hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[872] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG V. TỪ ĐỜI TỐNG

    1. TỪ ĐỜI TỐNG RẤT THỊNH – CÓ HAI LOẠI VÀ HAI PHÁI

    Đời Tống là hoàng kim thời đại của từ, nên nói đến Tống thì ai cũng nghĩ ngay đến từ.

    Trên thì thiên tử, đại thần, văn nhân, dưới thì kỹ nữ, ca nhi, dân quê, ai ai cũng làm được từ. Sự hưng thịnh đó có ba nguyên nhân:

    - Luật thi câu thúc thi nhân quá nên người ta muốn sáng tác một thể mới và thể từ, tuy phải theo âm luật song tự do hơn thơ (vì có câu dài câu ngắn), dễ biểu tình đạt ý, được văn nhân rất thích.

    - Nhiều vị hoàng đế mê từ, chẳng những khuyến khích từ nhân (người làm từ) mà còn đích thân soạn nhiều khúc từ mới.

    - Từ làm để ca, nên mau được phổ thông trong dân gian.

    Xét về hình thức, có hai loại từ:

    - Tiểu từ là những bài ngắn,

    - Mạn từ là những bài dài.

    Còn về nội dung thì có hai phái:

    - Nam phái như Liễu Vinh, Tần Quan, Chu Bang Nhan theo khuynh hướng đời Ngũ Đại, dùng những lời diễm lệ và du dương để tả những tình thương nhớ, sầu tủi.

    - Bắc phái như Tô Thức, Tân Khí Tật, trái lại, hùng tráng, phóng dật, không chịu sự câu thúc của âm luật, tung hoành ngọn bút để phô diễn những hoài bão lớn lao, những chí khí cao cả.

     

    2. TỪ ĐỜI BẮC TỐNG (911-1125)

    Trong khoảng 200 năm (911-1125) từ chia làm 4 thời kỳ:

    a. Thời kỳ thứ nhất, từ chịu ảnh hưởng của đời Ngũ Đại, diễm lệ và ngắn.

    Hai tác giả nổi danh nhất là Án ThùÂu Dương Tu. Giọng của nhà sau tình tứ, nồng nàn:

    玉樓春

    別後不知君遠近

    觸目淒涼多少悶

    漸行

    漸遠

    漸無書

    水闊魚沉何處問

    夜深風竹敲秋韻

    萬葉千聲皆是恨

    故欹單枕夢中尋

    夢又不成燈又燼

    Ngọc lâu xuân

    Biệt hậu bất tri quân viễn cận,

    Xúc mục thê lương đa thiểu muộn.

    Tiệm hành,

    Tiệm viễn,

    Tiệm vô thư;

    Thủy khoát ngư trầm, hà xứ vấn?

    Dạ thâm phong trúc khao thu vận,

    Vạn diệp thiên thanh giai thị hận.

    Cố y đan chẩm mộng trung tầm,

    Mộng hựu bất thành, đăng hựu tẫn.

    Ngọc lâu xuân

    Biệt rồi, nào biết xa gần đấy,

    Cảnh tượng thê lương, buồn biết mấy!

    Càng đi,

    Càng xa cách,

    Càng vắng tin;

    Nước rộng, cá chìm, biết đâu kiếm?

    Đêm khuya gió trúc, thu gõ tiếng,

    Vạn lá nghìn âm đều là tủi.

    Cố tìm trong mộng nghiêng trên gối,

    Mộng đã chẳng lành, đèn lại lụi.

    b. Trong thời kỳ thứ nhì, tiểu từ biến thành mạn từ.

    Tác giả có:

    - LIỄU VĨNH 柳永 mà từ được phổ biến nhất. Phàm nơi nào có giếng nước, đều có tiếng hát bài của ông.

    Đọc câu:

    楊柳岸曉風殘月

    Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.

    Bờ dương liễu, gió mai nguyệt xế,

    cũng đủ thấy giọng ông tươi đẹp, tình tứ.

    - TRƯƠNG TIÊN 張先 (990-1078) lưu lại những câu rất tươi như:

    雲破月來花弄影

    Vân phá nguyệt lai, hoa lộng ảnh.

    Mây phá, trăng ra, hoa giỡn bóng.

    Ông làm tới chức lang trung và người ta thường gọi ông là vị “lang trung đào lý giá xuân phong” vì ông có câu sau này rất được truyền tụng:

    桃李嫁東風

    Đào lý giá xuân phong.

    Đào mận gả gió xuân.

    - TẦN QUAN 秦觀 tự là Thái Hư 太虛 cũng lãng mạn như Liễu Vĩnh.

    Dưới đây chúng tôi xin dẫn một bài của ông để giới thiệu với độc giả lối mạn từ lãng mạng thời Bắc Tống.

    满庭芳

    山抹微雲

    天粘衰草

    畫角聲斷譙門

    暫停徵棹

    聊共引離尊

    多少蓬萊舊事

    空回首

    烟霭紛紛

    斜陽外

    寒鴉数點

    流水繞孤村

    消魂當此際

    香囊暗解

    羅帶輕分

    謾贏得青樓薄倖名存

    此去何時見也

    襟袖上空染啼痕

    傷情處

    高城望斷

    燈火已黃昏

    Mãn đình phương

    Sơn mạt vi vân

    Thiên niêm suy thảo,

    Hoạ giác thanh đoạn tiều môn.

    Tạm đình chinh trạo,

    Liêu cộng dẫn ly tôn.

    Đa thiểu Bồng Lai cựu sự,

    Không hồi thủ,

    Yên ải phân phân.

    Tà dương ngoại,

    Hàn nha sổ điểm,

    Lưu thủy nhiễu cô thôn.

    Tiêu hồn đương thử tế,

    Hương nang ám giải,

    La đái khinh phân,

    Mạn doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh tồn.

    Thử khứ hà thời kiến dã?

    Khâm tụ thượng không nhiễm đề ngân:

    Thương tình xử,

    Cao thành vọng đoạn,

    Đăng hỏa dĩ hoàng hôn.

    Mãn đình phương 1

    Núi kéo mây non,

    Trời bao cỏ úa,

    Tù và rúc tiều môn.

    Nhịp chèo ngừng đó,

    Hãy rót chén khuây buồn.

    Bồng Lai việc cũ ít nhiều,

    Thôi quay ngó,

    Khói ráng chập chờn.

    Ngoài bóng xế,

    Nhạn bay mấy chấm,

    Tiếng nước chảy quanh thôn.

    Gặp lúc tiêu hồn,

    Nhẹ chia giải lụa,

    Ngầm mở túi thơm,

    Chỉ hơn được lầu xanh bạc hãnh danh còn.

    Lần này bao giờ gặp lại nữa?

    Trên tay áo thấm ướt lệ hờn.

    Chỗ thương tình,

    Thành cao trông khuất,

    Đèn lửa báo hoàng hôn.

    (Vô danh dịch)

    c. Đến thời kỳ thứ ba, TÔ THỨC giải phóng thể từ, bỏ niêm luật, mở rộng phạm vi cho nó, dắt nó từ những cảnh mơ mộng, hương phấn qua khu vực khoáng đạt hào hùng của tình cảm.

    Xin độc giả cùng tôi nghe giọng ông ngâm:

    念奴嬌

    大江東去

    浪淘盡千古風流人物

    故壘西邊

    人道是三國周郎赤壁

    亂石崩雲

    驚濤裂岸

    卷起千堆雪

    江山如畫

    一時多少豪傑

    遥想公瑾當年

    小喬初嫁了

    雄姿英髮

    羽扇綸巾

    談笑間

    強櫓灰飛烟滅

    故國神游

    多情應笑我早生華髮

    人生如夢

    一樽還酹江月

    Niệm Nô Kiều

    Đại giang đông khứ

    Lãng đào tận thiên cổ phong lưu nhân vật.

    Cổ luỹ tây biên,

    Nhân đạo thị Tam Quốc Chu Lang Xích Bích.

    Loạn thạch băng vân,

    Kinh đào liệt ngạn,

    Quyền khởi thiên đôi tuyết 2 .

    Giang sơn như họa,

    Nhất thời đa thiểu hào kiệt.

    Dao tưởng Công Cẩn đương niên,

    Tiểu Kiều sơ giá liễu,

    Hùng tư anh phát,

    Vũ phiến luân cân,

    Đàm tiếu gian,

    Cường lỗ hôi phi yên diệt,

    Cố quốc thần du,

    Đa tình ưng tiếu ngã tảo sinh hoa phát.

    Nhân sinh như mộng,

    Nhất tôn hoàn loát giang nguyệt.

    Niệm Nô Kiều

    Sông dài băng chảy,

    Sóng cuốn hết thiên cổ phong lưu nhân vật.

    Lũy cũ phía tây,

    Người bảo là Xích Bích thời Chu Du Tam Quốc.

    Đá loạn sụt mây,

    Sóng gầm vỗ bến,

    Cuốn lôi ngàn đống tuyết.

    Núi sông như vẽ,

    Một thời ít nhiều hào kiệt.

    Nhớ Công Cẩn thời đó,

    Tiểu Kiều khi mới cưới,

    Anh hùng tư cách,

    Quạt lông khăn là.

    Lúc cười nói,

    Giặc mạnh 3 tro bay khói hết.

    Cố quốc hồn về,

    Đa tình chắc cười ta tóc đà sớm bạc.

    Đời người như mộng,

    Chén này để tạ trăng, nước.

    Tương truyền một hôm Tô Đông Pha hỏi một người:

    - Từ của tôi với từ của Liễu Vĩnh ra sao?

    Đáp:

    - Từ của Liễu lang trung chỉ để cô gái 17, 18 cầm phách ngà mà ca câu “Dương liễu ngạn hiểu phong tàn nguyệt”, còn từ của ngài thì phải để cho tráng sĩ ở Quan Tây gảy đàn tỳ bà bằng đồng, gõ phách bằng sắt mà ca câu “Đại giang đông khứ” thì mới hợp.

    Người đó phê bình rất đúng và đã gãi nhằm chỗ ngứa của Tô. Song ưu điểm của Tô cũng chính là nhược điểm: từ của ông nhiều bài không ca được.

    Theo gót ông có Hoàng Đình Kiên mà tài ba kém ông xa.

    d. Trong thời kỳ thứ tư, Tống Huy Tông 宋徽宗 và Lý Thanh Chiếu 李清照 phản động lại, bắt từ phải theo âm nhạc.

    Lý Thanh Chiếu là một trong những nữ sĩ đa tài nhất của Trung Quốc, 21 tuổi lấy một thái học sinh, 2 vợ chồng rất thương nhau. Thời ấy, từ của bà tươi và đẹp. Chẳng may bà goá sớm; trong cảnh tịch mịch, giọng bà hoá ai oán. Bà rất thông âm luật, lời từ tự nhiên mà du dương.

     

    3. TỪ ĐỜI NAM TỐNG (1125-1234)

    Từ thời này cực thịnh: có tới trên 150 từ gia mà tác phẩm được lưu truyền, còn số người làm được vài bài thì không đếm hết. Chúng ta phân biệt hai phái:

    a. Phái Bạch Thoại dùng bạch thoại để viết từ. Đại biểu cho phái này là TÂN KHÍ TẬT 辛棄疾. Ông hiệu là Giá Hiên 稼軒 (1140-1207), hồi trẻ anh dũng chống lại rợ phương Bắc, về già vẫn còn hùng tâm. Bài Giá cô thiên của ông cảm khái vô cùng. Sau khi nhắc lại thời oanh liệt, cầm muôn quân chống với quân thù, ông than thở:

    追往事

    歎今吾

    春風不染白髭鬚

    卻將萬字平戎策

    換得東家種樹書

    Truy vãng sự,

    Thán kim ngô.

    Xuân phong bất nhiễm bạch tì tu.

    Khước tương vạn tự bình Nhung sách,

    Hoàn đắc đông gia chủng thụ thư.

    Nhớ việc thời cũ,

    Thương ta bây giờ.

    Gió xuân chẳng nhuộm râu bạc phơ.

    Lại đem binh thư muôn chữ ấy,

    Đổi sách trồng cây phía cạnh nhà.

    Ông không làm thơ, chuyên viết từ. Từ của ông có đủ vẻ, khi bi tráng, lúc lâm ly, khi phóng lãng, lúc khôi hài, hoặc hoài cổ, hoặc tự tình, vui điền viên, tả sơn thuỷ, giọng nào cũng đặc sắc. Xin cử một bài nữa của ông:

    西江月

    萬事雲煙忽過

    百年蒲柳先衰

    而今何事最相宜

    宜醉

    宜游

    宜睡

    早趁推科了納

    更量出入收支

    乃翁依舊管些兒

    管竹

    管山

    管水

    Tây giang nguyệt

    Vạn sự vân yên hốt quá,

    Bách niên bồ liễu tiên suy.

    Nhi kim hà sự tối tương nghi?

    Nghi tuý,

    Nghi du,

    Nghi thuỵ.

    Tảo sấn thôi khoa liễu nạp,

    Cánh lường xuất nhập thu chi.

    Nãi ông y cựu quản ta nhi:

    Quản trúc,

    Quản sơn,

    Quản thuỷ

    Tây giang nguyệt

    Vạn sự như mây khói,

    Trăm năm bồ liễu sớm suy.

    Mà nay nên nhất là việc gì?

    Nên say khước,

    Nên ngao du,

    Nên ngủ khì.

    Sớm chạy đóng cho xong thuế,

    Để tính xuất nhập thu chi.

    Ông mày còn giữ những việc gì?

    Giữ trúc,

    Giữ sơn,

    Giữ thuỷ.

    LỤC DU 陸游 tự là Vụ Quan 務観 (1125-1210) cũng có hùng tâm như Tân Khí Tật, cũng chủ trương Bắc phạt, sự không thành, về ẩn dật, làm lão đánh cá, vui với thiên nhiên. Ông rất phóng lãng, khinh miệt lễ phép, tự gọi là “phóng ông” 放翁.

    Một người vợ của ông họ Đường, bị mẹ ông ghét, bắt phải ly dị, nàng đau khổ lắm, sau gặp ông trong một vườn hoa, làm bài này để oán ông, lời rất lâm ly.

    釵頭鳳

    世情薄

    人情惡

    雨送黃昏花易落

    曉風乾

    淚痕殘

    欲箋心事

    獨語斜闌

    難難難

    Thoa đầu phượng

    Thế tình bạc,

    Nhân tình ác,

    Vũ tống hoàng hôn hoa dị lạc.

    Hiểu phong can,

    Lệ ngân tàn.

    Dục tiên tâm sự,

    Độc ngữ tà lan.

    Nan! Nan! Nan!

    Thoa đầu phượng

    Thế tình bạc,

    Nhân tình ác,

    Hoa rụng hoàng hôn, mưa lác đác.

    Gió mai khô khan,

    Ngấn lệ đã tàn,

    Muốn chép tâm sự,

    Một mình bóng xế lan can.

    Than, Than, Than!

    b. Phái nhạc phủ:

    Phái bạch thoại tuy trọng âm luật mà còn để ý đến nội dung, còn phái nhạc phủ chỉ cần lời du dương bỏ hẳn nội dung, nên từ của họ không ý vị gì cả. Thể từ suy lần từ đó.

    Từ gia trong phái ấy có Trương Viêm 張炎, Chu Mật 周密 …

    Tóm lại, từ do âm nhạc mà sinh, cực thịnh trong đời Tống rồi cũng vì quá trọng âm nhạc mà chết.

     

    TÓM TẮT

  • Đời Tống là hoàng kim thời đại của từ: từ vua chúa đến lê dân, ai cũng thích thể ấy vì nó ca được và không bị niêm luật câu thúc như thơ, lại dễ biểu tình, đạt ý hơn thơ. Có hai lối từ: tiểu từ (ngắn) và mạn từ (dài).
  • Từ đời Bắc Tống (911-1125) chia làm bốn thời kỳ:
    - Mới đầu, từ nhân như Âu Dương Tu theo khuynh hướng duy mỹ của thời Ngũ Đại.
    - Trong thời thứ nhì, xuất hiện lối mạn từ: Liễu Vĩnh, Trương Tiên, Tần Quan vẫn giữ giọng lãng mạn,
    - Sau Tô Thức, Hoàng Đình Kiên bỏ niêm luật và chủ trương một thể mới, không cần theo âm nhạc mà cần lời được hào hùng.
    - Từ của Tô Thức phóng túng quá, khó ca, nên Lý Thanh Chiếu phản động lại, bắt lời phải theo âm nhạc.
  • Trong đời Nam Tống (1125-1234) có hai phái:
    - Phái bạch thoại mà đại biểu là Tân Khí TậtLục Du; cả hai đều ái quốc, lời bình dị mà tư tưởng cao khiết.
    - Phái Nhạc phủ chỉ chú trọng đến âm nhạc mà bỏ hẳn nội dung.
    Từ đấy từ suy lần. Nó do âm thanh mà sinh và cũng vì âm thanh mà chết.
  • --------------------------------
    1Tên một khúc hát, nên chúng tôi không dịch. Nhan đề nhiều bài khác cũng vậy.
    2Trong sách in là "Quyền khởi thiên đôi tuyết đống". Tôi bỏ chữ "đống" ở cuối câu vì nguyên văn chữ Hán trong sách và các bản chữ Hán trên mạng đều không có chữ tương ứng với chữ "đống".
    3Chỉ Tào Tháo.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Z.28 Macao... Trinh Nữ Giang Hồ

    Người Thứ Tám

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646494]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502402]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639511]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471154]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340448]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600350]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689601]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2491457]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300142]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010271]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972325]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548828]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469932]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445578]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204040]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150542]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078548]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062534]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028695]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026322]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959393]
    25.Quỷ Bảo [921649]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907491]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905256]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876883]
    29.Hắc Nho [852071]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842991]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840009]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755940]
    33.Tru Tiên [747724]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745012]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661872]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622361]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592474]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569309]
    39.Hoàn Hảo [557741]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536754]
    41.Tầm Tần Ký [511901]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456103]
    43.Thiên Đường [452675]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450776]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439773]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433980]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427327]
    48.Cậu Chó [417118]
    49.If You Are Here [411818]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408134]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm