hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[909] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    PHẦN THỨ SÁU

    VĂN HỌC HIỆN ĐẠI


    CHƯƠNG I. HAI CUỘC CÁCH MẠNG TRONG VĂN

    1. TRUNG HOA DÂN QUỐC

    Vận động cách mạng của Tôn Văn thành công năm 1911 sau 10 lần thất bại và ngày mùng 10 tháng mười năm ấy, ông được cử làm Lâm thời Tổng thống của Trung Hoa dân quốc. Một tháng sau, vua Tuyên Thống xuống chiếu thoái vị.

    Tuy Viên Thế Khải lập được một đế chế trong một thời gian ngắn, tuy các tay quân phiệt xâu xé Trung Hoa trong non 20 năm trời, làm cho dân gian đinh linh, khốn khổ, song rút cục chính nghĩa vẫn thắng; đến năm dân quốc 17 (1928) thì Trung Hoa thống nhất, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Văn (dân tộc, dân quyền, dân sinh) bắt đầu được tôn trọng và áp dụng một vài phần.

    Sau cuộc đại chiến vừa rồi, một cuộc cách mạng thứ nhì nổi lên – cuộc cách mạng của Vô sản – và đang đưa dân tộc Trung Hoa vào con đường mới.

    Thế là trước sau không đầy 40 năm, một dân tộc đông đúc vào bực nhất thế giới, văn minh cũng sớm vào bực nhất thế giới mà lạc hậu cũng vào bực nhất thế giới, bỗng nhiên thức tỉnh, rửa được hết những cái nhục trong một thế kỷ và bước những bước 7 dặm, đuổi kịp những nước tiên tiến trên hoàn cầu. Thúc bách của thời đại ư? Công lao của anh hùng ư? Có lẽ là do cả hai, song chắc chắn là nếu các văn nhân không khai hoá dân trí, gieo mầm cách mạng, mở đường cho các chính trị gia thì kết quả không sao mau chóng được như vậy; nên xét cuộc cách mạng về chính trị của dân tộc Trung Hoa tất phải xét cuộc cách mạng trong văn học của họ.

     

    2. CỔ VĂN ĐẾN LÚC HỦ BẠI

    Trên kia tôi đã nói văn học đến đời Thanh là thịnh cực mà thịnh cực là bắt đầu suy. Tới cuối thế kỷ trước, cổ văn học Trung Quốc không còn chút sinh khí gì.

    Một mặt vì chế độ khoa cử hủ bại, lưu truyền cả ngàn năm (từ đời Đường), dùng thơ phú để lựa nhân tài, bắt buộc học sinh phải luyện lối thơ luật cùng lối văn tám vế và học thuộc lòng tứ thư, ngũ kinh với các lời chú thích của Chu Hi, thành thử cử tử chỉ tranh giành nhau nhớ được nhiều, hạ được một vần lạ, một chữ khéo (đấu nhất vận chi kỳ, tranh nhất tự chi xảo), mặt khác vì một số văn nhân, ăn không ngồi rồi, câu nệ mà thiếu tài, thấy niêm luật trong thơ chưa đủ bó buộc người cầm bút, đặt ra những quy tắc mới vô cùng khó khăn hầu thử tài nhau, nên văn thơ vốn là một nghệ thuật cao quý để phô diễn tình cảm, tư tưởng, biến thành một dụng cụ để mua danh phận, cầu bổng lộc, hoặc một trò tiểu xảo “đục sâu khắc triện” mà kẻ có chí khí phải chê là ti tiện.

    Chúng ta thử tưởng tượng lối thơ luật hạn vận hoặc hoạ vận đã là cái gông cùm nặng nề tới bực nào cho thi nhân rồi, nhất là khi gặp những vần hiểm hóc như vần “Từ Thứ quy Tào” 1 , mà người ta chưa cho là đủ làm khó thi nhân, lại đặt ra lối “phú đắc” nữa mới dã man chứ.

    Chắc độc giả chưa rõ thể thơ đó? Nó là một bài thơ luật 7 chữ, đầu đề phải là một câu thơ có sẵn hoặc một câu tục ngữ, phong dao như:

    “Lúc túng toan lên bán cả trời!”

    hoặc “Nhất vợ nhì trời”,

    hoặc “Nghêu ngao vui thú yên hà”,

    Mai là bạn cũ, hạc là người quen”.

    Trong 8 câu, 56 chữ, nhà thơ phải diễn rõ và hết ý đầu đề, lại phải theo sát đầu đề mà khó nhất là không được phạm đề ở hai câu thực (3-4) hoặc cả hai câu luận (5-6) nữa.

    Tôi lấy ví vụ một bài phú đắc đầu đề là:

    “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.

    Trong cặp thực phải thích cách nào cho nổi rõ cái ý “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” mà không được dùng một tiếng nào trong 8 tiếng ấy.

    Vậy thì hai tiếng gần mực phải đổi ra làm… ra làm sao bây giờ đây? Ra làm: “ở bên cái chất dùng để viết” chẳng hạn. Rồi gần đèn cũng phải đổi theo lối ấy ra “ở bên cái đồ nó chiếu sáng ta”; rồi đenrạng cũng phải thay bằng những tiếng đồng nghĩa hoặc những tiếng giải thích nó. Tóm lại, chúng ta muốn nói “con mèo” mà người ta không cho nói đích danh nó là con mèo, mà phải nói quanh co ở bên, phải gọi nó là “ông kẹ của loài chuột” hoặc “con vật xung khắc với loài chó”… Và xin độc giả nhớ, chỉ trong 14 tiếng (2 câu thực), ta phải diễn đủ ý trong đầu đề, mà phải theo niêm, luật, đối, vần nữa nhé!

    Chao ôi! Khó sao mà khó! Nghĩ nát óc hằng tháng cũng chưa ra!

    Mà như vậy để làm gì? Chẳng phải để phô diễn tình cảm, tư tưởng gì hết. Chỉ để khoe với nhau, dốc hết be này tới be khác và tiêu hết những món thịt cá của những bà vợ đảm đang lặn lội ở bờ sông kiếm về cho nhậu!

    Rồi tới Kinh nghĩa nữa chứ!

    Chắc độc giả đã biết qua phép tắc lối văn ấy? Kinh nghĩa là một bài để giải thích nghĩa trong các kinh truyện, cũng tức như một bài nghị luận. Tuy dùng thể văn xuôi, song cũng phải theo những quy tắc nghiêm khắc. Mỗi bài phải có 7 đoạn, mà 4 đoạn sau chia làm 8 vế (bát cổ), mỗi đoạn 2 vế đối nhau.

    Như vậy đã lấy gì làm khó! Người ta mới đặt ra 2 cách đặt đầu đề là “tiệt thượng” và “tiệt hạ”.

    Tiệt thượng là lấy một câu trong kinh truyện, cắt bỏ nửa trên, chỉ ra nửa dưới cho thí sinh làm. Chẳng hạn trong Luận ngữ có lời của Khổng Tử:

    “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?”
    (Có bạn ở phương xa lại, chẳng cũng vui ư?)

    Người ta cắt 6 chữ trên đi, ra: “Bất diệc lạc hồ?”

    Tiệt hạ là cắt nửa dưới trong câu. Như cũng trong Luận ngữ, có câu:

    “Vô vi nhi trị giả, kỳ Thuấn dã dư?”
    (Không làm gì mà nước được bình trị, phải là ông Thuấn đó không?)

    Người ta cắt 4 chữ sau, ra: “Vô vi nhi trị giả”.

    Muốn làm được những bài Kinh nghĩa đầu đề ra như vậy, tất nhiên phải thuộc lòng tứ thư, ngũ kinh và truyện vì hễ quên thì không đoán được nghĩa đầu bài nữa.

    Bó buộc như thế chưa đủ, người ta còn thắt thêm một vòng nữa, một vòng chặt vô cùng mà bọn Tây học chúng ta bây giờ nghĩ tới phải le lưỡi, toát mồ hôi.

    Người ta thắt cách này:

    Đầu đề mà tiệt thượng thì không được “phạm thượng”, đầu đề mà tiệt hạ thì không được “phạm hạ”.

    Như đầu đề là “Bất diệc lạc hồ?” thì trong bài kinh nghĩa, chúng ta không được nhắc tới những chữ “hữu bằng tự viễn phương lai” mà phải giải thích ra sao cho nổi bật cái ý trong nửa câu bị cắt ấy. Không theo đúng lệ đó là “phạm thượng”.

    Còn trong đầu đề thứ nhì: “Vô vi nhi trị giả”, ta không được nói tới chuyện vua Thuấn, nếu nói thì là “phạm hạ” mà vẫn phải cho người đọc hiểu rằng câu ấy nói về vua Thuấn.

    Đại loại, ta sẽ nói như vầy:

    Người nào mà Vô vi nhi trị đó, chắc đã gặp một thời thịnh trị, đời trước có minh quân sửa sang việc nước, để lại thành tích rực rỡ cho người đó theo (ám chỉ vua Nghiêu, một minh quân đã truyền ngôi lại cho vua Thuấn) và chắc cũng đã gặp những bề tôi toàn tài, biết trước, tính sau, thân dân và trọng hiền, giúp đỡ người đó một cách đắc lực (ám chỉ Cao, Quý, Tắc, Tiết, hiền thần của vua Thuấn)…

    Ý đó, phải diễn sao cho được 3-4 trang giấy, mà nhiều đoạn đối nhau. Xin độc giả hãy tạm đặt đặt cuốn này xuống, tưởng tượng mình là thầy đồ vào trường thi Gia Định mà gặp những đầu đề như vậy, sẽ làm ra sao, rồi mới thấy được cái dã man của những phép tắc vô lý ấy.

    Chả trách hồi xưa biết bao cụ “bay kinh nghĩa” 5-6 khoa liền; mặc dầu thơ phú rất hay, học lại rộng mà không bao giờ vào được kỳ nhì.

    Chính phủ dùng cách hành văn đó lựa người, sĩ phu cũng dùng nó để thử tài nhau, hết thảy học sinh trong nước ai cũng phải uốn mình theo nó thì trên văn đàn làm sao còn có sinh khí được? Văn học chỉ còn là một món khoe tài của bọn người để móng tay dài một hai tấc và cong lại như lá lan; hoặc một món tiêu khiển của các thiếu nữ chân bó lại nhỏ bằng cái hột quẹt, suốt đời không ra khỏi phòng khuê, đi đâu phải có người cõng hay cán.

    Người ta bảo văn “tám vế” là một thứ văn làm mất nước, không phải quá đáng. Nó đào tạo nên một bọn sĩ phu hủ bại, nô lệ, kiến thức hẹp hòi, đến nỗi có kẻ tin rằng tà thuật của bọn quyền phỉ chống nổi súng đạn của Âu, Mỹ 2 .

     

    3. CÁC NHÀ MỞ ĐƯỜNG CHO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG TRONG VĂN HỌC

    Tới đời Quang Tự và Tuyên Thống (cuối nhà Thanh), một số học giả như Hoàng Tuân Hiến 黃遵憲, Lương Khải Siêu 梁启超 tiếp xúc với văn minh phương Tây, thấy chỗ đồi bại của cổ văn học, đề xướng cách mạng trong thi giới và tiểu thuyết giới. Họ còn rụt rè, chỉ chủ trương dùng những danh từ mới trong thơ, để diễn những cảnh mới, ý mới mà thể thơ vẫn là thể cũ; họ rất chú trọng đến tiểu thuyết, cho nó một địa vị tối cao trong công cuộc canh tân quốc gia.

    Lương Khải Siêu trong bài: “Luận tiểu thuyết dữ quần trị chi quan hệ” (Bàn về sự quan hệ giữa tiểu thuyết và sự trị dân), viết:

    Tiểu thuyết có một lực lượng rất mạnh: nó un đúc, thấm nhuần, kích thích, đề khởi, nên muốn canh tân đầu óc dân chúng, canh tân đạo đức, canh tân tôn giáo, canh tân chính trị, canh tân phong tục, canh tân học thuật, canh tân nhân tâm, nhân cách thì trước hết phải: CANH TÂN TIỂU THUYẾT VÀ CUỘC CÁCH MẠNG TIỂU THUYẾT PHẢI ĐI TRƯỚC NHỮNG CUỘC CÁCH MẠNG KHÁC”.

    Rồi ông sáng lập tạp chí “Tiểu thuyết mới” (Tân tiểu thuyết tạp chí 新小說雜誌), trong đó nhiều văn nhân vừa dịch tiểu thuyết nước ngoài vừa sáng tác).

    Ông là một văn nhân đa tài và đầy nhiệt huyết, hiệu là Nhiệm Công 任公, tuyệt thông minh, hồi nhỏ theo cử nghiệp, đậu cử nhân rất sớm. Khi cậu cử tân khoa dương dương tự đắc, vinh quy bái tổ, giữa đường nghe nói có Khang Hữu Vi 康有爲, hiệu là Nam Hải 南海 giảng về thực học (lối học thực dụng, trái với lối học từ chương) cậu cử ghé lại thăm, bị Khang đập cho một vố nặng, chê cái học khoa cử là hủ bại, làm nước yếu dân hèn. Đáng khen cho Lương là chẳng những Lương không bất bình mà còn hốt nhiên tỉnh ngộ, thờ Khang là thầy rồi cùng với Khang khảo cứu về văn hóa, chính trị Âu Tây.

    Nhiều nhà ái quốc lớp cổ của ta khảng khái bỏ khoa cử rồi vào hội “Đông Kinh nghĩa thục” cũng là noi gương của Lương vậy.

    Nhóm Khang Lương được thêm ít danh sĩ nữa, uy danh vang lừng trong nước, mới rủ nhau lên Bắc Kinh dâng sớ duy tân cho vua Quang Tự. Quang Tự tuy còn trẻ mà hiểu thời cuộc, có óc cải cách, niềm nở tiếp đón họ, phong cho họ chức Kinh khanh (cũng như chức Quốc vụ khanh bây giờ).

    Chính quyền lúc đó còn ở trong tay Tây thái hậu, một người đàn bà thông minh, rất hoạt động song chuyên chế và thủ cựu. Bà cho Khang, Lương là sinh sự, giam Quang Tự trong ly cung (một cung xây ở giữa hồ trong vườn thượng uyển) rồi truy nả bọn duy tân. Khang, Lương trốn vô xứ quán Anh, lẻn qua Nhật Bổn, lập đảng duy tân bên đó.

    Lương làm chủ nhiệm nhiều tờ báo (Thời báo, Tiểu thuyết tạp chí…), và để lại bộ Ẩm băng thất văn tập 3 飮冰室文集.

    Văn ông bình dị, sáng sủa, khúc chiết, nhiều khi hoa mỹ, lôi cuốn độc giả rất mạnh vì cảm tình nồng nàn và thành thật. Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu, Dương Bá Trạc ở nước ta đều chịu ảnh hưởng của ông rất nhiều.

    Ông sáng lập “Tiểu thuyết tạp chí” được ít lâu thì nhà Thương vụ ấn quán ở Thượng Hải phát hành tờ “Tú tượng tiểu thuyết tạp chí” có nhiều hình ảnh. Tờ này bắt chước tạp chí Tây phương từ hình thức đến nội dung.

    Ngoài ra còn hai nhà văn nữa cũng có nhiều công trong buổi đầu ấy là Nghiêm Phục 嚴復 (1852-1921) và Lâm Thư 林紓 (1852-1924), cả hai đều ở trong phái cựu học, dùng cổ văn dịch sách Anh, Pháp, Mỹ.

    Họ Nghiêm dịch sách triết lý của Huxley, Spencer, Stuart Mill, đặt sĩ phu Trung Hoa vào những chân trời mới lạ. Họ Lâm chuyên dịch tiểu thuyết: 93 tiểu thuyết Anh, 25 tiểu thuyết Pháp, 19 tiểu thuyết Mỹ và 6 tiểu thuyết Nga. Từ Huyền Trang tới đây mới lại thấy một dịch giả mà sức làm việc đáng kinh như vậy. Nhờ ông, văn nhân Trung Quốc bắt đầu làm quen với Walter Scott, Dickens, V. Hugo, A. Dumas, Tolstoï … 4

    Một số học sinh Trung Hoa ở Nhật, đọc sách dịch của Nhật rồi lại dịch qua Hoa văn cũng đáng kể là những kẻ mở đường cho công cuộc cách mạng văn học sau này.

    Tóm lại, trong thời kỳ đầu tiên ấy (trước năm dân quốc thứ nhất), xu hướng chính trong văn học là Tân tửu cựu bình (bình cũ, rượu mới): thể văn thì vẫn theo cũ mà ý tưởng, đề tài thì mới.

     

    4. CÔNG CUỘC THỐNG NHẤT NGÔN NGỮ

    Trung Quốc mênh mông quá, nên đất đai và văn tự đã thống nhất từ nhiều năm trước (đời Tần) mà ngôn ngữ tới nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất được. Hiện nay một người ở Bắc Kinh với một người ở Quảng Tây, nếu không cùng học tiếng phổ thông – tức thứ tiếng thống nhất mới được dạy trong các trường mọi nơi trên 10 năm nay – thì giao thiệp với nhau vẫn phải dùng lối bút đàm (dùng bút để nói chuyện). Một tiếng mỗi miền đọc một khác, nhiều khi cùng một vật mà mỗi miền dùng một chữ để chỉ.

    Người ta tính ra có tới 10 thổ ngữ chánh: Yên Tề ngữ (dùng ở Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây), Tần ngữ (Thiểm Tây), Trung Nguyên ngữ (một phần Hà Nam, Hà Bắc), Sở ngữ (một phần Hà Nam), Mân ngữ (Phúc Kiến), Việt ngữ (Quảng Đông), Giang Hoài ngữ (Sơn Đông, Giang Tô), Ngô Việt ngữ (Giang Tô, Triết Giang), Thục ngữ (Tứ Xuyên), Điền Kiềm ngữ (Vân Nam, Quảng Tây).

    Năm 1911, bộ Quốc gia giáo dục Trung Quốc họp ở Bắc Bình một hội lấy tên là “Quốc ngữ độc âm thống nhất hội” để thống nhất ngôn ngữ. Hội đặt ra 40 dấu ghi âm: dấu (đọc như chữ b), (đọc như chữ ph), (đọc như chữ v)… và 22 nhị trùng âm (diphtongues) như (đọc như ia), (đọc như iou), đọc như ua)…

    Năm 1928, Hàn lâm viện Trung Hoa sửa đổi những dấu đó và ghép nó với những tự mẫu la tinh.

    Thanh đơn có: b, p, m, f, d, t, n, l, g, k, jy, chy, shy…

    Thanh kép có: ia, io, ié, iai, ua, uo…

    Người ta định cho mỗi chữ một lối đọc và bắt các trường trong nước phải dạy theo lối đó cho học sinh. Tiếng đó tức là tiếng phổ thông chính thức dùng trên khắp lãnh thổ Trung Quốc 5 .

     

    5. CÁC NHÀ KHỞI XƯỚNG CUỘC CÁCH MẠNG TRONG VĂN HỌC

    Những cải cách ấy chỉ ở phạm vi ngôn ngữ, công cuộc cách mạng dưới đây mới thay đổi hẳn nền văn học Trung Quốc.

    Năm 1917, Hồ Thích 胡適 (tức Hồ Thích Chi 胡適之) trong tờ “Tân thanh niên” 新青年 đăng bài Văn học cải lương xô nghị (Bàn về sự cải lương văn học) làm chấn động văn đàn, không kém tiếng súng nổ ở Vũ Xương ngày mùng 10 tháng 10 năm 1911.

    Ông ta là một cựu sinh viên ở Mỹ, chịu ảnh hưởng Âu Tây, cho rằng văn học không là vật đặc hữu của một số người mà phải lan tràn khắp quần chúng.

    Trong bài nghị luận kể trên, ông chủ trương:

    - Văn học phải tuỳ thời thay đổi.

    - Văn bạch thoại là văn chính tông của Trung Quốc và là lợi khí của văn học tương lai.

    Đó mới chỉ là tiếng súng thứ nhất.

    Ít lâu sau, ông vạch 8 phương pháp cải lương văn học:

  • Có điều gì đáng nói thì mới viết.
  • Đừng nô lệ cổ nhân.
  • Nên giảng về văn pháp.
  • Đứng “vô bệnh thân ngâm” (không đâu mà rên, nghĩa là văn thơ phải mạnh mẽ, đừng như bọn lãng mạn, hạ bút thì than thở với “dì trăng chị gió” sụt sùi vì “liễu úa hoa tàn”.
  • Tránh dùng những tiếng sáo, những điệu cũ rích.
  • Không dùng điển.
  • Không dùng phép đối ngẫu.
  • Dùng những tiếng thông tục.
  • Kế đó, ông đăng một thiên nghị luận về sự tiến hoá của văn học, đại ý nói thời đại nào có văn học của thời đại ấy; cổ nhân đã tạo ra văn học của cổ nhân thì người thời đại này phải tạo ra văn học của thời đại này, tức văn học bạch thoại.

    Năm sau ông lại viết một bài chủ trương 4 điều:

    - Có điều gì đáng nói thì mới nói.

    - Có điều gì thì nói điều ấy, muốn nói điều gì thì nói thẳng ra.

    - Dùng lời của ta, đừng dùng lời của người (tức đừng mô phỏng).

    - Người ở thời đại nào thì dùng tiếng của thời đại ấy.

    Hồ Thích đề xướng, Trần Độc Tú 陳獨秀 hưởng ứng và tiếng súng của Trần còn lớn hơn tiếng súng của Hồ, làm rung chuyển cả văn đàn cổ Trung Hoa. Trong một bài nghị luận về văn học cách mạng, ông lớn tiếng hô hào:

    - Đả đảo lối văn điêu luyện, a dua của bọn quí tộc; kiến thiết lối văn bình dị, tả tình của quần chúng.

    - Đả đảo lối văn cổ điển, hủ bại, khoa trương; kiến thiết lối văn tả chân, mới mẻ, thành thực.

    - Đả đảo lối văn tối tăm, khó hiểu; kiến thiết lối văn rõ ràng, thông tục.

    Sau cuộc Ngũ tứ vận động (4-5-1919), khắp Trung Quốc nổi lên những biểu tình để phản đối liệt cường đã không kể đến quyền lợi của Trung Hoa trong hoà ước Versailles, phong trào cách mạng văn học phát triển càng mạnh.

    Nhiều vị giáo thụ (tức giáo sư) ở trường đại học Bắc Kinh như Tiền Huyền Đồng 錢玄同, Lưu Phục 劉復, Chu Thụ Nhân 周樹人 (tức Lỗ Tấn)… tán thành công cuộc cách mạng ấy, phát biểu ý kiến trong tờ “Tân thanh niên”, cơ quan của phái mới và trường Đại học Bắc Kinh biến thành đại bản doanh của nhóm Hồ, Trần.

     

    6. SỨC PHẢN ĐỘNG – SỰ THÀNH CÔNG CỦA CUỘC VẬN ĐỘNG

    Tất nhiên là nhiều người phản đối, mà những kẻ kịch liệt nhất chính là những văn nhân có công mở đường, khai lối cho phong trào, tức Lâm Thư, Nguyên Phục. Trong các cuộc cách mạng ta thường thấy sự cơ hồ như mâu thuẫn ấy. Kẻ thù đáng sợ nhất của Staline chính là Trotsky. Địch thủ chính của Mao Trạch Đông chính là Tưởng Giới Thạch.

    Nguyên hồi ấy, trường Đại học Bắc Kinh bỏ cổ văn, dùng bạch thoại ở miền Bắc làm quốc ngữ để dạy sinh viên. Họ Lâm bất bình, viết thư cho hiệu trưởng phản đối, đại ý nói:

    Trường Đại học là nơi đào tạo bực thầy cho toàn quốc, nếu dùng thổ ngữ ở miền Bắc làm văn tự thì mấy người bán rau ở Bắc Bình, Thiên Tân đều có thể làm giáo sư vậy.

    Ít lâu sau, không hiểu ông nghĩ sao, viết một bài trong đó ông tưởng tượng ra một bực trượng phu tới đả ba nhân vật mà ông bịa tên để ám chỉ Trần Độc Tú, Tiền Huyền Đồng và Hồ Thích, đả một trận nên thân và ba nhân vật kia phải năn nỉ mới được tha.

    Bài đó làm cho độc giả ôm bụng cười nhưng cũng làm cho thanh danh ông xuống rất mau. Người ta thấy phái cổ đã đuối lý và dùng một thủ đoạn không đẹp đẽ gì để bút chiến.

    Sau ông, một giáo sư trường Đại học Đông Nam, sáng lập một tạp chí để chỉ trích văn bạch thoại.

    Nghiêm Phục cũng chê Hồ và Trần là loài chim, loài trùng, líu lo, vo ve để bọn họ nghe với nhau mà thôi. Rồi Chương Bình Lân mạt sát thơ bạch thoại, cho nó là vô vị.

    Lý luận của họ thường không vững mà chủ trương của họ không hợp thời, nên càng bị chỉ trích, bạch thoại càng dễ lan tràn khắp nơi. Tới năm 1919, nghĩa là mới hai năm sau, ở Trung Quốc đã có tới 400 tạp chí dùng bạch thoại. Năm 1920, đối phương phải xếp giáp qui hàng và Tổng trưởng bộ Quốc gia giáo dục bắt các trường phải dạy bạch thoại.

    Thế là cuộc cách mạng chỉ trong ba năm đã hoàn toàn thành công và Triệu Dực 趙翼 ca khúc khải hoàn.

    論詩
    李杜詩篇萬口傳,
    至今已覺不新鮮。
    江山代有人才出,
    各領風騷數百年。
    Luận thi
    Lý, Đỗ thi thiên vạn khẩu truyền,
    Chí kim dĩ giác bất tân tiên.
    Giang san đại hữu nhân tài xuất,
    Các lãnh phong tao sổ bách niên.
    Luận về thơ
    Vạn miệng xưa ngâm Lý, Đỗ thi,
    Người nay đã thấy hết tân kỳ.
    Mỗi đời lại có nhân tài xuất,
    Thủ lãnh tao đàn trong một thì
    .

    Cố nhiên là Hồ Thích và Trần Độc Tú có công lớn, song xét cho kỹ thì nguyên nhân cũng tại:

    - Từ trên 1000 năm trước, bạch thoại đã tấn triển lần lần, tới đời Minh và đời Thanh, nhờ các nhà viết tiểu thuyết và tuồng dùng nó mà nó được hết thảy các giai cấp thưởng thức.

    - Các sĩ phu lớp cũ khi dịch tác phẩm Âu Tây đã giúp quốc dân thấy khuyết điểm của cổ văn học và ưu điểm của cổ văn học nước ngoài.

    - Thời cơ thuận tiện: nông nghiệp và công nghiệp phát đạt, nhân khẩu tập trung, lối văn bạch thoại hợp với quần chúng, nhờ đó tấn triển rất mau. Trần Độc Tú nói: “Nếu 30 năm trước, bọn chúng tôi đề xướng văn bạch thoại thì chỉ một bài chỉ trích của phái cổ đủ làm cho nó tan ra khói, cháy ra tro”. Lời ấy rất chí lý.

    Lúc đó, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu cũng thấy người ta đọc “Quan trường hiện hình ký” hoặc “Lão tàn du ký” và những tiểu thuyết dịch của Âu Mỹ, ví phỏng Lý, Đỗ tái sinh vị tất đã cứu vãn được cổ văn, huống hồ là tác giả “Ngọc lê hôn” và “Tuyết hồng lệ sử” 6 .

     

    7. LẠI TIẾP THEO MỘT CUỘC CÁCH MẠNG NỮA

    Về chính trị, Trung Quốc có hai cuộc cách mạng, cuộc thứ nhất để lật đổ đế chế, cuộc thứ nhì của giai cấp vô sản, thì về văn học ta cũng thấy hai luồng sóng cách mạng liên tiếp nhau. Con “Sư tử Trung Hoa” khi ngủ thì ngủ cả ngàn năm mà khi thức dậy, chồm lên thì cũng dữ!

    Thì như độc giả đã thấy, văn nhân của họ mới thay thứ rượu mới trong cái bình cũ (Nghiêm Phục và Lâm Thư) đã đổi luôn cái bình cũ (Hồ Thích, Trần Độc Tú), rồi nhìn lại, thấy thứ rượu mới trong bình ấy đã hoá cũ, họ thay rượu một lần nữa và thay luôn cả bình.

    Phái cấp tiến này là Quách Mạt Nhược 郭沫若, Lỗ Tấn 魯迅. Họ vận động cho văn học vô sản.

    Năm 1919 Hồ Thích ra tờ “Tiểu thuyết nguyệt báo” do Mao Thuẫn 茅盾 chủ trương. Năm sau một số du học sinh ở Nhật về lập tờ “Sáng Tạo”. Tờ trên dùng lối văn tả chân, chủ trương thứ văn học “huyết lệ”, nghĩa là văn học phải phản chiếu thời đại, phô bày những đau khổ cùng tình cảm của thời đại, phải làm vang lên những hy vọng của nhân loại. Văn không phải là để tiêu khiển mà đối tượng của nó phải là: “huyết lệ của kẻ bị áp bức”. Tờ dưới mới đầu có khuynh hướng lãng mạn, nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng sau cũng xoay về phía tả, đề nghị văn chương xã hội.

    Quách Mạt Nhược, kiện tướng trong nhóm, lớn tiếng hô hào: “Chúng tôi phản đối con quỷ tư bổn! Chúng tôi phản đối thứ văn nô lệ! Vận động văn học của chúng tôi là phát biểu tinh thần của giai cấp vô sản, tức của nhân loại thuần tuý!”

    Tư tưởng đó bắt nguồn ở Nga. Họ theo duy vật sử quan, tin rằng không phải ý thức của nhân loại quyết định sự tồn tại của nhân loại, mà ngược lại, sự tồn tại quyết định ý thức. Những tác phẩm của Plekhanov được coi như kinh nhật tụng. Song họ nhận rằng:

    “Nhà văn vô sản không cần phải ở trong giai cấp vô sản, tác phẩm của họ không nhất thiết phải tả đời sống vô sản. Điều quan trọng là quan niệm của họ, là khu đất họ đã lựa để đứng, là cặp kính họ đã đeo để nhìn đời”.

    Theo họ, lời bình dị, ai cũng hiểu được, lý luận phải đúng với biện chứng pháp, mà mục đích là lật đổ chế độ tư bản.

    Chủ trương đó tất nhiên là đỏ rồi, nhưng còn để một khu đất cho các văn nhân tiểu tư sản bước vào và từ năm 1928 trở đi, một số nghệ sĩ trong giai cấp này trước còn do dự, nay mạnh bạo hướng qua tả. Tức thì có sự liên minh, đoàn thể mọc lên (Tả dực tác gia liên minh, Nghệ thuật kịch xã…) và tạp chí xuất hiện (Manh Nha, Thái Dương tạp chí…).

    Rút cục hai nhóm “Tiểu thuyết nguyệt báo” và “Sáng tạo” nhập lại làm một và Mao Thuẫn theo gót Quách Mạt Nhược. Văn học Trung Quốc lại tiến được một bước nữa.

    Tưởng Giới Thạch lúc đó nắm hết chính quyền trong tay, không thể thản nhiên ngó phong trào ấy, một mặt đàn áp nó dữ dội, một mặt khuyến khích văn nhân lập nhóm văn học quốc gia. Nhóm văn học xã hội bị tấn công kịch liệt, tạm phải lùi bước và tới năm 1932 chỉ còn hoạt động trong bóng tối.

    Song nhóm Quốc gia không làm cho nhiều người thoả mãn; một lực lượng thứ ba xuất hiện, tức nhóm Hiện đại 現代, hơi khuynh tả. Nhóm này cũng nhận rằng văn học phải có tính cách xã hội nhưng không chịu cho nó làm lợi khí để tuyên truyền.

    Tới đây, văn học Trung Quốc đã theo kịp những trào lưu mới mẻ trên văn đàn thế giới, và cái thứ rượu mới lại được thay đổi.

    Nhưng còn cái bình mới? Nó cũng quá cũ rồi, không nên giữ nữa. Tống Dương 宋陽 năm 1934, cầm đầu một phong trào táo bạo chủ trương rằng bạch thoại vẫn chưa được đại chúng hoá, vì người học vẫn phải nhớ từng chữ, vẫn phải học cách đọc của từng chữ. Tốn công lắm! Bình dân ít ai đủ thông minh và thời giờ để học hàng chục năm rồi mới đọc được sách báo. Cần phải giản dị hoá văn tự Trung Quốc và ông đề nghị la tinh hoá nó, nghĩa là dùng tự mẫu la tinh để phiên âm cho mọi người hễ học được vần Trung Hoa là đọc được sách báo ngay 7 .

    Cải cách đó, chẳng những văn nhân nhóm tả hoan nghênh mà tới chính phủ Tưởng Giới Thạch cũng cho phép nó lưu hành. Thế là cái bình mới cũng được thay nữa.

    Đến khi Trung – Nhật chiến tranh bùng nổ, Quốc và Cộng bắt tay nhau để diệt kẻ thù chung, văn học xã hội xoay hướng về văn học quốc gia, mặc dầu vài cây bút quá khích cho như vậy là thoái bộ, là trái với học thuyết cộng sản. Trong thời kỳ ấy, kịch phát triển mạnh mẽ nhất, vì hơn cả tiểu thuyết, nó có sức lôi cuốn quần chúng để chống với Nhật.

    Hiện thời Tân Trung Hoa ra sao, ta dễ đoán được lắm. Mạo Trạch Đông, năm 1948, tuyên bố với một ký giả:

    “Trong thời thế hiện tại, bất kỳ văn hóa nào, văn học nào cũng thuộc về một giai cấp, một đảng và theo một đường lối nhất định. Nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật ở trên đảng phái, nghệ thuật không liên quan đến chính trị là một cái gì không có trong sự thực”.

    Nghĩa là nghệ thuật là một lợi khí để tuyên truyền, tranh đấu và tư tưởng của nhóm “Hiện đại” là lạc hậu.

    Dân tộc Trung Hoa đã hoàn toàn ly dị với cổ văn của họ. Đó là một sự tất nhiên.

     

    TÓM TẮT

    1. Tiến song song với hai cuộc cách mạng về chính trị (một cuộc để lật đổ đế chế, một cuộc để diệt chế độ tư bản), là hai cuộc cách mạng về văn học.

    2. Các nhà mở đường cho cuộc thứ nhất là:
    - Lương Khải Siêu trong nhóm Duy Tân, giới thiệu học thuyết Tây phương và đề xướng cải cách tiểu thuyết.
    - Nghiêm Phục chuyên dịch sách triết lý Âu, Mỹ.
    - Lâm Thư chuyên dịch tiểu thuyết Âu, Mỹ.
    Họ đều chủ trương rượu mới mà bình cũ, nghĩa là dùng cổ văn để phát biểu tư tưởng mới.

    3. Kế đó là công cuộc thống nhất ngôn ngữ, định mỗi chữ một lối đọc (theo giọng Bắc Bình) áp dụng khắp nước và đặt ra những dấu để phiên âm từng chữ.

    4. Năm 1917, Hồ ThíchTrần Độc Tú chủ trương dùng bạch thoại dạy trong các trường và đả đảo lối văn điêu luyện của bọn quý tộc, lối văn cổ điển, hủ bại, tối tăm. Bọn họ sáng lập tờ “Tân thanh niên” và trường Đại học Bắc Bình thành đại bản dinh của họ.

    Phái cổ (Nghiêm Phục, Lâm Thư…) phản đối kịch liệt song rút cục vận động của Hồ, Trần vẫn thành công và văn nhân trong nước đồng tâm liệng cái bình cũ đi.

    5. Cuộc cách mạng đó mới hoàn thành thì tiếp theo một cuộc nữa của Quách Mạt Nhược, Lỗ Tấn. Hai nhà này đề xướng văn học vô sản, theo duy vật sử quan, mục đích là lật đổ chế độ tư bản. Cơ quan ngôn luận của họ là tờ “Sáng tạo”.

    6. Kế đó, Tống Dương thay luôn cái bình mới, đề nghị la tinh hoá văn tự. Văn nhân và chính phủ đều hưởng ứng.

    7. Khi Trung – Nhật chiến tranh bùng nổ, Quốc và Cộng bắt tay nhau để diệt kẻ thù chung; văn học xã hội tạm thời xoay hướng về quốc gia.

    Nhưng từ khi Mao Trạch Đông toàn thắng Quốc dân đảng thì văn học trở về tả và thành là lợi khí của giai cấp vô sản.

    Thế là trước sau chỉ trong 40 năm mà nền cổ văn học bị phá nát tan tành và văn học Trung Hoa theo kịp những trào lưu tiên tiến nhất trên văn đàn thế giới.

    --------------------------------
    1Cách đây 4-5 chục năm, nhiều nhà Nho ở Bắc Việt vào Nam thường bị văn nhân thử tài, ra một đầu đề bảo làm một bài thơ bát cú Đường luật, lấy vần "Từ Thứ quy Tào". Hồi đó nghề in chưa thịnh, văn thơ miền Nam chưa được truyền ra miền Bắc, các cụ ở Bắc mới vào làm sao biết được bài "Từ Thứ quy Tào" của Tôn Thọ Tường, nên phải luýnh quýnh.
    Bài thơ đó như vầy:
    Thảo đầu dám sánh kẻ cày voi,
    Muối xát lòng ai nấy mặn mòi.
    Ở Hớn còn nhiều trang cội cả,
    Về Tào chi xá một cây còi.
    Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
    Bịnh rịnh thương vua biếng dở roi.
    Chẳng đặng khôn Lưu cam dại Nguỵ,
    Thân này nguyện gác ngoại vòng thoi.
    .
    2Phan Tây Hồ có hai câu thơ: "Vạn dân nô lệ cường quyền hạ, Bát cổ văn chương tuý mộng trung" để cảnh tỉnh sĩ phu nước nhà nên bỏ lối văn tám vế, học lối văn thiết thực, cứu quốc.
    3Ẩm Băng là tên hiệu của ông, lấy nghĩa rằng lòng ông nóng nảy duy tân lắm, phải uống băng cho nó nguội bớt đi.
    4Nghiêm và Lâm hồi đó say mê theo Âu, Mỹ bao nhiêu thì về già lại mạt sát Âu, Mỹ bấy nhiêu.
    5Cuộc thống nhất ấy ở Trung Quốc khó khăn gấp 10 lần ở nước ta, vì ta chỉ cần thống nhất chánh tả của một số ít tiếng và cách đọc của những tiếng có dấu hỏi, ngã, có phụ âm: ch, tr, s, x… ở trước, có phụ âm: t, c, n, ng… ở sau. Họ đã hoàn thành công việc của họ. Bao giờ ta mới bắt đầu công việc của ta?
    6Tên những tiểu thuyết lãng mạn viết bằng biền văn. "Tuyết hồng lệ sử" của Từ Trảm Á.
    7Về phương diện đó, chúng ta sướng hơn người Trung Hoa nhiều. Ta dùng vần quốc ngữ non 100 năm nay. Nếu không có vần đó thì bây giờ chúng ta còn phải học chữ nôm và chưa chắc gì học 10 năm đã đọc được sách báo. Mấy năm gần đây, một người ngoại quốc nói với một chính khách Việt: "Tôi không ngờ nước ông dùng mẫu tự la tinh. Dân tộc ông sẽ tiến mau hơn nhiều dân tộc khác ở Á Đông".

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Nơi Gió Cát

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646632]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502536]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639712]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471306]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340861]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600521]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689833]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493087]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300412]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010491]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972331]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548889]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470013]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445692]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150625]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078686]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028813]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026447]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959442]
    25.Quỷ Bảo [921707]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907573]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877023]
    29.Hắc Nho [852156]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843166]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840064]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756011]
    33.Tru Tiên [747769]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745198]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661907]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622425]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592490]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569360]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536787]
    41.Tầm Tần Ký [511982]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456249]
    43.Thiên Đường [452698]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450854]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439786]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427370]
    48.Cậu Chó [417247]
    49.If You Are Here [411851]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408209]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm