻ và văn rất linh động, nhiều tình cảm.
    • Hán Thư của Ban Cố.

    2. Nhiều tác giả viết văn nghị luận, hầu hết đều chịu ảnh hưởng của phương Bắc, nhưng không ai phát huy được tư tưởng gì mới.

    Có danh nhất là:

    • Lý Tư lời sắc sảo, mạnh mẽ.
    • Đổng Trọng Thư văn bình dị và nghiêm trang.
    • Giả Nghị nhiệt tâm ái quốc như Khuất Nguyên.
    • Vương Sung, một nhà phê bình kiến thức rộng, chỉ trích lối văn hoa mỹ không thành thực, cùng lối mô phỏng cổ nhân đến thành tối nghĩa ở đương thời.

    --------------------------------
    1Nghĩa là coi ông như cha. Có sách nói Thuỷ Hoàng chính là con của Lã Bất Vi vì ái thiếp có mang với Lã rồi mới về hầu Dị Nhân và sinh ra Thuỷ Hoàng.
    2Bộ này soạn vào cuối đời Chiến Quốc, nhưng Lã Bất Vi làm tể tướng nước Tần, nên chúng tôi sắp vào văn học đời Tần.
    3Sáu thuật: lễ, nhạc, bắn, cưỡi ngựa, viết chữ, toán.
    4Ông tự xưng như vậy. Thái sử là chức của quan viết sử.
    5Tức vua Văn Vương.
    6Tức vua Nghiêu.
    7Trừ bộ Xuân Thu của Khổng Tử, nhưng bộ này chỉ chép việc trong một thời đại.
    8Quản Trọng và Thiệu Hốt cùng thờ công tử Củ; công tử Củ bị nước Lỗ giết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Trọng thì không.
    9Ý nói chết theo chủ là một tiểu tiết.
    10Bộ sách nói về thời tiết, khí hậu, một môn học trong thiên văn. Chẳng hạn như sao chổi xuất hiện thì có tai nạn gì, mưa đá thì là điểm gở ra sao…

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Giặc Ôkê

    Duyên Anh

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646707]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502586]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639800]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471358]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340975]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600567]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689888]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2494047]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300518]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010568]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972335]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548931]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470065]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445785]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204074]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150657]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078733]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062573]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028856]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026481]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959462]
    25.Quỷ Bảo [921737]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907601]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905332]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877044]
    29.Hắc Nho [852183]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843186]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840074]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756045]
    33.Tru Tiên [747775]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745239]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661917]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622441]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592496]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569376]
    39.Hoàn Hảo [557787]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536798]
    41.Tầm Tần Ký [511994]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456289]
    43.Thiên Đường [452703]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450889]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439792]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434027]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427447]
    48.Cậu Chó [417266]
    49.If You Are Here [411867]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408237]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm