hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[910] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    PHẦN THỨ NĂM

    VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH


    CHƯƠNG I. VĂN HỌC ĐỜI NGUYÊN (1234-1368) 1

    1. ĐỜI NGUYÊN

    Diệt nhà Tống rồi, Nguyên Thế Tông Hốt Tất Liệt đóng đô ở Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), lập nên một đế quốc mênh mông nhất thế giới từ xưa đến nay, gồm gần hết châu Á và nửa châu Âu.

    Dân tộc Mông Cổ vốn dã man, chỉ nhờ võ lực mà thắng, không được các dân tộc khác phục. Những hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyên lại quá kiêu căng, nghi kỵ không theo văn hóa Trung Hoa mà cũng không dùng nhân tài Trung Hoa, đàn áp họ một cách tàn khốc, bắt bỏ y phục cùng cổ tục của họ 2 , nên các anh hùng noi gương Văn Thiên Tường nổi lên khắp nơi, thành thử chinh chiến liên miên, quân phí rất nặng, tài chính khốn đốn 3 .

    Lại thêm đến đời vua Thế Tông, xảy ra việc tranh ngôi, các quan thì tham tàn, mưu đồ tư lợi, sách nhiễu nhân dân; đời vua Thuận Đế sông Hoàng Hà tràn ngập trong nước đói kém, trộm cướp rất nhiều. Vua nhà Nguyên lúc đó đã ít tài, còn nhiễm thói uỷ mị xa hoa, không khác chi vua La Mã thời cổ mà đế quốc rộng quá, không sao giữ nổi, nên tan rã mau.

    Chu Nguyên Chương, vị anh hùng áo vải, phất cờ khởi nghĩa, chẳng bao lâu diệt được quân Nguyên, lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Minh.

     

    2. VĂN TRÀO ĐỜI NGUYÊN

    Trong đời Nguyên, khoa cử bị bãi bỏ một thời gian lâu và nhà Nho bị khinh bỉ quá lắm, chỉ hơn bọn ăn mày. Văn nhân, thi sĩ uất hận, mượn văn để thổ lộ nỗi lòng bi thống, hoặc phúng thích kẻ tàn bạo. Họ không viết để cầu danh lợi nên lời rất thành thực.

    Nền cựu học của họ bị khinh miệt và họ lại bị nghi kỵ, họ bỏ khu vực thi, phú, từ mà chuyên viết tuồng. Lối này vừa giúp họ dễ phát biểu những tư tưởng, ước vọng thầm kín, vừa có ảnh hưởng lớn đến dân gian, có thể là một lợi khí để chống kẻ thắng họ.

    Tóm lại, đặc điểm của văn học đời Nguyên là tuồng phát triển mạnh mẽ, văn nhân nào cũng có giọng thành thực, nồng nàn, cũng hoài bão sự khôi phục giang sơn. Dưới đây chúng tôi xét qua các loại văn đời Nguyên và chú trọng nhất đến lối tuồng.

     

    3. LOẠI VĂN, THƠ ĐỜI NGUYÊN

    a. SỬ KÝ. Không được một bộ nào có giá trị. Bộ Nguyên sử 元史 nhiều sai lầm, thiếu sót và văn rất kém.

    b. CỔ VĂN. Tứ kiệt (4 tác giả trội nhất) đời Nguyên chỉ mô phỏng Âu Dương Tu và Tăng Củng mà thiếu tài, không đáng cho ta nhớ tên.

    c. THI CA. Có tứ đại gia, lời khá đẹp, tình khá nồng, song thiếu phần đặc sắc.

    Về loại TỪ thì có một thể gọi là tán khúc hơi thịnh. Từ gia chỉ ca tụng thú điền viên, sơn thuỷ. Họ chán nản hết thảy, từ danh đến lợi, những mong ước được làm “yên hà trạng nguyên” hoặc “giang hồ tuý tiên”.

    d. Cuối đời Nguyên TIỂU THUYẾT viết bằng bạch thoại bắt đầu thịnh và qua đời Minh mới phát triển mạnh, nên chúng tôi để đến chương sau sẽ xét.

     

    4. TUỒNG

    a. Sự phát triển của tuồng đời Nguyên:

    Tinh hoa văn học đời Nguyên là tuồng. Tuồng đời Nguyên cũng có cái địa vị của từ đời Tống, nhờ những nguyên nhân sau đây:

    - Văn nhân và dân chúng bị áp bức quá, không dám thố lộ nỗi lòng uất hận của họ trong văn thơ hoặc câu chuyện, phải mượn tuồng để phát biểu nó. Nghiến răng nguyền rủa Tần Cối (tên nịnh thần và Hán gian đời Tống), tức là nguyền rủa kẻ bán nước đương thời; vỗ tay hoan nghênh Nhạc Phi (một nguyên suý tận trung ở đời Tống) tức là hoan nghênh những vị anh hùng nào muốn vì họ rửa cái nhục vong quốc.

    - Văn nhân không thể dùng khoa cử, thi, phú để hiển danh, đem hết tài năng ra soạn tuồng. Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc mà họ cách biệt hẳn với nhà cầm quyền (vì các chức quan trọng đều do người Mông Cổ giữ) họ quay về sống với dân chúng, chịu cảnh nhục chung với dân chúng và sáng tác cho dân chúng. Mà dân chúng ở bất kỳ nước nào, thời đại nào, cũng thích tiểu thuyết và hí kịch.

    b. Có 5 loại tuồng:

    - Tuồng diễn những vụ xử án công bằng. Dưới ách ngoại bang, dân Trung Hoa chịu nhiều nỗi oan ức. Quan lại Mông Cổ và giáo đồ đạo Lạt Ma (một nhánh của Phật giáo, thịnh ở Tây Tạng), nhân được vua Nguyện trọng dụng, sinh ra hung bạo, tàn ác, hiếp đáp, bốc lột nhân dân, công lý mất hẳn mà dân đen không biết kêu ca vào đâu, chỉ nuôi hy vọng gặp được những vị quan thanh liêm, công bằng như Bao Công và Trương Đỉnh để họ thân oan và rửa nhục.

    Những tuồng Hồ điệp mộng 蝴蝶夢, Đậu Nga oan 竇娥寃, Lỗ Trai lang 鲁齋郞 của Quan Hán Khanh 關漢卿 thuộc loại ấy, vừa tả cảnh xử án của Bao Công, vừa tả nỗi bất bình của dân chúng.

    - Tuồng nghĩa hiệp. Gặp được một vị quan thanh chính thì nỗi oan tuy rửa được, song chậm quá vì kẻ hàm oan thường chết đã lâu rồi sự thực mới phát giác, nên người ta mong gặp những tay nghĩa hiệp để nhờ họ phục cừu cho mau. Tuồng Tam hổ hạ sơn 三虎下山 (không rõ của ai) và Phong tuyết khốc hàn đình 風雪酷寒亭 của Dương Hiển Chi 楊顯之 ở trong loại ấy.

    - Tuồng nhân quả. Khi không gặp những quan công bằng cùng những bực nghĩa sĩ thì chỉ còn cách nuốt hận và mượn thuyết quả báo của nhà Phật để tự an ủi mình và cảnh cáo kẻ khác. Tư tưởng đó được phát biểu trong những tuồng Thần nô nhi 神奴兒, Lão sinh nhi 老生兒.

    - Tuồng thần tiên. Một số người thấy xã hội ảm đạm quá mà thuyết nhân quả thì mơ hồ, sinh ra chán đời, đi tìm đạo tiên, mượn tiếng chim kêu vượn hót để quên nỗi đau lòng, nhục nhã. Họ kịch liệt hoan nghênh những tuồng Trần Đoàn cao ngoạ 陳摶高臥, Hoàn lương mộng 皇梁夢, Thành nam liễu 城南柳, Trúc diệp chu 竹葉舟…

    Họ mong được làm một đạo sĩ ở trong một thảo lư, bạn với thanh phong, minh nguyệt, không biết có vua, có nước, có Hán, có Tần, coi phú quí trong nhân gian như phù vân ở trước mắt.

    - Tuồng luyến ái. Nhân quả là mơ hồ mà thần tiên cũng là ảo vọng, kiếp sau chắc có gì mà Đào Nguyên dễ gì gặp, chi bằng trầm tuý bên cạnh mỹ nhân, nhìn vẻ ngọc, nghe tiếng ca, đánh đắm nỗi sầu trong ly rượu, đó mới thực là cảnh tiên, cảnh tiên trong cõi tục.

    Những tuồng diễn tư tưởng lãng mạn ấy rất nhiều, như Bái nguyệt đình 拜月亭, Ngọc kính đài 玉鏡堂, Phong hoa tuyết nguyệt 風花雪月, Ngọc xuân đường 玉春堂. Nổi danh nhất là Tây Tương ký 西廂記.

    Song dù vui say với thanh với sắc, họ cũng có lúc không quên hẳn được nỗi thống khổ vì quốc phá gia vong, nên cả trong tuồng luyến ái, họ cũng tả hiện cảnh của xã hội. Tuồng Hán cung thu 漢宮秋 kể tình của Minh Phi với Hán Nguyên Đế, tuồng Ngô đồng vũ 梧桐雨 kể tình của Dương Quí Phi với Đường Minh Hoàng đều có giọng lâm ly khi tả cảnh đồ thán của vua, quan và dân chúng hồi gặp loạn.

    c. Ba thời kỳ của tuồng đời Nguyên:

    Tuồng đời Nguyên tấn triển theo ba thời kỳ:

    - Thời kỳ Mông Cổ (1234-1276) là thời kỳ thịnh nhất. Thiên tài xuất hiện rất nhiều, có tới 3, 4 chục tác giả mà nổi danh nhất là Quan Hán Khanh, Vương Thục Phủ, Bạch PhátMã Trí Viễn.

    * QUAN HÁN KHANH 關漢卿 soạn được 63 tuồng, nay chỉ còn 13. Hai tuồng Đậu Nga oanCứu phong trần 救風塵 rất được truyền tụng. Tuồng trên kể truyện nàng Đậu Nga bị giết rồi thì trời tự nhiên mưa tuyết để minh oan cho nàng. Tuồng dưới là một tuồng nghĩa hiệp, kết cấu và miêu tả khéo.

    Hứa Văn Tĩnh đời Minh ví tuồng của ông với bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, một tác giả đời Thanh so sánh nó với thơ Đường. Cả hai đều nhận rằng nó có địa vị rất lớn trong văn học Trung Hoa.

    * VƯƠNG THỰC PHỦ 王實甫 soạn 14 bộ mà Tây Tương ký là một tác phẩm bất hủ phỏng theo cuốn Hội chân ký của Nguyên Chẩn đời Đường.

    Tuồng kể truyện một quả phụ quyền quí cùng với một cô con gái rất đẹp tên là Thôi Oanh Oanh ký ngụ ở chùa Phổ Cứu. Một thư sinh, Trương Quân Thuỵ lên kinh thi, giữa đường vào chơi chùa, thấy nàng Oanh Oanh, đem lòng mê, xin ở nhà mái tây chùa, tìm cách gần gũi giai nhân. Một tướng giặc vây chùa để cướp Oanh Oanh. Bà mẹ Oanh Oanh hứa ai cứu được nhà mình thì gả con gái cho. Trương sinh viết thư cho một bạn học cũ làm trấn thủ miền đó đem binh lại bắt giặc. Tai nạn qua rồi, bà mẹ Oanh Oanh nuốt lời hứa, chỉ bằng lòng cho hai người kết làm anh em. Trương bực bội và buồn rầu, sinh ốm nặng, nhờ Hồng Nương, đầy tớ của Oanh Oanh đưa tin tức cho nàng. Lúc ấy Oanh Oanh đã yêu chàng lại thương chàng bị bệnh, đương đêm lén qua thăm, họ ân ái lén lút với nhau. Sau việc đó đến tai mẹ nàng, bà đành hứa cho hai người thành duyên, nhưng bắt chàng phải lên ngay kinh thi. Hai người chia tay nhau và giữa đường, trong quán trọ, Trương nằm mê thấy Thôi. Tuồng hết ở chỗ đấy. Sau Quan Hán Khanh viết tiếp, cho Trương đậu thám hoa và cưới Thôi.

    Truyện rất lãng mạn, hay ở chỗ tả tâm lý Oanh Oanh, mới đầu muốn yêu mà không dám, khi đã yêu thì nhiệt tình vô cùng, lúc trầm mặc rất mực, lúc phóng đãng cũng rất mực, rõ ràng là tâm lý một thiếu nữ đa tình bị lễ giáo kiềm thúc.

    Dưới đây tôi xin trích một đoạn tả lúc ly biệt của Thôi, Trương:

    (正宮)(端正好)碧雲天,黃花地,西風緊。北雁南飛。曉來誰染霜林醉?總是離人淚。

    (滾綉球)恨相見得遲,怨歸去得疾。柳絲長玉驄難繫。恨不得倩疏林掛住斜暉。馬兒迍迍的行,車兒快快的隨。却告了相思回避,破題兒又早別離。聽得道一聲去也,松了金釧;遥望見十里長亭,減了玉肌。此恨誰知!

    (叨叨令)見安排著車兒馬兒,不由人熬熬煎煎的氣。有甚麼心情,花兒厴兒,打扮得嬌嬌滴滴的媚。準備著被兒枕兒,則索昏昏沉沉的睡。从今後衫兒袖兒,都揾濕重重疊疊的淚。兀的不悶殺人也麼哥?兀的不悶殺人也麼哥?久已後書兒信兒,索與我凄凄惶惶的寄。

    (四煞)這憂愁訴與誰?相思隻自知,老天不管人憔悴。淚添九曲黃河溢,恨壓三峰華岳低。晚來悶把西樓倚,見了些夕陽古道,衰柳長堤…

    (秋尾)…遍人間煩惱填胸臆,量這些大小車兒如何載得起?

    (Chính cung) (Đoan chính hảo) 4 . Bích vân thiên, hoàng hoa địa, tây phong khẩn, bắc nhạn nam phi. Hiểu lai thuỳ nhiễm sương lâm tuý? Tổng thị ly nhân lệ.

    (Cổn tú cầu) 5 . Hận tương kiến đắc trì, oán quy khứ đắc tật. Liễu ti trường ngọc thông nan hệ. Hận bất đắc thuyến sơ lâm quải trụ tà huy. Mã nhi truân truân đích hành, xa nhi khoái khoái đích tùy. Ức cáo liễu tương tư hồi tị, phá đề nhân hựu tảo biệt ly. Thính đắc đạo nhất thanh khứ dã, tùng liễu kim xuyến; dao vọng kiến thập lý trường đình, giảm liễu ngọc ky. Thử hận thùy tri!

    (Thao thao lệnh) 6 . Kiến an bài trước xa nhi mã nhi, bất do nhân ngao ngao, tiễn tiễn đích khí. Hữu thậm ma tâm tình, hoa nhi áp nhi, đả phẫn đắc kiều kiều tích tích đích mị. Chuẩn bị trước bị nhi chẩm nhi, tắc sách hôn hôn trầm trầm đích thụy. Tòng kim hậu sam nhi tụ nhi, đô uẩn thấp trùng trùng điệp điệp đích lệ. Ngột đích bất muộn sát nhân dã ma kha? Ngột đích bất muộn sát nhân dã ma kha? Cửu dĩ hậu thư nhi tín nhi, sách dữ ngã thê thê hoàng hoàng đích ký.

    (Tứ sát) 7 Giá ưu sầu tố dữ thuỳ? Tương tư chỉ tự tri, lão thiên bất quản nhân tiều tụy. Lệ thiêm cửu khúc Hoàng hà dật, hận áp tam phong Hoa nhạc đê. Vãn lai muộn bả tây lâu ỷ, kiến liễu ta tịch dương cổ đạo, suy liễu trường đê…

    (Thu vĩ) …Biến nhân gian phiền não điền hung ức, lượng giá ta đại tiểu xa nhi như hà tái đắc khởi?

    (Chính cung) (Đoan chính hảo) Trời mây xanh, đất hoa vàng, gió tây thổi gấp, nhạn bắc về nam. Sáng dậy, ai nhuộm rừng sương ảnh đỏ? Coi như nước mắt kẻ biệt ly.

    (Cẩm tú cầu) Hận gặp nhau sao muộn, oán ngày về sao mau. Tơ liễu tuy dài, khó buộc chân ngựa 8 . Giận không mượn được rừng thưa treo mãi bóng tà. Ngựa chạy khó khăn, xe theo gấp gấp. Lại bảo kẻ tương tư về đi, câu mở đầu khuyên sớm biệt ly. Nghe được một tiếng ra đi, kim xuyến muốn lỏng; nhìn xa trường đình 9 mười dặm, ngót hẳn da ngọc. Hận này ai hay!

    (Thao thao lệnh) Thấy sắp sẵn xe ngựa, chẳng kể gì lòng người ta sôi sôi, bứt rứt. Có tâm tình gì, nào hoa, nào kẹp, sửa soạn đẹp đẽ! Sẵn sàng nào chăn, nào gối, thôi liều ngủ vùi đi. Từ nay về sau áo khăn nên xếp lại để chùi lệ trùng trùng điệp điệp! Như vậy không buồn chết người hay sao! Vĩnh cửu về sau, thư từ mang lại cho ta những tình thê thảm, hoảng hốt.

    (Tư sát) Ưu sầu này biết nói cùng ai? Tương tư riêng mình biết, trời già quản chi ta tiều tuỵ. Lệ tràn chín khúc Hoàng Hà, hận đè ba ngọn Hoa Nhạc. Chiều buồn dựa lầu tây, thấy đường cũ bóng tà đê dài liễu úa.

    (Thu vĩ)… Phiền não nặng lòng khắp nhân gian, xe nhỏ xe lớn kia làm sao chở nổi?

    * BẠCH PHÁC 白樸. Khi nhà Kim mất nước ông thôi quan về ngao du sơn thuỷ, soạn 17 bộ tuồng mà bộ Ngô đồng vũ rất được truyền danh, lời cao đẹp, hùng hồn.

    * MÃ TRÍ VIỄN 馬致遠 lưu lại 14 tuồng: Hán cung thu, Nhạc Dương lâu, Trần Đoàn cao ngoạ

    - Trong thời kỳ thứ nhì, tức thời kỳ thống nhất (1277-1340) chỉ có mỗi tác giả lưu danh là Trịnh Quan Tô 鄭光租. Ông soạn được 19 bộ mà bộ Thuyết nữ ly hồn 債女離魂 đáng kể hơn cả.

    d. Đặc điểm của tuồng Trung Hoa:

    - Tuồng Trung Hoa không theo phép tam nhất trí (règle des trois unités) như bi kịch cổ của Pháp. Ta thường thấy trong màn trước, một vai còn trẻ từ biệt cha mẹ để đi thi mà 2-3 màn sau vai đó đã già, màn trước diễn cảnh chiến trường thì màn sau diễn cảnh triều đình xa cách chiến trường hàng ngàn dặm, các tình tiết trong bản tuồng cũng ít khi tập trung vào một việc chính để đi tới kết cục.

    - Kết cục luôn luôn vui hoặc là cảnh tái hợp của đôi trai tài gái sắc bị xa cách, gian truân trong lâu năm hoặc cảnh kẻ gian bị trừng trị, người trung được vinh quang. Tuồng Tây Tương Ký không theo cách ấy, không cho Thôi, Trương đoàn tụ: đó là một sáng kiến của Trương Thực Phủ, được ít người đương thời hiểu. Tới Quan Hán Khanh, một hý kịch gia đại tài cũng cho như vậy là “sái”, nên viết bộ Tục Tây Tương Ký cho hai bên kết hợp với nhau, thành thử vở tuồng đó kém hay.

    - Sở dĩ kết hợp theo quan niệm ấy vì các nhà soạn tuồng có ý răn đời: tiết phụ phải được phong, nghịch tặc phải bị diệt, trung thần phải được vinh, gian nịnh phải bị nhục… để dân chúng lấy đó làm gương.

    - Cách dàn xếp không tách bạch ra từng hồi, từng cảnh như bi kịch Pháp vì cách bày trí rất sơ sài, có khi không thay đổi từ đầu đến cuối tuồng.

    - Nhà dàn cảnh thường dùng những quy ước không cần theo đúng sự thật: một cây roi đủ thay một con ngựa, trung thần thì luôn luôn mặt đỏ râu dài, nịnh thần thì mặt loang lổ, trắng đen…

    - Trong tuồng có nhiều khúc ca và những đoạn nói lối để các vai tự giới thiệu mình hoặc tóm tắt những việc đã xảy ra từ trước cho khán giả dễ hiểu.

    - Lối văn dùng trong tuồng thường là lối biền ngẫu, có những qui tắt riêng mà trong cuốn này chúng tôi không thể kể ra được.

    e. Ảnh hưởng của tuồng:

    Trong các thể văn, tuồng và tiểu thuyết có ích lợi nhất về phương diện cảm hoá nhân dân, bảo tồn phong hoá hoặc truyền bá tư tưởng vì hai thể đó dễ được phổ cập nhất.

    Nhất là tuồng đời Nguyên, do những danh bút soạn càng có một giá trị đặc biệt. Gần đây, Vương Quốc Duy, một học giả Trung Quốc viết:

    “Cái hay của tuồng đời Nguyên ở đâu? Có thể tóm tắt trong một tiếng là “tự nhiên”. Từ xưa tới nay, văn nhân hơn người ở chỗ tự nhiên mà tự nhiên thì không gì bằng tuồng đời Nguyên. Vì người soạn tuồng đời ấy (…) không có ý lấy văn học cầu danh vị; họ cũng không có ý chôn tác phẩm của họ vào danh sơn để lưu truyền hậu thế. Họ cảm hứng mà viết, để làm vui mình và vui người; lời khéo, vụng họ không kể; ý thô, lậu, họ không không ngại; tính tình của nhân vật có mâu thuẫn cũng chẳng sao. Họ tả cảm tưởng trong lòng cùng tình trạng xã hội, mà cái lẽ chân thành, thực thà, cái khí hùng dũng, tú kiệt thường hiện trong văn. Cho nên bảo tuồng đời Nguyên là một loại văn rất tự nhiên, là đúng như vậy”.

    Lời phê bình ấy đủ lột hết đặc sắc của tuồng đời Nguyên cùng tâm lý của tác giả soạn tuồng thời ấy.

    Theo Vũ trung tuy bút của Pham Đình Hổ thì tuồng Trung Quốc truyền qua nước ta từ đời Lý nhờ một đạo sĩ. Theo Việt sử tổng vịnh thì Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên, bắt được một người Trung Hoa tên là Lý Nguyên Cát giỏi hát tuồng, mới sai y dạy cho dân ta. Thuyết sau chắc đúng vì hồi đó ở giữa thế kỷ 13, nhằm thời toàn thịnh của tuồng đời Nguyên, như trên kia tôi đã xét.

     

    TÓM TẮT

  • Người Mông Cổ cực lực đàn áp dân tộc Trung Hoa, bỏ thi cử trong một thời gian lâu, khinh miệt nhà nho, nên văn học không thịnh, ngoài thể tuồng.
  • Văn nhân soạn tuồng để phát biểu nỗi phẫn uất, lòng hy vọng của họ. Tuồng rất được dân chúng thích nên họ càng hăng hái soạn tuồng.
  • Đời Nguyên có năm loại tuồng:
    - Tuồng diễn những vụ xử án công bằng.
    - Tuồng nghĩa hiệp.
    - Tuồng nhân quả.
    - Tuồng thần tiên.
    - Tuồng luyến ái.
    Tuồng tấn triển theo 3 thời kỳ:
    - Thời kỳ thứ nhất (1234-1276) rất thịnh. Nhiều thiên tài xuất hiện như Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ, Bạch Phác, Mã Trí Viễn.
    Những tuồng có danh nhất là: Đậu Nga oan, Cứu phong trần, Tây Tương ký, Ngô đồng vũ, Hán cung thu…
    - Trong hai thời kỳ sau, tuồng mỗi ngày một suy.
  • Đặc sắc của tuồng đời Nguyên là tự nhiên: các nhà soạn tuồng không cầu danh, vị, mà chỉ cốt tả nổi u ẩn trong lòng họ. Nhờ đó, tuồng họ cảm hoá chúng ta rất mạnh.
  • --------------------------------
    1Các sử gia cho nhà Tống đến năm 1279 mới hết, mà đời Nguyên lại bắt đầu từ năm 1234 vì sau khi nhà Kim mất nước, Nguyên Thế Tông lên ngôi ở Yên Kinh (1234), nhà Tống còn chống cự lại ở một vài nơi, mãi đến năm 1279 mới dứt hẳn. Đọc sử Thanh sau này, ta cũng thấy cuối đời Minh "lần" đầu đời Thanh như vậy.
    2Bắt họ đổi y phục, ăn bận theo rợ Hồ, áo gài bên trái, tay hẹp, tóc thả xuống sau lưng.
    3Tiền giấy phát hành nhiều quá, không được dân tín dụng; vật giá cao vọt lên.
    4Tên những điệu hát.
    5Tên điệu hát.
    6Tên khúc hát.
    7Tên điệu hát.
    8Ngọc thông là tên ngựa.
    9Trạm nghỉ chân, cứ 10 dậm lại có một cái.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Một Mai Khi Hòa Bình

    Nhã Ca

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646632]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502536]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639712]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471306]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340861]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600521]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689833]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493087]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300412]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010491]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972331]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548889]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470013]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445693]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150625]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078686]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028813]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026447]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959442]
    25.Quỷ Bảo [921708]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907573]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877023]
    29.Hắc Nho [852156]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843166]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840064]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756011]
    33.Tru Tiên [747769]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745198]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661907]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622425]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592490]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569360]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536787]
    41.Tầm Tần Ký [511982]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456249]
    43.Thiên Đường [452698]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450854]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439786]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427370]
    48.Cậu Chó [417247]
    49.If You Are Here [411851]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408209]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm