vietmessenger.com


Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam

Nhật Tiến

Từ Nhóm Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam





MỤC LỤC

I. Tiến trình thành lập/ Nội Quy
II. Những sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút
III. Giải tỏa những ngộ nhận về Văn Bút
IV. Hội họp ở Trung Tâm Văn Bút VN
V. Văn Bút với Đời sống Xã hội-Chính trị
VI. Ngày cuối ở Trụ sở Trung Tâm Văn Bút


Lời Nói Đầu

Miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975 nói về mặt sinh hoạt văn hóa thì đó là một thời kỳ rực rỡ được vun trồng bởi nhiệt huyết của một số lượng nhân sự lớn lao bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, họa sĩ, các nghệ sĩ trong mọi ngành sân khấu, điện ảnh và cả các giới chức trong toàn ngành giáo dục. Nhiều thế hệ qua đó đã được đào tạo, vừa nhằm mục đích gây dựng một nền tảng đạo đức xã hội song song với việc duy trì truyển thống văn hóa tốt đẹp của Cha Ông và cũng vừa làm nẩy nở và phát triển thêm về những tư tưởng khai phóng, dân chủ qua các trào lưu văn hóa mới trên thế giới.

Trong bối cảnh tự do trăm hoa đua nở đó, tổ chức Văn Bút là một Hội duy nhất được dành cho giới cầm bút, bao gồm các nhà văn, nhà thơ, các soạn giả, kịch tác gia, các chủ bút và ký giả báo chí cùng các nhà khảo cứu, bình luận gia về mọi ngành thuộc về văn học nghệ thuật.

Được chính thức thành lập từ tháng 10 năm 1957 qua Nghị định số 111-BNV/NA/P5 của Bộ Nội Vụ VNCH, Hội đã liên tục hoạt động không ngưng nghỉ cho tới tháng 4-1975. Trải gần 20 năm ròng rã ấy, đã có biết bao nhiêu sinh hoạt của Hội đóng góp vào công cuộc xây dựng và vun trồng nền văn hóa của Miền Nam Việt Nam mà nếu có thể ghi chép lại thì cũng gom được thành một tài liệu văn học hữu ích cho các thế hệ sau.

Nhưng tiếc thay, cuộc phần thư năm 1975 do nhà cầm quyền CS tiến hành đã thiêu hủy biết bao nhiêu là tài liệu, sách báo quý giá kể cả những tài liệu liên quan đến Văn Bút VN.

Rồi thời gian qua đi, các vị làm văn hóa lão thành vốn đã từng tạo dựng nên hội  Văn Bút và nắm giữ nhiều kỷ niệm quý giá về Hội này thì hầu hết đã quy tiên cả như Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ đình Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, LM. Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền…v..v.. Cho nên nếu dù ai có quan tâm cách mấy về việc viết lại các sinh hoạt của hội Văn Bút thì cũng thẩy đều gần như bó tay vì số lượng tài liệu còn tìm thấy được lại quá ít ỏi.

Tuy nhiên một tổ chức văn hóa như thế mà không có tài liệu nào viết về nó dù chỉ là một cách tương đối thì cũng thật là đáng tiếc. Vì vậy, nhân danh một Hội viên  thuộc thế hệ hậu sinh, đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với nhiều bậc tiền bối như Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường , LM. Thanh Lãng......tôi tự thấy có bổn phận phải gom góp tài liệu dù rất ít ỏi để viết về những sinh hoạt của Văn Bút kể từ Nhóm Bút Việt cho đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua cả một chặng đường dài từ 1957 cho đến 1975.

Những dữ kiện về Văn Bút trong cuốn này sẽ mặc nhiên phủ chính lại một vài dữ kiện khác biệt đã có trong những bài viết trước đây của tôi về Văn Bút vì lý do khi đó tôi chưa có đủ tài liệu để đối chiếu.

Dù đã hết sức cố gắng nhưng lực bất tòng tâm, tôi vẫn hy vọng sau này sẽ có nhiều cây bút khác với sự kiên nhẫn tìm tòi và nghiên cứu kỹ lưỡng tại các thư viện trong và ngoài nước hẳn sẽ có thể viết lại lịch sử Văn Bút một cách đầy đủ hơn và như thế sẽ còn bổ sung hay phủ chính lại những sai sót nếu có của tôi trong cuốn tài liệu nhỏ bé này. Và đó là điều tôi hết lòng mong mỏi.

Garden Grove, California ngày 6-7-2016
NHẬT TIẾN



Chương I

Tiến Trình Thành Lập / Nội Quy


Sau một thời gian tìm hiểu về Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N  International), ngày 17-8-1957, một số văn nghệ sĩ lão thành ở Sài Gòn đã quyết định thành lập một tổ chức có tên là "Nhóm Bút Việt".

Họ bao gồm 19 nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên khảo, kịch tác gia và cả họa sĩ mà danh tính theo tờ Thế Giới Tự Do Tập VII, số 9, năm 1957 thì như sau: Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Lê Ngọc Trụ, Phạm Việt Tuyền, Như Phong Lê văn Tiến, Tchya Đái Đức Tuấn, Thạch Trung Giả, Triều Đẩu, Xuân Nhã, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Mai Xuyên, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Phạm Tăng, Thuần Phong, Hoàng Đình Lượng.

Khi thành lập, Nhóm  Bút Việt  tuyên bố :

" Nhóm không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết. Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là  một hội ái hữu.  Bút Việt chỉ là một câu lạc bộ của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu". (In trong kỷ yếu mà sau này Văn Hóa Ngày Nay Tập I của Nhất Linh có in lại)

Như vậy trong buổi khởi đầu, Nhóm Bút Việt đã hình thành trong một ý niệm hết sức rộng rãi và tự do. Các thành viên của Bút Việt sinh hoạt như một Câu lạc bộ.

Điều đáng chú ý là theo danh sách ở trên, ta không thấy có tên nhà văn Nhất Linh, một tên tuổi lão thành mà nhiều người vẫn thường nghĩ ông là một trong những vị đứng ra sáng lập tổ chức Văn Bút.

Tuy nhiên nếu so sánh ngày tháng và nơi cư trú của Nhất Linh vào thời điểm ấy thì ta thấy :

- Ông từ Hương Cảng trở về Hà Nội khoảng cuối năm 1950 (theo quý nam của ông là Nguyễn Tường Thiết ghi lại trong bài Nhất Linh, Cha tôi.)

- Đầu tháng 4 năm 1951, ông dời Hà Nội vào Nam.

- Năm 1954, khoảng tháng 7, ông qua Pháp để chữa bệnh. Thời gian này gia đình ông cũng di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, và cư ngụ ở khu chợ An Đông, Sài Gòn.

- Năm 1955, ông lên Đà Lạt với quyết định ở luôn trên ấy.

- Năm 1957 ông mua một lô đất ở ven quốc lộ 20 Sài Gòn – Đà Lạt, ở phía nam của làng Fim-Nôm và dự tính xây một căn nhà cho chính ông. Thời gian này ông sáng tác tác phẩm Xóm Cầu Mới.

- Năm 1958, sau một cơn bão ở Đà Lạt phá sập nguyên căn nhà mà ông đang cư ngụ nên ông đã dời về Sài Gòn để từ đó bắt đầu chuẩn bị cho tờ Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay với số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, một ngày mà theo nhà báo Hiếu Chân thì ông đã cố ý lựa chọn vì 17-6-1930 là ngày liệt sĩ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Thực dân Pháp đưa lên đoạn đầu đài  xử trảm tại Yên Bái.

Như thế, khi các văn nghệ sĩ chủ chốt chuẩn bị thành lập Nhóm Bút Việt từ năm 1957, thì nhà văn Nhất Linh đã không có mặt ở Sài Gòn để tham gia. Mãi tới tháng 12-1957, Nhóm mới mời ông làm Cố vấn và Hội viên Danh dự.  Và tới niên khóa 1961-1962 thì ông được bầu làm Chủ tịch Văn Bút với hai vị Phó Chủ tịch là LM. Thanh Lãng và Vi Huyền Đắc.

° ° °

Trở lại từ năm 1957, các văn nghệ sĩ đã nêu trong danh sách kể trên không chỉ ngừng lại ở ý niệm một Câu Lạc Bộ cầm bút mà còn muốn đi xa hơn, tức nhắm vào mục đích xin gia nhập tổ chức Văn Bút Quốc Tế để mở rộng tầm mức sinh hoạt hơn. Bởi vì trong bối cảnh của một đất nước vừa bị chia đôi sau Hiệp Định Genève 20-7-1954 và trước một cuộc sống đầy dẫy những vấn đề của công cuộc hình thành một miền Nam Tự Do đối đầu với miền Bắc Cộng Sản, hẳn nhiều nhà làm văn hóa trong số các vị kể trên cũng đã thao thức với thời cuộc về những bổn phận và trách nhiệm của mình. Họ đã nghĩ tới việc tiếp cận Tổ chức Văn Bút Quốc Tế  để mong tiến tới một tổ chức qui tụ các người cầm bút ở ngay trong nước. Họ đã gặp gỡ, bàn thảo công việc chuẩn bị, kể cả những lần tiếp xúc với các văn gia quốc tế đặc biệt là với ông David Carver, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Quốc Tế hồi đó để thăm dò hoặc tham khảo ý kiến về việc thành lập một chi nhánh Văn Bút Quốc Tế tại VN.

Tổ chức Văn Bút Quốc Tế  vốn đã được thành lập từ năm 1921 ở Anh Quốc. Tổ chức này lấy tên là P.E.N International bao gồm các Nhà thơ (Poets), Kịch tác gia (Playwright), Bình luận gia (Essayist), Chủ bút và ký giả (Editors), Tiểu thuyết gia (Novelist).

Theo Hiến chương của tổ chức này thì :

* Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

* PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

* PEN tuyên bố tán thành một nền báo chí tự do và phản đối việc kiểm duyệt độc đoán trong thời bình.

* PEN tin rằng sự tiến bộ của thế giới hướng tới một trật tự chính trị và kinh tế có tổ chức cao hơn sẽ làm cho việc tự do phê bình chính phủ, chính quyền, và các tổ chức là điều rất quan trọng. Và vì sự tự do có bao hàm ý nghĩa hạn chế tự nguyện, nên các hội viên PEN tự cam kết chống lại các tệ nạn như : xuyên tạc ý nghĩa của tự do xuất bản báo chí, cố ý lừa dối, và bóp méo các sự kiện nhằm những mục đích chính trị và cá nhân...

Khi nhận thấy tình hình đã có nhiều thuận lợi, Nhóm đã quyết định mở phiên họp chính thức vào ngày 17-8-1957 kể trên để quyết định lập Ban Vận Động và xúc tiến các thủ tục hành chính. Danh sách Ban Vận Động gồm có :

Chủ tịch : Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch : Vương Hồng Sển, Tchya Đái Đức Tuấn.

Tổng Thư Ký : Hiếu Chân  Nguyễn Hoạt.

Cố vấn : Vũ Hoàng Chương, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội.

Vì đã có sự vận động với quốc tế từ trước, nên Ban Vận Động Bút Việt đã được mời tham dự ngay Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29 họp tại Đông Kinh, Nhật Bản, từ ngày 1 đến 9 tháng 9-1957.

Phái đoàn Việt Nam gồm có Đỗ Đức Thu, Đái Đức Tuấn, Phạm Việt Tuyền, Hoàng Định Lượng và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tham dự  Hội nghị này có 350 nhà văn, nhà thơ, ký giả đại diện cho 27 quốc gia trên thế giới. Số người của riêngVăn Bút Nhật Bản tới dự cũng đông gần con số 350.

Trong  phiên họp ngày 2 tháng 9 năm 1957 tại Đông Kinh, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế đã chính thức thu nhận hai Hội viên mới: Nhóm Bút Việt của Việt Nam Cộng Hòa và Nhóm Văn Bút của Băng Đảo (Cộng Hòa Iceland). Như thế, tổng số hội viên của Văn Bút Quốc Tế là 50 Hội viên tính tới tháng 9-1957.

Khi ở Đông Kinh về, các đại biểu đã triệu tập một phiên họp vào cuối tháng 10-1957 để tường trình công việc.

Qua tháng 11-1957, tại trụ sở tạm thời của Nhóm ở số 69 đường Cao Thắng Sài Gòn, Ban Vận Động từ chức vì xong nhiệm vụ. Một Ban Chấp Hành Lâm Thời được bầu ra gồm 5 vị:  :

Chủ tịch: Đỗ Đức Thu.

Phó Chủ tịch: Vương Hồng Sển và Vi Huyền Đắc.

Tổng Thư Ký: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Thủ Quỹ : Bùi Xuân Uyên.

Tới ngày 29-5-1958, Ban Chấp Hành Lâm Thời bổ sung thêm 2 vị Thư Ký: Nguyễn Khang và Lê văn Siêu.

Nhiệm vụ của Ban Chấp Hành  Lâm Thời là thiết lập trụ sở, tổ chức văn phòng thường trực, xúc tiến thủ tục hành chánh xin thành lập Nhóm, thiết lập Thư viện, phát triển Hội viên, chuẩn bị cho Đại Hội toàn quốc và xuất bản tờ Kỷ Yếu.

Ngày 21 tháng 10 năm 1957 Nhóm được cấp giấy phép hoạt động ở trụ sở số 25 Võ Tánh Sài Gòn (đây chỉ là địa chỉ mượn của báo Tự Do để làm giấy tờ mà thôi), do 3 vị đứng tên là Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển và Nguyễn Hoạt  và do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Hữu Châu ký trên Nghị Định số 111-BNV-/NA/P5 có nội dung chính như sau :

"Nhóm Bút Việt, danh hiệu quốc tế P.E.N Việt Nam, trụ sở đặt tại số 25 đường Võ Tánh Sài Gòn, được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam đúng với bản Điều Lệ của Hội đã được duyệt y (đính theo Nghị định này) và trong phạm vi của Dụ số 10 ngày 6-8-50 ấn định quy chế các Hiệp Hội."

Như thế, Nhóm Bút Việt đã được hình thành từ ngày 2-9-1957 trên phương diện quốc tế và ngày 21-10-1957 là trên phương diện hành chánh ở trong nước.

Khoảng giữa năm 1957, Nhóm Bút Việt dời về trụ sở mới ở số 157 đường Phan đình Phùng Sài Gòn (xin coi hình chụp của Mạnh Đan trên tờ Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7,năm 1957).

Tới mùa Thu năm 1959 Nhóm lại dời về trụ sở số 36/59 Cô Bắc Sài Gòn và ở đây cho tới năm 1971 mới lại dọn về số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Trụ sở ở số 157 đường Phan đình Phùng Sài Gòn (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957 )

Cũng từ trụ sở này, Nhóm Bút Việt đã tiếp các nhà văn quốc tế qua VN như nhà văn Mỹ Mac Anley, hai nhà báo và nhà văn Pháp Suzanne Normal, Paul Acker, nhà báo Thụy Điển Charles Asndré Nicole và nhà  văn Đan Mạch Lindermann.

Từ trái qua: các văn hữu  Bùi Phương Thể, Nguyễn Duy Miễn, Đỗ Đức Thu, nhà văn Đan Mạch Kelvin Lindermann, Nguyễn Hoạt, Vi Huyền Đắc, Phạm Trọng Nhân. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957 )

Tháng Tư-1958, Nhóm xuất bản một tập kỷ yếu viết bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp lấy tên  là Kỷ Yếu Bút Việt đồng thời cũng lựa dịch một số truyện ngắn Việt Nam ra tiếng Anh để gửi dự thi các truyện dịch do tạp chí văn chương Encounter của Anh quốc tổ chức. Nhóm cũng góp phần dịch truyện ngắn Việt Nam ra Anh ngữ để nhà xuất bản Western Printing and Lithographing Company ấn hành.

Khi số Hội viên đã lên tới 50 người, Nhóm đã thành lập một đoàn Chèo Cổ do Vũ Huy Chấn, Nhất Linh và Trần Tuấn Khải phụ trách.

Một ban Kịch cũng được thành lập do hai Kịch tác gia Vi Huyền Đắc và Vũ Khắc Khoan cùng  thi sĩ Vũ Hoàng Chương đảm trách.

Đã có các hoạt động kể trên tất phải đặt ra nhu cầu tài chánh, nhưng Cơ quan Văn Hóa Á Châu đã nhận  lời yểm trợ.

Ngày 29-5-1958, Nhóm đã triệu tập phiên họp Đại Hội Đồng để bầu cử Ban Chấp Hành mới.  Nhưng Đại Hội đã biểu quyết lưu nhiệm Ban Chấp Hành cũ ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa.

Quang cảnh phiên họp tại Trụ sở Bút Việt  ngày 29-5-1958. (Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957 )

° ° °

CHẤT VẤN ÔNG VIÊN LINH !

Phần trình bầy về ngày thành lập của nhóm Bút Việt đáng lẽ đến đây là chấm dứt, nếu không có lời nhận định sau đây của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm tạp chí Khởi Hành xuất bản ở Nam Cali :

"Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957, lúc ông Phạm Trọng Nhân làm lãnh sự tại Nhật, cuối cùng đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền."

Đoạn văn trên trích từ cuốn "Chiêu Niệm Văn Chương- Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ.", tác giả Viên Linh. Nhà Xuất Bản Khởi Hành ấn hành năm 2000", có thể tìm thấy ở nguồn: http://www.tanvien.net/Tribute_1/vhc_by_vienlinh.html

Đưa ra một chi tiết động trời như thế, nhưng ông Viên Linh không hề nêu được một bằng chứng nào cho thấy "Trung Tâm Văn Bút Việt Nam do bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng, cho kịp thời với Đại hội Văn Bút ở Tokyo vào năm 1957"

Ông Trần Kim Tuyến tài năng cỡ nào mà có thể khuynh loát được 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo trong đó có cả những bậc lão thành như : Đỗ Đức Thu, Vương Hồng Sển, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Tam Lang Vũ đình Chí, Tchya Đái Đức Tuấn, Đào Đăng Vỹ, Lê văn Siêu, Bùi Xuân Uyên (bút hiệu Hi Di, chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ ở Hà Nội trước 1954) ..v..v..

Tôi chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng bằng cớ về chuyện này.

Ông còn nêu cái ý  rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến thúc đẩy thành lập để chống Cộng.

Xin hỏi, chẳng lẽ 19 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo có mặt trong nhóm sáng lập Văn Bút không có ai chống Cộng hay sao mà lại phải nhờ ông Trần Kim Tuyến "thúc đẩy" ! Vậy ai đã thúc đẩy họ chạy từ Bắc vô Nam sau Hiệp định Genève ? Lại cũng ông Trần Kim Tuyến chăng ?

Vả chăng việc thành lập Hội Văn Bút đâu có phải chỉ vì mục đích chống Cộng. Nhiều hội viên trong tổ chức Văn Bút Quốc Tế  lại chính là các nước Cộng Sản như Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư….thì chống Cộng ở cái chỗ nào ? Đã từng là Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại, hẳn ông Viên Linh phải hiểu rõ Hiến Chương của Văn Bút. Tôi nhắc lại, đó là :

"Các thành viên của PEN phải luôn luôn sử dụng những ảnh hưởng của mình để thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xua tan những hận thù chủng tộc, giai cấp, hận thù quốc gia và đấu tranh cho lý tưởng một nhân loại sống trong hòa bình trên thế giới.

  PEN ủng hộ nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và trong mọi dân tộc. Các thành viên của PEN tự cam kết phản đối mọi hình thức đàn áp tự do ngôn luận trong nước hay trong cộng đồng của mình.

....v..v…

Chính những lý tưởng cao quý này của Văn Bút Quốc Tế mà các văn  gia miền Nam mới tụ họp nhau bàn thảo để xin gia nhập chứ chẳng phải vì có mỗi một mục đích "chống Cộng’ như Viên Linh nói, mặc dù chỉ với những lý tưởng cao đẹp như thế thì cũng đã đương nhiên là "chống Cộng" rồi.

Viết lách như thế mà cũng đã có thời ông Viên Linh làm Chủ tịch Văn Bút Hải Ngoại thì kể cũng lạ !

Rồi lại còn kinh khủng hơn nữa khi ông giáng một đòn búa tạ nặng nề lên tổ chức Văn Bút VN bằng một câu ngắn gọn : "…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam]  đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền."

Thật là chuyện động trời !

Có thực Việt Cộng đã điều hành Trung Tâm Văn Bút VN trước 1975 qua bàn tay của LM Thanh Lãng và GS Phạm Việt Tuyền hay không ?

Tính cho đến năm 1975, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã có gần 200 hội viên mà danh sách sẽ in trong phần sau, tuy chưa đầy đủ.

Xin hỏi ông Viên Linh, "bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền" lông lá cỡ nào mà khuynh loát được cả gần 200 hội viên để đến nỗi Trung Tâm Văn Bút đã trở thành công cụ cho Việt Cộng điều hành.

Tất nhiên ông Viên Linh sẽ nêu bằng cớ là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã can thiệp cho cây bút nằm vùng Vũ Hạnh bị bắt được thả ra. Nhưng nếu chỉ có một chuyện đó thôi mà đã la lên là Văn Bút đã do Việt Cộng điều hành thì thái độ cầm bút đó là hết sức hàm hồ, là vu cáo, là  thiếu sự  ngay thẳng khi cầm bút. Sự bịa đặt  lớn lối và đầy vô trách nhiệm này đã ngồi xổm lên công luận trong nhiều năm ròng rã kể từ khi LM. Thanh Lãng lên làm Chủ tịch Văn Bút đồng thời sổ toẹt mọi công lao đóng góp cho nền Văn Hóa Miền Nam của biết bao nhiêu Hội viên Văn Bút trong thời gian ấy.

Về chuyện Văn Bút can thiệp cho Vũ Hạnh tôi sẽ phân tích thêm ở phần sau, nhưng tôi lại chính thức yêu cầu ông Viên Linh trưng thêm bằng cớ về sự buộc tội  của ông rằng : "…cuối cùng [Trung Tâm Văn Bút Việt Nam]  đã do Việt Cộng điều hành, qua bàn tay Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền."

Và một câu cũng trích ra từ bài nói trên của ông Viên Linh :

"Ông (tức LM.Thanh  Lãng) đã được Hà Nội thu dụng làm việc tiếp ở Đại học Văn khoa; và Phạm Việt Tuyền thì bận rộn đặt bàn giấy đăng ký các "nhà văn Ngụy", trước khi chịu nhục không nổi, phải bỏ Sài Gòn chạy qua Pháp. "

Xin ông Viên Linh cho biết GS Phạm Việt Tuyền đặt bàn giấy đăng ký các "nhà văn Ngụy" tại địa điểm nào, thời điểm nào ở Sài Gòn và xin nêu vài tên tuổi nào của những "nhà văn Ngụy" đã trực tiếp ghi danh tại bàn giấy của GS. Phạm Việt Tuyền.

Nếu không trả lời được những câu hỏi này tức là ông đã xuống tay độc ác với chính đồng nghiệp của mình bằng sự bịa đặt và do đó không biết chính ai sẽ là người chịu nhục đây ?

Một cựu Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại viết không nương tay, vô bằng cớ để  hạ gục một cựu Tổng Thư Ký Văn Bút trước 1975 vốn đã dầy công lao đóng góp cho Văn Bút  thời đương nhiệm thì  không biết vì lý do gì nếu không phải đó chỉ là sản phẩm của một ngòi bút có lúc đã  thiếu lương tâm của người cầm bút.

Nhưng dù là với lý do nào thì khi phê phán cũng phải dựa trên sự thực. Sự phê phán hay tố cáo mà không dựa trên sự thực thì chỉ là vu cáo. Người đời thường mà đặt chuyện vu cáo thì cũng đã là tệ lắm rồi, huống hồ lại ở trong văn giới và trong cùng một tổ chức cầm bút với nhau.

Nhiều người chủ quan cứ tưởng rằng khi hạ bút xong thì rồi sẽ có thể phủi tay. Phủi tay thì dễ nhưng giấy mực còn đó. Và làm sao xóa được những tài liệu vu khống hay gian dối khi chúng sẽ còn tồn tại mãi trong các thế hệ về sau.

ĐIỀU LỆ hay còn gọi là NỘI QUY của BÚT VIỆT

Mặc dù lúc ban đầu Nhóm Bút Việt chủ trương :

" Nhóm không phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có chủ trương cương lĩnh hoặc đường lối nhất định nào hết. Nó không phải là một văn đoàn, văn phái. Cũng không phải là  một hội ái hữu.  Bút Việt chỉ là một câu lạc bộ của các nhà cầm bút muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến về sáng tác, về công phu tìm hiểu cũng như công phu giới thiệu".

Nhưng khi đã trở thành một tổ chức hoạt động có giấy phép chính thức thì Nhóm phải soạn thảo Nội Quy để đính kèm đơn xin phép theo luật định. Do đó trong Nghị Định số 111-BNV-/NA/P5 mới có câu như sau :

"Nhóm Bút Việt, danh hiệu quốc tế P.E.N Việt Nam, trụ sở đặt tại số 25 đường Võ Tánh Sài Gòn, được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam đúng với bản Điều Lệ của Hội đã được duyệt y (đính theo Nghị định này).

Dưới đây là nguyên văn Bản Điều Lệ (tức Nội Quy) của Nhóm Bút Việt đã in trong cuốn Niên Giám Văn Nghệ Sĩ và Hiệp Hội Văn Hóa Việt Nam (1969-1970) do Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa in năm 1970.

ĐIỀU-LỆ NHÓM  BÚT- VIỆT

I – DANH-HIỆU  MỤC-ĐÍCH  TRỤ-SỞ

Nay thành lập một tổ chức lấy tên là NHÓM BÚT-VIỆT quốc tế P.E.N.(Poets Playwrights, Essayists, Editors, Novelists) Việt-Nam gồm có các nhà thơ, nhà văn, soạn giả, kịch tác gia, tiểu thuyết gia, các chủ bút và ký giả báo chí và tất cả những nhà khảo cứu và trước- thuật văn- học.

Các dịch giả cũng có thể được nhận là Nhóm viên. Nhóm (BÚT-VIỆT P.E.N.Việt-Nam) chỉ có mục- đích văn chương thuần túy nhằm đạt cứu cánh là xúc tiến sự hợp tác thân hữu giữa các nhà văn trong nước và các nhà văn Việt-Nam với các nhà văn ngoại quốc để trao đổi văn chương, tư tưởng, thực hiện tự-do phát- biểu và thắt-chặt thiện-chí quốc-tế trong lãnh vực văn-học, triết-lý và nghệ-thuật. NHÓM BÚT-VIỆT được phép triển khai hoạt động về mọi phương diện miễn là các hoạt động đó phải phù hợp với tôn-chỉ nói trên, nhưng bất cứ trong trường hợp nào Nhóm không được làm chính trị.

Trụ-sở của nhóm đặt tại số 25 đường Võ-Tánh Saigon (Đây chỉ là địa chỉ mượn khi nạp đơn xin phép)

II – ĐIỀU-KIỆN NHẬP NHÓM

Muốn vào Nhóm phải là người có tên tuổi trong làng Văn. Ban Chấp Hành sẽ được ủy nhiệm của Nhóm để quyết-định về điều-kiện gia nhập. Tuy nhiên, Ban Chấp Hành sẽ không thể từ chối một văn-gia, thi-sĩ hoặc tác-giả nào mà năng-lực đã được công nhận nếu người đó theo tôn chỉ của Nhóm. Các phần tử trong Nhóm phải công nhận những nguyên tắc ghi trong Bản Điều-Lệ của Tổ-chức P.E.N. quốc tế, những nguyên tắc này đã được thông qua trong Hội-nghị Quốc-tế Copen -hague(1948) như sau :

- Tổ chức P.E.N. xác nhận rằng :

  1. Văn-chương dù xuất- xứ có tính cách quốc-gia nhưng không có biên giới và phải được trao đổi giữa các quốc-gia mặc dầu các quốc-gia đó trải qua nhiều cuộc thăng-trầm về phương diện chính-trị hay quốc-tế.
  1. Trong mọi hoàn cảnh và nhất là trong thời chiến, không nên để cho những phong trào quốc-gia hay chính-trị xâm phạm tới các tác-phẩm văn-nghệ là tài sản của nhân loại nói chung.
  1. Các hội-viên của P.E.N. lúc nào cũng phải dùng hết ảnh hưởng của mình để làm tăng sự hiểu biết và sự tương trọng giữa các quốc-gia, họ nguyện sẽ cố gắng phá bỏ các mối hiềm khích chủng-tộc, giai-cấp và quốc-gia, tranh đấu để bảo vệ lý tưởng của một nhân loại sống trong hòa-bình, trong một thế-giới duy-nhất.
  1. Hội P.E.N. chủ- trương nguyên-tắc truyền-bá tư-tưởng trong quốc-gia và giữa các quốc-gia, và các Hội viên nguyện sẽ phản đối mọi hình thức đàn-áp trong xứ sở và trong đoàn thể của họ. Hội P.E.N. tuyên bố ủng- hộ tự-do báo-chí và phản đối sự kiểm-duyệt độc đoán trong thời bình. Hội tin rằng vì thế giới cần tiến bộ để đạt tới trật tự hoàn mỹ hơn về chính-trị và kinh-tế nên cần phải có sự tự-do chỉ trích các Chính-phủ, các Cơ-quan hành chính và các tổ chức. Vì tự-do có nghĩa là tự kiềm-chế, các Hội-viên tự-nguyện đả phá những tệ-đoan mệnh danh là tự-do báo-chí để đăng những tin giả-dối, cố ý loan tin nhảm và xuyên-tạc sự thực vì những mục đích chính-trị và tư-lợi.

Tất cả các văn-sĩ, chủ-bút và dịch-giả đã chấp thuận những tôn-chỉ trên đều có thể được nhận là Hội-viên của Hội P.E.N., không phân biệt quốc-tịch, chủng-tộc, màu da hay tôn-giáo.

III -  NIÊN- LIỄM

Những người sáng lập Nhóm phải đóng 300$ tiền niên-liễm. Phần-tử thường phải đóng 100$ tiền vào  Nhóm và 300$ tiền niên-liễm.

Tán-trợ-viên phải đóng 1000$ một năm.

IV – VIỆC ĐÓNG TIỀN NIÊN-LIỄM

Tiền niên-liễm phải đóng vào ngày 15 tháng 9 mỗi năm, nếu một trong sáu tháng không đóng tiền sẽ đương-nhiên mất quyền trong Nhóm. Ban Quản-trị có quyền tái nhận khi xét thấy sự chậm trể đóng tiền niên-liễm có lý-do xác-đáng.

V -  NHỮNG NGƯỜI MỚI VÀO NHÓM CHẬM ĐÓNG TIỀN NIÊN-LIỄM

Một người mới vào Nhóm nếu không đóng tiền niên-liễm nội trong 6 tháng kể từ ngày được nhận vào Nhóm thì sự gia-nhập Nhóm sẽ coi như không có, trừ trường hợp người đóng cho Ban Chấp-Hành biết rõ lý-do chính đáng của sự chậm đóng tiền. Như người nào được nhận vào Nhóm sau ngày 15 tháng 6 mỗi năm thì không phải đóng tiền niên-liễm năm đó.

VI – NHẬN NGƯỜI VÀO NHÓM

  1. a) Tên, địa chỉ và thành-tích văn-học của từng người xin nhập Nhóm phải được ghi vào giấy gia-nhập. Người đó phải được hai người cũ giới thiệu. Những người giới thiệu phải biết rõ người xin gia-nhập Nhóm, phải ký vào giấy xin gia-nhập, phải ít nhất đã đọc một tác-phẩm của người xin gia-nhập hoặc có thể phúc-trình về những thành-tích, những cống-hiến văn-học của người xin gia-nhập.

Mỗi người xin gia-nhập Nhóm phải được đa số chấp-nhận trong một buổi họp Ủy-ban Chấp-Hành trong đó phải có ít nhất 5 người tới dự và quyết định của đa số đó sẽ được coi là tuyệt-đối, người nào không được chấp-nhận trong buổi họp Ủy-ban không được bầu cử lại vào Nhóm trước khi hết hạn 6 tháng sau ngày bị loại.

  1. b) Các văn-sĩ, chủ-bút, ký-giả, dịch-giả từ các nước khác đến thăm Việt-Nam có thể tạm thời được nhận là người trong Nhóm Bút-Việt trong thời gian lưu-trú trong nước và có quyền dự các cuộc sinh-hoạt thường trực hoặc bất thường của Nhóm nhưng không có quyền biểu quyết.

VII – DANH-DỰ-VIÊN

Ban-Chấp-Hành có thể tùy theo trường hợp mời những nhân vật mà Ban xét ra xứng đáng làm những Danh-Dự-viên. Danh-Dự-viên không bắt buộc phải đóng tiền niên-liễm.

VIII -  XIN RA NHÓM

Người nào cũng có thể xin ly-khai Nhóm bằng cách viết thư báo cho Tổng-thư-ký. Các giấy báo xin ra Nhóm sẽ được coi như có hiệu-lực kể từ ngày Đại-hội-đồng thường-niên (sẽ họp vào một ngày trong thượng tuần tháng 10 dl. mỗi năm).

IX – SỐ LƯỢNG VÀ THÀNH-PHẦN BAN CHẤP-HÀNH

Việc quản trị Nhóm BÚT-VIỆT Trung-tâm Việt-Nam của Văn-Bút Quốc-tế (P.E.N. INTERNATIONAL) sẽ được trao cho một Ủy-ban Chấp-Hành gồm có :

- 1 Chủ-tịch.

- 2 Phó Chủ-tịch.

- 1 Tổng Thư-ký.

- 1 hay 2 Thư-ký.

Những người này làm việc thường trực và là nhân-viên viên-chức của Nhóm, ngoài ra Ban Chấp-Hành còn gồm thêm 16 nhân-viên khác trong Nhóm do toàn thể bầu ra.

Phải có 5 nhân-viên trong Ủy-Ban Chấp-Hành mới có đủ số quyết định. Ủy- Ban Chấp-Hành được quyền tuyển cử ủy-viên khi có chỗ khuyết trong khi chờ đợi Hội-đồng.

X – BẦU CỬ ỦY BAN CHẤP-HÀNH

  1. a) Hàng năm 4 nhân-viên trong Ban Chấp-Hành theo thứ tự thâm niên sẽ rút lui và sẽ không có quyền tái cử trước thời hạn một năm.
  2. b) Trong mỗi kỳ Đại- hội thường-niên, 4 nhân-viên sẽ được bầu ra thay thế những người đã rút lui.
  3. c) Cuộc bầu cử nhân-viên mới (4 người) theo bản b sẽ như sau:

Mỗi người trong Nhóm có quyền đề cử một hay nhiều ứng-cử-viên được người đó ưng thuận, tên của ứng-cử-viên được đề cử sẽ được gửi tới Tổng-Thư-ký ít nhất là 7 ngày trước Đại-hội-đồng thường niên. Danh-sách các ứng-cứ-viên sẽ được niêm yết trước ngày Đại-hội 3 ngày và  người trong Nhóm theo danh sách này mà lựa chọn đủ số 4 người vào chỗ khuyết của Ban Chấp-Hành. Nếu số ứng-cử-viên không đủ thì Ban Chấp-Hành tuyển cử ủy-viên vào chỗ khuyết. Nếu đã được bầu rồi mà ứng-cử-viên từ chối không chịu nhận việc thì ứng-cử-viên có số phiếu  nhiếu nhất liền sau sẽ được bầu. Nếu 1 hay nhiều ứng-cử-viên có số phiếu ngang nhau, Ban Chấp-Hành bỏ thăm để lựa chọn số người cần thiết cho đủ số Ủy-viên.

XI – LÁ PHIẾU QUYẾT ĐỊNH

Trong những trường hợp mà Ủy-ban chia đôi số phiếu ngang nhau vị Chủ-tịch hay Phó Chủ-tịch nếu vị trên vắng mặt, thêm vào lá phiếu mà vị đó đã bỏ với danh nghĩa một nhân viên của Ủy-ban, sẽ bỏ lá phiếu quyết định.

XII - ỦY-VIÊN VẮNG MẶT

Bất cứ nhân-viên nào của Ủy-ban mà vô cớ vắng mặt suốt ba phiên họp liền của Ủy-ban sẽ vì thế mà không được kể là Hội-viên nữa.

XIII – CÁC TIỂU BAN

Ủy-ban có quyền tuyển lựa các tiểu-ban khi cần thiết, Ủy-ban đã được ủy-nhiệm quyền lực sẵn có của mình cho tiểu-ban này.

XIV – ĐẠI HỘI-NGHỊ BẤT THƯỜNG

Đại hội-nghị bất thường của Nhóm Bút-Việt sẽ nhóm họp khi Ủy-ban thấy cần.

XV – BÁ-CÁO TẠI ĐẠI HỘI-NGHỊ THƯỜNG-NIÊN

Một bản tóm tắt các sổ sách kế-toán đã được kiểm-soát trong năm trước sẽ được gửi tới từng người trong Nhóm ít nhất 7 ngày trước Đại Hội-Nghị thường niên.

XVI – SỬA ĐỔI ĐIỀU-LỆ

Tại Đại Hội-nghị thường niên, Hội-viên nào cũng có quyền đưa ra đề-nghị sửa đổi một Điều-lệ hay Nội-quy, nhưng đề-nghị đó sẽ không được phép đưa ra nếu không gửi một bản đến Tổng-thư-ký trước 7 ngày.

XVII – HẠNH-KIỂM CỦA CÁC HỘI-VIÊN

Nếu phần-tử nào mà Ủy-ban hay bất cứ một Hội-viên nào thuộc Nhóm Bút-Việt (P.E.N.VIỆT-NAM) viết giấy chứng nhận là có hạnh-kiểm làm tổn thương đến đặc-tính và quyền-lợi của Nhóm thì Ủy-ban được quyền ngưng sự tham dự của người đó vào Nhóm và yêu cầu người đó xin ra Nhóm. Nếu sau khi nhận được giấy báo một tháng mà đương- sự vẫn không chịu xin ra Nhóm, Ủy-ban sẽ được quyền xóa tên người đó trong danh-sách Nhóm và người bị xóa tên sẽ không còn là người của Nhóm BÚT-VIỆT nữa. Nhưng người đó chỉ phải ra khi quyết-định đó được chấp thuận bởi đa số ít nhất là hai phần ba số nhân-viên của Ủy-ban hiện diện tại phiên họp với mục đích cứu xét về hạnh-kiểm của người nói trên. Nếu trong phiên-họp Ủy-ban đã được triệu tập riêng với mục đích trên, hai phần ba số hội-viên nghĩ rằng đặc-tính và quyền lợi của Nhóm đòi hỏi phải trục xuất ngay người có hạnh-kiểm đáng ngờ đó và chấp thuận quyết-định trục-xuất thì ngay tức khắc Ủy-ban được phép trục- xuất phần tử đó, nhưng khoản này không cho phép được đưa vào các ý-kiến chính-trị hay sự ngoại giao về chủng-tộc của người bị chỉ-trích làm lý do chính đáng để trục-xuất họ.

XVII – CÁC PHIÊN HỌP

Ủy-ban sẽ quy định địa điểm và thời gian cho các bữa hay các cuộc hội họp khác.

XIX – VỀ NHỮNG SỰ LỢI DỤNG DANH NGHĨA NHÓM

Nhóm Bút-Việt không thể chia lời, chia tiền thưởng, tiền hoặc phụ cấp cho bất cứ người nào trong Nhóm. Không người nào trong Nhóm đã là Danh-dự-viên hoặc Hoạt-động-viên có thể lấy danh nghĩa Nhóm Bút-Việt và Tổ chức P.E.N. để dùng vào các việc có tính cách thương mại hoặc tuyên-truyền cá nhân. Lợi dụng sẽ là lý do để bị trục-xuất ra khỏi Nhóm. Tuy nhiên muốn đi tới sự trục xuất ít nhất vẫn phải có đa số phiếu trong phiên họp Ủy-ban Chấp-Hành và phải có mặt ít nhất 7 nhân-viên trong tổng số 20 nhân-viên Ban Chấp-Hành.

XX – TRÁCH-NHIỆM VÀ QUYỀN-HẠN CỦA NGƯỜI TRONG NHÓM

Trách nhiệm của Ủy-ban Chấp-Hành và của người trong Nhóm là đóng tiền niên-liễm và gánh vác phần việc của mình trong mọi tổ chức khi được phân công bởi  Ban Chấp-Hành.

Người trong Nhóm Bút-Việt đương nhiên là Hội-viên của tất cả các trung tâm P.E.N. khác trên thế giới.

Saigon, ngày 21 tháng 8 năm 1947

Điều-lệ này được duyệt-y do Nghị-định số 111 BNV/NA.P5  Ngày 21-10-57 của Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ

DANH-SÁCH BAN SÁNG-LẬP

- Bà MỘNG-TUYẾT

- Ô. VƯƠNG-HỒNG-SỂN

- THUẦN-PHONG

- LÊ-NGỌC-TRỤ

- VI-HUYỀN-ĐẮC

- ĐỖ-ĐỨC-THU

- NGUYỄN-HOẠT

- NHƯ-PHONG

- LÊ-VĂN-SIÊU

- ĐÁI-ĐỨC-TUẤN

- VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG

- BÙI-XUÂN-UYỂN

- PHẠM-TĂNG

- HOÀNG-ĐÌNH-LƯỢNG

- PHẠM-VIỆT-TUYỀN

- MAI-XUYÊN

 

HỘI VIÊN VĂN BÚT

Hầu hết các hội viên Văn Bút đều sinh hoạt ở Sài Gòn, tuy nhiên ở rải rác các tỉnh nhất là Huế, Đà Lạt thì vẫn có Hội viên Văn Bút cư ngụ. Thành phần các hội viên rất đa dạng, bao gồm đủ mọi bộ môn cầm bút như Thơ, Văn, Biên khảo, Phê bình văn học kể cả ký giả báo chí…. tổng cộng có tới gần  200 hội viên.

Tuy nhiên  hầu như chưa có một dịp nào Văn Bút quy tụ được đông đủ hội viên cùng họp mặt dù là ở  phiên Đại Hội đồng thường niên. Lý do: nhiều vị ở xa, cũng có nhiều vị bận quân vụ hay công tác nên không thể về họp được mặc dù vẫn gửi giấy Ủy quyền để tham gia Bầu cử.

Sau đây là danh sách hội viên Văn Bút tính tới năm 1972:

1) Đỗ Đức Thu. 2) Vương Hồng Sển. 3) TCHYA Đái Đức Tuấn. 4) Vi Huyền Đắc. 5) Phạm Việt Tuyền. 6) Nguyễn Hoạt. 7) Vũ Hoàng Chương. 8) Xuân Nhã. 9) Hi Di Bùi Xuân Uyên. 10) Nghiêm Xuân Việt. 11) Thanh Lãng. 12) Nhất Linh Ng Tường Tam. 13) Tương Phố. 14) Mộng Tuyết. 15) Đông Hồ Lâm Tấn Phác. 16) Hà Thượng Nhân. 17) Như Phong. 18) Mai Xuân Đỗ Thúc Vịnh. 19) Lê Ngọc Trụ. 20) Nhật Tiến. 21) Nguyễn Hữu Ngư. 22) Nguyễn Thị Vinh. 23) Trương Bảo Sơn. 24) Nguyễn Thành Vinh. 25) Trực Ngôn. 26) Lê Văn Hoàn. 27) Minh Đức Hoài Trinh. 28) Vũ Hạnh. 29) Lê Thanh Thái. 30) Bùi Đình Ng Xuân Viên. 31) Thu Vân. 32) Trịnh Huy Tiến. 33) Châm Vũ Nguyễn Văn Tần. 34) Bàng Bá Lân. 35) Thanh Vân.36) Võ Lang Đinh Phú Vũ. 37) Huỳnh Thiên Kim. 38) Nguyễn Thanh Cầm. 39) Dưỡng Châu Trần Đình Khải. 40) Trương Xuân Miên. 41) Huy Lực. 42) Hà Thành Thọ. 43) Đào Đăng Vỹ. 44) Nguyễn Khang. 45) Lê Tất Điều. 46) Vương Đức Lệ. 47) Ngô Thế Vinh. 48) Phạm Đình Tân. 49) Võ Phiến. 50) Trần Phong Giao. 51) Hoàng Xuân Việt. 52) Hồ Hữu Tường. 53) Anh Tuyến. 54) Phạm Trường Xuân. 55) Bình Nguyên Lộc. 56) Minh Quân. 57) Đại Đức Thích Thiện Ân. 58) Tuệ Mai. 59) Lê Minh Ngọc. 60) Đặng Trần Quân. 61) Nguyên Sa. 62) Kiều Mộng Thu. 63) Nguyễn Duy Diễn. 67) Nguyễn Đình Toàn. 68) Phổ Đức. 69) Hoàng Hương Trang. 70) Nguyễn Tuấn Phát. 71) Lệ Khánh. 72) Nguyễn Thị Thụy Vũ. 73) Hoàng Ngọc Liên.74) Phạm văn Khanh. 75) Cô Liêu Vũ Đình Lưu. 76) Nguyễn Trọng. 77) Nghiêu Đề. 78) Thạch Hà Võ Sum. 79) Trương Ngọc Hơn. 80) Trần Đại. 81) Du Tử Lê. 82) Minh Viên. 83) Nguyễn Ngọc Lương. 84) Hào Nguyên Nguyễn Hóa. 85) Lê Quang Hương. 86) Lê Quang Nghiêm. 87) Trần Trọng San. 88)Túy Hồng. 89) Bùi Hoàng Thư. 90) Nguyễn Duy Phương. 91) Trần Nhã. 92) Nghiêm Xuân Thiện. 93) Nguyễn Hữu Trọng. 94) Dương Kiền. 95) Giang Kim. 96) Hoàng Văn Đức. 97) Duyên Anh. 98) Phan Thăng. 99) Trần Đồng Vọng. 100) Vũ Tiến Phúc. 101) Phạm Trọng Nhân. 102) Đặng Đức Côn. 103) Dương Đình Khuê. 104) Vũ Hối. 105) Võ Văn Khoa. 106) Nguyễn Văn Trung. 107) Hoài Khanh. 108) Phạm Phú Thông. 109) Võ Hồng. 110) Trần Châu Hồ. 111) Lương Trọng Minh. 112) Phan Du. 113) Nguyễn Vạn An. 114) Nguyễn Hoàng Thanh Minh. 115) Phong Trần Tiến. 116) Lê Văn. 117) Võ Thế Nhi. 118) Đỗ Tiến Đức. 119) Thảo Trường. 120) Trương Quý Lâm. 121) Hà Bỉnh Trung. 122) Diễm Châu. 123) Trần Tuấn Nhậm. 124) Chu Tử. 125) Thế Nguyên. 126) Tú Kếu Trần Đức Uyển. 127) Nhã Ca. 128) Trần Dạ Từ. 129) Nguyễn Hữu Đông. 130) Đỗ Quý Toàn. 131) Lương Minh Đức. 132) Nguyễn Văn Xung. 133) Toan Ánh. 134) Nguyễn Văn Hàm. 135) Thùy Dương Tử. 136) Cao Thế Dung. 137) Khải Triều. 138) Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương. 139) Đông Xuyên. 140) Đỗ Phương Khanh. 141) Bùi Kim Đĩnh. 142) Tường Linh. 143) Nguyễn Nghiệp Nhượng. 144) Nguyễn Hữu Nhật. 145) Bồ Đại Kỳ. 146) Thanh Việt Thanh. 147) Tam Lang Vũ Đình Chí. 148) Nguyễn Văn Hảo. 149) Liêu Quốc Nhĩ. 150) Mai Anh Lê Đình Bay. 151) Trùng Dương. 152) Lê Văn Chính. 153) Nguyễn Khắc Ngữ. 154) Phan Tùng Mai. 155) Trương Đình Cử. 156) Sơn Nam Phạm Minh Tày. 157) Lê Ngộ Châu. 158) Thi Đại Chí. 159) Kiên Giang Trương Khương Trinh. 160) Lê Thành Trị. 161) Thu Nhi 162) Thùy Dương 163) Phương Lan 164) Mỹ Linh  165) Giáng Kiều 166) Như Hiên.

(danh sách này chưa cập nhật  những năm 1973, 1974, 1975)

Chương II

Những Sinh Hoạt Của Trung Tâm Văn Bút


A/  Tập san TIN SÁCH

Tin Sách 1960, GS Nguyễn Ngọc Phách chủ trương biên tập GS Nguyễn Ngọc Linh sáng lập.

Tin Sách từ 1962 đến 1967 Trung Tâm Văn Bút  chủ trương

Tin Sách là một tập san ra định kỳ của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

Thoạt tiên nó là một nguyệt san chuyên loan tin về Sách do sáng kiến của GS Nguyễn Ngọc Linh thành lập và do bào đệ của ông là GS Nguyễn Ngọc Phách chủ trương biên tập. Số 1 ra vào tháng I -1960 nhưng đến tháng 7 -1962 thì báo được  nhượng lại cho Trung Tâm Văn Bút phụ trách.

Trong Tập San Văn Bút số 3, ra tháng I-1972 có ghi lại như sau:

Ban quản nhiệm Tin Sách của Văn Bút gồm có: Chủ nhiệm: Phạm Việt Tuyền, Quản Lý: Nguyễn văn Giậu (cho đến hết tháng 7-1964), Huỳnh Thiên Kim (từ tháng 8-1964 cho đến khi đình bản).Thư Ký tòa soạn: Trần Phong giao (cho đến hết tháng 2-1964), Nguyễn Ngu Í (từ tháng 3-1964), Lê Phương Chi tức Lê Thanh Thái (từ tháng 8-1964), Phổ Đức (từ tháng 6-1967 cho đến khi đình bản vào tháng 2-1968 sau biến cố Mậu Thân).

Sau này, vào năm 1971,Trung Tâm Văn Bút xuất bản một tập san khổ lớn, dầy 200 trang lấy tên là VĂN BÚT với nhóm điều hành gồm có : Chủ Nhiệm: Phạm Việt Tuyền, Chủ Biên : Vũ Hạnh, Thư Ký Tòa Soạn: Lê Thanh Thái, Quản Lý: Lê văn Tuyến, tòa soạn đặt tại 25-27 Võ Tánh Sài Gòn. Nội dung  của tập san Văn Bút mà ban Biên tập muốn thực hiện bao gồm những tiết mục chính như :

1- QUAN ĐIỂM VỀ CÁC VẤN ĐỀ VĂN-HÓA, những vấn đề hoặc nóng bỏng sát với thời sự, hoặc thiết thực liên quan các giới văn chương nghệ thuật, hoặc quan trọng đối với dân tộc mà vì một lý do nào đó không được xã hội lưu tâm.

2 – ĐOẢN TÁC VĂN CHƯƠNG CHỌN LỌC : Những đoản tác này là thi ca , truyện ngắn, đoản kịch, tùy bút.. v.v…là những sáng tác, mà cũng có thể là những áng thơ văn được chọn lọc và phiên dịch.

3 – NGHIÊN CỨU HAY PHÊ BÌNH VĂN HỌC – Phần lớn sẽ là những bài giới thiệu hay phê bình các sáng tác ( như thơ, kịch, tiểu thuyết ) mới xuất bản.

4 – SINH HOẠT VĂN NGHỆ - Phần này sẽ cố gắng phản ảnh các sinh hoạt tiêu biểu thuộc đủ loại văn nghệ. Các sinh hoạt xuất sắc về điện ảnh, kịch trường, âm nhạc, hội họa ..v..v..sẽ được nhắc tới.

5 – THƯ TỊCH – Phần này sẽ cống hiến bản giới thiệu vắn tắt các sách mới xuất bản, việc mà trước đây mấy năm Trung Tâm Văn-Bút Việt-Nam đã làm với nguyệt san TIN SÁCH.

6 – TIN TỨC VĂN-BÚT QUỐC NỘI VÀ QUỐC TẾ - Phần này sẽ cố gắng loan báo các tin tức không những của Trung Tâm Văn-Bút Việt-Nam và của Hội Văn-Bút Quốc Tế, mà cả những tin tức văn bút ở bên ngoài nữa.

(VĂN BÚT- Số 1-Tháng 11-1971-

Lời Chào bạn đọc )

B/  Tác phẩm dịch ra ngoại ngữ.

- Năm 1958 : Văn Bút xuất bản một tập san với 3 ngôn ngữ Việt-Anh-Pháp đồng thời tiến hành chương trình phiên dịch các tác phẩm VN ra ngoại ngữ, khởi đầu bằng những cuốn: Bướm Trắng của Nhất Linh, Đứa Con của  Đỗ Đức Thu, Thành Cát Tư Hãn kịch của Vi Huyền Đắc và một số truyện ngắn.

- Năm 1961 (tháng 2): Phát hành tập san 3 thứ tiếng Việt-Anh-Pháp lấy tên là "Việt Nam P.E.N  Bulletin" nội dung có vài đoản tác quốc tế dịch ra tiếng Việt và năm truyện ngắn tiếng Việt dịch ra tiếng Anh hay tiếng Pháp.

- Năm 1961 (tháng 12) Xuất bản tập san " Việt Nam P.E.N Review".

- Năm1962: Gửi Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế ở La Mã một "memorandum" về vấn đề phiên dịch  và gửi một "memorandum" về lịch sử biến đổi của văn học Việt Nam tới Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu tại Baguio.

- Năm 1962: Dịch ra tiếng Pháp một tuyển tập gồm các truyện cổ và một số truyện ngắn để gửi cho UNESCO (Cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc) để vận động xuất bản.

- Năm 1963: Hoàn thành việc phiên dịch ra Pháp ngữ một tuyển tập gồm:

* 8 truyện cổ: Dưa Hấu, Hà Ô Lôi, Chử Đồng Tử, Chùa Hoang Đông Trào, Người thiếu phụ Khoái Châu, Cây Gạo, Giấc mơ trước đền Hạng Vương, Trà đồng của Ngọc Hoàng Thượng Đế.

* 9 truyện ngắn: Chữ viết của người tử tù của Nguyễn Tuân, Ma Đậu của Bùi Hiển, Nhà mẹ Lê của Thạch Lam, Cái Tẩy của Nhất Linh, Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc, Người quân tử của Linh Bảo, Hai chậu lan tố tâm của Phan Du, Cái Kiến của Nhật Tiến, Xa Gần của Tường Hùng.

Tuyển tập này gửi đi ngày 12-3-1963 để nhờ Hội Văn Bút Quốc Tế trụ sở trung ương ở Luân Đôn và Tổ chức Văn Hóa Liên Hiệp Quốc để vận động xuất bản.

* Ngoài ra, Ban Thường Vụ còn chọn và dịch một số thơ, văn gửi sang Phi Luật Tân để góp vào Tuyển tập Thơ Văn Á Châu.

- Năm 1965: Chọn một số thơ và truyện ngắn dịch ra Anh và Pháp văn để xuất bản dưới nhan đề : "Poems and Short Stories"

- Năm 1971: Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Á Châu và Thái Bình Dương xin được trích lại hai truyện ngắn của Minh Quân và Nhật Tiến đã dịch và in trong tập "Poems and Short Stories"

C/ Tham dự các  Hội Nghị Quốc Tế.

Tháng 9-1957, Nhóm vận động thành lập Bút Việt tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29 được tổ chức tại Đông Kinh, Nhật Bản. Phái đoàn gồm có : Đỗ Đức Thu, Tchya Đái ĐứcTuấn, Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Hoạt và Hoàng Đình Lượng. Đề tài thảo luận của Hội nghị : The Reciprocal Influences of the Literature’s of the East and the West.

 Tháng 7-1960 : Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 31 ở Rio de Janeiro, Brasil. Phái đoàn gồm có nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và  nhà thơ Hà Thượng Nhân. Đề tài của Hội nghị: An Interchange of Evaluations of the Cultures of East and West, and of National and International Literature.

Tháng 6-1964 :  Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 32 ở Oslo-Na Uy. Phái đoàn gồm có LM. Thanh Lãng và Phạm  Việt Tuyền. Đề tài thảo luận của Hội nghị: The Writer and Semantics Literature as Concept, Meaning and Expression.

Tháng 11-1964 : Tham dự Hội Nghị Thơ Văn Á Châu kỳ 2 tại Vọng Các Thái Lan. Phái đoàn gồm có : Vũ Hoàng Chương, Phạm Việt Tuyền và Minh Đức Hoài Trinh.

Tháng 6-1965: Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 33 ở Bled, Nam Tư. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương tham dự. Đề tài thảo luận của Hội nghị: The Writer and Contemporary Society

Tháng 6-1966: Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 34 ở New York, Hoa Kỳ. Phái đoàn chính thức gồm có Phạm Việt Tuyền (Tổng Thư Ký), Nghiêm Xuân Việt (Ủy viên phiên dịch). Minh Đức Hoài Trinh (tự nguyện tham dự)  và Thu Vân (quan sát viên, khi đó đang ở Hoa Kỳ). Đề tài thảo luận của Hội nghị: The Writer As Independent Spirit.

Tháng 8-1967 : Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 35 ở  Abidjan (Côte d’Ivoire). Phái đoàn chính thức gồm có Vũ Hoàng Chương (Chủ tịch), Nghiêm Xuân Việt (Ủy viên phiên dịch) và Minh Đức Hoài Trinh (từ Âu Châu tự nguyện sang tham dự). Đề tài thảo luận của Hội nghị: Legends and Mythologies As A Source of Inspiration in Arts and Literature;  Men Between Two Languages; Traditional Values in Societies Undergoing Social Transformation.

Tháng 9-1968: Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 36 ở  Menton (Pháp Quốc). Phái đoàn chính thức gồm có Bàng Bá Lân (Phó Chủ tịch), Phạm Việt Tuyền (Tổng Thư Ký), Nghiêm Xuân Việt (Thư ký). Các văn hữu tự túc: Nguyễn văn Trung, Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường. Đề tài thảo luận của Hội nghị: Literature in the Age of Leisure.

Tháng 6-1970 : Tham dự Hội Nghị Thơ Văn Á Châu tại Đài Loan từ 15 đến 21-6-1970.

Tháng 7-1970: Tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 37 ở  Soul (Nam Hàn) từ 27-6 đến 5-7-1970. Đề tài thảo luận của Hội nghị: Humour in Literature – East and West.

Phái đoàn tham dự cả hai Hội nghị này, kể cả đại biểu chính thức lẫn đi tự túc gồm có :  Phạm Việt Tuyền, Nghiêm Xuân Việt, Nguyên Sa, Bùi Xuân Uyên,  Xuân Nhã, Nguyễn thị Hoàng, Võ Phiến, Lương Minh Đức, Lê văn Hoàn, Đỗ Quý Toàn, Anh Tuyến, Trần Đồng Vọng, Huy Lực Bùi Tiến Khôi.

D/Tổ chức các buổi Nói Chuyện Văn Chương

Hội Bút Việt cũng tổ chức nhiều buổi nói chuyện về Văn học-Nghệ thuật, thí dụ trong năm 1958 có vài buổi như Ông Vũ Huy Chấn, trong ban Chèo Cổ Đào Duy Từ thuyết trình về Chèo Cổ, nhà báo Phạm Việt Tuyền nói về  "Vấn đề nghiên cứu Văn Hóa Á Châu với ý thức hệ Dân tộc", nhà thơ Vũ Hoàng Chương nói về  "Giấc mộng giải thoát của Thi nhân". Khi Hội chưa có trụ sở riêng khang trang thì các buổi nói thường được tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ hay Hội trường của Đại Học Văn Khoa, còn những năm về sau thì các buổi nói chuyện hàng tháng được tổ chức tại trụ sở của Hội ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

Trong gần 20 năm sinh hoạt, Văn Bút đã tổ chức nhiều cuộc nói chuyện về văn học nghệ thuật.

Để biết các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo dưới thời VNCH (54-75) nghĩ, nói và thảo luận những vấn đề gì...xin liệt kê như sau:

Vi Huyền Đắc : nói về Kịch (8-8-1961).

Thanh Lãng: Thái độ của giới sản xuất và giới tiêu thụ cái đẹp trong văn chương. (1-10-1961)

Nguyễn văn  Trung: Nhà văn và chữ viết

( 19-11-1961).

Vũ Hạnh : Hoàn cảnh sáng tác và điều kiện sống hiện thời của văn nghệ sĩ.  (17-12-1961)

Đông Hồ : Tôi làm Thơ  (18-2-1962)

Thu Vân : Tùy bút với phụ nữ (4-3-1962)

Nhật Tiến: Một vài nhận xét về tình trạng bế tắc trong ngành tiểu thuyết hiện nay" ( 15-4-1962)

Phạm Việt Tuyền : Hoàng Quang: một xử sĩ, một chứng nhân hay một lính chí nguyện. (1-7-1962)

Doãn Quốc Sỹ: Nét sầu và niềm tin trong thi ca Việt Nam (5-8-1962)

Cô Liêu: Tìm hiểu một vài quan niệm về tiểu thuyết (16-9-962)

Anh Tuyến : Một vài nhận xét về văn chương bình dân miền Nam.

(11-11-1962)

Vương Hồng Sển : Thử kể lại chuyện Thuyết Đường buổi Mạt Tùy theo trí nhớ. (16-2-1962).

Nguyễn đình Toàn: Người viết, người đọc và nhân vật tiểu thuyết trong khoảng mươi năm gần đây. (20-1-1963)

Vũ Hạnh : Mặc cảm trong văn nghệ  (24-2-1963)

Hiếu Chân-Nguyễn Hoạt: Nhân vật tiểu  thuyết và lịch sử trong truyện Trung Hoa (31-3-63)

Quỳ Hương:  Tâm hồn phụ nữ qua thi ca Việt Nam. (28-4-1963)

Trần Phong Giao: John Steinbeck, giải thưởng Nobel 1961 (26-5-1963)

Nguyễn Trọng: Nghề thông tin viên ở ngoại  quốc.

Phạm Việt Tuyền : Vài nhận xét về báo chí Anh (1-12-1963)

Trương Bảo Sơn : Triết lý tuyệt hảo trong cuộc đời của Nhất Linh (29-2-1963)

Nguyễn Duy Diễn: Chân dung của Nhất Linh trong cuộc đời và vai trò của Nhất Linh trước văn học sử. (26-1-1964)

Minh Đức Hoài Trinh: Sinh hoạt văn nghệ Việt Nam tại Paris. (1-3-1964)

Nguyễn Ngu Í: Vài nét về sự nghiệp, cuộc đời và cái chết của nhà văn Lê văn Trương. (26-4-1964)

Châm Vũ Nguyễn văn Tần: Hai trào lưu cực đoan trong văn học cận đại Nhật Bản. (31-5-1964)

Vũ Hạnh: Cái hậu trong tác phẩm  văn chương Việt Nam. (28-6-1964)

Vũ Hoàng Chương: Tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Du (tháng 10-1964)

Quỳ Hương: Thế giới của Thi nhân (tháng 1-1965)

Hoàng Xuân Việt: Ý thức hệ với văn nghệ. (đầu tháng 3-1965)

Hồ Hữu Tường: Phiếm luận về văn chương.(cuối tháng 3-1965)

Châm Vũ Nguyễn văn Tần : Đường lối giáo dục dân tộc của Nhật Bản ( 22-8-1965)

Vũ Hạnh : Trường hợp hai Nguyễn Du của Đoạn Trường Tân Thanh (5-9-1965)

Du Tử Lê : Máu lửa trong Thơ (24-10-1965)

Lê Tất Điều: Nụ cười trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. (22- 2-1966)

Minh Đức Hoài Trinh: Trách nhiệm nhà văn (3-4-1966)

Hoàng Hương Trang : Mầu sắc và vần điệu. (15-5-1966)

Phạm Việt Tuyền : Trương Minh Ký trong văn học thế kỷ XIX (4-9-1966)

  1. Erhard Stadler: Réflexions sur la poésies de Johann Volfgang Van Goethe (6-11-1966)

Tuệ Mai Trần thị Gia Minh: Chân dung tình yêu trong một số tiểu thuyết hiện đại (19-2-1967)

Thanh Lãng : Người 67 nhìn vào Phê bình 67 (23-4-1967)

Vi Huyền Đắc : Một cuộc đàm thoại về Kịch (28-5-1967)

Châm Vũ: Vài nét về thơ Hai-Kai và thi bá Ba Tiêu (16-7-1967)

  1. Bửu Dưỡng: Nguyên nhân đau khổ trong truyện Thúy Kiều (20-8-1967)

Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường : Tưởng niệm cố văn hữu Tchya Đái Đức Tuấn (22-9-1968)

Nghiêm xuân Việt : Hội thoại nêu vấn đề Văn chương để phụng sự hòa bình và nhân phẩm theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (29-12-1968)

Nguyễn văn Trung: Hội thoại nêu vấn đề Văn chương dấn thân (24-4-1969)

Hoàng Hương Trang: Hội thoại nêu vấn đề Người phụ nữ trong văn chương và cuộc đời (21-5-1969)

Phạm Việt Tuyền : Hội thoại nêu vấn đề Văn chương ở thời đại nhàn rỗi (16-7-1969)

là đề tài sẽ hội thảo ở Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần 36 ở Pháp.

Vũ Tiến Phúc : Tư tưởng chính trị trong tục ngữ ca dao Việt Nam (2-2-1969).

Phạm Việt Tuyền : Đông Hồ Nhà thơ.-Đỗ Châu Huyền, Trần đình Lập (sinh viên) : Đông Hồ Nhà giáo. Tưởng niệm Đông Hồ Lâm Tấn Phác tại Đại học Văn Khoa (27-4-1969)

Trần Đồng Vọng: Thơ hôm nay với Thơ thời cuộc (15-6-1969)

Đàm Quang Thiện: Thi sĩ Tchya Đái Đức Tuấn - nhân Giỗ đầu (7-9-1969)

Thanh Lãng-Thanh Vân-Bàng Bá Lân-Phạm Việt Tuyền: Văn chương ở thời đại nhàn rỗi (đề tài đã thảo luận ở Văn Bút Quốc Tế lần 36 ngày 21-9-69  tại Menton- Pháp) – Ngày 26-10-1969.

Bình Nguyên Lộc: Truyện ngắn, Tân truyện, Tiểu thuyết (23-11-1969)

Quỳ Hương : Hoa bút về ngôi (8-3-1970)

Phạm Việt Tuyền: Hội thoại nêu vấn đề (18-3-1970) Những vấn đề đặt trước các nhà văn Á Châu hôm nay. (đề tài tại Hội Nghị Thơ Văn Á Châu tại Đài Bắc - tháng 6-1970)

Vũ Hạnh: Nghĩ về một số hiện tượng trong sinh hoạt văn nghệ hiện nay (12-4-1970)

Dương đình Khuê : Vài nhận xét về loại truyện dị thường của Tây Phương và Việt Nam (17-5-1970)

Anh Tuyến : Chỗ đứng của Cải Lương trong  văn hóa Việt Nam (2-6-12970)

Nguyễn thị Hoàng : Nghĩ về văn hóa Việt Nam hiện tại (16-8-1970)

Phương Đài: Thử nhìn vào sinh hoạt Thơ hôm nay (25-12-1970)

Nguyên Sa: Hội thoại nêu vấn đề

Thế nào là một Nhóm văn chương (18-11-1970)

Toan Ánh : Cái xấu của người đẹp (17-12-1970)

Cao Thế Dung: Hội thoại nêu vấn đề Văn nghệ và Văn nghệ Nhà Nước (23-12-1970)

Phạm Việt Tuyền : Một khám phá về Huỳnh Thiên Kim (16-5-1971)

  (khai trương hội trường tại trụ sở mới 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn)

Tam Lang Vũ đình Chí: Sự thai nghén và hình thành các tác phẩm của Tam Lang (20-6-1971)

Vũ Hạnh : Văn hóa và Mạo hóa (25-7-1971)

Sơn Nam : Lục Tỉnh Tân Văn và phong trào Duy Tân ở Miền Nam hồi 1908 (8-8-1971)

Phạm Việt Tuyền: Những suy tư về 50 năm văn học thế giới (1921-1971)

Tại Hội nghị Văn Bút Quốc Tế Ireland-Tháng 9-1971 (24-10-1971)

° ° °

Sau đây xin trích lại phần tường thuật của một vài buổi còn lưu giữ được trên báo chí.

Nhà văn Cô Liêu thuyết trình về Tiểu Thuyết tổ chức tại trường Âm Nhạc và Kịch Nghệ Quốc gia, sáng chủ nhật 16-9-1962. Nhà báo Nguiễn Ngu Í tường thuật trên báo Bách Khoa:

Tìm hiểu một vài quan niệm về Tiểu Thuyết

Nguiễn Ngu Í

Cô Liêu là nhà văn thứ ba lên diễn đàn để đặt lên bàn mổ bộ môn đặc biệt nhất của văn học: bộ môn tiểu thuyết. Trước ông - và cũng vẫn do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam tổ chức - đã có Nhật Tiến xét về "Sự bế tắc trong ngành xuất bản tiểu thuyết", đã có Vũ Hạnh bàn về "Hoàn cảnh sáng tác hiện thời của nhà văn Việt Nam".

Và cũng như hai lần trước, lần này người đến nghe khá đông. Phải chăng đây là một bằng chứng là hễ cái gì dính dáng đến tiểu thuyết thì công chúng chẳng thờ ơ, nhất là giới học sinh và sinh viên?

Mở đầu diễn giả cho rằng "trong bộ môn tiểu thuyết, những điểm được người ta chú ý đến bây giờ là tìm những tiêu chuẩn để xác định thế nào là một cuốn truyện hay. Liên lạc đến vấn đề truyện hay là một số vấn đề khác, như tính chất trường cửu và tính chất thời đại của truyện, vấn đề nghệ thuật vị nhân sinh, vấn đề liên lạc giữa kẻ viết và người đọc v.v..."

Và thế nào là một truyện hay, ông đưa ra quan niệm trước thời..."Tố Tâm" ra đời: vai chính phải là người ngoại hạng, trọng nghĩa khinh tài, hào hoa phong nhã, đó là về phái nam, còn phái nữ thì nếu không là hạng chìm đáy nước cá lừ đừ lặn thì cũng là hạng tay kiếm tay cờ, hoặc đủ cả hiếu trung tiết nghĩa.

Quan niệm dùng tiểu thuyết để chuyên chở đạo đức này, có người phản đối, vì không phản ảnh đời sống thực tại. Nhưng theo ý diễn giả thì "những con người ngoại hạng tiêu biểu cho nguyên ủy đời sống xã hội, là những phản ảnh chân thành và cụ thể nhất của xã hội bất cứ thời nào (vì đạo lí vẫn là nền tảng tinh thần trên đó xây xã hội ngày nay). Con người như vậy là con người trừu tượng hay được trừu tượng hóa, gọt gạnh trơn tru hết khía cạnh thường tình, xa cách con người thực tế, mà chính vì thế người xưa mới cho là đáng chép thành truyện....."

Phản ứng lại, người ta để cho những nhân vật có tài có sắc hoặc có đức vẹn toàn gặp những bước gian truân để gây những xúc động mạnh, để "khích động thất tình".

Rồi đến quan điểm đòi hỏi những xúc cảm nhẹ nhàng hơn, tinh vi hơn, kín đáo hơn, cái mà khoa tâm lí học gọi là mĩ cảm.

Ba phái trên đây đều có những người cực lực binh vực, không phái nào đồng ý với phái nào, điều mà diễn giả cho thế cũng là điều hay, có thể vườn văn nghệ mới "nẩy nở cả trăm hoa, mỗi hoa một vẻ và cũng có thể đẹp trong vẻ riêng của nó."

Tiểu thuyết ngày nay nói đến rất nhiều khía cạnh của cuộc đời, một nhà viết tiểu luận Pháp đề nghị chia tiểu thuyết làm bốn loại: tiểu thuyết  tình, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết phóng tác khoa học. Diễn giả có ý đổi tên loại đầu ra: tiểu thuyết nhân tình thế sự.

Để tìm hiểu thế nào là một truyện hay, ta có thể chỉ cần chú trọng nhất vào những điểm sau đây:

- giá trị mĩ cảm

- chủ ý của tác giả

- giá trị của những chủ ý đó

- tác giả có đạt được ý muốn không?

Văn nghệ tiền chiến sống cái thời đại của mình, tích cực và mãnh liệt. Một số văn phẩm đã chịu đựng được sự thử thách của thời gian và được thế hệ hậu chiến chú ý.

Văn nghệ ngày nay hình như không chú trọng đến những vấn đề của thời đại một cách thiết tha như văn nghệ tiền chiến. Cơ cấu xã hội chuyển biến, mà tâm tình con người cũng thế.

Diễn giả đặt câu hỏi: "những cái muôn thuở của con người, của xã hội nếu được khai thác đúng, sâu, có làm thành cái hay của tiểu thuyết không? " Dĩ nhiên là yếu tố nghệ thuật phải có để tác phẩm sống với thời gian.

Và một văn phẩm phản chiếu rõ rệt những ước vọng, băn khoăn của thế hệ, nói lên tâm sự của con người thời đại, miêu tả đủ cạnh khía những thực trạng của cuộc sống hiện tại và nêu lên những vấn đề của thời đại....., là tấm gương phản chiếu bóng mình mới làm người đọc cùng thời ưa chuộng.

Rồi diễn giả nói đến việc phê bình và chống hẳn đường lối phê bình hẹp hòi, dạy nhà văn viết văn, phê bình sẽ thiếu sót biết bao nếu chỉ chú trọng đến sự uốn nắn tác phẩm vào khuôn khổ những tiêu chuẩn quen thuộc, hoặc chỉ chú trọng đến sự phân tích tâm lí.

Và trong phần kết luận, ông nhấn mạnh "Văn nghệ cần hoạt động trong tinh thần khai phóng, cởi mở để khai thác những phần tốt đẹp nhất của những tâm hồn phong phú. Cái nhìn đượm một thứ tinh thần hệ thống, một thứ tinh thần công thức tạo thành một phong thế sinh hoạt bưng bít, không đường lối thoát ".

Nguiễn Ngu Í

Linh Mục Thanh Lãng thuyết trình về đề tài

"Nhà văn cũng là một sứ giả gửi một thông điệp đến độc giả"

( tại Trường Quốc Gia Âm  Nhạc và Kịch Nghệ.)

Xin coi bài tường thuật dưới đây:

Trích Hồi Ký Bà Tùng Long, Chương 8:

 NHỮNG KỶ NIỆM VỚI LÀNG BÁO SÀI GÒN.

Sau này có lần một bà bạn rủ tôi đi nghe một buổi diễn thuyết về đề tài: "nhà văn cũng là một sứ giả gửi một thông điệp đến độc giả". Diễn đàn là linh mục Thanh Lãng, Hội Văn bút tổ chức. Lúc ấy Phạm Việt Tuyền làm Chủ tịch (chú thích của Nhật Tiến : Ông  Phạm Việt Tuyền chưa bao giờ là Chủ tịch Văn Bút). Thính giả toàn là hội viên của hội Văn Bút cùng một nhóm sinh viên học sinh của các ông Thanh Lãng, Việt Tuyền, và một số nhà văn, nhà báo.

Khi ngồi vào chỗ, chị bạn của tôi, chị Nghệ, một nữ trí thức từng làm chính trị vừa ở Pháp về, nói với tôi:

- Mình không ngờ được dự một buổi nói chuyện lý thú, xem thử họ nói cái gì.

Trong bài diễn thuyết của mình, Thanh Lãng đã đi đến một kết luận đề cao vai trò của nhà văn: Một nhà văn là một sứ giả gởi một thông điệp đến cho độc giả khắp nơi. Vì thế vai trò của nhà văn là một sứ mạng cao quí.

Quanh vấn đề này, nhiều người được mời lên phát biểu ý kiến. Toàn là những ông có cấp bằng cao, viết những quyển sách triết học hay những tác phẩm bình luận khó hiểu. Rồi bỗng trong đám thính giả ngồi ở hàng ghế sau cùng, một sinh viên ở một phân khoa nào đó nói giọng Bắc xin lên phát biểu ý kiến. Cậu ta khen những sách lý luận cao siêu và chê các nhà văn tiểu thuyết ở Sàigòn lúc bấy giờ, và nêu tên Dương Hà, Trọng Nguyên và… bà Tùng Long.

Thật bất ngờ! Cậu ta bảo tôi không biết một chữ Pháp nào và chỉ nghe người ta kể các chuyện tiểu thuyết Tây rồi viết lại. Viết như vậy thì tại sao lại có báo chịu mua đăng, có độc giả chịu khó đọc?

Chắc khi nói cậu ta không ngờ trong đám thính giả lại có bà Tùng Long. Trong số người có mặt, còn có Nguyễn Hữu Ngư, nhà văn cộng tác với báo Bách Khoa (ký hiệu Nguyễn Ngu Í) và cũng là đồng nghiệp cùng dạy trường Tân Thịnh với tôi. Nguyễn Hữu Ngư dạy Sử Địa, còn tôi thì dạy Việt văn và Pháp văn. Cũng có cả Trần Dạ Từ, chồng của Nhã Ca, đang là phóng viên Đài phát thanh Việt Nam lúc bấy giờ, ngồi ở hàng ghế đầu và đang thu thanh buổi diễn thuyết cho đài.

Cậu sinh viên này vừa nói xong thì ông Nghiêm Xuân Việt, một luật gia và cũng là một giáo sư trường Đại học Luật khoa, liền đứng ra trả lời vì ông có tên trong Hội Văn Bút và cũng là nhóm tổ chức cuộc diễn thuyết ngày hôm ấy.

Ông Việt cao giọng tán thành ý kiến của sinh viên nọ là nên đọc những sách thuộc loại nghiên cứu, sách có giá trị văn chương do những nhóm gọi là uyên bác cao thâm sáng tác, bởi họ mới thật là những sứ giả gởi đi các thông điệp cho quốc dân đồng bào. Còn loại sách nhảm nhí như sách của các tác giả mà cậu sinh viên nọ vừa nói xong thì có quyền đừng đọc đến.

Ông Việt vừa nói xong thì Nguyễn Hữu Ngư và Trần Dạ Từ đều quay xuống nói với tôi (khi tôi vào giảng đường trường Quốc Gia Âm Nhạc họ có thấy và có chào):

"Chị cứ để đó, tụi nầy sẽ lên trả lời cho chị".

Nhưng tôi đã đứng lên và lên chỗ bàn thư ký để xin ghi tên phát biểu. Lúc ấy Minh Đức Hoài Trinh ngồi ghi. Minh Đức nhìn tôi cười, còn chị Nghệ thì nói:

- Chị không soạn bài mà dám phát biểu ngay à? Tôi thì không có tài ấy đâu.

Tôi cười và chờ đến phiên mình lên phát biểu. Không chờ đợi, tôi được mời lên ngay, vì ai chớ Phạm Việt Tuyền hay Minh Đức Hoài Trinh thì có lạ gì tôi. Phạm Việt Tuyền cùng dạy ở trường Tân Thịnh với tôi, và khi Phạm Việt Tuyền làm tờ Tự Do thì chính anh đã mời tôi giúp cho một tiểu thuyết và tôi đã viết chuyện Gió Ngàn Phương (đã xuất bản trước 1975).

Tôi còn nhớ rõ hôm ấy tôi mặc bộ áo dài trắng (tôi luôn mặc áo dài trắng khi đi dạy, khi đến các tòa soạn báo hay đi dự lễ hội, dự hội nghị), và sự hiện diện của tôi trước micro đã gây cho hội trường một sự ngạc nhiên, nhất là khi Phạm Việt Tuyền trịnh trọng giới thiệu tôi là một cây bút có nhiều tác phẩm cộng tác với nhiều tờ báo hằng ngày và làm thư ký tòa soạn cho tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn, cộng tác với báo Văn Nghệ Tiền Phong và còn là giáo sư dạy ở các trường tư thục.

Hội trường bỗng im bặt và chờ tôi phát biểu. Đầu tiên tôi cảm ơn ban tổ chức cho phép tôi có cơ hội lên để nói vài ý nghĩ thô thiển, và tôi thành thật cám ơn cậu sinh viên vừa phát biểu đã nói đến tôi. Trong đời tôi, chê tôi cũng quí như khen vì giúp tôi có kinh nghiệm tốt hơn khi sử dụng ngòi bút.

Xong tôi đi ngay vào đề tài của Thanh Lãng, một nhà văn là một sứ giả gởi thông điệp đến mọi người. Nhưng sứ điệp ấy phải như thế nào để mọi người dù tầng lớp nào cũng có thể đọc hiểu được thì mới có thể tiếp nhận. Chứ những quyển sách viết quá cao, đầy triết lý sâu xa thì đâu phải ai cũng có thể tiếp nhận một cách vui vẻ và nồng nhiệt. Tôi nói tiếp:

"Tôi không có khả năng để viết những loại sách cao siêu, cao thật cao ấy (và tôi giơ tay lên ra dấu khỏi đầu) nhưng tại sao tôi lại chấp nhận số phận của người cầm bút? Tôi có đọc một đoạn văn trên một tờ báo Pháp thấy có một nhà văn nam nào đó tuyên bố rằng: "Nếu tôi có một ngai vàng thì tôi sẵn sàng đổi nó để tìm hiểu tâm lý phụ nữ". Như thế thì tôi, một phụ nữ, tại sao không viết để nói lên tâm lý của phụ nữ? Vì tôi đã trải qua thời kỳ niên thiếu dưới mái ấm gia đình của cha mẹ, bên các em thân yêu, tôi đã từng là một thiếu nữ, tôi hiểu những ước muốn, những buồn vui của giới thiếu nữ, của tuổi mới lớn. Tôi đã từng là một người vợ, một người mẹ. Tôi hiểu tâm sự của người vợ khi gặp cảnh ngộ ngang trái, khi sống trong hạnh phúc, khi nuôi dạy các con, và hiểu những đòi hỏi của các con mình. Tôi lại còn là một cô giáo từng đứng trên bục giảng và tìm hiểu những đôi mắt thơ ngây, vô tư của lũ học trò đang muốn gì, ao ước được những gì. Vì những ước mong thế đó mà tôi mạnh dạn cầm bút. Nói rằng tôi không biết một tiếng Pháp nào, chỉ nghe người ta kể chuyện trong các quyển tiểu thuyết Pháp rồi viết lại, thì nếu được như vậy kể ra tôi cũng có chút tài cỏn con nào đó, vì tôi kể chuyện như vậy mà vẫn có người đọc, người nghe, nhà báo chấp nhận mời viết thì thật là chuyện lạ trên đời phải không các bạn? Về chuyện tôi có đọc được sách Pháp hay không, lúc nãy qua lời giới thiệu của anh Phạm Việt Tuyền chắc các bạn cũng hiểu là lời chỉ trích kia có đúng hay không, tôi không cần đính chính. Nhưng tôi không dám tự phụ mà nói lên rằng thông điệp của tôi gửi cho phụ nữ, cho các bà mẹ, cho các học sinh chắc chắn là được đón nhận. Nếu không vậy làm sao tôi viết, làm sao có người thuê tôi viết? Nói lên cái tâm lý của phụ nữ vì mình là một phụ nữ, tôi đã mạnh dạn nhận lấy vai trò của tôi, một phụ nữ".

Chỉ có năm phút để phát biểu nên tôi kết luận:

- Qua số thư từ tôi nhận được hằng ngày trong đó phần đông là thư của bạn gái, kế tiếp là thư của độc giả nam, của học sinh sinh viên, tôi chỉ lấy làm lạ là tại sao ông Nghiêm Xuân Việt lại có thể nói rằng những cuốn sách viết dở của các nhà văn như bà Tùng Long, Dương Hà, Trọng Nguyên thì vứt đi đừng đọc là xong. Riêng tôi, gặp một quyển sách ở tầm tay, đọc qua nếu là dở tôi vẫn cố gắng đọc cho hết để thấy nó dở chỗ nào. Một nhà văn ở châu Âu đã viết: "Trong một quyển sách dở vẫn có thể tìm thấy một câu hay hoặc một ý kiến khá".

Tôi cảm ơn thính giả, ban tổ chức và đi xuống trong tiếng hoan hô vỗ tay của cả thính đường. Khi đi ngang qua hàng ghế của Nguyễn Hữu Ngư và Trần Dạ Từ, cả hai đứng lên nói: "Hoan hô chị Tùng Long!".

Tôi ngừng lại và nói: "Cảm ơn các anh đòi trả lời cho tôi, nhưng mà chuyện của tôi để tôi nói là phải".

Sau đó Phạm Việt Tuyền lên nói tiếp lời tôi và kết luận:

"Không phải ai gửi thông điệp cũng có người nhận. Ngay Đức Giáo Hoàng gửi thông điệp cho toàn giáo dân trên thế giới mà vẫn còn có người không chịu tiếp nhận nữa thì sao?".

Buổi nói chuyện kết thúc lúc 7 giờ tối. Chị Nghệ và tôi ra đường đứng đón taxi về nhà thì ông Nghiêm Xuân Việt chạy theo mời để ông được lấy xe đưa chúng tôi về nhà.

Chị Nghệ vốn có quen với ông Việt liền nhận lời ngay, và tôi xin đỗ xuống đầu hẻm Chu Mạnh Trinh để ông Việt còn đưa chị Nghệ về đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Nguyễn Văn Đậu ở Bình Thạnh).

Tôi ít có thì giờ để theo dõi chương trình phát thanh của đài, nhưng sau đó anh Quốc Phong, chủ nhiệm báo Tiếng Vang mà tôi cộng tác, gọi điện thoại cho tôi và nói:

- Đêm qua cháu gái ở nhà nghe đài đến đoạn nói về buổi diễn thuyết của Thanh Lãng có nêu lời phát biểu của chị, nó gọi tôi đến nghe và tôi thật vui mừng thấy chị đã trả lời thật hay và xác đáng.

Tôi cũng cảm thấy vui vui là mình đã có dịp nói lên mục đích viết văn của mình. Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi. Ngay khi được báo Saigon Time (Thời báo Sài Gòn) phỏng vấn, tôi cũng đã nói tôi viết văn là để nuôi con. Khi nào các con tôi trưởng thành, đứa lớn lo được cho đứa nhỏ thì tôi sẽ nghỉ viết.

Nhưng việc ấy rồi cũng qua đi trong ngay tuần lễ sau đó vì tôi quá bận rộn với công việc dạy học, viết báo. Nào ngờ sau đó vài tuần, vào một buổi tối, ông Nghiêm Xuân Việt đã tìm đến nhà tôi và đưa cho tôi xem số Bách Khoa mới ra, trong ấy có bài chính ông ta viết để xin lỗi về những lời của ông phát biểu trong cuộc diễn thuyết, vô tình đã nói những lời xúc phạm đến tôi.

Sau đó tôi mới biết chính ông ta là giáo sư giảng dạy cho con trai tôi Nguyễn Đức Lập đang học năm thứ ba ở Đại học Luật khoa – nhưng việc này ông ta không biết và tôi cũng không cần nói làm gì, vì sau lần gặp gỡ nầy tôi không còn lần nào khác có dịp gặp ông ta.

Nguyễn Hữu Ngư (tức Nguyễn Ngu Í) làm ở tòa soạn báo Bách Khoa sau đó gặp tôi, tôi có hỏi bộ anh chỉ nhà cho ông Việt hay sao mà ông ta biết vậy? Nguyễn Hữu Ngư cười hì hì và nói:

"Chị ở cư xá Chu Mạnh Trinh ai mà không biết, chị không đọc bài báo của Duyên Anh sao? Duyên Anh nói anh ta ở cư xá Chu Mạnh Trinh, cái rốn của vũ trụ".

Tôi hỏi:

- Tại sao lại là cái rốn của vũ trụ?

- Là vì ở cái cư xá này có lắm nhân tài.

- Ai là nhân tài vậy?

Nguyễn Hữu Ngư chỉ tôi và nói:

"Duyên Anh kể : Phạm Duy bên lô E cùng với Hồ Anh chủ nhiệm báo Văn Nghệ Tiền Phong. Lô C thì có Năm Châu cùng vợ là Kim Cúc. Lô B có Nguyễn Mạnh Côn, lô F có bà Tùng Long và chồng là thi sĩ Hồng Tiêu, Phan Quang Đán, Hoàng Nguyên, lô G thì có Hoàng Thi Thơ, Văn Quang. Như vậy không phải là cái rốn của vũ trụ là gì? Nơi đây hằng ngày tụ tập nào Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, các nhà văn, nhà báo, và các nghệ sĩ sân khấu, các nhạc sĩ…

Tôi nhún vai nói:

- Hân hạnh, hân hạnh. Nhưng nói lớn lối như vậy, chỉ tổ cho thiên hạ ghét.

Nguyễn Hữu Ngư là bạn vế vai em của tôi. Tôi thường gọi Ngư là chú, chú em, nhưng sau này các con tôi có đứa gọi Ngư là anh, vì Ngư cưới Thoại Dung, một cô bạn của cô gái lớn của tôi.

(Hồi Ký Bà Tùng Long, Chương 8:

NHỮNG KỶ NIỆM VỚI LÀNG BÁO SÀI GÒN)

E/ Tổ chức các Giải Văn Chương

 Văn Bút lập Giải Văn Chương kể từ năm 1964, công bố kết quả lần đầu năm 1965. Tất cả những tác phẩm trúng giải đều thuộc bản quyền của tác giả. Nếu Văn Bút có dự tính xuất bản thì sẽ thỏa  thuận điều kiện tác quyền với chính tác giả.

Thể loại TRUYỆN NGẮN 1965

Đầu tiên là thể loại Truyện ngắn (thời hạn từ 15 tháng 10-1964 đến 15-1-1965). Hội đồng Tuyển Trạch gồm có : Đỗ Đức Thu -Vi Huyền Đắc - Bình Nguyên Lộc - Võ Phiến - Nhật Tiến. Kết quả :

-Giải Nhất ( 15.000 $00 ) Những Ngày Cạn Sữa của Minh Quân.

- Giải Nhì (5.000 $00) Làng của Tường Linh   .

Các tác phẩm được khuyến khích :

- Cao Cả của Châm Vũ Nguyễn văn Tần.

- Trí thơ của BS. Lan Giao

- Tiếng Sấm Giao Mùa của Trần Thanh Diệu.

- Gắn Bó của Minh Tâm.

Những tác phẩm này đã được in trong tập Giải Thưởng Truyện Ngắn 1965 của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

GIẢI VĂN BÚT  1966 dành cho bộ  môn TRUYỆN DÀI:

Thời hạn dự thi từ 15-9-1965 đến 28-2-1966.

Tác phẩm duy nhất trúng giải :

Đêm Dài Một Đời của Lê Tất Điều.

GIẢI VĂN BÚT 1967 dành cho bộ  môn PHÊ BÌNH

Tác phẩm trúng giải là bản thảo nhan đề "Khảo luận về Hàn Mạc Tử" của Anh Đào, tên thật là NguyễnAnhg vốn có bút hiệu là Hoàng Diệp (một bạn văn của Hàn  Mặc Tử lúc thi sĩ còn sống).

GIẢI VĂN BÚT 1969 dành cho bộ  môn BIÊN KHẢO và PHÓNG SỰ:

Những tác phẩm sau đây đã được trao giải:

Biên Khảo :

- Tục Thờ Cúng của Ngư phủ tỉnh Khánh Hòa của Lê Quang Nghiêm.

- Nhật Bản Cách Ngôn Giải Nghĩa của Châm Vũ Nguyễn văn Tần.

Phóng Sự :

- Chợ trời biên giới của Lê Hương.

- Nhật ký quân trường của Trần Châu Hồ.

GIẢI VĂN BÚT 1970 dành cho bộ  môn THI CA

và NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ.

Những tác phẩm sau đây đã được trao giải:

Thi Ca:

- Sầu Tuổi Đá của nhà thơ Tường Linh.

- Trái Tim còn lại của Lâm Trường Dạ tức  Hoàng Lộc.

Nghiên cứu Lịch sử :

Chỉ có Giải khuyến khích dành cho cuốn Lịch sử người Việt tại Kampuchea Từ năm 1853 đến 1970. của Lê Hương.

Nhà văn Lê Hương là tác giả của nhiều cuốn biên khảo hầu hết là về người Miên. Gồm: Tự học chữ Miên (1963), Người Việt gốc Miên (1969), Tìm hiểu Angkor: (Đế Thiên Đế Thích) (1969), Sử Cao-Miên (1970), Chuyện thỏ khắp thế giới (1971), Truyện cổ Cao-Miên (1969), Truyện tích Việt-Nam (1984), Truyện vui quốc tế  (1984), Việt-kiều ở Kampuchéa (1997).

GIẢI VĂN BÚT 1971 dành cho bộ  môn SÂN  KHẤU

Hội đồng Tuyển Trạch gồm có : Vi Huyền Đắc, Tam Lang Vũ Đình Chí, Vũ Hoàng Chương, Vũ Hạnh, Kiên Giang Hà Huy Hà.

Kết quả chỉ có một giải độc nhất (100.000$00) dành cho vở kịch Bức Tranh Lõa Thể  của Kim Chi (bút hiệu khi dự thi của nữ nghệ sĩ Kim Cương).

GIẢI VĂN BÚT 1974 dành cho bộ  môn Truyện Dài.

Hội đồng tuyển trạch Giải Truyện Dài gồm có các nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Sơn Nam,  Nhật Tiến, Tam Lang  Vũ đình Chí, Phạm Việt Tuyền.

ĐƯỜNG MỘT CHIỀU, tác phẩm của nhà văn NGUYỄN MỘNG GIÁC đoạt giải Nhất cuộc thi  năm 1974 dành cho bộ môn TRUYỆN DÀI:

Trích bài tường thuật lễ phát giải của THẾ NHÂN trên tạp chí Bách Khoa:

Ngày 15-11-1974 hồi 6 giờ chiều, tại trụ sở Văn Bút ở Sài Gòn, đã tổ chức lễ phát giải thưởng Truyện Dài của Trung Tâm Văn Bút VN cho nhà văn Nguyễn Mộng Giác với tác phẩm Đường Một Chiều trước sự hiện diện của rất đông anh chị em văn nghệ sĩ và đại diện báo chí.

Lễ phát thưởng năm nay, đặc biệt không đặt dưới quyền chủ tọa của một vị đại diện chính quyền như các năm trước mà 3 vị hội viên cao niên nhất là nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, kịch tác gia Vi Huyền Đắc và nhà văn Tam Lang đã đồng chủ tọa buổi lễ....

Như thường lệ, L.M. Thanh Lãng, Chủ tịch T.T. Văn Bút VN đọc diễn văn khai mạc. Ông đã cảm ơn rất nhiều những vị thân hữu ân nhân đã vì lòng yêu văn hóa, không muốn thấy Văn Bút vì kiệt quệ tài chánh mà hủy bỏ Giải thưởng Văn Bút 74, cho nên đã tiếp tay cho Văn Bút để duy trì việc trao giải. Ông nói: " Vận mạng của Văn Bút gắn liền với vận mạng của Dân tộc, cho nên hễ Văn hóa mà hưng thì Dân Tộc cũng hưng, ngược lại nếu văn hóa mà mạt thì Dân tộc cũng mạt", và "từ hơn một năm nay Văn hóa đang lâm vòng mạt vận, đang thọ nạn." Do đó mà theo L.M. Thanh Lãng, hơn 80% nhà văn đã bỏ nghề.

Tiếp đó ông Phạm Việt Tuyền đại diện cho Hội đồng Tuyển trạch (gồm các nhà văn Nguyễn thị Vinh, Sơn Nam, Nhật Tiến, Tam Lang Vũ đình Chí và Phạm Việt Tuyền) nhận định về tác phẩm trúng giải. Ông cho biết đã có 3 tác phẩm được sự lưu ý đặc biệt của Hội đồng: Đốt lửa của Vương Long, Quốc lộ 13 của Tô Vũ, Đường một chiều của Nguyễn Mộng Giác, "cả ba đều phản ảnh những con người sống trong xã hội nước nhà ngày nay với cuộc chiến hiện tại".

Riêng về tác phẩm trúng giải  "Đường một chiều" ông cho rằng:

- Phần đông độc giả sau này chắc sẽ phải đọc một hơi từ đầu tới cuối cuốn tiểu thuyết như một số vị trong Hội đồng Tuyển trạch, bởi vì tình tiết rất hấp dẫn, với nhiều hiện tượng đột biến bất ngờ lúc xẩy ra nhưng khi đã xẩy ra thì không gây bỡ ngỡ vì nguyên nhân ngấm ngầm đã âm ỉ từ trước và khi xẩy ra thành sự kiện thực tế rồi thì vẫn còn tạo bâng khuâng triết lý như tách trà thơm ly rượu ngon đượm thêm tình nặng nghĩa sâu...

Một Thiếu tá chờ suốt mấy ngày ở sân bay gần mặt trận với bức điện tín vợ chết, không biết là tin thực hay giỡn? Về tới nhà gặp cô con gái riêng của vợ và lũ con dại ngây thơ trước bàn thờ vợ, mà vẫn chưa thể ngờ rằng vợ đã bị giết! Án mạng đã xảy ra do chính hạ sĩ Ninh người tài xế mà ông bà Thiếu tá vẫn thương như một người em. Thiếu tá Lộc hồi hộp trả lời những câu hỏi cung dồn dập gợi ra nhiều giả thuyết của một Trung úy Quân cảnh Tư Pháp! Sự thực sẽ sáng tỏ ra sao khi Thiếu tá Lộc từ chiến trường được trát đòi trở về lần sau để ra làm nhân chứng tại Tòa án mặt trận xử vụ hạ sĩ Ninh mưu toan hiếp dâm và cố sát bà Thiếu tá Lộc? Những khía cạnh bất ngờ do lời thú tội của Ninh, lời buộc tội của luật sư, những lời chứng khác biệt hay trái ngược nhau của các nhân chứng, tất cả chỉ cho thấy một chuỗi những sự kiện thực tế đã đôi phen đứt đoạn và gây hoang mang cho Thiếu tá Lộc cũng như cho cô con gái riêng của bà Lộc, là Ly, 14 tuổi, người độc nhất chứng kiến màn bi kịch Ninh giết bà lộc! Phiên tòa sôi nổi kéo dài còn phải gác lại tới hôm sau thì, đêm ấy, bất ngờ Ninh tự sát trong lao, khiến công tố quyền tiêu diệt giữa phiên tòa họp lại buổi sáng hôm sau! Và, sau khi được cha kế báo tin vào buổi trưa là Ninh đã tự tử, Ly đã đột ngột bỏ nhà trốn đi lúc vừa dứt giới nghiêm sáng ngày hôm sau nữa, để vương lại trong tủ áo xáo trộn một mẩu giấy nháp nhật ký ghi việc "chú Ninh" đã tặng Ly một cuốn "Hình như là tình yêu."

Câu chuyện chấm dứt chơi vơi, gợi cho người đọc thấy con đường một chiều mà Ninh và nhiều người vô tình tự ý hay bị xô đẩy đi vào, đồng thời cũng nêu cho người ta hiểu rằng con đường một chiều không thể giải thích hay phê phán theo một chiều cố định nếu người ta muốn không phủ nhận các thực tế phũ phàng và vươn tới chân lý cứu rỗi!".

Ông Phạm Việt Tuyền còn phân tích cặn kẽ về tâm lý nhân vật về phương diện triết lý cũng như về giá trị đạo đức của tác phẩm trúng giải, để sau cùng cảm ơn tác giả đã cống hiến một truyện hay, xuất sắc.

Nhà thơ lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải, râu tóc bạc phơ mà còn quắc thước, đại diện Chủ tọa đoàn, trao tặng cho nhà văn Nguyễn Mộng Giác giải thưởng duy nhất Truyện dài năm 1974 của Văn Bút là một chi phiếu 150.000 đồng.

Khi được mời phát biểu cảm tưởng, tác giả Đường Một Chiều đã nói lên nỗi xúc động của mình khi được tin trúng giải và thích thú nhận ra niềm thông cảm cởi mở giữa thế hệ các nhà văn trong Hội đồng tuyển trạch của Văn Bút và thế hệ các cây bút trẻ hôm nay. Ông nói:

- Nhân vật của tôi không thở cùng một không khí với nhân vật các vị trong ban tuyển trạch.  Nhân vật của quí vị thoải mái, tự tin. Nhân vật của tôi hoang mang quờ quạng không biết được phía sau lẫn phía trước. Tuy vậy, tôi vẫn được quí vị công nhận. Điều đó cải chính định kiến vẫn hằng ám ảnh dai dẳng sinh hoạt văn học Miền Nam chúng ta, là sự phân ly giữa trẻ và già".

Nguyễn Mộng Giác đã kiểm điểm tâm cảnh của những nhân vật từ truyện Thạch Sanh, Lục Vân Tiên, đến các tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh, từ các tiểu thuyết tả chân xã hội thời kỳ trước 1945 đến các tác phẩm của những nhà văn di cư sau 1954... mà niềm tin bao giờ cũng bộc lộ mãnh liệt, tin ở ngày mai, tin ở xã hội chuyển tiếp, tin ở sức mạnh trí thức tiểu tư sản, tin ở Miền Đất Hứa, tin ở chính nghĩa chống Cộng v.v... Từ khoảng 1960 trở đi nhân vật tiểu thuyết đã không còn các niềm tin đó nữa. Họ lạc loài, họ thấy niềm đau nhức của khoảng trống (Dương Nghiễm Mậu), họ bơ vơ không tìm được chỗ trú (Thanh Tâm Tuyền)... Rồi đời sống xã hội và tinh thần bị xáo trộn, khủng hoảng, nhất là từ khi nửa triệu quân Hoa Kỳ đến Việt Nam....Các biến chuyển lịch sử của đất nước đã tạo nên sắc thái đặc biệt cho nhân vật tiểu thuyết những năm 1970:  Từ bơ vơ đến hoang mang. Từ tự tin đến lơ đãng. Từ tha thiết gắn bó đến ơ hờ xa lạ. Những từ ngữ hiện sinh nhập cảng lúc trước còn là kiến thức thời thượng, bây giờ trở thành kinh nghiệm thực tế.

Tiếp đó tác giả đã nói về tác phẩm của mình:

- Cuốn truyện "Đường Một Chiều" của tôi mang tất cả sắc thái buồn thảm đó. Đường một chiều: không phân định được chiều thuận và chiều nghịch, nhân vật trong truyện không thấy được biên giới giữa tội ác và thánh thiện, giữa tình yêu và hận thù. Cái không khí buồn thảm ấy tất nhiên không hợp với thế hệ các vị đàn anh - trong Hội đồng Tuyển trạch, là những người được nuôi lớn bằng niềm tin và lạc quan, vậy mà các nhà văn chấm giải Truyện dài Văn Bút vẫn lựa chọn"Đường Một Chiều" chứng tỏ không hề có sự phân ly giữa 2 thế hệ.

° ° °

Ngoài ra, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả cuốn Hình Như Là Tình Yêu cũng đã viết một bài đăng trên tạp chí Bách Khoa số ra ngày 20 tháng 12 năm 1974  để chào mừng Hội Văn Bút  nhân ngày Hội trao giải thưởng cho Nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Nguyên văn như sau:

Chào mừng Hội Văn Bút Việt Nam nhân ngày trao Giải thưởng

truyện dài 1974 cho tác phẩm  ĐƯỜNG MỘT CHIỀU của nhà văn NGUYỄN MỘNG GIÁC

Thưa Quí Hội,

Được biết qua báo chí, Hội đồng tuyển trạch của Quí hội quyết định chọn trao cho tác phẩm Đường Một Chiều của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, giải nhất Bộ Môn truyện dài 1974 do Hội Văn Bút Việt Nam tổ chức.

Ở nơi xa, rất tiếc tôi không có mặt để chia vui cùng Quý Hội và tác giả đoạt giải trong buổi lễ trao giải tổ chức vào ngày 15 tháng 11 năm 1974. Là một người lâu nay cũng theo đuổi việc sáng tác văn nghệ và thường theo dõi những hoạt động liên tục và thực tiễn của Quý Hội, tôi xin mạn phép gửi những lời chào mừng nồng nhiệt nhất của tôi đến Quý Hội và nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong ngày mà tôi dự đoán là có sự họp mặt rất đông đảo của quý vị văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và hội viên của Quý hội nói riêng.

Một lời chào mừng có lẽ trở thành khách sáo và thừa thãi nếu không kèm theo những cảm nghĩ, ý kiến chân thành và xây dựng của mình gửi đến những người mình muốn chào mừng. Những lời sau đây của tôi gửi đến Quý Hội cũng vì lý do đó.

Trước hết tôi xin thành thực ca ngợi và chia mừng cùng Quý Hội về sự lựa chọn tác phẩm trúng giải. Ca ngợi, vì một tác phẩm xứng đáng như Đường Một Chiều, khi đoạt giải nhất, đã chứng tỏ một tinh thần thưởng ngoạn và thẩm định văn chương rất tinh tế của Quý Hội. Chia mừng, vì khi tác phẩm đoạt giải là một tác phẩm có giá trị thực sự, thì uy tín của cơ quan trao giải, của Quý Hội, đã tăng thêm rất nhiều.

Vì không có gì đáng buồn hơn khi người ta không tìm ra được một tác phẩm  nào xứng đáng để trao giải. Và càng tệ hơn nữa, càng đáng buồn và xấu hổ hơn nữa, nếu người ta vì một lý do  tình cảm riêng tư  nào đó, phải trao giải cho một cuốn sách  không xứng đáng. May mắn thay, năm nay,1974, Quý Hội đã tránh được điều đáng buồn đó.

Tôi đã hân hạnh được đọc bản thảo truyện dài Đường Một Chiều của Nguyễn Mộng Giác. Theo tôi, đó là một tác phẩm được sáng tác rất công phu. Say sưa mà vẫn thận trọng, đầy cảm hứng mà vẫn tiết chế, cô đọng bằng một kỹ thuật cao và khéo léo, nội dung chứa nhiều ý tưởng phong phú mà hình thức vẫn gọn gàng, lôi cuốn. Những đặc điểm đó khiến Đường Một Chiều đích thực là một tác phẩm văn chương đúng nghĩa.

Tác phẩm ấy đặt độc giả trước một bi kịch. Bi kịch của con người bị đứng trước, bị đẩy đưa trên con đường chỉ có một chiều, không thể, và có lẽ không thể bởi vì yếu đuối không tìm ra một chiều đi khác, một lối thoát nào khác, cũng không thể dừng lại hay quay  đầu trở ngược chiều chạy trốn. Và cuối cùng, con đường một chiều ấy đã dẫn  nhân vật chính của câu chuyện đến tội ác. Sau đó, người tội nhân trẻ tuổi (đáng thương hay đáng ghét?) không đợi sự trừng phạt của luật pháp, y tự sát (hối hận ? sợ hãi ? hay thất vọng ?)

Truyện của Nguyễn Mộng Giác thường đặt ra cho người đọc những câu hỏi, tác giả không trả lời, chính mỗi người chúng ta, nếu chúng ta là những độc giả không ngại phải băn khoăn suy nghĩ khi đọc sách thì  chính mỗi người trong chúng ta sẽ tự  tìm lấy câu trả lời riêng cho mình.

Trang cuối cùng của truyện Đường Một Chiều khép lại cuốn sách, đồng thời mở ra những thao thức mới. Định mệnh hay trách nhiệm của hành động tự ý ? Tính dục hay  tình yêu ? Có tội hay vô tội ? Thù hận hay tha thứ ? Công lý sáng suốt hay chỉ là sự trừng phạt máy móc độc đoán ? Những câu hỏi đó có lẽ một ngày kia sẽ đối diện thách thức trước mặt chúng ta, nếu chúng ta chẳng may đã bị đi trên con đường một chiều, như nhân vật trong truyện. Hay có thể giữa thời đại tù túng, gắt gao, bạo tàn này chúng ta đã phải đi trên con đường một chiều đó rồi.

Điểm đáng đề cao hơn nữa của truyện Đường Một Chiều, tác phẩm thứ 5 của Nguyễn Mộng Giác, là thêm một lần nữa chứng tỏ cái ý hướng trách nhiệm của tác giả  đối với xã hội. Truyện của Nguyễn Mộng Giác bao giờ cũng từ chối làm chiều lòng những kẻ trưởng giả giầu sang, ăn chơi phè phỡn, hưởng thụ chán chê rồi học đòi triết lý thời trang rằng cuộc đời là hư vô, phi lý, buồn nôn.

Hư vô chỉ là một trang thái có thực đối với những người bất hạnh, mất hết tất cả vì cuộc chiến tranh đẫm máu tương tàn đang tiếp tục từng ngày, gieo rắc sự hủy diệt giữa lòng đất nước.

Phi lý  chỉ là một nhận thức đích thực đối với những người khốn khổ gặp hết sự bất trắc này đến họan nạn khác, bị giáng xuống trên đầu hết tai ương này đến tang tóc  khác vì chiến tranh.

Buồn nôn chỉ là một cảm giác thực sự đối với những người bị chứng kiến, hoặc không sợ hãi trốn tránh quay mặt đi, mà can đảm chứng kiến tận mắt như một chứng nhân, những cái chết đau thương tức tưởi, những đổ vỡ kinh hoàng, những tội ác nhầy nhụa của chiến tranh và vì chiến tranh. Những tiếng hư vô, phi lý, buồn nôn, chỉ có nghĩa thực sự khi phát xuất từ  trái tim của những con người bị đày đọa như thế. Bằng không, nó chỉ là những sáo ngữ của tiểu thuyết phóng tác, nhai lại những sản phẩm nhập cảng mờ ám và trái phép để lòe bịp trẻ con.

Và đáng quý thay, các tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác từ trước tới nay đã phủ nhận và không tham gia vào trò chơi chữ nghĩa triết lý phòng trà đó. Truyên dài của Nguyễn Mộng Giác có một nội dung gắn liền với đời sống và tình cảnh quẫn bách của những con người bị đeo một số phận nghiệt ngã, đang vùng vẫy kêu cứu giữa cả một cộng đồng nhân sinh cùng chung một nỗi khốn khó vì chinh chiến.

Nói rõ hơn, văn chương của Nguyễn Mộng Giác đứng cùng phía hướng đến và nhằm phục vụ khối đa số quần chúng bất hạnh trong xã hội VN ngày nay. Sự phục vụ  quần chúng, phục vụ con người của tác giả có đem lại kết quả mỹ mãn hay không qua những tác phẩm văn chương?  Điều đó có lẽ không tùy thuộc vào riêng tác giả mà tùy thuộc đến vấn đề chung là sức mạnh của văn chương liệu có thực hiện thành công ý  hướng tốt đẹp đó hay không?  Đây là một vấn đề cốt yếu và rộng lớn không thể bày giải hay trả lời trong một vài lời ngắn ngủi. Đối với những nhà văn chân chính, chỉ cần biết một điều này: là dầu cho sứ mệnh văn chương có được hoàn tất ở cuối đường hay không, điều đáng quý hơn cả là biết và dám nhận lãnh sứ mệnh đó ngay trong phút khởi hành ở đầu đường.

Thưa Quý Hội,

Tôi rất tiếc những lời trên đây của tôi chắc là không được đưa ra thêm một ý  kiến nào mới lạ hơn ý kiến của Quý Hội khi nhận định về tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác. Và nhận định của Quý Hội thì đã được biểu lộ một cách hùng hồn hơn bất cứ những lời lẽ văn hoa nào, chỉ với một sự  lựa chọn trao giải văn chương năm nay cho tác phẩm Đường Một Chiều  của Nguyễn Mộng Giác.

Thưa Quý Hội,

Lời chào mừng của tôi xét ra có thể chấm dứt nơi đây nếu thời cuộc nước nhà hiện nay không xẩy ra những biến cố rất lớn, mà đáng mừng thay, Quý Hội hiện đang đóng một vai trò quan trọng trong cuộc vận động chung. Tôi muốn nói công cuộc tranh đấu  đòi hỏi  quyền tự do sáng tác, tự do  báo chí, tự do xuất bản mà Hội Văn Bút Việt Nam đang liên kết chặt chẽ với các đoàn thể khác tại Việt Nam.

Tôi rất tiếc không nhớ rõ chi tiết bản Hiến Chương của Hội Văn Bút Thế Giới, hay Hiến chương về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Nhưng tôi chắc chắn là bất cứ một bản Hiến chương nào, bất cứ một Tuyên ngôn nào của bất cứ một tổ chức nào nếu muốn có  đủ uy tín để quy tụ mọi người thì điều kiện tiên quyết là phải đòi hỏi cho con người quyền Tự do Tư tưởng.

Quý Hội đang tranh đấu cho quyền Tự do Tư tưởng. Tôi hân hoan vui mừng  trước cuộc tranh đấu đó và thành thật cầu chúc Quý Hội thành công. Vì sự thành công của Quý Hội chắc chắn sẽ đem lại một làn gió mới và làm phục sinh hoạt động văn hóa nước nhà. Với quyền tự do sáng tác, xuất bản báo chí, văn hóa văn chương Việt Nam chắn chắn sẽ phồn thịnh phát triển tương xứng với sự làm việc của các văn nghệ sĩ chứ không èo uột, mờ nhạt, kém cỏi một cách bất công như hiện nay. Nghĩa là dầu cho  các văn nghệ sĩ có nỗ lực làm việc đến đâu, mà nếu không được tự do xuất bản thì công lao của họ, tác phẩm của họ cũng sẽ mãi mãi bị vùi dập một cách oan uổng trong bóng tối hay chỉ được xuất hiện dưới dáng vẻ khập khiễng, thiếu hụt, trái ý một cách đau lòng cho những kẻ sáng tạo.

Bốn ngàn năm văn hiến của nước Việt Nam không phải là một món đồ cổ bám đầy bụi bặm, mỗi năm đôi ba lần lại được khiêng ra, cho vào trong những bài diễn văn bóng bẩy. Bốn ngàn năm văn hiến ấy chỉ có nghĩa, chỉ là một niềm hãnh diện thực sự khi được chúng ta, những người hoạt động trong lãnh vực văn hóa và sáng tác nghệ thuật ngày đêm cố gắng làm việc để tiếp nối. Ngược lại, những người cứ nhắc nhở mãi  đến bốn ngàn năm văn hiến, mà một mặt lại ngăn chặn, cắt bỏ những tác phẩm nghệ thuật là chất liệu nòng cốt  để xây dựng văn hiến thì dầu cho là cắt bỏ một phần, một đoạn cũng vẫn giống như là chỉ cắt bỏ một con số 4 trong hàng số 4.000 năm đó. Những người đó phải chịu trách nhiệm nặng nề đối với con số không to tướng của nền văn hóa nước nhà.

Thưa Quý Hội,

Đến đây thì những lời chào mừng của tôi gửi đến Quý Hội mới thật sự xét ra nên chấm dứt thật. Xin kính chào Quý Hội, Quý vị văn nghệ sĩ hiện diện và nhà văn Nguyễn Mộng Giác, người mà hiện đang nhận lãnh vinh dự trong ngày hôm nay, cũng là nhờ ở một tinh thần làm việc hăng say và một tấm lòng tha thiết đối với văn nghệ rất đáng ca ngợi.

HOÀNG NGỌC TUẤN

Qui Nhơn ngày 3-11-1974

F/ TIẾP ĐÓN VĂN HỮU NGOẠI QUỐC 

 Trong nhiều năm sinh hoạt, Trung Tâm Văn Bút cũng đã có dịp tiếp đón rất nhiều văn hữu ngoại quốc tới thămViệt Nam. Xin liệt kê những cuộc gặp gỡ mà tài liệu còn lưu giữ được.

  1. Tiếp nhà văn Đan Mạch Lidermann.
  2. Tiếp đón nhà văn Nhật Bản Komatsu (tháng 9-60)
  1.  - Tiếp tân mừng ông Roger Caillois, Trưởng ban Văn chương, Mỹ Thuật và Văn học của UNESCO (cơ quan Văn hóa của Liên Hiệp Quốc) – Tháng 10-1961.- Tiếp đón các văn hữu quốc tế H. Myint, Matta Akrawi,  John Lookwood (12-12-1961)
  1. - Tiếp đón nhà văn Mỹ Donald Keene, giáo sư Nhật ngữ tại Viện Đại Học Columbia.

- Tiếp đón hai Tiểu thuyết gia Nhật Bản Agawa và Tamura.

  1.  Tiếp văn hữu Sioni José, Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Phi Luật Tân để bàn về việc làm Tuyển Tập Thơ-Văn-Á Châu. (tháng 10-1963)

Ghi chú: Trong cuộc tuyển lựa thơ văn Á Châu năm 1963, Thơ của Ấn Độ được chấm nhất. Phi Luật Tân được chấm nhất về  Truyện ngắn, trong khi Việt Nam và Nhật Bản về hạng nhì.  Truyện ngắn về nhì của Việt Nam là truyện Hai Chậu Lan Tố Tâm của Phan Du, do Nghiêm Xuân Việt dịch ra Pháp ngữ.

  1.  Tiếp đón giáo sư Hoàng Thân Prem Purachatra, Chủ tịch Văn Bút Thái Lan.
  1. Tiếp đón phái đoàn Văn Bút Đại Hàn tới thăm Văn Bút VN  ngày 5-1-1966.
  1. Tiếp đón nhà văn Đức Otto Karow tới thăm Văn Bút VN ngày 21-3-1967.
  1. Tiếp đón nhà văn Richard Krigier, Tổng Thư Ký Hội Văn Hóa Tự Do Úc Đại Lợi tới thăm Văn Bút VN ngày 3-4-1969.

Chương III

Giải Tỏa Những Ngộ Nhận Về Nhóm Bút Việt


A/ Về cuộc phỏng vấn của Tin Sách với nhà văn Mặc Đỗ.

Tập san Tin Sách của Trung Tâm Văn Bút VN số 39 ra vào tháng 9-1965 có đăng bài phỏng vấn nhà văn Mặc Đỗ do ký giả Lê Phương Chi tức Lê Thanh Thái thực hiện.

Xin trích câu hỏi và câu trả lời liên quan đến Trung Tâm Văn Bút. (người viết tô đậm những chỗ cần nhấn mạnh )

HỎI - Anh nghĩ thế nào về nhóm Bút Việt? Nếu chúng tôi mời anh gia nhập nhóm Bút Việt, có trở ngại gì cho cá nhân nhà văn Mặc Đỗ với nhóm Quan Điểm chăng?

ĐÁP- Câu hỏi gay go, nhưng tôi xin nói sự thật:

Cho tới hôm nay tôi chưa hết khó chịu mỗi khi nghe nói tới PEN, tới những hoạt động của hội viên PEN nhân danh nhà văn Việt Nam. Chắc chưa ai quên PEN Việt Nam được hình thành như thế nào để kịp dự hội nghị Đông Kinh. Tôi buồn thấy một số nhà văn chúng ta ít kiêu hãnh quá. Giả thử hồi đó họ biết kiêu hãnh hơn, từ chối không bán rẻ tên tuổi lấy một chuyến đi, văn chương Việt Nam sẽ vinh hạnh hơn. Đừng nói nhận là hi sinh, vì văn chương Việt nam không cần ai phải hi sinh hết. Mà hi sinh nỗi gì, hồ sơ PEN Đông Kinh còn đó để minh chứng kết quả của sự có mặt của PEN Việt Nam. Chẳng qua có một số ít người nhân danh đám đông những người cầm bút Việt Nam để đi du lịch, hoặc nếu có thể, để quảng cáo tên tuổi cho riêng mình, văn chương và nhà văn Việt Nam có lợi gì?  

Từ vụ Đông Kinh tới nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn VN, nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn VN làm được những gì ở hội nghị?

Tôi lấy một thí dụ cụ thể vì gần nhất, là vụ nhà thơ VŨ HOÀNG CHƯƠNG nhân danh nhà văn VIỆT NAM đi dự hội nghị ở NAM TƯ. Vấn đề đặt ra ở hội nghị hay đến như vậy, tất nhiên PEN VIỆT NAM phải được thông báo từ lâu lắm, mà có ai được biết để thâu góp ý kiến thực sự của nhà văn VN. Kịp tới khi đi, hội thầm lặng cử người đi, người đi cũng im lìm ra đi, rồi lặng lẽ trở về, không kèn không trống.

Nước chúng ta đang nghèo đói thông tín viên, một cây bút như Vũ Quân mà đi về không được lấy một bài báo- báo cáo đăng nơi công luận cho anh em ở nhà được biết. Tại sao Vũ Quân không viết? Nếu viết thiếu gì báo đăng. Ít nhất cũng cần tỏ rằng mình có trách nhiệm chứ. Đằng này Vũ Quân kênh kiệu chờ một phóng viên của Tin Sách tới phỏng vấn mới kể lể qua loa vài chuyện vô trách nhiệm. Hội nghị bàn bạc ra sao, đại diện các nhà văn Việt Nam can thiệp như thế nào vào cuộc thảo luận, ý kiến phát biểu ra sao, phản ứng của hội nghị như thế nào? Chờ hội nghị in cuốn sách tổng kết rồi gửi qua và để riêng các ông hội viên PEN Việt Nam đọc, thì chán quá!

Do sự có mặt của PEN Việt Nam, thế giới có biết đến văn chương Việt Nam hay không, cứ đọc qua những lời đối thoại của Vũ Quân với mấy phóng viên báo chí tại Bled, đủ thấy thiên hạ nhìn chúng ta bằng con mắt tò mò vì chúng ta là "của lạ" hơn là họ bắt buộc phải biết đến chúng ta vì chúng ta đáng được đếm xỉa tới trên mặt đất này hay vì chúng ta có Nguyễn Du. (Tại sao đi đâu cũng đưa mãi Nguyễn Du ra? Đã có những người ngoại quốc khi nói chuyện tới văn học Việt Nam đã phải dặn trước là miễn nói tới Nguyễn Du. Chúng ta tôn thờ Nguyễn Du, điều đó đúng, nhưng không phải hết thẩy những người ngoại quốc, chưa thấu hiểu được những đặc thù của tiếng Việt, đều thú Nguyễn Du cả đâu, và không phải cần có Nguyễn Du rồi bây giờ khoanh tay, kênh kiệu, là đủ cho thế giới biết đến ta.)

Tôi buồn nghĩ đến chuyện đã qua và chuyện bây giờ;  nên không hề nghĩ có dịp nào gia nhập PEN Việt nam. Tôi tài sức đâu mà thay đổi được tổ chức hiện tại, nhưng cứ ngồi đó mà nhìn những tàn tích của sự kém kiêu hãnh của ngòi bút thì càng buồn thêm! Tôi nghĩ rằng đóng góp tác phẩm vào với anh em cùng nghề đã tạm đủ  (tuy đôi khi hoàn cảnh riêng khiến cho sự đóng góp không mãn ý) đóng góp bằng cá nhân mình hãy để chờ dịp thuận tiện và cần thiết.

Sau đó anh Mặc Đỗ nhìn tôi:

"Anh đã hỏi, tôi buộc lòng phải nói. Anh thấy thế nào? Có đăng được những ý kiến này của tôi không?"

Tôi lặng thinh một phút rồi nói:

" Việc PEN thành hình và hội nghị tại Đông Kinh, tôi không được rõ lắm. Nhưng ý kiến của anh tôi xin tôn trọng, Và PEN chúng tôi cũng cần nghe những lời phê bình thẳng thắn như anh để minh xác những dư luận sai lầm, làm cho các nhà văn bạn hiểu thêm cho rõ về PEN Việt Nam. Xin hứa chắc với anh là tôi sẽ ghi đúng những ý kiến anh đã phát biểu.

Lê Phương Chi  (10-8-65)

( Tập san Tin Sách số ra tháng 9-1965, trang 25, 26, 27,28)

Vài lời minh xác của Ban Thường Vụ Văn Bút với nhà văn Mặc Đỗ

Nhân những cảm tưởng và ý kiến trên đây của nhà văn Mặc Đỗ về Hội Bút Việt, chúng tôi tự thấy có bổn phận minh xác mấy điểm:

I/ Nhóm Bút Việt (hay Trung Tâm Văn Bút Việt Nam) là một chi nhánh của Hội Văn Bút Quốc Tế, trụ sở trung ương đặt ở Luân Đôn (nước Anh) và hiện nay có trên 100 trung tâm ở nhiều nơi trên khắp thế giới.

Xét về một phương diện, cũng như những trung tâm Văn Bút ở các nước khác, nhóm Bút Việt là một hội bao gồm những nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và dịch giả, thừa nhận Bản Hiến Chương của Hội Văn Bút Quốc Tế.

Bản Hiến Chương này có một đoạn chính như sau:

Tổ chức Văn Bút Quốc tế xác nhận rằng:

  1. Văn chương dù xuất xứ có tính cách Quốc gia, nhưng không có biên giới và phải được trao đổi giữa các quốc gia mặc dầu có những cuộc tao loạn về phương diện chính trị hay kinh tế.
  2. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là trong thời chiến, không bao giờ nên để cho những thiên kiến về quốc gia hay chính trị xâm phạm tới các tác phẩm văn nghệ là tài sản chung của nhân loại.
  3. Các hội viên của Hội Văn Bút Quốc Tế lúc nào cũng phải dùng hết ảnh hưởng của mình để làm tăng sự hiểu biết và sự tương trọng giữa các quốc gia, học tự nguyện cố gắng phá bỏ các mối hiềm khích về chủng tộc, giai cấp và quốc gia để bảo vệ lý tưởng của một nhân loại duy nhất sống trong hòa bình trong một thế giới duy nhất.
  4. Hội Văn Bút Quốc tế chủ trương nguyên tắc tự do truyền bá tư tưởng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia, và các hội viên sẽ phản đối mọi hình thức đàn áp tự do phát biểu tư tưởng trong xứ và trong đoàn thể của họ. Hội Văn Bút Quốc tế tuyên bố ủng hộ tự do báo chí và phản đối sự kiểm duyệt trong thời bình. Hội tin rằng vì thế giới cần tiến bộ để đạt tới trật tự hoàn mỹ hơn về chính trị và kinh tế nên nhất định phải có sự tự do chỉ trích các chánh quyền, các tổ chức hành chánh và các thể chế độc đoán. Vì tự do có nghĩa là tự kềm chế, các hội viện tự nguyện đã phá những tệ đoan mệnh danh là tự do báo chí để loan truyền những tin tức thất thiệt và xuyên tạc sự thực vì mục đích chính trị hay tư lợi.

Tất cả các văn sĩ, biên tập viên và dịch giả có tư cách và chấp thuận những tôn chỉ trên đều có thể nhận là hội viên của Hội Văn Bút Quốc Tế, không phân biệt quốc tịch, chủng tộc, màu da hay tôn giáo.

° ° °

II/ Nhóm Bút Việt đã được một số nhà văn nhà thơ Việt sáng lập hồi giữa năm 1957, đã chính thức gia nhập hội Văn Bút Quốc tế ngày 1-9-1957 nhân kỳ đại hội Văn Bút Quốc tế lần thứ 29 tại Đông Kinh và đã được công nhận như một hội văn hóa có pháp nhân tư cách tại Việt nam do nghị định số 111/BNV/NA/P5 ngày 21/10/1957 của Bộ Nội Vụ Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa.

III/ Từ ngày thành lập tới nay, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đã mấy phen tham dự các hội nghị Văn Bút Quốc tế, thường được tổ chức hai năm một lần.

Mới đây, nhà thơ Vũ Hoàng Chương với tư cách chủ tịch của nhóm Bút Việt , đã đại diện Ban Thường Vụ của nhóm đi dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 33 tại Nam Tư.

Lúc trở về thi sĩ họ Vũ đã có tường trình về hội nghị trong phiên họp của nhóm ngày 14/7/1965. Ngoài ra, Ban Thường Vụ cũng đã cung cấp tin tức về hội nghị nói trên để Việt Tấn Xã, Đài Phát Thanh Sài Gòn và các báo chí tùy tiện phổ biến. Riêng Tin Sách, nguyệt san do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam xuất bản, đã loan tin về cuộc hội nghị này cũng như  vẫn loan các tin khác của Trung Tâm Văn Bút.

IV/ Từ ngày thành lập tới nay, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam vẫn cố gắng phát triển nội bộ và hoạt động ra bên ngoài.

Về mặt quốc tế đã cử người tham dự 4 hội nghị quốc tế tại Frankfurt, W. Germany 1958;  Rio de Janeiro, Brazil 1960;  Oslo, Norway 1964; Bled, Yugoslavia 1965; đã đón tiếp nhiều nhân vật  quốc tế về văn hóa hoặc văn chương như quý ông:

-Lindermann R. Blum;  Bradley, chủ tịch Văn Bút Đại Hàn.

- Nhà văn Nhật Komatsu (9-1961).

- J Haver, Roger Callois (Unesco, tháng 10-1961).

- Myist, Matta Akrawi và John Lookwood (Tháng 12, 1961).

- Agawa và Tamura (hai nhà văn Nhật, tháng 1- 1962).

- Siomil Jose (tổng thư ký Văn Bút Phi Luật Tân, tháng 10- 1963).

- Giáo sư Hoàng thân Prom Puraachatra (Chủ tich Văn Bút Thái Lan, tháng 10-1964) …v.v...

- đã gửi một số truyện ngắn dịch ra tiếng Anh dự cuộc thi năm 1960 của Hội Văn Bút Quốc Tế, ở trong đó có hai truyện ngắn của nữ văn hữu Linh Bảo đã được khen ngợi và xếp vào hàng các truyện hay nhất thế giới;

- đã xuất bản 4 số tập san ba thứ tiếng, Việt, Pháp, Anh để giới thiệu văn chương nước nhà với người ngoại quốc;

- đã phiên dịch một số thơ và truyện ngắn ra tiếng Anh để góp vào tuyển tập thơ văn Á Châu do trung Tâm Văn Bút Phi Luật Tân ấn loát;

- đã phiên dịch một số huyền truyện và truyện ngắn ra tiếng Pháp để vận động xuất bản nơi Trung ương Văn Bút Quốc Tế và cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc…

Về mặt quốc nội :

- Vẫn cố gắng tổ chức mỗi tháng một cuộc nói chuyện về văn chương kể từ tháng 7-1961 tới nay;

- đã bảo trợ tinh thần mục "tác phẩm, tác giả và công chúng" trên nhật báo Tự Do trong hai năm 1961 và 1962 để khuyến khích phong trào viết, đọc, xuất bản và phê bình sách;

- đã tiếp tục xuất bản nguyệt san Tin Sách kể từ tháng 7-1962 tới nay để loan tin đầy đủ về các sách xuất bản hàng tháng và để giới thiệu, phê bình các tác phẩm tương đối đặc sắc hơn;

- đã tổ chức giải thưởng truyện ngắn trong niên kỳ 1964-65 và vừa công bố thể lệ giải thưởng truyện dài cho niên kỳ 1965-66.

Tuy các Ban Thường Vụ, các Ban Chấp Hành liên tiếp từ đầu tới nay và toàn thể các hội viên cũ hoặc mới đã cố gắng không ngừng, nhưng các hoạt động của Trung Tâm Văn Bút Việt nam không thể nào tránh được hết mọi khuyết điểm về rất nhiều phương diện.

Chúng tôi tin tưởng rằng gần một trăm văn hữu hiện có chân trong Trung tâm Văn Bút Việt Nam sẽ còn cố gắng nhiều hơn nữa và cũng hy vọng rằng sẽ có nhiều nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và dịch giả, hoặc đã có danh tiếng, hoặc còn nhiều hứa hẹn trong tương lai, sẽ gia nhập thêm và hợp tác hoạt động để đóng góp một phần nào vào sự tiến bộ cùng phát triển của nền văn chương nước nhà cũng như của nền văn hóa thế giới.

Saigon ngày 24-9-1965

Ban Thường Vụ T.T.V.B.V.N.

( Tập san Tin Sách số ra tháng 9-1965, trang 25, 26, 27,28)

° ° °

Để minh xác thêm trước lời phê phán của nhà văn Mặc Đỗ: "Từ vụ Đông Kinh tới nay, bao lần có hội viên PEN đi dự hội nghị ở ngoại quốc nhất nhất đều nhân danh các nhà văn VN, nhưng thử hỏi họ đi về có ai biết tới, họ đã nhân danh nhà văn VN làm được những gì ở hội nghị?",

Và :

"Vụ nhà thơ VŨ HOÀNG CHƯƠNG nhân danh nhà văn VIỆT NAM đi dự hội nghị ở NAM TƯ. Vấn đề đặt ra ở hội nghị hay đến như vậy, tất nhiên PEN VIỆT NAM phải được thông báo từ lâu lắm, mà có ai được biết để thâu góp ý kiến thực sự của nhà văn VN. Kịp tới khi đi, hội thầm lặng cử người đi, người đi cũng im lìm ra đi, rồi lặng lẽ trở về, không kèn không trống."

Xin phổ biến lại bài tường thuật sau đây, đã in trên Tin Sách số 37, tháng 7-1965, là số báo ra trước số 39 tới 2 tháng trong có bài Lê Phương Chi phỏng vấn nhà văn Mặc Đỗ  như kể trên.

B/ TRUNG TÂM VĂN BÚT VN NHỮNG  ĐIỀU CẦN  NÓI  RÕ

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phạm Việt Tuyền định cư tại Pháp và đã từ trần ngày 16-2-2009 tại Strasbourg, hưởng thọ 83 tuồi.

Sự ra đi của ông đã để lại nhiều tiếc thương cho văn giới, đặc biệt là những thành viên của Trung Tâm Văn Bút V.N. Sau đó đã có nhiều văn thi hữu viết bài tưởng niệm về ông và tuyên dương ông là một cây bút suốt đời tận tụy cho văn hóa.

Riêng trong lãnh vực sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, sự ca ngợi nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phạm Phạm Việt Tuyền là điều rất chính đáng bởi ông là người rất xứng đáng với những lời ca ngợi đó qua sự đóng góp rất nhiều công sức  kể từ khi Trung Tâm này được thành lập (tháng 10-1957) cho đến khi miền Nam rơi vào tay CS (tháng 4-1975).

Tuy nhiên, khi viết ca ngợi nhà thơ, nhà văn, nhà báo  Phạm Việt Tuyền đối với Trung Tâm Văn Bút thì cũng không nên xóa bỏ mọi công lao của rất nhiều thành viên khác. Nêu lên điều này tất không phải là chuyện tranh cãi về công trạng của bất cứ ai nhưng điều chính yếu là ta hãy nên để lại cho các thế hệ về sau những tư liệu văn học mà nội dung có được tính chính xác.

Nhật báo Người Việt phát hành ở Nam Cali, số ra ngày thứ Tư 16 tháng 9-2009, nhà thơ Du Tử Lê có viết một bài mang tựa đề "Phạm Việt Tuyền, người chọn "vắng mặt". Phần nói về Trung Tâm Văn Bút, ông dựa vào lời kể của nhà báo Lê Phương Chi (tức Lê Thanh Thái, hiện còn ở tại VN). Điều này không thể trách được ông, vì Lê Phương Chi là người rất thân cận với những sinh hoạt của Văn Bút trong nhiều năm ròng rã. Tuy nhiên không phải vì thế mà nội dung bài viết lại không có những điều cần phải nói cho rõ. Tôi xin nêu vài điều mà nội dung có thể tóm tắt theo nguyên văn của Du Tử Lê như sau :

1) Nhà báo kiêm nhà văn Lê Phương Chi, có lần nói với tôi (Du Tử Lê) rằng, nếu không có sự tận tụy, kiên nhẫn, quên mình của Phạm Việt Tuyền, thì sinh hoạt của TTVBVN thời đó sẽ không có gì đáng nói.

2) Ông (tức Lê Phương Chi) cho biết, ngoài việc lo nhật tu sổ sách, giấy tờ, phát triển hội viên và tổ chức những sinh hoạt có tính cách văn học cho hội hàng tháng, họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.

Vẫn theo ông Lê Phương Chi, thư ký tòa soạn lâu đời và cuối cùng của nguyệt san Tin Sách thì, trên nguyên tắc, chủ nhiệm Tin Sách là chủ tịch đương nhiệm; và chủ bút là tổng thư ký của hội. Nói cách khác, nhà văn Phạm Việt Tuyền là "xếp" trực tiếp của ông. Nhưng:"Trong suốt bao nhiêu năm tôi làm thư ký tòa soạn, chủ bút Phạm Việt Tuyền tin cậy tôi hoàn toàn. Ông không đòi hỏi hay đề nghị tôi nên giới thiệu tác phẩm này, hoặc tác giả kia. Ông cũng cho tôi toàn quyền mời người điểm những cuốn sách mà tôi dự định giới thiệu..."

3) Về đức tính khiêm tốn, luôn chọn cho mình vị trí đằng sau sân khấu, bên trong cánh gà của tổng thư ký TTVBVN, tôi (Du Tử lê) nhớ, giữa thập niên 1960, để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến, mỗi tháng, mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật, do hội viên đó, tự chọn. Nơi chốn (luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du), cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự... đều do ông đích thân liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...

4) Tháng Mười, năm 1965, cá nhân tôi (Du Tử Lê) được mời. Trước khi nhận lời, tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi, uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp: "Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì..." Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương "tránh mang tiếng!"

° ° °

Là một cá nhân đã từng tham gia sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút từ năm 1959 (Hội được  thành lập ngày 21-10-1957 với tên Hội Bút Việt do nhà văn Nhất Linh làm Cố vấn, nhà văn Đỗ Đức Thu làm Chủ tịch sáng lập), người viết bài này nhận thấy mình có cơ may được am hiểu nhiều sự việc của Văn Bút để có thể điều chỉnh lại những điều mà nhà thơ Du Tử Lê đã đề cập đến trong bài báo kể trên. Xin đi từng điểm theo thứ tự đã ghi ở trên.

1) Không có sự tận tụy, kiên nhẫn, quên mình của Phạm Việt Tuyền, thì, sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói:  Không ai phủ nhận sự tận tụy, hết mình của cố Tổng Thư Ký Phạm Việt Tuyền đối với Văn Bút VN, nhưng cũng phải kể đến sự đóng góp bền bỉ, tích cực của nhiều cây bút lẫy lừng khác như Vũ Hoàng Chương, Vương Hồng Sển, Tam Lang Vũ đình Chí,Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc, Đỗ Đức Thu, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Tchya Đái Đức Tuấn, Nguyễn Hoạt, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hoàng Xuân Việt, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường..v..v. Nếu căn cứ theo bài viết của nhà thơ Du Tử Lê  thì tất cả các vị kể trên đã làm gì, đi đâu trong ròng rã gần hai chục năm mà để đến nỗi không có cá nhân nhà văn Phạm Việt Tuyền thì "sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói".

Xin nêu vài sự kiện cụ thể:

- Ngay từ hồi Hội Bút Việt còn đóng trụ sở tại số 36/59 đường Cô Bắc, một con phố rất hẹp ở sau lưng Chợ Cầu Ông Lãnh Sài Gòn, khi đi vào phải lội qua những quãng bùn lép nhép hôi tanh đầy mùi cá, thì hai dịch giả : Lê văn Hoàn (dịch tiếng Việt ra tiếng Anh), Nghiêm Xuân Việt (dịch tiếng Việt ra tiếng Pháp) đã dịch những truyện ngắn của nhà văn VN như Bình Nguyên Lộc, Đỗ Đức Thu, Linh Bảo…để đem đi dự các cuộc thi do nhóm các Hội Văn Bút thuộc các nước trong vành đai Thái Bình Dương (Pacific Rim) tổ chức 2 năm một lần. Tác phẩm Con chồn tinh quái (nếu tôi nhớ không lầm) của nhà văn Linh Bảo đã một lần đoạt giải, nêu cao mầu cờ sắc áo VN trong văn giới quốc tế .

Đó không phải là điều đáng nói sao ?

- Trụ sở đầu tiên của Hội Bút Việt ở 36/59 đường Cô Bắc chỉ là một căn nhà 2 tầng trong một con phố chật hẹp, tầng dưới  dành cho gia đình ông Nguyễn văn Hinh, thư ký của Hội (sẽ đề cập đến nhân vật này ở phần sau) và tầng trên là chỗ hội họp của Ban Chấp Hành. Riêng tôi (Nhật Tiến) đã được nhà văn Nhất Linh giới thiệu vào Hội tại căn gác này và một thời gian sau tôi trở hành Phó Tổng thư ký Hội, phụ tá nhà văn Phạm Việt Tuyền trong một số công việc, đặc biệt là tôi đã từng ghi biên bản của hầu hết các cuộc họp của Ban Thường Vụ cũng như của Ban Chấp Hành Văn Bút cho đến mãi tháng 4 năm 1975 (tất nhiên trừ những khi bận việc hay bị đau ốm).

Qua đầu thập niên 70, nhờ sự vận động tài trợ do Chủ tịch Thanh Lãng thực hiện (trước thì do Asia Foundation, sau thì Ngân sách Quốc Gia VNCH tài trợ) mà Văn Bút có cơ hội dời trụ sở về số 107 đường Đoàn thị Điểm Sài Gòn. Đây là một căn biệt thự rất đẹp, nằm ở ngay mặt tiền của một con đường cũng rất đẹp gần vườn hoa Tao Đàn, Sài Gòn. Biệt thự này có một sân rộng, tráng xi-măng, có thể làm chỗ đậu cho khoảng gần 20 xe hơi cùng một lúc.

Đây là một tòa nhà có 2 tầng lầu rộng rãi. Tầng dưới chia làm hai : một phần vẫn để cho gia đình ông thư ký Nguyễn văn Hinh trú ngụ (lúc này ông Hinh đã có thêm dâu rể, con cháu) và phần còn lại dùng làm văn phòng của Văn Bút, có tủ sách, có bàn làm việc và có chỗ để cả máy in ronéo cùng các ngăn chứa tài liệu. Tầng trên thênh thang, để trống thông suốt, có thể dùng làm Hội trường với khoảng trên 100 ghế ngồi và bục sân khấu. Ban Thường Vụ Văn Bút thường họp hằng tuần vào mỗi tối thứ Tư trên một cái bàn dài kê ở chính giữa (thông thường, các ghế sắt kê trong Hội trường đã được gom gọn lại, chỉ khi có những buổi thuyết trình, hội thảo thì mới được bầy ra). Phía ngoài của tầng trên là một hàng hiên cũng rất rộng rãi. Chủ tịch Thanh Lãng cũng đã có sáng kiến sử dụng hàng hiên này làm chỗ cho anh chị em văn nghệ sĩ lui tới (bất kể ngày nào) ngồi uống cà phê miễn phí và nói chuyện văn nghệ riêng tư. Chính Chủ tịch Thanh Lãng đã cho đặt mua 20 bàn nhỏ và 100 ghế xếp lùn cùng rất nhiều ly tách, phin cà phê, phích nước nóng để thực hiện cái Câu Lạc Bộ bỏ túi này.

Tạo cơ hội cho anh chị em văn nghệ sĩ có cơ hội gặp gỡ hàn huyên do nỗ lực của Chủ tịch Thanh Lãng, như vậy không phải là điều đáng nói sao ?

- Lại cũng cần nói thêm về cái tên Trung Tâm Văn Bút Việt Nam đổi từ tên cũ là Nhóm Bút Việt. Việc đổi tên này là do Chủ tịch Thanh Lãng thực hiện  trong nhiệm kỳ thay thế Chủ tịch Vũ Hoàng Chương vì đau yếu nên nhường lại. Linh mục Thanh Lãng cũng đề nghị chọn cho Văn Bút một cái huy hiệu để in trên các tiêu đề hay trang trí hội trường trong các buổi tổ chức. Sau nhiều phiên họp, Ban thường vụ quyết định lấy mẫu  huy hiệu trong có hình cây bút đặt xéo với thanh kiếm và thanh kiếm thì bị gẫy làm hai, ý nói ngòi bút bẻ gẫy được cường quyền. Trong huy hiệu có 2 hàng chữ : TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM và PEN Club International. PEN là cây bút nhưng cũng là những chữ đầu viết tắt : P=Poetes, Playwrights, E= Essayists, Editors, N=Novelists).

Như vậy, nói chung  công lao làm cho Văn Bút có nhiều sinh hoạt đáng kể trong nhiều năm ròng rã không chỉ riêng nhà văn Phặm Việt Tuyền mà còn có sự đóng góp đáng kể của nhiều nhà văn hóa, văn nghệ lẫy lừng khác như Nhất Linh, Vũ Hoàng Chương, Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Đỗ Đức Thu, Đào Đăng Vỹ, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hoàng Xuân Việt, Hồ Hữu Tường, Nguyễn thị Vinh..v.v…

2) Ông (tức Lê Phương Chi) cho biết, ngoài việc lo nhật tu sổ sách, giấy tờ, phát triển hội viên và, tổ chức những sinh hoạt có tính cách văn học cho hội, hàng tháng, họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.-

- Điều này không hoàn toàn đúng hẳn. Tất nhiên, Tổng Thư Ký của bất cứ hội nào thì cũng phải lo chuyện phát triển hội viên, nhưng "nhật tu sổ sách, giấy tờ" thì chắc chắn Hội Văn Bút không để cho Tổng Thư Ký của mình phải gánh vác hết, vả chăng nhà văn Phạm Việt Tuyền do bận rộn rất nhiều công việc như Chủ nhiệm nhật báo Tự do, Giám đốc Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do thì làm sao ông có thể  đảm đương đủ mọi thứ công việc linh tinh như thế.

Người lo sổ sách giấy tờ, cập nhập danh sách Hội viên, gìn giữ hồ sơ sổ sách của hội chính là ông thư ký Nguyễn văn Hinh, người tận tụy với Văn Bút ngay từ thuở ban đầu và sau này trở nên già nua, chúng tôi còn gọi là Cụ Hinh. Tuy Cụ không hề dính líu gì tới chuyện văn chương chữ nghĩa, sự thành công hay vinh dự nếu có của Văn Bút cũng chẳng khiến cho Cụ được vẻ vang gì, nhưng Cụ  lại lo lắng công việc của Văn Bút một cách rất cần mẫn tỉ mỉ. Cụ đã cất giữ tất cả những mẫu thư triệu tập các loại phiên họp, các thứ thiệp như thiệp mời tham dự buổi Nói chuyện, buổi Hội thảo, buổi trao giải Văn chương do Văn Bút tổ chức..v.v. Chính vì vậy mà mỗi khi có việc tổ chức, Ban Thường Vụ chỉ giao cho Cụ ngày giờ, tên diễn giả, tên đề tài thuyết trình ..v.v.. là cụ lo chạy đi in thiệp, vô phong bì và theo danh sách hội viên mà gửi đi. Một đôi khi Văn Bút cần ra thông cáo báo chí thì  Ban Thường Vụ cũng chỉ cần soạn thảo nội dung và trao cho Cụ là yên tâm rồi. Cụ sẽ ngồi đánh máy trên bản giấy stencil, quay ronéo nhiều bản và gửi đi tới mọi tòa soạn theo danh sách báo chí mà cụ vẫn cập nhật. Một người tận tụy như vậy mà xóa sạch công lao đóng góp cho Văn Bút thì thật bất công, không thể chấp nhận được.

-  Về nguyệt san Tin Sách, tôi thấy rõ là tuyệt nhiên không thể có sự "họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.", như nhà thơ Du Tử Lê nhắc lại lời nhà báo Lê Phương Chi (tức Lê Thanh Thái).

Sự thể là : tờ Tin Sách vốn là sáng kiến đầu tiên của  GS Nguyễn Ngọc Linh, sau 2 năm được điều hành bởi bào đệ ông là GS Nguyện Ngọc Phách thì tờ Tin Sách được giao lại cho Văn Bút và  nhà văn Trần Phong đảm nhận vai trò Thư ký tòa soạn. Nội dung tờ Tin Sách chỉ hoàn toàn hướng vể chuyện sách vở, văn chương, gồm hai phần chính: 2/3 số trang được dành cho các bài phê bình về một số  tác phẩm do các nhà văn, nhà thơ đã cho ra mắt trong tháng vừa qua, 1/3 số trang còn lại có nội dung đúng nghĩa là những Tin về Sách hay nói một cách khác, đấy là một bản ghi một cách tóm tắt toàn bộ tên những cuốn sách vừa ra trong tháng, kể cả sách giáo khoa với vài thông tin ngắn gọn như tên sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản, khổ sách, số trang và giá tiền. Một loại nguyệt san như thế, tuy rất hữu ích cho giới độc giả có thể theo dõi tình hình xuất bản sách trong tháng nhưng nó vẫn là loại báo khô khan, rất kén độc giả, nếu không có sự tài trợ thì khó lòng mà sống sót . Và sự sống còn của tờ Tin Sách là do Ban Thường Vụ Văn Bút đồng thanh chấp thuận trích ngân quỹ của Hội ra tài trợ, chứ không phải Hội khoán trắng cho nhà văn Phạm Việt Tuyền "trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách".

Cũng cần nói thêm là tuy Tin Sách được coi như một cơ quan báo chí của Hội, nhưng Hội vẫn giao phó cho nhà văn Trần Phong Giao toàn quyền quyết định về bài vở, nội dung tờ báo. Sau này Trần Phong Giao vì bận việc nên trao lại cho nhà báo Lê Thanh Thái thay thế. Công việc cứ thế tiếp tục, tôi chưa bao giờ thấy bất cứ ai trong Ban Thường Vụ xía vô nội dung của tờ báo hay đòi hỏi phải đăng bài này, rút lại bài kia. Đây là chủ trương của Hội Văn Bút chứ không phải chỉ riêng là tính cách vô tư của nhà văn Phạm Việt Tuyền.

3) Nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại : " giữa thập niên 1960, để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến, mỗi tháng, mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật, do hội viên đó, tự chọn. Nơi chốn (luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du), cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự... đều do ông đích thân liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...

Có vài điều sai lạc trong đoạn văn ngắn này :

- Việc mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn chương là kết quả của nhiều phiên họp bàn thảo kỹ lưỡng trong Ban Thường Vụ (sở dĩ phải bàn kỹ lưỡng vì không phải chỉ tổ chức có một buổi nói chuyện mà đây được coi là sinh hoạt thường xuyên của Hội mỗi tháng). Hơn nữa, cho dù sáng kiến này xuất phát từ bất cứ cá nhân nào thì nó cũng phải dựa vào uy tín của các nhà văn, nhà thơ  lão thành trong Hội. Chính nhờ những uy tín này mà công việc mời diễn giả sẽ được dễ dàng hơn.  Rồi đi vào công việc tổ chức thì cũng phải đòi hỏi nhiều công sức đóng góp của rất nhiều người  (như lựa chọn diễn giả,  tiếp xúc và thảo luận về đề tài nói chuyện, chuẩn bị hội trường và phát động trên báo chí, in thư mời và bỏ phong bì gửi bưu điện, tìm xướng ngôn viên điều khiển buổi họp nói chuyện..v.v…). Nhà văn Phạm Việt Tuyền đa đoan nhiều thứ công việc quan trọng hơn, làm sao ông có thể đích thân lo đến cả trợ huấn cụ cũng như mời khách tham dự, quảng bá tin tức được.

- Nhà thơ Du Tử Lê cho biết nơi chốn tổ chức: luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du,  thì cũng là điều không đúng, bởi Thính đường này không phải luôn luôn sẵn sàng cung ứng (available) theo lời yêu cầu của Văn Bút,  do Viện còn bận rộn nhiều cuộc trình diễn khác. Trong khi ấy, Văn Bút vì phải giữ thông lệ hàng tháng của mình nên nhiều khi phải chạy tìm chỗ khác khi chưa có trụ sở mới khang trang. Cuộc nói chuyện do Văn Bút tổ chức cho chính tôi (Nhật Tiến) ngày 15-4-1962 đã diễn ra tại hội trường của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn (sau này trở thành Thư Viện Quốc Gia do công trình của Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, cụ Mai Thọ Truyền).

Đề tài thuyết trình của tôi hôm ấy là "Một vài nhận xét về tình trạng bế tắc trong ngành tiểu thuyết hiện nay", qua đó tôi đã chỉ trích mạnh mẽ Sở Kiểm Duyệt, Bộ Thông Tin về sự đã hạch hỏi về tên nhân vật "Thiếu phụ áo đỏ" trong tiểu thuyết kịch "Người kéo màn" của tôi khi tôi đem kiểm duyệt, xin giấy phép in. Người kiểm duyệt sách đặt câu hỏi : " Tại sao không phải mầu áo khác mà lại là áo đỏ ?". Quả thực là tôi đã nhức đầu khi phải trực diện với tính cách chống Cộng kiểu này, nhưng do sự cương quyết của tôi, Bộ Thông Tin đã nhượng bộ và tôi được giữ nguyên tên nhân vật của mình khi tác phẩm được in ra và để cho tôi có cơ hội nhắc lại trong bài thuyết trình.

Kể lại điều này là để cho thấy chỉ có ở chế độ dân chủ tự do ở miền Nam thì mới có lối tranh cãi, có sự nhượng bộ, và có sự đăng đàn chỉ trích nói trên mà người trong cuộc vẫn không bị ai làm khó dễ gì. Gần 50 năm sau (tính tới năm 2009), so ra chế độ CSVN hãy còn thua xa lắc !

- Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...Điều này đúng nhưng không phải do sự dễ dãi của riêng vị Tổng thư Ký Phạm Việt Tuyền. Nó là chủ trương tôn trọng tự do của người cầm bút theo Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế . Nó cũng chính là lý do để cho Hội Văn Bút VN được thành lập và có rất đông đảo văn nghệ sĩ tham gia, hưởng ứng. Lẽ nào lại chỉ có một mình nhà văn Phạm Việt Tuyền dễ dãi với diễn giả, không cần phải đưa bài cho ông "duyệt" trước ! Một người suốt đời tận tụy với Văn Bút như nhà văn Phạm Việt Tuyền, nếu được  nghe ca ngợi mình qua câu này, chắc chính ông cũng phải thấy mắc cỡ !

4)  Năm 1965, nhà thơ Du Tử Lê  được Văn Bút mời nói chuyện. Ông kể : "Trước khi nhận lời, tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi, uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp: "Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì..." Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương "tránh mang tiếng!"

Xin có vài điều nói về đoạn văn này:

- Việc nhà thơ Du Tử Lê muốn nhường buổi nói chuyện cho Tổng Thư Ký Phạm Việt Tuyền vì ông Tuyền là "một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch",  đối với tôi (Nhật Tiến) hoàn toàn không ăn khớp với thời gian. Như ở trên tôi đã kể, từ năm 1961 Văn Bút đã tổ chức nhiều buổi nói chuyện, trong khi mãi tới năm 1965 nhà thơ Du Tử Lê mới tham dự, tức là sự việc coi như đã trở thành thường xuyên rồi,  thì  việc  nhường nhịn "ai nói trước, ai nói sau" có còn cần thiết đặt ra nữa hay không ?

Hơn nữa, trước buổi nói của Du Tử Lê vào năm 1965, Phạm Việt Tuyền đã có tới 2 buổi  do Văn Bút tổ chức. Vậy thì làm gì có chuyện Phạm Việt Tuyền trả lời Du Tử Lê:

-"Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì..." Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương "tránh mang tiếng!"

Hai buổi nói chuyện của Phạm Việt Tuyền trước Du Tử Lê, có đề tài như sau:

- Ngày 1-7-1962: Hoàng Quang: một xử sĩ, một chứng nhân  hay một lính chí nguyện.  

- Ngày 1-12-1963: Vài nhận xét về báo chí Anh.

Tôi lại rất ngạc nhiên về câu kết luận của nhà thơ Du Tử Lê sau câu chuyện nhường nhịn "nói" này:

- " Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương "tránh mang tiếng!".

Ô hay ! Là Tổng Thư Ký của một Hội đứng ra tổ chức các buổi nói chuyện hằng tháng, tha thiết mời người khác nói, trong khi chính mình thì cũng đã nói tới hai buổi rồi thì tại sao lại có chuyện"tránh mang tiếng"  !!

Hay là ông muốn nói rằng ông Tổng Thư Ký Văn Bút tránh mang tiếng là tranh giành chỗ nói của người khác. Nhưng đó chỉ là suy diễn, chứ ý của Du Tử Lê trong bài viết thì đã quá rõ ràng. Vả lại chẳng bao giờ làm chuyện công vụ cho Văn Bút mà ông Phạm Việt Tuyền lại sợ mang tiếng.

Như  trong hầu hết  các kỳ  họp Hội Nghị Văn Bút  Quốc Tế, do yêu cầu của Hội, nhà văn Phạm Việt Tuyền với tư cách Tổng Thư Ký của Hội nên  đều có mặt tham dự. Vậy ông đâu có sợ bị mang tiếng !

Viết lách lửng lơ con cá vàng với ngôn ngữ điếng người kiểu này, thì kể cũng khá gây vất vả cho người đọc.

Nhất là  khi viết những tài liệu văn hóa để gửi lại cho thế hệ mai sau.

NHẬT TIẾN
20-9-2009

Chương IV

Hội Họp Ở Trung Tâm Văn Bút


Văn Bút sinh hoạt rất đều đặn. Cứ một tháng thì Ban Chấp Hành họp một lần. Còn Ban Thường Vụ thì họp vào mỗi tối Thứ Tư hằng tuần. Tuy nhiên bất cứ văn hữu hội viên  nào ghé tham dự  thì cũng vẫn được tiếp đón nồng nhiệt, chỉ không được bỏ phiếu nếu khi  Hội cần có một quyết định.

Toàn bộ khu lầu hai của trụ sở chỉ là một căn phòng rộng rãi đủ kê 100 ghế ngồi và một bục làm sân khấu. Khi không có buổi tổ chức nói chuyện văn chương thì ghế được dẹp gọn lại để kê một cái bàn dài đủ chỗ cho khoảng 20 người ngồi họp. Còn khoảng chỗ bên ngoài hàng hiên nhìn ra sân trước thì cũng rất rộng, vừa đủ chỗ kê nhiều cái bàn thấp và ghế ngồi  để biến thành một cái Câu Lạc Bộ bỏ túi, anh chị em văn nghệ sĩ có thể lui tới uống trà hay cà phê miễn phí bàn bạc chuyện văn chương.

Ban Thường Vụ họp mặt thông thường có sự hiện diện của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (Cố vấn), Kịch tác gia Vi Huyền Đắc (Cố vấn), LM. Thanh Lãng (Chủ tịch), Nhà văn Hồ Hữu Tường ( Đệ I Phó Chủ Tịch), Nhật Tiến (Đệ II Phó Chủ Tịch), nhà văn Phạm Việt Tuyền (Tổng Thư Ký), Dịch giả Luật sư Nghiêm Xuân Việt (Ủy viên phiên dịch Pháp ngữ), Dịch giả Lê văn Hoàn ( Ủy viên phiên dịch Anh ngữ), Nhà văn Trần Phong Giao, nhà báo Lê Thanh Thái, nhà văn Vũ Hạnh (tòa soạn Tin Sách).

Buổi họp nào cũng có mặt ông Thư Ký hành chánh Nguyễn văn Hinh mà chúng tôi hay gọi là cụ Hinh, người đã làm việc với Văn Bút từ 1958 cho tới năm 1975. Cụ Hinh lo sắp xếp bàn ghế, chuẩn bị hồ sơ giấy tờ, kể cả việc pha trà nóng và đặt mấy đĩa bánh đậu xanh để mọi người nhấm nháp. Đặc biệt là trong phiên họp nếu có văn thư nào cần phổ biến cho Báo Chí hoặc cần thông báo tới hội viên toàn quốc thì chỉ cần trao cho Cụ bản viết tay đã được Ban Thường Vụ thông qua, là ngay đêm đó Cụ đánh máy trên giấy stencil và quay ronéo làm nhiều bản để sáng hôm sau chiếu theo các địa chỉ có sẵn, vô phong bì và dán tem gửi đi.

Phiên họp hàng tháng của Ban Chấp Hành thì ngoài Ban Thường Vụ, nhân số tham dự thêm đông đảo hơn. Những người tới họp (có vị tới thường xuyên, có vị tới thất thường) mà tôi nhớ được như : Học giả Đào Đăng Vỹ, Nhà biên khảo Hoàng Xuân Việt, Nhà văn Tam Lang, nhà báo Huỳnh Thiên Kim, nhà văn Nguyễn thị Vinh, Nhà văn Nguyễn đình Toàn, nhà văn Hào Nguyên Nguyễn Hóa, nhà báo Nguyễn Ngu Í,  nhà văn Châm Vũ Nguyễn Văn Tần, nhà văn Sơn Nam, nhà văn Minh Quân, nhà văn Đỗ Phương Khanh, nhà thơ Tuệ Mai, nhà thơ Hỷ Khương, nhà thơ Hoàng Hương Trang, nhà thơ Phổ Đức, nhà thơ Huy Lực, nhà văn Vũ Tiến Phúc, nhà biên soạn tự điển Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường và phu nhân là nữ sĩ Như Hiên, Ký giả Thanh Việt Thanh, nhà báo Nguyễn Vạn An, Nữ sĩ Giáng Kiều…v..v..

Giáng Kiều là học sinh trường trung học Đồng Khánh, Hà Nội. Tham gia sinh hoạt văn nghệ từ năm 1942 khi cùng thành lập Ban Kịch với Thế Lữ, Song Kim và Nguyễn Kỳ Ngung. Danh hiệu Giáng Kiều do Thế Lữ đặt. Ban kịch đã trình diễn nhiều vở kịch nổi tiếng trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội trong hai năm 1942, 1943 như các vở Tục Lụy, Kim Tiền (do Vi Huyền Đắc soạn và do Nguyễn Tuân, Giáng Kiều thủ vai chính),  Kinh Kha (Thế Lữ đóng vai Thái tử Đan) , Khóc lên tiếng cười (Giáng Kiều  đóng vai chính), Lọ Vàng (thoại kịch, Thế Lữ thủ vai chính, kịch không có vai nữ). Sau năm 1954, Giáng Kiều di cư vào Nam, làm thơ, ngâm thơ và là thành viên của Ban Chấp Hành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

Khi Văn Bút ấn hành Tập San Văn Bút, số đầu ra tháng 11-1971, văn hữu Giáng Kiều đã sốt sắng ký chi phiếu mua ủng hộ ngay 100 số, mà theo bà thì : ..."một phần là để gửi tặng bạn bè, phần còn lại gửi cho một con đang học ở Hoa Kỳ, và người con khác  đang học ở Bỉ."

° ° °

Nhiều vị trong số nêu danh trong Ban Chấp Hành  kể trên, đối với tôi cũng có nhiều kỷ niệm. Nói chung là tôi tìm thấy ở mỗi người một tình cảm thân mến, cảm thông, nhiều khích lệ. Những trang sau đây, xin ghi lại ít dòng về một vài nhân vật chủ chốt của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, coi như một nén hương lòng nhớ lại  thời Văn Bút còn sinh hoạt ở quê nhà.

Nhà văn ĐỖ ĐỨC THU
(1909-1979)

Hình chụp trên báo Thế Giới Tự Do tập 7,  số 9  năm 1957 tại trụ sở của Nhóm Bút Việt

Đỗ Đức Thu sinh ngày 28-12-1909 tại Thái Bình, nguyên quán quê ông ở làng Mộc Hạ Đình, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Ông xuất thân làm công chức Sở Khí Tượng Hà Nội. Tác phẩm đầu tay của ông tựa đề là "Ba", được giải thưởng khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn. Về sau ông gia nhập Văn đoàn Tự Lực, viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Ngày Nay.

Ông cũng từng là Chủ tịch đầu tiên của Nhóm Bút Việt sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút với nhiều nhiệm kỳ:

Ngày 17-8-1957: Ông được bầu làm  Chủ tịch Ban Vận Động Nhóm Bút Việt có Cụ Vương Hồng Sển và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn làm Phó Chủ tịch.

Ngày 19-11-1957, sau khi đã được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép hoạt động, Ông được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp Hành Lâm Thời của Nhóm Bút Việt, hai Cụ Vương Hồng Sển và Vi Huyền Đắc làm Phó Chủ tịch.

Niên Khóa 1960-1961: Ông là Chủ tịch Ban Chấp Hành Chính thức của Văn Bút, Tchya Đái Đức Tuấn và Phạm Việt Tuyền làm Phó Chủ Tịch .

Niên khóa 1961-1962 : Ông rút lui đề nhà văn Nhất Linh làm Chủ tịch, có LM. Thanh Lãng và kịch tác gia Vi Huyền Đắc làm Phó Chủ tịch.

Niên Khóa 1962-1963: Đỗ Đức Thu cùng với các vị Nhất Linh Nguyễn Tường tam và Đông Hồ Lâm Tấn Phác trở thành Cố vấn của Văn Bút.

Tác phẩm của nhà văn Đỗ Đức Thu

- Vỡ lòng (tiểu thuyết) NXB Đời Nay, Hà Nội

- Bốc đồng (tiểu thuyết) NXB Nguyễn Du,  Hà Nội 1942

- Nhà bên kia (tập truyện ngắn) NXB Công Lực, Hà Nội, 1943

- Đứa con (tiểu thuyết) NXB Đời Nay, Hà Nội 1943, truyện dài này trước có đăng ở tạp chí Thanh Nghị ở Hà Nội năm 1941, 1942.

Ông mất ngày 5-3-1979 tại Tân Định, Sài Gòn, thọ 70 tuổi.

° ° °

Nhà văn hóa Vương Hồng Sển
(1902-1996)

Hình chụp trên báo Thế Giới Tự Do tập 7, số 9  năm 1957 tại trụ sở của Nhóm Bút Việt

Vương Hồng Sển là một nhà văn hóa lớn và cũng là nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Toàn bộ tác phẩm đồ sộ của ông viết về cổ ngoạn cũng như những sưu khảo về văn hóa miền Nam đã rất được độc giả ưa chuộng và được giới sử học, khảo cổ kính trọng.

Từ năm 1957 ông cũng đã là một trong những văn nghệ sĩ lão thành đứng ra sáng lập Nhóm Bút Việt, tiền thân của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

Theo tài liệu của tờ Thế Giới Tự Do Tập VII, số 9, năm 1957 thì vào ngày 17-8-1957 ở nhà hàng Thăng Long Sài Gòn, Ban Vận Động Nhóm Bút Việt đã được thành lập có nhà văn Đỗ Đức Thu làm Chủ tịch, Cụ Vương Hồng Sển và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn làm Phó Chủ tịch.

Đến ngày 19-11-1957, sau khi đã được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép hoạt động, Ban Chấp Hành Lâm Thời của Nhóm Bút Việt đã được thành lập có nhà văn Đỗ Đức Thu làm Chủ tịch, hai Cụ Vương Hồng Sển và Vi Huyền Đắc làm Phó Chủ tịch.

Như thế, chính nhờ vào uy tín của những bậc lão thành như Vương Hổng Sển mà Văn Bút có được những hỗ trợ tinh thần quý báu để mỗi ngày một phát triển hơn và tồn tại suốt gần 20 năm trong sinh hoạt văn hóa miền Nam.

Được biết trước khi mất, vì muốn các cổ vật cùng căn nhà cổ của mình (tên Vân Đường Phủ) có cơ hội phát huy tối đa các giá trị văn hóa, cụ Vương Hồng Sển đã lập di chúc truất quyền thừa kế của con trai duy nhất là Vương Hồng Bảo, rồi đem tài sản dày công sưu tập, chăm chút cả đời hiến tặng cho Nhà nước với hy vọng ngôi nhà Vân Đường Phủ sẽ là Nhà Bảo tàng Vương Hồng Sển trưng bày toàn bộ cổ ngoạn của mình.

Nhưng hỡi ơi, sau khi ông mất, Thành Phố đưa toàn bộ cổ vật của ông vào trưng bày trong một gian phòng riêng của Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Sài Gòn, còn sách thì đưa đến Thư viện Khoa học Xã hội.

Còn căn nhà mà Cụ Vương ước mong sẽ trở thành nhà Bảo tàng Vương Hồng Sển thì theo báo Tuổi Trẻ, nó chỉ còn là "di sản thoi thóp giữa Sài Gòn" hoặc cụ thể hơn, theo tác giả Hồng Lê trên trang Web phapluatxahoi online thì:

"20 năm kể từ ngày cụ Vương từ trần, căn nhà cổ số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật  phường 14, quận Bình Thạnh, lại biến thành quán nhậu, quán ốc bình dân. Chúng tôi đã cố gắng tiếp xúc với cháu nội cụ Vương Hồng Sển - những người đang sử dụng ngôi nhà cổ, nhưng họ từ chối. Bốn bề nhà cao tầng che khuất căn nhà cổ, phía trước biển hiệu, cơm tấm, quán ốc được giương cao, bên trong bàn ghế, bếp núc giăng đầy sân.

Buổi chiều quán khá đông khách, mùi thức ăn, mùi dầu mỡ, rượu bia, tiếng hò hét xô bồ…Làm sao tưởng tượng nổi đây chính là căn nhà cụ Vương đã tìm đủ mọi cách để mua cho bằng được, rồi di dời gần như nguyên căn từ tận Nhà Bè về đến Bình Thạnh. Cụ đã chăm chút, toàn bộ vách, cột kèo bằng gỗ quý bóng loáng, đồ cổ đã từng nằm nghiêm cẩn khắp các góc nhà. Hơn nửa đời viết lách, sưu tầm cổ vật, Vương Hồng Sển đã gắn liền với chốn này, nên ông đã ưu ái gọi là "vuông nhà cổ tích", "Vân Đường Phủ". Và là nơi các thi nhân, học giả, các nhà nghiên cứu nổi tiếng thường xuyên ghé thăm, bàn luận cổ vật, đọc sách, ngâm thơ, thưởng trà…

Cũng chính không gian này đã khiến các tạp chí danh tiếng thế giới như Times, Newsweek… dày công bay hết nửa vòng trái đất đến tìm hiểu, giới thiệu. Càng kể về quá khứ lại càng đau lòng, không hiểu người ta đang đối xử thế nào với di tích của tiền nhân."

Di sản vật chất thì như thế, đến những tác phẩm tinh thần của Cụ cũng thê thảm theo lời thuật của tác giả Phạm Chu Sa trên trang Web  Khaiphong.org:

.   "Một lần tôi đến thăm, cụ Vương buồn bã bảo cuốn hồi ký Hơn nửa đời hư nhiều đoạn đã bị người biên tập cắt xén bỏ đi hoặc tự ý sửa mà không hề tham khảo ý kiến cụ. Ví dụ, đoạn cụ viết về Nguyễn Văn Sâm đã bị cắt bỏ. Đặc biệt cụ tâm đắc bài Ngô Quốc lão coi mắt Vương Hoàng thúc kể chuyện Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục - anh ruột Ngô Đình Diệm - mời cụ Vương đến coi mặt để đề bạt cụ nhưng thấy cụ "đầu bướu đầu bò" quá (chữ của cụ Vương) nên Ngô Đình Thục bỏ ý định tiến cử cụ cho Ngô Đình Diệm. Bài này khi in đã bị cắt xén nhiều chỗ, cụ rất buồn.

Tệ nhất là cuốn Tiếng Việt miền Nam - tựa ban đầu của cụ Vương là Tự vị tiếng nói miền Nam nhưng không biết người làm sách liên kết với nhà xuất bản tự ý đổi tựa mà không hỏi cụ một tiếng! Cụ Vương càng giận hơn khi sách in lỗi morasse đầm đìa, ví dụ con kênh dài 28 km thì in 20 km; năm 1809 thì in thành năm 1890…

"Vì vậy" cụ Vương nói giọng hờn dỗi:

"Tôi từ chối nhận cuốn sách ấy là của tôi. Con tôi sinh ra nhưng người khác khai sinh đổi tên, đổi họ tôi không nhìn nó là con tôi"!

Tôi nhớ mãi giọng cụ bực tức lẫn u uất:

"Tôi già rồi. Tiếc là có một số người làm công việc văn hóa mà làm nhiều chuyện thiếu văn hóa. Tôi biết có nhiều người lấy công trình nghiên cứu của người khác sửa thêm bớt chút đỉnh rồi đề tên mình vào…".

(PHẠM CHU SA http://khaiphong.org)

Nhà văn Phạm Việt Tuyền
Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút VN
(1926-2009)

Chức vụ Tổng Thư Ký của Nhóm Bút Việt (sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút) kể từ năm 1957 đến 1975 đã do các vị sau đây đảm trách:

1957-1960: Nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

1960-1961: Luật sư kiêm dịch giả Pháp ngữ Nghiêm Xuân Việt.

  1961-1975: Nhà văn, nhà báo Phạm Việt Tuyền. `

Như vậy trải 15 năm ròng rã, trong vai trò một Tổng Thư Ký, nhà văn Phạm Việt Tuyền đã gánh vác một trọng trách hết sức nặng nề là điều hợp mọi công việc của Văn Bút sao cho được tiến hành suông sẻ.  Tuy nhiên chẳng riêng gì một mình ông phải đứng ra lo hết mọi chuyện mà nhờ có thiện chí đóng góp tích cực của nhiều thành viên khác nên công  việc của Hội luôn luôn được tiến hành chu đáo.

Vào tháng 10-1961, trong vai trò Chủ nhiệm nhật báo Tự Do, ông đã cho mở trên báo này một trang Văn học Nghệ thuật lấy tên là  "Tác giả, tác phẩm và công chúng" nhằm phổ biến những bài giới thiệu tác phẩm mới tới người đọc và hỗ trợ phong trào thưởng thức và phê bình sách do Trung Tâm Văn Bút chủ trương. Sau đây là vài đề mục đã xuất hiện trên trang báo ấy:

- "Vài ý nghĩ về lối phê bình văn học" của Nguyễn văn Trung.

- "Liếc qua tâm tình người đẹp của Vũ Hoàng Chương" - Phạm Việt Tuyền.

- "Hiện trạng văn nghệ" -  Hoàng văn Giang.

- Nhân đọc "Người Công giáo trước thời cuộc" - Lê Thành Trị.

- Đọc "Thềm Hoang của Nhật Tiến"- Vũ Hạnh

- "Sách báo Nhi đồng"  - Nguyễn Duy Cần.

- Nhân đọc "Thú Chơi Sách  của Vương Hồng Sển"- Nguyễn Duy Cần.

- Tôi đọc thi phẩm "Nỗi Buồn" của Thế Viên- Phạm Việt Tuyền

- Nhân đọc "Gia đình giáo dục" của Hà Thúc Lãng -. Nguyễn Duy Cần.

- Điểm sách "Những đêm mưa" của Linh Bảo - Vũ Hạnh.

- Điểm sách "Chị Em Hải"  của Nguyễn đình Toàn – Cô Phương Thảo.

- Điểm sách "Giã từ" của Võ Phiến –  Nguyễn đình Toàn.

- Nhân đọc"Les Séquestrés d’Altona" của Jean Paul Sartre

Lê Thành Trị   …v..v…

Năm 1969, nhà văn Phạm Việt Tuyền cho đăng bức thư của một Nghị sĩ tố cáo một ông Tổng Trưởng nên đã bị Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn kết án ông 3 tháng tù giam và 100.000 đ. Vì lý do đó, Trung Tâm Văn Bút VN  đã công bố một bản Kháng Nghị gửi Chính quyền V.N.C.H và gửi ông Chủ tịch Văn Bút Quốc Tế Arthur Miller và ông  Tổng Thư Ký David Carver. Tháng 9 năm ấy, ông Phạm Việt Tuyền lại tiếp tục tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế ở Menton (Pháp quốc) trong vai trò Tổng Thư Ký của Trung Tâm Văn Bút VN

Tác phẩm của ông gồm những cuốn : Trên Đường Phụng Sự (kịch, 1947) - Phá Lao Lung (thơ, 1956) - Nghệ Thuật Viết Văn (biên khảo, 1952) - Nghị Luận Văn Chương (biên khảo, 1953) -Nghị Luận Luân Lý Phổ Thông (1953)- Quan Điểm về Mấy Vấn Đề Văn Hóa (1959) - Phương Pháp Nghị Luận, Phân Tích và Phê Bình Văn Chương (1969) - Tôi Đọc Thơ ( phê bình, 1971) - Cửa Vào Phong Tục Việt Nam (biên khảo, 1972) - Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính với phần giới thiệu và phê bình của Phạm Việt Tuyền (1974).

Trong lãnh vực giáo dục, ông là giáo sư dạy Chứng chỉ Dự bị Ban Việt Hán ở Ðại Học Văn Khoa, Sài gòn; hay chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, cho năm thứ nhất ở Ðại Học Văn Khoa, Huế.

Ðầu thập niên 1980, ông đi định cư tại Pháp, thành phố Strasbourg và mất ở đây ngày 16 Tháng Hai, năm 2009, hưởng thọ 73 tuổi.

 

Kịch tác gia Vi  Huyền Đắc
(1899-1976)

Một cây cổ thụ của làng thoại kịch Việt Nam là Kịch tác gia Vi Huyền Đắc vốn là Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Văn Bút rồi là Cố vấn của Hội, người mà chúng tôi thường hạy gọi là Cụ Vi. Nhà Cụ ở  Ngã Năm Bình Hòa, Gia Định. Chúng tôi đã tới đó thăm từ hồi Cụ Bà còn sinh tiền. Nom Cụ Bà dáng dấp hiền hậu, ung dung đúng tác phong của một nhà giáo vì bà cũng là một cô Giáo. Khi chúng tôi tới, Cụ bà hay rút vô nhà trong để Cụ Ông nói chuyện văn nghệ với chúng tôi.  Cũng như thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Kịch tác gia Vi Huyền Đắc chỉ gọi tôi bẳng tên, như "Tiến thế này….Tiến thế kia…", rất ưu ái và thân mật. Cụ cho biết thường đi ngủ sớm, chừng 9 giờ để 5 giờ sáng dậy viết lách hay phiên dịch. Hồi đó Cụ đang dịch một truyện của Trung Quốc có tên là Anh Hùng Tay Bánh, đăng từng kỳ trên Nhật Báo Tự Do. Cụ còn nói với tôi : "Học chữ Hán đi,  tôi chỉ cho. Sau vài tháng là đọc báo được".  Rồi Cụ giải thích :

- Chỉ cần nhớ mặt chữ thôi. Còn nghĩa thì mình đã hiểu gần hết rồi. Như chữ  "Xuân Thu nhị kỳ" thì  ai chẳng hiểu nghĩa nó là gì ! Thế là đã qua được một nửa đường rồi.

Tôi nghe thấy có lý lắm, nhưng phần thì bận rộn, phần thì lười nên cứ ậm ừ cho qua. Bây giờ mới tiếc !

Hồi tôi ra tác phẩm "Người Kéo Màn" và chọn cho nó một thể loại chưa có  ai nghĩ tới: "Tiểu Thuyết Kịch". Cụ có bảo tôi:

- Dùng chữ Tiểu Thuyết Đối Thoại sát nghĩa hơn, nó diễn tả hai nhân vật trong truyện đối đáp nhau như trong một vở kịch.

Tôi ngẫm nghĩ rất lâu về lời khuyên này, nhưng đã không vâng lời  Cụ. Bởi tôi cứ bướng bỉnh nghĩ rằng "Tiểu thuyết nào mà chẳng có đối thoại". Tuy nhiên lòng tôi vẫn cảm thấy vui sướng vì đã được một đại cao thủ trong ngành Kịch quan tâm đến tác phẩm mới ra của mình.

Sau này, khi Giáo sư Nguyễn văn Trung còn đang giảng dạy ở Đại Học Văn Khoa có chất vấn tôi về  chữ "Tiểu Thuyết Kịch" thì tôi đã giải thích như sau:

"Tiểu thuyết kịch được dung hòa cả ba kỹ thuật tiểu thuyết, kịch bản và phim ảnh. Ở trong tiểu thuyết kịch, kỹ thuật viết tiểu thuyết vẫn được duy trì. Người viết có thể dùng loại văn tả cảnh, tả tâm trạng, tâm lý, tả cả cái ý nghĩ của nhân vật cũng được nữa. Nhưng xen vào đó, nhiều đoạn trong tác phẩm sẽ trở nên rườm rà, mất hứng thú nếu cứ viết theo giọng văn tiểu thuyết. Để theo kịp những tình tiết sôi nổi trong truyện, tôi xen vào lề lối đối thoại ngắn và gọn của kỹ thuật viết kịch bản. Nhưng có nhiều khi, trong cùng một khoảng thời gian ngắn ngủi, có nhiều sự kiện xảy ra một lúc, ở nhiều chỗ khác nhau. Để diễn tả được trọn vẹn cái đó không gì bằng áp dụng kỹ thuật của phim ảnh. Ngòi bút của người viết không khác gì ống kính của cameraman, đưa người đọc qua một mẩu sống ở chỗ này qua một mẩu sống ở chỗ kia, và tất cả những mẩu sống ấy xoáy tròn chung quanh một thời gian nhất định, một sự việc mấu chốt mà người viết định trình bầy với độc giả."

Không biết Kịch tác gia Vi Huyền Đắc có đọc những lời kể trên hay không, vốn đã được kịch tác gia Vũ Khắc Khoan cho in lại trên tuần báo Nghệ Thuật, số 20 ra vào tháng 2-1966, nhưng tôi không thấy Cụ nhắc lại vấn đề này nữa.

Có một điều mà ít ai nhớ hay là biết về một công trình khá công phu của Cụ Vi Huyền Đắc. Đó là đã có thời Cụ miệt mài ngồi sáng tạo ra một lối chữ viết tiếng Việt mà Cụ gọi là "Việt Tự". Đây là một công trình mà Cụ cho là nghiêm túc, rất muốn phổ biến nên Cụ đã soạn hẳn thành sách và cho xuất bản từ năm 1929. Có điều là lối viết này na ná chữ Nho nên không xếp chữ được mà Cụ phải tự tay viết rồi thuê thợ khắc bản gỗ để mang in. Chi tiết về lối chữ này khá dài dòng, phức tạp như thể Cụ chủ trương chữ quốc ngữ phải có 72 nguyên âm như a, à, á, ả, ã, ạ, e, è, é, ẹ. ê, ề, ế, ệ  ..v.v.., chỉ xin đan cử một thí dụ coi như một kỷ niệm về công trình của một bậc lão thành luôn luôn hết lòng với chữ nghĩa.

Thí dụ này lấy từ bài " Sống và viết với Vi Huyền Đắc" của Nguyễn Ngu Í đăng trên Bách Khoa số 200 ra ngày 1-5-165: Đây là hình bìa của cuốn "Cô Đốc Minh", do Vi Huyền Đắc trước tác, Thái Dương Văn Khố xuất bản và do Cụ Vi đã tự tay viết để đem khắc bản gỗ.

Đọc từ trái qua :

CÔ ĐỐC MINH

Phong trần tri cỉ

Vi Huyển Đắc  trước tác

Thái Dương Văn Khố  xuất bản.

Phân tích hàng chữ đầu, bên trái "CÔ ĐỐC MINH" :

Về lối chữ Việt viết kiểu này, nhà báo Nguyễn Ngu Í có hỏi:

- Báo chí lúc ấy và bạn bè có phê phán gì về Việt Tự của anh không ?

Cụ Vi đáp:

- Có, tôi có nhớ, báo Trung Bắc Tân Văn có nói đến. Trần Trọng Kim có viết thư cho tôi, khen việc tôi làm. Nhất Linh sau đó mấy năm trách tôi bỏ công ra làm một việc vô ích, để thì giờ mà viết kịch có phải hơn không. Nếu anh ấy biết tôi đã nghĩ đến việc hỏi đặt làm máy chữ tại Đức qua người đại lý máy đánh chữ Đức hiệu Adler làm trung gian thì tác giả "Đoạn Tuyệt"sẽ còn trách tôi nhiều hơn.

Cuộc sống của Cụ Vi Huyền Đắc sau khi vào Nam cũng rất thanh bạch. Nhà thơ Nguyễn Vỹ đã viết về Cụ như sau:

" ...Cuối năm 1954, sau gần 20 năm xa cách, tôi mới gặp lại Vi Huyền Đắc ở trong một căn nhà tĩnh mịch, mà anh đặt tên là Hoàng Mai Hiên, giữa một cảnh trí nên thơ ở miệt Ngã Năm Bình Hòa, ngoại ô Gia Định. Nhà chỉ có hai vợ chồng với một u già. Bao nhiêu cơ đồ sự nghiệp ở Hải Phòng đều bỏ lại đất Bắc hết. Bao nhiêu sách quý, các bản thảo, cả những tác phẩm của anh đã xuất bản hồi tiền chiến, đều bị mất sạch. Bấy giờ chị đi dạy học ở trường Tiểu học ĐaKao, còn anh thì ở nhà dịch tiểu thuyết Tàu cho vài tờ báo, sống cuộc đời nhà văn thanh cao, yên tịnh. Trong lúc ở ngoại quốc, các nhà kịch sĩ đang đưa lên sân khấu những sáng tác phẩm vô cùng sôi nổi, thì ở nước Việt Nam một nhà kịch sĩ rất có nhiều khả năng, nghệ thuật điêu luyện tinh vi, đành xếp các vở kịch qua một bên, để dịch các tiểu thuyết Tàu cho qua ngày tháng..."

Theo tác giả Trần Tâm trên trang nhà Việt Văn Mới (http://newvietart.com) thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cụ Vi Huyền Đắc ra Hà Nội sống với con trai là Giáo sư, Bác sĩ Y khoa Vi Huyền Trác. Ở đây thì Cụ bị ngã gãy xương, lại cao tuổi và bị loãng xương. Vết thương phải phẫu thuật nhưng sau một tháng điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai thì Cụ mất vào ngày 16 tháng 8 năm 1976, thọ 77 tuổi.

Tác phẩm của Vi Huyền Đắc gồm có (theo Wikipedia):

Kịch bản sáng tác:

Uyên ương (Thái Dương văn khố xuất bản, 1927. Đã diễn 4 lần tại Nhà hát Tây Hà Nội và nhiều tỉnh trên đất Bắc)

Hoàng Mộng Điệp (Thái Dương văn khố xuất bản, 1928. Diễn lần đầu tại nhà Nhạc hội Hà Nội năm 1930)

Hai tối tân hôn (Thái Dương văn khố xuất bản, 1929)

Cô đầu Yến (Thái Dương văn khố xuất bản, 1930)

Cô đốc Minh (Thái Dương văn khố xuất bản, 1931)

Nghệ sĩ hồn (1932)

Kinh Kha (đăng báo Phong Hóa từ số 134-138 năm 1935)

Ông Ký Cóp (1937, diễn lần đầu tại Nhà hát Tây Hà Nội tối ngày 15 tháng 10 năm 1938, diễn tại Hải Phòng tối ngày 19 tháng 12 năm 1938)

Eternels Regrets (viết bằng tiếng Pháp, Thái Dương văn khố xuất bản, 1938)

Kim tiền (Đăng trên báo Ngày Nay, từ số 99 đến 107, diễn lần đầu tại Nhà hát Tây Hải Phòng năm 1938)

Giê Su, đấng cứu thế (1942)

Lệ Chi Viên (1943)

Từ Hi Thái hậu (khoảng 1954)

Thành Cát Tư Hãn (1955)

Kịch bản phóng tác văn học nước ngoài :

Cá nước chim trời(nguyên tác của Đinh Tây Lan)

Láng giềng (nguyên tác của Hoàng Tự Thôn)

Khổng Tử can đạo chích (nguyên tác của Từ Vu)

Kịch bản dịch :

Mạc Tin (bản dịch vở Martine của J.J Bernard), Đời Nay xb, Hà Nội, 1936.

Truyện dịch từ Trung Văn :

Cô gái điên (nguyên tác của Từ Vu)

Người bạn lòng(nguyên tác của Tuấn Nhân)

Gái thời loạn (nguyên tác của Vũ Văn Hoa)

Ánh đèn (nguyên tác của Từ Vu)

Trên hòn hải đảo (nguyên tác của Quách Tự Phần)

Bóng chim tăm cá (nguyên tác của Chu Xuân Đăng)

Anh hùng tay bánh (nguyên tác của Lý Phi Mông)

Ba đóa hoa (nguyên tác của Quỳnh Dao)

Tấn bi kịch trong đình viên (nguyên tác của Lâm Ngữ Đường)

Khúc ca mùa thu (nguyên tác của Lâm Ngữ Đường)

Một gia đình (nguyên tác của Từ Vu, 1957)

Người đi (nguyên tác là Marins của M. Pagnol), Tử sách Thanh niên, 1963.

Biên khảo

Máy hơi nổ (1956)

Việt tự (1929)

Bạch hạc đình (1944)

Khóc lên tiếng cười (1945)

Vở kịch hay nhất (1955)

Nhà có Phúc (1956)...

Sau đây là mẫu quảng cáo vở kịch Ông Ký Cóp in năm 1937, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội tối ngày 19 tháng 11 năm 1938, diễn tại Hải Phòng tối ngày 19 tháng 12 năm 1938):

Nội dung mẫu quảng cáo  như sau :

Tại Nhà Hát Lớn Hanoi tối 19 Novembre:

 Ban Nghệ Sĩ do ông Thế Lữ chỉ dẫn,

sẽ diễn ÔNG KÝ CÓP, hài kịch mới, 3 hồi của Ô. Vi Huyền Đắc.

Các Cô : SONG NGA, MINH TRÂM, THANH HƯƠNG và SONG KIM.

Các Ông : HUYỀN THANH, NG. THÂN, NG. ĐẠO, và LINH TÂM.

Và THẾ LỮ (trong vai ông Ký Cóp)

Mở đầu : Một cuộc diễn ca của một nhạc sĩ tương lai : Ông  LÊ THƯƠNG

Những bài ca có giá trị (hầu hết chưa xuất bản): Tiếng Đàn Khuya, Một Ngày Xanh, Xuân Năm Xưa, Trên Sông Dương Tử, Khúc Ly Ca..v..v..

Cả một bầu trời thơ nhạc du dương sẽ gợi lên trong tiếng ca hiếm có của nhạc sĩ.

° ° °

Thi sĩ Vũ  Hoàng  Chương
(1916-1978)

Người giữ chức vụ Chủ Tịch Văn Bút sau nhà văn Đỗ Đức Thu và nhà văn Nhất Linh là nhà thơ Vũ Hoàng Chương.

Ông luôn luôn luôn mặc chiếc áo dài ta mầu đen, hoặc áo choàng kiểu tu sĩ mầu nâu. Vào mùa Hạ, khi đi họp ông còn phe phẩy cái quạt giấy nom rất là…đạo sĩ. Thân hình ông ẻo lả, nước da xanh xao, ít khi thấy hồng hào.  Ông có một cử chỉ rất duyên dáng là khi ngồi trước cử tọa để diễn thuyết, mỗi khi mở một trang giấy ở trước mặt thì ông lại thè lưỡi liếm bàn tay trước khi mở giấy, y như thể mỗi khi đếm tiền, lúc khô nước người ta phải nhấm lưỡi lên ngón tay cho ướt. Riêng nhà thi sĩ thì chơi nguyên cả bàn tay khiến khán giả vừa thích thú vừa cười bò. Sau này, trong vai trò Cố vấn Văn Bút, Thi sĩ cũng vẫn rất siêng năng đi họp. Ông ngồi đấy nhìn những đàn em với cặp mắt hiền từ, bao dung như sẵn sàng chia sẻ với mọi người trong các vấn đề đang bàn thảo.

Trong dịp Thi sĩ đi dự Hội Nghị Quốc Tế Văn Bút lần thứ 33 ở Bled, Nam Tư  tháng 7-1965 (bị nhà văn Mặc Đỗ chỉ trích - xin coi  phần trước, trang 89 ), ông có thuật lại cuộc phỏng vấn do các nhà báo ở Áo và Đức thực hiện. Xin trích đoạn bài phỏng vấn của Lê Phương Chi như sau :

"Tôi tìm đến nhà ông Vũ Hoàng Chương vào một buổi tối. Sau khi ghi chép những tài liệu về cuộc Hội Nghị Quốc Tế Văn Bút lần thứ 33 (33è Congrès de L’International P.E.N.), tôi hỏi:

- Xin ông cho biết cuộc phỏng vấn của các nhà báo bên ấy, ông đã trả lời với họ những gì? Ông còn nhớ tên những nhà báo ấy không ?

- Có chứ ! SALZBURG, VIENNE, GRAZ (các nhà báo này đều ở Áo  và ở Đức). Họ vây tôi có trên 20 người. Họ phỏng vấn và thu trực tiếp vào máy ghi âm (magnétophone). Họ hỏi nhiều vấn đề linh tinh xoay quanh thời cuộc Việt Nam.  Nhưng tôi khước từ bằng câu nói: "Tôi sang đây với nhiệm vụ về văn hóa, xin được phép trả lời các ông ở phạm vi ấy." Bấy giờ họ mới chịu hỏi:

- Tình hình sáng tác ở Việt Nam ra sao ? Có được tự do tư tưởng không?

-Ở nước chúng tôi sáng tác hoàn toàn tự do nhưng vấn đề phổ biến tác phẩm thì chật vật vì tình trạng chiến tranh.

- Nước ông có nhiều văn sĩ nổi tiếng không ?

- Ở nước chúng tôi đã có rất nhiều văn tài. Nhưng sự nổi tiếng còn lệ thuộc vào vấn đề ngôn ngữ. Ngôn ngữ của các nhà văn ấy có phải là thứ ngôn ngữ được truyền bá rộng khắp hay không. Do đó tiếng Việt chúng tôi không thể phổ biến bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Mỹ, thì lẽ dĩ nhiên các nhà văn trong nước chúng tôi cũng không thể sánh được với các nhà văn Anh, Pháp, Mỹ về vấn đề nổi tiếng.

-  Tác phẩm trong nước ông có được dịch ngoại ngữ nhiều không ?

-  Trước đã có, như truyện Kiều của cố văn hào Nguyễn-Du; nhưng gần đây thì phát triển mạnh. Về tiểu-thuyết thì đã có tác phẩm của cố văn-hào Nhất-Linh là nguyên Chủ-tịch của Trung-tâm Văn-bút chúng tôi; về thi ca cũng có cả tập thơ của tôi đã được dịch sang Anh, Pháp ngữ nữa.

- Các ông có dịch tác phẩm của Tây phương không?

- Có chứ ! chúng tôi đã dịch thơ của thi-hào LAMARTINE, truyện của Hohoré de BALZAC, kịch của SHAKESPEARE, CORNEILLE; và gần đây là các tác phẩm của Ernest HÉMINGWAY, William FAULKNER, Albert CAMUS v..v..

- Thử đọc một đoạn đã dịch ra tiếng nước ông xem thế nào ?

- Đáp : Đây là mấy câu trong bài Le Lac của Lamartine :

Trôi đi mãi con thuyền phiêu mạn

Khoảng đêm dài vô hạn bơ vơ

Mênh mông xa bến lạ bờ

Bỏ neo dừng lại một giờ được chăng ?

Nguyên văn là : Ainsi toujours pousses de la nouveaux rivages. Dans la nuit éternelle emportes sans retour, Ne pourrions-nous jamais sur l’océan des âges, Jeter l’ancre un seul jours ? ( bài này tôi dịch đã lâu lắm rồi, may sao bây giờ tôi lại nhớ ra ).

- Còn về thi ca cổ điển, ai nổi tiếng nhất trong nước ông ?

- Đáp: Cố văn-hào Nguyễn-Du với tác-phẩm Truyện Kiều làm bằng văn vần ; đã có nhiều bản dịch sang Anh và Pháp ngữ, từ thời tiền chiến.

- Xin tóm tắt tác phẩm ấy và đọc cho nghe thử mấy câu bằng tiếng của nước ông.

- Đáp : Đây là câu truyện kể về cuộc đời luân lạc của một thiếu nữ tài hoa bạc  mệnh v.. v.

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

( tôi ngâm 6 câu tất cả )

Xin xem toàn bộ bản văn này ở các trang trước.

° ° °

Suốt thời gian ở Văn Bút trước 1975, nghĩ đến ông bao giờ chúng tôi cũng có những hình ảnh thân thương, êm đềm, tốt đẹp nhưng chỉ đến khi có biến cố 30-4-1975 thỉ mới thêm những ý nghĩ chua xót ngậm ngùi  qua lời kể về ông của nhà văn Mai Thảo như sau:

(trích)

..."... - Khi nhóm nhà văn nhà thơ tiền chiến theo Đảng đã đủ mặt ở Sài Gòn, họ đến gặp Lê Tràng Kiều, Bàng Bá Lân, Quách Tấn, cả Vũ Bằng nữa, mà không một ai chịu tới thăm nữ sĩ Mộng Tuyết ở Úc Viên biệt thự. Là phụ nữ, lại thiếu cao ngạo, thiếu bản lãnh, sự "tẩy chay" này khiến Mộng Tuyết rất đỗi lo sợ. Nữ sĩ hốt hoảng đi tìm hai người viết nằm vùng là Sơn Nam và Vũ Hạnh để tìm hiểu lý do.

Bà than:

– Năm 1934, tôi đã được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn. Các anh Xuân Diệu, Thế Lữ bao nhiêu năm vẫn giao du với tôi và Đông Hồ rất thân thiết. Tôi lại chỉ làm thơ vịnh hoa, vịnh trăng, không chống cộng, chống cách mạng. Nay các anh ấy vào, đi thăm hết cả mà không một ai đến tôi là làm sao? Tôi có tội phải cho tôi biết chứ!

Vũ Hạnh lắc đầu:

– Chị được coi là không có tội. Các đồng chí không tới thăm chị chỉ vì Vũ Hoàng Chương hiện đang ở nhà chị đó!

Lần chót tôi tới Gác Mây, nhà của Mộng Tuyết, Vũ Hoàng Chương thuật lại nguyên nhân trường hợp Mộng Tuyết bị tẩy chay cho tôi nghe. Ông nói:

– Tao không trách Mộng Tuyết. Chẳng thể bình tĩnh thản nhiên như mình được. Vợ Đinh Hùng lên nhiều lần, lần nào cũng khẩn khoản mời vợ chồng tao về ở cùng, nói sống chết thế nào còn có nhau. Chính tao cũng đã định về phường Cây Bàng từ lâu. Chỉ ngại dọn nhà. Gặp Vũ Hạnh xong, Mộng Tuyết không dám nói rõ sợ tao giận, nhưng tao đã hiểu. Mày nghĩ tao có nên rời khỏi Gác Mây của Mộng Tuyết không?

Đó là một tòa biệt thự lạnh lẽo. Hai cánh cổng sáng chiều đóng chặt. Một nữ chủ nhân hoang mang lo sợ trước đổi đời. Thời thế tối thẳm, hung dữ đã giết chết cái không khí thanh lịch, đài các của hoa Lan, hoa Quỳnh. Gác Mây đâu còn là Gác Mây nữa. Úc Viên biệt thự tầm thường đâu còn xứng đáng là chỗ ở của thi bá. Từ ngày Vũ Hoàng Chương bị làm khó ở căn nhà vách ván lụp xụp ở khu Bàn Cờ, rồi Mộng Tuyết hết lời mời mọc, thi sĩ đành tới nhờ Úc Viên, có Gác Mây.

Trong truyền thống những thi sĩ lớn của dòng thơ Việt mọi thời, hoàn cảnh đời sống hàng ngày của Vũ Hoàng Chương phải được trải mãi trên tấm thảm gấm của Bần Bách và Đạm Bạc như trên tấm thảm ấy đã Tú Xương, đã Tản Đà, đã Nguyễn Bính, đã Đinh Hùng, đã Hàn Mặc Tử. Tôi mừng rỡ:

– Bọn khốn nạn khởi sự làm khó mày rồi đấy. Làm khó từ chỗ ở trước. Ở đây ra vào kiểu cách, khó chịu lắm. Về phường Cây Bàng đi. Ngại dọn nhà sẽ có bạn bè đến dọn.

Vũ Hoàng Chương thật sự có vẻ vui thích trước ý nghĩ ông về sống trên căn gác xép ngày trước của Đinh Hùng. Ông đã gần Đinh Hùng một đời. Bây giờ gần thêm nữa. Và tôi chia sẻ với ông niềm sung sướng đó. Ông nói:

– Một tuần lễ nữa, tao đi.

Năm ngày sau tôi trở lại Úc Viên, để thấy Vũ Hoàng Chương đã đi sớm hơn ông đã hẹn. Hai ngày trước, một nhóm sinh viên Luật yêu thơ ông, trước là học trò ông, tới thăm thầy đã đi mướn xe, khuân đồ đạc dùm thầy xuống khỏi Gác Mây, hộ tống thầy dọn đi rồi. Lần trở lại Úc Viên này, tôi không vào. Chỉ đứng lại với Mộng Tuyết ít phút ở cổng. Mộng Tuyết có vẻ ngượng:

– Anh Chương đi rồi. Giữ ảnh ở thêm ít ngày thế nào cũng không chịu.

Tôi không giấu được buồn bã:

– Từ phút anh Chương rời khỏi đây, Hà Nội đã chấm dứt tẩy chay chị rồi chứ? Những ai đã tới thăm chị rồi? Chúng mình cùng một cảnh ngộ, đã sống thân thiết với nhau mấy chục năm trời, bây giờ chết cũng phải tình nghĩa cố kết hơn lúc nào hết. Cho họ khỏi coi thường. Không ai đến thăm thì thôi. Chị đã bẩy mươi tuổi, còn sợ gì nữa?

Về sau tôi được biết Vũ Hoàng Chương về phường Cây Bàng buổi chiều thì ngay buổi tối ngày hôm đó, Vũ Hạnh chở Vespa Xuân Diệu tới thăm Mộng Tuyết. Rồi hôm sau, Huy Cận, Chế Lan Viên tới. Khi Mộng Tuyết nói thi sĩ đã rời khỏi Gác Mây, đám nhà thơ miền Bắc đặc biệt đố kỵ với riêng ông chỉ vì trời thơ hai miền hào quang ông át lấn mọi hào quang khác, đã giả vờ tỏ vẻ hối tiếc là không biết trước để tới thăm thi sĩ sớm hơn......"...

(ngưng trích)

Ngày 13 tháng 4 năm 1976, Nhà Nước CS bắt giam Ông đưa vào khám Chí Hòa. Rồi vì bệnh nặng, ông được thả về, nhưng chỉ 5 ngày sau tức ngày 6 tháng 9 năm 1976 thì ông từ trần, để lại mấy bài thơ làm trong tù như sau :

Văn tự hà tằng vi ngã dụng

Cơ hàn bất giác thụ nhân liên.

Nguyễn Du

Chẳng dùng chi được văn tài

Thân này lụy áo cơm ai bất ngờ

Phút giây chết điếng hồn thơ

Nét đau mặt chữ đến giờ còn đau.

Chắc gì ba trăm năm sau

Ðã ai vào nổi cơn sầu nằm đây

Nếu không cơm đọa áo đầy

Như thân nào thịt xương nầy bỗng dưng.

Chết theo vào đến lưng chừng

Say từng mảnh rớt mê từng khúc rơi

Nửa chiều say ngất mê tơi

Khúc đâu lơ láo mảnh đời Thi Vương.

Chí Hòa 1976

V.H.C

° ° °

TRONG KHÁM CHÍ HÒA

Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,

Lông hồng gieo xuống nhẹ như non,

Một manh chiếu nát, thân tơi tả,

Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.

Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,

Đêm về giấc ngủ lại thương con.

Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,

Hồ dễ gì phai được tấc son.

Bà Đinh Thục Oanh - Vũ Hoàng Chương, phu nhân - trước bàn thờ của cố Thi sĩ.

° ° °

Linh Mục THANH LÃNG
(1924-1978)

Chủ tịch Văn Bút cho tới tháng Tư-1975 là LM. Thanh Lãng, một người ôn tồn, điềm đạm, thanh nhã, cởi mở và cũng hơi diêm dúa. Ông luôn luôn bận áo chùng thâm có cổ cồn trắng và hút thuốc lá Craven A. Ông cũng lại hay sức nước hoa, nếu ở sát gần thì thấy hương sực nức. Với Ông, tôi có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ.

Một lần, tôi theo Ông đi dự đám tang của văn hào Nhất Linh ở nghĩa trang Giác Minh, Sài Gòn ngày 13-7-1963. Hôm đó công an, mật vụ của chính quyền len lỏi vào đám tang rất đông. Họ vây quanh đám ký giả ngoại quốc và những nhân vật dân sự không phải là người nhà của tang chủ. Nhờ bộ áo chùng thâm của LM Thanh Lãng mà tôi theo vào được nghĩa trang, trong khi một vài hội viên khác thì bị cản trở, rớt lại. Hôm đó, ngoài những nghi thức tụng kinh, khấn lễ thông thường, đã có 3 phần phát biểu ngoại lệ  thay cho điếu văn tiễn biệt là của Bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, đại diện chính giới, Linh mục Thanh Lãng, đại diện Trung tâm Văn bút Việt Nam và tôi, nhân danh thuộc thành phần văn nghệ sĩ trí thức trẻ.

Khi ở đám táng ra, đối diện với rất đông thành phần an ninh, trật tự đang xô đẩy đám phóng viên ngoại quốc cứ sấn lại tính phỏng vấn chúng tôi,  LM Thanh Lãng kéo tay tôi chạy về chỗ đậu xe của mình. Trên xe, lúc cầm lái, ông nói nhỏ nhẹ:

- Liệu lánh mặt đi vài bữa, kẻo phiền.

Tôi đã nghe lời ông. Ngay hôm đó, tôi vẫn để cái xe hơi con cóc (Renault 4 cheveaux) tại ngay trước cửa nhà đường Phan Kế Bính và mau mắn đi tuốt xuống Biên Hòa, tạm cư ngụ ở nhà anh bạn tên Nguyễn Tân Hoan vốn đang là GS Anh ngữ trưởng  công lập Ngô Quyền Biên Hòa.

° ° °

Năm 1974, khi Sài Gòn đang ở vào  thời kỳ cực kỳ xáo trộn do luật Báo Chí 007 (xin coi thêm ở phần sau), vào chiều 1-9-74, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam triệu tập phiên họp bất thường của Ban Thường Vụ. Kết quả là Hội đã thông qua một bản Kháng Nghị gởi cho báo chí và Hội nghị Thơ Văn Quốc Tế kỳ 6 đang họp tại thủ đô Bruxelles, Bỉ với nội dung kêu gọi Hội Văn Bút Quốc Tế và các tổ chức văn hóa báo chí quốc tế tích cực can thiệp cho quyền tự do thông tin được tái lập.

Sau đó, Trung Tâm Văn Bút còn công bố tổ chức một buổi hội thảo về báo chí vào lúc 18 giờ chiều Thứ Tư 11-9-74 tại trụ sở của Hội, vì thế mà con đường Đoàn thị Điểm đã bị cảnh sát bủa vây và kiểm soát lối ra vào trụ sở của Trung Tâm Văn Bút.

Chiều hôm đó khoảng sau 4 giờ tôi lái xe đến Văn Bút để thăm dò tình hình. Vì nhờ tôi có thẻ của Hội Viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục nên Cảnh sát không thể ngăn cấm tôi vào trụ sở được. Thẻ này do Phó Tổng Thồng Trần văn Hương kiêm Chủ tịch Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục ký, cho phép người có thẻ đi bất cứ nơi nào trên toàn lãnh thổ kể cả trong giờ giới nghiêm.

Khi đó, trong văn phòng Văn Bút ở tầng trệt, tôi thấy lố nhố nhiều bóng người. Cụ Hinh, thư ký của Hội thấy tôi tới mừng quá, nói to:

- Đây có ông Phó Chủ tịch vừa tới, các ông muốn hỏi gì thì hỏi.

Tôi bước vào phòng thấy có ba, bốn người đứng trước bàn giấy như đang lục lọi. Một người đứng kế cánh cửa ra vào thì tôi nhận ra ngay là ông Chu Bá Tước, một đồng nghiệp đã từng cùng dạy học với tôi ở trường trung học Trấn Võ của ông Cựu Tổng Trấn Bắc Việt Nghiêm Xuân Thiện. Sau này, ông Chu Bá Tước về làm phụ tá cho ông Tổng Ủy Dân Vận Hoàng Đức Nhã, trong chức vụ hình như là Chủ Sự Phòng Kiểm Duyệt. Tôi đã gặp ông Chu Bá Tước ở Bộ Thông Tin nhân dịp đến xin kiểm duyệt một tác phẩm. Hôm đó hình như ông Tước đang hạch hỏi chuyện gì với nhân viên của ông ấy nên vẻ mặt của ông lầm lì, xanh tái khiến các nhân viên có vẻ nín lặng, e dè. Trong tình cảnh đó tôi không thiết tới chuyện tay bắt mặt mừng với bạn đồng nghiệp cũ, chỉ lẳng lặng làm xong thủ tục rồi mau mau ra về bỏ lại phía sau bầu không khí vẫn đang có vẻ nặng nề.

Hôm nay gặp lại ông Chu Bá Tước tại trụ sở Văn Bút, tôi hết sức bất ngờ. Còn đang phân vân không biết nói năng gì thì vừa may Chủ tịch Văn Bút Thanh Lãng cũng vừa lái xe tới. Nhìn thấy quang cảnh văn phòng lố nhố những người, lại có kẻ đang mở ngăn kéo bàn giấy, LM. Thanh Lãng quát to:

- Ai cho phép mấy người bước vô đây ? Có biết đây là đâu không ? Đi ra ! Đi ra hết !

Trước cơn thịnh nộ (chưa từng có) của một vị Linh Mục, lại hẳn cũng biết vai trò của ông trong Hội Văn Bút nên ông Chu Bá Tước ra hiệu cho nhân viên bước hết ra ngoài và rút khỏi trụ sở.

° ° °

Sau biến cố 30-4-1975, tuy còn đang làm Trưởng ban Văn Chương Quốc Âm ở đại học Văn Khoa Sài Gòn nhưng chắc sinh hoạt ở đó cũng nhiều trò nhố nhăng lắm nên ông không muốn về trường nữa mà đi làm tàu hủ ở một Hợp tác xã trong Ngã Tư Bẩy Hiền. Thỉnh thoảng trên đường đạp xe từ Hợp tác xã trở về nhà (ông ở ngay con hẻm đi vào trường Lê Bảo Tịnh, đường Trương Minh Giảng cách nhà tôi độ non cây số),  ông hay ghé qua nhà tôi để cho mấy bìa đậu hủ mới ra lò, cầm lên thấy vẫn còn nóng hổi. Như vậy dư luận sau này lên án ông là một kẻ nằm vùng là hoàn toàn sai lạc. Vì nếu là kẻ nằm vùng thì sau 30-4, nhân thân là một Linh mục, một giáo sư Đại học, ông  đâu có đi làm đậu hủ !

° ° °

Nhà văn  Hồ  Hữu Tường
(1910-1980)

Một nhân sự khác cũng ghi lại cho tôi nhiều ấn tượng là Ông Đệ Nhất Phó Chủ tịch Văn Bút, nhà văn Hồ Hữu Tường.

Tôi biết đến tên tuổi của nhà văn Hồ Hữu Tường kể từ khi tôi còn mài đũng quần ở bậc trung học ở Hà Nội, khoảng 1952, 1953.

Hồi đó tác phẩm Phi Lạc Sang Tầu của ông (in năm 1949) đã gây sôi nổi trong đám học trò chúng tôi. Những nhân vật như thằng Mõ làng Phù Ninh, thằng Mõ làng Cổ Nhuế, Cụ Nguyễn văn Tố trường Viễn Đông Bác Cổ, nhà sư Hoàng Hạc thuộc phe Trung Hoa Quốc Gia lặn lội qua VN tìm thằng Mõ để xin vấn kế. Những chuyện ly kỳ đó xen với  những tình tiết bỡn cợt thật mà như giả, giả lại có vẻ như thật, lại đưa vào bối cảnh chính trị lúc đương thời rất thích hợp với tầm mức suy nghĩ của đám trẻ chúng tôi ở lứa tuổi sắp bước vào tuổi trưởng thành, đầu óc tưởng tượng rất phong phú và cũng rất ham học hỏi. Và cũng chỉ thế thôi, chứ chúng tôi vào thời đó chưa có đủ trình độ để nhìn ra tác phẩm này đã có những dụng ý sâu xa như nhà phê bình văn học Thụy khuê sau này đã nêu ra :

..." Phi Lạc sang Tàu là một tác phẩm phản kháng toàn diện. Một sự nổi loạn chống lại tất cả các hình thức từ chương, khuôn mẫu bào chế tư tưởng, chế nhạo những sự "mượn nhầm họ" mà họ Hồ là "nạn nhân" thời đại. Sự phản kháng của Phi Lạc có nguồn gốc sâu xa từ tự ái dân tộc, từ tình yêu dân tộc, nằm trong máu-óc Hồ Hữu Tường. Ông dùng một nhân vật cùng đinh, cùng khổ: thằng mõ (Cổ Nhuế hay Phù Ninh), cho nó làm đảo lộn trật tự tiên chỉ, làng xã; nó được thỉnh sang Tàu, sang Mỹ, sang Nga, như một cố vấn, một vị phu tử; nó làm "khuynh đảo" những "nền văn minh vĩ đại" bằng sự ... tán dóc, nói láo. Sự đại náo của Phi Lạc, cũng như sự đại náo của Ngộ Không, tiêu biểu cho cuộc cách mạng thường trực của tư tưởng: luôn luôn phải đặt lại vấn đề, chống lại những trật tự có sẵn của những bậc thánh hiền hoặc giả hiền."

Thụy Khuê

Paris, tháng 6/2003

[Hồ Hữu Tường (1910-1980)-Hồi ký và tiểu thuyết]

Phải thành thật mà nói tôi đã thấy mình bé nhỏ và bỡ ngỡ như một kẻ hậu sinh trước những bậc đại tiền bối khi được hân hạnh cùng đứng chung với Hồ Hữu Tường ở Ban Thường Vụ Văn Bút. Ông là một nhân vật khét tiếng ngay từ hồi tôi còn chưa được sinh ra kìa! Vì năm 1930 ông đã ở Pháp, cộng tác với nhà cách mạng Phan văn Hùm viết báo bằng tiếng Pháp, tờ La Verité (Sự Thật) chống đối việc Pháp xử tử anh hùng Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ VNQDĐ. Ông cũng ở trong ban biên tập tờ La Lutte (Tranh Đấu) xuất bản ở Sài Gòn năm 1934 cùng với các danh nhân nổi tiếng có tên trên biển đường là  nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và Trần văn Thạch. Tuy nhiên ông không mang một cái vẻ gì là một nhân vật kỳ bí, oanh liệt  như những tài liệu lịch sử viết về ông cả.  Mặc dù đã vào tù ra khám nhiều lần, kể cả đi tù Côn Đảo nhưng ông vẫn giữ được vóc dáng đẫy đà, vầng trán cao, đôi lông mày rậm, bạc, với nụ cười thoải mái phô bộ hàm răng hơi lớn quá khổ. Bình thường, ông bận thường phục nhưng cũng có lần ông đến họp trong bộ áo nhà tu mầu vàng từ đầu tới chân. Hồi đó nhà thơ Phạm Thiên Thư cũng tới họp Văn Bút, đầu cạo trọc, mặc áo thầy tu, đâu có sao !

Nhà văn Hồ Hữu Tường không hay gợi ý chuyện trò gì với tôi. Trong các phiên họp Thường Vụ ông chỉ chăm chú nghe và thỉnh thoảng cũng góp ý đôi điều trong vài vụ việc bình thường. Ngồi bên ông, tôi vẫn suy nghĩ về những chuyện ông đã làm trong quá khứ, những tác phẩm mà ông đã viết cho thế hệ chúng tôi đọc. Toàn là những thứ đáng nhớ, khó quên. Nhân khi ngồi viết những dòng này, tôi thấy cũng nên nhắc lại một  chuyện mà có thể ít người biết hay đã quên. Đó là chuyện đã có lần Hồ Hữu Tường hợp tác với nhà văn Khái Hưng để cùng sáng tác một truỵện dài theo lời kể của của nhà báo Nguyễn Ngu Í như sau :

"Việc xảy ra ở Hà Nội, năm 1946. Tôi (tức Hồ Hữu Tường) có bàn với anh Khái Hưng nên đưa hình thức tiểu thuyết mới, vì từ 1945, quần chúng bước ra sân khấu lịch sử, vai trò của cá nhân phải lu mờ trước vai trò của đoàn thể. Vậy, nội dung và thể tài của tiểu thuyết này phải khác. Anh Khái Hưng đồng ý, và chúng tôi hợp tác với nhau để viết chung một bộ tràng giang tiểu thuyết. Tôi chọn đề tài dựng sườn, phác họa nhân vật; anh Khái Hưng viết. Tên bộ tiểu thuyết: Gái nước Nam làm gì? Quyển đầu có tên: Nổi cơn gió bụi, mượn ở câu đầu "Chinh phụ ngâm": Thuở Trời Đất ...

- Chớ không phải Thu Hương?

- Không. Thu Hương, Chị Tập là hai phần trong bộ Gái nước Nam làm gì? cũng như Jean Valjean, Fantine, Cosette, Marius, trong bộ Les Misérables của Victo Hugo.

- Nhưng sao lại chọn đề tài Gái nước Nam làm gì? mà không Trai nước Nam làm gì? như một cuốn sách viết về thanh niên của anh Hoàng Đạo Thúy?

- Vì người con gái hành động do tình cảm, theo bản năng, mà rất nhẹ về lý trí. Tôi thấy lúc ấy lịch sử sắp lật qua trang mới, nên tôi muốn đặt lại vấn đề: "Hành động phải làm sao?" trong bộ Gái nước Nam làm gì? Anh Khái Hưng sửa soạn bắt tay vào việc, thì chiến tranh toàn quốc bùng nổ. Anh tản cư rồi bị hại. Tôi bị quân Pháp bắt về Hà Nội, rồi tôi về Sài Gòn. Tôi mới viết hai phần giữa rút ra trong bộ ấy. Thu Hương, rồi Chị Tập ra đời trên nhật báo Ánh sáng, rồi sau in thành sách. Đây chỉ là hai phác họa trong cái bích họa dự định để đánh dấu sự trỗi dậy của dân tộc khởi từ 1945, mà sự trỗi dậy này chẳng những đánh dấu lịch sử nước mình, mà cũng đánh dấu lịch sử nhân loại, vì do đó mà khơi mào cuộc chiến tranh nguội giữa hai khối Cộng sản và Tư bản. Tôi vẫn luyến tiếc cái dự định văn chương này, nên ra ngoài ngày tôi sẽ khởi đầu viết để đăng trên Hòa đồng.

(Sống và viết với Hồ Hữu Tường -

Nguyễn Ngu Í, Sài Gòn, 1966)

Hòa Đồng là tên của tờ tuần báo do ông cộng tác vào năm 1965 với mục đích  phát huy sự tổng hợp 3 nền văn minh: văn minh  Kỹ sư, văn minh Chính ủy và văn minh Tu sĩ.

Năm 1965 Ông làm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Năm 1967 được bầu làm dân biểu trong Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa.

Sau tháng tư năm 1975, ông bị CS bắt đi tù.

Sau 5 năm vì sức khỏe quá yếu nên ông được trả tự do nhưng đã mất ngay trên chiếc xe chuyên chở ông khi về gần tới nhà. Đó là ngày 26/6/1980.

Chương V

Văn Bút Với Đời Sống Xã Hội-Chính Trị


I. VĂN BÚT cứu trợ bão lụt.

Tháng 12 năm 1964, miền Trung có bão lụt rất nặng nề. Nhà thơ Kiên Giang, một hội viên Văn Bút đã làm một bài thơ dài, thống thiết với những câu như:

Sông Trà Khúc vùi trong bãi cát,

Tam Kỳ cùng run rẩy với Qui Nhơn,

Bột Sông Cầu thiếu lá Bồng Sơn

Nên chiếc bánh phu thê rời rã

Dừa Tam Quan xác xơ tóc lá

Hội An chìm biển nước trắng Thu Bồn..

…..

Hãy khóc lên cho máu trào khóe mắt

Cho lòng đau mềm nhũn đá miền Trung.

…..

Tiếp hơi thở cho những người hấp hối

Cho đất cằn sỏi đá sớm thành cơm.

 

Trước cảnh khốn cùng của đồng bào, Trung Tâm Văn Bút đã tổ chức một ngày Cứu Trợ tại hội trường của trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Ngày hôm đó (20-12-1964), vừa có cuộc nói chuyện của nhà văn Nguyễn thị Vinh với đề tài "Bão lụt qua thi ca Việt Nam" vừa có quầy bán tác phẩm của hội viên Văn Bút lấy tiền cứu trợ do các văn hữu Nhật Tiến, Nguyễn thị Vinh và  Minh Đức Hoài Trinh trong ban vận động.

Ở phía sau quầy bán sách, trên tường có treo hai câu thơ lục bát:

Dân ta khổ sở bơ vơ

Nỡ nào ngoảnh mặt làm ngơ cho đành.

Để kêu gọi lòng thương của quan khách, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút đã lên diễn đàn ngâm những bài thơ do ông sáng tác trong lúc cảm xúc về nạn bão lụt miền Trung, Tuy giọng ngâm ít điêu luyện nhưng hồn thơ của ông đã tác động sâu xa lòng thương yêu đồng bào của hầu hết thính giả hôm ấy.

Đã có các vị quan khách sau đây mua sách với giá ủng hộ :

- Cụ Trần văn Quế (Hội viên Thượng Hội Đồng Quốc Gia) mua bộ Nhật Bản Sử Lược của Châm Vũ  Nguyễn văn Tần với giá 500đ00.

- Ông Giám Đốc nhà sách Khai Trí mua cuốn Rừng Phong của Vũ Hoàng Chương với giá 2.000đ00.

-  Ông Trần Quang Thuận, cựu Bộ trưởng Bộ Xã Hội mua cuốn Mưa Gió Sông Tương của Tương Phố giá 500đ00.

- Ông Nguyễn Tử Ái, Chánh văn phòng Bộ Giáo Dục mua cuốn Trinh Trắng của Đông Hồ với giá 500đ00.

- Ông Đổng lý Văn phòng Bộ Xã Hội đại diện ông Tổng Trưởng mua cuốn Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương với giá 1.000đ00.

- Số tiền bán các tác phẩm khác của hội viên là 3.440đ00.

Tổng cộng tiền bán sách thu được 7.940đ00 sẽ chuyển giao cho Quỹ Cứu Lụt Miền Trung.

 

Vũ Hạnh trên trang WB của Hội Nhà văn TP/HCM

II.VŨ HẠNH, Cây Bút C.S Nằm Vùng.

Trên trang Web Vietnam Future, tác giả Vương Trùng Dương có đăng bài viết tựa đề :Vũ Hạnh - Chim Cút Hoạt Đầu Văn Nghệ.

Xin trích đoạn như sau:

..."... Tôi nói với Chu Tử về mặt lý thuyết, phê bình của Vũ Hạnh không có trọng lượng nào, không đáng cho chúng mình quan tâm, về mặt con người, Vũ Hạnh chỉ làm công việc mà anh ta phải làm, là một cán bộ cộng sản hoạt động trong ngành giáo dục và văn nghệ, nhiệm vụ của anh ta là đánh phá, là bôi đen những tác phẩm không đi theo đường lối văn chương hiện thực như một con đường cho cái gọi là "cách mạng".

Những chi tiết về Vũ Hạnh vừa bật ra làm Chu Tử đưa tay ngăn tôi lại. Tác giả tiểu thuyết Yêu hỏi tôi:

- Anh nói Vũ Hạnh đã bị bắt về tình nghi là cán bộ cộng sản?

Tôi trả lời : "Bạn tôi, hồ sơ của Vũ Hạnh nói như thế. Những cơ  quan an ninh bắt giữ giáo viên tên Dũng, một cán bộ cộng sản, muốn tha sau một thời gian giam giữ, cần đến một Hội đoàn trong ngành giáo dục đứng ra đóng vai trò bảo lãnh. Bạn tôi, giáo sư Nguyễn Hữu Chỉnh, giáo sư Nguyễn Văn Khánh phụ trách công việc nầy, đưa hồ sơ cho tôi coi và tham khảo ý kiến. Những thầy giáo hiền hòa chọn lựa từ trước khi đọc hồ sơ... Tổng Hội Giáo Giới đã đề nghị tha, và nhận bảo lãnh giáo viên tên Dũng có bút hiệu là Vũ Hạnh...

……

Vũ Hạnh được che chở trong sự nghiệp cầm bút nhờ Văn Bút Việt Nam (1957-1975) qua thời kỳ Chủ Tịch Vũ Hoàng Chương và Linh Mục Thanh Lãng (thời kỳ tiền nhiệm với Đỗ Đức Thu, Nhất Linh). Trong danh sách Văn Bút Việt Nam có 160 hội viên và Vũ Hạnh ở số thứ tự 28, nhờ uy tín của VBVN và đảm trách biên tập trong tờ Tin Sách nên khi có chuyện "bất an với nghi can" thì được che chở...."...

(hết trích)

Việc xin thả Vũ Hạnh sau khi bị Công an bắt giam, đúng là có sự can thiệp của Trung Tâm Văn Bút VN, nhưng không chỉ một mình Chủ tịch Văn Bút Thanh Lãng tự ý quyết định riêng - như dư luận vẫn nhắc tới - mà là do ý kiến của đa số  thành viên trong Ban Chấp Hành.

Hồi đó Vũ Hạnh đang là một Hội viên của Văn Bút. Ông ta rất siêng năng đi họp, không một buổi họp nào của Ban Thường Vụ vào buổi tối Thứ Tư hằng tuần ở trụ sở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn mà lại vắng mặt. Công việc chính được Ban Thường Vụ giao phó cho Vũ Hạnh là hợp tác với Trần Phong Giao ( sau này là Lê Thanh Thái)  trong việc điều hành tập san Tin Sách do Văn Bút ấn hành.

Thời gian đó không ai nghĩ Vũ Hạnh là một kẻ nằm vùng mà thông thường chỉ coi ông ta là một đồng nghiệp chăm chỉ, dễ chịu, chưa một lần nào góp ý hay đề nghị Văn Bút tiến hành một công tác gì có lợi cho CS. Tình văn hữu do đó có cơ hội nẩy nở và công việc của Văn Bút vẫn tiến hành một cách suông sẻ.

Cho đến khi giới chức trách về an ninh xác nhận đích thị Vũ Hạnh là cán bộ CS  nằm vùng, tuy không ai cải chính nhưng cũng chẳng lấy đó làm ngạc nhiên. Phải hiểu đó là một sự buông thả dễ dãi, một căn bệnh của trí thức miền Nam ở thời kỳ đó.

Trong tình cảnh miền Nam phải đối đầu với CS, sự can thiệp xin trả tự do cho Vũ Hạnh như thế tất nhiên là sai trái. Và những sai trái kiểu đó cũng đã xẩy ra ở  nhiều nơi, nhiều ngành hẳn đã góp phần không nhỏ vào sự sụp đổ miền Nam.

Nhưng ta hãy lui lại thời điểm của những năm của thập niên 60... trở về sau :

Thứ nhất : Ý thức chống Cộng ở miền Nam dù mạnh mẽ nhưng hầu hết chỉ ở bình diện lý thuyết, do đó thua xa cái ý thức chống Cộng quyết liệt như bây giờ do những kinh nghiệm xương máu hay nước mắt của hầu hết mọi người sau tháng 4-1975..

Thứ nhì : vì được nuôi dưỡng trong môi trường tự do, nhân bản nên người miền Nam nặng lòng nhân ái và giầu tình cảm trong những ứng xử đối với cuộc sống.  Chính vì thế mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã viết trong cuốn "Đời viết văn của tôi" rằng : "Xu hướng phản nhau như Vũ Hạnh và Võ Phiến mà vẫn trọng tư tưởng của nhau, ít nhất trong 10 năm đầu. Đó là điểm tôi quý nhất."

Cũng như thế, trong văn giới hầu như không mấy ai chấp nhận cung cách tố cáo lẫn nhau đặc biệt là trong lãnh vực chính trị. Thế cho nên những kẻ nằm vùng đầy dẫy trong nhiều cơ quan, đoàn thể, báo chí… mới có cơ hội tồn tại và lộng hành cho đến tháng 4-1975, chứ chẳng riêng một mình Vũ Hạnh.

Trong tình cảnh ấy, Trung Tâm Văn Bút can thiệp cho Vũ Hạnh ra tù tuy là điều sai trái nhưng cũng dễ hiểu.

Mà nói cho ngay, hồi đó Vũ Hạnh cũng chẳng phải là thứ CS thuần thành. Sống trong Sài Gòn lâu năm, ông ta cũng chao đảo và biết thiên về lợi nhuận của nền kinh tế thị trường. Cụ thể là vụ Chim Cút hồi năm 1970. Đây là một trong những vụ đầu cơ tích trữ, tạo khan hiếm giả tạo để nâng giá, và cuối cùng tung số lượng tích trữ ra bán giá cao để thu lợi.

Theo tác giả Trúc Giang – Minnesota trên trang Web https://cafevannghe.wordpress.com thì :

"....Những năm 1970, Sài Gòn rầm rộ dấy lên phong trào nuôi chim cút, lấy trứng và bán thịt cho các nhà hàng, tiệm ăn. Dư luận cho rằng tỷ phú người Hoa Lý Long Thân là người đã tạo ra cơn sốt chim cút làm cho rất nhiều người phải tán gia bại sản, trái lại Lý Long Thân thu vào một số tiền kếch xù trong một thời gian ngắn.

Chim cút được nuôi ít nhất là từng cặp, trống, mái. Hai tháng sau khi nở, cút mái đẻ từ 10 đến 12 trứng mỗi đợt. Sau khi không còn đẻ nữa thì được bán làm thịt.

Cơn sốt chim cút là giá bán tăng lên một cách kinh khủng từng ngày, từng giờ một, cùng với tin đồn dồn dập "cút đẻ ra vàng". Quảng cáo trên báo, người cần mua một cặp cút giá 5,000 đồng, người cần bán 3 cặp chim cút với giá 8,000$ một cặp. Thế rồi giá bán, giá mua được phổ biến tăng lên đến điểm đỉnh là 15,000$ một cặp. Nhiều tay chơi bạo muốn làm giàu nhanh chóng, bán xe, vay nợ, mang hết tài sản ra mua chim cút để hốt bạc, nhưng bỗng dưng không còn ai mua cút nữa, thế là tán gia bại sản...."

° ° °

Vũ Hạnh là một trong những người tham gia tích cực vào vụ buôn bán Chim Cút này. Không rõ ông lời lỗ ra sao, nhưng dù sao cũng đã dính vào công việc "mua đi bán lại" vốn là một tội mà ngay sau 30-4-1975 nhà cầm quyền CS luôn luôn lên án gắt gao.

Nói tới Vũ Hạnh, tôi lại nhớ hồi đầu năm 1979, khi phong trào đi bán chính thức ồ ạt, nhà báo Lê Ngộ Châu có nói với nhà tôi, Đỗ Phương Khanh rằng:

- Vũ Hạnh cho biết Võ văn Kiệt phàn nàn rằng văn nghệ sĩ muốn xuất ngoại thì cứ nạp đơn xin đi, việc gì phải xuống thuyền vượt biển chết uổng mạng.

Rồi ông Châu cười vui kết luận:

- Chị bảo anh ấy cứ nộp đơn. Nếu không cho mà bắt đi cải tạo thì khai do nghe lời Vũ Hạnh nói rằng đó là ý của ông Bí Thư Thành Ủy Võ văn Kiệt.

Nhà tôi bàn :

- Hồi này rục rịch cũng thấy mấy ông có thân nhân ở Pháp được cho đi Pháp, biết đâu họ cho đi thật để lấy tiếng là Nhà Nước không đàn áp văn nghệ sĩ.

Ông Châu vui miệng "xúi" tiếp :

- Mà phải nộp đơn tận tay ổng kìa. Nộp vào sở Công An tụi nó vứt sọt rác.

Rồi ông lại còn mách nước :

- Muốn trao tận tay thì phải tới tận nhà ổng ở đường Bà Huyện Thanh Quan, nói với bảo vệ là người nhà chú Sáu Dân muốn xin gặp để gửi cái thư riêng, chứ nói xin gặp ông Võ văn Kiệt thì nó không cho vô đâu.

Vì hồi đó phong trào vượt biên lên cao, chúng tôi cũng ngấp nghé tính chuyện, vậy nếu cứ chính thức xin xuất ngoại như thế, rủi khi đi mà bị bắt thì mình cũng có cớ mà cãi. Tôi bèn làm đơn xin đi Pháp chữa bệnh, nhân có ông anh vợ là công dân Pháp gốc Việt, đã ở Pháp từ cuối thập niên 50. Nhà tôi bỏ cái đơn vào phong bì dán kín, ngoài chỉ đề "Thư riêng gửi anh Sáu Dân" vốn là bí danh của Võ văn Kiệt rồi đích thân mang tới một biệt thự ở đường Bà Huyện Thanh Quan. Quả nhiên khi tới nơi, bảo vệ không cho vào. Nhà tôi phải nói :

- Có một cái thư gấp của người nhà Chú Sáu cần phải giao tận tay.

Nhưng bảo vệ nói:

- Hiện ổng đi vắng, không có nhà. Xin cứ để thư lại, chúng tôi sẽ trao sau.

Cũng đành vậy thôi chứ biết làm sao hơn.

Thế mà lá thư gửi lại đó ít lâu sau cũng có hồi âm, trong chỉ vỏn vẹn xác nhận là đã nhận đơn xin xuất ngoại, chờ cứu xét.

Đến khoảng gần nửa năm sau vẫn không thấy động tĩnh gì, tôi đã nghĩ chuyện xin chính thức xuất ngoại chỉ là chuyện xạo, thì bỗng nhận được giấy gọi ra trình diện ở Cơ quan về Người Nước Ngoài ở đường Nguyễn Du.

Ở đấy họ bảo muốn xin xuất ngoại thì về nạp đơn ở Phường, nơi đó sẽ cứu xét rồi lên Quận, lên Thành theo hệ thống Hành chánh.

Lời khuyên của Võ văn Kiệt qua Vũ Hạnh kết quả chỉ có vậy. Tôi chẳng còn có ý nghĩ ra Phường nạp đơn xin đi. Chẳng ai dại gì mà dây dưa với mấy tay cán bộ ở Phường. Chúng "ghim" cho thì chết !

III. Trung  Tâm Văn Bút với Quyền tự do cầm bút

Hiến  Pháp của  Đệ Nhị Cộng Hòa, Ðiều 12 ghi rõ:

"Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục".

    Điều này được bảo vệ bởi  Luật Báo Chí 019/69, do Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Văn Thiệu ban hành vào ngày 30/12/1969. Đạo luật gồm 8 Chương và 69 điều, xin tóm tắt những điều trọng yếu như sau.

Chương 1: khẳng định quyền tự do báo chí là quyền tự do căn bản trong chính thể Việt Nam Cộng Hòa, miễn bài báo không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục. Sách báo, tài liệ̣u nước ngoài bản chính và bản dịch nếu không vi phạm đến an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục cũng được tự do phổ biến tại miền Nam.

.   Chương 2: mọi công dân đều được xuất bản báo mà không cần xin phép. Người muốn ra báo chỉ cần làm thủ tục khai báo tại Bộ Thông tin. Bộ có nghĩa vụ phải lập tức cấp chứng nhận tạm thời khi nhận đủ giấy tờ khai báo. Ngoại kiều cũng có quyền xuất bản báo, chỉ cần Tổng trưởng Bộ Thông tin hội ý với Tổng trưởng Bộ Nội vụ cấp giấy phép.

Chương 3: Báo chí không thể bị tạm đình bản hay đình bản vĩnh viễn, nếu không có quyết định của cơ quan Tư Pháp. Để bảo vệ an nình quốc gia, trật tự công cộng hay thuần phong mỹ tục, tại Sài Gòn, Tổng trưởng Nội vụ có quyền ra lệnh tịch thu một tờ báo nào đó trước hay trong khi lưu hành. Tại các tỉnh, Tỉnh trưởng cũng có quyền này. Song sau đó trong vòng 8 ngày họ phải tiến hành khởi tố được tờ báo đó trước tòa. Trong khi chờ phán quyết của tòa, báo vẫn được ra bình thường. Báo có quyền phản tố. Nếu chính quyền sai, sẽ đền bù đầy đủ, lấy từ công quỹ.

Báo chí không thể bị khởi tố khi tường thuật hay đăng tải các tường thuật phiên họp, các thuyết trình, các ý kiến thể hiện quan điểm chính trị của mọi dân biểu, có quyền trích dịch mọi nguồn thông tin. Báo chí có quyền chỉ trích Chính phủ miễn là không nhằm mục tiêu tuyên truyền.

Các dẫn chứng sẽ bị cấm và bị quy là phỉ báng một cá nhân hay cơ quan nếu:

- Liên quan đến đời tư.

- Sự việc xảy ra đã trên 10 năm.

- Nhân vật dù có án song đã được tha tù hay miễn thi hành.

Các báo cũng không được mạ lỵ các nhân vật cao cấp trong chính quyền, từ nhân viên chính phủ đến tổng thống, tư nhân, người quá cố.

    Những dữ kiện kể trên chứng tỏ chính phủ dưới thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cũng đã rất tôn trọng quyền Tự do Ngôn luận qua Báo chí mặc dù đất nước còn đang trong tình trạng chiến tranh.

° ° °

Tuy nhiên tình hình chính trị trong nước ngày một xấu đi.

Những trí thức thiên tả và một số ngòi bút CS nằm vùng bắt đầu len lỏi mạnh mẽ vào sinh hoạt sách báo. Có những bài viết trên báo hay ngay cả in trong tác phẩm được phép ấn hành đã mạt sát cả một nền văn học miền Nam một cách công khai. Xin nêu chỉ một trường hợp cụ thể.

Tác giả Trần Trọng Phủ trong cuốn "Vài Ý nghĩ về Văn hóa Văn Nghệ (Nghĩ Gì-tập 2) do nxb Trình Bầy in năm 1969, đã viết :

(trích)

."...Chẳng có gi đáng ngạc nhiên khi thấy những tờ tạp chí như Sáng Tạo, Thế kỷ 20, Nghệ Thuật, Vấn Đề nhận được những món tiền trợ cấp lớn lao của chế độ hay là của những cơ quan ngoại quốc. Cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu những giải thưởng như Văn chương Toàn quốc, giải thưởng PEN, lại chỉ được trao tặng cho những nhà văn nào có khuynh hướng gần với khuynh hướng của chế độ hay đã thoát ly khỏi khung cảnh thực tế của xã hội.

Hiểu như vậy, người ta sẽ tìm ra cái mạch lạc mà có một lúc Nguyễn Trọng Văn đã lấy làm thắc mắc: Tại sao mười mấy năm nay văn học miền Nam lại chỉ sản xuất ra được những thứ văn chương "cặn bã, nổi lều bều trên dòng nước đục của mặc cảm và cố chấp??"(báo Đất Nước số 7). Hiểu như vậy, người ta sẽ dễ dàng nhận ra được cái lý do tại sao một thời  có những người đã tưởng là cái thứ văn chương "chói lòa cái mới, tuyệt đúng, tuyệt đẹp" của Sáng Tạo, Thế kỷ 20…đã là điển hình cho tinh hoa của dân tộc! Và có lẽ người ta sẽ phải thật là ngỡ ngàng, nếu những khuynh hướng ấy lại không là những khuynh hướng trổi bật trong sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam, nếu những Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan…lại không trở nên là những "tổ sư bồ đề văn nghệ..."     (trang 68-69)

Cái sự bỉ thử, mạt sát rằng Tại sao mười mấy năm nay văn học miền Nam lại chỉ sản xuất ra được những thứ văn chương "cặn bã, nổi lều bều trên dòng nước đục của mặc cảm và cố chấp? ấy vậy mà vẫn được sở Kiểm Duyệt Bộ Thông Tin cho in (giấy phép số 1585/BTT/NHK/PHNT/ ngày 17-4-1969) thì điều đó chứng tỏ chính quyền đâu có hoàn toàn bóp nghẹt tự do cầm bút.

Tuy nhiên phải hiểu được rằng giữa cái sự Kiểm Duyệt đòi "Thiếu phụ phải mặc áo vàng không được mặc áo đỏ" với sự cho phép viết "Tại sao mười mấy năm nay văn học miền Nam lại chỉ sản xuất ra được những thứ văn chương "cặn bã, nổi lều bều trên dòng nước đục của mặc cảm và cố chấp?" thì đó chỉ là tính cách thi hành chính sách Kiểm Duyệt một cách lỏng lẻo, tùy tiện và hoàn toàn phụ thuộc vào từng cá nhân phụ trách làm theo cảm tính, chứ chẳng có theo đường lối nào hết mặc dù văn bản thì vẫn ghi rõ.

Cho nên cũng chẳng thể trách cứ những nhà văn, nhà báo đã phải đồng loạt đấu tranh đòi hỏi một sự thi hành công cuộc Kiểm Duyệt một cách nghiêm chỉnh.

Đã thế, trong năm 1974,  những cuộc biểu tình "chống tham nhũng" do Linh-Mục Trần Hữu Thanh phát động (vốn manh nha từ thời người trẻ, Đại úy Hà Thúc Nhân nổi loạn chống tham nhũng ở Quân Y Viện Nha Trang năm 1970) đã gây ảnh hưởng trong nhiều giới. Qua sự kêu gọi của LM Trần Hữu Thanh, đã có sự tham-gia của một số chính khách, lãnh tụ đảng phái và nhiều đoàn thể, càng khiến hậu phương trở nên rối loạn.  Những lý do tham nhũng được nêu ra hầu hết đều nhắm vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Nhưng mãi sau này sự thể mới lộ rõ là  sau 1975, Ông Bà Nguyễn văn Thiệu đã sống một đời sống thanh bạch, tài sản đâu có gì đáng kể. Nếu là một trùm tham nhũng như đã bị tố cáo  thì cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đâu lại có đời sống  thanh bần đến như thế!

Riêng trong lãnh vực báo chí, cộng sản đã xâm nhập nhiều tờ báo để hoạt động. Nhiều ký giả, phóng viên, nhân viên tòa báo là cán bộ cộng sản nằm vùng hay tiếp tay cho cộng sản. Những trí thức thuộc thành phần thứ ba như Ngô Công Đức Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung cũng viết nhiều bài chống chính phủ trên những tờ báo đối lập.

Trong tình cảnh ấy, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu bó buộc phải  thi hành gắt gao Luật Báo Chí 007. Luật này tưởng như sẽ là biện pháp hữu hiệu ngăn chặn sự lũng đoạn của CS nằm vùng  nhưng nó là con dao hai lưỡi khiến cho những người làm báo quốc gia chân chính cũng bị vạ lây bởi Sắc luật này quy định muốn ra nhật báo phải đóng ký quỹ 20 triệu đồng, báo định kỳ đóng 10 triệu. Số tiền quá lớn khiến nhiều báo không có tiền ký quỹ đành phải đóng cửa.

Cũng theo điều luật này, tờ báo nào bị tịch thu lần thứ hai do có bài vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Đã có nhiều tờ báo bị đóng cửa, chủ báo bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, một số người còn bị tù.

Theo thống kê không chính thức, khi đó có khoảng 70% người làm báo bị thất nghiệp. Trước tình hình bi đát này, các nghiệp đoàn ký giả Sài Gòn đã tập hợp lại để tìm ra một biện pháp nhằm cứu nguy cho báo chí nói riêng và tự do ngôn luận nói chung vốn đã âm ỉ từ năm 1969 mà cụ thể là trường hợp của nhà văn Võ Phiến

Năm đó, nhà văn Võ Phiến đang làm Chánh sự vụ Sở Huấn Luyện thuộc Bộ Thông Tin đã ký tên trong một bản  Kiến Nghị ngày 5-3-1969 cùng với 100 nhà văn, nhà thơ, nhà báo. yêu cầu chính phủ bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản, căn cứ vào sự việc báo chí đã được bãi bỏ kiểm duyệt.

Bản kiến nghị đó như sau :

  Kiến Nghị Về chế độ Kiểm Duyệt

" Chúng tôi, 100 nhà văn (gồm các giới sáng tác, dịch thuật, biên khảo, phê bình..) ký tên dưới đây nhận xét rằng:

1/ Mặc dầu chưa đạt tới được một chế độ tự do báo chí và còn bị giới hạn rất nhiều bởi những hình thức khác, chế độ kiểm duyệt cũng đã được bãi bỏ đối với báo giới Việt Nam. Trong khi đó, đối với ngành xuất bản, nhà cầm quyền lại vẫn tiếp tục áp dụng một chính sách kiểm duyệt khe khắt đã có từ thời thực dân tới nay mà không có một sự cải tiến nào đáng kể, ngoài việc thay đổi tên gọi của cái cơ quan đảm nhiệm công việc ấy: từ Sở Kiểm Duyệt thành "Sở Phối hợp Nghệ thuật".

2/ Chế độ kiểm duyệt khe khắt nói trên đối với ngành xuất bản mâu thuẫn với chính Hiến pháp của chế độ, tuyệt đối phi lý so với những tiến bộ mà ngành báo chí đã đạt được và là nguyên nhân chính yếu giải thích tình trạng lụn bại của văn học nghệ thuật miền Nam, đặt giới cầm bút cũng như nhân dân vào vị trí thế thủ, e dè và nghi kỵ đối với chế độ, trong khi tình thế nước nhà hơn bao giờ hết đòi hỏi những thái độ khác hơn là những thái độ ấy.

3/ Kinh nghiệm của 80 năm kiểm duyệt sách báo trong thời Pháp thuộc, 10 năm trong thời Ngô Đình Diệm và gần đây nhất là kinh nghiệm của nhà nước cộng sản Tiệp khắc, đã cho thấy rằng sự cấm đoán, bưng bít không bao giờ giải quyết được một vấn đề mà chỉ làm cho vấn đề ấy trầm trọng thêm tới một mức độ tai hại nhất: hơn thế, trong một chế độ không có tự do ngôn luận, trước con mắt nghi kỵ của nhân dân và của công luận thế giới, những điều nhà nước chính thức công bố, lúc đó, lại chỉ còn xuất hiện như những lời lẽ tuyên truyền, bịa đặt mà thôi. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi cảm thấy có bổn phận nói lên đây niềm khát vọng, sự lo ngại và nỗi ám ảnh sâu xa của chúng tôi, đồng thời yêu cầu nhà cầm quyền cấp bách bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản, tương tự như hành động mà nhà nước đã có thể làm đối với báo giới.

Saigon ngày 5 tháng 3 năm 1969.

Ký tên:

Thanh Lãng, Thích Đức Nhuận, Bàng Bá Lân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Đức Quỳnh, Thiếu Sơn, Bình Nguyên Lộc, Chân Tín, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Văn Trung, Hà Huy Hà (Kiên Giang), Dương Vy Long, Tam Ích, Đinh Khắc Triệu, Lý Hoàng Phong, Lý Chánh Trung, Võ Phiến, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Ngọc Lan, Dương Nghiễm Mậu, Sĩ Trung, Trọng Nguyên, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Thạch Kiên, Trương Bá Cần, Trần Thị Tuệ Mai, Nguyễn Tử Quý, Miên Đức Thắng, Nguyễn Ngu Í, Minh Quân, Nguyễn Thành Vinh, Lý Đại Nguyên, Lê Xuyên, Nguyễn Đình Thiều, Duyên Anh, Thanh Thương Hoàng, Trùng Dương, Phạm Thiên Thư, Thụ Nhân, Chính Yên, Lữ Hồ, Cung Tiến, Cao Thế Dung, Nguyễn Thượng Bình, Nguyễn Tường Giang, Trần Kỳ, Huỳnh Phan Anh, Phạm Huy Tường, Nguyễn Đình Toàn, Thái Lãng, Võ Thắng Tiết (Từ Mẫn), Nguyễn Nghị, Phạm Cao Dương, Phan Lạc Giang Đông, Khải Triều, Trọng Tấu, Dương Hà, Nguyễn Đông Ngạc, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Kiều Tùng, Chu Vương Miện, Nguyễn Minh Hoàng, Nguyễn Nhật Duật, Trần Tuấn Nhậm, Vũ Lang (Nguyễn Khắc Ngữ), Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Đường Thiên Lý, Trần Dạ Từ, Hồng Dương, Diễm Châu, Du Tử Lê, Nguyễn Quốc Thái, Trình Phổ, Thanh Chiêu, Triều Linh, Nguyễn Đồng, Hoàng Ngọc Biên, Nhật Ngân, Hồ Nam, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Đôn Phong, Tô Ngọc, Nguyễn Khoa Tần,  Duy Lam, Thảo Trường, Trần Phương Như, Huỳnh Văn Hiếu, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Phúc Bửu Sum, Chu Việt, Nguyễn Tử Lộc, Đỗ Quý Toàn, Thế Phong, Sơn Nam, Hiếu Chân, Sa Giang (Trần Tuấn Kiệt), Thế Uyên, Thế Nguyên.

(theo Bách Khoa Thời Đại , Số 293, ngày 15-3-1969)

    Hậu quả là nhà văn Võ Phiến đã nhận được một tờ giấy nghiêm khắc khiển trách của Bộ Thông Tin, đồng thời ông lại nhận được sự vụ lệnh ký ngày 29-7 bàn giao lại chức vụ Chánh sự vụ sở Huấn luyện mà ông đã đảm trách từ nhiều năm nay, để về làm nhân viên của Nha Thông Tin, chiếu phiếu trình của Sở Phối hợp nghệ thuật, của ông Phụ tá đặc biệt và đề nghị của ông Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin. Hơn một tuần sau, một sự vụ lệnh ký ngày 6-8 lại đưa ông sang Nha Điện ảnh và hiện ông đã là nhân viên của Nha này

.   Vụ trừng phạt trên đây đã gây một xúc động sâu xa trong giới văn nghệ sĩ. Niềm xúc động ấy đã được phản ảnh trong những bài bình luận, thơ, tranh hài hước..trên các báo Thời Thế, Tiền Tuyến, Chính Luận, Tiếng Vang , Kịch Ảnh, Hòa Bình v.v... Sau cùng, hơn 100 người làm văn học nghệ thuật đã lại công bố một kháng thư về vụ này coi như một hình thức đàn áp văn nghệ sĩ.

Kháng Thư đó như sau:

- Chúng tôi hơn 100 người làm văn học nghệ thuật tại miền Nam ký tên dưới đây, cực lực lên án, và tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước hành động đàn áp giới văn nghệ sĩ miền Nam xuyên qua thái độ của Bộ Thông Tin và Chiêu Hồi đối với nhà văn Võ Phiến.

Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền:

1/ Chấm dứt ngay mọi hành động trả thù, khủng bố đối với 100 nhà văn đã ký tên trong bản kiến nghị ngày 5-3-69 đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản.

2/ Tức khắc bãi bỏ chế độ kiểm duyệt bất hợp hiến hiện nay. .

Làm tại Saigon ngày 5-8-1969

Ký tên:

Bình Nguyên Lộc , Nguyễn Hiến Lê, Lý Chánh Trung, Doãn Quốc Sỹ, Sơn Nam, Chân Trí, Nguyễn Đức Quỳnh, Phạm Duy, Trần Thị Tuệ Mai, Nguyễn Ngọc Lan, Minh Quân, Diễm Châu, Thanh Tâm Tuyền, Thế Uyên, Nguyễn Văn Trung, Lê Xuyên, Cao Thế Dung, Bùi Chánh Thời, Đinh Khắc Tiêu, Trịnh Cung, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Lan Sơn Đài, Đặng Thần Miễn, Trọng Tấu, Mai Thảo, Thái Lãng, Hoàng Thắng, Nguyễn Nghị, Thiếu Sơn, Nguyên Khai, Trần Thế Lý, Từ Công Phụng, Khải Triều, Nguyễn Quốc Thái, Mai Chửng, Nguyễn Xuân Hoàng, Trương Đình, Vĩnh Lân, Nguyễn Hữu Nhật, Viên Linh, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Văn Phán, Nguyễn Thạch Kiên, Kiêm Thêm, My Sơn, Tần Hoài Dạ Vũ, Trình Phổ, Tạ Quang Trung, Yên My, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Châu Anh, Bùi Kim Đĩnh, Nguiễn Ngu Í, Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Ngọc Tuấn, Lê Ngộ Châu, Vương Đức Lệ, Nguyễn Đôn Phong, Phạm Cao Dương, Đào Trường Phúc, Lê Hoài Quỳnh, Du Tử Lê, Trần Lê Nguyễn, Nguyễn Thiệp, Hà Quốc Bảo, Hồng Dương, Lê Phương Chi, Vũ Bảo, Thái Anh Duy, Nghiêu Đề, Thiện Cẩm, Ngô Văn Ân, Phượng Vũ, Lý Đại Nguyên, Trần Quân, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Từ Lộc, Thụ Nhân, Nguyễn Hải Chí, Nguyễn Trọng Văn, Chu Vương Miện, Trần Tuấn Nhậm, Vị Ý, Tôn Thất Lập, Huy Tường, Trần Đỗ Dũng, Vương Tân, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Quốc Trụ, Thanh Thương Hoàng, Ngọc Dũng, Thanh Chiêu, Tú Kếu, Trùng Dương, Hoài Khanh, Tam Ích, Thanh Nam, Túy Hồng, Thái Văn Hoàn, Thế Nguyên, Đinh Cường, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá lân, Thích Đức Nhuận, Nguyễn Đông Ngạc.

Trong dịp này, Trung Tâm Văn Bút cũng đưa ra một Kháng nghị như sau:

"Trung Tâm Văn Bút Việt Nam cực lực phản đối Bộ Thông Tin về những biện pháp đã áp dụng với nhà văn Võ Phiến (Đoàn Thế Nhơn), Hội viên Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thuộc Hội Văn Bút Quốc tế, vì đã ký tên vào bản kiến nghị của 100 nhà văn yêu cầu bãi bỏ kiểm duyệt sách.

Nhân dịp này, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam khẩn thiết yêu cầu Bộ Thông Tin cũng như tất cả các cơ quan công quyền khác tự hậu không dùng những biện pháp Hành chính để đe dọa sự tự do tư tưởng và sáng tạo của những người cầm bút.

Saigon, ngày 6 tháng 8 năm 1969

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam

Bộ Thông Tin cũng đã trả lời về vụ này qua bản Thông Báo như sau :

"Ông Đoàn Thế Nhơn, nguyên Chánh sự vụ Sở Huấn Luyện, Bộ Thông Tin, đã vi phạm kỷ luật của một công chức vì đã công khai chống đối việc thực thi chánh sách Thông Tin của chánh phủ trong phạm vi kiểm soát, ấn loát phẩm để ngăn ngừa sự xâm nhập và phá hoại của Cộng Sản, qua ngưỡng cửa của văn học nghệ thuật.

Do đó Bộ Thông Tin thấy không thể tiếp tục giao phó trách nhiệm chỉ huy huấn luyện các cán bộ cho ông Nhơn nữa, nên đã thuyên chuyển ông đến một cơ quan thích hợp hơn với khả năng văn nghệ của ông.

Đây là một biện pháp thuần túy hành chánh liên hệ đến việc xử dụng nhân sự để thực thi chánh sách quốc gia mà Bộ cần phải áp dụng đối với tất cả công chức, cán bộ các cấp, nhất là cấp chỉ huy.

Bộ Thông Tin xác nhận không bao giờ có ý định hành động trả thù khủng bố đối với các nhà văn như kháng  thư đã ám chỉ Bộ.

(theo Thu Thủy, báo  Bách Khoa- mục Thời sự Văn nghệ)

° ° °

Trở lại vụ Luật Báo Chí 007 vốn đã gây điêu đứng cho hầu hết các Nhật báo, Tuần báo, Bán Nguyệt San và Nguyệt san (không thuộc ngành  Giáo Dục hay Tôn Giáo) để đến nỗi nhiều tờ bị đóng cửa, nhiều tờ bị truy tố ra tòa, bầu không khí chống đối, đàn áp chống đối hầu như xẩy ra thường xuyên hằng ngày.

Riêng LM Thanh Lãng, nhân danh Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút  đã đề nghị gặp ông Tổng Ủy Dân Vận Hoàng Đức Nhã để trình bầy hoàn cảnh bi đát của báo chí và thảo luận nhằm tìm biện pháp thích ứng. Điều này chứng tỏ Trung Tâm Văn Bút không chống chính quyền và có thiện chí hợp tác. Nhưng tiếc thay ông Hoàng Đức Nhã đã không đáp ứng sự hợp tác này. Để có thêm chi tiết về việc này, xin trích đoạn bình luận dưới đây của tác giả Nguyễn Văn đăng trong tạp chí Nhà Văn, số Xuân Ất Mão - Tháng 2-1975:

- Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút xin yết kiến ông cựu Tổng Trưởng Nhã, dường như ông này "bận việc"  không tiếp. (Khi viết bài này thì ông Nhã đã rời chức vụ nên tác giả mới ghi là Cựu Tổng Trưởng. Vụ xin tiếp kiến xẩy ra khi ông Nhã còn tại chức Tổng Ủy DânVận). Sự kiện của chủ tịch Trung Tâm Văn Bút không được Tổng trưởng Dân Vận, tức là Thông tin, tiếp kiến cũng nặng như Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn xin tiếp kiến Tổng trưởng Giáo Dục mà không được, hay như ông Trần Quốc Bửu  không được ông Tổng trưởng Lao Động cho yết kiến. Những việc động trời như thế không thể xẩy ra trong ngành Giáo Dục hay Lao Động, đã xẩy ra trong ngành văn chương báo chí.

( Nguyễn Văn- Một Năm Văn Học Nghệ Thuật- Tạp chí Nhà Văn Tháng 2-1975, trang 122- Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc ).

    Cũng trong bài báo kể trên, tác giả Nguyễn Văn  nhận định tiếp:

" Trung Tâm này (tứcVăn Bút), trong những lần lên tiếng dòng dã tám tháng đầu từ tháng 11-1973  đến tháng 8 -1974, không hề là sự đòi hỏi sự xóa bỏ luật 007 và sự bỏ hẳn kiểm duyệt ấn loát phẩm. Trung Tâm Văn Bút chỉ yêu cầu "kiểm duyệt đứng đắn", cho nhà văn được biện hộ tác phẩm của mình khi bị cắt xén, giấy phép kiểm duyệt xin cho sáu tháng hiệu lực thay vì ba tháng vì in không kịp. Đó là những đòi hỏi có tính cách "cải lương", "xét lại", gọi là xây dựng và thân hữu  (trang 123).

Lại nữa, trong Tập san Văn Bút Số Xuân Nhâm Tý, ra tháng I, 1972 trong bải "Nhà nước và Nhà văn hoá", LM. Thanh Lãng đã nêu nhận xét:

- Tôi nghĩ hiện tình văn hóa tù túng như vậy không phải chủ trương của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, nhất là càng không phải  của Phó Tổng Thống Trần văn Hương, người đă từng sinh hoạt văn hóa. Vậy hôm nay chúng tôi xin đặt thẳng vấn đề với Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và Phó Tổng Thống Trần văn Hương với ước mong hai vị nhân dịp xuân Nhâm Tý sắp tới , hãy tìm một lối thoát cho sinh hoạt văn học nghệ thuật khỏi cảnh tù túng, ngột ngạt hiện nay để chuyển sang giai đoạn đấu tranh văn hóa, đấu tranh chính trị  mà hai vị đã từng nhắc nhở tới...."

 "Đấu tranh văn hóa, đấu tranh chính trị" tất nhiên là đấu tranh với CS chứ còn đối tượng nào khác vào đây. Như thế thì làm sao lại kết án LM. Thanh Lãng là thiên Cộng ?

Thiện chí xây dựng của LM. Thanh Lãng đã quá rõ ràng. Nhưng cung cách ứng xử của chính quyền đối với văn nghệ sĩ hầu như không thay đổi.

Tháng 6-1973, Phủ Tổng Ủy Dân Vận ra điều luật hạn chế kỳ hạn xuất bản của những tập san núp dưới danh nghĩa Giai Phẩm và đánh Thuế Trị Giá Gia Tăng (TVA= Taxe à la Valeur Ajoutée) lên giấy in sách báo.

Điều này lại gây khốn đốn thêm cho sinh hoạt xuất bản các sách, báo nên ngày 21-11-1973 một Đại hội các nhà văn, nhà báo, nhà xuất bản đã được tổ chức.

Tôi (Nhật Tiến) đã đại diện cho Văn Bút trình bầy những khó khăn  của giới viết sách và xuất bản sách cùng là cuộc khủng hoảng trầm trọng của sinh hoạt văn học nghệ thuật.

Ngày 9-12-1973, Văn Bút công bố lời kêu cứu gửi Văn Bút Quốc Tế và các cơ quan văn hóa về chính sách văn hóa của chính quyền hiện tại.

Ngày 26-8-1973 Văn Bút gửi thư cho Hội nghị Lưỡng niên Thi Ca Quốc Tế lần thứ 11 báo động về sự bóp nghẹt báo chí và chế độ kiểm duyệt độc đoán đã cản trở sinh hoạt văn hóa làm cho một số đông đảo văn nghệ sĩ đã phải giải nghệ.

Trước những phản ứng của làng Văn, làng Báo, Ông Tổng trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi đã gửi thư cho Văn Bút để  minh định đường lối kiểm duyệt của Bộ với 6 tiêu chuẩn như sau :

- Tuyệt đối không được làm lợi cho Cộng Sản, xuyên tạc hay chống đối chủ trương đường lối quốc gia.

- Không được xúc phạm tôn giáo, chia rẽ dân tộc.

- Không xâm  phạm thuần phong mỹ tục (dâm ô, vô luân, thiếu đạo đức, hủ bại, trụy lạc).

- Không mạ lỵ, phỉ báng, làm giảm uy tín cấp lãnh đạo quốc gia, không xâm phạm đời tư cá nhân.

- Nội dung thiếu xây dựng, làm phương hại trật tự xã hội.

- Không có nội dung mê tín, dị đoan, cờ bạc, đàng điếm, ma túy...

Lá thư còn vạch rõ : phạm vào những tiêu chuẩn trên đã có 516 tác phẩm bị cấm hoặc hoãn xét, trong đó có 42 tác phẩm đề cao C.S hoặc cố ý xuyên tạc đường lối của chính phủ, 89 tác phẩm vì lý do thiếu xây dựng, 17 tác phẩm vì lý do ma quái, 6 tác phẩm vì lý do thuần phong mỹ tục, 2 tác phẩm vì lý do tôn giáo.

Phản ứng về lá thư này của Ban Thường Vụ Văn Bút khi đó là rất phẫn nộ. Bởi Ông Tổng trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi đã không nhìn vào nguyện vọng của những người cầm bút chân chính.

Bởi vì họ không làm lợi cho Cộng Sản, xuyên tạc hay chống đối chủ trương đường lối quốc gia. Họ không xâm phạm tôn giáo, chia rẽ dân tộc. Họ không dâm ô, vô luân, thiếu đạo đức, hủ bại, trụy lạc hay mạ lỵ, phỉ báng cùng  xâm phạm đời tư cá nhân.

Họ chỉ đòi xét lại sắc luật 007 năm 1972 đã bóp nghẹt báo chí vốn đã gây khốn đốn cho sinh hoạt xuất bản các sách, báo và yêu cầu cho nhà văn được biện hộ tác phẩm của mình khi bị cắt xén.

Trước phản ứng của giới cầm bút, ngày 7-9-1974, ông Tổng Ủy Dân Vận đã nhận lời tiếp một phái đoàn Văn Bút gồm có : LM Thanh Lãng (Chủ ịch), Nhà văn Nhật Tiến (Phó Chủ tịch), Nhà văn Phạm Việt Tuyền (Tổng Thư ký),  Nhà văn Tam Lang Vũ đình Chí (Cố vấn). Kết quả cuộc gặp gỡ, Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi đã phổ biến  một văn thư mang số 2400 có nội dung như sau:

" Sau một tiếng rưỡi đồng hồ trao đổi quan điểm với phái đoàn Trung Tâm Văn Bút, Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi xác nhận: trong tinh thần hợp tác và thân hữu, chúng tôi sẵn sàng cúu xét tất cả các thỉnh nguyện của  anh chị em văn nghệ sĩ. Cuộc cứu xét sẽ được thực hiện trên căn bản thân hữu và cởi mở.

Ngoài ra, Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi sẽ đặc biệt  nghiên cứu tất cả các vấn đề trọng đại nêu ra trong buổi tiếp xúc ngày hôm nay.

Để cụ thể hóa tinh thần hợp tác thân hữu nêu trên, kể từ ngày 9-9-1974 Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi sẽ cứu xét lại các tác phẩm chưa được phép xuất bản khi có lời yêu  cầu."

Trong khi ấy, sau cuộc tiếp xúc kể trên Trung Tâm Văn Bút cũng ra một bản Tuyên Bố có nội dung như sau:

Tuyên Bố của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam sau cuộc tiếp xúc với  Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi ngày 7-9-1974

1) Chiếu  Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế tôn trọng các tác phẩm văn nghệ như tài sản chung của nhân loại trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong thời chiến  không để cho những phong trào Quốc gia hay Chính trị xâm phạm tới.

2)  Chiếu Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa  bảo đảm các quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí và xuất bản.

3) Chiếu tinh thần cởi mở và thân hữu trong cuộc hội kiến giữa Văn Bút và Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi ngày 7-9-1974  cũng như văn thư số 2400 cùng ngày của Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi gửi Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

Toàn thể văn nghệ  sĩ hiện diện trong cuộc Hội thảo tại  Trung Tâm Văn Bút Việt Nam ngày 11-9-1974, đồng thanh quyết nghị:

Thứ nhất : Yêu cầu chính phủ đưa ra một chính sách văn hóa tôn trọng các quyền tự do tư tưởng, sáng tạo, ngôn luận, báo chí và xuất bản.

Thứ hai : Yêu cầu hủy bỏ Sắc luật 007 và Đạo luật 19/69 về Báo chí và thay thế  bằng một Đạo luật tôn trọng các quyền tự do nói trên.

Thứ ba : Yêu cầu bộ Dân Vận Chiêu Hồi cụ thể hóa tinh thần hợp tác thân hữu nêu trong văn thư số 2400 ngày 7-9-74 bằng việc giải quyết một số trường hợp thiết thực như  kể sau đây :

1) Duyệt xét lại những tác phẩm đã bị kiểm duyệt hay  bị cấm xuất bản.

2) Để các Giai phẩm  được tự do xuất bản.

3) Bảo đảm an ninh và quyền tự do hành nghề cho các ký giả.

4) Trả tự do cho các nhà văn, nhà báo đang bị cầm tù vì lý do cầm bút.

5) Rút lại lệnh thuyên chuyển đối với nhà văn Thế Nguyên, Phó Tổng thư ký của Hội Văn Bút được coi như một hình thức trả thù của chính quyền đối với cuộc tranh đấu của Văn Bút hiện nay.

6) Chấm dứt các thủ đoạn gài bẫy, đe dọa đối với báo chí như trường hợp báo Sóng Thần ra ngày 11-9-1974.

 Sài Gòn ngày 11 tháng 9 năm 1974.  

° ° °

Về  việc "gài bẫy, đe dọa đối với nhật báo Sóng Thần" thì theo nhà văn Uyên Thao, Chủ bút cũng là sáng lập viên của báo Sóng Thần,  đã xẩy ra như sau:

"…..sáng Thứ Hai 9-9-1974, tin điện từ Huế cho biết chiều Chủ Nhật 8-9 tại cố đô, Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh vừa nhập cuộc. Bản Cáo Trạng số 1 với 6 điểm tố cáo đích danh Tổng Thống Thiệu tham nhũng được phân phát cho các báo chiều 9-9 tức 24 giờ sau khi đọc công khai trước các đám đông tại Huế.

Sáng sớm Thứ Ba 10-9, Bộ Dân Vận Chiêu Hồi (DVCH) buộc các báo không được phổ biến cáo trạng trên.

Tòa soạn nhật báo Sóng Thần quyết định thực thi quyền hành nghề của báo chí đã từ chối yêu sách của bộ DVCH, quyết định cho đăng tải tóm lược phần nội dung chính yếu của 6 điểm cáo trạng số 1.

14 giờ 30 chiều Thứ Ba 10-9, bộ DVCH nhắc lại đòi hỏi buộc nhà báo phải đục bỏ bản tin trên. Đáp lại, tòa soạn Sóng Thần trả lời dứt khoát "không thể làm báo theo lệnh Nhà Nước".

15 giờ, cảnh sát bao vây nhà in Sóng Thần, truyền đạt lệnh "nếu không đục bỏ bản tin, sẽ tịch thu báo".

Chiều 10-9 cũng là thời điểm dự kiến diễn ra cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Chủ Báo và Tổng Trưởng DVCH. Trước áp lực trên, đại diện Sóng Thần trong phái đoàn Chủ Báo tuyên bố "không tới bộ DVCH, nếu Sóng Thần bị tịch thu". Phái đoàn Chủ Báo lên tiếng tán thành tuyên bố trên.

16 giờ 30, vấn đề được giải quyết: Bộ DVCH cam kết không tịch thu Sóng Thần và phái đoàn Chủ Báo đồng ý tới gặp Tổng Trưởng Hoàng Đức Nhã.

Nhưng ngay sau đó, sự việc đã xảy ra ngược lại khiến Sóng Thần lại phải kêu cứu với các hội đoàn báo chí vào chiều 11-9 và công bố trong một bài viết đăng trên số báo 973 ra chiều Thứ Năm 12-9:

"Lúc 16 giờ 10 phút ngày Thứ Ba 10-9, lực lượng cảnh sát bao vây nhà in Sóng Thần được lệnh rút lui sau 1 giờ chận bít các ngõ xuất nhập để ngăn cản việc phát hành số báo 970. Vị chỉ huy khi ra đi đã tươi cười nhắc: "Quí ông cứ đem báo đi bán". Nửa giờ sau đó, tại văn phòng Tổng Trưởng DVCH, ông Hà Thế Ruyệt đại diện Sóng Thần hỏi thẳng Tổng Trưởng Hoàng Đức Nhã "liệu số báo Sóng Thần chiều nay có bị tịch thu dưới một hình thức nào khác không?" và được trả lời "chắc chắn là không".

16 giờ chiều 11-9, tòa soạn nhận được từ nhiều sạp báo những biên bản tịch thu ST do một số nhân viên DVCH lập chiều ngày 10-9-74. Lý do tịch thu: Sóng Thần in 2 ấn bản.

Cảm tưởng đầu tiên của chúng tôi là một cảm tưởng chua chát vì đã quá hấp tấp tin tưởng ở thiện chí và sự ngay thẳng của người khác…Luật 007 cấm báo chí in 2 ấn bản, nhưng trên thực tế, chính sách báo chí của bộ DVCH đã tạo ra mỗi ngày hàng chục ấn bản cho một tờ báo. Với lề lối "yêu cầu tự ý đọc bỏ", viên chức báo chí DVCH nội một buổi chiều có thể "yêu cầu" một tờ báo đục bỏ 5, 7 lần là ít.

Sự việc đó khiến không một tòa soạn nào có thể nắm vững nội dung tờ báo của mình, nhất là khi "yêu cầu tự ý đục bỏ", viên chức DVCH lại điện thoại thẳng cho nhà in thay vì qua tòa soạn. Cả làng báo đã bị đẩy lọt vào cái bẫy lớn để khi cần thì người ta giở chiêu bài thi hành pháp luật – dù là thứ pháp luật đã được chính người thi hành nhận là cần sửa sai – ra để hạ báo chí.

Từ 26 thế kỷ trước đây, những người dựng nên chế độ dân chủ của đô thị Athènes đã biết nói rằng: "Trong một chế độ dân chủ, nhiều trường hợp vi luật phải được coi là cần thiết". Đó là một nguyên tắc được đề ra để ngăn chặn khuynh hướng lạm dụng sự thi hành luật pháp do có ác ý phá bỏ dân chủ…

Chúng tôi minh định rằng sự sống hay chết của một tờ báo không có gì quan trọng. Nhưng, sự sống hay chết của quyền tự do ngôn luận thì gắn liền vào số phận của chế độ. Trong cảnh ngộ hiện nay, sự vắng mặt bất kỳ một tờ báo nào do các mưu toan ác ý trên đều đe dọa nghiêm trọng đến chính tính chất tự do dân chủ của chế độ tức trực tiếp đe dọa vận mạng của miền Nam trước hiểm họa Cộng Sản".

( trích Giấy Bút Lầm Than Của Uyên Thao)

° ° °

Ngày 12-9-74 một buổi hội thảo tại Hạ Viện đã qui tụ gần 200 người gồm các dân biểu, nghị sĩ, chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, ký giả, thượng tọa, linh mục và một số luật gia cùng đại diện các hội đoàn báo chí. Kết quả ngay  giữa hội trường Hạ Viện, người tham dự đã nổi lửa hỏa thiêu sắc luật 007 như một hành động tượng trưng. Trong dịp này Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu cho biết luật lệ kiểm duyệt được nhìn theo lăng kính lạ lùng tới nỗi bộ DVCH không cho phép in bản Hiệp Định Ba Lê và "một bài thơ của Đỗ Phủ trong tập thơ Đường do cụ Trần Trọng Kim dịch bị kiểm duyệt không cho ra chỉ vì có những câu mô tả cảnh khổ ải của chiến tranh từ 1000 năm trước ở bên Tàu".

 Trước đó mấy hôm, vào ngày  8 tháng 9 năm 1974, một cuộc họp diễn ra với ba đoàn thể ký giả tham dự gồm Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt, Hội Ái hữu Ký giả Việt Nam và Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam.

Cuộc họp đã bầu ra "Ủy ban đấu tranh đòi tự do báo chí" do ông Nguyễn Văn Binh, dân biểu đối lập, đại diện báo Đại Dân Tộc làm chủ tịch. Nhiệm vụ của Ủy ban là tập hợp, tranh thủ giới chủ báo và tất cả những người làm việc cho báo từ ký giả, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trên báo, họa sĩ, nhiếp ảnh viên, những người làm công tác trị sự, phát hành báo, thầy cò.... nhằm chống lại việc thi hành luật Báo chí 007.

Hình thức đấu tranh được đề ra là tổ chức một ngày "ký giả đi ăn mày" và chọn ngày 10 tháng 10 năm 1974 làm ngày xuống đường biểu tình. Những vật dụng của ăn mày như nón lá, bị, gậy được chuẩn bị sẵn. Ngoài ra còn có các phù hiệu đeo trên ngực, kẻ trên nón lá dòng chữ "10-10-1974, ngày ký giả đi ăn mày".

Các đại diện của ban tổ chức gồm có: Nguyễn Kiên Giang (chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt  Nam), Tô Văn, Phi Vân của đoàn ký giả Nam Việt; nhà báo Văn Mại (cựu tổng thư ký tòa soạn báo Buổi Sáng), Lý Bình Hiệp, Trần Kim Uẩn của Hội Ái hữu Ký giả Việt Nam; Thanh Thương Hoàng, Thái Dương, Tô Ngọc của Nghiệp đoàn Ký giả. Ngoài ra, thành phần đi dẫn đầu còn có nhà báo Nam Đình (chủ báo Thần Chung và sau là Đuốc Nhà Nam), Trần Tấn Quốc (chủ nhiệm tờ Tiếng Dội Miền Nam và là người khởi xướng giải thưởng cải lương Thanh Tâm), nhà báo Tô Nguyệt Đình tức Nguyễn Bảo Hóa, nhà thơ – nhà báo - soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà...

Cũng có một số đoàn thể tham gia như: Ủy ban Bảo vệ văn hóa dân tộc, Phong trào Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, các đoàn thể trong công nhân, lao động, trong sinh viên, học sinh, chị em tiểu thương các chợ, đồng bào theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Tất nhiên ngoài thành phần người Quốc Gia bất mãn vì sự khắt khe của Luật Báo Chí cũng phải kể tới những bàn tay cán bộ CS nằm vùng tham gia kích động khiến cho tình thế trở nên khẩn trương và nghiêm trọng hơn.

Trong ngày 10/10/1974, đoàn biểu tình đã rầm rộ đi qua nhiều phố lớn và hoàn tất lộ trình định sẵn, kết thúc thành công cuộc xuống đường. Sau khi giải tán, một số nhà báo và dân biểu lui về trụ sở của Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt - đầu đường Lê Lợi, đối diện với trụ sở Hạ nghị viện để canh giữ quà biếu nhận trên đường từ quần chúng. Tại đây đã diễn ra một cuộc đàn áp của cảnh sát, nhiều người bị đánh đập bằng dùi cui. Người trực tiếp chỉ huy là Giám đốc cảnh sát Trang Sĩ Tấn.Tuy nhiên tuyệt đối không có một ai bị Công an, Cảnh sát bắt giữ cả !

 Điều này khác hẳn với tình trạng biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay, người biểu tình bị Công an chìm, nổi đánh đập có thương tích và bị hốt lên nhiều xe buýt hay xe bít bùng.

Ý Kiến của tôi (Nhật Tiến) :

Qua những xáo trộn trong thời gian kể trên, kẻ hưởng lợi nhiều nhất vẫn chính là Cộng Sản. Trong khi ngoài tiền tuyến, các chiến sĩ VNCH vẫn phải đương đầu với những trận chiến ác liệt thì ở Sài Gòn liên tục có những cuộc biểu tình chống đối. Tinh thần binh sĩ không thể không dao động. Nhưng sở dĩ rất đông người quốc gia chân chính, không chấp nhận CS mà vẫn lao vào những cuộc xuống đường, biểu tình ấy là vì ý thức chống Cộng của mọi người hồi ấy chưa sâu sắc và quyết liệt như bây giờ.

Ta cứ nhìn vào con số cả trăm ngàn sĩ quan quân lực VNCH sẵn sàng đi trình diện "học tập" hồi 1976 thì thấy rõ. Những vị ấy đi trình diện không phải vì công an C.S đến từng nhà dí súng bắt đi, nhưng chính là vì chưa mấy ai thấy được ý đồ thâm độc của C.S. Họ chỉ cho rằng thôi thì đất nước đã chấm dứt chiến tranh, đi qua loa một tháng rồi trở về chung tay cùng với người chiến thắng xây dựng lại quê hương đã điêu tàn và người dân ở cả hai phía cũng đã khốn khổ lắm rồi.

Tấm lòng của hầu hết người miền Nam là như thế. Họ giầu tình cảm, yêu nước, yêu hòa bình và lòng dạ không thâm độc. Tiếc thay nó hoàn toàn khác biệt với  đường lối "triệt hạ cho bằng hết mầm mống phản cách mạng" của đám lãnh đạo CSVN vào thời điểm đó.

Cho nên một người Cộng sản chính gốc ở miền Bắc đã có lần nói với tôi : "Miền Nam các anh sở dĩ  thua là vì các anh có quá nhiều tình cảm đấy thôi !" (vì thế nên mới coi nhẹ hiểm họa Cộng sản)

Tôi tin rằng nếu những con người miền Nam khi  đó có được ý chí chống Cộng  sâu sắc và quyết liệt như bây giờ thì đã chẳng có những cuộc xuống đường biểu tình, xin thả những người như Vũ Hạnh, và do đó cũng chẳng nên lấy cái kinh nghiệm bây giờ để phê phán những con người ở thời điểm trước.

Cũng như vậy, hẳn LM Thanh Lãng đã chẳng phát biểu với phóng viên tạp chí  Nhà Văn trong cuộc phỏng vấn nhân dịp đầu năm Ất Mão 1975 như sau:

NHÀ VĂN: Tết năm nay Linh mục Chủ tịch và các văn hữu trong quý Trung Tâm ăn Tết như thế nào?

THANH LÃNG: Tết năm nay, đối với Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là một cái Tết tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn, một chốn ly thân trong thân phận vong thân. .

(tạp chí  Nhà Văn, số Xuân Ất Mão, trang 115- Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc)

"nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn", đây là một lời "thậm ngôn" được phát biểu trong một tâm trạng bực bội, bất mãn không phản ảnh đúng với thực tế VN trước 1975. Và tuy là một lời nói hồ đồ, đáng trách nhưng cũng chỉ vì ý thức về hiểm họa CS khi đó còn hời hợt chứ không ai trong các Hội viên Văn Bút vì thế mà quy tội cho LM.Thanh Lãng là Cộng Sản cả !

Là Chủ tịch Văn Bút, điều quan trọng là ông phải quan tâm đến quyền tự do của người cầm bút trong giới hạn tự chế như đã ghi trong Hiến Chương của Văn Bút Quốc Tế. :

- Và vì sự tự do có bao hàm ý nghĩa hạn chế tự nguyện, nên các hội viên PEN tự cam kết chống lại các tệ nạn như: xuyên tạc ý nghĩa của tự do xuất bản báo chí, cố ý lừa dối, và bóp méo các sự kiện nhằm những mục đích chính trị và cá nhân...

  1. Thanh Lãng không làm chính trị, ông không tham gia bất cứ tổ chức chính trị nào. Ông cũng không hành động vì lý do cá nhân. Đời sống của ông thanh bạch trong cương vị của một nhà giáo, ông là Trưởng Ban Văn Chương Quốc Âm thuộc Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Sau 30-4-1975, ông đi làm tầu hủ ở ngã tư Bẩy Hiền rồi mới lại về Đại Học Văn Khoa.

Một con người như thế mà trên lãnh vực báo chí cứ hễ được nhắc đến là ông bị một số người cho là Thiên Cộng hay thậm chí là Việt Cộng.

Tôi cho đó là một sự bất công.

Tôi không bênh vực LM Thanh Lãng. Tôi chỉ muốn Ông được trả lại sự công bằng.

° ° °

Trở lại tình trạng Kiểm Duyệt sách - báo, tôi vẫn lấy làm tiếc rằng phải chi lúc đó chính quyền nghe lời LM Thanh Lãng để kịp thời đưa ra những biện pháp khả thi như mời một số đại diện văn giới và báo chí làm việc chung trong ngành kiểm duyệt để tránh những thứ kiểm duyệt thấp kém như đã có lần hạch sách tôi khi tôi đem kiểm duyệt cuốn Người Kéo Màn:

-Tại sao không để cho "thiếu phụ mặc áo vàng" mà lại để "mặc áo đỏ" ?

Đây là thứ tâm lý "bảo vệ nồi cơm", cứ gạch, xóa, đòi sửa phứa đi cho chắc ăn, rồi sống chết mặc bay, cấp trên không bao giờ biết đến.

Tất nhiên việc Kiểm Duyệt ở Bộ Thông tin không phải ai cũng nhằm mắt nhắm mũi gạch xóa bất cận nhân tình. Người mà tôi nhớ đến nhất là Trung Úy Lê Sơn Cương vào năm 1973 được cử về làm Chánh Sự Vụ Sở Phối Hợp Nghệ Thuật (tức Sở Kiểm Duyệt sách báo, văn nghệ phẩm) thuộc Tổng Ủy Dân Vận.

Tôi gặp anh Lê Sơn Cương lần đầu tiên  tại buổi Hội Thảo về Sách Báo do Ủy Hội Quốc Gia  thuộc UNESCO (Cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc) tổ chức.

Phải thành thật mà nói, trong cương vị của một người viết văn, tôi không ưa gì mấy ông trong Hội Đồng Kiểm Duyệt, hay nói cho đúng hơn, là không ưa chế độ kiểm duyệt.

Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, trong một quốc gia có cuộc chiến tranh lâu dài, việc bãi bỏ hoàn toàn chế độ kiểm duyệt, tuy có lợi ở phương diện này thì lại đồng thời có hại ở phương diện khác. Cho nên tôi cho là anh Lê Sơn Cương, trong cương vị của một nhân vật đại diện cho chính quyền, đã hữu lý khi anh phát biểu ý kiến này trong buổi hội thảo :

- "Dù ở bất cứ quốc gia tự do nào, thì quan niệm tự do không phải là mạnh ai muốn làm gì thì làm. Sự tự do phải được hiểu là có ý nghĩa tương quan tập thể, tôn trọng quyền lợi của tập thể. Bởi vậy giữa chính quyền và văn nghệ sĩ, ít nhất phải gặp nhau ở một vài điểm tương đồng. Tại điểm tương đồng ấy, hai bên thỏa thuận vạch một vòng phấn giới hạn. Việc kiểm duyệt chỉ là một biện pháp ngăn chặn những tác phẩm đi ra ngoài vạch phấn đã được sự thỏa thuận của hai bên."

Thú thật, khi nghe lời biện minh ấy, tuy nó hữu lý nhưng tôi không mấy tin tưởng.Tôi đã nói riêng với anh Lê Sơn Cương là trong hơn 10 năm sáng tác, tôi cũng đã nhiều lần khốn đốn về vấn đề kiểm duyệt, và nếu không nhờ cảm tình bạn bè của các anh em thì tác phẩm của tôi đã có nhiều cuốn phải liệng bỏ vì bị gạch xóa quá nhiều. Như cuốn Quê Nhà Yêu Dấu đáng lẽ bị gạch bỏ một phần tư trước khi in, cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn bị gạch nát bằng bút đỏ và cuốn Giọt Lệ Đen bị bỏ đi mấy truyện.

Thi hành một chính sách mà chỉ dựa vào tình cảm cá nhân thì công việc  sẽ trở nên rất phiêu lưu. Giả sử nếu tôi không có hân hạnh được quen biết ai trong  Phòng Kiểm Duyệt, hay giả sử những người quen biết ấy của tôi rời nhiệm sở cũ, thì sự thể sẽ ra như thế nào?

Anh Lê Sơn Cương, khi đó mới về nhận chức đã nói với tôi :

- Từ nay anh đừng lo. Tất cả sách của các anh do đích thân tôi đọc. Muốn xóa của các anh, dù chỉ một dòng, một chữ, tôi cũng sẽ mời các anh lên thảo luận trực tiếp. Nếu lý tôi thua, tôi xin để nguyên, không gạch xóa.

Thừa dịp ấy, tôi nói ngay với anh :

- Chính sách kiểm duyệt của Bộ Thông Tin đã gây cho anh chị em văn nghệ sĩ nhiều ấn tượng không tốt đẹp. Nhiều người có sách viết xong không dám mang đi kiểm duyệt, sợ bị xóa bỏ, sẽ uổng công đánh máy.

Anh Lê Sơn Cương nói :

- Tôi cam đoan với anh hoàn cảnh ấy đã chấm dứt rồi. Ai có sách, anh cứ bảo mang lên trực tiếp với tôi.

Ít hôm sau, tôi thuật lại câu chuyện trên với nhà văn Bùi Kim Đĩnh và nói với anh cứ đem tác phẩm Đốt Xác lên kiểm duyệt. Kết quả, cuốn sách của anh Bùi Kim Đĩnh tưởng sẽ không ra được, cũng đã được giấy phép ấn hành. Cuốn này do nhà Huyền Trân xuất bản và đã được bầy bán ở các tiệm sách.

Tôi bắt đầu thấy mến anh Lê Sơn Cương từ sau vụ ấy. Anh là người đầu tiên xóa bỏ được cái hố ngăn cách giữa tôi với giới chức có thẩm quyền gạch xóa tác phẩm.

Tuy nhiên một con Én thì không thể nào làm  nên được mùa Xuân.

Và vận Nước cũng đã đến thời mạt. Cho nên mới nẩy nòi ra những chuyện hỗn loạn ở địa phương trong khi các chiến sĩ vẫn đang tiếp tục hy sinh ở tiền tuyến.. Điều này cũng góp một phần không nhỏ vào cuộc sụp đổ miền Nam !!!

Chương VI

Ngày Cuối Ở Trụ Sở Trung Tâm Văn Bút


Cuối tháng Tư 1975, trụ sở của Trung Tâm Văn Bút có nhiều hội viên ra vô, bất kể  là vào ngày có hội họp chính thức hay không. Đó là vì mọi người nghe ngóng động tĩnh xem Văn Bút có can thiệp được để cho các hội viên ra đi hay không. Quả thực trước nhiều ngày, Ban Thường Vụ đã nhận được nhiều lời đề nghị là hãy sử dụng uy tín của Văn Bút để yêu cầu quốc tế can thiệp cho hội viên di tản. Chúng tôi cũng đã họp bàn về vấn đề này nhưng hết thẩy đều biết rõ thực trạng là chẳng có Trung Tâm Văn Bút nào trên Thế giới đủ khả năng (hay có nhiệt tâm) làm việc ấy, trừ Tòa Đại Sứ Mỹ, mà nơi này thì Ban Thường Vụ không quen biết ai mà cũng chẳng muốn dính vào.

Rồi khi quân đội CS đã tiến vào Sài Gòn. Ngày hôm sau,1 tháng 5, tại trụ sở chỉ còn lác đác có mấy người,  nếu tôi không nhớ sai và có thể còn thiếu, như : Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, Nghiêm xuân Việt, Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh, Lê Thanh Thái, Nguyễn Vạn An, Thanh Việt Thanh, Vi Huyền Đắc....

Trong khi Ông Tổng Thư Ký Phạm Việt Tuyền lúi húi kiểm tra lại những văn thư, giấy tờ thì một vài người trong chúng tôi ngồi thừ trên cái bàn dài  là nơi vẫn hội họp, chẳng ai buồn nói với ai, mà cũng chẳng buồn nhấp những ly trà nóng do Cụ Hinh bầy biện ra trước mọi người. Hình như tâm trạng của ai lúc đó cũng đều buồn bã, chán nản và cũng xen cả sự lo lắng, phập phồng nữa.

Riêng tôi thì ngán ngẩm nhìn lại khắp gian phòng rộng rãi một lần nữa với cảm giác từ nay, nơi chốn thân ái đầy kỷ niệm này sẽ chẳng còn ai lui tới. Ở cuối phòng là dẫy bàn ghế thấp thường ngày được đem bầy ra hiên ngoài để làm câu lạc bộ bỏ túi cho anh chị em hội viên tới uống cà phê bàn chuyện văn nghệ. Sát tường phía đầu căn phòng là một tấm bảng cực lớn sơn mầu xanh trên kẻ bằng chữ trắng ghi đủ danh sách toàn thể hội viên. Tấm bảng này cũng coi như một tấm phông của một cái bục vừa đủ rộng để kê một cái bàn nhỏ nơi mà các diễn giả ngồi thuyết trình trong những buổi nói chuyện văn chương hằng tháng. Cả căn phòng, dẹp bàn họp đi, bầy những ghế dựa ra, là biến thành hội trường.

Tôi còn đang mông lung về những kỷ niệm xưa thì bỗng nhiên từ tầng dưới có một người đi lên, sồng sộc bước vào phòng họp thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đạp xe tới. Ông nói oang oang cho tất cả mọi người nghe :

- Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái !

Tôi thì nghĩ ngay trong đầu rằng tình thế đã như thế này, còn cấp giấy chứng nhận cho hội viên thì chỉ làm hại người ta thôi chứ quý báu gì. Còn ông Tổng  Thư ký Phạm Việt Tuyền đang soạn giấy tờ thì ngẩng đầu lên, chép miệng :

- Cậu đùa sao ? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai.

Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn :

- Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau trước cái đề nghị hoàn toàn bất ngờ này. Vốn không quen làm chuyện giả mạo, lại dám giả mạo là một cơ sở của Giải Phóng thì  là chuyện liều lĩnh không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, suy nghĩ cho cùng thì trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối  ấy, chúng tôi tự thấy nếu có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Ông Tổng  Thư ký Phạm Việt Tuyền vốn là người rất réglé (đúng nguyên tắc) thế mà rồi cũng chép miệng bảo tôi:

- Thôi cứ thảo cho anh ấy cái giấy chứng nhận. Chẳng có ma nào hạch hỏi gì đâu. Còn người cầm giấy nếu có gì thì ráng chịu.

Thế là tôi hí hoáy thảo một cái giấy chứng nhận và giao cho Cụ Hinh đánh máy, như sau :

GIẤY CHỨNG NHẬN

Nay chứng nhận : Ông Nguyễn Đức Sơn

Sinh năm :  ....

là :   Hội viên của Hội Văn Bút Giải Phóng.

Giấy này được cấp cho ông Nguyễn Đức Sơn để tiện việc di chuyển.

Làm tại Sài Gòn ngày 1-5-1975

  1. Ban Chấp hành

( ký tên không rõ)

Bên lề tấm giấy còn có dán ảnh của Nguyễn Đức Sơn  trên ảnh có đóng triện son đỏ chói.

Có tấm giấy trong tay, Nguyễn Đức Sơn quơ tay chào mọi người rồi biến nhanh xuống cầu thang. Ông cũng không nói cho anh em có mặt lúc đó là sẽ đi đâu, làm gì.

Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông  ngồi trên chiếc xe đạp mà  từ tay lái tới khung xe, tới cái porte-bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ. Có túm thì đựng măng khô, có túm thì củ mài, có những bọc lá thuốc không biết là để chữa bệnh gì, duy có một bọc được gói ghém cẩn thận mà ông đã giơ lên khoe :

- Trà Blao đây ! Tớ đạp xe 3 ngày từ Blao xuống. Mấy cái gói kia thì nhặt nhạnh ở dọc đường. Nhưng cái món trà này thì đích thị là quà biếu thổ sản đấy.

Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả :

- Ôi giời ơi ! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng,  kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết !!

Đấy là kỷ niệm cuối cùng của tôi tại Trụ sở Văn Bút số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn. Tính tới nay, năm 2016 là đã 41 năm trời trôi qua. Nhiều vị trong Ban Thường Vụ 1975 nay đã không còn nữa. Vũ Hoàng Chương. Vi Huyền Đắc. LM Thanh Lãng. Hồ Hữu Tường. Phạm Việt Tuyền. Trần Phong Giao. Còn về những hội viên khác thì kẻ còn, người mất, kẻ lưu vong nơi xứ lạ, người ở lại, dù có tiếp tục cầm bút nhưng không còn cơ hội hoạt động Văn Bút như xưa.

Cuốn sách nhỏ bé này chỉ nhằm ghi lại đôi chút kỷ niệm về một tổ chức thuần túy văn hóa vốn đã từng góp nhiều công sức vào công cuộc vun trồng và  xây đắp một nền văn hóa khá rực rỡ của Miền Nam Việt Nam.

Những dữ kiện về Văn Bút trong cuốn này sẽ mặc nhiên phủ chính lại một vài dữ kiện khác biệt đã có trong những bài viết trước đây của tôi về Văn Bút vì lý do khi đó tôi chưa có đủ tài liệu để đối chiếu.

Dù đã hết sức cố gắng nhưng lực bất tòng tâm, tôi vẫn hy vọng sau này sẽ có nhiều cây bút khác với sự kiên nhẫn tìm tòi, nghiên cứu kỹ lưỡng tại các thư viện trong, ngoài nước và có thể  của cả tư nhân nữa, hẳn sẽ có thể viết lại lịch sử Văn Bút một cách đầy đủ hơn và như thế sẽ còn bổ sung hay phủ chính lại những sai sót nếu có của tôi trong cuốn tài liệu nhỏ bé này. Và đó là điều tôi hết lòng mong mỏi.

NHẬT TIẾN
Khởi viết ngày 6 tháng 7 năm 2016
Hoàn tất ngày 9 tháng 8 năm 2016