hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[790] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG II. VĂN XUÔI ĐỜI ĐƯỜNG

    1. SỬ KÝ

    Sau Ban Cố, không còn sử gia nào có tài. Vả lại sử không còn do một người mà do nhiều người soạn, mỗi người chia nhau ít thiên, thành thử đầu đuôi không quán thông mà giá trị cũng không đều 1 .

     

    2. BIỀN VĂN

    Đời Đường, thừa tiếp phong trào của Lục Triều, cống hiến cho ta được nhiều bài từ, phú rất điêu luyện, nhanh nhã. Nổi danh nhất là bọn tứ kiệt, Đỗ Mục, Lý Hoa, Lưu Vũ Tích.

    Chúng tôi xin trích dưới đây ít bài mà nhà Nho hồi xưa nhận là bất hủ.

    a. 滕王閣序 (王勃)

    Đằng Vương các tự (Vương Bột)

    Vương Bột tự là Tử An 子安, 6 tuổi đã biết làm văn, đậu cao, tính rất kiêu căng.

    Tương truyền một vị đô đốc ở Hồng châu đặt tiệc ở Đằng Vương các, muốn khoe tài chàng rể, biểu làm trước một bài tự rồi mời hết các nhà quyền quý cùng văn sĩ xa gần lại dự yến và yêu cầu mỗi người làm một bài tự ngay trong bữa tiệc.

    Vương Bột lúc đó mới 15-16 tuổi, hay tin ấy, nhưng ở xa mấy trăm dặm, không lại họp được. Một ông già khuyên chàng cứ sửa soạn buồm và chèo đi, tự nhiên sẽ có gió nổi. Quả nhiên tối đó có gió lớn, chàng cho thuyền khởi hành và hôm sau tới Đằng Vương các vừa kịp lúc vào tiệc 2 .

    Vị đô đốc chê chàng là con nít, miễn cưỡng cấp giấy bút cho chàng làm bài tự, nhưng sai người đứng bên cạnh chàng, hễ chàng viết được câu nào thì chép lại mang cho ông coi.

    Mới đọc mấy hàng đầu, ông đã ngạc nhiên vì sự già giặn của Vương, tới câu:

    “Lạc hà dữ cô vụ tề phi,

    Thu thuỷ cộng tràng thiên nhất sắc”

    (Ráng chiều với cò lẻ cùng bay,

    Nước thu cùng trời dài một sắc)

    thì ông khâm phục thiên tài của vị thiếu niên ấy.

    Từ đó, danh của Vương Bột vang dậy khắp nơi. Song trời thường ghen tài, đương giữa tuổi xuân, trong khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, chàng bị đắm thuyền, chết đuối ở giữa biển.

    Đời sau có kẻ đặt chuyện rằng hồn chàng uất ức, thường hiện lên ngâm 2 câu ấy trong những đêm trăng thanh biển lặng, tới khi một văn nhân đi thuyền qua, nghe thấy, chê câu trên dư chữ “dữ”, câu dưới dư chữ “cộng”, thì tiếng ngâm mới tuyệt hẳn.

    Hai câu ấy hay thật, nhưng tôi nghe một nhà Nho nói Vương Bột đã mượn ý 2 câu dưới đây trong Chiêu minh văn tuyển:

    Lạc hoa dữ chi cái tề phi,

    Dương liễu cộng xuân kỳ nhất sắc.

    落花與芝蓋齊飛,

    楊柳共春旗一色。

    Hoa rụng với lọng vẽ cỏ chi 3 đều bay,

    Dương liễu cùng cờ mùa xuân một sắc.

    Bài Đằng Vương các dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu, và lời thì cực đẹp nên rất khó dịch. Chúng tôi xin tóm tắt đại ý và giới thiệu vài câu.

    Trong bài phú viết theo thể biền ngẫu ấy, Vương Bột nhắc qua địa lý và nhân vật quận Hồng Đô, nơi xây gác Đằng Vương, rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của chính mình.

    Tả cảnh thu thì có câu:

    潦水盡而寒潭清,

    煙光凝而暮山紫。

    (Lạo thuỷ tận nhi hàn đàm thanh,

    Yên quang ngưng nhi mộ sơn tử)

    Nước lụt đã cạn mà đầm lạnh trong veo,

    Ánh khói ngưng kết mà núi chiều sắc tía.

    Cảnh trời nước thì:

    落霞與孤鶩齊飛,

    秋水共長天一色。

    Lạc hà dữ cô vụ tề phi,

    Thu thuỷ cộng tràng thiên nhất sắc.

    Nhà cửa ghe thuyền thì:

    閭閻撲地,鍾鳴鼎食之家,

    舸艦迷津,青雀黃龍之軸。

    (Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực chi gia,

    Khả hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục).

    Xóm làng đầy đất, nhà nào cũng vào hàng chung đỉnh 4

    Ghe thuyền chật bến, đều về tước xanh rồng vàng.

    Tác giả nhìn cảnh mà sinh tình:

    天高地迥,覺宇宙之無窮,

    興盡悲來,識盈虛之有數。

    (Thiên cao địa quýnh, giác vũ trụ chi vô cùng,

    Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số).

    Trời cao đất xa, thấy vũ trụ là vô cùng,

    Vui hết buồn lại, biết đầy vơi là có số.

    Rồi cảm khái triền miên:

    關山難越,誰悲失路之人。

    萍水相逢,盡是他鄉之客。

    君子安貧,達人知命。

    老當益壯,寧知白首之心,

    窮且益堅,不墜青雲之志。

    (Quan san nan việt, thùy bi thất lộ chi nhân.

    Bình thủy tương phùng, tận thị tha hương chi khách.

    Quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.

    Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm,

    Cùng thả ích kiên, bất trụy thanh vân chi chí).

    Quan san khó vượt, ai thương người lỡ bước?

    Bèo nước gặp nhau, đều là khách tha hương.

    Quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.

    Già càng nên mạnh mẽ, lòng càng không biết bạc đầu 5

    Khổ càng nên kiên tâm, đừng mất cái chí thanh vân 6 .

    Cuối bài có 8 câu thơ rất hay, tuyệt diệu là 4 câu cuối:

    閒雲潭影日悠悠,

    物換星移,幾度秋。

    閣中帝子今何在?

    檻外長江空自流。

    Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,

    Vật hoán tinh di, kỷ độ thu.

    Các trung đế tử kim hà tại?

    Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu.

    Đầm chiếu mây bay, trời lửng lơ,

    Sao dời vật đổi, mấy thu rồi?

    Con vua trong gác nào đâu nhỉ?

    Dòng nước ngoài hiên vẫn tự trôi.

    b. 弔古戰場文 (李華)

    浩浩乎!平沙無垠,敻不見人;河水縈帶,群山糾紛;黯兮,慘悴,風悲日曛;蓬斷草枯,凜若霜晨;鳥飛不下,獸鋌亡群。

    亭長告予曰:此古戰場也,嘗覆三軍;往往鬼哭,天陰則聞。

    傷心哉!秦歟?漢歟?將近代歟?吾聞夫齊,魏徭戌,荊,韓召募;萬里奔走,連年暴露,沙草晨牧,河冰夜渡。地闊天長,不知歸路,寄身鋒刃,腷臆誰愬?

    秦,漢而還,多事四夷;中州耗斁無世無之。古稱戎夏,不抗王師,文教失宣,武臣用奇;奇兵有異於仁義,王道迂闊而莫為。嗚呼!噫嘻!

    吾想夫北風振漠,胡兵伺便;主將驕敵,期門受戰;野豎旄旗,川迴組練。法重心駭,威尊命賤;利鏃穿骨,驚沙入面;主客相摶,山川震眩;聲析江河,勢崩雷電。至若窮陰凝閉,凜冽海隅;積雪沒脛,堅冰在鬚;鷙鳥休巢,征馬踟躕;繒纊無溫,墜指裂膚。當此苦寒,天假強胡;憑陵殺氣,以相翦屠。徑截輜重,橫攻士卒。都尉親降,將軍覆沒;屍填巨港之岸,血滿長城之窟。無貴無賤,同為枯骨,可勝言哉!

    鼓衰兮力盡;矢竭兮弦絕;白刃交兮寶刀折;兩軍蹙兮生死決。降矣哉?終身夷狄!戰矣哉?骨暴沙礫!鳥無聲兮山寂寂;夜正長兮風淅淅;魂魄結兮天沉沉;鬼神聚兮雲冪冪;日光寒兮草短;月色苦兮霜白!傷心慘目,有如是耶?

    吾聞之:牧用趙卒,大破林胡,開地千里,遁逃匈奴。漢傾天下,財殫力痡;任人而已,其在多乎?周逐玁狁,北至太原,既城朔方,全師而還,飲至策勳,和樂且閒,穆穆棣棣,君臣之間。秦起長城,竟海為關,荼毒生靈,萬里朱殷,漢擊匈奴,雖得陰山,枕骸遍野,功不補患。

    蒼蒼蒸民,誰無父母,提攜捧負,畏其不壽?誰無兄弟,如手如足?誰無夫婦,如賓如友?生也何恩?殺之何咎?其存,其歿,家莫聞知。人或有言,將信將疑;悁悁心目,寝寐見之;布奠稱觴,哭望天涯。天地為愁,草木悽悲。弔祭不至,精魂何依?必有凶年;人其流離。

    嗚呼!噫嘻!時耶?命耶?從古如斯,為之奈何?守在四夷。

    Điếu cổ chiến trường văn (Lý Hoa)

    Hạo hạo hồ! Bình sa vô ngân, quýnh bất kiến nhân; hà thủy oanh đái, quần sơn củ phân; ảm hề thảm tụy, phong bi nhật huân; bồng đoạn thảo khô, lẫm nhược sương thần, điểu phi bất hạ, thú đĩnh vong quần.

    Đình trưởng cáo dư viết: “Thử cổ chiến trường dã, thường phúc tam quân; vãng vãng quỷ khốc, thiên âm tắc văn”.

    Thương tâm tai! Tần dư? Hán dư? Tương cận đại dư? Ngô văn phù Tề, Ngụy đao thú, Kinh, Hàn triệu mộ, vạn lý bôn tẩu, liên niên bạo lộ, sa thảo thần mục, hà băng dạ độ. Địa khoát thiên trường, bất tri quy lộ, ký thân phong nhận, bức ức thùy tố?

    Tần, Hán nhi hoàn, đa sự tứ di; Trung châu háo đố vô thế vô chi. Cổ xưng nhung hạ, bất kháng vương sư, văn giáo thất tuyên, vũ thần dụng kỳ; kỳ binh hữu dị ư nhân nghĩa, vương đạo vu khoát nhi mạc vi. Ô hô! Y hi!

    Ngô tưởng phù bắc phong trấn mạc, Hồ binh tứ tiện: chủ tướng kiêu địch, kỳ môn thụ chiến; dã thụ mao kỳ, xuyên hồi tổ luyện. Pháp trọng tâm hãi, uy tôn mệnh tiện; lợi thốc xuyên cốt, kinh sa nhập diện; chủ khách tương đoàn, sơn xuyên chấn huyễn; thanh tích giang hà, thế băng lôi điện. Chí nhược cùng âm ngưng bế, lẫm liệt hải ngu; tích tuyết một hĩnh, kiên băng tại tu; chí điểu hưu sào, chinh mã trì trù; tăng khoáng vô ôn, truỵ chỉ liệt phu. Đương thử khổ hàn, thiên giả cường Hồ, bằng lăng sát khí, dĩ tương tiễn đồ. Kính triệt trí trọng, hoành công sĩ tốt. Đô úy thân hàng, tướng quân phúc một; thi điền cự cảng chi ngạn, huyết mãn Trường thành chi quật. Vô quý vô tiện, đồng vi khô cốt, khả thăng ngôn tai!

    Cổ suy hề lực tận, thỉ kiệt hề huyền tuyệt; bạch nhận giao hề bảo đao chiết, lưỡng quân xúc hề sinh tử quyết. Hàng hĩ tai? Chung thân di địch! Chiến hĩ tai? Cốt bộc sa lịch! Điểu vô thanh hề sơn tịch tịch; dạ chính trường hề phong tích tích; hồn phách kết hề thiên trầm trầm; quỷ thần tụ hề vân mịch mịch; nhật quang hàn hề thảo đoản; nguyệt sắc khổ hề sương bạch! Thương tâm thảm mục, hữu như thị da.

    Ngô văn chi: Mục dụng Triệu tốt, Đại phá Lâm Hồ, khai địa thiên lý, độn đào Hung Nô. Hán khuynh thiên hạ, tài đàn lực phô; nhiệm nhân nhi dĩ, kì tại đa hồ? Chu trục Hiểm Doãn, bắc chí Thái Nguyên, kí thành Sóc Phương, toàn sư nhi hoàn, ẩm chí sách huân, hòa lạc thả nhàn, mục mục lệ lệ, quân thần chi gian. Tần khởi Trường Thành, cánh hải vi quan, đồ độc sinh linh, vạn lý chu ân. Hán kích Hung Nô, tuy đắc Âm sơn, chẩm hài biến dã, công bất bổ hoàn.

    Sương Sương chưng dân, thùy vô phụ mẫu, đề huề phủng phụ, úy kỳ bất thọ? Thùy vô huynh đệ, như túc như thủ? Thùy vô phu phụ, như tân như hữu? Sinh dã hà ân? Sát chi hà cữu? Kỳ tồn, kỳ một, gia mạc văn tri. Nhân hoặc hữu ngôn, tương tín tương nghi; quyến quyến tâm mục, tẩm mị kiến chi; bố điện xưng trường, khốc vọng thiên nhai. Thiên địa vi sầu, thảo mộc thê bi. Điếu tế bất chí, tinh hồn hà y? Tất hữu hung niên, nhân kỳ lưu ly.

    Ô hô! Y hi! Thời da? Mệnh da? Tòng cổ như tư, vi chi nại hà? Thủ tại tứ di.

    Bài văn điếu chiến trường cũ (Lý Hoa)

    Mênh mông thay! Cát phẳng không bờ, xa chẳng thấy ai; dòng sông uốn khúc, dãy núi loạn bày; ảm đạm thảm thê, trời xế gió lay, lau đứt cỏ khô, lạnh như buổi mai; chim bay không đáp, thú chạy lạc bầy.

    Người đình trưởng 7 bảo tôi: “Đó là chiến trường cũ, quân chết ở đây; đêm đêm quỷ khóc, văng vẳng bên tai”.

    Thương tâm thay! Tần ư? Hán ư? Đời gần đây ư? Ta nghe Tề, Nguỵ bắt lính, Kinh, Hàn 8 chiêu mộ; vạn dặm dầu dãi, liên niên cơ khổ; đêm phải qua băng, ngày thì chăn ngựa. Đất rộng trời dài, đường về đâu đó? Thân gởi mũi giáo, uất ức ai rõ?

    Từ Tần, Hán trở đi, gây sự với tứ di 9 , đời nào cũng vậy, tổn bại loạn ly. Thời trước rợ Nhung, không chống Vương sư 10 , sau giáo huấn không truyền, quan võ chuyên dùng mưu kỳ; mưu kỳ khác xa nhân nghĩa, chê Vương đạo 11 vu khoát, nên đường phải chẳng đi. Ô hô! Y hi!

    Ta tưởng lúc gió bãi tung cát là lúc rợ Hồ đợi cơ thuận tiện, chủ tướng khinh địch, kỳ môn 12 giao chiến; cờ dựng khắp đồng, đầy sông tổ luyện 13 . Phép trọng phải kinh, mạng người nhỏ nhít; tên cắm thấu xương, cát quất vào mặt; chủ khách giao tranh, núi sông mờ mịt; hét chuyển núi sông, thế như sấm sét. Đến lúc góc biển gió buốt, trời tối mù mù; tuyết đặp bắp về, băng đóng cứng râu; chim cắt nép tổ; ngựa chiến trù trừ; vải lụa hết ấm, rớt ngón, nứt da. Đương khi rét căm như vậy, trời giúp rợ Hồ, chém giết lung tung, sát khí hầm hừ, triệt đường lương thực, tấn công sĩ tốt. Đô uý đầu hàng, tướng quân đã chết; Trường thành máu chảy đầy hào, bờ sông thây nằm lấp hết. Nào sang nào hèn, xương khô như một, kể sao cho xiết.

    Tiếng trống yếu hề sức lực kiệt; tên bắn hết hề, dây cung đứt; dao sáng chạm nhau hề, gẫy gươm sắt; hai quân xáp nhau hề, quyết sống chết. Hàng ư? Chung thân tôi mọi. Chiến ư? Xương phơi cát sỏi. Chim không kêu hề, núi tịch mịch, đêm cực dài hề, gió rít rít; hồn phách kiệt hề, trời trầm trầm; quỷ thần họp hề, mây mù mịt; mặt trời lạnh lẽo hề, cỏ ngắn; ánh trăng não nùng hề, sương trắng! Thương tâm thảm mục đến như thế ư?

    Ta nghe nói: Lý Mục 14 dùng quân nước Triệu đại phá rợ cường Hồ, mở đất ngàn dặm, đuổi rợ Hung Nô. Nhà Hán khuynh 15 thiên hạ sức kiệt của hao; người giỏi thì được, có cần nhiều đâu? Nhà Chu đuổi Hiểm Doãn 16 lên tới Thái Nguyên, xây thành quận Sóc, toàn quân khải hoàn, bày rượu thưởng công, hoà lạc lại nhàn, uy nghi kính cẩn, vua tôi hân hoan. Tần dựng Trường Thành, ải tới bể Đông, cơ khổ sanh linh, máu đỏ khắp đồng. Hán đánh Hung Nô, tuy chiếm Âm San, xương phơi khắp nơi, công chẳng bỏ tội.

    Dân chúng trăm họ, ai không cha mẹ, đề huề phụng dưỡng, chỉ lo không thọ? Ai không anh em, như túc như thủ? Ai không vợ chồng, như tình bằng hữu? Sống được ơn gì? Giết đi, tội chi? Sống hay là chết, nhà chẳng ai biết. Có người cho hay, nửa ngờ nửa tin; đau đáo trông ngóng, mê thấy ban đêm; bầy lễ rót rượu, chân trời khóc nhìn. Trời đất cũng sầu, cây cỏ dầu dầu. Cúng quải không hưởng, hồn phách dựa đâu? Tất sẽ mất mùa 17 , phiêu bạt ra sao!

    Ô hô! Y hi! Thời ư? Mệnh ư? Từ xưa như vậy, nên làm thế nào? Bốn rợ phục mình, bờ cõi yên lâu 18 .

    c. 為徐敬業討武瞾檄 (駱賓王)

    偽臨朝武氏者,性非和順,地實寒微。昔充太宗下陳,曾以更衣入侍,洎乎晚節,穢亂春宮,潛隱先帝之私,陰圖後房之嬖。入門見嫉,蛾眉不肯讓人,掩袖工讒,狐媚偏能惑主,踐元後於翬翟,陷吾君於聚麀。加以虺蜴為心,豺狼成性,近狎邪僻,殘害忠良,殺姊屠兄,弒君鴆母;人神之所同嫉,天地之所不容。猶復包藏禍心,窺竊神器,君之愛子,幽之於別宮,賊之宗盟,委之以重任。嗚呼!霍子孟之不作,朱虛侯之已亡。燕啄皇孫,知漢祚之將盡;龍漦帝后,識夏庭之遽衰。

    敬業皇唐舊臣,公侯冢子,奉先君之成業,荷本朝之厚恩;宋微子之興悲,良有以也;袁君山之流涕,豈徒然哉。是用氣憤風雲,志安社稷;因天下之失望,順宇內之推心,爰舉義旗以清妖孽。

    南連百越,北盡三河;鐵騎成群,玉軸相接,海陵紅粟倉儲之積靡窮;江浦黃旗匡復之功何?遠班聲動而北風起,劍氣衝而南鬥平;喑嗚則山嶽崩頹;叱吒則風雲變色。以此制敵,何敵不摧?以此圖功,何功不克?

    公等或居漢地,或協周親,或膺重寄於話言,或受顧命於宣室言猶在耳,忠豈忘心,一抔之土未乾,六尺之孤何託?倘能轉禍為福,送往事居,共立勤王之勳,無廢大君之命。

    凡諸爵賞,同指山河,若其眷戀窮城,徘徊歧路,坐昧先幾之兆,必貽後至之誅。請看今日之域中,竟是誰家之天下?

    Vị Từ Kính Nghiệp thảo Vũ Anh hịch (Lạc Tân Vương)

    Ngụy lâm triều Võ thị giả, tính phi hòa thuận, địa thực hàn vi. Tích sung Thái Tông hạ trần, tằng dĩ cánh y nhập thị, kị hồ vãn tiết, uế loạn xuân cung, tiềm ẩn tiên đế chi tư, âm đồ hậu phòng chi bế. Nhập môn kiến tật, nga mi bất khẳng nhượng nhân, yểm tụ công sàm, hồ mị thiên năng hoặc chúa, tiễn nguyên hậu ư huy địch, hãm ngô quân ư tụ ưu. Gia dĩ hủy dịch vi tâm, sài lang thành tính, cận hiệp tà tịch, tàn hại trung lương, sát tỉ đồ huynh, thí quân chẫm mẫu; nhân thần chi sở đồng tật, thiên địa chi sở bất dong. Do phục bao tàng họa tâm, khuy thiết thần khí, quân chi ái tử, u chi ư biệt cung, tặc chi tông minh, ủy chi dĩ trọng nhiệm. Ô hô! Hoắc Tử Mạnh chi bất tác, Chu Hư Hầu chi dĩ vong. Yến trác hoàng tôn, tri Hán tộ chi tương tận; long ly đế hậu, thức Hạ đình chi cự suy.

    Kính Nghiệp hoàng Đường cựu thần, công hầu chủng tử, phụng tiên quân chi thành nghiệp, hạ bản triều chi hậu ân; Tống Vi Tử chi hưng bi, lương hữu dĩ dã; Viên Quân Sơn chi lưu thế, khởi đồ nhiên tai! Thị dụng khí phẫn phong vân, chí an xã tắc; nhân thiên hạ chi thất vọng, thuận vũ nội chi thôi tâm, viên cử nghĩa kỳ dĩ thanh yêu nghiệt.

    Nam liên Bách Việt, bắc tận Tam Hà. Thiết kị thành quần, ngọc trục tương tiếp. Hải Lăng hồng túc sương trữ chi tích mỹ cùng; giang phố hoàng kỳ khuông phục chi công hà viễn? Ban thanh động nhi bắc phong khởi, kiếm khí xung như Nam đấu bình; âm ô tắc Sơn nhạc băng đồi, sất sá tắc phong vân biến sắc. Dĩ thử chế địch, hà địch bất tồi? Dĩ thử đồ công, hà công bất khắc?

    Công đẳng hoặc cư Hán địa, hoặc hiệp chu thân, hoặc ưng trọng ký ư thoại ngôn, hoặc thụ cố mệnh ư tuyên thất ngôn do tại nhĩ, trung khởi vong tâm, nhất phần chi thổ vị can, lục xích chi cô hà thác? Thảng năng chuyển họa vi phúc, tống vãng sự cư, cộng lập cần vương chi huân, vô phế đại quân chi mệnh.

    Phàm chư tước thưởng, đồng chỉ sơn hà, nhược kỳ quyến luyến cùng thành, bồi hồi kỳ lộ, tọa muội tiên cơ chi triệu, tất di hậu chí chi tru. Thỉnh khán kim nhật chi vực trung, cánh thị thùy gia chi thiên hạ?

    Bài hịch đánh Võ Anh 19

    (Viết giùm Từ Kính Nghiệp) Lạc Tân Vương 20

    Kẻ tiếm vị lâm triều là Võ thị, tính không hoà thuận, sanh chốn hàn vi. Trước là cung nhân vào hầu Tiên Đế 21 từ chức hèn mọn mà được chúa cưng; tới khi trọng tuổi, dơ dáy trong cung 22 , giấu đậy chuyện xưa, ngầm mong ơn Chúa 23 . Vào cung ghen ghét, mày ngài chẳng chịu nhường ai; che miệng gièm pha, thuật cáo 24 lại hay nịnh hót, lên ngôi Hậu, vẽ hình huy địch 25 dẫn nhà vua vào lối hươu nai 26 . Hơn nữa rắn rít sẵn lòng, sài lang thành tính, thân yêu gian ác, tàn hại trung lương. Giết chị giết anh, giết vua giết mẹ; thần người đều ghét, trời đất không dung. Lại còn ôm ấp ý nghịch, lấm lét đồ thần 27 , đầy con vua 28 vào cung tối, giao cho giặc 29 giữ ngôi cao.

    Than ôi! Hoắc Mạnh Tử không còn, Chu Hư Hầu 30 đã chết. Mỏ yến mổ hoàng tôn 31 , biết rằng ngôi Hán gần mất; dãi rồng sinh đế hậu, đoán cho vận Hạ đương suy 32 .

    Kiến Nghiệp 33 , Đường thần nghĩa cũ, con trưởng công hầu, thừa sự nghiệp của Tiên Đế, hưởng ân sâu của bản triều; nặng lòng đau như Tống Vi Tử, nào phải ngẫu nhiên; chảy nước mắt như Viên Quân Sơn 34 , há rằng vô cố! Cho nên nghĩa khí kích động gió mây, ý chí muốn an xã tắc, nhân lúc thiên hạ thất vọng, thuận theo lòng hối thúc của nhân dân, mới phất cờ khởi nghĩa để trừ yêu nghiệt. Phía Nam liền với Bách Việt, phía Bắc hết cả Tam Hà 35 ; ngựa sắt thành bầy, trục ngọc 36 liên tiếp. Hải Lăng 37 lúa đỏ, các kho chứa sẵn không cùng; Giang Phổ 38 cờ vàng, cái việc trung hưng đã tới. Tiếng ngựa hí mà bắc phong nổi dậy, hơi gươm xông mà Nam đẩu muốn băng; hầm hừ thì đồi núi rung rinh, thét mắng thì gió mây đổi sắc. Như vậy mà đánh giặc, giặc nào không thua? Như vậy mà lập công, công nào chẳng được?

    Các ông hoặc nhờ ơn đất Hán 39 , hoặc nặng tình bà con 40 , hoặc nhận lời gởi gấm ngày xưa, thụ mệnh hoàng cung 41 thuở nọ, tai còn nghe nói, trung há quên lòng? Nắm đất trên mồ chưa ráo, con côi nhỏ tuổi 42 gởi ai? Ví phỏng chuyển hoạ thành phúc, nhớ khuất giúp còn 43 , cùng lập nên công việc cần vương 44 , không mất mạng lệnh vua trước thì bao nhiêu tước thưởng, cùng trỏ non sông. Nhược bằng quyến luyến với thành nguy, bồi hồi ở ngã rẽ 45 , đã không có chí tiên cơ thì ắt chịu hình hậu chí 46 . Thử coi tình hình trước mắt, rồi đây thiên hạ nhà ai?

    d. 陋室銘 (劉禹錫)

    山不在高,有仙則名,水不在深,有龍則靈。斯是陋室,惟吾德馨。苔痕上階綠,草色入簾青。談笑有鴻儒,往來無白丁。可以調素琴,閱金經。無絲竹之亂耳,無案牘之勞形南陽諸葛廬,西蜀子。雲亭,孔子云:“何陋之有?”

    Lậu thất minh (Lưu Vũ Tích)

    Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh, thuỷ bất tại thâm, hữu long tắc linh. Tư thị lậu thất, duy ngô đức hinh. Đài ngân thượng giai lục, thảo sắc nhập liêm thanh. Đàm tiếu hữu hồng nho, vãng lai vô bạch đinh. Khả dĩ điều tố cầm, duyệt Kim kinh. Vô ti trúc chi loạn nhĩ, vô án độc chi lao hình. Nam Dương Gia Cát lư, Tây Thục Tử Vân đình. Khổng Tử vân: “Hà lậu chi hữu?”

    Bài minh 47 “Căn nhà quê mùa (Lưu Vũ Tích)

    Núi không tại cao, có tiên thì nổi danh, nước không tại sâu, có rồng thì hoá linh. Đây là căn nhà quê mùa, chỉ nhờ đức ta mà thơm tho. Ngấn rêu biếc leo thềm, sắc cỏ xanh chiếu rèm. Cười nói thâm nho, đi lại không bạch đinh 48 . Có thể gẩy cây đờn mộc mạc, đọc Kim kinh 49 . Không tiếng tơ tiếng trúc làm loạn tai, không giấy tờ thư trát làm mệt thân hình. Thảo lư của Gia Cát ở Nam Dương, nhà mát của Tử Văn 50 ở Tây Thục. Khổng Tử nói: “Có gì mà quê mùa?51 . 52

    e. 阿房宮賦 (杜牧)

    六王畢,四海一,蜀山兀,阿房出。

    覆壓三百餘里,隔離天日。驪山北構而西折,直走咸陽。二川溶溶,流入宮牆。五步一樓,十步一閣;廊腰縵迴,簷牙高啄;各抱地勢,鉤心鬥角。盤盤焉,囷囷焉,蜂房水渦,矗不知其幾千萬落!

    長橋臥波:未雲何龍?複道行空:不霽何虹?高低冥迷,不知東西;歌臺暖響春光融融;舞殿冷袖,風雨淒淒。一日之內,一宮之間而氣候不齊。妃嬪媵嬙,王子皇孫,辭樓下殿,輦來於秦,朝歌夜絃,為秦宮人。明星熒熒,開妝鏡也;綠雲擾擾,梳曉鬟也;渭流漲膩,棄脂水也;煙斜霧橫,焚椒蘭也;雷霆乍驚,宮車過也;轆轆遠聽,杳不知其所之也。一肌一容,盡態極妍;縵立遠視而望幸焉。有不得見者三十六年。

    燕趙之收藏,韓魏之經營,齊楚之精英,幾世幾年,取掠其人,倚疊如山,一旦不能有,輸來其間。鼎,鐺,玉石,金塊,珠礫棄擲邐迤,秦人視之,亦不甚惜。

    嗟乎!一人之心,千萬人之心也。秦愛紛奢,人亦念其家,奈何取之盡錙銖,用之如泥沙!使負棟之柱多於南畝之農夫;架梁之椽多於機上之工女;釘頭磷磷多在庾之粟粒;瓦縫參差多於周身之帛縷;直欄橫檻多於九土之城郭;管絃嘔啞多於市人之言語;使天下之人不敢言而敢怒,獨夫之心日益驕固。戍卒叫,函谷舉,楚人一炬,可憐焦土!

    嗚呼!滅六國者,六國也,非秦也。族秦者,秦也,非天下也。嗟乎!使六國各愛其人,則足以拒秦;秦復愛六國之人則遞三世可至萬世而為君誰得而族滅也?

    秦人不暇自哀而後人哀之;後人哀之而不鑑之,亦使後人復哀後人也。

    A phòng cung phú (Đỗ Mục)

    Lục vương tất, tứ hải nhất, Thục sơn ngột, A Phòng xuất.

    Phú áp tam bách dư lý, cách ly thiên nhật. Ky sơn bắc cấu nhi tây chiết, trực tẩu Hàm Dương. Nhị xuyên dung dung, lưu nhập cung tường. Ngũ bộ nhất lâu, thập bộ nhất các; lang yêu mạn hồi, thiềm nha cao trác; các bão địa thế, câu tâm đấu giác. Bàn bàn yên, huân huân yên, phong phòng thủy oa, súc bất tri kỳ kỷ thiên vạn lạc.

    Trường kiều ngọa ba: vị vân hà long? Phức đạo hành không: bất tễ hà hồng? Cao đê minh mê, bất tri đông tê. Ca đài noãn ưởng xuân quang dung dung; vũ điện lãnh tụ, phong vũ thê thê. Nhất nhật chi nội, nhất cung chi gian nhi khí hậu bất tề. Phi tần dắng tường, vương tử hoàng tôn, từ lâu hạ điện, liễn lai ư Tần, triêu ca dạ huyền, vi Tần cung nhân. Minh tinh huỳnh huỳnh, khai trang kính dã; lục vân nhiễu nhiễu, sơ hiểu hoàn dã; Vị lưu trướng nhị, khí chi thủy dã; Yên tà vụ hoành, phần tiêu lan dã; lôi đình sạ kinh, cung xa quá dã; lộc lộc viễn thính, diểu bất tri kỳ sở chi dã. Nhất ky nhất dung, tận thái cực nghiên; mạn lập viễn thị nhi vọng hạnh yên. Hữu bất đắc kiến giả tam thập lục niên.

    Yên, Triệu thu tàng, Hàn Ngụy chi kinh doanh, Tề, Sở chi tinh anh, kỷ thế kỷ niên, thủ lược kỳ nhân, ỷ điệp như san, nhất đán bất năng hữu, thâu lai kỳ gian. Đỉnh, sanh, ngọc thạch, kim khối, châu lịch, khí trịch lị dĩ. Tần nhân thị chi, diệc bất thậm tích.

    Ta hồ! Nhất nhân chi tâm, thiên vạn nhân chi tâm dã. Tần ái phân xa, nhân diệc niệm kỳ gia, nại hà thủ chi tận truy thù, dụng chi như nê sa! Sử phụ đống chi trụ, đa ư Nam mẫu chi nông phu; giá lương chi duyện đa ư ky thượng chi công nữ; đinh đầu lân lân đa tại dữu chi túc lạp; ngõa phùng tham soa đa ư chu thân chi bạch lũ; trực lan hoành hạm đa ư cửu thổ chi thành quách; quản huyền âu a, đa ư thị nhân chi ngôn ngữ; sử thiên hạ chi nhân bất cảm ngôn nhi cảm nộ, độc phu chi tâm nhật ích kiêu cố. Thú tốt khiếu, Hàm cốc cử, Sở nhân nhất cự, khả liên tiêu thổ!

    Ô hô! Diệt lục quốc giả, lục quốc dã, phi Tần dã. Tộc Tần giả, Tần dã, phi thiên hạ dã. Ta hồ! Sử lục quốc các ái kỳ nhân, tắc túc dĩ cự Tần; Tần phục ái lục quốc chi nhân, tắc đệ tam thế khả chí vạn thế nhi vi quân, thùy đắc nhi tộc diệt dã?

    Tần nhân bất hạ tự ai nhi hậu nhân ai chi; hậu nhân ai chi nhi bất giám chi, diệc sử hậu nhân phục ai hậu nhân dã.

    Bài phú “Cung A phòng” (Đỗ Mục) 53

    Sáu vua bị diệt, bốn bể thống nhất 54 , núi xứ Thục trọi, cung A Phòng xuất 55 .

    Cao muốn đụng trời xanh, trên ba trăm dặm che lấp. Xây từ Ky Sơn ở phương Bắc, vòng qua Tây, chạy thẳng xuống Hàm Dương. Hai con sông mông mênh chảy vào tới chân tường. Năm bước lại một lầu, mười bước lại một gác; hành lang uyển chuyển như tấm lụa, mái nhà cong nhọn như mỏ chim, đều ôm địa thế, góc thì đâu vào nhau, giữa như cái móc. Quanh co chằng chịt như tổ ong, như xoáy nước, không biết là mấy nghìn nóc. Cầu dài vắt ngang sông: chưa có mây sao có rồng? Đường đôi 56 bắc trên không: không phải mưa tạnh, sao có cầu vồng? Cao thấp hỗn loạn, nào biết tây đông? Xuân quang ấm áp, tiếng ca vui vầy; gió mưa lạnh lẽo, tay áo hết bay 57 . Cùng trong một cung, cùng trong một ngày, khí hậu khác thay! Phi tần, thị nữ, vương tử, hoàng tôn, rời lầu xuống điện, ngồi xe tới Tần, sáng ca tối đàn và thành cung nhân 58 . Kìa, sao lấp lánh: mở gương đấy mà; mây xanh quấn quấn: mớ tóc xõa ra; dầu sáp đổ đi, sông Vị đầy mà 59 ; đốt tiêu đốt lan, đám khói tà tà; sấm động kinh hồn, tiếng xe chạy qua; nào biết đi đâu, ầm ầm ở xa. Da thịt, dong mạo, làm đẹp làm duyên, đứng chờ xa xa, mong được vua nhìn. Có kẻ trông ngóng ba mươi sáu năm liền.

    Yên, Triệu gom góp, Hàn, Ngụy kinh doanh, Tề, Sở tinh anh, mấy đời mấy năm, của người cướp lấy chất cao thành núi, đã không giữ nổi, thu lại nơi ấy. Vàng, đỉnh coi tựa đất lu, châu, ngọc rẻ như đá sỏi; liệng phí vung tay, chẳng ai nhìn nhõi.

    Than ôi! Lòng ai cũng vậy, nghìn vạn người như một. Người Tần thích xa hoa, thì người ta cũng nghĩ tới nhà, sao lấy thì thu nhặt từng chút mà dùng thì coi rẻ như cát bùn! Khiến cho cột đỡ rui nhiều hơn nông phu ngoài đồng; cho kèo đỡ nóc nhiều hơn chức nữ trên khung; cho đầu đinh lấp lánh nhiều hơn hột lúa trong kho; phiến ngói so le nhiều hơn quần áo ngoài phố; lan can bực cửa nhiều hơn thành quách cửu châu; tiếng sáo tiếng đờn nhiều hơn tiếng nói trong chợ; làm cho người trong thiên hạ không dám nói mà dám phẫn nộ; lòng kẻ thất phu 60 mỗi ngày càng thêm kiêu căng, ngoan cố. Lính thú 61 hò hét, Hàm Cốc nổi dậy 62 , đuốc Sở một bó 63 , thương thay, tro tàn trơ đó!

    Than ôi! Kẻ diệt lục quốc không phải là Tần mà là lục quốc. Kẻ diệt Tần, chính là Tần, không phải là thiên hạ. Buồn thay! Người lục quốc nếu biết yêu nhau thì đủ sức để chống cự với Tần. Nếu Tần lại yêu người lục quốc thì truyền từ ba đời đến vạn đời, làm chủ thiên hạ, ai diệt Tần được.

    Người nước Tần không có thì giờ để thương cho họ mà đời người sau than thở cho họ; người đời sau than thở cho họ mà không biết lấy đó làm gương, khiến người đời sau nữa lại phải than thở cho người đời sau nữa!

     

    3. CỔ VĂN

    Nhân vật đại biểu trong phong trào phục cổ là Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên.

    a. Hàn Dũ 韓愈 (768-824)

    Hàn Dũ, tự là Thoái Chi 退之, người đời sau thường gọi là Hàn Xương Lê 韩昌黎. Hồi nhỏ ông mồ côi sớm, nhờ một người chị dâu goá chồng nuôi nấng; học giỏi, 25 tuổi đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Hình bộ thị lang, rất có danh trên văn đàn nhờ có tài về cổ văn và nhiệt tình bênh vực đạo Nho.

    Một lần ông khảng khái dâng sớ khuyên vua Hiến Tông đừng rước cốt Phật về thờ, đại ý nói:

    Đạo Phật là đạo của mọi rợ, đời Thượng cổ, Trung Quốc không có đạo ấy mà vẫn thái bình. Đến đời Hán Minh Đế Phật pháp mới bắt đầu truyền trong nước thì loạn kế tiếp nổi lên, tới Lương Vũ Đế 3 lần xả thân làm tiểu mà rốt cục bị Hầu Cảnh áp bức, phải chết đói ở Đài Thành, quốc gia cũng tiêu diệt, thành thử thờ Phật cầu phước mà lại gặp hoạ.

    Cuối cùng ông bảo nên liệng cốt Phật vào nước, lửa: nếu Phật linh thiêng, ông xin chịu hết các tội.

    Can vua mà giọng gay gắt, vô lễ như vậy, trách chi chẳng bị đày đến một nơi ma thiêng nước độc tức là miền Triều Châu. Ông đau lòng, làm một bài thơ, lời bình dị, bi hùng mà chúng tôi trích dưới đây 4 câu đầu:

    一封朝奏九重天,

    暮謪潮州路八千。

    欲為聖明除弊政,

    敢將衰朽惜殘年。

    Nhất phong triêu tấn cửu trùng thiên,

    Mộ trích Triều châu bát lộ thiên.

    Dục vị Thánh triều trừ tệ chính,

    Cảm tương suy hủ tích tàn niên.

    Sáng dâng tờ sớ tấu thiên nhan,

    Chiều biếm Triều châu dặm tám ngàn!

    Muốn giúp Thánh triều trừ tệ chính,

    Dám đem lão bệnh tiếc thân tàn!

    Tương truyền miền Triều Châu hồi đó bị nhiều cá sấu phá hoại, ông soạn một bài văn tế đại ý bảo cá sấu nên ra biển mà ở, đừng quấy nhiễu nhân dân nữa; cá sấu sợ uy ông, đi hết. Sở dĩ tôi kể lại chuyện hoang đường ấy vì ở nước ta cũng truyền rằng Nguyễn Thuyên đời Trần Nhân Tông đọc một bài văn nôm tế cá sấu ở sông Nhị mà cá sấu cũng dời đi và do đó được vua đổi họ Nguyễn của ông ra họ Hàn, có ý ví ông với Hàn Dũ.

    Sau khi bị đày ra Triều Châu, Hàn Xương Lê có vẻ hối hận, dũng khí cơ hồ tiêu ma, dâng biểu tạ tội, ca tụng nhà vua và hết mạt sát đạo Phật.

    Ông thiếu óc thực tế, không phải là nhà chính trị, nên hoạn đồ trắc trở. Tư tưởng ông hẹp hòi, ông cho rằng người Trung Quốc mà theo tông giáo của mọi rợ (chỉ Ấn Độ) là một cái nhục và bỏ đạo tiên thánh là một cái tội.

    Song ông có rất nhiều nhiệt huyết, lòng thành thực, lời mạnh mẽ, hấp dẫn. Văn học đời Đường đỡ được cái tật lời kêu ý rỗng của Lục Triều, một phần cũng nhờ ông.

    Thơ ông có 2 phần:

    * Một phần bình dị, mở đường cho Tống thi như bài ở trên.

    * Một phần trái hẳn lại, khó hiểu, dùng những vần kỳ dị, những tiếng bí hiểm.

    Xét chung thì ít bài có giá trị.

    Trái lại, tản văn của ông rất hay, lựa chữ tài tình, nhất là những hư từ (như chi, hồ, giả, …), hơi văn một đôi khi nặng nề nhưng luôn luôn lôi cuốn người đọc.

    Dưới đây chúng tôi xin trích bài “Tống Lý Nguyện quy Hàm cốc tự” và bài “Tế Thập nhị lang”, một áng văn bất hủ nhờ tình cảm chân thật, chứ không nhờ công phu đẽo gọt. Hình như Phạm Quỳnh có lần đã dịch ra tiếng Pháp để giảng cho học sinh ban Hành chánh hay Sư phạm (?) trường đại học Hà Nội.

    送李願歸盤谷序

    願之言曰:人之稱大丈夫者,我知之矣。利澤施於人,名聲昭於時,坐於廟堂,進退百官,而佐天子出令。其在外則樹旄旗,羅弓矢,武夫前呵,从者塞途;供給之人各執其物,夾道而疾馳。喜有賞,怒有刑;才畯滿前,道古今而譽盛德,入耳而不煩。曲眉豐頰,清聲而便體,秀外而惠中,飄輕裾,翳長袖,粉白黛綠者,列屋而閑居,妒寵而負恃,爭妍而取憐,大丈夫之遇知於天子,用力于當世者之所為也。吾非惡此而逃之;是有命焉,不可幸而致焉。

    窮居而野處,升高而望遠,坐茂樹以終日,濯清泉以自潔,採於山,美可茹,釣於水,鮮可食;起居無時,惟適之安。與其有譽於前孰若無毀於其後;與其有樂於身孰若無憂於其心。車服不維,刀鋸不加,理亂不知,黜陟不聞,大丈夫不遇於時者之所為也,我則行之。

    伺候於公卿之門,奔走于形勢之途;足將進而趑趄,口將言而囁嚅;處污穢而不羞,觸刑辟而誅戮,僥幸於萬一,老死而後止者,其於為人賢不肖何如也?

    昌黎韓愈聞其言而壯之,與之酒而為之歌曰:

    盤之中維子之宮,

    盤之土可以稼。

    盤之泉可濯可沿,

    盤之阻誰爭子所?

    窈而深廓其有容,

    繚而曲如往而復。

    嗟盤之樂兮,樂且無央,

    虎豹遠迹兮,蛟龍遁藏。

    鬼神守護兮,呵禁不祥,

    飲且食兮,壽而康,

    無不足兮,奚所望。

    膏吾車兮,秣吾馬,

    从子於盤兮,終吾生以徜徉。

    Tống Lý Nguyện quy Bàn Cốc tự

    …Nguyện chi ngôn viết:

    “Nhân chi xưng đại trượng phu giả, ngã tri chi hỹ: lợi trạch thi ư nhân, danh thanh chiêu ư thời, tọa ư miếu đường, tiến thoái bách quan, nhi tá thiên tử xuất lệnh. Kỳ tại ngoại tắc thụ mao kỳ, la cung thỉ, vũ phu tiền ha, tòng giả tắc đồ; cung cấp chi nhân các chấp kỳ vật, giáp đạo nhi tật trì. Hỉ hữu thưởng, nộ hữu hình; tài tuấn mãn tiền, đạo cổ kim nhi dự thịnh đức, nhập nhĩ nhi bất phiền. Khúc mi phong giáp, thanh thanh nhi tiện thể, tú ngoại nhi huệ trung, phiêu khinh cư, ế trường tụ, phấn bạch đại lục giả, liệt ốc nhi nhàn cư, đố sủng nhi phụ thị, tranh nghiên nhi thủ lân, đại trượng phu chi ngộ tri ư thiên tử, dụng lực vu đương thế giả chi sở vi dã. Ngô phi ố thử nhi đào chi: thị hữu mệnh yên, bất khả hạnh nhi trí yên.

    Cùng cư nhi dã xử, thăng cao nhi vọng viễn, tọa mậu thụ dĩ chung nhật, trạc thanh tuyền dĩ tự khiết, thái ư sơn, mỹ khả nhự, điếu ư thủy, tiên khả thực; khởi cư vô thời, duy thích chi an. Dữ kì hữu dự ư tiền thục nhược vô hủy ư kì hậu; dữ kỳ hữu lạc ư thân, thục nhược vô ưu ư kì tâm. Xa phục bất duy, đao cứ bất gia, lý loạn bất tri, truất trắc bất văn, đại trượng phu bất ngộ ư thời giả chi sở vi dã, ngã tắc hành chi.

    Tứ hậu ư công khanh chi môn, bôn tẩu vu hình thế chi đồ, túc tương tiến nhi tư thư, khẩu tương ngôn nhi chiếp nhu; xử ô uế nhi bất tu, xúc hình tích nhi tru lục, kiêu hạnh ư vạn nhất, lão tử nhi hậu chỉ giả, kỳ ư vi nhân hiền bất tiếu hà như dã?

    Xương Lê Hàn Dũ văn kỳ ngôn nhi tráng chi, dữ chi tửu nhi vị chi ca viết:

    Bàn chi trung duy tử chi cung,

    Bàn chi thổ khả dĩ giá,

    Bàn chi tuyền khả trạc khả duyên.

    Bàn chi trở, thùy tranh tử sở?

    Yểu nhi thâm khuếch kỳ hữu dung,

    Liễu nhi khúc như vãng nhi phục.

    Ta, Bàn chi lạc hề, lạc thả vô ương.

    Hổ báo viễn tích hề, giao long độn tàng.

    Quỷ thần thủ hộ hề, ha cấm bất tường.

    Ẩm thả thực hề, thọ nhi khang.

    Vô bất túc hề, hề sở vọng?

    Cáo ngô xa hề, mạt ngô mã.

    Tòng tử ư Bàn hề, chung ngô sinh dĩ thảng dương.

    Bản dịch dưới đây của Phan Kế Bính tuy không sát nghĩa nhưng lời cứng, mạnh, đáng gọi là hay:

    Tiễn Lý Nguyện về đất Bàn Cốc

    …Lí Nguyện có nói rằng: “Người ta gọi là đại trượng phu, ta đã biết rồi. Nghĩa là có ân huệ thấm thía với người, có danh tiếng ở đời, ngồi nơi miếu đường thì có quyền cất bỏ trăm quan, giúp thiên tử để truyền hiệu lệnh. Làm quan ngoài thì cờ dong trống mở, cung tên dàn mặt, quân lính tiền hô, kẻ hầu hạ rợp đường cái; người cung cấp phục dịch, đều phải khiêng vác chạy ngược chạy xuôi. Mừng ai thì có thưởng, giận ai thì có phạt; bậc tài tuấn đầy trước mặt, chỉ bàn việc xưa nay mà tán tụng công đức của mình, rườm tai mà vẫn không chán. Những người má đào mày liễu, tiếng trong lanh lảnh, mình nhẹ thinh thinh, là lượt thướt tha, tô son điểm phấn, ở xen lẫn nhau từng nhà, ghen tuông nhau mà tranh lấy sự thương yêu. Đó là đại trượng phu gặp thời, nhờ ơn thiên tử, đắc dụng ở đời, thì theo cách đó. Ta không phải ghét sự đó mà đi ẩn, vì có số mệnh, không phải ai ai cũng gặp được.

    Ở chốn hang cùng, trú nơi đồng nội, lên núi cao để trông ngóng, ngồi dưới bóng cây mát cho trọn ngày, tắm rửa chỗ suối trong cho mát mẻ, hái rau ở núi mà ăn, câu cá ở sông mà chén; khi thức khi ngủ, chẳng cứ thời giờ nào, quí hồ thích thì thôi. Dầu có tiếng khen về trước, chẳng thà không có tiếng chê về sau; dầu sung sướng trong thân, chẳng thà không có sự lo lắng trong bụng. Xe ngựa áo xiêm chẳng buộc được mình, gươm giáo tên đạn cũng không động đến mình. Cuộc đời trị hoặc loạn chẳng tưởng, nhân tài thăng hoặc giáng chẳng hay. Đó là đại trượng phu không gặp thời thì theo cách đó, ta làm vậy.

    Còn như luồn lọt ở cửa công khanh, bôn xu về đường thế lợi; chân muốn bước nhưng còn rụt rè, miệng muốn nói nhưng còn ngập ngừng; ở vào đám dơ dáy mà không biết xấu hổ, làm những sự trái phép để mang lấy tội, cầu sự may mắn trong sự bất kỳ, đến già đời mới chịu thôi, người đó hay dở thế nào, chẳng nói tưởng ai cũng biết”.

    Hàn Xương Lê nghe nhời ấy, mời chén rượu mà hát một bài rằng:

    Núi Bàn Cốc nhà ngươi ở đấy,

    Đất trong hang cày cấy dễ sao?

    Suối kia tắm rửa ào ào,

    Ấy nơi xa vắng ai nào muốn tranh?

    Hang sau thẳm thanh thanh rộng rãi

    Đường quanh co qua lại trập trùng.

    Cảnh hang vui thú lạ lùng,

    Hùm, beo lánh vết, rắn rồng náu thân.

    Sự quái gở quỉ thần giúp hộ,

    Vui ăn chơi cho độ tuổi già,

    Ta về sắm ngựa xe ta,

    Theo vào hang đó là cà cùng ngươi.

    祭十二郎文

    季父,愈,聞汝喪之七日,乃能銜哀致誠,使建中遠具時羞之奠,告汝十二郎之靈:

    嗚呼!吾少孤,及長不省所怙,惟兄嫂是依。中年兄歿南方,吾與汝俱幼,從嫂歸葬河陽,既又與汝就食江南;零丁孤苦,未嘗一日相離也。

    吾上有三兄,皆不幸早世,承先人後者,在孫惟汝,在子惟吾,兩世一身,形單影隻。嫂嘗撫汝指吾而言曰:“韓氏兩世,惟此而已。”汝時猶小,不復記憶;吾時雖能記憶,亦未知其言之悲也。

    吾年十九,始來京城,其後四年而歸視汝;又四年吾往河陽省墳墓,遇汝從嫂喪來葬;又二年,吾佐董丞相于汴州,汝來省吾,止一歲,請歸取其孥。明年,丞相薨,吾去汴州,汝不果來。是年吾佐戎徐州,使取汝者始行,吾又罷去,汝又不果來。吾念汝從於東,東亦客也不可以久;圖久遠者莫如西歸,將成家而致汝。嗚呼!孰謂汝遽去吾而歿乎?

    吾與汝俱年少,以為雖暫相別,終當久與相處,故捨汝而旅食京師,以求斗斛之祿。誠知其如此,雖萬乘之公相,吾不以一日輟汝而就也。

    去年,孟東野往,吾書與汝曰:“吾,年未四十,而視茫茫,而髮蒼蒼,而齒牙搖動,念諸父與兄,皆康強而早世,如吾之衰者,其能久存乎?吾不可去,汝不肯來,恐旦暮死而汝抱無涯之戚也。”孰謂少者歿而長者存,強者夭而病者全乎?

    嗚呼!其信然邪?其夢邪?其傳之,非其真邪?信也?吾兄之盛德而夭其嗣乎?汝之純明而不剋蒙其澤乎?少者,強者而夭歿?長者,衰者而存全乎?未可以為信也,夢也,傳之外,非其真也,東野之書,耿蘭之報何為而在吾側也?

    嗚呼!其信然矣。吾兄之盛德而夭其嗣矣;汝之純明宜業其家者,不剋蒙其澤矣。所謂天者,誠難測,而神者,誠難明矣!所謂理者不可推而壽者不可知矣!

    雖然,吾自今年來,蒼蒼者或化而為白矣,動搖者或脫而落矣,毛血日益衰,志氣日益微,幾何不從汝而死也?死而有知,其幾何離?死而無知,悲不幾時,而不悲者無窮期矣!

    汝之子,始十歲,吾之子始五歲,少而強者不可保,如此孩提者,又可冀其成立邪?嗚呼!哀哉!嗚呼!哀哉!

    汝去年書雲:“比得軟腳病,往往而劇。”吾曰:“是病也,江南之人常常有之,未始以為憂也。”嗚呼!其竟以此而殞其生乎?抑別有疾而至斯乎?

    汝之書六月十七日也。東野雲:汝歿以六月二日。耿蘭之報無月日。蓋東野之使者不知問家人以月日;如耿蘭之報不知當言月日。東野與吾書乃問使者使者,妄稱以應之耳。其然乎?其不然乎?

    今吾使建中祭汝,弔汝之孤與汝之乳母。彼有食可守以待終喪,則待終喪而取以來;如不能守以終喪則遂取以來。其餘奴婢,並令守汝喪。吾力能改,葬終葬汝於先人之兆,然後惟其所願。

    嗚呼!汝病吾不知時;汝歿,吾不知日;生不能相養以共居;歿不能撫汝以盡哀;歛不憑其棺;窆不臨其穴。吾行負神明而使汝夭;不孝不慈而不得與汝相養以生;相守以死。一在天之涯,一在地之角;生而影不與吾形相依,死而魂不與吾夢相接,吾實為之,其又何尤?彼蒼者天曷其有極?

    自今以往,吾其無意於人世矣。當求數頃之田於伊潁之上,以待餘年,教吾子與汝子幸其成;長吾女與汝女,待其嫁;如此而已。

    嗚呼!言有窮而情不可終!汝其知也邪?其不知也邪?嗚呼!哀哉!尚饗。

    Tế Thập Nhị lang văn (Hàn Dũ)

    Quý phụ, Dũ, văn nhữ táng chi thất nhật, nãi năng hàm ai trí thành, sử Kiến Trung viễn cụ thời tu chi điện, cáo nhữ Thập Nhị lang chi linh:

    Ô hô! Ngô thiếu cô, cập trưởng bất tỉnh sở hỗ, duy huynh tẩu thị y. Trung niên, huynh một nam phương, ngô dữ nhữ câu ấu, tòng tẩu quy táng Hà Dương, ký hựu dữ nhữ tựu thực Giang Nam; linh đinh cô khổ, vị thường nhất nhật tương ly dã.

    Ngô thượng hữu tam huynh, dai bất hạnh tảo thế, thừa tiên nhân hậu giả, tại tôn duy nhữ, tại tử duy ngô, lưỡng thế nhất thân, hình đan ảnh chích. Tẩu thường phủ nhữ chỉ ngô nhi ngôn viết: “Hàn thị lưỡng thế, duy thử nhi dĩ”. Nhữ thời do tiểu, bất đắc ký ức; ngô thời tuy năng kí ức, diệc vị tri kì ngôn chi bi dã.

    Ngô niên thập cửu, thủy lai kinh thành, kỳ hậu tứ niên nhi quy thị nhữ; hựu tứ niên ngô vãng Hà Dương tỉnh phần mộ, ngộ nhữ tòng tẩu tang lai táng; hựu nhị niên ngô tá Đổng Thừa tướng vu Biện Châu, nhữ lai tỉnh ngô; chỉ nhất tuế, thỉnh quy thủ kỳ noa. Minh niên, Thừa tướng hoăng, ngô khứ Biện Châu, nhữ bất quả lai. Thị niên ngô tá nhung Từ Châu, sử thủ nhữ giả thủy hành, ngô hựu bãi khứ, nhữ hựu bất quả lai. Ngô niệm nhữ tòng ư đông, đông diệc khách dã, bất khả dĩ cửu; đồ cửu viễn giả mạc như tây qui, tương thành gia nhi nhi nhữ. Ô hô! Thục vị nhữ cự khứ ngô nhi một hồ?

    Ngô dữ nhữ câu niên thiếu, dĩ vi tuy tạm tương biệt, chung đương cửu dữ tương xử, cố xá nhữ nhi lữ thực kinh sư, dĩ cầu đẩu hộc chi lộc. Thành trí kì như thử, tuy vạn thặng chi công tướng, ngô bất dĩ nhất nhật xuyết nhữ nhi tựu dã.

    Khứ niên, Mạnh Đông Dã vãng, ngô thư dữ nhữ viết: “Ngô, niên vị tứ thập, nhi thị mang mang, nhi phát sương sương, nhi xỉ nha dao động, niệm chư phụ dữ chư huynh, dai khang cường nhi tảo thế, như ngô chi suy giả, kỳ năng cửu tồn hồ? Ngô bất khả khứ, nhữ bất khẳng lai, củng đán mộ tử nhi nhữ bão vô nhai chi thích dã”. Thục vị thiếu giả một nhi trường giả tồn, cường giả yểu nhi bệnh giả toàn hồ?

    Ô hô! Kỳ tín nhiên da? Kỳ mộng da? Kỳ truyền chi, phi kỳ chân da? Tín dã? Ngô huynh chi thịnh đức nhi yểu kỳ tự hồ? Nhữ chi thuần minh nhi bất khắc mông kỳ trạch hồ? Thiếu giả, cường giả nhi yểu một? Trưởng giả, suy giả nhi tồn toàn hồ? Vị khả dĩ vi tín dã, mộng dã, truyền chi ngoại, phi kì chân dã. Đông Dã chi thư, Cảnh Lan chi báo hà vi nhi tại ngô trắc dã?

    Ô hô! Kỳ tín nhiên hĩ, ngô huynh chi thịnh đức nhi yểu kỳ tự hĩ; nhữ chi thuần minh nghi nghiệp kỳ gia giả, bất khắc mông kỳ trạch hĩ. Sở vị thiên giả, thành nan trắc, nhi thần giả, thành nan minh hĩ! Sở vị lí giả bất khả suy nhi thọ giả bất khả tri hĩ!

    Tuy nhiên, ngô tự kim niên lai, sương sương giả hoặc hóa nhi vi bạch hĩ, động dao giả hoặc thoát nhi lạc hĩ; mao huyết nhật ích suy, chí khí nhật ích vi, kỷ hà bất tòng nhữ nhi tử dã? Tử nhi hữu tri, kỳ kỷ hà li? Tử nhi vô tri, bi bất kỷ thì, nhi bất bi giả vô cùng kỳ hĩ!

    Nhữ chi tử, thủy thập tuế, ngô chi tử thủy ngũ tuế. Thiếu nhi cường giả bất khả bảo, như thử hài đề giả, hựu khả ký kỳ thành lập da? Ô hô! Ai tai! Ô hô! Ai tai!

    Nhữ khứ niên thư vân: “Tỉ đắc nhuyễn cước bệnh, vãng vãng nhi kịch”. Ngô viết: “Thị bệnh dã, Giang Nam chi nhân thường thường hữu chi, vị thủy dĩ vi ưu dã”. Ô hô! Kỳ cánh dĩ thử nhi vẫn kỳ sinh hồ? Ức biệt hữu tật nhi chí tư hồ?

    Nhữ chi thư lục nguyệt thập thất nhật dã. Đông Dã vân: Nhữ một dĩ lục nguyệt nhị nhật. Cảnh Lan chi báo vô nguyệt nhật. Cái Đông Dã chi sứ giả, bất tri vấn gia nhân dĩ nguyệt nhật; như Cảnh Lan chi báo bất tri đương ngôn nguyệt nhật. Đông Dã dữ ngô thư nãi vấn sứ giả, sứ giả vọng xưng dĩ ứng chi nhĩ. Kỳ nhiên hồ? Kỳ bất nhiên hồ?

    Kim ngô sử Kiến Trung tế nhữ, điếu nhữ chi cô dữ nhữ chi nhũ mẫu. Bỉ hữu thực khả thủ dĩ đãi chung tang, tắc đãi chung tang nhi thủ dĩ lai; như bất năng thủ dĩ chung tang tắc toại thủ dĩ lai. Kỳ dư nô tì, tịnh lịnh thủ nhữ tang. Ngô lực nang cải táng, chung táng nhữ ư tiên nhân chi triệu, nhiên hậu duy kỳ sở nguyện.

    Ô hô! Nhữ bệnh ngô bất tri thì; nhữ một, ngô bất tri nhật; sinh bất năng tương dưỡng dĩ cộng cư, một bất năng phủ nhữ dĩ tận ai; liễm bất bằng kỳ quan, biếm bất lâm kỳ huyệt. Ngô hành phụ thần minh nhi sử nhữ yểu; bất hiếu bất từ nhi bất đắc dữ nhữ tương dưỡng dĩ sinh, tương thủ dĩ tử. Nhất tại thiên chi nhai, nhất tại địa chi giác; sinh nhi ảnh bất dữ ngô hình tương y, tử nhi hồn bất dữ ngô mộng tương tiếp, ngô thực vi chi, kỳ hựu hà vưu? Bỉ sương giả thiên hạt kỳ hữu cực?

    Tự kim dĩ vãng, ngô kỳ vô ý ư nhân thế hĩ. Đương cầu sổ khoảnh chi điền ư Y, Dĩnh chi thượng, dĩ đãi dư niên; giáo ngô tử dữ nhữ tử hạnh kỳ thành; trưởng ngô nữ dữ nhữ nữ, đãi kỳ giá; như thử nhi dĩ.

    Ô hô! Ngôn hữu cùng nhi tình bất khả chung! Nhữ kỳ tri dã da? Kỳ bất tri dã da? Ô hô! Ai tai! Thượng hưởng.

    Bài văn tế Thập nhị lang (Hàn Dũ)

    Chú Út là Dũ nghe cháu mất đã 7 ngày mới ngậm được thương, hết lòng thành sai Kiến Trung ở xa biện đủ các thức đang mùa, đến tế cháu, cáo trước vong linh cháu là Thập Nhị lang rằng:

    Than ôi! Chú sớm mồ côi, lớn lên không biết dong nhan cha mẹ, chỉ nhờ anh và chị dâu 64 . Anh đương tuổi trung niên, mất ở phương Nam, chú với cháu đều còn nhỏ, theo chị đưa anh về chôn ở Hà Dương, rồi lại cùng với cháu lánh nạn ở Giang Nam; chú cháu linh đinh cô khổ, chưa hề xa nhau một ngày.

    Chú có 3 ông anh, chẳng may đều mất sớm, nối dõi tổ tiên về hàng cháu duy có cháu, về hàng con duy có chú, hai đời mà mỗi đời chỉ có một người hình ảnh lẻ loi. Chị thường vỗ cháu chỉ chú mà bảo: “Hai đời họ Hàn chỉ còn 2 đứa này thôi”. Cháu lúc đó còn nhỏ, không nhớ được; chú tuy nhớ được nhưng chưa thấu được cái buồn trong lời ấy.

    Chú 19 chín tuổi mới lại kinh thành, 4 năm sau trở về thăm cháu; lại 4 năm sau chú về Hà Dương thăm mồ mả, nhằm lúc cháu về đó chôn chị; lại 2 năm sau chú giúp việc quan Thừa tướng họ Đổng ở Biện Châu, cháu lại thăm chú, chỉ ở chơi một năm rồi xin về đón vợ con lại. Năm sau quan Thừa tướng mất, chú dời Biện Châu, cháu không lại được nữa. Năm đó chú giúp việc binh ở Từ Châu, mới sai người đi đón cháu, thì chú lại xin thôi quan và cháu lại không gặp chú. Chú nghĩ cháu theo chú sang đông 65 thì miền đông là đất khách, không thể ở lâu; muốn tính chuyện lâu dài thì không gì bằng về tây 66 , chú mới thu xếp việc nhà để đón cháu. Ô hô! Ai ngờ cháu lại vội đi mà bỏ chú lại như vậy.

    Chú với cháu đều còn ít tuổi, cho rằng tuy tạm xa nhau, sau tất cùng ở với nhau lâu được, nên chú mới bỏ cháu mà lên trọ kinh sư, cầu cái lộc một thưng một đấu 67 . Nếu biết trước như vậy thì dẫu làm đến công hầu, tể tướng, được vạn cổ xe, chú cũng không ham mà xa cháu đến một ngày vậy!

    Năm ngoái ông Mạnh Đông Dã 68 tới Hà Dương, chú viết thư cho cháu có câu: “Chú chưa đầy bốn mươi mà mắt đã mờ, tóc đã hoa râm, răng đã lung lay, nghĩ cha và mấy anh đều khang cường mà mất sớm, suy yếu như chú đây, làm sao mà thọ được? Chú không lại với cháu được, cháu không lại thăm chú được, sợ một ngày kia chú chết thì cháu ôm cái buồn vô hạn đấy”. Nào ai ngờ nhỏ thì chết mà lớn lại còn, kẻ mạnh thì yểu mà người đau lại sống?

    Than ôi! Sự thật chăng? Hay là mộng chăng? Người ta đồn vậy mà không thực chăng? Bảo là tin được thì sao anh ta đức đầy mà con nối dõi lại chết non? Sao cháu thuần minh mà không được hưởng phúc? Sao kẻ nhỏ mạnh lại chết non mà kẻ lão, đau yếu lại sống? Thế thì chưa đáng làm tin vậy! Là mộng đấy, người ta đồn đấy, không có gì thực đâu. Nhưng nếu vậy, sao bức thư của Đông Dã, tờ báo tin của Cảnh Lan lại ở bên cạnh ta đây?

    Than ôi! Quả là đáng tin vậy. Anh ta đức dầy mà con nối dõi lại yểu; cháu thuần minh đáng nối nghiệp nhà mà lại không được hưởng phúc. Cái gọi là mệnh trời thật khó lường, mà cái gọi là thần minh cũng thật khó rõ! Cái gọi là lý không đoán được mà cái gọi là thọ không biết được!

    Tuy nhiên, chú từ nay trở đi, mớ tóc hoa râm này đã có chỗ hoá bạc, hàm răng lung lay này đã có cái rụng, khí huyết mỗi ngày một suy, chí khí mỗi ngày một kém, chẳng bao lâu nữa cũng theo cháu mà chết thôi. Chết mà biết, biệt ly chẳng lâu! Chết mà không biết, đau xót mấy lúc, mà cái thời không biết đau xót mới là vô cùng! 69

    Con của cháu mới 10 tuổi, con của chú mới 5 tuổi. Trẻ mạnh mà còn không bảo toàn được thì tụi con nít như vậy, mong gì thành lập được? Ô hô! Buồn thay! Ô hô! Buồn thay!

    Năm ngoái cháu viết thư nói: “Gần đây cháu bị bệnh phù chân, thỉnh thoảng phát nặng”. Chú đáp: “Bệnh đó, người Giang Nam thường bị, chưa đáng lo”. Ô hô! Sau cháu vì bệnh ấy mà đoản mệnh ư! Hay là mắc bệnh khác mà đến nỗi vậy?

    Thư cháu đề ngày 17 tháng 6. Ông Đông Dã nói cháu mất ngày mùng 2 tháng 6. Tờ tin của Cảnh Lan không đề ngày tháng. Là vì người mà ông Đông Dã sai đi không biết hỏi gia nhân ngày tháng cháu mất; còn Cảnh Lan báo tin mà không hiểu cái lẽ phải cho biết ngày tháng. Ông Đông Dã khi viết thư cho chú, hỏi người sai đi, người này không biết mà đáp càn. Phải như vậy không? Hay là không phải vậy?

    Nay chú sai Kiến Trung lại tế cháu, viếng con côi và nhũ mẫu của cháu. Nếu những người đó đủ ăn đợi cho đến hết tang thì ở lại cho đến hết tang rồi chú sẽ đón về ở với chú; nếu không giữ được cho đến hết tang thì chú cho đón ngay. Còn nô tì thì đều bắt để tang cháu. Chú đủ sức để cải táng cháu vào bên cạnh mồ mả tổ tiên, có vậy mới toại nguyện chú.

    Hỡi ơi! Cháu đau, chú không biết lúc nào; cháu mất chú không hay ngày nào; cháu sống chú không nuôi được cháu để ở chung với nhau; cháu chết không được vỗ thây cháu mà khóc; khi liệm cháu, chú không đứng dựa bên quan tài; khi chôn cất, chú không đưa tới huyệt! Hạnh kiểm của chú trái với thần minh nên cháu mới yểu; chú bất hiếu, bất từ nên mới không được cùng cháu nuôi nhau để sống với nhau cho đến chết. Một kẻ ở chân trời, một kẻ ở góc biển; cháu sống mà ảnh cháu chẳng cùng với hình chú dựa nhau, cháu chết mà hồn cháu chẳng được gặp chú trong giấc mộng; thực là tại chú cả, còn oan nỗi gì? Trời xanh xanh kia! Khổ bao giờ hết!

    Từ nay trở đi, chú không còn bụng gì mà nghĩ đến nhân thế nữa. Chỉ cần có vài miếng ruộng ở Y, Dĩnh 70 để đợi tuổi thừa, dạy bảo con chú và con cháu may mà chúng thành người; nuôi con gái chú và con gái cháu, đợi chúng xuất giá, chỉ cầu bấy nhiêu thôi!

    Hỡi ơi! Lời thì hết mà tình thì vô cùng! Cháu biết cho chăng? Không biết cho chăng? Ô hô! Buồn thay! Buồn thay! Mời cháu về mà hưởng!

    b. Liễu Tông Nguyên 柳宗元 (773-819)

    Liễu Tông Nguyên, tự là Tử Hậu 子厚, người Hà Đông, đồng thời với Hàn Dũ và cũng chủ trương phục cổ như Hàn, song tư tưởng và văn chương có chỗ khác nhau. Chính ông cũng nhận vậy khi ông nói với môn đệ: “Sở kiến mỗi người một khác nên các trò đừng lấy ý kiến họ Hàn mà trách thầy”.

    Hàn chỉ sùng đạo Nho, Liễu thì tôn cả Lão và Phật. Hàn là một nhà truyền đạo, Liễu chỉ là một văn nhân.

    Giọng Hàn mạnh mẽ, giọng Liễu thanh tao. Liễu lại có tài riêng về lối du ký. Ở dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một bài trong loại ấy.

    邕州馬退山茅亭記

    冬十月作新亭於馬退山之陽;因高丘之阻以麵勢。無欂櫨節梲之華,不斫椽,不剪茨,不列牆,以白雲為藩籬,碧山為屏風,昭其儉也。

    是山崒然起於莽蒼之中,馳奔雲矗,亙數十百裏,尾蟠荒陬,首注大溪,諸山來朝,勢若星拱

    每風止雨收,煙霞澄鮮,輒角巾鹿裘,率昆弟,友生,冠者五六人步山椒而登焉。於是手揮絲桐,目送還雲西山爽氣在我襟袖,以極萬類,攬不盈掌。

    夫美不自美,因人而彰。蘭亭也不遭右軍,則清湍修竹,蕪沒於空山矣。是亭也,僻介閩嶺,佳境罕到,不書所作,使盛跡鬱湮,是貽林澗之愧,故誌之。

    Ung Châu Mã Thoái mao đình ký

    Đông thập nguyệt tác tân đình ư Mã Thoái sơn chi dương; nhân cao khâu chi trở dĩ diện thế. Vô bạc lô tiết chuyết chi hoa, bất trác duyện, bất tiễn từ, bất liệt tường, dĩ bạch vân vi phiên ly, bích sơn vi bình phong, chiêu kỳ kiệm dã.

    Thị sơn tuỵ nhiên khởi ư mãng sương chi trung, trì bôn vân súc, cắng sổ thập bách lý, vĩ bàn hoang su, thủ chú đại khê, chư sơn lai triều, thế nhược tinh củng…

    …Mỗi phong chỉ vũ thu, yên hà trừng tiên, chiếp giác cân lộc cừu, suất côn đệ hữu sinh, quán giả ngũ lục nhân bộ sơn tiêu nhi đăng yên. Ư thị thủ huy ti đồng, mục tống hoàn vân, Tây sơn sảng khí, tại ngã khâm tụ, dĩ cực vạn loại, lãm bất doanh chưởng.

    Phù mỹ bất tự mỹ, nhân nhân nhi chương. Lan Đình dã bất tao Hữu quân, tắc thanh thoan tu trúc, vu một ư không sơn hĩ. Thị đình dã, tích giới Mân lĩnh, giai cảnh hãn đáo, bất thư sở tác, sử thịnh tích uất nhân, thị di lâm giản chi quý, cố chí chi.

    Bài ký 71 căn nhà nghỉ mát bằng lá ở núi Mã Thoái tại châu Ung (Liễu Tông Nguyên)

    Mùa Đông, tháng 10, ở phía Nam núi Mã Thoái, nhân có gò cao ngăn cách, mới theo đó mà định hướng. Cột lớn, cột nhỏ, chân cột, đầu cột đều không chạm trổ, đòn tay không đẽo đục, lá lợp không cắt, chỉ có vách mà không xây tường; mượn mây trắng làm hàng rào, núi xanh làm bình phong để rõ sự tiết kiệm.

    Núi đó đột nhiên nổi trong đám cỏ rậm, mây chạy đùn lại một chỗ, suốt mấy trăm dặm, đuôi núi quanh quất một góc, đầu ngó xuống dòng suối lớn, các núi khác hưởng cả lại, núi ấy như một chòm sao chung quanh một ngôi sao lớn… 72

    Mỗi khi gió ngừng, mưa tạnh, mây ráng tươi đẹp, bèn bận khăn xéo áo cừu, dắt anh em bạn bè, 5, 7 thanh niên, trèo bực núi mà lên. Lúc đó tay gẩy đờn cầm bằng gỗ đồng 73 , mắt nhìn mây về, khí trong sạch núi Tây ở cổ tay, tay áo ta, vạn cảnh rực rỡ nắm không đầy một vốc 74 .

    Cảnh đẹp không tự nó đẹp, nhờ người mới nổi tiếng. Lan Đình nếu chẳng gặp ông Hữu quân thì dòng suối trong, bụi trúc cao cũng bị cỏ lắp trong núi hoang vậy chứ ai mà nhắc tới. Nhà nghỉ mát này hẻo lánh ở núi Mân 75 , ít người đến ngắm cảnh đẹp, nếu không chép việc đó, khiến dấu tốt bị che lấp, thì tức là làm xấu hổ rừng, khe, vì vậy mà ghi lại.

    c. Lý Bạch 李白

    Lý Bạch cũng lưu lại nhiều bài cổ văn bất hủ như bức thư gởi Hàn Kinh Châu 與韓荊州書 và bài tự “Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận” dưới đây mà lời cực kỳ khoáng đạt.

    春夜宴桃李園序

    夫天地者,萬物之逆旅;光陰者,百代之過客;而浮生若夢,爲歡幾何?古人秉燭夜遊,良有以也。況陽春召我以煙景,大塊假我以文章。會桃李之芳園,序天倫之樂事。群季俊秀,皆爲惠連;吾人詠歌,獨慚康樂,幽賞未已,高談轉清。開瓊筵以坐華,飛羽觴而醉月。不有佳作,何伸雅懷?如詩不成,罰依金谷酒數。

    Xuân dạ yến đào lý viên tự

    Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ; quang âm giả, bách đại chi quá khách; nhi phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà? Cổ nhân bỉnh chúc dạ du, lương hữu dĩ dã. Huống dương xuân chiêu ngã dĩ yên cảnh, đại khối dả ngã dĩ văn chương. Hội đào lý chi phương viên, tự thiên luân chi lạc sự. Quần quý tuấn tú, giai vi Huệ Liên; ngô nhân vịnh ca, độc tàm Khang Lạc, U thưởng vị dĩ, cao đàm chuyển thanh. Khai quỳnh diên dĩ toạ hoa, phi vũ trường nhi tuý nguyệt. Bất hữu giai tác, hà thân nhã hoài? Như thi bất thành, phạt y Kim Cốc tửu sổ.

    Bài tựĐêm xuân uống rượu trong vườn đào mận

    Trời đất là quán trọ của vạn vật, quang âm là khách qua đường của trăm đời, mà kiếp phù sinh như mộng, lúc vui được bao! Cổ nhân đốt đuốc chơi đêm, thực là hữu lý. Huống chi mùa xuân ấm áp đem mây khói mà mời đón, trời đất mênh mông đem cảnh đẹp mà giúp vui. Họp trong vườn thơm đào, mận, bày tiệc vui giữa anh em. Các em tuấn tú đều giỏi như Huệ Liên 76 ; bọn ta ca vịnh, riêng thẹn với Khang Lạc 77 . Ngắm cảnh chưa chán, xoay ra thanh đàm 78 , mở tiệc ngồi dưới hoa, vung chén 79 say với nguyệt.

    Nếu chẳng có văn hay, sao tả được lòng nhã? Như thơ không thành, phạt theo số rượu ở Kim Cốc 80 .

    4. TIỂU THUYẾT

    a. Các loại và ảnh hưởng

    Các đời trước, văn nhân ít ai chịu viết tiểu thuyết, cho nó là một loại không đứng đắn; tới thế kỷ thứ 8, đoản thiên tiểu thuyết mới thịnh hành, kết cấu khéo léo, nhờ các tiểu thuyết gia đọc kinh Phật rồi bắt chước lối viết truyện của Ấn Độ. Họ chịu khó tưởng tượng nhiều chi tiết và đẽo gọt câu văn cho bóng bảy, nên tác phẩm của họ đã có giá trị.

    Tiểu thuyết đời Đường đều chép trong 2 bộ: Đường đại tùng thư 唐代叢書 và Thái bình quảng ký 太平廣記.

    Theo thể tài, có thể phân biệt ba loại:

    • Loại hào hiệp như Hồng Tuyến truyện 紅綫傳, Lưu Vô Song truyện 劉無雙傳, Tạ Tiểu Nga truyện 謝小娥傳…
    • Loại diễm tình như Chương đài liễu truyện 章台柳傳, Trường hận ca truyện 長恨歌傳.
    • Loại thần quái như Tần mộng ký 秦夢記, Nam Kha ký 南柯記, Ly hồn ký 離魂記…

    Sự phân biệt đó hơi miễn cưỡng vì trong loại hào hiệp như truyện Tạ Tiểu Nga cũng có phần thần quái, trong loại diễm tình như truyện Chương đài liễu cũng có phần hào hiệp và truyện thần quái Ly hồn ký cũng có những trang diễm tình.

    Ảnh hưởng của những tiểu thuyết ấy rất lớn: nhiều bộ được dùng làm tài liệu cho các tuồng đời Minh và Thanh, như tuồng Tây tương ký 西廂記 gốc ở Hội chân ký 會真記, Trường sinh điện 長生殿 gốc ở truyện Trường hận ca.

    b. Tác giả

    Tiểu thuyết gia có tên tuổi ở đời Đường cũng khá đông, chúng tôi xin kể ít tên và tóm tắt vài truyện của họ.

    • Thẩm Ký Tế 沈旣濟 (750-800) chép nhiều truyện hồ ly mà sau Bồ Tùng Linh (đời Thanh) mô phỏng để viết bộ Liêu Trai.
    • Thẩm Á Chi 沈亞之, văn chương hoa mỹ, tác giả nhiều truyện tình hoảng hốt và truyện tiên quỷ.
    • Bạch Hành Giản 白行簡, em Bạch Cư Dị, viết thiên diễm tình Lý Oa (李娃傳) kể truyện một danh kỷ ở Trường An, tên là Lý Oa. Một công tử nọ mê nàng mà sinh ra truỵ lạc, đến nỗi phải ăn xin, nàng cứu giúp, khuyên răn, sau công tử đó tu tỉnh, thi đậu và kết hôn với nàng.
    • Lý Công Tá 李公佐 (770-851), tác giả bộ Nam Kha ký, thuật truyện Thuần Vu Phần nằm mộng thấy đến nước Hoè An được vua gả công chúa cho, lại phong làm thái thú quận Nam Kha, 30 năm sau đánh giặc thua, công chúa lại chết, vua đuổi về cố hương. Mê tới đó thì Thuần Vu Phần tỉnh dậy thấy mình nằm ngủ dưới gốc một cây hoè, phía nam gốc đó có một ổ kiến.
    • Đỗ Quang Đình 杜光停, soạn truyện Cầu nhiêm khách 虬髯客 (ông khách râu quăn) mà Hồ Thích khen là hay nhất đời Đường. Truyện kể đời một thiếu niên tên là Lý Tĩnh lại yết kiến quan Tư không là Dương Tố; nàng hầu của Dương thấy tướng mạo chàng có vẻ anh hùng, trốn theo chàng. Sau chàng gặp một người nghĩa hiệp râu quăn. Người này cũng muốn lập sự nghiệp đế vương, nhưng khi thấy tướng mạo Lý Thế Dân đáng là một vị thiên tử, tự xét mình không tranh ngôi quý với Thế Dân được, bèn bỏ Trung Quốc mà đi, sau khi đã đem hết gia sản giúp Lý Tĩnh để phò tá Lý Thế Dân mà dựng nên nhà Đường. Cuối cùng có tin hiệp sĩ râu quăn đó giết vua nước Phù Dư, tự lập làm vua. Thì ra hiệp sĩ chịu làm vua một nước nhỏ chứ không chịu làm tể tướng một nước lớn.

     

    5. CÔNG CUỘC DỊCH THUẬT

    a. Dân tộc Trung Quốc đối với những văn minh ngoại lai

    Dân tộc Trung Hoa văn minh sớm, lại sống ở một miền mà chung quanh toàn là những giống người dã man, nên họ có óc khinh thị ngoại nhân, tự khoe mình là nước Trời, còn người nước khác thì cho là mọi rợ. Chính những dân tộc này cũng tự nhận địa vị thấp kém ấy về văn hóa; ta đã thấy 5 rợ Hồ ở phương Bắc dù thắng người Trung Hoa về vũ bị, giày xéo non sông họ nhưng rồi cũng theo văn minh họ, đồng hoá với họ, ăn mặc như họ, học tiếng họ, dùng chữ họ, thờ những ông thánh của họ và lấy làm vinh hạnh được cưới con gái của họ.

    Vì có tinh thần tự tôn ấy, nên mỗi khi Trung Hoa gặp một văn minh ngoại lai, mới lạ, thường tỏ vẻ khinh thị, nghi ngờ. Song khi họ thấy được nhược điểm của họ và ưu điểm của người thì họ cũng biết phục thiện ngay và trở lại suy tôn văn minh ấy, cố bắt chước cho được để rồi đồng hoá nó, lấy sinh khí mới của nó mà bồi dưỡng văn minh của họ. Trước họ khinh thị bao nhiêu thì nay họ sôi nổi đua theo bấy nhiêu, thành thử có học giả phê bình họ là một dân tộc có khi thủ cựu không ai bằng, nhưng lại có khi lại ham mới cũng không ai bằng.

    Đọc văn học sử Trung Quốc, ta thấy 2 thời kỳ mà họ hăng hái học của người:

    * Thời kỳ thâu thập văn minh Ấn Độ ở các thế kỷ thứ 6, thứ 7, và thứ 8 (đời Lục Triều và Đường).

    * Thời kỳ thu thập văn minh phương Tây, bắt đầu ở cuối thế kỷ 19 và còn kéo dài tới ngày nay.

    Trong những thời kỳ ấy, công việc dịch thuật sách ngoại quốc phát triển mạnh mẽ vô cùng. Ở đây chúng tôi hãy xét phong trào dịch thuật kinh Phật, tới cuối bộ sẽ xét phong trào dịch sách Âu, Mỹ.

    b. Đạo Phật vào Trung Quốc

    Đạo Phật vào Trung Quốc từ đời Tần. Lương Khải Siêu, một học giả cuối đời Thanh, nói: Tần Cảnh Hiến là người đầu tiên đọc kinh Phật, Nghiêm Phật Điều là người thứ nhất dịch kinh Phật ở Trung Quốc mà 2 người đó ở thế kỷ thứ nhất hoặc thứ nhì.

    Thực ra Nghiêm Phật Điều không dịch kinh Phật, chỉ giúp một người Ba Tư tên là An Thế Cao dịch thôi.

    Tới đời Hán ảnh hưởng của Phật giáo còn ít; qua đời Đông Tấn và Nam, Bắc Triều, nhân xã hội Trung Hoa hủ bại, tư tưởng đã cằn cỗi, văn hóa của Ấn Độ mới theo rợ Hồ mà xâm nhập rất dễ dàng và do đó đạo Phật bỗng phát triển mạnh mẽ vô cùng. Sử chép thời Bắc Triều đã có 893 chùa Phật và ở Lạc Dương, các thầy sãi các nước họp nhau lại có trên 3000 người. Phong trào đó lan dần xuống phương Nam.

    c. Phong trào dịch thuật

    Từ đời Đông Hán đến Thịnh Đường, trong khoảng 700 năm, có tới 1376 dịch giả, dịch hết thảy được 2278 bộ kinh, sách về Phật, gồm 7046 quyển.

    Công việc phiên dịch ấy có thể chia làm 3 thời kỳ:

    * Từ Đông Hán đến Tây Tấn (khoảng 250 năm) dịch chưa có hệ thống gì.

    * Từ Đông Tấn đến Tuỳ (khoảng 270 năm) đã thấy những dịch phẩm có giá trị, như bộ Pháp Hoa 法華, bộ Đại phẩm 大品… tuy dịch chưa được sát nghĩa, song không thiếu phần thú vị về văn chương. Dịch giả đại biểu cho thời ấy là một người Tây Vực tên là Cưu Ma La Thập 鳩摩羅什.

    * Thời kỳ thứ ba từ đầu đời Đường trở đi (khoảng 160 năm). Đại biểu các dịch giả thời ấy là Huyền Trang 玄奘 mà nhiều người gọi là Đường tăng (vị sư nhà Đường).

    Vị hoà thượng mạo hiểm số một của Trung Quốc ấy để lại một sự nghiệp vĩ đại. Ông một mình qua Tây Vực học đạo. Ai đã đọc bộ Tây du ký chắc đã biết nỗi gian lao của ông ra sao. Ông ở Tây Vực 17 năm, giao thiệp với các hoà thượng khắp các nước, tới đâu cũng được các quốc vương tiếp đãi long trọng, liệt vào hàng Quốc sư. Ông làm nổi danh cho Trung Quốc rất nhiều.

    Ở Ấn Độ, ông chở về 657 bộ kinh, rồi trong 18 năm trời, ông miệt mài dịch (645-663), trước sau 73 bộ, cộng 1330 quyển.

    Ông làm được sự nghiệp không tiền ấy nhờ ông kiên tâm và có phương pháp. Mỗi ngày ông lập chương trình phải dịch bao nhiêu tờ, nếu ngày nào không xong thì đêm phải thức khuya thêm để tiếp tục. Thường canh ba ông mới nghỉ và canh năm đã dậy, thuyết pháp cho trên 100 môn đệ, rồi lại dịch, ngày nào như ngày nấy, năm này qua năm khác, sức làm việc của ông thật kinh thiên.

    Ông dịch cốt đúng nguyên văn, khác hẳn những người trước ông.

    Sau ông, Nghĩa Tĩnh 義靜 qua Ấn Độ lấy được thêm 400 bộ kinh nhưng dịch không được mấy.

    d. Ảnh hưởng của công việc dịch kinh Phật

    Theo Lương Khải Siêu, ảnh hưởng đó rất lớn:

    * Dụng ngữ của Trung Quốc giàu thêm được trên 3 vạn rưởi tiếng. Số đó căn cứ theo số danh từ trong “Phật giáo đại từ điển”. Có những tiếng dịch theo âm tiếng Phạn như Nát bàn, Sát na (một thời gian rất ngắn), phù đồ (chùa Phật), có tiếng thì dịch nghĩa như: chân như, vô minh, chúng sinh…

    Mà thêm được 35 ngàn tiếng tức thêm 35 ngàn quan niệm.

    * Văn bạch thoại phát đạt vì lẽ các nhà dịch kinh Phật chỉ lựa những tiếng bình dị cho dễ hiểu và do đó, bỏ cổ văn mà dùng bạch thoại.

    * Văn thể thay đổi. Ngôn ngữ Ấn Độ khác ngôn ngữ Trung Hoa. Nhờ công việc dịch kinh mà có sự tiếp xúc, dung hoà giữa hai ngôn ngữ. Chẳng hạn như trong kinh Phật không dùng hư từ, đối ngẫu, mà rất hay đảo trang… đặc điểm đó ảnh hưởng một phần nào đến văn học đời Lục Triều và Đường, nhất là về phương diện âm vận.

    * Văn nhân Trung Hoa vốn ít tưởng tượng mà hay thuyết ý, nhờ đọc những truyện tân kỳ trong kinh Phật mà bắt chước viết những tiểu thuyết thần quái. Như bộ Sưu thần ký 搜神記, mà những truyện Thuỷ Hử, Hồng Lâu mộng sau này đều chịu ảnh hưởng của các kinh Đại Trang Nghiêm, Hoa Nghiêm, Nát Bàn…

     

    TÓM TẮT

    • Đời Đường không có bộ sử nào đáng lưu truyền.
    • Nhờ văn nhân nhiều người đa tài và có tinh thần sáng tác nên biền văn được ít bài bất hủ, tươi đẹp mà sáng sủa một cách tương đối, như những bài Đằng Vương các tự của Vương Bột, Điếu cổ chiến trường văn của Lý Hoa, Thảo Vũ Anh hịch của Lạc Tân Vương, A Phòng cung phú của Đỗ Mục…
    • Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Lý Bạch… là những nhà vận động phục cổ. Tư tưởng của họ không có gì đặc sắc, song tài của họ rất cao. Hàn có giọng chân thật, nhiệt thành; Liễu thì tài hoa, giỏi về du ký; Lý thì khoáng đạt.
    • Đoản thiên tiểu thuyết bắt đầu thịnh nhờ các văn nhân không chê loại đó là thấp kém nữa mà lại chịu tưởng tượng như các tiểu thuyết gia Ấn Độ. Các tiểu thuyết ấy gồm trong 2 bộ: Đường đại tùng thưThái bình quảng ký.
    • Phong trào dịch thuật kinh Phật phát triển từ Lục Triều và đến đời Đường thì toàn thịnh. Dịch giả có công nhất là Huyền Trang. Ông đem ở Ấn Độ về được 657 bộ kinh và dịch được 73 bộ. Nhờ công dịch thuật ấy mà:

      - Dụng ngữ của Trung Hoa thêm phong phú,

      - Văn bạch thoại phát đạt, nhất là về tiểu thuyết.

    --------------------------------
    1Nên nhớ Lưu Trí Cơ 劉知幾 tác giả bộ Sử thông 史通 là người đầu tiên phê bình về sử. Ông chủ trương văn viết sử phải giản khiết, chân thật.
    2Do tích đó có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương các" (Tới thời, thì gió đưa đến gác Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của kẻ gặp thời.
    3Chỉ là tên một loài cỏ.
    4Đỉnh là vạc. Chung là chuông. Nhà giàu bên Trung Quốc thời xưa ăn thì bày vạc và đánh chuông để gọi khách.
    5Nghĩa là lòng trẻ hoài, tuy tuổi đã già.
    6Ý chí cao khiết như mây xanh.
    7Đời Hán, mười dặm đặt một đình (tức trạm) để phòng trộm cướp. Đình trưởng là người coi đình ấy.
    8Tên đất.
    9Bốn dân tộc dã man ở phương Bắc.
    10Quân triều đình.
    11Lấy nhân nghĩa trị dân thì gọi là Vương đạo.
    12Một chức quan võ.
    13Tổ luyện là chiến phục của binh sĩ.
    14Tên một danh tướng.
    15Dùng hết tài sản, nhân lực trong nước.
    16Tên rợ.
    17Đại binh chi hậu, tất hữu hung niên: Sau lúc giặc giả, tát sẽ mất mùa.
    18Ý nói: hễ dùng nhân nghĩa mà quy phục các rợ thì chúng sẽ giữ bờ cõi cho mình.
    19Võ Anh, tức Võ Tắc Thiên được Đường Thái Tông tuyển làm cung nhân. Thái Tông chết, nàng cắt tóc đi tu. Thời Cao Tông, lại để tóc, được vời vào cung, sau làm hoàng hậu. Khi Cao Tông chết, nàng chuyên quyền, lâm triều, phế vua Trung Tông, đổi tên nước là Chu, chiếm ngôi được 21 năm.
    20Coi tiểu sử ở sau.
    21Tức vua Thái Tông.
    22Nói tội dâm loạn của Võ Anh.
    23Nói về việc nàng cắt tóc đi tu để che mắt thiên hạ cho người ta khỏi nhớ mình là cung nhân của Thái Tông như vậy, mới dễ bề mê hoặc Cao Tông mà thiên hạ khỏi dị nghị là Thái Tông yêu cung nhân của cha (Thái Tông).
    24Dùng cái thuật của loài chồn loài cáo.
    25Huy địch là lông con trĩ. Xe và áo hoàng hậu đều vẽ hoặc thêu hình lông trĩ.
    26Làm cho Cao Tông mang tội dâm loạn như loài hươu nai.
    27Tức ngôi cao.
    28Tức vua Trung Tông.
    29Tức bè đảng trong họ Võ Anh.
    30Hoắc Tử Mạnh và Chu Hư Hầu đều là trung thần hồi xưa.
    31Yến ở đây là Triệu Phi Yến đời Hán, giết hết con vua Hán Thành Đế để chiếm ngôi.
    32Cuối đời Lệ Vương, một cung nữ giẫm phải dãi rồng, sinh ra nàng Bao Tự, sau U Vương mê Bao Tự mà mất nước.
    33Từ Kính Nghiệp vốn trong hoàng tộc, có dũng khí, hô hào nhân dân nổi lên diệt Võ Anh.
    34Tống Vi Tử là em vua Trụ, nhà Ân bị diệt rồi, Vi Tử đi qua đất cũ, đau lòng mà làm một bài ca. Viên Quân Sơn ở đời Hán, gặp lúc vua còn nhỏ, bị ngoại thích chuyên quyền, mỗi lần bàn tới việc nước thì rỏ lệ.
    35Bách Việt và Tam Hà là tên đất.
    36Tức là xe.
    37Tên đất.
    38Tên đất.
    39Được ở đất Hán, chịu ơn huệ nhà vua, không phải người trong tôn thất.
    40Trong dòng tôn thất.
    41Chịu trách nhiệm thi hành lời di chúc.
    42Chỉ vua Trung Tông.
    43Nhớ vua Cao Tông mà giúp vua Trung Tông.
    44Hết sức giúp vua.
    45Đứng trước ngã ba, không biết theo ngã nào, ý nói do dự.
    46Tiên cơ là biết trước được điềm mừng. Hậu chí lả sẽ đến sau.
    47Minh là một bài văn xuôi thường ngắn để ghi một việc gì.
    48Người dân thường không có học.
    49Kinh Phật.
    50Tức Dương Hùng đời Hán.
    51Trong Luận ngữ có đoạn: "Tử dục cư cửu di. Hoặc viết: "Lậu, như chi hà?" Khổng Tử viết: "Quân tử cư chi tắc hoá, hà lậu chi hữu?". Nghĩa là: Khổng Tử muốn lại ở miền mọi rợ. Có kẻ hỏi: "Quê mùa quá ở sao cho nổi?" Ngài đáp: "Người quân tử ở đó thì cải hoá phong tục đi, có gì mà quê mùa?". Bốn chữ "hà lậu chi hữu" xuất ở điển ấy.
    52Bài này có vần, chúng tôi đã phải bỏ vài vần để dịch cho xuôi.
    53Coi tiểu sử ở sau.
    54Tần diệt 6 nước: Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ rồi thống nhất đất nước.
    55Ý nói đốn hết cây trên núi xứ Thục để dựng cung A Phòng.
    56Đuờng có hai lối đi.
    57Khi cung nữ thôi múa thì trong cung hoá lạnh lẽo.
    58Phi tấn các nước khác tới A Phòng làm cung nhân nước Tần.
    59Nước triều dâng lên đến cực độ gọi là đầy mà.
    60Chỉ Tần Thuỷ Hoàng.
    61Chỉ Trần Thiệp, người đầu tiên dấy binh đánh Tần.
    62Lưu Bang dấy binh ở Hàm Cốc.
    63Hạng Võ diệt Tần rồi đốt cung A Phòng.
    64Tức cha mẹ Thập Nhị lang (chàng Mười hai).
    65Tức Từ Châu.
    66Tức Hà Dương, quê quán Hàn Dũ.
    67Ý nói chức nhỏ.
    68Một thi sĩ, bạn của Hàn Dũ.
    69Ý nói: Chết mà biết thì chú cũng sắp chết, nghĩa là sắp được gặp cháu. Chết mà không biết thì chú cũng sắp chết và hết khổ, hết thương xót.
    71Một bài văn ngắn ghi một việc gì như họp bạn, cất nhà…
    72Cắt bỏ đoạn giữ kể vì lẽ gì mà cất ngôi nhà đó.
    73Một loại cây.
    74Ý nói cảnh vật chung quanh như ở trong bàn tay ta hết.
    75Tỉnh Phúc Kiến.
    76Tức em Tạ Linh Vận đời Lục Triều, rất đa tài.
    77Thi sĩ Tạ Linh Vận được phong chức Khang Lạc hầu.
    78Bàn về nghĩa lý.
    79Về chữ "vũ trường" có nhiều thuyết lắm, ta chỉ nên biết là một đồ đựng rượu.
    80Kim Cốc là tên vườn của Thạch Sùng, một đại phú gia đời Tấn. Thạch Sùng họp văn nhân ở đó, ai không làm được thơ phú thì phạt ba đấu rượu.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Vào Nơi Gió Cát

    Nguyễn Thị Hoàng

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646374]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502171]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639423]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4470998]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340382]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600266]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689429]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490724]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300092]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010118]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972320]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469861]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445476]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150479]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078419]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062479]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028645]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026274]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959332]
    25.Quỷ Bảo [921587]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907459]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876850]
    29.Hắc Nho [852012]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842898]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839983]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755905]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744902]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622349]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569273]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536740]
    41.Tầm Tần Ký [511893]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455925]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450741]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439762]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433957]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417102]
    49.If You Are Here [411806]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408041]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm