hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[914] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG IV. THƠ ĐỜI THỊNH ĐƯỜNG – LÝ BẠCH

    1. PHẨM VÀ LƯỢNG

    Hồ Văn Dực trong cuốn Tân trước Trung Quốc văn học sử nói:

    “Thơ phát triển từ Sơ Đường tới Thịnh Đường như từ đất bằng mà nhảy vọt lên ngọn Hi Mã Lạp Sơn”.

    Thời Thịnh Đường quả là hoàng kim thời đại của thơ. Lượng đã đáng kinh mà phẩm càng quý.

    Về lượng thì theo bộ “Toàn Đương Thi” 全唐詩 có tới 2200 thi sĩ và 5 vạn bài thơ, trong số đó thơ Thịnh Đường chiếm đến 3 phần 4. Riêng Đỗ Phủ đã có tới trên 1000 bài! Tôi tưởng con số 5 vạn đó còn dưới sự thực vì ta có thể chắc chắn rằng bất kỳ một người có học nào thời ấy, từ một chàng thư sinh tới một vị tể tướng, từ một ông hoà thượng đến một con buôn, từ một kỹ nữ tới một cung tần, hễ thông chữ nghĩa thì tất có làm thơ.

    Về phẩm thì ta thấy có đủ vẻ: có cái đẹp bi hùng, có cái đẹp thanh nhã; có khi rườm rà mà quý, có khi giản dị mà đủ, lời thường có hạn, ý thì vô cùng; có thi nhân ca ngợi thú ẩn dật, núi xanh mây trắng, có tác giả lại than khóc loạn ly máu đỏ xương khô; cảnh bảo tuyết ở biên tái có, cảnh yến tiệc ở thâm cung có; đây là một thiếu nữ ngắm liễu mà nhớ chồng, kia là một tư mã nghe ca mà than phận; nào là tiếng trống kèn vang động ngoài biên ải, nào là tiếng tùng tiếng bách rì rào trong núi, mây…; cả một xã hội thịnh cực rồi suy cực của đời Đường, cả ngàn phong cảnh thay đổi huyền ảo của Trung Quốc hiện lên trên những vần thơ muôn hình vạn trạng, hoặc phóng túng hoặc theo luật, hoặc trường thiên, hoặc tứ tuyệt, nhưng bao giờ cũng lung linh như mỹ nhân sau mành liễu, như ánh trăng trên mặt hồ, những vần thơ mà trên 10 thế kỷ, vận văng vẳng khắp miền Đông Á từ Nhật Bản tới Việt Nam, từ Triều Tiên qua Tây Tạng, để an ủi khách tha hương nơi lữ quán, nung chí người chiến sĩ trong binh đao, vỗ về kẻ cô phụ đứng cửa ngóng chồng và giải cái sầu vạn cổ của vị anh hùng thất thế!

    Thơ Thịnh sở dĩ phát triển được như vậy, một phần cũng nhờ gặp khu đất tốt.

    Khắp cổ, kim, đông, tây, chưa có thời nào mà thi nhân được trọng vọng như dưới triều Đường Minh Hoàng, vị đế vương tuyệt thế phong lưu ấy! Nhà vua cho vời thi sĩ Lý Bạch, thi sĩ không thèm tới, nhà vua cũng không buồn. Vào trong cung, thi sĩ say mèm, kêu một hoạn quan rất có uy quyền (Cao lực sĩ) tháo giày cho mình và Cao đành phải vâng lệnh.

    Các công chú tranh nhau đón tiếp thi nhân và lầu son gác tía của họ là nơi hội họp các nghệ sĩ, cảnh còn thịnh hơn những phòng khách (salon) của các bà quý phái ở thế kỷ 17 bên Pháp.

    Hạ tiện như bọn ca nhi thời đó cũng tỏ ra hào phóng với nhà thơ, quên cảnh nghèo túng của mình, mà xuất tiền ra đặt một tiệc đãi thi sĩ Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán và Cao Thích!

    Trong dân gian, hễ người nào hơi biết chữ nghĩa cũng ham thể luật là thể mới xuất hiện; nhiều người tìm cách phổ thơ vào nhạc và hầu hết những bài tuyệt cú thể luật đều là những bài hát hoà đờn được.

    Như vậy trách chi thiên tài chẳng nảy nở đến cực độ. Khuynh hướng nào cũng có, không một vật nào, một việc gì không được dùng làm đề tài để ngâm vịnh, nhưng lấy đại cương mà xét thì ta có thể phân biệt 4 phái:

    - phái xã hội

    - phái biên tái

    - phái tự nhiên

    - phái quái đản.

    Sự phân loại như vậy rất miễn cưỡng: có thi sĩ đứng chung 2, 3 phái, như Đỗ Phủ tuy là nghệ sĩ thiên về phái xã hội, song cũng có bài tả thú an nhàn, hoặc cảnh biên tái, lại có khi dùng tiếng cầu kỳ như bọn quái đản. Bạch Cư Dị cũng vừa ở trong phái xã hội, vừa ở trong phái tự nhiên. Phần nhiều những kẻ đa tài thường như vậy, không chịu giam cái hứng của mình trong một khu vực nào hết.

    Đứng ra ngoài những phái đó là Lý Bạch, ngôi sao bắc đẩu trên thi đàn muôn thuở của Trung Quốc. Tài của Lý rất đặc biệt, tâm hồn của Lý cũng rất đặc biệt, Lý không phải là một người phàm như kẻ khác. Lý là một tiên ông, nên chúng tôi xét Lý trước hết trong chương này.

     

    2. LÝ BẠCH 李白 (701-762)

    a. Tiểu sử

    Tôi muốn được sinh ở thế kỷ thứ 8, không phải để coi viên dạ minh châu của Đường Minh Hoàng, cũng không phải để nghe khúc Nghê thường của Dương Quí Phi mà để biết dung nhan, cốt cách một người mà thi sĩ Hạ Tri Chương mới gặp đã tặng ngay cái hiệu “ông tiên bị đày xuống trần” (天上謫仙人 Thiên thượng trích tiên nhân), một người chỉ say sưa quanh năm, bạ đâu ngủ đấy, trong quán rượu ở chợ, dưới gốc cây trên núi, mà được vua phải nể, kẻ quyền thế là Cao lực sĩ phải sợ, một người không hề giúp ích gì cho đời, chỉ ngao du sơn thuỷ rồi ngâm nga ca vịnh mà được hậu thế đặt ngang hàng với các vị giáo chủ, phải, ngang với Thích Ca, Lão Tử, Giê Du, Khổng Tử vì, cũng như 4 vị Phật, Thánh kia, người ấy đã được thế nhân đặt ra những truyện hoang đường về lúc giáng phàm của mình. Người ấy là Lý Bạch.

    Bà mẹ đức Thích Ca nằm mê thấy một con voi trắng chui vào nách rồi sinh ra ngài và mẹ đức Khổng Tử nằm mê thấy con lân thì bà mẹ Lý Bạch, khi có thai, cũng nằm mê thấy sao Trường Canh nên mới đặt tên cho Lý là Thái Bạch 太白. Mới sanh ra, Lão Tử đã râu tóc bạc phơ; Lý trái lại, 7 tuổi vẫn chưa biết nói, nhưng khi bà mẹ bồng lên lầu, bỗng nhiên Lý ngâm được 4 câu thơ mà ý thực quái dị. Thơ rằng:

    危樓高百尺,

    手可摘星辰。

    不敢高聲語,

    恐驚天上人。

    Nguy lâu cao bách xích,

    Thủ khả trích tinh thần.

    Bất cảm cao thanh ngữ,

    Củng kinh thiên thượng nhân.

    Vòi vọi lầu trăm thước,

    Vói tay hái được sao.

    Chỉ e nói lớn tiếng,

    Kinh động tiên trên cao.

    Không biết Nam Tào, Bắc Đẩu, Chức Nữ, Ngưu lang có kinh khủng vì lời thơ của Lý không chứ người phàm từ trước tới nay không ai không khâm phục.

    Đỗ Phủ, “thi thánh” đời Đường, phải nói:

    白也詩無敵,

    飄然思不群。

    (Bạch dã thi vô địch,

    Phiêu phiêu tứ bất quần)

    Lý Bạch thơ vô địch,

    Phiêu nhiên khác hẳn người.

    Hoàng Đình Kiên đời Tống phải nhận ông là con phượng hoàng, con kỳ lân ở giữa loài người.

    Đến như Hồ Thích, một học giả thâm oán những tư tưởng lãng mạn mà cũng không dám cao thanh mạt sát ông, chỉ nói:

    “…Chúng ta là bọn phàm phu tục tử, tự thẹn hình hài ô uế, thấy rằng lời ca xướng của ông không phải là lời ca xướng của chúng ta. Đỗ Phủ mới là thi nhân của chúng ta, còn Lý Bạch chỉ là một “ông tiên bị đày xuống trần” thôi!”

    Nghĩa là Hồ đối với Lý có thái độ “kính nhi viễn chi” vậy.

    Không rõ Lý sinh ở đâu, có sách chép là ở đất Thục, có sách bảo là ở Sơn Đông, Lý có tên hiệu là Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, hồi trẻ đi chơi khắp các danh thắng ở bờ sông Trường Giang, giao du với bọn ẩn sĩ mà đời gọi là “Trúc Khê lục dật” 竹溪六逸 (sáu dật sĩ ở khe trúc), gần 50 tuổi vì có một đạo sĩ là Ngô Quân tiến cử, ông bị dời về kinh đô.

    Vua Huyền Tông rất trọng ông, nhưng ông không như những thi sĩ khác, chịu đem cái tài hoa của mình nịnh nọt bọn vương hầu, lại xin trở về núi.

    Hồi An Lộc Sơn làm loạn, Lý bị Vĩnh Vương tên là Lân ép đến giúp việc. Lân tuy không thuộc bè đảng của An Lộc Sơn song cũng không theo vua Đường. Vì thế khi Lân thua, Lý bị bắt giam rồi bị đày tới đất Dạ Lang. Chẳng bao lâu được tha, lại chu du sơn thuỷ, gởi tình trong thơ và rượu. Một đêm, vì quá say rượu mà mất.

    Người đời muốn cho vị trích tiên ấy từ trên trời sa xuống cõi phàm, an ủi sinh linh trong 3-4 chục năm, rồi lại ôm trăng mà về thiên cung, nên đặt chuyện rằng Lý say rượu, thấy vừng trăng vằng vặc dưới đáy sông, nhảy xuống ôm và bị nước cuốn đi.

    b. Tính tình

    Lý cực kỳ lãng mạn, suốt đời chỉ yêu thơ, rượu, sơn thuỷ và mỹ nhân, phản đối đạo Nho, ấp ủ những tư tưởng hư vô của Lão, Trang, cùng những tư tưởng giải thoát của nhà Phật. Ông nói:

    我本楚狂人,

    鳳歌笑孔丘。

    手持綠玉杖,

    朝別黃鶴樓。

    五嶽尋山不辭遠,

    一生好入名山遊。

    Ngã bản Sở cuồng nhân,

    Phượng ca tiếu Khổng Khâu.

    Thủ trì lục ngọc trượng,

    Triêu biệt Hoàng hạc lâu.

    Ngũ Nhạc tầm sơn bất từ viễn,

    Nhất sinh hiếu nhập danh sơn du.

    Ta vốn người Sở cuồng 1 ,

    Hát Phượng cười Khổng Khâu,

    Sáng cầm gậy ngọc biếc,

    Từ biệt Hoàng hạc lâu 2 .

    Ngũ Nhạc 3 dù xa ta cũng tới,

    Danh sơn trọn kiếp thích ngao du.

    Có nhân sinh quan như vậy, nên ông lánh đời, thường lên núi cao ở.

    山中問答

    問余何意棲碧山?

    笑而不答心自閑。

    桃花流水杳然去,

    別有天地非人間。

    Sơn trung vấn đáp

    Vấn dư hà ý thê bích san?

    Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.

    Đào hoa lưu thủy diểu nhiên khứ,

    Biệt hữu thiên địa, phi nhân gian.

    Lời vấn đáp trong núi

    Hỏi ta sao ở chốn thanh san?

    Cười mà chẳng đáp, lòng tự nhàn.

    Hoa đào dòng nước mông lung chảy.

    Riêng có càn khôn, khác thế gian.

    Lúc nào ở giữa loài người thì ông say sưa suốt ngày. Một lần ông nói chỗ nào có rượu ngon là quê hương của ông ở chỗ đó:

    但使主人能醉客,

    不知何處是他鄉?

    Đãn sử chủ nhân năng tuý khách,

    Bất tri hà xứ thị tha hương?

    Chủ nhân nếu biết làm say khách,

    Vũ trụ đâu mà chẳng cố hương?

    Khi ngồi vào tiệc rượu thì hưởng tận cái vui để tan cái “vạn cổ sầu”, một lần uống trăm chén, nếu hết rượu thì áo cừu, ngựa quý cũng đem đổi lấy rượu:

    將進酒

    君不見黃河之水天上來,

    奔流到海不復回?

    又不見高堂明鏡悲白髮,

    朝如青絲,暮如雪?

    人生得意,須盡歡。

    莫使金樽空對月!

    天生我才必有用,

    千金散盡還復來。

    烹羊,宰牛,且為樂!

    會須一飲三百杯!

    岑夫子,丹丘生!

    進酒君莫停!

    與君歌一曲,

    請君為我側耳聽:

    鐘鼓饌玉不足貴,

    但願長醉,不願醒。

    古來聖賢皆寂寞,

    唯有飲者留其名。

    陳王昔時宴平樂,

    斗酒十千恣歡謔,

    主人何事言少錢?

    逕須沽取對君酌!

    五花馬,千金裘,

    呼兒將出換美酒,

    與爾同消萬古愁!

    Tương tiến tửu

    Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

    Bôn lưu đáo hải bất phục hồi?

    Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,

    Triêu như thanh ti, mộ như tuyết?

    Nhân sinh đắc ý, tu tận hoan,

    Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!

    Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,

    Thiên kim tán tận hoàn phục lai.

    Phanh dương, tể ngưu, thả vi lạc!

    Hội tu nhất ẩm tam bách bôi!

    Sầm phu tử, Đan Khâu sinh.

    Tiến tửu, quân mạc đình!

    Dữ quân ca nhất khúc,

    Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thính:

    Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,

    Đãn nguyện trường tuý bất nguyện tỉnh.

    Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,

    Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.

    Trần Vương tích thì yến Bình Lạc,

    Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.

    Chủ nhân hà sự ngôn thiểu tiền?

    Kính tu cô thủ đối quân chước!

    Ngũ hoa mã, thiên kim cừu,

    Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,

    Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu!

    Cùng uống rượu

    Anh chẳng thấy nước Hoàng Hà trên trời xuống mãi,

    Chạy tuôn về bể không trở lại?

    Lại không thấy gương sáng nhà cao thương mái tóc,

    Sớm như tơ xanh, tối như tuyết?

    Ở đời đắc ý phải vui lung,

    Chớ để chén vàng suông đối nguyệt!

    Trời sanh hữu tài tất hữu dụng,

    Ngàn vàng tán hết rồi hoàn lại.

    Giết trâu mổ bò cứ mua vui!

    Một uống nên cạn tam bách bôi!

    Sầm phu tử, Đan Khâu sinh 4

    Nào cùng nhậu, rót cho nhanh!

    Vì anh ca một khúc,

    Xin anh nghe rõ điệu tân thanh:

    Chuông trống, đồ ngọc chẳng đủ quý,

    Say hoài là thích, tỉnh không đành.

    Hiền, thánh đời xưa đều tịch mịch,

    Chỉ có làng say còn lưu danh.

    Vua Trần thủa trước yến Bình Lạc 5

    Đấu rượu mười ngàn vui giỡn dẫu 6

    Chủ nhân làm chi nói ít tiền?

    Phải gấp mua về ta cùng nhậu!

    Ngựa năm sắc, cừu ngàn vàng 7

    Kêu con đem ra đổi rượu nhứt,

    Khối sầu vạn cổ đập tan hoang!

    (Vô danh dịch) 8

    Uống say rồi thì lăn ra ngủ, trời đất cũng không biết, đừng nói tới vua chúa:

    李白斗酒詩百篇,

    長安市上酒家眠。

    天子呼來不上船,

    自稱臣是酒中仙。

    Lý Bạch đẩu tửu thi bách thiên,

    Trường An thị thượng tửu gia miên.

    Thiên tử hô lai bất thượng thuyền,

    Tự xưng “Thần thị tửu trung tiên”.

    (Đỗ Phủ)

    Khi tỉnh rượu thì ngâm nga chí của mình, coi đời như giấc chiêm bao, bôn tẩu làm chi cho cực?

    春日醉起言志

    處世若大夢,

    胡為勞其生?

    所以終日醉,

    頹然臥前楹。

    覺來眄庭前,

    一鳥花間鳴。

    借問此何日?

    春風語流鶯。

    感之欲歎息,

    對之還自傾。

    浩歌待明月,

    曲盡己忘情。

    Xuân nhật tuý khởi ngôn chí

    Xử thế nhược đại mộng,

    Hồ vi lao kỳ sinh?

    Sở dĩ chung nhật tuý,

    Đồi nhiên ngoạ tiền doanh.

    Giác lai miện đình tiền,

    Nhất điểu hoa gian minh.

    Tá vấn thử hà nhật?

    Xuân phong ngữ lưu oanh.

    Cảm chi dục thán tức,

    Đối chi hoàn tự khuynh.

    Hạo ca đãi minh nguyệt,

    Khúc tận dĩ vong tình.

    Ngày xuân say dậy nói chí mình

    Ở đời tựa giấc chiêm bao,

    Làm chi mà phải lao đao nhọc mình!

    Suốt ngày mượn chén khuây tình,

    Say rồi nghiêng ngửa bên mành hàng ba 9

    Tỉnh ra trông mé trước nhà,

    Một con chim hót trong hoa ngọt ngào,

    Hỏi xem ngày ấy ngày nào,

    Chim oanh ríu rít đón chào gió đông.

    Thở than cảm xúc nỗi lòng,

    Chuốc thêm ít chén, say cùng cảnh vui.

    Hát ngao chờ bóng trăng soi,

    Ca vừa dứt khúc, đã nguôi mối tình.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Con người tự xưng Sở cuồng nhân, là tiên trong rượu ấy, tất nhiên không sống trong hiện tại mà sống trong dĩ vãng, lúc nào cũng nhớ tiếc cái gì.

    Lúc thì nhớ cố hương:

    夜思

    床前明月光,

    疑是地上霜。

    舉頭望明月,

    低頭思故鄉。

    Tĩnh dạ tư 靜夜思

    Dạ tư

    Sàng tiên minh nguyệt quang

    Nghi thị địa thượng sương.

    Cử đầu vọng minh nguyệt,

    Đê đầu tư cố hương.

    Đêm nhớ

    Bóng trăng rọi trước giường,

    Ngờ là đất có sương.

    Ngẩng đầu trông trăng sáng,

    Cúi đầu nhớ cố hương.

    hoặc những chốn cũ:

    憶東山

    不向東山久,

    蔷薇幾度花?

    白雲還自散?

    明月落誰家?

    Ức Đông Sơn

    Bất hướng Đông Sơn cửu,

    Tường vi kỷ độ hoa?

    Bạch vân hoàn tự tán?

    Minh nguyệt lạc thuỳ gia?

    Ức Đông Sơn

    Non Đông xa cách bao xuân!

    Cây tường vi đã bao lần nở hoa.

    Mây xưa hẳn vẫn bay xa?

    Trăng xưa biết rụng xuống nhà ai nao?

    (Ngô Tất Tố dịch)

    Có khi lại nhớ bạn bè mà gởi tặng thơ:

    贈孟浩然

    吾愛孟夫子,

    風流天下聞。

    紅顏棄軒冕,

    白首臥松雲。

    醉月頻中聖,

    迷花不事君。

    高山安可仰,

    徒此挹清芬。

    Tặng Mạnh Hạo Nhiên

    Ngô ái Mạnh phu tử,

    Phong lưu thiên hạ văn.

    Hồng nhan khí hiên miện,

    Bạch thủ ngọa tùng vân.

    Túy nguyệt tần trung thánh,

    Mê hoa bất sự quân,

    Cao sơn, an khả ngưỡng,

    Đồ thử ấp thanh phân.

    Tặng Mạnh Hạo Nhiên

    Mạnh phu tử đáng yêu thay,

    Phong lưu nổi tiếng đây đây tương truyền.

    Trẻ tuy chẳng thiết quý quyền 10 ,

    Tuổi già vui chốn lâm tuyền tùng mây.

    Dưới trăng là thánh khi say,

    Mê hoa đâu có đoái hoài thờ vua.

    Ngửng trông chót vót núi gò,

    Bấy nhiêu cũng đủ thơm tho nhẹ nhàng.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    hoặc nhớ mỹ nhân:

    長相思

    美人在時花滿堂,

    美人去後,空餘床。

    床中繡被卷不寢,

    至今三載猶聞香。

    香亦竟不滅,

    人亦竟不來。

    相思黃葉落,

    白露點青苔。

    Trường tương tư

    Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường,

    Mỹ nhân khứ hậu, không dư sàng.

    Sàng trung tú bị quyển bất tẩm,

    Chí kim tam tải do văn hương.

    Hương diệc cánh bất diệt,

    Nhân diệc cánh bất lai,

    Tương tư hoàng diệp lạc,

    Bạch lộ điểm thanh đài.

    Trường tương tư

    Mỹ nhận hồi ở hoa đầy vườn,

    Mỹ nhân đi rồi để dư giường.

    Giường trống mền thêu cuốn trơ đó,

    Đã ba năm còn phảng phất hương.

    Hương kia cũng lưu luyến,

    Mà người cũng vô tình.

    Tương tư lá vàng rụng,

    Sương trắng điểm rêu xanh.

    Việc nước đã chẳng bận, việc nhà cũng chẳng lo, Lý suốt đời ngao du, hôm nay xuống Giang Lăng:

    下江陵

    朝辭白帝彩云間,

    千里江陵一日還。

    兩岸猿聲啼不住,

    輕舟已過万重山。

    Hạ Giang Lăng

    Triều từ Bạch Đế thải vân gian,

    Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn.

    Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ,

    Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.

    Xuống Giang Lăng

    Sớm từ Bạch Đế khoảng năm mây,

    Ngàn dặm Giang Lăng tới một ngày,

    Tiếng vượn hai bờ kêu chửa dứt,

    Thuyền qua muôn núi nhẹ như mây.

    (Vô danh dịch)

    Khi thì ở núi Chung Nam xuống, tá túc nhà một sơn nhân, uống rượu ngắm trăng:

    下終南山

    暮從碧山下,

    山月隨人歸。

    卻顧所來徑,

    蒼蒼橫翠微。

    相攜及田家,

    童稚開荊扉。

    綠竹入幽徑,

    青蘿拂行衣。

    歡言得所憩,

    美酒聊共揮。

    長歌吟松風,

    曲盡河星稀。

    我醉君復樂,

    陶然共忘機。

    下終南山過斛斯山人宿置酒

    Hạ Chung Nam sơn

    Mộ tòng bích sơn há,

    Sơn nguyệt tùy nhân quy.

    Khước cố sở lai kinh,

    Sương sương hoành thúy vi.

    Tương huề cập điền gia,

    Đồng trĩ khai kinh phi.

    Lục trúc nhập u kinh,

    Thanh la phất hành y.

    Hoan ngôn đắc sở khế,

    Mỹ tửu liêu cộng huy.

    Trường ca ngâm tùng phong,

    Khúc tận hà tinh hi.

    Ngã túy, quân phục lạc,

    Đào nhiên cộng vong ki.

    Xuống núi Chung Nam

    Tối từ trên núi xuống,

    Trăng núi theo người về,

    Ngoảnh coi đường đã qua,

    Lưng núi chỉ xanh rì.

    Dắt tay tới nhà ruộng,

    Trẻ nhỏ mở sài phi 11 .

    Trúc biếc vào đường hẻm,

    Lá xanh phất áo đi.

    Mừng nói gặp chỗ nghỉ,

    Rượu ngon cứ nhậu thi.

    Hát dài, hoạ gió, thông,

    Khúc hết bóng sao lì.

    Đôi ta đều vui thích,

    Lòng máy 12 chẳng còn gì.

    (Vô danh dịch)

    Có lúc từ biệt bạn bè ở quán rượu, bên dòng sông:

    金陵酒肆留別

    風吹柳花滿店香,

    吳姬壓酒喚客嘗。

    金陵子弟來相送,

    欲行不行,各盡觴。

    請君試問東流水,

    別意與之誰短長?

    Kim Lăng tửu tứ lưu biệt

    Phong xuy liễu hoa mãn điếm hương,

    Ngô ky áp tửu hoán khách thường.

    Kim Lăng tử đệ lai tương tống,

    Dục hành bất hành, các tận trường.

    Thỉnh quân thí vấn đông lưu thuỷ,

    Biệt ý dữ chi thùy đoản trường?

    Từ biệt bạn trong một quán rượu

    ở Kim Lăng làm bài thơ để lại

    Gió thơm đầy tiệm, liễu hoa rơi,

    Nàng Ngô đem rượu mời khách xơi.

    Bạn nhỏ Kim Lăng lại tiễn biệt,

    Dùng dằng chưa đi, nhậu một hơi,

    Xin anh thử hỏi nước trong trôi,

    Ý biệt đem so ai ngắn dài.

    (Vô danh dịch)

    Có lúc lại đi tìm một đạo sĩ:

    訪戴天山道士不遇

    犬吠水聲中,

    桃花帶雨濃。

    樹深時見鹿,

    溪午不聞鐘。

    野竹分青靄,

    飛泉掛碧峰。

    無人知所往,

    愁倚兩三松。

    Phỏng đái Thiên sơn đạo sĩ, bất ngộ

    Khuyển phệ thủy thanh trung,

    Đào hoa đới vũ nồng.

    Thụ thâm thời kiến lộc,

    Khê ngọ bất văn chung.

    Dã trúc phân thanh ái,

    Phi tuyền quải bích phong.

    Vô nhân tri sở vãng,

    Sầu ỷ lưỡng tam tùng.

    Đi thăm đạo sĩ họ Đái ở Thiên sơn không gặp

    Nước gieo, chó sủa, ồn ào,

    Hạt mưa còn dính hoa đào đẫm tươi.

    Rừng sâu hưu ló ra chơi,

    Ban trưa khe vắng, bắt hơi chày kình.

    Trúc đồng tách đám mây xanh,

    Suối bay ngọn núi, gieo mành phất phơ.

    Người đi ai biết đâu giờ,

    Ngậm ngùi đứng dựa hai ba cây tùng.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    Qua những di tích cũ thì hoài cổ:

    經下邳圯橋懷張子房

    子房未虎嘯,

    破產不為家。

    滄海得壯士,

    椎秦博浪沙。

    報漢雖不成,

    天地皆振動。

    潛匿遊下邳,

    豈曰非智勇。

    我來圯橋上,

    懷古欽英風。

    惟見碧流水,

    曾無黃石公。

    歎息此人去,

    蕭條徐,泗空!

    Kinh Hạ Bì Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng

    Tử Phòng vị hổ khiếu,

    Phá sản bất vị gia.

    Thương hải đắc tráng sĩ,

    Chùy Tần Bác Lãng sa.

    Báo Hán tuy bất thành.

    Thiên địa giai chấn động.

    Tiềm nặc du Hạ Bì.

    Khởi viết phi trí dũng.

    Ngã lai Dĩ kiều thượng,

    Hoài cổ khâm anh phong.

    Duy kiến bích lưu thủy,

    Tằng vô Hoàng Thạch công.

    Thán tức thử nhân khứ,

    Tiêu điều Từ, Tứ không!

    Qua cầu Dĩ đất Hạ Bì, nhớ Trương Tử Phòng 13

    Cọp Lương chưa thét gió,

    Phá sản tiếc gì nhà.

    Thương Hải được tráng sĩ,

    Đánh Tần Bác Lãng sa.

    Báo Hán tuy chẳng thành,

    Thiên hạ đều chấn động.

    Trốn tránh nơi Hạ Bì,

    Há phải không trí, dũng.

    Ta lên chơi cầu Dĩ,

    Hoài cổ phục anh hùng.

    Chỉ thấy dòng nước biếc,

    Nào đâu Hoàng Thạch Công? 14

    Than thở người ấy khuất,

    Từ, Tử 15 có như không!

    Con người phóng lãng đó đôi khi cũng ân hận vì say sưa, không nghĩ đến vợ con. Trong bài Tặng nội 贈內 (Gởi cho vợ) ông đùa, tự ví mình với một viên Thái thường – một chức coi việc tế lễ ở miếu đường đời Tần, Hán – một năm 360 ngày thì ăn chay 359 ngày, còn một ngày không ăn chay thì say khướt.

    Tuy thương, tuy nhớ, Lý Bạch cũng chẳng giúp vợ con được gì, chỉ nhậu; càng thương càng nhớ lại càng nhậu cho quên hết mọi sự. Những bài thơ uống rượu của ông rất hay.

    Khi thì ông uống rượu một mình dưới trăng:

    月下獨酌

    花間一壺酒,

    獨酌無相親。

    舉杯邀明月,

    對影成三人。

    月既不解飲,

    影徒隨我身。

    暫伴月將影,

    行樂須及春。

    我歌月徘徊,

    我舞影零亂。

    醒時同交歡,

    醉後各分散。

    永結無情遊,

    相期邈雲漢。

    Nguyệt hạ độc chước

    Hoa gian nhất hồ tửu,

    Độc chước vô tương thân.

    Cử bôi yêu minh nguyệt,

    Đối ảnh thành tam nhân.

    Nguyệt ký bất giải ẩm,

    Ảnh đồ tùy ngã thân.

    Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

    Hành lạc tu cập xuân.

    Ngã ca nguyệt bồi hồi,

    Ngã vũ ảnh linh loạn.

    Tỉnh thì đồng giao hoan,

    Tuý hậu các phân tán.

    Vĩnh kết vô tình du,

    Tương kỳ mạc vân hán.

    Uống rượu một mình dưới trăng

    Vườn hoa một bầu rượu,

    Một rót chẳng có ai.

    Cất chén mời trăng sáng,

    Đối bóng thành ba người.

    Trăng già không biết nhậu,

    Bóng cứ mãi theo ta.

    Bạn tạm cùng trăng, bóng,

    Mua vui kẻo xuân qua.

    Ta hát, trăng bồi hồi,

    Ta múa bóng chếch choáng.

    Lúc tỉnh cùng giao hoan,

    Lúc say cùng phân tán.

    Buộc chặt bạn vô tình,

    Sông trôi còn hứa hẹn.

    (Vô danh dịch)

    Lúc thì uống một mình dưới hoa:

    春日獨酌

    春風扇淑氣,

    水木榮春暉。

    白日照綠草,

    落花散且飛。

    孤雲還空山,

    眾鳥各已歸。

    彼物皆有託,

    吾生獨無依。

    對此石上月,

    長醉歌芳菲。

    Xuân nhật độc chước

    Xuân phong 16 phiến thục khí,

    Thủy mộc vinh xuân huy.

    Bạch nhật chiếu lục thảo,

    Lạc hoa tán thả phi.

    Cô vân hoàn không sơn,

    Chúng điểu các dĩ quy.

    Bỉ vật giai hữu thác,

    Ngô sinh độc vô y.

    Đối thử thạch thượng nguyệt,

    Trường túy ca phương phi.

    Ngày xuân uống rượu một mình

    Gió đông khi thổi huyên hòa,

    Nước cây tươi đẹp, đậm đà nắng xuân.

    Màu dương sắc cỏ đượm nhuần,

    Hoa tàn cánh rữa rụng dần bay tung.

    Đám mây về núi thung dung,

    Chim bay về tổ, đều cùng thảnh thơi.

    Vật kia ỷ thác có nơi,

    Thân ta riêng chịu cảnh đời lẻ loi.

    Ngắm trăng trên đá bồi hồi,

    Rượu rồi say tít, hát bài phương phi 17 .

    (Trần Trọng Kim dịch)

    c. Thiên tài của Lý Bạch

    Tuy lãng mạn cực độ, Lý Bạch không có một tâm hồn ti tiểu, đê tiện; ông không xu phụ các nhà quyền quý, dùng thiên tài của mình làm vật tiến thân như Tư Mã Tương Như hoặc nhiều thi sĩ đương thời.

    Đặng Thái Mai, trong cuốn “Văn học khái luận” nói: Thi bá Lý Bạch mà được bao nhiêu môn đệ của “cửa Khổng, sân Trình” sùng bái, chẳng qua chỉ là “một người tôi hầu hạ nhà vua trong ban văn học”, khác nào bên Tây phương, thi sĩ Marot đóng vai “ba lơn” mua vui cho François 1er”.

    Lời xét ấy có vẻ hẹp hòi, nghiêm khắc quá. Huyền Tông có ý dùng tài Lý Bạch để mua vui thật, Lý cũng làm một vài bài như “Thanh bình điệu” thật, song Lý có quả là cũng cùng một hạng với Marot không? Giọng thơ của Lý có giống giọng “ba lơn” của Marot không? Ai đã đọc tiểu sử của Lý tất nhiên phải nhận là không. Năm mươi tuổi bị vời về kinh đô, ở kinh ít lâu lại xin về núi thì Lý đâu có ham cảnh “hầu hạ” vua chúa? Có ca tụng cảnh thịnh trị đời Đường, sắc đẹp của Quý Phi cũng là vì yêu cái rực rỡ, diễm lệ mà ca tụng chứ đâu phải để cầu danh cầu lợi? Lý không phải là con người để cho Đế Vương sai khiến được.

    Tâm hồn ông trong sạch như vậy nên giọng thơ ông cũng khoáng đạt, phiêu dật như trong bài Sơn trung vấn đáp (coi ở trên) và bài Độc toạ Kính đình sơn dưới đây:

    獨坐敬亭山

    眾鳥高飛盡,

    孤云獨去閑。

    相看兩不厭,

    只有敬亭山。

    Độc toạ Kính đình sơn

    Chúng điểu cao phi tận,

    Cô vân độc khứ nhàn.

    Tương khan lưỡng bất yếm,

    Chỉ hữu Kính đình sơn.

    Ngồi một mình ở núi Kính đình

    Chim chóc bay cao hết,

    Mây trời riêng tự nhàn.

    Ngó nhau không biết chán,

    Chỉ có Kính đình san.

    Nhưng ai cũng phải nhận tài của ông không phải chỉ có phiêu dật mà còn đủ vẻ, lúc thì giọng bi tráng như trong bài Tương tiến tửu đã trích ở trên, lúc thì lời diễm lệ như bài Thanh bình điệu mà không ai không thuộc 2 câu đầu:

    雲想衣裳,花想容,

    春風拂檻,露華濃。

    Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,

    Xuân phong phất hạm, lộ hoa nùng.

    Mây tưởng áo, hoa tưởng người,

    Gió lay sương điểm, hoa tươi bội phần.

    Có bài rất tình tứ:

    春思

    燕草如碧絲,

    秦桑低綠枝。

    當君懷歸日,

    是妾斷腸時。

    春風不相識,

    何事入羅幃?

    Xuân tứ

    Yên thảo như bích ti,

    Tần tang đê lục chi;

    Đương quân hoài quy nhật,

    Thị thiếp đoạn trường thì.

    Xuân phong bất tương thức,

    Hà sự nhập la vi?

    Ý Xuân

    Cỏ Yên tơ biếc phủ

    Dâu Tần nhánh lục xoà.

    Đương lúc chàng mong nhớ,

    Là khi thiếp xót xa.

    Gió xuân chẳng quen biết,

    Sao lại động mùng là?

    (Vô danh dịch)

    Có chỗ tả như vẽ, hoặc cảnh thanh nhã của mây, suối, như trong bài “Phóng Đái Thiên sơn đạo sĩ”, hoặc cảnh hiểm trở của núi non như trong bài “Thục đạo nan”:

    蜀道難

    噫!吁!戲!危乎高哉!

    蜀道之難,難于上青天!

    上有六龍回日之高標,

    下有衝波逆折之迴川。

    黃鶴之飛尚不得過,

    猿猱欲度,愁攀援!

    蜀道之難,難于上青天!

    使人聽此,凋朱顏!

    連峰去天不盈尺,

    枯松倒掛,倚絕壁。

    飛湍,瀑流爭喧豗,

    砯崖,轉石,萬壑雷。

    其險也如此!…

    Thục đạo nan

    Y! Hu! Hi! Nguy hồ cao tai!

    Thục đạo chi nan, nan vu thượng thanh thiên!

    Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu,

    Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên.

    Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá,

    Viên nao dục độ sầu phan viên!

    Thục đạo chi nan, nan vu thượng thanh thiên!

    Sử nhân thính thử, điêu chu nhan!

    Liên phong khứ thiên bất doanh xích,

    Khô tùng đảo quái, ỷ tuyệt bích,

    Phi thoan, bộc lưu tranh huyên hôi.

    Băng nhai, chuyển thạch, vạn hác lôi.

    Kỳ hiểm dã như thử!

    Đường Thục khó

    Ôi! Chà! Gớm! Hiểm mà cao thay!

    Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!

    Trên là núi cao như sáu con rồng ngăn bóng ác,

    Dưới thì dòng sông quằn quại, thác dội sóng vỗ, nước chảy lùi.

    Cánh con hạc vàng không thể vượt,

    Khỉ vượn muốn qua, lo vịn noi!

    Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!

    Nghe nói má hồng rầu, răn deo.

    Dẫy núi cách trời chẳng đầy thước.

    Thông khô vách đá vẫn treo ngược!

    Suối tung ầm ầm, nước sáng choang.

    Khe ngòi đá chuyển như sấm vang.

    Nó hiểm là như thế.

    (Ngô Tất Tố dịch)

    Có chỗ ông lại lý luận bài xích chiến tranh như trong bài (Chiến thành nam) 戰城南 ông kể những cảnh thương tâm vì giặc giả liên miên: “thây nằm đầy sa trường”, “ngựa thua ngửng đầu lên trời mà hí, diều hâu rỉa rỉa ruột người” rồi ông viết:

    乃知兵者是凶器,

    聖人不得已而用之。

    Nãi tri binh giả thị hung khí,

    Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi.

    Cho hay binh đao là hung khí,

    Thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng.

    Hầu hết bài nào ý cũng man mác như:

    黃鶴樓送孟浩然

    故人西辭黃鶴樓,

    烟花三月下陽州。

    孤帆遠影碧空盡,

    惟見長江天際流。

    黃鶴樓送孟浩然之廣陵

    Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên

    Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

    Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu.

    Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

    Duy kiến Tràng Giang thiên tế lưu.

    Tiễn Mạnh Hạo Nhiên ở Hoàng Hạc lâu

    Cố nhân từ biệt Hoàng Hạc lâu,

    Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu.

    Bóng buồm đã khuất trên xanh biếc,

    Chỉ thấy sông trời sắc một màu.

    hoặc bài:

    登金陵鳳凰臺

    鳳凰台上鳳凰游,

    鳳去台空江自流。

    吳宮花草埋幽徑,

    晉代衣冠成古邱。

    三山半落青天外,

    二水中分白鷺洲。

    總為浮雲能蔽日,

    長安不見使人愁。

    Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài

    Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,

    Phượng khứ, đài không, giang tự lưu.

    Ngô cung hoa thảo mai u kính,

    Tấn đại y quan thành cổ khâu.

    Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,

    Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu,

    Tổng vị phù vân năng tế nhật,

    Trường An bất kiến sử nhân sầu.

    Lên đài Phượng hoàng ở Kim Lăng 18

    Phượng hoàng đài để phượng hoàng chơi,

    Phượng vắng, đài không, nước tự trôi.

    Hoa cỏ cung Ngô đường hẻm lấp,

    Y quan 19 đời Tấn mả hoang vùi.

    Ba non 20 rớt nửa ngoài trời biếc,

    Hai nước chia đôi bãi Lộ 21 bồi.

    Chỉ vị mây mù che mặt nhật,

    Trường An khuất hết tủi lòng người.

    (Vô danh dịch)

    d. Phê bình Lý Bạch

    Tuỳ Viên, một thi sĩ đời Thanh nói:

    Tuyển thi như tuyển sắc,

    Tổng giác động tâm nan

    nghĩa là: Tuyển thơ như tuyển sắc đẹp, khó kiếm được bài động lòng mình.

    Chắc chắn lời đó không áp dụng vào thơ Lý Bạch vì thơ Lý bài nào cũng có vẻ hay riêng, không phải là khó lấy mà khó bỏ. Chúng tôi đã trích trên 20 bài của ông mà còn muốn trích thêm. Còn những bài Hoàng giang từ 黃江詞, Tống hữu nhân nhập Thục 送友人入蜀, Oán tình 怨情… và hàng chục bài nữa đều đáng đọc, đáng thuộc cả. Nhưng Thịnh Đường còn biết bao thi hào khác, chúng tôi đành phải tạm biệt ông vậy.

    Chắc độc giả đã nhận thấy, ông không theo một thể thơ nào nhất định. Vì ông có cái ý khí “Vỗ kiếm đi chơi một mình” (Phủ kiếm độc du hành), cái tinh thần tự do phóng khoáng như “ngựa trời bay trên không” (Thiên mã hành không), “dòng nước Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống” (Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai), nên ông hễ rượu say hứng tới thì lối thơ nào cũng dùng, cổ phong, luật thể, tứ tuyệt, có khi đặt ra một thể mới (như trong bài “Trường tương tư” ở trên, đương 4 câu thất ngôn qua 4 câu ngũ ngôn) và bài nào cũng có đặc sắc, từ trước tới nay không ai không khâm phục.

    Độc giả đã biết Đỗ Phủ và Hoàng Đình Kiên ca tụng ông ra sao, chúng tôi xin dẫn thêm lời phê bình của vài người nữa.

    Trịnh Cốc, một thi sĩ đời Đường, đọc xong tập thơ của ông, viết:

    Hà sự Văn tinh dữ Tửu tinh,

    Nhất thời chung tại Lý tiên sinh?

    Cao ngâm đại tuý tam thiên thủ,

    Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh.

    Cớ chi sao Rượu, sao Văn,

    Đúc nên một Lý tiên sinh ở đời?

    Ba nghìn say đọc một bài,

    Nghìn thu bạn với trăng trời sáng soi.

    (Tản Đà dịch)

    Hồ Văn Dực trong cuốn “Tân trước Trung Quốc văn học sử” nói “bút ông đưa tới đâu không có chỗ nào không đẹp”.

    Hồ Thích cũng nhận “thiên tài của ông tuyệt cao” và có muôn hình vạn trạng, nhưng “lời ca vịnh của ông không phải là lời ca vịnh của chúng ta”, ông không phải thi nhân của loài người, mà chỉ là một vị tiên bị giáng phàm.

    Lời phê bình của họ Hồ có một phần hữu lý. Chúng ta không thể lãng mạn như Lý Bạch, say sưa tối ngày, ngao du suốt tháng, chúng ta còn có cha mẹ, vợ con, còn sống nhờ quốc gia, xã hội thì không thể leo lên núi biếc mà tìm nhàn, hoặc “độc toạ Kính Đình san” mà thưởng nguyệt, song lời ca vịnh của Lý có thật không phải là lời ca vịnh của chúng ta?

    Lý là tiên đấy, nhưng tiên đã giáng phàm, thì Lý cũng có những tình cảm như chúng ta, cũng nhớ nhà, nhớ bạn, nhớ thời xưa, chốn cũ, cũng đau đớn trước cảnh loạn ly, cũng chán ngán cho thế sự; và chúng ta là người đã chẳng một đôi khi tìm cái quên trong rượu, lánh xã hội trong một thời gian vài ngày hoặc vài tháng để bạn với nước, với trăng, với mây, với núi?

    Chính vì vị tiên ấy có tình cảm của loài người, mộng tưởng của loài người, nỗi buồn thiên cổ của loài người, nên thơ của ông mới được truyền tụng đến bây giờ.

    Ông quả là người phóng lãng, song tâm hồn cao thượng làm sao! Ông không giúp gì cho xã hội, nhưng những vì sao lấp lánh trên không trung, có chiếu sáng cho ta đâu, có sưởi ấm cho ta đâu, mà nếu bây giờ bỗng nhiên tắt hết, thì chúng ta còn những phút khoan khoái ngắm sao nữa không? Ông an ủi chúng ta, cho ta thưởng thức cái đẹp của một tâm hồn thanh khiết, những văn thơ tuyệt diệu.

    Như vậy, ta còn đòi gì thêm nữa?

     

    TÓM TẮT

    1. Thơ Thịnh Đường phát triển một cách kinh dị về lượng và phẩm. Trên từ Hoàng Đế, Công chúa, dưới tới nông dân, ca nhi, ai cũng thích thơ và trọng thi sĩ.

    Có đủ các thiên tài, đủ các khuynh hướng; lấy đại cương mà xét thì có 4 phái:

    - phái xã hội

    - phái biên tái

    - phái tự nhiên

    - phái quái đản.

    2. Đứng trên các phái đó là Lý Bạch (701-762), một thiên tài tuyệt cao, theo tư tưởng Lão, Phật, sống rất lãng mạn, chỉ thích thơ, rượu, ngao du và mỹ nhân.

    Tâm hồn Lý thanh khiết, không hề xu phụ nhà quyền quý, rất tự do phóng khoáng, nên thơ của ông cũng phiêu dật, không chịu bó buộc theo luật, lời luôn luôn theo hứng mà ý thì kỳ dị, tình thì man mác. Cơ hồ hễ rượu say rồi, hạ bút thành giai phẩm.

    Bắt chước ông thì không được nhưng thỉnh thoảng ngâm thơ ông, ta cũng thấy tâm hồn nhẹ nhàng, thanh cao thêm được đôi chút.

    --------------------------------
    1Sở cuồng tên là Tiếp Dư, người nước Sở thời Xuân Thu, trồn đời, mỗi khi gặp Khổng Tử thì hát bài "Chim phượng hoàng":
    Phượng hề, phượng hề, hà đức chi suy?
    (Phượng này, phượng này, sao đức suy vậy?) có ý chê Khổng Tử không biết thân mà lánh đời. Những người theo đạo Khổng kêu Tiếp Dư là Sở cuồng, tức thằng điên nước Sở.
    2Hoàng hạc lâu là tên một lầu ở tỉnh Hồ Bắc. Theo sách Hoàn vũ ký, Phi Văn Vi sau khi lên tiên, thường cưỡi con hạc vàng vào đó nghĩ, vì vậy mới có tên là lầu Hoàng hạc.
    3Tên núi.
    4Tên người. Có sách cho là Sầm Tham và Nguyễn Đan Khâu, bạn của Lý Bạch.
    5Tước của Tào Thực là Trần Tư Vương. Bình Lạc là tên một cái quán đời Nguỵ.
    6Tiếng thông tục ở Nam Việt, nghĩa là nhiều lắm.
    7Là ngựa quý và áo cừu đáng giá ngàn vàng.
    8Tức Phương Sơn dịch.
    9Trong miền Nam, gọi mái hiên là hàng ba (chú thích của dịch giả)
    10Câu này rất khó dịch. Chính nghĩa là: Hồng nhan (tức tuổi trẻ) bỏ xe hiên và mũ miện (tức tước lộc).
    11Cửa bằng nhánh cây.
    12Lòng máy móc, tính toán.
    13Trương Tử Phòng, tức Trương Lương, tổ tiên 5 đời làm tướng nước Hàn; khi Tần phá Hàn, Trương đem nghìn vàng cầu một tráng sĩ đất Thương Hải. Nhân lúc vua Tần đông du, đi qua bãi Bác Lãng sa, tráng sĩ đó vùi mình trong cát, đợi xe Tần Thuỷ Hoàng tới, cầm chuỳ đập, không may đập lầm xe khác. Tần Thuỷ Hoàng thoát nạn, sai người tìm khắp nơi người đã bày mưu hại mình. Trương Lương phải bỏ trốn ở Hạ Bì.
    14Tử Phòng hồi trẻ, đi chơi ở cầu Dĩ, gặp một ông già làm rớt chiếc dép, chàng lượm lên giúp ông. Ông lại làm rớt nữa, như vậy 3 lần. Ông già khen "Thằng nhỏ này dạy được" và bảo chàng sáng sớm hôm sau đến nơi đó kiếm ông. Chàng ngủ quên, tới trễ, ông già đuổi về, hẹn hôm sau nữa. Hôm sau chàng đến từ mờ mờ đất, đã thấy ông già tới trước rồi, lại bị đuổi về, vì trễ. Ngày thứ ba, chàng không ngủ, nửa đêm ra cầu đợi. Ông già cho một cuốn binh thư, chàng đem về học, sau giúp Hán Cao Tổ diệt Tần, làm chức đế sư (thầy của vua). Khi nhận được binh thư rồi, hỏi tên họ ông già thì ông bảo: "Ta là Hoàng Thạch Công lão nhân" và hẹn 5 năm sau gặp nhau ở cầu Dĩ. Năm năm sau chàng lại cầu đó kiếm thì chỉ thấy một cục đá vàng (hoàng thạch là đá vàng).
    15Châu Từ, sông Tứ là chỗ quê hương của Tử Phòng. Ý nói Tử Phòng mất thì nơi đó không còn ai.
    16Xuân phong 春風: có bản chép là Đông phong 東風 .
    17Phương phi là hoa cỏ thơm.
    18Tương truyền vào khoảng đời Nam Bắc Triều, người ta thấy một giống chim ngủ sắc đậu ở gần Kim Lăng, bèn gọi là chim phượng hoàng và dựng ở đó một cái đài gọi là Phượng Hoàng đài. Nay chỗ đó ở trong thành Nam Kinh.
    Lý Bạch một lần lên Hoàng Hạc lâu, muốn đề thơ, thấy Thôi Hiệu đã vịnh trước một bài – bài "Hoàng Hạc lâu" sẽ trích ở sau – khen là tuyệt, liệng bút không đề nữa. Sau tới đài Phượng Hoàng, ông viết bài này có ý muốn ganh với Thôi Hiệu. Ta phải nhận rằng bài đó kém bài của Thôi Hiệu, song như vậy không phải là Lý Bạch kém tài Thôi Hiệu đâu.
    19Là mũ áo.
    20Tam sơn là tên dãy núi ở phía Nam thành Nam Kinh.
    21Bạch Lộ là tên một cái bãi, nay ở trong thành Nam Kinh.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Bóng Người Thiên Thu

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646645]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502538]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639721]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471310]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340904]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600529]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689839]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2493172]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300425]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010492]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972332]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548895]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470024]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445699]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204068]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150626]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078691]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062563]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028825]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026450]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959443]
    25.Quỷ Bảo [921714]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907577]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905326]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877025]
    29.Hắc Nho [852162]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843170]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840067]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756015]
    33.Tru Tiên [747770]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745203]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661909]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622427]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592491]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569362]
    39.Hoàn Hảo [557782]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536789]
    41.Tầm Tần Ký [511987]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456250]
    43.Thiên Đường [452700]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450857]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439787]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434015]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427377]
    48.Cậu Chó [417250]
    49.If You Are Here [411854]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408215]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm