hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[785] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG V. SỞ TỪ

    1. NƯỚC SỞ

    Sở từ 楚辭 chính nghĩa là lời của nước Sở, sau chỉ một lối văn của Sở.

    Sở là một nước đối địch với nhà Chu, nằm trên lưu vực dòng Dương Tử, ở phương Nam. Địa thế, ngôn ngữ, phong tục đều khác hẳn nước Chu, nên Chu thường khinh Sở, thường gọi là man di hoặc kinh man.

    Nước Sở hưng khởi từ thế kỷ thứ 11 trước Công nguyên, đến đời Đông Chu thì toàn thịnh và nhiều nước chư hầu như Trần, Ngô, Việt, bỏ Chu theo Sở; thành thử cả lưu vực sông Dương Tử, từ Ba Thục đến Giang, Triết, nằm trong bản đồ của Sở.

    Về văn hóa, Sở rất tiến bộ. Ngay từ thời Xuân Thu, đã có những nhân tài vang lừng khắp các nước, như Bách Lý Hề, Quỷ Cốc Tử, nhất là Lão Tử, Trang Tử. Còn về văn học thì có Nhị Nam 二南 chép trong Kinh Thi mà các nhà phê bình nhận là hay hơn thơ của phương Bắc.

    Rồi sau có Cửu ca 九歌 tức 9 bài ca để tế tự trong dân gian, lời diễm lệ, ý tưởng cao siêu 1 .

    Đến khi Khuất Nguyên ra đời thì văn học của Sở đạt đến toàn thịnh.

     

    2. KHUẤT NGUYÊN 屈原

    a. Tiểu sử

    Ngày đoan ngọ (mùng 5 tháng 5) nhiều nhà bây giờ còn ăn tết, chính là ăn giỗ Khuất Nguyên mà không hay vậy.

    Theo Tư Mã Thiên, một sử gia đời Hán, Khuất Nguyên tên Bình 平 (343-227?), là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức tả đồ cho Sở Hoài Vương, học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài về văn chương, giúp vua bàn quốc sự và ra hiệu lệnh, tiếp đãi khách khứa, ứng đối chư hầu. Mới đầu vua tin cậy lắm, sau một vị đại phu ghen tài ông, tìm cách hãm hại, vu cho ông khoe với mọi người rằng: “Mỗi lần nhà vua ra lệnh, đều do công ta nghĩ ra cả”. Vua nghe lời gièm, sinh ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly tao 離騷 để tả nỗi buồn bị vua bỏ. Ông can vua nhiều lần mà vua không nghe, rút cục Hoài Vương bị Tần đánh thua rồi chết ở đất Tần.

    Vua Tương Vương nối ngôi, bọn phản đối ông càng đắc chí, ông bị đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử), thất chí, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú Hoài Sa 懷沙 rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La.

    Theo các học giả bây giờ, tác phẩm của ông có những thiên sau đây:

    * Ly tao.

    * Cửu chương 九章 (có 9 thiên: Bi hồi phong 悲囘風, Tư mỹ nhân 思美人, Thiệp giang 涉江, Hoài Sa 懷沙, Tích vãng nhật 惜往日…)

    * Thiên vấn 天問.

    Còn những thiên Bốc cư 卜居, Ngư phủ 漁父, thì nghi là của người khác viết.

    b. Tâm sự Khuất Nguyên

    Lương Khải Siêu, một danh sĩ cuối đời Thanh, nói: “Đầu óc Khuất Nguyên chứa 2 nguyên tố mâu thuẫn nhau: một là lý tưởng thì cực kỳ cao thượng, hai là cảm tình thì cực kỳ nhiệt liệt”.

    Vì tâm hồn cao khiết, không chịu tuỳ thời, a dua nên gặp nghịch cảnh, Khuất Nguyên không dùng được tài để cứu dân, cứu nước, chỉ thố lộ những lời ai oán, như:

    哀民生之多難兮,

    長太息以掩涕。

    Ai dân sinh chi đa nạn hề,

    Trường thái tức dĩ yếm thế.

    Buồn cho dân gặp nhiều nạn hề,

    Ta thở dài, che nước mắt.

    豈余身之憚殃兮,

    恐皇輿之敗績。

    Khởi dư thân chi đạn ương hề,

    Khủng hoàng dư chi bại tích.

    Ta nào sợ chết hề,

    Lo cho triều đình suy sụp.

    Giọng thê thảm, nhưng ông vẫn tự cao:

    高余冠之岌岌兮,

    長余佩之陸離;

    Cao dư quan chi ngập ngập hề,

    Trường dư bội chi lục ly.

    Mũ ta cao mà ngất ngưỡng hề,

    Bội 2 ta dài và sặc sỡ.

    vẫn sửa mình, giữ đạo cho tới chết mới thôi:

    民生各有所樂兮,

    余獨好修以為恆。

    雖體解吾猶未變兮,

    豈余心之可懲?

    Dân sinh các hữu sở nhạo hề,

    Dư độc hiếu tu dĩ vi hằng.

    Tuy thế giải ngô do vị biến hề,

    Khởi dư tâm chi khả trừng?

    Ai có vui của người nấy hề,

    Ta riêng lấy sửa mình làm đạo thường.

    Tuy thân nát, chí ta không biến hề,

    Há lòng sợ chết mà ngại ngùng?

    Đã không được vua dùng, trên đời cô độc, không ai giống mình, thì tìm tới nơi rừng sâu, hang thẳm để bạn với hưu nai:

    國無人,莫吾知兮,

    又何懷乎故都?

    既莫足與為美政兮,

    吾將從彭,咸之所居。

    Quốc vô nhân, mạc ngô tri hề,

    Hựu hà hoài hồ cố đô?

    Ký mạc túc dữ vi mỹ chính hề,

    Ngô tương tòng Bành, Hàm chi sở cư.

    Nước không người, chẳng ai biết ta hề,

    Thì còn nhớ tiếc gì cố đô?

    Đã chẳng được cùng sửa mỹ chính 3 hề,

    Ta theo Bành, Hàm 4 mà ẩn cư.

    Nhưng lòng ái quốc của ông nồng nàn quá, tuy oán hờn nhà vua mà vẫn còn luyến tiếc, đã nhất định bỏ đi rồi mà khi quay lại nhìn cố hương thì lại ngậm ngùi; đến con ngựa của ông, như cùng một tâm sự với ông, cũng dùng dằng, không muốn bước tới:

    忽臨睨夫舊鄉。

    僕夫悲,餘馬懷兮,

    蜷局,顧而不行。

    Hốt lâm nghễ phù cựu hương.

    Bộc phù bi, dư mã hoài hề,

    Quyền cục, cố nhi bất hành.

    Hốt nhìn làng cũ rầu rầu,

    Tớ buồn, ngựa cũng quay đầu không đi.

    Một lòng trung trinh, muốn giúp nước mà không được, thân trong sạch làu làu mà sống ở đời ô trọc, thì chỉ còn mỗi giải pháp là “gieo mình xuống sông Mịch La, chôn thân vào bụng cá”.

    赴湘流,葬於江魚之腹中

    (Phó Tương lưu, táng ư giang ngư chi phúc trung).

    c. Văn của Khuất Nguyên

    Tác phẩm bất hủ của ông là thiên Ly tao (nghĩa là xa vua mà buồn), một bài trường thiên 370 câu tả tâm sự ông. Đặc sắc của thiên ấy là lời triền miên bi thảm, thường dùng phép tượng trưng, phép nhân cách hoá và dẫn rất nhiều thần thoại.

    Tình cảm ông thay đổi kỳ dị: mới vui đó đã buồn, mới cười đó đã khóc; mới muốn đi xa lại đổi ý, đòi lên chầu Thượng Đế, rồi lại muốn bói, muốn trở về cố hương; muốn tự tử. Thật là chân tình, mỗi chữ là một tiếng thở dài, một giọt nước mắt; ít thấy văn nhân nào đau khổ, thác loạn đến mức vậy.

    Bài Thiên vấn (hỏi trời) cũng là một kỳ văn, kém Ly tao về phương diện nghệ thuật nhưng giọng lâm ly cùng cực: ông hỏi Trời một hơi 172 câu. Sức tưởng tượng của ông thật vô địch.

    Dưới đây chúng tôi xin chép thiên Thiệp giang 涉江 mà Phan Kế Bính đã dịch trong Việt Hán văn khảo.

    涉江

    余幼好此奇服兮,

    年既老而不衰。

    帶長鋏之陸離兮,

    冠切雲之崔巍。

    被明月兮,

    佩寶璐。

    世溷濁而莫余知兮,

    吾方高馳而不顧。

    駕青虯兮驂白螭,

    吾與重華遊兮瑤之圃。

    登崑崙兮食玉英,

    與天地兮比壽,

    與日月兮齊光。

    哀南夷之莫吾知兮,

    旦余濟兮江湘。

    乘鄂渚而反顧兮,

    款秋冬之緒風。

    步余馬兮山皋,

    邸余車兮方林。

    乘舲船余上沅兮,

    齊吳榜以擊汰。

    船容與而不進兮,

    淹回水而疑滯。

    朝發枉渚兮,

    夕宿辰湯。

    苟余心其端直兮,

    雖僻遠之何傷?

    入漵浦余儃佪兮。

    迷不知吾之所如。

    深林杳以冥冥兮,

    乃猿狖之所居。

    山峻高以蔽日兮,

    下幽晦以多雨。

    霰雪紛其無垠兮,

    雲霏霏而承宇。

    哀吾生之無樂兮,

    幽獨處乎山中。

    吾不能變心而從俗兮,

    固將愁苦而終窮。

    接輿髡首兮,

    桑扈臝行。

    忠不必用兮,

    賢不必以。

    伍子逢殃兮,

    比干菹醢。

    與前世而皆然兮,

    吾又何怨乎今之人!

    余將董道而不豫兮,

    固將重昏而終身。

    THIỆP GIANG

    Dư ấu hiếu thử kỳ phục hề,

    Niên ký lão nhi bất suy.

    Đái trường giáp chi lục ly hề,

    Quan thiết vân chi thôi ngôi.

    Bị minh nguyệt hề, bội bảo lộ.

    Thế hỗn trọc nhi mạc dư tri hề,

    Ngô phương cao trì nhi bất cố.

    Giá thanh cầu hề, tham bạch ly,

    Ngô dữ Trùng Hoa du hề Dao chi phố.

    Đăng Côn Lôn hề thực ngọc anh,

    Dữ thiên địa hề tỷ thọ,

    Dữ nhật nguyệt hề tề quang.

    Ai nam di chi mạc ngô tri hề,

    Đán dư tế hề giang Tương.

    Thừa Ngạc chử nhi phản cố hề,

    Khoản thu đông chi tự phong.

    Bộ dư mã hề Sơn Cao,

    Để dư xa hề Phương Lâm.

    Thừa linh thuyền dư thượng Nguyên hề,

    Tề ngô bảng dĩ kích Thái.

    Thuyền dung dữ nhi bất tiến hề,

    Yêm hồi thuỷ nhi nghi trệ.

    Triêu phát Uổng Chử hề,

    Tịch túc Thần Thang.

    Cẩu dư tâm kỳ đoan trực hề,

    Tuy dịch viễn chi hà thương?

    Nhập Tự phố dư bồi hồi hề.

    Mê bất tri ngô chi sở như.

    Thâm lâm yểu dĩ minh minh hề,

    Nãi viên dứu chi sở cư.

    Sơn tuấn cao dĩ tế nhật hề,

    Hạ u hối dĩ đa vũ.

    Tản tuyết phân kỳ vô ngân hề,

    Vân phi phi nhi thừa vũ.

    Ai ngô sinh chi vô lạc hề,

    U độc xứ hồ sơn trung.

    Ngô bất năng biến tâm nhi tòng tục hề,

    Cố tương sầu khổ nhi chung cùng.

    Tiếp Dư khôn thủ hề,

    Tang Hộ khoả hành.

    Trung bất tất dụng hề,

    Hiền bất tất dĩ.

    Ngũ Tử phùng ương hề,

    Tỷ Can trư hải.

    Dữ tiền thế nhi giai nhiên hề,

    Ngô hựu hà oán hồ kim chi nhân.

    Dư tương đổng đạo nhi bất dự hề,

    Cố tương trùng hôn nhi chung thân.

    QUA SÔNG

    Ta thuở nhỏ ưa mặc đồ lạ hề,

    Tuổi đã già mà chưa thôi.

    Đeo gươm dài chi 5 lấp lánh hề,

    Đội mũ “thiết vân” chi cao lồi.

    Châu “minh nguyệt” hề ta đeo,

    Ngọc “bảo lộ” hề ta có.

    Đời đục vẩn mà không ai biết ta hề,

    Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó.

    Cưỡi con “thanh cầu” hề kém con “bạch ly”,

    Ta cùng với Trùng Hoa 6 hề chơi ở Dao Phố.

    Trèo lên núi Côn Lôn hề, ăn cánh hoa tươi.

    Sánh tuổi thọ với trời đất hề,

    Tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời!

    Thương dân mọi chi không biết ta hề,

    Sớm mai ta sẽ vượt sông Tương.

    Đứng bến Ngạc mà quay đầu trông lại hề,

    Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương.

    Ruổi ngựa ta hề chốn Sơn Cao,

    Đậu xe ta hề đất Phương Lâm.

    Bơi chiếc thuyền hề lên sông Nguyên,

    Đều tay chèo hề sóng vỗ rầm.

    Thuyền lững thững mà không đi hề,

    Nước chảy quanh nên khó sang.

    Sớm đi từ Uổng Chử hề,

    Chiều nằm ở Thần Thang.

    Nếu bụng ta chi ngay thẳng hề,

    Dù xa quạnh có hà thương? 7 .

    Vào bến Tự ta còn dùng dằng hề,

    Ta chưa biết ở vào đâu.

    Rừng sâu thẳm chi tối mò hề,

    Toàn là hang vượn cùng hang hầu.

    Núi cao vọi chi ngất trời hề,

    Dưới ũm thũm mà mưa dầu.

    Tuyết tơi bời chi khắp gần xa hề,

    Mây đùn đùn mà kéo mau.

    Thương cái sống của ta chi buồn bực hề,

    Một mình ở trong núi sâu.

    Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề,

    Đành ta trọn đời mà ôm sầu.

    Kìa Tang Hộ còn phải đi trần hề,

    Tiệp Dư còn phải tội gọt đầu.

    Người trung đã chắc gì được dùng hề,

    Người hiền đã hẳn gì ai cầu 8 .

    Người xưa mà như thế hề,

    Ta còn oán gì người sau.

    Ta cứ vững một lòng giữ đạo hề,

    Thôi chẳng quản gì buồn rầu.

     

    3. TỐNG NGỌC

    a. Tiểu sử

    Khuất Nguyên chết rồi, có Tống Ngọc 宋玉, Cảnh Sai 景差 và Đường Lặc 唐勒 giỏi về Sở từ.

    Trong ba nhà đó, Tống Ngọc có tài nhất, viết các thiên Chiêu hồn 招魂 9 , Đại chiêu 大招, Cửu biện 九辯 và nhiều bài phú như bài Đăng đồ tử hiếu sắc phủ 登徒子好色賦 tả một người hiếu sắc. Tiểu sử của ông còn mơ hồ lắm. Có người bảo ông là học trò của Khuất Nguyên, có kẻ nói ông làm quan, cũng bị ghét như Khuất Nguyên. Người ta chỉ biết chắc ông đẹp trai và tánh tình lãng mạn.

    Tương truyền có lần vua Sở hỏi ông:

    - Đức hạnh của tiên sinh ra sao mà thiên hạ chê thậm tệ vậy?

    Ông đáp:

    - Có người khách qua đường ca ở kinh đô, mới đầu hát khúc “Hạ lý ba nhân” 10 , được vài nghìn người họp lại mà hoạ. Hát tới khúc “Dương a giới lộ” chỉ còn vài trăm người hoạ. Đến bài “Dương xuân bạch tuyết” 11 thì chỉ còn vài chục người. Thế là khúc càng cao, người hoạ càng ít. Bực thánh nhân ý chí, hành vi vĩ đại, vượt hẳn lên trên, ở riêng một chốn, bọn dân bỉ tục kia làm sao mà biết được tôi làm gì đâu.

    Nếu truyện ấy đúng thì Tống Ngọc rất khác người mà cũng quá tự cao.

    b. Văn

    Tài Tống Ngọc kém Khuất Nguyên, song có đặc sắc này là sở trường về miêu tả, như trong hai thiên Chiêu hồnĐaị chiêu, ông tả mỹ nhân thì môi son, răng trắng, xương nhỏ, thịt dầy, mày cong và dài, dung nhan ưu tú, vui vẻ khoan thai; tả cung thất thì nào sân, nào hiên, nào cửa son, nào gác tía…

    Trước ông, chưa ai tả tỉ mỉ, đầy đủ chi tiết như thế. Đó cũng là tấn bộ trong văn học Trung Quốc.

    Bài được truyền tụng nhất của ông là bài Cửu biện, trong đó có một đoạn tả mùa thu cực hay, so với bài “Thu thanh phú” (bài phú Tiếng mùa thu) của Âu Dương Tu sống sau ông khoảng 12 thế kỷ, mà cũng không kém mấy:

    悲哉秋之為氣也!蕭瑟兮草木搖落而變衰。

    憭栗兮若在遠行,登山臨水兮,送將歸…

    燕翩翩其辭歸兮,蟬寂漠而無聲。

    雁廱廱而南游兮,鷄啁哳而悲鳴。

    Bi tai thu chi vi khí dã! Tiêu sắt hề thảo mộc dao lạc nhi biến suy.

    Liệu lật hề nhược tại viễn hành, đăng sơn lâm thủy hề, tống tương quy…

    Yến phiên phiên kỳ từ quy hề, thiền tịch mạc nhi vô thanh.

    Nhạn ung ung nhi nam du hề, kê chù chiết nhi bi minh.

    Buồn bã thay khí thiết mùa thu! Cây cỏ úa hề, rụng lá mà biến suy.

    Lạnh lẽo thay, như khi đi xa, trèo núi lội sông hề, tiễn kẻ hồi qui…

    Chim én phấp phới, từ giả mà về hề, ve yên lặng, không rộn rã.

    Chim nhạn hoà hoà 12 mà bay về phương Nam hề, gà chíp chíp, giọng buồn bã.

     

    4. ÍT BÀI CỦA VÀI TÁC GIẢ KHÁC

    Dưới đây chúng tôi xin trích hai bài nữa, cổ nhân cho là của Khuất Nguyên, nhưng không chắc. Cả hai đều là những áng văn bất hủ và đều tả tâm hồn của Khuất Nguyên.

    卜居

    屈原既放,三年不得復見,竭知盡忠,而蔽障於讒,心煩意亂,不知所从,乃往見太蔔鄭詹尹曰:餘有所疑,願因先生決之。

    詹尹乃端策,拂龜,曰:君將何以教之?屈原曰:吾寧悃悃款款,樸以忠乎?將送往勞來,斯無窮乎?寧誅鋤草茅以力耕乎?將游大人以成名乎?寧正言不諱以危身乎?將从俗富貴以偷生乎?寧超然高舉以保真乎?將哫訾栗斯,喔咿嚅唲以事婦人乎?寧廉潔正直以自清乎?將突梯滑稽,如脂如韋,以潔楹乎?寧昂昂若千里之駒乎?將泛泛若水中之鳧,與波上下,偷以全吾軀乎?寧與騏驥亢軛乎?將隨駑馬之迹乎?寧與黃鵠比翼乎?將與雞鶩爭食乎?此孰吉,孰凶?何去何从?世溷濁而不清,蟬翼為重,千鈞為輕;黃鍾毀棄,瓦釜雷鳴;讒人高張,賢士無名。吁嗟,默默兮,誰知吾之廉貞?詹尹乃釋策而謝曰:夫尺有所短,寸有所長;物有所不足,智有所不明;數有所不逮,神有所不通。用君之心,行君之意。龜策誠不能知此事。

    BỐC CƯ

    Khuất Nguyên ký phóng, tam niên bất đắc phục kiến, kiệt trí tận trung, nhi tế chướng ư sàm, tâm phiền ý loạn, bất tri sở tòng, nãi vãng kiến thái bốc Trịnh Thiềm Doãn viết:

    - Dư hữu sở nghi, nguyện nhân tiên sinh quyết chi.

    Thiềm Doãn nãi đoan sách, phất quy, viết:

    - Quân tương hà dĩ giáo chi?

    Khuất nguyên viết:

    - Ngô ninh khổn khổn khoản khoản, phác dĩ trung hồ? Tương tống vãng lạo lai, tư vô cùng hồ? Ninh tru sừ thảo mao dĩ lực canh hồ? Tương du đại nhân dĩ thành danh hồ? Ninh chính ngôn bất húy dĩ nguy thân hồ? Tương tòng tục phú quý dĩ thâu sinh hồ? Ninh siêu nhiên cao cử dĩ bảo chân hồ? Tương súc si lật ti, ác y nhu nhi dĩ sự phụ nhân hồ? Ninh liêm khiết chính trực dĩ tự thanh hồ? Tương đột thê cốt kê như chi như vi dĩ hiệt doanh hồ? Ninh ngang ngang nhược thiên lý chi câu hồ? Tương phiếm phiếm nhược thủy trung chi phù, dữ ba thượng hạ, thâu dĩ toàn ngô khu hồ? Ninh dữ ký kỳ kháng quỹ hồ? Tương tùy nô mã chi tích hồ? Ninh dữ hoàng hộc tỉ dực hồ? Tương dữ kê vụ tranh thực hồ? Thử thục cát, thục hung? Hà khứ hà tòng? Thế hỗn trọc nhi bất thanh, thiền dực vi trọng, thiên quân vi khinh; hoàng chung hủy khí, ngõa hũ lôi minh; sàm nhân cao trương, hiền sĩ vô danh. Hu ta, mặc mặc hề, thùy tri ngô chi liêm trinh?

    Thiềm Doãn nãi thích sách nhi tạ viết:

    - Phù xích hữu sở đoản, thốn hữu sở trường; vật hữu sở bất túc, trí hữu sở bất minh; số hữu sở bất đãi, thần hữu sở bất thông. Dụng quân chi tâm, hành quân chi ý. Quy sách thành bất năng tri thử sự.

    BÓI CÁCH CƯ XỬ

    Khuất Nguyên bị đuổi bỏ, 3 năm không được gặp lại vua, tận trí tận trung mà bị lời gièm pha che lấp, lòng phiền, ý loạn, không biết nên ra sao, mới lại thăm quan thái bốc Trịnh Thiềm Doãn, nói:

    - Tôi có điều nghi, xin tiên sinh quyết cho.

    Thiềm Doãn sửa ngay lại cỏ thi, phủi bụi mu rùa, hỏi:

    - Ông muốn dạy tôi việc gì?

    Khuất Nguyên đáp:

    - Tôi nên khẩn khẩn, khoản khoản, thành thực để hết lòng trung chăng? Hay nên đưa đón theo đời để khỏi khốn cùng? Nên bừa giẫy cỏ lau để hết sức làm ruộng chăng? Hay nên giao du với kẻ sang để cầu danh? Nên nói thẳng chẳng kiêng nể gì để nguy thân chăng? Hay nên theo thói tục, cầu giàu sang để sống cẩu thả? Nên siêu nhiên xuất thế để giữ thiên chân chăng? Hay nên nịnh hót, khúm núm, xun xoe, gượng nói gượng cười để hầu hạ đàn bà? 13 Nên liêm khiết, chính trực để được trong sạch chăng? Hay nên tròn trĩnh, trơn tru như mỡ, như da để được như cái cột bóng? Nên ngang tàng như con ngựa thiên lý chăng? Hay nên lênh đênh như con vịt ở trên mặt nước cùng nhấp nhô với sóng để bảo toàn lấy thân? Nên chạy đua với loài ngựa kỳ, ngựa ký chăng? Hay nên theo cái vết của loài ngựa hèn? Nên cùng bay với loài chim hoàng hộc chăng? Hay nên cùng tranh ăn với gà vịt? Đường nào cát, đường nào hung? Bỏ đường nào, theo đường nào? Đời hỗn trọc mà không thanh thì cánh con ve là nặng mà nghìn cân là nhẹ; chuông vàng thì bỏ nát còn nồi đất thì kêu vang; kẻ gièm pha thì lên chân, người hiền sĩ thì vô danh. Than ôi! Biết nói gì đây? Ai biết ta là trong sạch?

    Thiềm Doãn đặt cỏ thi xuống mà tạ rằng:

    - Thước có khi ngắn, mà tấc có khi dài; vật có chỗ không đủ mà trí có chỗ không sáng; số có chỗ đoán không tới mà thần có chỗ không thông. Ông cứ theo lòng ông mà làm đúng ý ông. Cỏ thi và mu rùa thật không biết được việc ấy.

    漁父辭

    屈原既放,遊於江潭,行吟澤畔,顏色憔悴,形容枯槁。漁父見而問之,曰:子非三閭大夫歟?何故至於斯?

    屈原曰:世人皆濁我獨清,眾人皆醉我獨醒,是以見放。

    漁父曰:聖人不凝滯於物,而能與世推移。世皆濁,何不淈其泥而掘其波?眾人皆醉,何不餔其糟而歠其醨?何故深思高舉,自令放為?

    屈原曰:吾聞之,新沐者必彈冠,新浴者必振衣,安能以身之察察,受物之汶汶者乎!寧赴湘流,葬於江魚腹中又安能以皓皓之白而蒙世俗之塵埃乎?

    漁父莞爾而笑,鼓枻而歌曰:滄浪之水清兮,可以濯我纓。滄浪之水濁兮,可以濯我足。

    遂去,不復與言。

    NGƯ PHỦ TỪ

    Khuất Nguyên ký phóng, du ư giang đàm, hành ngâm trạch bạn, nhan sắc tiều tuỵ, hình dung khô cảo. Ngư phủ kiến nhi vấn chi, viết:

    - Tử phi Tam Lư đại phu dư? Hà cố chí ư tư?

    Khuất Nguyên viết:

    - Thế nhân giai trọc ngã độc thanh, chúng nhân giai tuý ngã độc tỉnh, thị dĩ kiến phóng.

    Ngư phủ viết:

    - Thánh nhân bất ngưng trệ ư vật, nhi năng dữ thế thôi di. Thế giai trọc, hà bất quật kỳ nê nhi dương kỳ ba? Chúng nhân giai tuý, hà bất bô kỳ tao nhi xuyết kỳ ly? Hà cố thâm tư cao cử, tự linh phóng vi?

    Khuất Nguyên viết:

    Ngô văn chi, tân mộc giả tất đàn quan, tân dục giả tất trấn y, an năng dĩ thân chi sát sát, thâu vật chi văn văn giả hồ! Ninh phó Tương lưu, táng ư giang ngư phúc trung hựu an năng dĩ hạo hạo chi bạch nhi mông thế tục chi trần ai hồ?

    Ngư phủ ngoãn nhĩ nhi tiếu, cổ thế nhi ca viết:

    Thương Lương chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh.

    Thương Lương chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.

    Toại khứ, bất phục dữ ngôn.

    LỜI ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ

    Khuất Nguyên đã bị đuổi bỏ, thơ thẩn ở bên bờ sông bờ đầm; vừa đi vừa hát ở bên chằm, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô héo. Có ông lão đánh cá trông thấy, hỏi:

    - Ông phải là Tam lư 14 đại phu đấy chăng? Sao mà đến nỗi thế?

    Khuất Nguyên đáp:

    - Thiên hạ đều đục, một mình ta trong, thiên hạ đều say, một mình ta tỉnh, cho nên bị đuổi bỏ.

    Ông lão đánh cá nói:

    - Thánh nhân không câu nệ việc gì mà biết tùy thời thay đổi. Người đời đều đục thì sao không khuấy thêm bùn, đập thêm sóng cho đục một thể? Thiên hạ đều say thì sao không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải nghĩ sâu, làm khác người để bị đuổi bỏ?

    Khuất Nguyên đáp:

    - Tôi nghe nói, mới gội đầu tất chải mũ, mới tắm xong tất thay áo; có đâu đem cái thân trong sạch mà chịu vật nhơ nhớp được? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi thân trong bụng cá, chứ sao đang trắng lôm lốp mà chịu vấy bụi cát của thế tục?

    Ông lão đánh cá nghe xong, mỉm cười, gõ giầm hát rằng:

    “Sông Thương nước chảy trong veo,

    Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta;

    Sông Thương nước đục chảy ra,

    Thì ta lội xuống để mà rửa chân”.

    Hát xong, đi thẳng, không thêm một lời.

     

    5. SỞ TỪ SO VỚI KINH THI

    Hai tiếng Sở từ chỉ chung những tác phẩm trước Khuất Nguyên (như những bài Cửu ca), của Khuất Nguyên và sau Khuất Nguyên.

    Ai cũng nhận Sở từ là kỳ tích trong văn học cổ của Trung Quốc, khác hẳn với Kinh Thi:

    Kinh Thi là thơ; Sở từ là văn xuôi có vần.

    Kinh Thi chỉ là những bài ca ngắn; Sở từ là những trường thiên, có khi vài trăm, vài ngàn chữ.

    Kinh Thi để ca, Sở từ để đọc.

    Kinh Thi phần nhiều là tác phẩm của bình dân; Sở từ là tác phẩm của văn nhân.

    Kinh Thi dùng những câu ngắn có điệp tự; Sở từ thường dùng những câu dài có đối.

    Sau cùng, còn 2 điểm này quan trọng nhất:

    Kinh Thi thuộc loại tả chân; Sở từ thuộc loại lãng mạn.

    Kinh Thi nói nhiều về nhân sự; Sở từ dùng nhiều thần thoại.

     

    6. ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ TỪ

    Sở từ ảnh hưởng nhiều đến đời sau, nhưng không bằng Kinh Thi. Theo nhiều học giả ở Trung Quốc, loại thơ 7 chữ ở đời Đường gốc ở Sở từ và lối miêu tả vừa nhiều chi tiết, vừa điêu luyện, lối dùng chữ tinh xác, bổng trầm, có nhạc điệu của Tống Ngọc đã sản xuất thể phú ở đời Hán.

     

    TÓM TẮT

    1. Trong khi ở phương BắcKinh Thi thì ở phương NamSở từ.

      Kinh Thi là thơ, thường ngắn; Sở từ là văn xuôi có vần, thường dài. Sở từ dùng nhiều thần thoại và có tính cách lãng mạn.

    2. Những tác giả có danh nhất về Sở từ là:
      • Khuất Nguyên, lời rất lâm ly, ý dồi dào, sức tưởng tượng cực mạnh, hay dùng phép tượng trưng và phép nhân cách hoá. Tác phầm bất hủ của ông là thiên Ly tao.
      • Tống Ngọc có tài miêu tả, văn điêu luyện, mở đường cho thể phú đời Hán.

    --------------------------------
    1Hồi xưa người ta lầm những bài ca đó là của Khuất Nguyên.
    2Vật trang sức đeo ở áo.
    3Chính trị có thành tích đẹp đẽ.
    4Hai vị hiền đời xưa.
    5Chi ở đây cũng như tiếng hề, để đưa lời.
    6Tức vua Đế Thuấn.
    7Hà thương là hại gì?
    8Dịch thiếu hai câu: "Ngũ Tử phùng ương hề, Tỉ Can trư hài" nghĩa là: "Ngũ Tử Tư gặp tai nạn mà Tỉ Can bị làm dưa mắm". (Hai người đó đều là trung thần thời cổ). Chúng tôi xin theo vần của Phan Kế Bính mà dịch thêm cho đủ:
    Tỉ Can bị làm mắm hể,
    Ngũ Tử Tư thì bị bêu đầu.
    9Có học giả cho thiên Chiêu hồn của Khuất Nguyên.
    10Một khúc hát thông tục nhất.
    11Một khúc đã hơi cao.
    12Tiếng kêu.
    13Ám chỉ ái phi của vua Sở.
    14Một chức quan ở triều đình.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Z.28 Macao... Trinh Nữ Giang Hồ

    Người Thứ Tám

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646374]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502171]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639423]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4470998]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340382]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600266]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689429]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490724]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300092]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010118]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972320]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469852]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445475]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150479]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078419]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062479]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028644]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026274]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959332]
    25.Quỷ Bảo [921587]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907458]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876850]
    29.Hắc Nho [852012]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842897]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839983]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755905]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744902]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622349]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569273]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536739]
    41.Tầm Tần Ký [511893]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455925]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450741]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439762]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433957]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417102]
    49.If You Are Here [411806]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408041]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm