hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[1007] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG VI. VĂN HỌC CHÍNH THỐNG ĐỜI THANH

    1. BIỀN VĂN

    Biền văn, sau đời Đường rất suy, đến bây giờ lại phục hưng. Hồi Thanh sơ, có Trần Duy Tùng 陳維崧 là một tay cự phách. Bức thư Đáp Chu Thọ Vương 答周壽王 của ông rất được thưởng thức.

    Tới đời Càn Long, Gia Khánh, Viên Mai 袁枚 (1716-1797) và Ngô Tích Kỳ 吾錫麒 đứng đầu nhóm “bát gia” 1 . Viên luận điệu tung hoành còn Ngô tình ý thanh nhã. Họ tuy chú ý đến luật lệ của thể biền song vẫn trọng nội dung tức tư tưởng và tình cảm. Họ nói: “Biền văn lấy sự đạt ý rõ việc làm quý…, cũng giống như tản văn vậy”.

    Uông Trung 汪中 dùng một lối mới, nửa biền nửa tản, vừa đẹp đẽ, du dương, vừa dễ phổ biến tư tưởng. Lương Khải Siêu sau này thường bắt chước dùng thể đó.

    Những bài biền văn dưới đây còn được lưu truyền đến bây giờ: Tứ khố toàn thư tiến trình biểu 四庫全書進呈表 của Kỷ Quân 紀昀 2 , Dữ Tưởng Thiều sinh thư 與蔣苕生書 của Viên Mai và Tự tự 自敘 của Uông Trung.

     

    2. CỔ VĂN

    Mỗi nhà chủ trương một khác:

    • Tiền Khiêm Ích 錢謙益 (1582-1664) bị sĩ phu đương thời khinh rẻ vì ông hàng nhà Thanh. Ông trọng cổ văn mà không nô lệ cổ nhân, cho cho văn thời nào cũng phải theo quy tắc “Văn tòng tự thuận” (văn thì xuôi, chữ thì thuận).
    • Chu Di Tôn 朱彝尊 (1629-1719) chủ trương văn cần nhất phải thành thực: “Tôi viết văn không lập cách trước, chỉ kể điều mình muốn nói, hễ lời đạt được ý thì thôi”. Chỗ khác ông tuyên bố: “Thơ và từ đừng bắt chước danh gia nào, văn cũng đừng theo đại gia nào, có vậy thì văn mới may ra được truyền lại sau… Nhưng tôi làm như thế không phải vì danh đâu…, tôi chỉ thành thực thôi”.
    • Nguỵ Hi 魏禧 (1624-1670) chuyên nghị luận, bút pháp mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn ở đương thời.
    • Cố Viêm Vũ 顧炎武 (1613-1682) trọng thực dụng. Ông chỉ trích bệnh mô phỏng và khuyên nếu văn không quan hệ với nghĩa lý hoặc việc đương thời thì đừng viết.
    • Hoàng Tông Hi 皇宗羲 (1609-1695) sở trường về tự sự. Theo ông tự sự phải phong vận, không nên khô khan và nghệ thuật tự sự cũng giống nghệ thuật viết tiểu thuyết. Ông nói: “Những truyện Bá Di, Mạnh Tử, Khuất Nguyên, Giả Nghị… của Tư Mã Thiên làm cảm động người đọc là nhờ có phong vận. Văn tuy lấy lý làm chủ, song thiếu tình thì lý cũng rỗng”.
    • Sau ông, Tăng Quốc Phiên 曾國藩 (1811-1872), một chính trị gia, lập thuyết “cứng, mềm” trong văn chương. Văn cứng tức là hùng mạnh, quái lạ, có cái đẹp riêng của nó mà văn mềm nghĩa là bóng bảy, du dương cũng có cái duyên riêng.
    • Ta nên kể thêm Lâm Thư 林紓 một nhà dùng cổ văn để dịch tiểu thuyết Âu Tây. Nhiều người phê bình cho những phóng tác của ông còn hay hơn nguyên tác Anh, Pháp…

     

    3. THƠ

    a. Thơ Thanh sơ với thơ Đường.

    Bàn về thơ Trung Quốc, ai cũng nghĩ ngay đến thơ Đường và quên hẳn thơ thời khác. Thơ Đường muôn vẽ rực rỡ thật; Lý, Đỗ là mặt trăng, mặt trời trên thi đàn Trung Hoa thật, song thơ Thanh cũng không kém thơ Đường bao nhiêu.

    Trong đời Thanh, cổ văn hóa Trung Hoa kết thúc và tiếp xúc với tân văn hóa, bao nhiêu cái đẹp trong văn học cổ truyền hiện lên, huy hoàng, xán lạn trong non 3 thế kỷ.

    Sở dĩ các học giả Trung Quốc trọng Đường khinh Thanh chỉ vì thơ từ Lục Triều bước qua Đường, như đương ở trên cánh đồng bằng phẳng mà vọt lên một ngọn núi cao, làm ai cũng phải chú ý tới; và sau này, đến đời Thanh, tuy xuất hiện một ngọn núi văn học cao gần bằng ngọn ấy, cũng không ai để ý đến nữa.

    Lại thêm, tuồng và tiểu thuyết đời Đường chỉ mới là những con lạch nhỏ, qua Minh và Thanh biến thành những trường giang, phản chiếu muôn màu sắc mới lạ, nên người ta lại càng trầm trồ khen hai loại ấy mà quên loại văn chương chính thống là thơ, từ, biền văn, cổ văn.

    Đọc văn học sử Trung Quốc, tôi thường thấy nhiều học giả mạt sát cổ văn học đời Thanh; duy có Dung Triệu Tổ là tránh khỏi thiên kiến ấy và phán đoán một cách xác đáng. Ông viết trong cuốn “Trung Quốc văn học sử đại cương”:

    “Các loại văn học đã có trong những thời trước, như phú đời Hán, biền văn Lục Triều, cổ văn đời Đường, Tống, thơ đời Đường, từ đời Tống, tuồng đời Nguyên, tiểu thuyết đời Minh, bất kỳ loại nào, tới đời Thanh cũng được tôn trọng trên văn đàn và cũng xuất sắc hơn những thời trước. Tác giả đời Thanh không mô phỏng hẹp hòi; cá tính của mỗi nhà cùng tinh thần của thời đại đều được khắc sâu trên tác phẩm của họ. Tóm lại thời ấy kết thúc văn học các thời trước”.

    Trên kia, về cổ văn và biền văn, ta đã thấy mỗi nhà có một quan niệm riêng. Về thơ và từ ta lại cũng phải nhận rằng tác giả nào cũng có vài phần đặc sắc…

    Hai thi hào nổi danh nhất là Vương Sĩ Trinh và Viên Mai.

    b. Vương Sĩ Trinh 王士楨 chủ trương thơ phải có thần vận, nghĩa là lời và điệu phải cao nhã, thanh tân.

    Ông tự là Di Thượng 貽上, hiệu Nguyễn Đình 阮亭, tự xưng là Ngư Dương sơn nhân 漁洋山人 (1631-1711), rất chê bọn thi nhân đương thời mô phỏng giọng thật thà, quá bình dị của thơ Tống. Ông lập thành một phái riêng, được nhiều người theo. Thơ ông tình ý hàm súc, lời lẽ điêu luyện, nhưng có tật dùng nhiều tiếng lạ, điển lạ.

    * Đối lập với ông có Triệu Chấp Tín 趙執信, Thẩm Đức Tiềm 沈德潛 và Viên Mai 袁枚.

    Triệu chủ trương thuyết thanh điệu, cho thơ hay là nhờ nhạc của nó.

    Thẩm đề xướng thuyết cách điệu, bảo “thơ quý ở tính tình mà cũng trọng phép tắc. Loạn tạp không có phép tắc, không phải là thơ”.

    c. Viên Mai phản đối Thẩm, chủ trương thuyết tính linh, đại ý nói: “Thơ là biểu hiện tính tình của mỗi người… nếu tự bó buộc theo đúng Đường, Tống thì trong lòng mình không còn tính tình gì riêng và như vậy là làm mất cái bản ý của thơ”. Lời đó xác đáng.

    Ông chê thơ đương thời có 3 bệnh:

    - bệnh thứ nhất là dùng điển nhiều quá, thành thử bài thơ đầy tử khí mà tác giả lại lấy đó tự khoe là học rộng.

    - bệnh thứ nhì là thiếu uẩn súc, tác giả cứ nói thẳng ruột ngựa mà lại tự khoe là thành thực.

    - bệnh thứ ba là quá chú trọng đến thanh điệu, lấy bằng, trắc mà định giá trị của thơ.

    Ông đứng đầu phái Giang Tả, danh tiếng vang lừng trong đời Càn Long.

    Ông tự là Tử Tài 子才, hiệu Giản Trai 簡齋 đời gọi ông là Tuỳ Viên tiên sinh 隨園先生 (1716-1797), tính tình rất mực phong nhã, đôi khi phóng đãng. Văn thơ, loại nào ông cũng thành công.

    Có người phê bình ông:

    其人與筆两風流

    紅粉青山伴白頭

    (Kỳ nhân dữ bút lưỡng phong lưu,

    Hồng phấn thanh sơn bạn bạch đầu).

    Ý muốn nói: thơ văn ông cũng phong lưu như ông, ông thì bạc đầu mà bạn với má hồng, núi xanh.

    Người khác khen rằng:

    古今止此數枝筆

    怪哉君以一手持

    (Cổ kim chỉ thử sổ chi bút,

    Quái tai, quân dĩ nhất thủ trì)

    nghĩa là: Xưa nay chỉ có vài cây bút đó (Lý, Đỗ, Hàn, Liễu, Âu, Tô…) mà lạ thay, một tay ông cầm hết! (ông có đủ tài của các nhà đó).

    Dưới đây chúng tôi xin trích dịch một bài thơ cách điệu tự do, ý tưởng tân kỳ và hai bài tươi nhã, phóng dật của ông:

    Ông học đạo trường sinh. Một người bạn tặng ông một cuốn kinh luyện đan, ông nhìn bản đồ trong sách, cao hứng viết nên bài này, giọng đùa cợt, ngạo mạn:

    丹涇圖

    盤古忽然死,

    洪荒人一驚。

    神農欲救之,

    嘗草口不停。

    伏羲欲救之,

    畫卦,講說,口咿嚶。

    惟有黃帝聰明展然笑,

    將人成仙自有道。

    我觀君圖,勸君珍秘枕中寳,

    莫教此義被天知,

    恐十二萬年天不老。

    Đan kinh đồ

    Bàn Cổ hốt nhiên tử,

    Hồng hoang nhân nhất kinh.

    Thần Nông dục cứu chi,

    Thường thảo khẩu bất đình.

    Phục Hi dục cứu chi,

    Hoạch quái, giảng thuyết, khẩu y anh.

    Duy hữu Hoàng đế thông minh triển nhiên tiếu,

    Tương nhân thành tiên tự hữu đạo.

    Ngã quan quân đồ, khuyến quân trân bí chẩm trung bảo,

    Mạc giao thử nghĩa bị thiên tri,

    Củng thập nhị vạn niên thiên bất lão.

    Bản đồ kinh luyện đan

    Bàn Cổ 3 hốt nhiên chết,

    Người Hồng hoang 4 hoảng hồn.

    Thần Nông 5 muốn cứu sống,

    Nếm cỏ miệng không ngừng.

    Phục Hi 6 muốn cứu sống,

    Vẽ, giảng bát quái, miệng thì thầm.

    Chỉ có Hoàng Đế 7 thông minh, cười toe toét,

    Làm người thành tiên, tự có đạo.

    Tôi coi bản đồ, khuyên ông giữ kỹ trong gối báu,

    Đừng để phép đó bị Trời hay,

    Sợ mười hai vạn năm, Trời bất lão 8 .

    春日雜詩

    千枝紅雨萬重烟,

    畫出詩人得意天。

    山上春雲如我懶,

    日高猶宿翠微顛。

    Xuân nhật tạp thi

    Thiên chi hồng vũ vạn trùng yên,

    Họa xuất thi nhân đắc ý thiên.

    Sơn thượng xuân vân như ngã lãn,

    Nhật cao do túc thúy vi điên.

    Ngày xuân

    Mưa tươi ngàn nhánh khói muôn trùng,

    Vẽ lúc thi nhân đắc ý tung.

    Chót núi mây xuân lười giống tớ,

    Ngủ ngon quên cả bóng dương hồng.

    (Vô danh dịch) 9

    起早

    起早殘燈在

    門關落日遲。

    雨來蟬小歇,

    風到柳先知。

    借病常辭客,

    知非又改詩。

    蜻蜓無賴甚,

    飛滿鳥花枝。

    Khởi tảo

    Khởi tảo tàn đăng tại,

    Môn quan lạc nhật trì.

    Vũ lai thiền tiểu yết,

    Phong đáo liễu tiên tri.

    Tá bệnh thường từ khách,

    Tri phi hựu cải thi.

    Tinh đình vô lại thậm,

    Phi mãn điểu hoa chi.

    Dậy sớm

    Dậy sớm đèn chưa tắt,

    Tối lâu lại cửa gài.

    Mưa rơi ve lẳng lặng,

    Gió tới liễu lung lay.

    Tránh khách thường xưng bệnh,

    Sửa thơ biết chửa hay.

    Chuồn chuồn liều lĩnh quá,

    Hoa rụng khiến chim bay.

    d. Ngoài những nhà đó ra, ta nên kể thêm:

    - Tưởng Sĩ Thuyên 蔣士銓 thi sĩ kiêm kịch gia.

    - Triệu Dực 趙翼 thơ có giọng nghị luận vui vẻ.

    - Hoàng Cảnh Nhân 黄景人 tự là Trọng Tắc 仲則 tài khí phóng dật, vừa theo thuyết tính linh của Viên Mai, vừa theo thuyết thần vận của Vương Sĩ Trinh. Ông nghèo lại gặp những bước chẳng may, suốt đời cùng khổ, gần như cuồng, chết hồi 35 tuổi (1749-1783).

    Ông có giọng bi đát mà hùng tráng, rất cảm lòng người. Có người phê bình thơ ông là “trùng mùa thu nuốt sương, hạc có bệnh mà múa gió”.

    Trong bài vịnh một đêm trừ tịch, ông có câu:

    汝輩何知吾自悔,

    枉拋心力作詩人。

    (Nhữ bối hà tri ngô tự hối,

    Uổng phao tâm lực tác thi nhân)

    Bọn trẻ biết đâu ta tự hối,

    Uổng đem tâm sự để làm thơ.

    Ông oán hận đời thi sĩ của ông như Baudelaire bên Pháp, J. Leiba bên ta vậy và mệnh bạc của ông đã hiện rõ trong 2 câu ấy.

    Bài dưới đây vô cùng trầm thống:

    途中遘病頗劇,愴然作詩

    搖曳身隨百丈牽,

    短檠孤照病無眠。

    去家已過三千里,

    墜 地今將二十年。

    事有難言天似海,

    魂應盡化月如烟。

    調糜量水人誰在?

    況值傾囊無一錢。

    Đồ Trung cấu bệnh phả kịch, sảng nhiên tác thi

    Dao duệ thân tuỳ bách thượng khiên,

    Đoản kình cô chiếu bệnh vô miên.

    Khứ gia dĩ quá tam thiên lý,

    Truỵ địa kim tương nhị thập niên,

    Sự hữu nan ngôn, thiên tự hải,

    Hồn ưng tận hóa, nguyệt như yên.

    Điều mi, lượng thủy nhân thùy tại?

    Huống trị khuynh nang vô nhất tiền.

    Giữa đường mắc bệnh hơi nặng, bùi ngùi làm thơ

    Run rẩy lết đi vịn sợi căng 10 ,

    Đèn xanh chẳng ngủ, lẻ loi nằm.

    Xa nhà đã quá ba ngàn dặm,

    Rớt đất nay gần hai chục năm.

    Tâm sự khôn bày, trời tựa biển,

    Linh hồn nên hoá, khói như trăng.

    Thuốc thang, cơm cháo ai săn sóc?

    Mà lại nhằm khi túi rỗng không.

     

    4. TỪ

    Loại từ cũng đến đời Thanh thì phục hưng. Ba nhà có tên tuổi nhất là Chu Di Tôn, Nạp Lan Tính Đức và Trần Duy.

    * Chu Di Tôn 朱异尊 (1629-1709) trước tác nhiều, khéo tả diễm tình. Ông tự đề tập từ của ông có câu:

    “Mười năm mài kiếm, kết bạn Ngũ Lăng (tên đất), đem nước mắt trong đời vẩy hết. Về già làm từ, một nửa là truyền hận lại cho đời”.

    Đủ biết ông có hùng tâm mà không nên sự nghiệp nên chán đời, dùng từ để tiêu khiển.

    * Nạp Lan Tính Đức 納蘭性德 (1655-1685) người Mãn Châu, thiếu niên đã tài hoa, được vua Thanh mến tài mà chết yểu. Giọng của ông tự nhiên và bi thảm, phảng phất như giọng của Lý Hậu chủ đời Nam Đường:

    采桑子

    而今才道當時錯,

    心緒凄迷。

    紅淚偷垂,

    滿眼春風百事非。

    情知此後來無計,

    強說歡期,

    落盡犁花月又西。

    Thái tang tử

    Nhi kim tài đạo đương thời thác,

    Tâm tự thê mê,

    Hồng lệ thâu thùy,

    Mãn nhãn xuân phong bách sự phi.

    Tình tri thử hậu lai vô kế,

    Cưỡng thuyết hoan kỳ.

    Lạc tận lê hoa hựu nguyệt hựu tê.

    Thái tang tử (Người hái dâu) 11

    Mà nay mới biết đương lầm lỡ,

    Thê mê nỗi lòng,

    Rỏ trộm lệ hồng.

    Khắp chốn gió xuân vạn sự không,

    Thật rõ xa rồi không trở lại.

    Thời vui gắng mong,

    Nguyệt xế, hoa lê rụng đến cùng.

    * Trần Duy Tùng 陳維崧 (1625-1682) ở đời Khang Hi, từ hùng tráng, có khi hơi thô, song cũng được vài bài diễm lệ.

    Tới đời Càn Long và Gia Khánh, từ gia xuất hiện rất nhiều, nhưng ít người có tài và đến cuối đời Thanh, loại ấy hoàn toàn suy lạc.

     

    TÓM TẮT

  • Văn học đời Thanh kết thúc các đời trước, từ biền văn, cổ văn đến thơ, phú, tiểu thuyết, loại nào cũng được tôn trọng và cũng có những tác phẩm xuất sắc, nhờ các văn nhân đời Thanh đều có tinh thần sáng tác, độc đáo.
  • Về biền vănTrần Duy Tùng, Ngô Tích KỳUông Trung, người lập ra thể nửa biền nửa tản, vừa đẹp vừa du dương vừa dễ phô diễn tư tưởng.
  • Về cổ vănTiền Khiêm Ích, Chu Di Tôn, Nguỵ Hi, Tăng Quốc Phiên, Lâm Thư. Mỗi nhà có một tác phong riêng, kẻ giỏi nghị luận, người khéo tự sự, người thì chuyển dịch tác phẩm Âu, Mỹ.
  • Thơ có nhiều phái, đại khái nên nhớ:
    - Vương Sĩ Trinh chủ trương thần vận,
    - Viên Mai chủ trương tính linh,
    - Triệu Chấp Tín đề xướng thuyết thanh điệu,
    - Hoàng Cảnh Nhân theo cả Vương lẫn Viên, lời bi đát mà hùng tráng.
  • Từ phục hưng ở đời Thanh, tác phẩm tuy nhiều song kém đời Tống về nội dung.
  • --------------------------------
    1Tám nhà có danh.
    2Ông làm người lãnh trách nhiệm điều khiển công việc soạn bộ Tứ khố toàn thư.
    3Theo người Trung Quốc, Bàn Cổ là thuỷ tổ loài người.
    4Hồng hoang là lúc trời đất mới gây hình.
    5Thần Nông dạy dân làm ruộng, nếm cỏ để làm thuốc chữa bệnh.
    6Phục Hi dạy dân đánh cá và đặt ra bát quái để bói.
    7Hoàng Đế chế ra quần áo, hoá tệ và đặt phép luyện đan, tu tiên. Cả 3 đều là vua đời thượng cổ.
    8Trong sách cổ nói cứ 12 vạn năm thì trời lại già.
    9Tức Phương Sơn dịch.
    10Hay là nói nằm trong ghe, ghe có sợi dây kéo nên dây mới dài 100 trượng?
    11Tên điệu hát.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Còn Một Đêm Nay

    Thanh Nam

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646938]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502932]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4640091]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471816]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341336]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600939]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690104]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2497578]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300897]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010846]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972353]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549055]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470357]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1446046]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204117]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150808]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078918]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062655]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1029043]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026601]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959539]
    25.Quỷ Bảo [921908]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907697]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905360]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877110]
    29.Hắc Nho [852254]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843302]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840154]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756144]
    33.Tru Tiên [747846]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745374]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661996]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622519]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592517]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569470]
    39.Hoàn Hảo [557813]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536857]
    41.Tầm Tần Ký [512149]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456463]
    43.Thiên Đường [452731]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [451040]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439846]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434095]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427586]
    48.Cậu Chó [417352]
    49.If You Are Here [411885]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408330]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm