hello guest!
Member ID:  
Password:
   
Remember me
ebooks - truyên việt nam
Nguyễn Hiến Lê » Bài học Israel[892] 
 
Rating: 
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  •   7.0/7 - 1 vote
    view comments COMMENTS   print ebook PRINT  
     
     

    Nguyễn Hiến Lê

    Bài học Israel



    MỤC LỤC 


     

    PHỤ LỤC I

    TÌNH HÌNH ISRAEL Ả RẬP TỪ 1968 ĐẾN THÁNG 8-1973

    TÌNH HÌNH VẪN CĂNG THẲNG

    (Lần tái bản 1974)

    Năm 1968, ở cuối chương 9, tôi đã viết: Có thể nói rằng vấn đề Ả Rập - Israel cứ lằng nhằng như vậy trong ít lâu, rồi có lúc sẽ bùng trở lại".

    Từ đó tới nay đã năm năm, tình hình vẫn lằng nhằng thật, nhưng nguy cơ bùng trở lại thì lúc này giảm đi.

    Từ sau thế chiến thứ nhì, mọi xung đột trên thế giới đều có bàn tay của Mỹ, Nga, Trung Cộng nhúng vào; xung đột nào cũng là xung đột giữa hai phe tư bản và cộng sản. Bảy tám năm nay Mỹ, Nga muốn sống chung hòa bình với nhau, chia lại ảnh hưởng trên thế giới, nhưng họ mặc cả với nhau chưa xong, nên còn dùng bọn đàn em làm những là bải để tháu cáy. Ở Tây Á cũng như ở Đông Dương họ thoả thuận nhằm với nhau không để cho gây ra thế chiến, nhưng không bên nào chịu thua bên nào: hễ Mỹ viện trợ cho đàn em mạnh lên có cơ thắng được đàn em của Nga, thì Nga cũng gia tăng ngay viện trợ cho đàn em của mình để lập lại sự thăng bằng; ngược lại cũng vậy.

    Cho nên ta thấy sau vụ căng thẳng giữa Israel và Ai Cập tháng 9-1971, Ai Cập xin viện trợ Nga, Nga giúp được một ít khí giới, thì Israel cũng vội vàng qua Mỹ xin viện trợ phi cơ Phantom và Mỹ cũng giúp.

    Rồi tới năm sau, Ai Cập xin Nga viện trợ thêm nữa, Nga từ chối (hoặc vì đã thoả thuận ngầm với Mỹ không giúp Ai Cập quá một mức nào đó; hoặc vì biết rằng nếu giúp thêm Ai Cập thì Mỹ cũng sẽ giúp thêm cho Israel). Ai Cập giận dữ, tháng 7-1972 đuổi một lúc 15.000 cố vấn quân sự Nga về nước. Nga thản nhiên.

    Chúng ta không sao đoán được những mưu mô quỉ quyệt của bọn thực dân, rất có thể họ dùng lá bài ở Tây Âu để đổi một lá bài ở Đông Dương hay ngược lại. Và khi nào thấy có lợi cho họ thì họ bỏ rơi ngay đàn em một cách trắng trợn, vô liêm sỉ.

    Từ đầu năm ngoái, Mỹ đã tiến thêm một bước dài trên con đường sống chung hoà bình. Tháng 2-1972, Nixon qua Hoa Lục bắt tay Mao Trạch Đông, rồi tháng 5-1972 lại qua Nga mật đàm với Brezhnev ở Moscow; hậu quả là Đài Loan chơi vơi ở giữa biển, các hải cảng Bắc Việt bị phong toả, và mưa bom trút xuống Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định v v, mà Nga và Trung Cộng cứ làm thinh ngó. Tháng sáu năm nay (1973 Brezhnev qua Washington đáp lễ Nixon; như vậy là họ đã đồng lòng tạm giải quyết mọi xung đột bây giờ đường lối ngoại giao, tránh chiến tranh vì chiến tranh nguyên tử sẽ làm cho họ chết hết hoặc ngắc ngoài hết, còn chiến tranh cổ điển như ngày nay thì thử sức nhau trên hai chục năm nay cũng đủ rồi, chẳng đi tới đâu cả.

    °

    Nội bộ Ả Rập

    Hội nghị các quốc gia Ả Rập ở Khartoum, thủ đô Soudan, tháng 8 năm 1967, thất bại: họ chia rẽ, không tìm được một giải pháp chung; họ không dám chủ chiến vì không đủ lực lượng, mà cũng không dám chủ hoà vì sợ mất mặt. Tháng 11-1967, Hội đông Bảo an Liên hiệp quốc đưa ra quyết nghị:

    - Do Thái phải trả lại tất cả các đất chiếm được của Ả Rập;

    - Ả Rập phải nhìn nhận Do Thái.

    Ả Rập bằng lòng nhưng Do Thái không chịu.

    Từ đó tới giữa năm 1968, tình trạng không thay đổi; Israel vẫn chiếm đóng đất Ả Rập và bắt đầu tổ chức hành chính, khai thác đất đai.

    Đầu tháng 7 năm 1968, không khí mới hơi dịu (Ai Cập nhận Israel là một thực thể, không nói đến việc tiêu diệt Do Thái nữa thì xảy ra một cuộc đảo chánh ở Iraq, nội các mới do Hasan Badr lãnh đạo tuyên bố sẽ đấu tranh tới cùng để đè bẹp Do Thái. Do đó, từ tháng 9-1968, không khí lại căng thẳng: mấy lần giao tranh nho nhỏ giữa Jordanie, Ai Cập và Do Thái, và lần nào Do Thái cũng phản công dữ dội, nhất là lần họ đột kích chớp nhoáng sân bay Beyrout, phân huỷ 13 phi cơ Ả Rập rồi yên ổn rút lui (tháng 12-1968)

    Năm 1969, phe Ả Rập có hai cuộc cách mạng:

    Tháng 5-1969, cách mạng ở Soudan thành công, thành lập một chính phủ Cộng hoà tả khuynh; rồi tháng 9-1969, cách mạng ở Lybie, nhóm quân nhân lên cầm quyền, theo đường lối dân chủ xã hội, họ giúp được nhiều tiền cho việc chống Do Thái vì Lybie có nhiều dầu lửa.

    Như vậy phe thân Nga được tăng cường, Biệt kích quân Ai Cập và Tổ chức giải phóng Palestine (PLO hoạt động hăng hơn: Ai Cập oanh tạc các cơ sở quân sự Do Thái ở bờ kênh Suez, Do Thái trả đũa, và ngày 19-9-1969 có một trận không chiến lớn nhất từ tháng 6-1967. Nhưng lần này cũng như các lần trước, hễ Ai Cập tấn công một thì Do Thái trả đũa hai và Ả Rập bị thiệt hại nhiều hơn. Golda Meir bảo Ả Rập vẫn chưa học được bài học tháng 6-1967. Thực ra chính vì họ đã học được bài học ấy nên không dùng chiến tranh đại quy mô nữa mà dùng chiến tranh tiêu hao: họ nghĩ rằng dân số của họ gấp ba chục lần Do Thái, vậy Do Thái chết một mà họ có chết mười chăng nữa, họ vẫn còn "thắng lợi".

    Sau vụ không chiến lớn nhất kể trên, một hội nghị hai mươi lăm nước Hồi giáo họp ở Le Caire để:

    - Lên án một người Úc đốt một thánh đường Hồi giáo ở Jérusalem, trong khu vực Do Thái chiếm đóng (mặc dầu Israel đã long trọng tuyên bố sẽ trừng trị kẻ tự ý bạo động điên khùng ấy);

    - Đòi Jérusalem phải trở về quy chế cũ;

    - Đòi Do Thái rút khỏi các vùng đất chiếm đóng;

    - Ủng hộ Tổ chức giải phóng Palestine.

    Nhưng chỉ ba tháng sau (12-1969 một hội nghị thượng đỉnh họp ở Rabat (Maroc thì phía Ả Rập lại chia rẽ nhau, không đưa ra một quyết định nào cả.

    Giữa năm 1970, tình hình dịu hơn. Ngoại trưởng Mỹ đưa ra một đề nghị ngưng chiến, được Nga tán thành. Tháng tám, Do Thái và Ả Rập bằng lòng ngưng chiến ba tháng để tìm giải pháp hoà bình.

    Do Thái đưa đề nghị:

    - Trả sa mạc Sinai;

    - Trả 70% đất đã chiếm ở phía tây sông Jourdain, nhưng phải thành lập một vùng phi quân sự;

    - Vẫn giữ đồi Golan ở Syrie và Jérusalem;

    Bù lại, Ả Rập phải:

    - Thừa nhận quốc gia Israel;

    - Ai Cập phải để cho Do Thái dùng kênh Suez với nhường vài địa điểm trên kênh cho Do Thái.

    Tổ chức giải phóng Palestine (PLO một mực chống lại đề nghị ấy, âm mưu ám sát Hussein, quốc vương Jordanie, người chủ hoà, và Hussein đem quân đàn áp dữ dội Tổ chức giải phóng Palestine. Vụ này Palestine gọi là vụ Tháng chín đen.

    Nasser đứng ra hoà giải, vừa xong thì thình lình chết vì bệnh đau tim ngày 28-10-1970, mới 52 tuổi.

    Ông giữ chức Tổng thống được 16 năm (từ 1954 trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Ai Cập và lịch sử bán đảo Ả Rập: Giành lại độc lập trong tay Anh, Pháp, kiến thiết quốc gia rồi chịu thêm cái nạn Israel mà nguyên nhân là sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga, Mỹ. Một số chính khách Âu Mỹ trách ông độc tài, ông lại mang cái hận để bán đảo Sinai lọt vào tay Israel, nhưng ai cũng phải nhận ông chân chính ái quốc, có lý tưởng, có tài lãnh đạo và trong lịch sử Hồi giáo từ đầu thế kỷ tới nay, ông đứng ngang hàng với Mustapha Kémal.

    Chủ tịch Quốc hội Anwar Sadat lên thay ông (Mahmoud Fawzi làm thủ tướng). Uy tín của Sadat kém xa Nasser, mà Sadat cũng không có chí lớn, không muốn làm lãnh tụ khối Ả Rập, có khuynh hướng ôn hòa. Kế đó, Tổng thống Atassi của Syrie tuy nhiệt tâm chống Tày phương nhưng kém tài, bị tướng Assad lật đổ. Assad lên thay cũng chủ trương hoà giải nữa.

    Cuộc đình chiến 90 ngày bắt đầu từ 5-8-1970, tới tháng 11-1970 hết hạn, được gia hạn thêm 90 ngày đến tháng 2-1971, sau cùng được thêm hạn lần thứ nhì thêm một tháng nữa.

    Sadat rất muốn ký hoà ước chính thức với Israel, nghĩa là chịu thừa nhận Israel để Israel trả lại một phần bán đảo Sinai; và mở kênh Suez để thu được tiền, mà cũng để được thêm an ninh (vì hễ tàu mọi nước qua kênh thì Israel không dám gây hấn ở khu đó).

    Nhưng khi Ai Cập tỏ ra ôn hoà thì Do Thái lại cứng rắn trở lại, Golda Meir bác bỏ đề nghị của Sadat, gây ác cảm với Mỹ và Liên hiệp quốc.

    Sự bác bỏ đó làm cho Tổ chức giải phóng Palestine (PLO và cả dân chúng Ai Cập nữa, nổi lên công kích Sadat dữ dội, muốn lật đổ ông. Sadat thẳng tay đàn áp phe khuynh tả thân Nga, trong đó có Phó tổng thống Sabry.

    Vậy qua 1971, tình hình Ả Rập - Israel lại căng thẳng như trước. Sau khi cuộc đình chiến chấm dứt vào tháng ba. Ai Cập và Israel lại oanh tạc lẫn nhau trên khu vực kênh Suez (tháng chín); Ai Cập xin Nga viện trợ thêm khí giới thì Israel cũng xin Mỹ viện trợ thêm phi cơ F-4 Phantom.

    Năm 1972, có ba việc đáng ghi:

    - Hussein, quốc vương Jordanie, muốn bắt tay với Do Thái, đưa ra một đề nghị hoà bình: thành lập một vương quốc liên hiệp Ả Rập - Do Thái ở phía tây sông Jourdain. Đề nghị này bị Tổ chức giải phóng Palestine và các quốc gia Ả Rập khác phản đối.

    - Tháng 7-1972, Sadat xin Nga viện trợ thêm khí giới mà không được, nổi giận trục xuất 15.000 cố vấn quân sự Nga, quay sang nhờ cậy Mỹ, Nga thản nhiên mà Mỹ làm lơ, rốt cuộc bốn tháng sau ông ta lại phải trở lại thân Nga (Người ta ngờ rằng đây là mưu mô của Ai Cập và Nga để Mỹ và Israel không ngờ được họ đương chuẩn bị chiến tranh 1973).

    - Tháng 9-1972, Do Thái tấn công Syrie và Liban (coi ở sau).

    Từ đầu năm 1973 tới nay, chỉ có mỗi vụ cảm tử quân Do Thái đột kích Beyrouth, thủ đô Liban (tháng 4-1973 để trả đũa Tổ chức giải phóng Palestine đã thảm sát hai nhà ngoại giao Mỹ ở Khartoum.

    Vụ đó cảm tử quân Do Thái thành công mỹ mãn, và ngày 15-5 Do Thái đã long trọng ăn mừng ngày Quốc gia họ được 25 tuổi.

    Tóm lại, từ 1967 đến nay, phía Ả Rập còn chia rẽ hơn trước:

    - Hussein rất muốn chủ hoà, nhưng luôn luôn bị đả kích, và phải khôn khéo, can đảm lắm mới giữ được tính mạng, vì ba phần tư dân Jordanie là người lưu vong Palestine, chỉ muốn hạ ông để có một chính quyền chống Do Thái mạnh hơn.

    - Liban chịu ảnh hưởng của phương Tây (Pháp từ thời Trung cổ, nên tuy ghét Israel mà vẫn muốn thân Tây phương;

    - Ả Rập thuộc dòng Ả Rập Saudi vì quyền lợi dầu lửa, tuy đứng về phe chống Israel, nhưng thường chỉ ủng hộ miệng.

    - Ai Cập vẫn cầm đầu phe chống Israel, được Iraq, Algérie, Syrie (thời Atassi), Soudan, Lybie ủng hộ; nhưng từ khi Nasser mất, Ai Cập không còn uy tín lớn nữa, không làm được gì cả, chỉ đột kích Do Thái lẻ tẻ và cũng hô hào suông nữa.

    Mấy lần rồi, nhà cầm quyền Ai Cập, Jordanie, muốn tỏ ra ôn hoà thì dân lưu vong Palestine chống đối, phá hoại kế hoạch hoà bình, mà chính dân chúng trong nước họ cũng phẫn nộ. Thêm một khó khăn nữa là Israel không thực tâm muốn hoà bình. Họ biết Ả Rập không làm gì được họ, mà càng chiếm đất đai Ả Rập được lâu thì càng có lợi cho họ khi điều đình thực sự.

    Do đó, tình hình cứ căng rồi dãn, dãn rồi căng; lâu lâu để lấy lòng dân chúng, các nhà cầm quyền Ả Rập lại dọa không bán dầu lửa cho nước nào ủng hộ Do Thái; hoặc tuyên bố sẽ "hợp thượng đỉnh để sử dụng tiềm năng của khối Ả Rập trong cuộc tranh chấp với Do Thái". Nhưng hội nghị mới bế mạc thì họ đã chia rẽ nhau rồi. Do Thái cứ làm thinh chế tạo khí giới, huấn luyện quân đội. Nga cũng làm thinh, còn ngoại trưởng Mỹ Rogers thì vừa rồi tuyên bố chiến tranh ở Tây Á không ích lợi gì cho Ả Rập hết.

    Rốt cuộc chỉ còn Tổ chức giải phóng Palestine (PLO do Yasir Arafat lãnh đạo, là hăng hơn cả, trước sau vẫn quyết tâm sống mái với Do Thái. Nhưng họ chỉ là một bọn lưu vong, không thành một quốc gia, phải ăn nhờ ở đậu các nước khác: đa số ở Jordanie, còn thì rải rác ở Syrie, Liban, A: Cập, Iraq… không rõ Liên hiệp quốc còn chu cấp cho họ không.

    Họ vào khoảng non ba triệu người, tình cảnh không đến nỗi điêu đứng, tủi nhục như Do Thái thời trước, nhưng cũng là những con thú không có hang (Byron), lớp lưu vong đầu tiên, hai mươi lăm năm nay ngày nào cũng ngong ngóng được về tổ quốc như Do Thái đã ngong ngóng về Sion. Nếu tình trạng này kéo dài thì họ sẽ thành một thứ tân Do Thái. Vì hiện nay đã có những quốc gia Ả Rập không ưa họ, như Jordanie, Liban.

    Người ta trách họ ở đâu cũng lộng hành, cuồng tín, xúi dân nổi loạn, như ở Jordanie năm 1970-1971, ở Liban năm 1973. Điều đó đúng: họ luôn luôn tìm cách lật đổ các chính phủ muốn thoả hiệp với Do Thái.

    Họ không có chính quyền, chỉ có một Mặt trận gồm nhiều cảm tử quân, dùng chính sách khủng bố các nông trại Do Thái, phá hoại các phi cơ dân sự Do Thái, bắt cóc các nhân vật Do Thái để buộc Do Thái phải thả những tù binh Palestine; họ phá các toà đại sứ Do Thái ở Bruxelles, Bon, La Haye, uy hiếp một phi hành đoàn Mỹ để phản đối Mỹ bán phi cơ cho Do Thái, cướp phi cơ Đức vì Đức viện trợ Do Thái, vân vân…

    Không ai có thể trách họ được: các đoàn Stern và Irgoun của Do Thái trước kia cũng chuyên ám sát các chính khách Anh và du kích quân Anh (coi đầu). Đó là cách chiến đấu của người yếu.

    Một vụ điển hình làm sôi nổi thế giới là vụ bắt cóc lực sĩ Do Thái trong thế vận hội Munich 1972. Sáng ngày 5-9-1972, một toán tám tên khủng bố Palestine trong tổ chức "Tháng chín đen" leo tường vô được nơi phái đoàn Do Thái cư ngụ, bắt được chín lực sĩ Do Thái làm con tin, và đòi Do Thái phải thả hai trăm tù binh Palestine, nếu không thì các con tin bị hạ sát hết.

    Thủ tướng Tây Đức gắng thương thuyết với họ. Dụ dỗ gì cũng vô ích. Do Thái lại không chịu nhượng bộ. Rốt cuộc Tây Đức tính cách gạt họ, dùng trực thăng chở quân khủng bố và con tin tới phi trường Frastenfeldbruck, rồi dùng những tay thiện xạ phục kích hạ sát được năm tên khủng bố, bắt được ba tên kia, nhưng tất cả chín con tin Do Thái đều bị quân khủng bố giết hết.

    Do Thái trả đũa lại, tấn công các căn cứ Palestine ở Syrie, Liban.

    Đầu năm 1974, tổ chức "Tháng chín đen" hạ sát hai nhà ngoại giao Mỹ ở Khartoum, và Do Thái khủng bố lại cũng xuất quỉ nhập thần không kém Palestine. Giữa đêm (đầu tháng tư), một đoàn 60 cảm tử quân Do Thái được tầu thuỷ đưa đến đổ bộ lên Beyrouth, thủ đô Liban, nơi có đại bản doanh Tổ chức giải phóng Palestine. Suốt hai giờ rưỡi họ đi lùng khắp Beyrouth như chỗ không người, giết được viên trùm gián điệp Palestine, viên phó tư lệnh tổ chức Al-Fatah, phá được trụ sở Tổ chức giải phóng Palestine, rồi ung dung rút lui, chỉ bị 2 người chết, 2 người bị thương. (phía Ả Rập 14 chết, bị thương nhiều hơn nữa).

    Thật là mất mặt thủ tướng Liban, ông ta phải từ chức. Mặc dầu vậy, quân kháng chiến Palestine vẫn chưa nguôi, chê Liban bất lực và xung đột với quân đội Liban.

    Trong sáu năm nay, chiến tranh Israel - Ả Rập đã dần dần biến thành những cuộc bắt cóc và đột kích "ngoạn mục" hơn trên màn ảnh. Người Do Thái biết tìm về tổ quốc thì người Palestine lẽ nào lại không? Liên hiệp quốc đã nghĩ tới giải pháp thành lập- đúng hơn là trả lại - một quê hương cho non ba triệu người lưu vong đó cũng như Liên hiệp quốc hồi xưa tặng một "quê hương" cho người Do Thái. Chỉ như vậy mới có hy vọng êm được.

    Tương lai Israel

    Cuối năm 1969, Thủ tướng Levi Eskhol thình lình chết, bà Golda Meir lên thay.

    Trong cuốn này đã hai lần nhắc tới bà: một lần ở chương 7, bà đi thuyết phục Abdallah để xin Transjordanie trung lập năm 1948, nhưng thất bại; một lần ở chương Kết, bà đi làm sứ thần Do Thái đầu tiên ở Nga mà không may thêm một chiếc áo mới nào.

    Bà Golda Meir sinh năm 1898 ở Kiev (thuộc Nga), nhũ danh là Golda Mabovitch (cha bà Moshé Mabovitch - làm thợ). Bà lấy ông Morris Meyerson ở Mỹ, lấy tên chồng, thành Golda Meyerson. Khi về Palestine, đổi tên Meyerson thành Meir, cho có vẻ Do Thái.

    Gia đình Mabovitch nghèo tới nỗi có tám người con thì năm người con trai đều chết vì đói rét, chỉ còn ba người con gái: Shana, Golda và Zipporah.

    Vì là Do Thái nên họ bị người Nga ức hiếp, mà mỗi khi có một pogrom, chị em bà trông thấy khinh kị binh Nga (Cosaque kéo tới là chết khiếp. Năm 1906, cả gia đình di cư sang Mỹ, lập nghiệp ở Milwaukee (tiểu bang Wisconsin).

    Golda học giỏi, 14 tuổi lại ở nhờ nhà cô chị Shana đã lập gia đình, ngày đi học, tối làm thợ ủi quần áo để đỡ gánh nặng cho chị.

    Năm 1915, 17 tuổi, cô gặp David Ben-Gurion, gia nhập ngay tổ chức "Trở về Palestine" của Gurion. Sau có kết hôn với Morris Meyerson, cũng từ Nga tới. Tính tình hai vợ chồng trái ngược hẳn nhau: chồng vào hạng trí thức, có tâm hồn thi sĩ, mơ mộng; vợ có óc thực tế, tinh thần chiến đấu. Morris chỉ thích ở Milwaukee, nhưng cũng chiều lòng vợ năm 1925, cùng với vợ qua Palestine, làm việc trong một Kibboutz ở Merhavia. Từ đây, bà Golda tận lực hoạt động cho "Tổ quốc Do Thái", nhưng vẫn không quên bổn phận làm vợ, làm mẹ, gia đình vẫn êm ấm mặc dầu cả chồng lẫn con (một trai, một gái thiếu hẳn tinh thần cách mạng. Sau hai mươi bốn năm chiến đấu, bà đạt được mục đích và ngày 14-5-1948, bà được cái vui ký tên trên bản tuyên ngôn độc lập, bên cạnh tên Ben-Gurion rồi được cử làm đại sứ ở Moscow. Toà đại sứ của bả có lẽ không tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại: nó là một Kibboutz vì mọi nhân viên kể từ bà trở xuống đều phải thay phiên nhau rửa chén, lau nhà.

    Ít năm sau, bà được triệu về làm Bộ trưởng Bộ Lao Động, rồi Bộ trưởng Ngoại giao, sau cùng làm Thủ tướng. Ở địa vị tối cao này và mặc dầu đã ngoài bảy chục tuổi, bả vẫn sống giản dị, giặt ủi lấy quần áo, đẩy xe cho các cháu nội đi chơi. Đôi khi bà bắt Hội đồng nội các họp ngay trong bếp để bà có thể vừa thảo luận vừa tự tay pha cà phê hay pha trà đãi các bộ trưởng.

    Bà và Moshé Dayal - độc long tướng quân, Bộ trưởng quốc phòng, cầm đầu phe diều hâu. Nhiều lần các cường quốc Mỹ, Anh, Nga, Pháp tìm cách hoá giải hai bên và Ả Rập cũng đã có lần nhượng bộ cho Do Thái dùng kinh Suez, chịu thừa nhận lãnh thổ Do Thái, miễn là Do Thái trả lại các đất đai mới chiếm sau "chiến tranh sáu ngày"; nhưng phe của bà không chịu, vì biên giới mới ngắn hơn biên giới cũ, dễ bảo vệ hơn, gần các nhược điểm của Ả Rập mà xa kinh đô Israel hơn. Nhất là thánh địa Jérusalem thì họ cương quyết giữ làm của họ.

    Cuối năm 1969, bà tuyên bố: "Người ngoại quốc chưa bao giờ định biên giới cho chúng tôi cả, và trong tương lai chúng tôi cũng miễn cho họ việc ấy. Hiện nay chúng tôi đóng ở đâu, thì đó là biên giới của chúng tôi!".

    Còn Moshé Dayan thì nói: "Muốn có một biên giới an toàn cho Israel thì phải lập một đường phòng vệ ở hai chục cây số vào sâu nội địa Jordanie bên kia bờ phía đông sông Jourdain".

    Nhớ lại năm 1967, Do Thái chỉ tiến tới bờ phía Tây sông Jourdain ta mới thấy lời đó ngang tàng ra sao: Chẳng những ông ta không chịu trả đất mà còn muốn chiếm thêm nữa. Lời đó ông ta tuyên bố đầu năm 1970, ngày đấy tầm bắn xa của đại bác, hoá tiễn đã tăng, chắc ông ta còn muốn tiến sâu thêm vô cả trăm cây số nữa.

    Vì chủ trương như vậy, nên một mặt Do Thái khai thác những miền đã chiếm, tổ chức các cuộc bầu cử, Hội đồng thị xã, bắt Ả Rập phải đi bầu, phải ứng cử, lập thêm mười hai điểm thực dân (Kibboutz, Mocha-ovedim): 10 ở Golan, 5 ở thung lũng Jourdan, 2 ở Sinai… một mặt họ tăng thời hạn quân dịch lên ba năm (năm 1967 là hai năm rưỡi), tăng tuổi động viên từ 49 lên 55; một mặt nữa ráng chế lấy vũ khí: súng tiểu liên Uzi của họ tối tân hơn súng M-16 của Mỹ và súng AK-47 Kalashnikov của Nga; phản lực cơ Super Mirage của họ tốt hơn phản lực cơ Phantom của Mỹ. Đáng ngại hơn nữa là hỏa tiễn của họ có thể mang đầu đạn nguyên tử và hoạt động trong một tầm xa 500 cây số; và người ta ngờ rằng họ sắp có bom nguyên tử.

    Bà Golda Meir tóm tắt được chính sách diều hâu đó: "Tôi không muốn một dân tộc Do Thái hiền lành, không thực dân và phản chiến. Như vậy là một dân tộc chết!". Nhưng ngay trong nội các, cũng có một người đứng về phe bồ câu, ông Abba Eban. Ông chủ trương nên trả hết đất đã chiếm để sống chung hoà bình với Ả Rập. Đề cử ông Abba Eban làm ngoại trưởng, không biết chính phủ Do Thái có muốn vừa cương vừa nhu không, hay muốn thêm một lá bài để đưa ra khi ngọn gió đổi chiều. Phe đó cho rằng cứ chủ trương chính sách thực dân và hiếu chiến thì sẽ phải chịu số mạng của Napoléon và Hitler, nhất là thời đại này thế giới không để cho một dân tộc nào dùng chính sách ấy đâu. Mà tiền bạc đổ vào quân đội, khí giới lên tới 75% lợi tức quốc gia, dân chúng cơ cực, chịu đựng được bao lâu nữa? Quân du kích Ả Rập quấy phá hoài và từ khi ngưng chiến, số Do Thái chết vì bị du kích cao hơn số chết trong chiến tranh 1967.

    Sau cùng một nhóm người nữa, không đông; chủ trương dung hoà: trả dần dần các đất đã chiếm ở phía tây sông Jousdain, rồi sau sẽ trả các miền khác.

    Hiện nay hai phe sau vẫn phải nhường bước cho phe diều hâu. Nhưng tình trạng không hoà không chiến càng kéo dài thì càng bất lợi cho phe diều hâu.

    Quốc gia Israel mới được hai mươi lăm tuổi, trong hai mươi lăm năm ấy họ phải hy sinh trong ba cuộc chiến tranh, không lúc nào được sự an lạc, vậy mà họ cũng đã tiến bộ vượt bực trong việc kiến thiết.

    Trong các Kibboutz, họ đã dùng siêu âm để làm đặc nước trái cây, tắm bò bằng vòi hoa sen để bò sản xuất thêm nhiều sữa, trải dầu hắc xuống lòng đất để giữ độ ẩm.

    So với số dân thì số báo của họ chiếm kỷ lục thế giới, ba triệu dân mà 23 nhật báo, viết bằng 10 thứ tiếng, phát hành 600.000 số một ngày, mỗi số từ 8 đến 20 trang. (Tờ báo lớn nhất phát hành từ 100.000 đến 200.000 số), và 404 tờ định kỳ. Ngoài ra họ còn 2 đài phát thanh và một đài truyền hình.

    Dân chúng thì đã có mức sống cao như Pháp hay Đức, nhà có phỏng máy lạnh, cứ 10 người thì có một chiếc xe hơi. Họ đã phải hy sinh nhiều quá bây giờ mong được hưởng thụ. Họ có óc hưởng thụ thì tất nhiên là mất tinh thần cách mạng.

    Người Do Thái trong non hai ngàn năm đoàn kết với nhau không phải vì có chung một giòng máu vì họ lai nhiều quá rồi; mà vì có chung một thân phận, thân phận bị hiếp đáp, bị khinh rẻ, bị ngược đãi, tàn sát, không ở đâu được yên. Vì bị chung thân phận tủi nhục đó nên họ cố bảo tồn tôn giáo truyền thống của họ. Do Thái giáo chỉ là thứ keo đoàn kết họ với nhau chứ không phải nguyên nhân của sự đoàn kết. Họ "chiến đấu như sư tử", chống cả Ả Rập lẫn thực dân Anh, hi sinh gì cũng không quản, chính là để cởi bỏ thân phận đó đi. Nay họ đã có một quốc gia được cả thế giới nhìn nhận, không ai có thể đuổi họ đi hoặc diệt họ được, thì sự chiến đấn, hi sinh hoá ra vô ích. Chỉ những người già, đã biết cảnh rùng rợn trong các ghetto, các lò thiêu, đã chiến đấu trong ba chiến tranh với Ả Rập là còn có "tinh thần Do Thái", chịu sống khắc khồ; còn bọn thanh niên hiện nay trên dưới hai mươi tuổi, sanh sau khi Quốc gia thành lập, mười người chắc có tới bảy, tám người cho chính sách của Golđa Meir, Moshé Dayan là quá khích, và chỉ ước ao, được sống trong một xã hội tiêu thụ như đồng bào của họ ở New York.

    Trong bài "Quốc gia Do Thái" 25 tuổi (Bách khoa giai phẩm ngày 15-06-1973 ông Từ Minh viết:

    "Trong những năm vừa qua, xã hội Do Thái đã hết vẻ lành mạnh cổ truyền. Người ta thấy nhiều vụ ăn cướp đã xảy ra. Trong năm 1972, người ta tính có tới 10.000 vụ bị bắt vì cướp của, giết người, hiếp dâm" ( Chúng ta nên nhớ dân số Do Thái hiện nay khoảng ba triệu, chỉ hơn dân số Saigon một chút)

    Nạn buôn phấn bán son tràn lan trong xã hội Do Thái đến tận cửa Thánh địa Jérusalem. Những khách "sộp" của các chị em ta thường là người Ả Rập vì những người này muốn "trả thù người Do Thái" (trả thù dân tộc!).

    Nạn hút bạch phiến cũng lan tràn trong dân chúng, nhất là trong giới trẻ. Trên 5% học sinh Trung học nghiền bạch phiến hay hút sì ke.

    Tháng 12-1972, người ta còn thấy bốn người Do Thái bị giải toà vì tội làm gián điệp cho cho Ả Rập. Người Do Thái càng ngày càng muốn hưởng nhàn, chỉ ưa làm những công việc nhẹ nhàng ở văn phòng. Còn các việc nặng nhọc họ dành cho thiểu số Ả Rập bị thống trị trong nước. Chính bà Golda Meir đã nhiều lần kêu gọi chúng ta hãy chịu khó bẩn tay một chút, chứ đừng đẩy cho ngườỉ khác".

    Ủa sao mà bà ta mâu thuẫn vậy! Bà đã báo muốn cho dân tộc Do Thái thành thực dân kia mà? Bây giờ đây họ mới bắt đầu sống theo thực dân thì bà lại cảnh cáo?

    Có luật thiên nhiên nay mà theo tôi, đúng ít nhất là 70%. Hễ bị đặt vào tử lộ thì người ta tìm được sinh lộ; ngược lại quá ham sinh lộ thì người ta sẽ tiến dần đến tử lộ.

    Trong cuốn này, chúng ta đã thấy nửa phần trên luật ấy đúng với dân tộc Do Thái; và cứ theo tài liệu ông Từ Minh tôi mới trích dẫn thì phần dưới luật ấy cũng bắt đầu đúng với họ nữa. Nhờ bị đặt vào tử lộ mà họ đã thắng được Ả Rập; bây giờ đây đương bước vào sinh lộ, họ sẽ vì cái bả văn minh tiêu thụ mà mất "tinh thần Do Thái", mất cả Do Thái giáo, chưa biết chừng những Kibboutz của họ cũng sẽ mất luôn nữa. Điều đó dẫu có mười Golda Meir, mười Moshé Dayan cũng không cản nổi.

    Do Thái mà được an lạc hưởng thụ, thì chỉ cuối thế kỷ này thôi, họ sẽ thành một mini Mỹ.

    Mới 27 năm nay Mỹ đã suy ra sao, người ta đã coi thường Mỹ ra sao, thì 27 năm nữa, thứ mini Mỹ là Israel còn có đáng kể gì! Hiện nay họ đã mất nhiều cảm tình của thế giới rồi.


    PHỤ LỤC II

    A RẬP PHỤC THÙ
    CHIẾN TRANH THỨ TƯ GIỮA A RẬP VÀ DO THÁI

    Cuốn này sắp chữ được già nửa, Phụ lục I đã đưa kiểm duyệt thì chiến tranh bộc phát giữa Ả Rập và Do Thái ngày 6-10-1973, thành thử chúng tôi phải viết thêm Phụ lạc II này.

    Tài liệu chúng tôi dùng toàn là những tin tức đăng trên các nhật báo Sài gòn, mà những tin đó nhiều khi mâu thuẫn nhau, không thể biết được tin nào đúng, tin nào sai: phía Ả Rập đã lỡ mang tiếng từ chiến tranh 1967 là che giấu sự thật, bịa đặt nữa, khiến chúng ta phải dè dặt; còn phía Do Thái không cho phóng viên ngoại quốc săn tin tại mặt trận vì "chúng tôi có đủ người đảm trách công việc ấy rồi, các ông có cần tin tức thì họ sẽ cung cấp" 1.

    Thế giới ngạc nhiên

    Chiều ngày thứ bảy 6-10-1973, trong khi Do Thái dự lễ Kippour (lễ Đền tội một trong những lễ lớn nhất của họ, thì Ai Cập và Syrie phối hợp với nhau, cùng tấn công Do Thái một lúc: 100.000 quân Syrie với 100 chiến xa tấn công Do Thái để rán chiếm lại cao nguyên Golan, không chiến dữ dội; 120.000 quân Ai Cập với 2.000 chiến xa, và 700 phi cơ tấn công suốt dọc kênh Suez, dùng cầu phao bắc qua kênh cho thiết giáp xa tràn qua bờ phía Đông.

    Tin ấy làm cho cả thế giới ngạc nhiên:

    - Tháng 6-1973, Mỹ và Nga thản thiết với nhau rất mực. Brezhnev qua Mỹ đáp lễ Nixon, hai bên lặp lại lời cam kết sống chung hoà bình, bọn đàn em có xung đột với nhau thì họ sẽ tìm cách hòa giải chứ không vì đàn em mà làm hại tình hữu nghị của họ.

    Tháng tám hay đầu tháng chín năm 1973. Kurt Waldheim, Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã thăm các nước Tây Á (tức Trung Đông lạc quan tuyên bố rằng quốc gia Ả Rập nào cũng muốn hoà bình.

    Hơn nữa, từ 5 đến 8-9-1973, Hội nghị các quốc gia phi liên kết ở Anger cho thế giới cảm tưởng rằng lực lượng thứ ba này thành lập tại Bandoung năm 1955, tới nay tuy số hội viên tăng lên (nay gần 80 mà thực lực chẳng có ai cả, chẳng đoàn kết với nhau, muốn tan vỡ dần dần. Trong cuộc hội họp lần này, họ công kích chính sách xâm lược của Israel, nhưng chỉ công kích ngoài miệng; chỉ có Arafat, lãnh tụ Tổ chức giải phóng Palestine là đưa một đề nghị cụ thể: các quốc gia Ả Rập không cung cấp dầu lửa cho các nước ủng hộ Do Thái nữa. Đề nghị ấy chẳng có gì mới mẻ, từ sau lần đại bại năm 1967, Ả Rập đã nghĩ đến giải pháp tiêu cực ấy rồi, mà Iran, Iraq, Ả Rập Saudi, Kuwait, Lybie có nước nào thực hiện đâu. Tôi đã nói trong cuốn Bán đảo Ả Rập rằng Thần dầu lửa chỉ chia lẽ chứ không bao giờ liên kết các quốc gia Ả Rập với nhau được, muốn liên kết họ thì phải nhờ sức Allah mà chính Allah cũng có khi phải chịu thua Thần dầu lửa, như trong chiến tranh 1967.

    Vì ba lý do kể trên, ai cũng nghĩ rằng tình hình Tây Á sẽ yên ổn ít nhất là trong vài năm tới, đợi Nga - Mỹ tìm cách ôn hoà giải quyết cho. Trong Phụ lục I tôi cũng đã suy diễn như vậy. Bây giờ mới thấy sai.

    Đành rằng chiến tranh này phát là do ý phục thù của Ai Cập và Syrie, nhưng phía sau thế nào cũng có bàn tay của Nga. Có phải là Nga tin rằng Ả Rập lần này tất thắng, nên xúi họ tấn công để phục thù Mỹ vì mấy năm nay Nga chịu lép về, mất mặt ở Đông Dương không? Hay là Mỹ và Nga ngầm giao kết với nhau cho bọn đàn em Ả Rập và Do Thái choảng nhau một chuyến để mình đứng ra hòa giải mà giải quyết một lần một cho xong vấn đề Tây Á không? Nếu thực như vậy thì sở dĩ chiến tranh xảy ra lúc này có phải là để cho dân Mỹ quên những bê bối của toà Bạch ốc không? Vụ Walergate chưa êm thì Agnew bị tố cáo là ăn hối lộ, trốn thuế, phải từ chức; trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ có một cường quốc mà cả ông "chánh" lẫn ông "phó" mang tai mang tiếng tới mức đó. Lại còn điểm này đáng ngờ nữa: chiến tranh Đông Dương mới dịu được dăm ba phần thì chiến tranh Tây Á nổ ra; có phải lại bao nhiêu khí giới đã sản xuất không còn chỗ tiêu thụ mạnh ở đầu này châu Á nên phải chuyển qua đầu kia chăng? Có phải họ không đọ sức nhau ở đây nữa thì đọ sức nhau ở kia để có dịp tìm biểu những phát minh tối tân của nhau về vũ khí không? Trong chính trị, cái gì cũng có thể xảy ra được. Bởi khi chiến tranh chấm dứt chúng ta sẽ biết thêm; bây giờ chỉ có thể chắc chắn được mỗi điều này: bọn sản xuất vũ khí ở Mỹ, Anh, Pháp 2… xoa tay cười thầm.

    °

    Lợi thế của Ả Rập

    Lần này Do Thái mất các yếu tố chiến thắng rực rỡ trong chiến tranh 1967:

    - Tấn công bất ngờ

    - Tấn công chớp nhoáng

    - Làm chủ không phận ngay từ giờ đầu và oanh kích sâu rộng vào nội địa Ai Cập.

    Trái lại Ả Rập có nhiều lợi điểm hơn sáu năm trước:

    - Tấn công bất ngờ, nhờ chuẩn bị ký, giữ được bí mật tới phút chót.

    Mấy tháng trước khi chiến tranh phát ra, các phi cơ Do Thái đã bay trên không phận Ai Cập và Syrie để dò khả năng phòng thủ của đối phương. Người Ả Rập đã khôn khéo chỉ phản ứng bằng các phi cơ khu trục và các dàn cao xạ cổ điển, mà giấu kỹ các dàn hoả tiễn địa không mà họ đã học cách sử dụng trên đất Nga. Vì vậy Do Thái vẫn tin rằng mình còn hoàn toàn làm bá chủ trên không trung. Bọn tình báo Do Thái mà sáu năm trước Moshe Dayan rất lấy làm hãnh diện, lần này hình như bất lực (Tướng Zeir, Cục trưởng Cục tình báo đã biến mất trên sân khấu);

    - Đoàn kết với nhau có phần còn hơn năm 1948 (trận chiến tranh đầu nữa vì rút được nhiều kinh nghiệm hơn: mới đầu chỉ có Ai Cập và Syrie ra quân, Maroc, Algérie, Lybie ủng hộ ít nhiều, sau Iraq nhảy vô, rồi Jordanie 3và Ả Rập Saudi từ trước vẫn lừng khừng, sợ mất mặt với dân chúng, cũng đưa quân qua Syrie, và qua tuần lễ thứ nhì, thì hết thảy các quốc gia Hồi giáo ở Tây Á và Bắc Phi, bất kỳ lớn nhỏ, đều trực tiếp hoặc gián tiếp dự vào cuộc "thánh chiến.

    - Nhờ vậy Ả Rập dùng được cả hai chiến lược võ bị và kinh tế, dùng dầu hoả làm áp lực lên các nước ủng hộ Do Thái, đặc biệt là Mỹ, Hà Lan;

    - Được nhiều cảm tình của thế giới. Mặc dầu họ bất thần tấn công trước nhưng không ai trách họ cả: họ có chính nghĩa, giành lại những đất bị Do Thái chiếm đóng (trong sáu năm nay, Do Thái đã mang tiếng là thực dân). Vả lại chiến tranh 1967, thế giới phục Do Thái là giỏi, thì chiến tranh này người ta mến Ả Rập vì biết đoàn kết để phục thù. Cho nên hết thảy các nước cộng sản và hầu hết các nước Á Phi đều có thiện cảm với Ả Rập. Pháp ngay từ mấy ngày đầu đã đứng về phe Ả Rập, bảo "khi người ta (tức Ả Rập trở về nhà của người ta thì không bảo là xâm lăng được". Anh mới đầu lừng khừng vì muốn đóng vai ngư ông trực lợi, nhưng sau cũng ngả về Ả Rập, vì sợ Ả Rập không cung cấp dầu lửa cho nữa. Các nước khác ở Tây Âu từ Hòa Lan đều mong Do Thái trả lại đất đã chiếm cho Ả Rập đê kết thúc chiến tranh. Rốt cuộc Do Thái chỉ được mỗi một quốc gia là Hoa Kỳ triệt để ủng hộ (Hà Lan không đáng kể); lẽ ấy dễ hiểu: chiến tranh Tây Á là chiến tranh giữa Nga, Mỹ; Mỹ có rất nhiều quyền lợi ở miền đó, nhất là ở Ả Rập Saudi, lại thêm đa số bọn tài phiệt ở New York có ảnh hưởng lớn tới chính trị kinh tế Mỹ, là gốc Do Thái.

    Sau cùng nên kể thêm: phía Ả Rập lần này có một tướng tài ba, tướng Saadeddin Shazlin, Tham mưu trưởng quân đội Ai Cập, người thảo kế hoạch tấn công Sinai, phá được phòng tuyến tối tân Barlev của Do Thái, ông năm nay 49 tuổi, có bằng tiến sĩ chính trị học, nhưng không thích làm chính trị; có học chiến thuật bộ binh ở Fort Bennine (tiểu bang Georgia, Mỹ), lại được huấn luyện ở Nga vào cuối thập niên 1950, ông có nhiệt huyết, cương quyết, nhưng thận trọng, không khinh địch, cho nên mấy năm trước trong một hội nghị quân sự, đã nói với tổng thống Sadat rằng quân đội Ai Cập chưa đủ khả năng chủ động trên chiến trường để chống Do Thái, ông khuyên phải chuẩn bị kỹ hơn nữa, và lần này ông đã thành công: đưa quân qua bờ Đông kênh Suez, vào sa mạc Sinai, "làm tan tành huyền thoại về sự siêu việt của Do Thái", "tạo được niềm tin trong phía Ả Rập".

    Ông được quân đội tôn trọng và dân chúng Ả Rập phục là khôn khéo.

    Lực lượng hai bên

    Năm 1967 lực lượng vật chất hai bên xuýt xoát như nhau (coi lại Nguyên nhân thắng lợi của Israel - Chương IX), nhưng tinh thần và tài chiến đấu của Israel cao hơn nhiều.

    Năm nay tình thế khác hẳn:

    ISRAEL

    - Dân số: 3.200.000

    - Quân trừ bị: 180.000

    - Xe tăng: 1.700

    - Thiết giáp: 1.450

    - Máy bay chiến đấu: 488

    - Trực thăng: 79

    - Tàu chiến: 49

    ______________________

    Ả RẬP

    - Dân số: 65.000.000

    - Quân trừ bị: 970.000

    - Xe tăng: 4.740

    - Thiết giáp: 4.985

    - Máy bay chiến đấu: 1.272

    - Trực thăng: 328

    - Tàu chiến: 154

    °

    Vậy ngày đầu, lực lượng vật chất của Ả Rập (Ai Cập với Syrie đã gấp hai gấp ba Do Thái.

    Từ ngày thứ ba, nếu Do Thái đưa hết cả quân trừ bị và Ai Cập và Syrie cũng vậy, thì tỷ số về quân số vẫn là Do Thái 1, Ai Cập và Syrie 3.

    Vậy lực lượng vật chất phía Ả Rập lần này trội hẳn, nhất là Nga tăng cường vũ khí hoài cho họ, có vẻ như không để cho gà mình thua gà Mỹ nữa.

    Về mặt khác chúng ta có thể đoán rằng tinh thần chiến đấu của Ả Rập, cho tới nay, không kém Do Thái: lần trước, rất ít Do Thái bị bắt làm tù binh, lần này có khi cả một đơn vị Do Thái đầu hàng. Chỉ có mỗi phương diện: tài chiến đấu là Do Thái vẫn hơn Ả Rập.

    Nhưng Do Thái lại mắc tội khinh địch. Thủ tướng Do Thái Golda Meir bảo đã biết trước rằng Ả Rập đương chuẩn bị tấn công, nên không hề bị đánh bất ngờ. Vậy mà Do Thái vẫn bị đánh tơi bời mấy ngày đầu, vì Do Thái đã khinh địch, cho rằng Ả Rập không đủ sức làm gì họ.

    °

    Ngày 7-10-1973, chiến tranh phát rồi, mà tướng Peled còn bảo sẽ phá huỷ hết các đầu cầu Ai Cập ở đông ngạn kênh Suez, trong 24 giờ, vào đêm 8-10-1973, rồi tướng Mendler, tư lệnh lực lượng thiết giáp Do Thái, tuyên bố cũng ngày đó: "Cuộc tân công của Ai Cập đã sụp đổ lần thứ tư, chúng ta chứng kiến cuộc thảm bại của Ai Cập tại vùng Sinai". Nhưng 6 ngày sau, ngày 14-10-1973. Mendler đã tử trận và trên mặt trận Sinai, Ai Cập vẫn ở thế công, Do Thái ở thế thủ.

    Lúc đó, độc long tướng quân Moshé Dayan, Bộ trưởng quốc phòng, mới dè dặt, nhận rằng chiến tranh lần này sẽ kéo dài.

    Còn thủ tướng Golda Meir, qua ngày thứ 8 thì tỏ vẻ mệt mỏi, tuyên bố tại Tel Aviv: "Chúng ta không muốn phe chúng ta bị chết. Và chúng ta cũng không sung sướng gì gây sự chết chóc cho những người khác". "Bà vẫn khôi hài nhưng đã có giọng, không phải là vẻ nhà lãnh đạo một quốc gia đương đứng ở thế mạnh" (Tin UPI).

    Nhưng ngày 16-10-1973, khi tổng thống Ai Cập tuyên bố sẵn sàng chấp nhận một cuộc ngưng bắn tức khắc trên căn bản này: quân Do Thái phải rút ra khỏi các miền họ đã chiếm đóng từ 1967, thì bà lại nói mạnh: "Chỉ có thể ngưng bắn khi Ai Cập và Syrie bị đánh bại" (Tin UPI và AFP).

    Tinh thần thất thường như vậy là dấu hiệu thiếu tự tin!

    Khi Mỹ, Nga chưa muốn thì Liên hiệp quốc hoàn toàn bất lực.

    Ngay ngày đầu, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Waldheim đã triệu tập Hội đồng bảo an, kêu gọi ngừng bắn tức khắc. Dĩ nhiên, như vậy sớm quá, không ai nghe: phải để cho người ta thử sức nhau một thời gian đã chớ!

    Cuối tuần lể đầu ông tuyên bố chịu bó tay. Đã họp Hội đồng bảo an mấy lần rồi, nhưng công toi. Ngưng bắn, nhưng trên căn bản nào? Mỹ không đồng ý với Nga và Trung Cộng; Pháp và Anh lừng chừng, làm sao có thể quyết định một điều gì được? Thật là kẹt! Và ông Waldheim bảo vấn đề đó để cho "Ai Cập, Syrie, Do Thái rán tìm lấy một giải pháp nào ôn tồn với nhau".

    Ông biết rõ vấn đề đó là vấn đề của Nga và Mỹ, nhưng ở vào địa vị ông không thế nói thẳng như vậy được.

    Tuần đầu, tân ngoạỉ trưởng Mỹ Kissingger (gốc Do Thái Đức đề nghị hai bên rút cả về vị tri cũ (nghĩa là Ai Cập rút về tây ngạn kênh Suez. Syrie rút ra khỏi cao nguyên Golan làm cho mọi người mỉm cười, ông chỉ muốn lấy lòng "đồng bào" ông, thế thôi.

    Qua tuần thứ nhì, ông ta đề nghị lại: ngưng bắn tại chỗ. Lúc này Ai Cập đã tiến vào Sinai được khoảng 15-20 cây số còn Do Thái đã chiếm lại cao nguyên Golan, đương tiến về thủ đô Damas của Syrie; như vậy mỗi phe đều có lợi một chút và chịu thiệt một chút, kể như "huề". Nhưng cũng không ai chịu nghe.

    Kissinger còn cảnh cáo Nga đừng làm qúa mà hại cho tình hữu nghị Nga - Mỹ, rồi Nixon tuyên bố nếu cần thì hy sinh tình hữu nghị đó để cứu Do Thái. Chắc họ nghĩ năm ngoái làm mạnh ở Bắc Việt, Nga co vòi lại, thì lần này cứ làm tới. Nga cũng sẽ nhượng bộ nữa. Nhưng Nga tuyên bố đứng về phe các quốc gia bị uy hiếp, và cảnh cáo Do Thái đừng thả bom bậy bạ xuống Damas (làm cho ba chục nhân viên toà đại sử Nga chết và Le Caire nữa, mà sẽ phải ttrả một giá rất đắt. Và lần này Nga làm thật. Vậy là hai ông đàn anh cứ tuôn khí giới vào Tây Á cho đàn em giết nhau.

    Lại có tin, không biết thực không, Mỹ đã tiên đoán được chiến trận lần này từ tháng 8-1973, đã cho 9.000 thuỷ quân lục chiến tập sóng và hành quân ở một miền nóng cháy tại California và đoàn quân đó hiện nay sẵn sàng để nhập cuộc.

    Chúng ta nên biết chiến tranh ở sa mạc còn gay go gấp mấy chiến tranh ở Việt Nam.

    Khí hậu ngày thì nóng quá, từ 45 tới 50 độ, đêm thì lạnh. Muốn tránh nắng, phi đoàn trực thăng phải dậy từ 3 giờ sáng để chuyển vận quân. Tất cả các dụng cụ đều nóng bỏng dưới ánh nắng nên muốn dùng thì phải ngâm trước vào các chậu nước mang theo, và nước cũng nóng lên, phải thay liền liền. Các xạ thủ đại liên, súng lớn phải mang găng tay để khỏi bỏng tay khi sớ tới các khẩu súng.

    Việc truyền tin rất khó khăn, máy bay ở trên nhìn xuống chỉ thấy một màu vàng mênh mông, không biết đâu là đâu.

    Muốn nghỉ ngơi phải làm theo con thằn lằn: đào tới lớp cát ở dưới mát hơn, nằm xuống rồi che tấm vải.

    Phải tiếp tế nhiều nước và muối, vì phải pha một chút muối vào nước, uống mới đỡ khát.

    Một tai hoạ nữa là cát. Chỉ một lớp dầu mỏng trên nòng súng là đủ thu hút cả ki lô cát, cát vào cả trong nòng súng. Vì vậy phải dùng đủ thứ lọc bụi, che cát, tránh cát. Dầu máy phải thay rất thường, mỗi ngày. Nếu gặp cơn giông cát thì không còn làm gì được cả.

    Chiến lược và chiến thuật hai bên

    Trong chiến tranh 1967, Do Thái ra tay trước, thanh toán Ai Cập trước (vì Ai Cập là kẻ thù mạnh nhất xong rồi quay lại quật Syrie và Jordanie.

    Phía Ả Rập không kịp chuẩn bị, phối trí, Syrie và Jordanie không cứu Ai Cập kịp nên Ai Cập bị hạ rồi thì tới phiên họ.

    Năm nay Ả Rập ra tay trước, chuẩn bị kỹ lưỡng, nên Ai Cập và Syrie cùng tấn công Do Thái một lúc. Jordanie mới đầu không lâm chiến có thể rằng Hussein không muốn "phiêu lưu" như 1967, đợi Ai Cập có mòi thắng thì mới tiếp tay; cũng có thể Ai Cập và Syrie biết rằng Jordanie yếu quá lại thân Israel nên không nhờ tới Jordanie, hoặc bảo Jordanie cứ cầm chân Do Thái ở phía đông cũng đủ rồi. Mục đích của Ả Rập là chiếm lại bán đảo Sinai và cao nguyên Golan, rồi nã hoả tiến tối tan Al Zafef của Nga (bắn xa được 180 cây số vào Tel Aviv, là Do Thái sẽ phải chịu thương thuyết, lúc đó chẳng tốn thêm một viên đạn nào cũng lấy lại được Transjordanie.

    Do Thái mấy ngay đầu khó khăn lắm mới chống đỡ được cả hai mặt, tới cuối tuần đầu vẫn bị mất đất ở Sinai nhưng đã chiếm lại được cao nguyên Golan mà tiến về phía Damas, kinh đó Syrie. Lúc đó người ta có cảm tưởng rằng Do Thái rán chiếm Damas, quật Syrie cho mau (Syrie là kẻ thù yếu nhất để rồi sẽ quay lại đối phó với Ả Rập. Ả Rập cũng ngại vậy, nên qua tuần thứ nhì, khi thấy Syrie yếu thế thì Maroc, Ả Rập Séoudite, cả Jordanie nữa, đều đem quân tiếp viện và hôm 18-10-1973 đã bị đại bại. Nhưng sự thực là Do Thái không chiếm Damas, mà đưa 15.000 cảm tử quân vượt kênh Suez chiếm miền phía Tây kênh Suez, trên đất Ai Cập phá các dàn hoả tiễn của Ai Cập, bao vây một quân đoàn Ai Cập, khiến Ai Cập lúng túng.

    Chiến tranh lần này phát dữ dội cả trên không, dưới đất, ngoài biển. Nhưng các trận thuỷ chiến chỉ xảy ra ít ngày trong tuần đầu rồi không nghe nói tới nữa. Do Thái vẫn mạnh về không chiến: phi cơ F-4 Phantom của họ tốt hơn MiG-21 của Nga, phi công Do Thái chắc cũng giỏi hơn phi công Ả Rập; vì vậy Do Thái tận dụng ưu thế về không quản, để yểm trợ các hành quân dưới đất và áp đảo Ả Rập. Và họ đã thành công ở Syrie hơn là ở Sinai.

    Ai Cập trái lại chỉ đưa ra một số ít phi cơ chiến đấu thôi nhưng tận dụng lợi thế về hoả tiễn tầm nhiệt Nga cung cấp cho, nhất là những hoả tiễn tối tân địa không SAM 6, và địa địa Sam 7 (như bazooka mà hạ được nhiều phi cơ và chiến xa Do Thái, làm cho không lực Do Thái lần này không hoành hành như năm 1967 được nữa.

    - Ngoài ra, phe Ả Rập còn dùng đòn kinh tế nữa: ngay từ ngày thứ nhì (7-10-1973 Iraq đã quốc hữu hoá hai công ty dầu lửa Mỹ; ít bữa sau Ả Rập Saudi cũng doạ như vậy. Các quốc gia dầu lửa Tây Á đã họp nhau ở Kowelt và ngày 17-10 -1973 quyết định ngừng xuất cảng dầu cho Mỹ và các quốc gia ủng hộ Do Thái, như vậy giá dầu sẽ tăng; ngay như Iraq cũng ủng hộ Ả Rập, tăng giả dầu lên 17%, khiến phương Tây bối rối. Hơn nữa, năm nước dầu lửa Ả Rập (Ả Rập Saudi, Lybie, Kuwait… hứa giúp Ai Cập 1.230 triệu Mỹ kim để đánh giặc.

    Dĩ nhiên, Do Thái cũng được đồng bào của họ ở Mỹ, Âu quyên tiền giúp.

    Cuộc chiến

    Có thể chia làm ba giai đoạn.

    - Giai đoạn đầu: từ 6 đến 10-10 -1973, Ả Rập tấn công Do Thái bất ngờ, Do Thái lùi.

    Một mặt 120.000 quân Ai Cập tấn công suốt dọc kênh Suez, dùng cầu nổi bắc qua kênh, cho thiết giáp xa tràn qua bờ phía Đông; một mặt 100.000 quân Syrie tấn công Do Thái để rán chiếm lại cao nguyên Golan.

    Ngày 7-10-1973, hải quân hai bên đụng độ nhau.

    Do Thái chỉ có 90.000 quân thường trực, rán chống đỡ cả hai mặt; đồng thời gọi quân trừ bị, chuẩn bị phản công. Ngày 9-10-1973, họ thua ở Sinai, chịu bỏ phòng tuyến tối tân Barlev, một đoàn xe tăng của họ bị Ai Cập bắt sống.

    Khối Phi liên kết và Cộng sản tuyên bố ủng hộ Ả Rập. Maroc, Soudan gởi quân giúp tượng trưng Ai Cập. Iraq quốc hữu hoá hai công ty dầu lửa Mỹ.

    Mỹ tuyên bố ủng hộ Do Thái, Nga cũng tuyên bố ủng hộ Ả Rập. Tây Âu chưa tỏ rõ thái độ, trừ Pháp: ngoại trưởng Pháp bảo Ả Rập trở lại đất cũ của họ thì không thể gọi họ là xâm lăng được.

    Ngày đầu, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã kêu gọi hai bên ngưng bắn nhưng không ai nghe.

    Ngày 9-10. Mỹ muốn hai bên rút về vị trí cũ; Nga muốn Do Thái phải trả hết các đất đã chiếm từ 1967.

    Sau bốn ngày chiến đấu, Do Thái tốn bốn tỉ bảng, bằng 400 triệu Anh kim, trên một tỉ Mỹ kim.

    - Giai đoạn nhì: từ 10 đến 18-10-1973, Do Thái phản công dữ dội, lấy lại được thế quân bình.

    Trong chín ngày này, chiến tranh cực kỳ sôi nổi. Do Thái thắng ở Syrie, chiếm lại trọn đồi Golan, oanh tạc Damas, sau cùng tiến lại được gân kinh đô Syrie hơn, cách Damas khoảng ba chục cây số. Iraq gởi 16.000 quân, 100 phi cơ; Jordanie (không mở thêm mặt trận thứ ba ở phía sông Jourdain cũng gởi một đoàn kỵ binh qua trợ chiến Syrie; nhưng quân Iraq và quân Jordanie đều bị Do Thái tiêu diệt. Vậy ở mặt trận này Ả Rập bắt đầu thua.

    Ở mặt trận Sinai, quân Ai Cập tiến qua phía đông được khoảng 15, 20 cây số, nhưng rồi bị Do Thái chặn lại. Ngày 11-10-1973, Do Thái vượt qua kênh Suez tấn công các đoàn công voa Ai Cập, phá các cơ sở dầu hoả, nhưng bị Ai Cập chặn đuổi về phía đông, tướng Do Thái Mendler tư lệnh thiết giáp tử trận. Một trận chiến xa ở trung bộ Sinai kéo dài năm ngày tử Ismailia trên bờ kênh Suez tới Adu Aweigla ở gần sa mạc Neguev. Mỗi bên tung ra máy trăm chiến xa, có đại pháo, hoả tiễn, phi cơ yểm trợ; nhưng hình như không bên nào thắng bên nào bại. Tóm lại Ả Rập thua ở Syrie nhưng vẫn còn giữ được ưu thế ở Sinai, vậy cán cân lực lượng chưa nghiêng hẳn về bên nào.

    Tinh thần Ả Rập vẫn cao: nhiều quốc gia tham chiến (dù chỉ là tượng trưng như Algérie, Tunisie, Ả Rập Saudi); các quốc gia có dầu lửa đoàn kết với nhau, ngưng xuất cảng dầu cho Mỹ, Hòa Lan, và những nước nào không đứng về phe Ả Rập. Mỹ và châu Âu lo lắng, phải ra lệnh tiết kiệm nhiên liệu. Các nước Tây Âu, trừ Hòa Lan, kêu gọi hai bên ngưng bắn, Do Thái phải trả lại Ả Rập những đất đã chiếm năm 1967, theo đúng quyết ngôn của Liên hiệp quốc tháng 11 năm 1967.

    Thấy chiến tranh có mòi kéo dài, mà Do Thái bị thiệt hại nặng, nên nội bộ Do Thái lủng củng: một số tướng lãnh chỉ huy bị thay thế. Thủ tướng Golda Meir có vẻ chán nản.

    Mỹ và Nga đều ồ ạt gởi khí giới tiếp tế cho đàn em. Nga dùng cầu không vận, cứ sáu phút có một chuyến để trút vũ khí xuống Ai Cập và Syrie, mỗi ngày tới 800 tấn, lợi hại nhất là hoả tiễn SAM 6 để hạ phi cơ và SAM 7 để hạ chiến xa, không kể vô sô phi cơ MiG-21. Mỹ chứng cứ 5 phút cho một phi cơ chở xe tăng GM60, trọng pháo, đạn "bò cạp", hỏa tiễn Sidewinder và Saprrow cho Do Thái để giũ thế quân bình lực lượng.

    Hơn nữa Mỹ còn cho hàng không mẫu hạm Roosevelt vô Địa Trung Hải. Nga cho ba chiến hạm và nhiều tầu nhỏ nhỏ lại bờ biển Ai Cập và Syrie. Nhưng từ ngày 16-10-1973 đã có dấu hiệu hai bên muốn hoà đàm. Tổng thống Ai Cập Sadat tuyên bố sẵn sàng tham dự một hội nghị quốc tế trong khuôn khổ Liên hiệp quốc để thiết lập một nền hoà bình. Mỹ hoan nghênh đề nghị đó, và ngoại trưởng Do Thái tuyên bố sẽ có những nhượng bộ quan trọng và chấp nhận cuộc ngừng bắn. Ngày 17-10-1973, Kosygin tới Le Caire hội đàm với Sadat về hoà đàm; Kissinger họp với ngoại trưởng các nước Algérie, Kuwait, Maroc, Ả Rập Saudi.

    Giai đoạn từ 19-10-1973 đến 23-10-1973, Do Thái có vẻ thắng thế - Liên hiệp quốc ra lệnh ngừng bắn.

    Syrie tuy cố phản công nhưng vẫn bị Do Thái uy hiếp.

    Ở Sinai, Ai Cập bắt đầu thất thế. Ngày 19-10-1973, Do Thái cắt đôi được một cánh quân Ai Cập ở Suez; rồi ngày 21-10-1973, một đoàn 15.000 cảm tử quân vượt kênh Suez, tiến sâu vô nội địa Ai Cập, phá nhiều dân hoả tiễn SAM nhờ dùng bom "tinh khôn" và bom do tia Laser điều khiển do Mỹ cung cấp.

    Hoả tiễn SAM bị phá huỷ, Ai Cập không hạ được phi cơ Do Thái nữa và Do Thái lại làm chủ không trung.

    Trong khi đó Kissinger qua Moscow thu xếp vụ ngưng bắn. Nga, Mỹ thoả thuận với nhau rồi, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc bèn ra lệnh:

    a. Ngừng bắn tại chỗ từ 18 giờ 52 phút (giờ địa phương ngày 22-10-1973 4.

    b. Thi hành quyết định ngày 22-11-67 của Liên hiệp quốc (mà 5 năm trước Do Thái đã từ chối): Do Thái phải trả lại những đất đã chiếm và tôn trọng quyền sống của dân Palestine; Ả Rập phải tôn trọng biên giới Do Thái và nhìn nhận tính cách hợp pháp của Quốc gia Do Thái.

    c. Mở thương thuyết dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc. Tất cả các nước đều ký quyết nghị, trừ Trung Cộng vì Trung Cộng cho rằng, quyết nghị không lên án Do Thái, Mỹ và Nga đã thao túng chiến tranh Tây Á.

    Ngưng bắn da beo như vậy thì ở Syrie, Do Thái thắng; ở Sinai, Ai Cập tuy chưa thua, nhưng cũng đã hơi yếu thế. Theo UPI, Do Thái bảo chiếm được 475 dặm vuông ở Ai Cập, 300 dặm vuông ở Syrie, cách Le Caire khoảng 80 cây số, cách Damas khoảng 30 cây số. Ai Cập và Do Thái ra lệnh ngưng bắn. Syrie, Palestine, Iraq phản đối, như vậy đáng lẽ chiến tranh tạm chấm dứt sau 17 ngày; nhưng người ta gọi chiến tranh này là chiến tranh 18 ngày, vì Ai Cập và Do Thái mới ngưng bắn được vài giờ rồi lại chiến dữ dội ở kênh Suez, và hôm sau, 23-10 mới thực là tạm ngưng hẳn ở cả hai mặt trận Sinai và Syrie. (Syrie không phản đối nữa)

    Từ khi có lệnh ngưng chiến

    Ngay từ ngày đầu chiến tranh 6-10--1973, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã đề nghị ngưng chiến, nhưng không bên nào nghe. Lần này, hai bên đều nghe, chỉ là do Nga và Mỹ thấy thử sức với nhau như vậy đủ rồi, ra lệnh cho gà nhà đừng đá nhau nữa. Quyết định đã đưa ra đúng lúc, không sớm mà cũng không trễ, khiến cho Ả Rập và Do Thái không bên nào bị mất mặt, và bên nào cũng có thể tự cho mình là thắng lợi. Sự thực cũng lại là một chiến tranh, không người thắng kẻ bại, như chiến tranh Đông Dương.

    Theo ước tính của Mỹ thì sau 18 ngày giao tranh:

    DO THÁI

    - Chết và bị thương: 4.100

    - Phi cơ bị phá huỷ: 107

    - Chiến xa bị phá huỷ840:

    - Tầu chiến bị phá huỷ: 1

    ______________________

    AI CẬP

    - Chết và bị thương: 7.500

    - Phi cơ bị phá huỷ: 242

    - Chiến xa bị phá huỷ: 895

    - Tầu chiến bị phá huỷ: 20

    ______________________

    SYRIE

    - Chết và bị thương: 7.300

    - Phi cơ bị phá huỷ: 179

    - Chiến xa bị phá huỷ: 880

    - Tầu chiến bị phá huỷ: 0

    ______________________

    °

    Nhưng có báo lại bảo cả Ai Cập và Syrie chỉ mất 900 chiến xa và 172 phi cơ. Dù sao thì tổn thất của Ả Rập cũng nặng hơn Do Thái, nhưng tiềm lực của Ả Rập vẫn chưa vì vậy mà kém Do Thái.

    Ai Cập đã thắng lợi trong tuần lễ đầu, nhưng rồi bỏ mất một dịp tốt để tiêu diệt tất cả hệ thống phòng thủ của Do Thái trong khu vực Sinai. Có thể tại họ không biết khai thác lợi thế mà cũng có thể tại họ không có đủ hoả tiễn. Thế của họ đã kém khi Do Thái thọc được vào sâu trong nội địa của họ, nhưng họ chưa đến nỗi nguy, vì Do Thái không đủ sức chiếm cả Ai Cập lẫn Syrie, mà chiến tranh càng kéo dài thì càng bất lợi cho Do Thái. Vì vậy có người đã bảo hai bên tuy chém giết nhau rất hăng mà vẫn mong có người đứng ra hoà giải. Ả Rập đã rửa được cái nhục năm 1967 mà Do Thái cũng đã gỡ được sự thua thiệt trong tuần lễ đầu. Ngay ngày 24-10-1973, một số quan sát viên Liên hiệp quốc đã đến Tây Á, sau đó, quân đội mũ xanh cũng lần lượt tới. Hai bên còn vi phạm lệnh ngưng bắn trong mấy ngày nữa, rồi từ 27-10-1973, Ai Cập và Do Thái bắt đầu hoà đàm về các vấn đề trao trả tù binh, tiếp tế quân đoàn 3 của Ai Cập bị Do Thái bao vây, giải toả hàng hải v.v…

    Kosygin và Kissinger phải thuyết phục mỗi bên để không khí dịu xuống.

    Tiếng súng vừa tạm yên, thì chiến tranh dầu lửa phát lên mạnh mẽ. Hình như Boumedieune, Tổng thống Algérie, là người phối hợp các hoạt động của mười mấy nước Ả Rập trong chiến lược này 5.

    Trong chiến tranh dầu lửa, họ đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng hạ mức sản xuất dầu, cùng tăng giá dầu và cùng không bán dầu cho các nước ủng hộ Do Thái hoặc không đả đảo Do Thái. Đòn dầu lửa đó tỏ ra rất lợi hại. Mỹ, Hà Lan, Nhật, hầu hết Tây Âu và nhiều nước châu Á bị xáo trộn dữ dội: nhiều cây xăng phải ngưng hoạt động, xe hơi ít chạy và bớt sản xuất, trái lại xe đạp sản xuất không kịp để cung cấp; điện phải hạn chế, nhiều gia đình Âu Mỹ mùa đông này không có điện để sưởi; phi cơ cũng ít bay, hàng ngàn phi công Mỹ thất nghiệp; nguy nhất là nhiều kỹ nghệ phải giảm hoạt động, đuổi bớt thợ đi, vật giá tăng lên, đời sống đắt đỏ nạn thất nghiệp tăng lên, kinh tế suy sụp.

    Giáng Sinh 1973 sẽ là Giáng Sinh buồn nhất từ 1945 tới nay. Ấy là các nước dầu lửa ở Ả Rập mới chỉ giảm sản xuất 25% mà đã vậy; nếu tất cả các giếng dầu trên thế giới là chết bất tử thì cả nền văn minh của chúng ta sẽ sụp như tôi đã nói trong bài "Tựa" cuốn Bản đồ Ả Rập, năm 1969. Chưa bao giờ nhân loại thấy bị lệ thuộc dầu lửa tới mức đó.

    Vì vậy, các nước kỹ nghệ một mặt gấp rút tìm thêm mỏ dầu lửa, một mặt "o bế" các nước Ả Rập (Nhật Bản lo ngại nhất, nên đã bỏ thái độ trung lập lúc đầu, từ bỏ ông bạn Mỹ, mà tuyên bố yêu cầu Do Thái phải trả hết đất đã chiếm, để mong Ả Rập Séoudite bán dầu cho); mặt khác họ tìm cách chế tạo những xe hơi chạy bằng khinh khi hay than, và xây cất thêm những nhà máy nguyên tử lực.

    Và gần khắp thế giới ai cũng mong Do Thái mau mau nhường Ả Rập để mình khỏi bị hạn chế về dầu lửa mà đời sống được bình thường trở lại.

    Hội nghị Genève

    Nhưng xung đột Tây Á này làm sao có thể giải quyết cho mau được vì còn khó khăn gấp mấy vấn đề Đông Dương nữa.

    Sau biết bao cuộc vận động của Kissinger trong hai tháng nay, vận động cả với Do Thái lẫn Ả Rập hai bên đã chịu họp hội nghị ở Genève hôm 21-12-1973. Tổng thư ký Liên hiệp quốc (chủ toạ), Mỹ, Do Thái, Nga, Ai Cập, Jordanie, (Syrie không chịu họp).

    Không khí mấy buổi đầu có vẻ dễ chịu. Những phải đợi đến đầu năm 1974, Do Thái bầu xong Thủ tướng, hội nghị mới thực sự bắt đầu. Hai vấn đề gay cấn nhất sẽ là Palestine và Jérusalem. Non ba triệu dân lưu vong Palestine, ở rải rác tại Jordanie, Gaza, Liban, Syrie, Kuwait, Ả Rập Saudi, Israel, đòi có một tổ quốc, đòi hỏi đó còn chính đáng hơn đòi hỏi của Do Thái trước năm 1945 nữa. Ngay lãnh tụ cửa họ, Arafat, và các bạn của ông cũng phải sống từ khách sạn này qua khách sạn khác, không có một mái nhà một gia đình, một tổ quốc. Vậy thì thế nào cũng phải trả họ ít nhất là một phần ở phía Tây sông Jordanie để họ lập lại tổ quốc.

    Rồi tới vấn đề Jérusalem. Nhà cầm quyền Do Thái sau chiến tranh 1967 đã hứa với dân rằng không khi nào để cho Jérusalem lọt vào tay Ả Rập nữa, dù chỉ là một phần thôi. Nếu họ không thay đổi thái độ, thì không sao êm được. Đức Giáo Hoàng Paul VI biết rằng vấn đề ấy sẽ rất gay go, nên đã hứa sẵn sàng dự Hội nghị Genève (chắc là để hoà giải khi đem nó ra bàn.

    Như vậy thì chúng ta có thể ngờ rằng hội nghị Genève còn khó khăn hơn hội nghị Paris và chưa biết mấy năm nữa, hoà bình mới trở lại Tây Á.

    °

    Bài học của cuộc chiến lần này

    Ngay từ bây giờ, thế giới đã rút được những bài học của cuộc chiến tranh 18 ngày:

    1. Chiến xa không còn là yếu tố then chốt trên chiến trường nữa.

    Ông Smart, phó giám đốc Viện vấn đề thế giới của Hoàng gia Anh nói: "Các hoả tiễn Nga Xô cung cấp cho bộ binh Ả Rập có thể hạ một chiến xa bằng một trái đạn duy nhất, trước khi chiến xa đó có thể tấn công". Những hoả tiễn địa-địa Sagger và Snapper này rất nhẹ, một người cũng có thể sử dụng được: núp dưới hầm rồi dùng viễn vọng kính, nhắm bắn vào chiến xa địch, mà địch không trông thấy. Vậy thì phải xét lại thuật sử dụng lực lượng chiến xa, chưa biết chừng phải thay đổi cả lý thuyết về chiến tranh nữa.

    2. Không quân có thể bị hạ dễ dàng từ dưới đất

    Trong khoảng trên một trăm phi cơ Do Thái mất trong cuộc chiến, có tới 80% bị hoả tiễn địa-không SAM 6 do Nga chế tạo bắn rớt. Như vậy các trận không chiến không còn quan trọng nữa.

    Loại SAM 6 này rất mới, Mỹ chưa biết, nên Do Thái chỉ có cách là đưa cảm tử quân vào ngay đất Ai Cập để phá huỷ chúng. Phá được bộn rồi. Do Thái mới lại làm chủ được không trung.

    3. Khả năng không vận rất quan trọng.

    Cả Mỹ lẫn Nga đều nhờ những phi cơ khổng lồ cứ năm, bảy phút lại cất cánh một chiếc để tiếp võ khí cho Do Thái và Ai Cập; nếu không thì hai bên không thể đánh nhau quá ba ngày được.

    4. Một sự việc rất mới và rất quan trọng đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh này là vai trò của những vệ tinh trinh sát. Những vệ tinh này đã giúp cho Nga và Mỹ theo dõi sự diễn tiến của các trận đánh một cách tổng quát mà đồng thời lại chính xác hơn là dùng các quan sát viên. Hình ảnh do các vệ tinh ấy chụp được rõ ràng tới nỗi có thể giúp họ phân biệt được loại chiến xa này với loại chiến xa khác, và xác định được nòng súng của một đại bác là bao nhiêu ly!

    Thật là những tiến bộ lớn về chiến tranh, nhưng họ cứ tiến đều đều như vậy thì cuối thế kỷ này, nhân loại sẽ đi về đâu?

    Hết Đông Dương, Tây Á họ sẽ thử sức nhau ở đâu nữa?

    Sài gòn, 23-12-1973

    --------------------------------
    1Ngày 18 - 10, có tin Ai Cập cũng có thái độ đó ở mặt trận Sinaï.
    2Ở phía Cộng Sản, quốc gia sản xuất vũ khí chớ không phải tư nhân. Ở Pháp nhờ kỹ nghệ chiến tranh mà mỗi năm thu được 700 triệu Mỹ kim ngoại tệ, và nuôi được 270. 000 gia đình công nhân.
    3Vua Huslsein nước Jordanie đã có lần muốn đi với Do Thái; lại có lần tuyên bố thẳng ra rằng khi nào Ả Rập mạnh lên, có thể thắng được Do Thái thì ông ta mới theo.
    4Người ta còn ngờ rằng tháng 9, ông tổ chức Hội nghị các Quốc gia phi lien kết, để các nước Ả Rập bàn mật với nhau về việc tấn công Do Thái, mà che mắt được thế giới.
    5Có lẽ vì vậy mà qua tuần thứ nhì, khi Ả Rập Séoudite nhảy vào vòng chiến, Nixon ráo riết hô hào ngưng chiến.

     
     
     

     
     
    write comments  WRITE COMMENTreviews/comments  
     
     

     
     
    Please SIGN IN to Write a Comment

    Member ID:  
    Password:    


    if you don't have a vm account, go here to REGISTER
     
    TRUYỆN DÀITRUYỆN NGẮNTRUYỆN DỊCHTẬP TRUYỆNTRUYỆN TÌNH CẢMTRUYỆN TRINH THÁMTRUYỆN GIÁN ĐIỆPTRUYỆN KINH DỊTRUYỆN TIẾU LÂM
    TRUYỆN TUỔI TRẺ / HỌC TRÒTRUYỆN TÌNH DỤCTRUYỆN KIẾM HIỆPTRUYỆN DÃ SỬTRUYỆN TRUNG HOATHƠTẠP CHÍPHI HƯ CẤU
    ENGLISH EBOOKSEBOOKS FRANÇAISTRUYỆN KỊCHEBOOKS by MEMBERSTỰ LỰC VĂN ĐOÀNGIẢI THƯỞNG VĂN HỌC TOÀN QUỐC
    GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌCTRUYỆN HAY TIỀN CHIẾNTRUYỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975MỤC LỤC TÁC GIẢ







    Please make a
    donation to help us
    pay for hosting cost
    and keep this
    website free

    Bàn Tay Máu 5

    Phi Long

    1.Vũ Thần [16777215]
    2.Tinh Thần Biến [16777215]
    3.Thần Mộ (Tru Ma) [16777215]
    4.Đại Đường Song Long Truyện [5646494]
    5.Thần Mộ (Tru Ma) [5502402]
    6.Lộc Đỉnh Ký [4639511]
    7.Tiếu Ngạo Giang Hồ [4471154]
    8.Chuyện Xưa Tích Củ [4340449]
    9.Tế Công Hoạt Phật (Tế Điên Hòa Thượng) [3600350]
    10.Lưu Manh Kiếm Khách Tại Dị Thế [2689602]
    11.Phàm Nhân Tu Tiên [2491459]
    12.Xác Chết Loạn Giang Hồ [2300142]
    13.Lục Mạch Thần Kiếm [2010272]
    14.Sẽ Có Thiên Thần Thay Anh Yêu Em [1972325]
    15.Phong Lưu Pháp Sư [1548829]
    16.Hắc Thánh Thần Tiêu [1469932]
    17.Thất Tuyệt Ma Kiếm [1445578]
    18.Bạch Mã Hoàng Tử [1204040]
    19.Lưu Công Kỳ Án [1150542]
    20.Cô Gái Đồ Long [1078548]
    21.Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên [1062534]
    22.Đàn Chỉ Thần Công [1028695]
    23.Điệu Ru Nước Mắt [1026322]
    24.Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu [959393]
    25.Quỷ Bảo [921649]
    26.Giang Hồ Thập Ác (Tuyệt Đại Song Kiều) [907491]
    27.Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây [905256]
    28.Đông Chu Liệt Quốc [876883]
    29.Hắc Nho [852072]
    30.Đại Kiếm Sư Truyền Kỳ [842991]
    31.Điệu Sáo Mê Hồn [840009]
    32.Hóa Huyết Thần Công [755940]
    33.Tru Tiên [747724]
    34.Thần Điêu Đại Hiệp [745012]
    35.Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau [661872]
    36.Anh Có Thích Nước Mỹ Không? [622361]
    37.Bong Bóng Mùa Hè Tập 3 [592474]
    38.Nghịch Thủy Hàn [569309]
    39.Hoàn Hảo [557741]
    40.Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra [536754]
    41.Tầm Tần Ký [511901]
    42.Song Nữ Hiệp Hồng Y [456103]
    43.Thiên Đường [452675]
    44.Đạo Ma Nhị Đế [450777]
    45.Xu Xu, Đừng Khóc [439773]
    46.Mưu Trí Thời Tần Hán [433980]
    47.Bát Tiên Đắc Đạo [427327]
    48.Cậu Chó [417118]
    49.If You Are Here [411818]
    50.Võ Lâm Ngũ Bá [408134]
      Copyright © 2002-2017 Viet Messenger. All rights reserved.contact vm