hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Đặng Trần Côn & Đoàn Thị Điểm » Chinh Phụ Ngâm[9946] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   4.9/7 - 12 votes
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     

    Chinh Phụ Ngâm

    Đặng Trần Côn & Đoàn Thị Điểm

    Chinh Phụ Ngâm



    Lời Giới Thiệu

    Kiều Vǎn

    Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán vǎn của Đặng Trần Côn, liền sau đó được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm (dịch thành quốc ngữ) Chinh Phụ Ngâm đã mau chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng.

    Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc vǎn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn "nổi tiếng thi thư" (Lời của Nguyễn Trãi từ thế kỉ XV)

    Nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng Hán vǎn của Đặng Trần Côn là một tác phẩm vǎn chương đặc sắc. Không những giới nho sĩ Việt Nam mà cả các bậc vǎn nhân Trung Hoa, đều yêu thích và khâm phục tác phẩm này. Bằng vǎn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ tự do như "cổ phong" trong "Nhạc phủ" hoặc thể"từ" mà Khuất Nguyên và Lí Bạch từng sử dụng, để viết nên một tác phẩm trữ tình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một thiếu phụ vắng chồng.

    Vǎn chương trong Chinh Phụ Ngâm vô cùng diễm lệ, chứa chan tình cảm, uyển chuyển và đầy nhạc điệu. Trong số thi phẩm Hán vǎn của nền vǎn học nước ta, hiếm có tác phẩm sánh ngang được với Chinh Phụ Ngâm.

    Với Chinh Phụ Ngâm bằng quốc ngữ, xưa nay nhiều bậc thức giả uyên bác đã phân tích và đánh giá về nhiều phương diện. Vậy mà ngày nay những khám phá mới mẻ và sâu sắc hơn vẫn tiếp tục ra đời. Điều đó chứng tỏ Chinh Phụ Ngâm súc tích biết chừng nào về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật.

    Thời Lê mạt (Cảnh Hưng) - Chúa Trịnh (Trịnh Giang, Trịnh Doanh) là một thời kì nhiễu nhương và thối nát. Bọn vua chúa hoang dâm, ích kỉ và tàn bạo đã đẩy dân chúng vào cảnh lầm than, điêu đứng. "Thượng bất chính hạ tắc loạn". Đất nước chìm đắm triền miên trong cảnh loạn lạc, máu lửa và binh đao. Hàng ngàn vạn gia đình phải rơi vào tình cảnh chia li tan tác, tạo nên số phận bi thảm của những chinh phu và chinh phụ. Nỗi đau thương tưởng chừng thấu tới tận trời xanh. Chinh Phụ Ngâm ra đời như tiếng than van thống thiết của con người, của tình yêu đôi lứa, của gia đình trong cái thời đại đen tối ấy.

    Trước hết, bằng sự bóc trần thực trạng đời sống - nhất là đời sống nội tâm tràn ngập sầu đau - của người chinh phụ, tác phẩm nêu lên một luận đề hết sức quan trọng của xã hội: Chiến tranh và Hoà Bình.

    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

    Chỉ hai câu thơ đủ cho ta thấy: Một khi chiến tranh xảy ra thì con người nói chung, và đặc biệt là người phụ nữ, lập tức bị đẩy vào nghịch cảnh, vào nỗi khổ đau vô tận.

    Chiến tranh mà Chinh Phụ Ngâm đề cập chỉ là chiến tranh mưu bá đồ vương, bảo vệ ngai vàng của bọn vua chúa phong kiến.

    Cách nhìn chiến tranh như vậy chứng tỏ tác giả Chinh Phụ Ngâm đã đứng vững như bàn thạch trên một lập trường duy nhất: Lập trường của chủ nghĩa nhân bản.

    Bằng lập trường tiến bộ đó, tác giả vạch trần mâu thuẫn giữa quyền lợi của quần chúng nhân dân với quyền lợi ích kỉ của bọn vua chúa. Khi người chinh phụ vắng chồng phải sống những tháng nǎm đằng đẵng trong đau khổ, còn người chinh phu ngoài chiến địa bị đẩy vào cảnh chết chóc:

    Non kì quạnh quẽ trǎng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
    Mặt chinh phu trǎng dõi dõi soi

    Thì ở chốn triều đình bọn vua chúa chẳng biết đấy là đâu:

    Trên trướng gấm thấu hay chǎng nhẽ?

    Câu thơ "Mặt chinh phu ai vẽ cho nên" đã tố cáo thẳng thừng kẻ thủ phạm tạo ra tấn bi kịch của chinh phu và chinh phụ: Đó chính là bọn vua chúa.

    Vạch trần bộ mặt hắc ám của chiến tranh, Chinh Phụ Ngâm đồng thời diễn tả giấc mộng đê mê của chinh phụ: Giấc mộng đoàn viên.

    Liên ngâm đối ẩm đòi phen
    Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
    Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ
    Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình

    Giấc mộng đoàn viên của chinh phụ phản ánh khát vọng hoà bình của nhân dân ta trong thế kỉ XVIII loạn lạc và tang tóc.

    Rõ ràng Chinh Phụ Ngâm muốn khẳng định chân lí: Hoà bình là điều kiện tiên quyết của hạnh phúc con người và hạnh phúc lứa đôi.

    Với lập trường nhân đạo sâu sắc triệt để, Chinh Phụ Ngâm đi vào chiều sâu thǎm thẳm của tâm hồn một phụ nữ phương Đông và khắc hoạ nên một bức tranh về thế giới tâm hồn kì diệu ấy. Không một ai không cảm thán trước vẻ đẹp vô ngần về tình cảm, sự thuần khiết và cao quí về đức hạnh, sự mẫn tuệ và sự khả ái của nàng. Vẻ đẹp tuyệt vời của tâm hồn người con gái Việt Nam chúng ta đã gặp trong ca dao, dân ca, truyện nôm khuyết danh. ở Chinh Phụ Ngâm, chúng ta gặp lại vẻ đẹp ấy nhưng đã được nâng cao hơn một bậc đáng kể nhờ sự gia công của vǎn chương bác học.

    Chinh phụ tuy không tách rời hẳn cuộc sống của người bình dân:

    Con thơ mǎng sữa vả đương phù trì.
    Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
    Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm...
    nhưng nàng có phong cách quí phái của giới thượng lưu;
    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng

    Hoặc: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

    Hoặc: Mượn hoa mượn rượu giải buồn...

    Ở đẳng cấp trên, lại có học vấn - như bản thân Hồng Hà nữ sĩ - tâm hồn chinh phụ dồi dào hơn, sâu và cao hơn, cả về tư tưởng lẫn tình cảm so với người phụ nữ bình dân. Đó chính là một nguồn suối tâm tư đầy ắp sản sinh ra thiên trường thi trữ tình Chinh Phụ Ngâm.

    Lần theo dòng suy nghĩ của chinh phụ, chúng ta không thể không thán phục khối óc mẫn tuệ cũng như sự nhạy cảm của trái tim nàng. Vượt trên những giáo điều phong kiến - những thứ lí luận xám xịt - nàng đặt một câu hỏi hết sức nhân bản:

    Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
    Chàng há từng học lũ vương tôn
    Cớ sao cách trở nước non
    Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu?

    Nàng hối hận vì có lúc nàng đã quá dại khờ:

    Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

    Và nàng đã khẳng định cái triết lí hạnh phúc "Tất cả ở đây, tất cả lúc này":

    Ấy loại vật tình duyên còn thế
    Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
    Và: Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy
    Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
    Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
    Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung!

    Thiết tưởng những tư duy đầy nhân bản ấy của chinh phụ có thể làm cho các nhà nhân vǎn thời Phục Hưng và thời Khai Sáng ở phương Tây phải thán phục!

    Người chinh phụ là hình tượng cổ điển cao quí, tiêu biểu cho phẩm chất của phụ nữ Việt Nam mọi thời đại.

    Tình yêu của nàng với chồng không gì sánh nổi. Mặc dù sống cách đây hai thế kỉ rưỡi, hình như nàng đã tìm thấy tình yêu đích thực, song phương và hạnh phúc:

    Trang phong lưu đang chừng niên thiếu
    Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.

    Toàn bộ bản trường ca là nỗi nhớ nhung, lo âu mong đợi, thương xót và khát khao, khiến biết bao thế hệ con người đã phải rơi lệ!

    Tuy sống trong nghịch cảnh nhưng cách ứng xử của nàng tỏ ra hơn hẳn những người đàn bà tầm thường như vợ Tô Tần ngày xưa:

    Thiếp chẳng dại như người Tô phụ
    Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
    Khi về đeo quả ấn vàng
    Trên khung cửi dám dẫy duồng làm cao.
    Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
    Xin vì chàng rũ lớp phong sương,
    Vì chàng tay chuốc chén vàng,
    Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng!

    Chinh phụ ngâm - cuốn nhật kí tâm hồn của một người chinh phụ - đã cho chúng ta thấy tầm vóc cao đẹp về tình cảm, đức hạnh và trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam thế kỉ XVIII, không hề thua kém nàng Pénélope của Hy Lạp cổ đại trong tác phẩm Odyssée bất hủ của Homère.

    So với nàng - con người giữ được nhiều tính chất thiên chân - thì hình ảnh người chinh phu có phần mờ nhạt. Hình như trong đầu óc kẻ chinh phu phong kiến này đầy dẫy những giáo điều chết cứng. Chàng lao vào chiến tranh như một cái máy:

    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo,

    Chàng không ý thức được thực chất hành động xả thân của mình và chàng còn bị mù quáng bởi những bả vinh hoa:

    Non Yên tạc đá đề danh...

    Chính vì lẽ đó, kẻ nhìn rõ mặt trái của chiến tranh chính là người chinh phụ, chứ không phải là chinh phu, kẻ trực tiếp dấn thân "vào nơi gió cát"!

    Tuy nhiên lòng yêu chồng đã lấn át và bao trùm tất cả. Chinh phụ không một lời oán trách chồng. Phải chǎng điều đó cho chúng ta thấy một nét đẹp khác: đó là sự nhu thuận trong tính cách của nàng?

    Về nghệ thuật, Chinh phụ ngâm là tác phẩm tiếng Việt ưu tú vào bậc nhất của vǎn học Việt Nam.

    Với Chinh phụ ngâm, ngôn ngữ vǎn học dân tộc đã được nâng tới trình độ tột đỉnh. Mỗi câu thơ đều được tạo thành bởi những từ ngữ tinh xác, được gọt giũa công phu bởi một vǎn tài lớn.

    Những câu thơ đầy hình ảnh:
    Áo chàng đỏ tựa ráng pha
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

    Những câu thơ tả cảnh chiến địa thê lương:

    Non Kì quạnh quẽ trǎng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
    Mặt chinh phu trǎng dõi dõi soi.
    Cảnh thiên nhiên sầu thảm:
    Sương như búa bổ mòn gốc liễu
    Nước dường cưa xẻ héo cành ngô
    Giọt sương phủ bụi chim gù
    Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.

    Những câu thơ tả "hình dong" người chinh phụ sầu não:

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng
    Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng co.

    Và trên tất cả là những câu thơ tả tình, tả mọi trạng thái tâm lí:

    Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
    Hương gượng đốt hồn đà mê mải
    Gương gượng soi lệ lại chứa chan
    Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn
    Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.

    Ngôn ngữ Việt Nam vốn giàu sức biểu hiện, giàu hình dung từ tinh tế, đã được vận dụng vào trong tác phẩm một cách tài tình:

    Thét roi cầu vị ào ào gió thu
    Lá cờ bay ngùi ngùi
    Gà co óc gáy sương
    Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
    Bến Ngân sùi sụt, cung trǎng chốc mòng

    Đôi khi Chinh phụ ngâm dùng ngoa ngữ. Đó là dấu hiệu cho thấy ngôn ngữ thơ đã vượt tới một tầm cao, bắt đầu phát huy tính chất "cuồng phóng" vốn ít có trong vǎn chương "khuôn phép"thời xưa:

    Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng
    Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
    Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt
    Trống tiều khua như rứt buồng gan
    Võ vàng đổi khác dung nhan...

    Chinh phụ ngâm sử dụng thể thơ đặc thù của dân tộc, đã có sẵn trong nền vǎn học dân gian: đó là thể song thất lục bát, giàu nhạc điệu hơn thể thơ lục bát bởi hai vần trắc ở hai câu 7. Thể thơ này tỏ ra thích hợp cho những tác phẩm trữ tình, như "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, "Ai tư vãn" của Lê Ngọc Hân, "Tự tình khúc" của Cao Bá Nhạ, "Khóc Dương Khuê" của Nguyễn Khuyến...

    Một tác phẩm vǎn chương bác học, được sáng tạo bởi một thể thơ thuần tuý dân tộc: Đó là bằng chứng hùng hồn cho thấy tiềm nǎng to lớn của tiếng Việt. Đồng thời chính điều đó đã khiến Chinh phụ ngâm trở nên ưu việt, được quảng đại quần chúng tiếp nhận, tán thưởng và truyền tụng suốt từ đời nọ đến đời kia.

    Chinh phụ ngâm chuyển hoá một cách tài tình những điển cố và những câu thơ của vǎn học Trung Hoa sang tiếngViệt, làm giàu cho kho từ vựng ngô ngữ vǎn học nước nhà:

    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
    Chàng ruổi ngựa dặm ngàn mây phủ
    Thiếp dạo hài lối cũ rêu in...

    (phỏng thơ Lí Bạch)

    Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong

    (Phỏng thơ Vương Xương Linh)

    Chinh phụ ngâm còn sử dụng nhạc điệu vô cùng điệu nghệ khiến cho tác phẩm từ lúc ra đời đến nay dường như không phải để đọc mà là để ca, để ngâm ngợi... Với "AIR" giai điệu hoà thanh trầm sầu và da diết, có đổi thay theo từng trạng thái tâm hồn, ca khúc Chinh phụ ngâm đã làm say mê biết bao thế hệ con người...

    Vì những lí do đã nêu trên, Chinh phụ ngâm đã trở thành kiệt tác thi ca, và bản diễn nôm của Hồng Hà nữ sĩ được đánh giá là hay hơn cả nguyên tác Hán vǎn của Đặng Trần Côn.


    Chinh Phụ Ngâm

    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên 1
    Xanh kia thǎm thẳm từng trên
    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
    Trống Tràng Thành 2 lung lay bóng nguyệt,
    Khói Cam Tuyền 3 mờ mịt thức mây.
    Chín lần gươm báu trao tay,
    Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
    Nước thanh bình ba trǎm nǎm cũ,
    Áo nhung 4 trao quan vũ từ đây.
    Sứ trời sớm giục đường mây,
    Phép công là trọng niềm tây 5 sá nào.
    Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,
    Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa 6
    Bóng cờ tiếng trống xa xa,
    Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng.
    Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
    Thành liền 7 mong tiến bệ rồng,
    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời 8
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa 9
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. 10
    Giã nhà đeo bức chiến bào,
    Thét roi cầu Vị 11 ào ào gió thu.
    Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
    Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
    Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
    Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền.
    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
    Nhủ rồi taylại trao liền
    Bước đi một bước lại vin áo chàng.
    Lòng thiếp tựa bóng trǎng theo dõi,
    Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San. 12
    Múa gươm 13 rượu tiễn chưa tàn,
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
    Sǎn Lâu Lan rằng theo Giới Tử 14
    Tới Man Khê bàn sự Phục Ba 15
    áo chàng đỏ tựa ráng pha,
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
    Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
    Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
    Hà lương 16 chia rẽ đường này
    Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.
    Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu, 17
    Ngựa sau còn khuất nẻo Tràng Dương. 18
    Quân đưa chàng ruổi lên đường,
    Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chǎng?
    Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng.
    Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
    Dấu chàng theo lớp mây đưa,
    Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
    Chàng thì đi cõi xưa mưa gió,
    Thiếp thì về buồng cũ chiếu chǎn.
    Đoái trông theo đã cách ngǎn,
    Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
    Chốn Hàm Dương 19 chàng còn ngoảnh lại,
    Bến Tiêu Tương 20 thiếp hãy trông sang.
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
    Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
    Lòng chành ý thiếp ai sầu hơn ai?
    Chàng từ đi vào nơi gió cát,
    Đêm trǎng này nghỉ mắt phương nao?
    Xưa nay chiến địa dường bao,
    Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu.
    Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
    Dòng nước sâu ngựa nản chân bon.
    Ôm yên gối trống đã chồn.
    Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.
    Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, 21
    Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. 22
    Hình khe thế núi gần xa,
    Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao.
    Sương đầu núi buổi chiều như gội,
    Nước lòng khe nẻo lội còn sâu.
    Não người áo giáp bấy lâu,
    Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
    Trên trướng gấm thấu hay chǎng nhẽ,
    Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
    Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
    Chẳng nơi hãn hải 23 thì miền Tiêu Quan. 24
    Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,
    Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
    Lên cao trông thức mây lồng, 25
    Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?
    Chàng từ sang đông nam khơi nẻo,
    Biết nay chàng tiến thảo 26 nơi đâu.
    Những người chinh chiến bấy lâu,
    Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.
    Nức hơi mạnh ân dày từ trước,
    Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu.
    Non Kì 27 quạnh quẽ trǎng treo,
    Bến Phì 28 gió thổi đìu hiu mấy gò.
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
    Mặt chinh phu trǎng dõi dõi soi.
    Chinh phu tử sĩ mấy người,
    Nào ai mạc mặt 29 nào ai gọi hồn?
    Dấu binh lửa nước non như cũ,
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
    Phận trai già ruổi chiến trường,
    Chàng Siêu 30 tóc đã điểm sương mới về.
    Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
    Ba thước gươm một cỗ nhung yên.
    Xông pha gió bãi trǎng ngàn,
    Tên reo 31 đầu ngựa giáo dan 32 mặt thành.
    áng công danh trǎm đường rộn rã,
    Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi.
    Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai.
    Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
    Trong cửa này đã đành phận thiếp,
    Ngoài mây kia há kiếp chàng vay 33?
    Những mong cá nước vui vầy,
    Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
    Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
    Chàng há từng học lũ vương tôn 34.
    Cớ sao cách trở nước non,
    Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu?
    Trang phong lưu đang chừng niên thiếu,
    Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
    Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
    Quan san để cách hàn huyênb35 cho đành!
    Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
    Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
    Nay quyên đã giục oanh già,
    ỷ nhi 36 lại gáy trước nhà líu lo.
    Thuở đǎng đồ 37 mai chưa dạn gió,
    Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
    Nay đào đã quyến gió đông,
    Phù dung lại đã bên sông bơ xờ. (Có bản chép : Tuyết mai trắng bãi phù dung đỏ bờ.)
    Hẹn cùng ta Lũng Tây 38 nham ấy,
    Sớm đã trông nào thấy hơi tǎm.
    Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
    Chiều hôm nghe dậy tiếng cầm 39 lao xao
    Hẹn nơi nao Hán Dương 40 cầu nọ
    Chiều lại tìm nào có tiêu hao.
    Ngập ngừng gió thổi áo bào,
    Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông. 41
    Tin thường lại người không thấy lại,
    Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
    Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
    Sân đi một bước trǎn tình ngẩn ngơ.
    Thư thường lại người chưa thấy lại,
    Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
    Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
    Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?
    Thử tính lại diễn khơi 42 ngày ấy,
    Tiền sen 43 này đã nảy là ba.
    Xót người lần lữa ải xa,
    Xót người nương chốn hoàng hoa 44 dặm dài.
    Tình gia thất nào ai chẳng có.
    Kia lão thân 45 khuê phụ 46 nhớ thương.
    Mẹ già phơ phất mái sương.
    Con thơ mǎng sữa vả đương phù trì 47
    Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
    Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
    Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
    Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.
    Nay một thân nuôi già dạy trẻ.
    Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
    Nhớ chàng trải mấy sương sao,
    Xuân từng đổi mới đông nào còn dư.
    Kể nǎm đã ba tư cách diễn,
    Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang.
    Ước gì gần gũi tấc gang.
    Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.
    Thoa cung Hán 48 thuở ngày xuất giá,
    Gương lầu Tần 49 dấu cũ soi chung.
    Cậy ai mà gửi tới cùng,
    Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư?
    Nhẫnđeo tay 50 mọi khi ngắm nghía
    Ngọc cài đầu 50 thuở bé vui chơi.
    Cậy ai mà gửi tới nơi,
    Để chàng trân trọng dấu người tương thân?
    Trải mấy xuân tin đi tin lại,
    Tới xuân này tin hãy vắng không.
    Thấy nhạn luống tưởng thư phong, 51
    Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
    Gió tây nổi khôn đường hồng tiên, 52
    Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
    Màn mưa trướng tuyết xông pha,
    Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. 53
    Đề chữ gấm 54 phong thôi lại mở,
    Gieo bói tiền 55 tin dở còn ngờ,
    Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
    Trǎng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
    Há như ai hồn say bóng lẫn,
    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
    Trâm cài xiêm thắt 56 thẹn thùng,
    Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
    Ngồi rèm thưa rủ thác 57 đòi phen.
    Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
    Trong rèm dường đã có đèn biết chǎng.
    Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
    Buồn rầu nói chẳng nên lời,
    Hoa đèn 58 kia với bóng người khá thương.
    Gà eo óc gáy sương nǎm trống,
    Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
    Khắc giờ đằng đẵng như niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
    Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
    Gương gượng soi lệ lại chứa chan.
    Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
    Dây uyên (59) kinh đứt phim loan 59 ngại chùng.
    Lòng này gửi gió đông có tiện,
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
    Non yên dầu chẳng tới miền,
    Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.
    Trời thǎm thẳm xa vời khôn thấu,
    Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
    Cảnh buồn người thiết tha lòng.
    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
    Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
    Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
    Giọt sương phủ bụi chim gù,
    Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.
    Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
    Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
    Lá màn lay ngọn gió xuyên,
    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
    Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,
    Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.
    Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
    Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não,
    Từ nữ công phụ xảo đều nguôi.
    Biếng cầm kim biếng đưa thoi,
    Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa.
    Mặt biếng tô miệng càng biếng nói,
    Sớm lại chiều dòi dõi nương song.
    Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
    Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
    Biếng trang điểm lòng người sầu tủi,
    Xót nỗi chàng ngoài cõi Giang Lǎng.
    Khác gì ả Chức 60 chị Hằng, 61
    Bến Ngân 62 sùi sụt cung trǎng chốc mòng.
    Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối,
    Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm
    Mượn hoa mượn rượu giải buồn
    Sầu làm rượu nhạt muộn dồn hoa ôi.
    Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng,
    Ôm đàn tranh mẩy phím rời tay.
    Xót người hành dịch 63 bấy nay,
    Dặm xa thêm mỏi tráp đầy lại vơi.
    Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
    Trống tiều 64 khua như rứt buồng gan.
    Võ vàng đổi khác dung nhan,
    Khuê li 65 mới biết tân toan 66 dường này.
    Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,
    Chua cay này há có vì ai?
    Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
    Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!
    Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
    Lệ thiếp nào chút vướng bên khǎn?
    Bui còn hồn mộng được gần,
    Đêm đêm thường tới Giang Tân tìm người.
    Tìm chàng thuở Dương Đài 67 lối cũ,
    Gặp chàng nơi Tương Phố 68 bến xưa.
    Sum vầy mấy lúc tình cờ,
    Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
    Giận thiếp thân lại không bằng mộng,
    Được gần chàng bến Lũng thành Quan.
    Khi mơ những tiếc khi tàn,
    Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không.
    Bui có một tấm lòng chẳng dứt,
    Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi.
    Lòng theo nhưng chửa thấy người.
    Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.
    Trông bến nam bãi chia mặt nước,
    Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh.
    Nhà thôn mấy xóm chông chênh, 69
    Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
    Trông đường bắc đôi chòm quán khách,
    Rườm rà cây xanh ngắt núi non.
    Lúa thành thoi thóp bên cồn,
    Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.
    Non đông thấy lá hầu chất đống,
    Trĩ sập sè mai cũng bẻ bai.
    Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
    Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.
    Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
    Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu.
    Ngàn thông chen chúc khóm lau,
    Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
    Trông bốn bề chân trời mặt đất,
    Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen.
    Lớp mây ngại mắt khôn nhìn,
    Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan? 70
    Giây rút đất 71 dễ khôn học chước,
    Khǎn gieo cầu 72 nào được thấy tiên.
    Lòng này hoá đá cũng nên,
    E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
    Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong 73
    Chẳng hay muôn dặm ruổi rong,
    Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chǎng?
    Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
    Lòng thiếp nào dám nghĩ gần xa?
    Hướng dương lòng thiếp như hoa,
    Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
    Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái.
    Hoa để vàng bởi tại bóng dương.
    Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
    Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần!
    Chồi lan nọ trước sân đã hái,
    Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
    Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
    Ngửa trông xem vẻ thiên chương 74 thẫn thờ.
    Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ,
    Độ Khuê triền 75 buổi có buổi không.
    Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
    Chuôi sao Bắc đẩu thôi đông lại đoài.
    Một nǎm một nhạt mùi son phấn.
    Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi.
    Xưa sao hình ảnh chẳng rời.
    Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương? 76
    Chàng ruổi ngựa dằm trường mây phủ,
    Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in.
    Gió xuân ngày một vắng tin,
    Khá thương nhỡ hết mấy phen lương thì 77
    Sẩy nhớ khi cành Diêu đoá Ngụy,n78
    Trước gió xuân vàng tía sánh nhau.
    Nọ thì ả Chức nàng Ngâu,
    Tới trǎng thu lại bắc cầu qua sông
    Thương một kẻ phòng không luốn giữ,
    Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau.
    Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
    Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh:
    Xuân thu để giận quanh ở dạ,
    Hợp li đành buồn quá khi vui.
    Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
    Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
    Kia Vǎn Quân 79 mĩ miều thuở trước;
    E đến khi đầu bạc mà thương.
    Mặt hoa nọ gã Phan lang 80
    Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng.
    Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
    Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
    Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa,
    Gái tơ mấy chốc sẩy ra nạ dòng.
    Gác xuân nọ mơ mòng vẻ mặt,
    Lầu hoa kia phảng phất mùi hương.
    Trách trời sao để nhỡ nhàng,
    Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.
    Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,
    Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
    Chẳng xem chim yến trên rường,
    Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
    Kia loài sâu đôi đầu cùng sánh,
    Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
    Liễu sen là thức cỏ cây,
    Đôi hoa cũng sánh đôi dây cũng liền.
    ấy loài vật tình duyên còn thế,
    Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
    Thiếp xin về kiếp sau này,
    Như chim liền cánh như cây liền cành.
    Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
    Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
    Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
    Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
    Xin làm theobóng cùng chàng vậy,
    Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên.
    Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền,
    Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.
    Lòng hứa quốc 81 tựa son ngǎn ngắt,
    Sức tí dân 82 dường sắt tri tri
    Máu Thiều Vu 83 quắc 84 Nhục Chi 85,
    ấy thì buổi uống ấy thì bữa ǎn.
    Mũi đòng vác 86 đòi lần hǎm hở,
    Đã lòng trời gìn giữ người trung.
    Hộ chàng trǎm trận nên công,
    Buông tên ải bắc treo cung non đoài.
    Bóng cờ xí giã ngoài quan ải,
    Tiếng khải ca trở lại thần kinh.
    Non Yên 87 tạc đá đề danh,
    Triều thiên 88 vào trước cung đình 89 dâng công.
    Nước duềnh Hán vác đòng rửa sạch,
    Khúc nhạc từ réo rắt ngợi khen.
    Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
    Tên ghi gác Khói 90 tượng truyền đài Lân 91
    Nền huân tướng đai cân rạng vẻ92,
    Chữ đồng hưu 93 bia để nghìn đông.
    Ơn trên tử ấm thê phong,
    Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.
    Thiếp chẳng dại như người Tô phụ, 94
    Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương 95.
    Khi về đeo quả ẩn vàng,
    Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao.
    Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
    Xin vì chàng rũ lớp phong sương.
    Vì chàng tay chuốc chén vàng,
    Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
    Giở khǎn lệ chàng trông từng tấm,
    Đọc thơ sầu chàng thẩm từng câu.
    Câu vui đổi với câu sầu,
    Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
    Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
    Sẽ ca dần ren rén từng thiên.
    Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
    Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
    Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ,
    Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
    Ngâm nga mong gửi chữ tình,
    Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.

    --------------------------------
    1Truân chuyên: gian nan khốn khó
    2Trường thành: Vạn Lí trường thành, do Tần Thuỷ Hoàng xây dựng.
    3Cam tuyền: Tên đất
    4ảo nhung: áo của quân nhân.
    5Niềm tây: Niềm riêng.
    6Thê noa: vợ con.
    7Thành liền: bởi chữ "liên thành" (những thành liền nhau). Điển tích: Nước Triệu có hai hòn ngọc bích. Vua nước Tần viết thư xin đem nǎm thành trì đổi ngọc ấy. Về sau, vật gì quí báu gọi là có giá "liên thành".
    8Thiên kiêu: giặc trời Hán thư có câu "Hồ giả thiên chi kiêu tử" (giặc Hồ là đám con khó dạy của trời).
    9Da ngựa: bởi chữ "mã cách" (Mã: ngựa; cách: da). Điển tích: Đời Đông Hán; Mã Viện, tướng giỏi, từng nói: "Làm trai nên chết chốn sa trường biên ải, lấy da ngựa bọc thây chôn mới gọi là trai".
    10Thái Sơn, hồng mao: Tư Mã Thiên nói: "Người ta vẫn có cái chết, song có cái chết đáng nặng như núi Thái Sơn, có cái chết không đáng nhẹ như lông chim hồng". ý nói có sự đáng chết và không đáng chết.
    11Cầu vị (Vị kiều): Lí Bạch có câu thơ "Tuấn mã nhược phong phiêu, minh tiên xuất Vị kiều". (Ngựa giỏi đi nhanh như gió cuốn, thét roi ra lối cầu sông vị).
    12Có câu hát "Tướng quân tam tiễn định Thiên Sơn, tráng sĩ trường ca nhập Hán quan" (ba mũi tên của tướng quan lấy được núi Thiên Sơn, tráng sĩ hát dài mà kéo quân vào cửa ải Hán).
    13Gươm (Long Tuyền): Tên một thanh kiếm báu.
    14Giới Tử, Lâu Lan: Phó Giới Tử, tướng nhà Đường, dùng mưu giết chết vua đất Đại Uyển là Lâu Lan.
    15Man Khê, Phục Ba: Mã Viện, đời Đông Hán, lĩnh chức Phục Ba tướng quân, từng đánh dẹp bọn rợ ở Man Khê.
    16Hà Lương: (hà: sông, lương: cầu). Ngày xưa tiễn đưa nhau thường đến chốn "cầu sông".
    16Tế Liễu: Vua Hán Vǎn Đế đến doanh Tế Liễu là nơi đồn quân của tướng Chu á Phu để khao thưởng quân sĩ.
    18Tràng Dương: Tên đất (cũng là tên cung của nhà Tần).
    19Hàm Dương: Tên đất, tây kinh của nhà Tần.
    20Tiêu Tương: tên sông.
    21Thành Bạch Đǎng. Vua Hán Cao Tổ từng bị vây ở đấy.
    22Thanh Hải: Tên đất. Đời Đường, rợ Thổ Cốc Hồn hùng cứ ở đấy.
    23Hãn hải: Bãi sa mạc.
    24Tiêu Quan: tên cửa ải ở nơi hiểm trở. Các đời Đường, Tống xây luỹ đắp đồn chống rợ Thổ Phồn.
    25Lên cao trông thức mây lồng: Điển tích: Đời Đường, Địch Nhân Kiệt đi đánh giặc xa nhà, lên núi cao trông đám mây trắng ở xa xa, nói với quân sĩ rằng: "Cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy", ý nói nhớ nhà.
    26Tiến thảo: (Tiến: đi tới; thảo: đánh dẹp giặc cướp).
    27Non Kì (Kì Sơn): Núi Kì Liên, đời Hán, Hoắc Khứ Bệnh đánh rợ Hung Nô ở đấy.
    28Bến Phì (Phì Thuỷ): tên sông. Bồ Kiên nước Tần, đem hàng trǎm vạn quân đánh Tấn ở sông này, thua trận, quân sĩ mười phần chết mất tám chín, thây đắp thành gò.
    29Mạc mặt: vẽ ra nét mặt. (Dịch chữ "đan thanh" (đan: sắc đỏ; thanh: sắc xanh).
    30Ban Siêu: danh tướng đời Hán, theo việc binh nhưng ra xứ Tây Vực ở 31 nǎm, lập nhiều công lớn, khi về đã quá 80 tuổi.
    31Tên reo đầu ngựa (minh đích) : (minh: kêu; đích: mũi tên bịt sắt) : tên nỏ bịt sắt, bắn đi vang ra tiếng.
    32Giáo dan (duyên can) : (duyên: leo; can: cán cây giáo): leo ngọn giáo mà lên mặt thành (duyên - doan).
    32ay: tiếng đệm của câu than thở.
    34Vương tôn: con nhà giàu sang, ưa đi chơi không đoái đến gia đình.
    35Quan san, hàn huyên: (quan : ải ; san : núi : hàn : lạnh ; huyên : ấm), ý nói cách trở, không biết tin tức của nhau.
    36ý nhi: chim én (yến) thường làm tổ trong mái nhà.
    37Đǎng đồ: lên đường ra đi nơi xa.
    38Lũng Tây (Lũng Tây sầm): núi nhỏ mà cao (sầm) ở đất Lũng Tây.
    39Tiếng cầm: tiếng chim chóc.
    40Hán Dương: tên đất.
    41(mộ trào) : (mộ : chiều : trào, triều : con nước) : con nước lên buổi chiều hôm.
    42Diễn khơi ngày ấy: từ ngày cách xa nhau.
    43Tiền sen: dịch chữ "hà tiền" (hà : sen : tiền : đồng tiền), lá sen non nổi ở mặt nước như đồng tiền.
    44Hoàng hoa thú: lính thú đời xưa, cứ tháng 9 thì cắt đi, đến tháng 9 nǎm sau mới đổi về. Tháng 9 là mùa hoa cúc nở, sắc vàng, cho nên gọi là "Hoàng hoa thú".
    45Lão thân: cha mẹ già.
    46Khuê phụ: người vợ ở chốn khuê phòng.
    47Phù trì: trông nom, ẵm bồng.
    48Hán cung thoa): nhắc tích Hán Vũ đế ban cho bà Triệu Tiếp Dư một cái thoa ngọc.
    49(Tần lâu kính): Tần Thuỷ Hoàng có cái gương lớn gọi là "chiếu đảm kính", soi thấy mật trong thân thể, biết được người nào có tà tâm.
    50(Câu chỉ ngân, tao đầu ngọc) : nhẫn đeo tay bằng bạc; trâm cài đầu bằng ngọc.
    51Lấy thích Tô Vũ xé áo lụa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.
    52Hồng tiện: nhờ nhạn đem thư buộc ở chân (hồng: chim nhạn trống; nhạn: chim mái).
    53Màn mưa trướng tuyết (hổ trướng, lang vi): trướng hổ, màn lang, chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.
    54(Cẩm tự đề thi): Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi vǎn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.
    55(Kim tiền vấn bốc): gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.
    56Xiêm thắt: áo quần thắt nhỏ (thân thể gầy vì nhớ chồng).
    57Rủ thác: bỏ rèm xuống, cuốn lên.
    58Hoa đèn: dịch chữ "đǎng hoa" (đĩa đèn dầu xưa).
    59Dây uyên, phím loan: hai sợi dây đàn như đôi chim uyên ương, hai phím đàn như đôi chim loan phụng. Chinh phụ không muốn lên dây đàn, sợ đứt dây hoá ra điềm xấu.
    60Chức nữ.
    61Hằng Nga
    62Bến sông Ngân Hà, nơi Ngưu Lang - Chức Nữ gặp gỡ.
    63Hành dịch: đi làm nghĩa vụ (đi lính).
    64Trống canh ở trại quân.
    65Khuê li: xa cách nhau lâu ngày.
    66Tân toan: (tân: cay; toan: chua): nỗi chua cay.
    67Dương Đài: tên núi, vua Tương Vương nước Sở mộng gặp thần nữ Vu Sơn ở đấy.
    68Bến sông Tiêu Tương.
    69Tỉnh ấp) : (tỉnh: giếng; ấp: xóm) : những nơi xóm làng.
    70Ngọc quan: Ngọc Môn quan, tên một cửa ải, nơi giáp giới xứ Tây Vực.
    71Gậy rút đất: Phí Trường Phòng học được thuật rút đất, hễ dùng cái gậy trỏ xuống đất thì nghìn dặm đường cũng thu lại ở trước mắt.
    72Khǎn gieo cầu: Thôi sinh vào núi lấy được tiên nữ làm vợ, học được phép tàng hình, lẻn vào trong cung để tinh nghịch, bị đạo sĩ đuổi bắt. Chàng chạy về núi, còn cách con sông, tiên nữ hoá phép ném cái khǎn biến thành nhịp cầu ngũ sắc để cho chàng chạy qua.
    73Hai câu này dịch hai câu thơ của bài "Khuê oán" của Vương Xương Linh, thi sĩ đời Đường:
    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
    Hối giao phu tế mịch phong hầu
    74Thiên chương: các vẻ trên trời, như: tinh tú, nhật, nguyệt...
    75Khuê triền: độ đi của sao Khuê.
    76Sâm, Thương: sao Sâm (sao Hôm) phương Tây, sao Thương (sao mai) ở phương Đông, một ngôi hiện ra thì một ngôi lặn đi không cùng trông thấy mau. ý nói sự li biệt.
    77Lương thì: thời tươi đẹp.
    78Diêu hoàng, Nguỵ tử: nhà Diêu Sùng có hoa mẫu đơn vàng (hoàng); nhà Nguỵ Nhân Phổ có hoa mẫu đơn tía (tử).
    79Vǎn Quân: giai nhân đời Hán, Trác Vǎn Quân, goá chồng, nghe Tư Mã Tương Như đàn khúc "Phụng cầu hoàng" ưng theo làm vợ. Sau Tương Như muốn lấy vợ lẽ, Vǎn Quân bèn làm bài "Bạch đầu ngâm". Tương Như cảm kích, thôi không lấy lẽ, cùng Vǎn Quân ở đời đến già.
    80Phan lang: người con trai tuấn tú đời Tấn Phan An Nhân, mỗi khi ra đường, con gái hay ghẹo, ném quả đầy xe.
    Điển tích này và điển tích trên ý nói: một ngày kia vợ chồng cùng già.
    81Hứa quốc: một lòng đem thân giúp nước.
    82Tý dân: Hết sức che chở nhân dân.
    83Thiền Vu: chúa của rợ Hung Nô.
    84Quắc: lỗ tai trái. Dâng đầu giặc ghi công chỉ cần xẻo lỗ tai trái đem về nộp.
    85Nhục chi: tên nước xưa ở miền Tây Vực.
    86Đòng vác: gươm giáo.
    87Non Yên: Núi Yên Nhiên ở đất ngoại Mông Cổ. Đời Hậu Hán, Đậu Hiến đánh đuổi rợ Hung Nô đến đấy, lên núi khắc công huân vào đá, rồi về.
    88Triều thiên: thiên triều, triều (đình) vua.
    89(Vị Ương cung): cung điện nhà Hán, chu vi rộng lớn, xây dựng luôn, hết cung này đến điện nọ không bao giờ rồi, cho nên đặt tên"Vị Ương"(chưa hết); cũng như: dạ vị ương (đêm chưa sáng).
    90Gác Khói: Lǎng Yên các (lǎng yên: cao vượt trên tầng mây khói), vua Đường Thái Tông cho dựng để vẽ hình 24 công thần.
    91Đài Lân: Kì Lân đài, Vua Hán Tuyên đế cho vẽ tượng 10 công thần ở đấy.
    92Mao tư khoán: (mao: cỏ tranh; tư: cỏ gai; khoán: vǎn tự để làm tin): Đời xưa phong hầu, vua ban cho đất ngũ sắc có bọc mao tư, hoặc cho tấm thiết khoán (tấm sắt ghi công trạng). Dịch giả dùng "nền huân tướng" dịch từ ngữ này (huân công, huân nghiệp: công nghiệp to lớn).
    93Đồng hưu: bởi câu "dữ quốc đồng hưu thích" (cùng lo cùng vui với nước nhà).
    94Tô phụ: vợ Tô Tần. Khi còn hàn vi, Tô Tần về nhà, người vợ cứ ngồi trên khung cửi, không thèm đứng dậy.
    95Lạc Dương: chỉ Tô Tần, người Lạc Dương.

     
     


     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Z.28 Macao... Trinh Nữ Giang Hồ

    Người Thứ Tám

    1.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    2.Vũ Thần [16777215]
    3.Tinh Thần Biến [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646832]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502823]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639952]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471679]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4341267]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600887]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2690025]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2496803]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300805]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010767]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972348]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1549019]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1470187]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445926]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204097]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150754]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078876]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062619]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028948]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026556]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959505]
    25.Quỷ Bảo [921864]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907655]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905345]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [877083]
    29.Hắc Nho [852212]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [843269]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840121]
    32.Hóa Huyết Thần Công [756100]
    33.Tru Tiên [747834]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745342]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661956]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622480]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592513]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569435]
    39.Hoàn Hảo [557802]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536836]
    41.Tầm Tần Ký [512083]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456430]
    43.Thiên Đường [452719]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450979]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439837]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [434059]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427539]
    48.Cậu Chó [417311]
    49.If You Are Here [411880]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408301]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm