hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[915] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG V. THƠ THỊNH ĐƯỜNG (tiếp) – PHÁI XÃ HỘI

    1. PHÁI XÃ HỘI

    Đời Thịnh Đường chia làm 2 thời kỳ rất khác nhau, tiền bán thế kỷ thứ 8 là thời thịnh trị, hậu bán là thời loạn ly. Năm 754, An Lộc Sơn nổi loạn, tiếng chiêng tiếng trống ở Ngư Dương làm tan tác khúc Nghê Thường vũ y của Dương Quý Phi và xã hội Trung Quốc trở nên hắc ám: đâu đâu cũng là bãi chiến trường, những cảnh cướp bốc, ly tán, đói rét, giết chóc diễn ra hàng ngày; diều hâu rỉa ruột người, chính người cũng mổ thịt người, xương chiến sĩ chất đầy đồng không ai chôn, mẹ bỏ con trong bụi rậm không ai dám lượm.

    Trước tình cảnh ấy, một số thi nhân có tâm huyết không khỏi thống hận, bỏ cái giọng ca tụng thời thái bình làm vui tai các nhà cầm quyền mà dùng cây bút để tả nổi tân khổ của mình và của đồng bào; họ ly khai với chủ nghĩa lãng mạn mà lựa con đường tả chân, lấy trạng thái xã hội hiện tại làm đề tài cho văn học.

    Họ thuộc phái xã hội mà những người nổi danh nhất là Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích, Trương Tịch.

     

    2. ĐỖ PHỦ 杜甫

    a. Tiểu sử

    Đọc tiểu sử các danh nhân trên thế giới tôi mới được thấy 2 người vì thương thực mà mất: một người tự ý bỏ ngôi chí tôn để sống với đám dân nghèo, một người muốn tìm minh chúa để phụng sự mà bất đắc chí, phải lang thang trong cảnh loạn ly; cả hai đều ấp ủ cái mộng giải thoát xã hội, người thứ nhất bằng triết lý, người thứ nhì bằng văn thơ, người thứ nhất là Thích Ca, người thứ nhì là Đỗ Phủ.

    Trong gần sáu chục năm trời, Đỗ Phủ chìm đắm trong bể khổ, lăn lóc trong cát bụi, có lúc áo rách như tàu chuối, có khi đói đến lả người. Một thiên tài của Trung Quốc, danh ngang với Lý Bạch mà cơ cực đến bực ấy!

    Ông kém Lý Bạch 11 tuổi, chết sau Lý 8 năm (712-770) tự là Tử Mỹ 子美, hiệu là Thiếu Lăng 少陵, gốc ở Tương Dương, sinh trong một nhà văn học và nghèo, hồi trẻ lang thang ở Ngô, Việt, Tề, Lỗ, 30 năm trời không rời lưng lừa, mãi tới lúc 39 tuổi mới lãnh một chức quan nhỏ.

    Khi An Lộc Sơn làm loạn, ông bị giặc bắt, thoát được, lại lang thang trong cảnh cơ hàn, có lần gần chết đói. Đọc văn thơ ông, ta thường gặp những câu tả nỗi nhớ nhà, thương thân, những cảnh đau lòng vì loạn lạc.

    Trong bài Xuân Vọng 春望 có câu:

    烽火連三月,

    家書抵萬金。

    (Phong hoả liên tam nguyệt

    Gia thư để vạn câm)

    Khói lửa luôn ba tháng,

    Thư nhà đáng bạc muôn.

    Chỗ khác, ông nhớ em, than thở:

    月夜憶舍弟

    有弟皆分散,

    無家問死生。

    寄書長不達,

    況乃未休兵。

    Nguyệt dạ ức xá đệ

    Hữu đệ giai phân tán,

    Vô gia vấn tử sinh.

    Ký thư trường bất đạt,

    Huống nãi vị hưu binh.

    Đêm trăng nhớ em họ

    Các em đều ly tán,

    Không nhà, sao hỏi tin?

    Gởi thư lâu chẳng đến,

    Bao giờ mới hưu binh?

    Có lần ông được về thăm nhà, vợ con tưởng ông đã chết, thấy ông, oà lên khóc:

    羌村

    崢嶸赤雲西,

    日腳下平地。

    柴門鳥雀噪,

    歸客千里至。

    妻孥怪我在,

    驚定還拭淚。

    世亂遭飄蕩,

    生還偶然遂。

    鄰人滿墻頭,

    感歎亦歔欷。

    夜闌更秉燈,

    相對如夢寐。

    Khương Thôn

    Tranh vanh xích vân tây,

    Nhật cước hạ bình địa.

    Sài môn điểu tước táo,

    Qui khách thiên lý chí.

    Thê noa quái ngõa tại,

    Kinh định hoàn thức lệ.

    Thế loạn tao phiêu đãng,

    Sinh hoàn ngẫu nhiên toại,

    Lân nhân mãn tường đầu,

    Cảm thán diệc hư hi.

    Dạ lan cánh bỉnh đăng,

    Tương đối như mộng mị.

    Làng Khương

    Mé tây mây đỏ bầng bầng,

    Vầng hồng ngả tới đất bằng buông chân 1 .

    Cửa sài 2 chim chóc kêu rân,

    Dặm nghìn khách đã trở chân lại nhà.

    Vợ con đâu tưởng còn ta,

    Hết cơn kinh ngạc, khóc oà lệ rơi.

    Loạn ly phải lúc chia phôi,

    Sống về may được thoả nơi tấc lòng.

    Đầu tường hàng xóm đứng trông,

    Thở than dường cũng não nùng xót thương.

    Đêm khuya đốt ngọn đèn suông,

    Nhìn nhau mà tưởng như đương mơ màng

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Não lòng nhất là một lần khác, về được tới nhà thì vừa gặp lúc vợ đang khóc con:

    入門聞號咷,

    幼子饑已卒。

    Nhập môn văn hào đào

    Ấu tử ky dĩ tốt.

    Vào cửa nghe tiếng gào,

    Con nhỏ đói đã chết.

    Khi loạn An Lộc Sơn đã dẹp xong, nghe tin nhà vua khắc phục được thành Lạc Dương, ông vui đến như cuồng:

    聞官軍收河南河北

    劍外忽傳收薊北,

    初聞涕淚滿衣裳。

    卻看妻子愁何在,

    漫卷詩書喜欲狂。

    白首放歌須縱酒,

    青春作伴好還鄉。

    即從巴峽穿巫峽,

    便下襄陽向洛陽。

    Văn quan quân thu Hà Nam Hà Bắc

    Kiếm ngoại hốt truyền thâu Kế Bắc,

    Sơ văn thế lệ mãn y thường.

    Khước khan thê tử sầu hà tại,

    Mạn quyển thi thư hỉ dục cuồng!

    Bạch nhật phóng ca tu túng tửu,

    Thanh xuân tác bạn hảo hoàn hương.

    Tức tòng Ba Giáp xuyên Vu Giáp,

    Tiện hạ Tương Dương hướng Lạc Dương!

    Nghe quan quân thu phục Hà Nam Hà Bắc

    Kiếm ngoại đồn tin thâu Kế Bắc 3 ,

    Mới nghe rỏ lệ thấm y thường 4 .

    Ngoảnh coi gia quyến sầu đâu có,

    Vừa xếp thi thư hứng muốn cuồng.

    Ngày tháng cao ca nên nhậu rượu,

    Xuân xanh kiếm bạn tiện hồi hương,

    Đi theo Ba Giáp qua Vu Giáp,

    Rồi xuống Tương Dương hướng Lạc Dương 5 .

    (Vô danh dịch)

    復愁

    萬國尚戎馬,

    故園今若何?

    昔歸相識少,

    早以戰場多。

    Phục sầu

    Vạn quốc thượng nhung mã,

    Cố viên kim nhược hà?

    Tích quy tương thức thiểu

    Tảo dĩ chiến trường đa.

    Lại buồn

    Binh nhung muôn nước nôn nao,

    Quê hương đã biết ra sao đó rồi.

    Xưa về quen biết mấy ai,

    Hay đâu sớm đã hóa nơi chiến trường.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Sau lúc đó, ông lại được làm một chức quan nhỏ, nhưng có lẽ vì ông ngay thẳng, không chịu a dua, nhiều khi còn tỏ nỗi bất bình về cảnh huống xã hội, nên ông bị bãi chức. Ông lại phải long đong, tự ví người với người đẹp gặp lúc sa cơ:

    佳人

    絕代有佳人,

    幽居在空谷。

    自云良家子,

    零落依草木。

    Giai nhân

    Tuyệt đại hữu giai nhân,

    U cư tại không cốc,

    Tự vân lương gia tử,

    Linh lạc y thảo mộc.

    Người đẹp

    Có người đẹp tuyệt thế,

    Hiu quạnh ở hang sâu,

    Tự xưng nhà tử tế,

    Cùng cây cỏ dãi dầu.

    Anh em chết trong cơn loạn, chồng lại bạc tình, nàng phải sai thị tì đem bán hạt châu để độ nhật và chiều chiều nàng dựa cây trúc, than thở:

    天寒翠袖薄,

    日暮倚修竹。

    (Thiên hàn thúy tụ bạc

    Nhật mộ ỷ tu trúc)

    Lạnh lùng tay áo mỏng,

    Chiều tà dựa trúc cao.

    Gần về già, Đỗ Phủ theo Nghiêm Vũ sang đất Thục, làm chức viên ngoại lang ở bộ Công. Tóc đã bạc, sức đã suy mà phải tha hương, ông đau lòng lắm, nên được tin em họ sắp đến thăm, ông mừng vô hạn:

    得舍弟書

    爾到江陵府,

    何時到峽州?

    亂離生有別,

    聚集病應瘳。

    颯颯開啼眼,

    朝朝上水樓。

    老身須付托,

    白骨更何懮。

    Đắc xá đệ thư

    Nhĩ đáo Giang Lăng phủ,

    Hà thời đáo Giáp Châu?

    Loạn ly sinh hữu biệt,

    Tụ tập bệnh ưng sưu.

    Táp táp khai đề nhãn,

    Triêu triêu thượng thuỷ lâu.

    Lão thân tu ký thác,

    Bạch cốt cánh vô ưu

    Đọc thư của em

    Em đã về Giang Phủ,

    Khi nào tới Thiểm Châu? 6

    Loạn ly phải chia bóng,

    Sum họp may khỏi đau.

    Chớp chớp giương mi mắt,

    Ngày ngày tựa cửa lầu.

    Thân già đành phó thác,

    Xương trắng khỏi lo âu.

    (Ngô Tất Tố dịch)

    Ít năm sau ông mất. Sử chép đương lúc đói, ăn nhiều thịt bò quá, ông bị chứng thương thực mà qua đời.

    b. Tính tình và tư tưởng

    Trong 50 năm lưu lạc, ở giữa một thời mà “việc đời tơi bời như mưa” (Thế sự vũ mang mang: 世事雨茫茫) ông trông thấy biết bao cảnh đau lòng.

    Nào là cảnh biệt ly của vợ chồng mới cưới:

    新婚別

    菟絲附蓬麻,

    引蔓故不長。

    嫁女與征夫,

    不如棄路傍。

    結發為君妻,

    席不暖君床。

    暮婚晨告別,

    無乃太匆忙!

    君行雖不遠,

    守邊在河陽。

    妾身未分明,

    何以拜姑嫜?

    父母養我時,

    日夜令我藏。

    生女有所歸,

    雞狗亦得將。

    君今往死地,

    沉痛迫中腸

    誓欲隨君去,

    形勢反蒼黃。

    勿為新婚念,

    努力事戎行!

    婦人在軍中,

    兵氣恐不揚。

    自嗟貧家女,

    久致羅襦裳。

    羅襦不復施,

    對君洗紅妝。

    仰視百鳥飛,

    大小必雙翔。

    人事多錯迕,

    與君永相望。

    Tân hôn biệt

    Thỏ ti phụ bồng ma,

    Dẫn mạn cố bất trường.

    Giá nữ dữ chinh phu,

    Bất như khí lộ bàng.

    Kết phát vi quân thê,

    Tịch bất noãn quân sàng.

    Mộ hôn, thần cáo biệt,

    Vô nãi thái thông mang!

    Quân hành tuy bất viễn,

    Thú biên tại Hà Dương.

    Thiếp thân vị phân minh,

    Hà dĩ bái cô chương?

    Phụ mẫu dưỡng ngã thì,

    Nhật dạ linh ngã tàng.

    Sinh nữ hữu sở quy,

    Kê cẩu diệc đắc tương.

    Quân kim vãng tử địa,

    Trầm thống bách trung trường.

    Thệ dục tuỳ quân khứ,

    Hình thế phản sương hoàng.

    Vật vị tân hôn niệm,

    Nỗ lực sự nhung hàng!

    Phụ nhân tại quân trung,

    Binh khí khủng bất dương,

    Tự ta bần gia nữ,

    Cửu trí la nhu thường,

    La nhu bất phục thi,

    Đối quân tẩy hồng trang

    Ngưỡng thị bách điểu phi,

    Đại, tiểu tất song tường.

    Nhân sự đa thác ngộ,

    Dữ quân vĩnh tương vương.

    Cuộc biệt ly của vợ chồng mới cưới

    Tơ hồng leo phải cây đay,

    Quanh co quấn quít cho dây khó dài.

    Gả con cho mấy cậu cai,

    Chẳng thà bỏ quách ở nơi vệ đường.

    Rẽ ngôi, em bén duyên chàng,

    Chiếu em chưa ấm cái giường nhà trai.

    Cưới chiều hôm, vắng sớm mai,

    Duyên đâu lật đật cho ngươi xót xa!

    Chàng đi dù chẳng bao xa,

    Hà Dương đất ấy, cũng là đáng lo.

    Thân em mới mẻ, thẹn thò,

    Chào cha gởi mẹ sao cho nên điều?

    Nhớ xưa bác mẹ nuông chiều,

    Ngày đêm những bắt nâng niu giữ giàng.

    Đến khi về với nhà chàng,

    Con gà con chó cũng mang theo cùng.

    Chàng nay tới chốn hãi hùng,

    Nghĩ thôi, em đã quặn lòng đau thương.

    Cũng toan quyết chí theo chàng,

    Chút e tình thế vội vàng chưa yên.

    Thôi chàng gác mối tình duyên!

    Việc binh đã gánh thì nên chuyên cần!

    Đàn bà ở đám ba quân,

    Sợ rằng gươm giáo kém phần xông pha,

    Xót em thanh bạch con nhà,

    Cố may được tấm quần là từ lâu.

    Quần là còn mặc đi đâu?

    Đối chàng, xin rửa hết màu phấn son.

    Ngửa trông chim chóc bao con,

    Con to, con nhỏ cũng còn bay đôi.

    Dở dang ngắm cái kiếp người,

    Cùng chàng, thôi sẽ suốt đời nhớ mong!

    (Ngô Tất Tố dịch)

    Nào cảnh bà già, con đã tử trận mà còn phải đầu quân thay chồng:

    石壕吏

    暮投石壕村,

    有吏夜捉人。

    老翁逾牆走,

    老婦出門迎。

    吏呼一何怒,

    婦啼一何苦!

    聽婦前致詞;

    三男鄴城戍,

    一男附書至;

    二男新戰死,

    存者且偷生,

    死者長已矣。

    室中更無人,

    惟有乳下孫。

    孫有母未去,

    出入無完裙。

    老嫗力雖衰,

    請從吏夜歸。

    急應河陽役,

    猶得備晨炊。

    夜久語聲絕,

    如聞泣幽咽。

    天明登前途,

    獨與老翁別。

    Thạch Hào lại

    Mộ đầu Thạch Hào thôn,

    Hữu lại dạ tróc nhân.

    Lão ông du tường tẩu,

    Lão phụ xuất môn nghinh.

    Lại hô nhất hà nộ!

    Phụ đề nhất hà khổ!

    Thính phụ tiền trí từ:

    “Tam nam Nghiệp thành thú.

    Nhất nam phụ thư chí:

    Nhị nam tân chiến tử,

    Tồn giả thả thâu sinh,

    Tử giả trường dĩ hĩ

    Thất trung cánh vô nhân,

    Duy hữu nhũ hạ tôn,

    Tôn hữu mẫu vị khứ

    Xuất nhập vô hoàn quần,

    Lão ẩu lực tuy suy,

    Thỉnh tòng lại dạ quy.

    Cấp ứng Hà Dương dịch,

    Do đắc bị thần suy.

    Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,

    Như văn khấp u yết.

    Thiên minh đăng tiền đồ,

    Độc dữ lão ông biệt.

    Lính lệ Thạch Hào

    Chiều hôm tới xóm Thạch Hào,

    Đương đêm có lính lao xao bắt người.

    Vượt tường ông lão trốn rồi,

    Cửa ngoài mụ vợ một hai mời chào.

    Lính gầm mới dữ làm sao!

    Mụ kêu như tỏ biết bao khổ tình.

    Lẳng nghe lời mụ rành rành:

    “Ba con đóng ở Nghiệp thành cả ba,

    Một con mới nhắn về nhà,

    Rằng: hai con đã làm ma chiến trường!

    Kẻ còn vất vưởng đau thương,

    Nói chi kẻ dưới suối vàng thêm đau!

    Trong nhà nào có ai đâu?

    Có thằng cháu nhỏ dưới bầu sữa hoi.

    Cháu còn mẹ nó chăn nuôi,

    Ra vào quần áo tả tơi có gì?

    Thân già gân sức dù suy,

    Cũng xin theo lính cùng về đêm nay,

    Hà Dương tới đó sau này,

    Cơm canh hầu bữa sớm ngày, còn trôi”

    Đêm khuya tiếng nói im rồi,

    Vẫn nghe nức nở tiếng người khóc thương.

    Sáng mai khách bước lên đường,

    Chỉ cùng ông lão bẻ bàng chia tay.

    (Ngô Tất Tố dịch)

    Nào là những cảnh bất công trong xã hội: nơi lầu son, rượu thịt thừa thải đến hôi thối, còn ngoài đường thì xương kẻ chết lạnh phơi trắng ra, không ai chôn:

    朱門酒肉臭,

    路有凍死骨。

    Chu môn tửu nhục xú,

    Lộ hữu đống tử cốt.

    Cảnh rực rỡ của cung điện ở Ly Sơn: vàng ngọc lấp lánh, son phấn thơm tho. Gấm vóc phe phẩy, sáo địch du dương, hiện rõ trong óc ông mỗi khi thấy thây ma phơi sọ trên đường dài, hoặc nghe tiếng vợ khóc chồng bên quán trọ, nên ông oán thù chiến tranh.

    Trong bài Binh xa hành 兵車行 ông viết:

    信知生男惡,

    反是生女好。

    生女猶得嫁比鄰,

    生男埋沒隨百草。

    君不見青海頭?

    古來白骨無人收!

    新鬼煩冤舊鬼哭,

    天陰雨濕聲啾啾!

    Tín tri sinh nam ác,

    Phản thị sinh nữ hảo.

    Sinh nữ do đắc giá tị lân,

    Sinh nam mai một tuỳ bách thảo.

    Quân bất kiến Thanh Hải đầu?

    Cổ lai bạch cốt vô nhân thâu!

    Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,

    Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.

    Có phước thì sinh gái,

    Có tội mới sinh trai.

    Sinh gái còn được gả lối xóm,

    Sinh trai nó chết trong cỏ gai.

    Anh chẳng thấy đất Thanh Hải ư?

    Từ xưa xương trắng có ai thu?

    Quỷ mới sầu oán, quỷ cũ khóc.

    Trời tối mưa dầm, tiếng hu hu!

    Thật là não nùng đến rơi lệ. Trước tình cảnh xã hội như vậy, ông có chí cứu thế, suốt đời bôn tầu đông tây để giúp nhà vua mưu hạnh phúc cho dân, vãn hồi lại cảnh bình trị, trai cày gái dệt, nhà nhà ca hát:

    蠶穀行

    天下郡國向萬城,

    無有一城無甲兵。

    安得鑄甲作農器,

    一寸荒田牛得耕。

    牛盡耕,

    蠶亦成。

    不勞烈士淚滂沱,

    男穀女絲行復歌。

    Tàm cốc hành

    Thiên hạ quận quốc hướng vạn thành,

    Vô hữu nhất thành vô giáp binh.

    An đắc chú giáp tác nông khí,

    Nhất thốn hoang điền ngưu đắc canh.

    Ngưu tận canh,

    Tàm diệc thành,

    Bất lao liệt sĩ lệ bàng đà,

    Nam cốc nữ ti hành phục ca.

    Bài hát nuôi tằm trồng lúa

    Dưới trời quận quốc biết bao thành,

    Chẳng có thành nào chẳng giáp binh.

    Sao không đúc giáp làm nông khí,

    Một tấc đồng hoang lúa mởn xanh,

    Trâu hết sức cày,

    Tằm trên nong đầy,

    Chẳng phiền liệt sĩ giọt châu sa,

    Trai cày gái dệt đi vừa ca.

    Và để cho ông vui thú gia đình, bầy cờ với vợ, uốn câu cho con:

    江村即事

    清江一曲抱村流,

    長夏江村事事幽。

    自去自來樑上燕,

    相親相近水中鷗。

    老妻畫紙為棋局,

    稚子敲針作釣鉤。

    多病所需唯藥物,

    微軀此外何求?

    Giang thôn tức sự

    Thanh giang nhất khúc bão thôn lưu,

    Trường hạ giang thôn sự sự u.

    Tự khứ tự lai lương thượng yến,

    Tương thân tương cận thủy trung âu.

    Lão thê họa chỉ vi kỳ cục,

    Trĩ tử khao trâm tác điếu câu.

    Đa bệnh sở nhu duy dược vật,

    Vi khu thử ngoại hựu hà cầu.

    Tức sự 7 làng bên sông

    Sông trong uốn khúc lượn bên thôn,

    Công việc mùa hè chẳng dập dồn,

    Con yến trên lương đi lại mãi,

    Đàn âu dưới nước cặp kè luôn.

    Bàn cờ vẽ giấy vui bà nó,

    Mẩu sắt gò câu thích trẻ con.

    Nhiều bệnh chỉ cần mua món thuốc,

    Ngoài ra ai lại có cầu hơn?

    (Vô danh dịch)

    Than ôi! Hạnh phúc giản dị như vậy mà không được, ông không được mà đồng bào ông cũng không được, nên ông khóc cho ông và cho đồng bào:

    登岳陽樓

    親朋無一字,

    老病有孤舟。

    戎馬關山北,

    憑軒涕泗流。

    Đăng Nhạc Dương lâu

    Thân bằng vô nhất tự,

    Lão bệnh hữu cô chu

    Nhung mã quan san bắc

    Bằng hiên thế tứ lưu

    Lên lầu Nhạc Dương

    Một chữ thân bằng vắng,

    Con thuyền lão bệnh còn.

    Quan san đầy giặc giã,

    Nước mắt dựa hiện tuôn.

    Lời thở than hiện trong thơ ông như một điệp khúc não nuột. Nó không làm cho ta chán chường mà khiến lòng ta tê tái vì nó thành thực: ông không “vô bệnh thân ngâm” 8 như hạng lãng mạn.

    Đây là tiếng thở dài trong đêm lữ thứ:

    旅夜書懷

    細草微風岸,

    危檣獨夜舟。

    星垂平野闊,

    月湧大江流。

    名豈文章著,

    官應老病休。

    飄飄何所似,

    天地一沙鷗。

    Lữ dạ thư hoài

    Tế thảo vi phong ngạn,

    Nguy tường độc dạ chu.

    Tinh thuỳ bình dã khoát,

    Nguyệt dũng đại giang lưu.

    Danh khởi văn chương trứ,

    Quan ưng lão bệnh hưu.

    Phiêu phiêu hà sở tự,

    Thiên địa nhất sa âu.

    Đêm ở chỗ lữ thứ viết

    những điều hoài tưởng của mình

    Bờ cỏ lồng hơi gió,

    Thuyền đêm một đứng chơi,

    Sao thòng đồng phẳng rộng,

    Trăng nhảy nước sông nhồi.

    Danh há văn chương rạng,

    Quan nên lão bệnh thôi.

    Phiêu phiêu gì giống nhỉ?

    Trời đất một âu trôi.

    (Vô danh dịch)

    Đây là nỗi niềm tâm sự khi lên cao ngắm nước:

    登高

    風急天高猿嘯哀,

    渚清沙白鳥飛迴。

    無邊落木蕭蕭下,

    不盡長江滾滾來。

    萬里悲秋常作客,

    百年多病獨登臺。

    艱難苦恨繁霜鬢,

    潦倒新停濁酒杯。

    Đăng cao

    Phong cấp thiên cao viên khiếu ai,

    Chử thanh sa bạch điểu phi hồi.

    Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,

    Bất tận tràng giang cổn cổn lai.

    Vạn lý bi thu thường tác khách,

    Bách niên đa bệnh độc đăng đài.

    Gian nan khổ hận phồn sương mấn,

    Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

    Lên cao

    Gió mạnh trời cao vượn rúc sầu,

    Bến trong cát trắng lượn đàn âu.

    Lào rào lá rụng cây ai đếm?

    Cuồn cuộn sông dài, nước đến đâu?

    Muôn dặm quê người thu não cảnh,

    Một thân già yếu bước lên lầu.

    Khó khăn ngao ngán bao là nỗi,

    Rượu uống không ngon, chóng bạc đầu.

    (Tản Đà dịch)

    Lúc thì khóc Khổng Minh lòng son vì vua mà vận trời chẳng thuận:

    武侯祠

    丞相祠堂何處尋?

    錦宮城外柏森森。

    映階碧草自春色,

    隔葉黃鸝空好音。

    三顧頻煩天下計,

    兩朝開濟老臣心。

    出師未捷身先死,

    長使英雄淚滿襟。

    Vũ hầu từ

    Thừa tướng từ đường hà xứ tầm?

    Cẩm cung thành ngoại bách sâm sâm.

    Ánh giai bích thảo tự xuân sắc,

    Cách diệp hoàng ly không hảo âm.

    Tam cố tần phiền thiên hạ kế,

    Lưỡng triều khai tế lão thần tâm.

    Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,

    Trường sử anh hùng lệ mãn khâm.

    Đền thờ Vũ hầu

    Đền thừa tướng ở đâu đây,

    Mé ngoài thành Cẩm mấy cây bách già.

    Cỏ xuân ánh mặt thềm hoa,

    Oanh vàng trong lá hững hờ véo von.

    Vì dân, ba lượt tìm luôn,

    Hai triều giúp rập, tấc son lão thần.

    Quân chưa thắng, đã từ trần,

    Anh hùng nhớ đến, lệ tràn thấm khăn.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Lúc khóc Quí Phi 9 nhan sắc nhất đời mà thân vùi bên bến:

    哀江頭

    明眸皓齒今何在?

    血污遊魂歸不得。

    清渭東流劍閣深,

    去住彼此無消息。

    人生有情淚沾臆,

    江草江花豈終極!

    黃昏胡騎塵滿城,

    欲往城南望城北。

    Ai giang đầu

    Minh mâu, hạo xỉ kim hà tại?

    Huyết ô du hồn quy bất đắc.

    Thanh Vị đông lưu, Kiếm các thâm,

    Khứ trụ bỉ thử vô tiêu tức.

    Nhân sinh hữu tình lệ triêm ức,

    Giang thảo giang hoa khởi chung cực!

    Hoàng hôn Hồ kỵ trần mãn thành

    Dục vãng thành nam vọng thành bắc.

    Thương đầu sông

    Đời nhan sắc nay đà oan thác,

    Máu đào rơi, hồn lạc về đâu?

    Sông Vị thẳm, núi Gươm sâu,

    Đường kia, ngã ấy, dễ hầu thông tin?

    Kẻ tình nặng, ngực hoen lệ rỏ,

    Biết đâu cùng bãi cỏ ngàn hoa.

    Bụi Hồ mờ mịt bóng tà,

    Muốn sang Nam quận, ngó qua Bắc Thành 10 .

    c. Thiên tài của Đỗ Phủ

    Nhiều học giả nói Đỗ Phủ làm thơ khó khăn lắm, cân nhắc từng chữ một, không hạ bút thành chương như Lý Bạch.

    Họ căn cứ vào lời nói này của Đỗ Phủ: “Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” (Nói chẳng kinh người, chết chẳng an). Nhiều bài thơ luật của Đỗ có giọng đó thật, như 8 bài Thu hứng quả là cầu kỳ, nhưng tôi tưởng những bài có tính cách xã hội như Thạch hào lại, Tân hôn biệt… ông viết chắc không cực nhọc lắm: Vì lòng cảm xúc mạnh thì dễ thành thơ. Có vậy ông mới viết trước sau được trên 1000 bài.

    Hồ Thích chia thơ Đỗ Phủ theo 3 thờ kỳ:

    Thời kỳ thứ nhất, trước loạn An Lộc Sơn, thơ ông có giọng phúng thích uy thế của bọn quý tộc như bài Tuý thời ca (lời ca lúc say), hoặc mỉa mai thân phận cùng khổ của ông như bài Thu vũ thán 秋雨歎 (than trong mưa thu):

    雨中有草秋爛死,

    階下決明顏色鮮。

    著葉滿枝翠羽蓋,

    開花無數黃金錢。

    Vũ trung hữu thảo thu lạn tử,

    Giai hạ quyết minh nhan sắc tiên.

    Trứ diệp mãn chi thuý vũ cái,

    Khai hoa vô số hoàng kim tiền.

    Trong mưa có cỏ thu chết thối,

    Dưới bệ quyết minh muôn vẻ sang.

    Lá trổ đầy cành lông thuý biếc,

    Hoa khai vô số đồng tiền vàng.

    Nghèo xơ xác, mưa xuống, phải bó gối ngồi suông trong nhà mà còn trào lộng cây quyết minh (một cây cỏ dùng làm thuốc, có hoa vàng, tựa như đồng tiền) thì tâm hồn Đỗ có lúc cũng khoáng đạt thật!

    Trong thời kỳ thứ nhì, từ hồi loạn đến khi Đỗ lánh vào đất Thục, thơ có giọng lâm ly, tả chân nỗi lầm than của xã hội. Hầu hết những bài trích dẫn ở trên xuất hiện trong lúc ấy. Đó là phần di sản quý nhất mà Đỗ để lại cho đời.

    Thời kỳ thứ ba, ông tự thấy mình bất lực, không cải tạo nổi xã hội, nên an bần thủ phận, lời thơ thanh tân, phảng phất như của Đào Tiềm, mở đường cho lối thơ đời Tống. Chẳng hạn bài:

    江南逢李龜年

    岐王宅裡尋常見,

    崔九堂前幾度聞。

    正是江南好風景,

    落花時節又逢君。

    Giang Nam phùng Lý Qui Niên

    Kỳ vương trạch lý tầm thường kiến,

    Thôi Cửu đường tiền kỷ độ văn.

    Chính thị Giang Nam hảo phong cảnh,

    Lạc hoa thời tiết hựu phùng quân.

    Gặp Lý Quy Niên tại Giang Nam

    Trong nhà Kỳ Vương thường vẫn thấy,

    Trước thềm Thôi Cửu mấy lần nghe.

    Giang Nam phong cảnh thanh kỳ.

    Đến mùa hoa rụng không dè gặp anh.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Bài Lạc nhật có lẽ cũng viết trong hồi đó:

    落日

    落日在簾鉤,

    溪邊春事幽。

    芳菲緣岸圃,

    樵爨倚灘舟。

    啅雀爭枝墜,

    飛蟲滿院遊。

    濁醪誰造汝,

    一酌散千憂。

    Lạc nhật

    Lạc nhật tại liêm câu.

    Khê biên xuân sự u.

    Phương phi duyên ngạn phố,

    Tiều thoán ỷ than chu,

    Trác tước tranh chi truỵ.

    Phi trùng mãn viện du,

    Trọc giao thuỳ tạo nhữ,

    Nhất chước tán thiên ưu.

    Mặt trời lặn

    Bóng chiều đã ngả ngang mành,

    Bên khe vắng vẻ, xuân tình lặng không.

    Thơm tho vườn cỏ bên sông,

    Chiếc thuyền dựa bến, tiều đồng nấu ăn.

    Tranh cành, cắn lộn, chim lăn,

    Côn trùng bay nhởn giữa sân từng bầy.

    Rượu kia ai chế ra mày,

    Uống xong một cuộc, tan ngay nghìn sầu.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Thiên tài như ông, tất không chịu tự giam trong một thể thơ nhất định. Loại nào ông cũng thành công. Loại cổ phong tả tình cảm xã hội đặc sắc nhất, kế tới loại tứ tuyệt, như bài Phục sầu, bài Giang Nam phùng Lý Qui Niên, Mạn Thành 漫城, Giang bạn độc bộ tầm hoa 江畔独步寻花, bài Tuyệt cú dưới đây:

    絕句

    兩個黃鸝鳴翠柳,

    一行白鷺上青天。

    窗含西嶺千秋雪,

    門泊東吳萬里船。

    Tuyệt cú

    Lưỡng cá hoàng ly minh thuý liễu,

    Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.

    Song hàm tây lĩnh thiên thu tuyết,

    Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

    Tuyệt cú

    Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,

    Một hàng nhạn trắng vút trời xanh.

    Nghìn năm tuyết núi song in sắc,

    Muôn dặm thuyền Ngô bến rập rình.

    (Tản Đà dịch)

    Thơ thất ngôn luật của Đỗ cũng nhiều bài rất hay như bài:

    曲江

    一片花飛減卻春,

    風飄萬點正愁人。

    且看欲盡花經眼,

    莫厭傷多酒入唇。

    江上小堂巢翡翠,

    苑邊高塚臥麒麟。

    細看物理須行樂,

    安用浮名絆此身!

    Khúc giang

    Nhất phiến phi hoa giảm khước xuân,

    Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân.

    Thả khan dục tận hoa kinh nhãn,

    Mạc yếm thương đa tửu nhập thần.

    Giang thượng tiểu đường sào phỉ thuý,

    Uyển biên cao chủng ngoạ kỳ lân.

    Tế khan vật lý tu hành lạc,

    An dụng phù danh bạn thử thân!

    Khúc giang 11

    Một mảnh hoa bay kém vẻ xuân,

    Gió đưa muôn cánh tiếc vô ngần.

    Kìa coi trước mắt hoa gần hết,

    Thôi cứ bên môi rượu nhắp dần.

    Nhà nhỏ bến kia gom ổ thuý,

    Mả cao vườn nọ ngả con lân.

    Xét cùng lẽ vật nên vui thích,

    Danh nổi làm chi, bận cái thân!

    (Vô danh dịch)

    Tám bài Thu hứng của ông rất được truyền tụng, có người khen là tuyệt bút, có kẻ chê là thơ thai (thi mê), xin trích hai bài dễ hiểu nhất:

    秋興

    聞道長安似奕棋,

    百年世事不勝悲!

    王侯第宒皆新主,

    文武衣冠異昔時。

    直北關山金鼓震,

    征西車馬羽書馳。

    魚龍寂寞秋江冷,

    故國平居有所思。

    Thu hứng

    Văn đạo Trường An tự dịch kỳ,

    Bách niên thế sự bất thăng bi!

    Vương hầu đệ trạch giai tân chủ,

    Văn vũ y quan dị tích thì.

    Trực bắc quan san kim cổ chấn,

    Chinh tây xa mã vũ thư trì.

    Ngư long tịch mịch thu giang lãnh,

    Cố quốc bình cư hữu sở ti.

    Thu hứng

    Nghe nói Trường An tựa ván cờ,

    Trăm năm thế sự đáng buồn chưa?

    Vương hầu nha thự người thay mới,

    Văn võ y quan kiểu khác xưa.

    Phía bắc quan hà chiêng trống dậy,

    Bình tây xe ngựa hịch lông đưa.

    Cá rồng lặng lẽ sông thu lạnh,

    Nước lũ lòng ta luống ngẩn ngơ.

    Bài Thu hứng (kỳ 1)

    秋興

    玉露凋傷楓樹林,

    巫山巫峽氣蕭森。

    江間波浪兼天湧,

    塞上風雲接地陰。

    叢菊兩開他日淚,

    孤舟一繫故園心。

    寒衣處處催刀尺,

    白帝城高急暮砧。

    Thu hứng

    Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,

    Vu San Vu Giáp khí tiêu sâm.

    Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,

    Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

    Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,

    Cô chu nhất hệ cố viên tâm 12 .

    Hàn y xứ xứ thôi đao xích,

    Bạch Đế thành cao, cấp mộ châm.

    Thu hứng 13

    Vàng úa rừng phong hạt móc bay,

    Non Vu hiu hắt phủ hơi may.

    Giòng sông cồn cộn, trời tung sóng,

    Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây.

    Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở,

    Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy.

    Giục ai kéo, thước lo đồ lạnh,

    Đập vải 14 , trời hôm rộn tiếng chày.

    (Ngô Tất Tố dịch)

    d. So sánh Lý Bạch và Đỗ Phủ

    Đỗ là bạn thân của Lý, cả hai đều được người đương thời và hậu thế suy tôn là minh tinh rực rỡ nhất trên thi đàn đời Thịnh Đường, Lý là Thi tiên, Đỗ là Thi thánh, mặc dầu tính tình và sự nghiệp khác nhau rất xa.

    Lý lãng mạn, Đỗ trọng thực tế; Lý theo Phật, Lão; Đỗ thờ Khổng, Mạnh; Lý muốn ẩn dật trong cảnh núi xanh, mây trắng, Đỗ thì lăn lóc giữa đời cùng khổ, trầm luân. Lý kiêu ngạo nhìn đời:

    Xử thế nhược đại mộng,

    Hồ vi lao kỳ sinh?

    Đỗ nhiệt tâm cứu quốc:

    Cùng niên ưu lê nguyên

    Thán tức trường nội nhiệt!

    窮年憂黎元,

    歎息腸內熱!

    Suốt năm lo dân đen,

    Than thở ruột sôi nóng!

    Lý say sưa trong tháp ngà, theo chủ trương hưởng lạc, Đỗ rên rỉ trên thập ác, hầu cứu sinh linh; Lý tả cái ảo tưởng của chính mình, Đỗ tả cái chân tướng của xã hội, tài của Lý do thiên tư nhiều: khi nhậu say hứng tới, Lý múa bút tới đâu thì gấm, hoa hiện tới đó; khi nhìn cảnh động lòng, Đỗ hạ bút chữ nào thì nước mắt theo chữ ấy; đọc thơ Lý ta muốn phiêu diêu lên tiên thì đọc thơ Đỗ, ta muốn sụt sùi, nhăn mặt.

    Lý hay hơn Đỗ hay Đỗ hay hơn Lý? Ta không thể quyết đoán được. Cả hai đều là kỳ hoa, đều là quốc sắc thiên hương, mỗi người một vẻ.

    Nhưng có điều này ai cũng nhận là thơ của Lý có người “kính nhi viễn chi” còn thơ của Đỗ ai cũng phải “kính nhi ái chi”. Lý còn có kẻ chê là đồi phế, Đỗ thì thời nào cũng khâm phục.

    Tuy nhiên, nếu tôi là thi sĩ, tôi chẳng mong được thành thi tiên hoặc thi thánh, chỉ xin một chức Thi sử như Bạch Cư Dị.

    3. BẠCH CƯ DỊ 白居易 (772-846)

    a. Tiểu sử

    Mây trắng núi xanh tuy đẹp thật, song độc toạ mà ngắm thì cũng buồn, cưỡi hạc ngồi bên đào nguyên, thú thì có thú, song ngày trên tiên dài quá; còn suốt đời vác cái thánh giá như Đỗ Phủ, con vì đói quá mà chết, chính thân mình cũng vì đói mà lả, thì cảnh ấy ai mà cầu!

    Vâng, tôi không muốn như Lý, như Đỗ, chỉ muốn như Bạch Cư Dị.

    Trong bài tựa tập thơ của Mai Thánh Du, Âu Dương Tu viết: “cùng nhi hậu công”, nghĩa là thi nhân có khốn cùng rồi thơ mới hay. Nào phải luôn luôn như vậy? Đào Tiềm nghèo chứ không cùng mà thơ cũng rất hay. Bạch Cư Dị, Tuỳ Viên (ở đời Thanh) đều phú quí mà cũng đều là thi hào. Tác giả của bộ Thuý Kiều, Hoa Tiên, đâu có khốn đốn? Victor Hugo, Lamartine kém ai về sang giàu?

    Nhiều thi sĩ quá tin Âu Dương Tu, tự dưng mua lấy cái khổ hoặc làm bộ ra khổ để mong tài nghệ được phát huy. Họ điên, sao không đọc tiểu sử của Bạch Cư Dị.

    Đỗ Phủ mới chết được 2 năm thì Bạch ra đời (Thời Thịnh Đường sao mà nhiều anh tài thế?) để tiếp tục chủ trương của Đỗ.

    Bạch tự là Lạc Thiên 樂天, sung sướng suốt một đời. Sinh vào nhà nghèo nhưng được yên ổn học tập. Ông kể rằng hồi 6-7 tháng, chưa biết nói mà ông đã biết mặt hai chữ chi 之 và 無; lên 5 tuổi bắt đầu học làm thơ. Thông minh như vậy mà lại rất siêng, ngày đêm tụng thi thư tới nỗi “miệng lưỡi hoá ghẻ” (口舌成疥) (!); 27 tuổi đậu tiến sĩ, nhận chức Hàn lâm học sĩ.

    Khi Nguyên Chẩn, bạn thơ của ông bị biếm, ông dâng sớ can vua mà không được. Vì có tánh trực ngôn, hay vạch lỗi kẻ khác, nên bị nhiều người ghét. Thân mẫu của ông cũng bị thảm hoạ, té xuống giếng chết. Trong lúc còn tang, ông làm một bài thơ “Thưởng hoa”. Kẻ thù của ông nắm được cơ hội ấy, ton hót với vua Hiến Tông là đường đường ông là một vị chức trọng quyền cao mà bất hiếu, làm tổn thương danh giáo. Do đó ông bị biếm làm tư mã đất Giang Châu. Sau ông giữ chức thứ sử ở Tô Châu, Hàng Châu, về già được thăng Hình bộ thượng thư.

    Ông theo cả ba đạo Khổng, Lão, Phật, lúc hưu trí thường cùng với vài vị hoà thượng mặc áo trắng, chống gậy trúc du ngoạn Hương Sơn, nên có tên hiệu là Hương Sơn cư sĩ 香山居士.

    Ngay từ hồi làm quan, ông cũng đã ưa thú thanh nhàn, phong lưu, cất một ngôi nhà đọc sách ở Lạc Dương, có hoa có trúc, có đá có hồ, nuôi một thị nữ trẻ, đẹp, vừa múa khéo vừa ca hay. Đời ông như vậy đâu phải là “cùng” mà sao thơ ông vẫn “công”? Ông để lại cho đời một tập thơ 71 quyển.

    b. Tư tưởng

    Ông vốn yêu đời, muốn ai cũng được sung sướng như mình, nên hoài bảo chí hướng cứu thế, bảo văn thơ không phải để đùa giỡn với hoa cỏ, gió mây mà phải có mục đích phụng sự nhân sinh.

    Ông ví thơ với một cây:

    Thơ gốc nó là tình, ngọn nó là lời, hoa nó là tiếng, trái nó là nghĩa”.

    Ông ghét nhất là những câu lời thì đẹp mà ý thì rỗng. Ông bảo hai câu sau này đẹp thì đẹp thật nhưng vô nghĩa:

    餘霞散成绮,

    澄江静如練。

    Dư hà tán thành ỷ,

    Trường giang tĩnh như luyện.

    Ráng chiều tan thành gấm,

    Sóng trong sạch như lụa.

    Theo ông muốn cho có nghĩa, thì văn “phải hợp với thời mà viết, hợp với việc mà làm”.

    Chủ trương của ông là “không cầu cung luật cho cao, văn tự cho kỳ, mà chỉ cầu ca vịnh nỗi đau của dân sinh để nhà vua biết”, vì:

    Tai nhà vua tự nó không đủ sáng, phải hợp hết các tai trong thiên hạ mà nghe rồi mới sáng được; mắt nhà vua tự nó không đủ tỏ, phải hợp hết các mắt trong thiên hạ mà nhìn rồi mới tỏ được; lòng nhà vua tự nó không thông suốt, phải hợp hết các lòng trong thiên hạ mà nghĩ rồi mới thông suốt được”.

    Và nhiệm vụ của thi sĩ là:

    dùng thơ để xét và giúp chính trị đương thời cùng tiết đạo nhân tình”.

    Tóm lại, phải:

    Vì vua, vì quan, vì vật, vì việc mà làm, chứ không thể vì văn mà làm được”.

    Quan niệm đó rõ ràng là vị nhân sinh, không vị nghệ thuật. Nhà văn phải là mối liên lạc giữa nhà cầm quyền và quốc dân.

    Phê bình văn thơ đương thời ông viết:

    …Đời khen là bực nhất thì có Lý, Đỗ. Họ tài thật, không ai bì kịp… Thơ của Đỗ rất nhiều, còn truyền lại trên 1000 bài, quán xuyến cổ kim, tận xảo, tận mỹ còn hơn Lý, song lựa được những câu như:

    Chu môn tửu nhục xú

    Lộ hữu đống tử cốt.

    thì bất quá chỉ được 13-14 câu. Đỗ mà còn vậy, hướng hồ là những kẻ không bằng Đỗ”.

    Ông chê cả thơ của chính mình nữa:

    Thơ của tôi mà được người ta thích, chẳng qua chỉ là những bài luật thi và bài Trường hận ca. Cái người ta trọng là cái mà tôi khinh”?.

    Ông tự hào nhất là về những bài bình dị, có ý khuyên răn đời hoặc có tính cách xã hội.

    c. Đặc điểm của thơ Bạch Cư Dị

    Ông rất thích dân ca, muốn lập lại chế độ lượm ca dao ở đời Chu để nhà cầm quyền được biết rõ đời sống cùng tính tình, phong tục của dân. Già nửa thơ ông cũng gần như dân ca, dùng toàn bạch thoại.

    Tương truyền mỗi khi ông làm xong một bài, đọc cho người vú già nghe rồi hỏi: “Hiểu không?”. Nếu người vú đáp “Hiểu” thì ông mới chép lại. Nhờ vậy mà thơ ông, hạng bình dân thuộc rất nhiều.

    Ít có thi sĩ nào tự hào như ông khi viết những hàng sau này cho bạn thân là Nguyên Chẩn:

    Từ Trường Giang đến Giang Tây, 3-4 ngàn dặm, phàm tới các trường làng, chùa Phật, quán trọ hoặc ở trong thuyền, đâu đâu tôi cũng nghe đủ các hạng người ngâm thơ của tôi, từ kẻ sĩ đến nhà tu hành, từ đàn bà goá đến gái tơ”.

    Các bạn thi sĩ nghĩ sao? Tôi nghĩ nếu có bị chê là “nôm na” mà được như vậy cũng thú lắm chứ! Và vong linh Bạch Lạc Thiên lúc này chắc cũng đương mỉm cười vì các học giả Trung Quốc như Hồ Thích, Lỗ Tấn… cực lực tán dương Bạch, cho ông có nhãn quan rất sáng, có đại đởm hơn người, dám dùng bạch thoại để làm thơ.

    d. Ít bài thơ của Bạch

    Thơ của Bạch chia làm 2 loại:

    - Loại bình dị có tính cách xã hội như những bài Văn khốc giả, Tần trung ngâm. Về loại ấy, ông chịu nhiều ảnh hưởng của Đỗ Phủ. Ông cũng như Tolstoi, ở trong cảnh cao sang mà than thở cho người khổ, còn Đỗ Phủ như Dostoievsky, lăn lóc với bọn cùng dân, rồi tả nỗi lòng của họ. Nghe văng có tiếng vợ khóc chồng, ông viết:

    聞哭者

    昨日南隣哭,

    哭聲一何苦!

    問是妻哭夫,

    夫年二十五。

    今朝北里哭,

    哭聲又何切!

    問是母哭兒,

    兒年十七八。

    四隣尚如此,

    天下多夭折,

    乃知浮世人,

    少得垂白發!

    余今過四十,

    念彼聊自悅,

    從此明鏡中,

    不嫌頭似雪。

    Văn khốc giả

    Tạc nhật Nam lân khốc,

    Khốc thanh nhất hà khổ!

    Vấn thị thê khốc phu,

    Phu niên nhị thập ngũ.

    Kim triêu Bắc lý khốc,

    Khốc thanh hựu hà thiết!

    Vấn thị mẫu khốc nhi,

    Nhi niên thập thất bát.

    Tứ lân thượng như thử,

    Thiên hạ đa yểu chiết,

    Nãi tri phù thế nhân,

    Thiểu đắc thùy bạch phát!

    Dư kim quá tứ thập,

    Niệm bỉ liêu tự duyệt,

    Tùng thử minh kính trung,

    Bất hiềm đầu tự tuyết.

    Nghe người khóc

    Mới hôm nọ xóm Nam người khóc,

    Tiếng khóc sao đau độc nỗi lòng!

    Rằng: Đâu là vợ khóc chồng,

    Chồng hai nhăm tuổi khuất vòng nhân gian.

    Sớm nay lại khóc than xóm Bắc,

    Tiếng khóc sao ruột thắt từng cơn!

    Rằng: Đâu là mẹ khóc con,

    Con mười bảy, tám chết còn tuổi xanh!

    Bốn hàng xóm chung quanh như thế,

    Khắp thế gian chết trẻ còn nhiều,

    Mới hay người thế bao nhiêu,

    Trắng phơ mái tóc dễ nào mấy ai?

    Ta nay tuổi có ngoài bốn chục,

    Nghĩ ai kia, thôi cũng vui lòng,

    Từ nay trông bức gương trong,

    Đầu ta ngỡ tuyết, ta không quản gì.

    (Tản Đà dịch)

    Trong bài đó ông còn nghĩ tới ông nhiều, đến khúc Tần trung ngâm mới thực là ông thiết tha thương hại kẻ khổ rồi mạnh bạo bênh vực họ:

    秦中吟

    輕,肥,

    意氣驕滿路,

    鞍馬光照塵。

    借問何爲者?

    人稱是內臣。

    朱紼皆大夫,

    紫綬或將軍,

    誇赴軍中宴,

    走馬去如雲。

    尊罍溢九鼎,

    水陸羅八珍!

    果擘洞庭橘,

    鱠切天池鱗,

    食飽心自若。

    酒酣氣益振,

    是歲江南旱,

    衢州人食人。

    Tần trung ngâm

    Khinh, phì,

    Ý khí kiêu mãn lộ,

    An mã quang chiếu trần.

    Tá vấn hà vi giả?

    Nhân xưng thị nội thần.

    Chu phất giai đại phu,

    Tử thụ hoặc tướng quân.

    Khoa phó quân trung yến,

    Tẩu mã khứ như vân.

    Tôn lôi dật cửu đỉnh,

    Thủy lục la bát trân!

    Quả phách Động Đình quất,

    Khoái thiết Thiên Trì lân.

    Thực bão tâm tự nhược,

    Tửu hàm khí ích trân.

    Thị tuế Giang Nam hạn,

    Cồ Châu nhân thực nhân.

    Khúc ngâm trong đất Tần 15

    Nhẹ, béo 16

    Đầy đường dáng bộ con cưng,

    Ngựa yên bóng nhoáng, sáng trưng bụi hồng.

    Hỏi: làm chi đó những ông?

    Người ta rằng: Những quan trong đó mà.

    Giải điều đều đại phu ta,

    Mà đeo giải tía, hoặc là tướng quân.

    Khuênh khoang đi chén trong quân,

    Rộn ràng vó ngựa chạy vần như mây.

    Vò, ang, chín thứ rượu đầy,

    Hải sơn tám bát cỗ bày linh tinh.

    Quả dâng, quít hái Động Đình,

    Cá Thiên Trì thái, đơm thành gỏi ngon.

    Ăn no khoan khoái tâm hồn,

    Rượu say ý khí hùng hồn càng thêm.

    Năm nay hạn hán Giang Nam,

    Cồ Châu người mổ người làm thức ăn.

    (Tản Đà dịch)

    Trong khúc thứ 2 có những câu:

    昨日輸殘稅,

    因窺官庫門。

    繒帛如山積,

    絲絮似雲屯。

    奪我身上暖,

    買爾眼前恩。

    進入瓊林庫,

    歲久化爲塵。

    Tạc nhật thâu tàn thuế,

    Nhân khuy quan khố môn:

    Tăng bạch như sơn tích,

    Ti nhứ tự vân đồn.

    Đoạt ngã thân thượng noãn,

    Mãi nhĩ nhãn tiền ân.

    Tiến nhập Quỳnh Lâm khố,

    Tuế cửu hoá vi trần.

    Hôm qua nộp thuế thiếu,

    Nhân ngó qua cửa kho,

    Như núi, chồi và lụa,

    Như mây, bông với tơ.

    Lột áo, bắt ta lạnh,

    Để mua ân cho người,

    Vào kho lâu thành bụi,

    Chứa đó để nhìn chơi.

    Khúc thứ 3 cũng có giọng oán giận đó:

    廚有臭敗肉,

    庫有貫朽錢。

    豈無窮賤者,

    忍不救飢寒。

    Trù hữu xú bại nhục,

    Khố hữu quán hủ tiền.

    Khởi vô cùng tiện giả,

    Nhẫn bất cứu cơ hàn?

    Bếp có thịt thiu thối,

    Tiền mục trong kho tối,

    Thiếu gì kẻ cùng khổ

    Nỡ nào chẳng cứu họ?

    Khúc thứ 9 còn lâm ly hơn; sau khi tả cái vui no lòng ấm cật của bọn phú quý, ông kết:

    豈知閿鄉獄,

    中有凍死囚!

    Khởi tri Văn Hương 17 ngục,

    Trung hữu đống tử tù!

    Biết chăng trong ngục Văn,

    Có kẻ tù chết cóng!

    Bài nhạc phủ Tân Phong chiết bích ông làm ta nhớ tới bài Thạch hào lại của Đỗ Phủ:

    新豐折臂翁

    是時翁二十四,

    兵部牒中有名字。

    夜深不敢使人知,

    偷將大石槌折臂。

    張弓簸旗俱不堪,

    從茲始免征雲南。

    Tân Phong chiết bích ông

    Thị thời ông nhị thập tứ,

    Binh bộ điệp trung hữu danh tự.

    Dạ thâm bất cảm sử nhân tri,

    Du tương đại thạch chuỳ chiết bích.

    Trương cung bả kỳ câu bất kham,

    Tòng tư thuỷ miễn chinh Vân Nam.

    Ông lão gẫy tay ở Tân Phong

    Hồi đó ông hăm bốn tuổi,

    Trát kêu bắt lính, người cho hay,

    Lén lút ra vườn trong đêm tối,

    Lấy đá đập gãy một cánh tay.

    Dương cung phất cờ đều chẳng nổi,

    Miễn dịch Vân Nam đến ngày nay.

    Những bài đó đều làm hồi ông còn rất trẻ; ngoài 40 tuổi trở đi, lòng hăng hái, phẫn uất của ông có hơi kém. Gặp lúc rối beng, ông cũng buồn cho thời thế, nhưng như có ý chán nản, muốn lánh đời. Tâm tư của Hương Sơn cư sĩ bận áo trắng, chống gậy trúc, cùng với các vị hoà thượng ngao du ngoạn cảnh chùa chiền, đã thấy hiện trong bài thơ dưới đây:

    望江樓上作

    江畔百尺樓,

    樓前千里道。

    憑高望平遠,

    亦足舒懷抱。

    驛路使僮僮,

    關防兵草草。

    及茲多事日,

    尤覺閒人好。

    我年過不惑,

    退休誠非早。

    從此拂塵衣,

    歸山未爲老。

    Vọng giang lâu thượng tác

    Giang bạn bách xích lâu,

    Lâu tiền thiên lý đạo.

    Bằng cao vọng bình viễn,

    Diệc túc thư hoài bão.

    Dịch lộ sứ đồng đồng,

    Quan phòng binh thảo thảo.

    Cập tư đa sự nhật,

    Vưu giác nhàn nhân hảo.

    Ngã niên quá bất hoặc,

    Thoái hưu thành phi tảo.

    Tòng thử phất trần y,

    Qui sơn vị vi lão.

    Trên lầu trông ra sông

    Bờ sông trăm thước lầu cao,

    Trước lầu nghìn dặm đi đâu con đường?

    Tựa cao trông xuống dặm trường,

    Mà trong bụng nghĩ như nhường khoan thư.

    Đường quan rộn kẻ đưa thư,

    Quân gia láo nháo ngẩn ngơ canh phòng.

    Cuộc đời gặp lúc rối tung,

    Riêng ai ở cảnh thong dong càng mầu.

    Đã hơn bốn chục tuổi đầu,

    Từ nay về nghỉ ngõ hầu phải thôi.

    Từ nay rũ áo trần ai.

    Non xanh tìm thú vui chơi chửa già

    (Tản Đà dịch)

    ° ° °

    - Loại thứ nhì trong thơ Bạch Cư Dị là loại tươi đẹp mà các văn sĩ đương thời rất ưa. Bóng bảy mà ý nghĩa như bài Thảo:

    离离原上草,

    一歲一枯榮。

    野火燒不盡,

    春風吹又生。

    遠芳侵古道,

    晴翠接荒城。

    又送王孫去,

    萋萋滿別情。

    Thảo

    Ly ly nguyên thượng thảo,

    Nhất tuế nhất khô vinh.

    Dã hoả thiêu bất tận,

    Xuân phong xuy hựu sinh.

    Viễn phương xâm cổ đạo,

    Tình thuý tiếp hoang thành.

    Hựu tống vương Tôn khứ,

    Thê thê mãn biệt tình.

    Cỏ

    Đồng cao cỏ mọc như chen,

    Khô tươi thay đổi hai phen năm tròn.

    Lửa đồng thiêu cháy vẫn còn;

    Gió xuân thổi tới mầm non lại trồi.

    Xa xa thơm ngát dặm dài,

    Thành hoang làng biếc khi trời tạnh mưa.

    Vương tôn đi lại tiễn đưa,

    Biết bao tình biệt đầm đìa lướt theo.

    (Tản Đà dịch)

    Diễm lệ, thanh tân như bài:

    池上

    小娃撐小艇,

    偷採白蓮回。

    不解藏蹤跡,

    芙萍一道開。

    Trì thượng

    Tiểu oa sanh tiểu đĩnh,

    Thâu thái bạch liên hồi.

    Bất giải tàng tung tích,

    Phù bình nhất đạo khai.

    Trên ao

    Người xinh bơi chiếc thúng xinh,

    Bông sen trắng nõn trắng tinh thó về.

    Hớ hênh dấu vết không che,

    Trên ao để một luồng chia mặt bèo.

    (Tản Đà dịch)

    Có giọng Đào Tiềm như bài sau:

    閒夕

    一聲早蟬歇,

    數點青螢度。

    蘭缸耿無煙,

    筠簟清有露。

    未歸房後寢,

    且下前軒步。

    斜月入低廊,

    涼風滿高樹。

    放懷常自適,

    遇景多成趣。

    何法使之然,

    心中無細物。

    Nhàn tịch

    Nhất thanh tảo thiền yết,

    Sổ điểm thanh huỳnh độ,

    Lan cang cảnh vô yên,

    Quân điệm thanh hữu lộ.

    Vị quy phòng hậu tẩm,

    Thả hạ tiền hiên bộ,

    Tà nguyệt nhập đê lang,

    Lương phong mãn cao thụ.

    Phóng hoài thường tự thích,

    Ngộ cảnh đa thành thú,

    Hà pháp sử chi nhiên,

    Tâm trung vô tế vật.

    Đêm nhàn

    Tiếng ve kêu sớm đã im,

    Mấy con đom đóm ban đêm lượn vòng.

    Đèn lan không khói sáng trong,

    Chiếu tre mát lạnh như đồng bám sương.

    Ham chơi chưa vội về buồng,

    Trước hiên dạo bước đêm sương một mình.

    Quanh hè bóng nguyệt chênh chênh,

    Gió hây hẩy mát trên cành cây cao.

    Phóng hoài riêng thú tiêu dao,

    Người vui khi gặp cảnh nào cũng vui.

    Phép gì được thế, ai ơi,

    Vì lòng không vướng chuyện đời nhỏ nhen.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Thơ luật của ông cũng có nhiều bài rất hay, giọng lâm ly như:

    自河南經亂…

    時難年荒世業空,

    弟兄羈旅各西東。

    田園寥落干戈後,

    骨肉流離道路中。

    弔影分爲千里雁,

    辭根散作九秋蓬。

    共看明月應垂淚,

    一夜鄉心五處同。

    Tự Hà Nam kinh loạn…

    Thời nạn niên hoang thế nghiệp không,

    Đệ huynh cơ lữ các tây đông.

    Điền viên liêu lạc can qua hậu,

    Cốt nhục lưu ly đạo lộ trung.

    Điếu ảnh phân vi thiên lý nhạn,

    Từ căn tan tác cửu thu bồng.

    Cộng khan minh nguyệt ưng thuỳ lệ,

    Nhất dạ hương tâm ngũ xứ đồng.

    Từ Hà Nam gặp loạn…

    Đói kém gian nan nghiệp cũ không,

    Anh em phiêu bạt khắp tây đông.

    Ruộng vườn hoang phế cơn binh lửa,

    Cốt nhục lưu ly chỗ bãi đồng.

    Ngàn dặm chia lìa thương bóng nhạn,

    Ba thu tan tác xót cây bông.

    Coi trăng ai chẳng nên rơi luỵ,

    Một tối đồng quê năm chỗ cùng 18 .

    (Vô danh dịch)

    Song Tì bà hànhTrường hận ca là những bài được truyền tụng nhất của Bạch Cư Dị, ảnh hưởng đến văn học Việt Nam rất nhiều.

    Bài Trường hận ca hay hơn bài Tì bà hành. Cả hai đều được dịch ra Việt văn. Tì bà hành có hai bản dịch: một của Phan Huy Vịnh (coi trong cuốn “Việt Nam thi văn hợp tuyển” của Dương Quảng Hàm), một của Trần Trọng Kim (trong cuốn “Đường Thi”), còn Trường hận ca thì có 4 bản dịch, một của Tản Đà (trong cuốn Tản Đà vận văn toàn tập), một của Vũ Đình Liên (trong Thanh Nghị, số 6), và hai của Vũ Văn Khoa (Trần Văn Giáp sao lục và đăng trong Thanh Nghị, số 18, 19). Chúng tôi xin chép lại dưới đây những bản dịch khác giữ đúng thể thơ của tác giả mà chưa hề in trên báo, sách, để độc giả so sánh.

    琵琶行

    潯陽江頭夜送客,

    楓葉荻花秋瑟瑟。

    主人下馬客在船,

    舉酒欲飲無管弦。

    醉不成歡慘將別,

    別時茫茫江浸月。

    忽聞水上琵琶聲,

    主人忘歸客不發。

    尋聲暗問彈者誰?

    琵琶聲停欲語遲。

    移船相近邀相見,

    添酒回燈重開宴。

    千呼萬喚始出來,

    猶抱琵琶半遮面。

    轉軸撥弦三兩聲,

    未成曲調先有情。

    弦弦掩抑聲聲思,

    似訴生平不得志。

    低眉信手續續彈,

    說盡心中無限事。

    輕攏慢撚抹復挑,

    初爲霓裳後六么。

    大弦嘈嘈如急雨,

    小弦切切如私語。

    嘈嘈切切錯雜彈,

    大珠小珠落玉盤。

    閒關鶯語花底滑,

    幽咽泉流水下灘。

    水泉冷澀弦凝絕,

    凝絕不通聲暂歇

    別有幽愁暗恨生,

    此時無聲勝有聲。

    銀瓶乍破水漿迸,

    鐵騎突出刀鎗鳴。

    曲終抽撥當心畫,

    四弦一聲如裂帛。

    東船西舫悄無言,

    惟見江心秋月白。

    沈吟放撥插弦中,

    整頓衣裳起斂容。

    自言本是京城女,

    家在蝦蟆陵下住。

    十三學得琵琶成,

    名屬教坊第一部。

    曲罷常教善才服,

    妝成每被秋娘妒。

    五陵年少爭纏頭,

    一曲紅綃不知數

    鈿頭銀篦擊節碎,

    血色羅裙翻酒污。

    今年歡笑復來年,

    秋月春風等閒度。

    弟走從軍阿姨死,

    暮去朝來顏色故。

    門前冷落車馬稀,

    老大嫁作商人婦。

    商人重利輕別離,

    前月浮梁買茶去。

    去來江口守空船,

    繞船明月江水寒。

    夜來忽夢少年事,

    夢啼妝淚紅闌干。

    我聞琵琶已歎息,

    又聞此語重唧唧。

    同是天涯淪落人,

    相逢何必曾相識。

    我從去年辭帝京,

    謫居臥病潯陽城。

    潯陽地僻無音樂,

    終歲不聞絲竹聲。

    住近湓池地底濕,

    黃蘆苦竹繞宅生。

    其間旦暮聞何物,

    杜鵑啼血猿哀鳴。

    春江花朝秋月夜,

    往往取酒還獨傾。

    豈無山歌與村笛,

    嘔啞啁哳難爲聽。

    今夜聞君琵琶語,

    如聽仙樂耳暫明。

    莫辭更坐彈一曲,

    爲君翻作琵琶行。

    感我此言良久立,

    卻坐促弦弦轉急。

    淒淒不似向前聲,

    滿座聞之皆掩泣。

    就中泣下誰最多?

    江州司馬青衫濕。

    Tỳ bà hành

    Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,

    Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.

    Chủ nhân hạ mã khách tại thuyền,

    Cử tửu dục ẩm, vô quản huyền.

    Tuý bất thành hoan thảm tương biệt,

    Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt.

    Hốt văn thuỷ thượng tì bà thanh,

    Chủ nhân vong quy khách bất phát.

    Tầm thanh ám vấn đàn giả thuỳ?

    Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì.

    Di thuyền tương cận yêu tương kiến,

    Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến.

    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai,

    Do bão tỳ bà bán già diện,

    Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh.

    Vị thành khúc điệu tiên hữu tình,

    Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ,

    Tự tố bình sinh bất đắc chí.

    Đê my tín thủ tục tục đàn,

    Thuyết tận tâm trung vô hạn sự.

    Khinh lung mạn niễn mạt phục khiêu,

    Sơ vi Nghê thường, hậu Lục yêu.

    Đại huyền tào tào như cấp vũ,

    Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.

    Tào tào, thiết thiết thác tạp đàn,

    Đại châu, tiểu châu lạc ngọc bàn.

    Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt,

    U yết tuyền lưu thuỷ hạ than.

    Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt,

    Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết.

    Biệt hữu u sầu ám hận sinh,

    Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.

    Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính,

    Thiết kỵ đột xuất đao thương minh.

    Khúc chung trừu bát đương tâm hoạch,

    Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch.

    Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn,

    Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch,

    Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung.

    Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung,

    Tự ngôn bản thị Kinh thành nữ,

    Gia tại Hà Mô lăng hạ trụ.

    Thập tam học đắc tỳ bà thành,

    Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ.

    Khúc bãi thường giao thiện tài phục,

    Trang thành mỗi bị Thu nương đố.

    Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu,

    Nhất khúc hồng tiêu bất tri số.

    Điền đầu ngân bề kích tiết tuý,

    Huyết sắc la quần phiên tửu ố.

    Kim niên hoan tiếu phục lai niên,

    Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ.

    Đệ tẩu tòng quân, át di tử,

    Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố.

    Môn tiền lãnh lạc xa mã hy,

    Lão đại giá tác thương nhân phụ.

    Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly,

    Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ.

    Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền,

    Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn.

    Dạ lai hốt mộng thiếu niên sự,

    Mộng đề trang lệ hồng lan can,

    Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức.

    Hựu văn thử ngữ trùng tức tức,

    Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,

    Tương phùng hà tất tằng tương thức.

    Ngã tòng khứ niên từ Đế kinh,

    Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành,

    Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc,

    Chung tuế bất văn ti trúc thanh,

    Trụ cận Bồn Trì địa để thấp,

    Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh.

    Kỳ gian đán mộ văn hà vật?

    Đỗ quyên đề huyết viên ai minh.

    Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ,

    Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh.

    Khởi vô sơn ca dữ thôn địch,

    Âu nha trù triết nan vi thính,

    Kim dạ văn quân tì bà ngữ,

    Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh.

    Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc,

    Vị quân phiên tác tì bà hành.

    Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập,

    Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp.

    Thê thê bất tự hướng tiền thanh,

    Mãn toạ văn chi giai yểm khấp.

    Tựu trung khấp hạ thuỳ tối đa?

    Giang Châu tư mã thanh sam thấp.

    Tì bà hành

    Năm Nguyên Hoà thứ 10, Bạch Cư Dị bị giáng làm quan tư mã Cửu Giang. Năm sau ông qua bến Tầm Dương, nửa đêm nghe tiếng tì bà trong một chiếc thuyền, hỏi ra thì là một ca nữ nổi danh ở Tràng An, nay tuổi đã già, sắc đã kém, làm vợ một lái buôn. Ông bèn bảo đặt rượu và gẩy vài khúc. Gẩy xong, người ấy buồn bã kể nỗi lòng. Ông cảm động, nghĩ tình cảnh của mình nay bị giáng trích, cũng không khác gì tình cảnh ả đó, nên làm bài Tì bà hành này để tặng nàng.

    Trên bến Tầm Dương đêm tiễn khách,

    Hoa địch 19 , lá phong thu lách tách.

    Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền,

    Cất ly muốn nhậu, không quản huyền 20 ,

    Say chẳng thành vui, buồn sắp biệt,

    Lúc biệt lờ mờ sông lắm nguyệt.

    Chợt nghe trên nước tiếng tì bà,

    Chủ quên về, khách cũng lân la.

    Theo tiếng hỏi thăm ai đó đàn,

    Tiếng đàn ngừng hẳn, nói khoan khoan.

    Xeo thuyền gần lại mới ra mặt,

    Khêu đèn, đặt rượu thêm tiêm tất;

    Ngàn kêu muôn gọi mời qua thuyền,

    Ôm chiếc tì bà che nửa mặt,

    Vặn trục nhấn dây ít tiếng thôi,

    Chưa thành khúc điệu đã tình rồi,

    Dây đây đè nén ý trầm ngâm,

    Như tỏ bình sinh chửa xứng tâm.

    Cúi mày, tay gẩy, tiếng tuôn tuôn,

    Kể hết trong lòng bao nỗi buồn.

    Nhẹ nhõm, khoan thai, hát lại khều,

    Trước khúc Nghê Thường, sau Lục Yêu,

    Có lúc thì thầm như nói nhỏ,

    Có lúc ào ào như nước đổ.

    Ào ào, thì thầm xen lẫn đàn,

    Châu nhỏ, châu to rót ngọc bàn.

    Tiếng oanh ríu ríu dưới hoa, trơn,

    Tiếng suối ngập ngừng, nước xuống ngàn,

    Thảnh thót suối ngừng, dây ngỡ đứt,

    Cách tuyệt không thông, đàn tạm dứt.

    Riêng có âu sầu ám hận sinh,

    Khi im tiếng hơn khi có tiếng,

    Bình bạc bể rồi, nước chảy tung.

    Ngựa sắt vung ra, thương chạm kiếm,

    Khúc rồi, cất bát 21 vạch tim đờn,

    Xẹt một tiếng, bốn dây lẳng lặng,

    Ghe cộ đông tây chẳng một lời,

    Lòng sông chỉ thấy trăng thu trắng.

    Tần ngần đem bát cắm trong dây,

    Sửa soạn áo xiêm trở gót giày,

    Tự xưng vốn thị gái Kinh thành,

    Nhà ở Hà Mô lăng hạ đó,

    Đàn tì học giỏi mới mười ba.

    Tên thuộc giáo phường đệ nhất bộ 22 ,

    Khúc hay thường được thiện tài 23 khen,

    Đóng mốt 24 , Thu nương 25 thêm tật đố 26 .

    Ngũ Lăng 27 khách trẻ tranh triền đầu 28 ,

    Một khúc tiêu hồng 29 không biết số.

    Hoa vàng lược bạc bể luôn tay 30 ,

    Đỏ nhuộm quần là vì nhuộm ố,

    Năm nay cười giỡn lại sang năm,

    Thu nguyệt xuân phong quên mấy độ.

    Dì nuôi đã chết, em tòng quân,

    Sớm tối đổi thay nhan sắc cũ,

    Ngựa xe trước cửa vắng lơ thơ.

    Già lớn về tay người đại cổ 31 .

    Con buôn lợi trọng, biệt ly khinh,

    Tháng trước, Phù Lương 32 đi bán trà,

    Cửa sông đi lại giữ thuyền không.

    Quanh thuyền trăng rọi, nước mênh mông.

    Đêm khuya mộng thấy việc hồi trẻ,

    Mơ màng giọt lệ đỏ 33 lan can.

    Ta nghe đàn tì đã buồn bực,

    Lại nghe lời này càng bứt rứt.

    Cùng người luân lạc chỗ thiên nhai,

    Gặp nhau hà tất từng tương thức.

    Ta từ năm trước xa Đế kinh,

    Giáng chức, đau nằm Tầm Dương thành,

    Tơ trúc trọn năm nghe vắng tiếng,

    Tầm Dương hẻo lánh thôi cũng đành.

    Bến Bồn đất thấp nhà gần đó,

    Trúc đắng lan vàng vẫn mọc quanh.

    Nghe những tiếng gì trong đêm tối?

    Tiếng quyên, tiếng vượn, tiếng buồn tênh.

    Gặp khi hoa nở, khi trăng sáng,

    Bầu rượu thường thường rót một mình.

    Sau thôn có sáo và ca khúc,

    Lăng líu, khàn khàn khó gợi tình.

    Đêm nay nghe được tì bà khúc,

    Như nghe tiên nhạc, mở thông minh.

    Chớ từ, gẩy lại cho lần nữa,

    Vì mình ta làm tì bà hành.

    Cảm lời nói ấy, đứng hơi lâu,

    Ngồi xuống vặn dây, dây thẳng gấp.

    Đau thương khác hẳn điệu vừa nghe,

    Thử hỏi ai là người khóc nhiều?

    Giang Châu tư mã áo xanh ướt.

    (Vô danh dịch)

    長恨歌

    漢皇重色思傾國,

    御宇多年求不得。

    楊家有女初長成,

    養在深閨人未識。

    天生麗質難自棄,

    一朝選在君王側。

    回頭一笑百媚生,

    六宮粉黛無顏色。

    春寒賜浴華清池,

    溫泉水滑洗凝脂。

    侍兒扶起嬌無力,

    始是新承恩澤時。

    雲鬢花顏金步搖,

    芙蓉帳暖度春宵。

    春宵苦短日高起,

    從此君王不早朝。

    承歡侍宴無閑暇,

    春從春遊夜專夜。

    後宮佳麗三千人,

    三千寵愛在一身。

    金星妝成嬌侍夜,

    玉樓宴罷醉和春。

    姊妹弟兄皆列士,

    可憐光彩生門戶。

    遂令天下父母心,

    不重生男重生女。

    驪宮高處入青雲,

    仙樂風飄處處聞。

    緩歌慢舞凝絲竹,

    盡日君王看不足。

    漁陽鼙鼓動地來,

    驚破霓裳羽衣曲。

    九重城闕煙塵生,

    千乘萬騎西南行。

    翠華搖搖行復止,

    西出都門百餘里。

    六軍不發無奈何,

    宛轉蛾眉馬前死。

    花鈿委地無人收,

    翠翹金雀玉搔頭。

    君王掩面救不得,

    回看血淚相和流。

    黃埃散漫風蕭索,

    雲棧縈紆登劍閣。

    峨嵋山下少人行,

    旌旗無光日色薄。

    蜀江水碧蜀山青,

    聖主朝朝暮暮情。

    行宮見月傷心色,

    夜雨聞鈴腸斷聲。

    天旋地轉迴龍馭,

    到此躊躇不能去。

    馬嵬坡下泥土中,

    不見玉顏空死處。

    君臣相顧盡霑衣,

    東望都門信馬歸。

    歸來池苑皆依舊,

    太液芙蓉未央柳。

    芙蓉如面柳如眉,

    對此如何不淚垂?

    春風桃李花開日,

    秋雨梧桐葉落時。

    西宮南內多秋草,

    落葉滿階紅不掃。

    梨園子弟白髮新,

    椒房阿監青娥老。

    夕殿螢飛思悄然,

    孤燈挑盡未成眠。

    遲遲鐘鼓初長夜,

    耿耿星河欲曙天。

    鴛鴦瓦冷霜華重,

    翡翠衾寒誰與共。

    悠悠生死別經年,

    魂魄不曾來入夢。

    臨邛道士鴻都客,

    能以精誠致魂魄。

    爲感君王輾轉思,

    遂教方士殷勤覓。

    排空馭氣奔如電,

    升天入地求之遍。

    上窮碧落下黃泉,

    兩處茫茫皆不見。

    忽聞海上有仙山,

    山在虛無縹緲間。

    樓閣玲瓏五雲起,

    其中綽約多仙子。

    中有一人字太真,

    雪膚花貌參差是。

    金闕西廂叩玉扃,

    轉教小玉報雙成。

    聞道漢家天子使,

    九華帳裡夢魂驚。

    攬衣推枕起徘徊,

    珠箔銀屏迤邐開。

    半偏新睡覺,

    花冠不整下堂來。

    風吹仙袂飄飄舉,

    猶似霓裳羽衣舞。

    玉容寂寞淚闌干,

    梨花一枝春帶雨。

    含情凝睇謝君王,

    一別音容兩渺茫。

    昭陽殿裡恩愛絕,

    蓬萊宮中日月長。

    回頭下望人寰處,

    不見長安見塵霧。

    唯將舊物表深情,

    鈿合金釵寄將去。

    釵留一股合一扇,

    釵擘黃金合分鈿。

    但教心似金鈿堅,

    天上人間會相見。

    臨別殷勤重寄詞,

    詞中有誓兩心知。

    七月七日長生殿,

    夜半無人私語時。

    在天願作比翼鳥,

    在地願爲連理枝。

    天長地久有時盡,

    此恨綿綿無絕期!

    Trường hận ca

    Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc,

    Ngự vũ đa niên cầu bất đắc.

    Dương gia hữu nữ sơ trưởng thành,

    Dưỡng tại thâm khuê, nhân vị thức.

    Thiên sinh lệ chất nan tự khí,

    Nhất triêu tuyển tại quân vương trắc.

    Hồi đầu nhất tiếu bách mị sinh,

    Lục cung phấn đại vô nhan sắc,

    Xuân hàn tứ dục Hoa Thanh trì,

    Ôn tuyền thuỷ hoạt tẩy ngưng chi.

    Thị nhi phù khởi kiều vô lực,

    Thuỷ thị tân thừa ân trạch thì.

    Vân mấn hoa nhan kim bộ dao,

    Phù dung trướng noãn độ xuân tiêu,

    Xuân tiêu khổ đoản nhật cao khởi,

    Tòng thử quân vương bất tảo triều,

    Thừa hoan thị yến vô nhàn hạ,

    Xuân tòng xuân du dạ chuyển dạ.

    Hậu cung giai lệ tam thiên nhân,

    Tam thiên sủng ái tại nhất nhân,

    Kim ốc trang thành kiều thị dạ,

    Ngọc lâu yến bãi tuý hoà xuân.

    Tỷ muội huynh đệ giai liệt thổ,

    Khả liên quang thái sinh môn hộ.

    Toại linh thiên hạ phụ mẫu tâm,

    Bất trọng sinh nam, trọng sinh nữ.

    Ly cung cao xứ nhập thanh vân,

    Tiên nhạc phong phiêu xứ xứ văn.

    Hoãn ca mạn vũ ngưng ti trúc,

    Tận nhật quân vương khan bất túc.

    Ngư Dương bề cổ động địa lai,

    Kinh phá Nghê Thường vũ y khúc.

    Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh,

    Thiên thặng vạn kỵ tây nam hành.

    Thuý hoa dao dao hành phục chỉ,

    Tây xuất đô môn bách dư lý.

    Lục quân bất phát vô nại hà,

    Uyển chuyển nga mi mã tiền tử.

    Hoa điền uỷ địa vô nhân thu,

    Thuý kiều kim tước ngọc tao đầu.

    Quân vương yểm diện cứu bất đắc,

    Hồi khan huyết lệ tương hoà lưu.

    Hoàng ai tán mạn phong tiêu tác,

    Vân sạn oanh vu đăng Kiếm Các.

    Nga Mi sơn hạ thiểu nhân hành,

    Tinh kỳ vô quang, nhật sắc bạc,

    Thục giang thuỷ bích, Thục sơn thanh,

    Thánh chủ triêu triêu mộ mộ tình.

    Hành cung kiến nguyệt thương tâm sắc,

    Dạ vũ văn linh trường đoạn thanh,

    Thiên toàn địa chuyển hồi long ngự.

    Đáo thử trù trừ bất nhẫn khứ,

    Mã Ngôi pha hạ nê thổ trung.

    Bất kiến ngọc nhan không tử xứ.

    Quân thần tương cố tận triêm y,

    Đông vọng đô môn tín mã quy,

    Quy lai trì uyển giai y cựu.

    Thái Dịch phù dung Vị Ương liễu.

    Phù dung như diện, liễu như mi,

    Đối thử như hà bất lệ thuỳ?

    Xuân phong đào lý hoa khai nhật,

    Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì.

    Tây cung nam nội đa thu thảo,

    Lạc diệp mãn giai hồng bất tảo,

    Lê viên tử đệ bạch phát tân,

    Tiêu phòng át giám thanh nga lão.

    Tịch điện huỳnh phi tứ tiễu nhiên,

    Cô đăng khiêu tận vị thành miên.

    Trì trì chung cổ sơ trường dạ,

    Cảnh cảnh tinh hà dục thự thiên.

    Uyên ương ngoã lãnh sương hoa trọng,

    Phỉ thuý khâm hàn thuỳ dữ cộng.

    Du du sinh tử biệt kinh niên,

    Hồn phách bất tằng lai nhập mộng.

    Lâm Cùng đạo sĩ Hồng Đô khách,

    Năng dĩ tinh thành trí hồn phách.

    Vị cảm quân vương triển chuyển tư,

    Toại giao phương sĩ ân cần mịch,

    Bài không ngự khí bôn như điện

    Thăng thiên nhập địa cầu chi biến.

    Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền,

    Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến.

    Hốt văn hải thượng hữu tiên san,

    San tại hư vô phiếu diểu gian.

    Lâu các linh lung ngũ vân khởi,

    Kỳ trung xước ước đa tiên tử.

    Trung hữu nhất nhân tự Thái Chân,

    Tuyết phu hoa mạo sâm si thị,

    Kim khuyết tây sương khấu ngọc quynh.

    Chuyển giao Tiểu Ngọc báo Song Thành,

    Văn đạo Hán gia thiên tử sứ,

    Cửu hoa trướng lý mộng hồn kinh.

    Lãm y thôi chẩm khởi bồi hồi,

    Châu bạc ngân bình dĩ lý khai.

    Vân kháo 34 bán thiên tân thuỵ giác,

    Hoa quan bất chỉnh hạ đường lai.

    Phong xuy tiên duệ phiêu phiêu cử;

    Do tự Nghê Thường vũ y vũ.

    Ngọc dung tịch mịch lệ lan can,

    Lê hoa nhất chi xuân đái vũ.

    Hàm tình ngưng thế tạ quân vương,

    Nhất biệt âm dong lưỡng diểu mang.

    Chiêu Dương điện lý ân ái tuyệt,

    Bồng Lai cung trung nhật nguyệt trường.

    Hồi đầu hạ vọng nhân hoàn xứ,

    Bất kiến Trường An, kiến trần vụ.

    Duy tương cựu vật biểu thâm tình,

    Điền hạp kim thoa ký tương khứ,

    Thoa lưu nhất cổ hợp nhất phiến.

    Thoa bích hoàng kim hợp phân điến 35 .

    Đãn giao tâm tự kim điến kiên,

    Thiên thượng nhân gian hội tương kiến.

    Lâm biệt ân cần trung ký từ,

    Từ trung hữu thệ lưỡng tâm tri.

    Thất nguyệt thất nhật Trường Sinh điện,

    Dạ bán vô nhân tư ngữ thời,

    Tại thiên nguyện tác tị dực điểu,

    Tại địa nguyện vi liên lý chi.

    Thiên trường địa cửu hữu thời tận,

    Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ!

    Trường hận ca

    Vua Minh Hoàng mê Dương Quí Phi. Khi An Lộc Sơn khởi loạn, vua bỏ kinh đô là Trường An mà chạy vào Ba Thục; đến Mã Ngôi, tướng sĩ đó mệt, đều tức cho rằng vì Quí Phi mà có loạn, xin giết nàng. Vua phải theo ý tướng sĩ, sai đem thắt cổ Quí Phi. Sau thu phục được kinh đô, Minh Hoàng nhớ nàng vô cùng. Bạch Cư Dị viết bài ca này chép lại chuyện đó.

    Vua Hán trọng yêu người sắc nước,

    Thống trị lâu năm chẳng tìm được.

    Họ Dương có gái vừa lớn lên,

    Kín cổng cao tường, ai biết trước.

    Trời cho sắc đẹp bỏ không đành,

    Một sớm vua ban đứng cạnh mình.

    Một nụ cười, trăm vẻ đẹp xinh,

    Sáu cung son phấn cũng coi khinh.

    Suối ấm tắm rồi, xuân hết lạnh,

    Nước trơn da láng trắng phau phau.

    Con hầu nâng đỡ thân mềm yếu,

    Ơn huệ nhà vua nhớ lúc đầu.

    Mái tóc mây gài kim bộ dao 36 ,

    Đêm xuân giấc mộng ngắn làm sao!

    Mền ấm gần trưa vừa mới dậy,

    Từ đó nhà vua chẳng sớm chầu.

    Trò vui tiệc yến cứ bày thêm,

    Nối gót chơi xuân đêm lại đêm.

    Cung cấm ba nghìn khách má đào,

    Ba nghìn yêu dấu một mình bao!

    Nhà vàng sẵn đó đêm chầu chực,

    Lầu ngọc xuân hoà hứng rượu cao.

    Anh chị em đều chia tước thổ 37 ,

    Vẻ sang khá yêu đầy cửa ngõ;

    Xui lòng cha mẹ khắp trần gian,

    Chẳng trọng sinh trai, trọng sinh gái.

    Cung Ly 38 cao ngất đụng mây xanh,

    Tiên nhạc gió đưa khắp thị thành;

    Khoan thai tơ trúc và ca vũ,

    Coi hết ngày đêm còn chưa đủ.

    Ngư Dương 39 trống trận động trời đất,

    Nghê Thường vũ y 40 tan đi mất,

    Thành khuyết 41 chín lần khói bụi ngất.

    Muôn ngựa tây nam đi lật đật.

    Cờ thuý lay lay đi lại ngừng,

    Mới hơn ngàn dặm, đứng lừng khừng.

    Sáu quân chẳng tiến, biết làm sao?

    Quằn quại mày ngài chết nghẹn ngào.

    Hoa điền 42 rớt đất không ai thâu,

    Bỏ bao của quí chất trên đầu.

    Nhà vua che mặt không phương cứu,

    Màu lệ tràn hoà chảy mạch sầu.

    Bụi vàng mờ mịt gió xơ xác,

    Đường sạn 43 quanh co lên Kiếm Các 44 .

    Nga Mi chân núi ít ai đi,

    Cờ xí phai màu trời sáng nhạt.

    Nước sông Thục biếc, núi Thục xanh,

    Thánh chúa khuya khuya sớm sớm tình.

    Cung quán thương tâm vừa thấy nguyệt,

    Đêm mưa đứt ruột lại nghe linh 45 .

    Trời quay đất chuyển ngựa Rồng 46 về,

    Tới đó trù trừ chẳng nỡ đi.

    Nắm đất Mã Ngôi còn chỗ đó,

    Buồn rầu mặt ngọc thấy đâu kia,

    Vua tôi cùng ngó, lệ đầm đìa,

    Đông hướng đô môn 47 mặc ngựa về.

    Lúc về phong cảnh đều y cũ,

    Thái Dịch phù dung, Vị Ương liễu.

    Phù dung như mặt, liễu như mày,

    Đối cảnh ai mà chẳng thảm thay!

    Đào, lý gió xuân hoa rực rỡ,

    Thu, lá ngô rụng, hạt mưa bay.

    Tây cung Nam Nội 48 cỏ thu rờm,

    Lá rụng đầy thềm, sắc đỏ lòm.

    Đệ tử vườn lê sinh tóc trắng,

    Tiêu phòng hầu cận muốn già khom

    Lửa huỳnh 49 nhấp nhoáng điện buồn tanh,

    Khêu hết đèn tàn, giấc chửa đành.

    Chuông trống đề đề đêm khó hết,

    Tinh hà 50 chớp chớp muốn tan canh,

    Tấm ngói uyên ương 51 tối lạnh lùng.

    Riêng mền phỉ thuý 52 có ai chung,

    Cách năm sinh tử buồn dằng dặc,

    Hồn phách đi đâu, mộng chẳng thông?

    Lâm Cung 53 đạo sĩ khách tu tiên,

    Hay lấy tinh thành thấu cõi huyền.

    Cám cảnh quân vương thương nhớ quá,

    Khiến cho phương sĩ 54 phải cần quyền 55 .

    Cưỡi khí, xô không 56 như điện chạy,

    Xuống đất lên trời mau biết mấy!

    Trên cùng mây biếc, dưới hoàng tuyền,

    Hai chỗ mờ mờ đều chẳng thấy.

    Chợt nghe trên bể có tiên san 57 ,

    Phiếu diểu hư vô một cảnh nhàn.

    Lầu gác lung linh mây rực rỡ.

    Yêu kiều tiên nữ thường hay ở,

    Trong có một người tự Thái Chân 58 .

    Da tuyết mặt hoa coi tựa tựa.

    Khuyết vàng cửa ngọc gõ thanh thanh,

    Nhờ cô Tiểu Ngọc bảo Song Thành 59 .

    Vừa nghe có sứ vua nhà Hán,

    Trong trướng cửu hoa 60 đã giật mình.

    Bình bạc rèm châu mở rõ ràng,

    Chênh chếch mái 61 mây vừa ngủ dậy,

    Mũ hoa chưa sửa xuống thềm đường 62 .

    Áo tiên phơi phới gió đưa đi,

    Giống hệt Nghê Thường múa trước kia,

    Vẻ ngọc buồn buồn tràn nước mắt,

    Ngày xuân mưa trĩu một cành lê.

    Ngậm tình lặng ngó tạ ơn dầy,

    Một cách âm dương, vắng cả hai.

    Ân ái Chiêu Dương đành dứt tuyệt,

    Tháng ngày dài quá, chốn Bồng Lai.

    Ngoảnh đầu nhìn xuống cõi trần hoàn,

    Chẳng thấy Tràng An, thấy bụi đầy.

    Phải đem vật cũ nêu tình hận,

    Điền hạp 63 kim thoa của báu này.

    Của chia phân nửa, lưu phân nửa,

    Thấy của nhớ người cũng tạm khuây.

    Chỉ cần lòng tựa vàng bền cứng,

    Hạ giới, tiên cung gặp có ngày.

    Giả từ khẩn khoản nhắc thêm lời,

    Trong lời thề thốt, hai lòng biết.

    Nhớ đêm khất xảo 64 điện Tràng Sinh,

    Nói nhỏ bên tai lời chí thiết:

    Ở trên nguyện làm chim sát cánh,

    Ở dưới nguyện làm cây liền cành.

    Trời đất lâu dài có lúc hết,

    Bao giờ dứt được sợi tơ tình.

    (Vô danh dịch)

    4. NGUYÊN CHẨN 元稹 (779-831)

    Ông tự là Vi Chi 微之, rất thân với Bạch Cư Dị và cực thông minh (9 tuổi đã biết viết văn), làm tới chức tể tướng và cũng như Bạch, chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh. Thơ ông cũng được quảng bá trong dân gian vì lời bình dị.

    Dưới đây chúng tôi xin dẫn một bài tả cảnh quạnh hiu trong một hành cung cũ:

    故行宮

    寥落故行宮,

    宮花寂寞紅。

    白頭宮女在,

    閑坐說玄宗。

    Cố hành cung

    Liêu lạc cố hành cung,

    Cung hoa tịch mịch hồng.

    Bạc đầu cung nữ tại,

    Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

    Hành cung cũ

    Quạnh hiu thương cảnh hành cung,

    Trước cung hoa thắm mấy bông rầu rầu.

    Trong cung, bà chúa bạc đầu,

    Ngồi rồi, kể chuyện khi hầu Huyền Tông.

    (Ngô Tất Tố dịch)

     

    5. TRƯƠNG TỊCH 張籍

    Ông được Hàn Dũ và Bạch Cư Dị trọng vì nhân cách và văn tài. Ông tuy mù mà biết rõ tình cảnh điêu linh của dân gian, trong thơ thường tả cảnh khổ của nông phu (bài Sơn nông từ 山農詞), hoặc cảnh loạn lạc (bài Phế trạch hành 廢宅行) nhất là nhiệt tâm bênh vực phái phụ nữ, ta thán những nỗi oan nhục của họ như trong những bài Thủ hoạt quả 守活寡 (ở goá), Vô tử khứ 無子去 (không sinh con bị đuổi).

    Bạn nào yêu văn chương tất nhớ bài Tiết phụ ngâm của ông mà có lẽ ông đã mượn ý trong bài ca dao Mạch thượng tang 陌上桑 (Dâu trên đường) ở đời Hán:

    節婦吟

    君知妾有夫,

    贈妾雙明珠。

    感君纏綿意,

    繫在紅羅襦。

    妾家高樓連苑起,

    良人執戟明光裡。

    知君用心如日月,

    事夫誓擬同生死。

    還君明珠雙淚垂,

    恨不相逢未嫁時。

    Tiết phụ ngâm

    Quân tri thiếp hữu phu,

    Tặng thiếp song minh châu.

    Cảm quân triền miên ý,

    Hệ tại hồng la nhu.

    Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,

    Lương nhân chấp kích Minh Quang lý.

    Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,

    Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử.

    Hoàn quân minh châu, song lệ thuỳ,

    Hận bất tương phùng vị giá thì.

    Tiết phụ ngâm 65

    Chàng hay em có chồng rồi,

    Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.

    Vấn vương, những mối cảm tình,

    Em đeo trong áo lót mình màu sen.

    Nhà em vườn ngự kề bên,

    Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang 66 .

    Như gương, vâng biết lòng chàng,

    Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.

    Trả ngọc chàng, hạt lệ như mưa,

    Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

    (Ngô Tất Tố dịch)

     

    6. LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫 (772-842)

    Ông tự là Mộng đắc 夢得, vì phúng thích chính trị đương thời nên hai lần bị biếm tới một miền hoang vu. Ông thường dùng thể dân ca để tả xã hội, song giọng cảm cựu của ông mới là tuyệt.

    Hai bài Kim Lăng hoài cổÔ y hạng của ông rất được tán thưởng.

    金陵懷古

    王濬樓船下益州,

    金陵旺氣一時收。

    千尋鐵鍊沉江底,

    一片降旛出石頭。

    人世幾回傷往事,

    山刑依舊枕寒流。

    即金四海為家日,

    故縲簫簫蘆狄秋。

    Kim lăng hoài cổ

    Vương Tuấn lâu thuyền hạ Ích Châu,

    Kim Lăng vượng khí nhất thời thâu.

    Thiên tầm thiết luyện trầm giang để,

    Nhất phiến hàng phiên xuất Thạch đầu.

    Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự,

    San hình y cựu chẩm hàn lưu.

    Tức kim tứ hải vi gia nhật,

    Cố lũy tiêu tiêu lô địch thu.

    Kim Lăng hoài cổ

    Vương Tuấn thuyền lầu xuống Ích Châu,

    Kim Lăng khí vượng có còn đâu.

    Ngàn tầm dây sắt chìm lòng nước,

    Một lá cờ hàng mọc Thạch Đầu 67 .

    Cuộc thế biết bao thay đổi nhỉ?

    Non sông y cũ gối liền nhau.

    Bây giờ bốn bể nhà chung một,

    Luỹ cổ rào rào tiếng sậy lau.

    (Vô danh dịch)

    烏衣巷

    朱雀橋邊野草花,

    烏衣巷口夕陽斜。

    舊時王謝堂前燕,

    飛入尋常百姓家。

    Ô y hạng

    Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,

    Ô y hạng khẩu tịch dương tà.

    Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến,

    Phi nhập tầm thường bách tính gia.

    Đường Ô y 68

    Bên cầu Chu tước cỏ xem hoa,

    Cửa ngõ Ô y bóng ác tà.

    Vương, Tạ nhà xưa con én đậu,

    Bây giờ bay đến đậu dân gia.

    (Vô danh dịch)

    石頭城

    山圍故國周遭在,

    湖打空城寂寞回。

    淮水東邊舊時月,

    夜深還過女牆來。

    Thạch Đầu thành

    Sơn vi cố quốc chu tao tại,

    Hồ đả không thành tịch mịch hồi

    Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt

    Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai.

    Thành Thạch Đầu 69

    Núi vây nước cũ chung quanh đứng,

    Trào vỗ thành không lặng lẽ về.

    Trên bến sông Hoài trăng thuở trước,

    Đêm khuya còn viếng nữ tường 70 kia.

    (Vô danh dịch)

    Trong bài Ẩm tửu khán mẫu đơn, ông có giọng cười cợt mình một cách thú vị.

    飲酒看牡丹

    今日花前飲,

    甘心醉數杯。

    但愁花有語:

    不為老人開。

    Ẩm tửu khán mẫu đơn

    Kim nhật hoa tiền ẩm,

    Cam tâm tuý sổ bôi.

    Đãn sầu hoa hữu ngữ:

    “Bất vị lão nhân khai”.

    Uống rượu xem hoa mẫu đơn

    Cao hứng bữa nay nhậu,

    Vài ly khướt với hoa.

    Chỉ buồn hoa biết nói: 71

    Chẳng nở vì ông già”.

     

    TÓM TẮT

    • Phái xã hội đời Thịnh Đường có xu hướng tả chân và vị nhân sinh. Họ dùng nghệ thuật tả nỗi trầm luân của dân gian cho nhà cầm quyền biết mà sửa đổi lại chính sách. Văn của họ thường bình dị. Tuy nhiên thi nhân nào trong phái đó cũng có chút tư tưởng Lão, Phật, nên về già muốn nhàn tản, lánh đời.
    • Đỗ Phủ mở đầu cho phong trào. Ông rất cực khổ, có lòng giúp nước mà không được trọng dụng. Thơ ông hầu hết có giọng ai oán, trái hẳn với thơ Lý Bạch.

      Lý lãng mạn, ông trọng thực tế. Lý tả ảo tưởng của mình, ông tả chân tướng xã hội. Đời gọi Lý là thi tiên và ông là thi thánh. Thể nào ông cũng hay.

    • Bạch Cư Dị tiếp tục phong trào của Đỗ và chịu ảnh hưởng của Đỗ rất nhiều. Đời Bạch sung sướng và ông rất thương người nghèo.

      Thơ ông có hai loại: loại xã hội dùng toàn bạch thoại và loại diễm lệ như bài Tì bà hànhTrường hận ca.

    • Ngoài ra còn có Nguyên Chẩn bạn thân của Bạch, Trương Tịch nhiệt tâm bênh vực phụ nữ và Lưu Vũ Tích có biệt tài về thơ cảm cựu.

    --------------------------------
    1Nghĩa là "chân mặt trời hạ xuống đến mặt đất bằng".
    2Cửa làm bằng cành cây.
    3Kiếm ngoại, Kế Bắc đều là tên đất.
    4Áo xiêm.
    5Đọc bài này thấy lòng ái quốc của ông nồng nàn biết bao!
    6Thiểm Châu hay Giáp Châu?
    7Là thấy việc mà tả cũng như tức cảnh là thấy cảnh mà tả.
    8Không đau mà rên rỉ.
    9Khi An Lộc Sơn chiếm Tràng An, Minh Hoàng phải chạy vào đất Thục, tướng sĩ nổi loạn, cho mọi tai hoạ đều do Dương Quí Phi gây ra, ép vua giết nàng. Ít lâu sau, Đỗ Phủ chạy loạn, bị nghẽn trong đám giặc, đi qua Khúc Giang là chỗ Minh Hoàng và Quí Phi lại chơi, thấy cảnh hiu quạnh, cảm động mà viết bài này.
    10Ngô Tất Tố giải nghĩa hai câu đó: "Trời đà sắp tối, quân kỵ của giặc đi diễn trong thành, làm cho bụi bay mù mịt, mình muốn đi quá xuống phía nam thành để trông lên bắc thành xem rằng cung điện nhà vua khi trước bây giờ thế nào". Như vậy e sai. Đỗ chỉ muốn nói: bụi mờ mịt, ông không biết phương hướng nữa, muốn sang Nam mà lại hướng về Bắc.
    11Tên một con sông đào.
    12Hai câu này rất khó hiểu. Trong những bài Thu hứng khác còn nhiều câu khó hiểu hơn nữa.
    13Tương truyền bài này Nguyễn Công Trứ (?) cũng đã dịch mà câu cuối khác hẳn:
    Lác đác rừng phong hạt móc sa,
    Ngàn lau hiu hắt khí thu mờ.
    Ngất trời sóng gợn lòng sông thẳm,
    Chật đất mây đùn cửa ải xa.
    Khóm cúc: tuôn đôi dòng lệ cũ,
    Con thuyền: buộc một mối tình già.
    Lạnh lùng giục kẻ tay đao, xích,
    Thành quạnh dồn chân cảnh ác tà.
    14Bên Tàu, hồi xưa, cứ tới mùa thu nhà nào cũng đập vải, cắt áo may phòng mùa đông, chắc cũng như ở Nam Việt đập hàng Chợ Thủ, Tân Châu vậy.
    15Đất Tần, tức là Trường An, kinh đô nhà Đường ở đó. Tần trung ngâm có 10 bài đều tả những sự tai nghe mắt thấy ở kinh đô. Bài này là khúc thứ 7, so cảnh phú quý của bọn quan liêu với cảnh chết đói của cùng dân. Bạch Cư Dị được tiếng là thi sử (chép sử bằng thơ) chính nhờ những bài này.
    16Khinh do chữ khinh cừu (áo cừu nhẹ), phì do chữ phì mã (ngựa mập). Người giàu bận áo cừu nhẹ và cưỡi ngựa mập.
    17Tên đất.
    18Ý nói: 5 anh em mỗi người một nơi, ai cũng khóc như nhau.
    19Cây lao.
    20Đàn sáo.
    21Cái que để gẩy đàn.
    22Số thứ nhất.
    23Thầy dạy âm nhạc.
    24Trang điểm vào.
    25Tên người đàn bà đẹp đã có tuổi.
    26Ghen.
    27Tên đất gần Kinh thành.
    28Khăn đỏ: hồi xưa người ta dùng nó để thưởng các nàng ca vũ.
    29Khăn đỏ.
    30Dùng những vật đó để gõ nhịp, lâu rồi bể hết.
    31Người buôn bán lớn.
    32Tên đất.
    33Khóc mà nước mắt có máu nên đỏ cả lan can.
    34"Kháo": Chữ , Thiều Chửu đọc là "kế" hoặc "kết" nghĩa là cái búi tóc.
    35Chữ 鈿 đọc là điền hay điến đều được. Ở đây phải đọc là điến cho có vần.
    36Đồ trang sức để gài đầu.
    37Anh nàng Quí Phi được phong quận công, ba chị em gái đều được phong phu nhân.
    38Cung ở Ly Sơn, chỗ cất cung A Phòng đời Tần.
    39Chỗ An Lộc Sơn nổi loạn.
    40Là khúc nhạc tiên Minh Hoàng thường chơi. Nàng Quí Phi vừa múa vừa hát theo điệu nhạc.
    41Cửa cung.
    42Điền là đồ trang sức ở trên đầu.
    43Đường bắt cầu qua núi.
    44Kiếm Các là đường thang bắc ngang trên trái núi Kiếm Sơn, thế rất nguy hiểm.
    45Một nhạc khí như cái chiêng.
    46Xe vua.
    47Cửa kinh đô.
    48Tên một cung đện.
    49Là đom đóm.
    50Là sao và Ngân Hà.
    51Thứ ngói úp, viên nọ úp lên viên kia.
    52Lông chim chả.
    53Là nơi có người đạo sĩ ở.
    54Là người theo thuật phù thuỷ, phụ tiên…
    55Là khẩn thiết.
    56Là cưỡi gió, xô không khí.
    57Là núi tiên.
    58Tên tự Dương Quí Phi.
    59Tiểu Ngọc, Song Thành là hai tên người gái tiên.
    60Có nhiều hoa.
    61Mái tóc.
    62Đường ra sân.
    63Hạp là cái hộp. Điền là đồ trang sức trên đầu.
    64Đêm mùng 7 tháng 7, Chức Nữ gặp Ngưu Lang. Người Trung Hoa đêm đó bày hoa quả cúng Chức Nữ để Chức Nữ ban cho được khéo tay.
    65Ca dao ta cũng có bài tương tự:
    Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân,
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
    Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
    Ba đồng một mớ trầu cay,
    Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
    Bây giờ em đã có chồng
    Như chim vào lồng, như cá cắn câu
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
    Chim vào lồng biết thuở nào ra?
    66Tên một toà đền đời Hán.
    67Thành ở Kim Lăng.
    68Coi chú thích ở dưới.
    69Tên thành nhà Ngô đời Tam Quốc xây để đóng đô ở đó, nay ở trong thành Nam Kinh. Chỗ đó có sông Hoài chảy qua.
    70Nữ tường là bức tường mỏng xây trên bờ thành.
    71Nghĩa là: Chỉ buồn, nếu hoa biết nói thì sẽ nói: "Chẳng nở vì ông già".

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Nơi Gió Cát

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646645]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502538]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639721]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471310]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340905]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600529]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689839]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493172]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300426]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010492]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972332]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548895]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470025]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445699]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150627]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078691]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028825]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026450]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959443]
    25.Quỷ Bảo [921714]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907577]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877025]
    29.Hắc Nho [852162]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843170]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840067]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756015]
    33.Tru Tiên [747770]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745203]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661909]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622427]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592491]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569362]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536789]
    41.Tầm Tần Ký [511987]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456250]
    43.Thiên Đường [452700]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450857]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439787]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427377]
    48.Cậu Chó [417250]
    49.If You Are Here [411854]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408215]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm