hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[795] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG III. THƠ ĐỜI SƠ ĐƯỜNG

    1. CÁC THỜI KỲ

    Trước kia, giảng về thơ Đường, người ta thường chia làm 4 thời kỳ:

    Sơ Đường (618-712)

    Thịnh Đường (713-765)

    Trung Đường (766-846)

    Vãn Đường (847-907)

    Các học giả gần đây chia lại làm 3 thời kỳ:

    Sơ Đường (618-712)

    Thịnh Đường (713-824)

    Vãn Đường (825-907)

    Trong chương này chúng tôi hãy xét thời Sơ Đường.

     

    2. THƠ LUẬT XUẤT HIỆN

    Thời Sơ Đường có 2 đặc điểm:

    • Thơ vẫn giữ tính diễm lệ của Lục Triều. Trong nước thì bình trị mà các vua chúa cực lực đề xướng lối văn biền ngẫu nên thi nhân nào cũng theo khuynh hướng hưởng lạc duy mỹ.
    • Thơ luật 1 xuất hiện.

    Từ đời Xuân Thu tới nhà Đường, trên 1000 năm, ta thấy thơ Trung Quốc lần lần biến chuyển: từ giản dị tới phức tạp, từ tự do tới câu thúc.

    Trong kinh Thi, số câu của mỗi thiên không nhất định, số tiếng của mỗi câu cũng thay đổi, vần hạ ra sao cũng được.

    Tới đời Tấn, thơ bắt đầu vào một cái khuôn là mỗi câu năm chữ, đến đời Lục Triều, thi nhân tìm thêm được một khuôn nữa là mỗi câu 7 chữ, rồi Thẩm Ước lại bắt mỗi tiếng trong mỗi câu phải theo những luật âm thanh khắt khe.

    Thi sĩ thời Sơ Đường châm chước luật của họ Thẩm và đặt ra luật thơ: từ số câu, số tiếng, số vần, cách gieo vần, cách đối, cách cấu tạo về ý nghĩa, nhất nhất đều theo những quy tắc bất dịch.

    Tiến từ giản dị tới phiền phức là một xu thế tự nhiên của nghệ thuật: nghệ sĩ bao giờ cũng tìm cái khó để theo; có làm được một việc khó, họ mới thấy hứng thú, cho nên luôn luôn họ đặt ra quy tắc và hễ nói tới làm văn chương phải nói đến quy tắc.

    Không một thể văn nào hoàn toàn tự do. Cả đến thơ tự do cũng phải tuân những luật về thanh âm, về số tiếng trong một câu. Chẳng hạn không thể lấy lẽ rằng ta được tự do theo hứng mà viết một câu thơ 15-20 tiếng được. Độc giả chắc nhớ một thi nhân của ta, hình như là Nguyễn Vĩ, hồi tiền chiến đã thí nghiệm loại thơ 12 cước vận và thất bại. Ở Pháp cũng đã có người thí nghiệm thơ trên 12 cước vận mà không thành. Đến văn xuôi cũng theo một quy tắc nhất định: không phải ai muốn chấm câu ra sao thì chấm, muốn dùng chữ ra sao thì dùng.

    Vậy sự đặt ra luật lệ mới, tự nó không phải là một việc vô ý thức. Vô ý thức là những kẻ hiểu lầm công dụng của những luật ấy. Quy tắc để điều khiển cái hứng, giúp cho lối phô diễn được hoàn hảo, đẹp đẽ hơn, du dương hơn, chớ không phải để bóp chẹt cái hứng. Phải biết vứt bỏ luật lệ để giữ cái hứng, chớ không nên hy sinh cái hứng cho luật lệ. Thơ là để tả nỗi lòng, tả bằng hình thức nào cũng được: cổ phong, thể luật… hễ tả mà cảm động được người, là mục đích đã đạt. Thơ không phải là những tiếng ghép thành vần, cho có đối, cho đủ bằng trắc.

    Thi sĩ đời Đường sở dĩ bất hủ là nhờ họ hiểu lẽ đó: biết có luật mà không chịu nô lệ nó; họ biết phá luật để theo hứng. Những bài được truyền tụng nhất của họ phần nhiều như vậy; hoặc cổ phong, hoặc Đường luật mà xoay ra cổ thể. Chẳng hạn những bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, Anh Vũ châu của Lý Bạch, Cửu nhật đăng cao của Đỗ Phủ 2 … đều thoát sự câu thúc của niêm luật.

    Những thi sĩ ít tài, không hiểu rõ lẽ đó, cứ bo bo giữ đúng phép của Thẩm Ước làm cho thơ mất sinh khí và luật thi thành một lối thơ “tiểu thừa” thấp kém nhất, một lối ghép chữ để du hí, tiêu sầu khiển muộn như đá banh hay đánh cờ.

    Do đó có sự phản động ngay ở đời Thịnh Đường. Hàn Sơn 寒山, một vị hoà thượng thi sĩ, giữ được cái phong khí của Đào Tiềm, chê đồ đệ của Thẩm Ước là tụi đui:

    有個王秀才,

    笑我詩多失。

    雲不識蜂腰,

    仍不會鶴膝。

    平仄不解壓,

    凡言取次出。

    我笑你作詩,

    如盲徒詠日。

    Hữu cá Vương tú tài

    Tiếu ngã thi đa thất.

    Vân bất thức phong yêu,

    Nhưng bất hội hạc tất.

    Bình trắc bất giải áp,

    Phàm ngôn thủ thứ xuất.

    Ngã tiếu nhĩ tác thi,

    Như manh đồ vịnh nhật.

    Có chàng Vương tú tài,

    Chê thơ ta rất tồi.

    Phong yêu 3 đã chẳng biết.

    Hạc tất 4 học lại thôi.

    Bằng trắc không biết để,

    Tìm ý chẳng tìm lời.

    Ta cười chú làm thơ,

    Như đui vịnh mặt trời.

    Sức phản động ấy, tới cuối đời Thanh mới mãnh liệt, trong cuốn III chúng tôi sẽ kể rõ. Ở đây chúng tôi xin thưa rằng, theo thiển kiến, luật thi là một tấn bộ tự nhiên trong lịch trình thơ Trung Quốc. Về hình thức, nó thật là toàn hảo, nhưng nó chỉ hợp với những tình cảm đã được tiết chế, nó chỉ là một tiểu phẩm phải có người đa tài mới dùng nỗi và một khi nó đã được phổ biến trên ngàn năm thì tất nhiên người ta phải chán nó, tìm những thể mới hợp với tình cảm mới của người ta hơn. Song những nghệ sĩ đang kiếm con đường mới cũng nên nhớ rằng văn chương không khi nào bỏ hết những luật lệ, quy tắc. Phải đặt ra quy tắc mới, nếu không, sẽ trở lùi lại thể cổ phong từ trên 1000 năm trước, hoặc thể quá đơn giản trong Kinh Thi 2500 trước.

     

    3. THI NHÂN ĐỜI SƠ ĐƯỜNG VÀ TÁC PHẨM CỦA HỌ

    Bốn thi sĩ có cao danh trong thời Sơ Đường là:

    a. Vương Bột 王勃, tự là Tử An 子安 (648-675), mới mười sáu tuổi đã biết làm văn, 16-17 tuổi đã nổi danh, hạ bút nên câu. Tiết thay! Đa tài mà mệnh bạc, 28 tuổi chết đắm ở Nam Hải. Ở trên chúng tôi đã giới thiệu bài “Đằng Vương các tự”, ở đây xin trích thêm một bài ngũ ngôn tuyệt cú:

    思歸

    長江悲已滯,

    萬里念將歸。

    況復高風晚,

    山山黃葉飛。

    Tư quy

    Tràng giang bi dĩ trệ,

    Vạn lý niệm tương quy.

    Huống phục cao phong vãn,

    Sơn sơn hoàng diệp phi.

    Muốn về

    Tràng giang buồn ở mãi,

    Muôn dặm muốn về ngay.

    Huống lại gió chiều lộng,

    Lá vàng núi núi bay.

    b. Dương Quýnh 楊炯 hồi nhỏ cũng có tiếng là thần đồng, tính tình rất kêu căng, rất xấu hổ khi bị thiên hạ cho là kém Vương Bột. Thơ không được bài nào đặc sắc.

    c. Lư Chiếu Lân 盧照鄰 được Đặng Vương gọi là “Tư Mã Tương Như của quả nhân”, về già bệnh cùi, chịu không nổi, phải tự trầm. Thơ cũng kém.

    d. Lạc Tân Vương 駱賓王 sau khi bị thất bại trong việc diệt Vũ Hậu, cắt tóc đi tu. Ông nổi danh về bài hịch đã dịch ở trên, bài Tại ngục vịnh thiền 在獄詠蟬 (Ở trong ngục vịnh ve sầu) và bài Dịch thuỷ tống biệt:

    易水送別

    此地別燕丹,

    壯士髮衝冠。

    昔時人已沒,

    今日水猶寒。

    Dịch thuỷ tống biệt

    Thử địa biệt Yên Đan,

    Tráng sĩ phát xung quan.

    Tích thời nhân dĩ một,

    Kim nhật thủy do hàn.

    Tiễn biệt ở sông Dịch 5

    Đây chỗ biệt Yên Đan,

    Tóc dựng, khí căm gan.

    Anh hùng xưa đã khuất,

    Nước lạnh hận chưa tan.

    Ngoài ra còn nhiều thi sĩ khác tài hoa không kém, như:

    e. Thẩm Thuyên Kỳ 沈拴期 và Tống Chi Vấn 宋之問 có công làm cho thể thơ luật hoàn thành. Tống có tài hơn Thẩm, nhưng vô hạnh, kém khí tiết, chỉ chuyên làm thơ thù ứng cùng ca tụng nhà vua. Bài Mang sơn của Thẩm lời thanh nhã mà ý man mác buồn. Ông tả núi Bắc Mang ở gần Lạc Dương, nơi nhiều lăng tẩm đời trước và có ý đem sự mộng ảo của nhân sinh mà đối với sự tịch mịch của muôn thuở:

    邙山

    北邙山下列墳塋,

    萬古千秋對洛城。

    城中日夕歌鐘起,

    此山惟聞松柏聲。

    Mang sơn

    Bắc Mang Sơn hạ liệt phần doanh,

    Vạn cổ thiên thu đối Lạc Thành.

    Thành trung nhật tịch ca chung khởi,

    Thử sơn duy văn tùng bách thanh.

    Mang sơn

    Bắc Mang chân núi mộ bày hàng,

    Vạn cổ thiên thu ngó Lạc Dương.

    Trong thành tiếng hát vang ngày tháng,

    Trên núi chỉ nghe tiếng bách tòng. 6

    g. Hạ Tri Chương 賀知章 tả một bửa dạ yến có hai câu bất hủ:

    莫愁明月盡,

    自有夜珠來。

    Mạc sầu minh nguyệt tận,

    Tự hữu dạ châu lai.

    Đừng buồn trăng sáng lặn,

    Còn có dạ minh châu.

    Ý muốn nói: Dù không có trăng thì viên dạ minh châu sẽ chiếu sáng thay cho trăng. Cảnh lộng lẫy trong cung điện tới vậy là cùng cực.

    Bài Hồi hương ngẫu thư của ông bình dị mà nhiều thú dị:

    回鄉偶書

    少小離家老大迴,

    鄉音無改鬢毛摧。

    兒童相見不相識,

    笑問客從何處來。

    Hồi hương ngẫu thư

    Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,

    Hương âm vô cải mấn mao tồi.

    Nhi đồng tương kiến bất tương thức

    Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

    Về làng ngẫu viết

    Lúc đi còn nhỏ, lúc về già,

    Không đổi tiếng làng, tóc bạc hoa.

    Con trẻ nhìn hoài không nhận biết,

    Nói cười hỏi “Khách ở đâu xa?

    h. Trương Nhược Hư 張若虛 (713-755), người đất Giang Nam, rất thông minh và có tài về văn thơ từ nhỏ, chán công danh, thích ngao du khắp nơi để tìm bạn thơ, cùng với Hạ Tri Chương nổi tiếng ở đất Ngô. Ông lưu lại một bài cổ thi rất hay, bài Xuân giang hoa nguyệt dạ mà bản dịch của Trần Trọng Kim trong cuốn Đường thi cũng đã là khéo:

    春江花月夜

    春江潮水連海平,

    海上明月共潮生。

    灩灩隨波千萬里,

    何處春江無月明?

    江流宛轉繞芳甸,

    月照花林皆如霰。

    空裏流霜不覺飛,

    江上白沙看不見。

    江天一色無纖塵,

    皎皎空中孤月輪。

    江畔何人初見月,

    江月何年初照人?

    人生代代無窮已,

    江月年年望相似。

    不知江月照何人,

    但見長江照流水。

    白雲一片去悠悠,

    青楓浦上不勝愁。

    誰家今夜扁舟子,

    何處相思明月樓。

    可憐樓上月徘徊,

    應照離人妝鏡臺。

    玉戶帘中捲不去,

    搗衣砧上拂還來。

    此時相望不相聞,

    願逐月華流照君。

    鴻雁長飛光不度,

    魚龍潛躍水成文。

    昨夜閒潭夢落花,

    可憐春半不還家。

    江水流春去欲盡,

    江潭落月復西斜。

    斜月沉沉藏海霧,

    碣石瀟湘無限路。

    不知乘月幾人歸,

    落月搖情滿江樹。

    Xuân giang hoa nguyệt dạ

    Xuân giang triều thuỷ liên hải bình,

    Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.

    Diễm diễm tuỳ ba thiên vạn lý,

    Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh?

    Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,

    Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.

    Không lý lưu sương bất giác phi,

    Giang thượng bạch sa khan bất kiến.

    Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,

    Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.

    Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt,

    Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?

    Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,

    Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.

    Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,

    Đãn kiến trường giang chiếu lưu thuỷ.

    Bạch vân nhất phiến khứ du du,

    Thanh phong phố thượng bất thăng sầu.

    Thuỳ gia kim dạ thiên chu tử,

    Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu.

    Khả lân lâu thượng nguyệt bồi hồi,

    Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.

    Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,

    Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

    Thử thời tương vọng bất tương văn,

    Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.

    Hồng nhạn trường phi quang bất độ,

    Ngư long tiềm dược thuỷ thành văn.

    Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,

    Khả liên xuân bán bất hoàn gia.

    Giang thuỷ lưu xuân khứ dục tận,

    Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

    Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,

    Kiệt Thạch Tiêu Tương vô hạn lộ.

    Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy,

    Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.

    Đêm xuân cảnh trăng trên sông

    Sông liền biển nước sông đầy dẫy,

    Trăng mọc cùng triều dậy trên khơi.

    Trăng theo muôn dặm nước trôi,

    Chỗ nào có nước mà trời không trăng?

    Dòng sông lượn quanh rừng thơm ngát,

    Trăng soi hoa trắng toát một màu.

    Trên không nào thấy sương đâu,

    Trắng phau bãi cát ngó hầu như không.

    Không mảy bụi trời sông một sắc,

    Một vầng trăng vằng vặc giữa trời.

    Trăng sông thấy trước là ai,

    Đầu tiên trăng mới soi người năm nao?

    Người sinh hóa kiếp nào cùng tận,

    Năm lại năm trăng vẫn thế hoài.

    Trăng sông nào biết soi ai,

    Dưới sông chỉ thấy trăng soi giữa dòng.

    Mảnh mây bạc bông lông đi mãi,

    Rừng phong xanh trên bãi gợi sầu.

    Thuyền ai lơ lững đêm thâu,

    Trong lầu minh nguyệt chỗ nào tương tư?

    Trên lầu nọ trăng như có ý,

    Vào đài trang trêu kẻ sinh ly.

    Trong rèm cuốn cũng không đi,

    Trên chày đập áo, phủi thì vẫn nguyên.

    Mong nhau mãi mà tin bặt mãi,

    Muốn theo trăng đi tới cạnh người.

    Nhạn bay trăng cứ đứng hoài,

    Cá rồng nổi lặn, nước trôi thấy nào.

    Đêm trước thấy chiêm bao hoa rụng,

    Thương quê người chiếc bóng nửa xuân.

    Nước sông trôi hết xuân dần,

    Trăng sông cũng lặn xế lần sang tây.

    Trăng xế thấp chìm ngay xuống bể,

    Cách núi sông, xa kể dường bao.

    Cõi trăng về, ấy người nào?

    Cây sông trăng lặn, nao nao mối tình.

    (Trần Trọng Kim dịch)

    i. Lưu Hy Di 劉希夷 lừng danh nhờ bài Đại bi bạch phát ông 代悲白头翁 (Thay lời ông tóc bạc mà than thở) trong có những câu:

    今年花落顏色改,

    明年花開復誰在?

    Kim niên hoa lạc nhan sắc cải,

    Minh niên hoa khai phục thuỳ tại?

    Năm nay hoa rụng nhan sắc đổi,

    Sang năm hoa nở, ai còn đó?

    nhất là 2 câu:

    年年歲歲花相似,

    歲歲年年人不同。

    Niên niên tuế tuế hoa tương tự,

    Tuế tuế niên niên nhân bất đồng.

    Năm này năm khác hoa vẫn vậy,

    Năm khác nằm này người đổi thay.

    Có kẻ đặt chuyện, nói Tống Chi Vấn thích 2 câu đó đến nỗi muốn tranh làm của mình, lấy sọt đất đè Hy Di đến chết nghẹt. Nàng thơ vốn làm luỵ khách tao nhân nhiều, song có lẽ đâu lại gây nên được cái hoạ đó? Vả hay thì cũng có, nhưng 2 câu ấy đâu đáng gọi là tuyệt diệu.

    k. Cuối thời Sơ Đường, Trần Tử NgangTrương Cửu Linh đề xướng phong trào phục cổ trên thi đàn, muốn quét sạch di tích đời Lục Triều.

    Trần Tử Ngang 陳子昴 khi lên Kế Bắc, cảm khái ngâm:

    前不見古人,

    後不見來者。

    念天地之悠悠,

    獨愴然而涕下。

    Tiền bất kiến cổ nhân,

    Hậu bất kiến lai giả.

    Niệm thiên địa chi du du,

    Độc sảng nhiên nhi thế hạ.

    Trước chẳng thấy người xưa,

    Sau chẳng thấy ai cả.

    Ngẫm trời đất thăm thẳm sao!

    Riêng xót xa lệ lã chã.

    Giọng khảng khái, hiên ngang mà lời bình dị, đáng kể là một bài hay.

    l. Trương Cửu Linh 張九齡 (673-740) cũng có giọng tự nhiên. Ông làm tể tướng đời Huyền Tông bị có kẻ gièm pha, lui về ở ẩn.

    感遇

    蘭葉春葳蕤,

    桂華秋皎潔。

    欣欣此生意,

    自爾為佳節。

    誰知林棲者,

    聞風坐相悅。

    草木有本心,

    何求美人折?

    Cảm ngộ

    Lan diệp xuân uy sinh,

    Quế hoa thu hạo khiết.

    Hân hân thử sinh ý,

    Tự nhĩ vi giai tiết.

    Thùy tri lâm thê giả,

    Văn phong tọa tương duyệt.

    Thảo mộc hữu bản tâm,

    Hà cầu mỹ nhân chiết?

    Cảm ngộ

    Lá lan xuân xanh biếc,

    Hoa quế thu rực rỡ.

    Hớn hở sinh ý đầy,

    Giai tiết sinh từ đó.

    Ai hay người lâm tuyền,

    Vui thích ngồi dưới gió.

    Cây cỏ vốn có lòng,

    Không cần người đẹp ngó.

    (Vô danh dịch)

    Bài Tự quân chi xuất hĩ 自君之出矣 lời bình dị như ca dao mà không kém phần diễm lệ, trong trẻo, hơn hẳn bài “Tự quân chi xuất hĩ” của Trần Hậu Chủ (coi quyển I).

    自君之出矣,

    不复理殘機。

    思君如月滿,

    夜夜減光輝。

    Tự quân chi xuất hĩ,

    Bất phục lý tàn ki.

    Tư quân như nguyệt mãn,

    Dạ dạ giảm quang huy.

    Từ ngày chàng bước chân đi,

    Cái khung dệt cửi chưa hề dúng tay.

    Nhớ chàng như mảnh trăng đầy,

    Đêm đêm vành sáng hao gầy đêm đêm.

    (Ngô Tất Tố dịch)

     

    TÓM TẮT

    • Đời Đường là hoàng kim thời đại của thơ. Có 3 thời kỳ: Sơ Đường, Thịnh Đường và Vãn Đường.
    • Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn có công hoàn thành thơ luật.

      Thơ luật là một tiến bộ trong lịch trình thơ Trung Quốc. Thi hào đời Đường thường biết phá luật để theo hứng, nhờ vậy mà tác phẩm của họ mới bất hủ. Nếu bo bo giữ luật thì chỉ làm được những trung phẩm thôi.

    • Thi sĩ nổi danh thời Sơ Đường có:

      - Vương Bột, Lạc Tân Vương trong nhóm Tứ Kiệt.

      - Thẩm Tri Chương, Trương Nhược Hư, Lưu Hi Di.

      Họ đều giữ cái phong khí diễm lệ đời Lục Triều.

      - Cuối Sơ Đường có Trần Tử NgangTrương Cửu Linh vận động phục cổ. Văn thơ của 2 nhà đó đều bình dị, tự nhiên.

    --------------------------------
    1Nhiều người lầm Đường thi với luật thi. Đường thi chỉ chung các loại thơ làm trong đời Đường, cũng như Tống thi, Minh thi chỉ hết các bài thơ làm trong đời Tống, đời Minh.
    Thơ trong đời Đường cũng như trong các đời sau, chia làm 3 loại:
    * thơ cổ phong chỉ cần có vần mà không phải theo niêm luật;
    * thơ luật mỗi bài 8 câu 5 vần, theo đúng niêm, luật, bằng, trắc. Nếu mỗi câu 5 chữ thì là ngũ ngôn, mỗi câu 7 chữ thì là thất ngôn. Dù ngũ ngôn hay thất ngôn thì cũng không bao giờ được dùng vần trắc, nếu dùng vần trắc thì là cổ thi rồi.
    * thơ tuyệt cú chỉ có 4 câu (nên cũng gọi là tứ tuyệt) có thể theo luật bằng trắc (thể luật) có thể không (thể cổ).
    Vậy thơ luật chỉ là một loại của thơ Đường và trước đời Đường không có nó, chỉ có cổ phong và tuyệt cú thể cổ.
    2Sẽ trích những bài đó ở sau.
    3Tên các bệnh về âm luật, theo Thẩm Ước.
    4Chính nghĩa là lời cứ theo thứ tự mà ra, không đẽo gọt chút gì.
    5Dịch thuỷ là con sông ở tỉnh Bắc Ninh bây giờ. Đời Chiến Quốc, Kinh Kha, trước khi từ biệt thái tử nước Yên là Đan để đi giết vua Tần, hát:
    "Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn,
    Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn".
    Gió hiu hắt, sông Dịch lạnh ghê,
    Tráng sĩ một đi không trở về.
    Hát xong, nộ khí xung lên đến tóc dựng đứng.
    6Bắc Mang sơn ở gần Lạc Dương có nhiều lăng tẩm đời xưa. Tác giả có ý đem sự mộng ảo phù vân trước mặt, trong thành Lạc Dương mà đối với sự tiêu ma tịch mịch của muôn đời.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Còn Một Đêm Nay

    Thanh Nam

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646383]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502204]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639436]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471018]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340386]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600274]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689471]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490786]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300095]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010176]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972321]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469892]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445481]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150518]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078425]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062489]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028648]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026281]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959337]
    25.Quỷ Bảo [921590]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907464]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876860]
    29.Hắc Nho [852024]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842901]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839986]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755920]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744904]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622350]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569275]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536741]
    41.Tầm Tần Ký [511894]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455931]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450743]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439763]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433959]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417105]
    49.If You Are Here [411807]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408042]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm