hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc[925] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc



    MỤC LỤC 


    PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
      I. Khởi Nguyên
      II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
      III. Văn Ký Sự
      IV. Kinh Thi
      V. Sở Từ

    PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
      I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
      II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
      III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
      IV. Thời Kiến An (196-220)
      V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
      VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
      VII. Từ, Phú Và Thơ

    PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
      I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
      II. Văn Xuôi Đời Đường
      III. Thơ Đời Sơ Đường
      IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
      V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
      VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
      VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
      IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
      X. Vãn Đường
      XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

    PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
      I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
      II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
      III. Văn Xuôi Đời Tống
      IV. Thơ Đời Tống
      V. Từ Đời Tống

    PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
      I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
      II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
      III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
      IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
      V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
      VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
      VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

    PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
      I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
      Ii. Tác Giả Hiện Đại

    TỔNG KẾT
      

     

    CHƯƠNG VI. VĂN XUÔI TỪ NGUỴ TỚI TUỲ

    1. SỬ KÝ VÀ KÝ SỰ

    a. Sử ký

    Sử gia đời Tấn và Nam Bắc Triều tuy đông song ít tài, hầu hết đều mô phỏng Tư Mã Thiên và Ban Cố.

    Đời Tấn, nổi danh nhất là Trần Thọ 陳壽. Ông soạn bộ Tam Quốc Chí 三國志, tự sự khéo, nghị luận có căn cứ.

    Đời Tống có Phạm Việp 范曄, tác giả bộ Hậu Hán Thư 後漢書, nối bộ Hán Thư của Ban Cố. Bộ ấy không có gì đặc sắc cả về phương diện sử học và văn học.

    Ngoài ra còn nhiều tác giả chép sử riêng của từng triều, song tài đều kém.

    Có một điều lạ là Ban Cố chê Tư Mã Thiên hành động vụng về đến nỗi bị tội hoạn mà chính Ban Cố vì lầm lỡ, phải chết trong ngục; Phạm Việp sau lại chỉ trích Ban Cố, rút cuộc còn bị tội nặng hơn Ban: tội tử hình.

    b. Ký sự và Tự tình (bằng văn xuôi)

    Lối này tuy không phát đạt nhưng cũng để lại được ít bài bất hủ như bài Đào hoa nguyên ký, Ngũ liễu tiên sinh, Trần tình biểu…

    Dưới đây, chúng tôi xin trích dịch bài “Ngũ liễu tiên sinh”, bài “Trần tình biểu” và một đoạn trong bài “Lan đình tự” để độc giả thưởng thức ba vẻ đẹp của văn: bài trên giọng khoáng đạt, tự nhiên; bài giữa lời thành thực, cảm động (cả 2 bài đó đều đứng ngoài trào lưu duy mỹ đương thời); còn bài cuối thì vừa diễm lệ, vừa cảm khái – song hơi tối – người cầm bút nào đọc tới cũng bồi hồi trong dạ.

    五柳先生傳(陶潛)

    先生不知何許人也,亦不詳其姓字。宅邊有五柳樹,因以為號焉。

    閑靜少言,不慕榮利。好讀書,不求甚解;每有會意,便欣然忘食。

    性嗜酒,家貧不能常得;親舊知其如此,或置酒而招之;造飲輒盡,期在必醉,既醉而退,曾不吝情去留。

    環堵蕭然,不蔽風日,短褐穿結,簞瓢屢空,晏如也。

    常著文章自娛,頗示己志。忘懷得失,以此自終。贊曰:黔婁有言:“不慼慼於貧賤,不汲汲於富貴。”未其言,茲若人之儔乎?酣觴賦詩,以樂其志。無懷氏之民歟?葛天氏之民歟?

    NGŨ LIỄU TIÊN SINH TRUYỆN (Đào Tiềm) 1

    Tiên sinh bất tri hà hử nhân dã, diệc bất tường kỳ tính tự. Trạch biên hữu ngũ liễu thụ, nhân dĩ vi hiệu yên.

    Nhàn tĩnh thiểu ngôn, bất mộ vinh lợi. Hiếu độc thư, bất cầu thậm giải; mỗi hữu hội ý, tiện hân nhiên vong thực.

    Tính thị tửu, gia bần bất năng thường đắc; thân cựu tri kỳ như thử, hoặc trí tửu nhi chiêu chi; tháo ẩm nhiếp tận, kỳ tại tất túy, ký túy nhi thoái, tằng bất lận tình khứ lưu.

    Hoàn đổ tiêu nhiên, bất tế phong nhật, đoản hạt xuyên kết, đan biều lũ không, án như dã.

    Thường trước văn chương tự ngu, phả thị kỷ chí. Vong hoài đắc thất, dĩ thử tự chung.

    Tán viết: Kiềm lâu hữu ngôn: “Bất thích thích ư bần tiện, bất cấp cấp ư phú quý”. Vị kỳ ngôn, tư nhược nhân chi trù hồ? Hàm trường phú thi, dĩ lạc kỳ chí. Vô Hoài thị chi dân dư? Cát thiên thị chi dân dư?

    TRUYỆN ÔNG “NĂM CÂY LIỄU” (Đào Tiềm)

    Ông, không biết người đâu, cũng không rõ tên họ gì. Bên nhà có năm cây liễu, nhân lấy đó đặt tên ông.

    Ông nhàn tĩnh, ít nói, không ham danh lợi. Ưa đọc sách, không cần hiểu những chỗ nhỏ nhặt; mỗi lần hội ý được điều gì thì vui vẻ quên ăn.

    Tính thích rượu, nhưng nhà nghèo, không có được thường; người thân biết vậy, có khi bày rượu mời ông; ông lại uống hết, kỳ say mới thôi, say rồi thì về, không còn bịn rịn chi cả.

    Tường vách tiêu điều, không đủ che mưa nắng; bận áo cụt vá, bầu giỏ 2 thường rỗng mà vẫn vui.

    Ông thường làm văn để tiêu khiển và tỏ chí mình. Hay dở không màng, cứ vậy mà trọn đời.

    Khen rằng:

    Kiềm Lâu 3 nói: “Không đau đáu lo cảnh nghèo hèn, không vội vàng mưu cảnh giàu sang”. Ngẫm lời ấy hầu cũng như bậc người này? Nhắp rượu ngâm thơ để vui chí mình, dân đời Vô Hoài đó ư? Dân đời Cát Thiên 4 đó ư?

    陳情表(李密)

    臣以險釁,夙遭閔凶。生孩六月,慈父見背。行年四歲,舅奪母志。祖母劉愍臣孤弱,躬親撫養。臣少多疾病,九歲不行,零丁孤苦,至於成立。既無叔伯,終鮮兄弟,門衰祚薄,晚有兒息。外無期功彊近之親,內無應門五尺之僮,煢煢孑立,形影相弔。而劉夙嬰疾病,常在床蓐,臣侍湯藥,未常廢離。

    逮奉聖朝,沐浴清化,前太守臣逵,察臣孝廉,後刺史臣榮,舉臣秀才。臣以供養無主,辭不赴會,詔書特下,拜臣郎中,尋蒙國恩,除臣洗馬。猥以微賤,當侍東宮;非臣隕首所能上報。臣具以表聞,辭不就職。詔書切峻,責臣逋慢,郡縣逼迫,催臣上道,州司臨門急於星火。臣欲奉詔奔馳,則以劉病日篤;欲苟順私情,則告訴不許,臣之進退,實為狼狽。

    伏惟聖朝以孝治天下,凡在故老猶蒙矜育,況臣孤苦,猶為特甚。

    且臣少事偽朝,歷職郎署,本圖宦達,不矜名節。今臣亡國賤俘,至微至陋,過蒙拔擢,豈敢盤桓,有所希冀。

    但以劉日薄西山,氣息奄奄,人命危淺,朝不慮夕。臣無祖母無以至今日;祖母無臣無以終餘年。母孫二人,更相為命;是以區區,不能廢遠。

    臣密今年四十有四,祖母今年九十有六;是臣盡節於陛下之日長,報劉之日短也。烏鳥私情,願乞終養。

    臣之辛苦,非獨蜀之人士,及二州牧伯所見明知;皇天后土實所共鑒。願陛下矜愍愚誠,聽臣微志;庶劉僥倖,卒保餘年,臣生當隕首,死當結草。

    臣不勝犬馬怖懼之情,謹拜表以聞。

    TRẦN TÌNH BIỂU (Lý Mật)

    Thần dĩ hiển hấn, túc tao mẫn hung. Sinh hài lục nguyệt, từ phụ kiến bội, hành niên tứ tuế, cữu đoạt mẫu chí. Tổ mẫu Lưu mẫn thần cô nhược, cung thân phủ dưỡng. Thần thiểu đa tật bệnh, cửu tuế bất hành, linh đinh cô khổ, chí ư thành lập. Ký vô thúc bá, chung tiển huynh đệ, môn suy tộ bạc, vãn hữu nhi tức. Ngoại vô cơ công cường cận chi thân, nội vô ứng môn ngũ xích chi đồng, quỳnh quỳnh kiết lập, hình ảnh tương điếu. Nhi Lưu túc anh tật bệnh, thường tại sàng nhục, thần thị thang dược, vị thường phế li.

    Đãi phụng thánh triều, mộc dục thanh hóa, tiền thái thú thần Quỳ, sát thần hiếu liêm, hậu thứ sử thần Vinh, cử thần tú tài. Thần dĩ cung dưỡng vô chủ, từ bất phó hội, chiếu thư đặc hạ, bái thần lang trung, tầm mông quốc ân, trừ thần tiển mã. Ổi dĩ vi tiện, đương thị đông cung; phi thần vẫn thủ sở năng thượng báo. Thần cụ dĩ biểu văn, từ bất tựu chức. Chiếu thư thiết tuấn, trách thần bô mạn, quận huyện bức bách, thôi thần thượng đạo, châu ti lâm môn cấp ư tinh hỏa. Thần dục phụng chiếu bôn trì, tắc dĩ Lưu bệnh nhật đốc; dục cẩu thuận tư tình, tắc cáo tố bất hứa, thần chi tiến thoái, thực vi lang bối.

    Phục duy thánh triều dĩ hiếu trì thiên hạ, phàm tại cố lão do mông căng dục, huống thần cô khổ, do vi đặc thậm.

    Thả thần thiểu sự ngụy triều, lịch chức lang thự, bản đồ hoạn đạt, bất căng danh tiết. Kim thần vong quốc tiện phù, chí vi chí lậu, quá mông bạt trạc, khởi cảm bàn hoàn, hữu sở hy ký.

    Đãn dĩ Lưu nhật bạc tây sơn, khí tức yêm yêm, nhân mệnh nguy thiển, chiêu bất lự tịch. Thần vô tổ mẫu vô dĩ chí kim nhật; tổ mẫu vô thần vô dĩ chung dư niên. Mẫu tôn nhị nhân, canh tương vi mệnh, thị dĩ khu khu bất năng phế viễn.

    Thần Mật kim niên tứ thập hữu tứ, tổ mẫu kim niên cửu thập hữu lục; thị thần tận tiết ư Bệ hạ chi nhật trường, báo Lưu chi nhật đoản dã. Ô điểu tư tình, nguyện khất chung dưỡng.

    Thần chi tân khổ, phi độc Thục chi nhân sĩ, cập nhị châu mục bá sở kiến minh tri; hoàng thiên hậu thổ thực sở cộng giám. Nguyện Bệ hạ căng mẫn ngu thành, thính thần vi chí, thứ Lưu kiểu hãnh tốt bảo dư niên, thần sinh đương vẫn thủ, tử đương kết thảo.

    Thần bất thăng khuyển mã bố cụ chi tình, cẩn bái biểu dĩ văn.

    TỜ BIỂU 5 TRẦN TÌNH 6 (của Lý Mật 7 )

    Tôi số kiếp gian nan, sớm gặp tang tóc. Sanh mới 6 tháng, cha hiền quy tiên, năm lên 4 tuổi, dượng cướp chí mẹ 8 . Bà nội họ Lưu thương tôi côi cút, đích thân nuôi nấng. Tôi hồi nhỏ lắm bệnh, 9 tuổi chưa biết đi, linh đinh cô khổ tới khi thành người. Đã không chú bác lại ít anh em, nhà suy phước mỏng, lại muộn có con. Ngoài không có họ hàng để cậy nhờ, trong không có trẻ nhỏ để sai bảo, vò vỏ chiếc thân, một mình một bóng. Mà họ Lưu sớm mắc bệnh tật, nằm liệt ở giường, tôi lo thang thuốc, một bước chẳng rời.

    Đội ơn thánh triều, mưa móc tắm gội, trước quan thái thú họ Quỳ tuyển tôi hiếu liêm 9 , sau quan thứ sử họ Vinh lại cử tú tài 10 . Tôi nghĩ không ai săn sóc bà nội tôi, nên xin từ không ra. Rồi mong ơn hạ chiếu, cho chức lang trung, lại nhờ quốc ân, thăng chức tiển mã. Đem thân hèn hạ được hầu đông cung, dầu có rơi đầu chưa đủ báo đáp. Tôi đã 2 lần dâng biểu, từ tạ không tựu chức. Lời chiếu gấp nghiêm, trách tôi biếng nhác, quận huyện bức bách, giục tôi lên đường, quan lại tới nhà, gấp hơn cứu lửa. Tôi muốn phụng chiếu ra đi thì bệnh bà tôi mỗi ngày một nặng; muốn thuận tình riêng thì các quan không cho, tiến thoái thật khó xử.

    Cúi nghĩ thánh triều dùng đạo hiếu trị thiên hạ, phàm kẻ già cả đều được ơn xót thương, huống tôi cô khổ, thực là quá lắm!

    Huống tôi hồi nhỏ thờ nguỵ triều 11 , tới chức lang thự 12 , chí muốn làm quan, đâu dám khoe tiết. Nay tôi là kẻ tù vong quốc, rất đỗi hèn mọn, mong ơn đề bạt 13 , há dám trù trừ mà cầu gì nữa?

    Tôi chỉ nghĩ bà tôi như mặt trời xế tây, hơi thở im lìm, sinh mệnh nguy hiểm, sớm chẳng chắc chiều 14 . Tôi thiếu bà tôi, không sống được đến bây giờ; bà tôi thiếu tôi, cũng không trọn được tuổi già. Bà cháu 2 người, nương nhau sống sót thế nên tôi khư khư một lòng, chẳng dám bỏ đi xa.

    Mật tôi năm nay 44 tuổi, bà tôi năm nay 96 tuổi; thế là ngày tôi tận trung với Bệ hạ còn dài mà ngày báo ơn tổ mẫu thì ngắn. Loài quạ bú mớm lẫn nhau, tình riêng ấy xin được giữ trọn.

    Đời tôi tân khổ, chẳng riêng gì nhân sĩ đất Thục cùng các quan mục bá 2 châu 15 đã thấy rõ, đến trời cao đất dày cũng soi xét cho. Xin Bệ hạ thương tấc lòng thành ngu muội, cho tôi giữ chí hèn, ngõ hầu bà tôi may mắn hưởng hết tuổi thừa thì sống tôi nguyện hàm ơn, chết tôi nguyện kết cỏ 16 để báo đáp.

    Tình khuyển mã sợ sệt kể sao cho xiết, tôi kính lạy dâng biểu, xin Bệ hạ soi xét.

    Người đời sau khen mỗi chữ trong tờ biểu là một giọt nước mắt, mỗi câu là một lời sụt sùi. Vua Tấn đọc xong, cảm động, không nỡ ép ông ra, lại cấp cho 2 người nô tì để giúp ông phụng dưỡng bà nội.

    蘭亭記(王羲之)

    夫人之相與,俯仰一世,或取諸懷抱,悟言一室之內;或因寄所托,放浪形骸之外,雖取舍萬殊,靜躁不同,當其欣於所遇,暫得於己,快然自足,不知老之將至。及其所之既倦,情隨事遷,感慨繫之矣。向之所欣,俯仰之間,已為陳迹,猶不能不以之興懷。

    況修短隨化,終期於盡。古人雲:“死生亦大矣”豈不痛哉!

    每覽昔人興感之由,若合一契,未嘗不臨文嗟悼,不能喻之於懷。

    固知一死生為虛誕,齊彭殤為妄作。後之視今,亦猶今之視昔,悲夫!

    故列敘時人,錄其所述,雖世殊事異,所以興懷,其致一也。後之覽者,亦將有感於斯文。

    LAN ĐÌNH KÝ (Vương Hi Chi)

    Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại, tuy thủ xả 17 vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân ư sở ngộ, tạm đắc ư kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hưng hoài.

    Huống tu đoản tuỳ hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ” khởi bất thống tai!

    Mỗi lãm tích nhân hưng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài.

    Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!

    Cố liệt tự thời nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hưng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi lãm dã, diệc tương hữu cảm ư tư văn.

    BÀI KÝ LAN ĐÌNH (Vương Hi Chi)

    * Vương Hi Chi, một danh thần đời Tấn, văn hay mà chữ rất tốt – ông có một lối chữ riêng lưu truyền lại đời sau – thấy văn nhân đời Tấn phóng túng, viết bài này để cảnh tỉnh đời. Bài này là tựa tập thơ do bạn bè ông làm sau bữa yến ở Lan Đình. Lan Đình là một toà lầu. Chúng tôi bỏ đoạn đầu tả trời đất, phong cảnh và bữa tiệc.

    Người ta cùng cúi ngửa ở trong đời, hoặc đem cái hoài bão của mình ra nói chuyện trong một nhà, hoặc nhân ký thác ở một sự tình gì mà phóng lãng ở ngoài hình hài, tuy thủ xả khác nhau, tĩnh động tuỳ người, nhưng đương lúc vui gặp thời, tạm đắc ý với mình, khoan khoái tự túc, mà thường chẳng hay cái già sắp tới.

    Kịp đến khi mỏi mệt, tình ý theo sự thế mà thay đổi, sinh ra cảm khái. Cái mà trước kia vui trong lúc cúi ngửa đã thành ra vết cũ, mà nhớ lại, lòng không thể không hoài cảm.

    Huống đời người dài ngắn do trời, đều quy về cõi chết cả. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng thay!

    Mỗi khi xét nguyên do người đời xưa cảm khái, như in với người đời nay, không lần nào đọc văn người xưa mà không than thở buồn rầu trong lòng, không hiểu tại sao.

    Cho nên bảo tử sinh cũng như nhau là lời hư ngoa; bảo Bành Tổ không hơn gì kẻ chết yểu là lời nói láo. Người đời sau nhìn lại đời bây giờ, cũng như người bây giờ nhìn lại đời xưa, buồn thay!

    Vì vậy tôi chép lại chuyện người trong tiệc, sao lục thơ họ làm, tuy đời và việc đều khác nhau, nhưng lẽ sở dĩ cảm khái thì là một. Người đời sau đọc bài này chắc không khỏi bùi ngùi.

     

    2. LUẬN THUYẾT

    a. Triết học

    Triết học đời Lục Triều, khuynh hướng về Lão, Phật như Vương Bật 王弼 và Hà Án 何晏 nghiên cứu huyền học; tuy 2 nhà đó có thế lực nhưng tư tưởng thiếu phần đặc sắc.

    Bộ Liệt Tử 列子 cũng mô phỏng Lão, Trang, chủ trương cá nhân chủ nghĩa, hưởng lạc chủ nghĩa.

    b. Phê bình

    Ở chương trên chúng tôi đã nói Tào Phi là người đầu tiên viết văn phê bình. Đến đời Lục Triều, lối văn ấy cực thịnh.

    Hai nhà nổi danh nhất là Lưu Hiệp 劉勰 tác giả bộ Văn tâm điêu long 文心雕龍, Chung Vinh 鍾嶸 tác giả bộ Thi phẩm 詩品.

    Lưu Hiệp ở đầu thế kỷ thứ 6, côi cút từ nhỏ, nhà nghèo, phải ở chùa, sau làm một chức nhỏ trong bộ binh rồi đi tu. Bộ Văn tâm điêu long cộng 50 thiên, 25 thiên đầu xét về thể tài của văn học, 25 thiên sau luận về sự khéo, vụng trong văn. Lý luận nhiều khi xác đáng, vững vàng và có phương pháp, lời theo thể biền ngẫu, tươi đẹp, du dương. Đáng là một tác phẩm bất hủ.

    Đại loại quan niệm của ông giống quan niệm của Thẩm Ước (coi ở sau), trọng đối ngẫu và nhạc điệu.

    Chung Vinh (đời Tề, Lương; tiểu sử thất truyền) chuyên nghiên cứu thơ, kể nguồn gốc của mỗi văn trào, chia thơ làm 3 hạng: thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.

    Ông chủ trương khác hẳn Lưu Hiệp, có vài tư tưởng quá đáng nhưng rất đặc sắc:

    - Ông không tán thành luật âm thanh của Thẩm Ước, cho nó câu thúc nhà thơ quá, mất cả cái chân mỹ. Theo ông, lời lưu lợi, êm tai là được, còn phân biệt bốn thanh và các bệnh về âm điệu thì không nên. Tuy nhiên, ông cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của đương thời, văn nghị luận mà vẫn viết theo thể biền ngẫu.

    - Ông rất chê sự dùng điển làm cho văn tối nghĩa. Ý đó ở đương thời thực là táo bạo, mới mẻ.

    - Ông chỉ trích thói mô phỏng cổ nhân.

    - Sau cùng, ông cho thơ là tả tình, vậy không nên đứng về phương diện đạo đức mà xét nó.

    Đọc 4 câu thơ sau này của ông, ta thấy đức tu luyện của ông cao tới bực nào, há phải hạng cầm bút tầm thường mà sánh được. Ông bảo một nhà văn cần:

    義理玄微,

    蠶絲牛毛。

    心胸恢廓,

    海闊天高。

    Nghĩa lý huyền vi,

    Tàm ti ngưu mao.

    Tâm hung khôi khuếch,

    Hải khoát thiên cao.

    Nghĩa lý huyền vi,

    Tơ tằm lông bò 18 .

    Tấm lòng rộng rãi,

    Biển rộng trời cao.

    Nhờ Lưu Hiệp, Chung Vinh khởi xướng việc phê bình mà những bộ văn tuyển mới xuất hiện: Chiêu Minh văn tuyển 昭明文選, Tiêu Thống 蕭統, chuyên lựa tác phẩm của văn nhân và bộ Ngọc đài tân vịnh 玉臺新詠 của Từ Lăng 徐陵 chuyên lựa dân ca.

     

    3. TIỂU THUYẾT

    Tiểu thuyết gốc ở thần thoại. Dân tộc Trung Quốc thời cổ sống ở lưu vực Hoàng Hà, khí hậu lạnh lẽo, đất đai khô khan; muốn sinh tồn phải phấn đấu với thiên nhiên, nên có tinh thần thực tế, trọng mưu sinh, ít mơ mộng hảo huyền, sức tưởng tượng kém; do đó ít thần thoại. Phải đợi đến dân tộc phương Bắc hỗn hợp với dân tộc phương Nam ở trên lưu vực Trường Giang, mới xuất hiện nhiều truyện thần quái, như truyện Tây Vương mẫu, Long Bá quốc…

    Những tiểu thuyết truyền kỳ còn truyền đến nay đều viết ở đời Lục Triều.

    Có 2 loại:

    * loại quái đản thịnh hành ở phương Nam, như:

    Sưu thần ký 搜神記 của Can Bảo 干寶.

    Tục Tề Hài ký 續齊諧記 của Ngô Quân 吳均.

    Thập di ký 拾遺記 của Vương Gia 王嘉.

    Bộ thứ nhất và bộ thứ ba văn chương khá nhất.

    * loại nhân sự như:

    Hán Võ cố sự 漢武故事

    Phi Yến ngoại truyện 飛燕外傳

    đều khuyết danh và tả những diễm sử trong cung.

    Thế thuyết tân ngữ 世說新語 của Lưu Nghĩa Khánh 劉義慶

    Tây kinh tạp ký 西京雜記 (khuyết danh)

    chép truyện lạ trong dân gian.

    Hầu hết những tiểu thuyết ấy đều kém, phần tưởng tượng ít, miêu tả khô khan, kết cầu vụng về (Lục Triều mới là màn đầu của loại văn ấy) nhưng ảnh hưởng về sau khá lớn: nó cung cấp nhiều đề tài cho văn nhân, thi sĩ và mở đường cho tiểu thuyết đời Đường và Tống.

     

    4. TUỒNG

    Mới đầu chỉ là những bài hát và múa để thờ thần và những bài hoạt kê để làm vui tai mắt nhà cầm quyền hoặc phúng gián kẻ đương thời.

    Tuồng xuất hiện ở đời Hán qua đời Lục Triều không tấn tới gì mấy, vẫn chỉ có ít bản, nghệ thuật rất thô thiển hoặc kể nỗi khổ sở của người vợ có chồng say rượu, hoặc tả lòng hiếu nghĩa của người con báo thù cho cha bị hổ ăn thịt…

     

    5. VĂN DỊCH

    Tới đời Lục Triều đạo Phật bành trướng mạnh, phong trào dịch kinh Phật đã phát đạt, nhưng đến đời Đường mới cực thịnh, nên chúng tôi để tới phần thứ III (Văn học đời Đường) sẽ xét luôn thể cho dễ thấy mạch lạc hơn.

     

    TÓM TẮT

    1. Trong 4 thế kỷ, từ đời Nguỵ đến đời Tuỳ, không có một sử gia nào đáng kể. Bộ Tam Quốc ChíHậu Hán Thư gọi là hơi có nghệ thuật.

    Văn ký sự và tự tình được ít bài bất hủ của Đào Tiềm, Lý Mật, Vương Hi Chi…

    2. Triết học cũng suy nhưng văn phê bình rất đặc sắc nhờ Lưu Hiệp, tác giả bộ Văn tâm điêu long,Chung Vinh, tác giả bộ Thi phẩm. Chủ trương hai nhà đó trái hẳn nhau:

    Lưu trọng nhạc điệu trong văn, rất ưa lối đối ngẫu.

    Chung thì chê luật âm thanh là câu thúc nhà văn, ghét dùng điển và không chịu mô phỏng cổ nhân.

    3. Tiểu thuyết truyền kỳ, tuồng và văn dịch bắt đầu xuất hiện nhưng 2 loại trên phát triển còn chậm.

    --------------------------------
    1Coi tiểu sử ở sau.
    2Giỏ cơm, bầu nước.
    3Ẩn sĩ đời xưa.
    4Những đời vua từ hồi chưa có sử. Ý nói đời Tần, đời Tống này, sao lại có được người cao thượng như vậy?
    5Bài biểu là bài văn viết để tâu điều gì với vua.
    6Tỏ tình cảm, nỗi lòng mình.
    7Lý Mật, người xứ Thục, có hiếu, ở cuối đời Tam Quốc, hồi trẻ thờ Hán Hậu chúa, sau Thục bị Tấn diệt, vua Tấn vời ra làm quan, ông dâng tờ biểu này.
    8Ý nói mẹ tái giá.
    9Đời Tấn, ai học giỏi, có đức thì được tuyển làm hiếu liêm và ra làm quan.
    10Đời Hán Vũ Đế ra lệnh mỗi năm, mỗi quận, mỗi châu tiến cử lên triều đình một người; được quận cử gọi là hiếu liêm, được châu cử gọi là tú tài. Nhà Tấn theo lệ đó.
    11Thờ nhà Hậu Hán.
    12Một chức cao ở triều đình.
    13Cử làm quan.
    14Ý nói: buổi sáng còn sống, không chắc buổi chiều còn sống được nữa.
    15Tức Lương Châu và Ích Châu.
    16Đời Đông Châu, Nguỵ Khoả cứu được mạng một thiếu phụ, sau cha cô đó muốn đền ơn cho con, hiện hồn lên, lấy cỏ quấn vào chân ngựa một tên giặc, trong khi Nguỵ Khoả lâm nguy để cứu mạng cho Nguỵ Khoả khỏi bị giặc giết.
    17Thủ xả 取舍: có bản chép là: 趣舍 (xem hình dưới).
    18Nghĩa là học phải sâu để hiểu hết những chỗ tế nhị nhất của nghĩa lý.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Y Sĩ Tiền Tuyến

    Trang Châu

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646707]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502586]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639800]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471358]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340975]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600567]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689888]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2494046]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300517]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010567]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972335]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548931]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470065]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445785]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204074]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150656]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078733]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062573]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028856]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026480]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959462]
    25.Quỷ Bảo [921737]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907601]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905332]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877044]
    29.Hắc Nho [852183]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843186]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840074]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756045]
    33.Tru Tiên [747775]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745239]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661917]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622441]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592496]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569376]
    39.Hoàn Hảo [557787]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536798]
    41.Tầm Tần Ký [511994]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456289]
    43.Thiên Đường [452703]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450889]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439792]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434027]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427447]
    48.Cậu Chó [417266]
    49.If You Are Here [411867]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408237]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm