hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[875] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG IV. KINH THI

    1. NGUỒN GỐC CỦA THI, CA

    Nguồn gốc của thơ ở đâu? Ban Cố trong bộ “Hán thư nghệ văn chí” viết: “Tình động ở trong lòng mà phát ra lời nói, ca hát không đủ thì đưa chân múa tay mà không hay”.

    Vậy từ khi nhân loại có ngôn ngữ là đã có thi ca. Dân tộc nào cũng trân trọng giữ gìn những thi ca tối cổ của mình. Tại Hy Lạp là 2 bộ IliadeOdyssée của Homère, tại Pháp là những anh hùng ca ở thời Trung Cổ, tại Ấn Độ là thánh ca Véda, tại Việt Nam là ca dao và tại Trung Quốc là Kinh Thi.

     

    2. NGƯỜI TRUNG HOA RẤT YÊU THƠ

    Khoảng 10 năm trước, một người Pháp hỏi tôi:

    - Tôi chưa thấy dân tộc nào yêu thơ như người Trung Quốc. Đại tướng của họ thường làm thơ trên lưng ngựa, sau một trận hỗn chiến; những con buôn của họ cũng biết hội họp nhau dưới gốc đào, gốc liễu mà ngâm nga; cả hạng lao động của họ cũng biết trọng thi nhân; cơ hồ như biết đọc, biết viết là họ biết thưởng thức thơ hoặc làm thơ. Tại sao vậy ông?

    Tôi đáp:

    - Thơ là cái chất của tâm hồn dân tộc ấy, nó lưu thông trong huyết quản của họ hơn 3.000 năm nay rồi. Từ đời nhà Chu, họ đã đặt ra chức thái sử quan để lượm thơ trong dân gian, được trên 3.000 bài. Ông có thấy ở thế giới, một dân tộc thứ hai nào như vậy không? Người phương Tây của các ông cũng yêu thơ đấy, song cũng có lúc các ông chụp một vòng hoa vào đầu thi nhân rồi đuổi ra khỏi thành; còn người Trung Hoa thì gần 2.000 năm nay, bất kỳ người học trò nào cũng phải tập làm thơ; họ dùng thơ để lựa nhân tài; tất nhiên phương pháp ấy có chỗ dở, nhưng như vậy thì người Trung Hoa nào mà chẳng có tâm hồn thi sĩ?

     

    3. KINH THI 涇詩 CÓ 3 PHẦN

    Trong 3.000 bài thơ ấy, Khổng Tử lựa lấy 300 bài vừa ca dao ở thôn quê, vừa nhạc chương ở triều miếu, họp lại thành Kinh Thi 1 . Những bài ấy làm trong đời Chu (từ thế kỷ thứ 12 tới thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên) 2 .

    Kinh Thi chia làm ba phần: phong, nhã, tụng 3 .

    • Quốc phong. Quốc có nghĩa là nước: nhà Chu và các chư hầu. Phong là gió. Ý nói bài hát làm cảm người ta như gió lay động các vật. Quốc phong là ca dao của dân gian các nước.
    • Nhã (nghĩa đen là chính đính) có 2 loại: tiểu nhã là những bài ca dùng trong yến tiệc ở triều đình, đại nhã là những bài dùng trong những trường hợp quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường.
    • Tụng (là khen) gồm những bài ca khen các vua đời trước và dùng để hát ở miếu đường trong lúc tế tự.

    Vậy ta thấy rằng những bài trong Kinh Thi không phải hết thảy của dân gian. Có những bài do văn nhân sáng tác như: Chính nguyệt, Thập nguyệt, Tiết nam sơn…, có những bài do hạng quý tộc soạn để phổ vào nhạc, như: Hạ Vũ, Văn Vương, Xa công, Cát nhật; nhưng dân ca vẫn chiếm phần đông, như: Quan thư, Đào yêu, Trung cốc, Đại điền, …

    Những bài ấy vốn của mọi nước, nên mới đầu, toàn thể không phát biểu một khuynh hướng nào rõ rệt. Khổng Tử tuyển lựa, san định lại, ông theo chủ trương của ông, bỏ những bài lãng mạn quá, chỉ giữ những bài giúp ông truyền bá đạo Nho được, nên Kinh Thi thành một tác phẩm của phương Bắc, có tính “ôn nhu”, trang nhã, phô diễn những tư tưởng xã hội cùng những tình cảm tuy nồng hậu song đã được tiết chế, khác hẳn với Sở từ là những tác phẩm tiêu biểu cho văn trào phương Nam.

     

    4. HÌNH THỨC

    Bàn về văn thể của Kinh Thi, nhà Nho thường phân biệt 3 thể: phú, tỉ, hứng.

    Phú là phô bày, mô tả, chỉ thẳng sự vật mà nói, như:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.

    Ai vô xứ Nghệ thì vô

    Tỉ là so sánh, mượn sự vật mà nói, như:

    Bầu ơi, thương lấy bí cùng,

    Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn.

    Hứng là nhân cảm xúc về sự vật gì mà tình phát hiện; trước tả vật đó, sau tả lòng mình, như:

    Quả cao nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa.

    Sự phân biệt ra 3 thể như vậy có ích về phương diện làm văn nhưng không ích lợi gì cho sự nghiên cứu ca dao vì loại văn thơ nào mà không dùng 3 thể ấy, riêng gì Kinh Thi? Chúng tôi nghĩ nên đứng về phương diện hình thức mà xét Kinh Thi thì hơn…

    Đại loại, Kinh Thi có những bài thơ 4 tiếng như bài Sâm si hạnh thái (coi ở sau), song cũng có câu 3 tiếng, 5 tiếng, 7 tiếng, có khi 11 tiếng. Trong bài Phạt đàn (coi ở sau), câu thứ nhì 7 tiếng, câu thứ tư 8 tiếng.

    Đến phép gieo vần thì có bài không vần, như bài Thanh miếu; vần phần nhiều ở cuối, nhưng cũng có khi ở giữa, y như ca dao của ta. Bài thì từ đầu đến cuối theo một vần, bài thì cứ vài ba câu thì đổi vần.

    Tóm lại, lối thơ trong Kinh Thi hoàn toàn tự do, chưa được quy định. Phép đối và phép điệp ngữ rất thường dùng.

     

    5. NỘI DUNG

    Khổng Tử nói: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà”, nghĩa là: “Cả ba trăm thiên trong Kinh Thi, chỉ một câu có thể trùm được, là: không nghĩ bậy”. Vậy chủ ý của ông khi san định Kinh Thi là dùng nó làm sách luân lý, dạy người ta đừng nghĩ điều xằng bậy, dâm tà.

    Ông lại nói: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán; nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chí ư điểu thú 4 , thảo, mộc chi danh”: “Xem Kinh Thi có thể phấn khởi đến ý chí, xem xét được việc hay hoặc dở, hoà hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán; gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc thờ vua; lại biết nhiều tên chim, muông, cỏ, cây”.

    Chỗ khác, ông nói: “Bất học Thi, vô dĩ ngôn”: Không học Kinh Thi thì không lấy gì mà ăn nói được.

    Cơ hồ ông cho chỉ học một bộ Kinh Thi thì chẳng những làm người mà đến làm quan trị nước cũng được nữa:

    “Đọc 300 thiên Kinh Thi, giao cho việc chính trị, không thành công; sai đi bốn phương, không biết ứng đối thì tuy học nhiều mà ích lợi gì đâu?”.

    Tóm lại, theo ông Kinh Thi là một bộ sách giáo khoa về chính trị, một cuốn dạy tu thân, tề gia rồi trị quốc, bình thiên hạ. Chẳng những vậy, nó còn là một bộ sử học, vạn vật học…

    Hậu Nho ở Trung Quốc và Việt Nam, theo quan niệm ấy, cũng suy tôn Kinh Thi là một thánh thư có phép vạn ứng vạn năng, đến nỗi một bà cô tôi, không học cũng biết giá trị vô cùng của nó và bảo: “Không học Kinh Thi thì học gì?”; đến nỗi một văn sĩ gần đây, cũng bị thuyết đó thôi miên rồi muốn bắt chước Khổng Tử, san định ca dao cho hợp với một loại tư tưởng mà ông cho là tân tiến. Dường như công việc vô ý thức ấy, nhiều kẻ kém tài đương muốn tiếp tục.

     

    6. GIÁ TRỊ CỦA KINH THI

    Ta không nên cho bộ Kinh Thi như một bộ thần bí chứa những tư tưởng huyền ảo về chính trị, triết lý… vì già nửa những thiên trong đó là ca dao, chỉ tả nỗi lòng của dân gian. Đọc nó ta có thể hiểu được tính tình, phong tục của người Trung Hoa ở đời Thượng cổ: nó không có hại về phương diện luân lý, ít nhiều bài có ý nghĩa khuyên răn, mà nghệ thuật thì cao, so với thời ấy.

    Giá trị của nó chỉ có bấy nhiêu thôi, nhưng bấy nhiêu cũng đủ làm vẻ vang cho văn học Trung Quốc rồi.

     

    7. TRÍCH ÍT BÀI

    Phần Quốc phong trong Kinh Thi đáng nghiên cứu nhất. Nội dung nó rất dồi dào. Có bài tả công lao cha mẹ, giọng thiết tha như bài Lục nga 蓼莪:

    蓼莪

    蓼蓼者莪

    匪莪伊蒿

    哀哀父母

    生我劬劳

    父兮生我

    母兮鞠我

    拊我畜我

    長我育我

    顧我復我

    出入腹我

    欲报之德

    昊天罔極

    LỤC NGA

    Lục lục giả nga,

    Phỉ nga y cao.

    Ai ai phụ mẫu,

    Sinh ngã cù lao.

    Phụ hề sinh ngã,

    Mẫu hề cúc ngã,

    Phủ ngã, súc ngã,

    Trưởng ngã, dục ngã,

    Cố ngã, phục ngã

    Xuất nhập phúc ngã,

    Dục báo chi đức,

    Hiệu thiên võng cực

    Xanh tốt 5 rau nga,

    Nga hoá ra cao 6 .

    Thương thương cha mẹ,

    Sinh ta cù lao.

    Cha thì sinh ta,

    Mẹ thì nuôi ta,

    Vỗ ta, úm ta,

    Cưng nuôi mình ta,

    Ra ngó vô nhìn,

    Bồng ẩm giữ gìn.

    Muốn báo ân đức,

    Trời cao khó đền 7 .

    Phát biểu tư tưởng xã hội thì như bài Phạt đàn 伐檀, Thạc thử 碩鼠, Thất nguyệt 七月…

    伐檀

    不稼不穡

    胡取禾三百憶兮?

    不狩不獵

    胡瞻爾庭有縣特兮?

    彼君子兮

    不素餐兮?

    PHẠT ĐÀN

    Bất giá bất sắc,

    Hồ thủ hoà tam bách ức hề?

    Bất thú bất liệp,

    Hồ chiêm nhĩ đình bất hữu huyền đặc hề?

    Bỉ quân tử hề

    Bất tố sôn hề.

    ĐỐN CÂY ĐÀN

    Kẻ kia chẳng cấy chẳng cầy 8

    Lúa đâu chứa vựa được đầy ba trăm 9 ?

    Kẻ kia chẳng bắn chẳng săn,

    Sao treo lủng lẳng trong sân muông chồn?

    Quân tử 10 chớ có ăn không.

    Tả người đàn bà anh hùng thì như bài Tái trì 載馳 nhắc chuyện vợ Hứa Mục Công nghe tin tổ quốc sắp bị tiêu diệt, bèn một mình cưỡi ngựa đi cứu, nhưng chồng bà cản, không cho bà mạo hiểm như vậy; bà phải dùng tài ngoại giao mà cứu tổ quốc. Đọc những câu:

    載馳載驅

    驅馬滺滺

    Tái trì tái khu

    Khu mã du du

    Vừa ruổi vừa đuổi

    Đuổi ngựa dằng dặc

    ta thấy được lòng bà nhiệt thành với non sông ra sao.

    Tuy nhiên, những bài tự tình vẫn chiếm phần lớn. Ca dao nước nào cũng vậy: tự tình nhiều, tự sự ít, thuần tuý mô tả cảnh vật lại càng ít; mà thường những bài tự tình lại là những bài hay nhất. Dưới đây tôi xin trích ít bài trong loại ấy:

    關關雎鳩

    在河之洲

    窈宨淑女

    君子好逑

    Quan quan thư cưu

    Tại hà chi châu

    Yểu điệu thục nữ

    Quân tử hảo cầu

    Hoà hoà tiếng cưu 11

    Trên bãi gáy chơi

    Gái hiền yểu điệu

    Quân tử tốt đôi

    參差荇菜

    左右流之

    窈宨淑女

    寤寐求之

    求之不得

    寤寐思服

    悠哉悠哉!

    輾轉反側

    Sâm si hạnh thái,

    Tả hữu lưu chi.

    Yểu điệu thục nữ,

    Ngụ mị cầu chi,

    Cầu chi bất đắc

    Ngụ mị tư phục

    Du tai, du tai!

    Triển chuyển phản trắc.

    So le rau hạnh,

    Tả hữu theo dòng.

    Gái hiền yểu điệu,

    Thức ngủ ước mong.

    Cầu mà chưa được,

    Thức ngủ nhớ nhung.

    Lâu rồi, lâu rồi,

    Trăn trở mấy vòng!

    (Vô danh dịch)

    子衿

    青青子衿

    悠悠我心

    縱我不往

    子寧不嗣音?

    青青子佩

    悠悠我思

    縱我不往

    子寧不來?

    挑兮達兮

    在城闕兮

    一日不見

    如三月兮

    TỬ KHÂM

    Thanh thanh tử khâm,

    Du du ngã tâm.

    Túng ngã bất vãng,

    Tử ninh bất tự âm?

    Thanh thanh tử bội,

    Du du ngã tư.

    Túng ngã bất vãng,

    Tử ninh bất lai?

    Khiêu hề đạt hề.

    Tại thành quyết hề.

    Nhất nhật bất kiến,

    Như tam nguyệt hề.-

    CỔ ÁO CHÀNG

    Cổ áo chàng xanh,

    Lòng ta nhớ hoài.

    Nếu ta chẳng tới,

    Sao chàng chẳng nối lời?

    Cổ đeo ngọc xanh,

    Lòng ta nhớ mãi.

    Nếu ta không đi,

    Chàng sao chẳng lại?

    Giỡn kìa, nhảy kìa,

    Ở cửa thành kia.

    Một ngày chẳng thấy,

    Như ba tháng trời.

    (Vô danh dịch)

    卷耳

    采采卷耳

    不盈頃筐

    嗟我懷人

    寘彼周行

    陟彼崔嵬

    我馬虺隤

    我姑酌彼金罍

    維以不永懷

    陟彼高岡

    我馬玄黃

    我姑酌彼兕觥

    維以不永傷

    陟彼砠矣

    我馬瘏矣

    我僕痡矣

    云何吁矣

    QUYỀN NHĨ

    Thái thái quyền nhĩ,

    Bất doanh khuynh khuông.

    Ta ngã hoài nhân,

    Trí bỉ chu hành.

    Trắc bỉ đôi ngôi,

    Ngã mã ôi đồi,

    Ngã cô chước bỉ kim lôi.

    Duy dĩ bất vĩnh hoài.

    Trắc bỉ cao cương,

    Ngã mã huyền hoàng.

    Ngã cô chước bỉ tự quang,

    Duy dĩ bất vĩnh thương.

    Trắc bỉ thư hĩ!

    Ngã mã đồ hĩ!

    Ngã bộc bô hĩ!

    Vân hà hu hĩ!

    RAU QUYỀN

    Rau quyền nghiêng giỏ còn vơi,

    Hái rau lòng những nhớ người nẻo xa.

    Nhớ ai thơ thẩn lòng ta,

    Giỏ rau đặt xuống bên kia vệ đường.

    Lên gò, lên núi, ta lên đồi,

    Ngựa chồn tớ mệt, ta ngồi nghỉ ngơi.

    Chén vàng rót rượu đầy vơi,

    Cho khuây khoả nỗi ngậm ngùi nhớ thương.

    (Tản Đà dịch)

    蒹葭

    蒹葭苍苍

    白露爲霜,

    所謂伊人

    在水一方

    溯洄從之

    道阻且長

    溯游從之

    宛在水中央

    蒹葭凄凄

    白露未晞

    所谓伊人

    在水之湄

    溯洄從之

    道阻且跻

    溯游從之

    宛在水中坻

    蒹葭采采

    白露未已

    所谓伊人

    在水之涘

    溯洄從之

    道阻且右

    溯游從之

    宛在水中沚

    KHIÊM HÀ

    Khiêm hà sương sương,

    Bạch lộ vi sương.

    Sở vị y nhân,

    Tại thuỷ nhất phương.

    Tố hồi tòng chi,

    Đạo trở thả trường;

    Tố du tòng chi,

    Uyển tại thuỷ trung ương.

    Khiêm hà thê thê,

    Bạch lộ vị hi.

    Sở vị y nhân,

    Tại thuỷ chi mi.

    Tố hồi tòng chi,

    Đạo trở thả tê;

    Tố du tòng chi,

    Uyển tại thuỷ trung trì.

    Khiêm hà thái thái,

    Bạch lộ vị dĩ.

    Sở vị y nhân,

    Tại thuỷ chi hĩ

    Tố hồi tòng chi.

    Đạo trở thả hữu;

    Tố du tòng chi,

    Uyển tại thuỷ trung chỉ.

    RAU KHIÊM HÀ

    Khiêm hà xanh xanh,

    Lộ 12 trắng thành sương.

    Kìa người ấy ở,

    Bên nước một phương,

    Ngược dòng theo đi,

    Ngán nỗi đường trường;

    Xuôi dòng theo đi,

    In như ở trung ương 13 .

    Khiêm hà lô nhô,

    Lộ trắng chưa khô,

    Kìa người ấy ở,

    Cỏ nước gần bờ.

    Ngược dòng theo đi,

    Ngán nỗi đường vô;

    Xuôi dòng theo đi,

    In như tại trong gò.

    Khiêm hà tha thướt,

    Lộ trắng còn ướt,

    Kìa người ấy ở

    Bên cạnh bến nước,

    Ngược dòng theo đi,

    Ngán nỗi lạc đường;

    Xuôi dòng theo đi,

    Bãi trong nước rõ ràng.

    (Vô danh dịch)

    燕燕

    燕燕于飛

    差池其羽

    之子于歸

    遠送于野

    瞻望弗及

    泣涕如雨

    燕燕于飛

    頡之頏之

    之子于歸

    遠于將之

    瞻望弗及

    佇立以泣

    燕燕于飛

    下上其音

    之子于歸

    遠送于南

    瞻望弗及

    實勞我心

    YẾN YẾN

    Yến yến vu phi,

    Si trì kỳ vũ.

    Chi tử vu quy,

    Viễn tống vu dã.

    Chiêm vọng phất cập,

    Khấp thế như vũ.

    Yến yến vu phi,

    Hiệt chi hàng chi.

    Chi tử vu quy,

    Viễn vu tương chi.

    Chiêm vọng phất cập,

    Trữ lập dĩ khấp.

    Yến yến vu phi,

    Há thướng kỳ âm.

    Chi tử vu quy,

    Viễn tống vu nam.

    Chiêm vọng phất cập,

    Thực lao ngã tâm.

    YẾN YẾN

    Kìa trông con én nó bay,

    Nó sa cành này, nó liệng cành kia.

    Gã kia bước chân ra về,

    Ta tiễn mình về đến quãng đồng không.

    Trông theo nào thấy mà trông,

    Nước mắt ta khóc ròng ròng như mưa.

    Kìa trông con én nó bay,

    Bay bổng nơi này, bay xuống nơi kia.

    Gã kia bước chân ra về,

    Ta tiễn mình về, chẳng quản đường xa.

    Trông theo nào thấy đâu mà,

    Một mình thơ thẩn đứng mà khóc thương.

    Kìa trông con én nó bay,

    Kêu lên tiếng này, kêu xuống tiếng kia.

    Gã kia bước chân ra về,

    Ta tiễn mình về, xa tiễn sang nam.

    Lòng ta vơ vẩn ai làm,

    Trông theo chẳng thấy cho thêm nhọc lòng.

    (Tản Đà dịch)

     

    8. ĐẶC SẮC TRONG KINH THI

    Lời lẽ trong những bài đó thật tự nhiên; ngôn ngữ tận mà ý vô cùng.

    Bạn nói: Chẳng qua cũng mộc mạc như ca dao của ta chứ khác gì?

    - Phải. Cũng chỉ như ca dao của ta, nhưng xin bạn nhớ, những bài trong Kinh Thi đã có trên 3.000 năm nay, hồi mà hầu hết nhân loại còn dã man.

    Còn bạn chê là mộc mạc thì chính đó là một đức nó làm cảm động lòng người hơn những câu đẽo gọt của văn nhân. Càng chạm, càng khắc, càng vẽ càng tô, thì càng đẹp thật, nhưng nhân công nhiều thì tình cảm phải lạt. Ca dao phát ngay từ tim người làm rồi đi thẳng vào tim người nghe, còn thơ của văn nhân phải qua bộ óc của họ rồi mới nhập vào óc của ta, sau cùng vào lòng ta, nên cơ hồ kém sinh khí.

    Tôi nhớ hồi nhỏ nghe một thôn nữ hát những câu sau này theo giọng “đi cấy”, ở sau một bụi tre, bên một cổ miếu:

    Yêu nhau chẳng lấy được nhau,

    Trăm thảm nghìn sầu đắp đã nên non,

    Vo đã thành hòn.

    Lời tự nhiên, thành thật làm sao! Sau này đọc câu:

    Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

    (Chinh phụ ngâm)

    và câu:

    Vạn lý sầu lên núi tiếp mây.

    (Huy Cận)

    tôi thấy nó đẹp, đẹp quá đến gần như hết buồn.

    Cái hay của Kinh Thi là vậy. Những bài trong đó hoặc uẩn súc, hoặc uyển chuyển, hoặc nhẹ nhàng, hoặc tươi nhã, nhưng hầu hết được lưu truyền nhờ tình cảm mộc mạc, chân thật.

    Kinh Thi lại còn đặc điểm này nữa:

    • lời thơ thường láy đi láy lại mà không thừa, nên dư âm vô cùng, như bài “Con én” ở trên,
    • không theo phép tắc nào, số tiếng và vần thật tự do,
    • không dùng những tiếng trừu tượng, chỉ dùng những tiếng cụ thể, nhưng miêu tả có khi lại theo phép tượng trưng,
    • có nhiều nhạc.

    Nhờ những đặc điểm đó mà Kinh Thi tuy không phải là một kiệt tác không tiền tuyệt hậu, như nhiều người phụ hoạ, suy tôn, song thiệt cũng đáng giữ một địa vị cao trong văn học Trung Quốc.

     

    9. ẢNH HƯỞNG CỦA KINH THI

    Ảnh hưởng của nó rất lớn. Từ sau đời Hán, các nhà Nho dùng nó để khuyến thiện, răn ác. Về văn học, nó là một nguồn thi hứng để thi nhân mượn đề mục. Nó lại là một kho điển tích. Đọc thơ văn Trung Quốc và Việt Nam, ta thường thấy nhiều điển mượn ở Kinh Thi, như những tiếng:

    - Nhà huyên để chỉ mẹ (1),

    - Chín chữ cù lao để kể công cha mẹ.

    Câu:

    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

    trong truyện Kiều là mượn câu:

    Nhất nhật bất kiến như tam nguyệt hề

    trong Kinh Thi.

    Câu:

    Vẻ chi một đoá yêu đào

    để chỉ người con gái ít tuổi, gốc ở Kinh Thi (Đào chi yêu yêu: đào kia mơn mởn) 14 .

    Điển “trên bộc trong dâu” cũng ở trong Kinh Thi (Tang trung Bộc thượng: trai gái hẹn hò nhau trong bụi dâu, trên bờ sông Bộc).

    Những sự vay mượn như vậy rất nhiều, kể ra không hết. Cả khi mừng đám cưới, phúng đám ma, người ta cũng dùng chữ trong Kinh Thi như:

    - Cầm sắt hoà hài 琴瑟和諧 (mừng đám cưới)

    - Ta ngã hoài nhân 嗟我懷人 (phúng đám ma)

    Sau cùng, lối thơ văn bốn chữ trong Kinh Thi có ảnh hưởng lớn đến thơ đời sau. Tuy thi nhân ít dùng nó, song theo các học giả Trung Hoa, thì chính nó là nguồn gốc của lối thơ ngũ ngôn (năm chữ) đời Nguỵ.

     

    TÓM TẮT

    • Kinh Thi có 3 phần:

      - Quốc phong tức ca dao của dân gian.

      - Nhã tức những bài ca hát ở triều đình, miếu đường, do văn nhân, quý phái soạn ra.

      - Tụng

    • Mới đầu có tới 3000 bài của mọi nước, sau Khổng Tử lựa 300 bài, san định lại cho hợp tư tưởng, khuynh hướng của đạo Nho; do đó Kinh Thi thành một tác phẩm của phương Bắc, có tính cách ôn nhu.
    • Phần Quốc phong nhiều nhất và cũng có nhiều giá trị nhất về nghệ thuật.
    • Thơ trong Kinh Thi rất tự do – nói là chưa thành phép tắc có phần đúng hơn: số tiếng trong mỗi câu không nhất định (từ 3 tới 11); vần có khi ở giữa câu, thường ở cuối câu. Có bài không vần.
    • Lời trong Kinh Thi uyển chuyển, hàm súc, tươi đẹp, luôn luôn mộc mạc, chân thật.
    • Phần tự tình phong phú nhất rồi tới phần tự sự và miêu tả.
    • Kinh Thi giúp ta biết được tính tình, phong tục của người Trung Hoa thời xưa. Nó là một kho điển và lối thơ ngũ ngôn sau này gốc ở những bài tứ ngôn trong kinh ấy.

    --------------------------------
    1Trương Trường Cung trong cuốn Trung Quốc văn học sử tân biên cho rằng Khổng Tử chỉ có công chỉnh lý lại Kinh Thi, chứ không có công san định vì theo ông công cụ ghi chép thời đó còn thô sơ, người ta không thể ghi được vài ngàn bài thi và do đào thải tự nhiên, chỉ còn lại ba trăm bài thôi. Thuyết đó còn mới mẻ quá chưa được phần đông học giả Trung Quốc công nhận.
    2Một thuyết nói rằng nhiều bài làm từ đời Thương (1783-1135), nhưng không chắc.
    3Có tác giả chia làm 2 loại: phong và nhã (Tụng gồm trong nhã). Phong là của bình dân, nhã là của quý tộc.
    4Đa chí ư điểu thú: trong Luận ngữ (thiên Dương Hoá, bài 9) chép là: Đa thức ư điểu thú, và lời của Khổng Tử ở trên, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là: "Kinh Thi có thể khiến người ta phấn chấn, có thể khiến người ta quan sát phong tục, có thể khiến người ta hợp quần, có thể khiến người ta phúng thích chính trị đương thời. Gần thì biết đạo thờ cha, xa thì biết đạo thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây."
    5Lục lục chính nghĩa là lớn dài.
    6Nga là một loại rau tốt đẹp, cao là một loại cỏ xấu. Ý nói: cha mẹ sinh ta, mong ta báo đáp lại, nay cha mẹ mất sớm, ta không đền đáp được, ta hoá vô dụng đối với các người, như cỏ cao kia.
    7Ý nói: ân đức cha mẹ như trời cao lồng lộng không sao đền đáp được.
    8Chính nghĩa là gặt.
    9Chính nghĩa là ba trăm ức, mười vạn là một ức.
    10Quân tử, trỏ hạng trị dân.
    11Tên một loài chim.
    12Tức giọt nước.
    13Ý nói gần đấy mà tới không được.
    14"Quả mai ba bảy" trong câu Quả mai ba bảy đương vừa cũng lấy ý trong Kinh Thi. Bài "Phiếu hữu mai" có đoạn: "Phiếu hữu mai kỳ thực thất hề, Phiếu hữu mai kỳ thực tam hề. Cầu ngã thứ sĩ, Đãi kỳ kim hề". Nghĩa là: cây mai đã có quả rụng (nói quả là ngụ ý chỉ người con gái), mười phần còn bảy. Những chàng trai lành, ai người muốn lấy ta, nên tìm ngày tốt mà làm lễ cưới đi thôi.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Y Sĩ Tiền Tuyến

    Trang Châu

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646494]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502402]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639511]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471154]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340449]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600350]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689602]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2491459]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300142]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010272]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972325]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548829]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469932]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445578]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204040]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150542]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078548]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062534]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028695]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026322]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959393]
    25.Quỷ Bảo [921649]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907491]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905256]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876883]
    29.Hắc Nho [852072]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842991]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840009]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755940]
    33.Tru Tiên [747724]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745012]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661872]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622361]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592474]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569309]
    39.Hoàn Hảo [557741]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536754]
    41.Tầm Tần Ký [511901]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456103]
    43.Thiên Đường [452675]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450777]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439773]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433980]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427327]
    48.Cậu Chó [417118]
    49.If You Are Here [411818]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408134]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm