hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[919] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG III. CỔ VĂN VÀ THƠ ĐỜI MINH

    1. SỬ KÝ

    Sử gia đời Minh thiếu một quan niệm rõ rệt về sử, việc gì cũng chép, bất kỳ lớn nhỏ, thành thử vụn vặt quá, thiếu nhất trí. Vài nhà hơi có giá trị là Vương Thế Trinh 王世貞, Dương Thận 楊慎 và Hồ Ứng Lân 胡應鱗.

     

    2. CỔ VĂN

    Tác giả tuy nhiều mà ít người có tài. Tống Liêm 宋濂, Lưu Cơ 劉基, Phương Hiếu Nhụ 方孝孺, Vương Thủ Nhân, Đường Thuận Chi 唐順之, Vương Thế Trinh, Viên Hoàng Đạo 袁弘道, Quy Hữu Quang 歸有光, Trương Phổ 張溥 được mỗi người ít bài.

    Dưới đây chúng tôi xin dẫn bài Mại cam giả ngôn của Lưu Cơ, bài Sương Lương đình ký của Quy Hữu Quang và bài Ế lữ văn của Vương Thủ Nhân.

    賣柑者言(劉基)

    杭有賣果者,善藏柑,涉寒暑不潰,出之燁然,玉質而金色。置於市,賈十倍,人爭購之。予巿得其一,剖之,如有煙撲口鼻,視其中則乾若敗絮。予怪而問之曰:

    若所巿於人者,將以實籩豆奉祭祀,供賓客乎?將衒外以惑愚瞽乎?甚矣哉為欺也!

    賣柑者笑曰:

    吾業是有年矣,吾賴是以食吾軀。吾售之,人取之,未聞有言,而獨不足於子乎?世之為欺者不寡矣,而獨我也乎?吾子未之思也。今夫佩虎符、坐皋比者,洸洸乎干城之具也,果能授孫,吳之略耶?峩大冠,拖長紳者,昂昂乎廟堂之器也,果能建尹,皋之業耶?盜起而不知禦,民困而不知救,吏姦而不知禁,法斁而不知理,坐糜廩粟而不知恥。觀其坐高堂,騎大馬,醉醇醴而飫肥鮮者,孰不巍巍乎可畏,赫赫乎可象也?又何往而不金玉其外、敗絮其中也哉?今子是之不察,而以察吾柑。

    予默然無以應,退而思其言,類東方生滑稽之流。豈其憤世疾邪者耶?而託於柑以諷耶?

    Mại cam giả ngôn (Lưu Cơ)

    Hàng hữu mại quả giả, thiện tàng cam, thiệp hàn thử bất hội, xuất chi diệp nhiên, ngọc chất nhi kim sắc. Trí ư thị, giá thập bội, nhân tranh cấu chi. Dư thị đắc kỳ nhất, phẩu chi, như hữu yên phác khẩu tị, thị kỳ trung tắc can nhược bại nhứ. Dư quái nhi vấn chi viết:

    - Nhược sở thị ư nhân giả, tương dĩ thật biên đậu phụng tế tự, cung tân khách hồ? Tương huyễn ngoại dĩ hoặc ngu cổ hồ? Thậm hĩ tai vi khi dã!

    Mại cam giả tiếu viết:

    - Ngô nghiệp thị hữu niên hỹ, ngô lại thị dĩ thực ngô khu. Ngô thụ chi, nhân thủ chi, vị văn hữu ngôn, nhi độc bất túc ư tử hồ? Thế chi vi khi giả, bất quả hỹ, nhi độc ngã dã hồ? Ngô tử vị chi tư dã. Kim phu bội hổ phù, tọa cao bì giả, quang quang hồ can thành chi cụ dã, quả năng thụ Tôn, Ngô chi lược da? Nga đại quan, tha trường thân giả, ngang ngang hồ miếu đường chi khí dã, quả năng kiến Doãn, Cao chi nghiệp da? Đạo khởi nhi bất tri ngự, dân khốn nhi bất tri cứu, lại gian nhi bất tri cấm, pháp đố nhi bất tri lý, tọa my lẫm túc nhi bất tri sỉ. Quan kỳ tọa cao đường, kỵ đại mã, túy thuần lễ nhi ứ phì tiên giả, thục bất nguy nguy hồ khả úy, hách hách hồ khả tượng dã? Hựu hà vãng nhi bất kim ngọc kỳ ngoại, bại nhứ kỳ trung dã tai? Kim tử thị chi bất sát, nhi dĩ sát ngô cam.

    Dư mặc nhiên vô dĩ ứng, thối nhi tư kỳ ngôn, loại Đông Phương sinh hoạt kê chi lưu. Khởi kỳ phẫn thế tật tà giả da? Nhi thác ư cam dĩ phúng da?

    Lời người bán cam (Lưu Cơ)

    Tại Hàng Châu có người bán trái cây, khéo giữ cam, qua những thời tiết nóng lạnh mà không thối, lấy ra vẫn đỏ rực, chất như ngọc, sắc như vàng.

    Bày ở chợ giá bán gấp mười, người ta tranh nhau mua. Tôi mua được một trái, lột ra hơi xông vô miệng mũi, nhìn ruột thì thấy khô vụn như vải nát. Tôi lấy làm lạ, hỏi:

    - Anh bán cam cho người là để người ta bày mâm bồng rồi cúng tế hoặc đãi khách khứa hay là để khoe cái vỏ ngoài mà lừa kẻ ngu, kẻ mù? Anh thực là gạt người quá lắm!

    Người bán cam cười đáp:

    - Tôi làm nghề này đã lâu năm, nhờ nó để sống. Tôi bán, người mua chưa hề ai nói gì, chỉ riêng ông là không vừa lòng ư? Ở đời, kẻ lừa gạt người không phải ít, há chỉ riêng tôi? Ông chưa nghĩ đấy. Nay những kẻ đeo ấn cọp, ngồi lên da hổ, hống hách thay, công cụ để giữ nước, nhưng có quả là đã có được mưu lược của Tôn Tẩn, Ngô Khởi 1 không? Đội mũ lớn, đeo giải dài, hiên ngang thay, bảo khí của miếu đường, nhưng có quả dựng được nghiệp như Y Doãn, Cao Dao không? Cướp đấy mà không biết ngăn, dân khốn mà không biết cứu, quan lại gian tà mà không biết cấm, hình phạt huỷ hoại mà không biết sửa, ngồi không ăn tốn lúa trong kho mà không biết nhục. Thấy họ ngồi trên bệ cao, cưỡi ngựa lớn, say rượu ngon, no thịt cá, kẻ nào mà chẳng vòi vọi đáng sợ, hiển hách ra vẻ lắm? Kẻ nào mà chẳng ngoài như ngọc, như vàng mà trong như vải nát? Nay ông không xét họ mà chỉ xét cam của tôi.

    Tôi nín thinh, không biết đáp ra sao, lui về nghĩ lời của người ấy có cái giọng hoạt kê của Đông Phương Sóc 2 . Hay là người ấy phẫn thế ghét tà mà mượn trái cam để phúng thích đó chăng?

    滄浪亭記(歸有光)

    浮圖文瑛,居大雲庵,環水,即蘇子美滄浪亭地也。亟求餘作滄浪亭記,曰:

    昔子美之記,記亭之勝也,請子記吾所以為亭者。

    餘曰:

    昔吳越有國時,廣陵王鎮吳中,治園於子城之西南;其外戚孫承佑,亦治園於其偏。迨淮南納土,此園不廢,蘇子美始建滄浪亭。最後禪者居之,此滄浪亭為大雲庵也。有庵以來二百年,文瑛尋古遺事,復子美之構於荒殘滅沒之餘,此大雲庵為滄浪亭也。

    夫古今之變,朝巿改易;嘗登姑蘇之臺,望五湖之渺茫,群山之蒼翠;太伯、虞仲之所建,闔閭,夫差之所爭,子胥,種,蠡之所經營,今皆無有矣!庵與亭何為者哉!雖然,錢鏐因亂攘竊,保有吳越,國富兵強,垂及四世,諸子姻戚,乘時奢僭,宮館苑囿,極一時之盛;而子美之亭,乃為釋子所欽重如此,可以見士之欲垂名於千載之後,不與其澌然而俱盡者,則有在矣。

    文瑛讀書喜詩,與吾徒游,呼之為滄浪僧雲。

    Sương Lương đình ký (Quy Hữu Quang)

    Phù đồ Văn Anh, cư Đại Vân am, hoàn thủy, tức Tô Tử Mỹ Sương Lương đình địa dã. Khí cầu dư tác Sương Lương đình ký, viết:

    - Tích Tử Mĩ chi ký, ký đình chi thắng dã, thỉnh tử ký ngô sở dĩ vi đình giả.

    Dư viết:

    - Tích Ngô Việt hữu quốc thời, Quảng Lăng Vương trấn Ngô Trung, trị viên ư tử thành chi Tây Nam; kỳ ngoại thích Tôn Thừa Hựu, diệc trị viên ư kỳ thiên. Đãi Hoài Nam nạp thổ, thử viên bất phế; Tô Tử Mỹ thủy kiến Sương Lương đình. Tối hậu thiền giả cư chi, thử Sương Lương đình vi Đại Vân am dã. Hữu am dĩ lai nhị bách niên. Văn Anh tầm cổ di sự, phục Tử Mỹ chi cấu ư hoang tàn diệt một chi dư, thử Đại Vân am vi Sương Lương đình dã.

    Phù cổ kim chi biến, triều thị cải dịch; thường đăng Cô Tô chi đài, vọng Ngũ Hồ chi điểu mang, quần sơn chi thương thúy; Thái Bá, Ngu Trọng chi sở kiến Hạp Lư phù Sai chi sở tranh, Tử Tư, Chủng, Lãi chi sở kinh doanh, kim giai vô hữu hĩ; am dữ đình hà vi giả tai! Tuy nhiên, Tiền Lưu nhân loạn nhương thiết, bảo hữu Ngô Việt, quốc phú binh cường, thùy cập tứ thế, chư tử nhân thích, thừa thời xa tiếm, cung quán uyển hựu, cực nhất thời chi thịnh; nhi Tử Mỹ chi đình nãi vi thích tử sở khâm trọng như thử, khả dĩ kiến sĩ chi dục thùy danh ư thiên tải chi hậu, bất dữ kỳ tư nhiên nhi câu tận giả, tắc hữu tại hỹ.

    Văn Anh độc thư hỷ thi, dữ ngô đồ du, hô chi vi Sương Lương tăng vân.

    Bài ký “Sương Lương đình” (Quy Hữu Quang)

    Hoà thượng Văn Anh ở am Đại Vân, chung quanh là nước, chỗ đó tức là nền cũ Sương Lương đình của Tô Tử Mỹ. Hoà thượng mấy lần cầu tôi viết lại bài ký “Sương Lương đình”, bảo:

    - Xưa, Tư Mỹ chép là chép thắng cảnh của đình, nay xin ông chép cái lẽ sở dĩ tôi dựng đình 3 này.

    Tôi đáp:

    - Xưa, thời Ngô Việt là một nước, Quảng Lăng vương trấn thủ Ngô Trung, lập vườn ở phía Tây Nam thành nhỏ, người họ ngoại của ông là Tôn Thừa Hựu cũng lập vườn ở bên. Đến khi Hoài Nam về nhà Tống, vườn đó vẫn còn; Tô Tử Mỹ mới dựng Sương Lương đình. Sau cùng, một nhà tu hành lại đó ở và Sương Lương đình thành ra Đại Vân am. Từ hồi có am đến nay là hai trăm năm. Vân Anh tìm những di tích thời đó, khôi phục lại công việc kiến trúc của Tử Mỹ ở chỗ hoang tàn mai một còn sót lại và Đại Vân am lại biến thành Sương Lương đình.

    Cổ kim biến hoá, triều đình thành thị đều thay đổi. Tôi từng lên đài Cô Tô ngắm cảnh Ngũ Hồ 4 mù mịt dãy núi xanh biếc; chỗ mà Thái Bá, Ngu Trọng 5 xây dựng, Hạp Lư, Phù Sai 6 tranh giành, Tử Tư, Văn Chủng, Phạm Lãi 7 kinh doanh, nay không còn gì cả, thế thì am với đình có đáng kể chi! Tuy nhiên, Tiền Lưu thừa lúc loạn mà cướp ngôi 8 , giữ đất Ngô Việt, nước giàu, binh mạnh, truyền được bốn đời, con cháu, họ vợ họ ngoại xa xỉ tiếm vị; cung quán, vườn tược cực thịnh một thời mà bị quên bỏ; còn đình của Tử Mỹ được một vị hoà thượng khâm trọng như vậy, thì đủ thấy kẻ sĩ muốn lưu danh muôn thưở, không cùng với thể xác mà mai một, chắc có tại cái gì vậy.

    Văn Anh đọc sách, thích thơ, giao du với bọn tôi, chúng tôi gọi ông là Hoà thượng Sương Lương.

    瘗旅文(王守人)

    維正德四年,秋月三日有吏目雲自京來者,不知其名氏,攜一子一僕,將之任,過龍場,投宿土苗家。予從籬落間望見之,陰雨昏黑,欲就問訊北來事,不果。

    明早,遣人覘之,已行矣。薄午,有人自蜈蚣坡來雲:“一老人死坡下,傍兩人哭之哀。”予曰:“此必吏目死矣。傷哉!”

    薄暮,復有人來雲:“坡下死者二人,傍一人坐哭。”詢其狀,則其子又死矣。

    明日,又有人來雲:“見坡下積屍三焉。”則其僕又死矣。嗚呼!傷哉!

    念其暴骨無主,將二童子持畚鍤往瘞之,二童子有難色然。予曰:“噫!吾與爾猶彼也。”二童閔然涕下,請往。就其傍山麓為三坎,埋之,又以隻雞,飯三盂。嗟吁涕洟而告之曰:

    嗚呼!傷哉!繄何人?繄何人?吾龍場驛丞餘姚王守仁也。吾與爾皆中土之產。吾不知爾郡邑,爾烏乎來為茲山之鬼乎?古者重去其鄉,遊宦不逾千里。吾以竄逐而來此,宜也。爾亦何辜乎?聞爾官吏目耳,俸不能五斗,爾率妻子躬耕可有也,胡為乎以五斗而易此七尺之軀?又不足,而益以爾子與僕乎?嗚呼傷哉!

    爾誠戀茲五斗而來,則宜欣然就道;胡為乎吾昨望見爾容,蹙然蓋不勝其憂者?夫衝冒霜露,扳援崖壁,行萬峰之頂,飢渴勞頓,筋骨疲憊;而又瘴癘侵其外,憂鬱攻其中,其能以無死乎?吾固知爾之必死,然不謂若是其速;又不謂爾子爾僕亦遽然奄忽也。皆爾自取,謂之何哉﹗

    吾念爾三骨之無依而來瘞耳,乃使吾有無窮之愴也。嗚呼!傷哉!縱不爾瘞,幽崖之狐成群,陰壑之虺如車輪,亦必能葬爾於腹,不致久暴露爾。爾既已無知,然吾何能為心乎?

    自吾去父母鄉國而來此三年矣,歷瘴毒而苟能自全,以吾未嘗一日之戚戚也。今悲傷若此,是吾為爾者重,而自為者輕也。吾不宜復為爾悲矣。吾為爾歌,爾聽之。

    歌曰:

    連峰際天兮,飛鳥不通。

    遊子懷鄉兮,莫知西東。

    莫知西東兮,維天則同。

    異域殊方兮,環海之中。

    達觀隨寓兮,莫必予宮。

    魂兮,魂兮,無悲以恫!

    又歌以慰之曰:

    與爾皆鄉土之離兮,

    蠻之人言語不相知兮,

    性命不可期,

    吾苟死於茲兮,

    率爾子僕,來從予兮,

    吾與爾遨以嬉兮,

    驂紫彪而乘文螭兮,

    登望故鄉而噓唏兮,

    吾苟獲生歸兮,

    爾子爾僕尚爾隨兮,

    道傍之塚纍纍兮,

    多中土之流離兮,

    相與呼嘯而徘徊兮,

    餐風飲露無爾飢兮,

    朝友麋鹿,暮猿與棲兮,

    爾安爾居兮,

    無為厲於茲墟兮。

    Ế lữ văn (Vương Thủ Nhân)

    Duy Chính Đức tứ niên, thu nguyệt tam nhật, hữu lại mục vân tự kinh lai giả, bất tri kỳ danh thị, huề nhất tử nhất bộc, tương chi nhiệm, quá Long Trường, đầu túc thổ Miêu gia. Dư tòng ly lạc gian vọng kiến chi, âm vũ hôn hắc, dục tựu vấn tấn bắc lai sự, bất quả.

    Minh tảo, khiển nhân siêm chi, dĩ hành hỹ. Bạc ngọ hữu nhân tự Ngô công pha lai vân: “Nhất lão nhân tử pha hạ, bàng lưỡng nhân khốc chi ai”. Dư viết: “Thử tất lại mục tử hỹ. Thương tai!”

    Bạc mộ, phục hữu nhân lai vân: “Pha hạ tử giả nhị nhân, bàng nhất nhân toạ khốc”. Tuân kỳ trạng, tắc kỳ tử hựu tử hỹ.

    Minh nhật, hựu hữu nhân lai vân: “Kiến pha hạ tích thi tam yên”. Tắc kỳ bộc hựu tử hỹ. Ô hô! Thương tai!

    Niệm kỳ bộc cốt vô chủ, tương nhị đồng tử trì bản sáp vãng ế chi. Nhị đồng tử hữu nan sắc nhiên. Dư viết: “Y, Ngô dữ nhĩ do bỉ dã. Nhị đồng mẫn nhiên thế hạ, thỉnh vãng. Tựu kỳ bàng sơn lộc vi tam khảm, mai chi, hựu dĩ chích kê, phạn tam vu. Ta hu thế di nhi cáo chi viết:

    Ô hô! Thương tai! Ê hà nhân? Ê hà nhân? Ngô Long Trường dịch thừa Dư Diêu Vương Thủ Nhân dã. Ngô dữ nhĩ giai trung thổ chi sản. Ngô bất tri nhĩ quận ấp, Nhĩ ô hồ lai vi tư sơn chi quỷ hồ? Cổ giả trọng khứ kỳ hương, du hoạn bất du thiên lý. Ngô dĩ thoán trục nhi lai thử, nghi dã, nhĩ diệc hà cô hồ? Văn nhĩ quan lại mục nhĩ, bổng bất năng ngũ đẩu, nhĩ suất thê tử cung canh khả hữu dã, hồ vi hồ dĩ ngũ đẩu nhi dịch thử thất xích chi khu? Hựu bất túc, nhi ích dĩ nhĩ tử dữ bộc hồ? Ô hô! Thương tai!

    Nhĩ thành luyến tư ngũ đẩu nhi lai, tắc nghi hân nhiên tựu đạo, hồ vi hồ ngô tạc vọng kiến nhĩ dung, xúc nhiên cái bất thắng kỳ ưu giả? Phù sung mạo sương lộ, ban viên nhai bích, hành vạn phong chi đính, cơ khát lao đốn, cân cốt bì bại; nhi hựu chướng lệ xâm kỳ ngoại, ưu uất công kỳ trung, kỳ năng dĩ vô tử hồ? Ngô cố tri nhĩ chi tất tử, nhiên bất vị nhược thị kỳ tốc, hựu bất vị nhĩ tử, nhĩ bộc diệc cự nhiên yểm hốt dã. Giai nhĩ tự thủ, vị chi hà tai!

    Ngô niệm nhĩ tam cốt chi vô y nhi lai ế nhĩ, nãi sử ngô hữu vô cùng chi sảng dã. Ô hô! Thương tai! Túng bất nhĩ ế, u nhai chi hồ thành quần, âm hác chi hủy như xa luân, diệc tất năng táng nhĩ ư phúc, bất trí cửu bạo lộ nhĩ. Nhĩ ký dĩ vô tri, nhiên ngô hà năng vi tâm hồ?

    Tự ngô khứ phụ mẫu hương quốc nhi lai thử tam niên hỹ, lịch chướng độc nhi cẩu năng tự toàn, dĩ ngô vị thường nhất nhật chi thích thích dã. Kim bi thương nhược thử, thị ngô vi nhĩ giả trọng, nhi tự vi giả khinh dã. Ngô bất nghi phục vi nhĩ bi hỹ. Ngô vi nhĩ ca, nhĩ thính chi.

    Ca viết:

    Liên phong tế thiên hề, phi điểu bất thông.

    Du tử hoài hương hề, mạc tri tây đông.

    Mạc tri tây đông hề, duy thiên tắc đồng.

    Dị vực thù phương hề, hoàn hải chi trung.

    Đạt quan tùy ngụ hề, mạc tất dư cung.

    Hồn hề, hồn hề, vô bi dĩ đồng!

    Hựu ca dĩ úy chi viết:

    Dữ nhĩ giai hương thổ chi ly hề,

    Man chi nhân, ngôn ngữ bất tương tri hề,

    Tính mệnh bất khả kỳ.

    Ngô cẩu tử ư tư hề,

    Suất nhĩ tử bộc, lai tòng dư hề,

    Ngô dữ nhĩ ngao dĩ hi hề,

    Tham tử bưu nhi thừa văn ly hề,

    Đăng vọng cố hương nhi hư hy hề,

    Ngô cẩu hoạch sanh quy hề,

    Nhĩ tử nhĩ bộc thượng nhĩ tùy hề,

    Đạo bàng chi trủng luy luy hề,

    Đa trung thổ chi lưu ly hề,

    Tương dữ hô khiếu nhi bồi hồi hề,

    Sôn phong ẩm lộ, vô nhĩ ky hề,

    Triêu hữu my lộc, mộ viên dữ thê hề,

    Nhĩ an nhĩ cư hề,

    Vô vi lệ ư tư khư hề.

    Bài văn chôn người qua đường (Vương Thủ Nhân)

    Niên hiệu Chính Đức năm thứ 4, tháng 8 9 , ngày mùng 3 có người lại mục bảo là từ kinh lại, không rõ tên họ là gì, đát một người con và một người tớ, đi tới chỗ nhậm chức, qua đất Long Trường 10 vào trọ nhà thổ dân giống Miêu. Tôi nhìn thấy qua mắt cáo tấm liếp, lúc ấy mưa mù mù, trời mịt mịt, muốn qua hỏi tin tức phương bắc mà không được.

    Sớm hôm sau cho người qua ngó xem thì người lại mục ấy đã đi rồi. Gần trưa có người ở gò Con Rết lại nói: “Có một người già chết ở chân núi, hai người khóc thảm thiết ở bên”. Tôi nói: “Chắc là người lại mục đã chết. Thương thay!”

    Đến gần tối lại có người tới nói: “Dưới chân núi có hai người chết, ở bên là một người khóc”. Hỏi hình dáng thì ra con người lại mục lại chết rồi.

    Sáng hôm sau lại có người tới bảo: “Ở chân núi có ba thây ma”. Thì ra người tớ lại chết nữa. Ô hô! Thương thay!

    Nghĩ ba kẻ đó xương phơi không ai thu táng, tôi bảo hai đứa đồng tử cầm sọt, cuốc lại chôn cho. Hai đứa có vẻ trù trừ, khó khăn. Tôi nói: “Ôi! Ta với các con tình cảnh không khác chi họ11 . Hai đứa mũi lòng rơi lệ xin đi. Đến chỗ chân núi ở gần đó, đào ba huyệt chôn họ rồi tôi lại cúng một con gà, ba thố cơm. Tôi than thở, rơi lệ sụt sùi mà cáo rằng:

    “Ô hô! Thương thay! Ai? Ai đấy? Tôi là một viên cai trạm đất Long Trường, quê ở huyện Dư Diêu, tên là Vương Thủ Nhân đây. Tôi với các chú đều sinh ở Trung Nguyên 12 , Tôi không biết quê quán chú ở đâu. Chú vì lẽ gì mà lại làm quỷ ở đất này vậy? Cổ nhân coi trọng sự ly hương, làm quan không xa quá ngàn dậm. Tôi bị biếm trích nên lại đây là phải rồi, nhưng chú thì tội tình gì? Nghe nói chú làm quan chỉ giữ chức lại mục, lương không được năm đấu, chú bảo vợ con cày cấy cũng có được số ấy. Cớ chi vì năm đấu lương mà phải đổi tấm thân bảy thước? Đổi mạng chú chưa đủ sao, lại đổi thêm con và tớ nữa? Ô hô! Thương thay!

    Nếu chú quả tiếc năm đấu lương mà lại đây thì tất vui vẻ lên đường, chớ chi hôm trước tôi thấy chú dong mạo âu sầu như chịu không thấu nỗi bi thương vậy? Xông pha tuyết sương, vịn đá leo đèo, qua vạn ngọn núi, đói khát lao khổ, khốn đốn, gân cốt mỏi mệt, lại thêm chướng khí dịch lệ lấn ở ngoài, u uất đục ở trong, như vậy thoát sao được cái chết? Tôi vốn biết chú sẽ chết, nhưng không ngờ chết chóng như vậy. Tai nạn ấy đều do chú chuốt lấy, biết nói làm sao?

    Tôi nghĩ ba đống xương của bôn chú không chỗ nhờ cậy, nên lại chôn cho, khiến lòng tôi thê thảm vô cùng. Ô hô! Thương thay! Nếu tôi không chôn chú thì hồ ly ở chỗ núi sâu này họp thành đàn, rắn rết lớn như bánh xe ở trong hang tối tăm nơi đây tất cũng táng chú vào bụng chúng, xương chú không đến nỗi phơi lâu ngoài trời đâu. Chú đã vô tri rồi, nhưng lòng tôi nào nở bỏ qua được?

    Tôi rời quê cha đất tổ tới đây ba năm rồi, chịu chướng lệ mà vẫn còn sống là nhờ tôi chưa từng lo buồn đến một ngày. Nay tôi sầu bi thế này là lòng tôi nghĩ đến chú thì nặng mà nghĩ đến tôi thì nhẹ đấy, tôi không còn vì chú mà buồn bã nữa đâu. Tôi vì chú mà ca đây, xin chú nghe.

    Ca rằng:

    Núi liền nhau liên tiếp với trời hề, chim chẳng bay thẳng 13 ,

    Du tử nhớ quê hề, chẳng biết tây đông.

    Chẳng biết tây đông hề, duy có trời là cùng chung

    Đất lạ phương xa hề, bốn bể bao trong.

    Tuỳ ngộ nhi an hề, hà tất cố hương.

    Hồn hỡi! Hồn hỡi! Đừng đau xót lòng!

    Rồi lại ca an ủi rằng:

    Tôi với chú đều là kẻ lưu ly hề,

    Chẳng hiểu tiếng nói man di hề,

    Sống chết không định kỳ,

    Tôi phỏng chết ở nơi ni hề,

    Dẫu con và tớ chú theo đi hề,

    Tôi với chú vui vẻ ngao du hề,

    Cưỡi con ngựa vằn tía cùng con văn ly hề,

    Lên cao nhìn về cố hương mà thổn thức hề,

    Nếu tôi được sống mà về quê hề,

    Cha con thầy trò chú cũng theo về hề,

    Bên đồng mồ mã liền liền hề,

    Phần nhiều là của người Trung Hoa xa quê hề,

    Cùng nhau kêu gọi mà bồi hồi hề,

    Ăn gió uống sương, bọn chú no nê hề,

    Sáng bạn với hươu nai, tối cùng vượn ngủ nghê hề,

    Bọn chú nhà cửa yên bề hề,

    Đừng làm quỷ ở nơi ni hề.

     

    3. THƠ

    a. Minh sơ.

    Trong thời kỳ này thi sĩ tuy mô phỏng cổ nhân mà còn biết biến hoá như Tống Liêm 宋濂, Phương Hiếu Nhụ 方孝孺, Lưu Cơ 劉基, Cao Khải 高啟…

    Tống Liêm rất siêng học, nổi tiếng nhất về cổ văn, có giọng ung dung hồn nhiên.

    Lưu Cơ thì lời hào phóng hùng hồn.

    Còn Phương Hiếu Nhụ có khí tiết, được người đương thời rất trọng. Khi Yên Lệ Vương con thứ ba vua Thái Tổ muốn cướp ngôi của cháu là Huệ Đế, một vị hoà thượng khuyên: “Đến kinh đô xin đừng giết Phương Hiếu Nhụ; nếu giết thì giống người giữ đạo thánh hiền sẽ tuyệt mất”.

    Yên Vương cướp ngôi rồi, sai Phương Hiếu Nhụ thảo chiếu lên ngôi, Nhụ không chịu. Yên Vương doạ giết cả 9 họ. Nhụ đáp: “Dẫu giết 10 họ cũng chẳng sao”. Yên Vương dí bút vào tay Nhụ, Nhụ viết lớn 4 chữ: “Yên tặc thoán vị” (giặc Yên cướp ngôi). Sau đó, 9 họ của Nhụ bị chu vi.

    Thơ của Nhụ có giọng hùng tráng như thơ Tô Đông Pha, song không xuất sắc.

    Cao Khải lời trong trẻo, diễm lệ mà tự nhiên, như bài Mai hoa:

    梅花

    瓊枝只合在瑤臺,

    誰向江南處處栽?

    雪滿山中高士臥,

    月明林下美人來。

    寒依疏影蕭蕭竹,

    春掩殘香漠漠苔。

    自去何郎無好詠,

    東風愁寂幾回開。

    Mai hoa

    Quỳnh chi chỉ hợp tại Dao đài,

    Thuỳ hướng Giang Nam xứ xứ tài?

    Tuyết mãn sơn trung cao sĩ ngoạ,

    Nguyệt minh lâm hạ mỹ nhân lai.

    Hàn y sơ ảnh tiêu tiêu trúc,

    Xuân yểm tàn hương mạc mạc đài.

    Tự khứ Hà lang, vô hảo vịnh,

    Đông phong sầu tịch kỷ hồi khai?

    Hoa mai

    Cây quỳnh đáng ở chỗ tiên đài,

    Trồng khắp Giang Nam bởi sức ai?

    Cao sĩ nằm coi khi tuyết phủ,

    Mỹ nhân đi ngắm lúc trăng soi.

    Trúc nương bóng mát hiu hiu thổi,

    Rêu phủ hương tàn lớp lớp rơi.

    Một vắng chàng Hà 14 đề vịnh kém,

    Ngày xuân hoa nở mấy phen rồi?

    Bài Sơn trung biệt hữu có giọng cao khiết của phái tự nhiên mà tình, cảnh đủ cả:

    山中別友

    一上香臺看落暉,

    沙村孤樹晚依依。

    老僧不出青山寺,

    只有鐘聲送客歸。

    Sơn trung biệt hữu

    Nhất thượng hương đài khán lạc huy,

    Sa thôn cô thụ vãn y y.

    Lão tăng bất xuất thanh sơn tự,

    Chỉ hữu chung thanh tống khách quy.

    Trong núi biệt bạn

    Lên chốn đài hương ngắm cảnh tà,

    Xóm làng cây cối bóng la đà.

    Sư già không thể lìa sơn tự,

    Chỉ gióng hồi chuông để tiễn ta.

    Trong bộ Tứ khố toàn thư chỉ yếu có đoạn phê bình ông: “Ông bắt chước Hán, Nguỵ thì như Hán, Nguỵ; bắt chước Lục Triều thì như Lục Triều; bắt chước Đường thì như Đường; bắt chước Tống thì như Tống; những sở trường của cổ nhân ông đều có đủ”.

    Đó là sở trường mà cũng là sở đoản của ông vậy.

    b. Phái phục cổ.

    Sau Cao Khải, thi nhân chỉ biết mô phỏng một cách nô lệ mà không biết biến hoá. Những nhà có danh là Lý Đông Dương 李東陽, Lý Mộng Dương 李夢陽, Hà Cảnh Minh 何景明. Họ đều phục cổ mà lại chỉ trích lẫn nhau. Họ chủ trương:

    - lời phải cổ, nhã

    - ý phải hùng

    - phải dùng rất nhiều thực tự (tức danh từ, động từ, tĩnh từ).

    Họ lấy những câu sau này của Đỗ Phủ làm tiêu chuẫn, những câu chắc nịch, nghe rất kêu:

    五更鼓角聲悲壯,

    三峽星河影動搖。

    (Ngũ canh cổ dác thanh bi tráng,

    Tam giáp tinh hà ảnh động dao)

    Năm canh còi trống nghe bi tráng

    Ba núi tinh hà 15 bóng động lay.

    萬里悲秋常作客,

    百年多病獨登臺。

    (Vạn lý bi thu thường tác khách,

    Bách niên đa bệnh độc đăng đài)

    Muôn dặm thương con quen ở khách,

    Trăm năm nhiều bệnh một lên đài.

    Trong phái họ, Vương Thế TrinhLý Phàn Long rất có danh vọng một thời. Cả hai đều sống ở đời Gia Tĩnh (1522-1566).

    Tính tình của thật quái dị. Ông cất một ngôi lầu gọi là Bạch Vân, có 3 từng. Từng cao nhất là chỗ ông ngâm vịnh, từng giữa để người ái thiếp ở, từng dưới để tiếp khách. Lầu xây ở giữa mặt hồ. Hễ khách lạ tới thăm thì ông thử tài khách đã, bắt làm một bài thơ. Nếu là hợp cách – cách nô lệ cổ nhân của ông – thì ông chèo thuyền ra đón; bằng không thì ông nói thẳng vào mặt: “Về đọc sách nữa đi, đừng bắt ta uổng công tiếp đón”.

    Ông suốt ngày đêm đọc cổ thư, trên tường chỗ nào cũng dán đầy kiệt tác của cổ nhân. Lúc nào ông cao hứng muốn làm thơ thì ông triệt thang, không cho ai lên. Khổ tâm với thơ như vậy mà thơ cũng chẳng hay gì.

    Vương là bạn thân của Lý. Từ khi Lý chết, Vương lên thay, lãnh chức minh chủ trên thi đàn suốt 20 năm. Thi nhân nào cũng trọng uy danh của ông; từ xưa chưa ai được người đương thời hâm mộ như ông. Nhưng đời sau thì chẳng ai thích thơ của ông cả.

    c. Phái lãng mạng.

    Gần cuối đời Minh, phái lãng mạn xuất hiện, do Đường Dần 唐寅, Chúc Doãn Minh, Dương Thận dẫn đầu.

    - Chúc Doãn Minh 祝允明 mê tửu sắc, đổ bác, hễ có tiền là họp bạn nhậu cho hết.

    - Dương Thận 陽慎 còn quá tệ, đồi phế đến như cuồng, thường thoa phấn, tô son, ăn bận thành một ả liễu hoàn cầm giỏ đi hái hoa, cùng với các kỹ nữ nhởn nhơ ngoài phố, say sưa ca hát. Thơ ông rất đẹp song toàn là ngâm hoa vịnh nguyệt, nội dung kém lắm, như khúc hát dưới đây:

    明月中天,

    照見長江萬里船。

    月光如水,

    江水無波,

    色與天連。

    垂楊兩岸淨無煙,

    沙禽幾處驚相喚。

    絲纜停牽,

    乘風直上銀河畔。

    Minh nguyệt trung thiên,

    Chiếu kiến trường giang vạn lý thuyền.

    Nguyệt quang thuỷ,

    Giang thuỷ vô ba,

    Sắc dữ thiên liên.

    Thuỳ dương lưỡng ngạn tĩnh vô yên,

    Sa cầm kỷ xứ kinh tương hoán.

    Ty lãm đình khiên,

    Thừa phong trực thượng Ngân hà bạn.

    Trăng tỏ trời yên,

    Chiếu thẳng tràng giang vạn dặm thuyền.

    Trăng sáng như nước,

    Nước lặng như tờ,

    Sóng với trời liền.

    Đôi bờ không khói, liễu buông im.

    Chim bãi mấy nơi kêu kinh động.

    Ngừng kéo dây tơ,

    Gió đưa lên thẳng bến Ngân đặng.

     

    TÓM TẮT

    1. Sử gia đời Minh ghi việc vụn vặt quá và không nhất tri. Vương Thế Trinh, Dương Thận, Hồ Ứng Lâm gọi là hơi có tài.

    2. Cổ văn cũng ít bài xuất sắc, kém xa đời Đường và Tống. Tống Liêm. Lưu Cơ, Phương Hiếu Nhụ, Vương Thủ Nhân, Đường Thuận Chi, Vương Thế Trinh, Viên Hoàng Đạo, Quy Hữu Quang là những nhà có nhiều danh đương thời.

    3. Thơ chia làm 3 thời kỳ:
    a. Minh sơ, thi sĩ tuy mô phỏng cổ nhân mà còn có ít nhiều đặc sắc, biết biến hoá, như Tống Liêm, Lưu Cơ, Phương Hiếu Nhụ. Đa tài nhất là Cao Khải.
    b. Khoảng giữa đời Minh, bọn phục cổ xuất hiện, chuyên nô lệ cổ nhân, chủ trương:
    - lời phải cổ, nhã,
    - ý phải hùng,
    - phải dùng rất nhiều thực tự.
    Lý Phàn LongVương Thế Trinh thay nhau làm minh chủ trên thi đàn ở thời Gia Tĩnh.
    c. Gần cuối đời Minh, nổi lên phong trào lãng mạn. Thi nhân chuyên ngân hoa vịnh nguyệt, như Đường Dần, Chúc Doãn Minh, Dương Thận.
    Họ hầu hết đều truỵ lạc, bất chấp dư luận, lễ nghi.

    --------------------------------
    1Hai danh tướng thời xưa.
    2Một người có tài hoạt kê, phúng thích ở đời Hán.
    3Nhà nhỏ để nghỉ mát.
    4Cô Tô và Ngũ Hồ là những thắng cảnh có rất nhiều cổ tích.
    5Danh nhân đời Chu ở miền đó.
    6Phù Sai là vua nước Ngô, Hạp Lư là vua nước Việt.
    7Tướng của Hạp Lư,
    8Cuối đời Đường, Tiền Lưu làm chức tiết độ sứ, binh quyền rất lớn. Khi Đường mất nước Tiền Lưu được Lương Thái tổ phong làm Ngô Việt quốc vương.
    9Có sách chú thích là tháng 7. Trong nguyên văn chỉ viết là "Tháng mùa thu", vậy chú thích ra sao cũng được.
    10Tên đất ở Quý Châu.
    11Hồi đó ông vì trực gián bị đày đến Long Trường, một miền hoang vu mọi rợ, làm chức cai trạm coi ngựa trạm đưa thư. Lúc mới tới ông phải ở chui rúc trong một hang đá; có hồi ba người đầy tớ đi theo ông bị sốt rét ông phải hầu hạ họ. Ông rán giữ tinh thần vui vẻ để khỏi đau ốm và tìm ra được thuyết vật lý tại lòng ta, xướng lên thuyết tri hành hợp nhất.
    12Thời ấy đất Long Trường tuy thuộc nhà Minh mà còn bị coi là đất man di.
    13Bay qua được.
    14Tên một thi sĩ Vịnh mai rất hay.
    15Là các vì sao và Ngân hà.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Y Sĩ Tiền Tuyến

    Trang Châu

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646694]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502557]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639745]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471324]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340935]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600551]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689862]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493491]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300459]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010521]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972335]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548914]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470038]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445738]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204071]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150637]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078720]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062566]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028846]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026462]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959449]
    25.Quỷ Bảo [921726]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907586]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905329]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877036]
    29.Hắc Nho [852174]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843176]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840070]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756028]
    33.Tru Tiên [747774]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745214]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661913]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622435]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592494]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569368]
    39.Hoàn Hảo [557785]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536791]
    41.Tầm Tần Ký [511989]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456256]
    43.Thiên Đường [452701]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450877]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439789]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434019]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427435]
    48.Cậu Chó [417258]
    49.If You Are Here [411857]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408222]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm