vietmessenger.com


Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Hi Di Trần Đoàn & Vũ Tài Lục

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư





MỤC LỤC

Lời Tác Giả
Tử vi đẩu số qua truyền thuyết dân gian
Trần Đoàn và sách Tử Vi đẩu số toàn thư
Gốc gác khoa Tử Vi có tự bao giờ ?
Những thuật ngữ cần biết
Tứ Yếu – Thập dụ – Bát pháp
Chư tinh vấn đáp luận
SAO TỬ VI
SAO THIÊN CƠ
SAO THÁI DƯƠNG
SAO VŨ KHÚC
SAO THIÊN ĐỒNG
SAO LIÊM TRINH
SAO THIÊN PHỦ
SAO THÁI ÂM M
SAO THAM LANG
SAO CỰ MÔN
SAO THIÊN TƯỚNG
SAO THIÊN LƯƠNG
SAO THẤT SÁT
SAO PHÁ QUÂN
SAO VĂN XƯƠNG
SAO VĂN KHÚC
SAO TẢ PHỤ – HỮU BẬT
SAO THIÊN KHÔI – THIÊN VIỆT
SAO LỘC TỒN
SAO THIÊN MÃ
SAO HOÁ LỘC
SAO HOÁ KHOA
SAO HOÁ QUYỀN
SAO HOÁ KỊ
SAO KÌNH DƯƠNG
SAO ĐÀ LA
SAO HỎA TINH
SAO LINH TINH
SAO THIÊN KHÔNG – ĐỊA KIẾP
SAO THIÊN THƯƠNG – THIÊN SỨ
SAO THIÊN HÌNH
SAO THIÊN RIÊU
SAO THIÊN KHỐC –THIÊN HƯ
TUẦN VÀ TRIỆT
CHÙM SAO ĐI THEO LỘC TỒN
ĐẠI TIỂU HAO
CHÒM SAO ĐI THEO THÁI TUẾ
LONG TRÌ – PHƯỢNG CÁC
TAM THAI – BÁT TỌA
HỒNG LOAN – THIÊN HỈ
THIÊN ĐỨC –NGUYỆT ĐỨC
SAO ĐẦU QUÂN
Nhàn cung
Vòng tràng sinh
Thập nhị cung luận
Tác dụng của cung Thân là gì ?
Cường cung với nhược cung là gì ?
NHẤT MỆNH CUNG (NAM MỆNH)
NHỊ THIÊN DI CUNG
TAM QUAN LỘC CUNG
TỨ TÀI BẠCH CUNG
NGŨ PHU THÊ CUNG
LỤC PHÚC ĐỨC CUNG
THẤT PHỤ MẪU CUNG
BÁT NÔ BỘC CUNG
CỬU ĐIỀN TRẠCH CUNG
THẬP TẬT ÁCH CUNG
HUYNH ĐỆ TỬ TỨC CUNG
VẬN HẠN
LUẬN VỀ NỮ MỆNH
Cái Lý Ngũ Hành Trong Tử Vi
Y nghĩa của 30 tượng trên thế nào ?
Đoán định cách cục
Hình dáng và tính tình
Đoán về tính tình
Cách Cục
Thập nhị cung chư tinh thất hãm phá cách quyết
Thập đẳng luận
Mệnh vô chính diệu
Đẩu số cốt tủy phụ chú giải
Luận Mệnh và Phê Mệnh


Vũ Tài Lục

Dịch và bình chú



Lời Tác Giả

Cuốn sách này được làm thành, đại bộ phận dịch từ tập : / Tử Vi đẩu số toàn thư / của Hi Di Trần Đoàn tiên sinh do La Hồng Tiên biên soạn, do nhà xuất bản Trúc Lâm An Thư Cục ấn hành tại Đài Loan.

Phần bình chú qua tham khảo các sách Tử Vi Xiến Vi của Trương Huy Văn, Chiêm Tinh Thuật của Hoàng Tiểu Nga, Mệnh Lý Huyền Vi của Vô Nhai Cư Sĩ, Trích Thiên Tuỷ của Lưu Bá On,  Mệnh  Lý  Giảng  Nghĩa  của  Vi  Thiên  Lý,  Hám  Long  Kinh  của  Dương  Quân  Tùng,  Tạo  Hoá Nguyên Thược của Nhiệm Thiết Tiều, Mệnh Lý Chính Tôn của Thần Phong Khảo, Uyên Hải Từ Bình của Từ Tử Bình, Quỷ Cốc Toán Mệnh Thuật …

Phần phú nôm để đối chiếu, chúng tôi trích dẫn từ việc ghi chép công phu của Tử Vi Ao Bích của Việt Viêm Tử và Tử Vi Thực Hành của Dịch Lý Huyền Cơ.


Dẫn

Khổng Tử làm quan ở nước Lỗ khiến cho Lỗ trở nên cường thịnh. Tề quốc sợ Lỗ mạnh sẽ xâm lăng, Tề mới dùng kế ly gián vua Lỗ với đám quần thần tài giỏi bằng cách tuyển 80 mỹ nữ cho ăn mặc lụa gấm, học tập ca vũ, đem biếu vua Lỗ. Quả nhiên, Lỗ công mê đắm nữ sắc ba bốn ngày không ra triều đình nghe chính sự. Khổng tử từ chức bỏ đi sang nước Vệ. Vệ che không dùng. Sang nước Tần, vừa vượt qua Khuông thành, vì diện mạo Khổng Tử giống hệt tên Dương Hồ, một kẻ cướp khét  tiếng  trong  vùng,  quan  quân  và  dân  chúng  vừa  trong  thấy  là  hè  nhau  đuổi  đánh,  thầy  trò Khổng Tử bị một phen thất điên bát đảo. Bỏ Tần qua Tống quốc. Có quan Tư Mã vốn vẫn ghét đạo lý Khổng Khâu, rình lúc thầy Khổng giảng lễ dưới gốc cây cổ thụ, cho người chặt cây đổ để ám hại, may sao Khổng Tử thoát chết nhưng lại phải rời nước Tống đến Trịnh quốc. Thầy đi trước, trò tới sau. Tại nước Trịnh, Khổng Tử đứng chờ nơi cửa Đông. Các trò tìm thầy, hỏi thăm người Trịnh nói  :  /  Cửa  Đông  có  một  người,  trán  cao  giống  vua  Nghiêu,  cổ  giống  cổ  ông  Cao  Dao,  lưng giống lưng ông Tử Sản, nhưng dáng dấp lơ láo như con chó  mất chủ ( táng gia chi cẩu) /.

Học trò theo chỉ dẫn tìm đến nơi quả đúng là Khổng Khâu, thuật lại lời người Trịnh cho thầy nghe.

Khổng Tử cười mà rằng :

- Hắn nói thể mạo của ta giống các bậc cao hiền thời xưa chẳng có gì đúng, nhưng hắn tả dáng dấp ta như con chó mất chủ thì thất không sai chút nào.Khổng Phu Tử đời sau được tôn làm vạn thế sư biểu, nhưng lúc sinh thời, ông luôn luôn sống trong cảnh táng gia chi cẩu.Tại sao thế?

Khổng Phu Tử giải thích :

Đạo chi tương hành dã dư ? Mệnh dã Đạo chi tương phế dã dư ? Mệnh dã Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử.

Nghĩa là:

Đạo được chuộng do mệnh vậy

Đạo bị vứt bỏ cũng do mệnh vậy

Không biết thiên mệnh thì lấy điều gì chứng tỏ đức quân tử ?Bôn tẩu trải bao nhiêu vinh nhục, mãi tới ngoài năm mươi tuổi đành trở về quê cha đất tổ sao định thi thư và giảng học. Ông bảo học trò :

/ Thầy năm mươi tuổi mới biết thế nào là Thiên mệnh ( Ngô ngũ thập nhi tri thiên mệnh)/.

Câu nói này đã làm cho đạo Khổng vượt xa các đạo khác vì tính chất nhân văn tuyệt đối của nó. Khổng Khâu không muốn mọi người tôn sùng mình như một vị

thánh, ông trước sau chỉ là một con người trong nhân gian cùng chịu  an bài của vận mệnh. Cái hay của Khổng đạo là ở chỗ bất dục dị ư nhân vậy.

Vào thời kỳ còn trai trẻ cường tráng, ý khí hùng mạnh anh phát, xem việc thiên hạ như ở trong tay mình muốn là được. Nếu có ai nói về hai chữ thiên mệnh,  người tuổi trẻ sẽ cười ngất mà cho là hão huyền. Khi tuổi về chiều, từng nếm nhiều cay đắng, lăn lóc đường đời, ý khí tiêu mòn, sức vóc suy yếu. Dù công thành danh toại hay công không thành danh không toại, bấy giờ chẳng ai khỏi không thở dài mà

tự nhủ : / Cuộc đời là số mệnh ! /

Có lưu lạc mới biết mùi trần thế

Còn trần ai không tỏ mặt công hầu Ngất ngưởng thay con tạo khéo cơ cầu Muốn đại thụ hãy dìm cho lúng túng Thân hệ bang gia chung hữu dụng Thiên sinh hào kiệt bất ưng hư Hãy bền lòng chớ chút oán vưu Thời chi hĩ ngư Long biến hoá Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả Cũng đừng đem hình dịch cầu chi Hơn nhau cũng một chữ thì.

( Thơ Cao Bá Quát)

Đó là thảm kịch của nhân gian nhưng chính thảm kịch đó đưa nhân  loại thăng hoa. Huyền thoại Hy Lạp kể :

Vua xứ Lydie là Croisos rất giàu, cai trị một quốc gia rất mạnh, vàng bạc châu báu trên thế  giới  đều  vào  tay  nhà  vua,  triều  thần  nhiều  người  tài  giỏi.  Nhà  hiền  triết  Solon  vào  yết  kiến Croisos, nhà  vua cho trần thiết huy hoàng để đón tiếp. Bước vào lâu đài, Solon chẳng mảy may lưu tâm đến sự tráng lệ. Vua Croisos bực lắm mới  hỏi :

/Theo ngài, trên đời này ai là người sung sướng nhất ? /

Y vua muốn Solon sẽ nói Croisos là người sung sướng nhất. Nhưng  nhà hiền triết lại kể số mệnh vua Tellos đã bị kẻ thù đâm trúng ngực chết giữa lúc Tellos và tổ quốc của ông sống trong tuyệt đỉnh vinh quang. Rồi Solon kết luận :

 " Hàng ngàn ngày trong suốt cuộc đời người không ngày nào tuyệt đối giống ngày nào. Số mệnh trộn lẫn sướng với khổ, may với rủi cho nên không ai có thể tự cho mình hoặc bảo người khác là sướng hay khổ trước  khi sinh mạng hoàn tất ".

Croisos nghe Solon nói, lòng không mấy  vui. Để được yên chí hơn, Croisos hôm sau đến đền thờ Apollon mà xin  thần thánh dạy bảo cách sống sung sướng mãn đời. Thần thánh dạy  :

/ Hỡi Croisos, con sẽ là người sung sướng mãi mãi /.

Yên lòng với lời thánh nói, Croisos tự nhủ :

 / Ta không bao giờ  tính sai chuyện gì, ta đâu phải là thằng điên hay chỉ biết mơ mộng  hão, ta nhìn người cũng như nhìn ta một cách sáng suốt, ta đánh trận thắng luôn luôn, ta cai trị khéo tuyệt bực. Thần thánh cũng  bảo hạnh phúc của ta không bao giờ mất /.

Nhưng  Croisos  lạc  quan  chẳng  được  bao  lâu  thì  vận  đen  nối  đuôi  nhau  ập  tới,  thua  trận Perse, thủ đô Sardes bị vây hãm vợ con vua Croisos bị bắt đi, lâu đài cung điện bị thiêu rụi. Croisos nhớ lại lời của Solon, khóc lớn mà gọi tên nhà hiền triết ba lần.

Ta có thể không tin tướng mệnh học là môn học mang ý định tìm biết trước vận mệnh, tuy nhiên. Không phải vì thế mà ta không bị những sự việc thuộc về vận mạng quấy nhiễu khiến ta bại hoặc bất giải. Huyền bí nhưng lại trong thấy rõ mồn một ( mustérieux mais objectif) .Vậy có thể khẳng định rằng vấn đề vận mạng học là nghi vấn nhưng vấn đề vận mạng thì hẳn hoi là sự thật không hồ nghi gì nữa. Thế gian chỉ khả dĩ dùng sự thật để phủ định lý luận chứ không thể đem lý luận để phủ  định sự thật. Khoa học phát đạt đã đánh cho lung lay đến tận gốc cái quan niệm Thần của tôn giáo. Còn quan niệm vận mệnh từ trước tới giờ chưa hề bị sự tấn bộ của trí tuệ làm nó phải biến hoá. Quan niệm vận mạng đã dùng sự thật của nó cho người trí tuệ cũng như cho kẻ vô trí thừa nhận lẽ thịnh suy cát hung ở đời. Lẽ ấy khoa học nguyên tử năng, khoa học không gian chưa chứng minh giải thích được.Giáo lý tôn giáo chứng minh giải thích vận mạng bằng sự an bài do bàn tay Thượng Đế,bằng quan hệ tiền kiếp tức là tuyệt đối tuỳ thuộc vào thần quyền thì lại càng không thể chấp nhận vì nó chẳng khác gì bọn phù thuỷ đem ma quỷ lợi dụng vấn đề vận mạng. Thiên mệnh, chữ thiên đây không có nghĩa là một ông mang hình dung thiện ác đem hoạ đem phúc cho ai, thiên đây chỉ một hoàn cảnh bẩm thụ lúc vật được tạo thành, không hề có một ý bất công nào hết. Vận mạng con người phải hiểu theo quan niệm / Thiên bất tư phúc địa bất tư tải /, trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai.Người xưa đi tìm biết vận mạng trong cái nguyên lý vũ trụ biến động bất cư gọi là dịch lý. Hoàn cảnh tự nhiên chịu theo qui định của định luật dịch đó, con người cũng thế. Thế nào là biến động bất cư ? Như kinh Dịch viết :

/ Càn đạo biến hoá, các chính tính mệnh... Ví đạo dã lũ thiên, biến hoá bất cư, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch bất khả vi điển yếu duy biến sở thích /.

Nghĩa là:

/ Đạo trời biến hoá, mọi vật theo biến hoá đó mà xoay đổi tính mệnh ... Đạo chuyển rời luôn, biến hoá chứ không ở một chỗ, chan hoà khắp chốn, trên dưới vô thường, cương nhu dịch vị, không cái gì nhất định, chỉ có biến hoá mới thật là đạo trời /.

Do  lý  trên  nên  mệnh  phải  đi  đôi với vận, nếu chỉ nói mệnh không thôi nghe như là nhất thành bất biến.

Giáo sư  Tiền Mục giảng :

 / Mệnh là tính cách của người. Vận là sự tao ngộ giữa người với hoàn cảnh. Tính cách thì định trước nhưng tao ngộ thì tuỳ thời thế mà biến /.

Thế cục vĩnh viễn biến động, vận mệnh con người cũng biến động không lúc nào ngừng. Sự tao ngộ làm cho cuộc sống chu chuyển vạn lối.

Tục ngữ Trung Quốc có câu :

 / Tam thập niên tiền thuỷ lưu đông, tam thập niên hậu thủylưu tây ( ba mươi năm trước nước chảy về phía Đông, ba mươi năm sau  nước chảy về phía Tây) "

để tả cái biến của sự vật cuộc đời biển dâu, dâu biển. Thế vận thịnh suy trị loạn, đời người hung cát theo nhau.Bên cạnh cái lý thịnh suy hung cát còn có quy luật bĩ cực thái lai và biện chứng vật cực tắc phản đem đến cho cõi nhân sinh ý nghĩa và giá trị để đời sống khỏi tẻ nhạt vô vị. Bởi có bĩ cực thái lai nên gặp bĩ chẳng đáng ta phải lo cứ tiếp tục phấn đấu, gặp thái chẳng đáng cho ta mừng đến độ quên phấn đấu. Đằng sau thái là bĩ, đằng sau bĩ là thái. Thái bĩ là hai mặt trước sau của mệnh

vận.Bĩ cực tắc thái. Thái cực tắc bĩ. Đấy là chân tướng của mệnh vận. Hoạ phúc theo vận mệnh học được tính theo cái lý nhân quả, chứ không thể nói theo ông On Như Hầu, Nguyễn Gia Thiều trong mấy câu thơ cung oán :

Quyền hoạ phúc trời tranh mất cả

Chút tiện nghi chẳng giả phần ai

Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

Có nhân tất là có quả. Có quả tất phải có nhân. Reo gió gặt bão. Ra ân được phúc. Xét ở hiện tại khả dĩ thấy được phần nào quá khứ và suy ra phần nào tương lai. Đó là nhân quả thông thường.  Ngoài  nhân  quả  thông  thường  còn  có  nhân  quả  trên  một  tầng  cao  hơn  gọi  là  nhân  quả thuộc triết lý hệ của số mệnh, nhân quả cách xa nhau và ảnh hưởng gián tiếp.Lão Tử nói :

/ Hoạ hề phúc sở ý, phúc hề hoạ sở phục /.

Phúc chứa chất mềm hoạ, trong hoạ tiềm ẩn phúc. Phúc hay hoạ không đến một cách vô cớ.Nó đến theo luật nhân quả như sách Tả Truyện viết : / Hoạ phúc vô môn duy nhân sở chiêu / (Hoạ phúc do người gọi tới). Con người ta ai chẳng mong được phúc vậy thì làm sao lại có chuyện chiêu hoạ ? Lão Tử trả lời : / Hoạ mạc đại ư bất tri túc, mạc đại ư dục đắc / nghĩa là hoạ ở chỗ không biết thế nào là đủ, lòng dục, lửa dục cứ lớn mãi. Đó là thường lý. Thường thức và học thức không giống nhau, học lý và thường lý cũng có nhiều chênh lệch.Thường thức, thường lý tìm thấy ở thường tình thường sự, nhưng học thức và học lý chỉ tìm thấy qua học thuật chuyên môn. Thường thức thường lý mang tác dụng chỉ đạo nhân sinh. Tri thức về vận mệnh có nhiều người lấy thường lý của nhân sự để giải thích bằng thuyết tự ngã (do mình) cho sức người là trung tâm. Cực điểm của thuyết này là siêu nhân (super - homme). Tây phương có khá nhiều thuyết siêu nhân sau khi chủ nghĩa nhân văn đã thắng thần quyền tăng lữ. Mệnh vận học Đông phương không cho sức người là trung tâm, không đem tự ngã để giải thích. Mệnh lý là một học vấn chuyên môn nghiên cứu về vận mệnh con người căn cứ vào thời gian sinh ra đời và hình dáng (tướng) để phán đoán. Trong phán đoán này, sức người với tự ngã chỉ đóng góp một phần nhỏ.

Gánh cực đem đổ lên non

Cong lưng mà chạy cực còn theo sau.

Sức  người  và  tự  ngã  nếu  không  có  sự  trợ  giúp  của  may  mắn  tất  sẽ giảm hẳn thành quả. Ngay các nhà khoa học thông thái Tây phương trên cửa miệng vẫn thường thốt ra câu : / Pauvres gens, ils n’ont vraiment pas de chance /. Đã có nhiều khoa học gia đặt vấn đề may rủi có thể nhìn thấy hay không ? Họ đều công nhận may rủi ở ngoài sức người và tự ngã, họ đưa ra môn học / calcul de probabilité / (toán lượng định).Mệnh vận học Đông phương cũng thế, nó hẳn hoi là một con toán, có khác chăng chỉ là khác vì nó đặt bài toán đó trên một luật tắc cao hơn. Không thể bảo mệnh vận học là huyền bí. Danh từ này chỉ có thể gọi các thuật phù thuỷ ếm bùa, đồng rí, tabou, hội kín tôn giáo. Điều đáng tiếc là môn mệnh vận học tự nó có những khuyết điểm :

a)   Dễ học nhưng rất khó tinh tường

b)   Chỉ biết nó vậy nhưng không mấy người chịu đi tìm hiểu tại sao nó vậy ?

c)   Các giang hồ thuật sĩ vì lý do này hay lý do khác thường dùng thần quyền để làm áp lực đối với những thắc mắc về mệnh vận.Thường lý căn cứ trên thường tình, thường sự để đem ra lời giải thích về mệnh vận nếu nói có lý thì nghe, đương nhiên là xuôi tai.

Nhưng mệnh lý chẳng những nó luôn luôn không giống thường lý mà còn luôn luôn sung đột với thường lý nữa. Nếu muốn nói cho suôi thì phải đem cả một hệ thống học vấn chuyên môn ra giảng. Điểm căn bản cho sự xung đột giữa mệnh lý và thường lý là thường lý dựa trên sự thật hiện hữu để suy đoán vị lai mà mệnh lý thì dựa trên mệnh cách vô hình để phán đoán những biến hoá đã qua và sắp tới. Tỉ dụ thường lý bảo anh A thân thể cường tráng khoẻ mạnh thì chắc hẳn anh sống lâu. Mệnh lý sau khi xem xét ngày tháng năm sinh hoặc hình dáng nói ngược hẳn lại thường lý rằng anh A sẽ chết trong vòng vài ba năm nữa.

Tỉ dụ : thường lý bảo / hữu chí cánh thành/. Mệnh lý nói khác / mưu sự tại nhân thành sự tại thiên/. Theo mệnh lý giải thích thì đời con người ta từ quan hệ cha mẹ anh em, vợ con, bè bạn cho đến sống lâu, chết yểu, sự nghiệp thành bại, gặp hoạ gặp phúc đã được định đoạt bởi số vận tới 7 phần 10, chỉ còn lại 3 phần cho hữu chí giả.Người xưa dạy rằng : / Nhân sinh bất như ý sự thường bát cửu/. ( Trong đời những điều bất như ý có tám chín). Nói thế tức là thừa nhận biến chuyển của đời sống đi ra ngoài nhân lực và tự ngã quá bán phần quyết định.

Tuy nhiên, giảng mệnh lý xin chớ quá hoả để nói dựng đứng : từ miếng ăn miếng uống đều do tiền định ( nhất ẩm nhất trác giai do tiền định). Mệnh lý không chi phối từng chi tiết của người đời đâu, nói khác đi, mệnh lý chi phối những gì liên quan đến đại sự thôi. Nó vẫn còn để cho con người tự chủ, tận nhân sự khả bổ cứu mệnh vận. Số nghèo thật đấy nhưng nếu chăm chỉ không trở nên giàu vẫn có thể tránh được cảnh bần tiện nhục nhã. Mệnh lý tuy xây dựng trên luật tự nhiên mà vẫn có chỗ cho luật nhân sự. Toàn bộ mệnh vận học Đông phương đều có chung một gốc là khoa âm dương ngũ hành được hệ thống hoá qua bộ kinh Dịch từ hơn ba ngàn năm trước đây. Mệnh vận học phân ra nhiều thuật :

- Sơn

- Y

- Mệnh

- Bốc

- Tướng

Sơn là phép tu tiên gồm ba bộ môn tu luyện : huyền điển – dưỡng sinh – tu mật.

Y là chữa bệnh gồm ba phương pháp : phương tễ (bốc thuốc)   - châm cứu – linh trị (chữa bệnh bằng ý niệm). Mệnh là tính số toán có khao Tử Bình (số bát tự) – Tinh Tôn – tử  vi đẩu số.

Bốc là bói toán dựa vào tinh linh để hỏi vũ trụ thiên nhiên có bốn lối : bốc dịch, lục nhâm, kỳ môn, thái ất.

Tướng là xem hình thế, có ba loại : xem vân tay, diên mạo, nhân dáng – xem nhà cửa (dương cơ)  - xem âm phần (tức địa lý phong thuỷ) – xem tướng trời tức khoá thiên văn. Thiên văn, Thái At thần kinh ở trên tầng cao tính vận nước. Thiên Văn đã thất truyền. Thái At nay vẫn còn sách lưu truyền nhưng có lẽ vì sách có nhiều chỗ in sai nên đọc rất khó hiểu. Phong thuỷ, dương cơ tính mệnh vận cho cả một dòng họ, vài ba đời con cháu.

Y đối với các khoa phương tễ, châm cứu, linh trị thì đứng riêng ra một ngành, chuyển vào mệnh vận học chỉ còn lại phép bắt mạch thái tố bây giờ cũng gần như thất truyền.

Sơn tức tu tiên học đạo trước sau vẫn biệt lập, tuy nhiên lại rất quan tâm đến mệnh vận học vì phải hiểu sâu xa lẽ cùng thông bĩ thái nên mới tìm vào tiên  đạo cho nên những người đắc đạo đa số tìm tòi đóng góp đắc lực cho khoa mệnh vận học. Tỉ dụ : Dương quân Tùng, bậc đại sư của khoa địa lý phong thủy, Hi Di Trần Đoàn v.v... ít nhiều đều mang tiên cốt như hình dáng một bậc cao sĩ được tả trong Tam Quốc Chí diễn nghĩa :

Một đêm gió lạnh lùng

Muôn dặm mây đỏ ối

Bời bời hoa tuyết bay

Nước non hình sắc đổi

Ngảnh mặt trong lên trời

Tưởng là rồng ngọc chổi

Vây mai tua tủa bay

Một lát khắp bốn cõi

Cưỡi lừa qua cầu con

Than vì mai gầy cỗi

Phổ biến nhất là các khoa tướng nhân diện, Tử, Bình, Tử Vi, bốc  dịch, lục nhâm, kỷ môn độn giáp vì các khoa trên tính trực tiếp mệnh vận mỗi người đang sống mỗi việc đang làm không xa xôi diệu vợi như phong thuỷ địa lý hay thái ất. Cần phải phân biệt bốc dịch, lục nhâm, kỳ môn nói chung là bói chỉ dùng để vấn sự nghĩa là hỏi một việc đang tiến hành xem diễn biến tốt xấu của nó ra sao. Còn Tử Vi, Tử Bình dùng vận mệnh suốt đời người. Có điểm rất đáng chú ý là :

Người Trung Quốc và mấy nước chịu ảnh hưởng văn hoá Hán Tộc như Nhật Bản, Đại Hàn đều xem số Tử Bình như 1 không dùng Tử Vi.Duy tại Việt Nam khoa Tử Vi lại phổ biến phát triển mạnh, người Việt hầu như không biết đến số Tử Bình là gì cả.Nguyên nhân nào không ai rõ. Người thuộc phái hệ Tử Vi cho rằng Tử Vi là một khoa toán số dành cho bậc vua chúa, nên giai cấp thống trị không cho phổ biến trong dân gian. Bởi những biến động chính trị khiến một số con vua cháu chúa chạy nạn sang nước ta chịu ơn ai đó mà truyền lại, hoặc phải dùng khoa này kiếm tiền, hoặc do liên hệ hôn phối không dấu nữa.Giả thiết trên đúng hay sai vì không có sử liệu rõ ràng không thể phê phán hàm hồ.Chỉ biết khoa Tử Vi khi bị thu hẹp tại một địa phương đã phải chịu một thiệt thòi là không có những sách bàn thêm, xiển dương và khai triển như khoa Tử Bình.

Tỉ dụ nếu ta muốn nghiên cứu về khoa Tử Bình, ta có thể tìm thấy nhiều sách cần thiết cho việc nghiên cứu đó như :

- Trích Thiên Tuỷ của Lưu Bá On

- Uyên Hải Tử Bình của Từ Tử Bình

- Mệnh Lý Chính Tôn của Trương Thần Phong

- Tử Bình Chân Thuyên của Thầm Hiếu Đam

- Mệnh Lý Thám Nguyên của Viên Thụ San

- Tạo Hoá nguyên Thược tức bộ Lan Giang Võng của Vô Danh, v.v... cùng với hàng trăm bài phú của nhiều tác giả khác. Ay là chưa kể những người nổi danh hiện tại như Uc Đạt Nhân, Từ  Lac Ngô, Vương Hy Văn v.v...

Còn khoa Tử Vi nhìn quanh đi quẩn lại chỉ có một cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của thuỷ tổ khoa này là ông Hi Di Trần Đoàn trước tác. Mặc dầu các bậc trí giả người Việt đã làm nhiều câu phú nôm bổ túc để thành toàn cho Tử Vi đẩu số, nhưng gốc gác vẫn là những nguyên tắc của Tử Vi đẩu số toàn thư. Nói thế không có ý khẳng định cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư là loại tuyệt đỉnh vì ngay trong sách này còn có

nhiều chỗ tối nghĩa, tam sao thất bản, trước sau thiếu hệ thống hoàn bị. Tuy nhiên, Tử Vi đẩu số toàn thư dù sao cũng không thể thiếu được trong tủ sách của người nghiên cứu khoa này.

Tử vi đẩu số qua truyền thuyết dân gian

Tử vi là gì ?

Tử vi nghĩa là hoa tường vi màu đỏ thẫm (tử : màu đỏ tía – vi : tường vi hoa). Từ cổ đại giống người thuộc phía Bắc song Hoàng Hà dùng hoa màu đỏ để chiêm bốc. Hình ảnh việc chiêm bốc ấy giống hệt như chuyện Quỷ Cốc trước khi cho Tôn Tẩn Bàng Quyên xuống núi vào đời tranh đấu bảo mỗi người ngắt một cành hoa tường vi đưa lên thầy. Xem hoa phân âm dương Quỷ Cốc tiên sinh đã đoán biết trước vận mạng Tôn Tẫn bị bao nhiêu năm điêu linh cùng cực đến nỗi phải giả điên, ăn cả cứt heo mới thoát khỏi tay tên phản bạn lừa thầy Bàng Quyên.Trải qua nhiều đời, Tử vi chiêm bốc chuyển thành toán mệnh phương pháp. Phương pháp này đặt Tử Vi làm tên một ngôi sao đi tiếp với 13 sao nữa là :

Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm , Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Rồi chia đời người ra làm mười hai cung là các cung :

Mệnh, huynh đệ, phụ mẫu, tử tức, quan lộc, thiên di, tật ách, tài bạch, nô bộc, điền trạch, phúc, đức.

Mười bốn chính tinh tuân theo một cách tính có sẳn căn cứ vào giờ, ngày tháng, năm sinh mà an vào mỗi cung. Sao nào ở cung nào sẽ tiên đoán việc gì đó sẽ xảy ra cho đời người.

Tỉ dụ (đơn giản)    : Cung phu thê (vợ chồng), được hai sao Thái Âm , Thái dương thì người đàn ông hay đàn bà sẽ có một hôn nhân tốt. Trái lại, nếu thấy có sao Liêm trinh ở cung phu thê thì sẽ bị người khác phái lừa dối. Tỉ dụ (đơn giản) : cung tài bạch có sao Vũ Khúc tất tiền bạc rồi rào, nếu cung này gặp sao hung, hẳn nhiên sẽ vất vả nghèo khổ.

Tỉ dụ (đơn giản) : trên trần thế biết bao nhiêu bách triệu phú  ông mà vẫn sống trong cảnh u sầu. Tại vì có hung tinh nằm ở cung Phúc Đức. Mười bốn vị chinh tinh thực ra chỉ là những ký hiệu cho một bài toán. Nhưng đối với dân gian để cho dễ nhớ, cũng như để răn đời, họ liền ghép những ký hiệu ấy vào các nhân vật sử mà thành câu chuyện truyền thuyết sau đây :

Đời  Phong  Thần,  vương  triều  nhà  An  có  ông  vua  cực  tàn  ác  là  vua  Trụ.  Một  hôm,  Trụ Vương đi săn gặp mưa lớn, để trú mưa liền vào miếu Cửu Thiên

Huyền Nữ. Trụ Vương vốn thô bạo và hiếu sắc thấy pho tượng Cửu Thiên Huyền Nữ đẹp quá mê ngay, hạ lệnh cho quân sĩ các tượng đó về xung vào đám tì thiếp của nhà vua. Mọi người tuy kính nể nữ thần nhưng họ còn sợ sự tàn ác của vua Trụ gấp bội, nên nhất loạt vâng lệnh mang Cửu Thiên Huyền Nữ về cung. Cửu Thiên huyền Nữ giận lắm mới hoá phép biến một con hồ ly trong rừng thành người đàn bà tuyệt sắc rồi sai đến mê hoặc Trụ Vương mà làm cho nhà An phải diệt. Người đàn bà tuyệt sắc ấy tên Đắc Kỷ, vương phi sủng ái của vua Trụ. Quả nhiên, Trụ Vương say mê Đắc Kỷ bỏ phế việc triều đình, gây sáo trộn trật tự.Cùng lúc đó, trên trời đang thiếu nhiều thần linh, Ngọc Hoàng Thượng Đế rất mừng thấy Cửu Thiên Huyền Nữ quyết tâm diệt An. Ngài nghĩ một khi nước loạn tất sẽ có nhiều anh hùng, trung thần chết vì quốc nạn. Ngài phái Thái Bạch Kim Tinh lập tức ra Nam Thiên Môn cầm sổ chờ sẳn, trong cơn binh lửa đón những người chết về. Ơ phía Tây giang sơn nhà An có chư hầu quốc giòng họ Chu giầu có thịnh vượng, văn hoá cao. Sợ nhà Chu một ngày kia sẽ lấn áp mình nên Trụ Vương ý định ra tay trước mới mượn cớ mời vị lãnh đạo Chu quốc là Văn Vương tới họp. Chu Văn Vương tinh thông bát quái Dịch Lý của Phục Hi trí tuệ bậc nhất thời bấy giờ. Trụ Vương nghĩ cứ bắt Văn Vương giết đi thì mọi sự sẽ đây vào đấy. Khi Văn Vương đến nơi, vua Trụ cho bắt nhốt ngay chờ ngày hành quyết, kết tội Văn Vương phản nghịch.Con lớn Văn Vương là Bá Âp, đẹp tuấn tú, hiên ngang, đàn bà con gái trong thấy Bá Âp một lần là thương nhớ khó quên. Bá Âp rất có hiếu, nghe tin cha bị hại lòng sốn sang như lửa đốt, ngày đêm phóng ngựa đến gặp vua Trụ để minh oan cho cha mà không hề biết hậu ý của vua Trụ. Trụ Vương hứa ba ngày sau sẽ nói chuyện và lưu Bá Âp ở trong cung. Đêm  khuya,  Bá  Ap  ngồi  gảy  đàn,  tiếng  đàn  như  nước  chảy  trên  đá,  buồn  như  chim  đỗ quyên hót nhiều đến rớm máu mắt chan hoà khắp cung điện khiến Đắc Kỷ tỉnh giấc lắng nghe rồi lần theo tiếng đàn mà tới buồng Bá Âp. Nàng chỉ mặc trên người tấm áo lụa mỏng. Nhìn qua song cửa, Đắc Kỷ trong thấy dưới ngọn bạch lạp, một chàng trai khôi vĩ, cao sang tuyệt bực đang chăm chú với phím đàn. Con hồ ly tay sai của Cửu Thiên Huyền Nữ, nó vốn tính cực dâm đãng nên chẳng  chút  ngần  ngại  mở  cửa  vào  phòng Bá  Ap  dùng  cử  chỉ  lả  lơi  quyến  rũ.  Nào  ngờ  Bá  Ap chẳng những bất động tâm, chàng còn lớn tiếng mắng Đắc Kỷ là đồ đĩ thoả. Đắc Kỷ bực bội vì không được thoả mãn cũng chửi lại Bá Âp làm náo loạn cung đình, vệ binh kéo đến bắt giữ Bá Âp. Đắc Kỷ già mồm khóc lóc nói với vua Trụ rằng mình bị Bá Âp làm xấu, nghe tiếng đàn nàng đứng ngoài song cửa bỗng Bá Âp xấn tới ôm nàng kéo vào buồng. Trụ Vương cả giận, cơn ghen bừng bừng không cần hỏi han cơ sự thực hư thế nào nữa, hét quân mang Bá Âp ra chém rồi băm thây ra viên thịt Bá Âp nướng chả đem đến cho Văn Vương ăn.Văn Vương trong ngục thất là người giỏi toán số đã biết rõ hết mọi chuyện xảy ra. Buổi sáng khi quân canh mang chả nướng vào, Văn Vương ung dung ngồi ăn hết dĩa  chả. Trụ Vương thấy vậy cười ha hả nói : / Thằng đó đúng đồ hư danh,  ăn thịt con mà cũng không biết thì có gì đáng sợ, không hiểu tại sao thiên hạ phục hắn về cái tài thần toán chiêm bốc /. Nói rồi Trụ Vương sai thả Văn Vương ra khỏi ngục.Trên đường về Chu quốc, nỗi mừng thoát nạn không sao lấp được cái buồn cha ăn thịt con cho nên vẻ mặt bi thảm khôn tả. Đến nhà, Văn Vương tìm khu vườn cây xanh tốt, tự móc họng để nhả những miếng chả ra. Lạ thay, thịt Bá Âp đã biến thành một động vật lông trắng muốt, đôi tai dài, mắt đỏ màu hồng ngọc chạy nhảy tung tăng trong hiền hậu dễ thương, đấy là con thỏ đầu tiên của thế giới. Nó cúi đầu chào Văn Vương rồi chạy vào đám cỏ xanh mất dạng. Thái Bạch Kim Tinh đưa tay đón bắt con thỏ đưa về trời. Giữa lúc ấy thì trên một ngôi sao, hoa tường vi nở đỏ bát ngát. Ngôi sao này là chủ tinh của một chòm sao. Do đề nghị của Thái Bạch Kim Tinh, Ngọc Hoàng Thượng Đế liền bổ nhiệm Bá Âp về cai quản sao Tử Vi bởi lẽ Bá Âp hội đủ ba tính chất : thiên lương, tôn quí và cao quí.

Văn  Vương  thề  quyết  trả  thù  cho  con,  ngày  đêm  nỗ  lực  xây  dựng  xứ  sở,  làm  việc  quá nhiều Văn Vương kiệt lực chết, việc diệt nhà An giao vào tay Vũ Vương, em của Bá Ấp.Vũ Vương nối nghiệp cha, ngày ngày huấn luyện binh mã, chăm lo nông nghiệp, quốc lực tăng trưởng, nhờ vị quân sư là Khương Thượng, Vũ Vương đánh bại Trụ Vương tiêu diệt An triều. Khương Thượng hiệu Tử Nha tục xưng Lã Vọng là người cao minh trí tuệ, lúc chưa đắc chí ngồi câu cá nơi song Vị, nghèo khổ cùng cực bị mụ vợ già chửi  mắng suốt ngày. Mãi đến chín mươi tuổi mới gặp Văn Vương mời về làm quân sư. Văn Vương chết,  Khương Thượng giúp Vũ Vương phạt Trụ.Bình xong thiên hạ, Vũ Vương phong cho Khương Thượng cai quản đất Tề. Lúc chết, Thái Bạch Kim Tinh mời về trời giao cho cai quản sao Thiên Cơ, bởi thế sao Thiên Cơ trong Tử Vi đau số tượng trưng cho trí tuệ, quyền biến cơ mưu.

Trụ Vương tuy là bạo quân nhưng chung quanh ông có nhiều trung thần, đáng kể nhất là Tỉ Can từng khuyên vua Trụ dứt bỏ con yêu tinh Đắc Kỷ. Trụ Vương bực  bội mắng Tỉ Can bất trung. Để tỏ lòng ngay thẳng, Tỉ Can nói với Trụ Vương : /Nếu bệ hạ không tin lời, thần xin đem tấm lòng son sắt dâng lên bệ hạ/. Nói xong cầm dao tự đâm vào ngực moi tim đưa cho Trụ Vương.Tỉ Can chết, Thái Bạch Kim Tinh thương lắm tới đón về trời giao cho cai quản tinh cầu sáng rực, cực quang minh chính đại là sao Thái  Dương.

Khương Thượng, Bá Âp, Tỉ Can đã xong, còn Văn Vương, Vũ vương ra sao ? Vũ Vương lên ngôi thi hành thiên chính, sống rất thọ. Khi chết, Thái Bạch Kim Tinh nhận công nghiệp vũ dũng đánh dẹp bạo quân rất xứng đáng với sao Vũ Khúc nên dâng sớ xin Ngọc Hoàng đặt Vũ Vương nơi ấy. Vũ Vương chẳng những là người dũng cảm lại giỏi về kinh tế khiến cho đời sống dân gian sung túc. Do vậy Vũ Khúc còn là sao chú về tiền bạc giàu có trong Tử Vi đẩu số.

Thảo phạt Trụ Vương là Vũ Vương, nhưng nếu không có những công lao bước trước của Văn Vương thì đại sự cũng chẳng thành. Hầu hết các nhân vật tài giỏi giúp Vũ Vương đều do Văn Vương để lại. Thái Bạch Kim Tinh nhận thấy Văn Vương xứng đáng là một vị thần giỏi dung hoà xếp đặt, tính tình ôn thuận nên cho về cai quản ngôi sao Thiên Đồng.

Bên cạnh vua Trụ có tên đại gian thần là Phí Trọng dùng nịnh nót và gian kế đã giết chết nhiều trung thần của An triều để thoả mãn nắm đại quyền quốc  gia. Khi An triều diệt vong, Phí Trọng bị Khương Thượng bắt đem chém đầu. Ngày hành hình trên trời thiếu thần trị nhậm sao Liêm Trinh, Thái Bạch Kim Tinh liền dùng Phí Trọng làm vị thần của mọi sự tà ác. Trong Tử Vi đẩu số, Liêm Trinh chủ về những sự việc lắt léo không ngay thẳng, tàn nhẫn.

Trụ Vương có một vị chính thức nguyên phối hoàng hậu họ Khương là người đàn bà hiền thuc tài năng. Từ ngày Đắc Kỷ xuất hiện, bà Khương hậu bị vua Trụ bỏ rơi, do sự xúi bẩy của Đắc Kỷ, Trụ Vương giết luôn bà Khương hậu. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Khương hậu cho cai quản một tinh cầu đầy vật sản phì nhiêu là sao Thiên Phủ.Trong Tử Vi đẩu số, sao Thiên Phủ mang tính chất tài năng và từ bi.

Ân triều có ông quan trung nghĩa tên Hoàng Phi Hổ có người vợ họ Giả, nhan sắc diễm lệ,nức tiếng xa gần. Lệ triều đình hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán, các quan phải cùng đi với phu nhân vào bái yết quốc vương. Giả phu nhân theo chồng vào cung. Đắc Kỷ thấy Giả phu nhân nói chuyện duyên dáng lại đẹp nên đố kỵ, bảo vua Trụ mời bà ở lại dự dạ yến để lập kế hại. Rượu say, Trụ Vương chẳng giữ lễ vua tôi gì nữa, chạy lại ôm lấy Giả phu nhân mà ép nài chuyện bậy bạ. Vốn là người đàn bà trọng tiết tháo, không chịu được nhục nhã, bà bỏ chạy cùng đường phải lao mình từ trên lầu cao xuống đất tự tử. linh hồn Giả phu nhân bay lên trời, Thái Bạch Kim Tinh đặt bà làm nữ thần của sự thanh khiết, cho đến trú ngụ nơi sao Thái Âm m. Từ khi bà về tới thì tinh cầu này trở nên gọn ghẽ, sáng sủa và rất sạch.Thái Âm tinh trong khoa Tử Vi tượng trưng cho thanh khiết, sáng đẹp và ưa sạch sẽ.

Đắc Kỷ, nữ yêu chủ chốt của nhiều biến cố, số phận ra sao ? Xuất thân là con hồ ly hầu hạ Cửu Thiên Huyền Nữ qua danh nghĩa ái nữ của một đại thần nên lọt vào cung đình, dùng tửu sắc mê hoặc Trụ Vương. Đắc Kỷ gây nhiều tai hoạ, bị Khương Tử Nha xử tử hình. Thái Bạch Kim Tinh cho bắt vong hồn Đắc Kỷ về phong làm thần dục vọng, ác liệt, hoang đàng để cai quản sao Tham Lang. Tinh cầu này đầy chó sói hung dữ không thần nào trị nổi chúng. Nhưng lúc Đắc Kỷ tới nơi thì chúng  reo mừng. Ơ Tử Vi đẩu số, sao Tham Lang mang tính chất điếm đàng tửu sắc, ưa vung phí ăn chơi,tượng trưng người đàn bà phá hoại chồng con, vô tài, bất đức.

Khương Tử Nha ngoài bảy mươi tuổi mới lấy người con gái lỡ thì năm ấy cũng đã hơn năm mươi tuổi tên Mã Thiên Kim. Kể từ ngày chung sống gia cảnh cực thanh bần, nhiều bữa không có cơm ăn. Mã Thiên Kim là người đàn bà thô tục, lăng loàn, vụng về chỉ vì nhờ chút tiền duyên nên lấy  được  Khương  Thượng.  Sau  mười  mấy  năm,  nghèo  quá  chịu  không  nổi,  Mã  Thiên  Kim  bỏ Khương Thượng. Lã Vọng bấm tay tính số biết lúc con vợ lăng loàn thô tục ra đi chính là lúc vận bĩ của ông cũng hết và Khương Thượng một sớm một chiều trở thành quân sư của Văn Vương. Nghe tin, Mã Thiên Kim vừa tiếc vừa hối hận, thắt cổ tử ải. Lã Vọng nghĩ tình cũ nghĩa xưa, cho người làm tang ma tống táng, hồn phách Mã Thiên Kim được Thái Bạch Kim Tinh dùng làm nữ thần coi các việc thị phi, nỏ mồm quai mỏ cấp cho nhà ở nơi sao Cự Môn.

Trong  đám  trung  thần  bên  cạnh  Trụ  Vương  còn  có  Văn  Thái  Sư  làm  tể  tướng  và  đại nguyên suý của An triều. Quân nhà An bị Chu quân đánh thua, Văn Thái Sư   chết tại trận tiền. Vong hồn lên trời được Thái Bạch Kim Tinh cho cai quản sao Thiên Tướng. Bất luận ai, theo lý ra phải sau khi chết mới được làm thần, chỉ duy Lý nguyên suý đại tướng của nhà Chu là Thái Bạch Kim Tinh theo lệnh Ngọc Hoàng, xuống mời về làm thần ngay lúc ông còn sống. Nơi trị nhậm của Lý nguyên suý là Thiên Lương tinh. Hoàng Phi Hổ uất ức vụ vua Trụ làm nhục vợ mình gây ra cái chết oan uổng cho Giả phu nhân nên nổi lên đem binh mã đánh lại Trụ vương về rồi đầu hàng Vũ Vương. Ông đánh trận rất hăng thu được nhiều thắng lớn. Cuối cùng Hoàng Phi Hổ Chết thảm trong trận Thằng Trì. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Phi Hổ về cai quản sao Thất Sát và phong làm thần chiến tranh chuyên coi việc sát phạt.

Sau chót là Trụ Vương vì mê Đắc Kỷ, hãm hại trung thần bị Vũ  Vương khởi binh phạt tội.Vũ Vương tấn công vào tận cung điện Trụ Vương. Hết đường chạy, Trụ Vương leo lên lầu cao nổi lửa đốt hết và chết trong đám cháy.Trụ Vương chết rồi, Thái Bạch Kim Tinh cho mang vong hồn về sao Phá Quân, phong làm thần phá hoại.Trong Tử Vi, Phá Quân tượng trưng tính hung bạo, ngang ngược.

Tổng kết lại, ta có thể nhận định như sau :

- Sao Tử Vi là Bá Âp, thần của khí chất tôn quí.

- Sao Thiên Cơ là Khương Thượng, thần của trí tuệ, tinh thần.

- Sao Thái Dương là Tỉ Can, thần của quang minh, bác ái.

- Sao Vũ Khúc là Vũ Vương, thần của vũ dũng đại phú.

- Sao Thiên Đồng là Văn Vương, thần của dung hoà, ôn thuận.

- Sao Liêm Trinh là Phỉ Trọng, thần của tàn ác, lươn lẹo.

- Sao Thiên Phủ là Khương hoàng hậu, thần của tài năng, từ bi.

- Sao Thái Âm là Giá phu nhân, thần của tinh khiết, trinh thảo và sạch sẽ.

- Sao Tham Lang là Đắc Kỷ, thần của dục vọng, vật chất.

- Sao Cự Môn là Mã Thiên Kim, thần của thị phi, nghi hoặc.

- Sao Thiên Tướng là Văn Thái Sư, thần của từ ái, trung trinh.

- Sao Thiên Lương là Lý Thiên Vương, thần cảu quản trị, tổ chức, xếp đặt.

- Sao Thất Sát là Hoàng Phi Hổ, thần của uy nghiêm, quyết liệt.

- Sao Phá Quân là Trụ Vương, thần của phá hoại, tiêu hao.

Câu chuyện truyền thuyết trên đây không biết có tự bao giờ ? Trước hay sau Trần Đoàn ? Có thể đưa ra hai giả thuyết :

a)   Nó có trước Trần Đoàn vì lẽ không thấy nói đến những sao khác như Văn Xương, Văn Khúc, Khôi Việt, Không Kiếp v.v... chứng tỏ Tử Vi đẩu số trước thời Trần Đoàn còn thô sơ, đơn giản.

b)   Những chính tinh của Tử Vi đẩu số mang tên Thiên Cơ, Cự Môn,

Tham Lang, Liêm Trinh đã xuất hiện trong sách phong thuỷ của Dương Quân Tùng mà Dương Quân Tùng sinh thời là lúc thịnh Đường trong khi Trần Đoàn là người của cuối Đường sắp sang Tống.Sách Hám Long Kinh của Dương Quân Tùng có một đoạn nói về cửu tinh huyệt như sau :

Tham Lang tác huyệt thị nhũ đầu

Cự Môn tác huyệt oa trung cầu

Vũ Khúc tác huyệt thoa kiềm mịch

Lộc Liêm sơ sỉ lê tí đầu

Văn khúc huyệt lai bình lý tác

Cao sứ diệc thị trưởng tâm lạc

Phá Quân tác huyệt thị qua mâu v.v... chứng tỏ những tên Thiên Cơ, tham Lang, Cự Môn đã có trước Trần  Đoàn. Ngoài ra, xin nêu thêm vào điểm đáng chú ý khác như : khoa phong thuỷ chỉ có cửu tinh là: Tham Lang – Cự Môn – Lộc Tôn – Văn Khúc – Liêm Trinh – Vũ Khúc – Phá Quân – Tả Phú – Hữu Bật. Không thấy nhắc  đến huyệt thuộc Tử Vi tinh, Thái Âm , Thái Dương tinh.

Định cách ngũ hành : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cho mỗi sao giữa khoa phong thuỷ với khoa Tử Vi cũng khác nhau. Tỉ dụ Phá Quân ở Tử Vi là thuỷ nhưng ở khoa xem đất cát, Phá Quân lại là kim chứng tỏ mỗi khoa chỉ dùng những tên Cự Môn, Thiên Cơ hay Tham Lang như những ký hiệu còn phân định thuộc hành gì thì mỗi khoa dùng theo cách riêng của từng khoa chứ không có một sự bắt buộc chung nào cả. Còn vấn đề những tên ấy do ai đặt ra trước nhất thì không thấysách nào nói tới.

Trần Đoàn và sách Tử Vi đẩu số toàn thư

Cụ Nguyễn Công Trứ có làm một bài ca trù vịnh Trần Đoàn như sau :

Sườn non bầu rượu túi thơ

Thảnh thơi ngồi gẫm cuộc cờ Trường An

Vạc Hậu Chu vừa khi mới đổi

Trần Hi Di lên ẩn núi Hoa Sơn

Mấy mươi năm trong cuộc bùn than

Lửa văn võ chưa rặc lò đan táo

Há vật lão ấu

Nặng trên vai hai chúa thái bình

Liếc trong chừng Tống nhật đã khai minh

Mây thúc qui hẳn từ rầy trong leo lẻo

Trần Kiều mộng lý giang sơn tiểu

Văn quán xuân thảm nhật nguyệt trường

Rượu  một bầu, thơ một túi, cờ một cuộc, cầm một xoang

Khi đắc ý gật trên lừa cười ra rả

Ngoài cung kiếm mặc ai xa mã

Luy trần bất đáo thử giang san

Trời riêng cho một cuộc nhàn.

Trong chính sử không thấy nói đến Trần Đoàn, tên ông chỉ được ghi trong dã sử, truyền kỳ và chính thức trong các sác về tướng pháp và lý số, thành thử đời sau không thể có một tiểu sử liên tục và rõ ràng về ông. Căn  cứ  vào  bài  Ca  trù  của  Nguyễn  Công  Trứ  để  lấy thứ  tự  đồng  thời  cộng  với  một  số truyền kỳ, ta có thể hình dung một cách đại khái thân thế Trần Đoàn như sau :

Từ  nhà  Đường  chuyển  sang  nhà  Tống  trải  qua  giai  đoạn lịch  sử  quá  độ  trung  ương  tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất. Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh hoạ. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đi đó tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai  đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi : / Hà vật lão ẩu ? Này bà kia gánh chi vậy ? / Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói : / Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây/.

Vừa nhác trong thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên : / Một vai bà gánh những hai vị thiên tử sao ?/Lòng ông vui mừng khôn xiết vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.

Hậu Chu là gì ?

Là Chu Thế Tôn người đi bước đầu trong công cuộc thống nhất nhưng  chưa được năm năm đã mất.Phải  đợi  đến  lúc  có  vụ  binh  biến  Trần  Kiều  do  hai  anh  em  ông  Triệu  Khuông  Dận  và Triệu Khuông Nghĩa (hai đứa trẻ Trần Đoàn gặp trước đây nay lớn lên) cầm đầu đánh dẹp nốt các phương chấn bấy giờ đại nghiệp thống nhất mới hoàn thành.Khi nghe tin Triệu Khuông Dận là Tống Thái Tổ thì Trần Đoàn đang ngồi trên lưng lừa ngửa mặt cười ra rả nói :

/Thiên hạ thái bình rồi/.

Về sau, Tống Thái Tôn tức Triệu Khuông Nghĩa có cho người vời Trần Đoàn ra làm quan nhưng ông từ chối, bỏ vào núi đi mất không ai biết ở đâu.

Gốc thông hỏi chú học trò

Rằng thầy hái thuốc lò mò đi xa

Chỉ trong dãy núi đây mà

Mây che mù mịt biết là nơi nao.

(Tản Đà dịch thơ Giả Đào bài Tầm ấn giả bất ngộ)

Gốc gác khoa Tử Vi có tự bao giờ ?

Không ai rõ. Chỉ biết đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tưa ở đầu nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.

Bài tựa viết như sau :

/ Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.Tôi vì muốn biết nên đã tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa ho tôi cuống sách mà bảo :

/ Đây là Tử Vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh/.

Mang về mở ra xem, ban đầu các sao nghĩa lý thật ảo diệu nhưng càng đọc càng thấy lời bàn luận sác đáng, đem ra đoán thử thấy lời đoán rất thần nghiệm, càng học càng thấy hay lạ. Bất giác phải kêu lên :

/ Tạo hoá chí huyền chí hư mà soi sáng được đến thế này, nếu con tâm bậc đại hiền không nhập vào với tạo hoá thì làm sao biết nổi. Tinh tú ở xa muôn triệu dặm mà tính hết vào trong một bàn tay, nếu bậc đại hiền không phải là người hung tàng tinh đẩu (trong ngực có tinh đẩu) thì làm sao tinh nổi. Ngôi trời ở trên, ngôi đất ở dưới, loài người đứng giữa. Hi Di tiên sinh đã tìm được lẽ con người thiên hợp và lẽ trời nhàn hợp qua sự biến hoá của các vì tinh đầu để tính ra số mệnh hay dở của từng người, nếu không có cái học quán thiên nhân thì ai làm nổi. Hi Di tiên sinh xứng đáng là một cao nhân, một thần nhân vậy.Bởi thế tôi muốn đem lời dạy của Hi Di tiên sinh phổ  biến cho khắp thiên hạ trong cõi thế gian thấp kém này được hiểu cuộc đời là có mệnh số /.

Cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn do La Hồng Tiên biên soạn chia ra làm 4 tập :

Tập một và tập ba nói về tính chất và ảnh hưởng các sao, các cung vào vận, vào mệnh con người qua các chương :

Thái vi phú – Hình tính phú – Tinh viên luận – Đẩu số chuẩn thắng – Tục hình tính phú – Phát vi luận – Đẩu số cốt tuy chú giải – Nữ mệnh cốt tuỷ phú chú giải – Tăng bổ thái vi chú giải – Bổ di cốt tuỷ phú chú giải – Định phú quí bần tiện đặng quyết – Chư tinh vấn đáp luận – Định phú quí bần tiện thập thập đẳng luận – Thập nhị cung chư tinh đắc địa quyết – Thập nhị cung chư tinh thất hãm quyết – Chư tinh đắc địa phú quý luận – Chư tinh thất hãm bần tiện luận – Định phú cực – Định quí cục – Định bần tiện cục – Định tạp cục – Đàm tinh yếu luận– Luận nhân mệnh nhập cách – Luận cách tinh số cao hạ – Luận nhân tính cách hà như – Luận Nam nữ mệnh đồng dị – Luận tiểu nhi mệnh – Định tiểu nhi sinh thời quyết – Luận nhân sinh thời an mệnh cát hung – Luận tiểu nhi khắc phụ mẫu – Luận mệnh tiền bần hậu phú – Luận đại hạn thập niên hoạ phúc hà như – Luận nhi hạn thái tuế cát hung – Luận hành hạn phàn nam bắc đẩu – Luận lưu niên thái tuế cát hung tinh sát – Luận kình đá diệt tinh – Luận thất sát trùng phùng – Luận đại tiểu hạn tinh thần quá thập nhị cung ngộ thập nhị chỉ sở kị quyết – Luận lập mệnh hành hạn cung ca – Luận chư tinh đồng vị viên các tư sở nghi phân biệt phú quí bần tiện yểu thọ.

Tập hai dạy cách lấy số an các sao.

Tập bốn là những lá số của các danh nhân, thường nhân với lời phê.

Về tập hai tức là cách an sao lập thành là số thiết tưởng đã có nhiều sách làm kỹ càng rồi nên ở đây xin bỏ qua tập đó, chỉ nói một vài dị biệt giữa Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn với những sách Tử Vi ở nước ta. Tập một và tập ba cần chú ý hơn hết, chúng tôi sẽ dịch nguyên văn kèm theo lời bình và chú thích. Dùng chữ bình, chúng tôi tự thấy có vẻ hơi lạm thực ra chỉ là những thắc mắc mà chúng tôi tìm thấy đó thôi. Nhưng chúng tôi sẽ không dịch nguyên văn toàn bộ vì có nhiều điều lập đi lập lại hoặc do mất chữ trở thành vô nghĩa. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa thêm vào ít khám phá mới của vài tác giả như Trương Huy Văn với các cuốn / Tử Vi Xiển Vi/, /Tử Vi phát bí/, như /Vô Muộn/ với cuốn /Đẩu số mệnh lý tân biên/. Tuy nhiên, chúng tôi cố gắng không để rơi lọt một tinh hoa nào của khoa Tử Vi có ghi trong sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn tiên sinh.

Những thuật ngữ cần biết

Thuật ngữ để chỉ dụng cụ hoặc một tình trạng. Khoa Tử Vi đẩu số, chữ đẩu đầy nghĩa là ngôi sao cho nên tên sao và tính chất sao cùng với sự kết hợp các sao lại thành từng chùm mang những thuật ngữ riêng biệt. Tử Vi đẩu số có bao nhiêu sao tất cả ?

Ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy chòm sao chính là 14 vị :

Tử Vi – Thiên Cơ –Thái Dương – Vũ Khúc – Thiên Đồng – Liêm Trinh – Thiên Phủ – Thái Âm – Tham Lang – Cự Môn – Thiên Tướng – Thiên Lương – Thất Sát – Phá Quân.

Sau đây là các phụ tinh như :

Văn Xương – Văn Khúc – Tả Phụ – Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên Việt – Thiên Ma – Lộc Tôn – Kình Dương – Đà La – Hoả Tinh – Linh Tinh – Hoá Quyền– Hoá Lộc – Hoá Khoa – Hoá Kị – Thiên Không – Địa Kiếp – Thiên Khương – Thiên Sứ – Thiên Đức – Nguyệt Đức – Long Tri – Phương Các – Thai Phụ – Phong Các – Hồng Loan – Thiên Hỉ – Tam Thai – Bát Toạ – Thiên Hình – Thiên Diệu – Đẩu Quân.

Rồi đến chòm sao đi theo Thái Tuế, chòm sao đi theo Lộc Tồn, chòm sao Tràng Sinh. Mỗi chòm 12 vị ;

Rồi đến Triệt lộ không vong và Tuần trung không vong cộng lại là 85 vị.

Nhưng sách Tử Vi ở Việt Nam do tổ tiên chúng ta truyền lại thì thấy có thêm nhiều sao khác không ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn như các sao : Đào Hoa – Thiên Tài – Thiên Thọ – Phá Toái – Kiếp Sát – Thiên Y – Thiên Trú – Thiên Giải Địa Giải – Giải Thần – Địa Không – An Quang – Thiên Quí – Cò Thần – Quả Tú – Lưu Hà – Thiên Quan – Quí Nhân – Thiên Phúc.

Tổng cộng lại là 104 vị.

Các cụ đã căn cứ vào đâu mà thêm vào không hiểu hoặc giả sách Tử Vi đẩu số toàn thư chính  bản  đã  sang  bên  ta,  nên  bản  lưu  bên  chính  quốc  bị  ghi  chép  thiếu  sót.  Nếu  vậy,  tại  sao không có những lời giải thích rõ ràng về các sao : Giải Thần – Địa Giải – Thiên Trú – Thiên Giải mà chỉ có vài lời nghe thật gượng ép. Trừ sao Đào Hoa thì có thể nói Tử Vi đẩu số toàn thư bị thiếu, vì sao này rất quan trọng trong phép tính số Tử Bình và cách an sao không khác phép tính số Tử Vi. Tính (sao) còn gọi là Diệu. Tỉ dụ 14 sao thuộc chòm Tử Vi Thiên Phủ là chính diệu (sao chính), nếu cung mệnh không có sao chính thì gọi là mệnh vô chính diệu.

Sách đẩu số mệnh lý cho rằng : Tả Phụ – Hữu Bật – Văn Xương – Văn Khúc – Lộc Tồn cũng là chính tinh nữa. Còn cổ truyền khoa Tử Vi của ta thì căn cứ vào Tử Vi đẩu số toàn thư nên chỉ có 14 vị là chính tinh mà thôi.

Các sao :

Kình Dương – Đà La – Hoả Tinh – Linh Tinh – Thiên Khôi – Thiên Việt – gọi là Thiên diệu.

Hóa Lộc – Hoá Quyền – Hoá Khoa – Hoá Kị gọi là hoá diệu hay tứ hoá.

Ngoài ra các sao khác là tạp diệu.

Lại có những tên gọi riêng như Tứ Cát (bốn sao tốt) là Lộc, Quí (gồm Khôi Việt), Quyền, Khoa.

Tứ hung hay tứ sát (bốn sao hung) là Hoả, Linh, Dương, Đà.

Những sao đi đôi, đi cặp là : Tử Phủ (hay Tử Vi – Thiên Phủ), Tử – Tướng, Phủ – Tướng,Nhật – Nguyệt, Tả – Hữu, Xương – Khúc, Không – Kiếp, Hoả – Linh, Dương – Đà, Khôi – Việt.

Tam hợp là gì ?

Mỗi là số tử vi có 13 cung theo 12 chi, mỗi cung khi tính sao được tính theo tam hợp tức là hội các sao của 3 cung lại. Ba cung nào ? Phải theo nguyên tắc sau : Thân Tý Thìn, Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất.

Lục xung là gì ?

Tí – Ngọ xung – Sửu - Mùi xung – Dần -Thân xung – Mão –Dậu xung – Thìn –Tuất xung– Tị –Hợi xung.

Thủ – đồng là gì ?

Một chính tinh đóng ở mệnh cung là thủ mệnh. Hai chính tinh đóng ở mệnh là đồng hoặc đóng ở các cung khác cũng vậy.

Lâm – Nhập là gì ?

Hai chữ trên mang cùng một nghĩa, nhưng sao tốt đóng ở đâu gọi là lâm, sao xấu đóng ở đâu gọi là nhập.

Miếu – Hãm là gì ?

Mỗi sao cần phải đứng tại vị trí đúng chỗ của nó, đứng sai chỗ gọi la Hãm, đứng đúng chỗ gội là Miếu. Còn có những danh từ khác chỉ sự đúng chỗ như vượng địa, đắc địa, tuy nhiên, miếu địa vẫn là nhất. Đúng chỗ mới lợi, sai chỗ vô ích hoặc bất lợi.

Tỉ dụ : vua Văn Vương bị bắt giam trong tù, Tỉ Can đi thờ vua Trụ.

Toạ – Cứ là gì ?

Toạ chỉ sao tốt ngồi tại cung nào.

Cứ tức chiếm cứ chỉ sao xấu xâm nhập tại cung nào.

Bản phương – Hợp phương – Lân phương là gì ?

Bản phương là cung chủ yếu ta căn cứ vào đó để tính. Tỉ dụ : Mệnh ở cung Mão thì Hợp phương theo tam hợp thì có Hợi và Mùi.

Còn Lân phương là cung bên cạnh. Tỉ dụ : Thìn và Dần là lân phương của Mão.

Triều và xung là gì ?

Sao tốt đóng tại cung khác theo tam hợp và chiếu hướng về cung chủ yếu gọi là Triều. Sao xấu  cùng  một  trường  hợp  trên  gọi  là  Xung.  Riêng  sao  Thái Âm,  Thái  Dương  không  dùng  chữ Triều mà dùng chữ Chiếu. Riêng sao Lộc Tồn và Hoá Lộc không dùng chữ Triều mà dùng chữ Củng.

Giáp – Chiếu – Hiệp là gì ?

Các sao tốt đóng hai cung bên canh cung mệnh (lân phương) gọi là Giáp. Tỉ dụ : giáp Nhật– Nguyệt, giáp Tả – Hữu.

Chiếu là sao ở cung đối xung ảnh hưởng tới. Tỉ dụ : Ngọ chiếu Tí, Dậu chiếu Mão hoặc ngược lại.

Về câu / Chính không bằng Chiếu, Chiếu không bằng Giáp/ không thể áp dụng cho bất cứ sao nào. Tỉ dụ : Thái Âm , Thái Dương cần Chiếu, Tả Phụ, Hữu Bật cần Giáp.

Tứ Yếu – Thập dụ – Bát pháp

Các sao phân phối đóng tại 12 cung, biến hoá vô cùng. Có bốn điểm trọng yếu để phân biệt :

a) Cát hung – b) Hư thực – c) Chủ khách – d) Cường nhược.

Cát hung . Sao có sao thiện, sao ác ; thiện là cát tinh, ác là hung tinh. Hung hay cát không phải chỉ căn cứ trên tính chất mỗi vị sao mà còn căn cứ trên chỗ đứng của nó đúng hay sai, miếu địa hay hãm địa.

Hư thực thế nào ? Sao tốt làm miếu địa mới là thực cát, thực cát thì không hung dù gặp hung cũng chẳng sợ. Sao xấu rơi vào hãm địa mới là thực hung, thực hung thì không cát, dù gặp cát cũng khó lòng giải. Sao tốt ở hãm địa là hư cát, hư cát là không tốt, còn có thể biến cát thành hung. Sao xấu ở miếu địa là hư hung, hư hung là không hung, còn có thể biến hung thành cát.

Chia chủ khách ra sao ?

Lấy các sao ở bản phương lam chủ, các sao tại cung tam hợp hay xung chiếu là khách. Nếu như bản phương không có chính tinh tức không có chủ thì phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ, các sao cung tam hợp làm khách. Trong trường hợp cả hai cung xung chiếu cùng vô chính tinh thì chỉ lấy sao khách mà luận cát hung.

Cường nhược đây ý nói cường nhược trong tương quan chủ khách. Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc hay khách chủ đều xấu là một bầy bạo ngược thì khỏi phải đặt vấn đề cường nhược. Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xét chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.

Thập dụ là gì ? là mười điều căn bản cho việc xem số ở mỗi cung cung với cát cung tam hợp và cung xung chiếu :

1.   Bản phương tốt (cát) là / do nội tự cường/ mạnh từ bên trong mạnh ra.

2.   Bản phương xấu (hung) là /tòng căn tự phạt/ hư từ gốc rễ.

3.   Cung xung chiếu tốt là /nghênh xuân tiếp phúc/ chờ xuân đón phúc.

4.   Cung xung chiếu xấu là /đương đầu ác bổng/ giơ đầu chịu búa đập.

5.   Cung tam hợp tốt là /tả hữu phùng nguyên/, lắm chân tay giúp đỡ.

6.   Cung tam hợp xấu là /tả hữu thụ địch/, địch từ bên phải, bên trái đánh tới.

7.   Lân phương (cung đằng trước đằng sau) tốt là /lưỡng lân tương phù/ hai bên hàng xóm phù trợ.

8.   Lân phương xấu là /lưỡng nan tương vũ/, hai bên hàng xóm mưu hại.

9.   Cả bốn cung cùng tốt là /thiên tường vàn tập/, mây ngũ sắc kéo về chầu.

10. Cả bốn cung cùng xấu là /tứ diện sở ca/ bị vây tứ phía không lối thoát.

Bát pháp là tám lối định cách cục khi xem số. Mệnh ai cũng thế, đều có cách cục ví như hình vuông, hình tròn, to nhỏ, đẹp xấu, lành vỡ của đồ vật. Cách cục của số mệnh nói cho hết thì nhiều vô cung nhưng đây dùng lối quy nạp để đưa thành tám lối. Chia ra như sau :

A.  Thành phá tứ pháp : phàm lệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp :

- Khoa Quyền Lộc Quý thì kể như các cục thành, đáng phê mấy chữ /giao Long đắc vận vũ/ (con rông gập mây nước).

- Nếu gặp tứ hung Hỏa Linh Dương Đà thì kể như phá cách loại /miêu nhi bất tú/(chỉ nẩy mầm mà không xanh tốt).

- Nếu vừa gặp tứ hung lẫn tứ cát thì kể như trong thành có phá, chẳng khác chi /bạch khuê hữu điềm/ (viên ngọc trắng bị vết nứt, vết mẻ).

Cả tứ hung lẫn tứ cát đều không thi kể là cách chưa thành nhưng không bị phá, chờ xem hạn ra sao giống như /hỗn kim phác ngọc/

(vàng còn lẫn các khoáng chất tạp nhạp, ngọc chưa được lấy khỏi đá).

B.  Cứu Khí tứ pháp : Phàm mệnh thân cung mà các xung cung chiếu tam hợp đều có hung nếu :

- Gặp Lộc Quí Quyền Khoa là cứu cách, hạn hán lâu ngày được cơn mưa /cửu hạn phùng cam vũ/.

- Gặp Hoả Linh Dương Đà là khí cách (bỏ đi), cây gỗ mục không thể khắc đẽo gì được, /hử mộc nan điêu/.

- Gặp vừa tứ cát vừa tứ hung là vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà /thực kê lặc/.

- Không gặp cả tứ cát lẫn tứ hung là cách /thủ tàu bảo khuyế t/, nấn ná đợi thời.

Chư tinh vấn đáp luận

Các sao trong Tử Vi đẩu số chia làm 3 loại : thiện cát, hung cát và hoà giải. Tuy nhiên,đừng quên rằng sự sắp xếp vị trí của sao trong lá số mới quan trọng về cát hung chứ không phải chỉ căn cứ vào bản chất cố hữu của từng sao vì như đã nói ở trên dịch lý là biến, biến cát thành hung, hung thành cát tuỳ theo mỗi sao ở miếu hay hãm địa. Sách có câu : / Cát tinh nhập miếu tắc vi cát, hung tinh thất địa tắc vi hung/ là nghĩa vậy. Tất sẽ có người thắc mắc hỏi :

 / Nếu phải chờ miếu hãm rồi mới định cát hung, rồi hung biến cát,  cát biến hung thì còn phân định sao thiện cát, hung ác làm gì cho rắc rối ?/.

Người xưa giảng rằng :

/Bản chất cố hữu của sao rất cần, nếu ta luận nó qua quan niệm /tính mệnh/ tính thế nào, mệnh sẽ do tính mà thành. Người có nhiều hung tinh mà vinh hiển thường vất vả, gian nan. Người có nhiều cát tinh thường đến với vinh hiển dễ dãi hơn, từ từ và chắc chắn, trong khi hung tinh đắc cách phát dã như lôi, lên như sấm sét thật đấy nhưng cũng phải vượt nhiều hiểm nguy.Xét vị trí xong rồi, điểm quan trọng thứ hai là tiềm hiểu những sao bạn đi cặp với sao chủ. Bạn hư chủ hỏng.

Về khả năng hoá giải cả sao hung lẫn sao cát đều có. Nhưng sao cát thường ở vai trò này nhiều hơn sao hung. Một khi sao hung đã được giáo phó nhiệm vụ hoá giải, nó sẽ thi hành triệt để hơn sao cát.Do những lẽ kể trên, khi luận về các sao phải lưu ý nhiều mặt chỉ sơ một ly sẽ đi một dặm. Tử Vi khác với Tử Bình, ở chỗ cái lý nó tản mạn không có nguyên tắc nhất định, dĩ nhiên, nếu bây giờ được ông Hi Di Trần

Đoàn mà nói chuyện trực tiếp thì nguyên tắc nhất định kia tất phải có. Chỉ vì nó tam sao thất bản mất mát hay bị bí truyền nên mất đi đó thôi. Bởi thế xem Tử Bình chỉ cần thuộc lý ngũ hành cho chắc rồi cứ thế luận ra.

Còn xem Tử Vi thì lý ngũ hành không tìm thấy mấu chốt vững chắc để làm cơ sở bàn luận cho nên phải thuộc từng sao, từng cung, sao nào ở chỗ nào, miếu hãm, đắc địa, bất đắc địa để hạ đoán. Tỉ dụ : Trong chương /Đẩu cốt số tuý phú/ quyển I của Tử Vi đẩu số toàn thư có câu :

/Tham Vũ mộ trung cư, tam thập tải phát phúc/

nghĩa là : Sao Tam Lang, Vũ Khúc đóng tại mộ địa (Thìn Tuất Sửu Mùi) ở mệnh cung thì ngoài ba mươi tuổi mới phát. Rồi ở dưới lại có câu giảng rằng :

/Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân/

(Sao Tham Vũ đi đôi, tuổi thiếu niên không phát được) .

Câu  phú  trên  đây  dùng  lý  ngũ  hành  âm  dương  nào  mà  giảng  nếu  không  nắm  được  cái nguyên lý ngũ hành đã mang ra áp dụng riêng cho khoa này. Mà cái nguyên lý ấy cho đến nay vẫn chưa thấy ai làm sách giảng ra, sở dĩ vậy là vì nguồn gốc của nó bị thất lạc rồi. Rốt cuộc đoán số trước sau Tử VI chỉ có một chỗ bám vững chắc nhất là các câu phú và những định lý làm sẳn.Có thể ví như định lý tất cả mọi vất đều rơi xuống mà không có lời giảng nguyên nhân rơi xuống của mọi vật là sức hút của trái đất. Dưới  đây  là  tính  chất  của  các  sao  cùng  các  cung  miếu  hãm  của  mỗi  sao  ghi  trong  các chương /Chư tinh vấn đáp luận / :

SAO TỬ VI

Hỏi : Sao Tử Vi tính chủ những điều gì ?

Đáp: Tử Vi thuộc hành thổ là vị sao ở ngôi tôn trong các vị sao. Mệnh con người ta trước phải căn cứ vào Tử Vi để từ đấy mà lập ra thành số.

Tử Vi ở nơi miếu vượng là cực tốt, rơi vào hãm địa là cực hung.Tử Vi cần đi cặp với Phụ, Bật, Thiên Tướng, Xương Khúc, Khôi Việt, Nhật Nguyệt và Lộc Tồn.

Ơ ngôi tô đúng miếu địa Tử Vi có thể làm tiêu bách ác chế như các sao hung hãn như Thất Sát, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Tử vi có Lộc Tồn lại thêm Nhật Nguyệt tam hợp chiêu thì quý bất khả ngôn.

Tử vi thiếu Phụ, Bật đồng hành ví như ông vua mất triều thần gọi bằng cô quân, tốt đẹp giảm nhiều lắm.

Tử vi gặp toàn sao hung ví như tiểu nhân lấn quyền đuổi quân tử ra đứng đường sẽ trở nên người gian trá bất thiện.

Tử Vi hội Liêm Trinh không thấy tả hữu tướng tá thường làm anh tiểu lại.

Tử Vi nên vào cung Mệnh Thân, cung Quan, cung Phúc Đức nếu Tử Vi ngồi tại cung Tật Ach, Nô Bộc là sái, giảm mất uy quyền dù có sự trợ giúp cũng không thành phúc lớn.

Tử Vi đóng vào các cung quan lộc, thân mệnh mà được tam hợp, xung chiếu có Tả Hữu, Thiên Tướng hay Lộc Tồn ngọ Thiên Mã không bị không vong cản trở là quí.

Tử Vi mà khuất phục được Thất Sát để dùng Thất Sát làm quyền uy là cách về Võ. Tử Vi nhờ lực Văn Khúc là cách về Văn. Tử Vi ở cung Tài Bạch hay Điền trạch đồng cư cùng Thiên Tướng, Thiên Phủ lại thêm lộc cung và tả hữu hộ vệ tất làm tài phú chi quan. Ơ cung Tử Tức có Tả Hữu thì sinh quí tử, đứng một mình thì cô

độc.Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Tử Vi là đế toà, có thể giáng phúc tiêu tai ở các cung, hoá giải tính ác hư của các sao hung, chế phục Hoả Linh, trị sao Thất Sát, được sự trợ giúp của Tả Hữu, Phủ Tướng đều quyền quí, nếu không được quí thì cũng phú. Bị Tứ Sát xung phá, Tử Vi khả dĩ chống đối đỡ giảm tai hại. Tử Vi gặp Phá Quân tại các cung Thìn, Tuất, sửu, Mùi thì làm tôi bất trung, làm con bất hiếu.Số đàn bà con gái có Tử Vi ở mệnh Tứ Sat xung phá không đến nỗi phải rơi vào cảnh hạ tiện/.

Câu trên đây của Trần Đoàn tiên sinh có đoạn :

/ Tử Vi nhược ngộ Phá Quân tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chủ vi thần bất trung vi tử bất hiếu/ hơi khác lý thuyết Tử Vi ở nước ta chỉ nói rằng : /Giai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất / mà thôi không thấy nói đến Sửu, Mùi đồng thời cho rằng mỗi lần Phá Quân gặp Tử Vi ở Sửu, Mùi Phá Quân bị Tử Vi khuất phục.

Ngọc Thiềm tiên sinh có câu ca về Tử Vi như sau : Tử Vi nguyên thuộc thổ Quan lộc quan chủ tính Hữu tướng vi hữu dụng Vô tướng vi vô quân Chư cung giai giáng phúc Phùng hung phúc tự thân Văn Xương phát khoa giáp Vũ Khúc thu hoàng ân Nữ nhân hội đế toà Ngô cát sự quí nhân Nhược dữ đào hoa hội Phiêu lãng lạc phong trần Kình Dương toả linh tu Thử thiết cẩu thâu quần Tam phương hữu cát củng Phương tác quí nhân bình Nhược hoàn vô phụ bật Chư ác cộng ẩm lăng Đế vi vô đạo chủ.

Nghĩa là :

Tử Vi thuộc hành thổ, chủ tinh về quan tước, phải có tướng tá mới hữu dụng, không tướng tá  là  ông  vua  bị  vây.  Nó  khả  dĩ  giáng  phúc  cho  các  cung,  gặp  hung  nó  chống  đỡ.  Đi  với  Văn Xương thì thi đỗ, đi với Văn Khúc dễ có tước vua ban. Nữ mệnh gặp  Tử Vi đi cùng nhiều sao tốt sẽ lấy chồng sang quí. Nếu Tử Vi gặp cùng Đào Hoa, nữ mệnh phiêu lãng phong trần. Tử Vi tụ tập với Kình Dương, Hoả, Linh là chơi  với phường ăn cắp chỉ đi du thủ du thực. Tam phương phải thấy sao tốt hội cùng Tử Vi mới có thể gọi là quí. Thiếu Tả Phụ, Hữu Bật để các ác tính uống rượu lăng nhục chủ là loại vua vô đạo.Tử  Vi  miếu  ở  cung  Dần  Ngọ,  vượng  địa  ở  cung  Thân  Hợi,  Thìn  Tị,  Tí,  Sửu,  Mùi,  Bình thường Mão Dậu. Sao này không có hãm địa vì nó tự giải cứu được.

Những câu phú về Tử Vi ghi trong đẩu số toàn thư gồm có :

- Tử Vi cư Tí Ngọ, Khoa, Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ (Tử Vi ngồi ở cung Tí cung Ngọ được Khoa Quyền Lộc tam phương chiếu tới gọi là cách ngưỡng diện triều đẩu, số rất kỳ lạ) .

- Tử Vi nam Hợi nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh nhân phú quí đồng. (Sao Tử Vi số con trai đóng tại cung Hợi, số con gái đóng tại cung Dần, những người tuổi Giáp tuổi Nhâm đều phú quí).

- Tử Vi Mão Dậu Kiếp Không, Tứ Sát đa vi thoát tục chi tăng.(Tử Vi ngồi ở cung Mão cung Dậu bị Tứ   Sat) là Kinh, Đà, Hoả, Linh vây hãm cùng với Kiếp Không chỉ nên đi tu cho thoát tục là tốt hơn cả).

- Tử Vi Thiên Phủ toàn y phụ bật chi công. (Tử Vi và Thiên Phủ cần dựa vào hai sao Tả Phụ Hữu Bật mới dễ bề phú quí).

- Tử Phủ đồng cung vô sát tấu, Giáp nhân hưởng phúc chung thân. (Hai sao Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung ở Dần và Thân thủ mệnh, những người tuổi Giáp hưởng phúc suốt đời nếu không gặp những sát tinh làm hỗn ).

- Tử Phủ đồng cung lâm Tị Hợi nhất triều phú quí song toàn. (Tử Vi, Thiên Phủ ở cùng một cung Tị hoặc Hợi thì được cả giàu lẫn sang).

- Tử  Phủ  triền  viên,  lộc  phùng  chung  thân  phúc  hậu  chí  tam  công.  (Tử  Vi,  Thiên  Phủ cùng ở Thân hoặc Dần lập mệnh lại thêm các sao tốt khác nhất là sao Lộc Tồn suốt đời phúc hậu, chức đến tam công).

- Tử Vi, Phụ Bật đồng cung nhất hô bách nặc. (Tử Vi, cùng ở một cung với hai sao Tả Phụ, Hữu Bật gọi một lời trăm người thưa. Nếu Phụ Bật ở tam hợp hay xung chiếu thì không tốt bằng).

- Tử Phủ hiệp mệnh vi qui cách. (Hai sao Tử Phủ giáp cung mệnh là quí cách).

- Tử Phủ Kình Dương tại cự thương. (Tử Vi Thiên Phủ hội với Kình Dương nếu được Vũ Khúc ở cung Thiên Di chiếu sang càng hay, số doanh thương lớn).

- Tử Vi, Xương Khúc phú quí khả kỳ. (Tử Vi hội cùng hai sao Văn Xương, Văn Khúc có thể ngồi đợi giàu sang tới).

- Tử Lộc đồng cung Nhật Nguyệt chiếu, quí bất khả ngôn. (Tử Vi cùng một cung với Lộc,có Thái Âm , Thái Dương chiếu, đại quí tộc).

- Tử Vi, Thất Sát, Hoá Quyền phản tác trinh tường. (Tử Vi chế phục Thất Sát lại có Hoá Quyền, công danh hiển đạt).

- Tử Vi, Phá Quân vô Tã Hữu cát diệu hung ác tế lại chi đồ. (Sao Tử Vi đi với Phá Quân, không thấy có Tả Hữu hay sao tốt là loại ác bá cường hào).

- Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân hội Dương Đà khi công hoạ loạn. (Các sao Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân đi cặp hội với Kình Dương, Đà La, người ưa gây rối, phản bội, chỉ nên buôn bán chớ ham chức vị).

- Tử Vi, Quyền Lộc ngộ Dương Đà, tuy hoạch cát nhi vô đạo. (Tử Vi mặc dầu có Quyền Lộc chiếu mà gặp Dương Đà sang quí nhưng tâm bất chính).

- Tử  Vi,  Thất  Sát  gia  không  vong  hư  danh  thụ  ẩm.  (Đi  với  Thất  Sát  lại  gặp  sao  Thiên Không, chỉ có hư danh, hưởng chút tiếng tăm của ông cha lưu cho con cháu).

- Tử Phá lâm mệnh ư Thìn, Tuất, Sửu, Mùi tái gia cát diệu phú quí kham kỳ. (Đi cặp cùng Phá Quân ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được nhiều cát tinh trợ giúp là số phú quí nhưng lòng gian tham, quỷ quyệt).

- Tử Phá Thìn, Tuất quân thần bất nghĩa. (Tử Vi, Phá Quân ở hai cung Thìn, Tuất, vua tôi bất nhân bất nghĩa).

- Tử, Phá, Tham Lang vi chí dâm, Nam nữ tà dâm. (Các sao Tử Vi, Tham Lang, Phá Quân tụ lại với nhau là người đa dâm, trai hay gái tà dâm. Phú nôm của tiền nhân ta có câu : Tử, Tang Tả Hữu hội trung. Có người con gái lộn chồng tìm chẳng hiểu có phải căn cứ ở câu phú chữ ở trên không. Theo các cụ, số con gái Tử Vi thủ mệnh không cần hội ngộ Tả Phụ Hữu Bật. Chữ tang đây là  Tang  Môn,  hay  là  chữ  Tham.  Đó  là  điểm  đáng thắc mắc. Có lẽ chữ Tham đúng hơn vì saoTham Lang trong Tử Vi đẩu số toàn thư là đào hoa tinh).

- Nữ mệnh Tử Vi, Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tín khả bằng. (Số con gái, Tử Vi hay Thái Dương thủ mệnh sớm gặp chồng hiền) .

- Nữ  mệnh  Tử  Vi  tại  Dần,  Ngọ  Thân  cung  cát  quí  mỹ  vượng  phu  ích  tử,  hãm  địa  bình thường. (Số con gái tử Vi thủ mệnh đóng cung Dần, Ngọ, Thân gặp các sao tốt trợ giúp thì vượng phu ích tử, nếu rơi vào hăm địa bình thường. Nếu Tử Vi đóng ở các cung tí Dậu, Tị Hợi mà gặp Tứ Sát thì không toàn vẹn phúc lộc cả đời) .

- Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kị, Giáp, Đinh, Kỷ mệnh chí công khanh. (Sao Tử Vi đóng tại cung Ngọ, không gặp sao Thiên Hình Hoá Kị người tuổi Giáp, tuổi Đinh, tuổi Kỷ làm tới công khanh).

SAO THIÊN CƠ

Hỏi : Thiên Cơ tinh chủ những điều gì ?

Đáp : Sao Thiên Cơ thuộc hành mộc, là nam đẩu tinh, hoá khi sao này là thiện tinh. Nếu đắc địa nó có thể điều chỉnh lẽ thuận nghịch cho số mệnh. Thiên cơ thủ mệnh lại thêm các sao tốt hợp lại dễ thành công, đa mưu túc trí. Bản chất sao này là thiện tâm không ưu điều bất nhân, bất nghĩa cho nên gặp lúc bất đắc chí thường ưa ở ẩn chốn lâm tuyền và dễ say mùi đạo.Nữ mệnh có sao Thiên Cơ gặp hung càng hung, gặp sát càng sát, nếu đi cặp cùng Thiên Lương là người đàn bà tháo vát khéo léo, nội trợ giỏi. Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Thiên Cơ ích thọ chi tinh, thủ Thân mệnh cung là người dị thường giao hội cùng các sao thiên Lương, Tả Hữu, Xương Khúc làm quan văn thì thanh hiền, làm vũ chức thì trung lương. Nếu ở hãm địa gặp Tứ Sát xung phá là hạ cách. Thiên Cơ ngộ Thiên Lương, Thất Sát nên tìm đến cảnh  thanh  nhàn  của  tăng  đạo.  Đại  tiểu  hạn  gặp  Thiên  Cơ  sẽ  thay  đổi  công  việc,  lập  cơ  sáng nghiệp. Nữ mệnh Thiên Cơ có nhiều sao tốt củng chiếu vượng phu ích tử, nếu có Quyền Lộc sẽ là mệnh phụ phu nhân, không may mà gặp Kình Đà, Hoá, Kị xung phá thành ra đàn bà hạ tiện khắc phu hại tử /.

Ngọc Thiềm tiên sinh làm bài ca về sao Thiên Cơ như sau :

Thiên Cơ  huynh đệ chủ Nam đẩu chính diệu tinh Tác sự hữu thao lược Bẩm tính tối cao minh Sở vi tối hảo thượng Diệc khả tác quần anh Hội cát chủ hưởng  phúc Nhập cách cư hàn lâm Cự Môn đồng nhật ví Vũ chức yểm biên đình Diệc yêu quyền phùng sát

Nghĩa là :

Phương khả lập công danh

Thiên Lương tinh đồng vị

Định tác đạo dữ tăng

Nữ nhân nhược phùng thử

Tính sảo tất dâm bòn

Thiên Đồng dữ Xương Khúc

Tụ củng chủ hoa vinh

Thìn Tuất Tí Ngọ địa

Nhập miếu hữu công danh

Nhược tại Dần Mùi Sửu

Thất Sát tinh Phá Quân

Huyết quang tai bất trắc

Dương Đà cập Hoả Linh

Nhược dữ chư sát hội

Tai hoa hữu hư kinh

Lưỡng hạn làm thử tú

Sự tất hữu biến canh

/ Thiên Cơ sao của trí tuệ, mưu cơ và nhân nghĩa nên đồng bạn bè thủ túc, làm việc thao lược cao minh, gặp nhiều sao tốt trợ lực nổi ti61ng văn chương, đi cặp cùng sao Cự Môn khả dĩ lên cao với võ nghiệp nhưng Thiện Cơ lại rất cần Quyền Sát công danh mới oanh liệt. Hội cùng sao Thiên Lương dễ chán trần tục ưa miền tăng đạo. Nữ mệnh Thiên Cơ hãm địa chủ dâm bòn, nếu được Thiên Đồng, Xương Khúc thì vinh hoa. Các cung Tí, Ngọ là miếu địa của Thiên Cơ. Bình thường Tị Hợi, Thìn Tuất, hãm địa là Sửu, Mùi ngộ Phá Quân, Tứ Sát, Hoả Linh, Dương Đàdễ xảy ra tai hoạ. Đại tiểu hạn gặp hiên Cơ thì công việc thay đổi /.

Những câu phú về Thiên Cơ ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có:

- Cơ lương đồng chiêu mệnh Thân không thiên nghi tăng đạo. (Thân hoặc mệnh gặp Không Vong, Thiên Cơ đơn thủ Thiên Lương chiếu nên đi tu).

- Cơ lương hội họp thiện đàm binh, cư tuất diệt vi mỹ luận. ( Thiên Cơ hội với sao Thiên  Lương  giỏi  bàn  việc  quan,  số  ông  Mạnh  Tử  cung  thiên  Di  đóng  ở  Tuất  có  hai  sao  Cơ, Lương).

- Cơ  Lương  thủ  mệnh  gia  cát  diệu  phú  quí  từ  tường.  (Thiên  Cơ,  Thiên  Lương  thủ mệnh thêm các sao tốt, phú quí. Nếu gặp Thiên Hình, Hóa Kị dễ chán mùi thế luỵ).

- Cơ Nguyệt đông lương tác lại nhân. (Mệnh thân và các cung tam hợp xung chiếu có đủ bốn sao trên đây nếu không có những cát tinh khác trợ lực chỉ làm công chức quèn. Gặp Kiếp Không Hoá Kị xuống hạ cách).

- Thiên Lương Tham Nguyệt đồng cơ hội, mộ dạ kinh thương vô miên thuỵ. (Các sao Thiên Lương, Thái Âm , Thiên Đồng hội cùng thiên Cơ ngày đêm tảo tần buôn bán, gặp hung tinh tất phải bôn ba).

- Thiên Cơ gia ác sát đồng cung, cầu du thử thiết. (Cùng ở một cung có quá nhiều ác sát bao vây Thiên Cơ).

- Cự hãm Thiên Cơ vi Phá Cách. ( Cự Mộ ở hãm địa gặp thiên Cơ là Phá Cách,  đàn bà mệnh đóng tại Dần Thân Mão Dậu gặp Thiên Cơ, Cự Môn tuy phú quí nhưng dâm dục, hạ tiện).

SAO THÁI DƯƠNG

Hỏi : Sao Thái Dương chủ những điều gì ?

Đáp : Thái Dương tinh thuộc hoả, tinh hoa của ban ngày, biểu nghi của tạo hoá. Ơ số mệnh là quí khí của con người năng văn năng vũ. Hội tụ với các sao cát thì giáng phúc trinh tường, hội với các ác tinh thì uổng công phí lực như mậy bị che lấp. Thái Dương cư thân mệnh cung tại miếu địa sẽ sáng rực rỡ cho công danh con người. Hoá khí của sao Thái Dương là vừa Quí vừa Lộc cho nên cung quan lộc mà có Thái Dương cực tốt. Nữ mệnh lấy thái dương làm phu chủ, thêm Thái Âm chiếu nữa thì phú quí toàn mỹ. Sao này đóng tại cung Thân gặp nhiều sao cát thường gần những người cao sang quyền thế. Nếu nó vào cung Tử Tức sẽ sinh quí tử. Vào cung Tài Bạch được trợ lực, giàu có lâu bền. Đại tiểu hạn gặp Thái Dương thêm Tả Hữu khả dĩ dựng nghiệp.Thái Dương bị Hình Kị dễ hư mắt hoặc khắc phụ mẫu. Đại tiểu hạn Thái Dương đa sát tụ tất có mội lo về quan tụng. Thái Dương ở cung Thiên Di thường ly tổ nghiệp đi xa làm ăn.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Sao Thái Dương trên vòm trời chu chuyển vô cùng ưa Phụ, Bật cần Lộc Tồn, nếu đi cặp với Thái Âm càng đẹp, ghét Cự Môn hãm địa che ánh sáng. Tại miếu vượng địa hội Hoá Lộc, Hoá Quyền gọi quí cách. Được Xương Khúc Khôi Việt tam hợp củng chiếu vào Quan Lộc hay Bài Tạch đại phú quí. Nữ mệnh miếu vượng chủ vượng phu ích tử, nếu gặp sát thì bình thường/.

Ngọc Thiềm tiên sinh có bài ca rằng :

Thái Dương nguyên thuộc hoả

Chính chủ Quan Lộc tinh

Nhược cư thân mệnh vị

Bẩm tính tối thông minh

Từ ái lượng khoan đại

Phúc thọ hưởng hà linh

Nhược dữ Thái Âm hội

Sàu phát quí vô luận

Hữu huy chiếu Thân mệnh

Bình bộ nhập kim môn

Cự Môn bất tương phạm

Thăng điện thừa quân ân

Thiên viên phùng ám độ

Bần tiện bất khả ngôn

Nam nhân tất khắc phụ

Nữ mệnh phu bất toàn

Hỏa Linh phùng nhược định

Dương Đà nhãn mục hôn

Nhị hạn nhược trí thử

Tất định mại điền viên

Nghĩa là :

Sao  Thái  Dương  thuộc  hành  hoả,  là  Quan  Lộc  tinh,  ở  cung  Thân  mệnh  bẩm  tính  thông minh, từ ái và khoan hậu đại phúc, đại thọ. Nếu có thêm Thái Âm hội tụ phát quí vô cùng. Anh sáng Thái Dương chiếu vào Thân mệnh dễ đi đến cửa vàng cung điện. Gặp Cự Môn nơi hãm địa lại bần tiện vô tả, nữ mệnh chồng không vẹn toàn. Tứ Sát, Dương Đà, Hoả Linh vây hãm thì bị đau mắt, hạn Thái Dương có Tứ Sát sung phá bán hết gia nghiệp.

Những câu phú về sao Thái Dương ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thái Dương miếu địa Ngọ, Mão vượng địa Dần, Thìn, Tị, hãm Tuất, Hợi, Tí.

- Nhật  chiếu  lôi  môn,  Tí  Thìn,  Mão  địa,  trú  sinh  nhân,  phú  quí  thanh  dương.  (Thái Dương đứng trong cung Tí, Thìn, Mão, Dậu là mặt trời chiếu cửa sấm, người sinh ban ngày phú quí nổi danh).

- Thai  Dương  cư  Ngọ,  Canh  Tân  Đinh Kỷ nhân phú quí song toàn.  (  Thái  Dương  ở Ngọ cung, người tuổi canh tân đinh kỷ, phú quí song toàn) .

- Thái Dương, Văn Xương tại Quan Lộc, hoàng điện triều ban. (Sao Thái Dương gặp Văn Xương tại cung Quan Lộc làm quan trong triều đình, Văn Khúc cũng vậy).

- Thái Dương, Hoá Kị thị phi nhật hữu mục hoàn thương. (Gặp Hoá Kị, mắt hư đau bất ngờ).

- Nhật lạc Mùi, Thân tại mệnh vị vi nhân tiên cần hậu lăn. (Mệnh đóng cung Thân,Mùi có sao Thái Dương con người chóng chán, trước chăm chỉ sau lười biếng).

- Nữ mệnh doan chính Thái Dương tinh, tảo phối hiên phu tin khả bằng. (Số đàn bà, Thái Dương thủ mệnh đắc định là người đoan chính, sớm lấy chồng hiền).

SAO VŨ KHÚC

Hỏi : Sao Vũ Khúc chủ những điều gì ?

Đáp : Vũ Khúc là sao thứ sáu trong vòm bắc đẩu, thuộc kim là chủ về tiền bạc ở cung Tài Bạch, đồng cung với Thiên Phú là thọ. Tính khí quả quyết, cương nghị, hỉ nộ có, phúc lộc dễ mà tai ương cũng dễ. Được lộc Mã hội tụ thì tiền bạc nhiều. Hãm địa gặp sao Tham Lang đi cặp trở nên người khó chơi, tham lam, bủn xỉn. Hội cùng Phá Quân, tiền đến tay là hết. Các sao hung tụ tác hoạ, các sao cát tụ tốt lành.Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Vũ Khúc thuộc hành kim, trên trời coi về tuổi tho, vào số người chủ quản tài bạch, rất sợ bị kiềm chế lạc hãm. Rất cần Lộc Tồn và ưa Thái Âm , lấy hai sao Thiên Phủ, Thiên Lương làm trợ lực. Gặp Lộc Mã thì phát tài, hội cùng Tham Lang thiếu niên bất lợi. Nếu đồng cung Thất Sát, Hoả Tinh vì tiền bạc mà bị hại. Ngộ Dương Đà thì cô khắc. Gặp Phá Quân khó bề hiển đạt.Vũ Khúc thủ mệnh là người cương cường quả đoán, tuổi Giáp, tuổi Kỷ phúc hậu, xuất tướng nhập tướng. Nữ mệnh có nhiều cát tinh là mệnh phụ, bị xung phá tất cô khắc /.

Bài ca của Ngọc Thiêm tiên sinh cho sao Vũ Khúc bị thất lạc nên không thấy in trong Tử Vi đẩu số toàn thư. Xin mượn bài phú nôm của tiền nhân ta để  thay thế :

Vũ Khúc là sao Kim hành

Vóc người nho nhỏ tính tình thanh cao

Chí cương chí nghị anh hào

Khoan dung đại lượng lược thao gồm tài

Mệnh Sửu Mùi đồng hai Văn Vũ

Tuổi Thổ phùng thai toạ tam phương

Binh quyền vạn lý nghênh ngang

Anh hùng danh trấn chủ bang một thời

Ai người tuổi Thổ Kim hoặc Mộc Gặp Tham Lang Vũ Khúc đồng liêu

Vàn mỏ, vũ lược kiêm ưu Mộ Trung thai toạ cách siêu mọi người.

( Trích Tử Vi Ao Bí của Việt Viêm Tử)

Những câu phú về sao Vũ Khúc ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Vũ Khúc miếu viên uy danh hách hách. (Sao Vũ Khúc ở miếu địa uy danh lừng lẫy).

- Vũ Khúc, Tướng ngộ Xương Khúc phùng thông minh sảo nghệ định vô cùng. (Gặp Thiên Tướng lại hội luôn Xương Khúc rất thông minh lanh lợi).

- Vũ Khúc, Lộc Mã giao trì phát tài viễn quận. (Có Lộc Tồn, Thiên Mã giàu có, nơi tha hương).

- Vũ Khúc, Khôi Việt cư miếu vượng tài phú chí quan. (Hội với Khôi Việt nơi miếu vượng là tài phú chi quan).

- Vũ Khúc, Thiên Di cư thượng cao cổ. (Vũ Khúc đóng cung Thiên Di buôn bán lớn).

- Vũ Khúc, Tham Lang tài trạch vi, hoành phát tư tài. (Đi đôi với sao Tham Lang ở các cung Tài Bạch hay Điền Trạch thường hoạch phát về tiền bạc) .

- Vũ Khúc, Liêm Trinh, Tham, Sát tiện tác kinh thương. (Vũ Khúc cùng Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát là dân kinh doanh).

- Vũ Khúc, Tham Lang gia sát kị kỹ nghệ chí nhân. (Đi với Tham Lang thêm Sát, Kị là người giỏi kỷ nghệ).

- Vũ Khúc, Phá Quân phá tổ phá gia lao bác. (Vũ Khúc gặp Phá Quân phá hoại tổ nghiệp gia đình, vất vả lao đao).

- Vũ Khúc, Phá Liêm ư mão địa, mộc yếm lôi kinh. ( Câu này không rõ nghĩa ra sao ?)

- Vũ Khúc, Kiếp Sát hội Kình Dương nhân tài trì lực. (Vũ Khúc đi cặp cùng sao Kiếp Sát lại gặp Kình Dương quanh năm vì ham tiền mà vất vả).

- Vũ  Khúc,  Dương  Đà  kiêm  Hoả  Tú  táng  mạng  nhân  tài.  (Vũ  Khúc  Hội  sao  Kình Dương, Đà La, thêm Hoả Tinh vì tiền mất mạng).

- Vũ Khúc tinh vi quả tú.

- Vũ Khúc miếu địa Sửu, Mùi, Tuất, vượng Tí Ngọ, bình thường Tị Hợi.

SAO THIÊN ĐỒNG

Hỏi : Sao Thiên Đồng chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Đồng tính thuộc thuỷ, sao đứng hàng thứ 4 ở phương Nam là chủ tể của cung phúc đức cho nên hó khí của sao này là phúc, cần gặp các sao tốt trợ lực thì phúc mới thêm đẹp, tính tình liêm khiết, mặt mũi thanh sáng, bình thản thâm trầm nên không sợ Tứ Sát phá phách. Ơ cung nào giáng phúc cho cung ấy.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/  Thiên  Đồng  là  nam  đẩu  tinh,  hoá  Tài  Lộc  thành  Thiên Lương,  Thân  mệnh  có  thiên Đồng là người nhiều khiêm tốn, bẩm tính ôn hòa, văn măc tinh thông nhiều ý chí nhưng không hng bạo,bất chấp sao Thất Sát quấy nhiễu. Gặp Tả Hữu, Văn Xương, Thiên Lương quí hiển rất tốt cho người tuổi Nhâm, At. Hãm địa có Tứ Sát xung phá, nữ mệnh hình phu khắc tử. Hội Thiên Lương có Thái Âm chiếu tác thiên phòng (làm lẽ) hoặc đi tu /.

Không thấy có bài ca về sao Thiên Đồng của Ngọc Thiềm tiên sinh in trong Tử Vi đẩu số toàn thư.Tiền nhân ta có bài phú như sau :

Thiên Đồng mắt lớn lưng dầy

Vóc người mập mạp, diện đầy phương viên

Tâm cao chí đại nhưng hiền

Không cao ngạo, dẫu bút nghiên thực tài

Đàn hiềm đà kị làm lai

Mắt lươn ti hí lại hay ngồi đồng

Cùng Kình Dương toạ Ngọ cung

Với sao Phương, Giải anh hùng một phương

Dần Thân cung, đồng Lương đắc cách

Giáp Tân Canh, thủ bạch thành gia

Thiên Lương, Nguyệt Đức chiếu kề

Một là đạo sĩ hai là tăng nhân.

Với những người tuổi Thân, Thìn, Tý

Cách đồng Lương Cơ Nguyệt tạo nên

Quan sang lộc trọng vững bền

Cửa cao nhà rộng bạc tiền đầy kho.

(Trích Tử Vi Ao Bí của Việt Viêm Tử)

Bài phú nôm trên đây. Chứng tỏ tiền nhân ta đã căn cứ vào nhiều sách khác không rõ sách nào, vì có nhiều điểm không thấy trong Tử Vi đẩu số toàn thư.Những câu phú của sao Thiên Đồng ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thiên Đồng hội Cát thọ nguyên thần. (Sao Thiên Đồng hội với cát tinh, trời cho tuổi thọ).

- Đồng  Nguyệt  hãm  cung  gia  sát  trọng  kỹ  nghệ  doanh  hoàng.  (Câu  này  không  rõ nghĩa ở hai chữ doanh hoàng, doanh là thiếu khuyết, hoàng là vàng vọt) .

- Thiên Đồng, ThÂm Dương Đà cư Ngọ vi Bích Mậu chấn ngự biên cương. (Sao ThiênĐồng cùng Tham Lang, Dương Đà ở cung Ngọ người tuổi Bính Mậu anh hùng nhất khoanh).

- Thiên Đồng, Tuất cung, Hoá Kị đinh nhân mệnh ngộ phân vi giai. (Thiên Đồng đóng ở Tuất, gặp Hoá Kị người tuổi Đinh lại rất tốt).

- Nữ mệnh Thiên Đồng tắt thị hiền. (Số con gái Thiện Đồng thủ mệnh thì hiền thục).

- Thiên Đồng miếu địa, Tị, Hợi vượng Tí Thân, hãm địa Ngọ, Sửu, Mùi, Dậu.

SAO LIÊM TRINH

Hỏi : Sao Liêm Trinh chủ những điều gì ?

Đáp : Liêm Trinh thuộc mộc, bắc đẩu đệ ngũ tinh, ở số coi về quyền lệnh nếu không được miếu vượng địa lại phạm Quan Phù (trong chòm sao Thái Tuế)  cho nên hoá khí thành tù, chủ tính lang độc, không học lễ nghĩa. Đắc địa gặp Lộc Tôn, phú quí gặp Văn Xương, bặt thiệp, gặp Thất Sát hiển đạt về võ chức, tại cung Quan lộc có uy quyền, tại Thân mệnh cung là sao Đào Hoa thú hai ham đánh bạc, mê gái mà bị tai tiếng. Giao hội Cự Môn nơi hãm địa thường can dự vào việc thị phi. Ngộ tài tinh hãm địa phá hao tổ nghiệp, gặp Thiên Hình, Hoá Kị hay bị chứng xung huyết, gặp sao Bạch Hổ thường tù tội, gặp Hoả Tinh hãm vào đất Không Vong thì đầu hà tự ải.Riêng sao này không thấy chép lại lời Hi Di Trần Đoàn. Chỉ có câu ca ngắn như sau :

Liêm Tham Tị Hợi cung

Ngộ cát phúc doanh phong

Ưng quá tam tuần hậu

Tu phòng bất thiện chung.

Nghĩa là:

Sao Liêm Trinh đồng cung với sao Tham Lang tại cung Tị hay cung Hợi thì dù có phát đạt đến bao chăng nữa rồi cũng đổ vỡ mà ngồi tù.

Những câu phú về sao Liêm Trinh ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Liêm Trinh miếu địa Dần Thân, Tí Ngọ bình thường Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hãm địa Tị, Hợi, Dậu, Mão.

- Liêm Trinh Thân Dần cung vô sát, phú quí thanh dương phan viễn danh. (Sao Liêm Trinh ở cung Thân cung Mùi không gặp Tứ Sát thì phú quí nổi danh).

- Liêm Trinh ám cự tào lại tham lam. (Gặp Cự Môn hãm địa làm lại gian tham).

- Liêm Trinh Thất Sát cư miếu vượng phản vi tích phú vi nhân. (Liêm Trinh đi cùng Thất Sát ở miếu vương địa là người giàu có, nếu Thất Sát đứng cung Ngọ thì tốt nhất, gặp Hoá Kị ở hãm địa là người bần tiền có thể bị tàn tật).

- Liêm Trinh, Phá, Hoả cư hãm địa tự ải đầu hà. (Sao Liêm Trinh gặp Phá Quân, Hoả Tinh nơi hãm địa sẽ bất thiện chung đâm đầu xuống song hoặc treo  cổ).

- Trọng Do uy mãnh, Liêm Trinh nhập miếu hội tướng quân. (Thầy Tử Lộ oai dũng hơn người, nhờ sao Liêm Trinh nơi miếu địa hội cùng sao Thiên Tướng).

- Liêm Trinh, Thất Sát cư Tị Hợi lưu đãng thiên nhai. (Liêm Trinh và Thất Sát ở cung Tị hay cung Hợi phiêu bạt giang hồ).

- Liêm Trinh, Tham Sát, Phá Quân phùng Vũ Khúc, Thiên Di tác nguyên nhung. (Sao Liêm  Trinh  hội  Tham  Lang,  Phá  Quân,  Thất  Sát  mà  gặp  Vũ  Khúc  ở  Thiên  Di  làm  đến  bậc nguyên nhung – có lẽ là Văn Khúc thì đúng hơn, có thể sách chép lầm).

- Liêm Trinh Tứ Sát tao hình lục. (Liêm Trinh bị Tứ Sát xung chiếu dễ tù tội).

- Liêm Trinh Bạch Hổ hình tượng nan đào. (Gặp sao Bạch Hổ khó thoát ngục hình).

- Liêm  Trinh  Phá  Sát  hộ  Thiên  Di  tử  ư  ngoại  đạo.  (Liêm  Trinh  Phá  Quân  gặp  Sát Tinh ở cung Thiên Di có thể chết đường chết chợ).

- Liêm Trinh, Dương Sát cư Quan Lộc gia nữu nan đào. (Gặp Kình Dương hãm địa tại cung Quan Lộc thường bị gôm cùm).

- Liêm Trinh thanh bạch năng tự thủ. (Số đàn bà tuổi Canh, Giap, Kỷ, Quí an mệnh có Liêm Trinh thủ mệnh là hay).

Ơ các cung Thân, Dậu, Hợi, Tí hoặc tuổi Bính, Tân At Mậu an mệnh  ở các cung Dần Mão Tị Ngọ có Liêm Trinh thủ mệnh thì trinh thảo thủ tiết, nếu an mệnh ở Tuất, Sửu, Mùi lại là hạ tiện.

SAO THIÊN PHỦ

Hỏi : Sao Thiên Phủ chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Phủ thuộc hành thổ, nam đẩu đệ nhất tinh, là chủ đế cung Tài Bạch, coi về quyền và phúc.Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Sao Thiên Phủ là giải tai ách chi tính, trên số mệnh làm thần của y lộc, tài bạch, điền trạch thường đứng phụ tá cho Tử Vi, có khả năng chế phục Kình Dương, Đà La cải hoá Hoả Tinh, Linh Tinh. Tướng mạo thanh kỳ, bẩm tính ôn lượng đoan nhã. Hội cùng Thái Dương, Xương Khúc dễ công danh khoa bảng. Gặp Lộc Tồn, Vũ Khúc giàu to. Rơi vào Không Vong, Tứ Sát trở thành kẻ bị cô lập. Nữ mệnh được Thiên Phủ thủ mệnh, vẻ người thanh thoát vượng phu ích tử, tháo vát, thông minh, dù gặp Xung Phá cũng không đến nỗi trôi giạt /.

Ngọc Thiềm tiên sinh có bài ca rằng :

Thiên Phủ vi lộc khố

Nhập mệnh chung thị phú

Vạn khoảnh trí điền trang

Gia tư vô luận số

Nữ mệnh toạ hương khuê

Nam nhân thực thiên lộc

Thử thị phúc cát tinh.

Nghĩa là :

Thiên Phủ chuyên coi về lộc, kho. Vào mệnh thế nào cũng giàu, ruộng đất rất nhiều tiền bạc vô số. Số đàn bà con gái Thiên Phủ thủ mệnh ngồi trong khuê phòng thơm ngát. Số đàn ông con trai được hưởng nhiều tài lộc của trời. Sao này chuyển giáng phúc đem đến điều tốt lành.

Những cây phú về sao Thiên Phủ ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thiên Phủ miếu địa Tí, Sửu, Dần, Mùi vượng địa Ngọ, Mão, Thìn, Tuất bình thường Dậu, Tị,Thân, Hợi. (Thiên Phủ tụ hội cùng Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng là cách vua tôi yến hội).

- Thiên Phủ cư Ngọ, Tuất, Thiên Tướng lai triều giáp nhân nhất phẩm chi qui. (Sao Thiên  Phủ  đóng  ở  cung  Ngọ  hay  Tuất  có  sao  Thiên  Tướng  chầu  tuổi  Giáp  quí  đến  bậc  nhất phẩm).

- Phủ  Tướng  triều  viên,  thiên  chung  thực  lộc.  (Mệnh  an  Dần  hay  Thân,  sao  Thiên Phủ, Thiên Tướng ở cung Tài Bạch và Quan Lộc chầu vào là thượng cách, lương cao bổng hậu).

- Thiên Phú, Lộc Tôn, Xương Khúc cự vạn chi tư. (Thiên Phủ gặp Lộc Tồn, Xương Khúc tiền của dư dả).

- Thiên Phú, Xương Khúc, Tả Hữu cao đệ ân vinh. (Gặp Xương Khúc, Tả Hữu đỗ đạt cao).

- Thiên Phú, Vũ Khúc cư Tài Trạch cánh kiêm quyền lộc phú xa ông. (Thiên Phủ đóng cung Tài Bach, Điền Trạch được quyền lộc tụ vào thì giàu có – Hoặc Lộc Tồn, Tả Hữu cũng thế).

- Thiên Phú Tuất cung Vô Sát tấu, Giáp, Kỷ nhân, yêu kim hưu phú. (Đóng ở Tuất, không có Tứ Sát xung phá cũng là người khá giả).

SAO THÁI ÂM M

Hỏi : Thái Âm chủ những điều gì ?

Đáp  :  Thái Âm  là  tinh  hoa  của  Thuỷ,  nếu  làm  chủ  cung  Điền  Trạch  (nhà  cửa,  ruộng nương), thì hoá khi thành phú, cùng với Thái Dương tượng trưng cho nghi biểu của trời. Đắc địa là người thông minh, tuấn tú, bẩm tính đoan nhã, thuần lương, tỉ dụ ở cung Dậu lại gặp nhiều sao tốt thêm  Thái  Dương  ở  cung  Mão  chiếu  sang  thì  hưởng  đại  phúc.  Hãm  địa  gặp  Ac  Sát  xung  phá nghèo khổ, tàn tật.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Thái Âm phối tinh của Thái Dương, Mão Thìn Tị Ngọ là hãm địa, Dậu Tuất Hợi Tí Sửu là đắc địa, miếu tại cung Dậu. Rất sợ Dương Đà đồng cung, sợ Liêm Trinh phạm Thất Sát xung phá dễ bị tàn tật. Thái Âm có được chiếu sáng mới có phúc, thất hãm thì hung. Ơ mệnh cung miếu vượng phú quí, ở cung tật ách hãm địa gặp Kình Đà có mục tật, gặp Hoả Linh hay tai nạn, gặp Tham Sát hại mắt, vận hạn lưu niên, gặp Bạch Hổ thường chịu tang mẹ. Hãm địa Thê cung hội Tang Môn, Bạch Hổ hãy thận trọng đối với vợ /.

Những câu phú về sao Thái Âm ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thái Âm miếu địa Dậu, Hợi, Tuất vượng địa Tí, Sửu, hãm địa Ngọ, Dần, Thìn, Tị,Mão.

- Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung thiềm cung triết quế. (Thái Âm đồng cung với Văn Khúc ở cung Thê ví như lên trăng hái cành quế. Văn Xương cũng vậy).

- Thái Âm , Vũ Khúc, Lộc Tồn đồng Tả Hữu tương phùng, phú quí ông. (Gặp Vũ Khúc, Lộc Tồn, Tả Hữu là người giàu sang).

- Thái Âm cư Tí, Bính Đinh nhân phú quí trung lương. (Sao Thái Âm đóng cung Tí, người tuổi Bính Đnh giàu sang, trung tín – hợp với người sinh ban đêm hơn).

- Thái Âm , Dương Đà tất chủ nhân ly tài sản. (Sao Thái Âm ngộ Dương Đà thì người xa của mất).

- Nguyệt lăng Thiên Môn ư Hợi địa đăng vân chức trưởng đại quyền. (Thái Âm ở cung Hợi là cách trăng sáng cửa trời sẽ nắm quyền lớn chức vị cao – hợp với người tuổi Tí sinh ban đêm).

- Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm bần. (Sao Thái Âm ở Dần Thân tị cung, gặp Thiên Lương số đàn bà thường đa dâm, nghèo khổ, dễ rơi vào kiếp lẽ mọn, nàng hầu nhưng nếu ở cung Phu lại gặp các sao Tham Lang, Xương, Khúc lấy chồng hiền hậu, thông minh).

SAO THAM LANG

Hỏi : Sao Tham Lang chủ những điều gì ?

Đáp : Tham Lang thuộc hành thuỷ, Bắc Đẩu tinh giải ách chi thần. Hoá khí sao này là Đào Hoa, ưa cao ngâm phiêu lãng, khôn khéo thật khôn khéo mà vụng dại cũng thật vụng dại. Ơ miếu địa có thể vừa tạo phúc vừa gây hoạ. Hội cùng Phá Quân thành ra mê hoa mến rượu mà táng mạng, cùng Lộc Tồn tốt lành, hội Song hao mọi việc thành hư hoa bố láo, gặp Liêm Trinh hãm địa tù tội, thấy Thất Sát dễ bị tai nạn quan tụng. Dương Đà xung phá có bệnh trĩ, Hình Kị xung phá nhiều vết thương, vết sẹo. Tham Lang thủ Thân mệnh cung con trai đa tình, con gái lẳng lơ.Đa số có tính ngôn quá kỳ thực, chơi với ai cần trung hậu thì dở thói bạc bẽo, với kẻ đáng lý bạc bẽo được thì lại trung hậu. Sách có câu :

Thất Sát thủ thân chung thị yểu,

Tham Lang nhập miếu tất vi sương

(nghĩa là Thất Sát thủ Thân thường chết yểu Tham Lang nhập miếu, con gái dễ bị giang hồ).

Nếu các cung Thân mệnh có Phá Quân đồng cư hoặc từ tam hợp hội tụ dù ở sinh vương địa, đàn ông say sưa, rượu chè cờ bạc, tính khí ngang ngược, du đãng, đàn bà dâm bôn theo trai đi hoang, nặng căn số có thể rơi vào lầu xanh. Đặt biệt sao Tham Lang mà ngộ Không Vong kết quả ngược hẳn rất đoan chính. Tham Lang đồng cư với Vũ Khúc, ích kỷ tham lam, không có bụng giúp người  khác.  Đi  cặp  cùng  Thất  Sát  là  đồ  tể.  Hội  Dương  Đà  thành  con  quỉ  phong  lưu.  Tụ  cùng Xương Khúc đa hư thiểu thực. Ơ hãm địa phùng sinh có thể quật khởi một thời ky. Duy có đi với Hoả Linh là phú quí, ơ Mệnh hay Tài Bạch rất hay.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Tham Lang tinh, khí thuộc mộc thể thuộc thuỷ cho nên hoá khí là Đào Hoa, chủ hoạ phúc chi thần. Ơ số mệnh ưa phóng đãng, gặp sao tốt chủ phú quí, sao hung chủ hư hoa. Tính tình cương mãnh, có mưu cơ, bồng bềnh chìm nổi, yêu ghét khó lường, thân hình thấp. Cư miếu địa ngộ Hoả Linh tinh vũ chức quyền quí. Người tuổi Mậu Kỷ hợp cục gặp Quân. Tướng thêm trường thọ. Bị Phá Sát xung hãm phiêu bồng. Số đàn bà thường bất khiết trinh.(Một điều đáng chú ý : Tử Vi đẩu số toàn thư không ca tụng sự đi cặp của Tham Lang vàVũ Khúc bằng lẽ đoán của tổ tiên ta ưa số Tham Vũ đồng hành).Bài ca của Ngọc Thiềm tiên sinh cho sao Tham Lang không thấy ghi chép.

Những câu phú về sao Tham Lang trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Tham Lang miếu địa Thìn, Tuất, Sửu, Mùi vượng địa Tí, Ngọ, hãm địa Tí, Hợi, Mão,Dậu.

- Tham Lang nhập miếu thọ nguyên thần. (Vào miếu địa sống lâu).

- Tham Lang hội Sát vô Cát diệu đồ tê chi nhân. (Hội với Thất Sát mà không có sao Cát  trợ lực làm nghề đồ tể).

- Tham Lang ngộ Linh Hoả, tứ mộ cung, hảo phú gia tư hầu bá quí. (Sao Tham Lang đóng ở Thìn Tuất Sửu Mùi gặp hai sao Hoả Linh, chức vị đến cỡ hầu bá, giàu có vào loại phú hào).

- Tham Lang Tí, Ngọ, Mão, Dậu thử thiết cẩu thâu chi bối, chung thân bất năng hữu vi(Sao Tham Lang thủ mệnh ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu là loại người quỉ quyệt. Ưa thủ đoạn vặt suốt đời chẳng làm nên cơm cháo gì. – Đây chỉ những người tuổi Thân, Tí, Thìn mệnh toạ cung Tí, tuổi Dần, Ngọ, Tuất mệnh toạ cung Ngọ, Tuổi Hợi, Mão, Mùi mệnh toạ cung Mão, tuổi Tí, Dậu, Sửu mệnh toạ cung Dậu ).

- Tham Lang gia cát toạ trường sinh thọ khảo vinh như Bành Tổ. (Sao Tham Lang có nhièu sao tốt trợ lực lại ngồi vào cung trường sinh tuổi thọ vô cùng).

- Tham Lang Tí, Hợi gia sát bất vi đổ hộ diệc tao hình. (Đóng cung Hợi gặp sao Ac Sát nếu không làm nghề hạ tiện, tất luôn luôn bị hình ngục).

- Tham Vũ đồng hành vãn cảnh biên di thần phục. (Hai sao Tham Lang, Vũ Khúc đi với nhau tuổi ngoài bốn mươi mới khá).

- Tham Vũ tiên bần hậu phú .(Cùng nghĩa câu trên thêm ghi chú là số Tham Vũ là loại người lợi kỷ tổn nhàn).

- Tham Vũ Thân cung vi hạ cách. (Hai sao Tham Lang, Vũ Khúc đi cặp ở cung Thân là hạ cách – Thân đây tính cung trên cung Dậu).

- Tham Lang, gia sát đồng hướng nữ du hương nhi nam thử thiết.(Gặp  Thất Sát nơi hãm địa, con gái trộm tình, con trai bê tha).

- Tham Vũ tứ sinh, tứ mộ cung Phá Quân, Kị Sát bách công thông .( Tham Vũ ở bốn cung mộ hoặc bốn cung sinh, gặp Phá Quân, Kị Sát, người tháo vát làm được trôi chảy mọi việc).

- Tham Lang, Vũ Khúc đồng thủ thân, vô cát mệnh phản bất trường. (Tham Vũ đóng ở Thân mà mệnh lại không sao tốt, số cô bần).

- Tham Vũ, Phá Quân vô cát diệu mê hoa luyến tửu dĩ vong thân. (Tham Lang, Vũ Khúc gặp Phá Quân, không được sao tốt trợ giúp là người mê gái mê rượu mà táng mạng).

- Tham Lang đồng Sát hội cơ lương, tham tài vô yếm tác kinh thương. (Cùng với Thất Sát gặp Thiên Cơ, Thiên Lương tham tiền không biết chán suốt đời bôn tẩu bán buôn).

- Tham Lang, Liêm Trinh đồng độ, nam đa lãng đãng, nữ đa dâm. (Đi với Liêm Trinh,số con trai, con gái dâm dật).

- Tham ngộ Dương Đà cư Hợi Tí, Hợi danh vi phiếm thuỷ Đào Hoa. (Gặp Kình Dương,Đà La ở cung Tí Hợi gọi là đào hoa trôi dạt cả Nam nữ đều mê hoa luyến tửu. Nếu có nhiều cát tinh trợ lực là người phong nhã hào hoa).

- Tham Lang, Đà La tại Dần cung hiệu viết phong lưu thái trượng. (Hội với Đà La ở Dần cung là người phong lưu).

- Nữ mệnh Tham Lang đa tật đố. (Đàn bà Tham Lang thủ mệnh, tính tình hay ghen ghét, tị nạnh).

- Tham Vũ đồng hành văn cảnh biên di thần phục.(Tham Vũ đi đôi, công danh có thể oanh liệt nhưng rất muộn).

SAO CỰ MÔN

Hỏi : Sao Cự Môn chủ những điều gì ?

Đáp : Cự Môn thuộc hành thuỷ, Bắc Đẩu đệ nhị tinh, háo khí thành ám (che tối). Ơ Thân mệnh thường chiêu miệng tiếng, dèm chê. Ơ Huynh Đệ cốt nhục bất hoà, ở Phu Thê vợ chồng chia cách, nếu có sống chung thì cũng ô danh thất tiết, ở Tử Tức con cái hoặc hiếm muộn hoặc ít thành đạt, ở Tái Bạch hay bị cạnh tranh. Ơ Tật Ach gặp Hình Kị đau mắt, nếu Sát tinh xung phá nặng sẽ tàn tật. Ơ Thiên Di ra ngoài bị bôi xấu, ở Nô Bộc đa oán, phản bội, ở Quan Lộc dễ dính dấp vào những việc quan tụng, ở Điền Trạch phá tổ nghiệp, ở Phụ Mẫu không hợp với cha mẹ.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Cự Môn ở trên trời coi phẩm chất vạn vật vào số mệnh chủ về thị phi, ám muội, đa nghi, dối trá, tiến thoái lưỡng nan, tính tình ngoài mặt thế này trong thế khác, ít hợp với người thân, giao du trước tốt sau xấu. Đóng tại 12 cung nếu không vào miếu địa thường bôn ba lao bác. Gặp Thái Dương thì hung cát tương bán (?). Đi với Dương Đà trai ăn trộm, gái ăn sương. Có Hoả Linh xung chiếu thêm Bạch Hổ hay tam hợp Sát tinh tụ tất bị hỏa ách cháy nhà bị bỏng. Đại tiểu hạn ngộ Cự Môn hãm địa tai nạn không nhỏ/.

Không thấy chép bài ca của Ngọc Thiềm tiên sinh dành cho sao này.

Những câu phú về sao Cự Môn ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Cự Môn miếu địa Mão, Dậu, Dần, Thân, vượng địa Tí, Ngọ, Hợi, hãm địa Tị, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

- Cự  Nhật  mệnh  cung  Dần  vị  thực  lộc  trì  danh.  (Hai  sao  Cự  Môn,  Thái  Dương  thủ mệnh ở cung Dần, danh tiếng và nhiều tiền).

- Cự Nhật Thân, lập mệnh Dần trì danh thực lộc. (Cự Môn, Thái Dương ở cung Thân mà mệnh lập Dần cũng một nghĩa như trên ).

- Cư Môn Tí, Ngọ khoa quyền lộc trạch trung ẩn ngọc phúc hưng Long. (Đóng ở Tí hay Ngọ hội với Khoa, Quyền lộc là cách ngọc ẩn trong đá, hưởng phúc lớn).

- Cự tại Hợi, Nhật mệnh Tị thực lộc trì danh. (Cự Môn ở Hợi, Thái Dương thủ mệnh ở Tị, danh tiếng và bổng lộc).

- Cự tại Tị cung Nhật mệnh Hợi phản vi bất giai. (Nếu Cự Môn đóng Tị, Thái Dương thủ mệnh tại cung Hợi thì lại hỏng vì Thái Dương lạc hãm).

- Cự Cơ cư Mão, At, Tân, Kỷ, Bính chí công khanh. (Hai sao Cự Môn, Thiên Cơ đi cặp đóng cung Mão người tuổi At, Tân, Kỷ, Bính có thể làm tới công khanh).

- Cự, Cơ Dậu thượng hoá cát giả túng hữu tài quan dã bất chung. (Cự Môn, Thiên Cơ ở Dậu là tốt, nhưng dù có tiền tài, chức vị nhưng cũng không lâu bền, sẽ yểu thọ hoặc phá sản) .

- Cự Môn Thìn cung, Hoá Kị tân nhân mệnh ngộ phản vi kỳ. (Rơi vào hãm địa là cung Thìn mà gặp Hoá Kị, người tuổi Tân lại biến thành cách kì lạ).

- Cự Cơ Sửu, Mùi vi hạ cách. (Cự Cơ đi cặp ở Sửu, Mùi là hạ cách).

- Cự Môn, Dương Đà ư  Thân mệnh, tật ách doanh hoàng, khốn nhược đạo nhi sương.(Gặp Dương Đà ở mệnh Thân, ốm đau suốt đời nếu không thì trộm cắp, đĩ điếm).

- Cự Môn tứ sát hãm nhi hung. (Gặp tứ sát hãm địa thì hung).

- Cự Môn, Kình Dương Đà phùng ác diệu phòng ải tử đầu hà. (Đi cùng với Hỏa Tinh và Dương Đà gặp thêm các sát tinh khác đề phòng tử ải đầu hà).

- Cự Hoả Linh Tinh phùng ác hạn tử ư ngoại đạo .(Cự Môn Hỏa Linh đi cặp, gặp ác hạn chết đường).

- Cự Tú Thiên Cơ vi phá đãng .(Cự Môn đồng cung Thiên Cơ, số đàn bà thường phá đãng, dù ở Mão Dậu đắc địa tuy phú quí nhưng chẳng tránh khỏi dâm bòn).

SAO THIÊN TƯỚNG

Hỏi : Sao Thiên Tướng chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Tướng thuộc hành thuỷ Nam Đẩu tinh, chủ về các việc quyền tước rất phúc thiện, háo khí của sao này là ấm, chuyên trợ giúp cho Tử Vi. Thiên Tướng thủ mệnh là người ăn nói thành thực, chắc chắn, thấy ai hoạn nạn dễ động lòng trắc ẩn, thấy việc ác dễ nổi khí bất bình.Ơ cung Quan Lộc thì hiển vinh. Đóng đâu phúc lộc đấy, không bị sao ác làm biến đổi, chí không vì hung sát mà thay. Được tả Hữu hộ vệ nắm chức quyền lớn rủi tơi vào cung nhà nhược thì vẫn tốt như thường .Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Thiên Tướng tinh chủ về y thực phong túc  hội với Tả Hữu Xương Khúc vị chí công khanh. Ơ hãm địa gặp Liêm Tham Vũ Phá Dương Đà xung phá thì dùng tài tháo vát để an thân.Có Hoả Linh xung phá e tàn tật. Số đàn bà Thiên Tướng thủ mệnh thông minh, đoan trang, chí cao như kẻ trượng phu, nếu gặp xung phá thành thân phận tì thiếp/.

Có câu ca về sao Thiên Tướng (mà không thấy đề Ngọc Thiềm tiên sinh) như sau :

Thiên Tướng nguyên lộc thuỷ

Hoá ấn chủ quan lộc

Thân mệnh nhi cung phùng

Định chủ đa tài phúc

Hình thể hựu phì mãn

Ngữ ngôn bất khinh độc

Xuất sĩ chủ phi đằng

Cư gia chủ tài cốc

Nhị hạn nhược phùng chi

Bách sự khán sung túc

Nghĩa là :

/Sao Thiên Tướng thuộc thuỷ, hoá khí là ấn coi về quan lộc. Hai cung Thân mệnh, có sao Thiên Tướng thì nhiều phúc nhiều tiền. Dáng người to lớn mập mạp, ăn nói nghiêm nghị đúng đắn. Ra làm quan chức dễ lên cao, ở nhà buôn bán tiền thóc đầy kho. Đại tiểu hạn gặp Thiên Tướng vạn sự đều tốt đẹp /.

Những câu phú về sao này ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thiến Tướng miếu địa Tí, Ngọ, Dần, Thân đắc địa Tị, Hợi, Sửu Mùi hãm địa Mão,Dậu.

- Thiên Tướng, Liêm Trinh, Kình Dương hiệp đa chiêu hình Trượng nan đào. (Mệnh Thiên Tướng giáp có Liêm Trinh, Kình Dương phần đông gặp tai ách tù ngục).

- Thiên Tướng chi tinh nữ mệnh triền tất đương tử quí cập phu hiền. (Số đàn bà ThiênTướng thủ mệnh tất nhiên đẻ con quí tử, có chồng hiền).

- Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm. (Có đi cặp Hữu Bật dễ gặp điều tốt lành).

Phú nôm của ta về sao Thiên Tướng kỹ càng hơn :

Tướng ấn chính ví công hầu

Binh hình Lôc Mã hội chầu mệnh viên

Cung Thìn Tuất, mệnh an tướng thủ

Quan Lộc cung vượng khí công danh

Thiên Tướng chẳng kị sát tinh

Chỉ hiềm triệt lộ đầu mình phàn hai

Thiên Tướng là mặt con người

Hương trời sắc nước mệnh ai Tướng hồng

Đãn, hiềm lấn át quyền chồng

Tướng phúc hình Kị bóng đồng tổn hao

Tướng và Khúc hội đào, mộc, cái

Sác khuynh thành chết nỗi dâm bòn.

So phú nôm với phú chữ của Tử Vi đẩu số toàn thư ta thấy miếu địa của sao Thiên Tướng khác hẳn nhau. Phú nôm cho Thìn, Tuất là miếu còn phú chữ là Tí, Sửu, Dần, Thân. Phú nom đưa ra số đồng bóng trong khi phú chữ chẳng nói gi đến đồng bóng. Như vậy phú nôm căn cứ vào đâu để hạ đoán mấy chữ bóng đồng tổn hao ? Đó chính là cái tài của tiền nhân ta học của người mà vẫn tìm cách hơn người.

SAO THIÊN LƯƠNG

Hỏi : Sao Thiên Lương chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Lương thuộc hành thổ, Nam Đẩu tinh cai quản việc thọ

yểu, hoá khí là Am là Phúc, chủ về phụ mẫu, vào số mệnh thì tính tình lỗi lạc, vẻ người đầy đặn có lòng chính trực vô tư, vào việc quả quyết, gặp Xương Khúc ở cung Tài Bạch, gặp Thái Dương ở cung Phúc Đức tam hợp  xung  chiếu  hội  nhiều  sao  tốt,  thanh  danh  vạn  toàn,  vua  yêu  bạn  nể.  Gặp  sao  Hao  lai  ngộ Thiên Cơ và Sát Tinh nên đi tu là hơn. Thiên Lương không sợ Thái Tuế xung và Bạch Hổ phá.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Thiên Lương nam đẩu, sao coi việc thọ hoá khí thành Am, sinh nhàn thanh tú ôn hoà hình thần ẩn trọng, giỏi nói binh pháp, hội với Xương Khúc, Tả Hữu quyền vị lớn. Ơ cung Phúc Đức hội cùng Thái Dương cực phẩm chi quí đối với người tuổi Mậu, Kỷ. Thiên Lương không bị Liêm Trinh Hình Kị khắc hại cũng không sợ Hoả Linh gây can qua. Thiên Lương gặp tấu thư nổi danh kỳ lạ, gặp Đại Tiểu hao mưu việc khó thành, ngộ Thanh Longcó hỉ tín. Nữ mệnh Thiên Lương miếu địa vượng phu ích tử, hội Xương Khúc Tả Hữu là mệnh phụ. Rất kị Dương Đà xung phá gây tiếng xấu /.

Bài Hi Di tiên sinh viết trên đây còn có một câu vô lý nên xin đặt ra ngoài để bàn luận, đó là :

/Dữ Tham Lang đồng độ tắc thương luân bại tục loạn lễ loạn gia/ (Cùng với sao Tham Lang thường rơi vào điều thương luân bại lý lộn ẩu như họ nhà  tôm). Thiên Lương vốn cùng Tham Lang ở trong chòm sao Thiên Phú thì làm sao nó có thể đồng độ với Tham Lang ? Tính tam hợp xung chiếu thì Thiên Lương với Tham Lang cũng chẳng bao giờ gặp nhau nói chi đến đồng độ.

Có bài ca về sao Thiên Lương như sau :

Thiên Lương nguyên thuộc thổ

Nam đẩu tới cát tinh

Hoá ấm danh điện thọ

Phụ mẫu cung chủ tinh

Điền trạch huynh đệ nội

Đắc chí phúc tự sinh

Hình thần tự trì trọng

Tâm tính cánh hoà bình

Sinh lai vô tai hoạn

Văn chương hữu thanh danh

Lục thân cánh hoà lục

Sĩ hoạn cư vương đình

Cự môn nhược tương hội

Lao bác lịch lịnh tân

Nhược phùng thêin cơ chiếu

Tăng đạo hưởng sơn lâm

Nhị tịnh tại Thìn Tuất

Phúc thọ bất tu luân.

Nghĩa là:

Sao Thiên Lương thuộc thổ, nam đẩu tính háo khí là ấm (Bóng che trở) hỗn danh diên thọ làm chủ cung Phụ Mẫu. Vào điền trạch, huynh đệ đem lại tốt lành. Tính tình trì trọng hào bình, ít gặp tai hoạ, theo nghiệp văn chương dễ nổi tiếng. Ra làm quan dễ hiển đạt. Hội cùng Cự Môn thì cuộc đời vất vả, gian truân, thấy Thiên Cơ chiếu ưa điều đạo, thích tu ẩn sơn lâm.

Những câu phú về sao Thiên Lương ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thiên   Lương miếu địa Tuất, Thìn, Ngọ, vượng địa Sửu, Mùi, Tí, Mão, Dần, Thân, hãm Tị, Hợi, Dậu.

- Thiên  Lương  Nguyệt  Diệu  nữ  dâm  bần.  (Số  đàn  bà  Lương  Nguyệt  thủ  mệnh  và chiếu là dâm, nếu Thái Âm ở Tị, Thiên Lương ở Hợi hạ cách, dâm bần vì Nguyệt vào hãm địa).

- Thiên Lương thủ chiếu cát tương phùng bình sinh phúc thọ. (Sao Thiên Lương thủ mệnh hay chiếu mệnh gặp nhiều sao tốt suốt đời phúc thọ, tốt  nhất là Thiên Lương ở Ngọ).

- Thiên Lương cư ngọ vi quan tư thanh hiển triều đường. (Đóng cung  Ngọ, có chức vị lớn trong triều).

- Lương đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị nhất sinh lợi nghiệp thông minh. (Hội tụ các sao Cơ Nguyệt đồng Lương thủ mệnh ở Dần Thân thì suốt đời làm ăn suôi lọt, sáng suốt).

- Thiên Lương, Thái Dương, Xương Lộc hội lô truyền đệ nhất danh. Tiền nhân ta dịch câu phú trên bằng 4 câu nôm :

Tuổi hoa nở đăng cao bảng chiếu

Bởi Thiên Lương thủ mệnh Tí cung

Xương Lộc hội Nhật chiếu xung

Đè đầu sĩ tử văn hùng nhất danh.

- Lương Nguyệt Tị Hợi nam đa lãng đãng, nữ đa dâm.  (Thái Âm m, Thiên Lương thủ mệnh số con trai phiêu bạt, số con gái đa dâm).

- Thiên Lương, Văn Xương cư miếu vượng vi chí đài cương. (Hội cùng Văn Xương ở miếu vương hiển đạt).

- Lương Vũ Am Linh nghĩ tác đống lương chi khách. (Hội cùng Vũ Khúc, Thái Âm , Linh Tinh đắc địa là người tài giỏi có thể đứng ngôi vị trụ cột ).

- Lương tú Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách. (Thiên Lương ở Dậu, Thái Âm ở Tị là kẻ phiêu bạt).

- Thiên  Lương,  Thiên  Mã  vi  nhân  phiêu  đãng  phong  lưu.  (Hội  cùng  Thiên  Mã  làm người phong lưu phiêu lãng).

- Thiên Lương Gia Cát tọa Thiên Di, cự thương cao cổ. (Đóng cung Thiên Di, nhiều sao tốt trợ, buôn bán lớn).

SAO THẤT SÁT

Hỏi : Sao Thất Sát chủ những điều gì ?

Đáp : Thất Sát là Nam Đẩu tinh, thuộc Hoả Kim, thượng tướng của tinh đẩu, làm cô thần cho sự thành bại. Uy như thép của lưỡi kiếm, tính tình thanh lương. Vào số mệnh, Thất Sát thường kinh lịch, gian nan tân khổ. Ơ mệnh cung nếu vân hạn xấu thành yểu chiết. Đóng cung Quan Lộc cực tốt, biến hoạ ra phúc. Toạ Tử Tức con cái cô đơn, cư Phu Thê chăn đơn giá chiếc. Gặp HìnhTú tại Điền Trạch và Phụ Mẫu, gia nghiệp đổ vỡ khắc cha khắc mẹ. Hội Thiên HÌnh, Hoá Kị ở Thiên Di hay Tật Ach thì tai ương tàn tật hoặc nhất thân cô độc tuổi thọ không bền. Hội Liêm Trinh hãm địa tại Thân Mệnh cung mắc bệnh lao. Gặp Liêm Trinh và sao Hao ở Thiên Di chết đường nếu rơi vào cung hãm nhược thì hung hoa bớt đi, bằng như ở cung chính âm (?) thì hung hoạ cáng lớn. Hạn lưu niên gặp sao Sát, hoặc cung Thân Mệnh có Thất Sát thêm các ác tinh khác hoặc lưu sát diệt tính sẽ chết trận. Thất Sát ngộ Không Vong, Thiên Hình mắc hoạ lớn. Sách có câu :

/ Cái thế anh hùng vi sát chế. Thử thời nhất mộng thị nam kha / (Dù là cái thế anh hùng bị sao Sát hung phạm sự nghiệp cũng thành giấc mộng nam kha) .

Thất Sát cần phải xét cho tỏ tường vì nó không phải là thiện tinh.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/ Thất Sát là thượng tướng của các tinh đẩu, gặp Tử Vi sẽ biến thành quyền mà giáng phúc, gặp Hoả Tinh sẽ biến thành Sát Tinh để làm lớn uy thế của nó, gặp sao hung ở Sinh hương thì hành nghề đồ tể, hội cùng Xương Khúc ở yếu địa tính tình ngang ngạnh.Sách Bí Kinh có câu :

/Thất Sát cư hãm địa trầm ngâm phút bất sinh /

là vậy. Cung Thân Mệnh có Thất Sát thường bị tai ương phá bại chỉ nhờ Tử Vi, Lộc Tồn mới giải cứu được thôi. Gặp lưu niên sát thì nên biết đường tiến thoái để giữ mình. Được Xương Khúc miếu địa củng chiếu, trong tay sẽ nắm quyền sinh, quyền sát phú quí hơn người. Nếu gặp Tứ Sát Kị tinh xung phá, cuộc đời tầm thường, ở hãm địa tàn tật. Nữ mệnh Thất Sát thủ mệnh nơi vương địa, tiền bạc vô kể, có oai quyền chí cao hơn con trai. Bị tứ hung xung phá phiêu đãng/.

Có câu ca về sao Thất Sát như sau (không thấy ghi tên tác giả) :

Thất Sát Dần Thân Tí Ngọ cung

Tứ di củng thủ phục anh hùng

Khôi Việt Tả Hữu Văn Xương hội

Quyền Lộc danh cao thực văn chung

Sát cư hãm địa bất kham ngôn

Hung hoạ do như bão hổ miên

Nhược thị sát cường vô chế phục

Thiếu niên ác tử đáo hoàng tuyền

Nghĩa là :

Sao Thất Sát đóng các cung Dần Thân Tí Ngọ mà Mệnh Thân tại đó bốn phương sẽ chấp tay cúi chào người anh hùng. Thêm Khôi Việt, Xương Khúc hội tụ danh tiếng khắp nơi quyền cao tiền nhiều. Sao Thất Sát rơi vào hãm địa nguy hiểm như ôm hổ mà ngủ. Nếu không có sao nào chế phục tất sẽ chết yểu hay chết thảm.

Những câu phú về sao Thất Sát ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thất Sát miếu địa Dần, Thân, Tí, Ngọ bình thường Mão, Dậu, Sửu, Mùi, Tị, Hợi vô hãm địa.(Câu này chứng tỏ tam sao thất bản, Hi Di Trần Đoàn nói có hãm địa, lúc ghi vào phú thì lại bảo vô hãm).

- Thất  Sát  Dần,  Thân,  Tí,  Ngọ  nhất  sinh  tước  lộc  vinh  xương.  (Đóng  ở  cung  Dần, Thân, Tí, Ngọ thủ mệnh, suốt đời tước lộc).

- Thất  Sát  Phá  Quân  chuyên  ỷ  Dương  Linh  chi  ngược.  (Sao  Thất  Sát  cần  sự  ngược ngạo của Dương Linh).

- Thất Sát, Liêm Trinh đông vị lộ thượng mai thi. Cùng ở với Liêm Trinh sẽ chết đường.

Tiền nhân ta có câu phú :

Ai người lộ thượng mai thi

Vì sao Liêm Sát đồng qui Sửu Mùi

(Phần trên mục nói về sao Liêm Trinh thì lại có câu phú nói nếu hai sao này ở Thiên Di cũng chết đường).

- Thất sát lâm Thân Mệnh lưu niên Hình Kị tai thương. (Thủ Mệnh Thân gặp Thiên Hình Hoá Kị hạn lưu niên có thể bị thương. Nếu Tử Vi, Lộc Tồn hay Thiên Tường vận hạn sẽ giải được).

- Sát  lâm  tuyệt  địa  Dương  Đà  Nhan  Hôi  yểu  triết.  (Thất  Sát  rơi  vào  tuyệt  địa  gặp Dương Đà thầy Nhan Hồi (học trò của ông Khổng Tử) chết non yểu).

- Thất Sát trùng phùng Tứ Sát yêu đà bối khúc trận trung vong. (Mấy chữ yêu đà bối khúc ý nói dễ bị thương tật, chỉ thấy phần chú thích ghi rằng : gặp   Hoả Linh ở hãm địa, chết trận).

- Thất Sát Hoả Dương bần thả tiện đồ tể chi nhân. (Gặp Hoả Tinh, Kình Dương loại hạ tiện thường làm nghề đồ tể, hoặc sai nha hung hãn).

- Thất Sát Dương Linh lưu niên Bạch Hổ Hình lục tại chuân. (Sao Thất Sát đi cặp với Dương, Linh lưu niên gặp Bạch Hổ bị tù tội).

- Thất  Sát  lưu  Dương,  nhị  cung  phù  ly  hương  tao  phối.  (Sao  Thất  Sát  gặp  lưu  niên Kình Dương rời bỏ quê hương lấy vợ nơi xa – Những chữ nhị cung phù ý nói là tuế hạn trung phùng).

- Thất Sát trầm ngâm phúc bất vinh. (Thất Sát thủ mệnh thường lầm lì, con trai có uy quyền, nhưng con gái không tốt).

- Thất Sát lâm thân chung thị yếu. (Thất Sát làm thân thế nào cũng chết non).

- Thất Sát đơn cư phúc đức nữ nhân thiết kị tiện vô nghi. (Thất Sát đứng một mình ở cung phúc đức số đàn bà tối kỵ vì là hạ tiện cách) .

- Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại, chư ban thủ nghệ bất năng tinh. (Thất Sát đồng Phá Quân nên xuất ngoại. – Những chữ chư ban thủ nghệ bất năng tinh tuy nghĩa rõ ràng nhưng câu này có vẻ vô  nghĩa ý nói là không thể làm thủ nghệ được).

Tiền nhân ta có câu phú về sao Thất Sát trong số đàn bà :

Nữ mệnh Sát, Ngọ Tí ngồi

Ngộ Riêu, Kiếp phải lệ rơi vì tình.

SAO PHÁ QUÂN

Hỏi : Sao Phá Quân chủ những điều gì ?

Đáp : Sao Phá Quân thuộc hành thuỷ Bắc Đẩu tinh, làm thần coi các việc nô bộc, phu thêvà tử tức, Tí Ngọ miếu địa. Ơ trên trời là sát khí, vào số là hao. Chủ về sự hung bạo, sảo trá, tính tình gian hoạt khó hợp với ai. Hành động thường gây hại cho người hơn làm lợi, thích giúp những kẻ ác ngược, coi lục thân như kẻ thù, đối với cốt nhục vô nhân nghĩa. Những người tuổi Giáp, tuổi Quí mà hợp cách thì phú quí. Hãm địa gặp Tứ Sát xung phá, phá nghiệp ly hương, tàn tật. Số đàn bà Phá Quân bị xung phá dâm đãng, vô sĩ. Nó đứng bên cạnh Tử Vi sẽ làm cho Tử Vi mất uy quyền. Cùng Liêm Trinh và Hoả Linh đồng độ vất vả, bôn ba. Cùng Hình Kị đồng độ suốt đời tai nạn. Đi cặp với Vũ Khúc ở cung Tài Bạch thì Đông thành Tây bại. Đi cặp với Văn tinh thủ mệnh làm kẻ bần sĩ. Chỉ có sao Thiên Lương chế tính

ác của Phá Quân, sao Lộc Tồn giải cứu tính điên của Phá Quân. Nữ mệnh Phá Quân thường theo trai, táng tiết phong lưu. Nam mệnh Phá Quân thủ Mệnh Thân ở cung Tí Ngọ có Tham Lang, Thất Sát củng chiếu cũng làm nên chức lớn. Nhưng chỉ thực tốt với người tuổi Canh, tuổi Quí thôi. Phá Quân đóng ở Mệnh Thân nơi hãm địa giang hồ phiêu bạt, vào Huynh Đệ cốt nhục bất hoà, ở Phu Thê vợ chồng xa cách, vào Tử Tức hiếm hoi, ở Tài Bạch tiền vừa đến tay đã hết, vào Thiên Di bôn tẩu, ở Nô Bộc chiêu oán hận, vào Quan Lộc chủ thanh bần, ở Điền Trạch phá hoại tổ nghiệp, vào Phúc Đức đa tai đa nạn, ở Phụ Mẫu khắc cha mẹ.Không thấy ghi lời Hi Di Trần Đoàn tiên sinh.

Những câu phú về sao Phá Quân ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Phá  Quân  miếu  Tí  Ngọ,  vượng  Thìn,  Tuất,  Sửu,  Mùi,  hãm  Tị  Hợi  Dần  Thân  Mão Dậu.

- Phá Quân Tí Ngọ cung, vô sát quan tư thanh hiền chí tam công. (Đóng ở cung Tí Ngọ miếu địa không gặp hung sát, số đàn ông Phá Quân thủ mệnh làm tới vị tam công. Rất hợp với người tuổi Giáp và Quí) .

- Phá  Quân,  Tham  Lang  phùng  Lộc  Mã  nam  đa  lảng  đãng  nữ  đa  dâm.  (Cùng  với Tham Lang gặp Mộc Tồn, Thiên Mã đàn ông lãng đãng, đàn bà đa  dâm).

- Phá Quân, Hoả Linh bôn ba lao bác. (Đi với Hoả Linh vất vả lao đao).

- Phá Quân nhất diệu tính nan minh. (Số Phá Quân đơn thủ mệnh, người gian trá khó lường).

- Phá  Hao  Dương  Linh  Quan  Lộc  vị,  đáo  xứ  khất  cầu. (Cùng  Kình  Dương  và  LinhTinh tại cung Quan Lộc suốt đời vay mượn).

- Phá Quân âm cự đồng hương thuỷ trung tác tủng. (Phá Quân gặp Cự Môn số chết đuối. – Câu này vô lý vì Phá Quân không bao giờ

gặp cũng như đồng hương với Cự Môn, chắc là chiếu hoặc phạm vào cung Thiên Di) .

Tiền nhân ta có câu phú về sao Phá Quân :

Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất

Ngộ khoa tuần phản ác vì lương

Tuổi Mậu Quí lắm vàng bạc

Hoạnh tài bộc phát giàu sang một đời.

SAO VĂN XƯƠNG

Hỏi : Sao Văn Xương chủ những điều gì ?

Đáp : Văn Xương thuộc hành kim chủ khoa giáp, ở cung Thân Mệnh người u nhàn nho nhã, thanh tú, khôi ngô, bác học đa văn, cơ biến dị thường, nhất cử thành danh, phúc thọ Song toànnếu có bị Tứ Sát xung phá cũng không đến nỗi hạ tiện. Nữ mệnh Văn Xương gặp cát tinh trợ lực y lộc sung túc, nếu Tứ Sát xung phá phiêu bạt lẽ mọn. Sao Văn Xương rất cần có Quyền Lộc.Không thấy ghi lời Hi Di Trần Đoàn viết.

 Có câu ca về sao Văn Xương như sau :

Văn Xương chủ khoa giáp

Thìn Tị thị vượng địa

Lợi Ngọ hiềm Mão Dậu

Hoả sinh nhàn bất lợi

Mi mục định phân minh

Tướng mạo cực tuấn lệ

Hỉ ư kim sinh nhàn

Phú quí Song toànmỹ

Tiên nan nhi hậu dị

Trung văn hữu thanh danh

Thái Dương ấm phúc tập

Truyền lô đệ nhất danh.

Nghĩa là :

Văn Xương chủ về khoa bảng thi cử, vượng địa ở Thìn, Tị, lợi địa ở Ngọ, bất lợi ở Mão, Dậu. Người mạng Hoả không hợp với Văn Xương. Dáng mi thanh mục tú, khôi ngô, người mạng Kim hợp cách. Làm việc gì trước khó sau dễ. Trung và vãn vận sau có danh tiếng. Gặp Thái Âm , Thái Dương hễ thi là đỗ cao.

Những câu phú về sao Văn Xương ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Văn Xương miếu địa Tị, Dậu, Sửu lợi địa Thân, Tí, Thìn, Hợi, Mão, Mùi, hãm địaDần, Ngọ, Tuất.(Vấn đề miếu hãm cho sao Văn Xương thật lung tung, trên bài ca viết một khác mà trong câu phú mà bảng liệt kê lại đề một khác. Chẳng riêng gì Tử Vi đẩu số toàn thư như vậy mà cái học truyền khẩu của ta cũng thế, có nhiều điểm mâu thuẫn không thể dùng nguyên tắc nào để xác định lại ).

- Văn Xương, Vũ Khúc vi nhân đa học đa năng. (Mệnh Thân hoặc chiếu vào mệnh Thân có hai sao Xương Khúc là người đa học đa năng).

- Văn Khoa cũng chiếu Giả Nghị niên thiếu đăng khoa. (Văn Xương, Hoá Khoa củng chiếu, ông Giả Nghị đỗ cao từ thủa còn niên thiếu).

- Văn Xương, Vũ Khúc ư Thân Mệnh văn vũ kiêm bị. (Mệnh Thân cung có hai sao Văn Xương, Vũ Khúc thì tài kiêm văn võ).

- Tả Phụ, Văn Xương vị chí tam đài. (Mệnh Thân hội Tả Phụ, Văn Xương chức vị tới bậc tam đàn).

Theo lời giảng của tiền nhân nước ta, miếu địa của hai cung Thìn, Tuất căn cứ vào hai câu phú :

Sao Xương Khúc chủ văn chương

Đồng Lâm Thìn Tuất quê hương tuyệt vời.

SAO VĂN KHÚC

Hỏi : Sao Văn Khúc chủ những điều gì ?

Đáp : Văn Khúc thuộc hành thuỷ, Bắc Đẩu tinh chủ khoa cùng loại với Văn Xương, vào Thân Mệnh là người khoa bảng, tài hoa phong nhã, ở Quan Lộc cung thường gặp mặt vua để chấp chính, nếu đơn thủ tại Thân Mệnh gặp sao hung chỉ là người bẻm mép không ra danh phận gì cả. Cùng đi với Liêm Trinh làm đề lại, cặp với Thái Âm làm cửu lưu thuật sĩ (quân sư quạt mo) . Văn Khúc sợ gặp Phá

Quân, cũng không ưa đi cùng Tham Lang dễ thành bê bối điên đảo chính sự. Văn Khúc hội Thất Sát thêm ác tinh bao vây như Hình Kị là người sảo trá khó chơi thường gặp cảnh tù ngục. Cự Môn, Văn Khúc khiến cho người táng chí hay nản. Số đàn bà không nên có Văn Khúc vì tính chất của Văn Khúc là thuỷ tính dương hoa.

Hi Di Trần Đoàn tiên sinh viết :

/Văn Khúc thủ Thân Mệnh cung tại Tị, Dậu, Sửu hiển đạt đến vị hầu bá, tam hợp có Vũ Khúc, Tham Lang là tướng tướng chi cách. Văn Khúc ưa đi cặp với Văn Xương. Nếu rơi vào hãm địa Ngọ, Tuất lại gặp Cự Môn, Kình Dương Đà là xung phá tất tảng mạng yểu chiết. Ơ vượng địa Hợi, Mão, Mùi cùng Thiên Lương, Thiên Tướng thì thông minh bác học, gặp ác tính xung phá chỉ nên tu hành. Nữ mệnh có Vũ Khúc người thanh tú, thông minh nhưng nếu ở hãm địa bị phá rất xấu, dâm dật, hạ tiện /.

Có bài ca cho hai sao Văn Xương, Văn Khúc như sau :

Năm Bắc Xương Khúc tinh

Số trung suy đệ nhất

Thân Mệnh tối vi giai

Chư cát khủng phi cát

Đắc cư nhân mệnh thượng

Đào hoa lãng tam cấp

Nhập sĩ cánh vô hư

Thung dung yêu phụ bật

Chỉ khủng ác sát lâm

Hoả Linh Dương Đà khích

Nhược hoàn phùng hãm địa

Miêu nhi bất tú thực

Bất thị công lại phỉ

Cửu lưu công số thuật

Vô phá tể chức quyền

Nữ nhân đa dâm dật

Lạc cư Hợi, Tí cung

Không Vong quan vô ích.

Nghĩa là:

Xương Khúc là những cát tinh, làm Thân Mệnh cực tốt, tính chất đào hoa, đường sĩ hoạn dễ dàng. Xương Khúc tối kỵ rơi vào vòng vây hãm của ác tinh Dương Đà, Hoả Tinh và hãm địa ví như cây xanh tốt mà không ra hoa trái sẽ bê bối hoặc bẻm mép nói láo. Số đàn bà gặp Xương Khúc là loại dâm bòn dù thông minh, tú lệ và tài hoa. Xương Khúc bị Không Vong xung phá làm quan hay bị cách chức.

Những câu phú về sao Văn Khúc ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Văn Khúc miếu địa Tí, Thìn, Tị, Dậu, Sửu vượng địa Hợi, Mão, Mùi hãm địa Ngọ Tuất.

- Nhị Khúc miếu viên phùng Tả Hữu tướng tướng chi tài. (Văn Khúc, Vũ Khúc miếu địa ở mệnh viên gặp Tả Phụ Hữu Bật tài kiêm văn võ).

- Nhị  Khúc  vượng  cung  uy  danh  hách  hách.  (Văn  Khúc,  Vũ  Khúc  ở  vượng  địa  thủ mệnh tăm tiếng lẫy lừng).

- Nhị Khúc Tham Lang Ngọ, Sửu hạn phòng nịch thuỷ chi ưu. (Văn Khúc, Vũ Khúc hội Tham Lang ở cung Ngọ Sửu, đề phòng vận hạn về song nước).

Những câu phú cho hai sao Văn Xương, Văn Khúc đi cặp ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Xương Khúc hiệp mệnh tối vi kỳ. (Mệnh giáp Xương Khúc là số kỳ lạ).

- Xương Khúc lâm ư   Sửu, Mùi thời phùng Mão, Dậu cận thiên nhan. (Xương Khúc đóng cung Sửu, Mùi người sinh giờ Mão, giờ Dậu được gặp vua).

- Xương Khúc Tị Hợi lâm, bắt quí tất đại phú.(Xương Khúc ở Tị Hợi nếu không quí cũng đại phú).

- Xương Khúc cát tinh cư Phúc Đức vị chi ngọc tụ thiên. (Xương khúc thêm các sao tốt phụ trợ đóng cung Phúc Đức cực tốt, nếu được cùng Tử Vi ở cung Ngọ thì toàn hảo).

- Xương Khúc hãm cung, hung sát phá hư dự chi Long. (Ở hãm địa bị xung phá bởi hung tinh, sự nghiệp danh tiếng thế nào rồi cũng sụp đổ tan tành).

- Xương Khúc hãm ư thiên hương Nhan Hồi yểu chiết. Thây Nhan Hồi chết non chỉ vì Xương Khúc đi vào hạn thiên thương).

- Xương Khúc, Kỷ Tân Nhâm sinh nhân hạn phùng Thìn Tuất lự đầu hà. (Xương Khúc thủ  mệnh  của  những  người  sinh  năm  Kỷ,  Tân,  Nhâm  mà  hạn  gặp  Thìn,  Tuất  lo  nạn  đâm  đầu xuống song).

- Xương Khúc Liêm Trinh ư Tị Hợi tao hình bất thiện thả hư khoa.(Cùng Liêm trinh ở Tị Hợi thường bị hình ngục hoặc vì quan tụng mà bị ô nhục).

- Xương Khúc, Phá Quân lâm hổ thỏ Sát Dương xung phá bôn ba. (Đi cùng với Phá Quân đóng cung Dần Mão gặp Thất Sát Kình Dương xung phá cuộc đời lao đao).

- Xương Khúc Lộc Tồn do vi kỳ đặc. (Hội cùng Lộc Tồn là kỳ cách).

- Xương Khúc Tả Hữu hội Dương Đà sinh dị chí. (Cùng với Tả Hữu gặp Kình Dương Đà La có nốt ruồi lạ trên thân thể).

- Nữ mệnh Xương Khúc thông minh phú quí chỉ đa dâm. (Số đàn bà Xương Khúc thủ mệnh thông minh giàu sang chỉ phải cái đa dâm).

SAO TẢ PHỤ – HỮU BẬT

Hỏi : Sao Tả Phụ chủ những điều gì ?

Đáp : Tả Phụ là đế cực chủ tể chi tinh, thủ Thân Mệnh cung giáng phúc, người hình mạo đôn hậu khẳng khái, phong lưu được nếu Tử, Phủ, Quyền Lộc xung chiếu tam hợp chủ về cách đại quí cho cả văn lẫn võ, gặp Hoả tinh Hoá Kị xung phá tuy giàu sang nhưng chẳng lâu bền.

Hỏi : Sao Hữu Bật chủ những điều gì ?

Đáp : Hữu Bật là đế cực chủ chi tinh,  thủ Mệnh Thân cung, người văn mặc tinh thông, đồng cung có hai sao Tử – Phủ thì tiền bạc, chức tuớc đều hay, văn vũ song toàn. Nếu gặp Dương Đà xung phá là hạ cách. Nữ nhân có Hữu Bật thủ mệnh hiền lương, gặp Dương Đà xung phá Hạ tiện .

Có bài ca về Tả Phụ và Hữu Bật như sau :

Tả phụ nguyên thuộc thổ

Hữu Bật thuỷ vi căn

Thất quân vi vô dụng

Tam hợp nghi kiến quân

Nhược tại Tử Vi vị

Tước lộc bất tu luân

Nhược tại Phu Thê vị

Chủ nhân định nhị hôn

Nhược dữ Liêm Trinh tính

Ac tiện tao kiềm côn

Hữu Bật vi thượng tướng

Phụ tá Tử Vi tinh

Hỉ cư Nhật Nguyệt trắc

Văn nhân quá vũ môn

Thướng cư nhân vị thượng

Vô tước cánh vô danh

Thê cung ngộ thử tú

Quyết định lưỡng thê thành

Nhược dữ hình tù sử

Tao thương tác đạo tặc.

Nghĩa là:

Tả Phụ thuộc hành thổ, Hữu Bật thuộc hành thuỷ. Cần phải có vua để phò tá. Không vua thành vô dụng. Nên đứng cạnh chầu sao Tử Vi thì tước lộc rất lớn. Nếu vào cung Thê Thiếp số hai vợ. Đi cặp với Liêm Trinh vào tù ra khám thường bị hình phạt.

Hữu Bật đóng vai thượng tướng phụ tá cho Tử Vi. Hoặc đứng bên sao Nhật Nguyệt cũng rất tốt. Được thế văn nhân sẽ danh cao bảng đề. Nếu rơi vào nhân vị vô dụng. Gặp Liêm Trinh Hình đi làm đạo tặc.

Những câu phú về Tả Phụ, Hữu Bật ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Tả Hữu Văn Xương vị chi tam đài. (Văn Xương cùng Tả Hữu chức vị đến bậc tam đài ).

- Tả Hữu hiệp mệnh vi quí cách. (Mệnh giáp Tả Hữu là quí cách) .

- Hữu  Bật,  Tả  Phụ  chung  thân  phúc  hậu.  (Ở  Mệnh  cung  và  Thiên  Di  thì  suốt  đời hưởng phúc).

- Tả Hữu đồng cung phi la y tử. (Có Tả Hữu đồng cung thủ mệnh mặc áo lụa, áo gấm đỏ – ý chỉ cao sang ).

- Tả Hữu đơn thủ chiếu mệnh cung ly tôn thứ xuất. (Mệnh cung không có chính tinh,Tả Hữu một đơn thủ một chiếu mệnh thì ly tôn thứ xuất – Bốn chữ này không rõ nghĩa ).

- Tả Hữu Liêm Trinh tao hình đạo. (Đi cùng với Liêm Trinh là phường trộm cắp dễ tù tội).

- Hữu Bật, Thiên Tướng phúc lai lâm. (Đi với Thiên Tướng gặp nhiều may mắn).

- Tả  Hữu  tài  quan  hiệp  củng  y  lộc  phong  doanh.  (Hai  sao  này  đóng  hai  cung  Tài Bạch, Quan Lộc chiếu mệnh, đời sống đầy đủ).

- Tả Hữu Khôi Việt vi phúc thọ.(Có thêm Khôi Việt trợ lực thì phúc thọ).

SAO THIÊN KHÔI – THIÊN VIỆT

Hỏi : Sao Thiên Khôi – Thiên Việt chủ những điều gì ?

Đáp : Hai sao Khôi – Việt trên thượng giới là thần của sự hòa hợp, vào mệnh người hội cùng Tả Hữu không ai là không phú quí. Nếu Khôi ở Mệnh Việt ở Thân lại thêm Tử Phủ, Nhật Nguyệt, Xương Khúc, Tả Hữu, Quyền Lộc tấu hợp tuổi thiếu niên đã danh tiếng lại đào hoa nhiều vợ đẹp, dù cho gặp đại nạn cũng được quí nhân phù trợ, tiểu nhân không thể gây hung hoạ với số này. Con trai số Khôi Việt trong tuấn nhã, học hành giỏi giang, con gái số Khôi Việt thì dung mạo đoan trang, xuất chúng, siêu quần sau làm quí phú nhân, nếu Khôi Việt có ác sát xung phá Khôi Việt vẫn phú quí, nhưng chẳng khỏi trăng hoa tư tình.

Có câu về hai sao Khôi Việt như sau :

Thiên At quí nhân chúng sở khảm

Mệnh phùng kim đới phúc di thâm

Phi đằng danh dự nhân tranh mộ

Bác nhã giai thông cổ dữ kim

Khôi Việt nhị tinh hạn trung cường

Nhân nhân ngộ thử quản tiền lương

Quan lại phùng chi phát tài phúc

Đương nhiên tất định kiến quân vương.

Nghĩa là :

Khôi Việt còn có tên khác là Thiên At qui nhân, ai cũng mong được hai sao này giáng làm. Đóng ở Mệnh cung sang quí nhiều phúc lộc. Một sớm một chiều danh vang thiên hạ. Văn hay học giỏi. Hạn gặp Khôi Việt tiền nÔng danh giá đều tốt đẹp. Đang làm quan mà hạn tới Khôi Việt sẽ thăng chức hoặc được vua phong tặng.

Tiền nhân ta cũng có bài ca về Khôi Việt :

Khôi Việt, Thanh, Việt, Cái Hồng

Trai cận cửu trùng gái tác cung phi

Hồng, Khôi, Xương, Tấu đề huề

Sân rồng bảng hổ danh đề một hai

Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Việt, Khôi

Công thành danh toại một đời hiển vinh.

Những câu phú về Khôi – Việt ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Khôi Việt Mệnh Thân đa triết quế. (Ở Mệnh Thân thì danh cao vọng trọng. Nếu ở tam hợp chiếu mệnh kém đi) .

- Khôi Việt hiệp mệnh vi kỳ cách. (Giáp mệnh là cách kỳ lạ).

- Khôi Việt, Xương Khúc, Lộc Tồn phù, Hình Sát vô xung đài phú quí. (Mệnh Thân có Khôi Việt, Xương Khúc, Lộc Tồn không gặp Hình Sát xung quí đến bậc đại thần).

- Khôi  Việt  trùng  phùng  sát  tấu  cố  tật  vưu  đa.  (Gặp Dương  Đà,  Linh  Hoả,  Không Kiếp thường có tật).

Chú ý : Hai sao Thiên Khôi và Thiên Việt không thấy nói tới hãm địa. Chương sau ghi hai sao này thuộc hành hoả.

SAO LỘC TỒN

Hỏi : Sao Lộc Tồn chủ những điều gì ?

Đáp : Lộc Tồn Bắc Đẩu tinh, chân nhân chi tinh chủ về quí tước và thọ cơ của con người. Phò Tử Vi, Thiên Tướng để tăng quyền, phò Nhật Nguyệt để tăng huy (sáng). Trong mười hai cung, Lộc Tồn nên ở các cung Thân Mệnh, Điền Trạch, Tài Bạch thì giàu có. Vào cung Thiên Di tốt. Thủ cung Quan Lộc hay. Nếu một mình nó đứng cung Mệnh thường là loại thủ tài nô keo bẩn. Gặp sao tốt nó càng tốt hơn, gặp ác tinh nó bị khốn khổ. Lộc Tồn hãm khi gặp Không Vong, Hoả Tinh, Không Kiếp. Lộc Tồn vào nữ mệnh người nhân từ chính trực, con gái thanh tú, khéo léo. Có sự hợp tác của các sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đông, Lộc Tồn càng thêm hay.

Có bài ca như sau :

Bắc Đẩu, Lộc Tồn tinh

Số trung vi thượng cục

Thủ trí thân mệnh nội

 Bắt quí đa kim ngọc

 Thử vi địch cát tinh

Diệc khả đăng sĩ lộ

Văn nhàn hữu thanh danh

Vũ nhân hữu hậu lộc

Thường thứ phát hoạnh tài

Tăng đạo diệc chủ phúc

Quan lại nhược phùng chi

Đoán nhiên thực Thiên Lộc.

Nghĩa là:

Lộc Tồn Bắc Đẩu tinh, ở trong số là thượng cách. Thủ Thân Mệnh cung không sang cũng giàu. Lộc Tồn có thể tạo may mắn cho đường công danh. Văn nhân dễ nổi tiếng. Võ chức được bỗng lộc nhiều. Thường dân phát hoạnh tài. Đi tu thành quả phúc. Đang làm quan gặp hạn Lộc Tồn thế nào cũng có lộc trời rơi xuống. Sao Lộc Tồn thuộc hành thổ. Thập nhị cung đều là miếu địa. Không có hãm địa đối với Lộc Tồn.

Những câu phú về sao Lộc Tồn ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Lộc  Tồn  thủ  ư  tài  trạch  tích  ngọc  đôi  kim.  (Đóng  ở  hai  cung  Tài  Bạch  và  Điền Trạch, vàng ngọc đầy nhà).

- Lộc Tồn Tí Ngọ Thiên Di Thân Mệnh phùng chỉ lợi lộc nghi. (Ở Tí  Ngọ cung Thiên Di hay Thân Mệnh có Lộc Tồn lợi lộc vô số).

- Song lộc trùng phùng chung thân phú quí. (Thân Mệnh có Lộc Tồn thêm Hoá Lộc suốt đời giàu sang).

- Lộc phùng xung phá cát dã thành hung. (Lộc Tồn gặp xung phá cát chuyển thành hung).

- Song lộc thủ mệnh Lã Hậu chuyên quyền. (Mệnh có Lộc Tồn, Hóa Lộc bà Lã Hậu vợ vua Hán Cao Tổ nắm hết quyền bính).

- Lộc Tồn hậu trọng đa y lộc. (Thủ Mệnh người đầy đặn sống sung túc).

SAO THIÊN MÃ

Hỏi : Sao Thiên Mã chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Mã ở các cung đều có sự chế hoá, vào cung Thân Mệnh, gọi là Dịch Mã thì cần Lộc Tồn, Tử Vi, Thiên Phú, Xương Khúc thủ hay chiếu mới thật tốt. Đại Tiểu Hạn gặp Thiên Mã cũng cần những sao trên mới lợi. Đồng cung với Lộc Tồn kêu bằng Lộc Mã giao trì hay triết chiên mã. Đồng cung với Tứ Phú kêu bằng phù liễn mã tức ngựa kéo xe vua. Đồng cung với Hình Sát gọi là phù thi mã, ngựa mang sác chết. Đồng cung với Hoả Tinh gọi là chiến mã, ngựa trận. Đồng cung với Nhật Nguyệt kêu bằng thư hùng mã. Gặp Không Vong gọi là vong mã, ngựa lạc đường. Ơ nơi Tử Huyệt kêu bằng tử mã, ngựa chết. Gặp Đà la kêu bằng triết túc mã, ngựa què.Không thấy có bài ca nào về sao Thiên Mã.

Những câu phú ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư của sao này gồm có :

- Lộc Mã tối hỉ giao trì. (Mã cần gặp Lộc Tồn tức Lộc Mã giao trì cách ).

- Thiên Mã tử sinh, Thê cung phú quí hoàn đương phong tặng. (Sao Thiên Mã ở bốn cung tràng sinh gặp cung Thê ở đó, vợ con nhà phú quí còn được tặng phong tóm lại là số nhờ vợ).

- Mã  ngộ  Không  Vong  chung  thân  bôn  tẩu.  (Mã  gặp  Không  Vong,  suốt  đời  chạy ngược chạy xuôi).

Chú ý : Không thấy ghi sao Thiên Mã thuộc hành gì.

SAO HOÁ LỘC

Hỏi : Sao Hoá Lộc chủ những điều gì ?

Đáp : Hoá Lộc là thần của phúc đức, thủ Thân Mệnh hay dứng Quan Lộc cung gặp Hoá Khoa, Hoá Quyền tất làm đến bậc đại thần. Tiểu Hạn ngộ Hoá Lộc sẽ phát tài thăng chức. Đại Hạn 10 năm ngộ Hoá Lộc cát khánh. Hoá Lộc không sợ các ác tính như Dương Đà, Hoả, Kị xung chiếu. Số đàn bà Hoá Lộc thủ Mệnh thêm cát tinh tấu hợp là mệnh phụ. Đại Tiểu Hạn gặp Hoá Lộc nữ mạng không có sát tinh xung chiếu mới hay.

SAO HOÁ KHOA

Hỏi : Sao Hoá Khoa chủ những điều gì ?

Đáp  :  Trên  Thượng  giới  Hoá  Khoa  tinh  coi  về  thi  cử  văn  chương  nghiên  bút,  thủ  Thân Mệnh gặp Quyền Lộc chức vị nhất phẩm dù gặp ác sát tinh vẫn là loại văn chương tu sĩ vượt chúng siêu quần. Nữ mệnh có Hoá Khoa chủ qui không sợ gặp các ác tinh.

SAO HOÁ QUYỀN

Hỏi : Sao Hoá Quyền chủ những điều gì ?

Đáp : Hoá Quyền nắm giữ việc sinh sát, thủ Thân Mệnh cung hội với Hoá Khoa, Hoá Lộc là người xuất tướng nhập tướng, Khoa với Quyền gặp nhau thì văn chương quán thế. Tiểu Hạn có Hoá Quyền rất tốt. Đại Hạn thập niên ngộ Hoá Quyền tất nhiên đắc chí (trong sách viết là tất nhiên thất chí ?). Hoá quyền bị Dương Đà Hao Kiếp Không xung phá thường vì nghe lời sàm nịnh mà luỵ vào ách quan tụng đến nỗi bị cất chức, lưu đầy. Nữ mệnh có Hoá Quyền, người đàn bà tháo vát việc trong ngoài, xứng đáng ngôi mệnh phụ.

Sách Tử Vi đẩu số toàn thư không nói ba vị sao Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa hãm hay miếu địa nơi nào trong khi bài phú nôm của ta lại nêu miếu địa rõ ràng, tỉ dụ những câu :

Hoá Lộc thủ ở Mệnh cung

Tí Ngọ Mão Dậu là vùng tốt tươi

Hoá Quyền chủ thế anh hùng

Dần Mão Tị Hợi là cung miếu đường

Hoá Khoa chủ văn chương thi cử

Hợi Dần Thân Tị thủ Mệnh cung

Công danh khoa bảng tinh thông.

Những câu phú về ba sao Khoa, Quyền, Lộc ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Khoa Quyền Lộc hợp phú quí song toàn. (Có cả Khoa Quyền Lộc hợp chiếu giàu sang vẹn cả).

- Lộc Quyền mệnh phùng hợp cát uy quyền áp chúng tướng vương triều. (Có Lộc có Quyền ở Mệnh cùng với các sao tốt khác, uy quyền hơn người làm tướng trong cung vua).

- Quyền Lộc trùng phùng tài quan song mỹ. (Gặp Quyền Lộc tiền nhiều chức lớn).

- Khoa Mệnh, quyền triều đăng dung giáp đệ. (Hoá Khoa tại mệnh, Hoá Quyền chiếu đỗ đạt danh giá).

- Hoạt Lộc Tí Ngọ vị Thiên Di, Phu tử văn chương quán thế. (Cung Thiên Di ở Tí Ngọ cung xung chiếu có Thái Dương, Hoá Lộc Đức Khổng Phu Tử văn chương quán thiên hạ).

- Khoa  danh  hãm  ư  hung  thần  miêu  nhi  bất  tú.  (Nhật  ở  cung  Tuất,  Nguyệt  ở  cung Mão, Hoá Khoa khi ăn theo Nhật Nguyệt rơi vào hãm địa hoặc bị kình Đà, Kiếp Không xung phá tất khổ về thi cử, công danh).

- Quyền Lộc thủ tài phúc chi vị xử thế vinh hoa. (Quyền Lộc giữ cung Tài Bạch phúc đức người hào phóng, sang giàu ).

- Quyền Lộc cát tinh nô bộc vị, túng nhiên quan quí dã bôn trì. (Quyền Lộc đóng vào cung Nô Bộc nếu có được làm quan thì cũng khốn khổ, đôn đáo).

SAO HOÁ KỊ

Hỏi : Sao Hoá Kị chủ những điều gì ?

Đáp : Hoá Kị là đa quản (?) chi thần, ở Thân Mệnh suốt đời bất thuận. Tiểu Hạn gặp Hoá Kị một năm làm ăn không hay, Đại Hạn thì 10 năm lận đận. Đại Tiểu Hạn thêm Thái Tuế giao làm lại càng vất vả hơn, văn nhân vũ chức đều bọ tai hoạ bất ngờ về khẩu thiệt cũng như về tiền bạc, bán buôn. Nếu như hội được với Tử Vi, Thiên Phú, Xương Khúc, Tả Hữu còn đỡ. Nếu gặp luôn Tứ Sát hợp lại phá phách thì cả công danh lẫn tiền bạc chẳng mặt nào khá. Nữ mạng bần yểu chỉ trong vào hạn mà thôi.

Về sao này sách Tử Vi đẩu số toàn thư nói rất lơ mơ cho Hoá Kị hoàn toàn xấu đụng đâu hại đó. Nhưng sang nước ta, tiền nhân Việt lại có những lời giải về Hoá Kị kỹ càng hơn, nói : Hoá Kị không phải đụng đâu hại đó, tỉ dụ nó ở vào hai cung Tài Bạch và Điền Trạch lại rất đắc dụng một thứ thần giữ cửa giỏi giang, nó hội với Hoá Quyền lập tức biến thành người mưu lược, hội với Thanh Long, Long Đức biến ra đám mây che chở cho rồng vùng vẫy. Miếu địa của sao Hoá Kị là hai cung Tí Hợi, Hoá Kị tính chất thuộc hành thuỷ. Vượng địa của nó cũng ở các cung Dần, Mão,Dậu, Thân. Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ có hai câu thơ nói đến tính tốt của  Hoá Kị là :

Kị tinh nhập miếu phản vi giai

Túng hữu quan tai diệc bất thương.

Nghĩa là :

Sao Hoá Kị nhập miếu lại thành hay

Dù có gặp tai hoạ cũng chẳng hề hấn gì.

Còn câu thơ về tính tốt của Hoá Kị mà tiền nhân ta để lại phong phú hơn :

Hóa Kị chính sao Kế Đò

Am trần cơ sảo mưu đồ cạnh tranh

Hoá Kị hội với Quyền tinh

Đường mây nhờ ở mưu cơ tuyệt vời

Hợi, Tí, Dần, Mão, Dậu, Thân

Sáu cung vượng địa Kị tinh an bài.

SAO KÌNH DƯƠNG

Hỏi : Sao Kình Dương chủ những điều gì ?

Đáp : Kình Dương là trợ tinh của sao Bắc Đẩu, thủ Thân Mệnh tính thô bạo, cô độc, coi người thân thích như sơ tình, chịu ân trả oán. Nhập miếu địa tính tình quả quyết, quả đoán, cơ mưu thám hiểm, hiếu dũng ưa quyền. Hợp với ai sinh ở Bắc phương và ai sinh nhằm năm tứ mộ Thìn, Tuất,  Sửu,  Mùi  (?)  Kình  Dương  vào  các  cung  Mão,  Dậu  hay  tác  hoạ  gây  tai  ương  hình  khắc. Người  tuổi  Giáp,  tuổi  Mậu  tất  bị  hung  hoạ  dù  có  giàu  sang  cũng  chẳng  lâu  bền  lại  bất  thiên chung. Nếu có thêm Hoá Kị, Kiếp Không xung phá nữa thì tàn tật. Nữ mệnh Kình Dương nhập miếu có cát tinh trợ lực là thượng cách, nếu Hao cách xung phá thì khắc và hạ tiện.

Những câu phú về Kình Dương ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Kình Dương miếu địa Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Vượng địa Tí, Hợi, Thân, hãm địa Mão, Tị, Dậu, Ngọ.

- Kình Dương nhập miếu phú quí thanh dương. (Vào miếu địa phú quí danh vang) .

- Dương Hỏa đồng cung uy quyền áp chúng. (Kình Dương ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thủ Mệnh đồng cung với Hoả tinh thì uy quyền lớn).

- Kình Dương Tí, Ngọ, Mão, Dậu phi yếu triết tất hình thương. (Ở bốn cung hãm Tí, Ngọ, Mão, Dậu nếu không chết non yểu cũng tàn

tật. Ngọ nặng nhất thứ đến các cung khác).

- Kình Dương phùng Lực Sĩ Lý Quảng nan phong. (Kình Dương gặp sao Lực Sĩ nên Lý Quảng không nên danh phận).

- Kình Đà Hoả Linh, phùng cát phát tài ngộ hung tắc kị. (Bốn sao Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh gặp sao tốt phát tài, gặp sao hung đại kị) .

- Dương, Linh toạ Mệnh lưu niên Bạch Hổ tai thương. (Hai sao Kình Dương, Linh Tinh ngồi Mệnh cung, gặp lưu niên Bạch Hổ tất sinh tai vạ).

- Dương  Đà  hiệp  Kị  vi  bại  cục.  (Mệnh  có  Hoá  Kị  lại  giáp  Kình  giáp  Đà  La  là  số thuộc loại bại cục).

- Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, tuế diệt Dương Đà Canh mệnh hung. (Thủ Mệnh cung hoặc Kình Dương ở cung Dậu chiếu mệnh, lưu niên gặp lưu Dương lưu Đà nữa, người tuổi Canh rất xấu).

- Kình  Dương  trùng  phùng  lưu  Dương  Tây  Thi  khuynh  vẫn  thân.  (Mệnh  có  Kình Dương gặp lại lưu niên Kình Dương nên nàng Tây Thi bị hại) .

Về sao Kình Dương, Tử Vi đẩu số toàn thư với phú đoán của tiền nhân ta có điểm khác biệt nếu ta đem so hai câu :

Mệnh viên Ngọ toạ Kình Dương

Mã đầu đới kiếm biên cương trị vì

Với câu :

Kình Dương Tí, Ngọ, Mão, Dậu

Phi yểu triết tất hình thương.

SAO ĐÀ LA

Hỏi : Sao Đà La chủ những điều gì ?

Đáp : Đà La là trợ tinh của Bắc Đẩu, thủ ở Thân Mệnh thì lòng thường làm điều bất chính,dễ bị khóc thầm (ám lệ trường lưu), tính cương mãnh, hành động có thành cũng ngang mà phá cũng phá ngang, phiêu đãng bất định. Đi cùng với Tham Lang vì tửu sắc đến nỗi lao bệnh, đi cùng với Hoả Tinh hay mắc bệnh ngứa ghẻ. Ơ cung Tật Ach có ám tật. Những người tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Đà La miếu địa đi vào ngành võ rất hay, vào ngành văn lận đận. Đà La hãm địa thêm ác sát thì hình khắc. Nữ mệnh Đà La là hạ cách.

Những câu phú về Đà La ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Đà La miếu địa Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hãm địa Mão Dậu bình thường Tị Hợi.

- Đà La Tị, Hợi, Dần, Thân phi yếu triết nhi hình thương. (Ở các cung Tị, Hợi, Dần, Thân nếu không chết non, chết yểu cùng thành tàn phế. Theo kinh nghiệm của La Hồng Tiên thì trong trường hợp trên đây chỉ có cách bỏ tổ nghiệp đi tha hương tha xứ mới thoát khỏi).

Ngọc Thiềm tiên sinh có một bài tổng luận về Kình Dương, Đà La như sau :

/ Kình Dương, Đà La thuộc hành Hỏa Kim, vào số mệnh thường là tượng trưng của hung ách. Hoá khí của Kình Dương là Hình, hoá khí của Đà La là Kị. Nếu chúng xâm nhập vào các cung tam hợp xung chiếu Mệnh Thân mà gặp Tả Hữu, Xương Khúc trong người thế nào cũng có nốt ruồi lạ. Đà La, Kình Dương gặp Nhật Nguyệt, nữ mệnh khắc sát chồng con, nam mệnh khắc sát thê tử. Đồng cung với Nhật Nguyệt bị mục tật hay khắc cha khắc mẹ. Hội cùng Tham Lang vì rượu chè trai gái mà khốn khổ. Hội cùng Đào Hoa vì ăn chơi mà mang hoạ. Tụ tập với Hoả Linh thành kẻ gian manh /.

Ngoài ra,  phải kể đến cách Đà La độc thủ nghĩa là mệnh không chính tính mà Đà La thủ mệnh miếu địa kể vào thứ số lạ, anh hùng hoặc đại gian đại ác, lúc phát vận rất mau.

SAO HỎA TINH

Hỏi : Sao Hỏa Tinh chủ những điều gì ?

Đáp : Hi Di Trần Đoàn tiên sinh có bài ca rằng :

Hỏa Tinh đại sát tướng

Nam đẩu hiệu sát thần

Nhược thủ thân mệnh vị

Chư cung bất khả làm

Tính khí diệc trầm độc

Cương cường xuất chúng nhân

Mao phát đạt đa dị loại

Thần sỉ hữu thương ngàn

Cánh dữ Dương Đà  hội

Cưỡng bảo tất tai chuân

Quá phòng xuất ngoại dưỡng

Nhị tinh đông nam lợi

Bất lợi tây bắc sinh

Nhược đắc Tham Lang hội

Vượng địa quý vô luận

Phong hầu cư thượng tướng

Huân nghiệp trước biên đình

Tam phương vô sát phá

Trung niên hậu thuỷ hưng

Tăng đạo đa phiêu đãng

Bất thủ qui giới tâm

Nữ nhân vượng địa khiết

Hãm địa chủ tà dâm

Hình phu hựu khắc tử

Hạ tiện lao bác nhân.

Nghĩa là:

Hỏa Tinh là một đại sát tướng. Thường được gọi bằng sát thần. Nếu ở Thân Mệnh cung là người cương cường xuất chúng, tính khí trầm độc. Râu tóc kỳ lạ, môi răng có nhiều điểm đặt biệt. Hỏa Tinh không nên đóng tại các cung khác ngoài Thân Mệnh. Nếu nó gặp Dương Đà thì gian truân ngay từ thuở nhỏ. Nên gửi cho người khác nuôi. Hỏa Tinh lợi ở hướng Đông Nam. Bất lợi ở hướng Tây Bắc, người sinh tại Đông Nam hay hơn người sinh ở Tây Bắc. Tốt nhất cho Hỏa Tinh là đi cặp với sao Tham Lang mà ở vượng địa tướng ấn phong hầu có thể tới bậc thượng tướng, huân nghiệp tới mức khai quốc công thần nếu tam hợp không bị các ác tinh xung phá thì nhất định sẽ đại phát vào cuối vận trung niên. Số Hỏa Tinh thủ Mệnh thì dù có đi tu cũng phá giới. Nữ mạng Hỏa Tinh vượng đoan trang, thuần khiết nếu hãm địa lại tà dâm và hình phu khắc tử.

Những câu phú về Hỏa Tinh ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Hỏa Tinh miếu địa Dần, Ngọ, Tuất bình thường Tị, Dậu, Sửu, Hãm địa Hợi.

- Hỏa Linh tương ngộ danh chấn chư bang. (Hỏa Tinh gặp Linh Tinh ở Mệnh, tiếng tăm vang dội tới nước ngoài).

- Hỏa Linh hiệp mệnh vi bại cục. (Mệnh giáp Linh giúp Hỏa là bại cục).

Tiền nhân ta cho Hỏa Tinh hai nơi miếu địa nữa là cung Tí và Mão và đưa ra một câu phú khá quan trọng đối với sao này :

Hoá cư Hợi ngộ tuyệt đồng

Tham Linh củng hội lẫy lừng uy danh.

Nghĩa là :

Hỏa Tinh tuy ở hãm địa là cung Hợi hoặc gặp tuyệt địa của vòng Tràng sinh mà được gặp Tham Lang, Linh Tinh thì lẫy lừng uy danh.

SAO LINH TINH

Hỏi : Sao Linh Tinh chủ những điều gì ?

Đáp : Hi Di Trần Đoàn tiên sinh có bài ca rằng:

Đại sát Linh Tinh tướng

Nam đẩu vi tông thần

Trí nhân thân mệnh giả

Tính cách diệc trầm ngâm

Hình mạo đa dị loại

Uy thế hữu thanh danh

Nhược dữ Tham Lang hội

Chỉ nhật lập biên đình

Miếu địa tài quan quí

Hãm địa chủ cô bần

Dương Đà nhược tấu hợp

Kỳ Hình đại bất thanh

Cô đơn tính khí tổ

Tân thương đới tật nhân

Tăng đạo đa phiêu đãng

Hoàn tục định vô luân

Nữ nhân vô cát diệu

Hình khắc thiểu lục thân

Chung thân bất trinh khiết

Thọ yểu nhưng khôn bần

Thử tinh đại sát tướng

Kỳ ác bất khả cấm

Nhất sinh hữu hung họa

Tự thực vi hư tình

Thân Sát chủ trạn vong

Phá Quân tài ốc khuynh

Liêm Tú Dương Hình hội

Kiếp Không chủ đao binh

Hoặc ngộ Tham Lang Tú

Quan Lộc diệc bất ninh

Nhược phùng cư vượng địa

Phú quí bất khả luận.

Nghĩa là:

Linh tinh cũng thuộc lọai đại sát tinh. Thủ Thân Mệnh thì tính cách trầm ngâm lầm lỳ, tướng mạo kỳ quái nhưng có nét oai nghiêm, nếu gặp được sao Tham Lang thế nào công danh cũng hiển hách. Ơ miếu địa rất tốt, hãm địa thành kẻ cô bần lại thêm Dương Đà xung phá sẽ huỷ hoại tổ nghiệp hay tàn tật. Đi tu chẳng xong mà hoàn tục thì vô luân. Nữ mệnh có sao Linh Tinh tất hình khắc ít bà con họ hàng, suốt đời lăng nhăng tình trường  bất khiết, thọ hay yểu cũng vẫn lao đao bềnh bồng. Linh Tinh là đại sát tinh cho nên khi nó đã gây  ác hoạ thì khó lòng ngăn nổi khiến hung hoạ triền miền. Nó gặp Thất Sát bị chết nơi trận tiền, gặp Phá Quân vong gia bại sản, gặp Liêm Trinh, Dương Đà hay Kiếp Không có tai nạn về đao binh. Hãm địa gặp Tham Lang danh phận vất vả. Đắc địa gặp Tham Lang phú quí vô tả.

SAO THIÊN KHÔNG – ĐỊA KIẾP

Hỏi : Sao Thiên Không – Địa Kiếp chủ những điều gì ?

Đáp : Hai sao ấy thủ ở Thân Mệnh gặp tốt thì tốt gặp hung liền hung, nếu bị Tứ Sát xung chiếu nhẹ là loại hạ tiện, nặng là số mệnh của lục súc. Đi tu ở cửa thiền cũng bất chính, con gái làm tì thiếp hình khắc và cô độc. Đại Tiểu Hạn gặp Không Kiếp phá tài, phá nghiệp.Có câu ca rằng :

Kiếp Không vi hại tối sầu nhân

Tài trí anh hùng ngộ nhất thân

Chỉ hảo vi tăng tính học thuật

Đôi kim tích ngọc dã tu bần.

Nghĩa là :

Hai sao Không – Kiếp hại người

Dù cho tài trí anh hùng cũng lầm lỡ một đời

Chỉ nên đi tu hoặc vùi đầu vào đao lý

Dù có vàng ngọc chất đống rồi cũng cùng khốn.

Những câu phú về Thiện Không – Địa Kiếp ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Kiếp Không hiệp Mệnh vi bại cục. (Mệnh giáp Không giáp Kiếp là bại cục) .

- Kiếp Không lâm hạn Sử Vương táng quốc Lục Châu vong. (Gặp hạn Kiếp Không Sở Bá Vương đổ vỡ hết nghiệp lớn. Gặp hạn Kiếp Không, nàng Lục Châu người thiếp yêu của Thạch Sùng phải nhảy lầu tự tận).

- Sinh sứ Kiếp Không do như bán thiên triết kiều. (Nơi tràng sinh có Kiếp Không khác nào bay lên giữa tầng trời bị gẫy cánh).

- Kiếp Không lâm tài phúc chi hương sinh lai bần tiện. (Hai sao Kiếp Không rơi vàocung Phúc Đức và Tài Bạch mới sinh ra đã nghèo hèn).

Có một câu phú nôm về sao Thiên Không rất hay như sau :

Thiên Không hội với Đào Hoa

Cầm Kỳ thi họa tài ba tuyệt vời

Cơ mưu quyền biến hơn người

Ngàn năm mệnh bạc là đời tài hoa.

Chú ý : Sao Thiên Không con có một tên khác là Không Vong.

SAO THIÊN THƯƠNG – THIÊN SỨ

Hỏi : Sao Thiên Thương – Thiên Sứ chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Thương là sao chủ về sự hư hao còn Thiên Sứ là sao mang sứ mạng truyền đi. Lưu niên vận hạn, Thái Tuế gặp Thiên Thương, Thiên Sứ không cần hỏi đắc địa hay không đắc địa, nếu gặp cát tinh mới tốt, nhược bằng hội với Cự Môn, Thiên Cơ, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Hoá Kị tất năm ấy phá bại.

Có bài ca rằng :

Hạn chí Thiên Hao hiệu Thiên Thương

Phu tử tại Trần dã tuyệt lương

Thiên Sứ hạn lâm nhân cộng kị

Thạch Sùng cự phú phá gia vong.

Nghĩa là :

Đại Tiểu Hạn gặp sao Thiên Thương

Đức Thánh Khổng bị tuyệt lương ở nước Trần

Lại thêm sao Thiên Sứ nữa càng khó khăn hơn

Thạch Sùng cự phú mà mất hết nghiệp.

Những câu phú về sao Thương Sứ ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có :

- Thiên  Thương  gia  ác  diệu  Trọng  Ni  tuyệt  lương,  Đặng  Thông  vong.  (Hạn  Thiên Thương gặp ác tính, Khổng Tử hết lương ăn, Đặng Thông chết) .

SAO THIÊN HÌNH

Hỏi : Sao Thiên Hình chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Hình thủ Mệnh Thân nếu không đi tu thì cũng cô độc, lắm tai lắm nạn, không non yểu thì nghèo khổ. Anh em cha mẹ bất toàn. Hạn gặp Thiên Hình có quan tụng, mất tiền. Nhập miếu rất tốt.

Lại có bài ca rằng :

Thiên Hình vị tất thị hung tinh

Nhập miếu danh vi thiên Hỉ Thần

Xương Khúc cát tinh lại tấu hợp

Định nhiên hiển hách đáo vương đình

Hình cương Dần thượng tinh Dậu

Tuất Cánh làm Mão vị tự quang minh

Tất ngộ Văn tinh thành đại nghiệp

Trưởng ác biên cương bách vạn binh.

Nghĩa là :

Thiên Hình không hẳn là một hung tinh. Nếu nó nhập miếu lại là Hỉ Thần Hội với Xương Khúc và các sao tốt Sẽ là người quan trọng trong triều đình Sao Thiên hình ở cung Dần và Dậu Tuất Hoặc cung Mão tự nó sẽ sáng rực rỡ Gặp các Văn tinh mà thành đại nghiệp Nắm trăm vạn binh nơi biên cương.

Trong Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy ghi câu phú nào dành  riêng cho sao Thiên Hình. Còn theo phú đoán của tiền nhân ta có  mấy điểm cần biết như :

- Thái Tuế gặp Thiên Hình ở đâu là số lắm tai họa.

- Thiên Hình gặp Kình Dương và Kiếp Sát dễ vào tù.

- Cung tử tức có Hình Sát Hổ hiếm con.

SAO THIÊN RIÊU

Hỏi : Sao Thiên Riêu chủ những điều gì ?

Đáp : Thiên Riêu thủ Mệnh Thân tâm tính âm độc, đa nghi, ưa nhan sắc phng lưu, đa dâm. Vào miếu địa phú quí nhiều người hầu hạ. Cư   Hợi cung là người học thức. Hội với các ác tinh phá gia bại sản vì sắc dục mà mang tai mang tiếng hay phạm hình. Hạn gặp Thiên Riêu chẳng cần mai mối cưới hỏi cũng nên vợ chồng. Riêu đi cùng Tử Vi thì cương như tương tế, người phong nhã đa tình, thêm Hồng Loan nữa càng dâm dật, phóng đãng. Gặp Kình Dương, Thiên Hình chủ yếu :

Có bài ca rằng :

Thiên Riêu cư Tuất Mão Dậu du

Cánh nhập song ngư nhất tính cầu

Phúc hậu sinh thành đam tửu sắc

Vô tai vô hoạ độ xuân thu

Thiên Riêu tinh dữ bại tinh đồng

Hiệu viết nhân gian tảo khí thông

Tân khổ bình sinh qua nhất thế

Bất tằng an tích tại khách trung

Nhân thân ngẫu nhĩ trí Thiên Riêu

Luyến sắc tham hoa tính tảo hung

Thử diệu nhược cư sinh vượng địa Vị

đăng cực phẩm diệc phong tao.

Nghĩa là :

Sao Thiên Riêu ở cung Tuất, Mão, Dậu (câu thứ hai không rõ nghĩa) , lúc sinh ra đã sung sướng nhung lụa chỉ phải tính ham tửu sắc. Vô tai vô họa cuộc sống bình an.Thiên Riêu đi cặp với các bại tinh, được gọi là nhân giao tảo khí (?). Tất nhiên suốt đời tàn khổ, lưu lạc tha phương mà cũng chẳng yên. Mệnh có sao Thiên Riêu, thường luyến sắc tham hoa mà gặp phải điều không hay. Nhưng Thiên Riêu, cư vượng địa thì lại là con người hào hoa có danh có phận.

Trong Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy có những câu phú cho riêng sao Thiên Riêu. Phú nôm của tiền nhân ta có mấy câu về  Thiên Riêu dành cho số đàn bà như sau :

Hình Riêu phận gái Long đong

Nếu chẳng lộn chồng thì cũng phản pha

Thiên Riêu Long Phượng một nhà

Thiên hương quốc sắc nõn nà giai nhân

Đào Riêu số gái ai hay

Chồng ra khỏi cửa dắt ngay giai vào.

SAO THIÊN KHỐC –THIÊN HƯ

Hỏi : Thiên Khốc Thiên Hư chủ những điều gì ?

Đáp : Khốc Hư là hai ác tinh, vào Thân Mệnh tối phi thường (?), vào cung Phụ Mẫu phá của cha mẹ để lại. Ơ hãm địa thủ Thân Mệnh cùng khốn, cô độc một đời. Mưu việc phía đông, hỏng việc phía tây, tâm sự cay đắng hoang mang. Mão Dậu và Thân cung là chỗ tốt cho Khốc Hư, gặp các sao tốt thì danh phận hiển đạt.

Đại Tiểu Hạn gặp Khốc Hư thì ai ai khốc đoạn trường (khóc đến đứt ruột).

Trong Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy có những câu phú dành  riêng cho hai sao này. Còn phú nôm của tiền nhân ta :

Khốc Hư Tí Ngọ cung Mệnh thủ

Hội Mã Hình nghiệp võ hiển dương.

Cho ta biết Tí Ngọ mới là miếu địa của Khốc Hư không lấy Mão Dậu Thân như  La Hồng Tiên ghi lời Hi Di Trần Đoàn làm miếu địa.

TUẦN VÀ TRIỆT

Tuần và Triệt trong Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy có một lời giải đoán hay phú đoán nào cả. Triệt tức là Triệt lộ không vong và Tuần tức là Tuần trung không vong. Cả hai đều được Tử Vi đẩu số toàn thư kể như một loại không vong mang tác dụng như sao Thiên Không ở hãm địa vậy nghĩa là hoàn toàn xấu. Nhưng trên lý thuyết Tử Vi của tiền nhân ta, Tuần Triệt lại mang  nhiều tác dụng khác nhau. Chúng không chỉ đem hung họa đến mà còn đem cả cát phúc đến trong trường hợp sao Triệt gặp các ác tinh xung sát nó có thể hoá giải sự xung sát đó. Tiền nhân ta có  thể dựa vào câu : / Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng/ nghĩa là : ba phương xung sát may thay được sao Triệt nên mới vững lại. Ngoài ra, tiên nhân ta còn phân định mức độ tai hại của hai sao Triệt, Tuần tuỳ theo chúng gặp sao nào tỉ dụ : Sát phá Tham tối kị Triệt Tuần nhưng Phá Quân nếu gặp Triệt thì ít bị hại hơn hai sao kia vì lẽ Phá Quân thuộc Thuỷ mà Triệt là Kim đời Thuỷ. Trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư không hê nói Triệt và Tuần thuộc hành nào trong ngũ hành.

CHÙM SAO ĐI THEO LỘC TỒN

Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ đưa ra lời giảng vỏn vẹn bài phú ngắn như sau :

Bác sĩ thông minh lực sĩ quyền

Thanh Longhỉ khí tiểu hao tiền

Tướng quân uy vũ tấn thư phúc

Phi liêm chú cò, hỉ thần diên

Bệnh phù đới dật, hao thoái tổ

Phục binh quan phủ khẩu thiệt triền

Sinh niên toạ thủ thập nhị sát

Phương cảm đoán nhân hoạ phúc nguyên.

Nghĩa là :

Sao Bác Sĩ thông minh, Lực Sĩ chủ quyền, Thanh Longlà hỉ khí, Tiểu Hao là hư hao tiền bạc, Tướng Quân tượng trưng uy vũ, Tấn Thư chủ về phúc trạch, Phi Liêm đại biểu cho sự cô độc, Hỉ Thần vui, Bệnh Phù có tật bệnh, Đại Hao phá tổ nghiệp, Phục Binh quan phủ vạ khẩu thiệt.

Phải xét mười hai sát trên đây để đoán nguồn gốc hoạ phúc con người. Chú ý câu :

Bệnh phù đới tật hao thoái tổ An sao theo kiểu Việt thì sao Bệnh Phù không có trong chòm Lộc Tồn chỉ có sao Trực phù thôi còn sao Bệnh Phù lại bắn sang chòm Thái Tuế. Tiền nhân ta đã căn cứ vào bài phú về chòm sao Lộc Tồn trên đây để phát triển lời giảng đoán kỹ càng như sau :

Bác Sĩ : Chủ về văn chương bác học, nếu nó đi với sao Thiên Riêu – Thiên Y là cách thầy thuốc giỏi. Xin nhớ trong Tử Vi đẩu số toàn thư  không có sao nào gọi bằng Thiên Y.

Lực Sĩ : là dòng tinh có tác dụng tăng hung hoặc tăng cát khi nó đứng bên cạnh sao nào.

Thanh Long: Chủ về may mắn, có tốt lành tới, nó sẽ rất hay nếu đi cặp với Long Đức mà đứng tại cung Thìn, Thanh Longgặp Hoá Kị ví như rồng mây gặp hội. Thanh Longvới Long Đức đồng  cư  ở  Phúc  Đức  cung  là  nhà  có  mồ  mả  kết  phái.  Thanh  Long  đồng  cung  với  sao  Lưu  Hà (không thấy có trong Tử Vi đẩu số toàn thư  cái ngôi sao Lưu Hà này)  là rồng vào biển khơi tha hồ vùng vẫy.

Tướng Quân : Oai vệ, quyền thế, đi cặp với sao Thiên Tướng là lưỡng Tướng càng nhiều quyền thế. Tướng Quân hội với Bính, Hình, An (? ) thì võ nghiệp hiển hách. (Không biết ấn đâylà gì ? vì nên nhớ rằng hoá khí của Tướng Quân là ấn nếu vậy

sao không gọi là lưỡng tướng cách cho tiện, còn bảo có sao Quốc An thì Tử Vi đẩu số toàn thư không hề thấy sao này).

Tấu Thư : Chủ về sắc phong ấn tín, hội với Hoá Kị ở miếu vượng  địa là người tháo vát, giỏi giang, gặp Bạch Hổ trong Đại Tiểu Hạn thường đắc ý về công danh và hỉ sự, hội cùng với Vũ Khúc, Đào Hoa, Hỉ Thần có thiên hướng về nghệ thuật diễn xuất, sân khấu.

Phi Liêm : Đóng Thân Mệnh cung, con trai đa số goá vợ, con gái goá chồng vì sao này chủ về cô độc. Phi Liêm đóng tại Dần cung gặp Bạch Hổ ví như hổ mọc cánh bay. Phi Liêm ngộ Hoả Tinh, Thiên Hình có thể chết trận.

Hỉ Thần : Chủ về sự vui mừng, đi cặp với Thiên Hỉ là người phong lưu hồ hết lai có hồ vơi lại đầy, tính tình dễ vui. Đại Tiểu Hạn có Song Hỉ thường toại ý  bất ngờ, may mắn.

Bệnh Phù : Chủ bệnh tật nên nay ốm mai đau nếu ở cung Mệnh lại gặp sao Địa Kiếp thì bần khổ cơ hàn.

Phục Binh : Chủ về khẩu thiệt quyền biến giảo quyệt ở Mệnh cung thêm sát tinh là một tay thủ đoạn không thực với ai. Nhưng nếu hội với sao Thiên Hình Thiên Tướng thì nên vào võ nghiệp để mà hiển đạt. Gặp Địa Kiếp dễ bị mưu hại ngấm ngầm. Con gái Mệnh có sao Thai gặp Phục Bình ưa ngoại tình hoặc chửa hoang.

Quan Phủ : Chủ về miệng tiếng, kiện cáo, nó rất sợ hội với Liêm Trinh, Thiên Hình hay Thái Tuế nằm nơi hãm địa nhưng nếu những sao trên cư ở miếu địa thì Quan Phủ lại tốt, người có tài ăn nói.

ĐẠI TIỂU HAO

Hai sao này đóng ở đâu hao đấy, chỉ duy hai cung Mão Dậu được Song hao mỗi sao đóng một cung lại rất hay, nó thuộc cách chúng thuỷ triều đông trăm ngọn nước chảy về biển đông nhất là chính diệu của hai cung đó Cự Môn, Thiên Cơ, người giàu sang lắm. Tử Vi đầu số toàn thư trong chương An Sao còn đưa ra Phi Thiên, Tam Sát gây thành thắc mắc không nhỏ. Vì lẽ Tam Sát ấy không phải là sao nào khác lạ mà chỉ là ba sao thuộc chòm Lộc Tồn tức Tấu Thư, Tướng Quân và Trực Phù với cách an dưới đây :

Dần Ngọ Tuất niên phi nhập Hợi Mão Mùi cung.

Thân Tí Thìn phi nhập Tị Dậu Sửu cung.

Hợi Mão Mùi phi nhập Thân Tí Thìn cung.

Tị Dậu Sửu phi nhập Dần Tuất Ngọ cung.

Y nói người tuổi Dần Ngọ Tuất thì lần lượt theo thứ tự Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù an vào các cung Hợi rồi Mão rồi Mùi. Và cứ thế cho các tuổi khác.

Về lời giải đoán của Phi Thiên Tam Sát thì có bài ca rằng :

Tấu Thư khẩu thiệt hoạ lai xâm

Tướng Quân phi nhập hối tâm kinh

Trực Phù quan tai chung bất miền

Thử thị lưu niên Tam Sát tinh.

Nghĩa là :

Sao Tấu Thư có hoạ khẩu thiệt

Tướng Quân bay tới làm cho lòng kinh sợ

Trực Phù gây lôi thôi đáo tụng đình

Đó là ba lưu niên Sát tinh.

Khoa Tử Vi Việt Nam không hề nói tới Phi Thiên Tam Sát. Tại sao có sự khác biệt như vậy ? Lấy lý mà đoán thì có thể Tử Vi đẩu số toàn thư sai bởi lẽ nó tạo rắc rối vô cớ và thừa thãi vô ích. Biết đâu chẳng do mấy ông giang hồ thuật sĩ bịa thêm ra.

CHÒM SAO ĐI THEO THÁI TUẾ

Theo cách an sao của Tử Vi Việt thì đi theo Thái Tuế có mười một sao khác là : Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch  Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù mỗi cung an một sao cho đủ 12 cung.

Nhưng ở Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ có 4 sao đi theo Thái Tuế mà thôi. Bốn sao ấy là : TangMôn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phủ gọi là Tứ Phi tinh với lối an như sau :

Tuế Quân tiền nhị thị Tang Môn

Hậu nhị cung trung Điếu Khách tồn

Đối chiếu Tang Môn an Bạch Hổ

Điếu Khách đối chiếu an Quan Phù.

Nghĩa là :

Trước Thái Tuế hai cung an Tang Môn

Sau Thái Tuế hai cung an Điếu Khách

Cung đối chiếu với Tang Môn an Bạch Hổ

Cung đối chiếu với Điếu Khách an Quan Phù.

Tại sao có khác biệt như thế ? Cũng chẳng ai hiểu.Lấy lý đoán thì Tử Vi đẩu số toàn thư đúng hơn bởi lẽ những sao  thêm của Tử Vi Việt không thấy có tác dụng gì cả hình như chúng ngồi cho đủ chỗ vậy thôi, hoặc nếu có lời đoán nào thì đều hoàn toàn gượng ép. Tỉ dụ : Thiếu Am, Thiếu Dương ảnh  hưởng với số ra sao ? Chịu! Tỉ dụ : Tử Phù nếu hội với Thiên Lương, Đà La thường bị chứng đau  ruột, kiết lỵ ? Quá gượng ép !

Rút lại cũng chỉ còn bốn sao Bạch Hổ, Tang Môn, Điếu Khách, Quan Phù. Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy chép lời giải đoán cho bốn sao trên đây. Chỉ  Tử Vi Việt có lời giải đoán như sau :

- Điếu Khách : Chủ ngôn luận, văn chương, thi phú, Hội với Song hao, Tang Hổ là bộ bại tinh chủ phá tài sản, gia trang, gây tật bệnh hình thương.

Cư hãm địa, nói năng không cẩn trọng, ham mê chơi bời nhất là bài bạc và ly khắc tổ tông.Hội với Mã, Khốc lâm mệnh là người học vấn có tài hùng biện, mẫn tiếp rất khéo léo về ngoại giao.Mã Khốc Khách ví như ngựa có đủ bộ yên cương và nhạc.(Trích Tử Vi Ao Bí của Việt Viêm Tử)

- Quan Phù : Chủ thông minh, cơ mưu, quyền bính. Quan Phù rất hợp với Thái Tuế, Tuế Phá hay hội với Cơ Lương, Tang Hổ Hình miếu địa tăng thêm phần rực rỡ tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp và tính chất của các sao này. Hội với Tuế Đà Hình Kị cư hãm địa thì khó tránh được ngục hình hoặc thị phi nơi công môn.

Quan Phù Thái Tuế một đoàn

Đêm ngày chầu chực cửa quan mỏi mòn.

(Trích Tử Vi Ao Bí của Việt Viêm Tử)

- Bạch Hổ : Chủ oai hách quyền uy nếu ở miếu địa. Chủ hình thương tai hoạ nếu rơi vào hãm địa. Miếu địa cuả nó là cung Dậu vì theo Ngũ Hành Bạch Hổ thuộc Kim, Dậu cung là chính vị của Kim cho nên gọi bằng hổ khiếm tây phương cách (con hổ gầm thét  ở phía tây). Bạch Hổ cư Dần có người thì cho rằng rất tốt vì hổ cư hổ vị lại có người nói rằng không tốt vì cư Dần khác nào hổ đã xuất sơn làm dễ gây hiểm nguy. Rồi lại thêm thắt các cách khác như :

- Bạch Hổ hàm kiếm : nó hội Thiên Hình tại Dần cung nên càng tăng sức mạnh.

- Bạch Hổ Tấu Thư : là con hổ đội hòm sắc phong tặng.

- Bạch Hổ Kình Dương : là cách văn chương oai hùng.

- Giáp Hổ giáp Long : là bên cạnh cung Mệnh trước sau có cả Thanh Longlẫn Bạch Hổ.

- Phượng Long Cái Hổ : là tứ linh tức Phượng Các, Long Trì, Hoa Cái, Bạch Hổ. Hội đủ bốn sao này cho Mệnh Thân thì sẽ không còn sợ hung sát tinh nữa.

- Tang Môn : Không có lời giải đoán riêng cho sao này chủ về những gì. Chỉ thấy rải rác lại vài câu phú đoán.

LONG TRÌ – PHƯỢNG CÁC

Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho Long Trì Phượng Các, Tử Vi Việt giải đoán Long Trì, Phượng Các là những sao chủ về sự cao sang, đài các và vui mừng. Chúng đi với Nhật Nguyệt  rất hợp cách.

Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm như sau :

Phượng Long Mão Dậu đôi miền

Vượng thì Kim bảng đề tên ở đầu

Long Trì, Phượng Các hai sao

Cung Mùi cung Sửu đóng vào vượng thay

Riêu, Hỉ, Khốc rồng mây gặp hội

Chốn thi đình danh vọi vọi cao

Cái cùng Long Phượng Hồng Đào

Chủ quyền nội tướng anh hào hàng hai

Phượng Long giáp mệnh có tài

Trước sau vinh hiển ra ngoài nổi danh.

TAM THAI – BÁT TỌA

Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Tam Thai, Bát Toạ. Tử Vi Việt giải đoán Tam Thai, Bát Toạ là những sao nếu ở miếu địa chủ về văn chương, cát khánh, thanh quí dễ hiển đạt, nếu lạc vào hãm địa thì cô đơn, âm thầm.

Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm như sau :

Giáp Bát Toạ, giáp Tam Thai

Thiếu niên sớm dự lâu đài nghênh ngang

Hoả, Linh, Kình, Tấu đồng ban

Tung hoành bút phượng trong làng văn nhân

Bút hoa vùng vẫy phòng văn

Tài riêng thiên phú người Tân Tốn Đoài

Càn Hợi ngọn bút vẽ vời

Mão Dậu bùa ấn bút người pháp sư.

HỒNG LOAN – THIÊN HỈ

Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Hồng Loan, Thiên Hỉ . Nhưng trong / Mệnh học huyền vi trạch bí / có bài ca về Hồng Loan, Thiên Hỉ rằng:

Thiên Hỉ Hồng Loan nhập Mệnh cung

Xuất nhập cầu tài sự sự thông

Thả khán đào hoa khai diệm sắc

Trùng trùng tương ngộ quí nhân phùng

Hồng Loan Thiên Hỉ đa Đảm tửu hựu đảm nga Hữu thê sinh quí tử

Vô thê thú cá nộn kiều nga.

Nghĩa là :

Mệnh có Thiên Hỉ Hồng Loan

Làm việc gì cũng dễ trót lọt con người tài hoa

Nếu lại thấy cả hoa đào nở

Thì sẽ gặp nhiều quí nhân

Nhưng đồng thời cũng là người ưa tửu sắc

Có vợ, vợ sinh cho qúi tử

Chưa vợ lấy vợ đẹp tựa Hằng Nga.

Lời giải đoán về hai sao Hồng Loan Thiên Hỉ của tiền nhân ta có nhiều nét hay mà kỹ càng hơn như sau :

Hồng Loan tại Dần, Mão, Tí, Hợi là miếu địa chủ sự thông minh, hoà nhã đẹp đẽ hội với sao Tử Vi tất trai lấy vợ hiền, gái lấy chồng sang. Hồng Loan hãm địa là dâm tà đa đoan. Các cụ có bài phú rằng :

Sao Hồng Loan hội cùng Tử Phủ

Gái chính chuyên thục nữ ngàn xưa

Hồng Loan ngộ Kị cung Phu

Gái ngồi quạt mồ lòng dạ xôn sao

Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào

Câu ca điệu vũ nghề nào cũng tinh.

Sao  Thiên  Hỉ  tiền  nhân  ta  coi  nó  chủ  về  dung  mạo  tuấn  mỹ  hoặc  là  con  người  rất  có Sao Thiên Hỉ chủ mừng vui Thiên Hỉ thủ mệnh miệng cười có duyên

Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan

Ba sao đem lại hân hoan cho đời.

THIÊN ĐỨC –NGUYỆT ĐỨC

Không có lời đoán ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư. Chỉ có lời của tiền nhân ta rằng :

Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng

Trai lấy vợ đẹp gái chồng giàu sang

Thiên Nguyệt Đức toạ chiếu phương

Cùng là Quan Phúc trừ hung cứu người.

Những sao sau đây không có sự hiện diện trong Tử Vi đẩu số toàn thư : Cô Thần – Quả Tú– Hoa Cái – An Quang – Thiên Quí – Kiếp Sát – Phá Toái.

Theo Tử Vi Việt : Cô Thần, Quả Tú chủ về sự đơn côi, cô quả nếu chúng ở Thân Mệnh mà không có cát tinh. Hoa Cái miếu vượng Thân Mệnh cung ví như đã ngồi ngựa mà thêm lọng che, hãm địa (?) cô bần. An Quang, Thiên Quí chủ về ân phong và quí hiển nếu chúng vào cung Thân Mệnh thêm sang trọng hơn người.

SAO ĐẦU QUÂN

Cả Tử Vi đẩu số toàn thư lẫn lý thuyết truyền khẩu của khoa Tử Vi Việt đều không thấy nói rõ về sao Đẩu Quân. Tuy nhiên, trong thập nhị cung luận, Tử Vi đẩu số toàn thư lại thường nhắc đến sao này ở mỗi cung. Theo đẩu số mệnh lý của Vô Muộn thì Đẩu Quân là sao coi về nguyệt lệnh cho nên nó rất ảnh hưởng đến tiểu hạn.

Nhàn cung

Ta thường thấy từ ngữ Tử Vi những danh từ Nhàn Cung hoặc Lạc Nhàn như câu :

Trai bất nhân Phá Quân  Thìn Tuất Gái bạc tình Tham Sát nhân cung.

Vậy nhân cung là gì ? Nhân cung là nơi đất đắc địa cho một số sao.

Tử Vi đẩu số toàn thư định nghĩa nhân cung như sau :

Tử Vi tại Tí Thìn Hợi là nhân cung

Tham Lang tại Dần Thân là nhân cung

Thiên Tướng tại Thìn, Tuất là nhân cung

Thất Sát tại Thìn Hợi là nhân cung

Thiên Lương tại Tị là nhân cung

Thiên Cơ tại Tị là nhân cung

Phá Quân tại Tị Thân là nhân cung

Vũ Khúc tại Thân là nhân cung.

Như thế chỉ có nhân cung cho tám vị mà thôi còn Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm , Thái Dương, Liêm Trinh, Cự Môn không thấy ghi nhân cung, chắc câu thơ trên bị thất lạc. Vào nhân cung khả năng tốt sẽ bị giảm đến 80% hoặc nó sẽ gây  thành tính kỳ quặc mà hỏng việc, nhân cung nghĩa bóng của thất vị  thất nghiệp.

Vòng tràng sinh

Vòng tràng sinh không phải là những tinh đẩu cho nên chúng tôi sẽ nói trong chương luận về ngũ hành của Tử Vi.

Thập nhị cung luận

Thập nhị cung trên lá số mang ba nhiệm vụ.

Thứ nhất, chúng là đại biểu cho mười hai hàng chi để định ngũ hành hợp xung.

Thứ hai, chúng là những nơi để phân định miếu địa và hãm địa cho các sao.

Thứ ba, chúng là ý nghĩa của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức cha mẹ v.v... và quan trọng nhất là bản mệnh.

Hai nhiệm vụ một và hai đã nói rõ ở Chương Chủ tinh vấn đáp luận rồi. Ơ Chương này chỉ nói tới nhiệm vụ thứ ba thôi.Số mỗi người đều chia ra làm 12 cung :

a.       Mệnh cung nói đến dung mạo, tài năng, nhân cách và trình độ phát triển.

b.      Phụ Mẫu cung nói đến sự cát hung của cha mẹ duyên phận mình với cha mẹ, và ân huệ của cha mẹ đối với mình.

c.       Huynh Đệ cung nói đến anh em ruột thịt, bằng hữu thân thiết.

d.      Phu Thê cung nói đến quan hệ vợ chồng, hình dáng vợ chồng, sinh hoạt vật chất và tinh thần của người vợ hay người chồng.

e.       Nam nữ cung nói đến con cái và sinh hoạt về tình dục.

f.       Tài Bạch cung nói đến sự mạnh yếu của năng lực kinh tế, tài chính, tình hình thực lợi của sự nghiệp.

g.       Tật Ach cung nói đến thể chất và sức khoẻ.

h.       Thiên Di cung nói đến quan hệ của mình với xã hội và đối ngoại quan hệ.

i.        Nô Bộc cung nói đến người cộng tác với mình hoặc gia nhân bộ thuộc.

j.        Quan Lộc cung nói đến sự cát hung của chức nghiệp công danh.

k.       Điền Trạch cung nói đến gia đình sinh hoạt và các loại bất động sản.

l.        Phúc Đức cung nói đến thọ yểu và mức độ hưởng thụ trong đời như thế nào ?

Còn một cung nữa nhưng nó lưu động không có cung dành riêng nhất định là cung Thân, hoặc nó ở Phúc Đức, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di và Phu Thê hoặc nó đồng cung với Mệnh.

Tác dụng của cung Thân là gì ?

Sách Tử Vi đẩu số toàn thư có câu :

/ Mệnh hảo, thân hảo, hạn hảo đáo lão vinh xương /

Nghĩa là :

Cung Mệnh, cung Thân và Hạn đều tốt thì suốt đời vinh xương, yên ổn.

Mệnh với Thân khác nhau thế nào ?

Mệnh là Thể mà Thân là dụng.

Mệnh hảo, Thân hảo là cả thể lẩn dụng đều hay.

Mệnh hoại Thân hoại là cả thể lẩn dụng đều dở.

Mệnh tốt Thân xấu là thể hay mà dụng dở.

Mệnh xấu Thân tốt là thể dở mà dụng hay.

Có thể mà vô dụng thì phát sớm tàn sớm.

Có dụng mà vô thể thì thành công muộn màng chẳng được hưởng bao nhiêu.Trong trường hợp Thân Mệnh đồng cung tốt sẽ tăng tốt, xấu lại càng xấu. Thân ở cung Tài chủ phú, ở Quan Lộc chủ quí, ở Thiên Di chủ dựa vào quan hệ bên ngoài nhiều hơn trong nhà, ở Phu Thê con trai chủ có vợ hiền năng nhưng thường sợ vợ, con gái chủ có chồng cương cường và phục chồng tuyệt đối, ở Phúc Đức bất luận giàu nghèo đều ưa chuyện hưởng thụ, chờ may mắn.

Cường cung với nhược cung là gì ?

Xem số đàn ông ngoài Thân Mệnh cung còn có ba cường cung là Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di. Ngoài ra là nhược cung kể vào hàng thứ yếu. Nhưng  xem  số  đàn  bà,  ngoài  Thân  Mệnh  cung  ba  cường  cung  còn  lại  là  các  cung  Phu Quân, Phúc Đức và Tử Tức. Các cung khác kể vào hàng thứ yếu gọi là nhược cung.

Dưới đây là những lời giải đoán cho từng cung mà Tử Vi đẩu số toàn thư, và tôi xin nhắc lại cuốn sách này là của La Hồng Tiên biên chép những gì mà Hi Di Trần Đoàn tiên sinh đã dạy.

NHẤT MỆNH CUNG (NAM MỆNH)

Lần  lượt  kể  ảnh  hưởng  của  từng  sao  chính  cùng  sự  kết  hợp  các  sao  khác  đối  với  cung Mệnh qua những bài ca. Người ta thấy lời giải đoán ở Chương này không khác bao nhiêu so với lời giải đoán từng sao của Chương Chủ tinh vấn đáp luận. Tuy nhiên, cũng có thêm khá nhiều chi tiết cần thiết. Thiết tưởng cũng cần hiểu rằng phương pháp cổ nhân thường lặp đi lập lại nhiều lần qua các thể văn khác nhau để cho người học dễ nhập tâm mà xem tử vi có nhập tâm bởi đoán thì mới luận số một cách tinh tường được.

Thi ca giải đoán ở đây chia ra làm ba loại :

1.   Dành cho nam mệnh

2.   Dành cho nữ mệnh

3.   Dành cho vận hạn.

Tôi xin chỉ đưa vào Chương này loại một còn loại hai, ba tôi đưa xuống Chương luận về nữ mạng và Chương về vận hạn, theo thiển ý thì cắt ra như vậy đỡ làm rối người đọc.

Nam Mệnh Tử Vi ca

Tử Vi Thiên Trung đệ nhất tinh

Mệnh Thân tương ngộ phúc tài hưng

Nhược phùng Tướng Tá cung trung hội

Phú quí Song toànphan lệnh danh

Tử Vi thủ Mệnh tối vi lương

Nhị Sát phùng chi thọ bất trường

Dương Đà Hoả Linh lai tương hội

Chỉ hảo không môn lễ phạn vương

Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân

Phú nhi bất quí hữu hư danh

Nhược phùng Tham Lang tại Mão Dậu

Vi thần thất nghĩa bát tương ứng

Hỏa Linh Dương Đà lai tương hội

Thất Sát đồng cung đa bất quí

Khi nhân cô độc cánh Hình Thương

Nhược thị Không Môn vi cát lợi.

Nghĩa là :

Sao Tử Vi đệ nhất tinh trên bầu trời. Cung mệnh có Tử Vi, Phúc Lộc tiền tài hưng vượng. Nếu thêm Tướng Tá hội tụ tất phú quí Song toànvà tăm tiếng lẫy lừng. Tử Vi thủ Mệnh rất tốt nhưng nếu gặp Kiếp Không (nhị sát) thì không thọ, nếu gặp Dương Đà, Hoả Linh chỉ nên vào chùa. Tử Vi đóng cung Thìn, Tuất hội cùng Phá Quân có thể giàu mà chẳng sang loại hư danh nếu không muốn nói là tăm tiếng xấu. Tử Vi gặp Tham Lang tại cung Mão, Dậu là người ưa làm tôi bất trung. Bị Hoả Linh Dương Đà vây bọc thêm Thất Sát, người du thủ du thực bất quí, hay lừa dối, cô độc nên đi tu cho bớt nghiệp chướng.

Nam Mệnh Thiên Cơ ca

Cơ Nguyệt Thiên Lương hợp Thái Dương

Thường nhân phú túc trì điền trang

Quan Viên đắc ngộ Khoa Quyền

Lộc Chức vị cao thiên diện đế vương

Thiên Cơ Hoá Kị lạc nhân cung

Túng hữu tài quan diệc bất chung

Thoái tận gia tài kiêm thọ yểu

Phiêu bồng tăng đạo trú sơn trung.

Nghĩa là :

Thiên Cơ, Thái Âm , thiên lương hợp cùng với Thái Dương đắc địa thì kẻ tầm thường rồi cũng sẽ giàu sang nhà cửa. Nếu là người chức tước được thêm Khoa Quyền Lộc tất chức vị lên cao diện kiến đế vương. Thiên Cơ ngộ Hoá Kị lại ở nhàn cung (tức cung Tị) dù có chức vị tiền tài rồi cũng mất hết mà trở thành phiêu bồng tăng đạo.

Nam Mệnh Thái Dương ca

Mệnh lý Dương phùng phúc thọ nùng

Cánh kiêm Quyền Lộc lưỡng tương phùng

Khôi Xương Tả Hữu lai tương tấu

Phú quí Song toàntỉ Thạch Sùng

Nhật Nguyệt Sửu Mùi mệnh trung phùng

Tam phương vô hoá phúc nam phong

Cánh hữu cát tinh chung bất mỹ

Nhược phùng Tấu sát nhất sinh cùng

Thất hãm Thái Dương Cự phản bội

Hoá Kị phùng chi đa kiển muội

Hựu tạo hoành sự phá gia tài

Mệnh cường Hoá Lộc dã vô hại.

Nghĩa là :

Trong cung Mệnh có sao, Thái Dương thì phúc thọ nông hậu. Lại được thêm Quyền Lộc vàThiên Khôi, Văn Xương rồi Tả Hữu tất nhiên phú quí ngang với Thạch Sùng.Mệnh đóng tại hai cung Sửu, Mùi Thái Dương thủ, nếu tam hợp và cung chiếu không thấy Khoa Quyền Lộc là phúc bạc, lại bị thêm Sát tinh xung phá xuất đời bần cùng. Thái Dương Sửu Mùi dù cát tinh trợ lực mà không phải Khoa Quyền Lộc thì kết quả cơ nghiệp hoặc sự nghiệp cũng chẳng ra gì.

Thái Dương rơi vào hãm địa hội Hoá Kị việc gì cũng mờ ám trục trặc có thể gặp những vụ bất ngờ mà phá sản nghiệp. Nếu Mệnh cũng không bị khắc chế, vững vàng lại có Hoà Lộc thì đỡ hại.

Nam Mệnh Vũ Khúc ca

Vũ Khúc thủ Mệnh Hoá Vi Quyền

Cát diệu lai lâm phúc thọ toàn

Chí khí chanh vinh đa xuất chúng

Siêu phàm nhập thánh hướng nhân tiền

Vũ Khúc chí tình thủ Mệnh cung

Cát tinh thủ chiếu thủy xương vinh

Nhược gia Hao sát lai xung phá

Nhậm thị tài đa tất cánh không.

Nghĩa là :

Vũ Khúc thủ Mệnh hoà thành Quyền. Chung quanh có sao tốt thì hoàn toàn phúc thọ. Chí khí hơn người tinh thần cũng hơn người. Nếu bị nhiều sát tinh xung phá dù cho giàu có cũng sẽ lụn bại.

Nam Mệnh Thiên Đồng ca

Thiên Đồng du du thọ cánh trường

Nhược thị phúc nhàn cư miếu vương

Định giao thực lộc dự truyền dương

Thiên Đồng nhược dữ cát tinh phùng

Tính cách thông minh bách sự thông

Nam tử định nhiên thực thiên lộc

Nữ nhàn lạc thú tú phòng trung

Thiên Đồng thủ mệnh lạc nhàn cung

Hoả Đà sát hợp cánh vi hung

Thiên Cơ Lương Nguyệt lai tương hội

Chí Hảo không mòn độ tuế trung.

Nghĩa là :

Thiên Đồng toạ mệnh cung, tính tình ôn hoà tử tế có phúc lộc và đa thọ. Nếu đóng tại miếu vượng chẳng những ăn lộc còn danh tiếng nữa. Gặp cát tinh phò trợ, thông minh, lanh lợi làm việc gì cũng dễ lọt đàn ông thực thiên lộc, đàn bà sống trong nhung lụa. Thiên Đồng thủ Mệnh  tại  nhàn  cung  (nhàn  cung  của  Thiên  Đồng  trong  ca  quyết  về  nhàn  cung  ở  Chương  trên không thấy ghi ở đâu cho nên phải lấy hãm địa mà đoán) thêm Hoả Tinh, Đà La xung phá là rất hung dù được Nguyệt Lương tiếp ứng sũng chỉ nên an phận.

Nam Mệnh Liêm Trinh ca

Liêm Trinh thủ Mệnh diệc phi thường

Phú tính nguy nguy chí khí cường

Cách cố đính tàn quan đại quí

Vi quan thanh hiển tính danh dương

Liêm Trinh toạ Mệnh hiệu nhàn cung

Tham Phá Kình Dương hoả cánh trung

Tùng hữu tài quan Vi bất mỹ

Bình sinh hà dĩ đắc thung dung

Liêm Trinh lạc hãm nhập nhàn cung

Cát diệu tương phùng dã hữu hung

Yêu túc tai tàn nan thoát ách

Cánh gia ác sát mệnh coi chung.

Nghĩa là :

Liêm Trinh thủ Mệnh vốn con người phi thường chí khí ưa ngang ngược, nếu lên bằng con đường cách cố đỉnh tân (đường đấu tranh) có thể ở bậc đại quí làm việc giỏi giang.Liêm Trinh rơi vào nhàn cung (cũng không thấy ghi nhàn cung của Liêm Trinh trong nhàn cung ca quyết Chương trên) gặp Tham Lang, Phá Quân, Kình Dương dù có giàu sang nhưng rất bấp bênh nay còn mai mất. Liêm Trinh hãm địa (Tị Hợi) có sao tốt vây quanh vẫn hung, dễ bị  tàn tật thương tích nếuác sát nặng phải chết.

Nam Mệnh Thiên Phủ ca.

Thiên phủ chi tinh thủ Mệnh cung

Gia chi Quyền Lộc Hỉ tương phùng

Khôi Xương Tả Hữu lai tương hội

Phụ Phượng Phan Long thượng cửu thiên

Hỏa Linh Dương Đà tam phương hội

Vi nhân gian trá đa lao bác

Không Kiếp đồng viên bất vi giai

Chỉ tại Không Môn đã hưởng phúc.

Nghĩa là :

Thiên Phủ thủ Mệnh hội cùng Quyền Lộc và Xương, Khôi, Tả Hữu sẽ được dựa kẻ quyền quí mà có chức tước. Nếu Thiên Phủ bị Hỏa Linh Dương Đà vây hãm là người gian trá cuộc đời lận đận. Thiên Phủ bị Kiếp Không phá cũng không hay chỉ có thể hưởng phúc ở chốn thiền môn.

Nam Mệnh Thái Âm ca

Thái Âm nguyên thị thuỷ chi tinh

Thân Mệnh phùng chi phúc tự sinh

Dậu Tuất Hợi viên vi đắc địa

Quang huy dương hiển tính danh hanh

Thái Âm nhập miếu Hoá Quyền tinh

Thanh tú thông minh mai đẳng luân

Bẩm tính ôn lương cung kiêm nhượng

Vi quan thanh hiển liệt triều thân

Dần thượng Cơ Xương Khúc nguyệt phùng

Túng nhiên cát củng bất phong Long

Nam vi bộc tông nữ vi kỹ

Gia sát xung sát đáo lão cùng

Thái Âm hãm địa ác tinh trung

Đà Hoả tương phùng định khốn cùng

Thử mệnh chỉ nghi tăng dữ đạo

Không Môn xuất nhập đắc thung dung.

Nghĩa là :

Thái Âm là tinh hoa của hành thuỷ, đóng ở Thân Mệnh phúc lộc tư sinh, ở Dậu Tuất Hợi là đắc địa sáng rực rỡ và tiếng tăm. Thái Âm nhập miếu biến thành Quyền tinh, con người thanh tú siêu quần, bẩm tính ôn lương cung kiệm khiêm nhường làm quan thanh hiển trong triều.

Thái Âm tại Dần hội cùng Thiên Cơ, Xương Khúc dù có các sao tốt phù trợ cũng khó lòng làm nên cơ nghiệp, đàn ông đi hầu đàn bà, làm đĩ nếu gặp ác sát xung phá bần cùng đến già.

Nam Mệnh Tham Lang ca

Tứ mộ cung trung phúc khí nùng

Đề binh chỉ nhật lập biên công

Hỏa Tinh củng hội thành vi quí

Danh chấn chư di định hữu phong

Tham Lang thủ Mệnh đồng Dương cung

Đà Sát giao gia tất khốn cùng

Vũ Phá Liêm Trinh đồng Sát Kiếp

Bách nghệ phòng thân độ tuế chung

Tứ mộ Tham Lang miếu vượng cung

Gia lâm Tả Hữu phú tài ông

Nhược nhiên tái Hoá Khoa Quyền Lộc

Văn Vũ tài năng hiển đại công.

Nghĩa là :

Sao Tham Lang ở tứ mộ địa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) rất hay, nên hội với Hỏa Tinh tất oai quyền danh tiếng chấn động, cầm quân lập đại công.Tham Lang thủ Mệnh đồng cung với Kình Dương thêm Đà Sát âm lấn thì cuộc sống khốn cùng. Tham Lang đi với Vũ Khúc rất tốt nhưng lại ngộ Liêm Trinh Phá Quân, Không Kiếp làm ăn nghề nào ra nghề nào suốt đời vất vả. Tham Lang cư tứ mộ địa gặp Tả Hữu sẽ thành phú ông, có được Khoa Quyền Lộc nữa thì tài năng văn võ đều đủ.

Nam Mệnh Cự Môn ca

Cự Môn Tí Ngọ nhị cung phùng

Cực trung đắc ngộ dĩ vi vinh

Tam hợp hoá cát Khoa Quyền Lộc

Quan cao cực phẩm y tử bào

Thử tính hoá ám bất nghi phùng

Cánh hội hung tinh dữ tứ hung

Thần sỉ hữu thương kiêm tính mãnh

Nhược nhiên nhập miếu khả hoà

bình Cự Môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương

Linh Hỏa phùng chi sự bất tường

Vi nhân tính cấp da điên đảo

Liêm quyển chân châu toạ tú phòng.

Nghĩa là :

Cự Môn ở Tí Ngọ hợp với mệnh cục thế nào cũng vinh hiển, nếu tam hợp xung chiếu lại có Khoa Quyền Lộc tất là quan cao cực phẩm, được mặc áo bào đỏ. Cự môn khí hoá thành ám nếu ở hãm địa còn bị hung tinh phá phách  càng thêm tai họa, tính tình thô lỗ, dễ bị thương tích ở môi miệng, bị hung tinh phá phách mà Cự Môn miếu địa đỡ hại hơn. Cự Môn thủ Mệnh gặp sao Kình Dương và Linh Hỏa, mọi việc đều thành bất tường. Con người tính nóng nẩy điên đảo. Nếu là nữ Mệnh thì phòng không cô độc.

Nam Mệnh Thiên Tướng ca

Thiên Tướng tinh thần mại đẳng luân

Chiếu thủ Thân Mệnh hỉ vô ngần

Vi quan tất chủ cư nguyên tể

Tam hợp tương phùng khúc bất khinh

Thiên Tướng cát tinh vi Mệnh chủ

Tất định tư nhân đa khắc kỷ

Tài Quan Lộc chủ vượng gia tư

Quyền áp đương thời thuỳ bất mỹ

Thiên Tướngchi tinh phá Vũ đồng

Dương Đà Hỏa Linh cánh vi hung

Hoặc tác kỹ thuật Kình Thương bối

Nhược tại Không Môn hưởng phúc Long.

Nghĩa là :

Thiên Tướng là một vị tinh tú siêu quần, nó thủ Thân Mệnh la đáng mừng vô ngần, làm quan đến bậc tể tướng, tam hợp chiếu có Thiên Tướng phúc lộ không ít.Thiên Tướng làm chủ Mệnh cung là người cả quyết tự chủ ở chức vị giàu sang. Thiên Tướng gặp Vũ Khúc, Phá Quân và Dương Đà, Linh Hỏa nếu không làm thợ, làm lái buôn thì đi vào con đường tăng ni.

Nam Mệnh Thiên Lương ca

Thiên Lương chi diệu số trung cường

Hình Thần ẩn trọng tính ôn lương

Tả Hữu Khúc Xương lai hội hợp

Quản giao phú quí liệt triều cương

Thiên Lương tinh tú thọ tinh phùng

Cơ Nhật Văn Xương Tả Hữu đồng

Tí Ngọ Dần Thân vi nhập miếu

Quan tư thanh hiển chí tam công

Thiên Lương ngộ Hỏa lạc nhàn cung

Đà Sát trùng phùng cánh thị hung

Cô Hình đới tật phá gia tài

Không Môn kỹ thuật khả doanh công

Thìn Tuất Cơ Lương phi tiểu bổ

Phá Quân Mão Dậu bất vi lương

Nữ nhân đắc thử vi cô độc

Khắc tử hình phu thư lãnh phòng.

Nghĩa là :

Thiên Lương chính diệu là sao tốt của số, hình dáng bệ vệ ôn lương, gặp thêm Tả Hữu, Xương Khúc làm quan, phú quí.Thiên  Lương  ngộ  Thiên  Cơ,  Thái  Dương,  Văn  Xương,  Tả  Hữu  ở  miếu  địa  Tí  Ngọ  Dần Thân quan tư thanh hiển tới bậc tam công. Thiên Lương ngộ Hỏa Tinh nơi nhàn cư, bị Đà Sát sẽ gây hung họa, tật bệnh hao tán rồi phá nghiệp, đến nổi phải đi làm thuê làm mướn.Hai sao Cơ Lương, đóng tại Thìn, Tuất và sao Phá Quân ở Mão Dậu đều xấu. Nữ mệnh cô độc khắc tử hình phu.

Nam Mệnh Thất Sát ca

Thất Sát Dần Thân Tí Ngọ cung

Tây di củng thủ phục anh hùng

Khôi Việt Tả Hữu Văn Xương hội

Khoa Lộc danh cao thực vạn chung

Sát cư hãm địa bất kham ngôn

Hung hoạ do như bão hổ miên

Nhược thị Sát cường vô chế phục

Thiếu niên ác tử tại hoàng tuyền Thất

Sát toạ mệnh lạc nhàn cung

Cự tú Dương Đà cánh chiếu xung

Nhược bất thương chi tất tổn cốt

Không Môn tăng đạo khả hưng Long.

Nghĩa là :

Thất Sát đóng tại cung Dần Thân Tí Ngọ, rợ Tây di phải chấp tay chịu phục người anh hùng thêm Khôi Việt, Tả Hữu tụ hội thì khoa lộc danh cao giàu sang phú quí.

Thất Sát ở hãm địa hại vô tả, hung họa ví như ôm hổ dữ mà ngủ, nếu Thất Sát quá mạnh không bị chế phục có thể chết.

Thất Sát thủ Mệnh ở nhàn cung, thêm Cự Môn, Dương Đà chiếu xung nếu không gãy tay cũng chẹo xương nên tu tỉnh cho bớt ác nghiệp.

Nam Mệnh Phá Quân ca

Phá Quân Thất Sát dư Tham Lang

Nhập miếu anh hùng bất khả dương

Quan Vũ Mệnh phùng vi thương tướng

Thứ nhân phú túc trí điền trang

Phá Quân Tí Ngọ hội Văn Xương

Tả Hữu song song nhập miếu lang

Tài Bạch phong doanh đa khảng khái

Quan Lộc chiêu trước tá quân vương

Phá Quân nhất diệu tối nao đương

Hoá Lộc Khoa Quyền hỉ dị thường

Nhược hoàn hãm địa nhưng gia sát

Phá tổ ly tôn xuất viễn hương

Phá Quân bất hỉ tại Thân cung

Liêm Trinh Hỏa Dương Đà hội hung

Bất kiến thương tàn đích thọ yểu

Chỉ nghi tăng đạo độ bình sinh.

Nghĩa là :

Cả ba sao Phá Quân, Thất Sát, Tham Lang cư miếu địa hội tụ vào Mệnh cung tất là con người anh hùng. Quan Vân Trường có số này nên làm thượng tướng. Kẻ thôn dã sẽ giàu có ruộng vườn.Phá Quân đóng Tí Ngọ gặp Văn Xương có Tả Hữu thì tính tình khảng khái, tiền bạc đầy kho làm tới bậc công thần khai quốc.Phá Quân đóng đơn độc không hay nhưng nếu có Khoa Quyền Lộc hội thì lại tốt dị thường, bị rơi vào hãm địa sẽ bỏ tổ nghiệp mà đi tha hương cầu thực.Phá Quân không nên thủ ở Thân cung (Thân đây Thân Mệnh chứ không phải Thân tính theo hàng chi) lại có Dương Đà, Linh Hỏa xung phá dễ bị thương tàn và yểu chiết chỉ nên đi tu.

Nam Mệnh Văn Xương ca

Văn Xương toạ Mệnh vượng cung lâm

Chí đại tài cao để vạn kim

Văn nghệ tinh hoa tâm tráng đại

Tu giao bình bộ thương thanh xuân

Văn Xương thủ Mệnh diệc phi thường

Hạn bất yểu thương phúc thọ trường

Chỉ pha hạn xung phùng Hoá Kị

Tu giao yểu chiết đới hình thương.

Nghĩa là :

Có sao Văn Xương thủ Mệnh ở vượng cung, chí lớn tài cao, văn học tinh thông, đời cứ thênh thang mà tiến lên.Văn Xương thủ Mệnh là con người khác thường gặp hạn xấu không sợ, chỉ lo năm xung mà Văn Xương ngộ Hoá Kị có thể bị thương hoặc chết non yểu.

Nam Mệnh Văn Khúc ca

Văn Khúc thủ Mệnh tối vi lương

Tướng mạo đường đường chí khí ngang

Sĩ thứ phùng chi ưng phúc hậu

Trượng phu đắc thử thụ kim chương

Văn Khúc thủ viên phùng Hỏa Kị

Bất hỉ tam phương ác sát tụ

Thử nhân tuy sảo khẩu năng ngôn

Duy tại Không Môn khả ngộ quí.

Nghĩa là :

Sao Văn Khúc thủ Mệnh tốt lắm, tướng mạo đường đường chí khí hiên ngang, người sĩ thứ sẽ hưởng phúc hậu, kẻ trượng phu sẽ được phong tặng. Văn Khúc thủ Mệnh ngộ Hoá Kị, Hỏa Tinh là người biện thuyết tài  giỏi nhưng tam phương nên có ác tinh xung phá nữa mới hay, nếu có thì dễ chiêu hung hoạ.

Nam Mệnh Tả Phụ ca

Tả Phụ tôn tính năng giáng phúc

Phong lưu đôn hậu thông kim cổ

Tử Phủ, Lộc Quyền Tham Vũ hội

Văn quan vũ chức đa thanh quí

Dương Đà Hỏa Linh tam phương chiếu

Túng hữu tài quan phí cát triệu

Liêm Trinh Phá Cử cánh lai xung

Nhược bất tàn thương chung thị yểu.

Nghĩa là :

Sao Tả Phụ có thể giáng phúc là người đôn hậu thông kim cổ, nếu hội cùng Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Quyền và Tham Vũ, quan văn quan võ đều hiển quí.Tam phương Dương Đà Hỏa Linh chiếu, dù tiền nhiều chức trọng cũng  không bền. Gặp Liêm Trinh, Phá Quân, Cự Môn xung phá tất bị tàn tật hoặc yểu chiết.

Nam Mệnh Hữu Bật ca

Hữu Bật Thiên Cơ thượng tể tinh

Mệnh phùng trọng hậu tối thông minh

Nhược vô Hỏa Kị Dương Đà hội

Gia Cát tài quan quán thế anh

Hữu Bật tôn tinh nhập mệnh cung

Nhược hoàn sát tấu chủ thường dung

Dương Đà Không Kiếp tam phương tấu

Tu trì đới tật miễn tai hung.

Nghĩa là :

Hữu Bật là người có cơ mưu, thông minh, bệ vệ. Nếu không bị Hỏa Kị, Dương Đà xung phá lại được cát tinh phù trợ thì tiền tài, danh vọng dễ tìm.

Hữu Bật thủ Mệnh gặp nhiều sát tinh Dương Đà, Không Kiếp, người phải có tật mới mong tránh khỏi tai họa.

Nam Mệnh Lộc Tồn ca

Nhân sinh nhược ngộ Lộc Tồn tinh

Tính cách cương cường bách sự thành

Quan viên thiên hề Xương Khúc hội

Thao thao y lộc hiển môn đình

Lộc Tồn thủ Mệnh mạc phùng xung

Đà Hỏa giao gia phúc bất toàn

Thiên Cơ Kiếp Không Kị tương hội

Không Môn tăng đạo đắc thanh nhàn.

Nghĩa là :

Con người ta may mắn được gặp sao Lộc Tồn tính tình quả quyết làm việc gì cũng thành,có thêm Xương Khúc hội tụ thì y lộc, nhà cao cửa rộng mãi mãi.Lộc Tồn thủ Mệnh không nên gặp xung phá lại bị Dương Đà vây hãm, Lộc Tồn rất sợ sao Thiên Cơ với Kiếp Không. Nếu ở hoàn cảnh này chỉ nên vào chùa mới mong thanh nhàn.

Khôi Việt Nhập Mệnh ca

Khôi Việt Mệnh Thân hạn ngộ Xương

Thường nhân đắc thử túc tiền lương

Quan viên ngộ thử cao thiên dược

Tất định đương niên diện đế vương.

Nghĩa là :

Khôi  Việt  ở  Mệnh  Thân  đáo  hạn  gặp  Văn  Xương,  người  chưa  danh  phận  sẽ  tiền  lương sung túc, người đã có danh phận thì năm ấy sẽ gặp vua, lên chức cao.

(Chú ý : Khôi Việt là sao tốt cho cả nam lẫn nữ Mệnh, nên không phân biệt Nam nữ).

Nam Mệnh Kình Dương ca

Lộc tiền nhất vị an Kình Dương

Thượng tướng phùng chi phúc lộc gia

Cành đắc quí nhân tương thủ chiếu

Binh quyền vạn lý tráng hoàng gia

Kình Dương thủ Mệnh tính cương cường

Tứ mộ sinh nhân phúc thọ trường

Nhược dắc Tử Phủ lai tương hội

Tu tri tài cốc phú sương sương

Kình Dương nhất diệu lạc nhân cung

Đà Hoả xung hề tiện thị hung

Cánh nhược Thân Mệnh đồng Kiếp Sát

Định nhiên yểu tuyệt tại đồ trung.

Nghĩa là:

Kình Dương an tại trước sao lộc một cung con nhà võ gặp Kình Dương phúc lộc gia tăng còn được thêm quy nhân thủ chiếu thì binh quyền vạn lý đánh đông  dẹp bắc. Sao Kình Dương thủ mệnh tính nết cứng rắn, tứ mộ là nơi miếu địa của Kình Dương, KinhDương ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi số mới thọ, lại có tử phụ hội hợp  tiền tài thóc gạo đầy kho.Kình Dương một mình rơi vào nhân cung, bị Đà La, Hoả Tinh xung phá rất hung lại thêmKiếp Không có thể chết đường.

Nam Mệnh Đà La ca

Đà La Mệnh nội toạ trung tồn

Cánh hỉ nhân sinh tứ mộ trung

Tài đắc Tử Vi Xương Phủ hội

Tài lộc phong doanh viễn phan danh

Đà La tại hãm bất kham văn

Khẩu thiệt quan phi nhất thế xâm

Tài tán nhân ly nhập cô độc

Sở vi sở tác bất như tâm

Nghĩa là:

Đà La thủ Mệnh tối hỉ tứ mộ địa, có Tử Vi thiên phủ hội hợp, tiền tài danh vọng đều hay.

Đà La ở hãm địa dễ bị vướng vào thị phi khẩu thiệt , tiền mất người xa, làm việc gì cũng chẳng toại ý.

Nam Mệnh Hoả Linh ca

Hoả linh nhị diệu cư miếu địa

Tham Lang Tử Phủ nghi tương hội

Vi nhân tinh cấp hữu uy quyền

Chấn áp hương bang chung hữu quy

Hoả Linh tại Mệnh lạc nhân cung

Tây bắc sinh nhân tác sự dung

Phá tận gia tài chung bất cửu

Tu giao đời tật miễn tai hung

Nghĩa là:

Hoả Tinh, Linh Tinh đóng miếu địa rất cần có Tham Lang, Tử Vi, Thiên Phủ hội tụ thì mới thành uy quyền, chấn áp hương bang mà quy hiển Hoả Tinh thủ Mệnh vào nhân cung, người sinh phía tây bắc làm việc khó thành dù đã phá hết tổ nghiệp vẫn chưa hết tai ương còn phải có tật mới tránh được hung hoạ.

Thiên Không Địa Kiếp nhập Mệnh ca

Mệnh toạ Thiên Không định xuất gia

Văn Xương, Thiên Tướng  thực kham khoa

Nhược phùng tứ cát đồng Thân Mệnh

Thụ ấm thừa ân phúc khả giai

Địa kiếp tòng lai sinh phát tật

Mệnh trung tương ngộ đa thu khanh.

Nghĩa là:

Sao  Thiên  Không  thủ  Mệnh  là  số  xuất  gia  (đi  tu)  được  Văn  Xương,  Thiên  Tướng  đáng mừng (?) lại có thêm các sao tốt tụ tập thì dược phúc ấm của tổ tiên.

Sao Địa Kiếp vào Mệnh đã có tật bệnh ngay từ lúc mới ra đời, cuộc sống như sâu bọ, nếu gặp Dương Đà thì tàn khổ chẳng biết đến thế nào (lờ i giảng đoán về sao Thiên Không Địa Kiếp trong Tử Vi đẩu số toàn thư còn nhiều thiếu sót vì nó hoàn toàn xấu  không có chỗ đắc vị. Theo Tử Vi Việt thì hai sao Không Kiếp sẽ cực nếu chúng được đóng vào hai cung Tỉ Hợi miếu địa).

Địa Kiếp là tối hung thần

Đóng đâu hại đó mười phần hiểm nguy

Hai cung Tỉ Hợi miếu vì

Hoạnh phát, hoạnh phát tựa thì sấm ran.

Hoá lộc nhập Mệnh ca

Thập thiên Hoá Lộc tối vi vinh

Nam Mệnh phùng chi phúc tự thân

Vũ chức đề danh biên tái thư

Văn nhân danh dự mãn triều đình

Lộc chủ Thiên Đồng ngộ Thái Dương

Thường nhân đại phú túc điền trang

Tư tài lục súc giai sinh vượng

Pham hữu thi vi tận cát tường

Nghĩa là :

Sao Hoá Lộc bao giờ cũng đem đến sự vinh hiển, đàn ông có Hoá Lộc ở Mệnh tự nhiên phúc tới làm về võ tên tuổi dậy biên cương, làm về văn danh tiếng mãn triều đình. Hoá  Lộc.  Thiên  Đồng  gặp  Thái  Dương,  dân  giả  cũng  trở  thành  đại  phú,  nhà  cửa  ruộng vườn lục súc đều hưng vượng, làm việc gì cũng hay, cũng tốt.

Nam Mệnh Hoá Quyền ca

Quyền tinh tối hỉ cát tinh phù

Sự nghiệp hiên ngang đảm khi ưu

Cánh trí Cự Môn kiêm Vũ diệu

Tam viên trấn thủ trưởng binh phù.

Nghĩa là :

Sao  Hoá  Quyền  cần  được  các  sao  tốt  phù  trợ  thì  sự  nghiệp  hiên  ngang,  đảm  lượng  hơn người. Hội với Cự Môn, Vũ Khúc thì trấn thủ biên cương, nắm quyền vạn binh.

Nam Mệnh Hoá Khoa ca

Khoa tinh văn tú tối vi kỳ

Bao tàn cẩm tú mỹ văn chương

Nhất được Vũ Môn Long biến hoá

Quản giao thanh đạt dự triều đường

Khoa tinh nhập Mệnh khởi tầm thường

Cẩm tú tài hoa triển miếu đường

Cảnh ngộ Khúc Xương Khôi Việt tú

Long môn nhất được tính danh dương.

Nghĩa là :

Sao Hoá Khoa là văn tinh, thủ Mệnh cung là người văn chương cẩm tú, thi đỗ cao như cá vượt vũ môn thành rồng bay, hiển đạt chốn triều đường.

Sao Hoá Khoa nhập Mệnh không phải loại tầm thường, hội với Xương Khúc, Khôi Việt công danh sáng lạng.

Nam Mệnh Hoá Kị ca

Chư tinh Hoá Kị bất nghi phùng

Cánh hội hung tinh dũ tứ hung

Nhược đắc cát tinh lai trợ cứu

Túng nhiên phú quí bất phong Long

Tham Lang Phá Quân cư hãm địa

Ngộ cát, Hoá Kị chung bất lợi

Nam vi giang đạo nữ vi sương

Gia sát chiếu mệnh vô miên thuỵ

Nghĩa là:

Hoá Kị là sao không nên gặp. Gặp nó rồi lại bị thêm các hung tinh thì càng hung. Dù có cát tinh trợ cứu khiến cho giàu sang nhưng cái giàu sang đó thường đi kèm với nhiều lo lắng.Hai sao Tham Lang, Phá Quân cư hãm địa dù có Hoá Kị đắc địa cũng bất lợi. Đàn ông trộm cắp, đàn bà đĩ điếm, nếu thêm sát tinh tất cuộc đời ăn ngủ không yên.

Thái Tuế Nhập Mệnh ca

Thái tuế chi tinh bất khả đương

Thủ lâm quan hạn yêu suy tường

Nhược vô cát diệu lai tương trợ

Vị miễu quan tai náo nhất trường.

Nghĩa là :

Sao Thái Tuế vốn mang tinh chất hung tai, nếu có nhật hạn hoặc đóng cung Quan hãm địa mà không có cát tinh phù trợ, người chức vị thường gặp lắm chuyện phù trầm.Phú đoán của tiền nhân ta về hai cung Thân Mệnh ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

a)       Những người niên thiếu công danh

Hồng Loan Bát Toạ ở minh không sai.

b)      Phủ phùng Không xứ tài suy

Chung thân nam bảo tư cơ lưu truyền

c)      Mấy người bất hiển công danh

Chỉ vì Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi.

d)      Phượng Long Mão Dậu đôi miền

Vượng thì kim bảng ghi tên hàng đầu

e)       Công danh đợi tuổi tác cao

Giáp Liêm giáp Sát một hào không sai.

f)       Dương Đà xâm chiếm Mệnh viên

Nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa.

g)      Tham Liêm Tị Hợi không bàn

Chàng Tiêu thủa trước tàn toan ngục hình.

NHỊ THIÊN DI CUNG

Có sao Tử Vi, Tả Hữu xuất ngoại được quí nhân phù trợ phát phúc, cùng Thiên Phủ xuất nhập thông  đạt,  cùng  Thiên  Tướng  tại  ngoại  xuất  tài,  cùng  Phá  Quân  thân  với  quí  nhân,  bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp  ra ngoài bất an.

Có sao Thiên Cơ xuất ngoại gặp quí nhân, ở nhà hay mang tiếng thị phi. Cùng Cự Môn cần phải hoạt động mới hay; Cùng Thiên Lương xuất ngoại xứng ý ; Cùng

Thái Âm gặp sự hoang mang thường có ; Bị Dương Đà, Linh Hoả xuất ngoại phải đối đầu với nhiều bất trắc.

Có sao Thái Dương nên xuất ngoại mới phát phúc, là người không thể tĩnh thủ ; Cùng Thái Âm m xuất ngoại lúc cấp bách chuyển thành hay ; Cùng Cự Môn lao tâm; Bị Dương Đà Hoả Linh, Không Kiếp tại ngoại thân tâm bất thanh nhàn.

Có sao Vũ Khúc đối phó với bên ngoài cần tĩnh thủ đừng lật đật  lúc cấp bách ; Cùng Tham Lang thường là tay kinh doanh lớn ; cùng Thất Sát, Phá Quân là người ưa hoạt động, táo cấp ; bị Dương Đà, Linh Hoả dễ mang tiếng thị phi .

Có sao Thiên Đồng xuất ngoại có quí nhân phù trợ ; Cùng Cự Môn lao tâm khổ trí ; Cùng (đồng cung) Thái Âm tàn khổ ; Cùng Thiên Lương dễ thân với quí nhân ; bị Dương Đà, Linh Hoả, Kiếp Không tại ngoại bất toai chí.

Có sao Liêm Trinh xuất ngoại thông đạt cận quí không nên do đó trong nhà ; Cùng Tham Lang cần thả câu lúc nước đục ; cùng Thất Sát ra ngoài làm ăn ra tiền ; Cùng Thiên Tướng nên  luôn  luôn  hoạt  động  ;  bị  Dương  Đà,  Linh  Hoả,  Kiếp  Không  xung  sát  có  thể  chết đường.Có sao Thiên Phủ xuất ngoại có quí nhân phù trợ ; cùng Tử Vi phát phúc ; Cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc  giữa  khi  thiên  hạ  hoang  mang  thì  mình  hoạt  động  dễ  phát  tài,  thường  là  tay  cự thương.

Có sao Thái Âm nhập miếu xuất ngoại gặp quí nhân, hoạnh phát tài sản, hãm địa chiếu thị phi; Cùng Thái Dương rất tốt ; Cùng Thiên Đồng miếu vượng địa xuất ngoại tay trắng làm nên cơ đồ.

Có sao Tham Lang độc thủ tại ngoại lao bác nhưng hay gặp dịp hoạnh tài mới liều lĩnh; Cùng Liêm  Trinh  thêm  Tứ  Sát  tại  ngoại  tân  khổ  ;  Cùng  Vũ  Khúc  là  tay  doanh  thương  ; 

Có Dương Đà, Linh Hỏa Không Kiếp hao sát thường bị họa chiến chinh.

Có sao Cự Môn ra ngoài lao tâm bất an, luôn luôn gặp chuyện thị phi, thêm Không Kiếp, DươngĐà, Hoả Linh càng xấu nữa.

Có sao Thiên Tướng xuất ngoại có người đề bạt, nâng đỡ ; Cùng Tử Vi càng tốt, cùng Vũ Khúc tại ngoại phát tài ; Cùng Liêm Trinh thêm Dương Đà, Linh Hoả

chiếu thị phi.

Có sao Thiên Lương xuất ngoại cận quí ; Cùng Thiên Đồng phúc hậu ; Cùng Thiên Cơ  thường ra đời bằng khả năng nghệ thuật.

Có sao Thất Sát sống ở bên ngoài nhiều hơn sống trong nhà ; Cùng Vũ Khúc nên hoạt động mới hay ; Cùng Liêm Trinh tại ngoại sinh tài cùng Tử Vi ra ngoài được toại chí ; Có Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp lênh đênh góc bể chân trời.

Có sao Phá Quân xuất ngoại lao bát, dù nhập miếu tại ngoại cuộc sống cũng bấp bênh nay khá mai tàn; Bị Dương Đà, Linh Hoả xung bôn tẩu ; Được Xương Khúc, Vũ Khúc là người rất tháo vát.

Có sao Văn Xương xuất ngoại ngộ quí phát đạt, kị Dương Đà, Hoả Linh, Không Kiếp.

Có sao Văn Khúc tại ngoại tận quí, thêm cát tinh phù trợ đắc tài, bị Dương Đà, Linh Hỏa ít toại chí.

Có sao Tả Phụ cần hoạt động luôn mới dễ gặp quí nhân phù trì ; Gặp Dương Đà, Linh Hỏa dễ tai tiếng thị phi.

Có sao Hữu Bật xuất ngoại ngộ quí nhân phát đạt, không nên tĩnh thủ ; Gặp Dương Đà, Linh Hỏa ra ngoài thường tranh cạnh xung đột với người.

Có sao Lộc Tồn xuất ngoại y lộc toại tâm, gặp Dương Đà, Linh Hoả không Kiếp thường bị thua thiệt.

Có sao Kình Dương nhập miếu ra ngoài áo mũ bổng lộc, phát tài bằng sự quấy đảo ; Ở hãm địa chỉ là loại tay sai dao búa.

Có sao Đà La thêm cát tinh tại ngoại ngộ quí đắc tài hãm địa lại bị Kiếp Không, Linh Hoả, Kình Dương sẽ dính vào nhiều chuyện thị phi, cư nhân hạ.

Có sao Hoả Tinh độc thủ xuất ngoại bất an, được cát tinh phù trì hay hoạnh tài ; Bị Dương Đà, Linh Hoả Không Kiếp bất toại chí.

Có sao Linh Tinh được cát tinh trợ lực xuất ngoại tốt, bị Dương Đà, Hỏa Tinh ,Không Kiếp xấu.

Phú đoán nôm của tiền nhân ta về cung Thiên Di ra sao? Xin lược chép dưới đây:

a)       Thiên Di ấy mã binh ngồi

Đánh đông dẹp bắc pha phôi cõi ngoài

b)      Long đong đông tẩu tây trì

Chẳng qua thiên mã Thiên Di hãm nhân

c)      Thiên Di Nhật Nguyệt giáp đôi

Nhất sinh xuất ngọai nhiều nơi thế thần.

d)      Thiên Di, Hoá Kị ra ngoài

Kẽ thù người oán chẳng ai gần mình.

e)       Thiên Di Địa Kiếp cơ Liêm

Hồ qui phách lạc cánh tiên lánh phàm.

f)       Quan cung Hỉ ngộ Hồng Đào

Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào.

g)      Thiên Di Hoa cái Hỉ Thần

Thiên Di Phụ bật qúi nhân yêu vi.

h)      Chơi bời du thuỷ du san

T       hiên Di ngộ Mã gặp chằng Đà La.

TAM QUAN LỘC CUNG

Có sao Tử Vi miếu vượng địa hội Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt  chức vị đến phong hầu bá; bị Dương Đà, Linh Hoả tầm thường ; cùng Thiên Phủ quyền quí danh lợi lưỡng toàn, thêm Thiên Tướng nội ngoại quyền quí ; cùng Phá Quân trong khi thiên hạ sóng gió mà mình yên ổn (náo trung an thân) .

Có sao Thiên Cơ nhập miếu quyền qúi hội Văn khúc làm lương thần có thấy Dương Đà, Linh Hỏa mới tốt ( kiến Dương Đà Hỏa Linh phương nghi) cùng Thiên Lương tài  kiêm văn võ; cùng Thái Âm danh chấn biên di ; ở hãm địa thoái quan thất chức.

Có sao Thái Dương nhập miếu văn võ đều hay, miễn là đừng có Hỏa Linh, Dương Đà xung phá ; cùng Thái Âm qui hiển; cùng Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt thêm

Khoa Quyền Lộc làm tới bậc nhất phẩm tể tướng.

Có sao Thiên Đồng văn võ đều có khả năng nhưng cần không gặp Dương Đà, Linh Hoả; cùng Cự Môn làm ăn trước nhỏ sau lớn ; hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi việt càng hay ; cùng Thiên Lương quyền quí ; cùng Thái Âm hãm địa rất xấu.

Có sao Vũ Khúc nhập miếu đồng cung lại có Tả Hữu, Xương Khúc ở võ chức dễ làm lớn , được thêm Khoa Quyền Lộc còn giàu sang ; cùng Tham Lang thường là tham ô chi quan ; cùng Phá Quân là người tạo sự nghiệp trong quân lữ ; cùng Thất Sát lập công danh do những trường hợp đặc biệt ; ở hãm địa bị Kinh Đà, Linh Hỏa xung phá công danh vô phận.

Có sao Liêm Trinh nhập miếu thì võ chức quyền quí lâu bền ; cùng Tham Lang thường leo lên quyền quí trong thời loạn (náo trung quyền quí).

Có sao Thiên Phủ nhập miếu văn vũ đều hay nếu không bị Dương Đà, Linh Hoả, Kiếp Không; cùng  Tử  Vi  văn  vũ  thành  danh  ;  cùng  Liêm  Trinh,  Vũ  Khúc  quyền  quí  nếu  gặp  Không Kiếp bình thường.

Có sao Thái Âm nhập miếu qui hiển, hãm địa là người kiêu căng phá ngang khó lòng hiển đạt, hội cùng Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu làm tới bậc tam phẩm ; cùng Thiên Đồng văn vũ đều hay ; cùng Thiên Cơ náo trung tiến thân.

Có sao Tham Lang nhập miếu ngộ Hoả Linh thì ở vũ chức nắm đại quyên ; cùng Tử Vi có thể quyền  quí  về  văn  cũng  như  võ.  Tham  Lang  hãm  địa,  làm 

quan  tham  ô,  bị  Dương  Hà, Không Kiếp tầm thường.

Có sao Cự Môn nhập miếu vũ chức quyền quí, văn chức không lâu bền ; cùng Thái Dương tấn thoái vô thường ; cùng Thiên Cơ tại Mão cung rất tốt, tại Dậu cung tuy hay nhưng khó bền, ở hãm địa công danh lận đận thêm Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp càng xấu.

Có  sao  Thiên  Tướng  nhập  miếu  văn  võ  đều  hay  thực  lộc  thiên  chung,  hãm  địa  thành  bại  vô thường ; cùng Tử Vi quyền quí ; cùng Xương Khúc, Tả Hữu hiển vinh ; cùng Vũ Khúc trấn thủ biên cương ; cùng Liêm Trinh quyền quí ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp dễ mất chức, đày đọa.

Có sao Thiên Lương miếu địa ở Ngọ cung hội với Tả Hữu, Khôi Việt là văn vũ chi tài ; cùng Thiên Đồng quyền quí bất tiểu ; cùng Thiên Cơ quí hiển ; bị Dương Đà, Hoả Linh Không Kiếp bình thường.

Có sao Thất Sát miếu vượng vũ chức quyền quí, văn nhân không hay ; cùng Vũ Khúc có chức vị ;cùng Liêm Trinh công danh hiển đạt.Có sao Phá Quân miếu vượng vũ chức hiên ngang ; cùng Vũ Khúc thêm quyền lộc, Xương Khúc hiển đạt ; bị Dương Đà, Hoả Linh bình thường ; cùng Tử Vi đồng cung có tiếng tăm ; cùng Liêm Trinh không tốt cho người theo về đằng văn.

Có sao Văn Xương nhập miếu cùng hội Thái Dương càng thêm hay ; cùng Thiên Phủ, Văn Khúcphú quí song toàn.

Có sao Văn Khúc, miếu vượng văn vũ đều tốt, rơi vào hãm cung gặp Thiên Cơ, Thái Âm thường hiển đạt bằng con đường tể lại tức là làm những việc hung dữ, ác độc ; hội với Tử Vi và Tả Hữu thường gặp mặt vua ; bị Dương Đà, Hoả Linh, Không Kiếp bình thường.

Có sao Tả Phụ nhập miếu văn vũ chi tài, vũ chức tối vượng, bất lợi văn nhân ; gặp sao tốt phù trợ  hiển vinh ; bị Dương Đà, Không Kiếp, Linh Hỏa thường gặp tai tiếng.

Có sao Hữu Bật làm nên vũ chức, không hợp với văn nhân ; cùng Tử Vi, Xương Khúc tài quan song mỹ ; ở hãm địa dễ mất chức ; gặp Dương Đà, Linh Hoả thường bị truất giáng.

Có sao Lộc Tồn gặp cát tinh văn vũ đều hay thuộc cách tài quan song mỹ.

Có sao Kình Dương nhập miếu rất lợi cho võ nghiệp thêm cát tinh quyền quí ; ở hãm địa bình thường nếu có danh chỉ là hư danh.

Có sao Đà La độc thủ bình thường, toàn chuyện danh hão. (Đà La độc thủ đóng Mệnh cung tốt hơn Quan Lộc cung).

Có sao Hoả Tinh lớn tuổi công danh mới toại, tuổi trẻ Long đong thành bại ;   hội cùng Tử Vi, Tham Lang rất tốt ; hãm địa hư hỏng.

Có sao Linh Tinh độc thủ vượng cung tốt ; hãm địa xấu.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Quan Lộc ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

a.   Mộ phùng Tả Hữu đồng lai

Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh.

 b.   Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân

Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.

c.   Lộc phùng Tử, Mã nhất ban

Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.

TỨ TÀI BẠCH CUNG

Có sao Tử Vi thóc gạo đầy kho ; bị Dương Đà, Linh Hỏa bất vượng cùng Phá Quân trước khó sau dễ ; cung Thiên Đồng, Tài Bạch súc tích ; cùng Thiên Phủ no đủ suốt đời, thêm Tả Hữu phú quí ; cùng Thất Sát hoạnh tài.

Có sao Thiên Cơ lao tâm phí lực tính toán mới sinh tài ; cùng Cự Môn phải cựa quậy nhiều mới kiếm được ; cùng Thiên Lương thường dùng mánh khoé mà sinh ngoại tài ; cùng Thái Âm m ở hãm địa làm ăn dễ thất bại ; gặp Dương Đà, Linh Hoả vốn phá sản.

Có sao Thái Dương nhập miếu no đủ sung túc, hãm địa vất vả khốn khó ; cùng Thái Âm thêm Tả Hữu phát tài lớn ; cùng Lộc Tồn đại phú ; cùng Cự Môn thành

thành bại bại.

Có sao Vũ Khúc Hữu Cự vạn gia tư ; cùng Phá Quân đông lai tây khứ tiền vào tay phải ra tay trái; cùng Thiên Tướng, Tài Bạch gặp nhiều quí nhân giúp đỡ ; cùng Thất Sát tay trắng làm nên ; cùng Tham Lang sau ba mươi tuổi mới phát đạt bị Dương Hà, Linh Hỏa tiền tài nan tụ ; Vũ Khúc ở Tài Bạch tối kị Không Vong.

Có sao Thiên Đồng tay trắng gây cơ đồ, phát đạt muộn ; cùng Cự Môn tài khí lúc tiến lúc thoái ;cùng Thiên Lương tiền tài đại vượng.

Có sao Liêm Trinh tại Dần Thân nước đục buông câu phát tài sinh lợi, hãm địa xấu ; cung Tham Lang hoạnh phát hoạnh phá ; thấy Dương Đà, Hỏa Linh dễ gặp tiền tài bất ngờ ; cùng Thất Sát là người giỏi xoay sở ; cùng Thiên Tướng phú túc, thừa ăn thừa tiêu ; bị Song hao, Không Kiếp thường phá nghiệp.

Có sao Thiên Phúc no ấm ; thấy Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thành bại vô thường ; cùng Tử Vi có của ăn của để ; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc thêm Quyền Lộc là phú ông.

Có sao Thái Âm m nhập miếu tiền bạc đầy kho, ở hãm địa tiền tài nan tụ ; cùng Thái Dương trước ít sau nhiều ; cùng Thiên Cơ tay trắng làm giàu ; cùng Thiên Đồng tài vượng ; cùng Lộc Tồn,Tả Hữu chủ đại phú.

Có sao Tham Lang miếu vượng dễ hoạnh phát, hãm địa bần cùng ; cùng Tử Vi nên cố thủ chớ cựa lắm cho sẩy vẩy ; gặp Hoả Tinh tam thập niên hậu hoạnh phát, trước ba mươi tuổi vất vả.

Có sao Cự Môn tay trắng làm giàu rồi vì thường cao ngạo không tính toán kỹ càng mà hoang phá ;  cùng  Thiên  Cơ  làm  đủ  nghề  ;  cùng  Thái  Dương  tiền  bạc  súc  tích  ;  bị  Dương  Đà,  Hỏa Linh, Không Kiếp phá nghiệp.

Có sao Thiên Lương nhập miếu thượng đẳng phú quí hãm địa làm ăn vất vả ; cùng Thiên Đồng, Bạch Thủ sinh tài ; cùng Thiên Cơ lao tâm khổ tứ mà tiền bạc chẳng có bao nhiêu hay biến đổi ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp chỉ đủ hai tay vầy lỗ miệng.

Có sao Thiên Tướng phú túc ; cùng Tử Vi tài khí hoạnh phát ; cùng Vũ Khúc, thêm Tứ Sát làm cả trăm nghề kiếm tiền ; cùng Liêm Trinh là lái buôn ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thành bại vô thường tài không tụ.

Có sao Phá Quân cư Tí Ngọ nhiều tiền bạc dễ kiếm ; ở hãm địa bất tụ ; cùng Vũ Khúc ở Tị Hợi tiền vào cửa đông ra cửa tây ; cùng Tử Vi tiền tốn hao nhưng vào

nhiều ; cùng Liêm Trinh vất vả mới kiếm được ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp nghèo khổ.

Có sao Văn Xương giàu nếu gặp nhiều cát tinh thì tài khí vượng ; cùng Cự Môn miếu địa nhiều tiền ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp chỉ là loại hàn sĩ, hàn nho.

Có sao Văn  Khúc miếu địa phú dụ, thêm sao tốt được quí nhân trợ giúp ; Tứ Sát và Không Kiếp chủ tiền tài bất tụ.

Có sao Lộc Tồn tiền bạc đến tự nhiên ít mất công lao khó nhọc ; gặp Kình Đà, Không Kiếp làm việc gì cũng khó khăn lúc đầu rồi sau mới có tiền.

Có sao Kình Dương ở Thìn Tuất Sửu Mùi thường hoạnh tài ; hãm địa phải vất vả mới kiếm được thêm Không Kiếp, Kình Đà nghèo khổ.Có sao Đà La : cũng như có Kình Dương.

Có sao Hỏa Tinh độc thủ hoạnh phát cũng hoạnh phá, ở hãm cung phải cực nhọc độ nhật nếu được cát tinh phù trợ mới kiếm được tiền.

Có sao Linh Tinh nhập miếu độc thủ hoạnh phát, hãm địa cô hàn tàn khổ độ nhật.

Có sao Khôi Việt sống trong sự thanh cao mà vẫn phong túc, tiền bạc dễ dãi kiếm được.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Tài Bạch ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

a.   Song hao hội tại Phúc, Tài

Tán nhiều tụ ít mấy ai nên giầu.

b.   Ấy ai phúc lộc đề đa

Vũ, Lộc, Thiên Mã chiếu hoà Tài cung.

c.   Ấy ai địch quốc tiếng đồn

Bởi vì Thiên Mã hội cùng Tràng Sinh

d.   Phá Quân đóng ở Tài cung

Đồng tiền lên xuống tựa dòng nước suôi.

e.   Nghèo hèn bởi tại Kiếp Không

Dương Đà, Linh Hỏa Long đong bôn trì.

f.       Tứ Sát đóng ở Hợi cung

Khi hết lại có khi vơi lại đầy.

g.   Ấy ai danh lợi thong dong

Bởi vì Tả Hữu hội cùng Đế tinh.

NGŨ PHU THÊ CUNG

Có sao Tử Vi hôn nhân muộn, vợ hay chồng là người tính cương nghị ; cùng sao Thiên Phủ tốt đôi; cùng sao Thiên Đồng vợ trẻ ; cùng Phá Quân hình khắc ; cùng Dương Đà, Linh Hỏa hình khắc ; cùng Tham Lang có cát tinh phù trợ hoà thuận.

Có sao Thiên Cơ nên lấy vợ ít tuổi, trái lại đàn bà nên lấy chồng đứng tuổi. Bị Dương Đà, Hỏa Linh vợ chồng dễ bỏ nhau cho nên lấy vợ hay lấy chồng muộn mới tốt ; cùng Thiên Lương nên lấy người hơn tuổi ; cùng Thái Âm có vợ đẹp.

Có sao Thái Dương miếu vượng lấy   vợ muộn tốt, lấy sớm khắc nhờ vợ mà sang ; cùng Thiên Lương thêm Tả Hữu thì vợ hiền và thông minh, giỏi giang ; cùng

Thái Âm được bà nội trợ tháo vát ; cùng Cự Môn thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp khắc ; gặp Hao thường lấy vợ theo phí lễ thành hôn.

Có sao Vũ Khúc dễ bị bội khắc nên thành hôn muộn và lấy người bằng tuổi, lấy rồi làm ăn tiền vào ; cùng Thất Sát khắc tới hai ba vợ nếu lại thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp nữa càng nặng.

Có sao Thiên Đồng lấy vợ muộn nên chồng đứng tuổi, vợ nên thiếu ; bị Tứ Sát xung phá khắc hoặc  sinh  ly  ;  cùng  Cự  Môn  thêm  Sát  Tinh  khắc  ;  cùng  Thái Âm  vợ  đẹp  ;  cùng  Thiên Lương hai vợ chồng cùng đẹp tốt.

Có sao Liêm Trinh ba lần lấy vợ ; cùng Tham Lang càng khắc thê ; cùng Thất Sát cũng hình thê ;Dương Đà, Linh Hỏa dễ bỏ nhau ; cùng Thiên Phủ có thể trăm năm

đầu bạc.

Có sao Thái Dương vợ yêu thương chồng ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa phải lấy muộn mới tốt.

Có sao Thái Âm nhập miếu vợ chồng đều đẹp thêm Xương Khúc càng đẹp không sợ  Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp ; cùng Thiên Cơ nội trợ giỏi.

Có sao Tham Lang vợ chồng đều thường không đẹp ba bốn lần làm chú rể, nhập miếu nên lấy muộn ; cùng Liêm Trinh hình khắc cùng Dương Đà, Linh Hỏa chủ chia lìa ; cùng Tử Vi nên lấy vợ lấy chồng hơn tuổi.

Có sao Cự Môn nên lấy người nhiều tuổi ; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát xung phá giai lão  ;  cùng  Thiên  Cơ  vợ  có  nhan  sắc  ;  cùng  Thiên  Đồng  vợ  thông  minh,  lanh  lợi  ;  cùng Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp phai qua nhiều đời vợ. Sách có câu : Cự Môn cư thê đa bất mãn hòai.

Có sao Thiên Tường có vợ đẹp và hiền thục, đàn bà nên lấy chồng nhiều tuổi ; cùng Tử Vi vợ chồng giai lão ; cùng Vũ Khúc hay xảy ra bất hòa ; gặp Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp hình khắc.

Có  sao  Thiên  Lương  thê  nghi  đại  (?)  nhan  sắc  ;  cùng  Thiên  Đồng  vợ  chồng  hòa  thuận  ;  cùng Thiên Cơ đẹp mà hiền ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp lục đục.

Có sao Thất Sát khắc sớm ; cùng Vũ Khúc cũng khắc ; cùng Liêm Trinh chia lìa, thêm Dương Đà, Linh Hỏa khắc ba đời vợ.

Có sao Phá Quân nam khắc thê, nữ khắc phu, lấy nữa cũng ly dị ; cùng Vũ Khúc càng khắc ; cùng Tử Vi phải lấy vợ nhiều tuổi hơn mình.

Có sao Văn  Xương vợ ít tuổi thông minh ; cùng Thiên Cơ, Thái Âm vợ đẹp ;  rơi vào hãm địa gặp Dương Đà, Linh Hỏa tối kị, vợ lăng loàn, đàng điếm.Có sao Văn Khúc lại thêm Văn Xương đa thê còn lắm thiếp ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa hình khắc, hội Thiên Am miếu địa rất hay.Có sao Lộc Tồn nên lấy vợ ít tuổi và lấy vợ muộn ; nếu bị Dương Đà, Linh Hỏa hay Triệt Lộ,Không Vong cô độc.

Có sao Tả Phụ, Hữu Bật vợ chồng giai lão ; cùng Tham Lang, Liêm Trinh hay Dương Đà, Linh Hỏa thường lấy vợ dữ. (Theo tiền nhân ta thì Thê cung có Tả Phụ, Hữu Bật là người lắm vợ trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư lại nói Xương Khúc đi cặp ở Thê cung mới vậy).

Có sao Hỏa Tinh nhập miếu thêm sao tốt phù trợ thì vợ chồng hòa thuận, ở hãm địa hình khắc. Có sao Thiên Khôi, Thiên Việt vợ chồng đều đẹp.

Phú nôm của tiền nhân về cung Phu Thê ra sao? Xin lược chép dưới đây:

a)   Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng

Trai lấy vợ đẹp gái chồng giàu sang.

b)   Sao Thai mà Ngộ Đào Hoa

Tiền dân hậu thú mới ra vợ chồng.

c)   Vợ chồng viễn phối tha phương

Đào Hồng đối chiếu vào làng Thiên Di.

d)   Phu cung Hóa Kị một mình

Tơ tình chưa dứt mối tình đã vui.

e)   Thiên Riêu bất chính cả đoi

Liêm Trinh viễn phối ở nơi bần hàn.

 f)   Triệt Tuần ngộ Mã Hinh

thê vị Vợ bỏ chồng Đào Tị tha hương.

g)   Vợ chồng nay giận mai hờn

Phục Binh Hóa Kị nơi toà phu thê.

h)   Vợ về có của muôn vàn

An Quang, Nguyệt Đức, Thái Dương, Mã Đồng

 i)      Ai mà Thiên Tướng, Đào Hồng

Ai mà Thiên Mã Lộc phùng Thanh Long.

LỤC PHÚC ĐỨC CUNG

Có sao Tử Vi hưởng phúc an lạc : cùng Thiên  Phủ suốt đời tốt lành ; cùng Phá Quân lo nghĩ buồn phiền ; cùng Thiên Cơ hưởng phúc chung thân ; gặp Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp phúc phận kém.

Có sao Thái Dương hoạ trung gặp phúc ; cùng Thái Âm vui sướng ; cùng Cự Môn lo phiền; cùng Thiên Lương an ổn ; gặp Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp suốt đời gặp chướng ngại.

Có sao Vũ Khúc nhập miếu an nhiên hưởng phúc, hãm địa lo phiền ; cùng Phá Quân bôn tẩu ;cùng Thất Sát đau ốm lo phiền ; gặp Hỏa Linh tốt, gặp Tham Lang

hay.

Có sao Thiên Đồng an ổn sung sướng ; cùng Cự Môn nhiều buồn hơn vui ; cùng Thiên Lương thanh nhàn ; cùng Thái Âm hưởng phúc.

Có sao Liêm Trinh độc thủ đắc địa co1 mả cứu bấn lúc bí lại thông ; cùng Thiên Đồng vừa phúc vừa thọ ; Cùng Thiên Phủ an lạc ; cùng Phá Quân bất an thêm Dương Đà Linh hoả lao khổ suốt đời.

Có sao Thiên Phủ an tĩnh hưởng phúc ; cùng Tử Vi an dật ; cùng Liêm Trinh thân an tâm bất an ; cùng Vũ Khúc tuổi Trẻ gian nan về sau mới nhàn nhã ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp lao khổ độ nhật.

Có sao Tham Lang lao tâm khổ tứ ; cùng Liêm Trinh phận mỏng ; cùng Tử Vi mãn niên nhàn tản.

Có sao Cự Môn lao lực bất an ; cùng Thái Dương vui buồn thất thất thường ; cùng Thiên cơ lao tâm ; cùng Thiên Đồng hưởng phúc ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp cuộc   đời hay lo.

Có sao Thiên Tướng an dật hưởng phúc hữu thọ ; cùng Tử Vi khoái lạc ; cùng Thiên Cơ trong khi thiên hạ lo thì mình an ; cùng Thái dương phúc thọ Song toànthêm Dương đà, Linh hoả, Không Kiếp không được nhàn tĩnh.

Có sao Thất Sát nhập miếu hưởng phúc, hãm địa thêm Dương đà , Linh Hỏa lao tâm phí lực ;cùng Vũ Khúc bất an ; cùng Liêm Trinh tân khổ ; cùng Tử Vi trước vất vả sau an nhàn, cuối đời mới như ý toại tâm. Nữ Mệnh nếu có sao thất Sát đơn thủ Phúc Đức cung tất sẽ làm nô tỳ hay kỹ nữ.

Có sao Phá Quân lao tâm phí lực ; cùng Vũ Khúc vất vả ; cùng Liêm Trinh chăm chỉ chịu khó;cùng Tử Vi an lạc thêm Dương đà , Linh Hỏa cuộc sống nhiều buồn lo.

Có sao Văn xương được cát tinh phù trợ hưởng phúc ; hãm địa gặp Dương Đà, Linh Hỏa, KhôngKiếp số phận Long đong.

Có sao Tả Phụ được cát tinh trợ hưởng phúc ; độc thủ về già sung sướng gặp Dương đà, Linh Hoả, không Kiếp khổ sở.

Có sao Hữu bật bình sinh phúc lộc toàn mỹ được cát tinh phù suốt đời không lo ; bị Dương đà, Linh hoả, Không Kiếp lao tâm vất vả.

Có sao Lộc tồn chung thân phúc lộc ; bị dương đà, Hỏa Linh ,Không Kiếp cả thân lẫn tâm đều lo phiền.

Có sao Khôi Việt được làm bạn với qúi nhân hưởng phúc.

Có sao dương đà nhập miếu phúc đến trong thời lao loạn, bĩ cực thái lai, hãm địa bôn tẩu phiêu bạt.

Có sao Hoả Tinh tuổi trẻ nếm trải cay đắng, vãn niên mới khá.

Có sao Linh Tinh độc thủ vất vả Long đong.

Đoán của tiền nhân ta về cung Phúc Đức ra sao? Xin lược chép sau đây:

Phá Tí Ngọ trưởng phiêu lưu

Thủy Kim hợp cách, Sửu Mùi Khúc Xương

Dan Thân không Kiếp cơ hàn

Cự Cơ Mão Dậu phúc càng thêm hay

Thìn Tuất Tham Vũ cũng hay

Chớ ai Tị Hợi phúc bầy Không Vong

Thất Sát tròn thẳng mà dài

Tham lang Phượng Cát là loài chim muông

Liêm trinh ngộ Hỏa tiêm đầu

Thiên Lương có chẩm gối đầu thảnh thơi

Hai Quan Tướng Phá cùng ngồi

Tướng trong là giáp tướng ngoài là chiêng

Tổ sớm Tử Phù một miền

Những sinh có nước tả truyền hữu lai

Phòng văn đồ duệ án tiền

Tân giêng tân bút chấn canh cổ kỳ

Cô Hoa lỘc, bảng Khoá Khoa

Ngựa đi Thiên Mã voi qui Kình Dương

Văn Khôi Vũ việt thinh đường

Tả Long hữu Hổ thuận  tường phân kim

Kiếp Không, Tuần triệt gia liên Có ông mất mả ở miền quan sơn

Tang Môn Cô Quả Đào Hồng

Họ hàng có kẻ goá chồng cô đơn

Khốc Hư Cô Cự muôn vàn

Đường đi lẩn quất Vũ nhàn Triệt không

Đà tiền ngộ Mã Tướng xung

Trai bị hình ngục gái phòng nghiệt thương

Rễ cây khôn tránh khỏi đường

Phá Liêm Mão Dậu Điếu Tang một toà

Lộc nhàn Mã ngộ Kiếp Không

Long phi Hổ tấu một dòng phiên lưu

Lộ bằng Triệt ngộ Phá Quân

Đà La diệu táng mộ phần đảo thi

Mã Đà gái lấy chồng xa

Thiên Cơ Hư nhuận bệnh ra điên cuồng

Thái Dương tam đại mộ phần

Thái Âm tam đại âm nhân rõ ràng

Ngộ hãm tứ đại tổ đường

Thiên Đồng tam đại thời phân bốn đời

Vũ Khúc thiên Tướng năm đời

Cơ Tham thứ sáu bẩy đời cự Lương

Tả phụ thượng tổ ngôi Dương

Hoa cái mộ mới cũng ngôi Hỉ Thần.

( Trích Tử Vi Ao Bí của Việt Viêm Tử )

Đọc toàn bài phú nôm trên đây rõ ràng theo tiền nhân ta cung phúc đức của số Tử Vi mỗi người hoàn toàn liên hệ với phần mộ ông cha. Phú nghĩa mơ hồ nếu không rành về phong thuỷ học.Sợ rằng khó có thể đúng được, vì khoa phong thuỷ rất rộng lớn  phức tạp  ; giải đoạ 1n theo lối trói voi bỏ rọ không xong.Trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư của Di Hi Trần Đoàn tiên sinh chẳng nói gì tới sự liên hệ của cung này với phần mộ.

THẤT PHỤ MẪU CUNG

Phàm xem cung Phụ Mẫu cần chú ý đến hai sao Thái Dương và Thái Âm . Thái Dương là cha, Thái Âm là mẹ,Thái Dương ở hãm cung cha mất sớm hoặc khắc ly, Thái Âm ở hãm cung mẹ mất sớm hoặc ly khắc. Nếu cả hai sao ở hãm cung thì phải lấy giờ sinh mà đoán, sinh ban ngày thì cha còn, sinh ban đêm thì mẹ còn .

Có sao Tử Vi không khắc phụ mẫu: cùng Thiên Phủ cũng không khắc; bị Dương Đà, Linh Hoả,Không  Kiếp  và  các  ác  sát  hình  khắc;  cùng  Thiên  Đồng  tốt;  cùng  tham  lang  vô  ác  sát không sao; cung Phá Quân khắc sớm.

Có sao Thiên Cơ miếu địa tốt, hãm địa ngộ Không Kiếp, Dương Đà là con nuôi, hoặc ở với mẹ có Dương Đà cùng Thiên Lương, Thiên Đồng tốt miễn là không gặp thêm ác sát tinh: cùng Cự Môn tảo khắc

Có sao Thái Dương hãm địa khắc cha thêm Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp tảo khắc cả cha lẫn mẹ: cùng Thái Âm m nếu không bị Dương Đà tấu hợp thì phụ mẫu song toàn; cùng Cự Môn tảo khắc

Có sao Vũ khúc sớm khắc cha mẹ, nhưng nếu xa cha mẹ thì khỏi khắc : cùng Tham Lang hay Thất Sát thì khỏi khắc: cùng Tham Lang hay Thất Sát thì khỏi khắc : cùng Tham Lang hay Thất Sát hay Thiên Tướng thẽm Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp tính chất ly khắc sẽ nặng hơn.

Có sao Thiên Đồng độc thủ miếu vượng tốt thêm Tứ Sát có cha mẹ nuôi: cùng Cự Môn bất hoà với cha mẹ : cùng Thái Âm phụ mẫu Song toànbị Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp phụ mẫu bất toàn.

Có sao Liên Trinh khó lòng kế nghiệp cha, có cha mẹ nuôi; cùng Tham Lang sớm khắc; cùng Thất Sát xa cha mẹ ;  bị Dương Đà, Linh Hoả, phụ mẫu bất chu toàn: cùng Phá Quân hình khắc.

Có sao Thiên Phủ phụ mẫu Song toàn; cùng Tử Vi tốt: cùng Vũ Khắc Liêm Trinh miếu vượng tốt; bị Dương Đa, Linh Hoa, Không Kiếp khắc cha me.

Có sao Thái Âm miếu vượng tốt : bị Dương Đa, Linh Hoa, Không  Kiếp khắc cha mẹ.

Có sao Thái Âm miếu vượng tốt; bị Dương Đà Linh Hoả Không Kiếp khắc cha mẹ : cùng Thái Dương không bị Tứ Sát phụ mẫu song toàn.

Có sao Tham Lang hãm làm con nuôi hoặc ở với dượng ghẻ : cùng Liêm Trinh hãm xa rời cha mẹ : cùng Tử Vi tốt .

Có sao Cự Môn hãm địa khắc : cùng Thái Dương bất hoà ; bị Dương Đà, Linh Hoả, Không Kiếp phụ mẫu bất chu toàn.

Có sao Thiên Tướng ở miếu địa tốt : cùng Tử Vi tốt : cùng Liêm Trinh hình khắc: bị Tứ Sát xấu.Có sao Thiên Lương hãm địa bị Tứ Sát vào viện mồ còi nếu không thì phải đi làm con nuôi mới tránh được hình sát phụ mẫu .

Có sao Thất Sát cô độc : cùng Vũ Khúc khắc :cùng Liêm Trinh hình.

Có sao Phá Quân sớm xa gia đình bố mẹ mới tránh khỏi hình khắc: chỉ có Tử Vi mới giải được. Có sao Văn Xương nhập miếu tốt ; gặp Tứ Sát, Dương Đa, Linh Hoả làm con hai họ.

Có sao Văn Khúc độc phủ nhập miếu tốt : bị Dương Đà, Linh Hoả phụ mẫu bất chu toàn.

Có sao Tả Phu độc thủ  nhơ phúc cha mẹ, bị Tứ Sát ly khắc. Có sao Hữu Bật độc thủ cũng như tả phụ.

Có sao Lộc Tồn tốt nếu bị Tứ Sát cha mẹ làm ăn lụn bại lúc mình còn nhỏ. Có sao Kình Dương tảo hình khắc.

Có sao Đà La tuổi trẻ đã hình khắc phụ mẫu.

Có sao Hoả Tinh có khắc, được cát tinh phù trợ bình hoà. Có sao Linh Tinh có khắc.

Phú đoán môn của tiền nhân ta về cung Phụ Mẫu ra sao? Xin được chép dưới đây:

Âm Dương Tuần Triệt tại tiền

Mẹ cha ắt đã quy tiên thủa nào

Phụ Mẫu cung hội Thiên Lương

Mẹ cha đồng hưởng thọ trương an vui

BÁT NÔ BỘC CUNG

Có  sao  Tử  Vi  đắc  lực  sinh  tài;  Kinh  Dương,  Đà  La,  Linh  Hoả  chỉ  gặp  toàn  bọn  láo  khoét  :  bịKhông Kiếp dễ chiêu oán thù phản bội.

Có sao Thiên Cơ miếu địa vượng chủ, hãm cung oán chủ ; cùng Thái Âm m rÔng choi lười nhác ; bi Kinh Đà, Linh Hoả, Kiếp Không gặp toàn loại phản phúc khó chơi.

Có sao Thái Dương nhập miếu vượng chủ ; cùng Cự Môn dễ bị oán ; Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không luôn luôn bị phản.

Có sao Vũ Khúc miếu địa hô một tiếng cả trăm người thưa ; cùng Thiên Phủ càng nhiều gia nhân; cùng Thất Sát bội chủ ; cùng Tham Lang chẳng giúp ích được việc

gì.

Có sao Thiên Đồng đắc lực ; cùng Thái Âm càng hay ; bị Dương Đà, Không Kiếp phản chủ.

Có sao Liêm Trinh hãm địa gia nhân hay phản ; đắc địa nhất hô bách ứng ; cùng Thất Sát bội chủ; bị Dương Đà, Linh Hỏa lường gạt.

Có sao Thái Âm miếu địa nhiều kẻ hầu người hạ cùng Thái Dương càng hay ; cùng Thiên Cơ rất phường vô dụng.

Có sao Thiên Phủ nhất hô bách nặc ; cùng Tử Vi giúp chủ ; cùng Vũ Khúc gia nhân nhiều.

Có sao Thiên Lương nhiều gia nhân ; cùng Thiên Đồng người thuộc hạ biết bảo vệ chủ ; cùng Thiên Cơ gia nhân kém trung thành.

Có sao Thất Sát khi lăng chủ, có gia nhân rình rập để trộm cướp của chủ ; cùng Vũ Khúc phản chủ ; cùng Liêm Trinh bất đắc lực, bị Dương Đà, Linh Hoả, Kiếp Không phải hết sức cẩn thận về kẻ ăn người làm.

Có sao Phá Quân nhập miếu gia nhân đắc lực, hãm địa chiêu oán bội chủ ; cùng Vũ Khúc hay phản ; cùng Tử Vi tốt ; cùng Dương Đà, Hỏa Linh Không Kiếp nguy hiểm.

Có sao Văn Xương nhập miếu đơn thủ đắc lực trợ chủ ; thêm Dương Đà, Linh Hỏa phản chủ. Có sao Văn Khúc miếu địa đắc lực ; hãm cung thêm Dương Đà, Linh Hỏa oán chủ đào tẩu.

Có sao Tả Phụ độc thủ nhất hô bách ứng kèm với Tử Sát tối kị. Có sao Hữu Bật độc thủ nhiều gia nhân ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp phản bội ăn trộm rồi trốn.

Có sao Lộc Tồn thuộc hạ nhiều, biết bảo vệ chủ, thấy Tứ Sát Hao toàn lũ ăn hại.

Có sao Kình Dương bội chủ, chiêu oán, bất đắc lực.

Có sao Đà La oán chủ, nếu nhập miếu mới bớt xấu. Có sao Hỏa Tinh độc thủ dễ chiêu oán.

Có sao Linh Tinh nhập miếu tốt, hãm địa hỏng.

Phú đoán nôm của tiền nhân ta về cung nô bộc ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

- Nô cung Hoa Cái, Hồng, Đào

Cùng là Phụ Bật chiếu vào cho nên

Chính thê thứ thiếp tiền duyên

Khác nào dây cát, sánh bên cõi cù.

- Con em lúc ở lúc đi

Bởi sao Nhật Nguyệt hãm vì Nô cung

- Đào Hoa Nô lại tương phùng

Dối chồng mang tiếng bất trung ưu phiền.

- Cung Nô mà có Hoá Quyền

At rằng vợ lẽ cướp quyền chính thê.

- Dương Đà kị Phá hãm bên

Bạn bè tôi tớ đảo điên khó lường.

Phú nôm cho ta biết cung Nô Bộc có liên quan đến cả cuộc sống  lứa đôi chứ không phải chỉ riêng đến thuộc hạ, bè bạn. Tử Vi  đẩu số toàn thư không hề nói gì đến liên quan này.

CỬU ĐIỀN TRẠCH CUNG

Có sao Tử Vi ruộng vườn tốt tươi ; bị Hỏa Linh, Dương Đà, Không Kiếp lúc còn lúc bán ; cùng Phá  Quân  dễ  phá  tổ  nghiệp  ;  cùng  Thiên  Đồng  xây  dựng  gia  nghiệp  nếu  hội  Tả  Hữu, Xương Khúc.

Có sao Thiên Cơ tự mình gây dựng nhà cửa không được hưởng của tiên tổ ; cùng Cự Môn tại Mão cung nhiều ruộng vườn nhà cửa ; ở Dậu cung thường không giữ nổi nghiệp ông cha, trước lớn sau nhỏ ; cùng Thiên Lương đứng tuổi sẽ giàu ; cùng Thái Âm m tốt.Có sao Thái Dương nhập miếu thừa hưởng tổ nghiệp ; cùng Thái Âm thêm sao tốt ruộng vườn nhà cửa nhiều ; cùng Cự Môn ở Dần cung rất vượng ; ở Thân Cung làm hư tổ nghiệp ; Thái Dương cư hãm địa lại gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không chẳng có tấc đất cắm dùi.

Có sao Vũ Khúc đơn cư vượng địa được hưởng di sản lớn của ông cha ; hãm địa phá nghiệp ; cùng Phá Quân đại hao bán hết của cải của tổ tiên ; cùng Thiên Tướng phá rồi mới lập lại ; cùng Thiên Phủ gìn giữ gia nghiệp ; Vũ Khúc gặp hai sao Hỏa, Linh ở Điền Trạch cực tốt, ruộng vườn vượng thịnh ; gặp Không Kiếp vô thường lúc còn lúc hết sạch.

Có sao Thiên Đồng trước ít sau nhiều ; cùng Cự Môn kém ; cùng Thái Âm nhập miếu gia cư đồ sộ ; cùng Thiên Lương bình thường ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp  chẳng bao giờ có nhà cửa.

Có sao Liêm Trinh phá tổ nghiệp ; cùng Tham Lang gìn giữ không được bao lâu ; cùng Thất Sát tự gây dựng ; cùng Thiên Phủ thành gia nghiệp.

Có sao Thiên Phủ nhiều đất cát vườn ruộng ; cùng Tử Vi càng hay ; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc biết bảo vệ gia nghiệp.

Có sao Thái Âm nhập miếu nhà cao cửa rộng ; hãm địa thêm Dương Đà, Linh Hỏa suốt đời lêu bêu ; cùng Thiên Cơ tự tay gây dựng ; cùng Tả Hữu, Quyền Lộc hay Lộc Tồn nhiều ruộng vườn.

Có  sao  Tham  Lang  hãm  phá  tổ  nghiệp  ;  miếu  vượng  về  sau  mới  hay  ;  cùng  Liêm  Trinh  tầm thường, Tham Lang gặp Hỏa hoặc Linh Tinh cực tốt nhưng hãy cẩn thận sẽ bị cháy nhà.

Có sao Cự Môn miếu vượng hoạnh phát, hãm địa sẽ khốn khổ vì chuyện nhà cửa ruộng vườn ;cùng Thái Dương hãm địa đỡ hại ; gặp Tứ Sát không đất cắm dùi.

Có sao Thiên Tướng miếu vượng tốt ; cùng Tử Vi càng thêm hay ; cùng Liêm Trinh lại thấy cả Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không phiêu linh tổ nghiệp.

Có sao Thiên Lương nhập miếu vượng tổ nghiệp ; cùng Thiên Đồng ban đầu gian truân sau tốt; cùng Thiên cơ sẽ có nhà của riêng mình.

Có sao Phá Quân ở Tí Ngọ tổ nghiệp vinh xương nhưng kị Song hao.

Có sao Văn Xương nhà cửa rộng rãi nhưng chớ gặp Tứ  Sát.

Có sao Văn Khúc vượng địa tốt.

Có sao Tả Phụ thừa hưởng tổ nghiệp, gặp Tứ Sát hư họai. Có sao Lộc Tồn tổ nghiệp vinh xương, hội Tứ Sát hư hoại.

Có sao Kình Dương nhập miếu trước phá sau thành, hãm địa phiêu linh.

Có sao Đà La rất xấu.

Có sao Linh Tinh độc thủ điêu linh.

Có sao Hỏa Tinh nhập miếu tốt. Gặp Tứ Sát, Kiếp Không chẳng ra gì.

Phú đoán nôm của tiền nhân ta về cung Điền Trạch ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

Triệt Tuần đóng ở cung Điền

Tư Cơ cha mẹ không truyền đến cho

Phá Quân sao ấy tán tài

Lâm trạch bán hết lưu lai tổ điền

Tang Môn ngộ Hỏa xấu sao

Chiếu soi phương nào chốn ấy hoả tai

An quang gặp Đào Hồng điền

Trạch Ay cô dì lưu lại ruộng nương

Long Trì Địa Kiếp đồng hương

Giếng bồi ao lấp ở bên nhà này

Cơ Lương tương hội Tuất Thìn

Mộc làm tổ nghiệp đến hồi lai sinh

Khốc Hư Tang hội chẳng lành

Tổn người hại của chẳng yên được nào.

THẬP TẬT ÁCH CUNG

Trước khi xem cung Tật Ach, phải xem mệnh cung chính diệu ra sao, miếu hay hãm địa có gặp Tứ Sát xung phá không rồi mới kết cả hai cung vào mà đoán.

Có sao Tử Vi ít tai họa tật bệnh hiểm nghèo ; cùng Thiên Phủ tốt ; cùng Phá Quân thì huyết khí bất hoà ; gặp Dương Đà, Linh Hỏa thường có âm tật ; bi Không Kiếp hay có bệnh tim.

Có sao Thiên Cơ lúc còn nằm trong nôi đã lắm tật bệnh ; ở hãm địa đầu và mặt hơi lệch ; cùng Cự Môn bệnh tại huyết khí ; cùng Thiên Lương tật bệnh nơi hạ bộ ; cùng Thái Âm hay bị nhọt gặp Dương Đà, Linh Hỏa hãm địa tứ chi dễ suội bại hay đau mắt.Có sao Thái Dương hay đau đầu ; cùng Thái Âm thêm Tứ Sát thương tích nơi mắt hoặc mắt mờ.

Có sao Vũ Khúc tai chuân khi còn quấn tã, tay chân đầu mặt dễ bị sẹo; cùng Dương Đà suất đời tai ương vặt như ngã chẹo xương, vỡ đầu; cùng Thiên Đồng có ám tật; cùng Tham Lang miếu vượng khoẻ mạnh nếu hãm địa thêm Tứ Sát hay có bệnh trĩ, nhọt

Có  sao  Thiên  Đồng  ít  tật  bệnh  tai  hoạ  ;  cùng Cự Môn bệnh về tâm khí ; cùng Thái Âm Kình Dương, Hoả Tinh bệnh với huyết khí ; cùng Thiên Lương thêm Tứ Sát bệnh về tâm khí.

Có sao Liêm Trinh thủa đang ăn sữa đã lắm tật  hay nhọt mụn ; cùng Tham Lang hãm địa nhãn tật; cùng Thất Sát, Phá Quân, Thiên Phủ ít bệnh tật.

Có sao Thiên Phủ mạnh khỏe, gặp tai nạn dễ cứu ; cùng Tử Vi tốt, gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp phong thấp ; cùng Liêm Trinh thêm Không Kiếp, Không Vong tàn tật.

Có sao Thái Âm vượng địa mạnh khoẻ vô tật bệnh hãm địa hay lao phổi. Nữ Mệnh tàn tật ; cùng Thái Dương thêm Dương Đà, Hỏa Linh bị đau mắt ; gặp Không Kiếp

phong tật.

Có sao Cự Môn tuổi trẻ hay bị máu xám ; cùng Thái Dương đau đầu ; cùng Thiên Đồng, bệnh nơi hạ bộ ; thêm Dương, Hỏa là bệnh do tửu sắc gây ra ; ngộ Hoá Kị nên cẩn thận con mắt, cái tai.

Có sao Thiên Tướng ít tai nạn, thường có bệnh sũng da ; cùng Tử Vi tốt ; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát hoặc gặp Phá Quân, Liêm Trinh thêm Không Kiếp tay chân bị thương.

Có sao Thất Sát lúc bé lắm tai nạn, lớn bị trĩ ; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát tàn thương nơi tay chân; cùng Liêm Trinh có mục tật ; gặp Kinh Đà, Linh Hỏa càng càng xấu.

Có sao Phá Quân trẻ con ghẻ lở ; cùng Vũ Khúc mắt hỏng ; cùng Tử Vi đỡ hại ; cùng Liêm Trinh thương tích tàn tật.

Có sao Văn Xương đơn thủ sức khoẻ tốt ; gặp Tứ Sát xung phá đa tai chuân.

Có sao Văn Khúc thêm cát tinh trợ suốt đời vô tai vô nạn ; gặp Tứ Sát và Kiếp Không hãm địa ngược lại.

Có sao Tả Phụ độc thủ bình thường ; gặp Tứ Sát dễ gặp tai nạn.

Có sao Hữu Bật độc thủ cũng như trên.

Có sao Lộc Tồn tuổi thiếu niên đa tai nạn nếu được cát tinh phù trợ đỡ hại, thấy Tứ Sát xung phá cẩn thận tay chân tàn tật.

Có sao Kình Dương đau đầu, tay chân tê bại.

Có sao Đà La ấu niên đa tai, vết thương ở đầu, ở miệng, ở mặt có bị tật mới thọ được.

Có sao Hỏa Tinh đi cặp với Kình Dương người khỏe mạnh phi thường.

Phú đoán nôm của tiền nhân ta về cung Tật Ach ra sao ? Xin lược chép dưới đây :

- Triệt Tuần đóng tại Ach cung

Tai nào cũng khỏi nạn nào cũng qua

- Hình Dương Hoa Cái ngộ Đà

Hạn hành năm ấy đậu hoa phải phòng

- Hoả Linh Trì Mộc chiếu soi

Lánh mình lửa cháy nước sôi phải phòng

- Có bệnh đau mắt rất hung

Bởi vì Tật Ach Bệnh phùng Kiếp Cơ

- Ach cung Bạch Hổ huyết hư

Ach cung Thiên Khốc, Cự, Hư phong đàm.

- Dương Đà Hình hội mục tì

Âm Dương Riêu Kị cho nên mắt loà.

- Ach cung Hoá Kị cho minh

Am hư chứng ấy thường tình hiếm con.

- Cung Giải Ach ngộ Khôi Hình

Số ngừơi mắc phải pháp đình đau thương.

- Thiên Hình, Dương Nhẫn (Kình Dương) Ngọ cung

Gặp sao Thất Sát ngục trung đợi chờ.

- Cự kị nên tránh đò song

Phục binh, Hình Việt mắc vòng đao gươm.

- Hỏa Linh Hình Việt khác nào

Không bị sét đánh búa dao có ngày.

- Lộc Tồn ám tật miên trường

Tả Hữu Xương Khúc tai ương nên phòng.

HUYNH ĐỆ TỬ TỨC CUNG

Phú nôm của tiền nhân ta tuy ít ỏi nhưng lời đoán nghe rất chắc.Về  hai  cung  Huynh Đệ, Tử Tức, sách Tử Vi đẩu số toàn thư đưa ra những lời lẽ quá tầm thường quanh đi quẩn lại chỉ là sao này gặp sao này anh em có hai hay ba, hay bốn người, con cái hai, ba hay bốn đứa. Kể cả lý luận cũng như trên kinh nghiệm thực tế đều không thể đúng được.Riêng hai cung Huynh Đệ và Tử Tức thì phú đoán nôm của ta có nhiều điểm hay hơn Tử Vi đẩu số toàn thư nhiều lắm.Để  khỏi  mất  thì  giờ  bạn  đọc,  tôi  xin  chép  những  lời  phú  nôm  để  thay  thế  cho  những  lời gượng ép của Tử Vi đẩu số toàn thư.

Phú nôm cho Huynh Đệ cung như sau :

- Cung Huynh Đệ Triệt Tuần làm thủ

Chim đầu đàn vỗ cánh bay cao.

- Kiếp Không hai gã nên ngừa

Lâm vào Huynh Đệ đơn sơ một mình.

- Phá phùng Hình kị Huynh hương

Anh em bất thuận nhiều đường tương tranh.

- Tướng Quân Lộc Mã đồng cung

Anh em có kẻ triều trung quí quyền.

- Tử Tang Tả Hữu cùng ngôi

Có chị em gái duyên ôi chẳng lành.

- Tang Môn ngộ Mã đinh ninh

Mỗi người mỗi xứ gia đình quạnh hiu.

- Đào Hoa, Thai, Hỉ trong cung

Phá Quân, Tướng, Phục chiếm xung ở ngoài.

- Có chị em gái theo trai

Say mê đến nỗi hoang thai bỏ mình.

- Trong thời Tướng Phủ, Phục Binh

Ngoài thì Hoa Cái liên minh Đào Hồng

Bản cung đối chiếu tinh tường

Anh em có kẻ tư thông hẳn là.

- Gặp sao Hoá Kị khiếm hoà

Thiên Hình xung khắc trong nhà ghét nhau.

- Tử Vi, Tả Hữu lâm vào

Có chị em gái say màu phấn son.

- Bào cung Tử Phủ ở Thìn

Họ hàng có kẻ tìm phương lộn chồng.

Phú nôm cho Tử Tức cung như sau :

- Tử Cung ngộ Kiếp Không gia

Nuôi con chẳng mát đã ba bốn lần.

- Khốc Hư đồng ngộ Dưỡng tinh

Sinh nhiều nuôi ít gian chuân thủa nào.

- Hiếm hoi bởi tại Hình Hao

Qúi tinh trước cửa một hào đông con.

- Thiên Hình Sát Hổ Tử cung

Đến già chẳng thấy tay bồng tay mang.

- Sinh con những giống ngẩn ngơ

Tử Cung xung chiếu Sát Đà Kiếp Không.

- Tử Cung Không Kiếp trùng giao

Bệnh phùng băng huyết thay bào phù hoa.

- Qui tinh hội họp cung Thân Dậu

Tới phật đường cầu tự mới sinh.

- Tràng sinh đế vượng đa nhân

Giáp chiếu Nhật Nguyệt có lần sinh đôi.

- Đế vương ngộ Thai Khôi cùng Tướng

Có dị bào hai ngả anh em.

- Sinh con số hiếm rõ ràng

Bởi sao Đà Kị làm hàng Tử cung.

- Hổ Lang Không Kiếp Tang Giao

Sinh con chẳng mát đã ba bốn lần.

- Sinh con Quyền Lộc hiển vinh

Sinh con Khôi Việt Văn tinh đỗ đầu.

- Sinh con Long Phượng sang giàu

Khúc Xương chiếu giáp thập hầu tặng phong.

- Hỉ Thần hội với Phúc Tinh

Dương danh quí tử hiển vinh sang giàu.

- Tử cung Thai, Tướng Phục Binh

- Vợ chồng ắt hẳn tư tình thủa nao.

- Cô Thần Quả Tú hai sao

Gian chuân vất vả về hài nhi sinh.

- Thai cùng Tả Hữu hội trung

Sinh con có kẻ bên dòng tiểu tinh (vợ lẽ)

- Vũ Xương hoặc Khúc cùng ngồi

Sinh con xinh đẹp hơn người chẳng ngoa.

- Khốc Hư ngộ Dưỡng không đành

Tướng, Binh, xung phá hẳn đành hoang thai.

- Cung Tử mà có Khúc Xương

Tuồng gì con cái những phường ăn chơi.

- Kình Dương mà gặp Thiên Hư

Hữu sinh vô dưỡng âu lo một đời.

- Đẩu Quân cung Tử hiếm con

Cát tinh giao hội may còn ước mong.

- Dương Đà ngộ Tuyệt phùng xung

Mão Dậu Tị Ngọ uổng công sinh thành.

- Hỏa Linh, Dương Nhẫn lâm vào

Có sinh con cũng liệt vào tật thương.

- Thất Sát hãm gặp Thiên Hình

Sinh con những giống lưu manh hoang tàng.

- Phá Quân ba trẻ bất tài

Lộc Tồn gia Sát hiếm hoi vô cùng.

VẬN HẠN

Vận đỏ nghe người cho muối cá

Hồi đen lắm kẻ xóc Xương Kình

Quân tử lúc cùng thèm then mặt

Anh hùng khi gặp cũng khoanh tay

Lúc đạt chẳng qua nhờ vận mệnh

Khi cùng chớ cậy có văn chương.

Đó là những tứ thơ thường thấy trong thi ca của ông Nguyễn Công Trứ vốn là người chìm nổi thăng trầm từng biết rõ thế nào là vận hạn của đời người ta.Đã nói số mệnh tất phải nói vận hạn. Sách có câu : /Nhất mệnh nhị vận, tam phong thuỷtứ âm công/, nghĩa là : thứ nhất có mệnh lớn, thứ nhì có vận hay, thứ ba có mồ mả kết phát, thứ tư có nhiều âm đức.

Câu phú căn bản của Tử Vi đẩu số là :

- Mệnh hảo, thân hảo, hạn hảo đáo lão vinh xương.

- Mệnh suy, thân suy, hạn suy chung thân khất cài.

(Mệnh tốt, thân tốt, vận hạn tốt sung sướng đến già).

(Mệnh xấu, thân xấu, vận hạn cũng xấu thì suốt đời đi ăn mày).

Nói nhất mệnh nhị vận không có nghĩa là mệnh tốt rồi khỏi cần hạn nữa. Số tướng không nằm chết trong chữ mệnh. Nó phải dựa vào chữ vận mới thành. Nếu nói đến mệnh không thôi thì mệnh sẽ chỉ là một tĩnh thể tuyệt đối bất động, nếu tuyệt đối bất động thì làm gì còn số nữa, đồng thời nhân gian cũng hết luôn cả sự sống. Cho nên vận hạn mới thật sự là trọng tâm triết lý của số mệnh vậy.Sách /Trinh Chuyên/ viết :

/Thiên hạ chi lý hữu bất động nhi năng hằng giả dã. Động tắc chung nhi phục thuỷ sở dĩ hằng nhi bất cùng/.

(Cái lý trong thiên hạ chẳng có gì bất động mà tồn tại được, vì chỉ có động mới làm cho cuộc sống trở nên miên viễn vô cùng).

Như trên đã ghi lời giáo sư Tiền Mục :

/Mệnh là tính cách của một người

Vận là những gì mà người gặp phải/.

Tính  cách  định  trước  nhưng  vận  sẽ  tuỳ  thời biến đổi. Cho nên mệnh phải đi đôi với vận. Phương ngôn có câu : /Vô vận bất năng tự đạt/ là thế. Mệnh tốt mà toàn gặp vận xấu chỉ là cuộc đời tầm thường. Mệnh xấu nhưng nếu được một vận hay có thể trở nên oanh liệt mặc dầu chóng tàn.

Tây phương cũng nhìn nhận có vận hạn trong đời người mà họ gọi là : /La loi des series/.Vận khác với may rủi, may rủi là những sự việc xảy ra trong khoảnh khắc, còn vận là những sự việc tốt hoặc xấu xảy ra trong một hạn độ thời gian dài liên tiếp toàn chuyện tốt hay liên tiếp toàn chuyện xấu. Điều này rất thường thấy. Có gia đình bỗng nhiên người mẹ phát điên, rồi người cha bị thương mất hết sức làm việc, đến cô con gái bị đuổi ra khỏi sở. Ta khả dĩ giảng tình cảnh trên bằng lý luận khoa học rằng : sở dĩ người cha bị thương chắc vì ông buồn chuyện bà vợ điên nên đầu óc thiếu minh mẫn và sở dĩ cô con gái bị đuổi vì cô đau khổ mà sao nhãng công việc, những đau khổ đi sau hết thảy đều là kết quả của đau khổ đầu tiên mà tạo nên tình cảnh hoạ vô đơn chí. Giải thích như vậy nghe cũng suôi suôi. Tuy nhiên còn bao chuyện khác không thể cứ dùng mãi lý luận trên được. Tỉ dụ

câu chuyện sau đây :

Vào thời kỳ /Directoire/ của đại cách mạng Pháp có một chiếc xe thơ đi từ Paris đến Lyon mang theo chiếc rương lớn đựng đồ vật quí giá bị bọn ăn cướp tấn công lúc 9 giờ tối trong khu rừng Sénart. Ngày  hôm  ấy  là  ngày  mồng  8.  Kết  quả  cả  bọn  cướp  bị  sa  lưới  pháp  luật  gồm  6  tên  là Cuorriol, thủ phạm ngồi trên xe bên cạnh người xà ích và Durochal, Rossi, Vidal, Dubosq dùng ngựa mướn để chặn xe và sau cùng là Bernard kẻ môi giới mướn ngựa cũng được chia phần đánh cướp. Tất cả đều lần lượt bị đưa lên máy chém. Vụ án nếu chỉ có vậy thì ghi vào lịch sử tư pháp làm  gì  ?  Sở  dĩ  nó  thành  lịch  sử  là  vì  công  lý  đã  giết  oan  thêm  một  mạng.  Kẻ  vô  tội  tên  là Lesurques. Khi bị kết án tử hình, anh ta luôn luôn gào thét khóc lóc phản kháng rằng mình không dính líu gì vào chuyện cướp bóc, chính 6 tên cướp cũng đều nhận không hề biết Lesurques là ai. Tại sao Lesurques lại rơi vào oan ngục này ? Chỉ có thể nói là tại một vận hạn quá xấu của hắn gây nên. Hắn từ quận Doai mang theo mình 88.000 đồng lia lên Paris với mục đích tìm chỗ học cho mấy đứa con. Đến Paris, Lesurques dùng cơm tối tại nhà người bạn tên Gunesno thì vừa lúc Cuoriol thủ phạm vụ cướp cũng tới đó và được mời ăn luôn thể sẵn bữa. Vụ đánh cướp xảy ra, Cuoriol  bị  lộ  tung  tích  và  cảnh  sát  liền  cho  gọi  Guesno  để  thẩm  vấn,  nhưng  Guesno  đã  chứng minh cho cảnh sát lý lẽ đầy đủ y vô can, ông thẩm phán liền trả tự do lập tức cho Guesno. Vì được tha vào buổi chiều tối nên Guesno phải chờ ngày hôm sau mới tới lấy giấy tờ tuỳ thân của y.

Ngày 11, Guesno ra sở cảnh sát lấy giấy tờ, nửa đường gặp Lesurques và ngỏ lời rủ bạn cùng đi rồi sau đó sẽ kiếm chỗ nhậu.Trong lúc Guesno và Lesurques ngồi chờ ông quận trưởng ký thì cảnh sát dẫn vào hai người đàn  bà  hành  khách  của  chiếc  xe  thơ  bị  cướp.  Họ  trong  Lesurques  rồi  nhận  lầm  Lesurques  là Duborq, họ liền la lên nhất định là đã nhận ra một trong những tên cướp.Nhà chức trách tìm hiểu lý lịch của Lesurques thấy hắn có một quá khứ hoàn toàn lương thiện nên cho Lesurques mọi dễ dãi để chứng minh sự vô tội của hắn. Lesurques cho biết ngày mùng  8,  anh  ta  ở  nhà  một  người  cùng  làng  tên  Legrand  thợ  kim  hoàn  và  đã  chứng  kiến  việc Legrand bán một một số đồ vàng bạc cho người đồng nghiệp tên Aldenoff. Lẽ đương nhiên, nhà chức trách cho gọi Legrand đến mang theo giấy tờ hoá đơn bán số vàng bạc kia. Thật là khó ngờ Legrand khi xét lại hoá đơn thấy đề ngày mồng 9 chứ không phải ngày mồng 8. Muốn cứu bạn, Legrad đem tẩy xoá số 9 rồi biên đè con số 8 lên. Hành động vụng về của hắn đã chẳng cứu được bạn, trái lại còn đẩy Lesurques vào đất chết. Nhà chức trách khám phá ra vết tẩy xoá từ đó họ không tin bất cứ một nhân chứng nào khác mà Lesurques nại ra nữa.Lesurques bị khép án tử hình và tịch biên gia sản.Kể từ lúc thưa án đến lúc đưa đi hành hình cách nhau 87 ngày.

Trong khoảng thời gian này nhà  chức  trách  vẫn  không  tìm  ra  băng  chứng  sác  thực  .  mà  cơ  quan  "Directoire" lại không có quyền ân xá mới gửi văn thư lên Hội Đồng "Cinq Cents" với câu hỏi :"Có đưa Lesurques lên máy chém chỉ vì y giống kẻ cướp hay không ?"Vì bận việc trước một tinh hình rối loạn, Hội Đồng "Cinq Cents" chẳng cứu xét, cứ cho quyhành bản án.Ơ pháp trường Courriol la lên:

- Lesurques là kẻ vô tội! Lesurques vô tội!

Chẳng ai nghe. Một năm sau tên Dubosq mới bị bắt. Bấy giờ nỗi oan của Lesurques mới sáng tỏ. Chính quyền hối hận đã giết oan mạng người nên cho đi tìm gia đình Lesurques. Được biết bà mẹ Lesurques   đã chết vì đau buồn, vợ Lesurques phát điên, còn 3 đứa con sống lê la trong bùn lầy tăm tối.

Về trường hợp Lesurques cả bao ngàn năm trước người Đông phương đã từng biết, từng nếm trải và nhìn nhận đấy là vận mệnh.Cuộc đời Napoléon có một vận lên như diều gặp gió, gặp bất cứ việc gì cũng đều là cơ hội tốt nhất là những lúc mọi người  chung quanh ông đứng vào cùng một hàng ngũ với ông gặp khó khăn thì mọi khó khăn của họ trở thành cơ hợi đưa ông lên cao. Napoléon thất trận tại Ai Cập nhưng sự thất bại này lại là cái cầu cho ông trở về Paris mà lên ngôi vua. Qua sang vận khác Napoléon gặp liên tiếp những sóng gió, những lỗi lầm và những bại trận để rồi đưa đi đày cho đến chết.

Cuộc đời Adolf Hitler cũng thế bao sự việc gây nên cái chết của ông tính kỹ ra đều đi ra ngoài cái /Logique/ chính trị thời đó. Thí dụ một nước Hi Lạp nhỏ bé đã dám ngang nhiên cứng đầu chống Đức quốc xã hùng cường mà Nga Xô đang phải lo sợ. Tỉ dụ quốc gia Nam Tư đã chấp nhận cuộc chiến với Đức quốc xã bằng thế tương quan lực lượng trứng chọi đá. Nếu đem/Logique/ chính trị ra mà suy đoán thì không ai hiểu nổi.Khoa Tử Vi cho đời người có hai vận hạn là: Đại hạn hay vận hạn  kéo dài 10 năm và tiểu hạn hay tiểu vận kéo dài 1 năm.

Tính đại vận Tử Vi căn cứ vào cục để xem đại vận bắt đầu từ năm mấy tuổi ? Người hoả lục cục thì đại vận tính từ số 6 và khởi ở mệnh hoặc đi nghịch hoặc đi thuận mỗi cung 10 năm.Tính tiểu vận Tủ Vi căn cứ hàng chi của năm sinh mà bắt đầu, có câu ca an tiểu hạn rằng: Dần Ngọ Tuất nhân khởi Thìn cung Thân Tí Thìn nhân khởi Tuất cung Tị Dậu Sửu nhân khởi Mùi cung Hợi Mão Mùi nhân khởi sửu cung Lối tính tiểu hạn xưa nay vẫn có sự tranh luận giữa hai phái :

a)   Một phái khởi đại hạn bắt đầu từ Mệnh cung đi.

b)   Một phái căn cứ vào chính thư (?)

Và Tử Vi đầu số của La Hồng Tiên có ghi lối an đại hạn rằng :

Dương nam âm nữ tòng mệnh tiền nhất cung khởi (thị phụ mẫu cung)

Âm NÂm Dương nữ tòng mệnh hậu nhất cung khởi (thị huynh đệ cung)

Như vậy đại hạn không bắt đầu từ Mệnh cung tính đi mà từ cung sau hay trước cung Mệnh. Phái nào đúng ? Không thể lấy gì mà quyết đoán, vấn đề lại rất quan trọng vì nó chênh lệch những 10 năm trong một đời người. Đây thật là cái kẹt lớn cho khoa Tử Vi vô hy vọng phá bỏ được.

Sau đây là ảnh hưởng của các sao vào đai tiểu hạn theo Tử Vi đẩu số toàn thư :

Tử vi nhập hạn ca

Tử Vi viên nội cát tinh làm

Nhị hạn tương phùng phúc lộc hưng

Thường nhân đắc ngộ đa tài phú

Quan quí phùng chi chức vị thăng

Tử Vi nhập hạn bản vi tường

Chỉ khủng tam phương sát phá lang

Thường thứ phùng chi đa bất lợi

Quan viên giáng chích hữu kinh thương.

Nghĩa là :

/ Tử Vi miếu viên có nhiều sao tốt, hạn đến đây nhiều phúc lộc, người thường kiếm  thêm  tiền  bạc,  người  quan  quí  chức  vị  thăng.  Tử  Vi  nhập  hạn  rất  hay  chỉ  sợ  tam phương có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thường nhân bất lợi, quan quí giáng chức/. Thiên cơ nhập hạn ca Nam nữ nhi hạn trí Thiên Cơ Lộc chủ Khoa Quyền đại hữu vi Xuất nhập kinh doanh đa ngô qúi Vinh ưng kháo mệnh quí như hà Thiên Cơ chiếu hạn bất an ninh Gia sự phàn phàn ngoại sự đa Cánh ngộ Dương Đà tính Cự âm Tu tri thử tuế nhập nam kha.

Nghĩa là :

/ Số đàn ông đàn bà gặp hạn Thiên Cơ có Khoa Quyền Lộc, ra vào làm ăn kinh doanh thường được quí nhân giúp đỡ, vinh hiển vô cùng. Sao Thiên Cơ chiếu vào hạn cuộc sống sẽ bất an, gia sự rối rắm lại thêm Dương Đà xung cùng Cự Môn hãm địa, có thể đưa đến sụp đổ/.

Thái Dương nhập hạn ca

Nhị hạn thiên nghi kiến Thái Dương

Thiên tài tấn nghiệp phúc phi thường

Hôn nhân hoà hợp thiêm tự lục

Sĩ giả cao thiên toạ miếu đường

Thái Dương thủ hạn hữu đa ban

Hãm địa tu phòng ác sát xàm

Gia Kị phùng hung đa trở trệ

Hoành sự phá tài gia đinh linh.

Nghĩa là :

/ Đại Tiểu Hạn nên gặp Thái Dương đắc địa sẽ nhiều tiền tấn nghiệp, vợ chồng hoà thuận đẻ con trai, kẻ sĩ công danh hiển đạt.Sao Thái Dương nhập hạn nếu ở hãm địa bị ác tinh xung phá lại có Hoá Kị thì việc gì cũng hỏng, vỡ nợ điêu linh/.

Vũ khúc nhập hạn ca

Đại Tiểu Hạn phùng Vũ Khúc tinh

Nhược hoàn nhập miếu chủ tài hưng

Cánh gia Văn Xương làm Tả Hữu

Phúc Lộc Song toànđắc xứng tâm

Vũ Khúc làm hạn Hoá Quyền tinh

Tối lợi cầu mưu sự hữu thành

Cánh Ngộ cát tinh đồng hội hợp

Văn nhân danh hiển thứ nhân hưng

Vũ Khúc chi tinh chủ quan nhân

Công lại phùng chi hình trượng lai

Thường thứ phùng chi hoàn phụ trái

Quan viên trí thử hữu kinh hoài.

Nghĩa là :

/ Đại Tiểu Hạn gặp sao Vũ Khúc nhập miếu tiền tài hưng vượng lại thêm Văn Xương và Tả Hữu thì phúc lộc Song toànxứng ý.Vũ Khúc nhập hạn có Hoá Quyền, cầu mưu gì cũng thành, thêm các sao tốt trợ lực, văn nhân danh nổi, thứ nhân làm ăn phát đạt.Vũ Khúc là sao liên hệ đến quyền vị, nhập hạn ở hãm địa người công chức dễ gặp rắc rối hình phạt, dân giả hay mắc nợ, kẻ quyền quí lo âu /.

Thiên Đồng nhập hạn ca

Nhân sinh nhị hạn tri Thiên Đồng

Hỉ khí doanh môn vạn sự vinh

Tài lộc tăng thiêm nghi sáng tạo

Tòng kim gia đạo đắc phong Long

Lưu nhiên nhị hạn trí Thiên Đồng

Hãm địa tu phòng ác sát xung

Tác sự mỹ trung, chung bất mỹ

Duy phùng quan phá cập gia khuynh.

Nghĩa là :

/ Đời người nhị hạn mà gặp sao Thiên Đồng thì hỉ khí đầy cửa mọi sự hanh thông, tài lộc phát đạt nên gây dựng một việc gì mới, gia đạo hạnh phúc.Nếu sao Thiên Đồng vào hãm địa rất sợ ác sát xung, làm việc gì cũng hỏng, mất chức vỡ nợ /.

Liêm Trinh nhập hạn ca

Liêm Trinh nhập hạn vượng cung làm

Hỉ phùng cát diệu phúc vinh tần

Tài vật tự nhiên đa tích súc

Nhiệm nhân đắc ý vị cao thăng

Đại Tiểu nhị hạn ngộ Liêm Trinh

Cánh hữu Thiên Hình kị nhẫn xám

Nùng huyết hình tai đào bất đắc

Phá Quân Tham Sát phó u minh.

Nghĩa là :

/ Liêm Trinh nhập hạn vào vượng cung, có cát tinh phò trợ, tài vật tự nhiên tích súc, mưu cầu lên chức dễ thành.Đại Tiểu hạn gặp sao Liêm Trinh lại ngộ Thiên Hình thì tối kị có Kình Dương sẽ gặp tai nạn đổ máu hoặc tù tội. Nặng hơn nữa là

thêm Phá Quân có thể chết /.

Thiên phủ nhập hạn ca

Hạn làm Thiên Phủ năng tư lộc

Sỉ thứ phùng chi đa phát phúc

Thiêm tài tấn hỉ vĩnh vô tai

Thả dả nhuận thân tịnh nhuận ốc

Nam đẩu tôn tinh nhập hạn lai

Sở vi mưu sự xứng tâm hoài

Nhược hoàn hựu Hoá Khoa Quyền Lộc

Chỉ nhận hân nhiên triển đại tài.

Nghĩa là :

/ Hạn đến sao Thiên Phủ chủ về tài lộc, kẻ sĩ cũng như thứ nhân đều hay, thêm tiền thêm mừng vui vô tai họa, ấm thân xây cao nhà cửa.Mưu sự xứng tâm, nếu có cả tam Hoá Khoa Quyền Lộc nữa thì có thể định ngày phát triển tài năng sẳn có /.

Thái Âm nhập hạn ca

Thái Âm tinh hạn trùng phùng

Tài lộc phong doanh bách sự thông

Giá thú thân nghinh thiêm tự tục

Thường nhân đắc thử vượng môn phong

Nhị hạn thiện nghi kiếm Thái Âm

Thiêm tấn tài ốc phúc phi khinh

Hỏa Linh nhược dã lai tương tấu

Vị miễn quan tai bệnh hoạn lắm

Hạn chí Thái Âm cư phản bội Bất hỉ

Dương Đà tam sát hội

Hoả Linh nhị hạn tối vi hung

Ngược bất quan tai đa phá hối.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Thái Âm , tài lộc nhiều mưu việc tốt, lấy vợ lấy chồng đẻ con thêm đinh thêm tài, nhà cửa hưng vượng.Đại Tiểu Hạn nên gặp Thái Âm phúc lộc không ít nhưng chớ có Hỏa Tinh, Linh Tinh mới được nếu có tất bị tai ách bệnh hoạn.Hạn mà gặp Thái Âm hãm địa (phản bội) lại thêm Dương Đà, Linh Hỏa nữa thì rất nguy hiểm /.

Tham Lang nhập hạn ca

Bắc Đẩu Tham Lang nhập hạn lai

Nhược hoàn nhập miếu sự hài hoà

Khoa Lộc sĩ lộ đa thành tựu

Tất chử đương niên phát hoạnh tài

Tham Lang chủ hạn tứ mộ làm

Cánh hỉ nhân sinh tứ mộ sinh

Nhược kiến Hỏa Tinh đa hoạnh phát

Tự nhiên phú quí quán hương lân

 Hạn chí Tham Lang hãm bất lương

Chỉ nghi tiết dục tức tai thương

Đổ đãng phong lưu khứ tài bảo

Cát diệu tam phương khả miễu tai

Nữ hạn Tham Lang sự bất lương

Nghi hoài lục giáp miễu tai ương

Nhược vô cát diệu lai tương hội

Tu tri nhất mệnh nhập hoàng tuyền.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Tham Lang miếu địa rất hay, mưu cầu quan tước dễ dàng, thường phát hoạnh tài mọi việc suôi lọt.Tham Lang cư tứ mộ, hạn đến đấy lại là người sinh vào các năm Thìn Tuất Sửu Mùi gặp  được  sao  Hỏa  Tinh  là  tuyệt  hảo,  làm  giàu  nhanh  chóng  phút  chốc  mà  hơn  hết  mọi người.Tham Lang đáo hạn ở hãm địa rất tai hại nên tiết dục để tránh bệnh hoạn, chớ có bài bạc mà mất nghiệp.Số đàn bà hạn đến Tham Lang đáng lo lắm nếu không có sao cát phù trợ sẽ hết sống. Người tuổi Giáp đỡ hại hơn /.

Cự Môn nhập hạn ca

Cự Môn chủ hạn hoá Quyền Tinh

Tối hỉ cầu mưu đại sự thành

Tuy hữu quan tai tịnh khẩu thiệt

Hung vi cát triệu đắc an ninh

Cự Môn hạn hãm tối quai trương

Vô sự quan phi náo nhất trường

Khốc khắp tang liên chung bất miễu

Phá tài ẩu khí thụ thê lương.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Cự Môn đắc địa thành Quyền tinh, mưu vọng đại thành mặc dù có tai vạ khẩu thiệt hoặc bị cách chức lúc đầu nhưng chính đấy lại là triệu chứng hay, mất chức để lên to hơn.Cự Môn nhập hạn dễ làm cho người buồn, nếu gặp Tang Môn mọi sự bất như ý, bị kiện cáo hoặc trong gia đình bị tang chế.Cự Môn đáo hạn hãm địa cực tai hại, vạ đâu bay tới, có tang, phá cơ nghiệp.

Thiên Tướng nhập hạn ca

Thiên Tướng chi tinh tối chủ tài

Chiếu lâm nhị hạn tất vô tai

Động tác mưu vi giai toại ý

Ưu du hưởng phúc tự nhiên lai

Thiên Tướng chi tinh hữu kỷ ban

Tam phương bất hỉ ác tinh triền

Dương Đà Không Kiếp trùng tương hội.

Khẩu thiệt quan tai hoa diệt liên

Hạn lâm Thiên Tướng ngộ Kình Dương

Tác họa hưng ương bất khả đương

Cánh hữu Hỏa Linh chư sát tấu

Tu giao nhất mệnh nhập hoàng tuyền.

Nghĩa là :

/ Sao Thiên Tướng lâm vào nhị hạn ở đắc địa, không sợ tai họa, mưu sự toại ý, hưởng phúc tự nhiên.Sao Thiên Tướng nếu bọ ác tinh vây bọc lại có cả Dương Đà,

Không Kiếp hội tụ thì vạ khẩu thiệt tụng đình tới triền miên.Hạn đến Thiên Tướng gặp Kình Dương có nhiều tai họa, nếu thêm Hoả Linh nữa là hạn chết /.

Thiên Lương nhập hạn ca

Thiên Lương hoá ấm cát tinh hoá

Nhị hạn phùng chi phúc tất đa

Nhược gia cát diệu phùng miếu địa

Qúi cực nhất phẩm phụ sơn hà

Hạn chí Thiên Lương tối thị lương

Do như thu các thổ hinh hương

Gia quan tấn chức nghinh tân lộc

Thường thứ phùng chi dã túc lương

Thiên Lương thủ hạn thọ diên trường

Tác sự cầu mưu cánh cát sương

Nhược ngộ Hỏa Linh Dương Đà hợp

Tu phòng nhất ách dữ gia vong.

Nghĩa là :

/ Thiên Lương vốn là sao che chở, vào nhị hạn gặp sao tốt được nhiều phúc lộc, gặp cát diệu nơi miếu địa cực nhất phẩm.Hạn đến Thiên Lương rất tốt, ví như hoa cúc tới mùa thu sực nức hương thơm, mưu vọng quan chức đều thành, kẻ dân giả cũng đủ lương ăn.Thiên Lương đóng hạn, sức khoẻ dồi dào, già thêm tuổi thọ, làm

việc hay mưu cầu toại ý, nhưng chớ gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh vì sẽ gây nguy hại vô

kể tan cửa nát nhà/.

Thất Sát nhập hạn ca

Nhị hạn tuy nhiên phùng Thất Sát

Thung dung  hoà hoãn gia đạo phát

Đối cung Thiên Phủ chính triều lai

Sĩ hoạn phùng chi danh hiển đạt

Thất Sát chi tinh chủ thu khanh

Tác sự gian nan câu hữu thất

Cánh gia ác diệu tại hạn trung

Chủ hữu quan tai đa bệnh tật.

Nghĩa là :

/ Hai Đại Tiểu Hạn tuy gặp Thất Sát (nếu đắc địa) gia đạo thân thế vẫn ung dung phấn phát, đối cung lại có sao Thiên Phủ triều kẻ sĩ gặp hạn này danh hiển đạt.Thất Sát vốn là sao gây tiếng than van hạn Thất Sát (hãm địa) thế nào cũng vất vả gian nan, bị thêm ác diệu nữa thì quan tai tật bệnh miên man /.

Phá Quân nhập hạn ca

Phá Quân nhập hạn yêu suy tưởng

Miếu địa phương tri Phúc Lộc Xương

Cánh ngộ Văn Xương đồng Khôi Việt

Hạn làm thử địa cực phong quang

Phá Quân nhập hạn yêu suy tưởng

Miếu địa vô hung thiểu tổn thương

Sát tấu Phá Quân phòng hao phá

Cánh phòng the tử tự thân vong

Phá Quân nhập hạn đa nùng huyết

Thất thoát quai trương bất khả thuyết

Cánh trí nữ nhân chủ hiếu phục

Huyết quang sản nạn tai ương tiết.

Nghĩa là :

/  Hạn  đến  Phá  Quân  phải  xét  cho  tường,  nếu  ở miếu địa thì phúc lộc dồi dào, lại thêm Văn Xương, Khôi Việt, hạn đó cuộc sống tất phong quang sáng sủa.Hạn đến Phá Quân phải xét cho kỹ, ở miếu địa không gặp hung tinh mới ít tổn thương, nếu bị ác tấu tụ đề phong hao phá nặng, đề phòng vợ con chết chóc, bệnh nặng.Hạn Phá Quân sự thất thoát hao tài, tai nạn không thể lường được, số đàn bà có đại tang hoặc khó đẻ /.

Lộc Tồn nhập hạn ca

Lộc Tồn chủ hạn tối vi lương

Tác sự cầu mưu tận cát tường

Sĩ lộc phùng chi đa chuyển chức

Thứ nhân ngộ thử túc tiền lương

Lộc Tồn thủ hạn thọ diên trường

Tác sự doanh mưu vạn sự xương

Lộc Tồn lộc chủ đa phú túc

Hôn nhân giá thú thiêm tự tục.

Cánh kiêm Khoa Lộc hựu đồng cung

Tất chủ vinh hoa hưởng hậu phúc

Lộc Tồn giao tri hạn bộ phùng

Tối Phá Kiếp Không tương hội đồng

Cánh kiêm Thái Tuế ác tinh

xung Hạn đảo kỳ niên nhập mộ trung.

Nghĩa là :

/ Hạn Lộc Tồn cực tốt, mưu sự hay, người quyền quí chuyển chức kẻ thứ dân phát tài. Lộc Tồn làm hạn sức khỏe trường thọ, có thêm Khoa Quyền Tả Hữu tất vinh hoa.Lộc Tồn thường phú túc, hạn Lộc Tồn cũng là hạn lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái.Lộc Mã giao trì đáo hạn tối Kị Thiên Không, Địa Kiếp và Thái Tuế xung dễ chết/.

Kình Dương nhập hạn ca

Kình Dương thủ hạn tế suy tưởng

Tứ mộ sinh nhân miễn họa ương

Nhược ngộ Tử Vi Xương Phủ hội

Tài quan hiển đạt phúc du trường

Thiên La Địa Võng ngọ Kình Dương

Nhị hạn xung hề họa hoạn trạng

Nhược thị mệnh Trung chủ tinh nhược

Đinh giao nhất tật mộng hoàng lương.

Nghĩa là :

/ Hạn có sao Kình Dương, người tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi không sợ họa ương, nếu lại được Tử Vi, Văn Xương, Thiên Phủ tất là quan hiển đạt bội phần.Hạn gặp Kình Dương tại cung Thiên La Địa Võng nhị hạn phùng xung mà chính diệu ở

cung Mệnh xấu có thể bị bạo bệnh chết /.

Đà La nhập hạn ca

Hạn ngộ Đà La sự diệc đa

Tất nhiên nhẫn nại yêu khiêm hoà

Nhược vô cát diệu lai tương hội

Tu giao nhất mộng nhập nam kha

Hiệp thân hiệp mệnh hữu Đà Dương

Hỏa Linh Không Kiếp Hựu lai thương

Thiên Lộc bất phùng sinh vượng địa

Hình thê khắc tử bất vi lương.

Nghĩa là :

/ Hạn gặp Đà La việc lôi thôi thật lắm nếu không được cát diệu phù trợ, tất cả sẽ sụp đổ. Kình Đà hiệp mệnh hay hiệp thân, lại bị Hỏa Linh, Không Kiếp xung phá, sao Thiên Lộc rơi vào hãm địa thì hình thê khắc tử /.

Hoả Tinh nhập hạn ca

Hỏa Tinh đắc địa hạn cung phùng

Hỉ khí doanh môn bách sự thông

Sĩ hoạn phùng chi giai phát phúc

Thường nhân đắc thử tài phong Long

Hỏa Tinh nhất tú tối quai trương

Vô sự quan tai náo nhất trường

Khắc hại lục thân ưng bất miễn

Phá tài gian khổ miễn sương hoàng.

Nghĩa là :

/ Hạn Hỏa Tinh đắc địa cực tốt, làm quan thăng chức, đi buôn phát tài, hỉ khí đầy nhà đầy cửa.Hạn Hỏa Tinh hãm địa, hoạ trên trời rơi xuống khắc hại bà con phát tài gian khổ/.

Linh Tinh nhập hạn ca

Hạn chi Linh Tinh sự nhược hà

Tham Lang tương ngộ phúc hoàn đa

Cánh gia nhập miếu phùng chư cát

Phú quí thanh dương sứ sứ ca

Linh Tinh nhất tú bất khả đương

Thủ lâm nhị hạn tất điên cuồng

Nhược vô cát nhất diệu lai tương chiếu

Vị miễn chiêu tai nặc hoạ ương.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Linh Tinh gặp được Tham Lang hẳn nhiên phú quí nổi danh.Linh tinh là sao mang hoạ đến   vận hạn con người, gây sự đảo lộn nếu không được cát tinh phù thì tai ách liên miên /.

Thiên Không nhập hạn ca

Thiên Không nhập hạn phá điền trang

The tử tu phòng hữu tổn thương

Tài Bạch bất duy đa thất bại

Cánh ưu thọ mệnh nhập tuyền hương.

Nghĩa là :

/ Sao Thiên Không nhập hạn phá hết của cải, khắc thê hại tử, còn phải lo chính đến sự sống chết của bản thân /.

Địa Kiếp nhập hạn ca

Kiếp tinh nhị hạn nhược tương phùng

Vị miễn đương niên vô họa nguy

Thái Tuế sát lâm đa tật ách

Quan phù tinh ngộ hữu Quan phủ.

Nghĩa là :

/ Địa Kiếp nhập vào Đại Tiểu Hạn, năm ấy khó lòng không bị nguy, hoạ thêm sát tinh Thái Tuế nhiều chuyện lôi thôi /.

Thiên Lương thiên sứ nhập hạn ca

Thiên Hao thủ hạn hiệu Thiên Thương

Phu Tử  tại Trần đã tuyệt lương

Thiên Sứ hạn lâm nhân cộng kị

Thạch Sùng hào phú phá gia vong.

Nghĩa là :

/ Thiên Thương mang biệt danh là Thiên Hao đóng vào hạn khiến cho Đức Khổng Tử bị tuyệt lương tại nước Trần. Hạn đến Thiên Sứ cũng bội phần nguy hiểm, đại phú Thạch Sùng tan cửa nát nhà ở hạn này /.

Thiên Mã nhập hạn ca

Thiên Mã làm hạn tối vi lương

Tử Phủ Lộc Tồn ngộ phi thường

Quan phí phùng chi ưng hiển đạt

Sĩ nhân ngộ thử phó khoa trường

Thiên Mã thủ hạn bất đắc trụ

Hựu pha Kiếp Không lai tương ngộ

Cánh kiêm Thái Tuế tọa cung trung

Hạn đáo kỳ nhân tầm tử lộ.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Thiên Mã tốt lắm nếu gặp Tứ Phủ và Lộc Tồn, người chức tước càng hiển đạt, kẻ học trò sẽ danh chiếm bảng vàng.Hạn đến Thiên Mã nhưng là thứ Thiên Mã hãm địa (mã đắc địa Dần Thân Tị) rất sợ Kiếp Không, nếu bị thêm Thái Tuế nữa là hạn vào tử lộ /.

Hoá Lộc nhập hạn ca

Hạn trung nhược ngộ Lộc lai lâm

Tước vị cao thiên tá thánh minh

Thường thứ tương phùng đương đại quí

Tự nhiên súc tích quảng kim ngân.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Hoá Lộc, dễ có tước vị, người thường cũng trở thành cao sang, tiền bạc tự nhiên súc tích làm ăn phát đạt /.

Hoá Quyền nhập hạn ca

Thử tinh chủ hạn hỉ phi thường

Quan Lộc cao thăng tá đế vương

Tài bạch phong thiêm quan sáng nghiệp

Tòng kim gia đạo bảo an khang

Quyền tinh thử ngộ Vũ Tham lâm Tác

sự cầu mưu tận đắc thành

Sĩ tử danh cao thiên phú lộc

Thứ nhân đắc thử tích kim ngân.

Nghĩa là :

/ Hoá Quyền thủ hạn là điều đáng mừng, quan lộc cao sang, tài bạch nhiều có thể dựng nghiệp mới, gia đạo an khang.Hoá Quyền gặp Vũ Khúc, Tham Lang đáo hạn làm việc gì cũng trót lọt, sĩ tử danh cao, thứ dân phát đạt /.

Hoá Khoa nhập hạn ca

Khoa tinh nhị hạn ngộ Văn Xương

Sĩ tử phùng chi tinh danh hương

Tăng đạo thứ nhân đa phú quí

Bách mưu bách toại sự anh dương.

Nghĩa là :

/ Hạn đến Hoá Khoa gặp Văn Xương, kẻ sĩ đỗ đạt nổi danh, thứ dân phú quí, trăm việc đều thành /.

Hoá Kị nhập hạn ca

Kị tinh nhập miếu phản vi giai

Túng hữu quan tai diệc bất thương

Nhất tấn nhất thoái danh bất toại

Cánh kiêm ngộ cát hảo an khang

Nhị hạn không trung kiến kị tinh

Chí tài vi họa tất gia khuynh

Vi quan thoái chức tao trang lạm

Tể lại tu phòng cấm trượng hình

Kị tinh lạc hãm tại nhân cung

Ac Sát gia lâm tác họa hung

Tài tán nhân ly đa tật khổ

Thương quan thoái chức hiếu trùng phùng.

Nghĩa là :

/ Hoá Kị nhập miếu lại thành hay, dù có quan tai cũng chẳng sao chỉ hiềm sự việc tấn thoái vô thường công danh bất toại.Đại tiểu hạn đến Thiên Không gặp Hoá Kị tai họa vô kể, làm quan thoái chức, làm lại bị hình phạt, đi buôn mất của.Hoá Kị lạc hãm thêm ác sát tinh, tài tán người lìa đa bệnh tật, thoái chức, tang ma.Ngoài đại tiểu hạn 10 năm là lưu niên 1 năm, trong Tử Vi đẩu số toàn thư còn có câu quyết để nói về những năm mang ảnh hưởng xấu cho số mệnh mỗi người :

Nhân sinh Tí Ngọ kị Dần Thân

Sửu Ngọ sinh niên Sửu Ngọ sân

Dần Mão chi nhân phòng Tị Hợi

Sà Long thiết kị bản thân lâm

Thân nhân Linh Hỏa tai ương trọng

Mùi Ngọ chư mộ hoạn âm

Tuất Hợi Dương Đà tu Tị kị

Dậu nhân Đà nhẫn diệc phi thân.

Nghĩa là :

/ Người sinh năm Tí, năm Ngọ không tốt khi gặp năm Dần Thân. Người sinh năm Sửu năm Ngọ sẽ kém vào các năm Sửu Ngọ.Người tuổi Dần Mão kị các năm Tị Hợi.Người tuổi Tị kị năm Tị, người tuổi Thìn kị năm Thìn. Người tuổi Thân hạn đến Hỏa Linh Tinh không tốt. Người tuổi Mùi kị gặp năm Dậu Hợi Người tuổi Tuất Hợi kị gặp hạn Dương Đà. Người tuổi Dậu cũng kị gặp hạn Dương Đà.Câu quyết trên đây đã từng được phổ biến vào tư tưởng thường nhật của mọi người biết Tử Vi hay không biết Tử Vi tức chúng ta vẫn nói với nhau năm xung năm tuổi. Xét cho kỹ đây chỉ là câu quyết của mấy người thuật sĩ giang hồ, không có mấu cớ chắc chắn vì nếu cứ tính miên mang như vậy thì con người ta chẳng có năm nào tốt nữa. Ngay cả nói đến xung, rất nhiều trường hợp gặp xung lại phát đạt phi thường.

Ông Lưu Bá On trong tập / Trích Thiên Tuỷ / nói rằng :

Vượng giả xung suy, suy giả bạt

Suy thần xung vượng, vượng giả phát

(Vượng mà xung suy, suy bị tiêu

Suy mà xung vượng, vượng lại phát) .

Điều quan trọng vẫn là Mệnh Thân và hạn có vượng không đủ.

LUẬN VỀ NỮ  MỆNH

Tử Vi đẩu số toàn thư viết :

/ Nam nữ mệnh bất đồng, tinh tú cách biệt. Xem nam mệnh trước xem thân mệnh, sau đến tài bạch rồi quan lộc và thiên di, rồi mới kể đến phúc đức và chót cùng lần lượt xem điền trạch, thê thiếp, tật ách, phụ mẫu, tử tức, huynh đệ, nô bộc.

Xem nữ mệnh liền sau thân mệnh đến ngay cung phúc đức, thứ ba tới cung phu rồi

mới  lần  lượt  qua  các  cung  khác  như  tử  tức,  tài  bạch,  điền  trạch,  quan lộc, thiên di, phụ mẫu, tật ách, huynh đệ, nô bộc.Nữ mệnh quí ở nhu thuận, khi tĩnh, nữ mệnh mà cương động thường vất vả /.

Dưới đây là ảnh hưởng của các sao đối với nữ mệnh qua các bài ca ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư.

Tử Vi nữ mệnh ca

Tử Vi nữ mệnh thủ Thân cung

Thiên Phủ tôn tinh đồng đáo cung

Cánh đắc cát tinh đồng chủ chiếu

Kim quan phong tặng phúc thao thao

Tử Vi nữ mệnh thủ Phu cung

Tam phương cát củng tiện vi vinh

Nhược phùng sát Phá lai xung phá

Y lộc doanh dư dâm sảo dung.

Nghĩa là :

/ Số đàn bà Tử Vi lâm vào cung Thân mệnh, đi cặp với Thiên Phủ lại thêm cát tinh khác thì phúc lộc thao thao y quan phong tặng.Tử Vi đóng tại cung Phu, tam hợp có cát tinh chiếu tất chồng giàu sang vinh hiển,nếu bị Thất Sát, Phá Quân tuy dư ăn dư để nhưng con người sảo và dâm /.

Phú nôm có những câu :

Tử Vi đóng mệnh người hiền

Vượng phu ích tử lại thêm sang giàu

Còn nữ mệnh xem tường sau trước

Tử Phá Tham hội ước đa dâm

Hoặc Đào Hoa ắt gian truân

Duyên may khó sớm dự phần Phượng Loan.

Thiên Cơ nữ mệnh ca

Thiên Cơ nữ mệnh cát tinh phù

Tác sự thao trì quá trượng phu

Quyền Lộc cung trung phung thủ chiếu

Vinh ưng kháo mệnh qúi như hà

Thiên Cơ tinh dữ Thái Âm đồng

Nữ mệnh phùng chi tất soả dung

Y Lộc phong nghiêu chung bất mỹ

Vi sương vi thiếp chủ dâm phong.

Nghĩa là:

/ Thiên Cơ ở nữ, mệnh được cát tinh phi trì, làm việc còn giỏi hơn đấng trượng phu, lại gặp Quyền Lộc thủ chiếu nữa thì vinh hoa biết thế nào mà kể.Thiên cơ nữ mệnh đi với Thái Âm là người đẹp nhưng lảng mạn vô tả, giầu sang dưdả đã đành nhưng dễ đi vào dâm phong làm thiếp làm ca kỹ/.

Phú nôm có những câu :

Sát hung kém phúc đã đành

Dần Thân Cơ Nguyệt dành dành dâm bôn

Cự Cơ Dần Mão âu phú qúi

Lòng dâm tư vẫn để một bên

Đồng cung Cơ gặp Thái Âm

Góa chồng, tì thiếp gian dâm đáng buồn.

Thái Dương nữ mệnh ca

Thái Dương chính chiếu phụ nhân thân

Tư mạo thù thường tính cách trinh

Cánh đắc cát tinh đồng chủ chiếu

Kim quan phong tặng tác phu nhân

Thái Dương an mệnh hữu kỳ năng

Hãm địa tu phòng yếu sát lăng

Tác sự trầm ngâm đa tấn thoái

Tân cần độ nhật miễn gia khuynh

Thái Dương phản chiếu chủ tâm mang

Y tộc bình thường thọ bất trường

Khắc quá lương nhân hoàn khắc tử

Chỉ nghi ấm hạ tác thiên phòng.

Nghĩa là :

/ Thái Dương chính chiếu vào cung Thân của đàn bà thì sắc đẹp phi thường, tính cách đoan trang, thêm cát tinh phù trợ là bậc mệnh phụ phu nhân.Thái Dương cư Mệnh cung, người đàn bà rất tháo vát giỏi giang. Nếu hãm địa mà bị ác sát lăng phá thì phải hết sức cẩn thận, làm việc gì cũng biết tới lui mới tránh khỏi họa gia khuynh.Thái Dương phản bối bao giờ tâm địa cũng hoang mang bất nhất, y lộc bình thường, đoản thọ, khắc chồng, khắc con nên lấy làm lẽ và yên phận mới đỡ sóng gió /.

Phú nôm có những câu :

Nữ mệnh Dương chiếu ắt là

Phu nhân nếu chẳng gặp tà ác tinh

Dương, Cự Hao thật không lành

Chồng con phối hợp bất thành hôn nghi

Sát tinh Nhật Nguyệt hãm cung

Nam thì gian đạo, nữ dòng dâm bôn.

Nhật đắc địa từ Dần đến Ngọ

Tăng phong lưu nếu có cát tinh

Hai phương Phủ, Tướng triều minh

Giáp Canh Tân At càng xinh càng giàu.

Vũ Khúc nữ mệnh ca

Nữ nhân Vũ Khúc mệnh trung phùng

Thiên Phủ gia chí chí khí hùng

Tả Hữu Lộc lai tương phùng tụ

Song toàn phú quí mỹ vô cùng

Tướng tinh nhất tú tối cương cường

Nữ mệnh phùng chi tính dị thường

Y Lộc thao thao chung hữu phá

Bất nhiên thọ yểu chủ hung vong.

Nghĩa là :

/ Vũ Khúc đóng nữ Mệnh hội với sao Thiên  Phủ là người chí khí hùng tráng, thêmTả Hữu Song lộc nữa tất Song toànphú quí.Vũ Khúc đơn thủ nữ Mệnh, tính tình dị thường y lộc dư   đủ nhưng rồi cũng có ngày phá bại nếu không hưng vong yểu tử /.

Phú nôm có những câu :

Gặp Vũ, Tham Sát phải suy

Nếu không cát diệu đắm mê nhục tình

Vũ Quyền nữ Mệnh đồng lâm

Gái khôn khiến đấng phu quân nể vì

Vũ Khúc gọi Quả Tú tinh

Nữ mệnh gặp phải cướp tranh quyền chồng

Vũ Không gặp đất miếu viên

Khác chi Xương Khúc, gối loan lạnh lùng.

Thiên Đồng nữ Mệnh ca

Thiên Đồng thủ mệnh phụ nhân thân

Tính cách thông minh linh lợi nhân

Xương Khúc cánh lai tương hội xứ

Du du tài lộc tự thiên thân

Thiên Đồng nhược dữ Thái Âm đồng

Nữ Mệnh phùng chi dâm sảo dung

Y lộc truy phong chung bất mỹ

Thiên Phòng thị thiếp dữ nhân thông.

Nghĩa là :

/ Đàn bà sao Thiên Đồng thủ mệnh tính cách thông minh lanh lợi, hội Xương Khúc thì tài lộc tự nhiên tới.Thiên Đồng hội cùng Thái Âm , đàn bà đẹp nhưng dâm sảo, y lộc dư giả, chỉ hiềm là hoặc phải lấy lẽ làm thiếp, nếu không tất sẽ tư thông ngoại  tình /.

Phú nôm có câu :

Đồng Nguyệt Tí gái hoa dung

Gặp Tang, Diêu, Khốc khóc chồng lắm phen.

Liêm Trinh nữ mệnh ca

Nữ nhân thân Mệnh trí Liêm Trinh

Nội chính thanh liêm cách cục

tân Chư cát củng chiếu vô sát phá

Định giao phong tặng tại thanh xuân

Liêm Trinh, Tham Phá Khúc tương phùng

Đà Hỏa Giao gia cực tiện dụng

Định chủ hình phu kiêm khắc tử

Chỉ hảo thông phong sương tì dung.

Nghĩa là :

/ Liêm Trinh ở nữ Mệnh đắc địa, giỏi quán xuyến và thanh sạch được cát tinh trợ sang quí ngay từ lúc còn tuổi thanh xuân.Liêm Trinh nữ Mệnh gặp ở Tham Lang, Phá Quân Vũ Khúc thêm Đà La,  Hoả Tinh rất xấu, chủ hình phu khắc tử nếu không thì kiếp tôi đòi /.

Phú nôm có câu :

Liêm Tham đồng độ đảo điên

Trai thì phiêu lãng, gái duyên dâm tàng.

Thiên Phủ nữ mệnh ca

Nữ nhân Thiên Phủ mệnh thân cung

Tính cách thông minh hoa dang dung

Cánh đắc Tử Vi tam hội chiếu

Kim quan hà bội thu hoàng phong

Hoả Linh Kình Đà lai xung hội Tính

cách dung thường đa hối trẻ

Lục thân tương bối tử nan chiêu

Chỉ hảo Không Môn vi ni kế

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh Thiên Phủ tọa thủ tính cách thông minh sắc đẹp như hoa, được Tử Vi đắc địa chiếu tất là kim quan bội ngọc phu nhân.Thiên Phủ nếu bị Hỏa Linh, Kình Dương, Đà la xung phá, tính cách tầm thường ngu độn, xa lánh lục thân, khắc tử, chỉ nên làm ni cô cho đỡ vướng lụy trần thế/.

Phú nôm có câu :

Nữ mệnh có Phủ ai bì

Vượng phu ích tử thao ngay hiền hòa

Phủ rất ghét những sao Tứ Sát

Biến người thành hiểm ác gian manh.

Nữ mệnh Thái Âm ca

Nguyệt hội đồng Dương tại mệnh thân

Tam phương cát củng tất doanh phong

Bất kiến hung sát lai xung hội

Phú quí Song toàn bảo đáo chung

Thái Âm hãm tại mệnh hóa thân

Bất hỉ tam phương ác sát xâm

Khắc hại phu quân hựu yểu thọ

Cánh hu huyết khí thiểu tinh thần.

Nghĩa là :

/ Thái Âm cùng Thái Dương đồng cung, tam hợp cát tinh chiếu, không bị hung sát, phú quí song toàn đến trọn đời.Thái Âm ở hãm địa đóng tại Mệnh thân cung rất sợ các ác sát, có ác sát tất là yểu thọ, sát phu, hại phu, tinh thần trì trệ huyết khí hư hoại /.

Phú nôm có những câu :

Nguyệt miếu vượng là người to lớn

Gặm hãm cung hơi ốm mà cao

Nữ lưu Nguyệt vượng số sang

Là người nhan sắc đảm đang lợi chồng.

Tham Lang với Nguyệt cùng ngồi

Ở cung hãm địa ấy người dâm bôn

Thái Âm mệnh ở Mão Dần

Lo đường kinh nguyệt chẳng phần thÔng dong.

Tham Lang nữ mệnh ca

Tứ mộ cung trung đa cát lợi

Cánh phùng Tả Hữu phương vi quí

Lộc tài phong phú vượng phu quân

Tính cách cương cường đa chí khí

Tham Lang hãm địa nữ phi tường

Y thực tuy phong dã bất lương

Khắc hại lương nhân tinh Nam nữ

Hưu giao khâm trẩm thủ cô sương.

Nghĩa là :

/ Tham Lang ở tứ mộ địa Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tả Hữu mới hay, tài lộc phong phú làm lợi cho chồng, đàn bà tính cương cường chí khí.Tham  Lang  tại  hãm  địa,  con  gái  số  thực  đáng  chê,  vấn  đề  y  thực  truy  phong  túc nhưng khắc hại chồng con, đa số ôm chăn gối lạnh mà làm kiếp góa phụ hay ly phụ /.

Phú nôm có những câu :

Số Tham Phá Hào chồng rất kém

Những cô đơn dâm hiểm mà kinh.

Bạc tình là gái ghê thay

Dần Thân, Tham Sát giữ tày nhân cung.

Tham, Liêm hãm mệnh gian tà

Hồng Đào diệu Hỉ ắt là tham dâm.

Ghen đâu năm chọn tháng chày

Bởi Tham vượng địa đáng rày Mệnh cung.

Tham Liêm hội đồng cung phiêu lãng

Nếu nữ nhi là hạng dâm tà

Hợi cung càng hãm xem qua

Có ác tinh đóng ắt ra bần cùng.

Tham Đào số nữ bần dâm loạn

Ở hãm cung hãy đoán cho tường

Nhưng có Tuần Triệt lại phường đoan trinh.

Cự Môn nữ mệnh ca

Cự Môn vượng địa đa sinh cát

Tả Hữu gia lâm thọ cánh trường

Nữ nhân đắc thử thành vi quí

Liêm quyển châu châu tọa tú phòng

Cự Môn mệnh hãm chủ dâm sương

Thị nữ thiên phòng thủy miễn ương

Tướng mạo thanh ký đa cận sủng

Bất nhiên thọ yểu chủ hung vong.

Nghĩa là :

/ Sao Cự Môn nơi vượng địa thường lắm tốt lành, được Tả Hữu tuổi thọ thêm lên, người con gái được Cự Môn đắc địa dễ ngồi trong chăn hoa nệm gấm.Cự Môn cư hãm địa số con gái dâm sương, làm nàng hầu mới thoát nghiệp chướng, tướng mạo đẹp tốt dễ được sủng ái. Nếu không ở kiếp tì thiếp sẽ hung tử, yểu tử /.

Phú nôm có những câu :

Mão Dậu Cự Cơ rất hay

Công danh vinh hiển một tay anh hào

Nữ mệnh cách ấy đẹp sao

Vượng phu ích tử càng màu càng xinh

Cự Cơ Dậu Mão tuy là phú quí

Lòng dâm tư vẫn để một bên.

Thiên Tướng nữ mệnh ca

Nữ nhân chi mệnh Thiên Tướng tinh

Tính cách thông minh bách sự ninh

Y lộc phong doanh tài bạch túc

Vượng phu ích tử hiển môn đình

Phá Quân Thất Sát lai tương hội

Dương Đà Hỏa Linh tối sở kị

Cô Hình khắc hại lục thân vô

Chỉ khả thiên phòng dữ thị thiếp.

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh có sao Thiên Tướng, người thông minh giỏi giang, y lộc tài bạch phong túc vượng phu ích tử.Nếu Thiên Tướng hội cùng Thất Sát Phá Quân và Dương Đà Hỏa Linh thì sát chồng khắc con cái chỉ đáng làm thân phận thị thiếp /.

Phú nôm có những câu :

Nữ lưu Thiên Tướng rất hay

Hiền phu ích tử tháng ngày thảnh thơi

Tướng hồng số gái yên vui

Chồng sang kết ước phúc thôi dồi dào

Nếu gặp Khúc Cái Mộc Đào

Vẫn là phúc trọng tính ai đa tình.

Thiên Tướng là mặt con người

Hương trời sắc nước mệnh ai tướng hồng.

Thiên Lương nữ mệnh ca

Thìn Tuất Cơ Lương phi tiểu phụ

Phá Quân Mão Dậu bất vi lương

Nữ  nhân đắc thử vi cô độc

Khắc tử hình phu thủ lãnh phòng.

Nghĩa là :

/ Cơ Lương ở Thìn Tuất không phải là chỗ tốt, Phá Quân Mão Dậu chẳng phải số hay, nữ Mệnh mà như vậy là hình phu khắc tử, nằm một mình chăn đơn gối lạnh /.

Phú nôm có những câu :

hiên Lương Mộc chủ thọ tinh

Đông cung Thân Tuất Thìn Dần mới hay

Nữ lưu thủ mệnh phúc dầy

Hao hình Kiếp Sát một bầy tai ương.

Lương Tị Hợi đứng cùng Thiên Mã

Chi đổi thay ấy gã phiêu linh

Còn như nữ Mệnh rành rành

Cách này thấy rõ dâm tình hạ lưu.

Thất Sát nữ mệnh ca

Nữ Mệnh sầu phùng Thất Sát tinh

Bình sinh tác sự quả thông minh

Khi cao chí đại vô Nam nữ

Bất miễn hình phu lịch khổ tân

Thất Sát cô tinh Tham Tú phòng

Hỏa Đà tấu hợp phi vi quí

Nữ nhân đắc thử tính bất lương

Chỉ hảo thiên phòng vi ti sử.

Nghĩa là :

/ Nữ Mệnh Thất Sát tọa thủ là điều đáng buồn, người rất lanh lợi thông minh, khi

cao lớn như con trai, tuy nhiên, thế nào cũng hình phu và gian lao vất vả.Thất  Sát  là  cô  độc  tinh  gặp  Tham  Lang  lại thêm Kình Đà rất xấu loại đàn bà bất lương, bạc tình, dễ rơi vào kiếp lẽ mọn, nàng hầu /.

Phú nôm có những câu :

Kia nữ mệnh định tân hai tuổi

Sát Phá Tham lại hội Văn Xương

Ay là góa bụa đáng thương

Nếu không cũng chịu dở dang duyên tình.

Nữ mệnh Sát Ngọ Tí ngồi

Gặp Riêu, Kiếp phải lệ rơi vì tình.

Phá Quân nữ mệnh ca

Phá Quân Tí Ngọ vi nhập miếu

Nữ mệnh phùng chi phúc thọ xương

Tính cách hữu năng thiên xuất chúng

Vượng phu ích tử tính danh hương

Phá Quân nữ mệnh bất nghi phùng

Kình Dương gia hãm tiện vi hung

Khắc hại lương nhân phi nhất thứ

Tu giao bi khốc độ triều hôn.

Nghĩa là :

/ Phá Quân đóng Tị Ngọ là nhập miếu, nữ mệnh tính cách mạnh bạo hơn người lại có tài năng vượng phu ích tử, nổi tiếng tăm.Phá Quân hãm địa rất sợ sao Kình Dương, gặp Kình là người sát vài ba lần chồng, suốt ngày chỉ biết khóc /.

Phú nôm có những câu :

- Phá, Tham, Lộc, Mã giao nhau

Nam thì lãng đãng, nữ mầu đa dâm.

- Phá Quân nữ mệnh khá xem

Đắc địa cát diệu hóa hiền hiển vang

Hãm cung ác độc dâm loàn

Chỉ làm kế thiếp khỏi đàng sinh ly.

Văn Xương nữ mệnh ca

Nữ nhân Thân Mệnh tri Văn Xương

Tú lệ thanh kỳ phúc cánh trường

Tử Phú đối xung tam hợp chiếu

Quản giao phú quí trước hà thường

Văn Xương nữ mệnh ngộ Liêm, Quân

Hãm địa Kình Dương Hỏa kị tinh

Nhược bất vi xương chung thọ yểu

Thiên phòng do đắc chủ nhân khinh.

Nghĩa là :

/ Văn Xương vào mệnh đàn bà, người đẹp thanh kỳ nếu có hai sao Tử Vi Thiên Phủ tam hợp chiếu phú quí được mặc áo gấm đẹp.Văn  Xương  vào  nữ  mệnh  gặp  hai  sao  Liêm  Trinh,  Phá  Quân  hãm  địa  thêm  Kình Dương, Linh Hỏa, Hóa Kị là số kiếp trầm luân giang hồ, dù ép chịu cảnh lẽ mọn cũng vẫn bị khinh thị /.

Phú nôm có những câu :

Thói dâm dật xướng hóa kém phúc

Ay Văn Xương Văn Khúc ai khen.

Vũ Không gặp đất miếu viên

Khác chi Xương Khúc gối loan lạnh lùng.

Dương Phi đẹp vốn dòng Cơ Nguyệt

Lại Khúc Xương ba miệt triều viên

Xương Khúc hợp ấy hàng gái đẹp

Gặp Thiên Cơ hóa kiếp dâm tà.

Xương Riêu đáng sợ hay thay là

Au nhi tuổi đã bôn ba dâm loàn.

Văn Khúc nữ mệnh ca

Nữ nhân mệnh lý phùng Văn Khúc Tướng mạo thanh kỳ đa hữu phúc Thông minh linh lợi bất tầm thường Hữu sát thiên phòng dã dâm dục.

Nghĩa là :

/Nữ mệnh có sao Văn Khúc, tướng mạo đẹp đẽ dễ hưởng phúc, thông minh lanh lợi khác người chỉ sợ gặp sát tinh sẽ thành loại đàn bà đa dâm dễ vào kiếp lẽ mọn /.

Phú nôm xin đọc ở sao Văn Xương vì hai sao này thường đi vào một bộ.

Tả Hữu nữ mệnh ca

Nữ phùng Tả Hữu chủ hiền lương

Năng cán năng vị hưu khí cao

Cánh dữ Tử Vi Thiên Phủ hợp

Kim quan phong tặng quá thao thao

Hỏa Đà tương hội bất vi lương

Thất Sát Phá Quân thọ bất trường

Chỉ khả thiên phòng phương phú túc

Thông minh đắc sủng quá thời quang.

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh có Tả Hữu là người hiền lương, giỏi giang quán xuyến, nếu được Tử Vi, Thiên Phủ hợp thì phúc lộc vô tả.Tả Hữu nữ mệnh gặp Hỏa Đà, Thất Sát, Phá Quân là số yểu, lấy chồng không ở vị chính thê mới hay /.

Phú nôm có những câu :

Kìa Khôi Tướng bên mình Tả Hữu

Lại gặp thêm Tử Phủ quá xinh

Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ

Mệnh đào hoa trước dở sau hay

Giáp Nhật giáp Nguyệt ai tày

Giáp Tả giáp Hữu vui vầy quí nhân.

Lộc Tồn nữ mệnh ca

Nữ mệnh nhược ngộ Lộc Tồn tinh

Tử Phủ gia lâm bách sự ninh

Cánh ngộ đồng trinh tương tấu hợp

Tất nhiên chủ định thi phu nhân

Lộc Tồn nhập mệnh hãm cung lai

Không Kiếp Linh Hỏa tất vi tai

Nhược vô cát diệu lai tương tấu

Phu phụ phân ly vĩnh bất hài.

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh gặp sao Lộc Tồn, được hội với Tử Vi, Thiên Phủ lại thêm Thiên Đồng, Liêm Trinh tấn hợp là số phu nhân.Lộc Tồn ở hãm cung bị Kiếp Không, Linh Hỏa mà không có cát tinh phù trợ thì vợ chồng chia lìa /.

Phú nôm có những câu :

Lộc Mã thủ chiếu Mệnh cung

Vượng phu ích tử vốn dòng đoan trang.

Tài buôn bán nhiều bề giỏi dắn

Mã mệnh cung, Tồn hẳn Thiên Di.

Kình Dương nữ mệnh ca

Bắc đẩu phù tinh nữ mệnh phù

Hỏa Cơ Cự Kị tất thường dung

Tam phương hung sát kiêm tương tấu

Bất yểu chung tu lãng cổn đào.

Nghĩa là :

/ Kình Dương là bắc đẩu phù tinh đóng nữ mệnh nếu gặp Hỏa Tinh, Thiên Cơ, Cự Môn là hạng gái tầm thường. Nếu bị thêm ác sát tinh xung chiếu từ ba phía nếu không chết yểu thì cũng chìm nổi ba đào /.

Đà La nữ mệnh ca

Đà La nhất diệu nữ nhân phùng

Ngộ cát gia lâm dâm đãng dung

Hung sát tam phương tương chiếu phá

Tu phòng tương biệt chủ nhân ông.

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh có Đà La nếu gặp cát tinh thì chỉ là con người dâm đảng vấn đề y lộc không lo. Nếu như tam phương hung sát chiếu phá là số sát phu /.

Hỏa Linh nữ Mệnh ca

Hỏa Linh chi tinh nhập mệnh lai

Tham Lang tương hội đắc hòa hài

Tam phương vô sát chư ban mỹ

Tọa thủ hương khuê đắc toại hoài.

Hỏa Linh nhị diệu tối nan dương

Nữ mệnh đan phùng tất chủ thương

Nhược ngộ tam phương gia sát tấu

Tu phòng mục hạ nhập tuyền hương

Nghĩa là :

/  Hai  sao  Hỏa  Linh  đóng  nữ  mệnh  cần  hội  ngộ  với  sao  Tham  Lang  đắc  địa  tam phương không bị sát xung phá số gái hạnh phúc giàu sang.Nếu Hỏa Linh đơn thủ mệnh cung bị ác sát xung phá số gái non yểu /.

Hóa Quyền nữ mệnh ca

Hóa Quyền cát diệu hỉ tương phùng

Cánh cát gia làm y lộc phong

Phú quí Song toànnhân tính ngạnh

Đoạt phu quyền bính phúc hưng Long.

Nghĩa là :

/ Sao Hóa Quyền là số nên gặp, thêm cát tinh khác phù trợ tất phú quí song toàn, nhưng Hóa Quyền đóng nữ mệnh là người ưa đoạt quyền chồng /.

Hóa Khoa nữ mệnh ca

Hóa Khoa nữ mệnh thị lương tinh

Tứ đức kiêm toàn tính cách thanh

Cánh ngộ cát tinh Quyền Lộc tấu

Phu vinh tử quí tác phu nhân.

Nghĩa là :

/ Nữ mệnh có sao Hóa Khoa bao giờ cũng tốt, người đức độ, tính tình thanh cao, nếu được thêm sao tốt thì chồng sang con qúi, tự mình ở bậc phu nhân /.

Hóa Kị nữ Mệnh ca

Nữ nhân Hóa Kị bản phi kỳ

Cánh ngộ hung tinh thị họa cơ

Y thực nan tân bần tiện thậm

Cát tinh tấu hợp giảm tai nguy.

Nghĩa là :

/ Hóa Kị dòng nữ mệnh vốn đã tầm thường, lại thêm hung tinh xung phá thì cuộc sống sẽ cơ cực bần tiện. Nếu có cát tinh phù trợ sẽ giảm nhiều tai nguy./

Luận về nữ mệnh, Tử Vi đẩu số toàn thư còn có một chương nhan đề là : /Nữ mệnh cốt tủy phú/, với những câu quan trọng ghi sau đây :

- Phủ  tướng  chí  tinh  nữ  mệnh  triều  tất  dương  tử  quí  dữ  phu  hiền  (Sao  Thiên  Phủ, Thiên Tướng ở nữ mệnh thì con quí chồng hiền).

- Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ (Sao Liêm Trinh bản chất  thanh bạch có thể tọa thủ nữ mệnh, miễn là đừng rơi vào hãm địa).

- Đoan chính Tử Vi, Thái Dương tinh tảo ngộ hiền phu tính khả bằng  (Tử Vi hay Thái Dương tọa thủ nữ mệnh sớm lấy chồng hiền năng, tính nết trung thực).

- Thái Dương Dần đáo Ngọ ngộ cát trung vi phúc. (Sao Thái Dương chỉ đắc địa từ Dần cung đến Ngọ cung nữ mệnh gặp Thái Dương thế nào cũng hưởng phúc nếu thêm cát tinh phù trợ).

- Tả Phụ Thiên Khôi vi phúc thọ, Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm (Có sao Thiên Khôi, Thiên Tướng là phúc thọ, có sao Hữu Bật, Thiên Tướng phúc thường đến).

- Lộc Tồn hậu trọng đa y thực, Phú Tướng triều viên mệnh tất vinh.

- Cự Môn Thiên Cơ vi phá đãng. (Nữ mệnh có hai sao Cơ, Cự mặc dù đắc địa nhưng không phải là đẹp vì cuối cùng tất nhiên phá đãng)

- Thiên Lương Nguyệt diệu nữ dâm bần.(Thái Âm hãm gặp Thiên Lương số gái dâm bần).

- Kình Dương, Hỏa Tinh vi hạ tiện (Số đàn bà Kình Dương, Hỏa Linh hãm địa loại hạ tiện, nếu đắc địa cũng chẵng khỏi hình phu).

- Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn (Xương Khúc chỉ nên vào nam mệnh bất nghi nữ mệnh).

- Vũ Khúc chi tú vi quả tú (Sao Vũ Khúc là sao cô độc đối với nữ mệnh).

- Phá Quân nhất diệu tính nan minh (Sao Phá Quân đơn thủ nữ mệnh tính cô độc đa dâm nếu thêm Tứ Sát là người ganh ghét hại chồng hại con).

- Tham Lang nội lang đa dâm dật (Nữ mệnh Tham Lang đơn thủ rất dâm dật).

- Thất Sát trầm ngâm phúc bất vinh (Nữ mệnh Thất Sát đơn thủ không phải là phúc).

- Thập thiên Hóa Lộc tối vinh xương Nữ mệnh phùng chi đại cát tường Cánh đắc Lộc Tồn tương tấu hợp Vượng phu ích tử thụ ân quang. (Số đàn bà Song lộc thủ chiếu mệnh giàu sang chức tước).

- Hỏa Linh Dương Đà cặp Cự Môn Thiên Không Địa Kiếp hựu tương làm Tham Lang Thất Sát Liêm Trinh tú Vũ Khúc gia lâm khắc hại xâm. (Nữ mệnh không nên gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Thiên Không, Địa Kiếp và Cự Môn. Nữ mệnh cũng không nên có Tham Lang, Thất Sát, Liêm Trinh lại thêm Vũ Khúc).

- Tam phương tứ chính hiềm phùng sát Cánh tại phu cung họa hoạn thâm Nhược trí bản cung vô chính diệu Tất chủ sinh ly khắc hại chân. (Nữ mệnh sợ sát tọa thủ, sát xung chiếu, sát ở cung phu nếu lại  mệnh vô chính diệu nữa thì suốt đời ly khắc).

Phú nôm của tiền nhân ta về nữ mệnh còn nhiều câu rất hay, xin lược chép dưới đây :

Kể chi những cách hư hèn

Nguyệt Thìn Lương Tị Hợi viên đó mà.

Hình Diệu số gái Long đong

Nếu không kế thất lộn chồng mà thôi.

Kìa người phượng chạ loan chung

Đào Diêu số ấy trong lòng chẳng trinh

Đào Diêu số gái ai hay

Chồng ra khỏi cửa dắt ngay trai vào

Nữ mệnh gặp Quí, Hình, Tử, Phủ

Dạ sắt son nào sợ lung lay.

Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ

Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn.

Thiên Lương, Thiên Mã đồng hành

Yêu kiều gái ấy dấn mình bướm Ông.

Đào Hồng Sát Phá Tham Liêm

Lâm vào nữ phái chỉ hiềm sát phu.

Khéo nghề kim chỉ thêu thùa

Hồng Đào tấu Vũ ở vừa Mệnh cung.

Đào Tang đóng ở Mệnh cung

Lẳng lơ gái ấy phụng loan dứt tình.

Dương Đà xâm chiếm mệnh viên

Nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa.

Thói dâm dật xướng hòa kém phúc

Ay Văn Xương Văn Khúc ai khen.

Đào Hoa mà ở Nô cung

Gái trinh mang tiếng bất trung cùng chồng.

Số Diệu Hỉ tai bay vạ gió

Số Kiếp Không lắm độ gian manh.

Mã Đào duyên nợ tự sinh

Không cần mối lái ái tình kết giao.

Dương Đà tuế lo phòng khẩu thiệt

Còn Đà La ngộ Nguyệt loạn dâm.

Hồng Cơ tấu Vũ lữ đào

Cái nghề ca xướng luân vào mệnh viên

Hồng Loan ngộ Kiếp Không làm thủ

Xá bàn chi một lũ yểu vong

Tật cung Thai Hổ huyết băng

Tấu thư, Hóa Cái mệnh phùng thanh cao

Cái ngộ mộc (dục) gái nào đoan chính

Mã ngộ Không là tính phiêu bồng.

Nữ lưu cốt ở Phu cung

Mệnh thân xấu tốt đừng hòng đừng lo

Mệnh chính diệu, cung phu Tham đóng

Ay là người phúc trọng chính thê

Mệnh vô chính diệu đáng chê

Cung phu Tham đóng giữ bề tiểu tinh.

Địa Kiếp với hồng sanh phu vi

Cung mệnh hay duyên ấy trăm năm

Mệnh xấu duyên đứt tơ tằm

Sinh ly sẽ định loan phòng mười năm.

Cung Phu có Đào Hồng tương ngộ

Vợ với chồng đều có dung nhan

Hồng Đào ngộ Kị phu cung

Tơ hồng đã đứt má hồng còn vương.

Thiên Nguyệt Đức Đào Hồng cung phối

Gái chồng sang trai hội giai nhân

Song lộc hội Phu Thê cung

Vợ chồng phối hợp vốn dòng giàu sang

Phu cung Diêu Sát Hình Dương

Hội giao Linh, Hỏa gái toan giết chồng

Tứ Không ngộ Mã ( phu cung ) chẳng bàn

Có chồng còn bỏ theo làng bướm hoa

Cự Môn, Linh Hỏa tương phùng

Ba lần mối lái chẳng xong mối sầu.

Phu : Đào, Kị, Kiếp, Khốc Hư

Hại chồng mưu kế có dư trong lòng

Phá Quân, Tuần Triệt làm vào ( phu cung )

Có chăng thì cũng ba  tao mới thành

Triệt Tuần Không Kiếp giao lâm ( phu cung )

Mối mai dang dở ba lần mới nên

Binh Hình gặp hóa Kị Xung ( phu cung )

 Đêm ngày cư xử ra lòng bạc đen.

Tang Môn Thiên Khốc phận hèn ( phu cung )

Hoặc là làm lẽ, hoặc phen ly tình.

Cự đồng cùng ở cung Phu

Một sầu góa bụa hai sầu lỡ duyên.

Thai, Binh, Tướng, Đào Hồng tương hiệp

Chẳng chửa hoang bị hiếp bất ngờ

Thất Sát cung Phúc đáng lo

Nhỡ nhàng số ấy ca nô hành nghề.

Phủ phùng Thất Sát khó đương ( Mệnh cung )

Kiếp Diêu hội ngộ đa vương lưới tình

Đào Diêu hội bên mình khá rõ

Không Qúi Hình Tử Phủ ngọai dâm.

Cái Lý Ngũ Hành Trong Tử Vi

Mở lá số tử vi ra, người ta thấy lý của Ngũ Hành tràn ngập. Trước hết là mạng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tính theo nạp âm thư tượng như : xa trung kim, lộ bàng thổ, thiên thương hỏa v.v....Rồi đến cục để tìm tử vi như thủy nhị cục, mộc tam cục v.v....Rồi đến mỗi sao đại biểu cho một hành như thiên cơ thuộc mộc, Vũ Khúc thuộc Kim v.v.....Rồi đến mỗi cung là nơi đóng của mỗi hành như Thân Dậu thuộc Kim, Dần Mão thuộc Mộc v.v... Quan trọng hơn nữa là vòng tràng sinh nói về sự thành trưởng và hủy diệt của Ngũ Hành. Nói tóm lại, tử vi nếu xét kỹ ra là sự luận đoán tinh vi số mệnh con người bằng biện chứng của Ngũ Hành.Tiếc thay cách luận đoán số tử vi qua biện chứng Ngũ Hành nay gần như hoàn toàn bị mai một không uyển chuyển kỹ càng bằng số Tử Bình. Việc áp  dụng lý Ngũ Hành cho số Tử Vi vì bị thất truyền cho nên nó quá đơn sơ nếu không muốn nói là ngờ nghệch, lại khi đoán dù tán hươu tán vượn gì thì tán rút cuộc vẫn phải trở về những câu phú, những cách cục đã làm sẳn căn cứ trên các sao mà quên hẳn biện chứng Ngũ Hành.

Số Tử Bình tức Bát Tự luận đoán Ngũ Hành như thế nào ?

Xin kể dưới đây câu chuyện số của hai nữ tài tử chiếu bóng nổi danh tại Trung Quốclà Lâm Đại và Nguyễn Linh Ngọc.Cả hai nàng tuy ngày tháng năm giờ sinh khác hẳn nhau nhưng cuộc đời có 8 điểm giống nhau :

1.   Cùng là mỹ nhân, trời cho nhan sắc tú lệ

2.   Cùng mất tình thương của cha từ thủa nhỏ, sống đơn côi với mẹ.

3.   Cùng theo nghề điện ảnh từ nhỏ

4.   Cùng trở thành minh tinh danh tiếng

5.   Cùng tự kết liễu đời mình giữa lúc vàng son chói lọi

6.   Cùng vì chuyện vợ chồng bất hòa mà tự sát

7.   Cùng đã từng uống thuốc ngủ để tự tử nhưng thoát chết

8.   Cùng được có một đám tang to lớn.

Lâm Đại sinh năm Giáp Tuất (1934) tháng 12, ngày 26, giờ Ngọ. Tinh Bát Tự sẽ ra tám chữ sau đây :

- Giáp Tuất (niên)

- Đinh Sửu (Nguyệt)

- Binh Ngọ (Nhật)

- Giáp Ngọ (Thời)

Tám chữ trên Hành Mộc và Hành Hỏa chiếm đến bảy chữ.Binh hỏa của nhật chủ quá cường liệt, chung quanh lại toàn mộc hỏa làm cho nàng trở thành người ương ngạnh, nóng nẩy vô cùng. Ơ trường hợp này chỉ có hai kết quả hoặc tự mình thành hung thủ hoặc bị thành khổ chủ.Năm nàng tự sát chết là năm Giáp Thìn cũng đầy Mộc Hỏa, lại thêm vào tháng 6 (mùa hè), ngày Đinh Mão (Hỏa) , giờ Ngọ (Hỏa).

Số bị hỏa vượng như vậy rất cần có Hành Thủy Kim để tiết chế hỏa khí. Nếu hỏa mộc lại ồ ạt kéo tới thì cái họa phần thân (đốt mình) làm sao tránh khỏi. Vì Ngũ hành cần Thủy nên đại hạn At Hợi (mười năm ) của nàng từ 17 tuổi đến 27 tuổi là hạn Thủy nên cuộc đời ví như đại hạn được cơn mưa lũ. Lâm Đại đóng vai cô bé trong  phim  /Thúy  Thúy/  được  hoan  nghênh  nồng  nhiệt  rồi  lần  lượt  đến  /Điêu Thuyền/, /Kim Liên Hoa Thiên Kiều Bách Mị/, /Bất liễu tinh/ cứ thế mà lên đến tột  đỉnh  vinh  quang  của  nghề  nghiệp  và  được  bầu  làm  ảnh

 hậu.  Năm  27  tuổi,  nàng  lấy chồng. Sang 28 tuổi đại hạn sang Giáp Tuất, lại chuyển về Mộc Hỏa, năm Giáp Thìn trong hạn Giáp Tuất thì Mộc Hỏa trùng trùng, Lâm Đại chán cảnh chồng con sau một cuộc cãi vã kịch liệt.

Trước  Lâm  Đại  30  năm,  minh  tinh  Nguyễn  Linh  Ngọc  cũng  kết  liễu  cuộc  đời  như Lâm Đại, để lại cho người đời 29 bộ phim với đủ các vai của một đào thương tài tình từ người đàn bà thôn dã đến nàng kỹ sư, ni cô, trà nữ, hoa nữ đến tiểu gia bích ngọc, thật đáng là một thiên tài điện ảnh.Nguyễn Linh Ngọc quê quán Quảng Đông, sinh năm Canh Tuất (1910) tháng 1 ngày 26 giờ Hợi. Tính Bát Tự ra 8 chữ sau đây :

- Canh Tuất (Niên)

- Tân Tị (Nguyệt)

- Ký Hợi (Nhật)

- At Hợi (Thời)

So với ngày sinh Bính Ngọ của Lâm Đại, dương tính hỏa vượng còn ngày Kỷ Hợi của Nguyễn Linh Ngọc là âm tính thổ cực nhược. Bởi vậy tính tình hai người khác hẳn nhau, Lâm  Đại  nóng  nẩy  ngang  ngạnh  bao  nhiêu  thì  Linh  Ngọc  nhuyễn  nhược  yếu  đuối  bấy nhiêu. Do đó cái nguyên nhân tự sát cũng bất đồng. Lâm Đại

giận chồng mà chết. Linh Ngọc buồn chồng mà chết.Người  chồng  của  Linh  Ngọc  tên  Trương  Đạt  Dân  cũng  trong  giới  điện  ảnh  đã  lợi dụng cái thế đàn anh trong nghề để mà dụ dỗ Linh Ngọc vì tính tình nhu nhược rơi vào cái bẫy của Đạt Dân. Về sau Đạt Dân sa đọa bê tha sống bám vào Linh Ngọc, rồi vì ghen tuông sao đó Đạt Dân chửi rủa bêu xấu vợ khiến nàng mắc cỡ buồn tủi mà tự sát.Xem số Nguyễn Linh Ngọc ta thấy nàng sinh ngày Kỷ Hợi, nhật chủ âm tính thổ quánhược. Cứu cái nhược này, ngũ hành cần phải có hỏa thổ như Bính Đinh, Tuất Kỷ. Khốn nỗi giờ sinh của nàng lại là At Hợi, một thứ ám Mộc được Thủy nuôi dưỡng rất khỏe đã khắc vào bản thân nàng vốn đã yếu càng làm cho yếu thêm, đã thế kỷ (nhật chủ) còn phải tiết thân nuôi sinh cho canh tàn, rồi còn cố gắng để khắc hai chữ Hợi Thủy hành chi, cho nên những chữ Tuất mới Tị không đẻ để cứu nữa.Cuộc đời ngắn ngủi của Linh Ngọc (26 tuổi chết) có ba biến cố trọng đại gây đau khổ đều xảy ra vào những năm mang chữ At. Thứ nhất là năm At Mão lúc nàng lên 6 tuổi thì cha chết. Thứ hai là năm ấy Linh Ngọc 16 tuổi. Thứ ba là năm At Hợi năm 26 tuổi, Linh Ngọc tự sát.Nàng nổi danh vào những năm 17 và 18 tuổi tức Bính Dần và Đinh Mão niên hai năm đều thuộc Hỏa. Từ 19 tuổi đến 21 tuổi nàng vẫn tiếp tục tiến trên đường danh vọng là những năm Mậu Thìn, Kỷ Tị, Canh Ngọ đều thuộc Thổ Hỏa.

Qua hai số Bát Tự của Lâm Đại và Nguyễn Linh Ngọc, ta thấy lối tính Tử Binh bám rất sát vào vận động biện chứng Ngũ Hành.Trong khi Tử Vi thường rời bỏ vận động biện chứng ấy để trở về với cách cục định sẵn của các bộ sao, bám vào sự kết hợp (combinaison) giữa sao này với sao nọ, bám vào vị trí đắc địa, hãm địa của từng vị sao. Tỉ dụ :

- Lộc cư nô vị túng hữu quan dã bôn trì.

- Tí Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc.

- Âm Dương hội Xương Khúc xuất thế vinh hoa hay là Xương khúc mà gặp Liêm Trinh Ở cung Tị Hợi tàn sinh khó tròn.

- Cơ Lương Mộc Mã đồng cung

Phú kham địch quốc của dùng hết đâu.

- mệnh Đào thân lai Hồng Loan

Hạn gặp Tuế kiếp phụng hòang rẽ duyên.

Đôi khi Tử Vi cũng đưa ra một vài lý luận như :

Cục khắc mệnh hay mệnh khắc cục, khắc xuất khác xuất nhập, mệnh và chính diệu, cùng đóng xung khắc chế hóa v.v...Tuy nhiên, chẳng thấy nguyên tắc gì cả. Nói vậy không có nghĩa là khoa Tử Vi thiếu căn bản lý luận ngũ hành mà chỉ muốn nói vì thất truyền cho nên lý luận đã trở nên gò ép dễ ngụy biện suôi ngược thế nào cũng xong. Nhất là đối với các ngài ưa tán láo.Chúng ta có thể lần lượt đưa ra những thắc mắc về tính vô nguyên tắc ấy dưới đây. Xin nhắc lại chỉ là tính vô nguyên tắc trên vấn đề không thể giảng giải bằng biện chứng ngũ hành mà thôi, chứ không phải khoa Tử Vi bất lực trong việc đi tìm hiểu số mệnh con người. Kinh nghiệm cho biết qua phối hợp cách sao, qua cách cục từng đám sao, Tử Vi đã phát hiện khá nhiều điều lạ lùng của số mệnh. Chẳng hạn câu :

Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất

Gái bạc tình Tham Sát nhân cung hầu như chẳng bao giờ sai.

Trước hết đề cập đến tính ngũ hành của nạp âm thủ tượng. Ở trên đã nói mỗi lá số

tùy theo mệnh thuộc hành gì còn căn cứ vào sự chộn lẫn của hai hành chi can năm đó để tính nạp âm. Tỉ dụ : Mệnh hỏa nhưng hỏa nào : Sơn đầu hỏa? Hay tích lịch hỏa?Về nạp âm thủ tượng, sách /Tam mệnh thông hội/viết : / Ngày xưa, vua Hòanh đế đem Giáp Tí phân biệt khinh trọng để thành 60 ký hiệu gọi là thập hoa giáp, chữ hoa ở đây thật ảo diệu, thánh nhân mượn ý của nó để làm biểu tượng. Từ Tí đến Hợi đều có Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, khởi đầu bằng Tí làm nhất dương và Hợi làm lục âm. Ngũ hành sở thuộc ở trên trời là ngũ tinh, ở dưới đất là ngũ nhạc, ở đạo đức là ngũ thường, ở trong thân thể là ngũ tạng. Số mệnh cũng là ngũ hành cho nên những gì thuộc Giáp Tí đều ứng vào mệnh. Mệnh là gì ? Mệnh là những việc trong đời. Bậc thánh nhân dùng nạp âm thủ tượng để ví nó như nhất thế chi sư (những việc trong một đời) /.Giáp Tí là một giáp gồm 60 năm, nạp âm thành Ba mươi tượng ( hình ảnh ) như sau :

Hành kim có 6 tượng khác nhau :

- Hải trung kim – Sa trung kim – Bạch lạp kim – Thoa xuyến kim – Kiếm

phong Kim– Kim bá Kim.

Hành mộc có 6 tượng khác nhau :

- Đại lâm mộc – Bình địa mộc – Tùng bách mộc – Thạch lựu mộc – Dương liễu mộc– Tang đố mộc.

Hành thủy có 6 tượng khác nhau :

- Tuyền trung thủy – Đại khê thủy – Giản hạ thủy – Thiên hà thủy – Trường lưu thủy – Đại hải thủy.

Hành hỏa có 6 tượng khác nhau :

- Sơn đầu hỏa – Phục đăng hỏa – Lư trung hỏa – Sơn hạ hỏa – Tích lịch hỏa – Thiên thượng hỏa.

Hành thổ có 6 tượng khác nhau :

- Oc thượng thổ – Sa trung thổ – Thành đầu thổ – Đại dịch thổ – Lộ băng thổ – Bích thượng thổ.

Y nghĩa của 30 tượng trên thế nào ?

Sách /Tam Mệnh Thông Hội/ giảng rằng :

1.   HẢI TRUNG KIM tượng nạp âm của Giáp Tí và At Sửu là những báu vật dấu dưới Long cung cần phải mượn xung phá để phát hiện, chứ hỏa lực chẳng giúp ích gì cho nó. Lan Đài diệu tuyển phú có câu : /Châu tàng uyên hải / chính là ý nói hải trung kim đã được phát hiện bằng xung phá vậy... Khi nó đã được phát hiện rồi thì bấy giờ mới cần đến một thế cực vượng hỏađể nung luyện        

2.   KIM BÁ KIM tượng nạp của Nhâm Dần và Quí Mão là thứ kim đã hóa thành chất lỏng để đánh bóng những cột trụ đồ dùng trong cung thất Kim bá kim cần dựa vào Mộc nhất là thứ bình địa mộc, rất sợ lư trung hỏa vì nó thể chất bạc nhược không thể hoàn nguyên, nếu hỏa đốt nó sẽ thành than, nhưng lại ưa hỏa mặt trời  làm nó sáng bóng lên chói lọi

3.   BẠCH LẠP KIM tượng nạp âm của Canh Thìn. Tân Vị vốn là Côn Sơn phiến ngọc Lạc Phố đi châu (phiến ngọc ở núi Côn Sơn, ngọc quí ở đất Lạc Phố) ngưng tụ nhật nguyệt chi tinh, âm dương chi khí cho nên hình nó sáng thể nó sạch, sắc rất đẹp. Bạch lạp kim cần lư trung hỏa nhưng với điều kiện phải có thủy trợ, nếu chỉ lư

trung hỏa mà thiếu thủy tất nó sẽ yểu tiết bần hàn

4.   SA TRUNG KIM lượng nạp âm của Giáp Ngọ At Mùi là chất kim quí dấu dưới cát, cần phải đãi rửa rồi dùng lửa lò nung luyện. Nếu cát khô quá tức là thổ tháo, chất kim không tốt lại nhờ mộc để đất rắn nuôi dưỡng kim chất cho hoàn hảo, rồi tìm thanh thủy mà lọc. Được như thế thì thiếu niên đã vinh qui

5.   KIẾM PHONG KIM tượng nạp của Nhâm Thân. Quí Dậu là chất kim cực quí cực rắn chắc đã từng qua bách luyện cho nên hồng quang của nó ánh lên đến ngưu đẩu có thể ngưng đọng ở sương tuyết. Nó cần thủy để nhuận sắc nhưng phải là lọai đại khuê thủy. Nó cần hỏa để tôi luyện nhưng phải là loại tích lịch hỏa lửa sấm sét để tạo linh khí .

6.   THOA XUYẾN KIM tượng nạp âm của Canh Tuất. Tân Hợi là bảo vật để điểm trang cho mặt thêm đẹp, thêm xinh, đem hồng quang cho da dẻ. Nó được cất dấu nơi khuê cát nên cần tĩnh thủy nước trong u tích để trau chuốt như loại nước khe suối giếng khơi tốt nhất, nếu bị nước mưa nguồn nước biến sẽ làm nó yểu chiết bần hàn chìm rơi mất tích, bị hỏa liệt sẽ tàn thương.

7.   TANG ĐỐ MỘC tượng nạp âm của Nhâm Tí. Quý Sửu là cây dâu nuôi dưỡng loài tằm cho tằm nhả tơ óng chuốt để may quần áo dân gian thánh hiền. Nó cần sa trung thổ mà xanh tốt, ưa thiên hà thuỷ đem mưa ngọt, sương trong thấm nhuần gốc rễ, các loại thổ và thủy khác giảm hiệu lực đi nhiều

8.   TÙNG BÁCH MỘC tượng nạp âm của Canh Dần, Tân Mão. Cây tùng cây bách chịu đựng được tuyết sương giá lạnh, cao vòi vọi cành lá rộng mở che đất, gió thổi nghe rì rào như muôn ngàn ống sáo. Nó ưa đất vùng núi vũ lộ thủy và đại khê thủy. Tùng bách mộc rất sợ lư trung hỏa đốt cháy nó. Thiếu thủy nó sẽ yểu chiết  .

9.   ĐẠI LÂM MỘC tượng nạp âm của Mậu Thìn Kỷ Tị. Cây lớn trong rừng ngọn lên đến từng mây, lá che cả ánh mặt trời. Nó cần thổ nhiều và ưa kiếm phong kim cưa xẻ, đẽo gọt thành dụng cụ. Nó cần lửa thái dương nuôi nấng. Nó cần thủy nhưng nếu gặp đại khê  thủy hay đại hải thủy sẽ bị úng rễ mà chết yểu

10. DƯƠNG LIỄU MỘC tượng nạp âm của Nhâm Ngọ, Quý Mùi là loại cây yếu đuối lả lướt trước gió như cây liễu bên đê. Nó cần sa trung tho, nếu gặp đại dịch thổ thì khó sống mà gặp lộ bàng thổ tất mất vẻ cao sang. Nước nuôi dưỡng nó phải là thứ nước tòan trung thủy, nhẹ nhàng thấm xuống như nước suối

11. THẠCH LỰU MỘC tượng nạp âm của Canh Thân, Tân Đậu, vị nó cay như gừng, hoa đỏ chót, trái đầy những hạt tượng trưng cho đa tử (lắm con). Nó chính là cây thạch lựu, can chi thuần kim mà nạp âm lại thành mộc ấy bởi tại nó là mộc biến ra vậy. Cho nên thạch lựu mộc ưa thổ đã thành khí như thành đầu thổ hay ốc thương thổ

12. BÌNH ĐỊA MỘC tượng nạp âm của Mậu Tuất, Kỷ Hợi là cây non mới đâm cành trổ lá, cần đến công trình của thủy mưa móc, rất sợ tuyết sương tác hại, cần hỏa thái dương làm ấm áp. Nếu đa hỏa vô mộc tất sẽ yểu chiết lại ngại kiếm phong sát  phạt. Kim bá kim rất hợp với bình địa mộc vì thứ kim này khiến cho màu lá non thêm sáng đẹp nòn nã

13. BÍCH THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của Canh Tí, Tân Sửu là đất che nắng mưa rét nóng phòng sương ngự tuyết chuyên nhờ cậy vào kèo cột và cưa giả. Bích thượng thổ rất mừng được gặp mộc nhất là đại lâm mộc chắc chắn sợ hỏa thiêu đốt biến nó thành bần  tiện, sợ đại hải thủy chan hòa lụt lội gây đổ nát

14. THÀNH ĐẦU THỔ tượng nạp âm của Mậu Dần Kỷ Mão là thiên kinh ngọc lũy của vua của tướng với cái hình rồng nằm dài thiên lý, hổ ngồi theo thế tứ duy. Nó đã xong rồi thì cần lộ bàng thổ bao quanh phù trợ cho địa thế rộng lớn mà không cần hỏa nữa, nhưng nếu không có lộ bàng thổ tất phải cần hỏa để khai phá. Sơn và thủy làm cho thành đầu thổ mang vẻ oai nghiêm

15. SA TRUNG THỔ tượng nạp âm của Bính Thìn, Đinh Tị là đất bồi do song biển, do chiều nước, do lớp lớp sóng dội (Lãng hồi sở tích, ba chử nhi thành), chỗ trù ngụ của Long sà, nơi biến thiên của hang hốc. Sa trung thổ tinh chất thanh tú cần tất cả các loại kim nuôi dưỡng cho nó thành  đất  tốt.  Nó  cần  thiên  thượng  hỏa  chiếu  xuống  thêm  màu  thêm  mỡ  và  thủy  làm  cho  nó quyện dẻo

16. LỘ BÀNG THỔ tượng nạp âm của Canh Ngọ Tân Mùi rộng rãi bao la bình điền vạn khoảnh, đại địa liên đồ. Giống ngũ cốc sống nhờ trên đó thảo mộc nhờ nó mà xanh tươi nơi có lửa trời sưởi ấm, chất đất ôn hòa để nuôi dưỡng vạn vật. Lộ bàng thổ cần nhất là nước, nước phải có nguồn tưới đều đều rồi đến nước trời vũ lộ (thiên hà thủy)  nhưng không ưa đại hải thủy vì đại hải thủy không có khả năng tưới thấm mà chỉ phá phách kéo trôi đi tất cả màu mỡ.

17. ĐẠI DỊCH THỔ tượng nạp âm của Mậu Thân, Kỷ Dậu là đường đường đại đạo, đất bằng phẳng nối liền chín châu, giao thông vạn quốc. Nó cần lộ bàng thổ phù trì, cần thủy song nước bao quanh và núi cao để tạo quí     

18. ỐC THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của bính Tuất Đinh Hợi là thứ thổ gạch ngói nhờ hỏa nung mộc đốt để thành tác dụng che tuyết che sương ngăn mưa ngăn gió. Oc thượng thổ tối hỉ mộc vì nếu không có mộc làm cái giá chống thì gạch ngói đứng đâu ? Cần bình địa mộc cho nhà thêm vẻ phong phú, trang nhã     

19. GIẢN  HẠ  THỦY  tượng  nạp  âm  của  Bính  Tí,  Đinh Sửu là nước nguồn chảy thành thác vòng ngàn ngọn núi, băng vạn dặm rừng. Nước thác rất trong sạch tinh khiết, cần kim dưỡng như sa trung kim tốt nhất, cần đất làm thành thác nhưng chỉ đất sa trung mới hay, chứ đất lộ bàng và đại dịch sẽ làm cho nó bị đục       

20. ĐẠI  KHÊ  THỦY  tượng  nạp  âm  của  Giáp  Dần  At  Mão,  nước  dòng  song  lớn  cuồn cuộn, sóng cả nhấp nhô, quang ánh vạn lý tối hỉ hữu qui (có nơi để nó chảy về) hữu dưỡng có nguồn nuôi dưỡng, sợ sự xung động khiến nó thành phiêu lãng kỵ sấm sét, bão phong.

21. TRƯỜNG LƯU THỦY tượng nạp âm của NhâmThìn Quí Tị nước chảy thao thao vô cùng bất tận suôi về biển đông. Nó cần kim nuôi nguồn, cần thổ dựng đê thành lòng song.

22. THIÊN HÀ THỦY tượng nạp âm của Bính Ngọ, Đinh Mùi là nước trên trời thành mưa đổ xuống chan hòa khắp nơi tưới cho vạn vật tốt tươi, thổ không khắc được nó nên thiên hà thủy không sợ thổ, thiên thượng thổ chẳng làm cho địa kim sinh cho nên gặp kim vô ích. Thiên hà thủy thường đi với tích lịch hỏa để mà hóa ra vân vũ

23. TOÀN TRUNG THỦY tượng nạp âm của Giáp Thân At Dậu là nước suối nước mạch mát lạnh trong vắt, trăm vạn nhà đào giếng múc nước suối mà uống. Thứ nước này do kim tiết và nhờ mộc phát xuất nên hỉ gặp kim mộc. Tuy nhiên kim chất phải ôn hòa chớ sát phạt như kiếm phong kim nó cần gặp bình địa mộc chứ tang đổ mộc hay thạch lựu mộc vô ích

24. ĐẠI  HẢI  THỦY tượng  nạp  âm  của  Nhâm  Tuất Quí Hợi là biển rộng mênh mong dung nạp tất cả nước song ngòi đổ xuống, cần thiên thượng hỏa ánh chiêu dương chiếu xuống làm thành cách thủy bổ dương quang

25. TÍCH LỊCH HỎA tượng nạp âm của Mậu Tí Kỷ Sửu đó là lửa hiệu lệnh của chín tầng trời chớp nhoáng như con kim sà nhanh như ngựa sắt phi bôn. Tích lịch hỏa là sấm sét cho nên cần thiên hà thủy. Tích lịch hỏa có khả năng dưỡng mộc (theo khoa học bây giờ sấm sét làm chất cho azote thấm xuống lòng đất tạo màu mỡ, nhờ vậy cao mới đủ chất bổ dưỡng)

26. LƯ TRUNG HỎA tượng nạp âm của Bính Dần Đinh Mão. Sách có câu trời đất là cái lò, âm dương là than. Lư trung hỏa để nung nấu càn khôn rất ưa mộc sinh hỏa và lấy kim làm chỗ ứng dụng, có kim thì hỏa mới tỏ uy quyền, nhưng nếu vô mộc mà gặp kim đa tất hỏa lao khổ

27. PHÚ ĐĂNG HỎA tượng nạp âm của Giáp Thìn At Tị là ánh lửa đèn đựng trong kim khí để tỏa chiếu ngọc quang vào những nơi mà nhật nguyệt không soi vào, để làm sáng lúc trời đất chưa sáng. Thường gọi là nhân gian dạ minh chi hỏa, lấy mộc làm tâm, lấy thủy làm dầu gặp âm thì tốt, gặp dương bất lợi, rất sợ xung phá vì xung phá là gió táp thổi tắt ngọn đèn. Thủy của phú đăng hỏa là thứ thủy đào lên chứ chẳng phải đại khê hay đại hải thủy hoặc thiên hà thủy .

28. THIÊN THƯỢNG HỎA tượng nạp âm của Mậu Ngọ Kỷ Mùi là thứ hỏa ấm áp khiến song núi sáng sủa bởi dương đức lệ thiên chiếu xuống và âm đức xuất hải sáng ra. Thiên thượng hỏa cầu phong và mộc nhất là đại lâm mộc.

29. SƠN ĐẦU HỎA tượng nạp âm của Giáp Thìn Tuất At Hợi là thứ lửa khai hoang hay lửa rừng đốt cháy thành biển lửa thiêu rụi cỏ cây một vùng. Tại sao gọi là sơn đầu hỏa ? Vì sắc của nó đỏ rực chan hòa như lúc mặt trời lặn, còn đang lấp ló đầu ngọn núi. Thiêu xong sơn đầu hỏa cần thủy để đất khỏi khô, hỏa này phải nhờ mộc đa mới cháy nếu chỉ có thổ không thì sơn đầu hỏa thành vô dụng 

30. SƠN HẠ HỎA tượng nạp âm của Bính Thân Đinh Dậu là thứ hỏa lập lòe của đom đóm cho nên /Lan đài diện tuyển/ có đưa ra cách gọi là hùynh hỏa chiếu mộc, gặp mùa thu càng quí. Sơn hạ hỏa hỉ  thủy để nhớ thủy phản chiếu hào quang, nhưng rất sợ gặp tích lịch hỏa làm tiêu diệt ánh sáng của nó

Những  dấu  chấm  sau  mỗi  tượng  đó  nghĩa  là  sự  giảng  giải  về  tượng  đó  còn  dài, nhưng ở đây chỉ dịch lại ít thôi vì lẽ nó không ăn nhập gì đến khoa Tử Vi của chúng ta, mà ứng dụng nhiều cho khoa Tử Bình, dịch hết rườm rà, vô ích. Qua lời giảng sơ của /Tam Mệnh Thông Hội/ ta thấy nạp âm thủ tượng những gì ?

a)   Quá văn vẻ hệt như một lối bí ngữ cốt đề cao thân giá của khoa mệnh học, thật ra nó không đi ra ngoài biện chứng vận động ngũ hành.

b)   Tượng nạp âm ghi trong lá số Tử Vi chỉ ghi để mà ghi thôi chứ chẳng dùng để mà đoán được bởi lẽ không hề tìm thấy liên lạc ngũ hành của nó với các hệ thống sao hay với cục : bởi lẽ đã gọi là nạp âm tất phải đủ cả hai hàng can chi trộn lại trong khi ở Tử Vi của chúng ta không thấy có sự phân định rõ ràng ngũ hành theo can chi. Có thể vì thất truyền mà mất đi chăng?

c)   Không nên ngụy biện gán ghép tượng nạp âm của mệnh tính theo niên chủ với ảnh hưởng của các sao trong lá số nếu không biết chắc và biết rõ. Như vậy chỉ gây rối thêm.

Bây giờ chúng ta bàn đến Ngũ Hành và các sao Tử Vi đẩu số toàn thư ghi ở cuối chương chỉ cách an sao mấy dòng chữ sau đây :

/Luận tinh thần sinh khắc chế hòa/

Xem tinh diệu trước hết phải biết rõ cái cơ của sự sinh khắc chế hóa : thứ đến an vị tại cung nào tỉ như Liêm Trinh thuộc hỏa mà an tại cung Dần, cung Dần là Mộc vậy Mộc có thể sinh ra Hỏa của Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc thuộc Kim, Mộc với Kim khắc tài tinh Vũ Khúc thành vô dụng. Các sao khác cũng cứ thế mà đoán. Kim nhập hỏa hương Hỏa nhập thủy hương Thủy nhập thổ hương Thổ nhập mộc hương Câu vi thụ chế. Tiếp đến là bảng kê tổng quát các sao thuộc hành gì, như :

Tử Vi thuộc Thổ

Lộc Tồn thuộc Thổ

Thiên Đồng thuộc Thủy Kim

Vũ Khúc thuộc Kim

Thái Âm thuộc Thủy

Cự Môn thuộc Thủy

Văn Khúc thuộc Kim

Thiên Lương thuộc Thổ

Phá Quân thuộc Thủy

Tả Phụ thuộc Thổ

Thiên Cơ thuộc Mộc

Thái Dương thuộc Hỏa

Liêm Trinh thuộc Hỏa T

hiên Phủ thuộc Thổ

Tham Lang thuộc Thủy Mộc

Thiên Tướng thuộc Thủy

Phụ Bật thuộc Thổ

Thất Sát thuộc Hỏa

Văn Xương thuộc Kim.

Ơ trên là 18 ngôi sao chính diệu, các sao khác không kể làm chính diệu như :

Khôi Việt thuộc Hỏa

Đà La thuộc Kim

Linh Tinh thuộc Hỏa

Thương Sứ thuộc Thủy

Hóa Quyền thuộc Mộc

Hóa Kị thuộc Thủy

Thái Tuế thuộc Hỏa

Lực Sĩ thuộc Hỏa

Đại Tiểu Hao thuộc Hỏa

Tấu thư thuộc Kim

Hỉ Thần thuộc Hỏa

Tang Môn thuộc Mộc

Quan Phú thuộc Hỏa

Thiên Mã thuộc Hỏa

Kình Dương thuộc Kim

Hỏa Tinh thuộc Hỏa

Không Kiếp thuộc Hỏa

Hóa Lộc thuộc Thổ

Hóa Khoa thuộc Thủy

Hồng Loan Thiên Hỉ Thủy

Bác Sĩ thuộc Thủy

Thanh Long thuộc Thủy

Tướng Quân thuộc Mộc

Phi Liêm thuộc Hỏa

Phục Bình thuộc Hỏa

Bạch Hổ thuộc Kim

Điếu Khách thuộc Hỏa

Riêu Y thuộc thủy.

Ngoài  ra,  còn  một  số  sao  khác  không  thấy  ghi  trong  Tử  Vi  đẩu  số  toàn  thư, nhưng các sách Tử Vi của người Việt đều có như :

Long Trì thuộc Thủy

Tam Thai thuộc Thổ

Am Quang thuộc Hỏa

Thai Phu thuộc Thổ

Thiên Quan quí nhân hỏa

Đào Hoa thuộc Mộc

Thiên Hư thuộc thủy

Phượng Các thuộc Mộc Kim

Bát Tọa thuộc Thổ

Thiên Quí thuộc thổ

Phong Cao thuộc Thổ

Thiên Phúc quí nhân Thổ

Thiên Khốc thuộc Kim

Cô Quả thuộc Hỏa.

Rồi đến vòng sao Tràng Sinh cũng có phân định Ngũ Hành cho mỗi đoạn trong vòng như :

Tràng Sinh thuộc Thủy

Quan Đới thuộc Kim

Đế Vương thuộc Kim

Bệnh thuộc Hỏa

Tuyệt thuộc Thổ

Thai thuộc Thổ

Mộc Dục thuộc Thủy

Làm Quan thuộc Mộc

Suy thuộc Kim

Tử thuộc Hỏa

Mộ thuộc Thổ

Dưỡng thuộc Mộc.

Chúng ta hãy gạt ra ngoài vấn đề có nhiều sách chép khác nhau về hành của mỗi sao, sách này bảo sao X thuộc thủy, sách khác bảo sao đó thuộc mộc v.v... Chúng ta cứ kể là vấn đề /hành/ của các sao đã được hòan toàn thống nhất, sự khác biệt chẳng qua là do chép sai của tác giả nào đó mà thôi. Ơ đây chỉ bàn thuần túy vấn đề tác dụng ngũ hành của các sao như thế nào ?

Thứ nhất là nguyên tắc thụ chế mà Tử Vi đẩu số toàn thư nêu trên :

Kim nhập Hỏa hương

Hỏa nhập Thủy hương ...

Vậy tại sao Cự Cơ Mão Dậu lại tốt ? Đành rằng sao Cự Môn thuộc Thủy vào cung Mão tạm được vì nó chỉ tiết khí chứ không thụ chế, vào cung Dậu thì được Kim sinh nó. Nhưng sao Thiên Cơ thuộc Mộc đóng Dậu cung rõ ràng Mộc nhập Kim  hương thụ chế mà không vô dụng. Rồi hai sao Liêm Tham Tị Hợi cũng ở trường hợp tương tự. Liêm thuộc Hỏa cư Tị là Hỏa  Địa, vẫn bị vào Hãm Địa, Tham Lang thuộc Thủy Mộc cư Hợi là thủy địa vẫn bị vào hãm địa. Hỏi rằng hãm với miếu còn căn cứ trên nguyên tắc thụ chế hay không, hay là căn cứ trên một nguyên tắc  nào khác nữa ? Chúng ta sẽ giảng ra sao câu sau đây :

Liêm Trinh Thất Sát đồng viên

Ơ cung Tị Hợi chiếu miền Thiên Thương

Đặng Thông đói suốt năm trường

Hạn hành phải sợ tai ương đến mình.

Cả Liêm Trinh Thất Sát đều là Hỏa, lại lâm nguy tại cung Tị là Hỏa hương ?

Thứ hai, mỗi cung trong tất cả 12 cung của lá số cung nào cũng có đủ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ kể chung chính diệu với phụ tinh. Theo thói thường chỉ thấy căn cứ vào tính chết hung cát của các vị sao đồng thời căn cứ vào sự kết hợp thành từng bộ để giảng đóan chứ không thấy căn cứ vào cái lý vận động của ngũ hành. Đôi khi cũng có các vị vẻ suy tư nói sang chuyện ngũ hành thì cũng chỉ nói sơ sài, nếu không muốn bảo là gượng, là ngụy biện.

Thứ ba là ngũ hành nếu theo Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy nói đến mặt thụ chế mà không lưu ý đến toàn bộ vận động biện chứng sinh khắc chế hóa biến ảo vô cùng sau đây :

Kim vượng được Hỏa mới thành khí cụ ; Hỏa vượng được Thủy thành sức mạnh của hơi nước tức là Thủy Hỏa tương tế, Thủy giúp Hỏa ; Thủy vượng được Thổ mới thành ao hồ, Thổ vượng được Mộc mới sơ thông thổ không bị bí ; Mộc vượng được Kim mới ra kèo cột chống đỡ.

Kim nhờ Thổ sinh nhưng Thổ đa thì Kim bị chôn vùi ; Thổ nhờ Hỏa sinh nhưng Hỏa nhiều Thổ cháy. Hỏa do Mộc sinh nhưng Mộc nhiều Hỏa bị ngạt ; Mộc nhờ Thủy sinh nhưng Thủy trận thì Mộc trôi ; Thủy nhờ Kim sinh nhưng Kim đa Thủy trọc (đục dơ bẩn).

Kim có thể sinh Thủy nhưng Thủy đa tất Kim chìm. Thủy có thể sinh Mộc nhưng Mộc đa thì Thủy kiệt. Mộc có thể sinh Hỏa nhưng Hỏa nhiều Mộc cháy tiêu. Hỏa có thể sinh Thổ nhưng Thổ đa làm Hỏa ngạt. Thổ có thể sinh Kim nhưng Kim đa thổ biến.

Kim khả dĩ khắc Mộc nếu Mộc cứng Kim sẽ sứt mẻ. Mộc khả dĩ khắc Thổ, nếu Thổ chắc rắn Mộc gầy. Thổ khả dĩ khắc Thủy nếu Thủy nhiều quá Thổ sẽ trôi. Thủy khả dĩ khắc Hỏa nếu Hỏa nhiều sẽ làm sôi Thủy. Hỏa khả dĩ khắc Kim nếu Kim  nhiều Hỏa tắt.

Kim suy gặp Hỏa bị cháy tan. Hỏa nhược gặp Thủy Hỏa tất diệt. Thủy yếu gặp Thổ, Thủy ứ tắc. Thổ suy gặp Mộc Thổ bị nát vụn. Mộc nhược gặp Kim, Mộc bị sát phạt.

Cường Kim được Thủy mới tiết bớt sức mạnh Cường Thủy được Mộc mới tiết bớt thế mạnh Cường Mộc được Hỏa mới bớt ngang ngạnh Cường Hỏa được Thổ mới ngừng hoành hành Cường Thổ được Kim mới chế được hại.

Mộc sinh Hỏa tuy nhiên Hỏa cũng có thể sinh Mộc, Thủy sinh Mộc la tưới cho đất bớt khô, còn Hỏa sinh Mộc là làm cho trời nóng ấm cây khỏi cóng rét.

Hỏa sinh Thổ tuy nhiên Thổ cũng có thể sinh Hỏa, Mộc sinh Hỏa nhờ cái khô của cây vào mùa đông, còn Thổ sinh Hỏa là do đất nóng trong tháng hạ.T

hổ sinh Kim tuy nhiên Kim cũng có thể sinh Thổ, Hỏa sinh Thổ bằng cách đốt bớt chất ẩm, còn Kim sinh Thổ bằng cách làm chắc đất lại.

Kim sinh Thủy tuy nhiên Thủy cũng có thể sinh Kim, Thổ sinh Kim bằng sự thấm bớt nước còn Thủy sinh Kim bằng sự chế ngự tính khốc liệt của Hỏa.

Thủy  sinh  Mộc  tuy  nhiên  Mộc  cũng  có  thể  sinh  Thủy,  Kim  sinh  Thủy  bằng  cách ngăn chặn sự tiết lậu còn Mộc sinh Thủy bằng cách khơi thông ứ tắc ...

Nói  tới  vận  động  biện  chứng  của  ngũ  hành thật hết sức miên man, bao la, không phải chỉ có thụ chế mà thôi. Chắc hẳn Hi Di Trần Đòan tiên sinh cũng đặt Tử Vi vào trong vận động biện chứng đó nay chỉ vì thất truyền nên không có giảng giải chính xác vậy. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt toẹt ra rằng Liêm Tham Tị Hợi mệnh đóng đấy thì dễ bị tù tội nhưng nếu gặp Triệt hay Tuần lại trở thành hay. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt câu phú :

Mão cung Cơ Cự Vũ Khúc phùng

Tân At sinh nhân phúc khi Long.

Chúng ta hy vọng một ngày nào đó sẽ có một sở học uyên thâm giảng được lý do tại sao, hoặc sẽ tìm thấy cổ thư có lời giảng  ấy.Sau chót là vấn đề ngũ hành của vòng tràng sinh. Vấn đề này có sự khác biệt hẳn như trắng với đen giữa sách Tử Vi đẩu số toàn thư với sách Tử Vi của người Việt.Theo Tử Vi đẩu số toàn thư cũng như theo tòan thể các sách khác ve khoa âm dương học thì vòng tràng sinh là sự thành trưởng, vượng thịnh và hủy diệt của một hành trong ngũ hành. Không có chỗ nào trong Tử Vi đẩu số toàn thư gọi tràng sinh mộc dục quan đới, làm quan, đế vượng, suy bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai dưỡng là một vị sao.Trong khi thói quen từ trước tới giờ của Khoa Tử Vi lại gọi 12 giai đoạn trưởng thành hủy diệt của vòng tràng sinh là sao. Đặc biệt hơn nữa là mỗi sao ấy lại đại biểu cho một hành kim mộc thủy hỏa thổ, ấy mới là lạ. Xin nhắc lại :

Tràng Sinh thuộc Thủy

Quan đới thuộc Kim

Đế Vương thuộc Kim

Bệnh thuộc Hỏa

Mộ thuộc Thổ

Thai thuộc Thổ

Mộc Dục thuộc Thủy

Làm Quan thuộc Kim

Suy thuộc Thủy

Tử thuộc Thủy

Tuyệt thuộc Thổ

Dưỡng thuộc Mộc.

Đầu hết chúng ta hãy đi tìm hiểu quan niệm của khoa âm dương học về vòng tràng sinh ra sao đã. Sách nào cũng đều nói vòng tràng sinh là những giai đoạn (thập nhị vận) thành trưởng, vượng thịnh, suy yếu và hủy diệt.Số Tử Bình giảng thập nhị vận ấy như sau :

- Trường Sinh là đất sống của ngũ hành, gặp tràng sinh là người nhiều tài cán, sớm thành công, hạnh phúc vô cùng.

- Mộc Dục là giai đoạn của sự tắm rửa, đứa trẻ vào đất sống đang được tắm ở

chuồng còn non nớt yếu đuối cho nên gặp Mộc Dục số đàn ông cô độc khắc cha mẹ, con cái ;số đàn bà phá bại nhà mình cũng như nhà chồng, đẻ con khó nuôi.

- Quan Đới là giai đoạn biết đội nón chít khăn để hưng gia lập nghiệp. Ban đầu bần hàn càng về sau càng qúi hiển, nếu lại ở ngôi bản vị qúi nhân thì tuổi trẻ đã đắc lộ thanh vân.

- Lâm Quan – Đế Vương là giai đoạn ví như con người vào tuổi bốn năm mươi,công đã thành danh đã toại đang hưởng vinh hoa. Mệnh được gặp Lâm Quan Dế Vương thì gia nghiệp hưng Long, dục vọng công danh thoả chí. Dù cho có thất vị thì danh cũng đã nhiều người biết đến.

- Suy – Bệnh – Tử là giai đoạn già nua suy yếu của ngũ hành. Lực không còn theo tâm nữa , cần phải có sự phù giúp mới có thể hanh thông.

- Mộ là giai đoạn đem chôn vùi, đòi hỏi một sự xung phá thì uất kết của chôn vùi mới vỡ bung ra để chuyển thành một sự nghiệp mới.

- Tuyệt là giai đoạn đi sau mộ, nếu không có sự xung phá kia để phục hồi thì sẽ diệt hẳn.

- Thai là giai đoạn trứng nước nảy nở, lúc này còn ở tình trạng ngu si dễ bị bóp chết.

- Dưỡng là giai đoạn đã thành hình bây giờ phải dựng dục nuôi nấng. Giai đoạn này hung cát thường đi đôi.

Mỗi hành kim mộc thuỷ hoả thổ đều phải có một cuộc đời trải qua 12 giai đoạn kể trên theo nguyên tắc sinh diệt mà thành một vòng tròn bất tận gọi là Vòng Tràng Sinh.Nó được phân định như sau :

- Giáp  can  :  Tràng  sinh  tại  Ngọ,  Mộc  Dục  Tí,  lâm  quan  Sửu,  Lâm  quan   Dần,   Đế Vượng Mão, Suy Thìn, Bệnh Tị, Tử Ngọ, Mộ Mùi, Tuyệt Thân, Thai  Dậu.

- At can : Tràng sinh tại Ngọ, Mộc Dục Tị, Quan đới Thìn, Lâm quan Mão, Đế vượng Dần, Suy Sửu, Bệnh Tí, Tử Hợi, Mộ Tuất, Tuyệt Dậu, Thai Thân, Dưỡng Mùi.

- Bính Mậu can : Tràng sinh tại Dần, Mộc dục Mão, Quan đới Thìn, Lâm quan Tị, Đế vượng Ngọ, Suy Mùi, Bệnh Thân, Tử Dậu, Mộ Tuất, Tuyệt Hợi, Thai Tí, Dưỡng Sửu.

- Đinh Kỷ can : Tràng sinh tại Dậu, Mộc dục Thân, Quan đới Mùi, Lâm quan Ngọ, Đế vượng Ngọ, Suy Thìn, Bệnh Mão, Tử Dần, Mộ Sửu, Tuyệt Tí, Thai Hợi, Dưỡng Tuất.

- Canh can : Tràng sinh tại Tị, Mộc Dục Ngọ, Quan đới Mùi, Lâm quan Thân, Đế vượng Dậu, Suy Tuất, Bệnh Hợi, Tử Tí, Mộ Sửu, Tuyệt Dần, Thai Mão, Dưỡng Thìn.

- Tân can : Tràng sinh tại Tí, Mộc dục Hợi, Quan đới Tuất, Lâm quan Dậu, Đế vượng Thân, Suy Mùi, Bệnh Ngọ, Tử Tị, Mộ Thìn, Tuyệt Mão, Thai Dần, Dưỡng Sửu.

- Nhân  can  :  Tràng  sinh  tại  Thân,  mộc  dục  Dậu,  Quan  đới Tuất,  Lâm  quan  Hợi,  Đế vượng Tí, Suy Sửu, Bệnh Dần, Tử Mão, Mộ Thìn, Tuyệt Tị, Thai Ngọ, Dưỡng Mùi.

- Qúi can : Tràng sinh tại Mão, Mộc dục Dần, Quan đới Sửu, Lâm quan Tí, Đế vượng Hợi, Suy Tuất, Bệnh Dậu, Tử Thân, Mộ Mùi, Tuyệt Ngọ, Thai Tị, Dưỡng Thìn.

Như vậy trừ Bính Dậu đi cùng một vòng và Đinh Kỷ đi cùng vòng thành ra có tám vòng bốn dương can và bốn âm can. Dương đi thuận âm đi nghịch.

Trong khi khoa Tử Vi tính theo năm cục là :

Thuỷ nhị cục – Mộc tam cục – Kim tứ cục– Thổ ngữ cục – Hỏa lục cục.

Thuỷ và Thổ cục đi cùng vòng còn Hoả lục cục, Kim tử cục, Mộc tam cục mỗi cục một vòng, tổng cộng chỉ có bốn vòng.Nếu đem so sánh thì thấy vòng tràng sinh của Tử Vi thuần là tính  theo Dương can chứ không có Âm can như :

Thuỷ và Thổ cục tràng sinh ở Thân (Nhâm can)

Hoả lục cục tràng sinh ở Dần (Bính Mậu can)

Kim tứ cục tràng sinh ở Tị (Canh thân)

Mộc tam cục tràng sinh ở Hợi (Giáp can)

chỉ thấy nói thêm Dương can tính thuận, Am can tính nghịch. Tính Dương thuận Âm nghịch qua Cục ngũ hành của Tử Vi, đem so với Tử Bình thì Am can hoàn toàn không thấy có vị trí đúng cho 12 giai đoạn của vòng tràng sinh. Bởi vì tràng sinh của Giáp can tràng sinh khởi từ cung Hợi còn tràng sinh của At can khởi từ cung Ngọ.

Vậy không thể dùng danh từ Âm Dương Can được nữa mà phải dùng danh từ Âm Dương Cục mới chính sác. Còn như hỏi Cục tại sao mà thành thì chúng ta chỉ biết Tử Vi dạy rằng :

" Gọi cung Dần là tháng Giêng tính thuận đến tháng sinh rồi lại từ cung đó tính nghịch đến giờ sinh an mệnh vị. Xong đâu đó tìm hành Can của năm sinh kết hợp với vị trí thập nhị chi của mệnh vị mà thành ra cục".

Tại sao tính thế ? Căn cứ trên nguyên tắc nào của ngũ hành ? thì lời giảng đã theo Hi Di Trần Đoàn tiên sinh nằm dưới lòng đất cả ngàn năm rồi.Có một vài vị trên một vài cuốn sách đã định giảng, nhưng người đọc chẳng thấy gì cả. Chúng ta cứ phải tiếp tục chờ.Có   điều   bảo   Tràng   sinh   thuộc   Thủy,   Mộc   dục   thuộc

  Thủy,   Quan   đới   thuộc Kim.....Tuyệt Hỏa.....Bệnh và Tử Hỏa.... thì quả là chướng, là ngang đối với nguyên lý ngũ hành.

Vòng tràng sinh còn có một liên hệ khá quan trọng là liên hệ với sao Lộc Tồn.

Lộc Tồn là gì ?

Là giai đọan phát triển cực thịnh của hàng can ngũ hành, tức là giai đọan Lâm quan

trong vòng tràng sinh, Lâm quan còn có tên gọi khác là Lộc Kiến.Tử vi an sao Lộc Tồn căn cứ vào hàng can của năm sinh như sau :

Giáp Lộc tại Dần

At Lộc tại Mão

Bính Lộc tại Tị

Đinh Lộc tại Ngọ

Mậu Lộc tại Tị

Kỷ Lộc tại Ngọ

Canh Lộc tại Thân

Tân Lộc tại Dậu

Nhâm Lộc tại Hợi

Quý Lộc tại Tí.

Chú ý : Bính Mậu Lộc cùng ở một chỗ và Đinh Kỷ Lộc cùng ở một chỗ.

Lật trở lại trang trên, tìm những chỗ Lâm quan của các vòng tràng sinh của thập can trong Khoa Tử Bình đều là chỗ an Lộc Tồn trong Khoa Tử Vi.Điều trên đây chứng tỏ rằng :

a.   Vòng tràng sinh rất quan trọng đối với lá số mà nay chúng ta chỉ có rất ít mấu cứ để nói chuyện về nó.

b.   Sao chỉ là một cách nói, tên mỗi sao chỉ là những ký hiệu, tất cả số mệnh con người đều xuất phát từ vận động biện chứng của ngũ hành. Nhưng nay bởi lẽ nguyên lý đã bị mất từ lâu đời nên chúng ta chỉ có thể giải đóan qua một số những công thức làm sẵn chứ không thể giải đóan bằng lý ngũ hành. Đấy là sự thiệt thòi lớn cho Tử vi học khiến cho nhiều lúc chúng ta cứ nghĩ nó như một thuật không phải là một khoa học. Những lời giảng của các thuật sĩ nghe khó chịu chẳng hạn : Thanh Longnhư Thìn là Long cư Long vị. Bạch Hổ cư Dần là Hổ cư  Hổ vị. Trong Tử Vi đẩu số tòan thư, người ta chỉ thấy có một đọan nói đến vận động ngũ hành, đọan ấy lấy tựa đề là : "Tinh Luận Viên", viết như sau :

" Tử Vi đế tòa lấy Phụ Bật làm tướng là chủ tinh, là nguyên lưu là tất cả qui tụ nam

bắc đẩu tinh mà thành vạn vật chi linh. Dùng thủy để tẩy rửa (?) tất âm dương ký tế. Thủy thịnh khiến dương thương, hỏa thịnh thì âm diệt. Cả hai phải dung hòa không được thiên lệch. Cho nên đắc kỳ trung mới thật là mỹ mãn. Dần là viên địa của mộc, lúc tÂm Dương giao thái nên cây cỏ mầm mống nảy sinh, sang Mão vi mộc càng vượng làm thành miếu địa cho Thiên Cơ, Tham Lang, Thiên Tướng, là thủy đến cung Dần gọi là vượng tướng. Cự Môn thủy được Mão mộc sơ thông rất hay cần thổ để nuôi mộc lại cần thủy để tưới cho mộc tươi tốt nên tam phương gặp Vũ Khúc Phá Quân thủy nữa càng hay, có Lộc Tồn thổ càng đẹp. Cự Môn thủy đến cung Sửu Thiên Lương thổ đến cung Mùi, Đà La Kim vào tự mộ địa nếu gặp Kình Dương lấy thổ làm kim mô tất kim thông không bị ngưng trệ, có Thiên Phủ thổ Thiên Đồng kim sinh tức gọi là cách kim qúi thổ màu mỡ (kim châu thổ phì) thuận đức mà sinh. Mùi  Tị  Ngọ  là  hỏa  vị  nơi  tuyệt  địa  của  thủy,  hỏa  viên  nơi  cung  Ngọ  có  dư  khí  lưu  tại  Tị thủy..."

Bài này cứ thế kéo dài thêm hai trang nữa, nhưng cũng tiếp tục rắc rối khiến người

đọc chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, Tinh Viên Luận cho ta thấy những dấu tích chứng tỏ khoaTử Vi có đặt trên nguyên tắc vân động biện chứng ngũ hành.

Đoán định cách cục

Xem số tức là đóan định cách cục cho một người : phú quý hay bần tiện.

- Trước giàu sau nghèo hay trước nghèo sau giàu ? chìm nổi hay êm đềm ?

- Vận bao giờ mới hay?

- Cuộc đời lúc nào thì tai họa tới?

- Vóc dáng người ấy ra sao?

- Khả năng tinh thần thông minh hay ngu độn?

- Duyên nợ với lục thân : bố mẹ, anh em, vợ con?

- Thọ hay yểu, bệnh tật hay khỏe mạnh?

- Nhà cửa ruộng vườn rộng hẹp, nhiều ít? v.v...

Càng học tinh bao nhiêu càng có thể đóan định vào chi tiết bấy nhiêu. Chi tiết đến như câu chuyện kể dưới đây :

" Thủa nhỏ tôi (lời của Tề Đông Dã, tác giả cuốn " Mệnh vận đích kỳ tích" ) ở tại

nhà cậu ruột trọ học. Cậu tôi làm quan trong triều và là người nổi danh về khoa tướng mệnh học. Do đó tôi vì được nghe đến hàng ngày nên cũng am tường về bát tự hay khoa Tử Bình.Có một lần, cậu tôi mời ba vị  quí khách ăn cơm, chúng tôi phải đứng hầu rượu. Bữa cơm đến giữa chừng thì Lưu Tam Gia lấy từ trong túi áo ra một lá số Tử Bình nhờ cậu tôi đoán giùm.Cậu tôi xem rồi trầm ngâm lúc lâu mới ngẩng  mặt lên nói với Lưu Tam Gia :

- Dậu  là  Hồng  Diệm,  Tí  là  Đào  Hoa  số  con  bé  này  chắc  chắn  phải  lưu  lạc phong trần. Nó là con cái nhà ai thế nhỉ ?

Lưu Tam Gia vốn là một nhân vật trong phái danh sĩ ở Bắc Kinh, rất mực hào hoa, hầu hết giai nhân trong giới ca kỹ đều biết. Ông đáp lời cậu tôi rằng :

- Đây là lá số của con ông bạn học, tôi muốn nhận nuôi nó nên muốn nhờ bác xem kỹ càng cho.

Cậu tôi nói tiếp :

- Cứ theo số thì bố mẹ cô ta phải chết lâu rồi chứ và cô ấy chỉ có một người chị em gái không thể nào có anh em trai. Rõ ràng ngay từ năm 1 tuổi cô ta đã đi làm con nuôi rồi, sao bây giờ bác mới nói chuyện nuôi ?

Bấy giờ Lưu Tam Gia mới nói sự thật :

- Chịu bác, chịu bác, đây là lá số của cô kỹ nữ mà tôi vừa gặp, vì thân tình mà

cô ta đã được một thầy tóan mệnh danh tiếng lấy cho. Tôi mang về chép ra đưa bác để xem lời đóan có giống nhau không ?

Vừa nói Lưu Tam Gia vừa lấy ở túi áo ra một lásố cũ kỹ đưa cho cậu tôi :

- Đây thưa bác, chính bản của nó.

Cậu tôi mở ra xem thấy ghi rành rành những hàng chữ lời đóan mhư sắt thép :

" Con gái nhà họ Uc sinh năm Kỷ Hợi (Quang Tự nhị thập ngũ niên ), tháng 8, ngày16, giờ Tí".

Bát Tự là : Kỷ Hợi – Qúi Dậu – Tân Mão- Mậu Tí.

1.   Từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, phải đổi họ nhà khác để làm nghĩa nữ.

2.   Thân vượng mà không có quan tinh, hồng diệm lại gặp đào hoa sẽ rơi vào kiếp phong trần làm ca kỹ.

3.   Năm nay 16 tuổi, bán mình làm ca kỹ.

4.   Mười năm làm ca kỹ nổi danh tài sắc một thời nhưng rồi phải biến đổi .

5.   Hai mươi tuổi tức năm Mậu Ngọ lần thứ nhất hòan lương, lấy lẽ một qúi nhân.

6.   Hai mươi hai tuổi tức năm Canh Thân lại trở về thanh lâu hành nghề cũ.

7.   Hai mươi bốn tuổi tức năm Nhâm Tuất   lần thứ hai hòan lương, làm thiếp cho một thương nhân.

8.   Hai mươi lăm tuổi tức năm Giáp Tí lần thứ ba quay về lầu xanh.

9.   Hai mươi bẩy tuổi tức măm Bính Dần đệ tam thứ hòan lương sẽ lấy lẽ lần nữa được hưởng hạnh phúc yên lành mấy chục năm.

10. Năm bốn mươi bẩy tuổi, ất Dậu niên, thiên xung địa khắc chồng

chết nhà tan".

Lưu Tam Gia nói :

- Đồng ý tôi tin con người ta có số mệnh nhưng không bao giờ nghĩ có thể đóan biết ngày giờ những việc xảy ra chính xác như vậy. Cô ta tên là Tiêu Sương, một danh kỹ tại Bắc Kinh. Những việc xảy ra trong đời nàng cho đến bây giờ nàng 28 tuổi đều đúng như lời ghi trong lá số. Năm 20 tuổi Tiêu Sương được bộ trưởng ngọai giao của chính phủ Bắc Kinh chuộc ra khỏi thanh lâu với cái giá rất cao, nhưng không làm nghi thức nạp thiếp.Vợ ông ta là người Anh cho nên ông bộ trưởng không dám công khai lấy vợ nhỏ. Về sau việc đổ bể, bị vợ kiện là thông gian nên ông ta đành phải bỏ Tiêu Sương. Nàng được ông cho một món tiền khá lớn. Nhưng rồi ăn sài hoang phí chẳng bao lâu phải quay lại kỹ viện " Bát Đại Đồng Hồ". Về sau có một tay cự thương mê nàng, hỏi nàng làm thiếp, chưa đầy một năm người ta lại thấy Tiêu Sương ở " Bát Đại Đồng Hồ" lần nữa. Mới đây nghe tin Tiêu Sương lấy chồng lần thứ   và nàng đã theo chồng về Thượng Hải. Chẳng biết cuộc sống ra? Mục đích của tôi hôm nay lá muốn nhờ bác giải cái lý trong lá số của Tiêu Sương".Cậu tôi đắc ý gật gù tay cất chén, mắt ông nhắm lại, chậm rãi nói :

- Số cô ấy chủ thể là Kim và Thủy. Kim sinh Thủy, từ khi được tuyên tiết nên con người đẹp đẽ, thông minh. Nhìn qua cung Phu chỉ thấy tiền bạc, con gái đẹp thông minh mà Phu cung thuần tài thì không phải là danh kỹ thì còn là gì nữa? Thêm vào đó bát tự của Tiêu Sương hòan tòan khuyết hỏa, Phu tinh không được rõ rệt, tuy nhiên Mậu quý hợp hóa hỏa thành ám phu cho nên mới đóan là khách chơi quen biết đều là lọai qúi nhân sẽ lấy nàng làm thiếp. Số cô ta nặng nợ phong trần ở điểm đã hồng diệm kiếp còn đèo bồng đào hoa kiếp thành thử cứ phải trở đi trở lại

chốn thanh lâu. Chỉ những năm hỏa vận mới đem đến cho côta điều hay thôi".

Cuộc  sống  trong  xã  hội  mang  muôn  hình  vạn  trạng,  đời  người  cũng  theo  đó  mà mang muôn hình vạn trạng. Nhưng rút lại, không đi ra ngọai phú qúi cùng thông, thọ yểu, bần tiện, gian tàn phúc lộc, duyên nợ, hiền ngu. Tuy nhiên nếu đóan số mà chỉ đóan được đại cương thì đã mất chín mươi phần trăm cái thú của

sự khám phá. Đọc bài thơ " Thăm mả cũ bên đường" của thi sĩ Tản Đa sẽ thấy cái muôn hình vạn trạng của một sự chết đối với con người :

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà

Đường xa người vắng bóng chiều tà

Một dãy lan cao làn gió chạy

Mấy cây thưa lá sắc vàng pha

Ngoài xe trơ một đống đất đỏ

Hang hốc đùn trên đám cỏ gà

Người nằm dưới mả là ai đó

Biết có quê đây hay vùng xa

Hay là thời trước kẻ cung đao

Hám đạn liều tên quyết mũi dao

Cửa nhà xa cách vợ con khuất

Da ngựa gối bỏ lâu ngày cao

Hay là thủa trước kẻ văn chương

Chen hội công danh nhỡ lạc đường

Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương

Hay là thuở trước khách hồng nhan

Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen

Phong trần xui gặp bước lưu lạc

Dầu xanh theo một chuyến xuân tàn

Hay là thuở trước khách phong

lưu Vợ con đàn hạc đề huề theo

Quan san xa lạ đường lối khó

Ma thiêng nước độc phong sương nhiều

Hay là thuở trước bậc tài danh

Đôi đôi lứa lứa cũng linh tinh

Giận duyên tủi phận hờn ân ái

Đất khách nhờ chôn một khối tình

Suối vàng sâu thẳm biết là ai

Mả cũ không ai kẻ đoái hoài Trải

bao ngày tháng trơ trơ đó

Mưa rầu nắng rãi trăng mờ soi

Ay thực quê hương con người ta

Dặn bảo trên đường những khách qua

Có tiếng khóc oe thời có thế

Trăm năm ai mà lại biết ai mà.

Người nằm dưới mả, những chìm nổi cuả đời mình hoàn toàn kết thúc. Xem số tức là nhìn thấy những chìm nổi ấy khi chúng chưa thực sự xảy đến.

Hình dáng và tính tình

Trước tiên là đoán về hình thù vóc dáng và tính tình. Tử Vi đẩu số toàn thư có bài

Hình tinh phú như dưới đây (đối chiếu bằng phú nôm) :

Tử Vi đế toà sinh vi hậu trọng chi dung

Tử Vi mặt đỏ lưng dầy

Vóc người trung hậu mặt thời phương phi.

Thiên Phủ tôn tinh đương chủ thuần hóa chi thể

Thiên Phủ miếu vượng khá thông

Mặt tròn da trắng ôn dung thuần hoà.

Kim o (Thái dương) viên mãn

Thái dương mặt góp thân gầy (khác hẳn chữ viên mãn).

Ngọc thỏ (Thái Âm m) thanh kỳ

Thái Âm thủ ở mệnh cung

Sinh vào đêm đúng buổi trung tuần

Ay người đẹp đẽ muôn phần.

Thiên Cơ vi bất trường bất đoản chi tư

Thiên Cơ thuộc Mộc minh dài (?) Tâm từ tính cấp đa tài đa mưu.

Vũ khúc nãi chí cương chi nghị chi tháo, tâm tính quả quyết.

Vũ khúc là sao Kim tinh

Vóc người nho nhỏ dáng người thanh cao

Chí cương chí nghị anh hào

Khoan dung đại lượng lượcthao gồm tài.

Thiên đồng phi mãn, mục tú thanh kỳ

Thiên đồng đầu lớn lưng dầy

Hình thời phì mãn mắt thời sao sa

Tính ôn lương lại hiền hoà.

Liêm trinh mi khoan khẩu khoát diện hoành vi nhân tính bạo, hiếu phân hiếu tranh.

Liêm Trinh hoả vượng thân tràng

Lộ hầu lộ nhãn mặt tàng dáng ngang

Cư thân mệnh hoá đào hoa

An chơi phóng đãng xa hoa hơn người

Tính thời táo bạo ưa tranh.

Tham Lang chi thiện ác chi tinh, nhập miếu ưng trường tủng, xuất viên tất định ngoạn ngạc (vào miếu địa người cao, hãm địa tính tình ngoan ngạnh).

Tham Lang miếu vượng chi cung

Miếu thời người lớn là dòng lược thao

Hãm cung Tị Hợi xấu sao

Nhỏ người mê mệt tiêu hao phong tình

Hiểm độc mà lại đa kinh (nhát)

Tham tình tham sức quen mình bạc hung.

Cự môn nãi thị phi chi diệu, tại miếu đôn hậu ôn lương

Cự môn là thủy bắc tinh

Miếu vượng tí ngọ đã đành tốt thay

Mình tròn da trắng tóc mây

Cự hãm tứ mộ đa ngôn

Phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm.

Thiên Tướng tinh thần tướng mạo tri trọng thiên Tướng dương thuỷ kể đi

Miếu địa tướng mạo uy nghi thanh nhàn

Tính thời chẳng chịu nói càn

Lòng thời nhiệm nhặt mọi đàng ung dung. Thiên Tướng là mặt con người

Hương trời sắc nước mặt ai Tướng Hồng (Loan).

Thiên Lương ẩn trọng tâm sự ngọc khiết

băng thanh (tâm sự sạch như ngọc thanh như băng)

Thiên lương thuộc Thổ nam tinh

Lòng lành cẩn thận, cao thanh ai tày.

Thất Sát như Tử Lộ bạo hổ bằng hà, bạo hổ bằng hà hề mục thái lung (Sao Thất Sát dáng hung bạo như thầy Tử Lộ hệt con hổ nhẩy qua song rượt mồi, đôi mắt kiểu hung dữ).

Thất Sát mắt lớn dọi đèn

Việc làm muốn chóng một phen cho rồi

Tính thời hay động hay thôi

Lại thêm hung bạo như lôi chẳng là

Hẹn đến rồi lại bỏ qua

Bạo hổ bằng hà nào có sợ ai.

Hỏa Linh tự Dự Nhượng thôn hôi, tráng á, tráng á, hề âm lang thanh trầm tuấn

nhã (Sao Hỏa Linh ghê gớm như Dự Nhượng nuốt than giả câm, âm thanh trầm như tiếng gấu, vẻ tuấn mã).

Văn Xương mi thanh mục tú lỗi lạc Văn Khúc khẩu thiệt tiện nịnh, tại miếu sinh dị chí, thất hãm ban ngàn (Văn Xương mi thanh mắt sáng, tính tình lỗi lạc – Văn khúc khéo nói, ở miếu địa có nốt ruồi lạ, ở hãm địa thường bị vết bị sẹo).

Tả Phụ, Hữu Bật tính ôn lương, qui mô đoan trang, cao sĩ (Tả Phụ, Hữu Bật tính ôn lương, qui củ đoan trang, tâm hồn cao sĩ ) .

Thiên  Khôi,  Thiên  Việt  cụ  túc  uy  nghi,  trùng  hợp  tam  thai  thập toàn mô phạm (Thiên Khôi, Thiên Việt đầy vẻ uy nghi gặp thêm tam thai thì thập toàn mô phạm).

Kình Dương Đà La hình su mạo lậu, hữu kiểu trá thể thái (Kình Dương, Đà La thân hình thô kệch, mặt mũi xấu xí, ưa làm điệu bộ giả trá).

Phá Quân bất nhân, bối trọng mi khoan, hành tọa yêu tà, gian trá hiếu hành kinh hiểm.

Phá Quân âm thủy kể ra

Lưng dầy mình thấp lại là mi thưa

Tính cương chẳng có ai ưa

Ra lòng bạc ác chẳng vừa được đâu.

Mạo như xuân hòa nãi thị Lộc Tồn chi tình đức, tình hoài (Vẻ mặt tính tình dịu như mùa xuân là Lộc Tồn).

Tự hỏa phong xung thử thành phá hao chi uy (Như ngọn lửa bốc,đấy là cái uy của Thất Sát, Phá Quân).

Quyền tinh luận miếu vượng tối pha Không Vong, sát lạc Không Vong cánh vô uy lực (Luận về quyền tinh dù miếu vượng cũng rất sợ rơi vào đất Không Vong (Thiên Không – Tuần Triệt), rơi vào Không Vong là hết uy lực).

Quyền Lộc nãi cửu khiếu chi kỳ (Sao Hóa Quyền, Hóa Lộc tạo nên nét kỳ lạ về cửu khiếu, tỉ dụ mắt lớn sáng đẹp, tai to có thùy châu  hoặc  triều  khẩu,  mũi  cao  dầy  nhuận  sắc,  miệng  rộng  tứ  tự hình).

Hao ngộ Tham Lang nữ dâm tình ư tỉnh để (Phá Quân (hao là hóa khí của Phá Quân), gặp Tham Lang, con gái bậy bạ ngay bên bờ giếng).

Tham tinh nhập mã viên dị thiện dị ác (Tham Lang vào đất Thiên Mã tính tình bất thường).

Tài cư Không Vong ba tam lãng tử. (Vũ Khúc gặp Không Vong kiếm ba tiêu bốn).

Văn Khúc vượng cung văn nhất tri thập. (Văn Khúc ở vượng cung nghe một biết mười).Hợp Liêm Trinh vi tham lam chi lại (Gặp Liêm Trinh làm lại tham lam).

Tử Vi phi mãn, Thiên Phủ tinh thần Lộc Tồn, Lộc chủ dã ưng hậu trọng (Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Tồn đều có dáng dấp mập mạp hậu trọng).

Nhật Nguyệt, Khúc, Tướng, Đồng, Lương, Cơ, Xương giai vi mỹ tuấn chi tư (Những sao trên cho con người về thanh nhã mỹ tuấn).

Tham  Lang  đồng  Vũ  Khúc  hình  tiểu  thanh  cao  nhi  lượng  đại (Tham  Lang  cùng  đi  với  Vũ  Khúc  người  nhỏ  tiếng  lớn,  có  đại lượng. Phú nôm có câu : /Vũ Tham người nhỏ là phường tham lam/ dịch sai hai chữ lượng đại vì Tham Vũ đồng hành vốn là quí cách).

Thiên Đồng, gia đà kị phi mãn nhi diểu (Thiên Đồng đi với Đà La Hóa Kị người cao lớn mập mạp nhưng đôi mắt xấu đục).

Kình Dương thân thể tao thương nhược ngộ hỏa linh cư ám tất sinh dị chí hựu phùng hao sát đinh chủ hình sũ mạo thô (Kình Dương hay có vết sẹo gặp Hỏa Linh có nốt ruồi lạ, đi với Thất Sát Phá Quân người xấu, thô lỗ).

Đoán về tính tình

Đoán về tính tình tiền nhân ta có một bài phú khá dài, đưa ra những hình tính mà Tử Vi đẩu số toàn thư không có ghi chép :

Tử Phủ trọng hậu khác thường

Vũ Tham người nhỏ là phường tham lam

Tử Phùng Không Kiếp hiểm gian

Hoặc là Tứ Sát trong làng gian phi

Thìn Tuất Phủ Tướng phùng suy

Tính hay chấp nhất đa nghi mọi bề

Tham Liêm Tị Hợi đáng chê

Tính tham thấy của người mê liền vồ

Vũ Tham đầu nhỏ mình to

Phá Liêm xốc xếch sức đo hơn người

Cự Cơ ở Dậu thâm môi

Cơ Lương Vũ Phá là người có uy

Sát phùng Thiên Hi hãy suy

Ay là phong nhã uy nghi mọi đàng

Khúc Xương là bậc thanh nhàn

Thật thà đứng đắn là làng Đồng Lương

Việt Khôi là cách văn chương

Khôi là Khôi ngộ Việt thường da đen

Mặt sáng ấy hội Khoa Quyền

Vũ Tham, Hóa Lộc râu liền đến tai

Đấng vàng (?) là hội Phong Thai

Long Trì, Phượng Các ấy ai dịu dàng

Đẹp thay Tả Hữu một phương

Khốc Hư quanh mắt thường thường tròn thâm

Tham Đào tóc tốt xanh râm

Mắt đen Vũ Kị chẳng nhầm một ai

Việt Đà tiếng nói khoan thai

Đồng, Không, Hư, Nhẫn lắm lời thị phi

Mộc Dục làm dáng ai bì

Hay khoe mình cũng bởi vì Làm Quan

Trường sinh Lực Sĩ nói ngoan

Phủ phùng Thiên Mã luận bàn thấp cao

Quí An là khách phong tao

Trên nào cũng mến, dưới nào cũng yêu

Thanh LongCơ biến đủ điều

Tấu thư nói ngọt người theo ngay về

Hỉ Thần, Hoa Cái tốt ghê

Khẩu thiệt trường đoản mọi bề đảm đang

Kiếp Không da ắt đen toàn

Hỏa Linh mặt khó sầu đăm suốt ngày

Kình Dương tai kém mình gầy

Đà La mắt lớn chân tay thì dài Đào

Hồng mặt mũi xinh tươi

Kị Hình Đà Nhẫn là người tật thương

Vũ, Diêu, Toái ngọng lẽ thường

Lại thêm Việt Kị ấy phường điếc câm

Đồng cung Diệu Kị chẳng nhầm

Số mà như thế chịu phần sứt môi Tham

Lâm hãm địa là người

Trong hai nách những mồ hôi một lò

Người mà mắt nhỏ mắt to

Nhật phùng Đào Sát tương phò mệnh viên

Âm Dương lạc hãm không nên

Trong ngoài Diêu Kị cho nên mắt lòa

Mắt to mắt nhỏ ấy là

Nhật phùng Không hãy đoán ra rõ mười

Phủ gặp Thất Sát nực cười

Mắt to tai nhỏ là người dị nhân

Gù lưng thôi chớ phân vân

Nhật gặp Kị Sát lại lâm Bệnh Phù

Đà La hắc chí (nốt ruồi) điểm to

Cự Môn, Hóa Kị âu lo hão huyền

Tham Lâm Thái tuế một miền

Trong ngoài cơ trí đảo điên khó lường

Cô Thần Quả Tú mệnh cung

Tính người cô độc, không cùng giao du

Phủ phùng Thất Sát rất khôn

Việc làm táo bạo những toan hơn người.

(Trích Tử Vi thực hành của Dịch Lý Huyền Cơ).

Tử Vi đẩu số toàn thư viết :

Cách Cục

/ Ở con người Mệnh có cách cục, trước hết phải biết rõ cách cục rồi xem ác tính để biết phú quí, bần tiện, thọ yểu, để biết vận hạn, họa phúc/.

PHÚ CÁCH

- Tài ấm hiệp ấn (Thiên Tướng thủ Mệnh, Vũ Khúc Thiên Lương hội hiệp, ở điền trạch cung cũng vậy).

- Am ấn củng thân (lời giảng không rõ)

- Nhật Nguyệt hiệp tài (Vũ Khúc thủ Mệnh, Nhật Nguyệt giáp mệnh).

- Tài Lộc hiệp mã (Thiên Mã thủ Mệnh, giáp Vũ Khúc, Hóa Lộc nếu thủ mệnh ở đất  tràng sinh hay đế vượng càng hay).

- Nhật Nguyệt chiếu bích (Nhật Nguyệt ở điền trạch cung, tại Thìn tuất Sửu Mùi mới thật tốt).

- Kim sán quang huy (Thái Dương đơn thủ mệnh cung ở Ngọ).

QUÍ CÁCH

Nhật Nguyệt hiệp mệnh (Mệnh giáp Nguyệt, giáp Nhật bản mệnh phải có sao tốt và phòng bị Không Vong).

- Nhật xuất phù tang (Thái Dương tại cung Mão thủ mệnh hoặc quan lộc cung)

- Nguyệt lạc Hợi cung (Thái Âm cư Hợi thủ mệnh, còn gọi là nguyệt lãng thiên môn  cách)

- Nguyệt sinh sương hải (Thái Âm m ở cung Tí, thủ điền trạch)

- Phụ bật củng chủ (Tử Vi thủ mệnh được Tả Phụ Hữu Bật chiếu, xung)

- Quân thần khánh hội (Tử Vi, Tả Hữu cùng ở cung mệnh, lại gặp Vũ Khúc, Thiên Tướng  chiếu)

- Tài ấn hiệp lộc (Lộc thủ Mệnh Thiên Lương Thiên Tướng hội hiệp)

- Tọa quí hướng quí

- (Khôi Việt chiếu mệnh, hoặc Khôi ở mệnh Việt hướng vào và  ngược lại)

- Thất Sát triều đẩu (Thất Sát thủ mệnh ở Dần Thân Tí Ngọ)

- Nhật Nguyệt tinh minh (Thái Âm , Thái Dương đều đứng ở miếu vượng địa chiếu sáng).

- Mã đầu đới nhẫn (Nhẫn là sao Kình Dương gặp Thiên Mã, nhưng phải ở tứ mộ địa mới  hay, ở Ngọ cung xấu).

- Hình tù hiệp ấn (Thiên Tướng thủ Mệnh Thân, có Thiên Hình Liêm Trinh hội hiệp quí về võ cách).

- Khoa, Quyền lộc củng (Chiếu thủ có cả ba Khoa, Quyền, Lộc)

- Tham Hỏa tương phùng (Tham Lang cư miếu địa, thủ Mệnh tại cung Mão)

- Kình Dương nhập miếu (Đơn thủ Mệnh cung ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)-        Kim du phò giá (Tử Vi thủ Mệnh, có Nhật Nguyệt giáp mệnh ? Lời giảng sai vì làm sao có thể gặp Thái Dương hoặc giáp Thái Dương ?)

BẦN TIỆN CÁCH

- Sinh bất phùng thời(Mệnh tọa Không Vong lại gặp sao Liêm Trinh)

- Nhật Nguyệt tàng huy(Thái Âm , Thái Dương hãm địa gặp Cự Môn)

- Quân tử tại dã (Mệnh có Tứ Sát, chính diệu lại ở hãm địa ví như người quân tử  lang thang).

- Lộc phùng lưỡng sát (Lộc tọa Không Vong, Tuần Triệt gặp thêm Không Kiếp)

- Mã lạc Không Vong (Thiên Mã ngộ Triệt Tuần, dù có Lộc Tồn, Hóa Lộc xung chiếu  cũng vô ích)

- Tài dữ tù cừu (Vũ Khúc, Liêm Trinh cũng ở thân hay mệnh)

- Nhất sinh cô bần (Phá Quân thủ mệnh hãm địa)

- Lưỡng trùng Hoa Cái (Lộc Tồn, Hóa Lộc gặp Không Kiếp).

Những cách cục đặt ra trên đây thu gọn cho việc phê số. Còn cần phải đi vào chi tiết về hãm địa, đắc địa hợp cách phá cách của các sao thì sự định  cách cục mới hòan tất được. Tử Vi đẩu số toàn thư có viết 1 đoạn văn cho vấn đề này là :

a.   Hợp cách của các sao tại 12 cung

b.   Phá cách của các sao tại 12 cung

c.   Các sao đắc địa tại 12 cung hưởng phú quí

d.   Luận về số nghèo hèn do các sao hãm địa tại 12 cung.

Lần lượt xin chép và dịch từng đoạn một. Thập nhị cung chư tinh đắc địa hợp cách quyết

Mệnh tại Tí cung

Tí cung Tham Lang Sát Am tinh

Cơ Lương tương củng phúc phi khinh

Canh Tân At Quí sinh nhân mỹ

Nhất sinh phú quí túc phong vinh.

Nghĩa là :

Khi mệnh đóng cung Tí có Tham Lang, Thất Sát, Thái Âm thủ mệnh Cơ Lương củng chiếu, rất tốt đối với người tuổi Canh Tân At Quí, suốt đời phú quí hạnh phúc.

Mệnh tại Sửu cung

Sửu cung lập mệnh Nhật Nguyệt triều

Bính Tuất sinh nhân phúc lộc nghiêu

Chính tọa bình thường trung cục luận

Đối chiếu phú quí họa giai tiêu

Nghĩa là :

Khi mệnh đóng cung Sửu, có Nhật Nguyệt chiếu thì người tuổi Bính Tuất cực hay, nhưng nếu Nhật Nguyệt ở ngay cung Sửu chỉ là trung cách vì tính chất của Thái Âm , Thái Dương là chiếu chứ chính tọa lại kém đi.

Mệnh tại Dần cung

Dần cung Cự Nhật túc phong Long

Thất Sát Thiên Lương bách sự thông

Thân Tị Canh nhân giai vi cát

Nam tử vi quan nữ thụ phong.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng ở Dần, có Cự Môn, Thái Dương thủ hay Thất Sát, Thiên Lương việc gì cũng thông lọt trôi chảy hợp với người tuổi Thân, Tị và Canh.

Con trai làm lớn, con gái được phong tặng.

Mệnh tại Mão cung

Mão cung Cơ Cự, Vũ Khúc phùng

Tân At sinh nhân phúc khi Long

Nam tử đương vi mi lẫm lộc

Nữ nhân hưởng phúc thụ bao phong.

Nghĩa là :

Khi  Mệnh  đóng  ở  cung  Mão  có  Cự  Cơ  hoặc  Vũ Khúc thủ rất hợp cho người tuổi Tân, At đàn ông nhiều phúc lộc, đàn bà giàu sang.

Mệnh tại Thìn cung

Thìn vì Cơ Lương tọa Mệnh cung

Thiên Phủ Tuất địa tối doanh phong

Yêu kim y tử chân vinh hiển

Phú hoa, quí huy trực đáo chung.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng ở cung Thìn, có Cơ Lương tọa thủ (câu thứ hai tối

nghĩa không giải được) sẽ được thắt đai vàng mặc áo gấm đỏ hiển

vinh phú quí lâu bền.

Mệnh tại Tị cung

Tị vị Thiên Cơ, Thiên Tướng làm

Tử Phủ triều viên phúc cánh thâm

Mậu Tân Nhâm Bính giai vi quí

Nhất sinh thuận tọai thiểu tai xâm.

Nghĩa là :

Khi  Mệnh  đóng  ở  cung  Tị,  có  Thiên  Cơ  Thiên  Tướng  thủ,  hoặc  Tử  Vi  đóng  đấy, Thiên Phủ ở Hợi chiếu lên, rất hợp cho người tuổi Mậu Tân, Nhâm Bính, tốt phúc dễ toại ý và ít tai họa.

Mệnh tại Ngọ cung

Ngọ cung Tử Vi Thái Dương đồng

Thiên Cơ, Phá Sát Hỉ tương phùng

Giáp Đinh Kỷ Quí nhân sinh phúc

Nhất thế phong quang bổng lộc phong.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Ngọ, có Tử Vi, hoặc Thái Dương hay Thất Sát hoặc Phá Quân tọa thủ mà lại là người tuổi Giáp Đinh Kỷ Quí tất làm lớn, phong quang bổng lộc.

Mệnh tại Mùi cung

Mùi cung Tử Vũ Liêm Trinh đồng

Nhật Nguyệt Cự Môn Hỉ tương phùng

Nữ nhân tri thử vi phúc thọ

Nam tử phùng chi vị tam công.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Mùi có Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh tọa thủ hay Nhật Nguyệt Cự Môn khá hay, số đàn bà phúc thọ, số đàn ông vi đến tam công. (Bài quyết này có chỗ bất ổn là Cự Môn ở Mùi là hãm địa sao lại hay và Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi công danh thường lận đận mới phải).

Mệnh tại Thân cung

Thân cung Tử đế Trinh Lương đồng

Vũ Khúc, Cự Môn hỉ tương phùng

Giáp Canh Quí nhân như đắc hỉ

Nhất sinh phú quí sính anh hùng.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng Thân cung có Tử Vi, Liêm Trinh, Thiên Lương, Vũ Khúc, Cự Môn tọa thủ rất hợp với người tuổi Giáp Canh Quí, được phú quí thỏa chí anh hùng.

Mệnh tại Dậu cung

Dậu cung tối hỉ Thái Âm phùng

Cự Nhật hựu phùng đương diện xung

Tân At sinh nhân vi quí cách

Nhất sinh phúc lộc vĩnh hanh thông.

Nghĩa là :

Khi  Mệnh  đóng  cung  Dậu  có  Thái Âm  tọa  thủ  cực  tốt,  cũng  Mệnh  ở  Mão,  Thái Dương Cự Môn được Thái Âm ở Tí chiếu lên là quí cách cho người tuổi At Tân.

Mệnh tại Tuất cung

Tuất cung Tử Vi đối xung

Thìn Phú nhi bất quí hữu hư danh

Cánh gia cát diệu đa quyền lộc

Chỉ lợi khai trương mậu dịch nhân.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Tuất, Thiên Phủ tọa thủ thì chỉ có hư danh thôi rất giàu mà không sang, nếu được các sao tốt chỉ lợi cho người buôn bán thương nhân.

Mệnh tại Hợi cung

Hợi cung tối hỉ Thái Âm phùng

Nhược nhân tri thử phúc lộc Long

Nam nữ phùng chi giai xứng ý

Phú quí vinh hoa trực đáo chung.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Hợi có Thái Âm tọa thủ tuyệt hảo, đàn ông đàn bà phú quí vinh hoa.

Đoạn văn trên gây nhiều thắc mắc ở điểm   những người tuổi này tuổi ấy hợp cách

với sao nào thủ mệnh ở cung nào. Vậy sự hợp cách căn cứ vào đâu ? Không thấy lời giảng giải thỏa đáng. Tỉ dụ Mão Dậu Cự Cơ chỉ  hợp với người tuổi Tân Ât ? tại sao ?

Tiếp sau là một bài ca tựa đề là : / Thập nhị cung đắc địa phú  quí luận /. Bài này chẳng thêm gì mới cốt nhắc lại những gì đã nói ở trên với dụng ý thu gọn cho dễ nhớ. Nội dung như sau :

Tí cung đắc địa Thái Âm tinh

Sát, Phá, Liêm, Tham, Văn Khúc minh

Sửu, Mùi, Tử Phá triều Nhật Nguyệt

Mùi Trinh Lương Sửu phúc phi khinh

Dần cung tối hỉ phùng Dương Cự

Thất Sát, Thiên Đồng, Lương, Văn thanh

Mão thượng Cự Cơ vi quí cách

Vũ Khúc thư Mão phúc phong doanh

Thìn Tuất Cơ Lương phi tiểu bổ

Tuất cung Thiên Phủ lũy thiên kim Tị

Hợi Thiên Cơ Thiên Tướng quí

Ngọ cung Tử Phủ Lương câu vinh

Thân cung Trinh Cự Am Sát mỹ

Dậu Tuất Hợi thượng Thái Âm đình

Mão Thìn Tị Ngọ Dương chính chiếu

Tử Phủ Cự Tú Tị Hợi hưng

Hợi cung Thiên Phủ Thiên Lương cát

Tí cung Cơ tú diệc trung bình

Thất Sát Tí Ngọ phùng Tả Hữu

Văn Khúc gia chi cách tối thanh

Liêm tọa Thân cung phùng

Cánh kiêm hóa cát phúc vưu hưng

Vũ Khúc Tị Hợi phùng lục giáp suy biên đình Tham Lang cư Mão Dậu ngộ Hỏa tác công khanh Thiên Cơ tọa Mão quí Dần Nguyệt lục Đinh vinh Cự Mão phùng Tả Hữu Lục At lập biên  đình Cự tọa Dần Thân vị Tối hỉ Giáp Canh sinh Nhị cung phùng Thất Sát Tả Hữu hội XưÔng tinh Thìn Tuất ngộ tam tú Tất chủ tác công khanh.

Thập nhị cung chư tinh thất hãm phá cách quyết

An mệnh tại Tí Sửu

Tí Ngọ Thiên Cơ, Sửu Cự Linh

Thử tinh lạc hãm quả vi chân

Túng nhiên hóa cát cánh vi mỹ

Nhiệm tha phú quí bất thanh ninh.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng Tị cung có sao Thiên Cơ tọa thủ hoặc khi Mệnh đóng Sửu cung có sao Cự Môn, Linh Tinh tọa thủ. Đó là phá cách vì chính diệu lạc hãm dù cho có được cát diệu mà phú quí thì cũng chẳng bền.

An mệnh tại Dần

Dần thương Cơ Xương Khúc Nguyệt phùng

Tuy nhiên cát củng bất phong Long

Nam vi bạn bộc nữ sương tì

Nhược phi yểu chiết tất bần cùng.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng tại cung Dần mà có Thiên Cơ, Xương Khúc, Thái Âm tọa thủ, mặc dầu có tam phương cát tinh củng chiếu vẫn không ra gì. Nam phận tôi tớ, nữ số giang hồ nếu không chết sớm thì cũng nghèo hèn.

An mệnh tại Mão thìn

Mão thượng Thái Âm Kình Dương phùng

Thìn cung Cự tú Tử Vi đồng

Túng nhiên hóa cát phi toàn mỹ

Nhược phi gia sát đáo đầu hung.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Mão gặp chính diệu Thái Âm Mệnh đóng cung Thìn gặp chính diệu Tử Vi hay Cự Môn là cách bất toàn mỹ, không có sát tinh thì rút cuộc vẫn hung.

An mệnh tại Tị

Tị cung Vũ Nguyệt Thiên Lương Cự

Tham tú Liêm Trinh cộng đáo sà

Tam phương cát diệu giai bất qúi

Hạ tiện bần cùng độ tuế hoa

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Tị có Vũ Khúc, Thái Âm , Thiên Lương, Cự Môn, Tham Lang, Liêm Trinh tọa thủ thì có gặp cát diệu chiếu cũng vẫn là vô ích, cuộc đời hạ tiện bần cùng.

An mệnh tại Ngọ

Ngọ cung Tham Cự Nguyệt Xương tòng

Dương Nhẫn tam hợp tối hiềm xung

Tuy nhiên hóa cát cư sĩ lộ

Hoạnh phá hoạnh thành đáo lão cùng.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Ngọ, có Tham Lang, Cự Môn cùng Thái Âm , Văn Xương và

thêm Kình Dương xung chiếu. Nếu hóa cát mà bước được vào đường sĩ hoạn tất hoạnh thành hoạnh phá khó lâu bền.

An mệnh tại Mùi

Mùi cung Cự Tú Thái Dương Hiềm

 Túng thiếu tai nguy hữu khắc thương

Lao bác bôn ba quan sự chi

Tùy duyên hạ tiện độ thời quang.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Mùi có Cự Môn, Thái Dương tọa thủ rất xấu, nếu không gặp

tai nguy thì cũng khắc thương, vất vả bôn ba chìm nổi suốt một đời, luôn luôn rắc rối với quan tụng.

An mệnh tại Thân Dậu

Thân cung Cơ Cự vi phá cách

Nam nhân lãng đãng nữ nhân bần

Nhị cung nhược nhiên Đào Hoa kiến

Nam nữ phùng chi tổng bất vinh.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Thân có Cự Cơ tọa thủ là phá cách, trai phiêu bạt gái bần

cùng, nếu gặp Đào Hoa càng xấu.

An mệnh tại Tuất

Tuất thương Tử Phá nhược tương phùng

Thiên Đồng Thái Dương giai chủ hung

Nhược hoàn cô hàn cánh yểu chiết

Tuy duyên cần khổ miễn bần cùng.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng cung Tuất có Tử Vi, Phá Quân, Thiên Đồng, Thái Dương tọa thủ đều chủ hung, nếu không có hàn yểu chiết thì cũng tàn khổ bần cùng.

An mệnh tại Hợi

Hợi cung Tham, Hỏa, Thiên Lương đồng

Phiêu đãng lãng tử tẩu tây đông

Nhược hoàn phú quí dã niên súc

Bất nhiên lệ bộc dữ bần cùng.

Nghĩa là :

Khi Mệnh đóng Hợi cung, có Tham Lang, Hỏa Tinh, Thiên Lương tọa thủ tất phiêu lãng giang hồ, nếu được phú quí thì chết yểu, chỉ sống lâu với cảnh bần cùng.

Đoạn văn trên cho thấy sự quan trọng của cung Mệnh, nếu chính diệu của Mệnh cung đã thất hãm là cuộc đời khó toàn mỹ.

Tiếp sau là bài ca tựa đề là : /Thập nhị cung chư tinh thất hãm bần tiện luận/. Cũng như trên, bài này cốt chỉ nhắc lại những  gì đã nói với dụng ý thu gọn lại cho dễ nhớ. Nội dung như sau :

Sửu Mùi Cự Cơ vi phá cách

Dần Thân bất hỉ phùng Dương Nhẫn

Thìn Tuất Tử Phá triều la võng

Tị Hợi Tham Trinh vi lạc hãm

Ngọ cung Thái Âm bất kham xưng

Thân cung Phá, Vũ vi hạ cách

Dậu phùng Cự Môn Nhật vô tinh Mão

Thìn Tị Ngọ phùng Am tú

Tuất Hợi phùng Dương diệc bất vinh

Tham Liêm Tị Hợi cư hãm địa

Phá Quân Mão Dậu bất vi thanh Gia Sát

ngộ Kiếp vi gian đạo

Thử thị Hình Tà bất tất luận

Tham Lang, Hỏa Lộc cư tứ mộ

Tuy nhiên ngộ cát diệc trung bình

Mệnh triền nhược địa lưu phùng Kị

Không Kiếp Kình Dương gia Hỏa Linh

Nhược phi yểu chiết chủ hạ tiện

Lục súc chi mệnh bất khả bình

Vượng địa phát phúc chung viễn đại

Hãm địa chênh vênh đáo để khuynh.

Thập đẳng luận

Tử Vi đẩu số toàn thư trong vấn đề định cách cục có một đoạn văn đặt tên là Thập

Đẳng Luận tạm dịch là mười loại người theo thứ tự qua quan niệm nhân sinh của Đông phương xưa.

a.Phúc thọ

b.Thông minh

c.Uy dũng

d.Văn quan

e.Vũ chức

f.Hình danh

g.Phú quí

h.Bần tiện

i.Tật yểu

j.Tăng đạo

Tại sao tăng đạo lại đưa xuống hàng chót ? trong khi thực tế ngoài đời tăng đạo vẫn được dân chúng kính trọng. Theo Nho đạo, triết lý nhân sinh đẹp nhất bao giờ cũng là vào đời tranh đấu. Xuất gia tu hành trốn việc quan đi ở chùa vốn là điều nho gia cực bài bác. Các khoa học về tướng số đều cực thịnh vào đời Đường Tống tức là thời kỳ mà Nho đạo đã chiến thắng Phật đạo sau một thời gian xung đột để dành quyền chính lưu tư tưởng khá dài. Nhà Nho còn cho đường tăng đạo là con đường cuối cùng khi số mệnh đã hết cứu vãn phải đi tu để diệt nghiệt chướng. Ngược lại, hai chữ Phúc Thọ được xếp lên hàng đầu. Giàu sang cũng không bằng Phúc Thọ. Oanh liệt, lẫy lừng cũng không bằng Phúc Thọ. Phúc Thọ là gì ? là sự bình an, khang kiện, gia đạo yên vui, con cháu nên người, vợ chồng hòa thuận, dâu hiền tử hiếu. Tử Vi đẩu số tòan thư viết :

- Như nam nhân (?) có Thiên Đồng, Thiên Lương tọa mệnh miếu vượng chủ Phúc Thọ. Như bắc nhân (?) có Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang tọa mệnh vượng cung chủ Phúc Thọ.

- Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tướng, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Phá Quân,

Tam Thai, Bát Tọa, Tả Hữu củng chiếu là loại người của thông minh.

- Có Vũ Khúc, Văn Xương, Kình Dương, Thất Sát tọa Mệnh cung được Quyền lộc, Thiên Phủ củng chiếu là người uy dũng.

- Có Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt tọa Mệnh vượng cung, tam phương Khoa Quyền Lộc củng chiếu là quan văn.

- Có Vũ Khúc, Thất Sát tọa Mệnh miếu vượng tam phương được Quyền Lộc, Khôi Việt củng chiếu là vũ chức.

- Có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Vũ Khúc, Phá Quân cùng sự tấu hợp của

một số sát tinh khác đắc địa chủ về hình danh (tòa án cảnh sát).

- Có  Tử  Vi,  Thiên  Phủ,  Thiên  Tướng,  Khoa,  Quyền,  Lộc,  Thái Âm,  Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt củng chiếu là phú quí.

- Có Kình Dương, Đà La, Liêm Trinh, Thất Sát, Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên

Không, Địa Kiếp, Hóa Kị hãm địa chiếu xung là bần tiện.

- Có Tham Lang, Liêm Trinh, Dương Đà, Không Kiếp, Hỏa Linh, Hóa Kị chủ bệnh tật, yểu chiết. Những sao trên ở cung Tật Ach cũng vậy.

- Có  Thiên  Cơ,  Thiên  Lương,  Thất  Sát,  Không  Kiếp  xâm  phạm  Tử  Vi  hoặc hao sát chủ tăng đạo.

Về số tăng đạo có những câu ca đoán sau đây :

Cực cư Mão Dậu ngộ Kiếp Không

Thập nhân chi mệnh cửu nhân tăng

Mệnh tọa Không hương định xuất gia

Thiên Cơ, Thất Sát, Phá Lương đồng

Vũ khách tăng lưu mệnh sở phùng

Cánh nhược Thái Dương kiêm Đế tòa

Linh đinh cô khắc mệnh phương chung.

Nghĩa là :

Tử vi ở cung Mão Dậu gặp Kiếp Không mười người thì chín là tăng nhân. Mệnh có Thiên Không xuất gia mới đỡ khổ. Thiên Cơ gặp Thất Sát, Phá Quân cũng là số tăng đạo. Nếu lại có Tử Vi, Thái Dương hãm địa nữa tất là có khắc lênh đênh.Ngòai ra, Tử Vi đẩu số toàn thư còn ghi thêm loại thương nhân (người buôn bán)bằng mấy câu ca đoán dưới đây :

Tham Nguyệt đồng Sát hội Cơ Lương

Nhân tài kế lợi tác kinh thương

Kinh thương Tử Phủ ngộ Kình Dương

Vũ Khúc, Thiên Di lợi thị trường.

Nghĩa là :

Tham Lang, Thái Âm cùng Sát gặp Cơ Lương, giỏi tính tóan lợi lộc về đường kinh thương. Hay sao Tử Vi, Thiên Phủ hội Kình Dương hoặc Vũ Khúc đóng cung Thiên Di là tay cự phách trên thị trường.

Mệnh vô chính diệu

Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy lời giải đoán riêng cho cách mệnh vô chính diệu qua các câu phú rải rác thì đại lược mệnh vô chính diệu đều là xấu. Tuy nhiên, trong trường hợp mệnh vô chính diệu mà có một trong tứ sát như Kình, Đà, Kiếp Không đắc địa tọa thủ lại khác hẳn số sẽ trở thành oanh liệt phát nhanh nhưng chẳng có lâu bền. Các sách Tử Vi Việt rất lưu tâm đến cách mệnh vô chính diệu, cũng cho rằng phầnlớn mệnh vô chính diệu là xấu. Chỉ duy trường hợp mệnh vô chính diệu mà được Tam Không thành ra số cực phú quí. Đắc Tam Không thượng cách là một Không thủ mệnh và hai Không củng chiếu. Còn như cả ba không nhập cả vào cung mệnh mà xung phá thì nguy hiểm phi yểu tắc bần. Số đàn bà mệnh vô chính diệu  dễ đi vào phận lẽ mọn, gian tâm. Nếu được Nhật Nguyệt  chiếu  thì  thông  minh  đa  tài  đa  nghệ  nhưng  sự  nghiệp,  cơ  nghiệp  vẫn  không  chắc chắn.

Đẩu số cốt tủy phụ chú giải

Muốn đoán Tử Vi cần phải thuộc lòng các câu phú. Phú là những định lý làm sẳn về vị trí của các sao hãm hay đắc địa ở đâu và sự kết hợp từng bộ sao vào với nhau. Nếu từng sao tách rời thì sao sẽ chẳng mang một ý nghĩa nào hết. Sao phải đi cặp hay đi chùm mới thành cách chánh được.

Tử Vi đẩu số toàn thư thiên /Đẩu số cốt tủy phú/ có những câu phú gọi là phú

Trần Đoàn, ngòai ra còn có phú Ma Thị, phú Hùynh Kim, tuy nhiên hai loại phú đó không biết xuất xứ. Phần phú nôm của tiền nhân ta phần lớn dịch từ phú Trần Đoàn, Ma Thị và Hùynh Kim một số ít do kinh nghiệm riêng mà phú Trần Đoàn, Ma Thị, Hùynh Kim không thấy có. Xin hợp lại mà ghi chép dưới đây :

1.       Luận mệnh tất suy thiện ác Cự Phá, Kình Dương tính tất cương Phủ, Tướng, Đồng Lương tinh tất  hiếu Sát Kiếp Không Tham tính bất thường. (Xét mệnh phải suy thiện ác, mệnh Cự, Phá, Kình Dương tính tình ngang ngược, Phủ, Tướng, Đồng Lương tính tình hiếu thuận, Thất Sát, Kiếp Không, Tham Lang tính tình bất thường).

2.       Mệnh hảo thân hảo, hạn hảo đáo lão vinh xương.(Nếu thân mệnh đóng ở Tràng sinh Đế vương lại có cát tinh, đồng thời đại tiểu hạn tòan sao tốt thì suốt đời làm việc gì cũng thuận buồm xuôi gío).

3.       Mệnh suy, thân suy, hạn suy, chung thân khất cái.(Giả như Thân Mệnh cư Tuyệt địa, bản cung lại nhiều sao xấu Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp hãm địa, vận hạn thì cũng chẳng tốt gì. Đó là số ăn mày).

4.       Hiệp Không, hiệp Kiếp chủ bần tiện, hiệp Dương hiệp Đà vi khất cái.(Mệnh có Hóa Kị lại giáp Liêm Trinh, Dương Đà, Hỏa Linh là hạ cách).

5.       Liêm Trinh, Thất Sát phản vi tích phú chi nhân.(Liêm Trinh thuộc hỏa, Thất Sát thuộc kim là hỏa năng chế kim vi quyền. Nếu Liêm Trinh ở Mùi, Thất Sát ở Ngọ đóng thân mệnh là kỳ cách, số giàu. Nhưng nếu hãm địa gặp Hóa Kị lại thành hạ cách tiện mệnh. Nên nhớ ở chương trên có câu : /Thất Sát, Liêm Trinh đồng độ,lộ thượng mai thi / để phân biệt kẻo dễ lầm).

6.       Thiên Lương Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách.(Thái Âm ở Mão, Thìn, Tị, Ngọ gặp Thiên Lương ở Hợi, hay Tị tọa thân mệnh là cô hàn phiêu lãng, đam luyến tửu sắc ở tha hương)

7.       Liêm Trinh chủ hạ tiện chi cô hàn

Thái Âm chủ nhất thân chi khoái lạc.

(Thân mệnh Tị Hợi mà gặp sao Liêm Trinh là hãm địa, nếu không có cát tinh khác trừ giảm cuộc đời nghèo khốn. Thân mệnh từ Dậu đến Hợi có Thái Âm thủ mệnh một đời nhàn nhã).

8.       Mệnh phùng Thiên Cơ miếu vượng đa năng.

Thân cư Thái Tuế dữ nhân quả hợp

(Mệnh có sao Thiên Cơ tọa thủ đắc địa là người đa tài đa năng. Thân có sao Thái Tuế khó hòa hợp với ai).

9.       Tử Phủ bất khả cư hãm địa

Nhật Nguyệt bất khả chiếu nhàn cung.

(Hai sao Tử Vi, Thiên Phủ tuy là cát tinh nhưng nếu ở hãm địa còn nguy hại gấp bội. Thái Âm , Thái Dương không thể đứng sai chỗ (phản bối) mà chiếu).

10.     Xuất thế vinh hoa Quyền Lộc thủ tài quan chi vi.

(Quyền Lộc đóng cung tài bạch hay quan lộc nhập miếu chủ vinh hoa

hoặc đóng thân mệnh cũng thế).

11.     Sinh lai bần tiện, Kiếp Không lâm tài phúc chi hương.

(Hai sao Thiên Không, Địa Kiếp đóng vào tài bạch và phúc đức cung

chủ bần tiện, đóng cung thân mệnh cũng vậy).

12.     Địa kiếp độc thủ, thị kỷ phi nhân

Tham Lang độc cư, đa hư thiếu thực.

(Sao Địa Kiếp đơn thủ ở mệnh cái gì cũng cho mình phải chê người trái. Tham Lang độc thủ mệnh cung, ưa khoác lác mười voi không được bát nước sáo).

13.     Tiên bần hậu  phú Vũ Tham đồng thân mệnh chi cung.

(Giả như lập mệnh sửu mùi, hai sao này đồng cung Vũ Khúc kim khắc Tham Lang mộc, mộc gặp chế hóa thành ra hữu dụng, cho nên trước nghèo sau mới phú quí, nếu lại thêm tam  phương có Tả Hữu Khoa Quyền Lộc củng chiếu còn quyền quí nữa).

14.     Tiên phú hậu bần chỉ vị vận phùng Kiếp Sát.

(Hạn đến Tuyệt địa, gặp Kiếp Không, Hao Sát thân mệnh dù có cát tinh cũng vô lực cho nên trước giàu sau nghèo).

15.     Lộc Mã Thiên Di sinh tài hữu lực.

(Lộc Tồn, Thiên Mã ở Thiên Di cung dễ kiếm tiền).

16.     Cự Cơ điền trạch phú hữu lâu đài.

(Cự Môn, Thiên Cơ đắc địa đóng điền trạch giàu có nhà cao cửa rộng).

17.     Văn Khúc, Vũ Khúc vi nhân đa học đa năng

Tả Phụ Hữu Bật bình tính khắc khoan khắc hậu.

(Mệnh an ở Thìn Tuất, Tị Hợi, Mão Dậu có Văn Khúc, Vũ Khúc là người đa học đa năng. Mệnh có Tả Hữu bao giờ tính tình cũng khoan hậu).

18.     Miêu nhi bất tú, khoa danh hãm ư hung thần.

(Hóa Khoa bị hãm vào tay Không Kiếp, Dương Đà hoặc Thái Dương tại Tuất, Thái Âm tại Mão dù có gặp Hóa Khoa thì cũng chẳng khác gì cây non không lớn và xanh tươi được nữa).

19.     Thất Sát triều đẩu, tước lộc vinh xương.

(An mệnh ở Dần Thân Tí Ngọ có Thất Sát tọa thủ gọi là Thất Sát triều đẩu cách nhưng phải cần Khôi Việt, Xương Khúc tọa chiếu mới hoàn toàn đẹp).

20.     Tử Vi cư Ngọ vô sát tấu vị chí công khanh.

(Người tuổi Giáp – Đinh – Kỷ an mệnh Ngọ cung rất là hợp cách Tử Vi cư Ngọ).

21.     Tham Lang nãi lãng đãng chi tính, ngộ Khoa Quyền nhi học nghiệp tinh thông.

(Tham Lang vốn lười lĩnh, gặp Khoa Quyền thì việc học lại tinh thông).

22.     Thái Tuế phùng Thất Sát trí dũng hữu dư

Thiên Mã ngộ Tam Thai anh hùng vô đối.

(Sao Thái Tuế gặp Thất Sát người thừa trí dũng. Thiên Mã gặp Tam Thai anh hùng vô địch).

23.     Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, yêu kim y tử.

(Thiên Phủ vào cung Tuất, có cát tinh phù trợ, chức vị lớn).

24.     Vũ Khúc miếu viên uy danh hách hách.

(Mệnh an tại Thìn Tuất (tốt nhất) hay Sửu Mùi (kém tốt) mà có Vũ Khúc tỏa thủ thì uy danh lẫy lừng nhưng chớ quên rằng cần phải gặp cả Quyền Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc nữa mới là tuyệt đỉnh)..

25.     Thiên Hình Dần Thân Mão Dậu anh hùng.

(Sao Thiên Hình ở Dần Thân Dậu là số anh hùng).

26.     Khoa minh Lộc ám vị chí tam đài.

(Tuổi giáp an mệnh ở Hợi có Hóa Khoa và Lộc Tồn cư  Dần cung. Hợi và Dần hợp lại cho nên gọi là Khoa sáng mà Lộc âm trợ, danh phận hơn người).

27.     Thiên Mã yêu thủ điền tài

Thiên Tướng hi cư thê vị.

(Sao Thiên Tướng nên ở cung Thê. Sao Thiên Mã cần đóng cung Điền Trạch và Tài Bạch).

28.     Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ.

(An mệnh tại Dần Thân Tị Hợi có Lộc Tồn, Thiên Mã tọa thủ là số dễ đỗ đạt nếu gặp nhiều sát tinh thì không kể).

29.     Tham Linh tịnh thủ tướng tướng chi danh.

(An mệnh tại tứ mộ có Tham Lang, Linh Tinh đóng lẫy lừng văn võ).

30.     Tham Lang, Hỏa Tinh cư miếu vượng danh chấn chư bang.

(Đã có lời giải ở chương trên).

31.     Khoa Quyền Lộc đối củng, dược tam cấp ư vũ môn.

(Khoa, Quyền đóng Thiên Di, Tài Bạch, Quan Lộc, tam phương củng chiếu, mệnh lại có Hóa Khoa, công danh dễ dàng sớm hiển đạt).

32.     Thất Sát cư quan đắc địa uy áp vạn nhân.

(Sao Thất Sát tại cung Quan Lộc miếu vượng địa oai phong khiến vạn người nể sợ).

33.     Lương Vũ củng chiếu ư  Sửu vị, kim bạch mãn tương sương.

(Thiên Lương Vũ Khúc chiếu vào Sửu cung an mệnh, vàng ngọc đầy kho).

34.     Tam hợp minh châu sinh vượng địa, ẩn bộ Thiềm cung.

(An mệnh ở Mùi, Nhật tại Mão Nguyệt tại Hợi chiếu gọi là cách minh châu hải, tiền bạc danh phận đều hay. Nếu như Nhật thủ mệnh Thìn cung, cung Tuất  Nguyệt chiếu thì quí nhiều hơn phú).

35.     Thất Sát, Phá Quân nghi xuất ngoại.

(Hai sao Thất Sát, Phá Quân ở hãm địa, nên tha phương cầu thực vì thường thường là người sảo nghệ).

36.     Dương nhẫn Hỏa Tinh uy quyền xuất chúng.

(Mệnh có Kình Dương, Hỏa Tinh đắc địa uy quyền hơn người).

37.     Thiên Lương, Thiên  Mã hãm, phiêu đãng vô nghi.

(An mệnh ở Tị, Hợi, Thân sao Thiên Lương đóng đó là hãm địa gặp Thiên Mã gặp thêm Không Kiếp, Hỏa Linh tất thành phiêu bạt ).

38.     Dần, Thân hội Đồng, Lương, Cơ, Nguyệt định tác lại nhân.

(Bốn sao Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội tụ vào hai cung Dần, Thân thường làm đề lại, công chức).

39.     Nhật chiếu lôi môn phú quí vinh hoa.

(Thái Dương ở Mão cung, tam phương có Xương Khúc, Khôi Việt quí hiển. Rất hợp cách với người tuổi Canh, Tân, Ất).

40.     Nguyệt lãng thiên môn tấn tước phong hầu.

(Hợi cung an Mệnh, Thái Âm tọa thủ, tam phương các tinh củng chiếu, đại phú quí. Tuổi Bính, Đinh quí. Tuổi Nhâm Quí phú).

41.     Phá Liêm ngộ Hỏa tử nghiệp vô nghi

Tham Kị trùng Diêu thủy tai nan miễn.

(Phá Quân, Liêm Trinh gặp Hỏa tinh thường chết vì tai nạn nghề nghiệp, Tham Lang, Hóa Kị gặp Thiên Diêu đề phòng song nước).

42.     Dần phùng Phủ Tướng vị đăng nhất phẩm chi vinh.

(Thiên Phủ, Thiên Tướng tại Dần cung thủ mệnh chức vị cao đến nhất phẩm).

43.     Mộ phùng Tả Hữu tôn cư bát tòa chi quí.

(Mệnh an tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Tả Phụ Hữu Bật, chức vị khá cao).

44.     Thìn, Tuất ưng hiềm hãm Cự Môn.

(An mệnh Thìn, Tuất sao Cự Môn tọa thủ là thất hãm, người làm việc điên đảo bất lương).

45.     Lộc đảo, mã đảo kị Thái Tuế chỉ hợp Kiếp Không.

(Lộc, Mã vào đất bại tuyệt Không Vong lại gặp luôn lưu  niên Thái Tuế và Kiếp Không sẽ có nhiều tai ách)

46.     Nhật Nguyệt giáp mệnh phi phú tắc quí

Không Kiếp giáp mệnh phi yểu tắc bần.

(Mệnh giáp Nhật Nguyệt không giàu thì sang. Không Kiếp giáp mệnh không chết non thì nghèo khổ).

47.     Vận suy, hạn suy hỉ Tử Vi chi giải hung.

(Đại tiểu hạn không có cát tinh mà thân mệnh có Tử Vi thủ chiếu sẽ đỡ cực khổ).

48.     Cô bần đa hữu thọ, phú quí tức yếu vong.

(Chủ tinh ở mệnh yếu, các sao khác ở các cung tài bạch, quan lộc cũng bạc nhược mà lại phát đại tài tất bị giảm thọ. Phú quí trong trường hợp này chỉ là chuyện ảo giác phù hoa).

49.     Văn Xương, Văn Khúc hội Liêm chỉ táng mệnh yểu niên.

(Tị Hợi cung an mệnh Liêm Trinh tọa thủ gặp Xương Khúc dễ chết non).

50.     Mệnh không, hạn không vô cát tấu công danh tắng đắng.

(Mệnh và hạn đều gặp Không (Tuấn Triệt Kiếp Không) thì công danh lận đận có xoay sở cầu cạnh ganh đua cũng vô ích).

51.     Thiên Lương ngộ Mã nữ mệnh bần tiện nhi thả dâm.

(Sao Thiên Lương gặp Thiên Mã số gái nghèo hèn và dâm bôn).

52.     Thiên Phủ lâm giải ách nhi vô bệnh

Địa Kiếp lâm phúc đức nhi hữu tai.

(Sao Thiên Phủ đóng cung Giải Ach thì ít bệnh tật hiểm nghèo. Sao Địa Kiếp vào cung Phúc Đức đa tai nạn).

53.     Hỏa phần Thiên Mã bất nghi viễn hành

Kim ám Kình Dương phản hiềm tao khốn.

(Hỏa Tinh đốt Thiên Mã chớ nên đi xa. Cung Dậu Kình Dương ám dễ gặp nguy khốn).

54.     Văn Khúc hí Nguyệt ư Hợi cung, quốc sắc thiên hương

Văn Xương triều Nhật ư Ngọ vi, phong trần địa bộ.

(Mệnh tại Hợi, Thái Âm thủ, hội Văn Khúc đàn bà quốc sắc thiên hương. Văn Xương gặp Thái Dương ở Ngọ cung thủ mệnh đàn ông phong trần lịch duyệt hào  sảng).

55.     Liêm Trinh Thất Sát lưu đăng thiên nhai.

(Mệnh ở Tị Hợi, có Liêm Sát tọa thủ gia thêm Hóa Kị, Kiếp Không, cuộc đời chìm nổi phiêu bạt gian truân).

56.     Trinh cư Mão Dậu định thị công môn tể lại bối.

(Liêm Trinh thủ mệnh tại Mão Dậu là số làm sai nha ở chốn công môn, vệ sĩ, gác cửa, lính lệ).

57.     Xương Khúc hiệp trì, nam mệnh quí nhi thả hiển.

(Thái Dương là đan trì, Thái Âm là quế trì. Nay Thái Dương Thái Âm thủ mệnh Sửu. Mùi có Xương Khúc, Tả Hữu giáp số đàn ông sang quí).

58.     Linh, Xương, La Vũ hạn chí đầu hà.

(Hạn đến Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc có thể tự sát đâm  đầu xuống song).

59.     Cự, Hỏa, Kình Dương chung thân ải tử.

(Cự Môn, Hỏa Tinh, Kình Dương chết vì thắt cổ).

60.     Không lý phùng Không bắt phiêu lưu tức chủ tật khổ.

(Mệnh vô chính diệu lai còn gặp Kiếp hay Không hay Tuần hoặc Triệt thì bôn ba giang hồ hoặc bệnh tật dề dề).

61.     Xương Tham cư mệnh phấn cốt toái thi.

(Mệnh tại Tị Hợi, có Tham Lang, Văn Xương đóng thêm Hóa Kị hoặc các sát tinh khác, yểu vong xương tan thịt nát. Ơ cung Quan Lộc đóng Tị Hợi cũng vậy).

62.     Âm Dương hội Xương Khúc xuất thế vinh hoa.

(Thái Âm , Thái Dương gặp Xương Khúc ra đời vinh hiển).

63.     Thiên Đồng bạch thủ thành gia

Địa Kiếp đan tâm tấm ảm.

(Sao Thiên Đồng thủ mệnh đắc địa tay trắng làm nên. Địa Kiếp cư mệnh lòng bất chính ám muội).

64.     Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng mộ trung tàng.

(Hóa Lộc bao giờ cũng là tốt nhưng đừng nên cư tứ mộ địa, hiệu lực kém đi nhiều).

65.     Xương Khúc, Phá Quân phùng hình khắc đa lao bác.

(Phá Quân đóng cung Thìn Tuất thủ mệnh gặp Xương Khúc không được toàn mỹ cuộc đời hình khắc lục thân, bôn tẩu vất vả).

66.     Vũ Khúc Tuất Hợi thượng, tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang.

(Sao Vũ Khúc đóng cung Tuất hay Hợi thủ mệnh rất kị gặp Thái Âm cặp Tham Lang chiếu xung thiếu niên bất lợi).

67.     Nguyệt tàng Dần vị, tác sự hữu thủy vô chung.

(Thái Âm rơi vào cung Dần làm việc gì cũng đầu voi đuôi chuột).

68.     Thiên Lương bảo tư tài dĩ dữ nhân

Thất Sát thủ tha tài vi kỷ vật.

(Thiên Lương thủ mệnh tính tốt lành gìn giữ tiền bạc để giúp người. Thất Sát tính ích kỷ chuyên lấy của người làm của riêng).

69.     Khoa Quyền ngộ Khôi Việt dị thành công

Xương Khúc hữu Âm Dương nhi đắc lực.

(Có Khoa Quyền phải gặp Khôi Việt mới dễ thành công. Xương Khúc cần có Âm Dương mới đắc lực).

70.     Thiên Đồng Ngọ vị, hỉ Dương nhẫn uy trấn biên ải.

(Sao Thiên Đồng thủ mệnh tại cung Ngọ, rất khóai gặp Kình Dương, uy danh lẫy lừng nơi biên ải).

71.     Dần Thân tối hỉ Đồng Lương thủ hội

Thìn Tuất ưng hiềm hãm Cự Môn.

(Hai cung Dần Thân được Đồng Lương thủ rất tốt. Hai cung Thìn Tuất có Cự Môn rất xấu).

72.     Khúc ngộ Lương tinh vị chí đài cương.

(Mệnh tại Ngọ có Thiên Lương, Văn Khúc tọa thủ hoặc Khúc tại Tí chiếu lên, quí đến bậc tam phẩm).

73.     Lý Quảng bất phong, Kình Dương phùng lực sĩ.

(Hai sao Kình Dương, Lực Sĩ thủ mệnh tuy là con người giỏi giang, tháo vát nhưng cực lận đận, cũng vì thế mà ông Lý Quảng không được phong tướng).

Lý Quảng tài giỏi chẳng phong

Kình Dương, Lực Sĩ tương phùng mệnh thân.

74.     Nhan Hồi yểu chiết Văn Xương hãm ư Thiên Thương.

(Văn Xương hãm địa gặp Thiên Thương nên thầy Nhan Hồi học trò giỏi của Khổng Tử chết yểu).

Nhan Hồi chết giữa niên trung tao sương.

Bởi Văn Xương hãm ngộ vòng Thiên Hương.

75.     Mệnh thực vận kiêm cảo điền đắc vũ, mệnh suy hạn nhược nộn thảo

(Mệnh chắc, vận hay ví như đồng cỏ gặp mưa, mệnh suy, hạn yếu ví như mạ non bị sương).

76.     Xương Khúc Lộc Cơ thanh tú sảo

Âm Dương Tả Hữu tối từ tường

(Mệnh Xương Khúc, Lộc, Cơ người thanh tú khéo léo. Mệnh Âm Dương Tả Hữu tốt lành).

77.     Cự Môn Kị tinh giai bất cát, vận thân mệnh hạn kị tương phùng.

(Cự Môn vốn là sao chủ thị phi, Hóa Kị vốn là sao chủ lắm chuyện, vậy nếu thân mệnh vận hạn chớ gặp hai sao này đi cặp với nhau).

78.     Quyền Lộc trùng phùng Chu Bột vận lai nhập tướng

Khôi Việt đối chiếu, Giả Nghị niên thiếu đăng khoa.

(Quyền Lộc trùng phùng nên Chu Bột gặp vận tốt thành danh tướng. Khôi Việt giáp mặt nhau nên ông Giả Nghị đỗ sớm).

79.     Tam Không hội Văn Xương ư Thê cung, thiềm cung chiết quế.

Tử Vi hội Vũ Khúc ư tử tức, quí nhi thực hòe.

(Văn Xương đóng cung Thê, gặp Tam Không nơi đó là cách lên cung trăng bẻ cành quế lấy được vợ con nhà nền nếp giàu sang. Tử Vi hội với Vũ Khúc tại cung Tử Tức thì đẻ nhiều quí tử, đa nam).

80.     Thất Sát thủ thân chung thị yểu

Tham Lang nhập mệnh tất ví sương.

(Thất Sát đóng thân mệnh hãm địa là hung có thể chết non. Tham Lang vào mệnh mặc dầu không có sát tinh thường là người dâm dật. Hai câu phú này dành cho số phụ nữ).

81.     Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại

Dương nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt bệnh tật triền miên.

(Lộc Tồn mà gặp Tuần Triệt thì gia nghiệp đổ nát. Nhật Nguyệt bị Kình Dương đau ốm suốt đời).

82.     Mã ngộ Không Vong chung thân bôn tẩu.

(Thiên Mã gặp Triệt Không cuộc đời Long đong).

83.     Sinh phùng bại địa phát dã hư hoa.

(Giả như người mạng thổ thủy mà an mệnh tại Tị cung là nơi tuyệt địa thì dù có gặp sao tốt mà phát đạt cũng chỉ là chuyện hư hoa nhất thời. Một lần nữa chứng tỏ vòng tràng sinh ảnh hưởng rất lớn vào số mệnh).

84.     Tinh lãm miếu vượng, tái quan sinh khắc chi cơ

Mệnh tọa cường cung tế sát chế hóa chi lý.

(Sao tuy ở miếu vượng cung nhưng còn phải xét cái cơ sinh khắc nữa. Mệnh tuy an tại cường cung nhưng còn phải xem cái lý chế hóa nữa. Căn cứ trên nguyên tắc nào mà xem xét ? chứng tỏ sự thiệt thòi lớn lao của Tử Vi là đã bị thất truyền cái lý chế hóa và cái cơ sinh khắc).

85.     Không Vong định yêu đắc dụng, Thiên Không tối vi khẩn yếu.

(Phú đoán có câu này, lời giải đoán lạ nhất như sau : / Giả như thân mệnh duy kim không tắc minh (kêu thành tiếng), hỏa không tắc phát (lửa được quãng không thì cháy mạnh) hai hạn gặp sao Không ấy lại là phát đạt. Còn như thủy không thì chỉ  trôi nổi, mộc không cây rỗng phải gãy, thổ không ví như đất lở sẽ gặp họa. Vậy ngũ hành của Không tính thế nào ? Từ mệnh cục tính đi hay tính ở cung nô đóng ? Quan trọng là vậy mà chẳng thấy lời giảng nào hết).

86.     Nhược phùng bại địa, chuyên khán phù trì chi diệu đại hữu kỳ công.

(Nếu mệnh đóng ở bại địa thì phải xem các sao tốt phù trì, sao tốt ấy sẽ gỡ cho mệnh rất nhiều. Câu này hơi mâu thuẫn với câu sinh phùng bại địa bên trên).

87.     Chư tính cát phùng hung dã cát, chư tính hung phùng cát dã hung.

(Sao tốt nhiều sao hung ít là tốt, sao hung nhiều sao tốt ít là hung. Tuy nhiên đừng quên đắc địa hãm địa).

88.     Thiện, Am triều cương nhân từ chi trưởng.

(Hai sao Thiên Cơ, Thiên Lương thủ thân mệnh tại Thìn Tuất được thêm cát tinh trợ là người đại lượng bao dung).

89.     Song Hao cư Mão Dậu chúng thủy triều đông.

(Đại tiểu hao ở Mão và Dậu là cách nước chảy về biển Đông, dễ kiếm tiền nhưng cũng là người ưa lãng phí, ham bài bạc).

90.     Thái Dương cư Ngọ vi chi Nhật lệ trung thiên hữu chuyên quyền chi vị, địch quốc chi phú.

(Sao Thái Dương đóng cung Ngọ thủ mệnh là cách Nhật lệ trung thiên, chức phận đến bậc nhất phẩm quyền hành nếu không thì cũng là phú gia địch quốc).

91.     Thái Âm cư Tí hiệu vi thủy chừng quế ngạc đắc thanh yếu chi chức trung gian chí tài.

(Sao Thái Âm đóng cung Tí gọi là cách nước trong có cụm hoa súng đẹp là số thanh quí, lòng trung hậu, ở chức giám quan rất hay).

92.     Tài cư tài vị ngộ giả phú xa.

(Giả như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc cư tài bạch cung lại gặp Khoa Quyền là số giàu).

93.     Hình tù hiệp An hình trượng duy ti.

(Mệnh có Thiên Tướng tọa thủ, gặp Liêm Trinh, Kình Dương hội hiệp dễ gặp tù tội hình phạt chỉ nên tăng đạo).

94.     Tham cư Hợi Tí danh vi phiếm thủy Đào Hoa.

(Thân mệnh ở cung Hợi Tí có Tham Lang thủ tinh, ưa ăn chơi, nếu gặp Hình (Kình Dương) Kị là đàn ông giang hồ, con gái dâm đãng).

95.     Phụ Bật hiệp Đế vi thượng phẩm

Đào Hoa phạm chủ vi chí dâm.

(Thân mệnh có Tham Lang, Tử Vi đồng cung hoặc chiếu củng thì Nam nữ tà dâm gọi là cách đào hoa phạm chủ, tính tình gian trá, nhưng nếu gặp Tả Phủ Hữu Bật thì Tham Lang bị khắc chế nên giảm bớt tính gian dâm).

96.     Quân thần khánh hội, tài thiện kinh bang.

(Tử Vi thủ mệnh, có Xương Khúc, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Lương, Đồng tương trợ là cách quân thần khánh hội rất giàu, có tài kinh bang nhưng nếu gặp Tứ Sát Kình Đà Không Kiếp Hóa Kị lại là nô khi chủ, số làm loạn phản bội).

97.     Thất Sát Liêm Trinh đông vi lộ thương mại thi Phá Quân, Am diệu đồng hương thủy trung tác tủng.

(Thân mệnh có Thất Sát Liêm Trinh đồng cung thêm Hóa Kị và Hao sát tinh, số chết đường,ở Thiên Di cung cũng vậy Cự Môn đi cặp với Phá Quân dễ chết đuối).

98.     Hình ngộ Tham Lang hiệu viết phong lưu thái trượng.

(Tham Lang đồng cung với Kình Dương tại cung Dần là người rất thông minh lại hào hoa phong lưu. Nếu không có Kình Dương thì Đà La cũng vậy nhưng giảm hiệu lực).

99.     Lộc cư nô bộc túng hữu quan dã bôn trì.

(Lộc Tồn, Hóa Lộc vào nô bộc cung nếu có khá chăng nữa cũng phải khó nhọc xảy vẩy).

100.  Đế ngộ hung đồ tuy cát diệc vô đạo.

(Tử Vi thủ mệnh, hội Khoa Quyền Lộc và Kình Đà, Kị Kiếp là người tâm thuật bất chính).

101.  Thái Dương hội Văn Xương ư Quan Lộc, hoàng điện triều ban chi quí.

(Quan Lộc Thái Dương đắc địa gặp Văn Xương chức vị đến nhất phẩm).

102.  Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung, thiềm cung chiết quế, văn chương linh thịnh.

(Thê cung có Thái Âm đắc địa gặp Văn Khúc trai vợ đẹp hiền sang, gái chồng quí hiển).

103.  Lộc Tồn thủ ư điền tài đôi kim tích ngọc.

(Sao Lộc Tồn đóng điền trạch và Tài Bạch cung vàng ngọc đầy kho).

104.  Tài Am tọa ư Thiên Di tất cự thương cao cổ.

(Vũ Khúc, Thiên Lương đắc địa tọa thủ Thiên Di cung hội với Khoa Quyền Lộc là nhà kinh doanh tài ba nếu nhiều sát tinh xung chiếu bình thường).

105.  Hao cư Lộc vị duyên đồ khất thực.

(Hao tinh (Phá Quân) ở Quan Lộc hãm địa gặp Hình Kị có lúc phải xin ăn ngòai đường).

106.  Hình sát hội Liêm Trinh ư Quan Lộc già nữu đồng lưu.

(Liêm Trinh bất đắc địa tọa thủ Quan Lộc cung gặp Hình Sát tinh dễ bị hình ngục, hạn gặp phải thì tù tội).

107.  Mệnh ngộ Mã Lương túng du vô yếm.

(Mệnh có Thiên Mã Thiên Lương ăn chơi không biết chán).

108.  Thiên Mã nhập mệnh mẫn tiệp đa năng

Thiên Cơ tại viên sảo tài xuất chúng.

(Mệnh có Thiên Mã tài giỏi, nhanh nhẹn. Mệnh có Thiên Cơ đắc địa thủ đoạn hơn người).

109.   Khốc Hư Tí Ngọ đồng cung, tiền bần hậu phú

Kiếp Không Tị Hợi đồng vị, hoạnh phát công danh.

(Mệnh ở Tí Ngọ có Khốc Hư, trước nghèo sau khá. Mệnh ở Tị Hợi có Kiếp Không công danh phát đạt bất ngờ).

110.   Hung tinh đắc địa phát dã như lôi

Cát tinh đắc địa tầm thường sự nghiệp.

(Sao hung đắc địa lúc phát như sấm sét. Cát tinh đắc địa sự nghiệp dề dà kém oanh liệt).

111.   Tử Phủ đồng cung tối vi phúc hậu, thiết hiềm nội trở Triệt Tuần.

(Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung thật là phúc hậu chỉ hiềm Tuần Triệt cản trở).

112.   Lương Cơ sảo biến đa tài, ngộ Xương Khúc nhi mẫn tiệp.

(Thiên Cơ, Thiên Lương đóng Mệnh cung là người quyên biến tài giỏi, gặp thêm Xương Khúc nữa mới hòan toàn).

113.   Xương Khúc đa học phùng Tuế, Kình thiên tác tụng sự.

(Xương Khúc học nhiều gặp Thái Tuế Kình Dương thường làm nghề thầy kiện quan tòa).

114.   Khôi Việt đa văn, ngộ Đà Kị Thiên Di dật sĩ.

(Khôi Việt lắm văn chương, gặp Đà La, Hóa Kị ở Thiên Di thường làm kẻ sĩ ẩn dật).

115.   Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân bất lương chi bối.

Kiếp Không, Phục Bính phùng Dương nhẫn lộ thượng kiếp đồ.

(Tử Vi ở cung Thìn Tuất thủ Mệnh gặp Phá Quân là lọai bất lương. Kiếp Không, Phục Bình gặp Kình Dương là lũ cướp đường).

116.   Thất Sát Dần Thân Tị Ngọ thọ khảo

Thiên Hình Dần Thân Mão Dậu anh hùng.

(Thất Sát ở Dần Thân Tí Ngọ sống lâu, Thiên Hình ở Dần Thân Mão Dậu tính nết anh hùng).

117.   Phá Quân tính khốc bất nhân vật an thân mệnh.

Văn Xương tính thanh thả khiết ích phu lợi tử.

(Số đàn bà Mệnh không nên có Phá Quân tọa thủ vì sao này tính tàn nhẫn. Thê cung nên có Văn Xương người vợ sẽ thanh khiết ích phu lợi tử).

118.   Vương bột đầu hà, Phá Quân hãm Thiên Thương ư thủy địa

Vương Lương ải ngục Liêm Trinh hãm địa Kiếp ư hỏa cung.

119.   Văn Khúc kị đồng Hóa Kị, hạn ngộ nam phòng yếu tử chi ưu.

(Văn Khúc chớ gặp Hóa Kị, hạn mà như vậy thì khó lòng phòng chuyện yểu tử).

120.   Mộc dục Hoa Cái thủ mệnh hoang dâm.

(Số đàn bà có hai sao Hoa Cái Mộc Dục thủ mệnh tất hoang dâm).

121.   Tham, Tang ngộ Phu Quân, Mệnh hữu chính diệu tắc đích, vô chính diệu

tắc thiếp.

(Tham Lang, Tang Môn ở cung Phu nếu mệnh có chính diệu thì mới mong làm chính phối, vô chính diệu tất là thiếp hầu).

122.   Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư Phu cung bất hảo chi thập.

(Số đàn bà cung Phu Quân có Hồng Loan ngộ Địa Kiếp, dù mệnh có tốt trăm phần cũng giảm đi hết một nửa).

123.   Hóa Kị điền tài phản vi giai luân

Thai lâm Mệnh vị, đa học thiểu thành.

(Sao Hóa Kị đóng cung Tài Bạch, Điền Trạch lại rất tốt, Mệnh tại Thai Địa học nhiều mà chẳng hay).

124.   Tuần Triệt đương đầu thiếu niên tân khổ

Tam không độc thủ, phú quí nan toàn.

(Tuần Triệt vào mệnh cung tuổi thiếu niên vất vả. Tam Không đơn thủ mệnh khó toàn phú quí).

125.   Cự Môn cư thê thiếp đa bất mãn hoài.

(Sao Cự Môn đóng vào cung thê thiếp bao nhiêu vợ cũng chưa vừa. Nhiều vợ hay luôn luôn bất xứng ý ?).

126.   Thiên Diêu cư Tài Bạch họa đổ sinh ương

Mã, Hổ Tràng Sinh công danh đắc lộ.

(Sao Thiên Diêu đóng cung Tài Bạch thường mê cờ bạc mất nghiệp. Thiên Mã Bạch Hổ tại Tràng Sinh địa công danh đắc lộ).

127.   Mộ trung Thai Tọa văn mưu vũ lược kiêm ưu

Ngọ thượng Khoa Quyền tương ngộ, biên cương nhậm trọng.

(Tam Thai Bát Tọa cư tứ mộ địa thủ Mệnh thường là người văn mưu vũ lược. Khoa Quyền gặp nhau tại cung Ngọ ở Mệnh tất cai quản việc lớn biên cương).

128.   Lương tại Tị tất dật du

Diêu tại Hợi vi minh mẫn.

(Thiên Lương đóng ở Tị là người chơi bời biếng nhác, Thiên Diêu vào Hợi cung là người minh mẫn).

129.   Đà ưa lâm phu vị bất cô quả diệc tăng bi.

(Sao Đà La lâm vào cung Phu, nếu không cô độc thì cũng buồn khổ).

130.   Hồng Loan cư Thê tiểu khắc.

(Sao Hồng Loan đóng Thê cung, vợ chồng lục đục).

131.   Đào Hoa phùng Thiên Mã vô môi tự giá.

(Số con gái có Đào Hoa ở Mệnh gặp Thiên Mã sẽ theo trai).

132.   Sở ai giả Hồng Loan tứ mộ Phu cung.

(Hồng Loan đóng Phu cung tại Thìn Tuất Sửu Mùi là số táng phu (chôn chồng)).

133.   Nam tử tối hiềm Nhật hãm

Nữ tử thiết kị Hắc vân.

(Số đàn ông kị Thái Dương hãm địa. Số đàn bà rất kị sao Hóa Kị đóng Mệnh cung).

134.   Hoa Cái tâu thư thanh cao tủng chúng

Long Trì Phượng Các thủ đắc quí nhân.

(Nữ mệnh có Hoa Cái tấu thư dáng nét sang trọng. Có Long Trì, Phượng Các dễ gặp quí nhân).

135.   Thiên Khốc Thiên Hư táo bạo.

(Nữ mệnh có sao Khốc Hư tính nết táo bạo).

136.   Nữ tử Hồng Loan thủ mệnh chủ nhị phu

Nam tử Hoa Cái cư thân, xuất ngoại đa ái.

(Nữ mệnh có Hồng Loan là điềm hại chồng. Nam mệnh gặp Hoa Cái dễ phất phơ).

137.   Lương Đồng miếu địa ngộ Khôi Quyền, gia hội Kị, Linh, Song lộc

Doanh thương dị phú.

(Thiên Lương, Thiên Đồng ở miếu địa gặp Hóa Kị, Linh Tinh và Lộc Tồn, Hóa Lộc lại có Thiên Khôi, Hóa Quyền, số doanh thương, dễ đại phú).

138.   Tí hương, Suy địa Kiếp, Kình Đế Cự lâm mệnh ác nhân đãng tử mãn kiếp nan toàn.

(Tử Vi Cự Môn đóng mệnh tại cung Tí chỗ Suy địa có Địa Kiếp, Kình Dương là phường du đãng ác nhân sẽ chết bất đắc kỳ tử).

139.   Nhật tại Tí vi Nhật trầm thủy để, đắc Kình Đà xung chiếu hiệu viết loạn thế phùng quân.

(Thái Dương cư mệnh ở cung Tí là cách Nhật trầm thủy để mặt trời còn ở đáy biển đông, nếu được sự xung chiếu của hai sao Kình Đà rất hay ví như đời loạn gặp minh chủ).

Phú nôm cốt tủy

1.   Kình Đà giáp với Mệnh viên

Hoặc là Không Kiếp bần hàn yểu vong

2.   Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long

Công danh quyền thế lẫy lừng một mai

3.   Hổ mà gặp Tấu đồng cung

Công danh thi cử nên công dễ dàng

4.   Mã ngộ Linh Hỏa miếu cung

Chiến binh Mã ấy vẫy vùng mọi nơi

5.   Mã cùng Khốc Khách hợp vào

Ngựa kia có nhạc anh hào lên yên

6.   Thiên hình chặn Mã chẳng nên

Ngựa mang sác chết tật nguyền chân tay

7.   Mã kia Tuyệt địa một nhà

Cùng đồ Mã ấy thiệt là vô phương

8.   Đà La với Mã sum vầy

Dây gai vương vít Mã này gãy chân

9.   Tuần Triệt hội Mã mệnh viên

Ay là ngựa chết đời liền gian truân

10. Thiên Hình đóng tại Dần cung

Mệnh thân ở đó uy hùng tướng quân

Kình, Binh, An, Tướng họp cùng

Tài kiêm văn võ vẩy vùng bốn phương

11. Thái Dương đóng ở Hợi cung

Gặp Kình hay Kị yểu vong hoặc mù

12. Hỏa tai, thủy ách nhiều lần

Bởi Liêm Sát Hỏa, Diêu cùng Kị Tham

13. Thiên Đồng thủ Mệnh ấy là

Đổi thay tính khí khó mà chiều nuông

14. Đà La Địa Kiếp chiếu phương

Gặp Linh Tinh nạn bất tường chẳng sai

15. Thiên Diêu tài mệnh sinh ương

Không mê cờ bạc cũng phương rượu chè

16. Thái Dương Kình ở Ngọ cung

Mệnh viên tại đó uy hùng tướng quân

Thái Âm cư Hợi Mệnh thân

Gặp Khoa Quyền Lộc tấm thân sang giàu

17. Địa Kiếp độc thủ ác tà

Liêm Phá hãm địa quỉ ma bất tường

18. Hóa Kị thi rớt lắm khi

Dương gặp Kiếp sát học gì cho hay

19. Binh Hình tẩm ngẩm tầm ngầm

Hãm cung Phá Tuế nói rầm sấm vang

20. Mấy người phú quí không toàn

Bởi chưng Nhật Nguyệt hợp đoàn sát tinh

21. Song hao Tham hội đa dâm

Thiên Đồng ngộ Quí mười phần thanh tao

22. Thất Sát Hình Kị Đà Dương

Chẳng mặt thì ngực có thương mới là

23. Sát Kình đóng tại Ngọ cung

Tai ương thảm khốc nằm trong cuộc đời

24. Khốc Hư gặp Cơ chớ màng

Bệnh lao phải liệu lo toan lấy mình

25. Vũ Tham tài bạch phải tường

Không gia ác sát ấy phương họanh tài

26. Liêm Trinh Quan Phù cùng nơi

Hãm cung tai hại kiếp người ra chi

27. Liêm Hao tài mệnh cùng ngồi

Phá tan tổ nghiệp ra người bần nhân

28. Liêm Hỏa Không Kiếp Phá Quân

Hãm cung thắt cổ nợ trần trả xong

29. Hình Diệu Tham Kị ngộ Liêm

Ở cung Tị Hợi là điềm mạng vong

30. Liêm Kiếp Kình Dương một nơi

Tại cung Mão Dậu cuộc đời tù lao

31. Liêm Trinh ở Mão Dậu cung

Sát tinh hội tụ công danh chớ hòng

32. Phúc cung thấy đứng đầu Thiên Phủ

Địa Kiếp kia vào đó rủi thay

Đoán rằng con trưởng không may

Ví không yểu tử, cũng tay lạc loài

33. Nguyệt miếu vượng là người to lớn

Gặp hãm cung hơi ốm mà cao

Tính ưa ngâm vịnh tiêu dao

Danh tài nếu có nhờ vào văn tinh

34. Nguyệt hãm gặp Triệt không thành quí

Chỉ sợ Hình Diêu bị mục nguyền

35. Tí Ngọ Tham đóng hai cung

Nếu không Tuần Triệt là phường bất nhân

36. Tham Đà đóng Dần cung trụy lạc

Hoặc Ngọ Dần lắm ác tinh vô

Hội cùng Bạch Hổ âu lo

Hoặc bị sét đánh, nạn to đợi chờ

37. Cự gặp Hổ, Tuế, Hình hội viên

Ay là nghề thầy kiện quan tòa

38. Tham Linh Hỏa an nơi tứ mộ

Ngôi công hầu triệu phú gia tư

39. Cự Môn Thìn Tuất hai nơi

Đầu đường góc chợ những người ngụ cư

40. Ai người miệng kín như bình

Thái Tuế, Việt Kỵ song hành Cự Môn

41. Thiên Tướng miếu hãm gặp ngay Tuần Triệt án ngữ thân nay khó

toàn Dễ bị súng đạn đao gươm

Tứ chi đầu mặt tật thương đó mà

42. Thìn Tuất Tướng gặp Thiên Không

Cát tinh hội tụ, uy trong quyền ngoài

43. Lương Tị Hợi thế âu hãm địa

Nam phiêu bồng, nữ ấy đa dâm

44. Mão cung Lương Nhật đồng sinh

Mặt tươi vuông vắn, đời danh quan sang

45. Lương phùng Hao Sát Tị cung

At là khó tránh khỏi vòng đao thương

46. Sát Mão Dậu Tuất Thìn hãm địa Biết lắm nghề mà chẳng tinh

thông Sát Kình đóng ở Ngọ cung

Tai ương thảm khốc chờ trong cuộc đời

47. Ai người trận địa thây vùi

Vì sao Kình Sát đứng ngồi Ngọ cung

48. Phá, Kình Tả Hữu chớ ngờ

Ở cung Mão Dậu ắt là loạn quân

49. Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất

Gặp Khoa Tuần phản ác vi lương

50. Phá cùng Linh Hỏa giao làm

Bôn ba vất vả lo phần đói no

51. Phá, Hao, Linh, Nhẫn cung Quan

Gặp Tham hãm địa tính đành ăn xin

52. Phá, Tham, Lộc Mã giao nhau

Nam thì lãng đãng nữ màu đa dâm

53. Tham Lương chỉ thích ăn sang

Diêu Kị tửu sắc lắm đàng ngả nghiêng

54. Phá Quân Diêu Mã họp vào

Ay phường du đãng ai nào muốn thân

55. Mão đến Tị bóng đen Nguyệt hãm

Gặp Lương càng bi thảm gian truân

56. Đất Tị Ngọ Sửu Thân Hóa Lộc

Gặp Kiếp Không là gốc tàn suy

57. Đất tứ mộ Hỏa Linh Tham Vũ

Có uy quyền chớ ngộ Kình Dương

Thân cung liêm tướng một đường

Anh hùng vũ dũng ai đương được mình

58. Khoa hãm địa ở vòng mệnh vị

Nghiệp không thành danh chỉ như mây

59. Lộc ngộ Không Kiếp đồng qui

Cùng là vô dụng hóa vi cơ hàn

60. Tị Hợi mệnh ngộ Kiếp Không

Dẫu rằng đắc địa chết vòng trung niên

61. Lộc cư nô bộc bực mình

Đông tây xuôi ngược mới sinh tiền tài

62. Dương Linh tọa thủ mệnh ai

Lại gặp Bạch Hổ họa tai đao hình

63. Kị Hình Thất Sát tương phùng

Thiếu niên yểu chiết như giòng Nhan Uyên

64. Hạn phùng Diêu Hổ ưu phiền

Những loài ác thú chớ nên ở gần

65. Hãm cung Tang Tuế Cơ Lương

Ay người kém phúc vợ con biếng chiều

66. Tuế Đà Cự Kị phận nghèo

Một thân lên thác xuống đèo chẳng yên

67. Tham Liêm Tị Hợi ngục tù

Dần Thân Tham hội Xương lo tụng đình

68. Hình Kình cư Ngọ đồng gia

Sát Kiếp lai chiếu ắt là ngục trung

69. Dậu cung Thái Tuế Thiên Hình

Phải phòng vận hạn dễ sinh gông cùm

70. Thìn Tuất Thất Sát xem qua

Hình, Kình hội ngộ hẳn là đảo điên

71. Thái Dương hãm ngộ hung tinh

Nếu không kiện tụng thôi đành tóc tang (cha).

72. Linh phùng Sát Phá hạn hành

Văn Xương xưa cũng giam mình ngục trung

73. Nguyệt hãm Đà Hổ Tuế xung

Hãi thay điểm Mẹ thóat vòng trần gian

74. Phá Quân Tuần Triệt lâm vào (cung phối)

Có chăng thì cũng ba tao mới thành

Vũ Khúc Thất Sát đồng hành

Bao lần hôn phối mới lành được chăng

Cự Môn Linh Hỏa tương phùng

Bảy lần mối lái chẳng xong mối sầu

Phối cung Không Kiếp kể chi

Tai hai ba độ họa may mới toàn

75. Thiên Tướng đứng đắn lạ thường (phối cung)

Liêm Trinh đắc địa vợ thường đoan trinh

76. Bính Hình gặp Hỏa, Kị xung (cung phối)

Đêm ngày cư xử ra lòng bạc đen

Tang Môn Thiên Khốc phận hèn

Hoặc là làm lẽ hoặc phen ly tình

Triệt Tuần ngộ Mã ưu phiền

Bỏ chồng vợ trốn đến miền phương xa

Phá Quân duyên nợ ít toàn

Cô Quả Tang Hổ Khốc thường tóc tang

77. Thiên Hình giữ của tốt sao (cung tài)

Linh Tinh hà tiện nên giàu đáng khen

Hỏa Linh miếu phát nhiều phen...

78. Cơ Lương Lộc Mã ấy ai (cung tài)

Thạch Sùng kim ốc có sai đâu mà

79. Gian tà Kiếp Sát Phục Bình (cung tài)

Khúc Xương Thái Tuế mưu sinh tảo tần

80. Tuần Triệt thước tấc cũng không (cung Điền)

Tư Cơ nan bảo Phủ Không xứ phùng

81. Thiên Cơ lực phí tâm tàn (cung Tài)

Đà La đói rách củi than làm nghề

Kiếp Không khốn khó mọi bề

Hỏa Linh (hãm) biển lận đáng chê vô cùng

Phá Quân nhị Hao Kiếp Không

Tấu thư Xương Khúc trùng phùng bạch gia

82. Vợ về sẳn của muôn trùng

Đồng An Lộc Mã Khúc phùng Thái Âm

83. Đồng Lương hội nhập phối cung

Hai vợ ắt một tổ tông đó mà

84. Vũ Xương hoặc Khúc cùng ngồi (cung Tử tức)

Sinh con xinh đẹp hơn người chẳng ngoa

Không ngộ Linh Hỏa xấu xa

Sinh con lại gặp những tà ác tinh

Khốc Hư ngộ Dương Không lành

Tướng Binh xung phá hẳn đành hoang thai

Kình Đà Không Kiếp Khốc Hư

Sinh con điếc lác ngẩn ngơ thêm buồn

85. Thiên Diêu Hóa Kị ra ngoài (cung Thiên Di)

Đa chiêu mạ nhục chẳng ai yêu mình

Tướng Quân ngộ Triệt không lành

Trận tiền kia dễ bỏ mình chôn thây

Long đong đóng tẩu tây trì

Bởi vì Cơ Mã Thiên Di hãm nhàn

86. Hỏa Linh Mùi Sửu an bài (Quan lộc cung)

Chiến công đã hẹn đức tài bình nhung

Cung Quan mà gặp Đào Hồng

Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

87. Tuế Hổ Phù hợp Khúc Xương (Quan lộc cung)

Có tài hùng biện văn chương hơn người

88. Khúc Xương Long Phượng phát văn

Vũ Tham Sát Phá Cự rằng võ công

Nhật Nguyệt Quan lộc bất thông

Chỉ hiềm một nỗi đồng cung Sửu Mùi

89. Kình tứ mộ Mã triều lai (Quan lộc cung)

Biên cương ắt hẳn ra tài võ công

Kình Đà ngộ Mã đã đành

Là người suôi ngược để dành chiến công

90. Phong các Thiên Tướng chính tinh

Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần.

Luận Mệnh và Phê Mệnh

Triết gia Đức Frederic Nietzche nói rằng :

- Mỗi triết học uẩn súc một loại triết lý

- Mỗi ý tưởng hàm tàng một loại huyền nghĩa

- Mỗi ngôn từ ẩn dấu một diệu thú.

(Every philosophy also conceal a philosophy. Every opinion is also a lurking place, every word is also a mask).

Khoa số mệnh cũng vậy, nó mang một triết lý, một huyền nghĩa và một ngôn từ riêng biệt.

Triết lý của nó là gì ?

Càn khôn nhất hí trường

Sinh mệnh nhất bi kịch

(Trời đất là hí trường

Sinh mệnh là bi kịch)

Nó là triết lý trong bài thơ / đánh bài / của thi sĩ Trần Tế Xương :

Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ

Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm

Bài chạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm

Ngôi thôi chẳng bốc quân rác rãnh

Cũng có lúc thông chi thời bát sách

Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng

Cất bài lên ông lão lẩn về không

Không đâu cả gặp kề năm bảy phỗng

Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng

Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay trên

Gớm ghê thay đen thực là đen

Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ

May mắn nhễ hữu duyên năng tương ngộ

Bĩ cực rồi đến hội thái lai

Tiếng tam khôi chi để nhường ai

Hết bạch lại hồng thông mãi mãi

Nào những kẻ tay trên ban nãy

Tới bây giờ thây lẩy dưới tay ta

Tiếng bài cao lừng lẫy khắp gần xa

Bát vạn người ta ai dám đọ

Thế mới biết cuộc đời đen có đỏ

Thời anh hùng vị ngộ có lo chi

Trước sau sau trước làm gì.

Huyền nghĩa của nó là gì ?

Bài Thái Vi phú có câu :

/Đẩu số chí huyền nhi vị tận /

(Nghĩa là : Khoa đẩu số huyền diệu lắm, lý chỉ truy có vẻ rõ ràng nhưng dù có xem cả trăm pho sách cũng chưa hết...)

Luận mệnh cần phải khơi đào đến chỗ tinh tế mới có thể hạ đoán chính xác. Luận mệnh ngòai hiểu biết về mệnh học còn phải là người tịch lịch thế sự. Việc đời quanh co như ruột dê cần con mắt sáng như mắt hổ để phát hiện.

Từ ngữ và diệu thú của từ ngữ là gì ?

Lúc phê mệnh mà không có một từ ngữ chứa chan diệu thú thì việc phê mệnh đã giảm đi quá nữa phần khuất phục tâm lý người có lá số được phê. Hãy lấy tỉ dụ một cảnh biệt ly trong bài từ của Âu Dương Vĩnh thục :

Ly sầu tiệm viễn tiệm vô cùng

Siêu siêu bất đoạn như xuân thủy

làm cho người đọc xúc động ngay và thấy ngay hình ảnh buồn thê thiết đó.

Cũng như phê mệnh con gái chìm nổi phiêu bồng bằng bốn chữ : Lưu thủy lạc hoa

(nước chảy hoa trôi) hoặc nặng hơn : Lạc hoa ngộ vũ (Hoa rơi gặp bão) chỏ vào những ai mang bệnh Đào Hoa, Không Kiếp, Linh Hỏa. Từ ngữ khoa Tử Vi về phần chuyên môn đã có những câu phú đoán phú chữ nôm. Nhưng về phần phê mệnh đòi hỏi ở tưởng tượng lực phong phú và khả năng từ ngữ dồi dào cộng với đôi mắt quan sát bén nhọn của người phê. Mỗi lá số làm sao chỉ cần phê vào đó bốn hoặc năm chữ hoặc cùng lắm là hai câu thơ bảy chữ mà phát hiện ra được một hình ảnh rõ rệt cho một đời người. Cụôc sống thế sự mang muôn hình vạn trạng mà có thể đem đến cho từng người từng việc một hình ảnh chính xác thì quả là diệu thú của từ ngữ.

- Kẻ có tài lớn mà cô độc vô trợ được phê bốn chữ Ngưu miên hoang vũ (Trâu ngủ trong bãi hoang)

- Người luôn luôn bị lỡ thời khinh miệt là hình ảnh Phá phiến giao thu (Quạt rách cuối thu)

- Một nhà chính khách bù nhìn tượng gỗ ví như Thạch thượng kim hoa (Hoa bằng sắt trên tảng đá) Cuộc đời trôi nổi là cuộc đời : Phù binh vũ lộ (Đám bèo trong mưa)

- Chỉ được một vận sáng đẹp trong thời gian ngắn là Vũ lý hoa khai (Hoa nở dưới trời bão tố)

- Số dựa vào quí nhân mà phát đạt gọi bằng : Hồ giả hổ uy (Cáo mượn oai hùm)

- Cùng đến cực rồi biến để thành oanh liệt là :Thần kiếm hóa Long (Kiếm thần biến ra rồng)

- Danh phận hiển đạt dễ dàng là Bảo mã kim yên (Ngựa tốt yên vàng)

- Số bôn ba tàn khổ thất bại vẫn hoàn thất bại Đại lãng hành châu (Thuyền nan trong sóng lớn)

- Hội hợp đúng thời công thành danh toại :Vân Long phong hổ (Rồng gặp mây, hổ được gió).

Còn muôn vàn hình ảnh khác. Quí vị say mê số mệnh Tử Vi hãy đóng góp cho từ

ngữ của khoa này. Từ ngữ càng giàu càng diệu thú thì triết lý nhân sinh qua mệnh học càng sâu sắc.