hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[1005] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG II. VĂN NGHỊ LUẬN CỦA CÁC TRIẾT GIA

    (Cuối đời Xuân Thu và trong đời Chiến Quốc)

    Thế kỷ thứ VI, thứ V, thứ IV, thứ III tr.CN

    Thời Chiến Quốc là một trong những thời loạn ly nhất. Luôn 200 năm, các chư hầu đánh nhau không lúc nào ngớt, những cảnh chém giết, cướp bóc, thương luân bại lý xảy ra hằng ngày. Nhưng thời đó là một thời quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc vì có những biến chuyển mạnh mẽ, sâu xa: Xã hội sửa soạn đổi lốt, bỏ chế độ phong kiến mà bước vào chế độ quân quyền.

    Theo các sử gia ngày nay, sự biến chuyển ấy do tình hình kinh tế thay đổi: nông nghiệp đã phát đạt, thương và công đã bắt đầu tấn triển. Muốn khai phá thêm đất đai, muốn cho sự giao thông và thương mãi được dễ dàng, dân tộc Trung Hoa cần phá những bức thành giữa hàng trăm tiểu quốc để thống nhất Quốc gia, nên các nước chư hầu thôn tính lẫn nhau, từ 100 rút lại còn 6, 7 sau cùng gồm cả về một mối là Tần.

     

    2. PHƯƠNG BẮC VÀ PHƯƠNG NAM

    Trước cảnh hỗn loạn, tàn sát ấy, các nhà ưu thời mẫn thế tìm giải pháp này, giải pháp nọ để lập lại trật tự, hoà bình. Mỗi nhà một chủ trương, nhờ vậy mà học thuật và nghệ thuật tiến rất mau. Ta thấy những thuyết của Khổng, Mạnh, Lão, Trang, Mặc Tử, Tuân Tử… trước sau có hàng chục triết gia. Nhưng xét chung, ta có thể chia làm 2 phái: Phái Bắc ở trên lưu vực sông Hoàng Hà, phái Nam ở trên lưu vực sông Dương Tử.

    a. Địa thế, khí hậu

    Hai lưu vực ấy địa thế và khí hậu khác nhau, nên ảnh hưởng đến con người cũng khác nhau.

    Một tác giả đời Thanh viết:

    Phương Nam như các nước Sở, Ngô, Việt khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, phong cảnh tốt đẹp, sản vật phong phú. Phương Bắc – tức các nước Tần, Tần, Vệ, Lỗ, Tống… – trái lại khí hậu lạnh lẽo, đất cát khô khan, cây cỏ thưa thớt, phong cảnh tiêu điều, sản vật hiếm hoi”.

    Vương Chi Hoán đời Đường tả phong cảnh Hoàng Hà lưu vực như sau:

    白日依山盡,

    黃河入海流。

    欲窮千里目,

    更上一層樓。

    Bạch nhật y sơn tận,

    Hoàng Hà nhập hải lưu,

    Dục cùng thiên lý mục,

    Cánh thượng nhất tằng lâu.

    Bạch nhật nương non lặn,

    Hoàng Hà nhập biển sâu,

    Muốn nhìn khắp ngàn dặm,

    Lại bước một tầng lầu.

    Mưa rất ít, trời quanh năm xanh biếc, không một đám mây, đất thì mênh mông một màu cát vàng, không có cây cao che tầm con mắt, chỉ toàn một loại cỏ; khi gió ào ào thổi, cỏ rạp xuống, ta thấy lô nhô những bầy trâu và dê, đúng như lời ca dưới đây của rợ Sắc Lặc ở phương Bắc.

    天蒼蒼,野茫茫,

    風吹草低見牛羊。

    Thiên sương sương, dã mang mang,

    Phong suy thảo đê kiến ngưu dương.

    Trời xanh biếc, trời mênh mông,

    Gió đè cỏ bẹp, dễ trông trâu bò.

    Còn phương Nam thì núi chơm chởm, hết ngọn này tới ngọn khác, mây trắng phủ quanh năm; sông rạch quanh co uốn khúc, như bồi hồi luyến tiếc cành xuân hoa thắm mà không nỡ rời.

    巖峭嶺稠疊,

    洲縈渚連緜。

    白雲抱幽石,

    綠絛媚清漣。

    (謝靈運)

    Nham tiêu lãnh chù điệp,

    Châu oanh chử liên miên.

    Bạch vân bảo u thạch,

    Lục điều mị thanh liên 1 .

    (Tạ Linh Vận)

    Trùng trùng núi chơm chởm,

    Liên miên bãi cong cong.

    Mây trắng ôm đá xám,

    Cành xanh vờn nước trong.

    Đất cát thì phì nhiêu, không cần khó nhọc cũng dư sống, người ta nhàn nhã thơ thẩn dưới bóng mát mà ngắm cảnh mây bay nước chảy.

    Trời tạnh thì cảnh thiệt rực rỡ:

    雲日相輝映,

    空水共澄鮮。

    Vân nhật tương huy ưởng,

    Không thuỷ cộng trùng tiên.

    Trời mây chiếu sáng lẫn nhau,

    Không gian, mặt nước một màu trong tươi.

    Trời nổi cơn giông thì cảnh hoá hãi hùng:

    雷填填兮,雨冥冥,

    爰啾啾兮,狖夜鳴。

    Lôi điền điền hề, vũ minh minh,

    Viên thu thu hề, dứu dạ minh.

    Sấm ầm ầm hề 2 , mưa mù mù,

    Vượn hú hú hề, khỉ kêu đêm.

    b. Tính tình dân tộc

    Địa thế và khí hậu ảnh hưởng đến tính tình con người. Nhân dân phương Nam sống một cách an vui, nhàn nhã nên có thì giờ vơ vẩn mà thường ham ảo tưởng; họ thiên về tình cảm, ưa hoa mỹ, du đãng; tư trào của họ là lãng mạn. Còn nhân dân phương Bắc phải gắng sức kiếm ăn nên trọng sự dùng sức, thiên về lý trí, tư trào của họ hướng về hiện thực.

    Ngay trong sách Trung Dung 3 ta đã thấy sự phân biệt giữa cái cường của người phương Nam và người phương Bắc.

    寬柔以教,不報無道,南方之强也,君子居之。衽金革,死而不厭,北方之强也,而强者居之。

    Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã, quân tử cư chi. Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm, bắc phương chi cường dã, nhi cường giả cư chi.

    Khoan nhu mà dạy, tha thứ kẻ vô đạo, đó là cái cường của người phương Nam, người quân tử theo đó. Nằm trên áo giáp, binh khí, chết mà không sợ, đó là cái cường của người phương Bắc, kẻ anh hùng theo đó.

    Người phương Bắc chê người phương Nam là khinh bạc, xa dâm, lo ăn suốt ngày, không chịu suy nghĩ. Người phương Nam chê người phương Bắc là hung tợn, tụ họp hoài, thích những tiểu xảo.

    c. Học thuật và nghệ thuật

    Khí chất khác nhau thì học thuật và nghệ thuật cũng khác. Phương Nam trọng sự diễm lệ, phương Bắc trọng sự hùng mạnh. Phương Bắc có Khổng, Mạnh. Phương Nam có Lão, Trang. Phương Bắc có Kinh Thi, phương Nam có Sở từ.

    Hội hoạ cũng có Nam Tông và Bắc Tông. Nam Tông như Vương Duy, bút pháp mềm mại; Bắc Tông như Lý Tư, bút pháp nghiêm cẩn.

    Về chữ viết, lối phương Nam của Vương Hi Chi tươi đẹp; lối phương Bắc thì cứng mạnh.

    Rồi đến Phật học, kiến trúc, điêu khắc… nhất nhất đều chia làm hai phái: Nam và Bắc 4 .

    Chúng tôi hãy xét triết lý văn chương của các tông phái Khổng, Lão… rồi sẽ nghiên cứu Kinh Thi và Sở từ.

    Độc giả sẽ thấy sự phân biệt Bắc, Nam rất rõ rệt trong tư tưởng và văn nghệ thời Chiến Quốc.

     

    3. KHỔNG, MẠNH Ở PHƯƠNG BẮC

    KHỔNG KHƯU 孔丘 (551-479)

    Khổng Khưu 孔丘 (551-479) tự là Trọng Ni 仲尼, thường gọi là Khổng Tử, là người tiêu biểu cho phong trào phương Bắc.

    Ông sinh ở nước Lỗ vào đời Xuân Thu, trong một gia đình quý phái: Trước làm quan nhỏ ở nước Lỗ, đau lòng về cảnh loạn đương thời, muốn đem chính sách của mình thi hành, mới đi chu du liệt quốc nhưng không được nước nào trọng dụng. Gần già, ông trở về Lỗ dạy học và viết sách.

    Vì sinh ở phương Bắc, ông chú trọng về thực tế và chủ trương bảo thủ.

    Ông nghĩ rằng “muốn cho thiên hạ vô đạo hồi ấy thành thiên hạ hữu đạo thì có một cách là khiến thiên tử cứ làm thiên tử, chư hầu, đại phu cứ làm chư hầu, đại phu, bồi thần làm bồi thần, thứ dân làm thứ dân, khiến thực cho đúng với danh, đó tức chính danh chủ nghĩa” (Đào Duy Anh).

    Tóm lại, ông muốn giữ chế độ phong kiến.

    Ông chủ trương chủ nghĩa đức trị, nhưng cũng cho lễ phép là điều cần thiết và nhạc là phương tiện để điều hoà tâm tính con người. Tư tưởng về luân lý của ông có thể tóm trong mấy điều: Nhân, hiếu, để, trung, thứ.

    Ông soạn kinh Xuân Thu, một cuốn sử chép đời Xuân Thu theo lối biên niên, ý nghĩa hàm súc, nhưng lời rất khô khan, không có tính cách văn chương. Ông rất thận trọng khi hạ bút, như muốn tỏ lòng kính nể ai thì chép cả chức tước, nếu không thì chỉ ghi tên họ.

    Chẳng hạn trong câu:

    “Mùa thu tháng tám, ngày giáp ngọ, tên Vạn của Tống giết vua tên Tiệp và quan đại phu Cừu Mục” ông cố ý chê Nam Cung Trường Vạn là kẻ thí chúa, chê vua Tống không nghiêm trang, hay đùa bỡn với bề tôi để phải chết một cách thảm khốc (hai người đó, ông chỉ kể tên) và khen quan đại phu trung trực, coi thường cái chết, tuy yếu đuối mà dám cầm hốt đánh một tên võ phu (ông ghi cả tên và chức tước của vị đại phu ấy).

    Ông chép sử với quan niệm đạo đức như vậy nên cân nhắc từng chữ. Thiên tử chết thì chép chữ băng, vua chư hầu chết thì chép chữ hoăng 薨, ông vua cướp ngôi mà chết thì chép chữ tồ 殂, ông quan liêm chính chết thì chép chữ tốt 卒, nếu gian nịnh mà chết thì chép chữ tử 死.

    Đời sau cho rằng được ông khen một tiếng thì vinh hơn là được tặng mão đẹp, mà bị ông chê một tiếng thì khổ hơn là bị búa rìu. Do đó, tiếng “búa rìu” để chỉ cái uy của dư luận.

    Ông lại san định những Kinh Thi 詩, Dịch 易, Thư 書. 5

    Kinh Thi chúng tôi sẽ xét ở sau; thiên Tần Thệ trong Kinh Thư đã được trích dẫn ở chương trên, nay xin dẫn vài câu của ông trong Kinh Dịch – một cuốn về triết học thường dùng trong khoa bói – để độc giả thấy văn của ông thâm thuý và bóng bẩy.

    Bàn về hào 6 thứ 5 quẻ Kiền, ông viết:

    同聲相應,同氣相求;水流濕,火就燥;雲從龍,風從虎;聖人作而萬物睹。

    Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; thủy lưu thấp, hỏa tựu táo; vân tòng long, phong tòng hổ; thánh nhân tác nhi vạn vật đổ.

    Cùng tiếng thì đáp nhau, cùng khí thì cầu nhau; nước chảy xuống chỗ thấp, lửa tới chỗ khô; mây theo rồng, gió theo hổ; thánh nhân hưng khởi thì vạn vật tìm tới.

    Trong quẻ Khôn có câu:

    積善之家必有餘慶;積不善之家必有餘殃。臣弒其君,子弒其父,非一朝一夕之故,其所由來者漸矣,由辯之不早辯也。易曰:履霜堅冰至。蓋言順也。

    Tích thiện chi gia tất hữu dư khương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương. Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ, do biện chi bất tảo biện dã. Dịch viết: Lý sương kiên băng chí. Cái ngôn thuận dã.

    Nhà nào tích thiện tất có phúc thừa về sau; nhà nào tích ác tất có hoạ thừa về sau. Bề tôi giết vua, con giết cha, không phải một sớm một chiều mà xảy ra như vậy, nguyên do tiềm tàng từ lâu rồi lần lần phát ra mà mình không tính từ sớm đấy. Kinh Dịch nói: Xéo nhằm sương thì biết là nước sắp đóng cứng. Vậy phải cẩn thận từ trước.

    Môn đệ của ông soạn 4 cuốn: Luận ngữ 論語 (do nhiều người viết), Trung Dung 中庸 (Tử Tư viết), Đại học 大學 (Tăng Tử viết) và Mạnh Tử 孟子 để truyền đạo của ông. Trong 4 cuốn ấy kêu là Tứ Thư, cuốn cuối cùng của Mạnh Kha 孟軻 có nhiều giá trị về văn chương nhất.

    MẠNH TỬ 孟子

    Mạnh Kha người nước Châu (372-289) chủ trương thuyết tính thiện, đề xướng nhân nghĩa, phản đối thói vụ lợi. Tư tưởng của ông rất táo bạo; ở đời đó mà ông dám nói: dân là quí nhất, rồi đến xã tắc; sau cùng mới đến vua.

    Văn ông rất hùng hồn, thâm thiết, dùng nhiều tỉ dụ thú vị để người nghe dễ hiểu; lòng ông nhiệt thành mà lý luận ông chặt chẽ.

    Chắc độc giả nhớ câu chuyện vợ chồng nước Tề?

    齊人有一妻一妾而處室者。

    其良人出,則必饜酒肉而後反。

    其妻問所與飲食者,則盡富貴也。

    其妻告其妾曰:“良人出,則必饜酒肉而後反,問其所與飲食者,盡富貴也,而未嘗有顯者來。吾將瞷良人之所之也。”

    蚤起,施從良人之所之;遍國中無與立談者。卒之東郭墦間之祭者,乞其餘;不足,又顧而之他。此其為饜足之道也。

    其妻歸,告其妾曰:“良人者,所仰望而終身也,今若此。”與其妾訕其良人而相泣于中庭,而良人未之知也,施施從外來,驕其妻妾。

    由君子觀之,則人之所以求富貴利達者,其妻妾不羞也,而不相泣者,幾希矣。

    Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp nhi xử thất giả.

    Kỳ lương nhân xuất tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản.

    Kỳ thê vấn sở dữ ẩm thực giả, tắc tận phú quí dã.

    Kỳ thê cáo kỳ thiếp viết: “Lương nhân xuất, tắc tất ứ tửu nhục nhi hậu phản, vấn kỳ sở dữ ẩm thực giả, tận phú quí dã, nhi vị thường hữu hiển giả lai. Ngô tương hám lương, nhân chi sở chi dã”.

    Tảo khởi, thí tòng lương nhân chi sở chi; biến quốc trung vô dữ lập đàm giả. Tốt chi đông quách bàn gian chi tế giả, khất kỳ dư; bất túc, hựu cố nhi chi tha. Thử kỳ vi ứ túc chi đạo dã.

    Kỳ thê quy, cáo kỳ thiếp viết: “Lương nhân giả, sở ngưỡng vọng nhi chung thân dã, kim nhược thử”. Dữ kỳ thiếp sán kỳ lương nhân nhi tương khấp vu trung đình, nhi lương nhân vị chi tri dã, thi thi tòng ngoại lai, kiêu kỳ thê thiếp.

    Do quân tử quan chi, tắc nhân chi sở dĩ cầu phú quí lợi đạt giả, kỳ thê thiếp bất tu dã, nhi bất tương khấp giả, ky hi hĩ.

    Người nước Tề có 2 vợ cùng ở với nhau một nhà. Chàng ngày nào cũng ra đi, no say rồi mới về. Người vợ cả hỏi chàng ăn uống với ai thì chàng đáp là đi ăn toàn với những bực giàu sang.

    Vợ cả bảo vợ lẽ: “Chồng chúng ta ra đi thì no say rồi mới về, hỏi ăn uống với ai thì đáp là toàn với những bực giàu sang mà chưa thấy một người giàu sang nào tới chơi nhà? Tôi muốn rằng xem chàng đi đâu”.

    Hôm sau dậy sớm, vợ cả lẻn theo chồng; đi khắp nơi chẳng thấy ai đứng nói chuyện với chồng mình. Sau cùng thấy người chồng tới phía đông ngoài thành, có đám tế lễ cất mả, chàng xin ăn cơm thừa canh cặn; chưa no, lại nghểnh lên đi tìm chỗ khác. Sở dĩ chàng được no say là nhờ cách ấy.

    Người vợ cả về bảo vợ lẽ: “Chồng chúng ta là người cho chị em mình trông cậy suốt đời mà nay như vậy đó! Vợ cả kể xấu chồng rồi hai người cùng khóc với nhau ở giữa sân, mà người chồng không hay, vẫn hớn hở ở ngoài đi vào, lên mặt với hai vợ.

    Cứ người quân tử mà xét ra thì những kẻ cầu phú quí danh lợi mà vợ cả, vợ lẽ không thấy làm thẹn, phải khóc với nhau, thiệt ít có lắm.

     

    4. LÃO, TRANG Ở PHƯƠNG NAM

    LÃO TỬ 老子

    Lão Tử 老子 họ Lý 李 tên Nhĩ 耳, tự là Đam 聃 tiêu biểu cho tư trào ở phương Nam.

    Ông sinh ở nước Sở, hơn Khổng Tử khoảng 20 tuổi, làm quan ở nước Chu, thấy nhà Chu suy nhược, thiên hạ đảo điên, không thể vãn hồi được nữa, ông chán ngán bỏ đi, không rõ tung tích ra sao, để lại một bộ Đạo đức kinh 道德經.

    Ông không có tinh thần mạnh mẽ như Khổng Tử mà trước cảnh hỗn độn, chỉ phẫn khái bảo “Trời đất là bất nhân, xem vạn vật là đồ chó rơm” và chủ trương thuyết vô vi, phóng nhiệm, không câu thúc trong lễ giáo như Khổng Tử. Theo ông, hễ giữ lòng cho thanh tĩnh, đừng trái đạo tự nhiên thì đạt được đạo. Tuy nhiên, về chính trị, vô vi không có nghĩa là không làm gì; nhà cầm quyền vẫn phải phòng ngừa, dự tính từ khi việc chưa xảy ra mới được. Vô vi chỉ là giữ cho tính tình dân gian được giản dị, chất phác mà thôi.

    TRANG TỬ 莊子

    Đến Trang Tử 莊子 tên là Chu 周 thì tư tưởng của Lão Tử đã thay đổi, hoá yếm thế hơn nhiều. Các học giả chưa nghiên cứu được đời sống của ông (có kẻ nói ông chết năm 275 trước C.N.), chỉ biết ông chủ trương xuất thế, không ham sống, không ghét chết, không vui, không buồn, không dụng tâm vực đạo, không gắng sức giúp người. Ông để lại bộ Nam Hoa Kinh 南華經 tức bộ Trang Tử.

    Tư tưởng thoát tục, không ích lợi gì cho nhân sinh ấy ảnh hưởng rất lớn đến văn nhân sau này ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Hầu hết các nhà nho lỗi lạc, đều hiểu thuyết Lão, Trang và mỗi khi gặp cảnh loạn lạc, không thi hành được đạo Khổng thì thường mượn thuyết đó mà tự an ủi, quên những chướng tai gai mắt trong thú say sưa bên chén rượu cuộc cờ, trong cảnh nhàn tản với phong, hoa, tuyết, nguyệt. Đào Uyên Minh, Lý Bạch ở Trung Quốc, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam đều là những đồ đệ của Lão, Trang và ta có thể nói trong tâm hồn bất kỳ một nhà nho nào cũng có một phần tư tưởng của Đạo gia.

    Ảnh hưởng lớn như vậy vì thuyết vô vi an ủi được loài người, nhưng một phần cũng nhờ văn của Trang Tử.

    Về phương diện văn học, ông đứng đầu trong chư tử ở thời Chiến Quốc: lời ông mạnh mẽ, tư tưởng tân kỳ, tưởng tượng dồi dào, phép ngụ ngôn tuyệt khéo.

    Mở đầu thiên Tiêu diêu du 逍遙遊 (tiêu diêu đi lại) bàn về lẽ thảnh thơi, ông viết:

    北冥有魚,其名曰鯤。鯤之大,不知其幾千里也;化而為鳥,其名為鵬;鵬之背,不知其幾千里也。怒而飛,其翼若垂天之雲。是鳥也,海運則將徙於南冥;南冥者,天池也。

    齊諧者,志怪者也。諧之言曰:鵬之徙於南冥也,水擊三千里,摶扶搖而上者九萬里,去以六月息者也。

    野馬也,塵埃也,生物之以息相吹也。

    Bắc minh hữu ngư, kỳ danh viết côn. Côn chi đại, bất tri kỳ ky thiên lý dã; hóa nhi vi điểu, kỳ danh vi bằng; bằng chi bối, bất tri kỳ ky thiên lý dã. Nộ nhi phi, kỳ dực nhược thùy thiên chi vân. Thị điểu dã, hải vận tắc tương tỉ ư nam minh; nam minh giả, thiên trì dã.

    Tề hài giả, chí quái giả dã. Hài chi ngôn viết: Bằng chi tỉ ư nam minh dã, thủy kích tam thiên lý, đoàn phù diêu nhi thượng giả cửu vạn lý, khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã.

    Dã mã dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ tức tương xuy dã.

    Biển Bắc có loại cá tên là Côn. Cá Côn lớn không biết mấy ngàn dặm; hoá thành chim, gọi là chim bằng; lưng chim bằng lớn không biết mấy ngàn dặm. Chim bằng giận mà bay thì cánh nó như đám mây trên trời rủ xuống. Con chim đó, khi biển Bắc động, dời xuống biển Nam; biển Nam là giếng của trời vậy.

    Sách Tề hài là sách chép truyện quái dị. Sách ấy nói rằng con chim bằng dời xuống biển Nam, đập nước 3000 dặm, đụng gió mà bay lên 9 vạn dặm, bay một mạch 6 tháng mới nghỉ.

    Nó bay như vậy mà có phải gắng sức không? Không, vẫn thảnh thơi, tiêu diêu như con ngựa ngoài đồng, hạt bụi trong không, vì hết thảy đều do hơi của Tạo vật thổi mà bay chạy được.

    Ít hàng sau, muốn cho ta thấy rằng kẻ nhỏ không biết bằng kẻ lớn, vì vậy không nên tự ví với kẻ lớn, ông viết:

    Cây nấm sáng mọc tối rụng, không biết được ngày ba mươi, ngày mồng một 7 ; con ve không biết được mùa xuân, mùa thu 8 ; đó là những con vật ít tuổi.

    Phía nam nước Sở có cây minh linh, cứ 500 năm là mùa xuân, 500 năm là mùa thu. Đời thượng cổ có cây xuân lớn, 8000 năm là mùa xuân, 8000 năm là mùa thu. Một mình Bành Tổ truyền danh là thọ 9 . Hạng người thường dám ví với ông, chẳng là đáng buồn ư? Thế cũng là không hiểu cái thảnh thơi, tiêu diêu vậy”.

    Văn ông luôn luôn có những thí dụ, ngụ ngôn mới mẻ như vậy. Chu Duy Chi trong cuốn “Trung Quốc văn học tư trào sử lược” nói:

    Tư tưởng và văn của Trang Tử phảng phất như của Nietzsche. Cả hai đều thích những siêu nhân, đều chủ trương cá nhân chủ nghĩa, lối hành văn đều phóng túng, dùng trực dụ, ẩn dụ mà tung hoành đến vô cùng, như cưỡi gió mây mà bay lên đến các vì tinh tú”.

    Vì Lão, Trang theo chủ nghĩa tự nhiên, nên ghét sự gọt đẽo mà trọng chất phác. Lão Tử nói: “Người rất khéo thì như vụng”, nghĩa là văn muốn cho tuyệt diệu phải tự nhiên. Đạt được tới sự thần hoá đó, tất tốn công phu tu dưỡng lắm.

    Trang Tử diễn ý đó bằng ngụ ngôn lý thú này:

    紀渻子為王養鬥雞。十日而問:“雞已乎?”曰:“未也,方虛驕而恃氣。”十日又問,曰:“未也,猶應響景。”十日又問,曰:“未也,猶疾視而盛氣。”十日又問,曰:“幾矣。雞雖有鳴者,已無變矣,望之,似木雞矣,其德全矣,異雞無敢應者,反走矣。”

    Kỷ Sảnh tử vị vương dưỡng đấu kê. Thập nhật nhi vấn: “Kê dĩ hồ?”. Viết: “Vị dã, phương hư kiêu nhi thị khí”. Thập nhật hựu vấn. Viết: “Vị dã, do ứng hưởng ảnh”. Thập nhật hựu vấn. Viết: “Vị dã, do tật thị nhi thịnh khí”. Thập nhật hựu vấn. Viết: “Ky hĩ, kê tuy hữu minh giả, dĩ vô biến hĩ; vọng chi tự mộc kê hĩ, kỳ đức toàn hĩ, dị kê vô cảm ứng giả, phản tẩu hĩ”.

    Kỷ Sảnh nuôi gà chọi cho vua. Được 10 hôm vua hỏi: “Gà đem chọi được chưa?”. Đáp: “Chưa, còn kiêu mà hung hăng”. Mười hôm sau lại hỏi. Đáp: “Chưa được, gà thấy tiếng, bóng gà khác đã muốn chọi rồi, vẫn còn hăng”. Mười ngày sau lại hỏi. Đáp: “Chưa được, gà còn thịnh khí, trông gà khác còn ghét”. Mười ngày sau lại hỏi. Đáp: “Gần được. Gà khác gáy, gà mình không biến động; coi thì tựa như gà gỗ mà thực đủ các tài, gà khác không dám chọi với nó, phải lùi chạy”.

    Luyện văn cũng vậy. Hễ còn để cho người ta thấy cái công phu đẽo gọt của mình là chưa phải tuyệt khéo. Như Lý Bạch đời Đường, Nguyễn Du nước ta đôi khi đạt được tới trình độ ấy.

    Tóm lại, ta có thể gom những dị điểm của 2 tư trào Bắc, Nam (tức Nho, Đạo) trong bảng dưới đây:

    NHO (BẮC)

    ĐẠO (NAM)

    Tích cực

    Cẩn nghiêm

    Khách quan

    Hiện thực

    Thiết thực

    Xã hội chủ nghĩa

    Phục vụ quốc gia

    Kiến thiết

    Tiêu cực

    Phóng túng

    Chủ quan

    Lãng mạn

    Hư vô

    Cá nhân chủ nghĩa

    Du hý nhân gian

    Phá hoại

     

    5. VÀI TRIẾT GIA KHÁC

    a. MẶC TỬ 墨子

    Khi đã có hai học thuyết đối lập nhau thì thế nào cũng xuất hiện những học thuyết khác hoặc đứng giữa, hoặc thiên bên này một chút, bên kia một chút, tức như học thuyết của Mặc Tử, Tuân TửHàn Phi.

    Mặc Địch 墨翟 sinh ở đời Chu, khoảng giữa thế kỷ thứ 5 trước CN, sau Khổng Tử. Ông là người nước Tống, ở phương Bắc, nhưng bôn tẩu khắp Bắc, Nam, suốt đời tận tuỵ lo việc thiên hạ, tới hói đầu mòn gót. Ông cho thiên hạ loạn ly, khổ sở vì loài người không biết yêu lẫn nhau nên chủ trương đạo bác ái, mạt sát chiến tranh. Ông cũng rất ghét xa xỉ. Một mặt ông theo chủ nghĩa thực tế của nhà Nho, một mặt đề xướng thuyết thần bí của đạo Lão; công kích thuyết lễ nhạc của Khổng Tử mà cũng phản đối thuyết khinh kẻ hiền của Lão Tử.

    Văn ông thuộc loại thuyết lý trôi chảy. Ông hay dùng tỉ dụ để chứng minh, lời lẽ rõ ràng, thường láy đi láy lại, như đoạn dưới đây trong thiên Phi công 非攻 chỉ trích chiến tranh.

    今有一人,入人園圃,竊其桃李,眾聞則非之,上為政者得則罰之。此何也?以虧人自利也。至攘人犬豕雞豚者,其不義又甚入人園圃竊桃李。是何故也?以虧人愈多,其不仁茲甚,罪益厚。至入人欄廄,取人馬牛者,其不仁義又甚攘人犬豕雞豚。此何故也?以其虧人愈多。苟虧人愈多,其不仁茲甚,罪益厚。至殺不辜人也,扡其衣裘,取戈劍者,其不義又甚入人欄廄取人馬牛。此何故也?以其虧人愈多。苟虧人愈多,其不仁茲甚矣,罪益厚。當此,天下之君子皆知而非之,謂之不義;今至大為不義攻國,則弗知非,從而譽之,謂之義。此可謂知義與不義之別乎?

    殺一人,謂之不義,必有一死罪矣。若以此說往,殺十人,十重不義,必有十死罪矣;殺百人,百重不義,必有百死罪矣。當此,天下之君子皆知而非之,謂之不義。今至大為不義攻國,則弗知非,從而譽之,謂之義;情不知其不義也,故書其言以遺後世。若知其不義也,夫奚說書其不義以遺後世哉?

    今有人於此;少見黑曰黑,多見黑曰白,則以此人不知白黑之辯矣;少嘗苦曰苦,多嘗苦曰甘,則必以此人為不知甘苦之辯矣。今小為非則知而非之,大為非攻國,則不知非,從而譽之,謂之義;此可謂知義與不義之辯乎?

    是以知天下之君子辯義與不義之亂也。

    Kim hữu nhất nhân nhập nhân viên phố, thiết kỳ đào lý, chúng văn tắc phi chi, thượng vi chính giả đắc tắc phạt chi. Thử hà dã? Dĩ khuy nhân tự lợi dã. Chí nhương nhân khuyển thỉ kê đồn giả, kỳ bất nghĩa hựu thậm nhập nhân viên phố thiết đào lý. Thị hà cố dã? Dĩ khuy nhân dũ đa, kỳ bất nhân tư thậm, tội ích hậu. Chí nhập nhân lan cứu, thủ nhân mã ngưu giả, kỳ bất nhân nghĩa hựu thậm nhương nhân khuyển thỉ kê đồn. Thử hà cố dã? Dĩ kỳ khuy nhân dũ đa. Cẩu khuy nhân dũ đa, kỳ bất nhân tư thậm, tội ích hậu. Chí sát bất cô nhân dã, đà kỳ y cừu, thủ qua kiếm giả, kỳ bất nghĩa hựu thậm nhập nhân lan cứu thủ nhân mã ngưu. Thử hà cố dã? Dĩ kỳ khuy nhân dũ đa. Cẩu khuy nhân dũ đa, kỳ bất nhân tư thậm hĩ, tội ích hậu. Đương thử, thiên hạ chi quân tử giai tri nhi phi chi, vị chi bất nghĩa; kim chí đại vi bất nghĩa, công quốc, tắc phất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa. Thử khả vị tri nghĩa dữ bất nghĩa chi biệt hồ?

    Sát nhất nhân, vị chi bất nghĩa, tất hữu nhất tử tội hĩ. Nhược dĩ thử thuyết vãng, sát thập nhân, thập trọng bất nghĩa, tất hữu thập tử tội hĩ; sát bách nhân, bách trọng bất nghĩa, tất hữu bách tử tội hĩ. Đương thử, thiên hạ chi quân tử giai tri nhi phi chi, vị chi bất nghĩa. Kim chí đại vi bất nghĩa công quốc, tắc phất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa; tình bất tri kỳ bất nghĩa dã, cố thư kỳ ngôn dĩ di hậu thế dã. Nhược tri kỳ bất nghĩa dã, phù hề thuyết thư kỳ bất nghĩa dĩ di hậu thế tai?

    Kim hữu nhân ư thử; thiểu kiến hắc viết hắc, đa kiến hắc viết bạch, tắc dĩ thử nhân bất tri bạch hắc chi biện hĩ; thiểu thường khổ viết khổ, đa thường khổ viết cam, tắc tất dĩ thử nhân vi bất tri cam khổ chi biện hĩ. Kim tiểu vi phi tắc tri nhi phi chi, đại vi phi công quốc, tắc bất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa; thử khả vị tri nghĩa dữ bất nghĩa chi biện hồ?

    Thị dĩ tri thiên hạ chi quân tử biện nghĩa dữ bất nghĩa chi loạn dã.

    Nay có kẻ vào vườn người ta hái trộm đào, mận, ai nghe cũng chê, quan bắt được tất trừng phạt. Tại sao vậy? Tại kẻ ấy có lỗi lấy của người làm lợi cho mình. Đến như giựt gà, chó, heo của người thì còn bất nghĩa hơn là vào vườn hái trộm đào, mận. Tại sao vậy? Tại lấy trộm của người càng nhiều thì bất nhân càng lớn, tội càng nặng. Đến như vào chuồng bắt trâu, ngựa của người thì tội bất nhân bất nghĩa còn hơn giựt chó, gà, heo. Tại sao vậy? Tại lấy trộm của người nhiều hơn. Lấy trộm của người nhiều hơn thì bất nhân càng lớn, tội càng nặng. Đến như giết người vô tội rồi lột áo cướp khí giới, bất nghĩa còn hơn là vào chuồng bắt trâu ngựa. Tại sao vậy? Tại cướp của người nhiều hơn. Cướp của người nhiều hơn thì bất nhân càng lớn, tội càng nặng. Những việc đó các bực quân tử trong thiên hạ đều biết là quấy mà chê, bảo là bất nghĩa. Nay cái việc đại bất nghĩa là đánh nước người thì không biết là quấy, lại theo mà khen, gọi là nghĩa. Như vậy có thể bảo là phân biệt được việc nghĩa với việc bất nghĩa không?

    Giết một người thì bảo là bất nghĩa, phải chịu một tử tội. Cứ theo đó mà suy, giết 10 người thì bất nghĩa nặng gấp 10, tất phải chịu 10 tử tội, giết 100 người thì bất nghĩa nặng gấp 100, tất phải chịu 100 tử tội. Những việc đó, các bực quân tử trong thiên hạ đều biết là quấy mà chê, bảo là bất nghĩa. Nay cái việc đại bất nghĩa là đánh nước người thì không biết là quấy, lại theo mà khen; quả thiệt không biết là bất nghĩa, nên mới ghi công trận để lại đời sau. Nếu biết là bất nghĩa thì sao còn chép việc bất nghĩa ấy mà để lại đời sau?

    Nay có người thấy ít cái đen thì bảo là đen, thấy nhiều cái đen thì bảo là trắng, thì tất cho người đó không biết phân biệt đen hay trắng vậy; nếm ít cái đắng thì bảo là đắng, nếm nhiều cái đắng thì bảo là ngọt, thì tất cho người đó không biết phân biệt đắng ngọt vậy. Nay có kẻ làm việc quấy nhỏ thì biết là quấy mà chê, làm việc quấy lớn là đánh nước người thì không biết là quấy, lại theo mà khen, bảo là nghĩa; như vậy có thể bảo là biết phân biệt được việc nghĩa với việc bất nghĩa không?

    Xét như vậy ta biết được rằng các bực quân tử trong thiên hạ phân biệt việc nghĩa và việc bất nghĩa lầm lẫn lắm.

    b. TUÂN TỬ 荀子

    Tuân Tử 荀子 tên là Huống 况 tự là Khanh 卿 người nước Triệu, sống ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, vốn theo đạo Khổng, có tinh thần khoa học, lập luận chắc chắn, tư tưởng có khác Mạnh Tử.

    Ông cho tính người vốn ác, nó được thiện là nhờ sự dạy dỗ; nên ông khuyên chúng ta tích thiện và dùng lễ nhạc để tiết chế tình dục. Ông không cần biết có trời hay không, chủ trương lấy nhân sự làm gốc.

    Văn ông giản dị, mở đường cho lối nghị luận có chứng cứ sau này. Ông lại làm ít nhiều bài thơ và phú; văn học đời Hán chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Văn thơ ông gồm trong bộ Tuân Tử.

    Đọc đoạn dưới đây trong thiên luận về trời (Thiên luận 天論) ta phải phục ông: 2300 năm trước ông đã có óc bài xích dị đoan, khuyên người đừng sợ sệt, đừng cúng lạy trời đất mà cứ làm hết bổn phận là sẽ được phước.

    星墜,木鳴,國人國人皆恐,曰:“是何也?”曰:“無何也。是天地之變,陰陽之化,物之罕至者也;怪之可也而畏之非也。”

    夫日月之有食,風雨之不時,怪星之黨見,是無世而不常有之。上明而政平,則是雖並世起,無傷也。上闇而政險,則是雖無一至者,無益也。

    夫星之墜,木之鳴是天地之變,陰陽之化,物之罕至者也;怪之可也,而畏之非也。物之已至者,人妖則可畏也。枯耕傷稼,耘耨失穢,政險失民,田穢稼惡,糴貴民飢,道路有死人,夫是之謂人妖。政令不明,舉錯不時,本事不理,夫是之謂人妖。禮義不修,內外無別,男女淫亂,父子相疑,男女乖離,寇難並至,夫是之謂人妖。妖是生於亂,三者錯,無安國。其說甚爾,其災甚慘(…)

    傳曰:“萬物之怪書不說。”無用之辯,不急之察,棄而不治。若夫君臣之義,父子之親,夫婦之別,則日切磋而不舍也。

    Tinh truỵ, mộc minh, quốc nhân giai củng, viết: “Thị hà dã?”. Viết: “Vô hà dã. Thị thiên địa chi biến, âm dương chi hóa, vật chi hãn chí giả dã; quái chi khả dã nhi úy chi phi dã”.

    Phù nhật nguyệt chi hữu thực, phong vũ chi bất thời, quái tinh chi đảng hiện, thị vô thế nhi bất thường hữu chi. Thượng minh nhi chính bình, tắc thị tuy tịnh thế khởi, vô thương dã. Thượng ám nhi chính hiểm, tắc thị tuy vô nhất chí giả, vô ích dã.

    Phù tinh chi truỵ, mộc chi minh thị thiên địa chi biến, âm dương chi hóa, vật chi hãn chí giả dã, quái chi khả dã, nhi úy chi phi dã. Vật chi dĩ chí giả, nhân yêu tắc khả úy dã. Khô canh thương giá, vân nậu thất uế, chính hiểm thất dân, điền uế giá ác, địch quý dân cơ, đạo lộ hữu tử nhân, phù thị chi vị nhân yêu. Chính lệnh bất minh, cử thác bất thời, bản sự bất lý, phù thị chi vị nhân yêu. Lễ nghĩa bất tu, nội ngoại vô biệt, nam nữ dâm loạn, phụ tử tương nghi, nam nữ quai ly, khấu nan tịnh chí, phù thị chi vị nhân yêu. Yêu thị sinh ư loạn, tam giả thác, vô an quốc. Kỳ thuyết thậm nhĩ, kỳ tai thậm thảm (…)

    Truyện viết: “Vạn vật chi quái, thư bất thuyết”. Vô dụng chi biện, bất cấp chi sát, khí nhi bất trị. Nhược phù quân thần chi nghĩa, phụ tử chi thân, phu phụ chi biệt, tắc nhật thiết tha nhi bất xá dã.

    Khi thấy sao sa, cây kêu, người trong nước ai cũng sợ, hỏi: “Thế là làm sao?”. Đáp: “Không sao sao cả. Những cái đó là cái biến hoá của trời đất, âm dương, là sự ít khi xảy ra của vạn vật; cho nên làm quái lạ thì nên, mà lo sợ thì không nên”.

    Mặt trăng, mặt trời có khi ăn lẫn nhau, mưa gió có khi không hợp thời, những ngôi sao lạ có khi hiện từng chùm, những cái đó không thời nào không thấy. Người trên sáng suốt mà chính trị phải lẽ thì dù tất cả những cái quái dị đều xuất hiện cũng không sao. Người trên mà mờ ám, chính trị thì hiểm ác, dù không có quái lạ nào xuất hiện cũng không hay gì.

    Sao mà sa, cây mà kêu, đó là cái biến hoá của trời đất, âm dương là sự ít xảy ra của vạn vật, cho là quái lạ thì nên mà lo sợ thì không nên. Những cái đó đã xảy ra rồi mà loài người lại có những việc quái gở thì mới đáng lo sợ. Đất khô, cày không được, hại cho việc cấy, ruộng đầy cỏ, lúa cấy không tốt, gạo đắt, dân đói, trên đường có thây người, đó là những quái gở của loài người. Chính lệnh không rõ ràng, làm việc không hợp lúc, việc mình không lo, đó là những quái gở của người. Lễ nghĩa không sửa, trong ngoài không phân biệt 10 , trai gái dâm loạn thì cha con nghi nhau, vợ chồng xa lìa nhau, giặc cướp nổi lên, đó là những quái gở của người. Quái gở do loạn mà sinh. Ba cái đó 11 , lầm lỡ thì nước không yên. Những cái đó là việc rất gần mà hại rất thâm…

    Kinh Truyện nói: “Những quái lạ của vạn vật, sách không chép”. Bàn tới vô ích, không phải là việc gấp mà xét tới, bỏ đi đừng nói. Còn như nghĩa vua tôi, tình cha con, đạo vợ chồng là những điều cần thiết mỗi ngày không bỏ được.

    c. HÀN PHI TỬ 韓非子

    Hàn Phi Tử 韓非子 là con vua nước Hàn, cùng với Lý Tư 李斯 theo học Tuân Tử, nói ngọng nhưng giỏi về văn chương, rất có óc thực tế, theo chủ nghĩa pháp trị, nghĩa là dùng pháp luật để nghiêm trị dân, diệt những cái vô ích. Ông được Tần Thuỷ Hoàng trọng nên bị Lý Tư gièm pha, rồi phải uống thuốc độc tự tử (233 tr.CN).

    Văn nghị luận của ông minh bạch, khắc sâu vào óc người đọc, như đoạn dưới đây trong bộ Hàn Phi Tử:

    世之顯學儒,墨也。儒之所至,孔丘也;墨之所至,墨翟也。自孔子之死也,有子張之儒,有子思之儒,有顏氏之儒,有孟氏之儒,有仲良氏之儒,有孫氏之儒,有樂正氏之儒。自墨子之死也,有相里氏之墨,有相夫氏之墨,有鄧陵氏之墨。

    故孔,墨之後,儒分為八,墨離為三;取舍相反不同,而皆自謂真孔,墨。孔,墨不可復生,將誰使定世之學乎?

    孔子,墨子俱道堯,舜,而取舍不同,皆自謂真堯,舜;堯,舜不復生,將誰使定儒,墨之誠乎?

    殷,周七百餘歲;虞,夏二千餘歲,而不能定儒,墨之真,今乃欲審堯,舜之道於三千歲之前,意者其不可必乎。

    無參驗而必之者,愚也;弗能必而據之者,誣也。故明據先王,必定堯,舜者,非愚則誣也。愚,誣之學,雜反之行,明主弗受也。

    Thế chi hiển học Nho, Mặc dã. Nho chi sở chí, Khẩu Khâu dã; Mặc chi sở chí, Mặc Địch dã. Tự Khổng Tử chi tử dã, hữu Tử Trương chi nho, hữu Tử Tư chi nho, hữu Nhan thị chi nho, hữu Mạnh thị chi nho, hữu Trọng Lương thị chi nho, hữu Tôn thị chi nho, hữu Nhạc Chính thị chi nho. Tự Mặc Tử chi tử dã, hữu Tương Lý thị chi Mặc, hữu Tương Phu thị chi Mặc, hữu Đặng Lăng thị chi Mặc.

    Cố Khổng, Mặc chi hậu, Nho phân vi bát, Mặc ly vi tam; thủ xá tương phản bất đồng, nhi giai tự vị chân Khổng, Mặc. Khổng, Mặc bất khả phục sinh, tương thùy sử định thế chi học hồ?

    Khổng Tử, Mặc Tử câu đạo Nghiêu, Thuấn, nhi thủ xá bất đồng, giai tự vị chân Nghiêu, Thuấn; Nghiêu, Thuấn bất phục sinh, tương thùy sử định Nho, Mặc chi thành hồ?

    Ân, Chu thất bách dư tuế; Ngu, Hạ nhị thiên dư tuế, nhi bất năng định Nho, Mặc chi chân, kim nãi dục thẩm Nghiêu, Thuấn chi đạo ư tam thiên tuế chi tiền; ý giả kỳ bất khả tất hồ.

    Vô tham nghiệm nhi tất chi giả, ngu dã; phất năng tất nhi cứ chi giả, vu dã. Cố minh cứ tiên vương, tất định Nghiêu, Thuấn giả, phi ngu tắc vu dã. Ngu, vu chi học, tạp phản chi hành, minh chúa phất thụ dã.

    Những học thuyết lừng danh là Nho, Mặc. Tột bực đạo Nho là Khổng Khâu; Tột bực đạo Mặc là Mặc Địch. Khổng Tử chết rồi có phái nho của Tử Trương, phái nho của Tử Tư, có phái nho của họ Nhan, có phái nho của họ Mạnh, có phái nho của họ Trọng Lương, có phái nho của họ Tôn, có phái nho của họ Nhạc Chính. Mặc Tử chết rồi, có phái Mặc của họ Tương Lý, có phái Mặc của họ Tương Phu, có phái Mặc của họ Đặng Lăng. Vậy sau Khổng Tử, Mặc Tử, đạo Nho chia làm tám phái; đạo Mặc chia làm ba; mỗi phái chủ trương một khác mà đều tự bảo là chính chủ trương của mình mới là Khổng, Mặc chân truyền. Khổng Tử, Mặc Tử không thể sống lại thì ai là người định được cái học cho đời sau?

    Khổng Tử, Mặc Tử đều dẫn Nghiêu, Thuấn mà chủ trương khác nhau, và đều tự bảo thuyết của mình mới là đạo Nghiêu, Thuấn chân truyền. Nghiêu, Thuấn không sống lại thì ai là người định được Nho, Mặc bên nào là phải?

    Nhà Ân, nhà Chu mới cách đây trên 700 năm; nhà Ngu, nhà Hạ mới cách đây trên 2000 năm mà còn không định được thế nào là thiệt Nho, thế nào là thiệt Mặc, nay lại muốn xét đạo Nghiêu, Thuấn cách đây tới 3000 năm thì có lẽ không thể nào đoán được.

    Không tham nghiệm mà quyết rằng đúng là ngu vậy; không thể quả quyết là đúng mà lại cứ nói chắc, là lừa gạt người ta vậy. Cho nên cứ lấy lời người trước mà đoán định Nghiêu, Thuấn thì nếu không là ngu, tức là lừa gạt người. Cái học ngu và lừa gạt người ấy, cái hành vi vu vơ ấy, bực minh chúa không dùng.

     

    TÓM TẮT

    • Học thuyết và văn học đời Chiến Quốc rất thịnh. Các triết gia đều tận tâm tìm cách cứu cảnh loạn ở đương thời.
    • Ta thấy 2 phái đối lập nhau:

      - Phái Khổng, Mạnh ở phương Bắc nghiêm trang, thực tế, phục vụ xã hội.

      - Phái Lão, Trang ở phương Nam phóng túng, lãng mạn, ưa hư vô, du hý trong dân gian.

    • Những tương phản ấy một phần lớn là do ảnh hưởng của địa thế, khí hậu phương Bắc và phương Nam: Phương Bắc lạnh lẽo, đất nghèo, đồng cỏ mênh mông, dân phải khó nhọc mới kiếm đủ ăn, nên có óc thực tế. Phương Nam ấm áp, đất phì nhiêu, núi non chơm chởm, sông uốn khúc, dân an nhàn, nên ưa ảo mộng.
    • Ngoài hai phái đó ra, còn những phái ở giữa, hoặc thiên Khổng, Mạnh, hoặc thiên Lão, Trang như Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử…
    • Học thuyết thịnh, nên văn nghị luận cũng rất thịnh. Lời Khổng Tử thì hàm súc, lời Mạnh Tử thì hùng hồn; văn Trang Tử bóng bẩy, văn Mặc Tử thiết tha, láy đi, láy lại có giọng của một nhà truyền đạo; Tuân Tử, Hàn Phi Tử có phương pháp khoa học, chứng cứ xác đáng.

    Hầu hết đều ưa dùng trực dụ, ẩn dụ: đó là đặc điểm chung của văn nghị luận thời Chiến Quốc.

    --------------------------------
    1Bốn câu trên trích trong bài "Quá thuỷ ninh thự thi" 過始寧墅詩. (Golfish).
    2Hề là một tiếng để đưa lời trong khi ngâm, hát, tựa như tiếng , thì trong điệu hát trống quân của ta.
    3Một trong tứ thư của đạo Nho.
    4Ở nước ta, sự phân biệt Nam, Bắc không rõ rệt như vậy vì nước ta nhỏ, toàn cõi chỉ bằng một tỉnh Trung Quốc. Tuy nhiên, xét giọng nói, tính cách, âm nhạc, ta cũng thấy Bắc, Nam có hơi khác. Sự sai biệt đó cũng tựa như sự sai biệt giữa phương Bắc và phương Nam ở Trung Quốc, nhưng ít hơn.
    5Bốn kinh đó: Xuân Thu, Dịch, Thi, Thư – với Kinh Lễ là Ngũ Kinh (5 bộ Kinh của đạo Nho).
    6Kinh Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào.
    7Nghĩa là không sống được trọn tháng.
    8Vì ve chỉ sống được một mùa hè.
    9Tương truyền Bành Tổ sống 800 năm.
    10Tức trai gái dâm loạn.
    11Tức cày cấy, chính lệnh, lễ nghĩa.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Y Sĩ Tiền Tuyến

    Trang Châu

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646938]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502932]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4640091]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471815]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341336]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600939]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690104]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2497576]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300897]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010846]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972353]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549055]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470356]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1446046]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204117]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150808]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078918]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062655]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1029043]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026601]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959539]
    25.Quỷ Bảo [921908]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907697]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905360]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877110]
    29.Hắc Nho [852253]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843302]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840154]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756144]
    33.Tru Tiên [747846]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745374]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661995]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622519]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592517]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569470]
    39.Hoàn Hảo [557813]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536857]
    41.Tầm Tần Ký [512149]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456463]
    43.Thiên Đường [452731]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [451040]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439846]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434095]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427585]
    48.Cậu Chó [417352]
    49.If You Are Here [411885]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408330]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm