hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[793] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG VII. TỪ, PHÚ VÀ THƠ

    1. TỪ, PHÚ

    Lối phú tới đời Tấn mỗi ngày một suy.

    Tả Tư (coi tiểu sử ở sau) có bài Tam đô phú 三都賦. Tương truyền bài ấy 10 năm mới viết xong, được dân chúng hoan nghênh đặc biệt, thi nhau sao chép lại, đến nỗi giá giấy ở kinh đô bỗng vọt tăng lên. Nhưng nó chỉ là một thiên địa lý có vần, thiếu hẳn giá trị về văn chương.

    Bài Bạch phát phú 白髮賦 của ông có ý vị hơn.

    Lục Cơ 陸機 được vài bài đáng kể.

    Bão Chiếu 鲍照 thành công hơn cả. Bài Vu thành phú 蕪成賦 của ông chỉ trong vài chục câu mà tả được cảnh hưng vong của mấy triều, lời không đẽo gọt nên cảm động.

    Từ, phú đời Lục Triều đều dùng thể biền ngẫu, lời hoa mỹ, song thiếu tự nhiên và khó hiểu. Đáng dịch nhất có 2 bài: Quy khứ lai từ của Đào TiềmBắc sơn di văn của Khổng Khuê. Bài trên giọng khoáng đạt, theo thể biền ngẫu mà vẫn tự nhiên; bài dưới rực rỡ như hoa mà mỉa mai một cách thú vị.

    歸去來辭

    歸去來兮!田園將蕪,胡不歸?

    既自以心為形役奚惆悵而獨悲?

    悟已往之不諫,知來者可追。

    實迷途其未遠,覺今是而昨非。

    舟遙遙以輕颺,風飄飄而吹衣。

    問征夫以前路,恨晨光之熹微。

    乃瞻衡宇,載欣載奔。

    僮僕歡迎,稚子候門。

    三徑就荒,松菊猶存。

    攜幼入室,有酒盈樽。

    引壺觴以自酌,眄庭柯以怡顏。

    倚南窗以寄傲,審容膝之易安。

    園日涉以成趣,門雖設而常關。

    策扶老以流憩,時矯首而遊觀。

    雲無心以出岫,鳥倦飛而知還。

    景翳翳以將入,撫孤松而盤桓。

    歸去來兮!請息交以絕遊。

    世與我而相遺,復駕言兮焉求?

    悅親戚之情話,樂琴書以消憂。

    農人告余以春及,將有事於西疇。

    或命巾車,或棹孤舟。

    既窈窕以尋壑,亦崎嶇而經丘。

    木欣欣以向榮,泉涓涓而始流。

    羨萬物之得時,感吾生之行休。

    已矣乎寓形宇內復幾時,曷不委心任去留?

    胡為遑遑!欲何之?

    富貴非吾願,帝鄉不可期。

    懷良時以孤往,或植杖而耘耔。

    登東皋以舒嘯,臨清流而賦詩。

    聊乘化以歸盡,樂夫天命復奚疑!

    QUY KHỨ LAI TỪ (Đào Tiềm)

    Quy khứ lai hề! Điền viên tương vu, hồ bất quy?

    Ký tự dĩ tâm vi hình dịch hề trù trướng nhi độc bi?

    Ngộ dĩ vãng chi bất gián, tri lai giả khả truy.

    Thực mê đồ kỳ vị viễn, giác kim thị nhi tạc phi.

    Chu dao dao dĩ khinh dương, phong phiêu phiêu nhi xuy y.

    Vấn chinh phu dĩ tiền lộ, hận thần quang chi hy vi.

    Nãi chiêm hành vũ, tái hân tái bôn,

    Đồng bộc hoan nghinh, trĩ tử hậu môn.

    Tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn.

    Huề ấu nhập thất, hữu tửu doanh tôn.

    Dẫn hồ trường dĩ tự chước, miện đình kha dĩ di nhan.

    Ỷ nam song dĩ ký ngạo, thẩm dong tất chi dị an.

    Viên nhật thiệp dĩ thành thú, môn tuy thiết nhi thường quan.

    Sách phù lão dĩ lưu khế, thời kiểu thủ nhi du quan.

    Vân vô tâm dĩ xuất tụ, điểu quyện phi nhi tri hoàn.

    Cảnh ế ế dĩ tương nhập, phủ cô tùng nhi bàn hoàn.

    Quy khứ lai hề! Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du.

    Thế dữ ngã nhi tương di, phục giá ngôn hề yên cầu?

    Duyệt thân thích chi tình thoại, lạc cầm thư dĩ tiêu ưu.

    Nông nhân cáo dư dĩ xuân cập, tương hữu sự ư tây trù.

    Hoặc mệnh cân xa, hoặc trạo cô chu.

    Ký yểu điệu dĩ tầm hác, diệc khi khu nhi kinh khưu.

    Mộc hân hân dĩ hướng vinh, tuyền quyên quyên nhi thuỷ lưu.

    Tiện vạn vật chi đắc thời, cảm ngô sinh chi hành hưu.

    Dĩ hĩ hồ ngụ hình vũ nội phục kỷ thì, hạt bất uỷ tâm nhiệm khứ lưu?

    Hồ vi hoàng hoàng! Dục hà chi?

    Phú quý phi ngô nguyện, đế hương bất khả kỳ.

    Hoài lương thời dĩ cô vãng, hoặc thực trượng nhi vân ti.

    Đăng đông cao dĩ thư khiếu, lâm thanh lưu nhi phú thi.

    Liêu thừa hoá dĩ quy tận, lạc phù thiên mệnh, phục hề nghi.

    BÀI TỪ: “VỀ VƯỜN” (Đào Tiềm) 1

    Đi về, sao chẳng về đi?

    Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?

    Đem tâm để hình kia sai khiến,

    Còn ngậm ngùi than vãn với ai?

    Ăn năn thì sự đã rồi,

    Từ đây còn lại, biết thôi mới là.

    Lối đi lạc chửa xa là mấy,

    Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.

    Con thuyền thuận nẻo gió đưa,

    Gió hây hẩy áo thuyền lơ lửng chèo.

    Hỏi hành khách lối nào đi tới,

    Bóng mập mờ trời mới rạng đông;

    Miền quê nẻo trước xa trông,

    Chân hăm hở bước đường mong tới nhà.

    Chạy đón chủ năm ba đầy tớ,

    Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con;

    Rầm rì bao xóm con con,

    Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa.

    Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,

    Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò;

    Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,

    Cười nom sân trước thấp tho mấy cành.

    Ngồi giễu cợt một mình trước sổ;

    Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi;

    Thăm vườn dạo thú hôm mai,

    Cửa dù có, vẫn then cài như không.

    Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,

    Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên;

    Mây đùn mấy đám tự nhiên,

    Chim bay mỏi cánh đã quen lối về.

    Bóng chiều ngả bốn bề bát ngát,

    Quanh gốc tùng, tựa mát thảnh thơi;

    Từ đây về thực, về rồi,

    Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai.

    Ví ta đã với đời chẳng hiệp,

    Cần chi mà giao thiệp với ai;

    Chuyện trò thân thích mấy người,

    Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn.

    Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện,

    Tới xuân rồi sắp đến việc ta;

    Hoặc truyền sắm sửa cân xa 2 ,

    Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng.

    Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,

    Bên đường kia gò kéo gập ghềnh;

    Cỏ cây mơn mởn màu xanh,

    Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.

    Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,

    Ngán cho ta thôi trót già rồi;

    Thôi còn mấy nỗi ở đời,

    Khứ lưu sao chẳng phóng hoài 3 tự nhiên?

    Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ,

    Đi đâu mà tất tả vội chi;

    Giàu sang đã chẳng thiết gì,

    Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi.

    Chi bằng lúc chiều trời êm ả,

    Việc điền viên vất vả mà vui;

    Lên cao hát một tiếng dài,

    Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.

    Hình thể này mặc dầu tạo hóa,

    Tới lúc nào hết cả thì thôi.

    Lòng ta phó với mệnh trời,

    Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài.

    (TỪ LONG dịch)

    北山移文(孔珪)

    BẮC SƠN DI VĂN (Khổng Khuê)

    Di văn của núi Bắc sơn

    Khổng Khuê, người đời Lục Triều, trong bài này mượn lời thần núi Bắc sơn để phúng thích 4 bọn ẩn sĩ giả dối. Văn trong bài có thể làm tiêu biểu cho lối văn đương thời: bóng bẩy, diễm lệ, đối ngẫu, du dương nhưng khó hiểu vì quá gọn và nhiều điển.

    Bài hơi dài, chúng tôi chỉ xin tóm tắt đại ý và giới thiệu ít câu.

    Một tuấn sĩ họ Chu ẩn cư tại Bắc sơn, khi mới tới thì:

    Khinh ngạo trăm đời, miệt thị vương bá… bàn lẽ sắc không trong kinh Phật, xét đạo huyền vi của Lão Trang… như Vụ Quang nào đủ mà Quyển Tử 5 chẳng dám bằng”.

    傲百世,蔑王侯;…談空空於釋部,覈玄玄於道流…務光何足比,涓子不能儔

    (Ngạo bách thế, miệt vương hầu;… đàm không không ư Thích bộ, hạch huyền huyền ư Đạo lưu… Vụ Quang hà túc tỉ, Quyển Tử bất năng trù).

    Ngoài mặt thì vậy mà trong lòng thì “buộc tình ở tước lộc”, “gạt tùng quế, lừa mây hang”.

    誘我松桂,欺我雲壑

    (Dụ ngã tùng quế, khi ngã vân hác)

    Nên khi chiếu của nhà vua tới đón ra làm quan lệnh – tức tri huyện – thì ngài ẩn sĩ ta “hình ly, phách tán, chí biến, thần động;…đốt xiêm may bằng lá kỹ, xé áo cắt trong lá sen, bắt chước dong mạo trần tục” đến nỗi “gió mây thê lương phẫn uất; đá suối giận quá, nghẹn ngào”.

    形馳魄散,志變神動;…焚芰製而裂荷衣,抗塵容而走俗狀;…風雲凄其帶憤,石泉咽而下愴

    (Hình trì phách tán, chí biến thần động;… phần kỹ thương nhi liệt hà y, kháng trần dong nhi tẩu tục trạng;… phong vân thê kỳ đái phẫn, tuyền thạch yết nhi hạ sảng).

    Từ khi ẩn sĩ hạ san, bận bịu giấy tờ, tra khảo, mà dẹp sách, quên đạo, bỏ đờn ca, thơ rượu, thì cảnh núi vắng vẻ buồn tanh:

    Ráng cao một mình chiếu, trăng sáng lẻ loi lên; tùng xanh rủ lá, mây trắng bạn cùng ai?… Màn huệ bỏ không hề, đêm hạc oán; sơn nhân bỏ đi hề, sáng vượn kêu”.

    我高霞孤映,明月獨舉,青松落陰,白雲誰侶?…蕙帳空兮,夜鶴怨,山人去兮,曉猿驚

    (Ngã cao hà cô ưởng, minh nguyệt độc cử, thanh tùng lạc ấm, bạch vân thuỳ lữ?… Huệ trước không hề, dạ hạc oán, sơn nhân khứ hề, hiểu viên kinh).

    Kẻ kia giả dối, ham danh lợi như vậy, đến “các hang hốc cũng phải tranh nhau chê bai, núi chụm nhau nhún vai châm biếm, rừng suối hổ thẹn vô cùng… cây quế mùa thu buồn bực đẩy gió, cây lá mùa xuân phẫn uất xô trăng”.

    列壑爭譏,攢峰竦誚,…林慚無盡,澗愧不歇,…秋桂遣風,春蘿罷月

    (Liệt hác tranh ki, toàn phong tủng tiếu… lâm tàm vô tận, giản uý bất yết… thu quế khiển phong, xuân la bãi nguyệt).

    Vậy mà quan huyện nay nhân về kinh, đi ngang qua núi còn định vào thăm cảnh cũ, muốn cho:

    Cây phương đỗ phải dày mặt, cây bệ lệ phải thẹn thùng; núi xanh lại nhục, bờ đỏ thêm dơ”.

    芳杜厚顏,薜荔蒙恥,碧嶺再辱,丹崖重滓

    (Phương đỗ hậu nhan, bệ lệ mông sỉ, bích lĩnh tái nhục, đan nhai trùng chỉ).

    thì thần núi chịu sao được, tất phải:

    Đóng cửa núi, khép cửa mây, thu sương xanh về, giấu suối chảy đi, triệt hẳn đường xe vào cửa hang, cự tuyệt dây cương ở chân núi”.

    扃岫幌,掩雲關,斂清霧,藏鳴湍;截來轅於谷口,杜妄轡於郊端

    (Tuynh trục khoáng, yểm vân quan, liễm thanh vụ, tàng minh thoan; triệt lai viên ư cốc khẩu, đỗ vọng bí ư giao đoan).

    Như vậy, cây cối đều giận dữ “hoặc giương nhánh để bẻ bánh xe, hoặc hạ cành để quét vết bẩn, mời xe ngựa tục sĩ quay lại, vì thần núi tạ khách trốn đi”.

    或飛柯以折輪,乍低枝而掃迹,請回俗士駕,為君謝逋客

    (Hoặc phi kha dĩ chiết luân, sạ đê chi tảo tích, thỉnh hồi tục sĩ giá, vị quân tạ bô khách).

     

    2. THƠ

    Trong đời Lục Triều, thơ ngũ ngôn thịnh hành nhất.

    a. Thơ đời Nguỵ

    Minh tinh bực nhất trên thi đàn đời Ngụy là Tào Thực. Từ khi Thực chết, không còn thi hào nào xuất hiện. Mãi vài chục năm sau mới có bọn Trúc lâm thất hiềnNguyễn Tịch 阮籍, Kê Khang 嵇康, Lưu Linh 劉伶, Nguyễn Hàm 阮咸, Sơn Đào 山濤, Hướng Tú 向秀 và Vương Nhung 王戎.

    Như trên tôi đã nói, họ đều phóng đãng, tiêu diêu trong vũ trụ, thoát khỏi lễ nghi, khí phách của họ đúng với 4 câu:

    目送歸鴻,

    手揮五弦。

    俯仰自得,

    游心太玄。

    Mục tống phi hồng,

    Thủ huy ngũ huyền.

    Phủ ngưỡng tự đắc,

    Du tâm thái huyền.

    Mắt tiễn hồng 6 bay,

    Tay gẩy năm dây.

    Cúi ngửa tự đắc,

    U huyền thích thay.

    Họ mê sùng đạo Lão đến nỗi có kẻ nói: “Ba ngày không đọc Đạo Đức kinh thì miệng thấy hôi”.

    Người có tài nhất trong bọn họ là Nguyễn Tịch và Kê Khang.

    * Nguyễn Tịch (210-263) rất ưa rượu và đờn, làm quan rồi cáo bệnh về nhà.

    Người ta kể chuyện ông nghe nói trong bộ Binh có người bếp cất rượu rất khéo, trữ 300 hũ mỹ tửu, ông vội vàng xin làm một chức nhỏ để được nhậu. Có lần ông say luôn 60 ngày, vua Tấn muốn nói chuyện với ông mà không được.

    Ông có 82 bài thơ “Vịnh hoài” 詠懷 đều là ngũ ngôn tả tình, hoặc than thở cho thói đời đen bạc, hoặc chán cho thế sự thăng trầm, hoặc ngán cảnh phú quý như phù vân, hoặc cười công danh là trói buộc.

    Thơ ông nhiều tình ý, chỉ tiếc hơi tối nghĩa và thường có giọng dạy đời. Trong bài nào cũng hiện tâm sự đau đớn, lo lắng của ông, như:

    夜中不能寐,

    起坐彈鳴琴。

    徘徊何所見?

    憂思獨傷心。

    Dạ trung bất năng mị,

    Khởi toạ đàn minh cầm.

    Bồi hồi hà sở kiến?

    Ưu tư độc thương tâm.

    Đêm thao thức chẳng ngủ,

    Ngồi dậy gẩy đờn cầm.

    Bồi hồi thấy gì đấy?

    Lo nghĩ riêng thương tâm.

    Hoặc như:

    一日復一夕,

    一夕復一朝。

    顏色改平常,

    精神自損消。

    Nhất nhật phục nhất tịch.

    Nhất tịch phục nhất triêu.

    Nhan sắc cải bình thường,

    Tinh thần tự tổn tiêu.

    Một ngày lại một đêm,

    Một đêm lại một sớm.

    Nhan sắc đã thay đổi,

    Tinh thần lại suy kém.

    Văn xuôi của ông có nhiều bài kỳ dị như bài Đại nhân tiên sinh truyện 大人先生傳 trong đó ông ví con người trong vũ trụ như con rận ở trong quần. Ông phản đối Nho giáo, đề xướng chủ nghĩa vô chính phủ, nói: “Không có vua thì vạn vật ổn định, không có bề tôi thì mọi việc được trị; không có kẻ sang thì kẻ hèn không oán, không có kẻ nghèo thì kẻ giàu nghèo không tranh của, ai nấy đều đủ ăn mà không cầu gì nữa”. Cũng lạ là ông có tư tưởng cách mạng như vậy mà không bị vua Tấn giết.

    * Kê Khang (223-262) tuy làm quan tới chức đại phu mà luôn miệng chê vua Thang, vua Võ, khinh Văn Vương và Khổng Tử, triều đình cho là có ý phản loạn, bèn giết. Thơ ông có giọng triết lý quá. Bốn câu: “Mục tống phi hồng…” ở trang 202 là của ông.

    b. Thơ đời Tây Tấn

    Họ Tư Mã nhà Tây Tấn rất trọng văn thơ, nên danh sĩ khắp nơi tranh nhau về kinh đô. Khi hai anh em họ Lục (Lục CơLục Vân 陆機, 陸雲) về Lạc Dương, Trương Hoa nói: “Dẹp được nước Ngô không lợi bằng được 2 tuấn sĩ ấy”. Bài “Tam đô phú” của Tả Tư được mọi người sao chép lại đến nỗi giá giấy ở kinh đô cao vọt lên. Hai chuyện đó đủ tỏ người đương thời trọng văn thơ đến bực nào!

    Thi sĩ có danh nhất là Lục Cơ, Phan Nhạc và Tả Tư.

    * Lục Cơ (261-303) trọng nhạc điệu, lời đẹp nhưng ít hồn thơ.

    * Phan Nhạc 潘岳 rất đẹp trai. Tương truyền ông hồi trẻ thường ôm đàn dạo ở Lạc Dương, đàn bà con gái trông thấy, nắm tay nhau thành một vòng để vây ông, lấy hoa quả ném ông. Văn thơ ông cũng đẹp như diện mạo ông. Những bài Điệu vong thi 悼亡詩 (Thương vợ chết) rất nổi tiếng. Nay xin lựa vài câu:

    展轉眄枕席,

    長單竟床空。

    床空委清塵,

    室虛來悲風

    Triển chuyển miện chẩm tịch,

    Trường đan cánh sàng không.

    Sàng không ủy thanh trần,

    Thất hư lai bi phong.

    Trăn trở ngó nệm dài,

    Gối chiếu với giường trống.

    Giường trống bụi đóng nhiều,

    Nhà không, gió buồn lộng.

    * Tả Tư trái lại, đã xấu xí lại nói năng chậm chạp, nên không thích giao du, đóng cửa làm thi phú. Thơ ông hay nhất đương thời, có hùng khí như 2 câu dưới đây trong một bài vịnh sử:

    振衣千仞岡,

    濯足萬里流。

    Trấn y thiên nhẫn cương,

    Trạc túc vạn lý lưu.

    Rũ áo trên núi cao ngàn nhẫn,

    Rửa chân dưới dòng dài vạn dặm.

    c. Thơ đời Đông Tấn và đời Tống (317-447)

    * Đào Tiềm. Tới cuối đời Đông Tấn xuất hiện một thi nhân vĩ đại, đáng đứng đầu đời Lục Triều, tức Đào Tiềm 陶潛 (365-427).

    Ông tự là Uyên Minh 淵明, biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh 五柳先生, sinh trong một nhà nghèo và gặp thời loạn lạc, 3 lần làm quan nhỏ nhưng đều chán cảnh luồn cúi. Lần cuối cùng ông đương làm quan lệnh (tri huyện) ở Bành Trạch, nhân trên quận sai viên đốc bưu 7 đến huyện, nha lại trình với ông nên đeo đai ra đón. Ông than: “Ta có thể nào vì 5 đấu gạo (tức số lương) mà phải khom lưng ư?” rồi trả mão áo cho triều đình, về vườn ẩn cư, viết bài Quy khứ lai từ (đã trích dịch ở trên) để tỏ chí mình. Từ đó ông cày ruộng, câu cá, vui cảnh nghèo, say mùi đạo, thường uống rượu, chơi cúc, thích thảng nhàn du. Sau vua vời ra làm quan một lần nữa, ông từ chối. Người đương thời khen ông là cao khiết, tặng ông tên là Tĩnh tiết tiên sinh 靖節先生.

    Ông tuy sinh trong gia đình quý tộc mà rất bình dân, sống giữa nông phu và vạn vật. Vốn theo đạo Nho nhưng lại ưa thiên nhiên, có tâm hồn siêu trần bạt tục, nên ông thường ca vịnh thiên nhiên và trọng triết lý Lão, Trang.

    Hồ Thích bàn về ông, đại ý viết:

    Hoàn cảnh của ông sinh ra văn học bình dân, mà học vấn, tư tưởng của ông nâng cao được ý cảnh trong tác phẩm của ông, nên ý cảnh là ý cảnh của triết gia mà ngôn ngữ là ngôn ngữ bình dân. Triết học của ông là do kinh nghiệm mà có; suốt đời ông thực hành chủ nghĩa tự nhiên, không như hạng người chỉ theo thuyết huyền vi ở cửa miệng.

    Trên kia chúng tôi đã trích dẫn 2 bài: “Ngũ liễu tiên sinh truyện” và Quy khứ lai từ”, ở đây xin giới thiệu ít bài thơ của một thi hào mà Nguyễn Khuyến và bao văn nhân khác hồi xưa ở nước ta đã chịu rất nhiều ảnh hưởng.

    Về vườn, công việc thứ nhất của Đào Tiềm là trồng lúa, trồng đậu:

    歸田園居

    種豆南山下,

    草盛豆苗稀。

    晨興理荒穢,

    帶月荷鋤歸。

    道狹草木長,

    夕露沾我衣。

    衣沾不足惜,

    但使願無違。

    QUY ĐIỀN ẨN CƯ

    Chủng đậu Nam sơn hạ,

    Thảo thịnh đậu miêu hy.

    Thần hưng lý hoang uế,

    Đái nguyệt hà sừ quy.

    Đạo hiệp thảo mộc trường,

    Tịch lộ triêm ngã y.

    Y triêm bất túc tích,

    Đãn sử nguyện vô vi.

    VỀ ĐIỀN VIÊN Ở

    Trồng đậu dưới núi Nam,

    Cỏ tốt đậu xấu đi.

    Sáng dậy giẫy chỗ hoang,

    Trăng lên vác bừa về.

    Sương chiều thấm ướt áo,

    Đường hẹp cỏ lên cao.

    Áo ướt chẳng đủ tiếc,

    Xin thoả lòng ước ao.

    Công việc thứ nhì là uống rượu, ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời:

    飲酒

    結廬在人境,

    而無車馬喧。

    問君何能爾,

    心遠地自偏。

    採菊東籬下,

    悠然見南山。

    山氣日夕佳,

    飛鳥相與還。

    此中有真意,

    欲辨已忘言。

    ẨM TỬU

    Kết lư tại nhân cảnh,

    Nhi vô xa mã huyên.

    Vấn quân hà năng nhĩ?

    Tâm viễn địa tự thiên.

    Thái cúc đông ly hạ,

    Du nhiên kiến Nam sơn.

    Sơn khí nhật tịch giai,

    Phi điểu tương dữ hoàn.

    Thử trung hữu chân ý,

    Dục biện dĩ vong ngôn.

    UỐNG RƯỢU

    Nhà cỏ giữa nhân cảnh,

    Không thấy ồn ngựa xe.

    Hỏi ông: “Sao được vậy?”

    Lòng xa, đất tự xa.

    Hái cúc dưới giậu đông,

    Thơ thới nhìn núi Nam.

    Khí núi ánh chiều đẹp,

    Chim bay về từng đàn.

    Trong cảnh có thâm vị,

    Muốn tả đã quên lời.

    Ông uống rượu cũng để quên cái buồn về nỗi con cái chẳng theo ý mình.

    Trong bài thơ trách con (Trách tử thi 責子詩) ông phàn nàn tóc đã bạc, da đã nhăn mà con không đứa nào ham học, đứa lớn thì làm biếng không ai bằng, đứa giữa 13 tuổi mà chưa biết chữ lục là 6, đứa nhỏ 9 tuổi thì suốt ngày chỉ đi tìm trái lê. Nhưng nghĩ lại, ông cũng không buồn vì:

    Vận trời đã như vậy,

    thì nhắp vật trong ly”.

    天運苟如此,

    且進杯中物。

    (Thiên vận cẩu như thử,

    Thả tiến bô trung vật).

    Việc uống rượu đối với ông còn hàm một triết lý:

    Chẳng biết rằng có ta,

    Sao biết vật là quý?

    Ở đâu cũng ung dung,

    Trong rượu có chân vị”.

    不覺知有我,

    安知物為貴?

    悠悠迷所留,

    酒中有深味。

    (Bất giác tri hữu ngã,

    An tri vật vi quý?

    Du du mê sở lưu,

    Tửu trung hữu thâm vị).

    Thơ Đào Tiềm đương thời được ít người chú ý vì lời bình dị, trái hẳn với văn của các người khác, cầu kỳ, nhiều điển; nhưng từ đời Đường trở đi, người ta biết thưởng thức tài của ông và ai cũng nhận rằng trong khoảng 400 năm, từ Tào Thực tới Lý, Đỗ (đời Đường) không ai sánh với ông được. Một học giả thời nay, Hồ Thích, cho ông là thuỷ tổ của loại thơ bạch thoại.

    Ảnh hưởng của ông rất lớn: nhiều nhà bắt chước ông làm thơ điền viên nhưng ít ai có được cái bình thường điềm đạm mà thú vị, đậm đà của ông nữa.

    Ở nước ta, thi nhân gần với ông nhất là Nguyễn Khuyến. Đời 2 người y như nhau: đều sinh trong cảnh loạn, đều làm quan rồi đều về ở ẩn, đều thích rượu, yêu cúc, giọng thơ đều khoáng đạt.

    * Sau Đào Tiềm tới Tạ Linh Vận 謝靈運 (385-433). Nhờ tổ tiên có công lớn, ông được phong chức hầu, thực ấp tới 2000 nhà, tính xa xỉ, hào phóng, chỉ ngao du sơn thuỷ; theo đạo Phật, rất yêu thiên nhiên, lập riêng một phái gọi là phái sơn thuỷ, nhưng tài không cao, lời điêu luyện quá hoá mất cả thiên chân.

    Những câu nổi tiếng của Tạ như:

    池塘生春草,

    園柳變鳴禽。

    Trì đường sinh xuân thảo,

    Viên liễu biến minh cầm.

    Bờ ao nẩy cỏ xuân,

    Tiếng chim ồn vườn liễu 8 .

    Hoặc:

    林壑斂暝色,

    雲霞收夕暉。

    Lâm hác liễm minh sắc,

    Vân hà thu tịch huy.

    Rừng hang gom sắc tối,

    Mây ráng thu chiều tàn.

    Chỉ câu trên là hay còn câu dưới vì cố gò cho đối mà mất cả thú vị.

    * Bảo Chiếu 鮑照 làm chức tham quân, chết trong loạn quân hồi ngoài 40 tuổi. Thơ ông hùng hồn, tuấn dật, không uỷ mị như phần đông thi sĩ đương thời.

    擬行路難

    對案不能食,

    拔劍擊柱長嘆息:

    丈夫生世會幾時?

    安能蝶躞垂羽翼?

    棄置罷官去,

    還家自休息。

    朝出與親辭,

    暮還在親側。

    弄兒床前戲,

    看婦機中織。

    自古聖賢盡貧賤,

    何況我輩孤且直!

    NGHĨ HÀNH LỘ NAN

    Đối án bất năng thực,

    Bạt kiếm kích trụ trường thán tức:

    Trượng phu sinh thế hội kỷ thời?

    An năng điệp tiệp thùy vũ dực?

    Khí trí bãi quan khứ,

    Hoàn gia tự hưu tức.

    Chiêu xuất dữ thân từ,

    Mộ hoàn tại thân trắc.

    Lộng nhi sàng tiền hí,

    Khan phụ ky trung chức.

    Tự cổ thánh hiền tận bần tiện.

    Hà huống ngã bối cô thả trực!

    BẮT CHƯỚC BÀI “HÀNH LỘ NAN” (Đi đường khó)

    Ngồi bàn, chẳng ăn được,

    Rút kiếm thở dài rồi gõ cột:

    Trượng phu ở đời được mấy lúc?

    Sao đành xoã cánh mà ủ rũ?

    Đời đã bỏ rơi ta,

    Bãi quan về nhà ngủ.

    Sáng từ biệt người thân,

    Tối về cùng đoàn tụ.

    Giỡn với con trước giường,

    Nhìn vợ dệt khung cửi.

    Từ xưa thánh hiền đều bần tiện,

    Huống ta lẻ loi mà chính trực.

    d. Thơ đời Tề, Lương, Trần (479-588)

    Văn học 3 đời ấy càng có xu hướng về sự diễm lệ và thể biền ngẫu.

    Thẩm Ước 沈約 (441-513), tự Hưu Văn 休文 đặt thêm nhiều luật về âm thanh, cho nó là phép tắt tự nhiên của văn thơ, và do đó, mở đường cho lối luật thi đời Đường.

    Ông hồi nhỏ nghèo khổ, siêng học và có tài làm văn; đau ốm liên miên, mỗi bữa chỉ ăn được vài muỗng cơm, giữa mùa hè phải bận áo bông, sưởi lửa. Ông thờ hai triều Tống, Tề. Khi một bạn thơ của ông là Tiêu Diễn 萧衍 làm Hoàng Đế nước Lương, ông theo về Lương, được phong chức thượng thư và người ta coi ông như lãnh tụ của các văn nhân đương thời.

    Trong một bức thư cho bạn, ông viết: kẻ làm thơ ngũ ngôn nếu hiểu được 4 thanh và 8 thể thì lời mới du dương và tươi đẹp.

    Bốn thanh trong câu đó là: bình, thượng, khứ, nhập. Trước đời Lục Triều, các học giả muốn chỉ cách đọc một tiếng nào thì dùng tiếng đồng âm của nó, như tiếng 銅 đồng chỉ thứ kim thuộc kêu là đồng thì chua: “đọc như đồng 同 là cùng”. Họ chưa biết cách phiên thiết, như 銅 là “đồ, hồng thiết” 徒紅切 tức là đồng (lấy phụ âm đ trong chữ đồ mà ghép vào vần ồng trong chữ hồng).

    Cách phiên thiết ấy, văn nhân bắt chước ở tiếng Phạn trong khi dịch kinh Phật.

    Thẩm Ước lại đem một vần phân biệt làm 4 thanh; từ đó, âm vận học hoàn toàn thành lập.

    Còn tám thể mà Thẩm Ước nói tức là tám bệnh về âm vận trong thơ.

    Bệnh thứ nhất là bình đầu 平頭: tiếng thứ nhất và tiếng thứ nhì cùng một thanh với tiếng thứ sáu và thứ bảy, như:

    Tháng tư đầu mùa hạ,

    Tiết trời thật oi ả.

    (Nguyễn Khuyến)

    Tiếng thứ nhất tháng và tiếng thứ sáu tiết đều trắc; tiếng thứ nhì và thứ bảy trời đều bình; như vậy, theo Thẩm Ước, là có bệnh.

    Bệnh thứ nhì là thượng vĩ 上尾: tiếng thứ năm và tiếng thứ mười cùng một thanh:

    Giỏi thay Trần Quốc Toản,

    Tuổi trẻ dư can đảm.

    (Phan Kế Bính)

    Bệnh thứ ba là phong yêu 蜂腰: tiếng thứ nhì và tiếng thứ năm cùng một thanh, như:

    Phong lưu tính đã quen

    (Vô danh)

    Năm bệnh khác cũng đại loại như vậy. Thực là phiền toái, chúng tôi xin miễn kể hết, e rườm. Tám luật ấy trói buộc thi nhân đến mực! Nhưng chưa hết. Cuốn Văn kính bí phủ luận 文鏡秘府論 còn kể tới 28 bệnh về âm thanh phải tránh kia!

    Như vậy cái hứng của thi nhân làm sao cất cánh bay bổng lên những khoảng cao rộng được? Đó là cái tội lớn của Thẩm Ước.

    Tuy nhiên, ông cũng có vài chủ trương xác đáng. Chẳng hạn ông nói văn phải có 3 cái dễ: dễ thấy việc, dễ hiểu tiếng, dễ ngâm đọc (易見事, 易識字, 易誦讀 dị kiến sự, dị thức tự, dị tụng độc) nghĩa là ông muốn văn bình dị và du dương.

    Thơ của ông có đủ 2 đức ấy, cũng nhiều tình tứ nhưng không đặc sắc, tuyệt diệu.

    * Ngoài ông ra còn có Tạ Diểu 謝眺, tự Huyền Huy 玄暉, cũng gọi là Tiểu Tạ (để phân biệt với Tạ Linh Vận) mà Tiêu Diễn khâm phục tới nỗi nói 3 ngày không đọc thơ ông thì miệng thấy hôi. Tới Lý Bạch đời Đường cũng khen thơ ông. Sự thực ông chỉ được ít câu tả sơn thuỷ mà thôi, như:

    大江流日夜,

    客心悲未央。

    Đại giang lưu nhật dạ,

    Khách tâm bi vị ương.

    Sông dài chảy ngày đêm,

    Lòng khách buồn không hết.

    * Hà Tốn 何遜 tự là Trọng Ngôn 仲言 cũng được vài bài cách luật nghiêm chỉnh.

    e. Thi ca bình dân

    Trong khi các văn nhân quý phái khổ tâm sáng tạo hoặc chỉnh đốn những lối mới (tứ lục, phú, thơ ngũ ngôn, sau này là thơ thất ngôn); trong khi họ đặt ra luật thanh vận, dùng những điển khó hiểu, tìm những tiếng tân kỳ; trong khi họ đi kiếm hứng thơ bên chén rượu cuộc cờ, cạnh gốc mai, gốc liễu, hoặc nhàn tản giữa cảnh tuyết nguyệt, hoặc phóng lãng theo phái Lão, Trang; thì hạng bình dân chỉ biết dùng những lời thành thực và mộc mạc, những điệu cũ kỹ và thông thường để ca những hy vọng cùng đau thương của họ: nào chiến tranh làm nhà cửa tan tành, nào cảnh ngoại xâm làm quốc gia điêu đứng, hoặc nỗi uất hận bị tham quan áp bức, hoặc nỗi đoạn trường khi mẹ chồng ghét bỏ… Họ đôi khi cũng thấy đời là đáng chán đấy, nhưng chán thì chán, vẫn phải sống, vẫn phải lo áo cơm hàng ngày, nuôi vợ nuôi con, giúp cha giúp chồng, có thì giờ đâu mà ủ ấp những ảo mộng hầu mong thoát tục, có cách nào đâu để ẩn dật mà vui thú vô vi.

    Họ không chủ ý làm thơ; muốn vơi nỗi lòng, họ tự nhiên phát ra những lời ngâm nga. Thi ca đối với họ không phải là một trò chơi, một món tiêu khiển mà là một nhu cầu tự nhiên như ăn với uống:

    誰能思不歌?

    誰能飢不食?

    日冥當窗戸,

    惆悵底不憶?

    Thuỳ năng tư bất ca?

    Thuỳ năng cơ bất thực?

    Nhật minh đương soang hộ,

    Trù trướng để bất ức?

    Ai đói mà không ăn?

    Nghĩ ngợi mà không hát?

    Trời tối ngồi cửa sổ,

    Rầu rĩ mà không nhớ?

    Đề tài của họ thường nghèo nàn, quanh quẩn trong vấn đề y thực, sắc dục; nghệ thuật của họ kém tính vi nhưng lời của họ luôn luôn thành thực, cảm động. Thi ca bình dân ở nước nào, thời nào cũng vậy.

    Thời Lục Triều là thời loạn, dân gian lầm than, thường gặp cảnh đói rét, vợ xa chồng, con mất cha, nên ca dao vang lên một giọng ai oán vô cùng và cũng phồn thịnh như thời Xuân Thu, Chiến Quốc.

    Tuy nhiên, từ khi năm rợ Hồ xâm nhập, Trung Quốc chia làm 2 khu vực thì ta thấy 2 khuynh hướng rõ rệt trong ca dao ở Nam và ở Bắc.

    Bình dân phương Nam chịu ảnh hưởng của triều đình và văn nhân, lời lâm ly, uỷ mị. Bài ca được truyền tụng nhất là bài Tí dạ ca 子夜歌 do một người đàn bà đời Tấn tên là Tí Dạ làm ra. Nó mau được phổ thông đến nỗi đời sau bắt chước đặt những bài: Tí dạ tứ thời ca, Đại Tí dạ ca, Tí dạ biến ca…

    Chúng tôi xin miễn chép lại bài ấy vì giọng quá lơi lả, chỉ tả nỗi nhớ tình nhân cùng lòng ham hưởng lạc của một thôn nữ lẳng lơ.

    Tại phương Bắc, năm rợ Hồ là những dân tộc thượng võ, dũng mãnh, ngang tàng; lời ca của họ hùng hồn, nhiều khi gần như thô tục. Họ chê lời ca của người Hán, tức người phương Nam:

    遥看孟津河,

    楊柳郁婆娑。

    我是虜家兒,

    不解漢兒歌。

    Dao khán Mạnh Tân hà,

    Dương liễu uất bà sa.

    Ngã thị lỗ gia nhi,

    Bất giải Hán nhi ca.

    Xa nhìn Mạnh Tân hà,

    Dương liễu rủ rườm rà.

    Ta là trai nước Hồ,

    Không hiểu được Hán ca.

    Họ coi rẻ cái chết:

    殺人不貶眼,

    生命如鴻毛。

    Sát nhân bất biếm nhãn,

    Sinh mệnh như hồng mao.

    Giết người không chớp mắt,

    Sinh mệnh tựa lông hồng 9 .

    Con trai của họ đều là hào kiệt mà con gái họ cũng anh hùng:

    李波少妺歌

    李波小妹字雍容,

    褰裙逐馬如卷蓬。

    左射右射必疊雙。

    婦女尚如此,

    男子安可逢。

    LÝ BA TIỂU MUỘI CA

    Lý Ba tiểu muội tự Ung Dung,

    Kiển quần trục mã như quyển bồng.

    Tả xạ hữu xạ tất điệp song.

    Phụ nữ thượng như thử,

    Nam tử an khả phùng.

    BÀI CA LÝ BA TIỂU MUỘI

    Cô em Lý tự Ung Dung,

    Xắn quần đuổi ngựa như mui bồng 10 .

    Bắn cả hai bên, trúng cả hai,

    Phụ nữ còn như vậy,

    Nam nhi chắc hào hùng.

    Bài ca nổi danh của họ là bài Mộc Lan Từ 木蘭辭, một tác phẩm dài 310 chữ, tả nàng Mộc Lan cải trang đầu quân thay cha, 12 năm sau thắng trận về triều, vua phong chức Thượng Thư, nàng từ chối, chỉ xin một con thiên lý mã để mau về cố hương.

    脫我戰時袍,

    著我舊時裳,

    當窗理雲鬢,

    對鏡帖花黃。

    出門看火伴,

    火伴始驚惶:

    同行十二年,

    不知木蘭是女郎。

    Thoát ngã chiến thời bào,

    Trứ ngã cựu thời thường,

    Đương soang lý vân mấn,

    Đối kính thiếp hoa hoàng.

    Xuất môn khán hỏa bạn,

    Hỏa bạn thuỷ kinh hoàng:

    - Đồng hành thập nhị niên,

    Bất tri Mộc Lan thị nữ lang.

    Ta cởi chiến bào ra,

    Lại bận áo ngày thường.

    Vấn tóc mây bên sổ,

    Điểm nhan sắc trước gương.

    Ra tiếp bạn khói lửa,

    Bạn thấy bổng kinh hoàng:

    - Cùng đi mười hai năm,

    Không hay Mộc Lan là nữ lang.

    g. Nhạc phủ

    Các văn nhân nhất là các vị Hoàng Đế đời Lương, Trần thích loại thi ca bình dân lắm, nên mô phỏng làm những bài nhạc phủ.

    Lương Vũ Đế có bài Tí dạ ca; Trần Hậu Chủ soạn được nhiều khúc diễm lệ, như khúc: Ngọc thụ Hậu đình hoa 玉樹後庭花, Lâm Xuân Lạc 臨春樂 và Tự quân chi xuất hỹ 自君之出矣:

    自君之出矣,

    綠草遍階生。

    思君如夜燭,

    垂淚著雞鳴。

    Tự quân chi xuất hỹ,

    Lục thảo biến giai sinh.

    Tư quân như dạ chúc,

    Thuỳ lệ trước kê minh.

    Từ ngày chàng ra đi,

    Cỏ xanh lan khắp thềm.

    Nhớ chàng, như cây nến,

    Lệ thiếp rỏ thâu đêm.

    Nhờ Thẩm Ước đặt ra luật thanh vận và nhờ các vị Hoàng Đế ấy, vì thích nhạc phủ, chuyên luyện về nhạc điệu trong thơ, nên lần lần xuất hiện loại thơ luật và tuyệt cú mà chúng ta sẽ xét trong phần thứ III, quyển giữa.

     

    TÓM TẮT

    1. Phú và từ đời Lục Triều kém những đời trước. Tả Tư có bài Tam đô phú, Bạch phát phú; Bão Chiếu có bài Vu thành phú.

      Bài Qui khứ lai từ của Đào Tiềm và bài Bắc sơn di văn của Khổng Khuê có nhiều giá trị nhất về nghệ thuật, bài trên khoáng đạt, bài dưới diễm lệ.

    2. Thi sĩ có bọn Trúc lâm thất hiền vô cùng lãng mạn: Lục Cơ, Phan Nhạc, Bão Chiếu, Tạ Linh Vận, Tả Tư…

      Nổi danh nhất là Đào Tiềm, một ẩn sĩ mở đường cho lối thơ điền viên bình dị, tự nhiên mà nhiều thâm ý.

      Thẩm Ước có ảnh hưởng rất lớn đến đời sau vì ông đặt ra luật thanh vận, mở lối cho thơ luật đời Đường. Ông phân biệt bốn thanh và tám bệnh, chủ ý làm cho lời thơ thật du dương. Nhưng luật thanh vận của ông câu thúc thi nhân quá.

    3. Thi ca bình dân chia làm 2 khuynh hướng: BắcNam: giọng bắc hùng hồn, giọng nam uỷ mị.
    4. Loại nhạc phủ được văn nhân và vua chúa rất thích. Trần Hậu Chủ để lại nhiều bài diễm lệ.
    5. Xét chung thơ đời Lục Triều, ta thấy trừ Đào Tiềm đứng riêng một phái còn hầu hết đều trọng sự chạm trổ cho đẹp đẽ và du dương. Thể ngũ ngôn thịnh nhất. Thơ lần lần từ thể tự do bước qua thể có cách luật nghiêm nhặt.

    --------------------------------
    1Coi tiểu sử ở sau.
    2Là cái xe có trang sức.
    3Là thả lòng.
    4Chữ Thích 刺 có khứ thanh, đọc là thứ, nghĩa là chê. Vậy chính ra phải đọc là phúng thứ. Song tiếng phúng thích đã quen tai rồi.
    5[Vụ Quang và Quyển Tử là] Tên những ẩn sĩ thời xưa.
    6Tên một loài chim, có người gọi là ngỗng trời.
    7Một chức lại nhỏ đi thu thuế.
    8Chính nghĩa là "Vườn liễu biến thành chim kêu". Vì có chữ biến đó mà người ta cho rằng câu đó không tự nhiên bằng câu trên.
    9Nghĩa là coi nhẹ lắm.
    10Quần xắn lên như mui thuyền.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Tam Hạp Bửu Kiếm

    Thanh Phong

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646383]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502204]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639435]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471017]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340386]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600274]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689471]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2490781]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300095]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010176]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972321]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548811]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469891]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445481]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204030]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150518]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078425]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062489]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028648]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026281]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959337]
    25.Quỷ Bảo [921590]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907464]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905247]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876860]
    29.Hắc Nho [852023]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842901]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [839986]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755920]
    33.Tru Tiên [747711]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [744904]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661859]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622350]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592472]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569275]
    39.Hoàn Hảo [557732]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536741]
    41.Tầm Tần Ký [511894]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [455931]
    43.Thiên Đường [452663]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450743]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439763]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433959]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427313]
    48.Cậu Chó [417105]
    49.If You Are Here [411807]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408042]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm