hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[794] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG III. VĂN XUÔI ĐỜI TỐNG

    1. SỬ HỌC

    Sử học đời Tống khá phát đạt, nhờ những cây bút của Âu Dương Tu và Tư Mã Quang, tuy vẫn kém xa đời Hán.

    Họ Âu Dương để lại 2 bộ “Tân Đường thư” 新唐書 và “Tân Ngũ Đại sử” 新五代史.

    Họ Tư Mã soạn bộ sử biên niên “Tư trị thông giám” 資治通鑑 rất có giá trị, thể tài rộng, ý tứ sâu, sao chép việc từ đời Chiến quốc đến đời Ngũ Đại, kết quả của 17 năm nghiên cứu.

    Chu Hy nhân bộ ấy mà viết bộ Thông giám cương mục 通鑑綱目 ảnh hưởng đến bộ Khâm định Việt sử của ta không ít.

     

    2. BIỀN VĂN

    Cuối đời Đường, Lý Thương Ẩn nổi danh với thể tứ lục 1 . Đời Tống sơ, Dương Ức 楊億 và Lưu Quân 劉筠 tiếp tục dùng nó, lần lần nó thịnh, được coi như một thể văn tại miếu đường, triều đình. Từ đó về sau ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, các tờ chiếu, biểu, tấu, hịch đều viết bằng tứ lục. Âu Dương Tu, Vương An Thạch và Tô Thức cũng thành công về thể ấy, song cổ văn của họ mới là phần đáng lưu truyền hậu thế.

     

    3. CỔ VĂN

    Cổ văn đời Tống không kém cổ văn đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Thức, Vương An Thạch, Tăng Củng đều được liệt vào hàng “Bát đại gia” 2 . Dưới đây chúng tôi xin trích của mỗi nhà đó một bài.

    醉翁亭記(歐陽修)

    環滁皆山也其西南諸峰林壑尤美望之蔚然而深秀者琅琊也山行六七里漸聞水聲潺潺而瀉出於兩峰之間者釀泉也

    峰回路轉有亭翼然臨於泉上者醉翁亭也作亭者誰山之僧智仙也名之者誰太守自謂也

    太守與客來飲於此飲少輒醉而年又最高故自號曰醉翁也醉翁之意不在酒在乎山水之間也山水之樂得之心而寓之酒也

    若夫日出而林霏開雲歸而巖穴暝晦明變化者山間之朝暮也野芳發而幽香佳木秀而繁陰風霜高潔水落而石出者山間之四時也朝而往暮而歸四時之景不同而樂亦無窮也

    至於負者歌於途行者休於樹前者呼後者應傴僂提攜往來而不絕者滁人遊也

    臨溪而漁溪深而魚肥釀泉爲酒泉香而酒冽山餚野蔌雜然而前陳者太守宴也宴酣之樂非絲非竹射者中弈者勝觥籌交錯起坐而喧嘩者衆賓歡也蒼顔白髮頹乎其中者太守醉也

    已而夕陽在山人影散亂太守歸而賓客從也樹林陰翳鳴聲上下遊人去而禽鳥樂也

    然而禽鳥知山林之樂而不知人之樂人知從太守遊而樂而不知太守之樂其樂也

    醉能同其樂醒能述以文者太守也太守謂誰廬陵歐陽修也

    Tuý ông đình ký (Âu Dương Tu)

    Hoàn Trừ giai sơn dã. Kỳ tây nam chư phong lâm hác vưu mỹ; vọng chi uý nhiên nhi thâm tú giả, Lang Da dã. Sơn hành lục thất lý tiệm văn thuỷ thanh sàn sàn, nhi tả xuất ư lưỡng phong chi gian giả. Nhưỡng tuyền dã.

    Phong hồi lộ chuyển, hữu đình dực nhiên lâm ư tuyền thượng giả, Tuý ông đình dã. Tác đình giả, thuỳ? Sơn chi tăng Trí Tiên dã. Danh chi giả, thuỳ? Thái thú tự vị dã.

    Thái thú dữ khách lai ẩm ư thử, ẩm thiểu chiếp tuý, nhi niên hựu tối cao, cố tự hiệu viết Tuý ông dã. Tuý ông chi ý bất tại tửu, tại hồ sơn thuỷ chi gian dã. Sơn thuỷ chi lạc, đắc chi tâm nhi ngụ chi tửu dã.

    Nhược phù nhật xuất nhi lâm phi khai, vân quy nhi nham huyệt minh; hối minh biến hoá giả, sơn gian chi triêu mộ dã. Dã phương phát nhi u hương, giai mộc tú nhi phồn âm, phong sương cao khiết, thuỷ lạc nhi thạch xuất giả, sơn gian chi tứ thời dã. Triêu nhi vãng, mộ nhi quy, tứ thời chi cảnh bất đồng, nhi lạc diệc vô cùng dã.

    Chí ư phụ giả ca ư đồ, hành giả hưu ư thụ, tiền giả hô, hậu giả ứng, ủ lũ đề huề, vãng lai nhi bất tuyệt giả, Trừ nhân du dã.

    Lâm khê chi ngư, khê thâm nhi ngư phì; nhưỡng tuyền vi tửu, tuyền hương nhi tửu liệt; sơn hào dã thốc, tạp nhiên nhi tiền trần giả, thái thú yến dã. Yến hàm chi lạc, phi ti phi trúc, xạ giả trúng, dịch giả thắng, quang trù giao thác, khởi toạ nhi huyên hoa giả, chúng tân hoan dã. Sương nhan, bạch phát đồi hồ kỳ trung giả, thái thú tuý dã.

    Dĩ nhi tịch dương tại sơn, nhân ảnh tán loạn, thái thú quy nhi tân khách tòng dã. Thụ lâm âm ế, minh thanh thượng hạ, du nhân khứ nhi cầm điểu lạc dã.

    Nhiên nhi cầm điểu tri sơn lâm chi lạc nhi bất tri nhân chi lạc; nhân nhi tòng thái thú du nhi lạc, nhi bất tri thái thú chi lạc kỳ lạc dã.

    Tuý năng đồng kỳ lạc, tỉnh năng thuật dĩ văn giả, thái thú dã. Thái thú vị thuỳ? Lô Lăng Âu Dương Tu dã.

    Bài ký “Đình ông lão say 3

    (Âu Dương Tu) 4

    Chung quanh đất Trừ đều là núi. Ở phía tây nam, núi non rừng suối càng đẹp. Ngắm nhìn um tùm thanh tú, là ngọn Lang Da. Theo núi đi 6, 7 dặm, dần nghe tiếng nước ào ào chảy ra giữa 2 ngọn núi, đó là suối Nhưỡng 5 .

    Núi quanh co, đường uốn khúc; có ngôi đình như dương cánh đứng trên bờ suối, đó là đình “Ông lão say”. Dựng đình đó là ai? Là nhà sư trên núi tên là Trí Tiên vậy. Đặt tên đình đó là ai? Là quan thái thú tự xưng vậy 6 .

    Thái thú với khách khứa lại uống rượu nơi đó, mới uống ít mà đã say, tuổi lại cao lắm, nên tự đặt tên hiệu là “Ông lão say”. Ý say trong tên “ông lão say” đây, không phải say tại rượu mà tại khoảng sơn thuỷ vậy. Cái vui phong cảnh thấy trong lòng mà ngụ trong rượu vậy.

    Khi mặt trời mọc, màn sương rừng hé mở, mây bay về mà hang hoá tối, tối sáng biến hoá, đó là cảnh sáng chiều trong núi vậy. Cỏ thơm mọc trong đồng nội mà hương u nhã; cây cao tốt mà bóng dày; gió sương trong sạch, nước rút, đá nhô; đó là cảnh bốn mùa trong núi vậy. Sớm đi, tối về, cảnh bốn mùa không giống nhau mà cái vui cũng vô cùng vậy.

    Đến như kẻ đội đồ, hát trên đường, kẻ bộ hành nghỉ dưới gốc cây, người trước hô, kẻ sau ứng, lom khom đề huề, qua lại không ngớt, đó là người đất Trừ đi chơi vậy.

    Vào ngòi câu cá, ngòi sâu mà cá mập; cất nước suối làm rượu, nước suối thơm mà rượu trong; thịt thú, rau đồng la liệt ở trước, đó là bữa yến của thái thú vậy. Yến ẩm say vui, không đờn không sáo, đầu hồ thì trúng, đánh cờ thì thắng; chén, thẻ 7 ngổn ngang; ngồi đứng ồn ào, đó là khách khứa vui thích vậy. Da xanh, tóc bạc, ngả nghiêng ở giữa đám, đó là thái thú say vậy.

    Rồi mà tịch dương hiện trên núi, bóng người tán loạn, thái thú về mà khách khứa theo sau vậy. Cây rừng âm u, chim kêu cao thấp, khách chơi đi hết mà chim chóc vui hát vậy.

    Song chim biết cái vui của rừng núi mà không biết cái vui của người; người biết theo chơi với thái thú mà vui, nhưng không biết rằng thái thú vui cái vui của họ vậy.

    Say, biết cùng vui với họ, tỉnh biết chép lại thành văn, đó là thái thú vậy. Thái thú là ai? Là Âu Dương Tu ở Lô Lăng vậy.

    Bài này đặc biệt ở chỗ cứ cuối mỗi câu, tác giả lại hạ một tiếng “” 也 là “vậy”, đọc lên ta có cảm giác vui vẻ, tưởng tượng ra Âu Dương Tu ngâm xong một câu lại gật gù cái đầu như một người say mà thích chí. Sợ độc giả không quen tai, chúng tôi phải bỏ nhiều tiếng “dã” đó đi, chỉ dịch vừa vừa cho có thôi. Âu Dương Tu còn nhiều bài bất hủ, như bài “Mai Thánh Du thi tập” (Đề tựa tập thơ của Mai Thánh Du), “Thu thanh phú” (bài phú “Tiếng mùa thu”), “Lung Cương thiên biểu” (bài biểu dương công đức của ông cha ở Lung Cương), tiếc rằng chúng tôi không thể trích dịch hết được, sách sẽ dày quá.

    ° ° °

    Và đây là áng cổ văn kiệt tác nổi danh nhất của Trung Quốc, áng văn mà không một thầy khoá nào hồi xưa không thuộc, áng văn mà ta thường thấy nhiều nhà quý phái thời cổ dùng một ngọn bút tài hoa chép lại theo lối triện hoặc thảo lên một bức liễn để mỗi sáng vừa thưởng thức trà vừa ngắm nghía hoặc ngâm nga. Lời vừa hùng vừa đẹp, ý tưởng lại siêu thoát, thanh cao, đọc lên thơm tho cả miệng, sảng khoái của tinh thần.

    前赤壁賦

    壬戌之秋七月既望蘇子與客泛舟遊於赤壁之下

    清風徐來水波不興舉酒屬客誦明月之詩歌窈窕之章少焉月出於東山之上徘徊於斗牛之間白露橫江水光接天縱一葦之所如凌萬頃之茫然浩浩乎如馮虛御風而不知其所止飄飄乎如遺世獨立羽化而登仙於是飲酒樂甚扣舷而歌之歌曰

    桂棹兮蘭槳

    擊空明兮泝流光

    渺渺兮予懷

    望美人兮天一方

    客有吹洞簫者倚歌而和之其聲嗚嗚然如怨如慕如泣如訴餘音裊裊不絕如縷舞幽壑之潛蛟泣孤舟之嫠婦

    蘇子愀然正襟危坐而問客曰

    何為其然也

    客曰

    月明星稀烏鵲南飛此非曹孟德之詩乎西望夏口東望武昌山川相繆鬱乎蒼蒼此非孟德之困於周郎者乎

    方其破荊州下江陵順流而東也舳艫千里旌旗蔽空釃酒臨江橫槊賦詩固一世之雄也而今安在哉況吾與子漁樵於江渚之上侶魚蝦而友糜鹿駕一葉之扁舟舉匏樽以相屬寄蜉蝣與天地渺滄海之一粟哀吾生之須臾羨長江之無窮挾飛仙以遨遊抱明月而長終知不可乎驟得托遺響於悲風

    蘇子曰

    客亦知夫水與月乎逝者如斯而未嘗往也盈虛者如彼而卒莫消長也蓋將自其變者而觀之則天地曾不能以一瞬自其不變者而觀之則物與我皆無盡也而又何羨乎且夫天地之間物各有主苟非我之所有雖一毫而莫取惟江上之清風與山間之明月耳得之而為聲目遇之而成色取之無禁用之不竭是造物者之無盡藏也而吾與子之所共適

    客喜而笑洗盞更酌肴核既盡杯盤狼藉相與枕藉乎舟中不知東方之既白

    Tiền Xích Bích phú (Tô Thức)

    Nhâm Tuất chi thu, thất nguyệt ký vọng, Tô Tử dữ khách phiếm chu, du ư Xích Bích chi hạ.

    Thanh phong từ lai, thuỷ ba bất hưng, cử tửu chúc khách, tụng Minh Nguyệt chi thi, ca Yểu Điệu chi chương. Thiểu yên, nguyệt xuất ư đông sơn chi thượng, bồi hồi ư Đẩu Ngưu chi gian, bạch lộ hoành giang, thuỷ quang tiếp thiên. Túng nhất vi chi sở như, lăng vạn khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ như bằng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ; phiêu phiêu hồ như di thế độc lập, vũ hoá nhi đăng tiên. Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyền nhi ca chi. Ca viết:

    Quế trạo hề lan tương,

    Kích không minh hề tố lưu quang,

    Diểu diểu hề dư hoài,

    Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

    Khách hữu xuý đỗng tiêu giả, ỷ ca nhi hoạ chi; kỳ thanh ô ô nhiên, như oán như mộ, như khấp như tố, dư âm niểu niểu, bất tuyệt như lũ. Vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly phụ.

    Tô tử sậu nhiên, chính khâm, nguy toạ nhi vấn khách viết:

    - Hà vi kỳ nhiên dã?

    Khách viết:

    - Nguyệt minh tinh hy, ô thước nam phi, thử phi Tào Mạnh Đức chi thi hồ? Tây vọng Hạ Khẩu, đông vọng Vũ Xương, sơn xuyên tương liễu, uất hồ thương thương, thử phi Mạnh Đức chi khốn ư Chu Lang giả hồ?

    Phương kỳ phá Kinh Châu, hạ Giang Lăng, thuận lưu nhi đông dã, trục lô thiên lý, tinh kỳ tế không, sỉ tửu Lâm Giang, hoành sáo phú thi, cố nhất thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai? Huống ngô dữ tử, ngư tiều ư giang chử chi thượng, lữ ngư hà nhi hữu mi lộc, giá nhất diệp chi thiên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc; ký phù du ư thiên địa, diểu sương hải chi nhất túc, ai ngô sinh chi tu du, tiện trường giang chi vô cùng, hiệp phi tiên dĩ ngao du, bão minh nguyệt nhi trường chung. Tri bất khả hồ sậu đắc, thác di hưởng ư bi phong!

    Tô tử viết:

    - Khách diệc tri phù thuỷ dữ nguyệt hồ? Thệ giả như tư, nhi vị thường vãng dã; doanh hư giả như bỉ, nhi tốt mạc tiêu trưởng dã. Cái tương tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận dã; nhi hựu hà tiện hồ? Thả phù thiên địa chi gian, vật các hữu chủ, cẩu phi ngã chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ. Duy giang thượng chi thanh phong dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tạng dã, nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích.

    Khách hỉ nhi tiếu, tẩy chản cánh chước. Hào hạch ký tận, bôi bàn lang tạ, tương dữ chẩm tạ hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch.

    Bài phú Tiền Xích Bích của Tô Thức 8

    (Xích Bích là tên một dãy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm 13 niên hiệu Kiến An (2008), Tào Tháo tự đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu Tôn Quyền. Tướng Quyền là Chu Du dùng lối hoả công đánh, thuyền của Tháo bị cháy sạch, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông vì lửa đốt thành sắc đỏ, nên gọi là “Xích Bích” (vách đỏ). Tô Đông Pha (tức Tô Thức) tác giả bài phú này, một lần bị trích ở đất Hoàng Châu. Hoàng Châu nay là huyện Hoàng Cương, cũng thuộc tỉnh Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông và cách xa huyện Gia Ngư. Ở Hoàng Châu có một dãy núi sắc đá đỏ, cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi chơi ở dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này. Nhân vì trùng tên nên ông nhớ đến việc Tào Tháo, Chu Du hồi xưa mà nói đến trong bài) 9 .

    Sở dĩ bài này gọi là Tiền Xích Bích vì sau, Tô Thức lại đi chơi ở chỗ đó, lại làm một bài phú nữa gọi là Hậu Xích Bích phú. Bài sau kém bài trước xa.

    ° ° °

    Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất 10 , Tô tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích 11 .

    Hây hây gió mát, sóng lặng như tờ, cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Điệu 12 . Một lát, trăng mọc lên trên núi Đông Sơn, đi lững thững trong khoảng hai sao Ngưu, Đẩu. Khi đó sương toả trên mặt sông, vẻ nước trong tiếp đến chân trời. Tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt qua trên mặt nước mênh mông muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cưỡi gió đi trên không, mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình, mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:

    “Thung thăng thuyền quế chèo lan,

    Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.

    Nhớ ai cánh cánh bên lòng,

    Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.

    Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, bèn theo bài ca của ta mà hoạ lại. Tiếng sáo não nùng rên rỉ như sầu, như thảm, như khóc, như than. Tiếng dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tít lại như sợi tơ chưa đứt. Làm cho con giao long (thuồng luồng) ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác cũng phải sụt sùi.

    Tô Tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo, ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng:

    - Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?

    Khách đáp rằng:

    - Câu “Minh nguyệt tinh hi, ô thước nam phi” (Nghĩa là trăng sáng sao thưa, quạ bay về Nam) chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Đức đó ru? Đương khi Tào Mạnh Đức phá đất Kinh Châu, xuống thành Giang Lăng, thuận giòng mà sang mặt đông, tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một đời mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá, kiếm củi ở bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi bời với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhắc chén rượu để mời nhau, gởi thân phù du ở trong, trời đất 13 xem ta nhỏ nhặt như hạt thóc ở trong bể xanh, thương cho sự sống của ta không bao lâu mà khen cho con sông này dài vô cùng. Vậy mà muốn được dắt tiên bay để chơi cho sung sướng, ôm lấy vừng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi không làm sao được như vậy cho nên nảy ra tiếng rầu rĩ ở trong cơn gió thoảng!

    Tô tử nói:

    - Vậy thế bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn, khi khuyết như vậy mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà xem ra thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả; cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải là của ta thì dẫu một li ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông cùng vừng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của Tạo hoá, và là cái vui chung của bác với tôi.

    Khách nghe vậy, mừng mà cười, rửa chén lại rót rượu uống một lần nữa. Khi đồ nhắm, hoa quả đã khan, mâm bát bỏ ngổn ngang, cùng nhau gối đầu ngủ ở trong thuyền, không biết vầng đông đã sáng bạch từ lúc nào.

    (Phan Kế Bính dịch)

    讀孟嘗君傳(王安石)

    世皆稱孟嘗君能得士士以故歸之而卒賴其力以脫於虎豹之秦

    嗟乎孟嘗君特雞鳴狗盜之雄耳豈足以言得士不然擅齊之強得一士焉宜可以南面而製秦尚取雞鳴狗盜之力哉夫雞鳴狗盜之出其門此士之所以不至也。

    Đọc Mạnh Thường Quân truyện

    (Vương An Thạch)

    Thế giai xưng Mạnh Thường Quân năng đắc sĩ, sĩ dĩ cố quy chi, nhi tốt lại kỳ lực dĩ thoát ư hổ báo chi Tần.

    Ta hồ! Mạnh Thường Quân đặc kê minh cẩu đạo chi hùng nhĩ, khởi túc dĩ ngôn đắc sĩ? Bất nhiên, thiện Tề chi cường, đắc nhất sĩ yên, nghi khả dĩ nam diện nhi chế Tần, thượng thủ kê minh cẩu đạo chi lực tai? Phù kê minh cẩu đạo chi xuất kỳ môn, thử sĩ chi sở dĩ bất chí dã.

    (Mạnh Thường Quân họ Điền, tên Văn, người nước Tề đời Chiến Quốc, nổi tiếng hào hiệp, biết kết nạp kẻ sĩ, trong nhà luôn luôn nuôi 3.000 người khách. Khi vua Tần đòi qua, nói là để dùng mà kỳ thực là để giết. Mạnh Thường Quân bị giam, nhờ những kẻ sĩ đó cứu mà thoát được nạn. Một người giả làm chó, nửa đêm sủa, gạt quân canh, lấy áo hồ cừu sắc trắng cất trong kho vua Tần, đem dâng cho nàng Yên cơ, quí phi của vua Tần, để Yên cơ tâu với vua tha mạng cho Mạnh Thường Quân về nước. Mạnh Thường Quân được tha, biết thế nào vua Tần cũng hối hận cho quân đuổi theo, nên đi rất gấp, nửa đêm tới của quan. Lệ thời đó cứ gà gáy sáng mới mở cửa quan cho dân ra vào. Một người khách khác của Mạnh Thường Quân giả làm gà, gáy lên ít tiếng, tức thì gà ở chung quanh đua nhau gáy, lính canh tưởng sáng, mới mở cửa cho Mạnh Thường Quân qua. Vừa đi lọt được một lúc thì có quân đuổi theo. Mạnh Thường Quân phải đổi đi đường khác mới thoát khỏi).

    Đọc truyện Mạnh Thường Quân (Vương An Thạch)

    Đời đều khen Mạnh Thường Quân khéo thu nạp kẻ sĩ nên kẻ sĩ theo ông, và nhờ sức họ mà ông thoát được nanh vuốt của cọp Tần.

    Than ôi! Mạnh Thường Quân chỉ là anh hùng của bầy gà gáy, chó sủa mà thôi, há nói được rằng thu nạp đặng kẻ sĩ? Nếu không vậy, nhờ sự phú cường của nước Tề, mà được một kẻ sĩ thì có thể lên ngôi hoàng đế, mà chế phục nước Tần, còn dùng chi đến sức của bọn gà gáy chó sủa kia? Vì bọn gà gáy chó sủa ra vào cửa ông nên kẻ sĩ không đến vậy.

    Độc giả thưởng thức lối văn vừa ký sự vừa nghị luận của Vương An Thạch, tôi chép thêm dưới đây bài ký “Chơi núi Bao Thiền” do Phan Kế Bính dịch.

    遊褒禪山記

    …由山以上五六里有穴窈然入之甚寒問其深則雖好遊者不能窮也謂之後洞餘與四人擁火以入入之愈深其進愈難而其見愈奇有怠而欲出者曰不出火且盡遂與之俱出蓋餘所至比好遊者尚不能十一然視其左右來而記之者已少蓋其又深則其至又加少矣方是時予之力尚足以入火尚足以明也既其出則或咎其欲出者而予亦悔其隨之而不得極乎遊之樂也

    於是予有嘆焉古人之觀於天地山川草木蟲魚鳥獸往往有得以其求思之深而無不在也

    夫夷以近則遊者眾險以遠則至者少而世之奇偉瑰怪非常之觀常在於險遠而人之所罕至焉故非有志者不能至也有志矣不隨以止也然力不足者亦不能至也有志與力而又不隨以怠至於幽暗昏惑而無物以相之亦不能至也然力足以至焉於人為可譏而在己為有悔盡吾志也而不能至者可以無悔矣其孰能譏之乎此予之所得也

    予於仆碑又有悲夫古書之不存後世之謬其傳而莫能名者何可勝道也哉此所以學者不可以不深思而慎取之也

    Du Bao Thiền sơn ký

    (…) Do sơn dĩ thượng ngũ, lục lý hữu huyệt yểu nhiên, nhập chi thậm hàn, vấn kỳ thâm, tắc tuy hiếu du giả bất năng cùng dã; vị chi hậu động. Dư dữ tứ nhân ủng hỏa dĩ nhập, nhập chi dũ thâm, kỳ tiến dũ nan, nhi kỳ kiến dũ kỳ. Hữu đãi nhi dục xuất giả, viết bất xuất, hỏa thả tận, toại dữ chi câu xuất. Cái dư sở chí, tỉ hiếu du giả, thượng bất năng thập nhất; nhiên thị kỳ tả hữu lai nhi ký chi giả dĩ thiểu. Cái kỳ hựu thâm, tắc kỳ chí hựu gia thiểu hĩ. Phương thị thời, dư chi lực thượng túc dĩ nhập, hỏa thượng túc dĩ minh dã. Ký kỳ xuất, tắc hoặc cữu kỳ dục xuất giả, nhi dư diệc hối kỳ tùy chi, nhi bất đắc cực hồ du chi lạc dã.

    Ư thị dư hữu thán yên: cổ nhân chi quan ư thiên địa, sơn xuyên, thảo mộc, trùng ngư, điểu thú, vãng vãng hữu đắc, dĩ kỳ cầu tư chi thâm nhi vô bất tại dã.

    Phù di dĩ cận, tắc du giả chúng, hiểm dĩ viễn tắc chí giả thiểu; nhi thế chi kỳ vĩ khôi quái phi thường chi quan, thường tại ư hiểm viễn nhi nhân chi sở hãn chí yên, cố phi hữu chí giả, bất năng chí dã; hữu chí hỹ, bất tùy dĩ chỉ dã nhiên lực bất túc giả, diệc bất năng chí dã; hữu chí dữ lực, nhi hựu bất tùy dĩ đãi, chí ư u ám hôn hoặc, nhi vô vật dĩ tướng chi, diệc bất năng chí dã. Nhiên lực túc dĩ chí yên, ư nhân vi khả ki nhi tại kỷ vi hữu hối; tận ngô chí dã, nhi bất năng chí giả, khả dĩ vô hối hỹ, kỳ thục năng ki chi hồ? Thử dư chi sở đắc dã.

    Dư ư phốc bi hựu hữu bi phù cổ thư chi bất tồn, hậu thế chi mậu kỳ truyền nhi mạc năng danh giả, hà khả thăng đạo dã tai! Thử sở dĩ học giả bất khả dĩ bất thâm tư nhi thận thủ chi dã (…)

    Bài ký “Chơi núi Bao Thiền” (Vương An Thạch)

    (…) Từ núi trở lên phía trên năm sáu dặm, có cái hang sâu thẳm, vào trong hang lạnh lắm. Hỏi bề sâu thì những người hay đi chơi cũng không biết đến đâu là cùng; đấy gọi là Hậu động. Ta cùng với bốn người, đốt đuốc đi vào, vào càng sâu thì càng khó đi, mà sự trông thấy càng lạ. Có người nản, muốn trở ra, nói: nếu không ra thì hết đuốc, vì thế phải ra cả. Ta đến đấy sánh với người hay chơi, mười phần chưa được một phần, song nhìn xem hai bên kẻ đến chơi mà ghi ở đó đã ít rồi, vì càng sâu bao nhiêu thì người đến lại càng ít vậy. Khi đó sức ta còn có thể đi được, lửa cũng còn sáng, lại theo người đi ra, ta hối vì theo người ra mà không được thoả hết cuộc vui vậy.

    Ta vì thế mà thổn thức thay! Người đời xưa xem trời đất, núi sông, cây cỏ, chim cá, sâu bọ, thường thường ý hội được vì tìm kiếm, nghĩ ngợi nhiều mà ở đâu cũng có vậy.

    Ôi, chỗ phẳng phiu mà gần thì kẻ đến chơi nhiều, nơi hiểm trở mà xa thì kẻ đến chơi ít. Mà những sự lạ lùng, kỳ quái, thì lại thường ở chỗ hiểm xa, người ta ít đến, cho nên phi có chí thì không đến được; có chí, không theo ai mà sinh nản, song không đủ sức cũng không đến được. Có chí, có sức, không sinh nản, đến chỗ tối tăm mù mịt, mà không có vật gì giúp cho mình cũng không đến được. Có sức đến mà không đến thì ở người đáng chê, ở ta thì nên hối; hết cái chí của ta mà không sao đến được bấy giờ mới không hối gì, mà còn ai chê nữa? Đó là điều của ta được thoả vậy.

    Ta ở chỗ bia đổ, lại thường cho sách đời xưa không còn, người đời xưa truyền lại, thế thì những điều sai lầm kể sao cho xiết, người học giả nên nghĩ kỹ mà giữ cho cẩn mới được.

    (Phan Kế Bính dịch)

    寄歐陽舍人書(曾鞏)

    去秋人還蒙賜書及所撰先大父墓碑銘反復觀誦感與慚並夫銘志之著於世義近於史而亦有與史異者蓋史之於善惡無所不書而銘者蓋古之人有功德材行志義之美者懼後世之不知則必銘而見之或納於廟或存於墓一也苟其人之惡則於銘乎何有此其所以與史異也

    其辭之作所以使死者無有所憾生者得致其嚴而善人喜於見傳則勇於自立惡人無有所紀則以愧而懼警勸之道非近乎史其將安近

    後世之衰人之子孫者一欲褒揚其親而不本乎理故雖惡人皆務勒銘以誇後世立言者既莫之拒而不為又以其子孫之所請也書其惡焉則人情之所不得於是乎銘始不實

    後之作銘者當觀其人茍託之非人則書之非公與是則不足以行世而傳後故千百年來公卿大夫至於里巷之士莫不有銘而傳者蓋少其故非他託之非人書之非公與是故也

    然則孰為其人而能盡公與是歟非畜道德而能文章者無以為也

    蓋人之行有情善而跡非有意姦而外淑有善惡相懸而不可以實指有實大於名有名侈於實猶之用人非畜道德者惡能辨之不惑議之不徇不惑不徇則公且是矣

    而其辭之不工則世猶不傳於是又在其文章兼勝焉故曰﹕非畜道德而能文章者無以為也豈非然哉

    然畜道德而能文章者雖或並世而有亦或數十年或一二百年而有之其傳之難如此其遇之難又如此

    若先生之道德文章固所謂數百年而有者也先祖之言行卓卓幸遇而得銘其公與是其傳世行後無疑也

    而世之學者每觀傳記所書古人之事至其所可感則往往齂然不之涕之流落也況其子孫也哉況鞏也哉

    其追晞祖德而思所以傳之之由則知先生推一賜於鞏而及其三世其感與報宜若何而圖之

    抑又思若鞏之淺薄滯拙而先生進之先祖父之屯蹶否塞以死而先生顯之則世之魁閎豪傑不世出之士其誰不願於進於門潛遁幽抑之士其誰不有望於世善誰不為而惡誰不愧以懼為人之父祖者孰不欲教其子孫為人之子孫者孰不欲寵榮其父祖此數美者一歸於先生

    既拜賜之辱且敢進其所以然所論世族之次敢不承教而加詳焉

    Ký Âu Dương xá nhân thư

    (Tăng Củng)

    Khử thu, nhân hoàn, mông tứ thư cập sở soạn tiên đại phụ mộ bi minh. Phản phúc quan tụng, cảm dữ tàm tịnh. Phù minh chí chi trứ ư thế, nghĩa cận ư sử nhi diệc hữu dữ sử dị giả. Cái sử chi ư thiện ác vô sở bất thư, nhi minh giả, cái cổ chi nhân hữu công, đức, tài, hạnh, chí, nghĩa chi mỹ giả, cụ hậu thế chi bất tri, tắc tất minh nhi kiến chi, hoặc nạp ư miếu, hoặc tồn ư mộ, nhất dã. Cẩu kỳ nhân chi ác, tắc ư minh hồ hà hữu? Thử kỳ sở dĩ dữ sử dị dã.

    Kỳ từ chi tác, sở dĩ sử tử giả vô hữu sở hám, sinh giả đắc trí kỳ nghiêm; nhi thiện nhân hỷ ư kiến truyền, tắc dũng ư tự lập; ác nhân vô hữu sở kỷ, tắc dĩ quý nhi cụ. Cảnh khuyến chi đạo, phi cận hồ sử, kỳ tương an cận?

    Hậu thế chi suy, nhân chi tử tôn giả, nhất dục bao dương kỳ thân nhi bất bản hồ lý, cố tuy ác nhân giai vụ lặc minh dĩ khoa hậu thế. Lập ngôn giả ký mạc chi cự nhi bất vi, hựu dĩ kỳ tử, tôn chi sở thỉnh dã, thư kỳ ác yên, tắc nhân tình chi sở bất đắc, ư thị hồ minh thuỷ bất thực.

    Hậu chi tác minh giả, đương quan kỳ nhân, cẩu thác chi phi nhân, tắc thư chi phi công dữ thị, tắc bất túc dĩ hành thế nhi truyền hậu. Cố thiên bách niên lai, công khanh, đại phu, chí ư lý hạng chi sĩ, mạc bất hữu minh, nhi truyền giả cái thiểu, kỳ cố phi tha: thác chi phi nhân, thư chi phi công dữ thị, cố dã.

    Nhiên tắc thục nhi vi kỳ nhân, nhi năng tận công dữ thị dư? Phi súc đạo đức nhi năng văn chương giả vô dĩ vi dã.

    Cái nhân chi hành, hữu tình thiện nhi tích phi, hữu ý gian nhi ngoại thục, hữu thiện ác tương huyền, nhi bất khả dĩ thực chỉ, hữu thực đại ư danh, hữu danh xỉ ư thực; do chi dụng nhân, phi súc đạo đức giả, ô năng biện chi bất hoặc, nghị chi bất tuẫn? Bất hoặc bất tuẫn, tắc công thả thị hĩ!

    Nhi kỳ từ chi bất công, tắc thế do bất tuyền, ư thị hựu tại kỳ văn chương kiêm thắng yên. Cố viết: “Phi súc đạo đức nhi năng văn chương giả, vô dĩ vi dã”. Khởi phi nhiên tai?

    Nhiên súc đạo đức nhi năng văn chương giả, tuy hoặc tịnh thế nhi hữu, diệc hoặc sổ thập niên, hoặc nhất, nhị bách niên nhi hữu chi. Kỳ truyền chi nan như thử, kỳ ngộ chi nan hựu như thử.

    Nhược tiên sinh chi đạo đức, văn chương, cố sở vị sổ bách niên nhi hữu giả dã. Tiên tổ chi ngôn hành trác trác, hạnh ngộ nhi đắc minh kỳ công dữ thị, kỳ truyền thế hành hậu, vô nghi dã.

    Nhi thế chi học giả mỗi quan truyện ký sở thư cổ nhân chi sự, chí kỳ sở khả cảm, tắc vãng vãng hức nhiên, bất chi thế chi lưu lạc dã. Huống kỳ tử tôn dã tai! Huống Củng dã tai?

    Kỳ truy hy tổ đức nhi tư sở dĩ truyền chi chi do, tắc tri tiên sinh thôi nhất tứ ư Củng nhi cập kỳ tam thế. Kỳ cảm dữ báo nghi nhược hà nhi đồ chi?

    Ức hựu tư nhược Củng chi thiển bạc trệ chuyết, nhi tiên sinh tiến chi, tiên tổ phụ chi truân quệ bĩ tắc dĩ tử nhi tiên sinh hiển chi, tắc thế chi khôi hoằng hào kiệt bất thế xuất chi sĩ, kỳ thuỳ bất nguyện tiến ư môn? Tiềm độn u ức chi sĩ, kỳ thuỳ bất hữu vọng ư thế? Thiện thuỳ bất vi, nhi ác thuỳ bất quí dĩ cụ? Vi nhân chi phụ tổ giả, thục bất dục giáo kỳ tử tôn? Vi nhân chi tử tôn giả, thục bất dục sủng vinh kỳ phụ tổ? Thử sổ mỹ giả, nhất qui ư tiên sinh.

    Kỳ bái tứ chi nhục, thả cảm tiến kỳ sở dĩ nhiên. Sở luận thế tộc chi thứ, cảm bất thừa giáo nhi gia tường yên.

    Thư gởi Âu Dương Công

    (Tăng Củng)

    (Về tác giả, chúng ta chỉ nên nhớ ông tự là Tử Cố 子固 là người đồng hương và đồng thời với Âu Dương Tu, văn rất hay song không biết làm thơ, nên cổ nhân nói: “Có ba điều hận: một là hoa hải đường không hương, hai là cá cháy nhiều xương, ba là Tăng Tử Cố không biết làm thơ”. Văn của Tăng Củng chắc thất lạc nhiều, trong các sách trích Cổ văn hiện nay, chúng tôi chỉ thấy mỗi một bài của ông, tức bài trên.

    Âu Dương Tu soạn giúp Tăng Củng một bài “minh” tức một bài để khắc vào mộ chí – kể tiểu sử, đức hạnh của ông nội Tăng Củng. Tăng viết thư này để tạ ơn, lý luận xác đáng, lời rõ ràng, giọng cảm động).

    Mùa thu năm ngoái, nhân có người về, tôi đội ơn ngài gởi thư và bài ngài soạn để khắc vào mộ chí ông tôi. Tôi đọc đi đọc lại, vừa cảm động vừa thẹn thùng.

    Bài “minhkhắc để đời, nghĩa gần với sử mà cũng có chỗ khác sử. Sử đối với việc thiện, việc ác, không việc gì không chép; còn minh là nhân người xưa có công, đức, tài, hạnh, chí, nghĩa, sợ người sau không biết mới đem khắc mà biểu lộ ra, dù dâng vào miếu hoặc đặt trên mộ, nghĩa cũng là một. Nếu người đó ác thì còn có gì mà ghi? Minh với sử khác nhau ở chỗ đó.

    Lời (minh) viết ra cốt để người chết không có gì di hận mà kẻ sống thì khi đọc, hết sức tôn kính; người thiện vui vẻ mong được người ta truyền danh mình mà mạnh bạo tự lập 14 ; còn kẻ ác, không có điều gì đáng ghi thì thẹn mà sợ. Cái đạo khuyên răn ấy, không giống với sử thì giống với cái gì?

    Đời sau suy vi, con cháu chỉ muốn khoa dương ông cha mình mà không căn cứ vào lý, nên tuy ông cha là ác, cũng cầu ghi vào bia để khoe với hậu thế. Kẻ lập ngôn 15 không cự tuyệt mà không viết, thấy con cháu người ta xin, nếu chép cả điều ác của người ta thì không hợp với nhân tình, do đó sự soạn minh mới không được chân thực.

    Người sau có viết minh thì phải xét người mình viết cho. Nếu người nhờ cậy mà không xứng đáng thì chép sẽ không công bằng và sai sự thực; như vậy tất không sao truyền lại được hậu thế. Cho nên trăm ngàn năm trở lại đây, từ bậc công khanh, đại phu đến kẻ sĩ trong làng, trong ngõ, khi chết rồi ai cũng có bài minh, mà những bài được truyền lại rất ít, cũng do lẽ ấy; người nhờ viết thì không xứng đáng mà người viết thì không công bằng, không cầu sự chân thực.

    Vậy thì ai là người biết giữ hết đạo công bằng và chép đúng sự thực? Hễ không phải là người đạo đức và giỏi văn thì làm việc ấy không được.

    Hành vi của con người, có khi tình thì thiện mà việc thì ác, trong lòng gian mà bề ngoài tốt; có khi thiện ác liên quan với nhau mà không thể chỉ đúng ra được; có khi thực lớn hơn danh, có khi danh lớn hơn thực; nên khi cậy người viết minh, nếu không phải là người đạo đức thì làm sao phân biệt cho khỏi nghi hoặc, không thiên kiến. Không nghi hoặc, không thiên kiến tức là công bằng và đúng sự thực.

    Nhưng nếu lời không khéo thì không được đời truyền lại, nên người đó lại cần có văn chương hơn người nữa.

    Cho nên tôi nói rằng: “Không phải là người đạo đức và giỏi văn thì không viết minh được”. Há chẳng đúng như vậy sao?

    Song người đạo đức, giỏi văn, hoặc cùng sống với ta hoặc vài mươi năm, một hai trăm năm mới có. Viết minh mà truyền lại được hậu thế đã là một việc khó như vậy mà gặp được người đủ tư cách để viết lại khó như vậy.

    Người có đạo đức và văn chương như ngài, có thể nói là vài trăm năm mới gặp được. Ngôn hành trác việt của ông tôi may được ngài ghi một cách công bằng và xác thực, tất được truyền lại hậu thế, không còn ngờ gì nữa.

    Kẻ học giả trong đời mỗi khi coi những truyện ký chép việc cổ nhân, đến chỗ cảm động, thường đau xót, lệ rỏ mà không hay. Kẻ học giả xa lạ mà còn vậy, huống hồ là con cháu trong nhà, huống hồ là Củng tôi!

    Nghĩ đến việc ngài muốn truy mộ đức của ông tôi và đến lẽ mà ngài muốn ghi truyền những đức đó lại, thì biết ngài có ý gia ơn cho Củng tôi, mà luôn đến cả ba đời nhà tôi (từ ông tôi đến tôi). Tôi cảm kích lắm, không biết báo đáp cách nào đây!

    Vả lại ngài nghĩ rằng Củng tôi học lực thô thiển, tư cách ngu độn mà muốn dắt dẫn tôi; nghĩ tổ tiên tôi gian truân khốn khổ đến lúc mất mà muốn biểu dương cho, như thế thì những kẻ anh hùng hào kiệt, những kẻ sĩ tột vời ai là người không tình nguyện xin vào cửa ngài? Những kẻ ẩn lánh u uất, ai là người không hi vọng ở đời? Điều thiện, ai là không làm, mà việc ác ai là không thẹn, không sợ? Bực ông cha, ai không muốn dạy con cháu? Hàng con cháu ai không muốn kính yêu ông cha, làm vẻ vang ông cha? Những điều tốt đẹp đó, đều do công của ngài cả.

    Tôi đã mang ơn ngài cho bài minh, lại dám dâng ngài những lý do vì sao tôi mang ơn. Còn những điều ngài khuyên về việc ghi thứ tự trong họ, thì tôi xin ghi lời mà chép thêm cho rõ ràng.

     

    4. TIỂU THUYẾT

    Văn nhân đời Tống cũng gắng sức viết truyền kỳ như văn nhân đời Đường, song tài kém nên ít thành tích. Chỉ có vài tác phẩm đáng đọc như: Dương Thái Chân ngoại truyện 楊太真外傳, Triệu Phi Yến biệt truyện 趙飛燕別傳, Mai Phi truyện 梅妃傳 … đều là những tiểu thuyết diễm tình.

    Trái lại, trong dân gian xuất hiện một số tiểu thuyết có giá trị, viết bằng bạch thoại, như bộ Tân biên Ngũ Đại Sử bình thoại 新編五代史平話 và bộ Kinh bản thông tục tiểu thuyết 京本通俗小說.

    Bộ sau có 8 truyện ngắn, hầu hết là những truyện thần tiên hoặc diễm tình, trừ một truyện tả cảnh khổ của dân gian khi Vương An Thạch thi hành tân pháp.

    Ngoài ra còn bộ Đại Đường Tam Tạng thủ kinh thi thoại 大唐三藏取經詩話 kể truyện Huyền Trang qua Ấn Độ lấy kinh. Người đời sau phỏng theo đó viết bộ Tây Du ký 西遊記.

    Bộ Đại Tống Tuyên Hoà di sự 大宋宣和遗事 tả đời hoang dâm của các vua nhà Tống, những hoạ do tân pháp của Vương An Thạch gây ra. Có chương viết bằng văn ngôn; có chương viết bằng bạch thoại, như chương tả anh hùng Lương Sơn Bạc, làm gốc cho bộ Thuỷ Hử 水滸 sau này.

     

    5. TUỒNG

    Tuồng đời Tống, nhờ lối từ phát đạt (coi chương sau), nên ca vũ khúc cũng rất thịnh. Lại nhờ văn bạch thoại bắt đầu xuất hiện, tuồng lần lần có quy mô. Mỗi tuồng về hình thức chia làm 3 phần: khoa 科 tức là động tác, bạch 白 tức là đối thoại và khúc 曲 tức là lời ca.

    Song, tuồng đời Tống đều thất truyền.

     

    TÓM TẮT

    1. Văn xuôi đời Tống thì cổ văn có giá trị nhất. Âu Dương Tu, Tô Thức, Vương An Thạch, Tăng Củng đều được đứng trong hàng bát đại gia. Văn của Âu Dương thì nghiêm trang, của Tô thì hào hùng, khoáng đạt, của Vương thì giản dị, mạnh mẽ, của Tăng thì rõ ràng, cảm động.

    2. Về sử họcÂu Dương Tu, nhất là Tư Mã Quang, tác giả bộ Tư trị thông giám.

    3. Tiểu thuyết tuy nhiều mà phần nghệ thuật kém. Có nhiều bộ bằng bạch thoại, làm gốc cho những truyện Tây Du ký, Thuỷ Hử sau này…

    4. Tuồng bắt đầu có hình thức hoàn bị, song tác phẩm đều thất truyền.

    --------------------------------
    1Một thể biền ngẫu, cứ 1 câu 4 chữ lại tới 1 câu 6 chữ.
    2Tức Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên (ở đời Đường), Âu Dương Tu, Vương An Thạch, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt và Tăng Củng (ở đời Tống).
    3Đình là cái nhà nhỏ để nghỉ mát, đọc sách.
    4Coi tiểu sử ở sau.
    5Nhưỡng chính nghĩa là gây rượu, chắc dân miền ấy dùng nước suối ấy để nấu rượu nên đặt tên cho suối như vậy.
    6Âu Dương Tu làm Thái thú nơi đó, tự gọi mình là "ông lão say" rồi lấy tên đó đặt tên cho đình.
    7Thẻ để chơi đầu hồ, ném thẻ vào được một cái hồ (như cái bình) thì thắng.
    8Coi tiểu sử ở sau.
    9Chú thích của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu.
    10Tức là năm thứ tư niên hiệu Nguyên Phong nhà Tống (1082).
    11Xích Bích là tên một dãy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm 13 niên hiệu Kiến An (208), Tào Tháo từ đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu ở Tôn Quyền. Tướng Quyền là Chu Du dùng lối hoả công đánh, thuyền của Tháo bị cháy sạch, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông vì lửa đốt thành sắc đỏ, nên gọi là "Xích Bích" (vách đỏ). Tô Đông Pha (tức Tô Thức) một lần bị trích ở đất Hoàng Châu. Hoàng Châu nay là huyện Hoàng Cương, cũng ở Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông và ở cách xa huyện Gia Ngư. Ở Hoàng Châu có một dãy núi sắc đá đỏ, cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi chơi ở dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này. Nhân vì trùng tên nên ông nhớ đến việc Tào Tháo, Chu Du hồi xưa mà nói đến ở trong bài (chú thích của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu)
    12Chương Yểu Điệu là một chương ở thơ Minh Nguyệt trong Kinh Thi. Thơ ấy có ý chê người quyền thế không ưa người hiền, chỉ ưa gái đẹp.
    13Chỗ này ấn công cuốn Việt Nam sử yếu (1950) in hoặc sai chăng? Như vầy có lẽ đúng hơn: "gởi thân phù du ở trong trời đất, nhỏ nhỏ nhặt như một hạt thóc ở trong bể xanh". Chú thích của soạn giả.
    14Chữ tự lập này có nghĩa khác với nghĩa ngày nay. Tự lập là tự tu thân luyện đức để thành người.
    15Tức kẻ viết bài minh.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Bóng Người Thiên Thu

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646383]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502204]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639435]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471017]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340386]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600274]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689471]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490781]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300095]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010176]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972321]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469891]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445481]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150518]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078425]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062489]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028648]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026281]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959337]
    25.Quỷ Bảo [921590]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907464]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876860]
    29.Hắc Nho [852023]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842901]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839986]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755920]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744904]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622350]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569275]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536741]
    41.Tầm Tần Ký [511894]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455931]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450743]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439763]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433959]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417105]
    49.If You Are Here [411807]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408042]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm