hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[796] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG IV. THƠ ĐỜI TỐNG

    1. ĐẶC SẮC THƠ ĐỜI TỐNG

    Văn nhân đời Tống thường đem tài lực ra làm thơ, có dư thời giờ mới viết từ, trừ một số ít từ gia chuyên môn như: Liễu Vĩnh, Tân Khí Tật và Ngôn Văn Anh. Vì vậy, về lượng, thơ Tống rất thịnh; song phẩm thì kém; ta không thấy xuất hiện một thể mới nào mà đáng bực thi hào cũng chỉ có vài ba nhà.

    Trong ít chục năm gần đây, thơ Tống được văn nhân Trung Hoa thưởng thức và nghiên cứu nhờ có vài đặc sắc:

    - nó tự do, nên tự nhiên hơn thơ Đường, nhờ các thi nhân phái phục cổ mạnh bạo thoát ly những câu thúc của cách luật.

    - trong thơ người ta cả gan dùng những tiếng thông tục, có khi thô nữa như Tô Thức dám hạ hai chữ ngưu xí 牛 (?) là cứt trâu trong một bài thơ.

    - nhiều bài thơ có ý vị triết lý vì đời Tống, triết học rất thịnh, và các triết gia như Chu Đôn Di, Trình Hiệu, Chu Hi đều là thi sĩ 1 .

     

    2. THỜI BẮC TỐNG

    a. Các thời kỳ

    Thơ thời Bắc Tống chia ra làm 2 thời kỳ:

    - Sơ Tống, thơ hoàn toàn bắt chước Vãn Đường: đại loại có 2 phái:

    + Phái Tây Côn 西崑, theo xu hướng của Lý Thương Ẩn.

    + Phái Bạch thể 白體, theo Bạch Cư Dị.

    - đến đời Tống Nhân Tôn, Mai Thánh Du và Tô Thuấn Khâm đề xướng một cuộc cách mạng, phản đối phái Tây Côn, chủ trương lời phải bình dị, thông thường.

    b. Mai Nghiêu Thần 梅堯臣, tự là Thánh Du 聖俞 (1002-1060) được Âu Dương Tu rất mến và đề tựa cho tập thơ. Bài tựa ấy mở đầu như sau:

    “Tôi nghe người đời nói: thi nhân ít người thành đạt mà nhiều kẻ khốn cùng. Há sự thật phải như vậy ư?

    Bởi vì những bài thơ được truyền tụng phần nhiều là của những người xưa khốn khổ làm ra. Phàm kẻ sĩ có điều gì uẩn súc mà không đem thi hành được ở đời đều muốn phóng lãng ở ngoài cảnh gò núi sông biển, ngắm sâu cá thảo mộc, gió mây, điểu thú, thường xét cái kỳ quái của những vật ấy, mà trong lòng lại uất tích những ưu tư, cảm phẫn, mới phát ra lời oán hận, phúng thích để than thở cho những kẻ ki thần 2 , quả phụ, mà tả những cái khó nói của nhân tình. Vậy đời càng khốn thì thơ càng hay. Không phải thơ làm cho người ta khốn cùng, chính vì có khốn cùng rồi thơ mới hay”.

    Đọc cả bài tựa đó, ta thấy đời Mai Thánh Du long đong lắm. Ông có tài mà không chịu chìu đời, lại nghĩ khác người, muốn văn thơ phải giản dị, trong sạch, chứ không uỷ mị, nên không được ai tiến cử lên nhà vua.

    Ông viết trên 1000 bài giọng bình đạm mà có ý vị, khí lực.

    c. Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự là Vĩnh Thúc 永叔, đậu tiến sĩ, làm tới chức Binh bộ thượng thư. Loại nào ông viết cũng hay, lời nghiêm trang mà diễm lệ như bài:

    豐樂亭遊春

    紅樹青山日欲斜

    長郊草色綠無涯

    游人不管春將老

    來往亭前踏落花

    Phong Lạc đình du xuân

    Hồng thụ thanh sơn nhật dục tà,

    Trường giao thảo sắc lục vô nhai 3 .

    Du nhân bất quản xuân tương lão,

    Lai vãng đình tiền đạp lạc hoa.

    Chơi xuân ở Phong Lạc đình

    Cây đỏ núi xanh, bóng muốn tà,

    Đồng xa cỏ biếc, rợn không bờ.

    Khách chơi chẳng tiếc xuân gần hết,

    Đi lại quanh đình đạp cánh hoa.

    d. Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự là Giới Phủ 介甫, hiệu là Bán Sơn 半山, có đại tài về chính trị, làm tể tướng đời vua Thần Tông, hoài bảo nhiều tư tưởng rất mới về tài chính, binh chính, muốn cải tạo xã hội, sửa phép thi cử vì ông nhận thấy lối học từ chương rất hại; song tân chính của ông táo bạo quá, bị phái thủ cựu là Âu Dương Tu, Tô Thức phản đối kịch liệt, mà dân gian cũng không hiểu, nên chỉ thi hành trong một thời gian ngắn rồi phải bỏ, kết quả chưa hái mà chỉ gây thêm nhiều sự rối loạn trong nước; thực đáng tiếc.

    Trên văn đàn ông cũng có kỳ tài, ý mới, lời mạnh. Ông có tật lý luận quá nhiều, nên thơ ông, trừ vài bài thanh tân, khoáng đạt, không được nhiều người thưởng thức. Bài Trúc lý dưới đây tránh được tật ấy.

    竹裏

    竹裏編茅倚石根

    竹莖疏處見前村

    閑眠盡日無人到

    自有春風為掃門

    Trúc lý

    Trúc lý biên mao ỷ thạch căn,

    Trúc hành sơ xử kiến tiền thôn,

    Nhàn miên tận nhật vô nhân đáo,

    Tự hữu xuân phong vi tảo môn.

    Trong bụi trúc

    Dựa đá ken lau, bóng trúc um,

    Nhìn qua kẽ trúc, thấy hương thôn,

    Suốt ngày nhàn ngủ, không ai tới,

    Đã có xuân phong quét cửa giùm.

    e. Tô Thức 蘇軾 (1036-1101) có tài nhất đương thời. Ông tự là Tử Chiêm 子瞻 hiệu là Đông Pha cư sĩ 東坡居士, sinh trong một gia đình văn học, đúng như câu của Nguyễn Du:

    “Văn chương nết đất, thông minh tính trời”.

    Cha ông là Tô Tuân 蘇洵, em ông là Tô Triệt 蘇轍 đều nổi danh về văn học. Em gái ông là Tô Tiểu Muội cũng hay thơ.

    Ông rất thông minh, học rộng, du lịch nhiều, theo cả Nho, cả Lão, khí phách hào phóng, khoáng đạt, không chịu sự bó buộc của niêm luật, lời thơ rất tự nhiên mà tân kỳ, có bài phảng phất như của Lý Bạch.

    Bài dưới đây thực là “thi trung hữu hoạ”:

    望湖樓醉書

    黑雲翻墨未遮山

    白雨跳珠亂入船

    卷地風來忽吹散

    望湖樓下水如天

    Vọng hồ lâu tuý thư

    Hắc vân thiên mặc vị già sơn,

    Bạch vũ khiêu châu loạn nhật thuyền,

    Quyển địa phong lai hốt xuy tán,

    Vọng hồ lâu hạ thủy như thiên.

    Trong khi say vịnh cảnh hồ, lầu

    Mây đen nửa núi mực bôi lên,

    Mưa trắng rơi châu vãi xuống thuyền.

    Cuốn đất gió đâu lùa thổi hết,

    Dưới lầu, màu nước tựa thanh thiên.

    g. Hoàng Đình Kiên 黃庭堅 (1045-1195) tự là Lỗ Trực 鲁直, chủ trương nói sao thì làm thơ như vậy, nên lời rất bình dị. Đại loại giọng thơ của ông như dưới đây:

    題蓮花寺

    狂卒猝起金坑西

    脅从數百馬百蹄

    所過州縣不敢誰

    肩輿擄載三十妻

    伍生有膽無智略

    謂河可馮虎可摶

    身膏白刃浮屠前

    此鄉父老至今憐

    Đề Liên Hoa tự

    Cuồng tốt thốt khởi Kim Khanh tây,

    Hiếp tòng sổ bách mã bách đề,

    Sở quá châu huyền bất cảm thùy,

    Kiên dư lỗ tải tam thập thê.

    Ngũ sinh hữu đởm, vô trí lược,

    Vị hà khả bằng, hổ khả đoàn,

    Thân cao bạch nhận phù đồ tiền,

    Thử hương phụ lão chí kim liên.

    Đề Chùa Liên Hoa

    Giặc cỏ hốt dậy đất Kim Khanh,

    Bắt hiếp dân theo, ngựa số trăm.

    Đi qua châu huyện, ai dám hỏi?

    Trong cáng bắt cóc ba chục nàng,

    Chàng Năm can đảm, không mưu trí,

    Quyết lội qua sông, bắt cọp hang 4 .

    Mỡ bôi lưỡi kiếm 5 trước tháp phật,

    Phụ lão trong làng nay vẫn thương.

     

    3. THỜI NAM TỐNG

    Đời Nam Tống, thi nhân vẫn tiếp tục văn trào của phái Giang Tây 江西, tức phái Âu Dương Tu, Vương An Thạch, song mỗi người có một phong cách riêng, tinh thần sáng tác đều cao.

    a. Lục Du 陆游 biệt hiệu Phóng Ông 放翁 (1125-1210) rất đa cảm, ý khí hào hùng, ái quốc nồng nhiệt, gần chết mà vẫn mong khôi phục được trung nguyên đã bị rợ phương Bắc chiếm mất.

    Bài Thập thất nguyệt tứ nhật phong vũ đại tác, giọng bi tráng, cảm khái biết bao.

    十七月四日風雨大作

    僵臥孤村不自哀

    尚思為國戍輪台

    夜闌臥聽風吹雨

    鐵馬冰河入夢來

    Thập thất nguyệt tứ nhật phong vũ đại tác

    Cương ngọa cô thôn bất tự ai,

    Thượng tư vi quốc thú Luân Đài.

    Dạ lan ngọa thính phong xuy vũ,

    Thiết mã băng hà nhập mộng lai.

    Ngày mùng 4 tháng mười một, mưa lớn, làm thơ

    Xóm lẻ, nằm co chẳng tủi lòng,

    Đầu quân báo quốc chỉ còn mong,

    Đêm tàn nằm lặng nghe mưa gió,

    Mộng thấy sông băng ngựa sắt lồng.

    Gần chết, ông còn ân hận rằng một phần giang sơn vẫn ở dưới gót kẻ thù, nên dặn con:

    示兒

    死去原知萬事空

    但悲不見九州同

    王師北定中原日

    家祭毋忘告乃翁

    Thị nhi

    Tử khứ nguyên tri vạn sự không,

    Đãn bi bất kiến cửu châu đồng.

    Vương sư bắc định trung nguyên nhật,

    Gia tế vô vong cáo nãi ông.

    Dặn trẻ

    Vẫn biết chết rồi vạn sự không,

    Chỉ buồn chẳng cứu được non sông.

    Ngày nào chiếm lại Trung nguyên cũ,

    Cúng tế đừng quên cáo với ông.

    Ông cũng rất ưa nhàn tản, ngao du sơn thuỷ, thơ miêu tả có nhiều câu hay như:

    細雨騎驢入劍門

    (Tế vũ kỵ lư nhập Kiếm môn)

    Mưa nhỏ cưỡi lừa đến Kiếm môn

    b. Phạm Thành Đại 范成大 (1126-1193) tự là Chí Năng 至能 chuyên tả thú điền viên. Bài dưới đây đáng là một giai tác, ai ở nhà quê những buổi trưa cuối xuân mới cảm thấy hết cái thú vị của nó:

    晚春田園雜興

    蝴蝶雙雙入菜花

    日長無客到田家

    雞飛過籬犬吠竇

    知有行商來買茶

    Vãn xuân điền viên tạp hứng

    Hồ điệp song song nhập thái hoa,

    Nhật trường vô khách đáo điền gia,

    Kê phi quá ly, khuyển phệ đậu,

    Tri hữu hành thương lai mãi trà.

    Cảm hứng cảnh cuối xuân ở quê nhà

    Cặp bướm song song nhập bụi hoa,

    Ngày dài không khách tới chơi nhà.

    Gà bay qua giậu, chó sủa lỗ 6 ,

    Biết có hàng rong tới bán trà.

    ° ° °

    Ngoài hai nhà đó ra, Nam Tống còn nhiều thi nhân như Từ Uyên 徐渊, Dương Vạn Lý, tác giả bài Điệp:

    籬落疏疏一徑深

    樹頭先綠未成陰

    兒童急走追黃蝶

    飛入菜花無處尋

    Điệp

    Li lạc sơ sơ nhất kính thâm,

    Thụ đầu tiên lục, vị thành âm,

    Nhi đồng cập tẩu truy hoàng điệp,

    Phi nhập thái hoa vô xứ tầm.

    Bướm

    Hàng giậu thưa thưa đường hẻm sâu,

    Cây chưa thành bóng mới xanh đầu.

    Trẻ em đuổi bướm vô vườn cải

    Bướm lẫn hoa vàng, biết kiếm đâu?

    Châu Phóng, tác giả bài Tống biệt:

    送別

    渺渺天涯君去時

    浮雲流水自相隨

    人生一世長為客

    何必今朝是別離

    Tống biệt

    Diểu diểu thiên nhai quân khứ thì,

    Phù vân lưu thủy tự tương tuỳ.

    Nhân sinh nhất thế trường vi khách,

    Hà tất kim triêu thị biệt ly.

    Tống biệt

    Thăm thẳm chân trời lúc bác đi,

    Mây đưa nước tiễn chớ buồn chi.

    Gởi nhờ trời đất, ai không khách,

    Nào phải hôm nay mới biệt ly.

    Tới cuối đời Tống, thơ rất suy; phải đợi đến đầu đời Thanh, khoảng 400 năm sau mới gặp được những thi nhân đa tài.

    Tuy nhiên, thời ấy xuất hiện một nhà thơ đại ái quốc là Văn Thiên Tường 文天祥, rất khí phách, giàu cảm khái. Ông kháng cự với rợ Nguyên, thất bại, bị giam trong ngục ở Yên Kinh 4 năm, quân địch dụ dỗ ông, ông nhất định không theo, sau bị giết.

    Bài Chính khí ca của ông “tráng liệt như cầu vồng vắt ngang trời”, mỗi lần ngâm lên, thấy máu sôi trong lòng, nghe như một bài tiến quân ca vậy. Nhà nho hồi xưa không ai không thuộc nó, và các vị như Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Nguyễn Trung Trực… tất đã nhiều đêm, vung bảo kiếm, nhìn Ngân Hà mà ca:

    正氣歌

    天地有正氣

    雜然賦流形

    下則為河岳

    上則為日星

    於人曰浩然

    沛乎塞蒼冥

    皇路當清夷

    含和吐明庭

    時窮節乃見

    一一垂丹青

    在齊太史簡

    在晉董狐筆

    在秦張良椎

    在漢蘇武節

    為嚴將軍頭

    為嵇侍中血

    為張睢陽齒

    為顏常山舌

    或為遼東帽

    清操厲冰雪

    或為出師表

    鬼神位壯烈

    或為渡江楫

    慷慨吞胡羯

    或為擊賊笏

    逆豎頭破裂

    是氣所磅礡

    凜烈萬古存

    當其貫日月

    生死安足論

    地維賴以立

    天柱賴以尊

    三綱實系命

    道義為之根

    Chính khí ca

    Thiên địa hữu chính khí,

    Tạp nhiên phú lưu hình.

    Hạ tắc vi hà nhạc,

    Thượng tắc vi nhật tinh.

    Ư nhân viết hạo nhiên,

    Bái hồ tắc sương minh.

    Hoàng lộ đương thanh di,

    Hàm hoà thổ minh đình.

    Thời cùng tiết nãi hiện,

    Nhất nhất thuỳ đan thanh.

    Tại Tề thái sử giản,

    Tại Tấn Đổng Hồ bút,

    Tại Tần Trương Lương chuỳ,

    Tại Hán Tô Vũ tiết.

    Vi Nghiêm tướng quân đầu,

    Vi Kê thị trung huyết,

    Vi Trương Tuy Dương xỉ,

    Vi Nhan Thường sơn thiệt,

    Hoặc vi Liêu Đông mạo,

    Thanh tháo lệ băng tuyết,

    Hoặc vi xuất sư biểu,

    Quỷ thần khấp tráng liệt,

    Hoặc vi độ giang tiệp,

    Khẳng khái thôn Hồ Hiệt,

    Hặc vi kích tặc hốt,

    Nghịch thụ đầu phá liệt.

    Thị khí sở bàng bạc,

    Lẫm liệt vạn cổ tồn.

    Đương kỳ quán nhật nguyệt,

    Sinh tử an túc luân.

    Địa duy lại dĩ lập,

    Thiên trụ lại dĩ tôn.

    Tam cương thực hệ mệnh,

    Đạo nghĩa vi chi căn.

    Bài ca chính khí

    (Bài này rất hùng hồn, nhưng khó dịch vì tác giả dùng nhiều điển; hình như từ trước chưa ai dịch ra Việt ngữ. Chúng tôi muốn giữ thể nguyên tác, nên không tránh khỏi lỗi tối nghĩa).

    Trời đất có chính khí,

    Lẫn lộn trong các hình. 7

    Dưới đất là sông núi,

    Trên trời là nhật, tinh 8 .

    Tại người là hạo nhiên,

    Vũ trụ đầy anh linh,

    Khí hoà nhả trước sân,

    Là gặp lúc thanh bình. 9

    Thời cùng cao tiết hiện,

    Nhất nhất ghi sử xanh.

    Ở Tấn, bút Đổng Hồ, 10

    Ở Tề, thẻ thái sử, 11

    Ở Tần, dùi Trương Lương,

    Ở Hán, cờ Tô Vũ. 12

    Là đầu Nghiêm tướng quân, 13

    Là huyết Kê thị trung, 14

    Là răng Trương Tuy Dương, 15

    Là lưỡi Nhan Thường Sơn. 16

    Hoặc là mão Liêu Đông,

    Tiết trong hơn băng, tuyết, 17

    Hoặc là biểu xuất sư,

    Quỷ thần khóc tráng liệt, 18

    Hoặc gõ chèo qua sông,

    Khảng khái nuốt rợ Hiệt. 19

    Cầm hốt đập bể sọ,

    Nghịch tặc phải rên siết. 20

    Khí ấy nó bàng bạc,

    Lẫm liệt vạn cổ còn.

    Đương lúc khí xung thiên,

    Sống chết không thèm bàn.

    Cột trời nhờ nó vững,

    Dây đất nhờ nó bền. 21

    Đạo nghĩa nó làm gốc,

    Mối dường nhờ nó yên.

     

    TÓM TẮT

    • Thơ đời Tống có những đặc sắc sau này:
      - tự do hơn thơ Đường, có khi bỏ cả niêm, lật.
      - lời giản dị, tự nhiên.
      - nhiều bài có ý vị triết lý.
      Về lượng thì nhiều mà phẩm thì kém vì ít người có tài.
    • Hồi Sơ Tống, người ta bắt chước Vãn Đường, có phái theo Lý Thương Ẩn, có phái theo Bạch Cư Dị. Đến khi Mai Thánh Du đả đảo phái Tây Côn (theo Lý) thì hết thảy các thi nhân đều chủ trương sự bình dị, thông tục trong lời thơ.
      Những thi nhân thời đó là Mai Thánh Du, Tô Vũ Khâm, Âu Dương Tu (nghiêm trang mà diễm lệ), Vương An Thạch (hay lý luận nhưng mạnh mẽ), Tô Thức (hào hùng, khoáng đạt), Hoàng Đình Kiên (rất bình dị).
    • Tới thời Nam Tống, thi phái xuất hiện rất nhiều; mỗi nhà một phong cách riêng, tinh thần sáng tác đều cao.
      Lục Du là một thi nhân nồng nàn yêu nước, Phạm Thành Đại chuyên tả thú điền viên.
      Ngoài ra còn Từ Uyên, Dương Vạn Lý, Châu Phóng…
    • Hồi Tống mạt, thơ cực suy. Đáng kể chỉ có Văn thiên Tường được bất hủ nhờ khí phách của ông và nhờ bài Chính khí ca, bài thơ hùng hồn nhất dân tộc Trung Quốc.

    --------------------------------
    1Triết gia thời ấy chia làm nhiều phái:
    - Âu Dương Tu, Vương An Thạch tuy tư tưởng khác nhau mà đều muốn thoát ly ra khỏi sự câu thúc của Kinh Truyện, như Âu Dương nghi ngờ kinh Dịch, Vương nghi ngờ kinh Xuân Thu.
    - Chu Đôn Di (học trò của Trình Hiệu, Trình Di) sáng lập ra Lý học, lấy lý thái cực suy ra để bàn về đạo lý, tâm tính.
    - Trương Tái nghiên cứu về tính thiện và khí chất con người.
    - Chu Hy giải thích tường tận các kinh nghiệm, làm cho Khổng giáo thêm tôn nghiêm; ông ảnh hưởng rất lớn đến đời sau.
    - Thiệu Ung chuyên bàn về số mạng.
    - Lục Cửu Uyên chú trọng về sự tu dưởng đức tính.
    2Kẻ bề tôi bị lưu đày.
    3Chữ nhai ở đây có người đọc là nha cho vần với , hoa. Như vậy là ép. Thi nhân đời Tống nhiều khi bỏ vần mà giữ hứng thì chúng ta cũng không nên ép cách đọc cho thành vần.
    4Lội qua sông lớn, bắt cọp tay không là 2 hành vi táo bạo.
    5Chàng Năm bị giết, lấy mỗ bôi lưỡi kiếm.
    6Ở trong lỗ giậu sủa ra.
    7Nghĩa là cái chính khí, khắp vũ trụ chỗ nào cũng có.
    8Mặt trời và sao.
    9Khi thanh bình, người trực gián trước sân rồng là người có chính khí.
    10Thời Chiến Quốc, một sử quan nước Tấn là Đổng Hồ chép rằng: "Triệu Thuẫn giết vua". Triệu Thuẫn là một vị đại phu có đức, cãi: "Người khác giết vua trong khi tôi xuất vong, mà sao ông ghép tội tôi?". Đổng Hồ đáp: "Sao lúc về nước, ông không thảo tội thí quân của kẻ đó? Như vậy là ông đồng mưu với kẻ giết vua, cũng như ông giết vua".
    11Cũng thời Chiến Quốc, tể tướng nước Tề là Thôi Trữ giết vua. Một thái sử quan chép: "Thôi Trữ giết vua", bị Thôi Trữ đem chém. Em người đó lãnh chức thái sữ thay anh, cũng chép như vậy, cũng bị chém. Nước láng giềng có một người hay việc ấy, sợ sau khi 2 người bị Thôi Trữ giết rồi, không còn ai dám chép sự thật nữa, bèn qua xin làm chức thái sữ. Thôi thấy vậy phải than và sợ những quan thái sử.
    12Tô Vũ đời Hán đi sứ Hung Nô, Hung Nô dụ hàng, ông không chịu, nó bỏ ông vào hang 7 ngày, ông không chết, nó cho ông là thần, sai chăn dê ở phía bắc. Mười chín năm bị đày như vậy mà không lúc nào ông rời cây cờ tiết của nhà Hán.
    13Nghiêm Nhan đời Tam Quốc, bị Trương Phi bắt mà chịu chết chớ không chịu hàng.
    14Vua Tấn chạy nạn, Kê Thiệu lấy thân che cho vua, mũi tên địch cắm đầy mình ông, máu chảy đầm đìa, ướt cả áo vua.
    15An Lộc Sơn đời Đường nổi loạn, Trương Tuần khởi binh thảo tặc, cố giữ Thú Dương, sau bị vây lâu quá, ông làm thịt người vợ bé cho sĩ tốt ăn đỡ đói, chớ không chịu hàng.
    16An Lộc Sơn bảo Nhan Chân Khanh viết chiếu tôn nó làm thiên tử; Nhan chửi nó, nó kéo lưỡi ông cho ông chết.
    17Đời Tam Quốc, hai anh em bạn học nọ cùng đi cày; người đi trước thấy cục vàng, không thèm lượm; người đi sau cũng thấy, cầm lên coi rồi liệng đi. Khi về nhà học, người đi trước không ngồi chung chiếu với bạn nữa. Sau Tào Tháo vời hai người ra làm quan, thì một người tham ô, theo Tào, một người trốn qua Liêu Đông, chỉ có mỗi cái mão che đầu cho khỏi bị tuyết.
    18Gia Cát Lượng viết tờ biểu xuất sư (tức xuất quân) để diệt Tào Táo.
    19Thời nhà Tấn, rợ Hiệt xâm lấn, Tổ Địch qua một con sông, đập mái chèo xuống nước, thề: "Nếu không thu phục san hà thì không qua con sông này nữa".
    20Chu Tỉ đời Hi Tông, muốn cướp ngôi nhà Đường, bảo Đoàn Tú Thực thảo chiếu tức vị. Đoàn làm bộ mắt mờ không trông rõ, xin lại gần y rồi lấy hốt đập vào đầu y.
    21Cổ nhân tin rằng có những dây buộc trái đất ở trong không gian cho nó vững, còn trời thì có cột để chống.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Lạc Đường Vào lịch Sử

    Nguyễn Mạnh Côn

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646383]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502204]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639436]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471018]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340386]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600274]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689473]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490786]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300095]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010176]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972321]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469893]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445481]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150518]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078425]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062490]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028648]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026281]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959338]
    25.Quỷ Bảo [921590]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907464]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876860]
    29.Hắc Nho [852025]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842901]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839986]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755920]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744904]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622350]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569275]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536741]
    41.Tầm Tần Ký [511894]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455931]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450743]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439763]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433959]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417105]
    49.If You Are Here [411807]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408042]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm