hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[782] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    TỔNG KẾT

    1. TRƯỚC KHI BƯỚC CHÂN RA

    Chúng ta đã dạo bước trên những con đường chính trong khu vườn văn học Trung Quốc. Vườn mênh mông quá, chúng ta không thể ngừng ở mỗi gốc để ngắm từng loại được, song chúng tôi tưởng phàm những thứ nào mà cổ nhân gọi là danh hoa thì chúng ta cũng đã được biết qua gần đủ, hoặc đứng xa xa mà nhìn, hoặc lại gần mà ngó.

    Bây giờ tới lúc chúng ta phải từ biệt khu vườn ấy. Lòng bạn ra sao chứ riêng tôi thì bịn rịn, muốn trở lại coi kỹ ít bông ít nhánh nữa.

    Trước khi khép cánh cửa vườn, tôi muốn cùng bạn ôn lại những cảm tưởng để có một khái niệm rõ ràng về văn học Trung Hoa và nhớ những đại lược về:

    - Văn tự Trung Hoa.

    - Các văn trào trải qua các thời đại.

    - Sự phát triển của các thể văn, thơ.

    - Những đặc sắc, ưu điểm cùng liệt điểm của văn học Trung Quốc so với văn học Âu, Mỹ.

     

    2. VĂN TỰ TRUNG HOA

    Trong bộ này chúng tôi không xét sự cấu tạo của văn tự Trung Hoa vì hai lẽ:

    - Nó thuộc phạm vi ngôn ngữ học hơn văn học.

    - Bạn nào cũng biết ít nhiều về 6 phép: chỉ sự, tượng hình, hài thanh, hội ý, chuyển chú, giả tá 1 .

    Song chúng tôi tưởng cũng nên nhắc qua sự rắc rối của văn tự ấy. Muốn học Hán tự:

    - Phải nhớ cách đọc của mỗi chữ.

    - Phải nhớ cách viết mỗi chữ, nhiều chữ có tới 2–3 chục nét, đã mất công mà thuộc mặt chữ cũng rất khó.

    Như vậy học được 4–5 ngàn chữ, tốn công biết bao. Rồi lại phải:

    - Thuộc rất nhiều điển.

    - Thuộc nghĩa hồi xưa của nhiều chữ.

    - Học nhiều cổ văn cho quen với cách hành văn vì không có sách dạy văn phạm mà văn viết khác xa lời nói.

    - Học thêm lối chữ thảo vì giấy tờ thường dùng lối chữ ấy mà chữ thảo khác chữ chân phương cũng gần như dấu Moóc (Morse) khác tự mẫu la tinh; nếu không học thì trông mặt chữ thảo khó đoán được chữ chân phương.

    Đã hết đâu? Còn nhiều nỗi khó khăn cho người học nữa, như:

    - Không có chấm câu.

    - Không có dấu hiệu để phân biệt danh từ chung với danh từ riêng.

    Vì những lẽ đó, học thông tiếng Hán đủ để hiểu văn thơ, thật là “tử công phu”. Người thông minh phải mất 10 năm mới có sức học tạm đủ dùng. Người không thông minh thì dẫu 20 năm chưa chắc đã có kết quả. Hiện nay học sinh đã tốt nghiệp ban Trung học đệ nhất cấp các trường Trung Hoa ở Chợ Lớn cầm đến một cuốn cổ văn thì may lắm hiểu lõm bõm được vài chỗ. Ôi! Khó sao mà khó! Chả trách một vị cố đạo người Âu qua truyền giáo ở Trung Quốc 30 năm, phải than thở:

    “Không có cách nào học tiếng Trung Hoa mà không phải rớt nước mắt”. Những vị cố đạo thường rất thông minh, hiếu học và kiên tâm mà còn nhận học Hán tự là khó như vậy!

    Vì khó học, văn tự Trung Hoa không thành một thứ văn tự phổ thông (chỉ một số người, 1 phần 10 hay 1 phần 100 là đeo đuổi được sự học đến cùng) và văn học của họ dễ biến thành vật sở hữu của bọn quí phái.

    Do đó ta thấy hai thứ văn học khác nhau rõ rệt:

    - Văn học chính thống tức thứ văn học của bọn quí phái (thơ, phú…) chiếm địa vị quan trọng nhất: 9 phần 10 tác phẩm hoặc hơn nữa 2 .

    - Văn học bình dân (tuồng, tiểu thuyết, ca dao…) chiếm một địa vị rất khiêm nhượng và thường bị bọn quí phái chê là không đứng đắn, là ngoại thư, tức cũng như ta chê là “nôm na” vậy.

    Do lẽ bình dân không hiểu văn học, không đọc, viết được, nên văn chương Trung Quốc phát sinh tuy sớm mà tiến triển có vẻ chậm. Một văn trào ở Pháp, Anh thường chỉ lâu trong nửa thế kỷ hoặc một thế kỷ, ở Trung Hoa hồi xưa có khi kéo dài 3-4 thế kỷ như phong trào duy mỹ ở đời Lục Triều. Và ta thấy trong 1000 năm, văn học Trung Hoa không tiến được bao nhiêu; tới cuối thế kỷ 9 còn phải mượn những cái mới lạ trong văn học phương Tây để có thêm sinh khí. Nếu văn tự Trung Hoa dễ học và được phổ thông thì tôi tưởng văn học của họ chẳng phải chỉ có bấy nhiêu thôi mà còn phồn thịnh gấp 5 gấp 10 nữa.

    Hơn hai ngàn năm sau khi nhà Tần thống nhất văn tự, người Trung Hoa bây giờ đương thống nhất ngôn ngữ và la tinh hoá chữ viết. Họ đương làm một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong phạm vi văn hóa của họ. Công việc không dễ dàng: nhiều người còn luyến tiếc thứ văn tự cố hữu đã từng dùng trên 3000 năm nay; có kẻ ngại phải in lại hết thảy những tác phẩm cũ; có người e Hoa ngữ nhiều tiếng đồng âm quá, nếu la tinh hoá thì không sao phân biệt chữ này với chữ khác được.

    Nhưng sớm hay muộn thì cuộc cách mạng ấy cũng sẽ thành công và sẽ mở một kỷ nguyên mới cho dân tộc Trung Quốc, một kỷ nguyên mà văn học sẽ thành vật sở hữu của toàn dân. Tới lúc đó, không ai đoán được văn học Trung Hoa sẽ phát triển mạnh tới bực nào, sẽ cống hiến cho nhân loại những kỳ phẩm ra sao. Một dân tộc thông minh, kiên nhẫn, trên 600 triệu người 3 , có một dĩ vãng rực rỡ, 2-3 ngàn năm kinh nghiệm mà lại có tinh thần hiếu học, chịu tìm tòi, nghiên cứu, dân tộc ấy tất sẽ làm cho thế giới ngạc nhiên.

     

    3. CÁC VĂN TRÀO TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI

    Hai phong trào vị nghệ thuật (lãng mạn, duy mỹ) và vị nhân sinh (hiện thực, tải đạo) cứ thay phiên nhau trên văn đàn Trung Quốc, mỗi phong trào thịnh rồi lại suy và lúc nó toàn thịnh là lúc nó sắp suy, trong khi nó đương thịnh thì phong trào trái với nó bắt đầu phát sinh.

    Lẽ ấy dễ hiểu: Khi văn học mà duy mỹ quá, chỉ chú trọng đến hình thức thì nội dung tất phải kém, và nội dung đã kém thì văn chỉ còn xác mà thiếu hồn; còn khi văn học chỉ phụng sự đạo lý, quá trọng nội dung đến bỏ hình thức thì văn không còn mãnh lực để cảm động lòng người và hoá ra khô khan, mất hẳn cái tính cách “đẹp” mà thiếu nó không thành văn.

    Phong trào hiện thực, vị đạo phát triển trước nhất ở phương Bắc, trên lưu vực Hoàng Hà, từ đời Tây Chu đến đời Xuân Thu. Những vị thủ lĩnh là Khổng, Mạnh và văn phẩm tiêu biểu là Kinh Thi.

    Phong trào lãng mạn tiếp theo ở trên lưu vực Trường Giang, trong đời Xuân Thu và Chiến Quốc. Đại biểu là Trang Tử và Khuất Nguyên, tác giả thiên Ly Tao.

    Tới đời Tần và Hán, đất đai và văn tự thống nhất, hai văn trào đó hợp lại: về triết học, Tuân Tử, Hàn Phi, Lý Tư châm chước thuyết của Khổng, Mạnh và Lão Trang; về văn học thì Tống Ngọc, Tư Mã Tương Như đứng đầu phái lãng mạn; Giả Nghị và Tư Mã Thiên chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo.

    Từ Đông Hán tới Thịnh Đường, nhất là trong thời Lục Triều, phái duy mỹ thắng thế, chiếm văn đàn 3-4 thế kỷ. Văn chương lúc đó rực rỡ, bóng bảy và du dương.

    Trong thời Thịnh Đường, nhờ phong trào phục cổ của Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, nhóm “vị đạo” chiếm lại được uy quyền song không bền.

    Từ Vãn Đường đến Bắc Tống, chủ nghĩa duy mỹ mạnh mẽ phát triển. Các thi nhân như Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân quá chú trọng đến hình thức, gọt đẽo câu văn mà tư tưởng thì uỷ mị.

    Trải những đời Tống, Nguyên, Minh, phong trào phục cổ bồng bột tái phát. Văn nhân thấy rõ cái nhiệm vụ dùng cây bút để chống nạn ngoại xâm, nên chú trọng đến thực tế, đạo lý và hô hào lòng ái quốc của quần chúng.

    Tới cuối đời Minh, phái lãng mạn lại nhảy lên văn đàn đem những tư tưởng uỷ mị vào tuồng và tiểu thuyết.

    Đời Thanh là thời kỳ tập đại thành của nền cổ văn học: khuynh hướng nào cũng có, loại nào cũng hay, văn nhân nào cũng có tinh thần độc lập. Trên văn đàn, quang cảnh tựa như hỗn độn. Song từ thế kỷ 19, cũng nhờ ngoại xâm mà văn nhân thức tỉnh, đề xướng chủ nghĩa tả thực cùng tinh thần khoa học.

    Hiện nay dân tộc Trung Hoa đương hâm hở gây dựng một tương lai rực rỡ, xắn tay áo phá ngôi nhà văn học cũ. Họ thâm oán chủ nghĩa nghệ thuật vị nghệ thuật và tận lực dùng văn học làm lợi khí tuyên truyền cho chủ nghĩa mới.

    Phong trào vị nhân sinh đó sẽ thịnh bao lâu? Ít nhất cũng được tới khi dân tộc Trung Hoa chiếm lại địa vị hùng cường ở giữa đời Đường hoặc đầu đời Thanh của họ.

    Ta nhận thấy:

    - Thời đại nào văn nhân được tự do thì tinh thần sáng tác mới cao (như đời Đường, đời Thanh) và văn học mới thịnh. Văn học không khi nào nẩy nở hoàn toàn khi quốc gia bị nô lệ như trong đầu đời Nguyên.

    Tuy nhiên một dân tộc bị áp bức mà vẫn có tinh thần tự cường (cuối đời Nguyên) thì họ cũng kiếm cách này hay cách khác để phát biểu nỗi uất hận của họ (tuồng đời Nguyên).

    - Tình hình xã hội ảnh hưởng nhiều đến văn học:

    + Trong thời bình trị, văn học dễ có khuynh hướng duy mỹ.

    + Gặp lúc loạn ly mà phong tục chưa uỷ mị thì văn học theo chủ nghĩa vị nhân sinh (gần cuối Thịnh Đường và cuối đời Thanh); trái lại, nếu loạn ly lâu quá, tinh thần dân tộc đã suy bại thì văn học hoá ra lãng mạn (đời Lục Triều và Ngũ Đại).

    - Ở Trung Quốc, nhà vua có ảnh hưởng rất lớn đền văn học vì các lẽ:

    + Rất nhiều vị hoàng đế thích văn thơ,

    + Triều đình dùng văn thơ để tuyển quan lại, nên nếu gặp ông vua nào chủ trương thuyết duy mỹ thì văn trào hướng ngay về con đường ấy, trái lại nếu gặp ông vua nào chủ trương thuyết “tải đạo” thì phong trào phục cổ cũng dễ nẩy nở.

    + Văn học Trung Quốc là vật sở hữu của bọn quí phái mà giai cấp này thường ủng hộ, có khi nịnh hót nhà cầm quyền để giữ địa vị của họ.

     

    4. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC THỂ VĂN THƠ

    Trước đời Tần, Hán, thơ Trung Quốc không có hình thức nhất định: số câu không nhất định, số chữ trong câu cũng không nhất định, có bài lại thiếu cả vần. Ta không thể bảo đó là thơ tự do, nó chỉ là thơ chưa thành hình mà người đời gọi là cổ phong.

    Từ đời Hán, thơ ngũ ngôn lần lần xuất hiện, đến đời Kiến An, nhờ ba cha con họ Tào, thể đó được trọng dụng gần như độc tôn.

    Sau đến cuối đời Lục Triều, Thẩm Ước đặc ra những luật về thanh âm, sửa đổi thể ấy, bắt nó theo những qui tắc nghiêm khắc. Cũng trong khoảng ấy, thơ thất ngôn bắt đầu thành hình 4 . Tới Sơ Đường thì ngũ ngôn và thất ngôn đều có những quy tắc nhất định và khắc khe. Thế là bên cạnh thơ cổ phong ta thấy thêm thể luật.

    Từ Đường trở đi, luôn luôn thể luật được trọng dụng.

    Từ cũng là một loại thơ. Chính nó là những bài hát có vần, câu dài câu ngắn, chỗ bổng chỗ trầm, tuỳ theo điệu hát. Nó phát sinh ở đời Đường, đến đời Tống thì cực thịnh, muốn lấn cả thơ. Thể của nó rất nhiều, nhưng đại loại có hai thứ: ngắn và dài.

    Trong khoảng 1.000 năm – cuối Đường đền đầu Thanh – thơ Trung Quốc xuất nhập trong mấy thể ấy, không có sự thay đổi lớn lao. Tới gần đây mới xuất hiện loại thơ tự do mà người thì chê chỉ là loại cổ phong, người thì khen là rất mới.

    Vậy ta thấy thơ Trung Quốc từ chỗ không có hình thức nhất định tiến tới những qui tắc chặt chẽ rồi bây giờ lại phá tung hết những luật lệ cũ. Có lẽ thi sĩ Trung Hoa đương tìm những qui tắc mới vì tôi tưởng văn thơ không thể nào hoàn toàn tự do được. Ta thử chờ xem họ có kiếm được những thể nào tân kỳ hơn không.

    Về văn xuôi (nghị luận, tự sự…) con đường tiến triển cũng như thơ. Trước Tần, Hán không có qui tắc nào cả. Đến đời Lục Triều xuất hiện thể biền văn dùng lối đối ngẫu có vần hoặc không vần.

    Thể ấy ở giữa thơ và văn xuôi, rất thịnh hành cho tới đời Đường rồi lần lần suy, chỉ còn thấy trong những tờ chiếu, biểu… Song đến đầu đời Thanh nó lại phục hưng rồi tới cuối thế kỷ trước thì suy luôn. Một số văn nhân ở đời Thanh dung hoà nó với cổ văn, thành một lối nửa biền nửa tản, nhưng hiện nay theo tôi tưởng, không còn văn sĩ Trung Hoa nào gò câu cho đối nữa.

    Cổ văn thì thời nào cũng được trọng, thịnh nhất trong những thời Hán, Đường, Tống, Thanh. Vì nó gọn quá, nhiều khi hoá tối nghĩa, và cũng vì nó dùng những tiếng cổ mà hiện nay ít người biết, nên bị Hồ Thích, Trần Độc Tú đả đảo và văn bạch thoại (thứ tiếng thông thường mà mọi người nói hằng ngày) đã thay thế nó.

    So với thơ, tuồngtiểu thuyết xuất hiện rất chậm vì các văn nhân hồi xưa chê bai loại đó không phải là văn học chính thống.

    Tới đời Nguyên người ta mới thấy những vở tuồng có giá trị. Nó phải viết bằng bạch thoại cho quần chúng hiểu và phải theo những qui tắc nhất định về thanh âm, đối ngẫu. Hiện nay ca vũ kịch và thoại kịch đang chiếm địa vị của nó.

    Tiểu thuyết tới đời Minh mới thịnh. Phần nhiều đều viết bằng bạch thoại và tuy có nhiều tác phẩm bất hủ như Thuỷ Hử, Tam Quốc Chí, Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng… song so với tiểu thuyết Âu, Mỹ thì còn kém xa về phẩm cũng như về lượng.

    Sau cùng là công việc dịch thuật ở Trung Quốc chiếm địa vị rất quan trọng trong văn học. Nó phát triển mạnh mẽ ở hai thời kỳ: Lục Triều và Đường với cuối Thanh, đầu Dân quốc, đem lại cho dân tộc Trung Hoa hai luồng sinh khí mới, một luồng ở Ấn Độ, một luồng ở Âu, Mỹ.

     

    5. NHỮNG ĐẶC SẮC, ƯU ĐIỂM CÙNG LIỆT ĐIỂM CỦA VĂN HỌC TRUNG QUỐC SO VỚI VĂN HỌC ÂU, MỸ

    Mười mấy năm trước, khi gặp tiết xuân, một nhà nho và tôi thường họp nhau ở bên một gốc mai, trên một bờ rạch, bình luận về văn thơ Pháp và Trung Hoa. Cụ dạy tôi học thơ Đường và tôi dịch miệng thơ Pháp cho cụ nghe. Tôi đã dịch trên 10 bài danh tiếng của Victor Hugo, Lamartine, Musset, Verlaine, Baudelaire, André Chenier… mong được cụ khen là tuyệt thì cụ chỉ gật gù, mỉm cười, chậm rải hạ một vài tiếng như: “cũng được”, “kha khá”… Dịch miệng thì cố nhiên không sao lột được phân nửa cái hay, song cả những khi tôi nhấn mạnh những chỗ công phu, dụng ý của tác giả thì cụ tuy có vẻ hiểu rõ mà vẫn lãnh đạm.

    Một lần tôi kiếm được bản dịch một bài “Sonnet” của Félix Arvers, đọc cho cụ nghe. Và lần này thì cụ khen: À, có giọng thơ Trung Hoa đây. Vậy mới là thơ. Thầy đọc lại giùm tôi một lần nữa”.

    Từ đó tôi hiểu rằng cái hay của thơ Trung Hoa khác hẳn cái hay của thơ Pháp. Mà văn xuôi thì cũng thế.

    Không biết có phải phái thượng lưu Trung Hoa và Việt Nam hồi xưa chịu ảnh hưởng sâu xa của đạo Nho mà quá tiết chế tình cảm trong đời sống và văn thơ không?

    Tôi nhớ hồi 10 tuổi, một cụ Phủ, bà cô của tôi, cứ đều đều 5-6 tháng lại lọ mọ đi đi bộ hàng 3-4 cây số lại thăm anh em chúng tôi, cũng cho chúng tôi vài cái bánh gai hoặc bánh nhợm, ngồi chơi độ 15-20 phút rồi về. Trong khoảng thời gian đó, cụ chỉ hỏi chúng tôi độ 4-5 câu: “Mẹ cháu lúc này buôn bán khá không? – Các cháu có mạnh khoẻ không? – Tết vừa rồi có về Sơn Tây không?” rồi trầm ngâm nhìn cái án thư hoặc gốc nhài.

    Không phải một mình cụ trầm tĩnh như vậy. Tôi đã được đứng hầu nhiều cụ Tú, cụ Cử. Các cụ hàng năm mới gặp nhau mà ngồi với nhau, y như những phỗng đá, lâu lâu mới hút một điếu thuốc, nhắp một chút trà, hỏi nhau:

    - Lâu nay cụ gặp cụ Tú Phùng không? – Thưa cụ có.

    - Ông Ấm Gia Thụ lúc này sinh kế ra sao? – Cũng đủ ăn.

    - Cụ còn giữ bộ “Vũ trung tuỳ bút” không? – Không. Chú Ba mới đem về quê hồi tháng trước.

    - Cậu Út con cụ bố Vĩnh Lạc làm đốc học rồi đấy, cụ có hay không? – Mau nhỉ!

    - À cái tên chánh tổng Phương Đình hối lộ lắm, bị dân nó kiện đấy.

    Suốt 1-2 giờ, các cụ chỉ trò chuyện với nhau ít tiếng như vậy, làm cho tôi đứng vựa cột, thiu thiu muốn ngủ gục.

    Tới việc khuyên răn con cháu, các cụ cũng cơ hồ như tiếc lời, chỉ một vài câu ngăn ngắn:

    - “Học nhi bất tư tắc võng”, con không nhớ sao?

    - “Quân tử thản đãng đãng”, lo lắng mà làm gì?

    - Thằng đó “vô sở bất vi” mất!

    Đã đành cũng có nhiều cụ như Tú Xương, Học Lạc vui tính, ồn ào hơn chúng ta bây giờ nữa, song các cụ nhà nho “chân chính” chê như vậy là “lăng nhăng”.

    Không phải các cụ lãnh đạm đâu, đời sống tình cảm của các cụ cũng nồng nàn lắm chứ, nhưng ít khi các cụ cho thất tình phát ra, mà mỗi lần phát ra thì phải giữ cho nó trung hoà. Phát bằng lời nói, cử chỉ thì như vậy mà văn thơ cũng thế.

    Nhớ một tráng sĩ thời xưa, các cụ chỉ dùng có 10 tiếng:

    Tích thời nhân dĩ một,

    Kim nhật thuỷ do hàn.

    (Lạc Tân Vương – Dịch thuỷ tống biệt)

    Tả tình nhớ cố hương thì chỉ 5 chữ:

    Đê đầu tư cố hương.

    (Lý Bạch)

    chứ không cần một bài trường thiên như bài Milly của Lamartine.

    Tả lòng tương tư cũng chỉ dùng 2 câu:

    Tư quân như nguyệt mãn.

    Dạ dạ giảm quang huy.

    (Trương Cửu Linh)

    không như Lamartine mà phải 3 trang dày đặc (Le Lac), hoặc như Victor Hugo hạ 120 câu (Tristesse d’Olympio)

    Tả cảnh trong núi, khi vắng người đẹp thì:

    Tương tư hoàng diệp lạc,

    Bạch lộ điểm thanh đài.

    (Lý Bạch)

    Phê bình một nhân vật chỉ trong 5 hàng: “Độc Mạnh Thường Quân truyện” của Vương An Thạch.

    Diễn một triết lý khoáng đạt cao khiết, Tô Thức trong bài “Tiền Xích Bích phú” không quá 10 hàng (từ “Khách diệc tri phù thuỷ dữ nguyệt hồ?” đến “Ngô dữ tử chi sở cộng thích”).

    Khuyên nhà vua chính sách giữ yên quốc gia mà khỏi dùng đến binh đao, Lý Hoa chỉ viết có 4 chữ: “Thủ tại tứ di” (Điếu cổ chiến trường văn).

    Sức tưởng tượng của văn nhân Trung Hoa quả là kém – chính họ cũng tự nhận như vậy – nên tiểu thuyết của họ phát đạt chậm, song ý của họ thường rất dồi dào và nếu muốn thì họ cũng có thể viết đặc hàng trang giấy để tả một cảnh biệt ly (như trong “Tây Tương ký”) hoặc một cảnh nghèo, đói phải ăn cám (như trong “Tì bà ký”) hoặc một chàng điếm đàng, một vị thảo dã anh hùng (như trong “Thuỷ Hử”).

    Họ không muốn vậy, chỉ những khi để du hý họ mới dùng đến văn pháp tả tỉ mỉ ấy, còn nghệ thuật chân chính thì theo họ, phải có tính cách đẽo gọt, gọn gàng, bóng bẫy, mờ mờ, phơn phớt, hàm súc, “ý tại ngôn ngoại”, cho nên danh tác của họ thường là những tiểu phẩm, những bài tứ tuyệt mà mỗi chữ có giá trị “ngàn vàng”.

    Văn thơ Trung Quốc ít khi là một dòng sông cuồn cuộn, một cánh đồng mênh mông, mà thường là những giọt sương lóng lánh, những đoá hoa ngậm hương. Đọc những bài tứ tuyệt, ta có cảm tưởng ngắm cây trâm chạm con phượng hoặc một chiếc khăn thêu con bướm của các nàng cung phi. Và tôi chắc thi nhân Trung Hoa thời xưa nếu đọc được thơ Pháp tất chỉ trích những bài Sonnet hay Rondel vì những thể này gần giống như những bài hát cũ của họ.

    Vì muốn cho lời gọn và hàm súc, văn nhân Trung Hoa phải dùng nhiều điển và công thức: một thư sinh thì luôn luôn “bạch diện”, một mỹ nữ thì luôn luôn như bông hải đường; tả xuân thì phải có lan, thu phải có cúc, nhớ nhà thì phải có khói hoàng hôn, mong chồng thì phải có dặm dương liễu; dưới trăng thì phải có thiếu nữ dựa lan can hoặc tráng sĩ thổi địch, trên núi thì phải có tiều phu gánh củi hoặc ẩn sĩ nghe tùng…

    Tình cảm tiết chế và lời lẽ hàm súc thì ý tứ thâm trầm và nên thơ, người đọc dễ tưởng tượng, mơ mộng, song tiết chế quá thì khô khan, hàm súc quá thì tối nghĩa. Dùng điển thì lời gọn và đẹp, tượng trưng thì bóng bảy và thanh nhã, nhưng văn vì 2 phép đó dễ hoá sáo, vô vị, kêu mà rỗng.

    Đó là những đặc sắc mà đồng thời cũng là những ưu điểm cùng liệt điểm của văn thơ Trung Hoa.

    Một đặc sắc nữa là văn Trung Hoa, khác hẳn với văn Âu, Mỹ, có thể biền ngẫu.

    Pháp văn cũng có phép đối.

    La Bruyère nói: “Đối là đem 2 chân lý cho nó chọi nhau để thêm sáng rõ lẫn cho nhau”.

    Từ Montaigne cho tới Taine và các văn sĩ hiện đại thời nào cũng dùng lối văn ấy và nổi tiếng nhất là Victor Hugo.

    Nhưng phép đối của họ kém xa phép đối của Trung Hoa, không phải văn sĩ của họ thiếu tài mà tại đặc sắc của tiếng Pháp không hợp với phép đối bằng Hoa ngữ. Tiếng Trung Hoa có nhiều phần tử đơn âm và 4 thanh (bình, thượng, khứ, nhập), phân biệt bằng trắc nên đối dễ hay” 5 .

    Văn thơ Trung Quốc và Việt Nam có phép vừa đối ý, vừa đối chữ, lời mạnh và gọn mà lại có cái vẻ tề chỉnh, ung dung, cái giọng du dương, thanh nhã. Đọc những câu:

    “Tuynh trục khoáng, yểm vân quan, liễm thanh vụ, tàng minh thoan; triệt lai viên ư cốc khẩu, đỗ vọng bí ư giao đoan”

    “hoặc phi kha dĩ chiết luân, sạ đê chi nhi tảo tích”.

    trong bài “Bắc Sơn di văn” của Khổng Khuê (cuốn I), nhất là những câu:

    “Lạc hà dữ cô vụ tề phi.

    Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”

    “Thiên cao địa quýnh, giác vũ trụ chi vô cùng,

    Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số”.

    “Quan sơn nan việt, thuỳ bi thất lộ chi nhân?

    Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chi khách”.

    “Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm.

    Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí”

    trong bài “Đằng Vương các” của Vương Bột (cuốn II) ai là người thông hiểu chữ Hán mà không thấy muốn rung đùi ngâm nga, sảng khoái tâm hồn, thơm tho miệng lưỡi.

    Lối đối ngẫu ấy chẳng những hợp với tai người phương Đông chúng ta mà cũng còn làm mê nhiều người Âu nữa. Ông Margoulière trong bộ Histoire de la Litérature chinoise đã chẳng tiếc lời tán tụng những bài phú viết theo thể biền ngẫu và một thi sĩ Pháp, bạn thân của tôi, rất thông tiếng Việt, muốn tập ngâm những bài thơ Đường thể luật.

    Chiếc mề đai nào cũng có mặt trái, văn biền ngẫu mà vụng dùng và sái chỗ thì mất tự nhiên, dễ sa và lỗi kêu mà rỗng. Lời và ý phải xứng nhau. Ý nhạt nhẽo mà lời du dương chỉ càng làm cho ta thêm chán ghét, song đó là lỗi của người cầm bút, đâu phải là của thể văn.

    * Một đặc điểm nữa – mà là nhược điểm – của văn thơ Trung Quốc là chỉ có cái diễm lệ (le beau) mà gần như thiếu hẳn cái vĩ đại (le sublime). Tuy nhiều bài từ của Tô Đông Pha ca lên sang sảng tiếng đồng, tiếng sắt, tuy thơ phái Biên tái đời Đường ngâm lên, máu muốn sôi, tóc muốn dựng, nhưng tuyệt nhiên dân tộc Trung Hoa không có một thi hào nào ví nổi với Homère và không có một tác phẩm nào tả những cảnh, những tình vĩ đại bằng một lối văn như thác cuốn, như sóng gầm, lối văn trong Paradus Perdu của Milton. Ngay những anh hùng ca cũng rất hiếm: trên ba ngàn năm văn học, ta chỉ gặp vài bài như bài Mộc Lan (coi phần dân ca thời Lục Triều) là so sánh được với những bài trong tập La légende des Siècles của Victo Hugo.

    Không phải tại Hoa ngữ không phô diễn được những tình cảm mạnh mẽ. Nguyên nhân, theo tôi, tại thuyết trung dung của đạo Khổng ảnh hưởng đến văn nhân thi sĩ, tiết chế bớt tình cảm của họ; và nhất là tại tính tình người Trung Hoa không ưa ca tụng những cái vĩ đại. Tính tình đó có lẽ là tính tình chung của các dân tộc phương Đông, từ Thái Bình Dương đến Ba Tư. Ở đầu thế kỷ trước; ông H.Blair, tác giả bộ Leçon de Rhétorique et de Belle Lettre đã nghiệm thấy rằng văn học các dân tộc ấy gần như thiếu hẳn cái vĩ đại và loại anh hùng ca.

    * Văn học Trung Quốc phát triển rất sớm, cả ngàn năm trước văn học Anh và Pháp. Ở thế kỷ thứ 8 đời Đường, Anh, Pháp còn là những dân tộc bán khai, thì người Trung Hoa đã có một nền văn chương rực rỡ.

    Từ đó đến nay, trên 1.000 năm, họ tiến rất chậm, chỉ phát huy được ít nhiều về các loại từ, tuồng, tiểu thuyết, còn Anh, Mỹ trái lại, trong 3 thế kỷ gần đây đã bước những bước 7 dặm trong địa hạt văn chương (cũng như trong địa hạt khoa học).

    Ở trong đoạn trên, chúng tôi đã đưa ra một nguyên nhân: Văn tự Trung Hoa rất khó học, văn thơ của họ chỉ dành riêng cho giai cấp quý phái. Có lẽ còn một lý do nữa: nền kinh tế và chế độ chính trị vẫn y như cũ cho tới cuối đời Thanh.

    Hiện nay văn nhân Trung Quốc đang ly dị với văn học cổ truyền, bỏ hết những đặc sắc của họ để theo kịp phương Tây, mô phỏng cho đúng phương Tây. Họ đả đảo lối văn điêu luyện, mạt sát thể biền ngẫu, phá tung những cùm, xích của luật thi, dùng kỹ thuật phương Tây và tiếng nói thông tục là Bạch thoại để viết những bài thơ tự do, soạn những kịch và tiểu thuyết xã hội.

    Trong cuộc cách mạng nào cũng vậy, phải phá rồi mới kiến thiết mà phá thì phá hết. Lúc này họ đương nghĩ tới sự cải tạo nước họ về phương diện chính trị và kinh tế thì văn học phải phụng sự nhân sinh và công việc tàn phá ấy vô cùng mãnh liệt: thơ Lý Bạch bị coi là đồi phế mà ca dao được nâng lên địa vị độc tôn, Tống thi được nghiên cứu mà Đường thi bị bỏ rơi, biền văn không được giảng trong Trung học mà Thuỷ Hử, Hồng lâu mộng thì được trọng hơn cả Sử ký, Hán thư, tình cảm không bị tiết chế mà được phóng túng, để lòng được rung động trước vạn cảnh vật trong vũ trụ.

    Song tôi tin rằng sau khi nước họ được hùng cường, sau khi họ đã theo kịp phương Tây, họ lại trở về nghiên cứu văn học cổ truyền để dung hoà tư tưởng, kỹ thuật Âu, Mỹ với những đặc sắc về ngôn ngữ, thanh vận, những quy tắc hành văn mà họ đã dầy công gây dựng mỗi đời một chút, trong hàng ngàn năm.

    Lúc đó, vườn thơ của họ mới thêm được nhiều giống hoa lạ, có đủ cái hương kín đáo của phương Đông với những màu rực rỡ của phương Tây.

    ĐỌC THÊM: TRÍCH HỒI KÝ QUÁCH TẤN

    Năm 1955, trở lại Nha Trang, việc đầu tiên của tôi là lo xây dựng tủ sách gia đình đã bị hoàn toàn phá hủy trong gần 10 năm tản cư về Bình Định.

    Bộ sách làm cho tôi thích thú nhất trong sách tôi mua được khoảng 5 năm đầu, là bộ Đại cương Văn học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.

    Đối với tôi, sách đã mới mà người soạn sách cũng mới.

    Song phần nhiều những ý kiến giải bày trong sách, nhất là những kiến giải về thơ Đường luật, rất thích hợp với tôi. Như:

    Tiến từ giản dị đến phiền phức là một xu thế tự nhiên của nghệ thuật: Nghệ sĩ bao giờ cũng tìm cái khó để theo, có làm được việc khó, họ mới thấy hứng thú cho nên luôn luôn họ đặt ra quy tắc và hễ nói đến văn chương phải nói đến quy tắc.

    Không một thể văn nào hoàn toàn tự do. Cả đến thơ Tự Do cũng phải tuân những luật về thanh âm, về số tiếng trong một câu. Chẳng hạn không thể lấy lẽ, rằng ta đưa tự do theo hứng, mà viết một câu thơ 15, 20 tiếng được. Độc giả chắc còn nhớ một thi nhân của ta, hình như là Nguyễn Vỹ, hồi Tiền chiến đã thí nghiệm một thể thơ 12 cước vận và thất bại. Ở Pháp cũng đã có người thí nghiệm thơ trên 12 cước vận mà không thành. Đến văn xuôi cũng phải theo một số quy tắc nhất định: Không phải ai muốn chấm câu ra sao thì chấm, muốn dùng chữ ra sao thì dùng.

    Vậy đặt ra luật lệ mới, tự nó không phải là một việc vô ý thức. Vô ý thức là những kẻ hiểu lầm công dụng của những luật lệ ấy. Quy tắc để điều khiển cái hứng, giúp cho lối phô diễn được hoàn toàn, đẹp đẽ hơn, du dương hơn, chớ không phải để bóp chẹt cái hứng. Phải biết vứt bỏ luật lệ để giữ cái hứng, chớ không nên hy sinh cái hứng cho luật lệ. Thơ là để lả nỗi lòng, tả bằng hình thức nào cũng được; Cổ phong, thế luật… hễ tả mà cảm động được người là mục đích đã đạt. Thơ không phải là những tiếng ghép cho thành vần, cho có đôi, cho đủ bằng trắc.

    Thi sĩ đời Đường sở dĩ bất hủ là nhờ họ hiểu lẽ đó: Biết có luật mà không chịu nô lệ nó. Họ biết phá luật để theo hứng. Những bài được truyền tụng nhất của họ phần nhiều như vậy. Chẳng hạn những bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Anh Vũ Châu của Lý Bạch… đều thoát khỏi sự câu thúc của niêm luật.

    Những thi sĩ ít tài, không hiểu lẽ đó, cứ bo bo giữ đúng phép của Thẩm Ước làm cho thơ mất sanh khí và luật thi hành một lối thơ “tiểu thừa” thấp kém nhất, một lối ghép chữ để du hý, tiêu sầu khiển muộn, như đá banh hay đánh cờ.

    Do đó có sự phản động ngay ở đời Thịnh Đường. Hàn Sơn, một vị hòa thượng thi sĩ, giữ được cái phong khí của Đào Tiềm, chê đồ đệ của Thẩm Ước là bọn đui vịnh mặt trời.

    Sức phản động ấy, tới cuối đời Thanh mới mãnh liệt…

    Theo thiển kiến, luật thi là một tiến bộ tự nhiên trong lịch trình thơ Trung Quốc. Về hình thức, nó thật là hoàn hảo, nhưng nó chỉ hợp với những tình cảm đã được tiết chế, nó chỉ là một tiểu phẩm phải có người đa tài mới dùng nổi, và một khi nó đã được phổ biến trên ngàn năm thì tất nhiên người ta phải chán nó, tìm những thể mới hợp với tình cảm mới của người ta hơn…”.

    Một quan niệm rất đạt lý về luật thơ Đường.

    Rõ là lời nói của người học rộng, thấy xa, xét kỹ, nghĩ chín.

    Qua văn tôi đoán biết tác giả Văn học Sử Trung Quốc là một nhà văn chân chính, một cây bút uyên thâm và thận trọng. Tôi liền đem lòng ngưỡng mộ và tìm thêm những tác phẩm khác để xem. Tác phẩm của Nguyễn quân có nhiều loại, sáng tác, biên khảo, dịch thuật… loại nào văn chương cũng bình dị, tự nhiên, nhiều khi cũng rất khúc chiết nhưng luôn luôn minh bạch không hề gây nơi người đọc những sự hiểu lầm.

    Càng đọc Nguyễn quân, lòng tôi càng thêm yêu kính.

    Song mãi 10 năm sau, tôi mới bắt đầu làm quen.

    --------------------------------
    1Chỉ sự là chỉ việc. Như chữ thượng 上 là trên thì viết chữ nhân 人 là người trên một nét ngang, chữ hạ 下 là dưới thì viết chữ nhân 人 dưới nét ngang.
    Tượng hình là vẻ hình một vật để chỉ vật ấy như chữ 馬 là ngựa giống hình con ngựa. Coi cuốn 1.
    Hài thanh là thứ chữ trông mặt chữ mà đoán cách đọc như chữ 河 là sông một nửa là thuỷ氵chỉ nghĩa (nước), một nửa là khả 可 chỉ âm.
    Hội ý là lấy hai chữ hội lại thành một chữ có nghĩa mới, như chữ tín 信 là tin, có chữ ngôn 言 là lời nói và chữ nhân 亻là người (lời nói của người thì đáng tin).
    Chuyển chú là mượn chữ này chuyển đi một phần thành một chữ khác, như chữ lão 老 là già, đổi nửa dưới thành chữ khảo 考 là xét.
    Giả tá là lấy nghĩa một chữ mà dẫn ra chữ khác như chữ trường 長 là dài thành ra chữ trưởng là lớn, hoặc chữ lệnh 令 là hiệu lệnh đổi ra nghĩa ông huyện lệnh (chức quan) vì ông này thường ra lệnh.
    2Nói về thời xưa.
    3Tới cuối thế kỷ, con số đó sẽ lên tới trên một tỉ.
    4Có người cho rằng thơ ngũ ngôn gốc ở Kinh Thi, thơ thất ngôn gốc ở Sở từ.
    5"Luyện văn" cùng một tác giả, do nhà Phạm Văn Tươi xuất bản trong loại "Học và Hiểu".

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Còn Một Đêm Nay

    Thanh Nam

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646373]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502170]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639423]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4470996]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340382]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600266]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689429]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490720]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300090]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010118]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972320]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469852]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445475]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150479]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078419]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062479]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028643]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026274]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959331]
    25.Quỷ Bảo [921586]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907458]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876850]
    29.Hắc Nho [852012]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842897]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839983]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755905]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744902]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622349]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569273]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536739]
    41.Tầm Tần Ký [511893]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455924]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450741]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439762]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433957]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417102]
    49.If You Are Here [411806]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408041]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm