vietmessenger.com


Thư Tình Trên Cát

Duyên Anh

Thư Tình Trên Cát





Au loin déjà la mer s’est retirée
Mais dans les yeux entr’ouverts
Deux petites vagues sont restées
Deux petites vagues pour me noyer.

JACQUES PRÉVERT

1

KHÔNG BAO GIỜ TÔI NGHĨ MÌNH có chuyến đi xa như thế, dù nơi tôi sắp đến là một thành phố tôi đã quen thuộc ờ những bài hát, trong những cuốn tiểu thuyết. Nhìn bản đồ, Nha Trang thật gần Sàigòn. Bốn mươi phút bay của Boeing, tám mươi phút DC6 và quá nửa buổi chạy xe đò. Nào xa chi mà tôi cứ thấy nó xa vời vợi. Xa và trở thành mộng tưởng như mộng tưởng của nhà thơ thèm dìu tình nhân vào "quán rượu có một chút Paris để làm thi sĩ". Tuổi trẻ hôm nay cơ hồ xa lạ ngay với cả quê hương mình. Chiến tranh vực thẳm, đòi sống leo dốc là chướng ngại vật ngăn cản những chuyến đi.

- Nghĩ gì đó, Nhị ?

- Về Nha Trang.

- Buồn ói không ?

- Không.

Phượng vỗ vai tôi:

- Trưa nay chúng ta đã nằm dài trên bãi cát phơi nắng.

Tôi hỏi:

- Gần tới chưa ?

Phượng nheo mẳt. Lặng thinh. Chiếc Boeing êm ái lướt. Phượng là bạn thân của tôi từ dạo chúng tôi còn học dưới trung học. Lên đại học, tình cờ chúng tôi lại chung một trường, một lớp. Ba Phượng, một thương gia khá giả, mùa hè nào ông cũng đưa gia đình đi nghỉ mát xa Sàigòn. Năm ngoái, Phượng theo ba sang Pháp, hưởng những ngày hạ tuyệt vời ở Côte d’Azur.

Phượng đã ra Huế, đă "nhai kẹo mạch nha mỏi cả miệng" ở Quàng Ngãi, đã thích câu ca dao "Mẹ già như chuối ba hương. Như xôi nếp một như đường mía lau". Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Tuy Hòa... những thành phố, những tỉnh lỵ miền Trung, Phượng đều đã đặt dấu chân kỷ niệm ; mỗi nơi Phượng ghé thăm, Phượng không quên mua một kỷ vật. Và cái tủ kính to tướng của Phượng đầy nhóc kỷ niệm mà tôi thường gọi đùa "kỷ niệm giang hồ vặt của... vợ chú dế mèn". Phượng nói về Huế đẹp hơn thơ Hàn Mặc Tử tả thôn Vỹ Dạ. Huế trên đầu ta, mùa hè phượng nở đỏ rợp Thành Nội. Huế trên đầu ta, mùa thu heo may mơn trớn Hương Giang. Huế âm nhạc. Huế thi ca. Và, Nhị ơi, Kiều Nhị ơi, nếu mi ngang qua một ngôi trường con gái - trường Đồng Khánh, chẳng hạn - mi sẽ muốn làm con trai, mi sẽ muốn tự từ dưới dòng suối tóc. Nghe Phượng ca ngợi Huế, tôi thèm cắn Huế một miếng. Chắc Huế ngọt tợ kẹo mè xửng. Phượng ca ngợi Nha Trang ghê gớm lắm. Con nhỏ bảo tôi: Rất tiếc mi "làm thân con gái". Chứ không, mi sẽ khổ sở vì câu "Gái Nha trang mày ngài mắt phưọng.." Rồi bỗng cách đây vài hôm, Phượng rủ tôi ra Nha Trang. Phượng xin phép bố mẹ tôi. Bố mẹ tôi bằng lòng. Ba Phượng có cái biệt thự ngoài Nha Trang, mùa hè năm nay tôi được nghỉ mát một nơi tôi hằng mơ ước. Cám ơn Phượng.

- Nhị!

- Hở?

- Nhớ phim Where the boys are chứ ?

- Nhớ.

- Đọc chuyện đó nữa ?

- Chưa.

- Ông bổ tác giả Mỹ "chịu chơi" ra phết, ông ta đề tặng con gái cuốn Where the boys are coi như thể lời chúc con gái hưởng mùa hè tuyệt diệu.

Phượng khe khẽ hát Where the boys are... Con nhỏ tường mình là Connie Francis trong phim. Tôi nhéo Phượng:

- They are in Nha Trang !

- Mi đoán vậy ?

- Ừ

- Mi "xí" vai nào ?

- Luna Pattern.

- À, mi khôn lỏi, mi sẽ gặp kép đẹp giai Georges Hamilton, còn ta, ta đóng vai đào lùn Connie Francis cặp với anh chàng nhạc sĩ cận thị nặng.

Phượng bóc thanh kẹo cao su, bỏ vô miệng, nhai tóp tép. Con nhỏ hồn nhiên kinh khủng. Tôi nghĩ Phượng là dứa con gái sung sướng. Nếu ý nghĩa của hạnh phúc nằm trong sự đau khổ thì Phượng không bao giờ có hạnh phúc. Con nhỏ chỉ biết cười đùa, hưởng thụ và nói chuyện tình yêu. Xong rồi Phượng có thể quên ngay. Để cười nụ cười khác, hưởng thụ sự hưởng thụ khác, yêu mối tình yêu khác. Phượng gần gũi những nhân vật nữ của tiểu thuyết mang tính chất hiện sinh. Con nhỏ yêu dễ dàng và quên dễ dàng. Phượng đông bạn trai. Con nhỏ chia thời khóa biểu hẹn hò. Phượng không từ chối lời mời của bất cứ anh chàng nào đã coi như bạn. Nghĩa là những anh chàng được nó phê trên điểm trung bình về..hình thức. Anh chàng nào ưa xúc động, tưởng lang thang với Phượng trên con đường thơ mộng nhất của Sàigòn là đã lang thang trên con đường tim của Phượng, sẽ ngã đau. Và sẽ trở thành thi sĩ hoặc tình nguyện làm kẻ chán đời. Phượng thích chơi ú tim tình ái. Rồt cuộc, nó vẫn chưa yêu ai. Phải chăng đó là nỗi buồn trời phạt Phượng, người bạn gái thân nhất của tôi. Một ngày kia, Phượng hiểu thấu mấy câu nhạc của Phạm Duy, nó mới chịu chấm dứt trò chơi ú tim tai ác của nó. Nó sẽ thấy tình yêu của tuổi trẻ ngọt ngào và rực rỡ ở những chiều "chủ nhật uyên ương" cậu trai "uống ly chanh đường" đắm đuối nhìn cô gái mà ngỡ "uống môi em ngọt".

- Mi lại vẩn vơ chuyện gì thế, Kiều Nhị?

- Nha Trang.

- Yên chí, Nha Trang sẽ đông đầy con trai. Mi sẽ gặp một kép tối tân. Ít ra, nó cũng có cái "o bo" đưa mi thăm viếng các bãi quanh hải đảo và chiếc Honda chở mi leo đèo Rù Rì nếu mi ham lên cao rù rì chuyện tình cao thượng.

- Tao nói trước là tao sẽ chỉ đến Nha Trang rồi về nhớ Nha Trang.

- Nhất định không yêu con trai Nha Trang ?

- Yêu biển thôi.

- Tại con trai Nha Trang cù lần ?

- Chẳng tại chi hết. Tình yêu nó đến, khỏi mất công tìm.

- Mi ngu.

- Có lẽ thế.

- Yêu là mở cuộc thi tuyển lựa. Sơ kết, chung kết. Ta chọn hai tên vào chung kết, một làm kép chính, một làm kép phụ.

- Nhỡ cả hai kép đều lăn đùng ra chết ?

- Mi e ngại hai đứa đấu súng ?

- Tao lo chúng nó chết dịch !

Phượng cười ngặt nghẽo. Con nhỏ nhún vai:

- Thì chờ Giờ ra chơi 1 khác. Một đời học trò bao nhiêu lần ra chơi.

Tôi nói:

- Nhưng một đời ngưòi chì có một lần ra chơi làm thành kỷ niệm.

Phượng bĩu môi:

- Mi cứ khư khư cái luận lý mộng tưởng.

Tôi lảng chuyện:

- Giá chúng minh được đi xe hơi, Phượng nhì ?

Phượng tròn xoe mắt:

- Xe hơi của tụi con trai ? Mi mơ mộng cái vụ đeo túi hành lý đứng đường vẫy xe nhờ tụi nó chở mi đi du lịch ? Đừng ham, Kiều Nhị. Tụi nó sẽ chở mi đến một chỗ...

Tôi xua tay:

- Thôi, tao sợ lắm.

Phượng khôn quá, thực tế quá. Ít khi nó thơ mộng hóa một vấn đề. Chuyện của Phượng luôn luôn dẫn dắt về một kết luận tàn nhẫn hay trào lộng. Chuyện thơ mộng, cho là chuyện tình thơ mộng, với Phượng, là chuyện không thể xảy ra. Con nhỏ mỉa mai: "Tình thơ mộng, tall story, tall story "! Nó không hợp tính tôi. Nhưng nó rất tốt, rất thương tôi. Hai đứa tôi thân nhau kể cũng lạ. Mà cũng chẳng lạ. Đôi khi, người ta thân nhau vì tính tình trái ngược nhau. Phượng chê tôi xưa như trái đất. Tình yêu vốn xưa như trái đất. Và mãi mãi còn xưa như trái đất. Tình yêu là cái gì quý nhất, đẹp nhất cùa con người. Nghĩ tới tình yêu, tôi thường nghĩ đẹp. Nói tới tình yêu, tôi thường nói đẹp. Cái đẹp tuyệt đối. Cái đẹp không thể xảy ra. Và Phượng bảo là luận lý mộng tưởng. Quan niệm tình yêu dễ dãi như giờ ra chơi thì tình yêu còn nghĩa lý gì. Thì mọi sự trên đời hết mộng tưởng. Người ta có sẵn thú tiêu khiển, người ta không ước ao. Người ta chỉ sung sướng, người ta không biết buồn. Hạnh phúc, theo tôi, nằm kín trong trái ước ao ngoài tầm tay với của mình. Vừa tầm tay với, trái hạnh phúc chỉ có cái vỏ. Thiếu cái nhân. Tinh yêu chẳng khác chi mấy. Nó lơ lửng trên một vùng tròi. Nó thật xa tầm tay với của tôi. Nên nó đẹp.

Phượng hé tấm màn xanh nhìn qua ô cửa kính nhỏ, khẽ reo :

- Nha Trang kia rồi !

Tôi nói :

- Gửi lời chào Nha Trang giùm tao.

Phượng đổi chỗ ngồi cho tôi :

- Ra đây, nhìn "nó" mà chào. Không chừng có một lô con trai chầu sẵn ở phi trường với hoa và biểu ngữ chờ đợi mi đó. Mơ mộng đi.

Tôi cười :

- Tao đang mơ mộng.

Phượng hòi:

- Nếu có thằng vồ răng quàng hoa lên cổ mi, mi có cảm động không ?

Tôi giả vờ ngó xuống ngắm biển, không trả lời Phượng. Con nhỏ đâu chịu buông tha. Nó hích khuỷu tay vào người tôi :

- Cảm động chứ ?

- Cảm động, biển cỏ vẻ đẹp.

- Sao lại biển.

- Chỉ biển, vì biển mời yêu, biển gọi mộng.

- Mời yêu cả chàng vồ răng, ở quán ăn bước ra miệng vẫn ngậm chiếc tăm làm kỷ niệm một... chuyến ăn !

Phượng thích chí, cười ròn râ. Máy bay xuống thấp dần một cách êm ái. Và tiếng nói dễ thương của cô tiếp hành viên báo tin cho những kẻ nóng lòng :

- " Phi cơ sắp đáp xuống phi trường Nha Trang. Xin quý khách kéo ghé cho thẳng, buộc dây an toàn, xin đừng hút thuốc. Cám ơn."

Phi cơ sắp đáp xuống phi trường Nha Trang. Chín tiếng ngắn ngủi đó làm tôi xúc động. Chẳng hiểu tôi nghĩ có lầm : Khi ta đến một miền đất lạ, ta đinh ninh rằng ta sắp được sống cuộc đời mới lạ. Cuộc đời ấy vui vẻ hay buồn rầu, ta chưa đoán nổi, nhưng, chắc nó phải mới lạ.Tôi muốn ghi vào cuốn sổ tay câu này: "Kiều Nhị, sinh viên năm thứ nhất Luật khoa, hai mươi tuổi mới biết Nha Trang và thoáng thấy Nha Trang từ trên cao đã yêu Nha Trang rồi" Nha Trang là miền quê hương cát trắng, ai qua không quên để lại một vài luyến tiếc xa xôi...Thế thôi ư? Không, nếu ta đã qua một nơi chốn của quê hương ta, không thể "để lại một vài luyến tiếc xa xôi" mà phải để lại một mảng của tâm hồn ta.

Phượng vỗ vai tôi:

- Máy bay đang xuống dốc vun vút mà mi thì mải leo dốc mơ.

Tôi khen Phượng:

- Dốc mơ, chữ tuyệt vời. Đặt tên cho cuốn tiểu thuyết tình yêu hay biết mấy.

- Tình yêu mộng tưởng?

- Dĩ nhiên.

Phi cơ đã xẹt bánh trước của nọ trên đường bay. Rất bình thường. Người phi công xứng đáng nhận lời khen của tôi. Giọng dễ thương của cô tiếp hành viên rót vào tai tôi:

- "Phi cơ đã đáp xuống phi trường Nha Trang. Xin quý khách ngồi yên, chờ phi cơ ngừng hẳn hãy rời chỗ ngồi..."

Hành khách của chúng ta có thói quen hơi xấu là lên máy bay hay xuống máy bay đều thích lên mau xuống lẹ. Chen lấn nhau lên, xuống. Phượng và tôi ngồí tít hàng ghế sát với phòng phi hành đoàn. Chúng tôi đợi mọi người xuống hết mới đứng dậy. Hai đứa là hai kẻ "cô đơn" trên cầu thang.

Phượng nói:

- Nha Trang đó!

Tôi khẽ gật đầu:

- Bắt đầu cơn dốc mơ đây.

Cô tiếp hành viên nhìn tôi, cười làm quen. Tôi nhìn cô ấy, lễ phép:

- Chúc chị về Sàigòn bình yên.

Cô cảm ơn tôi và nói:

- Chúc cô gặp nhiều may mắn ở Nha Trang.

Ở Nha Trang có nhiều may mắn? Tôi chỉ mong gặp một may mắn nhỏ đủ làm nổi một kỷ niệm thương nhớ người suốt đời.

Chiếc Mazda 6×6 đón chúng tôi đậu ngay cạnh chiếc buýt của Hàng Không Việt Nam. Phượng nhận ra xe của nhà mình liền. Con bé dắt tôi phăng phăng bước tới. Người tài xế trân trọng chào Phượng, đỡ hành lý và mở cửa xe. Tôi ghét cái cung cách này. Nó thích hợp với Phượng. Tôi ngượng ngùng theo Phượng bước vào xe. Chiếc xe màu vàng vemillon, đệm da mầu đen rất đúng mốt. Thế giới của tôi là xe gắn máy Nhật, xe Lam ba bánh, xe búyt. Chưa lần nào tôi mơ được lại chiếc xe hơi thể thao. Hình như tuổi trẻ không mơ tuởng chuyện đó, cho nên chẳng tìm thấy một mơ tưởng của tuổi trẻ vượt khỏi những mơ tưởng bình thường và tầm thường. Đôi khi, vì thế, tuổi trẻ bị kết tội lãng mạn, không tưởng và khó hiểu.

- Mi vẫn leo dốc mơ hả, Kiều Nhị?

- Ừ.

- Rất tiếc.

- Sao?

- Không báo tin sớm để kép vồ răng đem hoa quàng lên cổ mi!

Xe đã qua cổng chót thuộc khu vực kiểm soát an ninh. Biển trước mặt. Biển xanh dưới trời vàng. Nắng khiêu vũ trên mặt biển. Biển vui tươi. Qua những lá dừa rung rinh, biển cơ hồ đang lên tiếng. Chào tôi đấy. Cám ơn biển nhé! Tôi say mê ngắm biển. Phượng nói đùa:

- Mi còn nhiều ngày để tình tự với biển, hãy tạm quên đi. Tao sợ mai mốt mi sẽ quên hẳn biển vì cuộc tình khác.

Xe rẽ sang phía tay trái. Bỏ biển lại sau lưng. Con đường Yersin yên tỉnh, ngắn ngủi và có vẻ thân mật. Phượng chỉ tay:

- Căn nhà mầu trắng.

Tôi hỏi:

- Đó là căn nhà?

Phượng cười:

- Mi muốn gọi là biệt thự cũng chả sao. Căn nhà nghe nó êm ấm hơn.

Xe chạy chậm dần và quẹo vô cổng. Người tài xế bóp còi. Chị giúp việc chạy vội ra mở cổng. Một bầy chó chạy theo chị sủa vài tiếng rồi vẫy đuôi mừng cô chủ. Xe đi trên lớp đá sỏi trong sân. Tôi không kịp suy nghĩ về bầy chó, về tiếng lạo xạo. Cảm giác mới đuổi vượt những cảm giác mới. Tôi đang ở Nha Trang. Nói cho đúng, tôi đang ở một vũ trụ xa lại với vũ trụ quen thuộc của tôi. Người tài xế dừng xe, nhanh nhẹn mở cửa bước khỏi xe và, như thói quen của bất cứ một tài xế nào của một gia đình sang trọng, ông ta trịnh trọng mở cửa mời Phượng và tôi xuống xe. Tôi gật đầu cám ơn người tài xế. Phượng thì tỉnh bơ. Nó hỏi chị giúp việc:

- Làm phòng đàng hoàng rồi chứ, chị Hai?

Chị Hai lễ phép đáp:

- Thưa cô, tôi vừa quét dọn lại.

Chị cung kính:

- Hai cụ không ra à, thưa cô?

Phượng nhún vai:

- Chỉ có hai đứa tôi. Hai cụ ra, Nha Trang sẽ mưa tối ngày.

Phượng dặn dò:

- Mỗi sáng nhớ thay hoa ở phòng hai chúng tôi. Khỏi lo cơm nước. Chúng tôi ăn tại Frégate. Mua đồ uống chứa đầy vào tủ lạnh.

Giọng con nhỏ Phượng rõ ràng là giọng tiểu chủ. Đầy quyền uy.

- Chị Hai!

- Dạ.

- Mở máy lạnh chưa? Trời nóng quá.

- Thưa cô, tôi quên.

- Chị, quên hoài. Lần này rán nhớ: Khi có tôi, máy lạnh mở đều đều. Sáng làm phòng tắt đi, mở tung cửa một lát rồi mở máy liền. Lên mở máy lẹ.

Chị Hai cuống quýt lên lầu. Phượng dắt tôi vào phòng khách. Nó bước tới giàn máy Teac bầy thật đẹp trên cái búyp-phê gần đó, tháo bao vải, cắm điện, chọn băng cho máy chạy rồi trở về xa-lông gieo mình xuống, dựa lưng vào thành ghế bọc da, hai chân ghếch lên bàn một cách thoải mái.

- Nhị!

- Hả?

- Qua dốc mơ chưa?

Tôi chưa kịp trả lời thì giọng Connie Francis đã trỗi lên trong vắt và quyến rũ:

- "Where the boys are..."

Phượng hát theo, hồn nhiên, sung sướng. Nó búng ngón tay:

- Cần hút một điếu thuốc, nhìn khói nghe nhạc mới thấm. Mi đồng ý?

Tôi lắc đầu:

- Sợ ho!

Thời gian như lắng đọng ở cái không gian êm ả này. Tôi nghĩ đây là nơi tôi đã yêu lại âm nhạc một cách thiết tha. Nếu tôi đã trót ghét âm nhạc cay đắng vào mỗi sáng chủ nhật, có dịp ghé thăm Crystal Palace. Âm nhạc ở cái tầng thứ nhất của thương xá này quả là một thứ âm nhạc chói tai. Nó gợi tưởng những cuộc cãi cọ rùng mình. Nó lải nhải cái điệu bán solde trên vĩa hè chợ Tết. Ở đây thì khác yên lặng đến độ âm thanh toả khắp gian phòng và tôi mơ hồ nghe tiếng cánh nhạc bay cùng với hơi thở của người hát.

- Mi yêu Connie Francis?

- Vừa vừa thôi.

- Phải yêu tuyệt đối.

- Tại sao mi không hỏi tao có yêu Anh Ngọc?

- Hắn già rồi. Cuộc đời chia biên giới rõ rệt, một bên là của thế hệ đi xuống, bên kia là của thế hệ đi lên, của bọn mình.

- Mi không hiểu ý tao.

- À, đừng tự ái dân tộc. Nghệ thuật không có quốc gia, nhất là thứ nghệ thuật phục vụ tình yêu.

Phượng lim dim đôi mắt:

- Quả thật, nghe nhạc cần hút thuốc lá. Nhìn khói thuốc, nhạc và lời mới thấm vào hồn. Và nên ngồi giống tao. Thưởng thức nghệ thuật phải thoải mái cả thể xác nữa.

Tôi đùa:

- Còn thưởng thức ...con trai?

Phượng cho chân ngồi thẳng thắn:

- Con trai à ? Thưởng thức theo tinh thần đùa nghịch. Một buổi chiều, hẹn đủ vài đứa mình vừa quen tại một nơi và mình thì nằm ở nhà đọc tiểu thuyết trinh thám. Tưởng tượng các chàng nóng ruột, đi đi lại lại rồi gạ chuyện nhau, thú ra phết.

- Kỷ niệm đấy hả?

- Mi quan trọng hoá chuyện con trai quá. Mình là kẻ ban phát kỷ niệm, không giữ kỷ niệm.

- Mi tai ác.

- Chứ sao!

- Rồi mi sẽ khổ.

- Cam đoan tao sẽ đầy đủ hạnh phúc.

- Hạnh phúc buồn.

- Để xem.

Phượng đứng dậy, bước lại gần tôi, kéo tôi lên lầu. Connie Francis đã bắt đầu bản "You never smile". Phượng không tắt máy. Nó bảo để nằm trong bồn tắm vẫn nghe được nhạc. Chúng tôi đã ở trên lầu. Tôi vẫn cứ ngỡ ngàng đi xa khỏi thế giới riêng biệt của mình. Thế giới của tôi bình thường, cô đơn. Có vẻ tầm thường là khác. Nhưng từ nỗi cô đơn, từ vẻ tầm thường, tôi đã biết ao ước, mộng mơ. Nỗi ước ao đầu đời, cơn mộng mơ sớm nhất của tôi chỉ là một chuyện tình đẹp. Một chuyện tình làm thành kỷ niệm để nhớ mãi mãi, để trĩu tay hành lý bước xuống cuộc đời. Nha Trang có thể cho tôi kỷ niệm ấy được không? Nếu tôi có kỷ niệm để nhớ Nha Trang mãi mãi muôn thuở, Nha Trang không thể chỉ là miền quê hương cát trắng đâu, mà là miền quê hương tâm tưởng, ở đó, một hạt cát biển cũng trở thành viên ngọc trai óng ánh mầu sắc yêu thương. Tôi bỗng nhớ Audrey Hepburn đóng vai công chúa Anne trong phim Roman holiday. Anne đài các, vương giả. Anne sẽ lên ngôi hoàng hậu, sẽ nối tiếp chuỗi ngày phiền muộn, giả tạo tới khi già nua. Tới khi chết. Không một kỷ niệm tình yêu. Kỷ niệm, đừng nói như Phượng, đừng nghĩ như Phượng, là của một người con trai cho một người con gái và của một người con gái cho một người con trai. Nhưng công chúa Anne đã không nói giống Phượng, không nghĩ giống Phượng. Nàng khắc khoải trong cái lưới cô đơn bủa vậy. Nàng chưa quá khôn như Phượng để "thưởng thức con trai theo tinh thần đùa nghịch". Nàng ngây thơ, hồn nhiên. Và nàng thoát khỏi cái thực tại ưu phiền. Nàng muốn có kỷ niệm con gái trước khi làm đàn bà. Tôi là con gái buồn như lá cây. Anne muốn được buồn như lá cây. Nàng đã toại nguyện. Vì nàng đã gặp phóng viên Joe Bradley - Gregory Peck đóng vai này - ở Rome. Họ đã yêu nhau dù họ không hề nói yêu nhau. Ở Rome. Tình của họ là tình mộng, tình yêu mộng tưởng, tình yêu dệt thành kỷ niệm cho hai người. Ở Rome. Anne yêu Rome. "Rome là nhất...Tôi sẽ nhớ mãi những kỷ niệm êm dịu của tôi ở đây. Không bao giờ tôi quên.." Công chúa Anne xúc động tỏ tình yêu Rome. Bởi ở Rome, nàng đã quen Joe và Joe đã cho nàng những kỷ niệm êm dịu. Và Joe, chàng cũng yêu Rome. Ở Rome, chàng được Anne cho chàng những kỷ niệm êm dịu, những kỷ niệm một đời người ta chỉ có một lần.

Tôi muốn được yêu Nha Trang như công chúa Anne yêu Rome. Đó là mộng ước hay mộng ảo? Kỷ niệm không có nơi chốn nhất định để ta tới hái đem về. Kỷ niệm đến với ta thật tình cờ. Tôi sẽ đón đợi sự tình cờ đó bằng một niềm tin. Rằng, kỷ niệm êm dịu sẽ chỉ đến cùng những người con gái ước ao tình yêu mộng tưởng. Như những phép lạ trong cổ tích chỉ đến cùng những đứa trẻ nghèo khổ, hẩm hiu. Tôi là đứa trẻ hẩm hiu đang ngơ ngác đứng nhìn vẻ sang trọng của tầng lầu ngôi biệt thự mùa hè của Phượng. Tôi không hề ghen với hạnh phúc của bạn tôi. Chẳng hiểu khi nào tôi mới có cuộc sống thừa mứa tiện nghi này, nhưng tôi nghĩ mình khó lòng thích hợp với nó. Phượng dẫn tôi vào căn phòng riêng cho tôi:

- Phòng của tao đó, nhường mi. Tao ở phòng của ba tao. Vô tắm đi rồi tà tà ra bãi xem con trai chúng nó đang làm gì.

- Tao thèm ngủ.

- Ra bãi biển nằm ngủ. Mày thích mơ mộng mà chê làm công chúa ngủ trên ...bãi biển à?

Phượng đẩy tôi vào. Nó đóng cửa lại. Tôi thấy khó chịu về sự lạnh nhân tạo của căn phòng. Đúng là tôi bước vào thế giới lạnh, thế giới kín mít cửa sổ, thế giới thiếu nắng gió, ánh sáng mặt trời. Thế giới của công chúa Anne tội nghiệp. Ngày kia, Phượng sẽ nhận ra điều đó. Và nó sẽ hiểu thế nào là hạnh phúc buồn. Tôi bước gần chiếc máy lạnh, tìm nút tắt máy. Kéo ri-đô, tôi mở tung cửa kính. Và tắt luôn điện. Tôi đứng bên cửa, nhìn xuống một Nha Trang nhễ nhại nắng. Nắng vàng ửng. Nắng thế này hẳn nước biển có màu xanh đẹp lắm đây. Nhìn nắng, tưởng biển mà khát. Có tiếng gõ cửa. Chắc con nhỏ Phượng quên dặn điều chi. Tôi nói:

- Vào đi.

Phượng đẩy cửa vào. Nó nhăn mặt:

- Mi không thấy nắng đủ sức đốt cháy tóc mi ư?

Tôi cười:

- Thấy. Nhưng mình sẽ phơi nắng ngoài bãi.

Phượng lắc đầu:

- Ngốc ghê! Nắng ngoài bãi khác với nắng trong thành phố. Mà mi muốn chảy mỡ tùy mi. Tao quên chưa dặn mi vài điều cần thiết.

Phượng ngạc nhiên nhìn tôi:

- Mi kéo ri-đô bằng cách nào?

Tôi đáp:

- Kiếm dây mãi chẳng thấy, tao túm cổ nó, kéo nó ra.

Phượng lè lưỡi:

- Hy vọng rằng cổ nó chưa bị...điện giật.

Phượng lôi tôi tới cái bàn ngủ kê sát giường. Nó chỉ dẫn tôi những chiếc nút trên mặt chiếc máy thu thanh. Nút nào mở nghe đài, nút nào tìm đài, nút nào bật đèn ngủ, nút nào kéo ri-đô. Phượng bảo năm xưa qua Hồng Kông với ba nó, được ngụ tại khách sạn Miranda, nó thấy chiếc máy này đâm mê. Và Phượng đòi ba mua về thiết trí trong những phòng ngủ.

- Buổi sáng thức giấc , muốn biết trời sáng tỏ hay còn mờ mờ tối, khỏi cần coi đồng hồ, mi cứ nằm ngoan trên giường, đưa tay bấm cái nút này nhè nhẹ, ri-đô sẽ từ từ hé ra và mi sẽ thấy trời qua cửa kính.

Tôi gật gù:

- Tối tân quá!

Phượng khoe:

- Tao vừa "phôn" cho thằng em họ của tao, báo tin tụi mình đã có mặt ở Nha Trang. Lát nữa, chúng nó sẽ kéo tới đây cả bầy, tha hồ cho mi sai vặt. Tao sẽ soạn thảo chương trình tại bữa ăn trưa nha.

Phượng trở ra. Tôi đóng cửa, bấm nút khoá lại. Ngồi bần thần trên chiếc giường đệm trải vải trắng nuốt, tôi suy nghĩ vẩn vơ. Có phải tôi đang leo dốc mơ? Sàigòn xa rồi. Đây là Nha Trang. Nha Trang nơi đầu tiên tôi đặt chân tới, nơi tôi biết tôi đang sống một cuộc sống mới. Và cuộc sống mới này tôi sẽ được những gì, sẽ mất những gì. Tôi tự hỏi: "Kiều Nhị, liệu mi có tin rằng mi sẽ gặp may mắn, liệu mi có tin rằng mi sẽ đem về Sàigòn những kỷ niệm êm diụ?"

Đưa tay, tôi vặn nút mở đài Nha Trang . Được chào mừng bằng tiếng hát não nề của Julie Quang: Nha Trang ngày về...Mình tôi trên bãi khuya. Tôi như là con ốc. Tôi đi vào quên lãng. Tôi đi tìm mộng mơ năm nào. Bờ biển xanh hai đứa tôi gần nhau... Nha Trang, một lần đến có buồn như một lần về? Tôi vội tắt máy, nói khẽ: Nha Trang, tôi bé nhỏ và rất đáng thương. Xin cho tôi đừng buồn.

--------------------------------
1La Récréation, một truyện ngắn của Françoise Sagan đã được đưa lên phim, Jean Seberg đóng vái chính. Đại ý của phim là tình yêu và sự mất mát của nó cũng giống giờ ra chơi, chẳng đáng gì để hối tiếc.

2

ĐÊM QUA TÔI KHÔNG NGỦ ĐƯỢC. Có lẽ tại lạ nhà, lạ giường. Tại cái máy lạnh thì đúng hơn. Tôi nằm thao thức, cố tạo một giấc mơ thật đẹp làm thuốc ngủ nhưng vẫn chẳng nhắm mắt nổi. Khi không ngủ được, tôi thường suy nghĩ vẩn vơ. Thí dụ về ngày hôm qua, hai bữa cơm ở Frégate, mấy cậu trai ở Nha Trang, em họ của Phượng và chiếc Honda thể thao mầu đỏ của hắn. Hãy nghĩ tới Vinh, tới đám bạn của hắn. Toàn con nhà giầu. Họ cười nói huyên thuyên. Vinh làm quen với tôi bằng câu hỏi mà hắn tưởng hợp thời trang: "Nhị đã đọc Erich Segal chưa". Câu hỏi làm quen của Vinh khiến tôi khó chịu. Tôi giả vờ đáp: "Chưa, tôi chưa đủ vốn Anh ngữ để đọc Erich Segal. Mà Erich Segal là cuốn sách dạy bơi lội hay trượt nước"! Vinh cười ngặt nghẽo. Hắn nói: "Erich Segal là tác giả Love story" . Rồi hắn tóm tắt cốt chuyện, ca ngợi tình yêu tuổi trẻ.

- Này Nhị. - Vinh chứ làm ra cái vẻ thân thiết - Nhị nên tìm đọc Love story.

- Để làm gì?

- Để thấy một hiện tượng lạ vừa được trắc nghiệm trong cái đám thanh niên Mỹ hôm nay.

- Tôi ít chú ý tới bọn thanh niên Mỹ.

Tôi cố tình làm tắt ngọn lửa kiêu ngạo đáng ghét của Vinh. Nhưng Vinh không kịp hiểu. Có thể Vinh cố tình không muốn hiểu.

- Love story là một chuyện tình hạng bét mà bất cứ cây viết hạng bét nào ở Việt Nam cũng thừa tài viết nổi.

- Trừ anh?

- Dĩ nhiên, tôi đâu phải nhà văn.

- Vậy nên nói năng khiêm tốn chút xíu.

Vinh cười lớn, khoả lấp sự xấu hổ. Vinh bám sát tôi. Hắn tưởng hắn đủ khả năng chinh phục tôi. Hãy để hắn tơ tưởng. Còn tôi, tôi tơ tưởng một sự may mắn nào đó sẽ khiến tôi nhớ Nha Trang suốt đời. Tôi muốn quên Vinh và đám bạn bè của hắn.

Buổi sáng yên lặng. Chỉ nghe tiếng máy lạnh chạy đều đều. Tôi lười biếng không muốn rời khỏi giường tắt máy lạnh. Theo lời chỉ dẫn của Phượng, tôi vươn tay bấm cái nút máy thu thanh. Tấm ri-đô từ từ hé. Một khoảng ánh sáng lùa vào căn phòng đầy hơi lạnh. Thứ ánh sáng chưa có mặt trời lại xuyên qua cửa kính trông rõ tội nghiệp. Lát nữa sẽ nắng. Và nắng ngập biển. Nhưng bây giờ, tôi nghĩ ở bãi biển đang nhộn nhịp. Người ta thức sớm, đổ xô ra bãi sinh hoạt ồn ào ở những thành phố biển vào mùa hè. Tôi cũng muốn lặng lẽ ra bãi, một tay cầm dép, một tay xăn quần, thả dài trên mặt cát mịn màng còn ngậm nước biển. Cứ đi, đi trong ban mai, đi với nỗi cô đơn của mình. Rồi sẽ gặp một sự may mắn nào đó đủ làm người ta nhớ nhung suốt đời. Phượng bảo tôi đang leo dốc mơ. Có lẽ, tôi đang leo dốc mơ. Có lẽ, mọi người đều tạo ra một dốc mơ trong đời sống để được leo bằng những bước chân êm ái. Dốc mơ của tôi khởi sự từ đây. Từ Nha Trang . Nha Trang tuyệt vời. Nha Trang sẽ tuyệt vời. Người ta chưa ca ngợi hết Nha Trang. Một vài bài hát, dăm bẩy bài thơ, vài ba cái truyện ngắn. Ít quá. Và sư tuyệt vời của Nha Trang đâu phải chỉ lởn vởn ở Tháp Bà, Cầu Đá, Hòn Chồng... Nó nằm giữa trái tim Nha Trang. Trái tim luôn tươi non và luân lưu tình yêu cùng khắp. Như nước biển. Như mầu nước biển duới ánh nắng hạ. Sự tuyệt vời ấy, một chàng trai xa lạ có thể tìm thấy ở một cô gái Nha Trang. Khi đó, trái tim Nha Trang là trái tim cô gái. Liệu tôi có thể tìm thấy sự tuyệt vời của Nha Trang qua trái tim một chàng trai miền "quê hương cát trắng" này?

Cho tấm ri-đô khép kín, tôi nằm nghiêng, áp một bên má lên gối, mộng mơ trong bóng tối mờ mờ và trong hơi lạnh. Tôi biết lúc này tôi dễ thương lắm. Tiếc là tôi không nhìn rõ tôi. Cũng chẳng ai nhìn rõ một người con gái mộng mơ như tôi. Ngay cả Xuân Diệu và cõi thơ mầu nhiệm của ông vẫn không đủ phép tích để bảo rằng người con gái kia đang mộng mơ về một chuyện tình. Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì . Nghĩ ngợi gì, thế thôi. Nếu ta nhìn rõ ta, nhìn rõ bước chân của ta là đà trên vùng mộng tưởng, hẳn ta phải yêu ta, yêu người, yêu cuộc đời chứa chan, nồng nhiệt. Tôi thì tôi mơ hồ thấy tôi dễ thương. Dễ thương y hệt giấc mộng vừa khởi sự.

Có tiếng gõ cửa. Lại con Phượng. Nó không thích tôi leo dốc mơ. Tôi vùng dậy, chạy ra mở cửa. Phượng ngon mắt. Phượng quyến rũ. Phượng là trái táo vừa lấy ở tủ lạnh ra và bầy trên chiếc dĩa trắng nuốt. Nó sững sờ hỏi tôi:

- Mi muốn đốt cháy tao hay sao mà nhìn dữ vậy?

Tôi cười:

- Mi tuyệt diệu trong chiếc áo ngủ. Mi là công chúa nằm trong quan tài thủy tinh.

Phượng nheo mắt:

- Buồn thay, mi đã không là hoàng tử!

Phượng đứng ngoài phòng của tôi. Nó đưa ngón tay chỉ mặt tôi:

- Thằng nhỏ Vinh "mết" mi rồi đó. Tội nghiệp nó. Tao hiểu mi đang chờ một kép vổ răng biết quàng hoa lên cổ mi.

Tôi nói:

- Bảo thằng em họ của mi hớt tóc cao, thật cao rồi hãy nghĩ chuyện tán tao.

Phượng lắc đầu:

- Khối băng, mi lạnh lùng quá, Nhị ạ! Sửa soạn ra bãi nhé! Ăn sáng ngoài đó luôn. Vinh lo phục vụ rồi.

Phượng về phòng mình, nói thêm:

- Cuối cùng, mi sẽ đeo thằng Vinh. Tao thích thế để thấy quan niệm về tình yêu của tao luôn luôn đúng.

Tôi khép cửa, cười một mình và nghĩ thầm: Nếu vậy Nha Trang còn gì đáng cho tôi nhớ nhung. Phượng chủ quan quá. Con nhỏ tưởng tôi có thể dễ dàng yêu một người như Vinh. Nói tôi ghét Vinh cũng quá đáng. Tôi không ưa Vinh thì đúng hơn. Vinh chưa có một chút tháng năm đau khổ để biết cảm thông. Và thương yêu. Dường như, Vinh chẳng mang một tâm sự gì. Hắn thích hợp với thế giới ồn ào, phù phiếm của Phượng và xa lạ với thế giới khép kín của tôi. Giữa tôi và Vinh có một biên giới mịt mùng. Văn chương một chút thì cái thế giới của tôi khoá bằng thứ khóa thần. Và Vinh không bao giờ có chìa khó để mở cửa bước vào. Nhưng nếu Vinh cứ yêu tôi, đó là quyền của hắn. Hắn cứ phiêu lưu trong nỗi tuyệt vọng. Và tôi hy vọng, qua một tuyệt vọng về tình yêu, Vinh sẽ trầm lắng, sẽ hết bị xúc động bởi cái bề ngoại tầm thường, hèn mọn của cuộc đời - niềm xúc động dễ biến người tuổi trẻ hôm nay thành kẻ lạ mặt với quê hương của họ.

Tôi bật đèn. Căn phòng sáng rực. Nhưng ở bãi biển, lát nữa, tôi sẽ gặp một thứ ánh sáng không giống ánh sáng này, không giống ánh sáng nào, thứ ánh sáng phải giúp tôi rọi chiếu vào mọi sự vật và đều thấy cái vô cùng kỳ ảo hiện trong mắt mình. Nha Trang, đừng nhầm giống Phượng nhé! Tôi không băng giá đâu. Tôi nồng ấm, tôi thiết tha, tôi mềm yếu! Tôi thèm một sự may mắn để nhớ Nha Trang suốt đời. Tôi thèm nhìn rõ sự tuyệt vời nằm giữa trái tim Nha Trang. Đừng bắt chân tôi đụng nhầm một chiếc vỏ ốc cô đơn dưới làn cát mịn màng. Hãy cho tôi bất ngờ gặp viên ngọc trai tình yêu ở phía cuối bãi, thật xa, tít tắp, nơi chưa một dấu chân ai đặt lên.

Viên ngọc trai ấy, có phải bây giờ tôi mới ước ao được nâng niu, ấp ủ đâu. Hồi còn là cô nữ sinh lớp đệ nhất của trường Trưng Vương, mỗi sáng sớm thả dài trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nào cũng lãng đãng sương thu, lúc nào cũng mơ hồ như đang mùa thu, tôi đã ước ao bất ngờ gặp một cảm giác lạ hiện ra từ lớp sương huyền ảo. Một cảm giác lạ ngày xưa hay viên ngọc trai hôm nay chỉ là cách nói cho bớt xấu hổ với mình, cho đôi má au đỏ chút chút và cho trái tim đập nhanh thêm khoảnh khắc. Đúng nhất, phải nói một chàng trai ta thường thấy trong tiểu thuyết tình yêu lý tưởng, ta thường thấy trong chiêm bao. Nữ sinh, chúa mơ mộng. "Mơ mộng là nghề của nữ sinh", một nhà văn đã viết thế. Tôi không hiểu nữ sinh các trường Đồng Khánh ở Huế, Lê Văn Duyệt ở Gia Định, Gia Long ở Sàigòn và các trường nữ ở Nha Trang, Mỹ Tho...mơ mộng đến cái độ nào. Chứ riêng tôi, cái truyền thống mơ mộng có từ thuở Trưng Vương còn ở Hà Nội. Trưng Trắc, người đàn bà mơ mộng tự nghìn năm trước, người đàn bà yêu thiết tha tự nghìn năm trước. Không mơ mộng sao dám dấy binh hỏi tội Tô Định. Không yêu sao dám vì Thi Sách trả thù bọn làm đứt đoạn tình yêu. Tôi nghĩ mỗi nữ sinh Trưng Vương là một cõi mơ, là một bến mơ, một suối mơ, một cầu mơ khi cô nàng biết thú nỗi thú cắp sách thả dài trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm vào sáng sớm tinh sương và mơ hồ cảm mình đang đến trường với mùa thu đến cùng trời đất. Nhưng nếu nữ sinh là chúa mơ mộng thì nữ sinh viên cũng là chúa mơ mộng. Khoảng cách giữa tôi nữ sinh và tôi sinh viên thật ngắn ngủi. Vậy nên nói con gái chúa mơ mộng. Mơ mộng là nghề của con gái. Khoảng cách giữa người con gái với người đàn bà mới thăm thẳm. Thuở đó, mùa hoa đã tàn hay đã kết trái. Và một nữ sĩ tiền chiến, Tôn nữ Thu Hồng, đã an bài định mệnh cho hoa trái không mảy may sai lầm. Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua. Con gái là hoa. Đàn bà là trái. Trái chua. Hoa nồng hương. Hoa ngát hương. Tôi muốn, trong thuở hoa, con gái phải là hoa khuê các, loài hoa nở trên cành thật cao để lũ bướm kiểu Vinh khó lòng bay lên đậu. Đời con gái có một thời yêu song chỉ có một lần rung động. Tôi chợt nhớ một mẩu văn đã đọc ở Cổ Học Tinh Hoa. Chuyện kể một người xa xứ lâu ngày, lâu đến nỗi quên cả quê hương mình. Ông ta theo đoàn lái buôn hồi hương. Qua nước X, người ta bảo đây là quê hương của ông ta. Ông ta vội vàng gục xuống đất mà khóc. Khóc chán, người ta mới nói chưa phải quê ông. Rồi qua vài nơi khác, người ta vẫn chơi cái trò xí gạt ông ta. Ông vẫn khóc. Chừng về đúng quê hương mình thì ông ta đã cạn nước mắt, hết khóc nổi. Hết rung động nổi. Mẩu văn mang một ý nghĩa nào đó, tôi chẳng cần biết. Nhưng tôi muốn đem áp dụng vào tình yêu. Nếu cứ yêu để mà yêu, sẽ có lần ta hết rung động vì tình yêu, thứ ngọc trai tình yêu tôi ước ao bất ngờ bắt gặp

Phượng không hiểu nổi tôi, không bao giờ con nhỏ có thể hiểu nổi tôi. Mỗi đứa chúng tôi có một thế giới riêng. Không đứa nào bắt bạn mình phải sống như mình, phải nhập vào thế giới của mình. Đùa bỡn nhau nhẹ nhàng, thế thôi. "Khối băng, mi lạnh lùng quá, Nhị ạ!"! Tôi buồn cười. Tôi cười thành tiếng. Và tôi vô phòng tắm, sửa sọạn ra bãi. Tưởng tượng bãi biển sáng nay, bãi biển trưa nay, bãi biển chiều nay. Tưởng tượng một vết đau êm ái đụng giữa bàn chân mềm mại của mình. Tưởng tượng cái làm nên vết đau là viên ngọc trai. Tôi đã thấy trái tim mình được vuốt ve và tâm hồn mình đang xa khơi.

° ° °

Vinh và đám bạn của hắn đã tới. Họ ồn ào dưới phòng khách cùng với điệu nhạc kích động mở lớn . Phượng đã sửa soạn xong. Con nhỏ kéo tôi xuống nhà. Nó ghé tai tôi:"Mi bớt cay đắng với thằng em họ tao một chút. Để nó hầu hạ mi chứ". Tôi cười. Vừa gặp tôi, cái "đám nhân loại" Vinh đang ồn ào bỗng im lặng. Vinh dập vội điếu thuốc, đon đả hỏi tôi:

- Đêm qua Nhị ngủ ngon chứ?

Tôi đáp:

- Cám ơn.

Phượng nhìn tôi nhăn mặt. Tôi mỉm cười:

- Cám ơn anh Vinh, tôi ngủ được thôi, ngon thì ngon vừa vừa.

Vinh sung sướng câu nói đùa bỡn của tôi. Hắn nói:

- Tưởng Nhị nhớ nhà, khó ngủ.

Tôi nhún vai:

- Mình lớn rồi, nếu nhớ thì đó là nỗi nhớ khác, không phải nhớ nhà.

Vinh tươi tỉnh. Hắn đã quên chuyện hôm qua ở Frégate. Hắn dễ quên. Một đức tính nên chấp nhận. Nhưng ta không thể dễ quên những lời nói xúc phạm đến ta mà sau đó thiếu một lời xin lỗi.

- Nhị có nỗi nhớ khác?

- Có chứ.

- Mới hay lâu rồi?

- Mới. Khởi sự từ Nha Trang.

- Tôi cũng vừa có nỗi nhớ khởi sự từ Nha Trang.

- Thế à?

- Sẽ có dịp tôi kể nỗi nhớ cho Nhị nghe

Phượng xen vô:

- Nhị thích tất cả mọi sự ngắn ngủi. Nỗi nhớ của Vinh nên kể ngắn ngủi. Và mái tóc của Vinh càng nên ngắn ngủi hơn.

Vinh đưa tay vuốt tóc:

- Nhị không ưa híp-pi?

Tôi lắc đầu:

- Tinh thần híp-pi cao siêu lắm, tôi rất ưa, chỉ tiếc không theo nổi. Nếu tôi híp-pi, có nghĩa là tôi khoác cái vỏ híp-pi.

Vinh lảng chuyện:

- Chúng mình ra bãi thôi. Đã có nắng rồi đó.

Tất cả rời phòng khách. Bản nhạc kích động cuối cùng đã dứt. Vinh tắt máy. Chúng tôi ra sân. Phượng đề nghị:

- Mọi người lên xe của tôi. Để Vinh chở riêng Nhị.

Không ai phản đối. Vinh lăng xăng mở của mời tôi lên. Cái vẻ "nịnh đầm" của hắn hơi hơi dễ thương. Lát sau, hai chiếc xe hơi thể thao đã rời căn biệt thự mùa hè. Vinh dẫn đầu. Chiếc Honda màu đỏ của hắn nổi nhất Nha Trang, chỉ thua chiếc Mazda 6×6 mầu vemillon của Phượng. Xe của Phượng, có lẽ là chiếc xe duy nhất ở Việt Nam. Nó vừa được nhập cảnh và đem ra Nha Trang cách đây vài hôm. Vinh ấn nút máy thu thanh. Chiếc kim nhỏ tự động tìm đài. Vinh hỏi tôi:

- Nhị thích nhạc Brahms?

Cái anh chàng này ham trộ quá. Hắn "thuổng" tên một cuốn tiểu thuyết của Françoise Sagan Aimez-vous Brahms để hỏi tôi. Tôi vờ:

- Brahms nào?

Vinh xuống giọng:

- Chắc tôi có vẻ lố bịch với Nhị? Tôi chưa lố bịch với ai. Chưa ai nỡ khinh thường tôi, trừ Nhị. Tôi xin Nhị bớt khinh thường tôi một chút.

Tôi ái ngại nói ;

- Không phải lỗi tại tôi, anh Vinh ạ ! Tôi sống ở một thế giới khác, thế giới lấy sự chân thành đối đãi lẫn nhau chứ không lấy sự phù phiếm phô trương.

Vinh vội tắt máy khi nhạc vừa trỗi :

- Tôi sẽ cố gắng hòa đồng với thế giới của Nhị. Cũng không phải lỗi tại tôi thích phô trương sự phù phiếm. Chắc tại tôi là con nhà giầu.

Tôi cười nhẹ:

- Gia đình anh chưa giầu bằng gia đình nhà Kennedy bên Mỹ đâu.

- Nhị khuyên tôi nên sống ra sao ?

- Sống rất khó, làm thế nào tôi dám khuyên anh. Chính tôi, tôi cũng chưa hiểu mình nên sống ra sao. Đôi khi tôi ngỡ tôi đã nặng lời với anh chỉ vì tôi mang cái thành kiến không đẹp về những người tuổi trẻ giống anh. Vậy điều tốt nhất làm những ngày chúng ta gần gũi nhau ở Nha Trang cho thân mật, chúng ta nên ít nói với nhau về bất cứ chuyện gì.

Vinh im lặng. Chúng tôi đã tới bãi biển. Tôi giúp Vinh xóa bỏ ý nghĩ tôi khinh thường hắn bằng cách tạo ra cái mặc cảm thua kém. Vinh không hài lòng mấy. Nhưng hắn đã im lặng. Phượng nói đúng. Vinh đã"mết" tôi. Hắn không mở cửa xe, nhảy ra khỏi xe và chạy sang phía tôi mở cửa mời tôi xuống. Vinh nhỏ nhẹ :

- Khổ một điều là tôi ước ao được nói với Nhị mọi thứ chuyện.

Tôi nhìn Vinh tỏ một chút cảm tình :

- Chỉ sợ tôi không đủ thứ chuyện để nói với anh.

Vinh níu lấy câu trả lời của tôi, bóng gió:

- Thì chúng ta nói một thứ chuyện.

Vinh thiết tha :

- Được chăng, Nhị ?

Tôi đáp lững lờ :

- Tôi còn ở Nha Trang lâu, anh Vinh ạ !

Phượng chủ ý muốn Vinh gần gũi tôi nhưng Vinh khó lòng gần gũi tôi. Tôi đã nói rồi, giữa tôi và Vinh, tự nhiên, có một biên giới ngăn cách. Vinh nghĩ đúng, tôi đã khinh thường hắn, đã muốn làm loài hoa khuê các. Một thứ chuyện Vinh ước ao được nói với tôi, có thể nói hoài, nói suốt đời, là chuyện một chiếc bướm đậu trên một cánh hoa. Chuyện không tưởng. Không tưởng hơn cả chuyện một vết đau êm ái đụng giữa bàn chân mềm mại của tôi những ngày tôi nghỉ mát ở thành phố biển này. Tôi bỗng thương hại Vinh. Hắn bắt đầu nỗi cô đơn từ gặp tôi, bắt đầu biết cô đơn từ gặp tôi. Và tôi tin rằng Vinh sẽ hiểu, sống như hắn, sống trong thế giới phù phiếm của hắn, chẳng bao giờ tìm được tình yêu làm nên kỷ niệm.

- Tôi cố gắng chờ đợi.

- Anh chờ đợi gì ?

- Chờ đợi thời gian.

- Anh cỏ vẻ... văn nghệ đấy nhé !

Chúng tôi vào quán ăn. Những quán ăn ở bờ biển của các thành phố biển không làm vừa lòng biển. Thường luộm thuộm một cách bệ rạc. Nha Trang cũng giống Vũng Tàu. Bãi biển thiếu màu sắc và nhiều rác rưởi. Vinh đã đặt sẵn những chiếc ghế vải dưói bóng mát của cây dừa. Chúng tôi ăn sáng ngay tại đây. Và, ngay tại đây, tôi có thể nhìn rõ mầu nước biển dưới nắng mai và ngửi được cái mùi mặn nồng của biển. Chợt nhớ mấy câu thơ của Tế Hanh"... Thoảng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi rong mặn quá", tôi ước ao (phải, suốt đời, tôi chạy theo nỗi ước ao) sẽ có lần thấy kỷ niệm về biển của mình thoáng hiện và lao đi vội vàng như con thuyền trong trí nhớ của Tế Hanh để được nhớ như thi sĩ nhớ quê hương vùng biển. "Nghe chát muối thấm dần trong thớ vó" chắc nó cũng thiết tha cơ hồ nghe tiếng người yêu tình tự thấm dần vào thớ tâm hồn. Nha Trang, tôi muốn nhớ Nha Trang với tình nồng mặn của tôi. Tôi vừa gặp một giải nắng ảo huyền nhảy múa ngoài xa. Giải nắng làm lung linh viên ngọc trai, làm vết đau đụng giữa bàn chân mình êm ái hơn.

- Nhị, mi nghĩ ngợi chi đó ?

- Biển.

- Uống một ly cà phê đen nhé !

- Không.

- Mi đang xây mộng trên cát, phải không ? Đừng hòng gặp một kép đẹp trai như đào Luna Pattern gặp kép George Hamilton.

Vinh nói:

- Hôm nay, đă làm quen với biển rồi, Nhị nên tắm. Chiều qua Nhị chỉ xem biển, chứ không...

Tôi hỏi khi Vinh ngừng lại:

- Chứ không sao ?

Phượng cười:

- Chứ không thực sự tỏ tình yêu biển. Mi phải đầm mình xuống nước biển Nha Trang mới gọi là yêu biển.

Vinh lảng chuyện:

- Mai chúng ta đi đảo. Tôi đã sửa soạn hors-bord. Ông chú chịu chơi của tôi sẽ đi cùng chúng ta.

- Chú Mạch hả ? Liệu ông ấy chịu đóng cửa phòng mạch trọn ngày thứ bẩy không ? Tôi không ưa ông bác sĩ già này. Ông có vẻ hợm hĩnh, kiêu ngạo với cả con bệnh và thích khoe khoang chút dĩ vãng kháng chiến, làm như thể ông là người duy nhất "về từ bưng biền". Ông ưa ngồi uống rượu chửi đổng, mạt sát cùng khắp. Vinh, ta nên quên ông chú trí thức của chúng ta kẻo mất vui.

Phượng công kích ông bác sĩ Mạch một hơi dài. Ít khi Phượng công kích ai nặng nề thế. Vinh lắc đầu :

- Chị hiểu lầm chú Mạch. Chị sẵn ác cảm với chú. Vinh báo tin chị ra Nha Trang, chú Mạch bảo sẽ đưa chị đi đảo.

Phượng nhún vai :

- Nếu mai đi đảo, mọi người sẽ rõ ông bác sĩ Mạch.

Nó đập vai tôi :

- Nhớ đừng đòi uống bia. Ông ấy mang theo một thùng bia hộp ướp lạnh nhưng sẵn sàng từ chối để... độc ẫm !

Vinh nhăn nhó:

- Chị Phượng mỉa mai cay đắng quá.

Tôi giàn hòa:

- Nắng to rồi, xuống bãi chứ ?

Chúng tôi vào phòng thay quần áo của quán nước để thay quần áo tắm. Phượng mặc bộ bikini tuyệt đẹp. Con nhỏ" khai trương" bộ bikini từ Pháp mới gửi sang. Trông Phượng ngon mắt lạ lùng. Nó đúng là trái táo vừa chín. Nếu tôi là con trai, tôi sẽ đứng xa chiêm ngưỡng Phượng, tôi sẽ coi trái táo là trái cấm. Bởi tôi biết, nếu tôi yêu Phượng, tôi sẽ ê răng khi cắn trái táo. Bởi tôi biết nếu ai yêu Phượng thật thà, trái táo vừa chín sẽ biến thành trái billard đỏ. Và kẻ thật thà sẽ gẫy răng! Chúng tôi xuống bãi. Mọi người đương có mặt ở bãi biển hướng hết về Phượng. Những chàng trai căng mắt nhìn Phượng. Đang đi, họ dừng bước. Đang nằm, họ ngước đầu lên. Giá mà Phượng quảng cáo cho bộ bikini, nó sẽ nói thầm: "Hôm nay có nhiều người nhòm ngó tôi quá. Chắc là tại tôi mặc bộ bikini tuyệt đẹp đấy" ! Phượng hiểu nó đang được tán tụng. Nhưng Phượng thản nhiên. Con nhỏ không hề nóng tai, đỏ mặt. Nó đập nhẹ vai tôi :

- Ở đây cần một nghệ sĩ.

Tôi không hiểu rõ ý của Phượng. Con nhỏ tiếp :

- Thị trưởng của những thành phố du lịch không thể là những ông vai u thịt bắp mà phải là những nghệ sĩ. Đà Lạt mà có một thị trưởng nghệ sĩ, thác Cam Ly sẽ hết phân ngựa ! Nha Trang mà có một thị trưởng nghệ sĩ, bãi biển sẽ hết lon đồ hộp Mỹ và sẽ đầy màu sắc. Đà Lạt có đài phát thanh, Nha Trang có đài phát thanh, tiếc rằng quí vị quản đốc thiếu sáng kiến làm những cuộc phỏng vấn khách du lịch xem họ nghĩ gì về Đà Lạt, Nha Trang khi họ, lần đầu tiên, tới Đà Lạt, Nha Trang.

Con nhỏ Phượng nhiều ý kiến độc đáo. Nó thẩy cho tôi hộp Suntan và nói :

- Thoa khắp người mi đi, kẻo đêm nay mi hết cựa quậy.

Vinh và bạn của hắn bận rộn với công việc bơm những chiếc phao nhiều mầu. Bãi biển cần mầu sắc. Một nghệ sĩ sơn dầu làm thị trưởng Nha Trang, bãi biển sẽ hết màu đen ngay. Và sẽ rực rỡ như một bức tranh rực rỡ nhất của Van Gogh. Ừ nhỉ, tại sao các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ không được mời làm thị trưởng những thành phố du lịch ? Vinh đã phóng những chiếc phao xuống nước. Phượng tiên phong chào mừng biển. Nó nhào lặn và đập nước tứ tung. Vinh mời tôi:

- Nhị...ra khơi chứ ? Nước biển buổi sáng nhiều "sinh tố" lắm.

Tôi cười :

- Anh ra khơi trước đi. Tôi ngồi phơi nắng đã.

Vinh hẹn gặp tôi ngoài xa. Một mình tôi ngồi trên bãi ngắm nắng nhảy múa trên mặt nước và tưởng tượng nắng đang khiêu vũ với biển. Tôi nghĩ tới ý kiến độc đáo của nhỏ Phượng: Ý kiến thị trưởng thành phố du lịch phải là nghệ sĩ. Đà Lạt, tôi đã lên đó và đã thất vọng, nhiều thất vọng. Những cái tên hồ Than Thở, rừng Ái Ân, thung lũng Tình Yêu nghe thật tuyệt vời. Đến tận nơi thì chán chường chất ngất. Đà Lạt đông ăn mày hơn Vũng Tàu. Ăn mày xếp hàng trước cửa các hiệu ăn uống, thay phiên nhau vô xin tiền, cãi cọ vì vô... sái luật lệ ! Hồ Xuân Hương đầy bèo Nhật Bản táp quanh và cỏ bên hồ đã tự do mọc. Hiếm thấy những chiếc ghế đá trên bờ hồ cho du khách ngồi ngắm sương chiều lãng đãng rây trên mặt hồ. Và nếu du khách có tâm sự não nề cần đến hồ Than Thở đề thở than, du khách sẽ phải ngồi dưới đất ! Giả dụ một nghệ sĩ làm thị trưởng Đà Lạt, bên bờ hồ Xuân Hương sẽ nhiều ghế đá, sẽ nhiều những túp lều cho những đôi tình nhân, sẽ nhiều cần câu cho thuê, mồi câu bán để những đôi tình nhân vừa câu mộng vừa tình tự vừa nghe tự đáy hồ vang lên bài thơ Đà Lạt trong mơ của Hàn Mặc Tử. Đà Lạt sẽ là một thành phố của tình yêu. Của tuổi trẻ. Nhưng Đà Lạt đang là thành phố dưỡng bệnh. Một vài ngọn đồi thơ mộng đã lên cơn sốt rét vì những căn nhà chiếm đất bằng quyền lực. Quyền lực đuồi thơ mộng đi. Và Đà Lạt chẳng còn gì đáng lưu luyến. Ôi, thành phố du lịch của quê hương tôi, chưa có nổi cái cầu tiểu công cộng thì nói chi một nơi trình diễn âm nhạc ! Nhạc không lan tỏa trên mặt hồ Xuân Hương. Chỉ có những chiếc pédalo thảm não khua động nước hồ khiến loài cá cũng nổi cơn bất bình lặn sâu dưới bùn đen.

Nắng xâm lăng thật nhanh. Nắng chiếu rọi đôi vai tôi. Nắng ngập bãi. Nắng đầy biển. Nắng đuổi mất hút cái ý kiến độc đáo của nhỏ Phượng. Ngoài xa, Phượng, Vinh và các bạn đang đùa vui với nước biển. Tôi yêu biển lắm. Tôi yêu biển Nha Trang lắm. Biển hãy giúp tôi tìm thấy viên ngọc trai mơ ước viên ngọc trai dưói lớp cát mịn và lung linh huyền ảo dưới nắng mặt trời. "Phượng, mi cứ tắm, cứ hồn nhiên, cứ cười nói. Còn tao, tao không chối cãi là tao đang leo dốc mơ". Tôi đang mơ ước nhìn rõ sự tuyệt vời nằm trong trái tim Nha Trang...

3

ANH CHÀNG ĐẾN TỰ LÚC NÀO, tôi không biết. Chỉ biết anh chàng ngồi gần tôi, cách nhau một cánh tay vươn dài. Chắc chắn, anh chàng đã say sưa ngắm tôi. Trong cơn mơ, ta bảo thể xác ta đừng nhúc nhích đợi ta theo tâm hồn bay cao vút lên vùng trời mộng tưởng. Khi đó, tôi vắng nhà. Và anh chàng đứng lớ ngớ ngoài cửa. Bây giờ, tôi đã trở về. Anh chàng vẫn đứng lớ ngớ ngoài cửa. Sẵn có cái jumelle của Phượng, tôi giả vờ cầm đưa lên mắt nhìn ra biển xa. Thực tình, tôi nhìn trộm anh chàng, nói kiểu Phượng, để chấm điểm. Anh chàng không vổ răng. Đó là điều thất vọng trước tiên của Phượng. Hơn thế nữa, khuôn mặt anh chàng rất đàn ông, đôi chút sương gió và đôi chút sầu muộn. Khuôn mặt, dường như, đã xa sách vở nhưng vẫn phơi bày những nét khiến tôi suy nghĩ tới những nhân vật lãng mạn cách mạng của tiểu thuyết. Tôi buông cái jumelle xuống cát nhìn anh chàng bằng đôi mắt còn mọng ướt ước mơ của tôi. Anh chàng, bất chợt, nhìn tôi. Chúng tôi cùng ngỡ ngàng. Anh chàng mỉm cười, khẽ gật đầu chào tôi. Anh chàng xích gần thêm một chút. Rồi anh chàng dùng ngón tay vẽ nhanh quang cảnh bên trong rạp chiếu bóng. Ở màn ảnh, anh chàng viết tên phim Where the boys are. Và vòng một dấu hỏi. Anh chàng hỏi tôi đã coi phim này chưa. Tôi đưa cả bàn tay xóa dấu hỏi. Lập tức, anh chàng đánh một dấu hỏi thứ hai. Chúng tôi diễn lại một xen trong phim Where the boys are. Thay vì trả lời bằng tiếng nói như Luna Pattern, tôi đã đùa nghịch với anh chàng bằng chữ viết trên cát.

- ?

- Tôi ở Sàigòn ra.

- ?

- Tôi đi với bạn.

- ?

- Tôi tên là cây cầu và số hai dịch sang tiếng Trung Hoa. Anh biết chứ?

Anh chàng bèn viết hai chữ Tầu rất bay bướm. Đúng là Kiều Nhị. Tôi biết đúng tên tôi vì tôi đã nhờ con bạn học Văn Khoa cừ Hán văn dịch và viết giùm tên tôi. Và tôi đã thuộc mặt chữ, nét chữ. Anh chàng lại tiếp tục trò chơi của George Hamilton.

- ?

- Hiện tôi ngụ tại một biệt thự đường Yersin.

- ?

- Nhà có chó dữ, anh không thể đến được.

Anh chàng cười. Và nói :

- Tôi đã thấy cô Kiều Nhị ngồi trên chiếc Honda thể thao đậu cạnh chiếc Mazda 616.

Tôi hỏi :

- Anh mỏi tay rồi à ?

Anh chàng lắc đầu :

- Tôi sợ cô mỏi tay. Vì cô viết nhiều mà tôi chỉ có một dấu hỏi. Như bạn cô có xe bốn bánh, tôi chỉ có xe hai bánh. Thường thì ta đi bằng chân. Có một con đường không thể đi bằng ô tô, dù là Mazda 616 hay đi bộ.

Tôi làm bộ ngớ ngẳn :

- Đi bằng máy bay được chứ ?

Anh chàng chống hai tay xuống bãi, ngả người về phía sau :

- Cô nên hỏi cô.

- Tại sao tôi lại hỏi tôi ?

- Vì chính cô hiểu rõ con đường ấy. Anh chàng, tự nhiên, vươn người về phía trước và nằm úp trên cát.

- Bây giờ đến lượt tôi trả nợ cô.

Tôi chớp mắt :

- Anh sòng phẳng quá. Nào, bắt đầu trả nợ.

Tôi vẽ những dấu hỏi cho anh chàng viết những câu trả lời.

- ?

- Tên tôi là Hoài.

- ?

- Tôi cũng từ xa tới đây như cô.

- ?

- Tôi đi một mình.

- ?

- Bỏ học rồi. Tôi muốn viết ra chữ và rất chán ngán học thuộc lòng chữ của thiên hạ.

- ?

- À, tôi ra Nha Trang để tìm kiếm một kỷ niệm.

- ?

- Hình như vậy. Tôi định viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn về biển.

- ?

- Tôi trọ nhờ người bạn. Nhà anh ta không nuôi chó, nhưng cô không nên đến.

Hoài vụt đứng dậy, lịch sự chào tôi và bỏ đi. Tôi sững sờ giây lát, chẳng hiểu phải nói gì, làm gì. Không biết khi bàn chân tôi dẫm đúng viên ngọc trai, tôi sẽ nói gì, làm gì ? Hoài đi được một quãng tôi mới gọi tên anh.

- Anh Hoài!

Hoài quay lại. Tôi vẫy tay. Quyền uy của cái vẫy tay bắt Hoài dừng bước và trở về chỗ cũ. Tôi đứng lên, trách móc:

- Tôi còn nhiều dấu hỏi.

Hoài khoanh tay trước ngực:

- Tôi còn ở Nha Trang vài tuần và sáng nào tôi cũng là người có mặt ở bãi này sớm nhất, sẽ thỏa mãn hết những dấu hỏi của cô.

- Có thể, ngày mai tôi về sớm.

- Cô không thể về vào ngày mai được, cô Kiều Nhị ạ!

- Anh ngăn cản ?

- Đâu dám. Cô chưa kịp mua vé máy bay.

- Tôi về bằng xe hàng.

- Nhưng cô sẽ không về.

- Tại sao ?

- Vì tôi sẽ tiết kiệm tới mức tối đa những câu trả lời. Mà cô, tôi biết, cô còn hàng trăm dấu hỏi.

Tôi nhún vai :

- Anh có vẻ kiêu ngạo ?

Hoài gật đầu :

- Vâng, tôi rất kiêu ngạo. Tôi hy vọng ngày mai cô không về và sáng mai, thật sớm, tôi được gặp cô trên bãi này. Biển sớm của riêng tôi. Bây giờ, biển thuộc quyền xử dụng của thiên hạ.

Tôi nói :

- Nếu anh định viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn về biển, tôi khuyên anh nên gạch bỏ câu bây giờ, biển thuộc quyền xử dụng của thiên hạ đi. Không bao giờ biển thuộc quyền xử dụng của bất cứ ai. Ai cũng muốn yêu biển và thèm được biển yêu. Thường thường, biển cuốn sự ước muốn và nỗi thèm khát ra tận chỗ nước xoay. Biển sớm đã chắc gì của riêng anh. Tôi sợ có người đến sớm hơn anh vài giây.

Hoài mỉm cười:

- Hân hạnh được quen biết cô Kiều Nhị. Tôi nghĩ, người đến sớm hơn tôi sẽ chỉ là cô. Cám ơn cô đã bênh vực biển. Nhờ một câu vụng về tôi mới hiểu biển chưa thuộc quyền xử dụng của ai, biển chưa yêu ai. Biển sẽ yêu ai ? Liệu biển có sẽ yêu tôi ?

Tôi đưa hai bàn tay đan lấy nhau :

- Anh bớt kiêu ngạo rồi đó.

Hoài nói :

- Với cô chẳng ai dám kiêu ngạo. Với cô, kẻ kiêu ngạo nhất trên đời này là tôi đã thấy mình hết kiêu ngạo.

Hình như, tai tôi nong nóng, má tôi au đỏ, mắt tôi vướng khói. Hình như, tôi đang dẫm lên viên ngọc trai và viên ngọc trai dẫn nỗi đau êm ái tự lòng bàn chân đến trái tim tôi. Khoảnh khắc xa khơi, tôi thấy hiện ra trước mắt tôi con đường ban mai lúc nào cũng lãng đãng sương thu của thuở học trò Trưng Vương từ trong lớp sương huyền ảo, một bóng người thấp thoáng.

- Cô Kiều Nhị !

Tôi tỉnh giấc.

- Cô nghĩ gì thế ?

Tôi buông xuôi tay :

- Nghĩ về sự kiêu ngạo của anh

- Tôi đã hết kiêu ngạo.

- Đừng, anh nên duy trì sự kiêu ngạo. Đừng, đừng nên vì tôi mà hết kiêu ngạo. Biển sẽ chỉ yêu người kiêu ngạo.

Hoài lặng thinh. Giây lát, anh hỏi :

- Sáng mai cô ra bãi sớm chứ ?

Tôi đáp :

- Nếu không sớm hơn anh hay bằng anh, tôi sẽ ra thật muộn.

- Một mình ?

- Có lẽ vậy.

- Sẽ gặp lại cô sớm mai.

Hoài khẽ cúi đầu chào tôi. Anh bước nhanh. Rất nhanh. Tôi nhìn theo. Nhìn theo mãi đến khi Hoài mất hút trong đám đông của bãi biển ngập nắng. Hoài nói đúng. Bây giờ, lúc này đây, biển không của riêng ai. Không ai nghe rõ biển lên tiếng thầm tình tự. Không ai nghe rõ biển mời yêu, biển gọi mộng. Chỉ có sóng dồn đập và ồn ào, náo nhiệt. Biển thất vọng. Biển thèm cô đơn. Biển sớm cô đơn. Ai ra biển sớm nhất sẽ nghe được tiếng thầm tình tự của biển. Và sẽ được biển chỉ dẫn để nhìn rõ sự tuyệt vời nằm giữa trái tim Nha Trang. Biển sớm của riêng tôi. Hoài kiêu ngạo nhận riêng cho mình một cõi biển. Một cõi cô đơn. Tình yêu chỉ tìm thấy trong cõi cô đơn. Bởi vì, trong cõi cô đơn người ta thường bị tình yêu mê hoặc. Đó là ân sủng. Không bao giờ là hình phạt. "Cô nghĩ gì thế"? Tôi nghĩ về cõi cô đơn của anh. Tôi nghĩ về một cõi biển của riêng anh. Biển sớm. Chạnh nhớ mấy câu thơ ký bút hiệu T.T.Kh. : "Thuở trước hồn tôi phơi phới quá, Hồn trinh nguyên vẹn một làn hương. Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu tới. Ếm ái trao cho một vết thương..." tôi mơ hồ cảm như mình vừa được trao cho một vết thương êm ái, vết thương đi thẳng vào tâm hồn, vết thương không còn từ viên ngọc trai giữa chân mềm dẫm lên trái tim. Vết thương bắt tôi suy nghĩ, suy nghĩ khôn cùng về một cõi biển của một người con trai xa lạ. Người ấy chưa vuốt tóc tôi, chưa thở dài, chưa bảo "hoa dáng như tim vỡ". Người ấy chỉ mới nói "có một con đường không thể đi bằng ô tô hay đi bộ". Và, chắc chắn, không thể đi bằng máy bay nữa. Con đường ấy, tôi hiểu, hiểu rõ ràng.

Tôi thẫn thờ ngồi xuống, ngồi trên làn cát mịn màng ngậm nước. Tôi tìm Hoài qua ống kính của chiếc jumelle. Chàng đã mất hút. Tôi tìm Phượng. Thấy ngay. Con nhỏ đang nằm dài trên chiếc phao và bu quanh nó là mấy cậu trai trong thế giới của nó. Phượng sẽ chẳng suy nghĩ gì cả. Nó hồn nhiên mãi mãi bởi vì nó không hiểu có một con đường không thể đi bằng máy bay, ô tô hay đi bộ với sự hồn nhiên. Hồn nhiên thì không có đơn, thì không có cõi cô đơn của riêng mình, thì không bị tình yêu mê hoặc - thứ tình yêu làm thành kỷ niệm ngàn đời, ân sủng của trời đất. Tôi tìm Vinh. Hắn đang bơi ra xa. Biển với Vinh không gắn bó. Đến biển tắm, bơi và phơi nắng. Và trưng diện. Vinh không nhận cho riêng hắn một cõi biển, dẫu chỉ là một cõi nhỏ nhoi. Tội nghiệp hắn. Hắn đáng thương hại hơn ghét bỏ. Những kẻ thừa mứa vật chất thường thiếu một cuốn sách ước. Tình yêu không đến với họ bằng đầy đủ hào quang như sự may mắn tuyệt vời không đến với con nhà giầu trong truyện thần tiên, cổ tích. Biển sẽ không tặng Vinh một điều gì. Vinh thì không biết biển thèm cô đơn, biển nhớ được tên người yêu biển. Vinh cũng không biết có một con đường không thể đi bằng máy bay, ô tô hay đi bộ với sự phô trương nếp sống phù phiếm của hắn.

Tôi mới biết qua gợi ý của Hoài. Có những điều ta chỉ biết khi được nhắc nhở. Chiều nay, tôi sẽ không ra bãi này, tôi sẽ nằm một mình trên giường, sẽ áp má lên gối mộng mơ. Tôi sẽ mở cửa sổ cho mộng mơ bay xa và cho mộng mơ từ xa trở về. Mai sớm, tôi sẽ tới đây, làm theo ý muốn của tôi là, một tay xách dép, một tay xăn quần, thả dài trên bãi cát mịn, làm quen với biển để khi biển nhớ biển gọi tên tôi : Kiều Nhị. Kiều Nhị yêu dấu !

° ° °

Họ đã kéo hết lên bãi. Những giây phút tuyệt vời của tôi bị phá tan. Phượng đưa tay vuốt những giọt nước trên mặt, hỏi tôi.

- Mi chỉ yêu ngắm biển thôi à ?

Tôi cười. Phượng nói tiếp :

- Hay mi sợ biển lột da mi, nắng biến mi thành cái cột cháy ?

Một ngưòi bạn của Vinh đã trải xong chiếc khăn tắm sặc sỡ mầu trên cát và mời Phượng nằm. Phượng không thèm cám ơn, đương nhiên hưởng thụ công lao của bạn Vinh mà Phượng cho là mình có quyền sai vặt đám con trai dại dột. Con nhỏ nằm úp, chống hai khuỷu tay. Vinh cũng trải cho tôi một chiếc khăn tương tự. Hắn sửa soạn những chuyến ra bãi thật trịnh trọng. Thùng nước ngọt, bia hộp ướp đá ngay chỗ chúng tôi cắm dù. Vinh mở hộp lê mời tôi. Hắn hỏi :

- Nhị có biết bơi không ?

Tôi đáp:

- Không.

- Đã tập bơi lần nào chưa ?

- Đã, nhưng vẫn không biết bơi.

Phượng đùa :

- Mi bắt con chuồn chuồn, cho nó cắn rốn mi là mi bơi được !

Vinh nói :

- Đề mai đi đảo tôi dạy Nhị bơi. Biết bơi mới có thể tập trượt nước.

Tôi cười:

- Trượt nước à ? Hình như tôi không đủ khả năng !

Vinh hiểu tôi trách móc hắn. Hắn buồn bã. Giây lát, Vinh nhìn tôi với đôi mắt long lanh niềm ân hận. Giọng hắn sũng ướt sự khiêm tốn, Vinh nói :

- Tôi thành thật xin lỗi Nhị.

Phượng không biết chuyện gì đã xảy ra giữa tôi và Vinh. Con nhỏ ngồi vụt dậy :

- Có chuyện xích mích ?

Tôi đặt hộp nước cạnh chỗ ngồi, xua tay :

- Chẳng có chuyện chi cả.

Phượng hất đầu, nhìn Vinh :

- Với "thứ " Kiều Nhị, Vinh phải thận trọng ngôn ngữ. Và phải kiên nhẫn.

Tôi pha trò :

- Phải áp dụng câu "nước chảy đá mòn" !

Chúng tôi cười vui. Vinh bớt nói. Có lẽ, hắn suy nghĩ, hắn tập suy nghĩ. Có lẽ, hắn muốn chiếu rọi một tia sáng vào vùng linh hồn tôi, linh hồn một "thứ" con gái nhiều ước mơ, trừ một ước mơ ái tình phù phiếm. Có lẽ, Vinh sẽ chẳng tìm được điều gì. Và, có lẽ, hắn chỉ biết chờ ngày tôi trở về Sàigòn sớm hơn hắn để hắn lang thang trên bãi biển đùa nghịch với loài dã tràng.

- Nhị !

- Hả?

- Nước chảy đá mòn chứ ?

- Đá tình thì không.

- Mi đúng là khối băng, là núi băng.

- Sai, tao là... đá cục !

Phượng nheo mắt :

- Tao là con trai thì mi sẽ chỉ là sợi bún.

Tôi nói :

- Tao mà là con trai, mi vẫn cứ là mi!

Vinh cắt đứt sự đùa bỡn của chúng tôi:

- Nắng thế này, ngoài đảo vui lắm. Mai chúng ta nên đi đảo.

Phượng thở dài:

- Với chú Mạch !

Hai người bênh vực và công kích một người tên là Mạch. Tôi không thích nghe. Tôi nghĩ tới biển sớm, ngày mai. Biển sớm của riêng tôi như biển sớm đã là của riêng Hoài. Tôi sẽ đến với biển sớm hơn Hoài. Tôi sẽ đến một mình. Tôi sẽ gặp Hoài và sẽ thấy rõ biển tầm thường hay biển tuyệt diệu.

- Ừ, thì đi đảo với chú Mạch. Để con nhỏ Kiều Nhị nó nhận xét về ông chú của mình cho vô tư.

Phượng đập nhẹ bàn tay vào vai tôi:

- Mi nên tìm hiểu một nhà trí thức ưa chửi đổng.

Tôi khẽ lắc đầu :

- Nha Trang không phải là nơi... chửi đổng. Và tao ra Nha Trang không phải để tìm hiểu sự chửi đổng của ông bác sĩ Mạch nào đó.

Phượng đập mạnh vai tôi và cười sung sướng:

- Mi vô tư quá. Ta cần quên ông chú hợm hĩnh của ta.

Vinh nói:

- Nếu tất cả đều không ưa chú Mạch, ta bỏ vụ đi đảo.

Phượng hỏi:

- Tại sao bỏ đi đảo ?

Vinh đáp :

- Vì chú Mạch có hors-bord.

Phượng bĩu môi:

- Có tiền không thuê được hors-bord ?

Con nhỏ chép miệng :

- Theo tôi, đi Đại Lãnh vui hơn đi đảo.

Vinh hoan hỉ :

- Ờ, ờ, sao tôi không nghĩ ra chuyện đó ? Phải đấy, mai ta đi Đại Lãnh.

Mọi người bàn chuyến đi xa ngày mai. Rồi lại kéo nhau xuống tắm. Tôi cũng xuống tỏ tình với biển. Nước biển mát rượi. Nước biển thấm qua da thịt tôi làm mát cả trái tim tôi. Nước biển chắc còn đủ khả năng làm tươi mát tình yêu của tuổi trẻ, làm tươi mát một thời yêu của một thời tuổi trẻ. Thấy tôi nghĩ gì không, biển ? Nghe tôi nói gì không, biển ? Biển thích trầm lặng. Biển ưa cô đơn. Tôi hiểu rồi. Một người con trai xa lạ đã vừa giúp tôi hiểu điều đó. Nếu biển không thấy, không nghe, sớm mai tôi sẽ gặp biển. Và biển đừng quên tôi đã hẹn hò.

° ° °

Buổi trưa, cả bọn ăn cơm ngoài bãi và định chiều xuống mới trở về. Vinh lái xe tới Fregate mua thức ăn đem ra. Ăn xong, tôi lấy cớ nhức đầu xin phép về trước. Vinh đưa tôi về. Hắn hỏi tôi:

- Nhị say nắng ?

Tôi đáp :

- Vâng. Có lẽ, tôi vừa được uống một thứ nắng mạnh, chắc phải đến chín mươi độ.

Vinh thích thú:

- Không hiểu tại sao tôi cứ quý mến Nhị, dù tôi biết Nhì chẳng mấy ưa tôi.

Tôi nói:

- Nếu tôi không ưa anh, tôi đã bỏ Nha Trang.

Vinh xúc động vì câu nói của tôi. Hắn cho xe chạy thật chậm rồi ép sát bên lề đường, dừng xe dưới bóng mát của cây phượng vĩ hoa nở rợp chói chang.

- Xin lỗi Nhị vài phút.

Tôi ngước nhìn lên :

- Trường học ở đây đã đóng cửa.

Vinh tắt máy xe :

- Vâng, mùa hè rồi.

- Học trò có một mùa để chờ đợi cổng trường mở.

- Tôi cũng có một mùa chờ đợi. Tôi vừa chợt hiểu tôi, hiểu đời sống quanh tôi, người sống quanh tôi. Tôi lại hiểu có một thứ cổng khép kín, khóa chặt cho riêng tôi.

- Anh làm văn chương đấy à ?

- Tôi đang nói thật. Mà thôi, tôi đưa Nhị về nghỉ ngơi.

Vinh mở máy xe. Tôi ái ngại nhìn Vinh. Có một đám mây buồn muốn định cư đời mình trên khuôn mặt Vinh. Chắc chắn, không phải là nỗi buồn phù du. Vinh đã dần dần tìm về đời sống thật của hắn. Văn chương mà nói thì hắn đã thấy chân dung hắn. Nhưng Vinh không thể là mặt trời, trong khi, tôi là hoa hướng dương. Nếu Vinh là một bờ bến, tôi là con thuyền không thích ghé vào bờ bến đó.

- Nhị!

- Tôi nghe anh đây.

- Tôi quên mất là Nhị đã say nắng. Dường như, người ta sẽ tỉnh sau một cơn say.

- Say nắng thì khó tỉnh.

- Tôi lại chờ Nhị tỉnh sau cơn say "một thứ nắng mạnh ".

Vinh đã đưa tôi tới cổng ngôi biệt thự mùa hè. Hắn mở cửa xe, chạy sang mở cửa và mời tôi xuống, Vinh dặn dò:

- Chiều tôi về đón Nhị tới Fregate.

Tôi nói:

- Cám ơn anh Vinh, cám ơn anh nhiều. Nhưng chiều nay nếu anh về đón tôi mà không thấy tôi, xin anh hiểu giùm là tôi muốn được dành chút ít thì giờ sống riêng với Nha Trang. Tôi có thói quen kỳ cục.

Vinh cười gượng :

- Tôi sẽ tôn trọng thói quen kỳ cục của Nhị, triệt để tôn trọng.

Vinh chào tôi, nhẩy vào xe như một tài tử trên màn ảnh. Hắn nhận còi xe để tôi đỡ mất công với tay nhận chuông điện. Và Vinh lùi xe, nhấn ga vọt nhanh như thể trốn tránh gấp rút một ý nghĩ phiền muộn. Chị Hai đã chạy ra mở cổng cùng mấy con chó cao lớn vẫy đuôi mừng tíu tít. Tôi trả lời những câu hỏi lăng nhăng của chị ấy về cô tiểu chủ sao không về, sao tôi về một mình... Rồi tôi lên phòng của tôi. Căn phòng thật lạnh đã khiến tôi ho vài tiếng. Tôi buồn cười: Lạnh phản kháng Nóng đây. Dù không mấy thích hợp với nếp sống này, tôi cũng thấy rằng, từ một bãi biển ngập nắng trở về một phòng ngập hơi lạnh da thịt ta được tận tình vỗ về, mơn trớn. Tôi vào phòng tắm. Tôi nhìn khuôn nặt tôi trong gương. Nắng đa tình và nắng không vô tình chút nào. Nắng cố tình hôn má tôi. Môi nắng đầy dấu vết trên má tôi. Tôi đưa tay vuốt má. Môi nắng không phai. Sẽ có ai ghen với nắng. Sẽ có ai nghi ngờ môi nắng ? Tôi chợ nhớ mấy câu thơ của Hàn Mặc Tử: "Vô tình để gió hôn lên má. Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm. Em sợ lang quân em biết được, Nghi ngờ đến cái tiết trinh em..." mà thích thú. Tôi bước tới cái bồn tắm mầu hồng, mở hai vòi nước nóng lạnh một lượt. Tiếng nước chảy nghe như điệu nhạc vui. Đợi nước chảy, tôi chạy ra ngoài lượm một cuốn tiểu thuyết. Phượng đã dạy tôi hưởng cái thú đọc tiểu thuyết trong bồn nước ấm. Nó bảo không còn gì tuyệt hơn và, khi đó, tâm hồn mình nhập vào tâm hồn nhân vật tiểu thuyết và mình thấy mê tít tác giả, những anh nhà văn rất lẩm cẩm ngoài cuộc đời, những anh nhà văn chỉ dễ yêu lúc ta đọc tiểu thuyết của các anh ấy trong bồn nước ! Và nếu bồn nước ấm được đổ thêm một chai eau de cologne thì nhất. Cái nhất đó, ở phòng tắm của ngôi biệt thự mùa hè của gia đình Phượng không thiếu. Thừa là đằng khác. Tôi trở vô. Vặn chặt hai vòi nước. Tôi nhúng bàn tay xuống nước xem có quá nóng. Rồi phân vân mãi về chai eau de cologne. Khỏi cần. Hãy nhớ ngày mai mi sẽ rời nơi đây, Kiều Nhị. Hãy nhớ mi chỉ là người lạ mặt trong thế giới tạm bợ này, Kiều Nhị.

Tôi nhủ tôi thế. Trút bỏ quần áo tắm không thay ở ngoài bãi, tôi bước vào bồn nước. Theo lời Phượng, tôi dùng khăn tắm xếp lại, đặt trên thành bồn tắm làm gối, mở cuốn tiểu thuyết ra. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn thời danh có cái nhan đề thật quyến rũ Thế gọi là tình yêu. Chắc đọc hết bốn trăm trang chữ nhỏ li ti sẽ hiểu thế nào là tình yêu. Tình yêu, bây giờ là lúc tôi muốn tìm hiểu như bao nhiêu người bằng tuổi tôi đã tìm hiểu đang tìm hiểu và mãi mãi còn tìm hiểu. Thế gọi là tình yêu hối thúc trí tò mò của tôi. Nhưng sao tôi không thể đọc nổi ? Những dòng chữ ở trang đầu nhẩy múa rối loạn khiến tôi hoa mắt. Và tôi thấy trang sách trắng muốt, trắng cơ hồ bãi biển khuất vắng giữa trưa hè. Chữ nghĩa giống những con còng trốn biển. Chỉ còn hiện ra những dấu chân in lên những dấu chân. Chỉ còn hiện ra những dấu hỏi mở lối cho một con đường, con đường không thể đi bằng xe hơi, bằng máy bay hay đi bộ. Trang sách đã trở thành một cõi mộng của riêng tôi. Ở đó, tôi nhìn rõ chân dung một người tuổi trẻ tên là Hoài, anh nhà văn chưa có tác phẩm đã học đòi kiêu ngạo, anh nhà văn lẩm cẩm mà chẳng hiểu sao, tôi ưa cả sự kiêu ngạo lẫn sự lẩm cẩm của anh chàng. Tôi nhìn rõ tôi đang tìm kiếm Hoài. Tôi nghe rõ trái tim tôi xúc động. Tôi mong chờ ngày mai, sớm tinh mơ, gặp biển cô đơn xem biển mời yêu, gọi mộng có khác thi sĩ, xem biển định nghĩa tình yêu có khác thi sĩ và biển dạy yêu có khác thi sĩ. Hẳn là biển sẽ không giảng văn phạm tình yêu. Tôi tin cậy biển. Biển hãy độ lượng với tôi. Biển đừng vùi dập tôi trong cơn giông bão cuồng nộ. Đừng, đừng khi nào nói với tôi rằng: Kiều Nhị, Kiều Nhị yêu dấu, em đang xây mộng trên cát. Tôi không xây mộng trên cát. Tôi muốn nhìn rõ sự tuyệt vời nằm giữa trái tim Nha Trang. Hình như có một con đường dẫn đến nơi ta có thể nhìn rõ sự tuyệt vời đó. Và biển yêu, có phải con đường đó ta không thể đi bằng xe hơi hay đi bộ như anh chàng Hoài đã nói và như tôi đã tin ?

Tôi ném cuốn tiểu thuyết vào một góc phòng tắm. Hơi phũ phàng với tác giả của nó. Thế không gọi là tình yêu, dẫu ta có chịu khó thức suốt đêm đọc hết Thế gọi là tình yêu. Tình yêu phải do trái tim ta định nghĩa bằng những bồi hồi, rạo rực triền miên và riêng ta cảm thấy. Tình yêu ở trong lớp sương trên của con đường đến trường sớm mai thuở nọ. Tình yêu ở dưới lớp cát mịn màng còn ngậm đầy nước biển hôm qua. Và, tình yêu ở nỗi cô đơn của biển sáng tinh mơ khi chưa ai thức giấc hôm nay, ngày mai. Lúc đó, như bài giảng trên núi của Chúa, biển sẽ nói cho ta hiểu thế nào là tình yêu và ta sẽ rung động như đời sau còn nhiều người rung động vì bài giảng trên núi. Bài giảng dưới biển không tiếng nói và từng trái tim cảm nổi. Trái tim không biết ghi chép nên bài giảng mãi mãi nguyên thủy bởi chẳng bị ai diễn giải theo ý nghĩ cao siêu hay ngớ ngẩn của mình. Nhưng không phải trái tim nào cũng thấm lời giảng của biển. Có lẽ, người ta không biết biển trầm lặng, biển mơ mộng, biển trữ tình, thành ra, Nha Trang chỉ được ngợi ca là miền quê hương cát trắng, miền có Tháp Bà êm mơ, Cầu Đá nên thơ...

Tự nhiên, tôi mơ ước trở thành nhà văn. Để tâm sự với Nha Trang, với biển hàng trăm trang sách. Tôi sẽ tạo dựng một Nha Trang không giống Nha Trang của mọi người đã đến Nha Trang đã sống ở Nha Trang. À, tôi sẽ cho cái anh chàng nhà văn Hoài biết rõ ý nghĩ độc đáo của tôi, hy vọng anh chàng hoàn thành một cuốn tiểu thuyết cực kỳ lãng mạn về biển. Nhớ tới Hoài, tôi bỗng quên hết mọi chuyện. Tưởng chừng tôi đã hẹn gặp Hoài sớm mai. Không, tôi chưa hẹn với anh, chưa hẹn với ai cả. Tôi mới hẹn cùng biển. Nhưng sớm mai, nếu chúng ta gặp nhau và bãi biển của riêng chúng ta, anh cứ hiểu là chúng ta trót hẹn hò. Chẳng sao đâu, ạnh ạ ! Vì biển độ lượng, biển không ghét hai người. Sớm mai nhé, tôi muốn một tay xách dép, một tay xăn quần thả dài trên làn cát mịn và tình cờ thấy anh ẫn núp trong những cái dấu hỏi xích gần nhau...

4

BIỂN CHIÊM BAO. BIỂN THẦN THOẠI. Biển bốc khói mờ ảo. Không phải khói sóng đâu. Khói tình biển đó. Biển có linh hồn nên biển có đôi mắt ướt mộng. Và khói tình đang vướng đầy mắt biển, lan tỏa mênh mông, vô tận. Một mình tôi đứng trên bãi sớm ngẩn ngơ nhìn cái mênh mông, vô tận đó. Biển sớm của riêng tôi. Chẳng bao giờ tôi là con ốc bơ vơ nằm trên cát. Mà là một tín đồ hết lòng ngưỡng mộ biển, đến đây nghe bài giảng của biển về tình yêu và mộng tưởng. Tôi ngồi bó gối nhìn sóng biển đuổi nhau trên bãi. Lớp sóng này chưa kịp rút, lớp sóng nọ đã ùa lên. Sóng đùa cợt nhau. Sóng âu yếm nhau. Sóng ve vuốt nhau. Sóng êm ru như tiếng nói tỏ tình. Rồi cuộc tỏ tình của sóng làm thành những đường sóng gợn xiên xiên trên cát mịn. Tôi say mê theo rõi sóng yêu nhau, hôn nhau. Ngoài xa, biển vẫn thiếp ngủ dưới trời khói tình. Khói ấp biển trẻ trung muôn thuở. Khói giữ hồn nhiên của biển lại. Biển sớm là cô gái đồng trinh. Là công chúa cấm cung. Và ta không rõ mầu của nước biển. Phải đợi nắng cuốn tấm màn sương bắt đầu một chuyện tình đẹp, nước biển mới lên mầu. Cuộc tình càng nồng nàn, mầu xanh càng tuyệt diệu. Đó là lúc nắng gay gắt. Biển đổi mầu với nắng, vì nắng. Tình yêu nào chẳng buồn. Khi nắng dịu và mặt trời lặn sâu ở một góc đại dương, biển sầu đau rồi biển tương tư nắng suốt đêm. Đừng vẽ một mầu xanh cho biển. Đừng viết biển mầu xanh. Biển muôn mầu. Nhưng chỉ có một mầu huyền diệu nhất là mầu biển hôn nắng hạ.

Nha Trang, biển Nha Trang, người con gái xa lạ tên là Kiều Nhị đã tỏ một chút lòng ngưỡng mộ biển Nha Trang. Chút lòng ngưỡng mộ ví như lời nguyện cầu: Tôi nhỏ bé, mềm yếu và mơ mộng. Xin cho tôi no mộng mơ, xin đừng bắt tôi buồn... Tôi là Kiều Nhị, làm ơn ghi nhớ tên tôi.

Tôi đứng dậy, bước xuống thấp hơn. Chân tôi gặp nước biển. Sóng sớm chào đón tôi. Cảm giác êm ái khiến tôi tưởng bàn chân tôi vừa đụng viên ngọc trai mơ ước. Như đã mong muốn, một tay xách dép, một tay xăn quần, tôi thả dài theo bãi cát mịn. Sóng giành nhau hôn chân tôi. Đủ rồi nhé, cho tôi tạm biệt. Bây giờ, những bước chân tôi dẫm lên cát ngậm đầy nước. Tôi ngó đằng sau. Chẳng còn dấu chân nào. Sóng đã mang dấu chân tôi ra khơi. Dấu chân tôi chìm vào biển giống những kỷ niệm chìm vào dĩ vãng. Biển chiêm bao hay tôi chiêm bao ?

- Kiều Nhị!

Tôi ngoảnh lại. Hoài cách tôi không bao xa. Anh bước nhanh. Chúng tôi gần nhau.

- Cô ra bãi sớm quá.

Tôi hỏi :

- Có sớm hơn anh ?

Hoài lắc đầu:

- Muộn hơn tôi. Cô chỉ là người con gái ra bãi biển Nha Trang sớm nhất. Còn tôi, tôi là...

Tôi nói:

- ... Là người con trai ra bãi biển Nha Trang sớm nhất.

Hoài cười :

- Tôi là người đàn ông.

- Anh lại kiêu ngạo rồi.

- Cô bảo tôi duy trì sự kiêu ngạo mà... À, tôi ra bãi sớm hơn cô, tôi đã viết xong một bài thơ trên cát. Tôi nghĩ thế nào cô cũng giữ lời hứa vì cô bướng bỉnh và... kiêu ngạo. Tôi ngồi nấp dưới một gốc dừa đợi cô.

- Đó là nội dung bài thơ ?

- Có lẽ.

- Tại sao chỉ có lẽ ?

- Vì bài thơ tôi quên rồi. Sóng biển ái mộ thơ tôi, cuốn trôi mất hút. Tôi chắc thơ tôi sẽ lênh đênh trên biển cả. Cô Kiều Nhị...

- Dạ.

- Tôi có kiêu ngạo không ?

- Anh rất kiêu ngạo.

- Cô thấy biển sớm có gì lạ ?

- Nhiều điều, tôi sợ những điều tôi vừa thấy sẽ khác anh, anh Hoài ạ !

- Thí dụ một điều ?

- Làm sao nói được ? Biển khó hiểu. Bây giờ ta hiểu biển một cách, lát nữa, nắng lên, ta hiểu biển một cách. Biển thay mầu theo nắng. Biển khó hiểu như...

- Tình yêu ?

Tôi không trả lời Hoài. Có nghĩa là tôi đồng ý với Hoài. Không ai mời ai, chúng tôi cùng bước và bước song song bên nhau. Nếu tôi được đứng trên cao nhìn xuống bãi cát thì hình ảnh hai người vừa quen nhau đi sát nhau dưới bãi vắng của biển sớm phải là một hình ảnh tuyệt vời. Thường ta chẳng thể nhìn rõ cái đẹp tuyệt vời. Nên ta mới tưởng tượng.

- Cô Nhị...

- Dạ.

- Cô còn nhớ một định lý hình học về đường thẳng.

- "Hai đường thẳng song song không gặp nhau ở một điểm nào".

- Hai người đi song song ?

- Gặp nhau trên bãi cát một sớm tinh mơ.

- Ý nghĩ của họ ?

- Anh trả lời giùm đi !

- Tôi chịu.

- Vậy hãy làm thơ trên cát nhờ sóng cuốn ra khơi hỏi biển.

- Vâng, tôi sẽ nghe lời cô. Nhưng, hình như, hai người đi song song gặp nhau trên bãi cát sớm tinh mơ đã nghĩ về nhau rất đẹp.

- Tôi mong thế.

Chúng tôi vẫn bước đều. Lúc này, Phượng đang ngủ, Vinh đang ngủ, mọi người đang ngủ, cả thành phố đang ngủ. Ngủ ngon. Ngủ ngoan. Nếu Vinh đã thức, hắn ta đang phác họa chương trình ở bãi biển Đại Lãnh. Nếu Phượng đã thức, con nhỏ đang tìm chữ nghĩa tàn tệ để công kích ông chú trí thức khi gặp gỡ. Sau đó, nó nghĩ tới bữa ăn điểm tâm ở nhà hàng Fregate. Tôi đã chán nhà hàng này. Bơ sữa không hợp với tôi. Tôi thèm ăn phở, ăn hủ tíu, dù mới ăn cơm tây vài bữa. Tôi không hiểu Hoài đương vẽ trong đầu anh những dấu hỏi gì. Anh đi bên tôi, quá im lặng đến nỗi tôi có thể nghe, cùng một lượt, tiếng đùa cợt của sóng sớm mai và bước chân trên cát.

- Cô Nhị...

- Dạ.

- Chúng ta dừng chân chỗ này, ngắm biển được không ?

- Được chứ.

Chúng tôi dừng bước. Tôi chia cho Hoài một chiếc dép. Anh nhận lấy và trịnh trọng đặt trên mặt cát làm chiếc ghế nhỏ. Làm một chỗ ngồi. Chúng tôi ngồi cạnh nhau. Rất gần nhau. Và hướng ra biển thần thoại mờ mờ khói sóng.

- Cô Nhị...

- Dạ.

- Tôi muốn nhìn cô cười!

Tôi cười ngay, không phải đáp sự yêu cầu của Hoài, mà buồn cười vì sự mong muốn của anh. Hoài khẽ đưa đẩy bàn tay:

- Thôi, cô đừng cười nữa. Tôi đã nhìn thấy cô cười rồi. Cô chỉ có một đồng tiền bên má trái, rồi làm sao cô chia cho tôi ?

Tôi nói:

- Tôi sẽ cho anh cả đồng tiền khi anh cần.

Hoài, bất thần, nắm lấy cổ tay tôi :

- Thật không, Kiều Nhị ?

Lần đầu tiên tôi được một người con trai nắm tay. Tôi rung động tột độ. Tim tôi bốc khói , như biển đang bốc khói. Những giòng máu rộn rã đổ về tim như những đợt sóng đang xô nhau lên bãi cát mịn màng. Tôi run run. Tôi cảm giác mình vừa trúng gió, thứ gió kỳ ảo làm tôi nửa tỉnh nửa mê. Tôi chớp mắt mau và ở đuôi hai con mắt, dường như, đã đọng hai giọt lệ. Hai giọt sương sớm đọng trên một chiếc lá đầu xuân. Tôi bồi hồi. Hoài không biết tôi đương say khói sóng và đương nghe biển dạy lời yêu. Anh ngỡ tôi sắp trách móc anh nên buông tay khỏi tay tôi một cách luyến tiếc và thầm thì nói:

- Xin lỗi Kiều Nhị...

Tôi nhìn Hoài :

- Biển sớm của riêng anh ?

Hoài đáp:

- Biển sớm của riêng Kiều Nhị và tôi.

- Tại sao anh không nói: Biển sớm của riêng chúng ta ?

- Nếu...

- Nếu tôi bằng lòng ?

- Không, nếu Kiều Nhị cho phép.

Tôi lắc đằu:

- Anh lại hết kiêu ngạo rồi ?

Hoài rút điếu thuốc lá, ngậm trên môi:

- Nếu hai người kiêu ngạo ngồi bên nhau sẽ giống hai đường thẳng song song.

Hoài kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay, gỡ ra khỏi môi, nhìn thẳng vào đôi mắt tôi:

- Em có nghĩ như thế không, Kiều Nhị?

Tôi không trả lời câu hỏi âu yếm của Hoài. Mà nói :

- Anh đốt điếu thuốc đi.

- Để làm gì ?

- Để em thưởng thức một mùi hương và để, mai này, em sẽ tưởng nhớ một mùi hương, mùi hương tỏa lan và nhập vào khói biển.

Hoài lấy diêm châm thuốc. Anh phà khói thuốc đầu vào mặt tôi. Hương thuốc ngát thơm và làm ấm một cõi biển.

- Kiều Nhị...

- Em vẫn nghe anh đây, anh Hoài.

- Em thấy biển sớm tuyệt diệu chứ ?

- Bây giờ mới tuyệt diệu.

Hoài xích gần tôi hơn và quàng tay ôm vai tôi. Như chiêm bao của Phượng về tôi, nếu con nhỏ đang chiêm bao.

- Anh sẽ làm nhiều thơ tình vì em, cho em.

- Viết trên cát.

- Viết trên cát, chỉ viết trên cát.

- Làm sao em đọc ?

- Em ra bãi biển thật sớm, khi sóng chưa thức giấc.

- Vâng, em sẽ theo lời ,anh.

- Nhưng chưa phải ngày mai đâu.

- Tại sao ?

- Anh không giải nghĩa nổi. Em sẽ hiểu. Hình như, chuyện của chúng mình không giải nghĩa được, hoặc chỉ giải nghĩa bằng những sớm mai ở nơi này. Em biết tại sao anh yêu biển sớm ? Vì biển sớm đầy đặc khói sóng. Khói sóng hay khói sương, chẳng sao. Miễn là khói đó mãi mãi làm biển huyền bí, làm biển mơ hồ và mê hoặc anh. Đừng giải nghĩa do đâu biển sớm bị vây phủ bởi khói sóng. Chuyện của chúng mình là khói sóng, là biển sớm, là mơ hồ, là mê hoặc, là nỗi bí ẩn của ngàn đời...

Hoài nói. Không. Hoài đọc thơ, bài thơ chỉ một mình tôi được nghe, chỉ riêng trái tim tôi cảm thấm. Hoài là biển. Biển đang thuyết giảng một thứ đạo trên tất cả các thứ đạo, một thứ đạo đời đời kiếp kiếp chẳng hề phôi pha: Tình yêu. Ngồi đây, ngước nhìn trời cao, trông ra biển rộng, bốn bề mênh mông, dàn trải, tôi thấy rõ niềm ước mơ của tôi trong lớp sương thu lãng đãng của con đường học trò, dưới làn cát mịn màng của bãi biển Nha Trang. Quả thật biển đã mời yêu, biển đã gọi mộng. Biển Nha Trang. Chỉ là biển Nha Trang. Biển Nha Trang đã mời tôi yêu, đã gọi tôi mộng. Và sẽ giúp tôi đôi cánh để tôi bay trên con đường đi tìm sự tuyệt vời nằm giữa trái tim Nha Trang.

- Kiều Nhị...

- Dạ.

- Em có trách anh vội vàng ?

- Không, chúng ta chỉ có một thời tuổi trẻ, chỉ có một mùa xuân làm hoa bướm. Sau đó là tẻ nhạt, vô nghĩa. Anh nói, chuyện của chúng mình không giải nghĩa được, anh nói đúng. Chuyện của chúng mình là chuyện bất ngờ, chuyện mê hoặc. Em sẽ không sợ phải ân hận và, với anh, em không bao giờ toan tính. Yêu là không bao giờ toan tính.

Hoài buông tay khỏi vai tôi. Anh dắt tôi đứng dậy và dẫn tôi xuống gần nơi sóng đang hôn nhau. Hoài bảo :

- Viết tên em trên cát đi!

Tôi viết tên tôi. Trên cát. Trên cát mịn màng. Viết bằng một đầu ngón tay. Hoài lại đưa tôi về chỗ cũ. Hai chúng tôi lặng im. Hoài hút thuốc và tôi nhìn khói thuốc. Khói thuốc đẹp như khói biển sớm. Một lát, tưởng chừng lâu lắm, Hoài nỏi :

- Em xuống xem tên em còn không.

- Một mình em ?

- Một mình.

Tôi lần xuống. Nước rút thật mau. Tên tôi không còn. Sóng đã mang tên tôi trao cho biển. Và tôi tin rằng biển đang lẫm nhẫm: "Kiều Nhị, Kiều Nhị à, ta sẽ nhớ tên nó..." Lớp khói lên cao, dần dần tạm biệt biển. Biển sắp tỉnh chiêm bao. Biển sắp tan thần thoại. Tôi bước lên. Hoài hỏi :

- Tên em mất rồi, hả ?

- Vâng.

- Biển đã ghi tên em vào sổ. Ngày kia, biển sẽ nhớ tên em, sẽ gọi em về.

Hoài liệng mẫu thuốc lá :

- Biển sắp ồn ào, biển không còn của riêng chúng ta nữa. Anh đưa em về nhé !

Tôi nói :

- Em muốn về một mình như em đã tới đây một mình.

Hoài khẽ gật đầu :

- Cũng được, anh không đòi hỏi thêm. Yêu là không bao giờ toan tính, đã đành, yêu còn không bao giờ là đòi hỏi. Mai sớm, chúng ta sẽ gặp nhau.

Hoài nhặt đôi dép trao cho tôi. Tôi cầm lấy và nhìn anh, không chào câu tạm biệt. Khi lên tới đường, định quay lại, nhưng biết chắc Hoài đang trông theo, tôi mỉm cười, bước nhanh. Yêu là nhìn về phía trước mặt, yêu không bao giờ là nhìn lại. Đúng thế chứ, Hoài ? Biển sớm mai sẽ đẹp hơn biển sớm nay. Phía trước mặt ở ngày mai.

° ° °

Chỉ một chị Hai biết tôi đi, tôi về. Chị không hỏi han gì. Tôi rất bằng lòng. Tôi muốn được lặng thinh thật lâu. Như đứa trẻ ngậm mãi viên kẹo và sợ hãi viên kẹo chóng tan. Tôi len lén lên gác và nhẹ nhàng - nhẹ nhàng cơ hồ chiếc lá rơi - mở cửa phòng. Và lại nhẹ nhàng khép cửa. Rồi nằm sấp trên giường, úp mặt xưống gối. Tôi thèm ngủ, ngủ một giấc vừa đủ tới khi nghe tiếng gõ cửa và tiếng cười nói hồn nhiên của Phượng. Nhưng không tài nào nhắm mắt nổi lấy vài giây. Mắt tôi vướng khói biển, khói thuốc (có lẽ, cả khói tình). Tôi uể oải đưa tay vặn nút máy thu thanh. Pat Boone đương hát bản nhạc đã chìm vào quên lãng cùng với tên tuổi chàng ta : Bản Remember you're mine. Bản nhạc ấy, chỉ còn thích hợp với không gian thơ mộng này, chỉ còn đài Nha Trang lưu giữ cho người phương xa đến Nha Trang thưởng thức. When the stars start to shine. Just remember darling, remember you're mine... Tôi tưởng chừng Hoài đang dặn dò mình. Khi nào những vì sao khởi sự lung linh ? Em không biết đâu. Tại sao em không biết. Bởi vì, nếu chúng ta đã có một cõi biển riêng, chúng ta phải có một cõi sao riêng. Anh lại cười. Vâng, anh cứ cười. Em sẽ bắt anh thôi cười : Khi em nhớ anh, nghĩ rằng em là của riêng anh, bấy giờ, những vì sao trong cõi sao của chúng mình lung linh. Tình yêu thắp sáng những vì sao. Những vì sao không thắp sáng tình yêu. Em muốn thế. Chắc anh cũng muốn thế. Vậy anh hãy hát. Chúng ta là của nhau khi khói sóng bao trùm biển cả. Khói sóng của riêng biển như em của riêng anh. Biển của riêng khói sóng như anh của riêng em. Khói sóng và biển cả trong một sớm tinh mơ, trong những sớm tinh mơ, trong thế giới mờ ảo, thần thoại. Pat Boone đã ngưng tiếng hát. Tôi tắt vội máy thu thanh, sợ bị nghe một bản nhạc mình ghét bỏ. Giá ở khung cảnh này, ở nỗi niềm này, được nghe Anh Ngọc hay Duy Trác diễn tả một khúc nhạc tình yêu của Phạm Duy hay của Trịnh Công Sơn thì thích thú hơn. Căn phòng chỉ còn tiếng máy lạnh chạy vù vù. Nhưng tôi đang chiêm bao. Tôi biết tôi đang chiêm bao. Đôi lúc, tôi quên chiêm bao, tưởng tượng Hoài vẫn đứng trên bãi biển nhìn cuộc chia ly giữa khói sóng và biển. Cuộc chia ly nào mà chả buồn.

- Nhị, Nhị, Nhị, Nhị...

Con nhỏ Phượng bắt đầu phá rối. Miệng gọi, tay nó gõ cửa loạn y hệt nó báo động chuyện nguy kịch.

- Mở cửa mau lên !

Tôi giả vờ chưa thức, Phượng gõ cửa mạnh thêm và réo tên tôi lớn thêm. Tôi đành chiều ý con nhỏ, bước ra mở cửa. Phượng ngạc nhiên ngó tôi:

- Mi ngủ với bộ quần áo này ?

Tôi gật đầu. Phượng lè lưỡi:

- Chắc nửa đêm mi nằm mơ rồi mi thay quần áo ?

Phượng trợn mẳt:

- Chà chà, mi đã mộng du! Mi đã chơi cái trò đi qua tường, suốt đêm qua mi lang thang ngoài bãi ?

Tôi hỏi để lảng những câu hỏi của Phượng:

- Có chuyện gì quan hệ ?

Phượng đáp :

- Nhóc Vinh.

- Sao ?

- Nó đến thật sớm với ông chú Mạch.

- Nguy quá ta!

- Nguy cho mi.

- Lạ thế!

- Vì nhóc Vinh đã... xuống tóc.

- Hắn đi tu ?

- Dỡn hoài, khối băng. Nó cắt tóc thật cao và tụng "tương tư kinh". Nó tình nguyện noi gương anh chàng Đoàn Dự. Bởi mi là Vương Ngọc Yến.

Tôi đùa :

- Hắn có đeo bên mình cái mõ ?

Phượng nhăn mặt:

- Đá cục, mi hững hờ vừa vừa chứ! Họ đang chờ mình dưới kia.

Tôi nói:

- Tao còn thèm ngủ.

Phượng lắc mạnh vai tôi :

- Thì tỉnh đi. Ông chú Mạch không làm tao buồn ngủ. Ông ấy có vẻ bớt... hợm hĩnh.

- Nghĩa là chương trình Đại Lãnh được thay thế bằng chương trình Hải Đảo ?

- Ừ. Tao xin mi một điều.

- Xin mau.

- Mi đừng cười mái tóc ngắn của Đoàn Dự, đừng biến nó thành Charlot. Đồng ý.

- Đồng ý.

- Sửa soạn nhé! Tao đợi mi dưới nhà. Bọn mình đi ăn sáng, la cà phố xá chờ nắng lên rồi đi đảo.

- Đi đầy ?

Thú thật, tôi sắp bị đi đầy. Tôi không muốn đi đảo chút nào, dẫu là đi tới một hải đảo thần tiên. Tôi chỉ muốn ngủ một giấc dài, đợi sớm mai tinh mơ để "chơi cái trò đi qua tường". Tôi đã mộng du. Phượng nghĩ thế. Tôi mắc bệnh mộng du rồi. Sau cơn say nắng lạ, tội bị mộng du. Hãy mặc người khác nghĩ sai lầm về mình. Như vậy cái "cõi" của mình nó mới kỳ tuyệt. Khi ta sống thật, ta sống thật với đầy đủ hương vị của cuộc đời mà được cuộc đời ngỡ rằng ta đang sống trong mơ thì đó là điều thích thú. Đúng quá, Phượng ạ, tôi đã mộng du, tôi đang mộng du. Ngày tháng hạ phải chăng là ngày tháng mộng du của tuổi trẻ ? Thôi, tạm biệt mộng du, tôi sửa soạn đi đảo, tối nay về sẽ gặp lại mộng du.

° ° °

Ông bác sĩ Mạch có một hình thức thật trẻ trung. Ông mặc bộ quần áo đánh quần vợt trắng muốt. Trông ông khoẻ mạnh hơn Vinh và bạn bè của Vinh. Vừa thấy mặt tôi, bác sĩ Mạch đã niềm nở:

- Đây là cô Kiều Nhị, người sẽ bênh vực tôi hay kết án tôi.

Tôi cười xã giao :

- Bác rất độ lượng.

Ông Mạch tròn xoe mắt hết sức tự nhiên:

- Sao, cháu nói sao ?

Tôi đáp :

- Thưa bác, bác đã biết người ta nói xấu sau lưng bác và bác không giận.

- Vậy tôi đáng được bênh vực ?

Tôi lại cười. Ông Mạch hài lòng câu nói xả giao của tôi. Ông khen tôi :

- Cháu có nụ cười giống hệt nụ cười của cô đào chiếu bóng Christine Carère.

Vinh thêm :

- Trong phim Un certain sourire.

Ông Mạch gật gù:

- Đúng là... một nụ cười! Cháu xem phim này chưa ?

Tôi nghĩ thầm: Ông bác sĩ Mạch là người từng trải, ông gợi chuyện khéo léo để dễ đàng chinh phục cảm tình của người chưa quen.

- Kiều Nhị...

- Dạ...

- Cháu xem phim Un certain sourire chưa ?

- Thưa bác rồi ạ. Và cháu không chịu nổi những nhân vật quay cuồng trong phim đó.

Vinh nói :

- Thưa chú, Kiều Nhị là người khác thường.

Ông Mạch nhìn tôi không chớp mắt:

- Con bé này kiêu ngạo, thích bình phẩm người mình không ưa nhưng lại mơ mộng nặng. Số cháu gian nan đấy.

Tôi hỏi:

- Nghĩa là cháu không giầu ?

Ông Mạch cười ha hả. Mọi người đều cười theo vui vẻ. Nhờ ông Mạch mà tôi ít chú ý mái tóc của Vinh. Hắn vừa làm một cuộc cách mạng tóc. Vì tôi. Vinh đến cạnh tôi :

- Nhị cho một nhận xét vô tư ?

- Về ông Mạch ?

- Vâng.

- Ông ấy không liên hệ gì tới tôi. Ngày nào tôi rời Nha Trang, ngày đó tôi sẽ quên ông ta.

- Tôi lại phải xin lỗi Nhị.

- Anh có lỗi gì đâu ?

- Cái lỗi cố tình tạo ra một sự liên hệ nào đó giữa chúng tôi và Nhị.

- Đó không phải là lỗi. Anh Vinh ạ, chúng ta hãy sống cho chúng ta và hãy biết chúng ta. Tôi nói riêng với anh là tôi không thích nhỏ Phượng công kích ông bác sĩ Mạch. Có thể, ông chú của anh không thích hợp với tuổi trẻ hôm nay nhưng ta chớ nên phán xét tuổi già. Tuổi trẻ không phán xét, chưa đủ quyền phán xét tuổi già.

- Nhị rất độ lượng.

- Anh nhầm đó. Tôi mới là kẻ hợm hĩnh, ưa lý luận và, như chú anh xem tướng giùm tôi, tôi ưa bình phẩm người khác. Tôi đã bình phẩm anh.

- Hân hạnh cho tôi.

- Anh biết tôi bình phẩm anh ra sao ?

- Ra sao thì cũng vẫn là điều hân hạnh. Ít nhất, tôi đã lởn vởn trong ý nghĩ của Nhị,

- Bây giờ tôi hối hận.

- Vì sự bình phẩm ?

- Vâng, tôi đã bình phẩm láo lếu. Anh là người tốt.

- Cám ơn Nhị. Tôi hy vọng rằng khi Nhị tỉnh nắng, Nhị sẽ thấy tôi là người bạn tốt của Nhị.

- Anh đang là người bạn tốt của tôi.

- Nhưng rồi Nhị sẽ rời đây và sẽ quên tôi như quên chú Mạch. Mùa hè thật ngắn.

Tôi lặng thinh. Vinh muốn đứng gần tôi mãi. Vinh muốn mọi người đi đảo, đi đến một hải đảo thần tiên của họ và để riêng Vinh cùng tôi ở lại phòng khách này.. Tôi biết điều ấy. Vì tôi nhìn rõ niềm ước mong thiết tha nằm trong đôi mắt Vinh. Khi hai chúng tôi nói chuyện, mọi người cũng đang nhỏ to. Tôi thấy ông Mạch vỗ vai Phượng như thể ông giải tỏa những hiểu lầm về ông của cô cháu gái bướng bỉnh. Bạn của Vinh thì hút thuốc nghe nhạc và bàn tán những bản nhạc xếp hạng nhất nhì bên Mỹ. Bất chợt, ông Mạch nói lớn:

- Coi kìa!

Ông quay lại phía tôi:

- Hai đứa làm tôi tiếc nhớ một thời tuổi trẻ.

Phượng nắm tay ông Mạch thầm thì câu gì đó. Tôi đoán ra câu ấy. Tôi tỉnh bơ :

- Thời tuổi trẻ của bác chắc là tuyệt vời ?

Ông Mạch gật đầu :

- Đúng thế cháu ạ! Thời tuổi trẻ là thời ta làm chim bay trên vùng trời hạnh phúc.

Phượng nháy tôi:

- Thời đó, chú chưa coi mạch và chiếu quang tuyến X cho bệnh nhân ?

Ông Mạch nói:

- Ờ, ờ, thời đó chú chưa... ham giầu sang. Mà thôi, cháu đừng nhắc nghề nghiệp chuyên môn của chú.

Ông Mạch cố tạo một bầu không khí thân mật. Ông đã khác hẳn sự diễn tả của Phượng.

- Mình đi ăn sáng chứ ?

Ông Mạch nắm tay Phượng :

- Chú dẫn các cháu tới phở gà số I.

Tôi nói:

- Phở gà, cháu đang thèm ăn. Để xem phở gà Nha Trang có địch nổi phở gà Nam Xuyên, Lý Quảng ở Sàigòn.

Vinh nói :

- Nhị nên thất vọng trước là vừa. Phở gà Nha Trang được mỗi cái bát to cầm hai tay mới nổi. Nước dùng ngọt lự bột ngọt Vifon. Phở gà đường Trương Tấn Bửu, Sàigòn, là giáo chủ, thì phở gà Nha Trang là tín đồ hư hỏng.

Tôi cười :

- Ta hãy an ủi "vị" tín đồ hư hỏng ấv. An ủi và khích lệ.

Vinh nói đủ riêng tôi nghe :

- Tôi bỗng muốn làm phở gà Nha Trang, Nhị ạ!

Chúng tôi kéo nhau ra xe. Như hôm qua, Vinh lại lái chiếc Honda chở một mình tôi.

Đợi chiếc Mazda của Phượng và chiếc Floride của ông bác sĩ Mạch ra khỏi cổng trước xe mình. Vinh hỏi tôi :

- Nhị thích đi đạo một vòng Nha Trang buổi sáng ?

Tôi hỏi lại Vinh:

- Ta bắt họ chờ, phở nguội thì sao ?

Vinh cười:

- Họ kiếm bàn cũng mất mười lăm phút. Chú Mạch không có thế lực ở hiệu phở gà!

Tôi nói:

- Vậy ta nên dạo một vòng.

Vinh cho xe chạy chậm. Hắn dẫn tôi vào trung tâm thành phố: Đường Độc Lập. Con đường huyết mạch của Nha Trang. Kim ngắn đồng hồ ở xe của Vinh đã chỉ số 8. Tám giờ thiếu năm phút. Nhưng phố chính còn ngái ngủ. Cuộc đời thật bình thản nơi đây. Nó giữ nguyên vẹn sự nhàn tản của người Việt Nam. Tôi yêu vẻ bình thản này, vẻ bình thản chỉ thấy ở những thành phố du lịch.

- Nhị ạ !

- Gì đó, anh Vinh ?

- Tôi chỉ muốn xin Nhị một nhận xét vô tư.

Tôi tưởng Vinh cần nhận xét vô tư của tôi về ông bác sĩ Mạch, bèn đáp:

- Nếu anh có người yêu, đừng dại dột giới thiệu cô ta với chú anh.

Vinh lắc đầu:

- Về tôi chứ không phải về ông chú lãng tử của tôi.

Tôi đưa tay vuốt tóc đang bị gió thổi tung bay :

- Về anh à ? Mùa hè còn dài, anh Vinh ạ !

Tôi nhìn Vinh:

- Tuần sau mái tóc của anh sẽ đẹp.

Vinh im lặng để uống một cảm giác ngọt ngào. Tôi nghĩ thế. Chẳng đoán mò đâu. Phượng cho tôi biết Vinh "mết" tôi. Khi yêu, hoặc người ta điên cuồng hoặc người ta đần độn. Vinh nóí một câu, bây giờ, tôi mới thấm thìa : "ít nhất, tôi đã lởn vởn trong ý nghĩ của Nhị". Ọuả thật, Vinh đã lởn vởn trong ý nghĩ của tôi. Xin lỗi người bạn tốt nhé ! Tôi hứa hết nghĩ xấu về anh, hứa không lý luận lẩm cẩm. Biển không dạy tôi những điều đó. Biển chỉ mời yêu, gọi mộng. Và, với biển, ta nên dịu dàng. Vinh không nói thêm câu nào. Hắn chạy dọc đường Độc Lập. Tới đầu thành phố, Vinh hỏi:

- Nhị ưng về Sàigòn hay đi Cam Ranh ?

Tôi nói:

- Thèm ăn phở,

Vinh vòng xe lại và chạy về hiệu phở gà. Ăn điểm tâm xong, chúng tôi đến Club nautique của ông bác sĩ Mạch. Ở đây, chúng tôi ngồi nói chuyện gẫu đợi mặt trời lên cao để đi đảo. Với tôi, đi đảo đúng là đi đầy. Có lẽ, từ mai, tôì phải tìm cách thoát khỏi Phượng, một mình tìm đường lang thang trong thành phố thơ mộng này.

5

TÔI KHÔNG MUỐN NHỚ HÔM QUA, trừ buổi sáng tinh mơ trên bãi biển. Với Hoài. Buổi sáng tinh mơ là đầu ngày như thuở ấu thơ là đầu đời. Đoạn đầu nào cũng kỳ tuyệt. Phần còn lại sẽ chói chang dưới nắng gắt gao. Cuộc chơi ngoài đảo thật tẻ nhạt. Tôi định sẽ tả cảnh "hải đảo thần tiên" trong nhật ký. Rằng, hải đảo sẽ thần tiên nếu tôi không đến hải đảo. Vì tôi đã đến hải đảo, thành thử, tôi chỉ gặp lon đồ hộp ngoại quốc, rác rưởi, đầu cá, vỏ tôm ươn thối trên khắp bãi quanh hải đảo.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy lo sợ. Biển nhìn rõ nỗi lo sợ của tôi không ? Nỗi lo sợ trong mộng du, nói theo Phượng. Tôi vừa đi xuyên qua tường ngôi biệt thự mùa hè. Căn phòng của tôi trên gác. Tôi phải bay và hạ cánh xuống cõi biển của hai đứa tôi, cõi biển chiêm bao vây phủ bằng khói sóng mờ ảo và khói mộng huyền ảo. Tôi đang đứng giữa cõi biển ấy, chờ đợi Hoài. Hãy tưởng tượng một con ốc bơ vơ trên bãi cát vắng chờ đợi một con ốc. Để cùng nhau được sóng cuốn ra biển khơi. Con ốc sẽ chờ đợi rất lâu. Nó biết kiên nhẫn. Bởi nó không có thời làm tuổi trẻ. Còn tôi, tôi không bị chờ đợi tới mùa cam chín 1. Hoài đã đến, đã rẽ lớp khói mộng bước xuống một cõi biển. Hoài đã đến như chàng nghệ sĩ đã đến vào buổi "Trưa hè năm ấy mùa cam ngọt". Khác hắn chàng nghệ sĩ "Nhưng thấy cam xanh lại chối từ", Hoài không chối từ.

Hoài nắm tay tôi:

- Biển sớm có làm em lạnh ?

Tôi khẽ đáp :

- Ở biển không lạnh quá, không nóng quá.

Hoài nói:

- Anh muốn tình yêu ấm, mát như không khí đại dương. Mãi mãi là đoạn đầu, mãi mãi là những tia nắng độ lượng ban mai. Không mưa phũ phàng để phải khóc. Không nóng gắt gao để phải đau.

Tôi chớp mắt. Nỗi lo sợ một mình tan biến. Chúng tôi bước chậm tới chỗ ngồi hôm qua. Tôi lại chia cho Hoài một chiếc dép. Biển sớm nay đẹp hơn biển sớm qua. Vẻ đẹp luôn luôn ở phía trước ở nơi ta sắp đến. Hai chúng tôi yên lặng chiêm ngưỡng biển, yên lặng nghe bài thuyết giảng của biển. Tâm hồn chúng tôi hòa nhập vào khói sóng. Chúng tôi yêu nhau cơ hồ khói sóng yêu biển. Bài thuyết giảng chấm dứt tự lúc nào, tôi không hay. Chỉ còn nghe im lặng, một im lặng mơn man một chuyện tình và đưa nó bay bổng ngút trời, tít tắp mù khơi. Mãi lâu lắm, Hoài mới lên tiếng:

- Nhị, Kiều Nhị...

- Dạ.

- Anh đã nói cho em nghe về một con đường...

- Vâng, con đường ta không thể đi bằng xe hơi hay bằng chân.

- Em cho phép anh hy vọng ta có thể đi bằng Thạch Kiều được không ?

Hoài cười. Tôi ngạc nhiên :

- Thạch Kiều ?

Hoài gật đầu :

- Ừ, Thạch Kiều, cầu đá, tức là chiếc xe gắn máy Nhật cũ kỹ của anh, nhãn hiệu Bridgestone.

Tôi cười. Và hỏi:

- Anh muốn chở em đi ?

Hoài nói :

- Có phải là một đòi hỏi ?

Tôi bảo Hoài đốt một điếu thuốc lá. Khói thuốc thơm ngon. Khói thuốc lãng đãng, vẩn vơ quanh hai chúng tôi. Tôi thích nhìn những người đàn ông hút thuốc lá. Hoài là một người đàn ông. Khi có ai nói với ta "tôi là người đàn ông", ta phải kính trọng họ và nếu ta yêu họ, ta phải đặt hết niềm tin vào họ. "Tôi là người đàn ông", năm tiếng giản dị, tầm thường nhưng chỉ những ai như Hoài mới biết nói, dám nói với người con gái vừa quen biết. Người đàn ông giống con tầu thiên lý, giống một chiến hạm. Đã nuốt chông gai đường đài, đã lướt sóng cả đại dương. Và, đã leo lên ngọn ước mơ chót vót của tôi, của đứa con gái tưởng là đắn đo lắm, tưởng là kiêu ngạo nhiều.

- Nhị...

- Dạ.

- Em trả lời anh đi ?

- Yêu không bao giờ là đòi hỏi. Em nghĩ rằng anh nói thế chứ chẳng phải Thạch Kiều của anh nói. Song, để em đòi hỏi anh trước.

- Một đòi hỏi ?

- Nhiều.

- Nói anh nghe !

- Đầu tiên, anh đưa em đi ăn sáng.

- Em không về nhà với bạn ?

- Anh muốn chở em đi mà. Và, tại sao phải về nhỉ ?

Hoài cầm tay tôi, dắt tôi đứng dậy. Chúng tôi lên đường. Sáng nay tôi chiêm ngưỡng biển lâu hơn sáng qua. Có lẽ, bài thuyết giảng của biển đã dài hơn. Phượng sẽ ngạc nhiên ghê gớm khi gõ cửa phòng tôi. Con nhỏ sẽ tưởng tôi đi qua tường và mắc kẹt trong bức tường. Hoài cho xe nổ máy và chở tôi đi. Chàng dặn dò:

- Em ngồi kiểu... đàn ông. Cảnh sát Nha Trang dễ tính, không thổi còi phạt đâu. Ngồi và ôm chắc lấy anh vì anh sẽ phóng nhanh. Ta thăm thành phố kỷ niệm của ta.

- Anh phóng vừa vừa thôi.

- Không, thật nhanh. Ta chỉ có một thời làm tuổi trẻ.

Hoài đạp số. Chiếc xe chuyển bánh. Chàng rú ga. Chiếc xe vút chạy trên đường sớm vắng hoe. Tôi vòng hai tay ôm chật lấy Hoài. Gục mặt vào lưng Hoài, tôi tưởng tượng. Thấy mình đang là công chúa Anne được anh chàng phóng viên Joe Bradley chở bằng xe Vespa tình du trong thành phố La Mã. Hoài nói lớn cố át tiếng máy nổ.

- Xe cũ kỹ quá, anh không thể phóng như bay.

- Thế đủ... bay rồi. Bay thêm, bánh xe sẽ long trục.

- Em sợ chết ?

- Sợ chứ, lúc này ta cần sống, cần sống mãi mãi...

Chiếc Thạch Kiều - tên thật hay - bỏ con đường ven bãi biển rẽ vô thành phố. Tiếng nổ của nó muốn đánh thức thành phố đang thèm ngủ nữa. Tôi muốn cả thành phố thức giấc, mở cửa sổ ngó xuống đường, ngó ra đường. Tôi muốn nói với Nha Trang rằng con đường đưa tôi đến một nơi tôi nhìn rõ sự tuyệt vời nằm giữa trái tim Nha Trang không thể đi bằng xe hơi, bằng máy bay, bằng chân, nhưng có thể đi bằng chiếc Thạch Kiều cũ kỹ của Hoài.

- Nhị...

- Đừng có hét!

- Anh ra Nha Trang bằng chiếc xe này.

- Bị nằm đường mấy lần ?

- Hai.

- Coi chừng sắp nằm đường đó, em không đủ sức đẩy giùm xe của anh đâu.

Hoài cười vang. Tôi hỏi:

- Định đưa em đi đâu ?

Hoài đáp :

- Đến đường Phương Câu. Anh sửa soạn rẽ bên trái, ôm chặt và nhắm mắt nếu sợ anh biểu diễn "anh hùng xa lộ".

Tôi thách:

- Cứ biểu diễn xem nào.

Nhưng Hoài bớt ga, về số và khẽ đạp phanh. Chiếc xe chậm dần. Hoài rẽ vào đường Phương Câu, ngừng lại trước một hiệu ăn không có bảng hiệu. Hoài tắt máy, giục tôi :

- Em xuống trước.

Hoài dựng xe, nắm tay tôi, dắt tôi vô hiệu. Hiệu ăn mới lác đác vài người. Hoài kéo ghế mời tôi ngồi và nói:

- Món này em sẽ thích, nó sẽ làm em nhớ Nha Trang.

- Phở à ?

- Không, hủ tíu. Hủ tíu của người Việt Nam, đặc biệt xíu mại địa phương.

Tôi cười. Hoài cười theo :

- Đặc biệt nữa, nó hợp với túi tiền du lịch của anh.

Tôi thưởng thức "món ngon Nha Trang ". Ngon thật. Giả dụ cũng đến hiệu này, ăn hủ tíu khô xíu mại với Vinh, với Phượng, chắc chắn, chỉ ngon một nửa. Ca dao Việt Nam có mấy câu tuyệt hay : "Cơm tấm ăn với chả rim, Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn cũng no. Cơm tấm ăn với chả kho, Chồng đẹp vợ đẹp đã no vì nhìn... " Tôi thì không nhìn Hoài. Bởi lẽ chúng tôi chưa là vợ chồng. Tôi ăn ngấu nghiến, ăn phàm phu tục tử, không "nữ thực như miu" chút nào. Hoài ngó tôi :

- Thấy chưa ?

- Rồi.

- "Bis" nhé ?

- Túi tiền của anh ?

- Yên chí, nếu cạn em sẽ đóng góp.

- Nhỡ em không có ?

- Anh ngồi đây, giả vờ uống cà phê đợi em về đem tới đóng góp.

Tôi nhìn Hoài chứa chan yêu mến :

- Anh đúng là một người đàn ông. Em cấm anh trả nợ ngay lập tức lời khen của em.

Hoài hỏi tôi :

- Em dùng cà phê ?

Tôi nói:

- Ngắm anh uống cà phê thôi.

Hoài gọi một tách cà phê. Trong khi chờ đợi, chàng nói :

- Một đòi hỏi của em kể như đã xong, em đòi hỏi anh điều thứ hai đi.

Tôi nói:

- Hôm qua em bị đi đảo. Em thất vọng. Hôm nay em muốn đi đảo với anh.

Hoài gật đầu :

- Anh sẽ đưa em đi đảo.

- Với cả Thạch Kiều ?

- Ừ, với cả Thạch Kiều.

Uống cạn ly cà phê, Hoài trả tiền rồi chở tôi đến Cầu Đá, Hoài bảo chờ nắng một chút. Chàng đưa tôi lên Hải học viện. Hoài dựng xe một chỗ. Chúng tôi tới vườn hoa, ngồi trên phiến ghế đá ngó ra biển. Hoài hút thuốc và tôi ngắm biển. Tôi đợi nắng. Khói sóng vừa tạm biệt biển. Tôi nghe rõ tiếng thở dài của biển. Vẻ mờ ảo thần thoại tan biến cho tôi thấy chân trời từ phiến đá này, cạnh người yêu lý tưởng. Hoài đặt tay lên vai tôi, ve vuốt những sợi tóc buông xuống vai tôi.

- Em nghĩ gì đó ?

Tôi nói một câu buồn thảm của Vinh :

- Mùa hè thật ngắn.

Tôi ngỡ Hoài sẽ an ủi tôi như tôi đã an ủi Vinh "không, mùa hè còn dài", nhưng Hoài đã nói khác, không một chút bùi ngùi :

- Hình như chưa tới mùa hè, Nhị ạ !

- Anh nói sao ?

- Chưa tới mùa hè.

Tôi chợt hiểu. Hoài nói, giọng chàng chìm vào một cõi mơ :

- Em đừng nghĩ tới mùa hè, mùa thu... Đừng nghĩ sự tuần hoàn của trời đất. Hãy nghĩ rằng tất cả đều chưa tới, tất cả, với anh và em, chỉ là mong đợi.

Tôi hỏi:

- Anh đã mong đợi gì ?

Hoài đáp :

- Mong đợi ngày mai chở em đi cùng khắp bằng chiếc xe cũ kỹ của anh.

Tôi ngả đầu lên cánh tay của Hoài. Bây giờ là im lặng. Bây giờ là giây phút linh thiêng. Tôi nhắm mắt đợi chờ một nụ hôn mật ngọt của Hoài. Nhưng chỗ hai chúng tôi ngồi như chỗ ngồi trong chiêm bao. Trước khi nhắm mắt đợi chờ một nụ hôn đầu, tôi đã thấy những giọt sương trong vắt đọng trên lá, trên hoa. Lúc đó, tôi van xin trời đừng nổi gió. Tôi sợ sương sẽ hết đời sương. Tôi biết Hoài cũng sợ sương sẽ tan rã. Sẽ tan rã bằng một lay động, một lay động êm ái cơ hồ một nụ hôn đầu. Môi yêu là giọt sương mai. Tôi chợt tỉnh. Tiếng chim hót líu lo quanh khu vườn nhỏ của Hải học viện nghe như tiếng chim hót trong truyện thần tiên, trong địa đàng Andersen. Nắng đã khởi sự. Biển đang lên mầu.

Hoài bảo tỏi:

- Em muốn đi đảo chưa ?

Tôi nói:

- Đây đã là đảo.

- Không, đây mới là sườn đồi.

- Vậy đưa em đến một-hải-đảo-sẽ-là- đảo-của-anh-và-em.

Chúng tôi rời phiến ghế đá. Hoài giục tôi leo lên xe. Chàng không cho nổ máy. Chiếc xe lao xuống con dốc thoai thoải. Khi nó hết đà, Hoài mới đạp máy và chạy tới bến thuyền. Ở đây, không có những chiếc hors-bord lộng lẫy, không có những khuôn mặt đánh phấn trưởng giả như ở Club nautique của ông bác sĩ Mạch. Chỉ có những chiếc thuyền máy định cư đời mình tại một bờ bãi riêng, những chiếc thuyền không kéo nổi một người trượt nước nhưng đã kéo nổi những cuộc đời hẩm hiu mơ ước tương lai. Hôm qua, Phượng, Vinh và bác sĩ Mạch đã nồng nhiệt khuyến khích tôi chơi trò trượt nước. Tôi từ chối. Không phải là tôi chê bỏ. Mà vì tôi cứ nghĩ tới ngày về với thế giới của tôi. Vả nữa, muốn trượt nước, phải tập. Và tập thường bị ngã đau, thường bị uống sặc nước và vất vả leo lên hors-bord. Khi ta đi tìm kỷ niệm, ta cần tránh ngã đau.

Hoài đã chọn một chiếc thuyền chứa được hai ba chục người. Tôi ngạc nhiên;

- Thuyền lớn quá, anh !

Hoài cười :

- Nó sẽ bò thật chậm trên mặt biển để em thấy mùa hè chưa tới.

Hoài bảo người chủ thuyền - ông chúa tàu - mang giùm "con thiết mã" Thạch Kiều xuống thuyền. Mọi người ở bến cười diễu, coi chúng tôi như hai kẻ điên khùng. Hoài vỗ nhẹ vai tôi:

- Ẹm hiểu chưa ?

- Hiểu rằng ta sống ở "cõi" của riêng ta.

Người chủ thuyền giật máy. Máy nổ. Nước xoáy một khoảng biển nhỏ. Rồi chiếc thuyền rời bến. Nó bò trên mặt nước. Nó không lướt nhanh như chiếc hors-bord của ông bác sĩ Mạch. Nó thong thả như một chuyện tình. Hai chúng tôi ngồi ở đầu thuyền, hướng mũi ra biển khơi. Người chủ thuyền vừa điều khiển tay lái vừa nhìn chúng tôi bằng đôi mắt khác lạ khi tôi ngoái lại.

- Nhị...

- Dạ.

- Hôm qua em đã lên bãi ?

- Vâng.

- Hôm nay chúng ta không lên bãi chúng ta lênh đênh.

- Phải ghé một bãi nào chứ ?

- Ta đi tìm một bờ bãi.

Thuyền càng xa bờ thì nắng càng lên cao. Hoài vòng tay ôm tôi, sợ tôi rớt xuống biển. Chàng hỏi:

- Em có dặn bạn em là em vắng mặt hôm nay ?

- Không.

- Họ sẽ đi tìm em, tưởng em bị bắt cóc.

- Bạn em bảo em mộng du. Có thể, nó sẽ phá bức tường kiếm em vì ngỡ em mắc kẹt ?

- Em sợ mắc kẹt ?

- Sợ đói.

- A, khỏi sợ, ông chủ thuyền dư bánh mì và nước ngọt dùng trọn một tuần lễ.

- Chúng ta lênh đênh suốt tuần, được không ?

- Không.

- Tại sao ?

- Vì phải để dành một nơi chưa tới.

Tôi chợt nhớ hôm nay là thứ haì.

Thứ hai là ngày đầu tuần. Hãy sống bằng đoạn đầu. Hãy sống cùng những tia nắng độ lượng ban mai. Uống lưng chừng chất ngọt và không bao giờ tận hưởng niềm vui.

- Em ngắm nước biển đi.

- Em đang ngắm.

- Thấy mầu xanh chưa ?

- Vâng, mầu xanh tuyệt vời hơn mầu xanh nước biển. Mầu xanh khác lạ hơn mầu xanh hôm qua. Có phải khi ta biết nghĩ đẹp về biển thì biển ban riêng cho ta một ân huệ và nước biển lên mầu thần thoại ?

- Đúng nhất là chúng ta nghĩ đẹp về nhau.

- Về tình yêu...

Hoài buông lơi vòng tay. Chàng đứng dậy. Trông Hoài ngạo nghễ như kẻ đi chinh phục thiên nhiên. Chàng nói:

- Anh muốn nhảy xuống tạ ơn biển.

Tôi cũng đứng đậy, khoác tay ngang lưng Hoài:

- Thong thả, chưa tới mùa hè.

Con thuyền lừng lững rẽ sóng. Sóng kbông lớn mấy và sóng bị thuyền đè bẹp. Tôi có nên nghĩ đây là con thuyền yêu. Thuyền yêu không ghé bến yêu. Không, làm gì có bến yêu hoặc bến yêu chẳng bao giờ thuyền yêu tới được. Thuyền yêu lênh đênh hoài và bến yêu mãi mãi chỉ là điểm mờ nhạt. Chỉ là điểm mờ nhạt trong một chiêm bao không tàn. Chúng tôi đứng bên nhau. Im lặng. Lúc này, nắng đã ngập biển. Gió thổi tung tóc hai đứa. Tiếng máy nổ không át nổi tiếng sóng dập vào mạn thuyền.

- Nhị...

- Dạ.

- Hôm nay là thứ hai.

- Ngày đầu tuần.

- Những bãi quanh đảo em ghé hôm qua sẽ vắng ngắt, mình vô được không ?

- Không. Em ghét nơi đã in nhiều dấu chân người xa lạ.

- Mình tìm một bờ bãi cho mình ?

- Vâng. Em đã nói rồi. Giá mình có chiếc máy ảnh ?

- Để làm gì ?

- Nhờ ông "chúa tàu " chụp anh và em.

- Để làm gì ?

- Có hình ảnh.

- Đừng thèm. Ảnh in trên cát như thơ tình in trên cát. Và sóng cuốn ra khơi... Anh sẽ viết cho em những bức thư tình...

- Trên cát ?

- Trên cát trắng Nha Trang.

- Anh định viết gì ?

- Nói anh yêu em.

- Bao giờ ?

- Khi anh cảm thấy mùa hè đã tới.

- Còn bây giờ?

- Tất cả đều sắp tới.

- Bao giờ mùa hè tới ?

- Chừng chiếc xe cũ kỹ của anh đã chở em cùng khắp Nha Trang. Chừng anh có thể mở đầu cuốn tiểu thuyết ao ước của anh bằng câu đề tặng : "Tặng Kiều Nhị, nữ nhân ngư trong cõi biển của riêng tôi... " Mà anh, tội nghiệp quá, anh cứ muốn làm nhà-văn-không-viết-văn, một nhà văn suốt đời không có tác phẩm.

- Một nhà văn... trắng ?

- Em dùng chữ đúng đấy. Một nhà văn... trắng. Y không thấy chữ nghĩa của y và cũng chắng ai thấy chữ nghĩa của y. Chữ nghĩa rồi sẽ trải qua một cuộc dâu biển. Rồi sẽ chả là cái quái gì. Rồi sẽ nhạt nhòa theo mầu giấy, theo sự đổi thay của tâm hồn người đọc. Y sẽ được khen, sẽ bị chê. Nhà văn..trắng thì vượt trên mọi thường tình đó. Y mãi mãi nằm bất động trong một cõi của riêng y. Y chỉ viết trên cát.

- Lại viết trên cát ?

- Viết trên cát, một sớm tinh mơ. Em đã biết, Kiều Nhị ạ, bãi cát ban mai vắng lặng. Viết kín bãi, sóng vẫn cuốn hết chữ nghĩa của mình ra khơi.

- Nếu sóng không cuốn ?

- Đó là nỗi buồn, là chuyện tầm thường. Bởi vì, chữ nghĩa sẽ bị cả những bàn chân thô lỗ dẫm lên, xóa mờ.

- Thế thì làm sao em sẽ đọc được thư tình trên cát của anh ?

- Hãy cầu nguyện mùa hè đừng tới vội, đừng tới ở đoạn đầu đời tuổi trẻ.

Hoài đang nói hay biển đang thuyết giảng? Tôi mơ hồ thấy nắng chợt tắt và biển phai mầu. Và khói sóng buông màn huyền ảo nuốt gọn cả biển xanh, giải tán cuộc tình vui phù phiếm của nắng và biển. Biển trở về cõi chiêm bao. Tình yêu thật phải là chiêm bao. Biển đang là biển sớm tinh mơ hôm qua, hôm nay. Ở đấy, tôi chẳng nghĩ tới mùa hè, mùa thu, mùa đông hay mùa xuân. Ở đấy, tôi đã gửi tên tôi và tâm sự của tôi cho biển. Ở đấy, tôi không lo sợ mình không được đọc những lời tỏ tình của người yêu trên cát.

- Nhị...

- Dạ.

- Chúng mình có vẻ buồn cười.

- Buồn cười ?

- Không ai đi đảo như anh và em. Không ai đi đảo vào giờ này, ngày này. Không ai đi đảo với phục sức này, với cả xe gắn máy.

- Thế mới anh và em.

- Anh muốn neo thuyền tại đây.

- Sóng lớn quá. Mà em chưa là nữ nhân ngư, anh hiểu chưa ?

- Hiểu rồi, anh chưa có sách đề tặng em.

Con thuyền sắp tới hải đảo gần nhất, quen thuộc nhất của du khách. Quen thuộc đến nỗi loài cá cũng chê bỏ. Bằng chứng là trưa hôm qua, ông bác sĩ Mạch thẩy bốn năm trái lựu đạn, không bắt được con cá nào. Người chủ thuyền hỏi vọng lên:

- Thầy, cô ghé bãi nào ?

Tôi đáp:

- Ông cho tới đảo xa hơn.

Người chủ thuyền nói:

- Xa hơn sợ về không kịp.

Hoài nói :

- Vậy ghé bãi nào ông thích và neo thuyền cách xa bờ.

- Thầy cô không lên bãi ?

- Không.

Hoài ngó tôi:

- Em bằng lòng chứ ?

Tôi ôm chặt Hoài:

- Em muốn về.

Tôi muốn về. Có nghĩa là tôi không muốn tới, dù tới một bờ bãi của riêng hai chúng tôi, Hình như tôi khó tính, tôi nhiều nam tính, tôi "đồng bóng"... Hãy bảo tôi thế. Và tùy ý. Mỗi người có một vũ trụ nhỏ bé. Tôi sống với vũ trụ đó. Trong vũ trụ đó, không ai bảo tôi nhiều nam tính hay khó tính. Chẳng hạn Hoài. Ta không sống cùng mọi người. Tôi đang sống với một người. Yêu một người. Phượng thân ái, tôi đang mộng du. Đúng chứ ? Khi mộng du, ta khác tất cả. Ta xuyên qua tường, ta bay lên trời, ta đi trên biển, ta hóa thân làm khói sóng hoặc ta đổi kiếp biển để được khói sóng ấp ủ bằng đôi cánh mộng tưởng ấm nồng.

- Em muốn về ?

- Vâng. Thêm một đòi hỏi.

- Anh đành chiều ý em,

Hoài ra lệnh cho người chủ thuyền quay trở lại bến. Người chủ thuyền ngạc nhiên :

- Thầy, cô chưa đến đã về !

Hoài nói:

- Chúng tôi muốn đi, không muốn đến.

Con thuyền quay mũi. Nắng bây giờ ngập biển. Nắng vàng rực rỡ, thứ nắng vàng khác lạ chỉ mình tôi cảm thấy. Mầu sắc biến đổi theo ý nghĩ. Nhưng mầu sắc biến đổi huyền ảo theo ý nghĩ của một người đang yêu. Biển Nha Trang, hỡi biển Nha Trang, mãi mãi, tôi sẽ nhớ, tôi phải nhớ một thời tuổi trẻ đã biết rõ mầu sắc chiêm bao của một cõi biển. Tôi không muốn đến bến đậu của chiêm bao. Nó sẽ tàn lụi. Nó sẽ giống hệt bờ bến quạnh hiu. Tôi đành trở về. Với mong đợi sắp đến. Như mùa hè chưa đến, mùa hè sắp đến. Như một lá thư tình chưa viết, lá thư tình sắp viết trên cát trắng. Của Hoài.

--------------------------------
1Cam chín lòng em cũng héo hon
Đến nay em đã có chồng con
Tình cờ hôm ấy chàng qua lại
Cam trái mùa rồi hết chất ngon
Hàn Mặc Tử

6

HỌ ĐI ĐẠI LÃNH TỪ SÁNG, có lẽ, từ lúc tôi ngồi trên phiến ghế đá ngắm những giọt sương mai ở vườn hoa Hải học viện. Chiều đã xuống bên ngoài ngôi biệt thự mùa hè. Buổi trưa, chị Hai lo cơm nước cho tôi. Ăn xong, tôi ngủ một giấc thật ngoan hiền. Lúc mở mắt, tôi ngỡ thời gian lui lại. Tôi định lẻn ra biển ngồi nghiêm nghe bài thuyết giảng. Nhưng sự ngỡ ngàng qua nhanh. Tôi mỉm cười sung sướng. Mộng mơ quả là kỳ tuyệt. Tôi vô phòng tắm, mở nước và đầm mình trong bồn nước ấm. Tưởng tượng con nhỏ Phượng đang nói chuyện với Vinh về cơn mộng du của tôi. Phượng sẽ bảo tôi đi xuyên qua tường. Và Vinh sẽ tròn xoe mắt. Rồi Vinh lo sợ. Tưởng tượng họ đã chia nhau đi tìm tôi cùng khắp trong khi tôi lênh đênh ngoài biển với Hoài. Tưởng tượng mà thú vị. Tưởng tượng chán chê, tôi thấy xao xuyến dâng ngập hồn. Nỗi xao xuyến dành riêng cho Vinh. Vinh buồn bã nghe Phượng kể chuyện mộng du. Vinh chớp mắt và Vinh nghĩ tôi say nắng lạ, say miên man, say không hứa hẹn bao giờ tỉnh. Tôi rời phòng tắm, xuống dưới nhà, mở nhạc và ngồi thu mình trong ghế, ngồi kiểu Phượng, nghe nhạc tình. Nghe nhạc chờ Phượng về ăn cơm chiều. Nhạc êm dịu, nhạc mơn man. Bản nhạc nào cũng có đoạn kết. Như chuyện tình. Tại sao một chuyện tình cần phải có đoạn kết ? Tại sao không bỏ đoạn kết đi ? Hoặc không viết thêm đoạn kết ? Bỏ nó dở dang cơ hồ một người đi không muốn đến, được chăng ?

Tôi suy nghĩ hoài. Suy nghĩ quên cả thay băng nhạc. Cho tới lúc tôi nghe rõ tiếng còi xe inh ỏi mới thôi suy nghĩ. Phượng đã về. Cùng Vinh và bạn bè của Vinh. Con nhỏ Phượng hỏi lớn :

- Cô Nhị về chưa ?

Chị Hai đáp:

- Cô về hồi sáng.

Tôi cười thầm. Phượng lái xe vào nhà xe rồi chạy vô phòng khách. Nó không nhìn thấy tôi ngồi thu mình trong chiếc ghế rộng thành cao như một con mèo ốm. Phượng phóng nhanh lên gác. Tôi lên tiếng:

- Tao đây.

Phượng ngừng lại, từ từ bước xuống. Nó tặc lưỡi một hồi dài :

- Cha chả, mi đã về à ? Tưởng mi bị bắt cóc. Mi đi đâu vậy ?

Tôi nói:

- Tao đi lạc.

- Lạc vào rừng mơ ?

- Lạc ngoài biển khơi.

- Gặp hoàng tử vổ răng chứ?

Phượng cười ròn rã. Vinh cũng đã vô phòng khách. Hắn than phiền:

- Sao tối mò thế này ?

Tôi bảo:

- Anh làm ơn bật đèn giùm.

Vinh bật đèn. Ánh sáng ngập phòng. Hắn hỏi tôi:

- Nhị dùng cơm chưa ?

Tôi đứng dậy, rời khỏi ghế :

- Chờ anh.

Vinh nói;

- Người khác sẽ không tin Nhị đâu.

Tôi hỏi :

- Anh thì tin chứ ?

Vinh đáp :

- Một nửa.

- Còn nửa kia ?

- Để Nhị suy nghĩ.

Tôi khen Vinh :

- Anh có vẻ tiến bộ rồi đó.

Vinh lắc đầu, buồn bã:

- Tôi vừa chiết một cành cây sầu và sẽ trồng ở hồn mình.

Phượng đùa :

- Tại sao Vinh không trồng cây si ?

Tôi nhìn Vinh, giọng chân thành :

- Dù cây sầu hay cây si, anh nên trồng trên cát, trên một bãi biển Nha Trang cát trắng.

Vinh lặng thinh. Phượng vẫn đùa bỡn :

- Như xây lâu đài trên cát ?

Tôi gật đầu:

- Như thế.

Tự nhiên, Vinh cáo lỗi không đi ăn cơm chiều nay với chúng tôi. Vinh nại cớ nhức đầu, xin phép về nhà. Vinh về, mấy người bạn của hắn cũng về luôn. Khi Vinh rời ngôi biệt thự, Phượng trách tôi:

- Mi làm nó nhức đầu.

Tôi cãi :

- Tại nắng biển Đại Lãnh và tại hắn cắt tóc cao.

- Nó dại dột ?

- Không, nó khôn hơn mi. Được sầu đau vì tình yêu là một hạnh phúc.

- Hạnh phúc buồn ?

- Đúng rồi.

- Mi đã sầu đau vì tình yêu chưa ?

- Chưa.

- Sao mi biết đó là hạnh phúc buồn ?

- Tao cảm thấy.

Phượng kéo tôi lên gác. Và trong lúc nó ngâm mình ở bồn tắm, nó bắt tôi mang chiếc ghế nhỏ ngồi gần nó. Phượng mở cuộc thẩm vấn.

- Sáng nay mi trốn đi đâu ?

- Làm thế nào tao biết nổi, vì tao mộng du.

- Đừng nói láo.

- Mi muốn tao khai thật.

- Khai hết đi. Nha Trang nhỏ bé lắm, mi không khai tao cũng sẽ biết.

- Mai sớm mi biết. Chỉ cần mi thức dậy vào khoảng năm giờ.

- Mộng du lúc năm giờ ?

- Có thể sớm hơn.

- Mi mộng du thật à, Nhị ?

- Mộng du thật. Tao đi xuyên qua tường, bay lơ lửng trên trời rồi rơi êm ái trên một bãi biển.

- Bãi hẹn ?

- Ừ.

- Kép vổ răng, ăn điểm tâm hồi ba giờ, vẫn ngậm cây tặm, ngồi xỉa răng chờ mi.

- Mi đoán sai. Một người đàn ông.

- Có vợ con chưa ?

- Chưa.

- Gã bỏ bùa mi, coi chừng! Mi thấy trong người mi ra sao ?

- Như là say nắng.

- Mi trúng ngải rồi. Gã có hổ phù Ai Cập !

- Mi hốt hoảng quá.

- Tao thù gã, tao sẽ trừ khử tên phù thủy ấy. Phải kiếm thầy trừ ngải giùm mi.

Tôi cười. Phượng cười lớn hơn. Con nhỏ tiếp tục thẩm vấn.

- Chàng không vổ răng chứ ?

- Không.

- Không " độc nhãn đại hiệp " chứ?

- Không.

- Mũi chàng có cần đến mỹ viện sửa chữa ?

- Khỏi.

- Tên chàng ?

- Bí mật.

- Chàng đã đi ăn với mi chưa?

- Rồi.

- Có ngậm tăm xuống đường hoan hô tình yêu ?

- Không.

- Chàng đã hôn mi chưa ?

- Chưa.

- Chàng ngu ngốc ?

- Nhảm, chàng bảo đợi khi mùa hè tới.

Phượng lại cười. Lần này, con nhỏ cười rũ rượi, cười chế nhạo, cười tàn nhẫn. Tôi để mặc Phượng cười. Nghĩ rằng, sẽ có lần nó khóc như nó đang cười.

- Đá cục, mi không muốn tan dần bằng nắng lụa mà lại chịu tan bằng nước sôi.

Tôi nhìn thẳng vào mắt Phượng:

- Phượng.

Phượng ngạc nhiên:

- Nổi giận à ?

- Không, tao sắp sợ mi nổi giận.

- Tao bình tĩnh, đừng lo.

- Chính mi mới là đá cục. Còn tao...

- Mi là băng hà.

- Tao là người con gái khó tính, thế thôi. Và tao rất ân hận là mới bộc lộ sự khó tính ấy với Vinh. Thực ra tao dễ tính, tao dễ xúc động và rung động. Phượng, mi biết hoa quỳnh chứ ?

- Nghe nói.

- Đó là loài hoa cũng nở và cũng tàn như bất cứ một loài hoa nào nhưng ít người biết nó nở vào lúc nào. Người ta phải mất công phu ngồi chờ hoa quỳnh nở. Tình yêu là hoa quỳnh.

- Mi là hoa quỳnh ?

- Không, tình yêu là hoa quỳnh.

- Ta bảo mi là hoa quỳnh trên cát. Tên Vinh tưởng mi là hoa hồng, nó bị gai hồng làm rướm máu.

- Thôi, mi thích nghĩ sao tùy ý mi.

- Mi có vẻ giận rồi, tao không nghĩ gì nữa. Tao xin lỗi mi. Sáng mai mi còn mộng du không ?

- Chưa biết.

- Nếu không mộng du, sáng mai chúng mình ra một hòn yến xem tổ yến. Mi nên mời kép của mi tháp tùng và giới thiệu gã với mọi người luôn một thể.

- Gã sẽ từ chối.

- Gã tưởng gã hách lắm chăng ?

- Gã hách thật. Gặp gã, mi sẽ thay đổi tất cả.

- Vì vậy mi sợ không dám giới thiệu gã với tao ?

- Ừ.

- Để xem tao có thay đổi. Chắc tao sẽ cười vỡ bụng.

- Mi sẽ khó lòng cười nổi. Tao biết trước điều đó, Phượng ạ !

Phượng lặng thinh. Trên khuôn-mặt-con-gái-trời-cho-đẹp của Phượng, tôi thoáng gặp một gợn sóng bẽn lẽn như gợn sóng bẽn lẽn nên thơ và lãng mạn của một thiếu phụ một mình đứng giữa vườn trăng và tưởng chừng đã bị gió hôn lên má. Phượng nhìn tôi, đôi mắt chứa chan thương yêu và giọng nói hết vẻ đùa cợt:

- Nhị, mi gặp gã ở đâu ?

- Ngoài bãi biển.

- Bắt đầu ra sao ?

- Bằng những dấu hỏi trên cát.

- Như xi nê.

- Không, như mơ ước.

- Gã có chiếc du thuyền giống kép Georges Hamilton ?

- Chỉ có chiếc Bridgestone hai bánh cũ kỹ. Và tao rất sung sướng, rất hãnh diện được ngồi trên chiếc xe của gã.

Phượng đứng dậy, mở hoa sen cho nước mưa xuống da thịt một lát. Rồi nó bước ra khỏi bồn tắm, dùng khăn bông thấm khô những giọt nước còn say mê không muốn rời thân hình kiều diễm của nó. Phượng nói:

- Bảo tài xế tới Fregate đem thức ăn về. Chúng mình ăn ở nhà tối nay. Tao muốn nằm cạnh mi, nghe mi kể chuyện những dấu hỏi trên cát.

o O o

Vừa thức giấc tôi đã nghe tiếng còi xe. Không, tiếng hí gọi bạn của con Thạch Kiều. Đó là con ngựa hồng. Ngựa hồng mang đôi người yêu nhau vào cõi mộng. Nó chưa đến nơi, nó còn rong ruổi khắp nẻo đường tình. Khi yêu, dường như, cả đôi người yêu nhau đều có giác quan thứ sáu. Hoài biết tôi đã thức và tôi biết chắc Hoài đang ngồi trên chiếc Bridgestone nhận còi gọi tôi. Tiếng còi xe thần tình, làm át cả tiếng máy lạnh chạy vù vù. Tôi vụt dậy, mở cửa phòng và chạy ra ban công, ngó xuống đường. Đúng Hoài. Chàng vẫn đề máy xe nổ, ngồi trên yên xe, hút thuốc lá. Trời chưa loãng sương. Tôi nhìn rõ đốm đỏ ở đầu điếu thuốc. Hoài dừng xe giữa đường. Chàng nghĩ con đường sớm mai như bãi biển sớm mai. Của riêng chàng.

- Hoài...

Hoài ngước lên, vẫy tay:

- Đi với anh, đừng mặc áo dài, đừng hỏi thêm một câu nào.

Tôi vội vàng trở về phòng, bật đèn, thay quần áo. "Đừng mặc áo dài" Đồng ý. Một chiếc blue jeans, một chiếc tricot màu đỏ nhạt. Một chiếc khăn mỏng cột tóc. Đôi giầy bata. Ít tiền nhét vào túi quần đề phòng túi tiền của Hoài phiêu lưu bất ngờ. Xong. Tắt đèn. Khép cửa. Tạm biệt Phượng, tối nay tao sẽ kể chuyện mộng du, về những dấu hỏi trên cát. Mi cứ ngủ say, ngủ ngon. Tôi xuống cầu thang êm ru. Chị Hai chưa thức. Tôi đã ra tới cổng. Hoài bật đèn xe.

- Đã ai biết em đi chưa ?

- Chưa.

- Vậy trèo qua cổng.

Cổng thấp, tôi trèo dễ dàng. Gặp Hoài, tôi nói:

- Em có cảm tưởng trốn nội trú ra ngoài. Hôm qua anh bảo sẽ đón em, em ngỡ anh nói đùa.

Hoài vất điếu thuốc lá sang bên đường.

- Tại sao anh lại nói đùa nhỉ?

Tôi leo lên xe của Hoài, ngồi sau chàng, vòng hai tay ôm chặt lấy chàng. Hoài rồ ga, đạp số. Chiếc Bridgestone bỏ ngôi biệt thự mùa hè. Khi đến cuối phố, quay lại, tôi chỉ còn thấy bóng dáng nó qua lớp sương mờ. Hoài phóng xe thật nhanh. Ngựa hồng phi nước đại. Ngựa hồng rẽ sương soải vó. Nó đưa chúng tôi ra ngoài thành phố. Thành phố đang ngủ. Biển đang tình tự cùng khói sóng. Ngựa hồng đang qua cầu Bóng. Tôi và Hoài nằm trên mũi tên. Mũi tên lao vút. Qua cầu, Hoài bớt ga và nói:

- Em có cần hỏi anh đưa em đi đâu không, Nhị?

- Không.

- Nhưng anh thấy cần cho em biết.

- Tùy anh.

- Đi cùng khắp tới khi mình cảm giác đã gần mùa hè. Anh đưa em đến bãi biển Đại Lãnh.

- Đi thong thả.

- Đi nhanh kẻo mùa hè đuổi kịp mình.

Hoài áp xe bên lề đường, móc túi lôi ra cặp kính.

- Sợ em quên, anh mượn kính mát cho em mang kẻo gió và bụi bắt nạt mắt em.

Hoài đưa kính cho tôi. Bây giờ tôi mới chú ý chiếc blouson da của Hoài. Tôi đập vai chàng:

- Còn cái áo của anh ?

- Mượn luôn.

- Chúng ta sẽ trả lại Nha Trang cặp kính và chiếc áo.

- Đầy kỷ niệm. Đó là lãi, là sự biết ơn Nha Trang. Anh sửa soạn làm "anh hùng xa lộ", em hiểu phải làm gì chưa ?

- Hiểu rồi. Mang kính và ôm anh, ôm anh thật chặt.

Hoài giật dây cương. Con ngựa hồng lại soải vó. Tôi ôm chặt Hoài, áp một bên má vào lưng chàng. Ngựa phi ngược gió. Gió cản lối ngựa. Ngựa đạp gió mà bay. Tôi không nhìn thấy gì ở hai bên đường. Cánh đồng bên tay mặt hay chân núi bên tay trái loáng thoáng trong sương mờ. Ngựa leo đèo. Đèo mang cái tên thích thú : Rù Rì. Tôi nhớ, trên máy bay hôm ra Nha Trang, Phượng đã đùa bỡn chúc tôi sẽ gặp một anh chàng và chàng ta sẽ chở tôi lên đèo Rù Rì bằng xe máy hai bánh và chúng tôi sẽ rù rì tâm sự. Để tôi sẽ nhắc chuyện này với Hoài. Bây giờ, hãy im lặng cho ngựa qua đèo kẻo ngựa rơi xuống vực thẳm. Yêu là tìm lối lên thiên đường. Yêu không bao giờ là tình nguyện xuống địa ngục, dẫu địa ngục mang một ý nghĩa nào. Ngựa xuống đèo rồi. Sương dần tan và ngày dần vỡ. Ngựa hồng theo ngả sương tan. Thạch Kiều theo xa lộ thênh thanh, phẳng lỳ, bóng mướt.

- Nhị,.,

- Dạ.

- Em lấy kính mang lên mắt giùm anh. Coi chừng nhé!

- Ở đâu ?

- Cái gì?

- Kính.

- Trong túi áo anh.

Hoài không thèm bớt ga. Tôi luồn tay vô túi áo blouson của Hoài, lấy kính ra và thận trọng đeo giùm chàng.

- Cám ơn Nhị. Chúng mình dùng điểm tâm ở Ninh Hòa. Em đã nghe nói về Ninh Hòa ?

- Đã. Nổi tiếng nem ngon.

- Chúng ta sẽ ăn nem Ninh Hòa.

- Sẽ ăn Ninh Hòa. Và trong máu em sẽ thêm một giòng Ninh Hòa.

Xe lao vun vút. Xe nuốt đường dài. Tôi không còn áp một bên má vào lưng Hoài nữa. Vẫn ôm chặt Hoài. Còn muốn ôm chặt thêm. Tôi nhìn bên trái, tôi nhìn bên phải. Bên trái, chạy theo triền núi, thiết lộ nằm dài như con rắn chờ lột xác. Biết khi nào con rắn lột xong xác? Cầu nguyện hòa bình giúp nó. Và tôi đã cầu nguyện. Bên phải, cánh đồng không mấy hứa hẹn lúa vàng rực rỡ tương lai. Chỉ có con đường giúp ta một niềm tin. Con đường đưa ta đi đến nơi tốt đẹp nhất và đưa quê hương ta đến chốn có hạnh phúc. Con đường rộng, phẳng lì, êm ái. Con đường biết tình tự. Quê hương ta rồi sẽ hết những đường thôn ổ nứt nẻ niềm đau xót như con đường quê trong thơ Tế Hanh. Rồi sẽ chằng chịt đường bộ, đường sông rộn ràng tiếng hát, câu hò. Và khi đó, con rắn lột xong cái xác, thiết lộ hết nằm dài rên rỉ nỗi cô đơn. Chiến tranh, đến cả gang sắt cũng mòn mỏi, nữa là con người. Nhưng có phải, trong chiến tranh, con người chỉ cam đành rên xiết thống khổ ? Chúng ta vẫn yêu nhau, vẫn cười nói, vẫn mơ mộng. Mơ mộng nhất, yêu nhau nhất. Bởi vì, cái đáng kể không bao giờ là sự chết chóc, đổ vỡ. Mà là sự chia lìa, đứt đoạn của con người sống sót sau chiến tranh. Làm lại được tất cả, trừ công việc làm lại sự tan nát của tâm hồn, của tình người, của tình yêu. Có nhiều người đi chiến đấu tiêu diệt Chiến Tranh và có nhiều người ở lại chiến đấu bảo vệ Tình Yêu. Đó là lý do giải thích tại sao có những người cứ mơ mộng, cứ lãng mạn trong chiến tranh. Như tôi. Chiến tranh chỉ là cơn bão thổi qua. Và biến hút. Sự vĩnh cửu không chấp nhận nó.

- Nhị.

- Dạ.

- Đang nghĩ gì thế ?

- Nghĩ một mai anh chở em bằng chiếc xe này cùng khắp đất nước mình.

- Tưởng em nghĩ tới nem Ninh Hòa.

- Sắp đến chưa ?

- Sắp.

Hoài không hỏi han thêm. Để một mình tôi nghĩ ngợi mông lung. Nghĩ ngợi... ngược gió! Tự nhiên, tôi có vẻ không giống ai, có vẻ một cụm mây tách rời đám mây, lưu lạc một khoảng trời. Đã đến Ninh Hòa. Trời chưa sáng tỏ. Hoài nói:

- Đây là ngã ba đường. Rẽ trái, ta đi Ban Mê Thuột, rẽ phải ta đi Tuy Hòa.

- Còn bãi biển Đại Lãnh ?

- Rẽ phải luôn. Biển bên phải, núi rừng bên trái.

- Nếu chúng ta đã lấy nhau, Hoài nhỉ ?

- Đừng nên thí dụ cái câu buồn thảm đó.

- Nếu thôi mà.

- Thì sao ?

- Và nếu chúng ta có một trăm đứa con, lấy Ninh Hòa làm nơi chia ly, anh rẽ trái hay rẽ phải ?

- Phải.

- Anh thích làm rồng à ?

Hoài lảng chuyện:

- Nếu em chưa đói, mình chờ tới Đại Lãnh dùng điểm tâm nhé!

Tôi nói:

- Cũng được. Nhưng quên nem Ninh Hòa ư ?

- Mình còn lần về.

Và Hoài đã không ghé vào Ninh Hòa. Theo con đường mới, chàng rẽ phải, phóng đi Đại Lãnh. Trời sáng rõ cùng với những thôi đường bỏ lại phía sau. Rặng núi dài trước mặt, sương đang bốc khói và tan dần. "Non xa khởi sự nhạt sương mờ". Lúc này tôi mới cảm vô cùng câu thơ của Xuân Diệu. Gỡ kính ra nhìn tận mắt cho rõ. Khi mặt trời chưa thức giấc, rừng núi, cánh đồng, cây cỏ ban mai mùa hạ mang một vẻ kỳ ảo. Kỳ ảo như biển sớm hôn khói sóng. Con đường vẫn vắng hoe. Xe vút qua những chiếc cầu nhỏ, chỉ gặp vài người lính địa phương đeo súng đứng thản nhiên ngắm cảnh tượng. Một buổi sáng hòa bình. Tiếng chim hót thay tiếng súng nổ. Quốc lộ số I là con đường vui, con đường được sư đoàn Bạch Mã của người Đại Hàn bảo vệ an ninh. Rồi sư đoàn Bạch Mã sẽ hồi hương. Chắc chắn thế. Quốc lộ số I từ đây ra tới Qui Nhơn sẽ hết những chiếc bảng cấm viết bằng mấy thứ tiếng, sẽ hết những hàng rào kẽm gai, sẽ tuyệt tích những hình xương bắt chéo trên chiếc đầu lâu trắng nền đen. Bấy giờ, không phải chỉ có hai đứa tôi ngồi trên xe máy hai bánh phóng trên quốc lộ. Bấy giờ, tuổi trẻ nối đuôi nhau phóng xe trên quốc lộ. Tuổi trẻ tìm về những nẻo đường Việt Nam cô đơn, đem niềm vui tới và đắp đường và chữa đường, lấp kín những hố chông, hố mìn, hố bom, hố hỏa tiễn pháo kích. Bấy giờ, tuổi trẻ Việt Nam hết xa lạ với quê hương mình.

Hoài bớt ga và chạy sát ven đường. Rồi chàng tắt máy, mặc chiếc xe nương đà trôi. Chừng nó muốn dừng, Hoài mới thắng lại.

- Nghỉ một lát, Thạch Kiều mệt rồi.

Tôi hỏi:

- Anh sợ chúng mình sẽ nằm đường ?

Hoài cười lớn :

- Sợ em không đủ sức đẩy xe.

Chàng bảo tôi xuống trước và chàng dựng xe bên đường. Chúng tôi ngồi trên lớp cỏ còn ướt sương, lưng quay về phía núi. Tôi nói :

- Ở đây thiếu cái quán của Ngọc Giao.

Hoài nhìn tôi:

- Và cả cây cầu, cũng của Ngọc Giao.

Đó là Quán gióCầu sương. Hoài rút thuốc, đốt lửa. Tôi thả mắt ngắm cánh đồng trải dài về phía biển. Mặt trời đã mọc. Rất nhanh, nắng bừng dậy và cảnh vật thay mầu sắc. Hoài không nói gì. Chàng nhìn khói thuốc tan biến trong gió lộng. Khói thuốc đã chẳng lãng đãng bay như ờ bãi biển Nha Trang, sáng sớm tinh mơ. Chưa quá nửa điếu thuốc, Hoài liệng phần còn lại xuống ruộng. Và đứng dậy :

- Ta đi, Nhị.

Giờ này, quốc lộ đã bớt cô quạnh. Xe hàng xuôi, ngược. Người ra đi và người trở về. Chia ly và đoàn tụ trên những chuyến xe. Chiếc Bridgestone nuốt xa lộ. Tôi phải mang kính và được áp một bên má vào lưng Hoài. Tôi không nhìn cảnh vật nữa. Cứ nửa tỉnh nửa mê mà đi. Với tiếng gió ào ào ru ngủ. Vòng tay tôi ôm chặt Hoài. Anh có thấy vòng tay em vừa đủ ôm một cuộc tình? Hay anh nghĩ cuộc tình là biển rộng, là trời cao, vòng tay người quá nhỏ, quá ngắn? Điều đó, em biết anh không thể trả lời em bây giờ, Bởi vì, bây giờ mùa hè trong anh (và cả trong em) nào đã đến. Mùa hè sắp đến. Mùa hè tuyệt diệu hay mùa hè thê lương trong lớp vỏ đợi chờ. Tôi mải mê với những ý nghĩ. Ý nghĩ trên Thạch Kiều. Tôi nhắm mắt. Tôi nhìn thời gian bằng nắng trời dội xuống lưng tôi. Mầu sắc dễ bắt nắng. Nắng yêu mầu. Nắng thích chiếc áo mầu đỏ nhạt của tôi. Và nắng đã làm da thịt tôi nóng muốn bỏng. Như vậy, mặt trời đã qua lâu đầu ngày, đã bỏ xa tuổi thơ của mặt trời. Như vậy, sắp đến bãi biển Đại Lãnh.

Chiếc Bridgestone đang lao nhanh thì bỗng chậm hẳn và máy gầm gừ dọa nạt. Nó leo đèo Cổ Mã. Tôi chợt tỉnh, mỉm cười một mình. Và tôi gọi lớn :

- Hoài !

- Chi đó ?

- Đến đỉnh đèo anh nên dừng lại.

- Để làm gì ?

- Nhìn xuống.

Hoài giả vờ không nghe rõ. Hình như, chàng có vẻ ghét nhìn xuống. Chiếc Bridgestone cũ kỹ leo đèo một cách vất vả. Nó đã lên tới đỉnh đèo. Mình tôi nhìn xuống phía biển. Nước biển xanh lơ. Bãi biển trắng xóa, phẳng mịn. Bãi biển chạy vòng theo chân núi. Núi và biển thương nhau. Núi cao, biển thấp. Biển không nhờ sóng đẩy tình thương của mình cho núi. Suốt đời, núi biển ôm mối tương tư. Núi chỉ biết trông cậy gió. Gió làm bão thổi những tảng đá lớn rơi xuống chân đèo, băng qua đường đèo, chồng chất và mắc kẹt chẳng thể gặp biển. Rồi núi trông cậy thời gian. Tuổi núi làm tình thương thiết tha hơn. Núi lớn bao nhiêu, tình thương biển nồng nàn bấy nhiêu. Núi gửi tình thương biển vào những cái mũi mỗi ngày mỗi dài ra biển khơi. Nhưng tình thương đâu có gần gũi. Ở xa lắm, ngoài trùng dương. Và tình thương của núi và biển đời đời, kiếp kiếp thiết tha, nồng nàn. Nỗi cô đơn, niềm tâm sự của núi biển ta thường được nghe bằng thác gầm, bể động. Đó là biển Đại Lãnh. Bãi biển Đại Lãnh, người ta nói, đẹp nhất miền Nam. Những hàng phi lao không đều đặn, cây cao cây thấp, không thẳng tắp. Nhưng đã đủ đẹp. Cho hai người yêu nhau.

Bãi biển Đại Lãnh bắt đầu từ chân đèo Cổ Mã và tận cùng ở chân đèo Cả. Cuối bãi, có một dòng suối từ lòng núi chảy ra. Nước suối trong vắt, mát lịm da thịt. Như suối tiên. Như suối mơ. Một cây cầu nhỏ bắc ngang dòng suối. Hãy gọi là cầu mơ. Tắm biển xong, du khách thường đến suối tắm thêm một lần. Hoài nói về con suối này cho tôi nghe. Chàng không ngừng xe trên đỉnh đèo. Chàng đang xuống đèo. Đèo không cao mấy nên dốc thoai thoải. Xuống hết con dốc đèo là chúng tôi tới Đại Lãnh. Tôi gặp, trước tiên, ga xe lửa Đại Lãnh. Nhà ga huyện lỵ vốn đã buồn, bây giờ, lỗ chỗ những vết đạn trên tường, trên nóc, ga nhỏ Đại Lãnh nằm tương tư những chuyến tàu Sàigòn - Huế, Huế - Sàigòn còn buồn hơn. Đừng thèm nghĩ đến chuyện buồn. Tôi nhủ tôi thế. Hoài kiếm một hiệu ăn. Chúng tôi điểm tâm ngon miệng. Sau đó, Hoài gửi xe và chúng tôi xuống bãi. Bãi chẳng có ai. Không một dấu chân. Không một cọng rác.

Nắng vàng ửng. Biển êm. Nước biển xanh như da trời. Cát trắng lóng lánh cơ hồ sao đêm. Gió nhẹ. Gió đủ làm lay động hàng phi lao. Gió đủ gây tiếng thì thầm tình tự. Chúng tôi, hai đứa, đi trong cảnh mộng đó. Cảnh mộng ban ngày. Đã có một cõi biển sớm mai. Đang có một cõi biển trưa nắng. Sẽ có một cõi biển chiều hôm. Tưởng tượng đứng trên đỉnh đèo Cổ Mã nhìn xuống bãi biển Đại Lãnh lúc này. Tưởng tượng đi. Và sẽ thấy hai bóng nhỏ bé gần gũi nhau giữa nơi mênh mông, bát ngát. Đó là hình ảnh tuyệt vời.

- Nhị...

- Dạ.

- Em nghĩ gì ?

- Nghĩ rằng anh nên làm một bài thơ tình trên cát.

- Trên lớp cát trắng ngần kia đã là những bài thơ của muôn đời. Em biết không, những chàng nhạc sĩ phi lao đã phổ nhạc vào thơ và họ hát suốt ngày, suốt tháng, suốt năm. Nhạc và thơ, ở đây, ta chỉ mơ hồ cảm. Thêm một bài thơ của anh, cảnh tượng sẽ trở nên tầm thường, dù là viết trên cát.

- Em nghĩ lại nhé ?

- Nghĩ đi.

- Nơi đây, em không bao giờ đến lần thứ hai nữa.

Hoài khoác tay lên vai tôi:

- Không có người con gái thứ hai như em, trên đời. Em là tiểu thuyết, hiểu chưa ?

- Em là bóng mây.

- Em là gái Liêu Trai mới đúng.

- Không, em là hoa quỳnh, bạn em bảo thế.

- Thực ra, em là khói sóng.

- Và anh là biển sớm.

Chúng tôi đi trên cát trắng. Đi từ đầu bãi và định đi đến cuối bãi. Đội nắng mà đi. Cơ chừng tóc tôi sẽ bị nắng đốt? Tôi không ngại nắng. Nắng không thể làm tóc tối úa héo. Tôi ngại một điều chỉ cách tôi một sợi tóc. Chính điều ấy sẽ làm nắng hè đốt úa mái tóc tôi. Và điều ây, làm sao tôi biết chắc ? Làm sao tôi đề phòng ? Làm sao tôi cự tuyệt nếu nó xảy ra như một vết đau êm ái ? Hai đứa tôi, Hoài và Nhị, in những dấu chân trên cát trắng của bãi biển Đại Lãnh. Tôi không nhìn lại nhưng tôi tin rằng những dấu chân còn nguyên vẹn, rất đẹp. Những dấu chân sóng không nỡ cuốn trôi. Để ai xuống bãi cũng tưởng dấu chân của đôi tình nhân gặp nhau ở đây và đã cưỡi hạc bay lên trời. Họ sẽ nhìn trời. Và tôi hy vọng, lúc đó, có đôi hạc trắng bay ngang.

- Nhị ạ, em mỏi chân chưa ?

- Chưa.

- Em có biết chúng mình đã in bao nhiêu dấu chân trên cát?

- Vô cùng,

- Chúng mình điên ?

- Anh lầm rồi, Hoài ơi! Chúng mình tiên. Không ai cất công tới đây để in và đếm dấu chân cả.

- Chúng mình là con nít.

- Ai cũng trở thành con nít, nếu họ là chúng mình. Anh đã nói cho em nghe về dòng suối, cây cầu ở cuối bãi này, ở chân đèo Cả. Muốn đến, chắc không khó gì. Thạch Kiều sẽ mang chúng mình tới. Anh lại vừa nói chúng mình là con nít. Em là con nít, Hoài nhỉ ? Em không muốn tới cuối bãi đâu. Hãy để dòng suối là nơi em mơ ước đến và khó lòng đến, Hoài nhé! Anh chả đã nói với người chủ thuyền "Chúng tôi muốn đi, không muốn đến" là gì! Vậy chúng ta chỉ đi Đại Lãnh và đừng đến dòng suối dưới chân đèo Cả.

Hoài im lặng. Chàng dìu tôi về phía rặng phi lao. Chúng tôi ngồi dưới gốc một cây phi lao, nhìn ra biển xanh mênh mông. Hình như, có lúc, tôi dựa đầu vào vai Hoài ngủ đi trong tiếng ru thân ái của nhạc phi lao...

7

NẾU BẮT TÔI TẢ CẢNH BÃI BIỂN Nha Trang, tả cảnh hải đảo, tả cảnh cầu Đá, tả cảnh Hải học viện, tả cảnh Đại Lãnh, tả cảnh suối nước nóng Dục Mỹ... tôi sẽ không tài nào tả nổi. Tất cả những cảnh đẹp ở đây nằm gọn trong hai tiếng Nha Trang. Tôi là một thiếu nữ mơ mộng. Mùa hè là mùa để học trò mơ mộng. Mơ mộng không làm hại ai, chỉ làm đời mình có chút ý nghĩa. Và, ở một ý nghĩa nào đó, mơ mộng gần gần giống hy vọng. Sống là biết hy vọng thì tại sao sống là không được mơ mộng ? Tôi mơ mộng, một mai, sẽ là người của đám đông, sẽ đi cùng khắp đất nước tôi. Và sẽ có người hỏi tôi : "Cô Kiều Nhị, cô đã đến nhiều thành phố ở Việt Nam, theo cô, nơi nào đẹp nhất?" Tôi sẽ thành thật và xúc động - như công chúa Anne- đáp rằng : " Nha Trang. Bởi vì, Nha Trang là thành phố đã cho tôi nhiều kỷ niệm. Nơi nào cho ta kỷ niệm khó quên và ta gửi lại đó những kỷ niệm khó quên của đời ta là nơi đẹp nhất. Đối với tôi Nha Trang đẹp nhất ".

Con nhỏ Phượng "thẩm vấn" tôi hơi kỹ và khăng khăng đòi tôi tả cảnh tôi đã đến hôm qua. Nhỏ Phượng lạ gì bãi biển Đại Lãnh. Nó sẽ cười chế diễu tôi. Nhưng nếu tôi tả cảnh mộng của bãi biển Đại Lãnh và bảo bãi biển xa xăm nào, nhỏ Phượng sẽ thích lắm. Tiếc là tôi không tả được cảnh mộng đã bàng bạc kỷ niệm của tôi. Sáng nay tôi quên... mộng du. Vì Hoài không tới. Tôi cũng không lẻn ra bãi biển quen thuộc - bãi hẹn, theo nhỏ Phượng -. Tôi ở nhà và được vây quanh bởi những người bạn thân. Có Vinh, Vinh tư lự nhất đám. Phượng quên khuấy rằng chính nó nói Vinh "mết" tôi nên con nhỏ cứ "hồn nhiên" đâm những mũi kim vào trái tim Vinh.

- Này Nhị, gã ấy tán mi ra sao ?

- Gã không tán.

- Mi tán gã à ?

- Nhảm, bàn chuyện đi hòn yến xem sao.

Tôi nhìn Vinh :

- Anh có thấy mùa hè còn dài không, anh Vinh ?

Vinh nói :

- Dài đủ để tôi trồng cây sầu đau trên cát, như Nhị bảo.

Vinh rút điếu thuốc trong bao thuốc đặt trên bàn. Hắn bật lửa châm thuốc.

- Tôi đã vấp ngã.

Phượng cười:

- Tại Vinh chủ quan. Và tại Vinh thích... thay đổi.

Vinh lắc đầu:

- Chị Phượng lầm. Vinh không chủ quan đâu, cũng chẳng thích thay đổi. Vinh khó thể giải thích, tạm hiểu rằng thế giới của Vinh và của chị ít mầu sắc. Nó hào nhoáng nhưng chỉ có hai ba màu.

Tôi nói:

- Anh Vinh bắt đầu triết lý vụn.

Ngó Phượng, tôi mỉm cười :

- Tao gạt mi cho mi ngạc nhiên chơi, mộng du chi đâu. Tao là đá cục, là khối băng, mi quên à ?

Phượng hỏi:

- Vậy mi trốn đi với ai ?

Tôi đáp:

- Một mình. Đã giao hẹn với mi rằng tao vốn cô đơn, tao không quen nhập vào đám đông, ra Nha Trang tao tự tìm nơi chốn ngao du, sao mi còn hỏi ?

Vinh xen vào:

- Tuy nhiên, tôi vẫn trồng cây sầu đau trên cát.

Phượng lại đùa :

- Trồng cây si thú hơn.

Làm ra vẻ chưa hề "say nắng lạ", tôi đề nghị:

- Hôm nay có mục gì không ?

Phượng hất tay về phía Vinh :

- Nhường Vinh câu trả lời.

Vinh nhả khói thuốc, nhìn lên trần nhà:

- Tôi muốn bắt chước Nhị, tập sống cô đơn. Nhị bảo mùa hè còn dài, tôi hy vọng ngày chót của mùa hè, tôi có thể nói một câu thật ngắn với Nhị. Bây giờ, tôi xin kiếu.

Vinh đứng lên, chào tôi, bỏ về. Hắn quên luôn đám bạn của hắn. Họ cũng bỏ về, ngay đó. Phòng khách còn tôi và Phượng. Tôi trách Phượng:

- Mi thích đùa cợt, mi làm Vinh đau khổ.

Phượng cãi:

- Tao hay mi ?

- Mi. Mi ác độc thản nhiên kể chuyện tình của tao trước mặt Vinh.

- Mi cải chinh rồi mà...

- Vinh không bao giờ tin.

- Thực ra mi phịa chuyện?

- Ừ,

- Thế thì, cuối cùng, Vinh sẽ trồng được cây si trên cát hay trong tim mi.

- Tao hy vọng Vinh sẽ trồng cả cây si lẫn cây sầu đau trên cát một lượt. Vì, Phượng ạ, yêu là đi vào cõi buồn.

- Cõi buồn ở nghĩa địa ?

- Ở xa xăm.

- Mi luôn luôn mộng tưởng.

- Còn mi luôn luôn nhạo báng mộng tưởng.

- Tại sao sống cứ phải tìm kiếm cho mình một chốn cô đơn?

- Chốn đó, mình sống riêng với mình.

- Mi đã sống riêng với mi mấy hôm rồi, mi thấy chốn đó ra sao ?

- Tuyệt diệu.

- Mi đếm được bao nhiêu chiếc vỏ ốc trôi giạt trên cát?

- Tao chỉ đếm những dấu chân.

- Dấu chân dã tràng ?

- Dấu chân kỷ niệm.

- Kỷ niệm buồn ?

- Bây giờ thì chưa.

- Bao giờ mới chín buồn ?

- Khi mùa hạ sang.

- Mi có điên không ?

- Không, tao tiên.

- Vậy bây giờ là mùa đông à ?

- Bây giờ sắp mùa hạ.

- Mi bị trúng ngải rồi.

- Có lẽ. Tao bị... thư!

- Ở đâu?

- Tim.

- Tim mi đau nhói, hả ?

- Đau êm ái.

- Đến chú Mạch chữa nhé ?

- Bác sĩ không thể nhổ rễ cây tình mọc trong tim.

Phượng lắc đầu:

- Tao thua mi. Tao đầu hàng mi. Những dấu hỏi trên cát hẳn là chuyện thật. Mi không phịa. Nhị, tao muốn nghe mi kể cõi buồn ở xa xăm của mi.

Tôi cười:

- Mi thú nhận là mi thèm cõi buồn đó đi.

Phượng bĩu môi:

- Còn lâu.

- Thế thì tao ngậm miệng.

Tôi giả vờ đưa tay ôm ngực:

- Tao đang đau, mi ơi, Phượng ơi! Chắc tao bị trúng nắng. Mi cho tao viên thuốc cảm và cho tao lên phòng nhé!

Phượng hỏi:

- Mi nỡ để tao cô đơn hôm nay ?

Tôi nói:

- Mi phóng xe ra bãi biển. Con trai sẽ bu quanh mi, tha hồ mi tuyển lựa, chấm điểm.

Tôi rời phòng khách, lên gác. Phượng nửa tin nửa ngờ :

- Mi cảm thật à ?

Tôi nhăn nhó :

- Nhức đầu quá xá,

Phượng theo tôi. Nó đưa tôi vào phòng của tôi và đi lấy thuốc cho tôi uống. Phượng dặn dò chị Hai săn sóc tôi. Nó bảo tôi nằm nghỉ. Tôi mong có thế. Uống một viên Aspirine chả hại gì. Tôi uống ngon lành khiến Phượng tưởng tôi nhức đầu thật. Con nhỏ tự xóa những dấu hỏi trên cát. Và nó đinh ninh tôi là khối băng, là đá cục, là đứa con gái kỳ cục.

Tôi nằm yên trên giường, mắt mở rộng, hồi tưởng chuyện trưa qua, chiều qua. Với Hoài. Bắt đầu từ các đầm sen bên đường quận lỵ Ninh Hòa. Ở bãi biển Đại Lãnh, chúng tôi trở về đến Ninh Hòa đúng một giờ trưa. Hoài dừng xe ở gốc cây cạnh đầm sen. Mùa này, sen đang nở. Hương sen theo gió đưa lên ướp mát tâm hồn. Dưới bóng mát của cây lớn và trong cái thơm mát của đầm sen, tôi không nhìn thấy nắng đốt mặt đường nhựa nữa, Mầu hoa sen hồng nhạt dịu mắt. Nắng làm nhụy hoa vàng tươi. Những chú cá hồn nhiên nghịch ngợm. Và nước bắn lên, đọng lại trên mặt lá, giúp lá khỏi vàng úa. Tôi đã dựa đầu vào vai Hoài, thiếp ngủ dưới gốc một cây phi lao, trong điệu nhạc tình tự của gió biển. Tôi lại muốn dựa đầu vào vai Hoài, thiếp ngủ dưới một gốc cây bên đường, trong hương thơm của hoa sen. Tình yêu, tôi ngỡ, đang nằm êm trên đài sen. Đẹp như thế và thơm như thế.

- Nhị...

- Dạ.

- Chúng ta thiếu hai chiếc nón.

- Vâng.

- Có sẵn đây rồi. Để anh xuống lấy.

Hoài lội xuống đầm sen. Sợ chàng ngắt hoa, tôi vội nói :

- Đừng lấy hoa.

Hoài cười :

- Anh hiểu ý em mà.

Chàng ngắt hai chiếc lá thật tươi, thật lớn. Chúng tôi đội lên đầu, đi dưới nắng y hệt hai híp-pi.

Về quận lỵ Ninh Hòa, chúng tôi dùng bữa trưa. Có nem là chắc rồi. Nem Ninh Hòa quả là ngon. Sau đó, Hoài đưa tôi đến suối nước nóng Dục Mỹ. Xe chạy ngót mười cây số ngàn. Gió không làm bay lá sen. Vì Hoài đã cột dây như quai nón và tôi dùng tay đè lá. Tôi biết lá sen đã úa héo giùm tóc tôi. Lá sen cúp lại trùm quá tai tôi. Tôi đội lá sen. Tôi đội trên đầu một tình yêu cao quý.

Anh cũng vậy, Hoài nhỉ ? Chúng tôi đi. Mùa hạ đi theo. Chúng tôi đến. Mùa hạ sẽ đến. Mùa hạ dừng lại như một chuyện tình có đoạn kết. Những chuyện tình có đoạn kết (dù đoạn kết mang một ý nghĩa nào) đều là những chuyện tình tẻ nhạt. Chuyện tình đi đến hôn nhân là chuyện tình thảm khốc, Chuyện tình dở đang, đổ vỡ là chuyện tình tầm thường. Bởi nó có đoạn kết. Nhưng một chuyện tình không có đoạn kết luôn luôn, mãi mãi là chuyện tình đẹp. Nó như mây trắng trên nền trời xanh, bay hoài ngàn năm và lúc nào ta cũng thấy nó cao sang, nó là mong ước, là mộng tưởng. Nó lơ lửng trong tâm hồn ta. Nó bàng bạc quanh cuộc đời ta. Tình yêu đó, ta đội trên đầu ta.

- Nhị...

- Dạ.

- Em không muốn tắm suối mát dưới chân đèo Cả, em có muốn đến suối nóng Dục Mỹ ?

- Anh chưa tả dòng suối đó.

- Thường du khách đến để mua trứng gà ngâm nước suối một lát rồi ăn. Có người mua cả gà, làm thịt gà ngay tại đây.

- Eo ơi!

- Có một căn nhà giống chiếc long đình, trống tung bốn bề, cách suối ít thước. Ở rui mè, du khách dùng vôi trắng ghi tên mình làm kỷ niệm. Có kẻ sợ đời không nhớ mình, ghi cả nghề nghiệp. Thí dụ : Văn Ba, thợ cắt tóc, đến suối nước nóng Dục Mỹ ngày... tháng... năm..

- Vậy thôi, em không đến.

- Anh muốn đưa em lên đỉnh đèo Phượng Hoàng nhưng muộn rồi và Thạch Kiều khó leo nổi.

- Tên đèo nghe hay qưá.

- Xuống khỏi đèo đã là cao nguyên.

- Tức là ta lên cao?

- Qua đỉnh đèo chút xíu, em sẽ thấy quận lỵ Khánh Dương đìu hiu. Quận lỵ được đánh đai bằng rừng núi.

- Ở đó hẳn thiếu chân trời.

- Em muốn đến không ?

- Anh bảo muộn rồi.

- Hoài lặng thinh. Chàng vòng xe lại. Chúng tôi đi, không bao giờ đến. Chúng tôi đi và chúng tôi về. Về nguyên vẹn. Và tôi được nằm trên giường hồi tưởng chuyến đi. Hồi tưởng mưa xanh. Hồi tưởng nắng đào. Hồi tưởng gió biển. Hồi tưởng hương sen. Những hồi tưởng ấp ủ một chuyện tình.

° ° °

>Vào buổi chiều, Vinh tới. Hắn gõ cửa phòng tôi rồi lùi lại thật xa cửa phòng. Tôi hé cửa nhìn ra. Thấy Vinh ôm một bó hoa. Lúc đó, tôi đã sửa soạn xong, định ghé qua phòng của Phượng nói chuyện gẫu. Vinh mỉm cười chào tôi và hỏi :

- Tôi có thể tự tay cắm hoa trong phòng của Nhị ?

Tôi chưa kịp trả lời, Vinh đã nói:

- Tôi biết là tôi lố lăng. Không ai tặng hoa bạn mình vào buổi chiều.

Tôi sững sờ nhìn Vinh, một Vinh khác lạ với Vinh lần đầu gặp gỡ, một Vinh bắt tôi hối hận những gì đã nghĩ về Vinh bằng ý nghĩ chủ quan và đầy thiên kiến của mình. Vinh cầm bó hoa trên tay. Hình như, Vinh cảm động. Hình như, Vinh đang run rẫy. Vinh nói giọng trầm xuống:

- Chiếc xe sớm nhất từ Đà Lạt vừa về.

Tôi mở rộng cửa phòng :

- Anh chân thành quá, anh Vinh. Không có sự chân thành nào lố lăng cả.

Vinh bước tới:

- Tôi rất sung sướng nghe câu nói ấy của Nhị. Tôi đã chờ Nhị nói như thế. Tôi vẫn chờ đợi Nhị. Quả thật, mùa hè còn dài. Cho tôi.

Tôi đưa cả hai tay đỡ bó hoa hồng nhung:

- Cám ơn anh Vinh. Anh không bận chứ ?

- Không.

- Anh xuống phòng khách trước nha, tôi sẽ xuống sau. Ta cần nói chuyện với nhau.

- Hết chiều nay ?

- Vâng, hết chiều nay.

Vinh ngoan ngoãn nghe lời tôi. Lát sau, hai chúng tôi ngồi đối điện ở phòng khách. Im lặng hoàn toàn. Vinh hết thích âm nhạc chăng ? Hắn đốt thuốc và chẳng biết mở đầu câu chuyện thế nào. Vinh ngu ngơ, khờ khạo một cách dễ mến.

Hắn nhìn khói thuốc, nhìn tôi, nhìn lên trần nhà, nhìn ra cửa. Vinh giống hệt một cậu trai vừa lớn lần đầu tiên làm quen với một cô gái. Vinh tương phản Vinh nhố nhăng hôm nào. Tôi hỏi:

- Anh còn nhớ anh bảo có nhiều chuyện muốn nói với tôi chứ, anh Vinh?

- Vâng, tôi chưa quên, tôi không quên.

- Anh muốn nói chuyện gì trước?

- Nhị thấy tôi thay đổi nhiều, phải không ?

- Anh không thay đổi đâu, anh sống thật với anh.

- Tôi thì cho là mình thay đổi. Vì Nhị đã làm tôi thay đổi.

- Anh vừa nói "mùa hè còn dài"...

- Tôi nhớ.

- Nếu anh thay đổi, tôi mừng giùm anh. Người ta chỉ tìm thấy những gì ngưới ta mong ước trong nỗi cô đơn. Anh đồng ý là khi ta mơ mộng, ta thường ngồi một mình ? Anh đã khi nào mơ mộng ?

- Tôi đang mơ mộng.

- Anh đang nói chuyện với bạn anh.

- Tôi đang nói chuyện với Nhị. Nhị, tôi nói thật, mùa hè dài quá. Tôi sợ nó không bao giờ chấm dứt. Tôi đành vội vã và tôi biết Nhị sẽ trách móc sự vội vã đó. Nhị bảo : Không có sự chân thành nào lố lăng cả. Tôi hỏi thêm : Có sự chân thành nào bị kết tội không ?

- Không.

- Vậy đây là sự chân thành của tôi: Tôi yêu Nhị. Tôi yêu Nhị, Nhi hiểu chưa?

Vinh nói hết câu, không chờ tôi trả lời, đứng ngay dậy và bước nhanh ra cửa. Rồi cắm cổ chạy thoát khỏi ngôi biệt thự. Tôi nhìn theo. Và dựa đầu vào thành ghế. Ngẩn ngơ. Vinh đã là những ý nghĩ lởn vởn trong tâm hồn tôi. Bây giờ, Vinh bắt tôi xao xuyến. Tôi đã tưởng không bao giờ xao xuyến vì Vinh. Tôi đã coi thường Vinh. Mùa hè chưa đến. Mùa hè quá dài. Tôi đứng giữa hai mùa hè của hai người. Một người chưa nói yêu tôi. Một người đã nói yêu tôi.

Một người như là mộng. Một người như là thật. Cả hai làm thành một biên giới kỳ ảo cho một chuyện tình. Hãy ví hai người là hai bờ cỏ đầy hoa. Ở giữa là con đường nhỏ. Tôi đi trên con đường ấy. Con đường tình mộng của tuổi vừa lớn. Bên đây dốc mơ sẽ là bên kia dốc mơ, hoặc ngược lại, nếu ta cứ mất công phân chất, tìm đến. Đừng bao giờ tìm đến. Đừng bao giờ dại dột tìm đến. Con đường tình yêu không hề có lửa trước mặt để ta nhận thấy. Mãi mãi điểm nhận đường phủ kín cơ hồ biển sớm tinh mơ bị phủ kín bằng khói sóng.

- Nhị...

Tôi giật mình. Phượng đang còn đứng ở cầu thang.

- Tưởng mi mộng du hoàng hôn.

Phượng thong thả bước xuống.

- Tao qua phòng mi. Chẳng thấy người, chỉ thấy hoa. Của ai tặng đó ?

Tôi đáp:

- Của Vinh.

- Nó làm mi buồn cười à ?

- Làm tao suy nghĩ.

- Nó đã trồng cây sầu vào tim mi ?

Phượng đã xuống hẳn cầu thang và tới ngồi trên thành chiếc ghế tôi đang ngồi. Con nhỏ vuốt tóc tôi:

- Phải không, đá cục ?

Tôi lắc đầu ;

- Không.

- Vậy nó bắt mi suy nghĩ cái gì ?

- Một điều khó nói.

- Mi luôn luôn bầy đặt.

- Có lẽ.

- Chắc chắn chứ còn có lẽ chi nữa.

- Ừ, chắc chắn. Mi muốn hiểu sao thì hiểu.

- Mi khiến tao buồn lây.

- Mi không biết buồn đâu, Phượng ạ ! Nếu thật sự mi thích buồn và sung sướng với nỗi buồn của mình, tao khuyên mi nên ra bãi biển vào sáng sớm tinh mơ. Vào lúc đó biển lên tiếng. Và mi sẽ được nghe biển thuyết giảng kinh tương tư!

Phượng cười nắc nẻ. Con nhỏ véo má tôi:

- Mi khôi hài khá lắm. Mi là hề...

Tôi không cãi, Phượng hỏi:

- Chán biển chưa ?

Tôi nói:

- Yêu thêm. Tại sao lại chán biển? Tao đã gửi linh hồn tao cho biển.

Phượng vỗ mạnh vai tôi:

- Đi ăn cơm chứ ? Đêm nay tao sẽ thức trắng nghe mi ca ngợi biển.

Tôi đứng dậy:

- Biển Nha Trang,

Hai chúng tôi rời biệt thự. Nắng đã tắt. Ngồi trên xe của Phượng tôi cảm thấy lành lạnh. Cái lạnh của ngọn heo may đầu thu. Tôi sợ hãi. Hình như sắp hết mùa hè. Hình như mùa hè đã tới, như Hoài thường nhắc về một mùa hè của chàng và tôi.

8

ĐÃ HƠN MỘT TUẦN CHỜ ĐỢI HOÀI. Mỗi sáng sớm tôi đều ra bãi ngồi bó gối trên một chiếc dép. Chiếc kia cạnh đó, mong sự tình cờ của Hoài. Chàng sẽ đến, im lặng ngồi xuống bên tôi. Nhưng sự tình cờ đã không có, suốt tuần lễ. Cũng suốt tuần lễ, tôi chờ đợi tiếng còi xe của Hoài, chờ đợi bàn tay vẫy mời của Hoài. Nỗi sợ hãi của tôi lớn dần. Phải vì mùa hè đã tới và Hoài đã tan loãng theo giải nắng nào ? Từ hôm tặng hoa cho tôi, Vinh cố tình tránh gặp tôi. Vinh không đến nhà Phượng, không dùng cơm chung với chúng tôi nữa. Vinh muốn được cô đơn. Vinh muốn nhìn cây sầu của mình mỗi lúc mỗi mọc cao trên bãi cát ? Thế lại hay. Để tôi giữ mãi ý nghĩ tốt đẹp về Vinh. Tôi nhớ Hoài đã nói rằng sẽ viết một bức thư tình trên cát - một bức thư tỏ tình trên cát, tỏ tình với tôi - khi mùa hạ tới. Mùa hạ là mùa xuân của học trò. Mùa hạ có là mùa thu của tình yêu ? Tôi mong mỏi đọc những lời tỏ tình của Hoài. Tỏ tình trên cát. Trên một bãi cát, nơi tôi đã ngồi trầm lặng nghe biển thuyết giảng tình yêu, nghe biển mời mơ, gọi mộng. Như tôi, Vinh đang mong mỏi nghe tôi tỏ tình. Vinh đang mong mỏi tôi trả lời câu "Tôi yêu Nhị, Nhị hiểu chưa". Viên ngọc trai tôi mơ ước phải chăng là nỗi đợi chờ ?

Hôm nay, Phượng và bác sĩ Mạch vào Cam Ranh. Tôi ở nhà. Tôi không thích đi đâu. Phượng đã tốn khá nhiều lời tả cảnh Cam Ranh, cảnh biển Cam Ranh, những đụn cát trắng xóa, những khoảng biển trong xanh nhìn rõ từng con cá nhởn nhơ bơi lội. Tất cả đều không quyến rũ tôi bằng ngồi im lặng đợi chờ một âm thanh quen thuộc làm rung động tận cõi lòng tôi. Như tiếng gọi của Hoài. Như tiếng còi xe Bridgestone của Hoài. Đã hơn một tuần lễ. Đã hơn một tuần lễ ! Buổi sáng tĩnh mịch lạ thường. Đưa từ xa tới một giọng hát khiến tôi nao nao : Sao không thấy em lại ? Để hồn anh ngẩn ngơ... Anh ngẩn ngơ hay em ngẩn ngơ, anh Hoài ? Tình vêu khó nói nên lời. Chỉ nghe man mác một trời bâng khuâng... Vinh, anh hãy hiểu thế và đừng bắt tôi lên tiếng cho câu hỏi chân thành của anh. Hoài, em đã hiểu và em không bắt anh tỏ tình bằng lời. Chúng ta cùng nghe thấy một trời bâng khuâng. Nghe man mác. Thế đã thừa. Cho chúng ta.

Tôi tưởng Hoài biệt tích cơ hồ những vần thơ của chàng bị sóng cuốn ra khơi. Nhưng Hoài lại tới. Anh bấm chuông điện hỏi tôi. Chị Hai dẫn anh vô phòng khách, nơi tôi đang ngồi suy nghĩ về một nỗi mong đợi. Tôi ngạc nhiên thích thú. Hoài mỉm cười, tự phụ :

- Anh biết chắc chắn em ở nhà.

Tôi đứng đậy :

- Luôn luôn kiêu ngạo.

Hoài hỏi:

- Mình đi được chứ ?

Tôi nói:

- Tại sao không ?

Hoài nói:

- Đi gần thôi, chúng ta đã đi xa, bây giờ đi gần. Em có đồng ý với anh rằng đi gần khó hơn đi xa ?

Tôi nói:

- Em không biết. Cứ đi. Và đi với anh là đủ.

Tôi theo Hoài, rời ngôi biệt thự. Chiếc Bridgestone chở chúng tôi sang Tháp Bà. Hoài dừng xe dưới chân tháp và bảo :

- Đây là một chỗ gần.

Chúng tôi leo những bậc tháp. Tháp Bà êm mơ của nhạc sĩ Minh Kỳ đó. Tôi không nhìn rõ vẻ êm mơ của nó. Ngước mắt nhìn lên ngọn Tháp, bỗng bùi ngùi giùm công trình sáng tạo của những nghệ sĩ Chàm cổ xưa. Một ngọn đèn điện trên nóc một ngọn tháp cũ là sự mỉa mai cho tinh thần bảo cổ. Ai đã nghĩ ra cái sáng kiến này và ai đã can đảm gắn ngọn đèn điện ? Không phải là người Chàm, tôi cũng phẫn nộ tột cùng. Tháp Bà đâu còn là một danh lam, thắng cảnh. Người ta gắn đèn điện đã quá đáng, người ta xây gạch hoa trên nền trong tháp. Xây cả chỗ dựng xe và chỗ cho du khách... trú mưa! Cảnh cổ kim hòa điệu một cách luộm thuộm này khiến tôi nhớ tới một bài phê bình thơ Nguyễn Bính của Hoài Thanh. Nhất là câu chua chát khi nhà phê bình nghĩ tới những ngọn đèn điện trong những ngôi chùa cổ kính. Tôi bảo Hoài:

- Ẹm không ưa chốn này.

- Tại sao ?

- Nó làm em ghét thắng cảnh.

- Em thấy chưa ?

-Thấy gì?

- Đi xa dễ hơn đi gần. Gần quá thường tẻ nhạt, tầm thường.

Tôi nín lặng. Chúng tôi bỏ Tháp Bà không chút luyến lưu. Xuống hết những bậc đá, Hoài nói:

- Mười năm trước, Tháp Bà êm mơ lắm, Nhị ạ !

Tỏi thở dài :

- Bấy giờ em còn nhỏ.

Hoài nắm tay tôi :

- Bây giờ em cũng hãy còn nhỏ.

Chàng nhìn tôi, nghiêm nghị một chút :

- Đừng cãi. Nếu em tưởng đã lớn, anh xin em hãy tưởng em còn bé. Anh muốn thế. Luôn luôn ví mình như lộc non. Chớ dại dột làm lá. Vì lá sẽ úa, sẽ rụng, sẽ hết đời lá.

Tôi nói :

- Tình yêu đã có câu định nghĩa rồi.

Hoài gật đầu :

- Câu định nghĩa của em chắc đúng.

Tình yêu như lộc non. Tôi lại ngồi ôm chặt Hoài trên chiếc Bridgestone. Xe chạy một quãng, Hoài rẽ bên phải. Con đường thật đẹp. Hai bên, cây lá xanh um. Xe leo dốc thoai thoải. Hoài chở tôi lên đồi Lasan. Tôi vùng vằng :

- Em không thích tới đây.

- Tại sao ? Nơi này vắng vẻ mà.

- Vắng vẻ như thiên đường ! Phải có một chỗ nào khác chứ ?

- Xuống Hòn Chồng nhé ?

- Vâng.

Hoài quay lại. Xẹ xuống dốc dễ sợ. Hoài nói :

- Em ghét xuống thiên đường thì mình xuống địa ngục.

Tôi cãi :

- Xuống biển. Biển không bao giờ là địa ngục. Biển mới là thiên đường mơ ước.

- Của em ?

- Của chúng mình.

Hoài dựng xe cạnh chiếc quán lá bỏ trống. Chúng tôi lần từng phiến đá nhỏ làm thành những bậc thang chênh vênh đi xuống. Ngoảnh mặt lại, tôi thấy mặt đất quá cao. Hoài nắm chặt tay tôi, giúp tôi nhẩy từ tảng đá này sang tảng khác. Hòn Chồng trước mắt tôi. Tản Đà đã tới núi Dục Thúy, đã phẫn nộ vì những vần thơ ngớ ngẩn của một viên quan lại khắc trên đá. Đá quả là vô tình. Đến nỗi chịu đựng nổi cả những nét chữ viết bằng đủ mầu sơn của du khách đủ thứ nghề. Con nhỏ Phượng có lý. Thành phố du lịch cần những ông thị trưởng nghệ sĩ. Tháp Bà, Hòn Chồng không còn là thắng cảnh của Nha Trang nữa. Hoài dẫn tôi tới một vách đá vắng, xa Hòn Chồng hàng chục thước. Chúng tôi ngâm chân dưới nước biển. Tôi hỏi :

- Anh chưa dắt em qua Hòn Chồng.

Hoài lắc đầu :

- Chưa. Anh sắp kể em nghe sự tích Hòn Chồng.

Tôi giục :

- Anh kể mau đi.

Hoài đã nhấc chân khỏi nước :

- Cứ bình tĩnh, Kiều Nhị. Câu chuyện còn đó, bởi vì, ngoài anh không ai nhớ để kể cho ai nghe.

- Cả dân Nha Trang nữa?

- Người Nha Trang đã quên sự tích Hòn Chồng. Do đó, những thiếu nữ Nha Trang thường lận đận về tình yêu. Cô nào càng đẹp bao nhiêu càng bất hạnh bấy nhiêu.

- Phải vì biển dạy họ lãng mạn ?

- Không.

- Thế vì sao ?

- Vì họ quên biển đã kể cho họ nghe sự tích Hòn Chồng.

- Sự tích thiêng liêng vậy ư ?

- Thiêng liêng chứ. Em hãy nghe anh kể bằng sự tôn kính và ngưỡng mộ. Nhưng Kiều Nhị, em phải hỏi tại sao mãi hôm nay anh mới kể sự tích Hòn Chồng cho em nghe đi.

- Tại sao ?

- Tại anh thoáng nghe mùa hạ tới.

- Em có thể đoán được sự tích ấy không ?

- Em thử đoán coi.

- Đó là một chuyện tình sầu thảm ?

- Sai rồi.

- Là chuyện tình chung thủy ?

- Không hẳn thế. Em nghe đây...

Hoài ngừng lại. Chàng rút điếu thuốc từ túi áo, kẹp giữa hai ngón tay và chưa chịu đốt. Tôi hỏi:

- Anh đang thêu dệt sự tích Hòn Chồng ?

Hoài đưa điếu thuốc lên môi. Chàng quẹt diêm châm thuốc và hít một hơi đẫy đà. Chàng nhả khói thuốc, đăm chiêu nhìn làn khói thuốc tan loãng vì gió biển thổi mạnh, Hoài nói:

- Sự tích Hòn Chồng dài lắm và xưa lắm. Bắt đầu có tên Hòn Chồng là đã có sự tích. Vì xưa lắm người ta không nhớ hết mà kể và thường người ta bịa đặt cho dài. Anh sẽ kể sự tích Hòn Chồng thật ngắn, vừa hai câu thật đúng văn phạm để em khỏi nghĩ anh thêu dệt.

Tôi mỉm cười:

- Hôm nay anh tác điệu quá !

Hoài không cười, Và bất chợt tôi cảm thấy mùa hè đã sang. Và tôi sợ hãi vẩn vơ. Hoài vỗ nhẹ vai tôi:

- Em hãy nhìn Hòn Chồng I

Tôi làm theo lời Hoài.

- Có thấy Hòn Chồng sắp đổ?

Tôi lắc đầu :

- Còn lâu mới đổ.

- Em quả quyết thế vì em chưa nghe sự tích Hòn Chồng. Thực ra, Hòn Chồng sắp đổ.

- Hình như em vẫn chờ nghe anh.

- Nếu hai người trai gái tưởng rằng đã yêu nhau đi qua Hòn Chồng thì người con gái sẽ lận đận vì tình yêu và suốt đời đuổi bắt hạnh phúc đến cạn khô nước mắt. Nếu hai người trai gái yêu nhau đi qua Hòn Chồng thì Hòn Chồng sẽ sụp đổ và Hòn Chồng biến thành những tảng đá tầm thường, sẽ chẳng còn ai ra đây nữa.

- Đó là sự tích Hòn Chồng ?

- Đúng vậy. Anh thề không bịa đặt. Những thiếu nữ đẹp nhất Nha Trang, nổi tiếng nhất Nha Trang, đều đã đi qua Hòn Chồng với người mình tưởng cũng yêu mình như mình yêu họ. Nhưng người ấy có một chút toan tính. Và, rốt cuộc, những thiếu nữ đẹp nhất Nha Trang đều đã là những kẻ bất hạnh nhất trong cuộc tình.

- Còn những người yêu nhau không toan tính.

- Chưa có những người ấy, Nhị ạ ! Và nhờ đó, Hòn Chồng chưa sụp đổ. Em hiểu chứ, nếu Hòn Chồng sụp đổ, tình yêu của họ sẽ sụp đổ luôn và sẽ biến thành những tảng đá tầm thường, hèn mọn.

- Anh và em có nên đi qua Hòn Chồng ?

- Không nên.

- Tại sao ?

- Anh không thể trả lời. Em đừng bắt anh trả lời. Em còn phải về. Anh còn phải đi. Hãy để anh suốt đời lận đận. Riêng em, chỉ một mình em, anh muốn em không lao đao vì hạnh phúc. Anh không tưởng. Chúng ta không tưởng. Tình yêu không tưởng. Biển vẫn tồn tại. Khói sóng vẫn tồn tại. Nhưng tình yêu của hai người chẳng bao giờ huyền ảo mãi như khói sóng ôm ấp biển sớm tinh mơ. Bạn em bảo em mộng du. Kiều Nhị, hãy dối em một chút, rằng, em đã mộng du, mộng du tròn một mùa hạ ở Nha Trang.

Hoài nói. Nói nhiều. Chàng không biết thủy triều đã dâng đầy mắt tôi. Và thủy triều không rút, thủy triều làm chết đuối một chiêm bao. Từ lúc nào, tôi chẳng rõ, Hoài đã thấm khô nước mắt giùm tôi, đã làm thủy triều rút vội. Bây giờ, tôi chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ vào kè đá. Cơ hồ, sóng muốn làm vỡ đá. Vỡ đá hay vỡ tim tôi ?

- Nhị...

- Dạ,

- Sáng mai, mùa hè sẽ tới hay không đời nào có mùa hè.

- Làm sao anh biết ?

Hoài châm điếu thuốc mới. Chàng thả ý nghĩ ra biển khơi hay thu gọn biển khơi trong ý nghĩ của chàng ? Hoài đã khác lạ Hoài buổi đầu tôi gặp gỡ. Khác lạ và tuyệt vời.

- Nhị...

- Dạ.

- Em chưa quên một câu nói của anh khi chúng mình lênh đênh trên mặt biển ?

- Vâng, em vẫn nhớ.

- Chắc chắn, anh muốn đi và không muốn đến. Em cũng đừng đến như em đã không muốn đến Suối Mơ dưói chân đèo Cả.

- Nhưng anh không muốn đến đâu ?

- Đến một nơi chúng ta cùng muốn đến.

- Là đâu ?

- Là con đường không thể đi bằng xe hơi hay bằng chân.

- Rồi làm sao anh biết, sáng mai, mùa hè sẽ tới hay không đời nào có mùa hè?

Hoài không chịu trả lời tôi. Chàng cố ý quên lãng câu hỏi của tôi. Hoài nói :

- Chúng ta đã có biển sớm, phải không, Nhị ?

Tôi nói:

- Vâng, biển sớm huyền ảo.

- Chúng ta có biển trưa, phải không, Nhị ?

- Vâng, biển trưa huyền ảo.

- Một tuần lễ xa vắng em, anh đã suy nghĩ nhiều. Anh thấy chúng ta còn thiếu biển đêm. Anh hơi vội vàng nói với em là sáng mai mùa hè sẽ tới hay không đời nào có mùa hè. Có lẽ, phải có một biển đêm chúng ta mới biết mùa hè sẽ tới hay không đời nào có mùa hè. Và...

- Và sao nữa ?

- Và khi biết mùa hè tới hay không đời nào có mùa hè, chúng ta mới có thể đi qua Hòn Chồng hay không đi qua Hòn Chồng.

Tôi lặng thinh. Rồi Hoài cũng lặng thinh. Chúng tôi nghe sóng vỗ vào kè đá.

Chúng tôi nhìn biển xa. Biển xa trầm lặng. Hoài đốt thuốc liên miên. Biển đêm ! Biển đêm ban cho tôi một ân huệ hay gửi một lời giăng giối ? Biển đêm tặng tôi một chiếc lá sen tươi để che nắng hạ hay tặng tôi những tia nắng lửa đốt úa tóc xanh ? Biển đêm, tôi sẽ tới. Xin đợi tôi.

° ° °

>Buổi chiều, Vinh đến mời Phượng và tôi đi ăn ở nhà hàng khác. "Ăn mãi ở Fregate đã phát ngấy". Vinh vui vẻ nói thế. Lâu lâu gặp Vinh thấy Vinh khác lạ và thấy mình đầy lỗi lầm vì trót lỡ phán xét Vinh. Phượng đùa bỡn hỏi Vinh:

- Hơn tuần nay Vinh bận tưới cây sầu trên cát hay sao mà tránh mặt thế ?

Vinh nói:

- Vinh chưa kiếm được cây sầu, chị ạ !

Phượng ngó tôi, ranh mãnh :

- Bảo nhỏ Nhị chỉ chỗ giùm.

Tôi cười :

- Cây sầu ở một nơi xa lơ xa lắc.

Vinh chớp mắt, xúc động :

- Quả thật, cây sầu ở xa lắm. Tôi đã đi kiếm. Khi tôi tới, cây sầu biến thành cây vui. Có phải người ta thường tìm niềm vui trong nỗi sầu không, Nhị ?

Tôi nói:

- Anh hiểu rõ hơn tôi, anh Vinh ạ!

Phượng tinh ý, cáo lỗi lên gác gọi điện thoại về Sàigòn cho ba má. Phòng khách còn hai đứa tôi. Đã vắng những người bạn trai diêm dúa của Vinh. Tôi đã coi thường Vinh, đã để Vinh lởn vởn trong ý nghĩ của tôi và, bây giờ, tôi bối rối vì Vinh. Vinh gợi chuyện :

- Nhị nghe một bản nhạc nhé ?

Tôi hỏi:

- Anh có đĩa hát mới ?

Vinh đáp:

- Vâng, đĩa hát mới, danh ca mới nhưng bài hát thì quá cũ.

Và không chờ tôi nói thêm, Vinh đã đến giàn máy lắp một đĩa hát. Vinh đứng gần đó, không nhìn tôi mà nhìn vòng đĩa hát quay. Giọng Andy Williams ấm áp lan tỏa ngập phòng khách. Bản nhạc You don’t know me quá cũ song lại quá mới. Ít ra, với Vinh và tôi. "Em bắt tay tôi. Rồi em nói : Chào anh. Tôi bối rối không nói nên lời. Trái tim tôi đập liên hồi. Và thấy thế, ai cũng bảo rằng em đã thấu hiểu tình tôi. Nhưng em đã không hiểu tôi"...

- Anh Vinh !

Vinh quay lại.

- Bài hát không cũ chút nào cả.

Vinh ngượng ngùng :

- Nhờ Andy Williams hát.

Tôi bảo Vinh tắt máy. Rồi nói bằng giọng nói buồn bã. Buồn bã thật tình.

- Có thể, mai tôi về Sàigòn, anh Vinh ạ!

Vinh ngây người giây lát. Lúc này, trông Vinh thật dễ mến. Vinh khẽ thở dài :

- Nếu Nhị về Sàigòn, tôi cần ở lại Nha Trang.

- Anh không về Sàigòn ?

- Không, tôi cần ở lại. Tôi sẽ mê bản nhạc Nha Trang, ngày về của Phạm Duy vô cùng. Tại sao Nhị về sớm thế ? Nhị nói mùa hè còn dài mà ?

- Tôi nói "có thể" mai tôi về.

- Nhị đã mua vé máy bay chưa ?

- Tôi về bằng xe hàng.

- Mùa hè còn dài mà ?

- Mùa hè "có thể" sắp hết. Anh đừng trách tôi không hiểu anh vì chính anh đã chưa hiểu tôi.

- Rồi chúng ta có hiểu nhau ?

- Tôi hiểu anh rồi, anh Vinh. Tôi định sẽ kể anh nghe sự tích Hòn Chồng mà ngoài tôi, không một thiếu nữ nào biết để kể cho anh nghe.

- Bao giờ tôi được nghe sự tích Hòn Chồng ?

- Ngày mai hay chẳng bao giờ.

Vinh lắc đầu, chán nản :

- Quả thật, tôi chưa hiểu chút nào về Nhị...

Vinh tiếp :

- Và hiểu nhau có phải là một cần thiết cho tình yêu ? Hình như, người ta đã yêu nhau mà vẫn chẳng cần hiểu nhau.

Tôi nhìn Vinh. Nhìn Vinh không chớp mắt. Và trong đôi mắt tôi, con đường học trò lãng đãng sương thu hiện ra. Vinh đang đi trên con đường tuyệt vời đó như Hoài đã đi. Vinh rõ ràng. Vinh khác với Hoài chập chờn. Vinh làm tôi bối rối như Hoài đã làm tôi xao xuyến.

- Vinh.

Vinh bước gần tôi. Tôi đưa tay ngăn Vinh :

-Anh đừng bước thêm nữa.

Vinh hỏi tôi, giọng tràn ngập xúc động:

- Bao giờ tôi có thể bước thêm ?

Tôi nói :

- Làm sao trả lời anh cho thật với lòng tôi ? Đừng, anh đừng nên hỏi, anh Vinh.

Vinh cười chua chát :

- Chắc là Nhị còn say nắng ?

Tôi đáp bâng quơ :

- Có lẽ vậy.

Vinh đã ngồi xuống ghế, cằm tựa lên một bàn tay của một cánh tay đặt trên đùi. Dáng ngồi của Vinh quá đổi ủ ê. Nhưng từ nỗi ủ ê đó chứng tỏ Vinh không còn là cậu trai mụ sữa trong ý nghĩ của tôi,

- Anh Vinh.

- Tôi đang nghe Nhị đây,

- Anh hãy hút một điếu thuốc lá.

- Để làm gì ?

- Khói thuốc sẽ bảo anh cần làm gì.

Vinh châm một điếu thuốc, nhả khói, nhìn lên trần nhà. Tôi nói:

- Anh thích nhạc tình ?

Vinh vụt nhìn tôi, nhìn say đắm :

- Vâng.

- Tôi cũng vậy. Tôi có thuộc một câu trong một bài hát quên tên...

- Nhị thử hát câu ấy.

- Tôi đọc cho anh nghe nhé!

- Nhị đọc đi.

- "Khi một người ta tưởng chừng ta đã yêu rời bỏ ta, đó là lúc ta khóc... "

Tôi chưa kịp nói thêm, Vinh đã nói :

- Nếu Nhị bỏ về Sàigòn ngày mai, tôi sẽ ở lại Nha Trang..

- ... Để lang thang trên bãi cát, hát Nha Trang, ngày về của Phạm Duy ?

- Và để khóc.

Chẳng hiểu khói thuốc có vô tình bay vào mắt Vinh không mà ở đuôi mắt Vinh thấy ngập ngừng hai giọt lệ.

- Anh Vinh ạ, đôi khi người ta đã rung động thật tình về một cảnh tượng mà mình coi là tầm thường đến ghét bỏ.

Vinh nhả một vòng khói thuốc và thổi theo một làn hơi mạnh làm tan ngay vòng khói :

- Cám ơn Nhị. Cám ơn sự rung động thật tình của Nhị.

Vinh đứng dậy :

- Tôi chờ đợi và ngỡ rằng phải chờ đợi thật lâu mới đtrợc nghe câu nói thật tình của Nhị. Nhưng Nhị nói sớm hơn nỗi chờ đợi của tôi và...

Vinh bước ra phía cửa thật nhanh. Rồi quay lại :

- Tôi sung sướng vô cùng. Tôi sẽ chờ nghe tiếp sự tích Hòn Chồng vào ngày mai.

Vinh bỏ về vội vã, quên chào tôi. Khi tôi nói "ngày mai hay chẳng bao giờ " thì Vinh đã rời ngôi biệt thự.

o O o

Một chỗ ngồi khác trên bãi biển quen thuộc Nha Trang. Hoài đã tới đó. Rất đúng hẹn. Chàng hút thuốc và nhìn ra khơi. Bãi biển vắng vẻ. Biển đêm trầm lặng như biển sớm. Ngoài xa, những chiếc thuyền câu sắp thành một hàng dài thắp đèn sáng rực một vùng biển. Tôi có cảm tưởng biển đang vào hội hoa đăng. Mùa hạ là mùa xuân của biển. Mùa xuân của biển là mùa xuân của một chuyện tình. Của tôi. Có phải bất cứ lúc nào ta cũng được ngắm nhìn một vùng ánh sáng của biển đêm đâu. Biển sớm hạ huyền ảo với màn khói sóng. Biển đêm hạ huyền ảo với đèn thuyền câu. Khói sóng và ánh sáng là vẻ quyến rũ muôn đời của biển Nha Trang. Trái tim Nha Trang chìm trong màn khói sóng và vùng ánh sáng chăng ? Chưa ai dám đoan quyết. Có điều trái tim Nha Trang không bao giờ nằm trên ngọn Tháp Bà, trên Cầu Đá hay trên Hòn Chồng... Hình như, mỗi người đến Nha Trang phải tự tìm kiếm một niềm mơ ước tuyệt vời. Nếu ai gặp, họ sẽ nhìn rõ trái tim của Nha Trang. Và khi ấy, Nha Trang biến thành miền đất hành hương của tình yêu, của mộng tưởng.

Hoài vẫn ngồi trầm lặng nghe sóng táp vào bờ. Chàng không biết tôi đã ra và đứng sau lưng chàng. Giờ này, hẳn Phượng đã ngủ và Vinh thì đang mơ mộng. Phượng chẳng thể ngờ rằng tôi lại mộng du. Buổi chiều, lúc Vinh quá xúc động bỏ về, Phượng xuống phòng khách. Thấy tôi ủ rũ thu gọn mình trong chiếc ghế rộng bọc đa, Phượng cười ngạo mạn:

- Cuối cùng, tao đã thắng cuộc.

Phượng hỏi tôi:

- Nó làm mi buồn phiền ?

Tôi gật đầu :

- Ừ, Vinh đã làm tao buồn lắm.

- Tại sao ?

- Vì hắn sắp khóc!

- Tại sao ?

- Vì, có thể, rất có thể, sáng mai tao về Sàigòn.

Phượng ngạc nhiên :

- Mi về Sàigòn.

Tôi thản nhiên đáp:

- Về Sàigòn.

- Mi hứa ở đây hết mùa hạ cơ mà ?

- Mùa hạ sắp hết rồi.

- Mi điên à ?

- Mùa hạ sắp đến vậy.

- Đúng là mi điên. Mi trúng ngải. Mi bị bỏ bùa... Hoặc là mi... thất tình. Hay mi làm vỡ mộng?

- Tất cả.

- Tao không hiểu nổi mi nữa.

- Hiểu làm gì. Đừng dại đột tìm hiểu Phượng ạ !

- Nói thật đi, Nhị.

- Nói thật cái gì ?

- Chuyện tình của mi.

- Sẽ chỉ là mộng du, mộng du tròn một mùa hạ.

- Mi có đau khổ vì trót mộng du?

- Mộng du không biết đau khổ.

Phượng vỗ vai tôi, an ủi :

- Người trồng cây mộng như loài dã tràng se cát.

Tôi nói:

- Dã tràng mãi mãi se cát.

- Không được gì cả.

- Mi nhầm, dã tràng hoàn toàn hạnh phúc vì được se cát mãi mãi, vì được mộng tưởng mãi mãi,

Phượng nhún vai:

- Tao thua mi rồi.

Chúng tôi đưa nhau đi dùng cơm.Và trở về thật sớm, bỏ dự định đến Nha Trang Hotel nghe nhạc. Tôi chờ đèn ở phòng của Phượng tắt mới lén ra bãi biển. Tôi cũng đứng bất động. Trên bờ, một vài quán hàng còn mở cửa. Những bản nhạc chiều chuộng một hai người khách muộn màng nghe rã rời, uể oải. Ánh sáng của mấy ngọn đèn ống hắt lên những tàu lá dừa trông buồn bã chi lạ. Gió đêm lay động. Những tầu lá kêu xào xạc. Chỉ có hai người trên bãi cát biển đêm. Trước mặt họ là một vùng ánh sáng. Là đêm hội hoa đăng của biển. Sau lưng họ là quạnh hiu. Tôi khẽ gọi :

- Anh Hoài.

Hoài đứng dậy :

- Em đã tới.

Tôi đưa tay vuốt những sợi tóc bay ngang mặt:

- Vâng, em đã tới.

Hoài khoác tay lên vai tôi:

- Chúng mình đi dạo một lát.

Chúng tôi đi. Đêm không trăng nhưng sao đầy bầu trời đẹp. Sao còn ngập mặt biển. Cả hai cùng im lặng. Khỏi chỗ Hoài đã ngồi chờ tôi một quãng xa, Hoài hỏi :

- Đã bao giờ em thấy biển đêm chưa, Kiều Nhị ?

Tôi đáp:

- Mới bây giờ. Biển đêm hạ tuyệt vời quá.

Hoài nói:

- Đêm hạ ta mới nhìn rõ trái tim của biển.

Hoài dừng bước, chỉ tay về phía thuyền câu sáng rực một vùng biển:

- Đó là trái tim của biển, là tâm hồn của biển.

Tôi thêm .

- Tâm hồn Nha Trang, một tâm hồn sáng.

Hoài kéo sát tôi về chàng :

- Hãy chia cho anh một chiếc dép.

Chúng tôi ngồi bên nhau, trên mỗi chiếc dép. Hoài hút thuốc. Khói thuốc thơm như thuở ban đầu cạnh chàng một sớm tinh mơ trên bãi biển này.

- Nhị...

- Dạ.

- Anh sẽ không có một đêm nào nữa như đêm nay.

- Em...

- ... Em đừng nói như anh.

- Em phải nói thế nào ?

- Em chẳng cần nói. Sáng mai, em hãy ra nơi này thật sớm đọc lá thư của anh, em nghe rõ chưa ?

- Dạ.

- Đọc xong em hãy ngồi chờ anh và anh sẽ đưa em đi qua Hòn Chồng. Lúc ấy, mùa hạ vừa sang, mùa hạ của chúng ta.

- Nếu...

- Nếu sóng đọc thư tỏ tình của anh trước em thì em đừng mất công chờ đợi anh. Sẽ không có anh tới như sẽ không bao giờ mùa hè tới. Lúc ấy, em đừng khóc.

Hoài cầm tay tôi dắt tôi đứng đậy :

- Anh đưa em về.

Ở một quán trên bờ phía xa, tự nhiên, vẳng lại một giọng hát gợi tưởng chia ly : Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về. Gọi hồn liễu rủ lê thê, gọi bờ cát trắng đê mê... Rồi quán tắt đèn và bài hát dang dở. Biển nhớ người hay người nhớ người ? Ai sẽ gọi tên ai ? Tôi nghe nước mắt rơi rụng trên đường về.

Đoạn Kết

HOÀI ĐÃ KHÔNG TỚI. VÌ SÓNG ĐÃ cuốn những lời tỏ tình của chàng viết trên cát cho tôi. Sóng mang thư tình trên cát ra khơi. Thư tình tan thành nước và hòa nhập vào đại dương mênh mông. Có lần, Hoài đã nói, về những bài thơ của chàng viết trên cát. Có lần, Hoài đã sợ những bước chân tàn bạo dẫm bừa bãi lên thơ của chàng. Tôi chợt hiểu tại sao Hoài viết thư tình trên cát, tại sao Hoài bảo mùa hè của hai chúng tôi không bao giờ tới. Bởi không bao giờ có mùa hè ấy, không bao giờ có thư tình trên cát, không bao giờ có người viết thư tình trên cát. Tất cả đều chập chờn, hư ảo, Tất cả chỉ là mộng du. Không có mùa hè của Hoài và tôi nhưng đã có mùa hè ở Nha Trang của riêng tôi. Mùa hè đã chấm dứt. Mùa hè tuyệt vời của tôi. Chưa phải hôm nay đâu, ngày mai cơ, ngày mai tôi sẽ về Sàigòn. Tôi không kể sự tích Hòn Chồng cho Vinh nghe. Còn Phượng, hẳn con nhỏ sẽ chẳng mất công tìm hiểu lý do tôi bảo mùa hè đã hết. Tôi là một thiếu nữ sung sướng nhất, may mắn nhất, một thiếu nữ được diễm phúc nhìn rõ trái tim Nha Trang. Làm sao tôi quên nổi Nha Trang, trái tim nồng ấm tình yêu của thành phố này, những ngày mùa hạ và khói sóng mơ hồ trên biển sớm tinh mơ! Nha Trang, một lần tôi đến, Nha Trang, một đời tôi nhớ.

(15-2-73)

Cũng Gọi Là Một Chuyến Đi

MỘT CÁI VÉ XE ĐI ĐÀ LẠT. ĐI BẤT cứ ngày nào ta muốn. Giai đoạn phải canh chừng thời gian và nô lệ vào Hàng Không Việt Nam đã cáo chung. Tôi rất thích thú nhìn các cô bán vé máy bay ở các quầy Sàigòn - Đà Lạt, Sàigòn - Nha Trang ngồi ngáp vặt. Hoàng hôn của nền "xe đò bay" sắp tới. Và sắp tới cả đêm đen của nó. Khi xe lửa kéo còi, khi xe đò nối đuôi nhau chạy, ấy là lúc hoà bình mọc. Hoà bình mọc cho Hàng Không Việt Nam lặn. Ngay bây giờ, tôi đã hài lòng lắm, quốc lộ số 1 an ninh trăm phần trăm của quê hương tôi.

7 giờ 15 phút xe nhỏ Minh Trung rời bến. Đêm qua cùng Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Tiến Luyện "hội thảo văn nghệ" tận tình nên sáng nay ngả đầu trên thành ghế xe ngủ kỹ. Ngủ quên cả cảnh sát giữa đường. Đến nỗi cảnh sát phải đánh thức dậy xét giấy tình trạng quân dịch. Cảnh sát chiếu cố xe đò thật kỹ. Xe nhà được miễn, chạy phom phom. Sung sướng thay là những đứa trốn quân dịch nhà giầu. Và giả dụ mấy anh địch chở plastic hay claymore trên chiếc 404 mới toanh từ Đà Lạt về Sàigòn, chắc chắn, mấy anh yên ổn đấy ! Xe leo đèo Bảo Lộc. Mây lang thang đường đèo. Mây xuống thấp như thể mưa. Và lạnh, Chợt nhớ mùa này Đà Lạt mưa lạnh. Mình phong phanh chiếc áo mỏng... chịu sao thấu. Thôi thì, đã gọi là giang hồ vặt, đến đâu lo đó. 2 giờ 30 phút, xe đậu bến Đà Lạt. Trời hong nắng. Bắt một đường xe ôm lên phố. Ghé vô Shanghai. Đụng bố Vũ Khắc Khoan tức Khoan đầu bạc.

- Mày đi đâu đấy ?

- Tôi du sơn du thủy.

- Tại sao không rủ thằng Mai Thảo ?

- Tôi đi bất ngờ, ông ạ! Với lại, Đà Lạt thiếu món xích lô, dễ gì nhà văn lừng khừng, "nhà văn rong chơi " của chúng ta chịu lên đây. Đại học phẹc-mê bu-tích", ông xuất hiện có việc gì ?

- Tao đi họp.

- Chiều nay tôi mời ông ăn cơm.

- Không được. Tao bận họp.

- Ông vẫn tỏ vẻ bất cần đời, nay ông khoái họp với quý vị khoa bảng hơn là ăn cơm với tôi à ? Đây sẳn Patriarche, nếu ông thích, ta lai rai từ giờ tới giới nghiêm.

- Tao bị họp.

- Rỡn, Thành Cát Tư Hãn. Không khí họp hành ấy ông Mơ Hương Cảng thế quái nào nổi. Ta đang ngồi ở Thượng Hải, uống chăng ? Tôi khuyên ông nên uống, uống hết tiền đêm qua bọn nó biếu tôi.

- Mày lên muộn quá.

Ông Vũ Khắc Khoan nói một câu lãng nhách. Hình như tôi không có duyên với ông ta. Trước hết, không có duyên làm học trò của ông Khoan hồi tôi còn đi học. Nếu tôi được làm học trò của ông, hôm nay, theo đuổi cái trò văn nghệ như ông, vẫn gọi ông bằng thầy xưng con thì tuyệt. Cái tuyệt ấy, tôi chỉ gặp ở Tuy Hòa. Tôi sẽ kể sau ở bài bút ký này. Và tôi tin chắc người hay nhắc tôi nhiều nhất với mọi người sẽ là Vũ Khắc Khoan. Ít ra, ông cũng khoe "nó là học trò tôi đấy"! Cái vô duyên thứ hai là hễ mời ông uống rượu, y rằng không kiếm ra ông hoặc ông... bận họp. Sau hết, viết truyện dài cho báo Vấn Đề của ông phước thiện, mới viết được một số, Vấn Đề đã lăn đùng chết "bất đắc kỳ tử". Vấn ĐềTuổi Ngọc có một giai thoại. Cùng chung tòa soạn, chung nhà in. Tuần báo ưu tiên hơn tạp chí. Xẩy ra chuyện hai số báo phát hành trùng một ngày. Ông Khoan giục thợ gấp đóng báo lẹ để kịp ngày ra. Tôi cũng giục thợ. Và tôi phóng ra một vế :

Vấn Đề không thành văn đề.

Ông Khoan cáu lắm. Dẫu là Thần Tháp Rùa ông cũng khó đối. Ông bèn nổi giận:

Tuổi Ngọc "đếch" ra tuổi ngọc.

Thế mà hay. Hay ở cái chỗ chúng tôi không thành cái gì, "đếch" ra cái gì nhưng vẫn là cái gì. Ông Khoan rất tếu, lạc quan nhất nước và khôi hài đỏ. Tôi nhớ một tối ở Đêm mầu hồng. Ông Khoan lên ngâm bài Hồ trường của Nguyễn Bá Trác. Đến câu "Trời đất mang ma... ", ông nâng ly rượu, đôi mắt ông vốn đã lồi, khi ông nhìn một người Mỹ ngồi đối diện, mắt ông càng lồi dữ dội, ông ngâm khơi khơi :

Trời đất mang mang ai người trí kỷ
Lại dây cùng TAO nhấp cạn một hồ trường
Hồ trường
Hồ trường
TAO biết rót về đâu ?

Dĩ nhiên, ông rót ly rượu cầm tay vào bao tử ông. Người Mỹ tỏ vẻ khó chịu. Ông Khoan chỉ vào mặt anh ta;

- Mày vừa nói cái gì ?

Người Mỹ vỗ tay :

- Ô kê, Ô kê !

Ông Khoan cười. Ông hát quan hộ. Ông làm... Tùng Lâm ! Ấy vậy mà hôm ông bắt tay tôi cám ơn tôi đã viết truyện dài cho báo ông và nói báo phải đình bản, khuôn mặt ông buồn thiu. Ông rời 38 Phạm Ngũ Lão một cách thảm não. Phải từng làm báo và phải cho báo mình chết mới hiểu nổi nỗi buồn của Thành Cát Tư Hãn Khoan đầu bạc.

- Tao phải đi họp mày ạ ! Sáng mai tao về. Mày có nhắn gì không ?

- Không.

- Lên đây mày ở đâu ?

- Chưa biết. Tôi đi cạo râu, gội đầu cái đã. Sau đó sẽ tính nơi ăn chốn ở. Nhưng Đà Lạt mưa và lạnh thế này, có lẽ, tôi sẽ đi tìm nắng ấm ở Nha Trang. Tôi không mang áo lạnh và tôi đang lạnh tâm hồn. Lên đây lạnh thêm thì phải cút gấp.

Chúng tôi chia tay nhau. Cả buổi chiều hôm đó tôi ngồi ở một quán cà phê có cửa kính nhìn con phố Đà Lạt trong mưa. Đà Lạt mà mưa là Đà Lạt chết, Đà Lạt phủ màu tang. Đà Lạt chỉ nên mưa ban đêm. Mưa bao nhiêu tùy ý. Mưa tha hồ. Mưa lớn, mưa nhỏ mặc sức. Bởi vì, khi ta ngủ, ta cần nhạc điệu của mưa. Mưa đánh thức ta dậy gầy dựng chiêm bao. Mưa làm ta "trở nghiêng gối mộng". Mưa giúp ta soi rõ lối đi của "những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi". Và mưa đêm "làm nhớ không gian". Một điếu thuốc trên giường nghe mưa "rơi rơi dìu dịu rơi rơi" là một trời mộng tưởng hiện ra. Ta quên đời sống thật leo dốc đá nhọn, ta nhẩy múa hồn nhiên đời sống giả phiêu bồng tuyệt diệu. Đà Lạt chỉ nên mưa ban đêm. Buổi sáng nắng. Tha hồ nắng. Nắng cho khô mưa. Nhưng buổi chiều cấm cả mưa lẫn nắng. Buổi chiều mầu khói sương. Chiều êm. Chiều gió nhẹ cho ta tưởng tượng cuộc hẹn hò với người yêu trên đồi thông. Ôi, Đà Lạt chiều hôm nay mưa. Mưa xối xả, mưa vũ phu, mưa... mác xít. Mưa phải tiểu tư sản. Mưa tư bản cũng bị chê. Tôi ngồi nhìn mưa chả tìm được cảm hứng nào. Con gái Đà Lạt "cấm cung" ở nhà. Em đừng xuống phố những chiều mưa như chiều mưa hôm nay, dù em xuống phố để "đến thăm anh một chiều mưa". Đà Lạt thiếu những gò má ửng hồng thiên nhiên của con gái là Đà Lạt vô nghĩa. Chiều nay vô nghĩa. Tôi ngồi chờ tối. Và đêm đó, tôi ngủ nhờ nhà người bạn Người Ảnh của tôỉ. Sáng sau tính đi Nha Trang. Câu chuyện ở cà phê Tùng kéo dài. Lúc nhớ chuyện đi, chuyến xe chót đã chạy. Nán lại Đà Lạt thêm một ngày. Lạnh thêm một ngày. Ngày mai quyết định về miền cát trắng.

° ° °

10 GIỜ 30 TRÊN CHUYẾN XE NHỎ Đà Lạt - Nha Trang. Xe chuyển bánh, trời mưa lớn. Kệ mưa. Giã từ Đà Lạt mưa lãng nhách. Hẹn tái ngộ vào Giáng Sinh năm nay và hy vọng nhận thêm bó hoa hồng của những người sinh viên ở giảng đường Spellman năm ngoái. Xe lầm lũi chạy. Đến ga Cầu Đất, thấy cái đầu tầu xe lửa rỉ sét nằm tủi hận. Chợt nhớ Thanh Nam buồn ga nhỏ. Thanh Nam ơi, mày cần giã vợ đi giang hồ vặt một chuyến, mày cần đi xe đò để qua những ga nhỏ, mày sẽ buồn ga nhỏ thê lương hơn. Những ga nhỏ bây giờ thảm não vô cùng tận. Không còn vẻ buồn nữa. vẻ buồn thơ mộng xưa đã bị súng đạn bắn nát. Đạn làm trốc mái ga nhỏ. Đạn xuyên thủng tường ga nhỏ. Ga nhỏ hoang vu. Những cái bồn nước, chắc chắn, không còn một giọt. Nó cũng rỉ sét như cái đầu tầu ở ga Cầu Đất. Bồn nước tiếp nước cho xe lửa đang khát nước. Nó nằm cô độc bên đường rầy ở quãng vắng vẻ tương tư con tầu. Con tầu cũng tương tư nó. Con tầu, đường sắt, bồn nước tương tư hòa bình. Cơ hồ chúng ta tương tư hòa bình. Hòa bình, hạnh phúc của quê hương ta.

Cô hạnh phúc, gớm tôi chờ cô mãi
Xây dựng cô sứt mẻ những bàn tay
Trầy bà vai nhỏ máu những chân mày.

Tôi thương ga nhỏ, thương chiếc đầu tầu ở ga Cầu Đất, thương bồn nước bắt gặp dọc đường, thương những cột điện thoại của hỏa xa. Những cái đó đã xa cách nhau. Như lòng người đứt đoạn, chia lìa. Lòng người chỉ được chắp nối, gần gũi khi chinh chiến tàn lụi. Hồn ta chỉ được "vu vơ" khi nghe tiếng còi tầu xuyên Việt kéo dài xốn xang một ga lớn.

Và ta chỉ được hanh phúc khi ta biết "... Thương những chuyến tàu, ngàn đời không đủ sức đi mau". Bởi vì, có những chuyến tàu, dù là không đủ sức đi mau (Cần chi đi nhanh, quê hương ta nhỏ bé, cứ tà tà đi chậm, đi nhanh ta không nhìn rõ cảnh đẹp quê hương) để ta thương nó là có hòa bình. Hòa bình cả tâm hồn.

Xe qua Cầu Đất, tôi vẫn nghĩ tới cái đầu tầu rỉ sét. Biết bao trái tim người Việt Nam đã rỉ sét trong chiến tranh. Thù hận, tang tóc, cằn cỗi. Con tầu phải qua ga Cầu Đất. Con người phải yêu thương. Người ta sinh ra đời đâu để chịu đau khổ. Chúng ta đau khổ nhiều rồi. Tôi muốn, nhân danh cái đầu tầu rỉ sét buồn thảm ở ga Cầu Đất, nói với những kẻ ham chơi trò giết chóc, phá hoại một điều duy nhất: Thôi đi chứ, người anh em, trò chơi của các anh vô tích sự quá. Hãy giã từ vũ khí cho những chuyến tầu ăm ắp tình người qua lại, mỗi ngày mỗi đêm, trên đất nước này.

Xe leo đèo Ngoạn Mục. Thấy hai cái ống dẫn nước to tướng từ núi cao dài xuống thung lũng mà tội nghiệp những ngọn đèn câu vàng khè ở các xóm ngoại ô Sàigòn. Tại sao công tác vĩ đại phục vụ người Việt Nam cứ gặp trở ngại ? Tại sao ngàn vạn thước dây điện, trăm ngàn cột đèn chở ánh sáng hạnh phúc Đa Nhim về cứ gặp trở ngại ? Tại sao vẫn đầy rẫy người Việt Nam mơ ước một cái điện kế riêng cho gia đình mình ? Người anh em ham trò chơi chiến tranh, các anh biết quá mà. Trả lời đi? Trả lời rằng các anh đã phá hoại hạnh phúc vừa tầm tay với của dân tộc anh. Trả lời rằng hạnh phúc các anh mưu đồ ở mãi hỏa tinh mà các anh chưa đủ sức phóng cái phi thuyền lên ngọn cây đa, dẫu là cây đa không có thằng Cuội. Các anh nhảm nhí, bố láo. Thôi kệ các anh, Trời Phật sẽ phán xét các anh.

Xe qua quận Đơn Dương. Xe đã xuống hết đèo. Tôi lại ngủ đến Tháp Chàm. Bây giờ, mưa lạnh Đà Lạt đã biến mất. Nắng gay gắt. Tôi chỉ thích nắng ngoan, mưa hiền. Tôi rất ghét nắng tàn bạo, mưa vũ phu, thứ mưa nắng... duy vật, không thơ mộng chút nào, thứ mưa nắng không làm dệt nên những vần thơ bồng bế của Nguyên Sa : Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông ; hay Trời hôm nay mưa nhiều hay nắng ít. Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay. Trời nắng ngạt ngào tôi ở lại đây...

Cho nên, với nắng gay gắt của bầu trời Phan Rang cuối hạ, tôi bèn ngủ gục. Ngủ tới lúc xe đưa tôi tới Nha Trang. Nha Trang đây rồi, tôi sẽ ghé thăm nhà văn Võ Hồng trước tiên.

° ° °

ÔNG VÕ HỒNG - TA CỨ GỌI ÔNG là nhà văn tỉnh nhỏ đi, chắc chắn, ông không nổi giận và chắc chắn tác phẩm của ông chỉ có lớn lên - ở đường Hồng Bàng. Quen ông lâu rồi nhưng trở thành tri kỷ của ông từ mùa mưa năm ngoái, nhân chuyến đi trên Con đường vui với sư huynh Mai Tâm. Võ Hồng chung tình hơn một thi sĩ quá cố là Đông Hồ Lâm Tấn Phác. Đông Hồ khóc vợ chết vang vọng cả đất nước nhưng rồi vẫn tục huyền. Võ Hồng thì không khóc, cũng chẳng "làm thêm" tí vợ nào. Vợ hiền của ông bỏ ông bơ vơ giữa cõi đời hệ lụy, bay bổng lên một vùng trời cao để ông ngàn năm Hoài cố nhân, để ông làm kiếp gà trống nuôi con. Ngót hai mươi năm "lạnh lùng", bây giờ những cánh chim đã đủ lông cánh bay khỏi cái tổ bên Con suối mùa xuân. Cô Hằng vô Sàigòn theo đại học. Cậu Hào qua Tây Đức ôm mộng làm đẹp quê hương. Cô Thủy sắp rời căn nhà đường Hồng Bàng. Ông Võ Hồng của tôi tính chuyện lên chùa ở. Ông lên chùa à? Làm gì? Ông già rồi, bộ tính lên chùa... trốn quân dịch ư? "Gần chùa gần bụt ta tu quách", ông ơi, tôi sợ ông đi tu thấy mồ. Nghĩ tới Võ Hồng, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Nguyễn Bính trong bài “Giăng dối" :

Con nó đâu rồi bế lại đây
Để tôi hôn nó một vài giây
Trước khi nhắm mắt. Tôi thừa biết
Đời nó sau này hẳn đắng cay

Người chết ưa nghi ngờ người sống. Tôi tin rằng bà Võ Hồng "trước khi nhắm mắt" đã rất tin ông Võ Hồng. Và nay, những đứa con của ông bà đều đã nên người, chẳng "đắng cay" chút nào. Phần thưởng dành cho nhà văn gà trống nuôi con là các nữ độc giả của Võ Hồng mê văn ông đã đành, mê cả sự chung tình với vợ của ông. Tạp chí Văn vừa loan tin Võ Hồng giờ Như cánh chim bay, ông muốn nhào vô cơn Gió cuốn... lấy vợ ! Tại hạ có lời can. Ông ơi, "Cái vòng lấy vợ cong cong. Kẻ hòng ra khỏi, người mong chui vào".

- Đường Hồng Bàng tới rồi, số nhà mấy ?

- 53.

Vài cái nhấn chân đạp, xe đậu trước cửa nhà ông Võ Hồng. Tiếng chó sủa ỏm tỏi. Võ Hồng từ trong phòng bước ra :

- A, tưởng ai.

- Sao lại tưởng ai ?

- Gió nào thổi ông tới đây ?

- Mưa... mác xít ở Đà Lạt, thứ mưa tồi tệ.

Vào phòng khách của nhà văn Võ Hồng. Thấy hai người trẻ tuổi, dáng dấp rất phong sương đang ngồi hút thuốc lá. Bèn xảy ra sự giới thiệu:

- Đây là Phạm Ngọc Lư, đây là Phạm Cao Hoàng...

Thôi khỏi lỉnh kỉnh nghi thức. Hai ông này báo Tuổi Ngọc đã từng được hân hạnh đăng truyện và thơ. Hỏi ông ra đây diễn thuyết. Diễn thuyết ư? Tôi chán cái trò này từ khuya. Diễn thuyết ở cái xứ này đã không được trả tiền thì chớ còn bị công kích vô tội vạ. Nhất là ở những buổi diễn thuyết có thảo luận. Nhiều vị tới nghe diễn thuyết với cả một bị câu hỏi hóc búa, tâm tâm niệm niệm đến dồn diễn giả vào chỗ bí để làm nhục chơi. Ta khiêm nhượng, dè dặt, quý vị ấy coi thường. Ta kiêu ngạo, lớn lối, quý vị ấy tạt nước lạnh vào mặt. Thôi bỏ đi tám. Trời không thèm nói. Người học đòi nói mà chi.

- Anh đến Tuy Hòa lần nào chưa ?

- Chưa.

- Anh không đi diễn thuyết hắn là du sơn du thủy ?

- Ý vậy. Tôi là con chuồn chuồn.

- Vậy mời anh ra thăm Tuy Hòa một chuyến.

Võ Hồng nói thêm:

- Cậu nên nhận lời. Tuy Hòa, quê hương tôi đó.

Mới hỏi:

- Ông về quê, ông dẫn tôi về thăm quê ông nhé!

- Bao giờ ? Mai được khộng ?

- Được.

° ° °

SÁNG HÔM SAU, BỐN CHÚNG TÒI: thi sĩ Phạm Cao Hoàng, tác giả thi phẩm Đời như một khúc nhạc buồn, văn sĩ Phạm Ngọc Lư, "nhà văn tỉnh nhỏ" Võ Hồng và tôi đã có mặt ở bến xe đò. Nếu người ta cố tình hiểu tỉnh nhỏ là những gì tầm thường thì tôi lại thích những gì tầm thường đó. Như cái tầm thường ở bến xe đò Nha Trang - Tuy Hòa. Xe còn trống chỗ. Người tài xế bảo chúng tôi đi uống cà phê, lúc nào xe chạy sẽ kiếm chúng tôi. Và khi xe sắp chạy, quả nhiên, chúng tôi được tìm kiếm, khác với sự hào nhoáng đầy tính chất bịp bợm của bến xe đò Sàigòn. Đừng hòng tài xế đi tìm anh lên xe, dù họ có khuyên anh đi uống cà phê. Anh quên giờ là anh lỡ chuyến. Mất tiền. Anh lý sự, lơ xe có thể tặng anh một trận đòn hội chợ.

Chúng tôi ngồi hàng ghế thứ nhì. Cạnh chỗ tài xế là hai hành khách nhà binh. Một anh cụt một chân. Một anh cụt một tay. Đời còn đang chiến trường. Phải, đời vẫn còn đang chiến trường. Mà hai người lính đã bỏ "cuộc chơi". Chắc họ bị loại, họ được giải ngũ và tìm về quê hương. Cả hai cùng mặc đồ dù, binh chủng tôi hằng ngưỡng mộ. Có ai cùng quê hai anh đã đi, đã chết ? Tôi thoang thoáng nhớ những câu thơ năm chữ đã đọc ở đâu, hồi nào ?

Quê ai không khăn trắng
Nhưng chắc có màu tang
Những người con đi vắng
Những mẹ già nhớ thương
Trời mưa dâng mầu xám
Bởi vì đâu thê lương
Hoa cỏ dâng mầu trắng
Đời còn đang chiến trường

Hình ảnh hai người phế binh hồi hương nhắc nhở tôi đời còn đang chiến trường, đời còn đang có những người con đi vắng, đi xa. Cám ơn họ. Cảm ơn họ đi vắng cho quốc lộ an toàn trăm phần trăm. Những cánh tay, những khúc chân lìa khỏi thể xác những chàng trai làm nên xa lộ êm ái này. Đừng bảo RMK làm xa lộ. Đừng bảo Mỹ làm xa lộ. Đừng vô ơn. Tôi móc gói thuốc lá, mời hai người phế binh làm quen.

- Thưa hai anh, hai anh ra Tuy Hòa chơi ?

- Chúng tôi về quê. Quê tôi ở Tuy Hòa, quận Hiếu Xương. Giải ngũ rồi.

Họ cười. Nụ cười không vương chút oán hận, thống trách kẻ còn lành lặn, quên lãng đời còn đang chiến trường như tôi. Những người chấp nhận chiến đấu thường cao cả. Tôi lại nghĩ tới những anh lính thủy quân lục chiến trấn giữ một bãi biển trên tuyến Mỹ Chánh tháng trước, nhân dịp tôi ra đó thăm họ. Họ thấy tôi như họ thấy Sàigòn. Tôi đem Sàigòn ra cho họ.

Sàigòn giới nghiêm sớm, phòng trà đóng cửa buồn quá nhỉ ? Họ hỏi chuyện Sàigòn, người Sàigòn... Và không hề nửa lời trách móc dân Sàigòn. Điều đó làm tôi cảm phục, chiêm ngưỡng và, tận đáy lòng tôi, tôi thấy mình nhỏ bé. Ơi, những người con đi vắng để những mẹ già nhớ thương, xin biết ơn các anh. Thành thực biết ơn các anh. Xe đã xuống khỏi đèo Rù Rì. Tôi xấu hổ, không dám nói chuyện với hai người phế binh. Đoạn đường này, tôi lại bắt gặp đường rầy xe lửa, cột điện thoại hỏa xa và bồn nước rĩ sét. Cơ chừng có cả vết đạn đã xuyên qua. Tôi mơ hồ cảm thấy chút gì ghen tị của đường rầy. Nó nằm cô độc hồi tưởng một dĩ vãng thê thảm. Để làm khúc đường xe lửa Nha Trang - Tuy Hòa, bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt của cu ly Việt Nam, tổ tiên nô lệ, đọa đầy của chúng ta ? Tôi không thích thù hận nhưng tận mắt ngắm những cây cầu đổ nghiêng, những khúc đường mìn giật tung, những ga nhỏ buồn thảm, những đầu tầu chết cạn, những dây điện đứt quãng, những đường rầy hoen rỉ, tôi đã thù hận những kẻ thích chơi trò phá hoại. Quê hương ta mấy ngàn đời nghèo khổ, chưa đủ sao, còn cắt đứt những mạch máu dẫn về tim, dẫn về nẻo hạnh phúc của dân tộc ? Người anh em, hỏi xem em bé Việt Nam muốn gi, bà mẹ Việt Nam muốn gì? Người anh em, bầy ra một bát canh ngon, thơm ngát tình yêu, bầy ra một manh áo mới rạng ngời hoa mộng cùng với cái thiên đàng rét mướt, cái ý thức hệ khô queo của anh em xem mẹ già, em nhỏ thích thứ nào ? Ngay cả cái đầu tầu ở ga nhỏ cũng chán ghét các anh. Hiểu thế chưa ?

Xe nhỏ chạy phăng phăng. Tôi cứ mải nhìn qua hai bên đường. Đây, ngôi trường Sơ Học Xuân Tự. Ngôi trường giống một cái đồn canh bị tấn công bằng đạn đồng. Sân cỏ mọc cao và dầy. Tường mái lỗ chỗ vết đạn. Như thể tường mái làm bằng đất đá ong ! Bốn bề trống vắng. Các em đi đâu tập đánh vần tiếng Việt Nam? Các em đến đâu cười đùa, hái hoa, bắt bướm ? Các em của tôi, bây giờ là 9 giờ sáng, giờ các em đang chăm chú ngồi trong lớp nghe thầy cô dạy bài học làm công dân Việt Nam lương thiện mai sau. Không cần làm công dân phi thường. Chỉ cần làm công dân lương thiện. Là đủ. Tất cả em bé Việt Nam, ngày khôn lớn, sẽ trở thành công dân Việt Nam lương thiện. Trong cái khối công dân lương thiện ấy, những tinh hoa sẽ thoát ra - những tinh hoa lương thiện - lãnh đạo khối công dân lương thiện. Là quê hương chúng ta rực rỡ hạnh phúc. Nhưng bây giờ là 9 giờ sáng, các em bỏ trường Sơ Học Xuân Tự, bỏ những ngôi trường như ngôi trường Xuân Tự đi đâu? Trời hôm nay không nắng. Lất phất mưa.

Trời mưa dâng mầu xám
Bởi vì đâu thê lương.
Hoa cỏ dâng mầu trắng
Đời còn đang chiến trường

Bởi vì đâu thê lương, bởi vì đâu đời còn đang chiến trường, hỡi những kẻ giả câm giả điếc trước nỗi mong ước cơn mưa đại hạn hòa bình của quê hương tôi! Bởi vì đâu thê lương, bởi vì đâu đời còn đang chiến trường, hỡi những kẻ điên rồ thúc giục đồng báo tôi ăn cháo cầm hơi, đi bộ rách da, cương quyết đánh nhau đến chết ! Nhân danh những em bé Việt Nam mất trường mất lớp, mất thầy mất cô, những em bé phải khóc mếu đau thương trong tuổi cười vui hồn nhiên, tôi lên án súng đạn. Tôi nghĩ miên man, tôi giận ngút ngàn. Tôi quên tôi đang ngồi trên chuyến xe vói ba người bạn của tôi. Đắm chìm vào trận mưa ý nghĩ và cơn lốc giận hờn, tôi quên luôn cả đường dài. Trời hửng nắng. Xe qua đèo Cổ Mộ, đèo Đại Lãnh lúc nào. Chết chưa, mình không được ngắm bãi biển Đại Lãnh, bãi biển đẹp nhất Việt Nam.

Võ Hồng kể cho tôi nghe từng sự tích quả núi. Núi nào vua Lê Thánh Tông đã trèo lên dựng tấm bia bảo cho Chiêm Thành hay đây là biên giới Việt Chiêm. Vua Lê Thánh Tông cũng là tay leo núi vô địch. Bây giờ, muốn leo coi bộ rất khó cho ai muốn rõ nét chữ vua Lê khắc trên bia. Núi nào Võ Hồng đã ẩn trú chống quân xăm lăng Pháp. Này Vũng Rô. Nọ Mũi Dài. Có ghi rõ trên bản đồ đấy nhé! Mũi Dài đúng là trái núi muốn lớn. Càng ngày nó càng vươn dài ra biển.

Sắp đến thị xã Tuy Hòa rồi. Xe dừng ở bên đường thuộc quận Hiếu Xương. Hai người phế binh xuống trước nhất. Họ trở về khi đời còn đang chiến trường. Còn đang chiến trường ngay cả ở quê hương họ. Tôi nghĩ Phạm Duy cần làm lại lời cho bản nhạc Ngày trở về. Làm sao đã thấy ngày trở về có anh thương binh sống đời hòa bình ? Hai người phế binh vẫy tay chào tôi. Chúc hai anh trở về lấy được vợ hiền lành và vì thương yêu anh nên ngàv trở về có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ.

Xe qua cầu Đà Rằng, cây cầu dài thứ nhì của Việt Nam sau cầu Long Biên. Gió thổi khốc liệt. không tiểu tư sản tí nào. Gió Nam đấy. Nó bớt tàn nhẫn hơn gió Lào tuy cùng một xuất xứ. Có lẽ, nó đi xa, nó băng nhiều núi, nó "hiểu đời" khá nhiều thành thử nó "độ lượng" đôi chút chăng ? Mùa này, cao nguyên mưa vũ phu nên nước sông Đà Rằng đỏ mầu đất. Nước từ cao nguyén đổ xuống, ra biển mà. Cây cầu bắc qua khúc ngắn nhất của một cửa sông rộng bao la. Xe vào thị xã. Bên trái là sông, bên phải là biển. Gió thổi mạnh đến nỗi, hồi chưa làm lan can, đi xe gắn máy bị gió mời cả xe lẫn người nhẩy xuống nước tìm cảm giác rụng rời.

Tôi đã vô thị xã Tuy Hòa giữa một ngày gió Nam lộng thổi.

° ° °

BẾN XE TUY HÒA NOM THẬT ĐÌU HIU. Chả là, chỗ này nằm sát trung tâm thành phố, cách con phố chính của thị xã vài chục thước, anh em phế binh đã chú ý tận tình và chuẩn bị chiếm đất cắm dùi vào sáng sớm hôm sau. Ông tỉnh trưởng biết trước ý định của anh em. Nửa đêm, đúng giới nghiêm quạnh quẽ, ông tỉnh trưởng đích thân huy động thuộc viên, tới bến xe đò đánh thức tài xế, lơ xe dậy "di tản chiến thuật" gấp rút. Khi lực lượng phế binh xuất hiện, bèn thấy mục tiêu của mình đã trở thành bến xe đò mới. Đành rút lui. Do đó, không có chuyện đáng tiếc xẩy ra. Ông tỉnh trưởng Tuy Hòa giỏi chiến lược ghê ! Hiểu tại sao bến xe của một tỉnh nổi tiếng sò huyết ngon nhất thế giới, mật ong bổ nhất thế giới, thịt bò tuyệt nhất thế giới, đìu hiu rồi, tôi theo "nhà văn tỉnh nhỏ" Võ Hồng vào quán ăn Thanh Đạm mà Võ Hồng bảo "quán của cố nhân". Hai tôi vô uống nước ngồi chờ Phạm Ngọc Lư, Phạm Cao Hoàng về nhà tin cho bằng hữu. Lúc ấy đã mười hai giờ. Thực khách vào ăn lẻ tẻ. Nhìn món ăn bầy trên bàn, tôi hỏi Võ Hồng :

- Quán này coi bộ ăn ngon đây hả, ông ?

- Nhất Phú Yên. Ông chủ là tay sành điệu cơm Tây trước ngày mở quán.

- Ông ấy thất chí ?

- Đúng.

Ông chủ Thanh Đạm có mấy người con đều là học trò của Võ Hồng. Ông ngỏ ý mời Võ Hồng và tôi dùng cơm với gia đình ông những ngày chúng tôi ở Tuy Hòa. Cậu trai út, cậu Bảo, là độc giả của tôi, thành khẩn mời chúng tôi. Nhưng Trần Huiền Ân đã tới. Rồi Nhã Nam tới. Họ nằng nặc kéo hai tôi đi. Thú thật, tôi khoái ăn cơm ở Thanh Đạm. Tôi không phải là đứa theo chủ nghĩa ăn uống hay khoái khẩu chủ nghĩa. Mà chỉ là đứa biết ăn vài món đã quen ăn ở nhà. Lên rừng, xuống biển, sáng cơm gà rô ti, chiều cơm thịt bò bí tếch. Cá biển, cá đồng, xin chào thua. Thịt rừng, chào thua luôn. Hồi tôi làm với ông Tôn Thất Đính, ông Đính khoái tôi, ra lệnh cho nhà hàng La Cave để tôi ăn biên bông mỗi ngày mà, dù La Cave có jambon từ Pháp đem sang, có đủ loại fromage thượng hảo hạng, có rượu chát Pommard trứ danh nhất nước Pháp, tôi vẫn không thú bằng ăn cơm với rau cải xanh nấu canh cá rô hay cua đồng và tôm đầu đặc trứng kho mặn vắt chanh. Ăn ở La Cave vài hôm tôi cũng chào thua. Ai mời đi ăn cơm Tầu, tôi thưởng thức có ba món : Súp cua măng tây, cơm chiên và... trái vải tráng miệng. Đêm về phải uống ly sữa hoặc vét cơm nguội chan nước dưa chua. Tôi rất ghét ăn cơm khách. Lại khách lạ càng ghét. Sợ thì đúng hơn. Người ta mời mình về nhà, quý hóa mình mà cứ tiếp vào bát mình những món cả đời mình không dám phiêu lưu như thịt thỏ, thịt vịt, thịt ếch, thịt... mỡ là "lúa" mình. Bỏ ra cũng bất tiện. Trót xã giao một miếng, đành ngậm miệng, giả vờ xin phép tìm "toa lét" để nhả ra và... ói ! Cho nên, đến miền xa lạ, gặp được quán ăn như Thanh Đạm, tôi rất thú. Tôi gầy ốm, có lẽ, suốt đời chỉ biết ăn cơm với thịt nạc kho. Bào ngư đi chỗ khác chơi ! Ngỗng quay Hồng-kông đi chỗ khác chơi ! Một tuần ở Nhật-bản, tôi sống bằng bánh mì trứng chiên và bánh ngọt cà phê sữa. Dạo tôi qua Mã-lai, nhân viên Bộ Thông tin Mã-lai mời chúng tôi tới quán cơm cà ry nổi tiếng nhất Kuala Lumpur, vừa bước vào tôi đã buồn mửa. Để cho có vẻ "pờ rô tô côn", tôi lại giả vờ nhức đầu, cảm mạo thình lình. Và, trong khi cậu Hoàng Anh Tuấn say sưa thưởng thức cà ry Mã-lai, tôi bị uống Aspro, lót lòng bằng cái bánh ngọt với ly sữa nóng ! Tôi ghét xuất ngoại. Đời tôi, tôi chỉ mê sang Pháp, ở Paris, bởi nơi đó, tôi biết có nhiều quán ăn Giao Chỉ do quí vị một thời lãnh đạo đất nước Giao Chỉ "ra đi mang theo quê hương" bằng cách mở quán ăn có nước mắm chấm chả giò !

Vậy thì, do sự "huých chân chủ đề" của tôi, Võ Hồng nhân danh tình xưa nghĩa cũ, nhận lời mời của ông bà Thanh Đạm, ăn cơm trưa tại đây. Bữa cơm thật ngon. Ông chủ thao thao nói về sự thưởng thức cơm Tây, về cách uống rượu và ly uống rượu cho từng thứ rượu. Cậu Bảo, trong bữa cơm, trách nhẹ Võ Hồng :

- Thầy viết bài Một chuyến về Tuy Hòa, tả hết các quán ăn, thầy chỉ quên quán Thanh Đạm.

Tôi nói :

- Để tôi ca ngợi quán Thanh Đạm.

Hỡi những kẻ ưa giang hò trên đời!

Khi nào bước chân lữ thứ dừng lại Tuy Hòa, xin mời đến Restaurant Thanh Đạm, quí vị sẽ vui lòng với chủ nhân, món ăn và rượu. "Có một chút Paris'" trong quán ăn Thanh Đạm. Nếu vị nào muốn tranh luận giữa cơm Tây và cơm Tầu cơm nào cầu kỳ, vị ấy sẽ được nghe chủ nhân luận về sự cầu kỳ của cơm Tây hạ sự cầu kỳ của cơm Tầu " đít-zêrô". Một bữa cơm Tầu, ta thưởng thức có món ngon của nước Tầu thôi. Chứ, một bữa cơm Tây cầu kỳ, ta thưởng thức nhiều món ngon của, ít nhất, dăm bảy nước. Như Caviar Nga xô-viết ở Hắc hải. Như Càry Ấn-độ. Như thịt bò Huê-kỳ. Như mì Ý-đại-lợi. Như vân vân... Riêng tôi, được "ăn cơm gia đình" ở Thanh Đạm, được thưởng thức món canh mồng tơi, rau đay,mướp nấu với tôm tươi lột vỏ giã nhỏ, tôi thấy nó còn ngọt ngào đến hôm nay.

Cơm rượu xong, Nhã Nam tới đón chúng tôi. Bây giờ tôi mới thực sự biết cái thị xã Tuy Hòa. Gió Nam thổi lộng. Cát bay tung. Trời không có nắng. Thị xã tiêu điều quá. Con phố chính mang tên Trần Hưng Đạo đã tiêu điều thê lương thì vui sao nổi! Tôi để ý một điều :

Có đến trên mười hiệu thuốc Âu Mỹ cho một thị xã vắng vẻ. Trường học, hiệu thuốc Âu Mỹ là hai điểm nổi bật của Tuy Hòa. Trường học nhiều thì mừng rồi nhưng hiệu thuốc nhiều thì đáng ngại cho sức khỏe của dân chúng. Một điểm đáng ghi nhận nữa là "kỹ nghệ xe thồ" được hợp thức hóa. Sàigòn gọi xe ôm. Tuy Hòa gọi xe thồ. Hãy ngồi sau chiếc xe Honda, ngồi kiểu gì tùy ý bạn (kiểu đàn ông, kiểu đàn bà, kiểu cụ già, kiểu con nít) và bảo chở bạn tới bất cứ nơi nào trong thị xã, bạn chỉ phải trả có 20 đồng. Rẻ nhé! Một cuốc xích lô, dài ngắn, giá 50 đồng. Bạn hào hoa, trả 100 đồng, người phu xích lô sẽ cúi khom lưng chào cám ơn bạn hàng chục lần. Và cả ngày hôm ấy bạn sẽ hắt xì hơi vì người phu xích lô nhắc nhở bạn, kể lể về bạn với đồng nghiệp, vợ con... Ở đây không đông đầy người Mỹ nên không có me Mỹ, không có rác Mỹ nên dân nghèo. Nhờ đó, Tình Người còn nguyên vẹn. Tôi bằng lòng thế. Mất gì cũng được, đừng mất tình người Việt Nam thôi. Tình của chúng ta còn, thế nào chẳng có ngày chúng ta làm lại quê hương chúng ta rực rỡ. Tôi vẫn thích câu: "Những đám mây sẽ bay đi, trời còn lại mãi". Nghèo khổ, Ngu dốt, Cộng sản, Tư bản ví như những đám mây buồn trên bầu trời quê hương ta. Những đám mây rồi sẽ bay đi hoặc sẽ thành mưa tan biến. Và quê hương ta còn lại là quê hương hiền hòa, thơ mộng, một quê hương không biết hận thù, chỉ biết yêu thương, ấm no, hạnh phúc với những người Việt Nam mộng ước thật bình thường cho là mộng ước trong chinh chiến :

Em đã mơ gì em ơi
Lúa chín hai mùa no ấm
Chồng giết giặc về em vui

Bỗng tôi nhớ mấy câu thơ nói về những kẻ đã chết, những kẻ còn sống cho quê hương yêu dấu này :

Không ai còn ai mất
Ai cũng mất cả rồi
Cái còn vĩnh viễn là ngưòi Việt Nam

Phải lắm. Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam đôn hậu, người Việt Nam lãng mạn, người Việt Nam ca dao, người Việt Nam nhìn ngói đình cũng thấy tình yêu, ngắm nhịp cầu cũng dậy tương tư, ngưòi Việt Nam yêu nhau cởi áo cho nhau... Cái vĩnh viễn không là cái hiện tại u hoài. Cái vĩnh viễn, để có nó, chúng ta còn phải đau khổ, cần phải hy sinh. Hạnh phúc của người Việt Nam, tôi nghĩ, nằm trong sự đau khổ, trong nỗi u hoài ngàn năm. Nếu chúng ta không biết đau khổ, chúng ta đã mất quê hương. Tôi đã viết xong tập truyện Quê nội để tặng mấy đứa con có quê ngoại miền Nam của tôi. Và ở trang đầu, tôi viết những câu thế này:

Tý, Ki, Đốm yêu dấu,

Đây là chuyện quê nội Bắc kỳ của các con. Bố không có tài hề hay hơn được. Một mai các con sẽ về quê nội, sẽ thấy quê nội của các con đau khổ hơn chuyện bố đã kể. Chẳng sao đâu, các con ạ! Vì ý nghĩa của quê hương mình, của cuộc đời mình chỉ nẩy mầm, vươn lên từ nỗi đau khổ khôn nguôi. Chúng ta không mất quê hương, không mất cuộc đời vì chúng ta biết đau khổ. Và biết đau khổ nên chúng ta biết thương yêu.

Tôi cứ ước ao giá tôi là thi sĩ. Thì tôi sẽ ca ngợi sự đau khổ của quê hương tôi. Mải suy nghĩ vẩn vơ, tôi đã tới văn phòng ông Nguyễn Công Hoan. Ở đây, đầy đủ những khuôn mặt văn nghệ Tuy Hòa và toàn là học trò của nhà văn Võ Hồng, kể cả dân biểu Hoan, thi sĩ Phan Long Yên, tác giả thi phẩm Tình quê (nghề tay phải của chàng là Trưởng ty Thông tin). Lạ lùng nhất là, từ Trần Huiền Ân, Nhã Nam, Phạm Ngọc Lư, Phạm Cao Hoàng, Phạm Long Côn đều làm thầy giáo. Chỉ riêng Nguyễn Công Minh, thi sĩ, làm... Trưởng ty Điền địa. Có thể nói tôi đã gặp một nửa nhà giáo nổi tiếng và toàn thể văn nghệ Tuy Hòa. Chuyện văn chương nổ ròn. Nhưng tối mai văn nghệ sẽ gặp nhau, sẽ... "hội thảo văn nghệ". Khách giang hồ vừa tới Tuy Hòa, xin phép cho nghỉ ngơi. Anh em dẫn tôi đến quán chè Cây Phượng, quán chè mà Mang Viên Long đã nói trong một truyện ngắn đăng trên Tuổi Ngọc. Chè ngọt như sự tiếp đón của chủ nhân, anh Minh, nhà giáo, người mơ ưóc có hai điều trong cuộc đời : Được đu ngoạn đất Bắc và viết một bộ địa lý Việt Nam dầy vài nghìn trang để con cháu sau này đọc mà yêu quê hương mình tha thiết. Tôi cảm động thấy mọi người lễ phép thầy thầy, con con vói Võ Hồng. Sư huynh Mai Tâm kính mến, Ngày Nhớ Ơn Thầy của Ngài nên tổ chức ở đây.

Ở quán văn nghệ Cây Phượng ra, trời đã tối. Trần Huiền Ân thết cơm chúng tôi. Thức ăn thật lạ, thật ngon. Nhưng tôi không dám phiêu lưu. Tôi chỉ ăn cơm với vài miếng dứa thái nhỏ.

Cơm nước xong xuôi, trời sắp... giới nghiêm. Mưa lất phất rơi. Nhưng mưa bị gió thổi dạt nên mưa biến thành mưa xuân hiền hòa. Chuyện văn nghệ được khơi dậy. Kỷ niệm về một ngôi trường cũ của thầy Võ Hồng và các trò Ân, Côn, Nam... được khơi dậy. Những tách trà nóng được mời mọc, chiếu cố. Văn nghệ Tuy Hòa quả là ấm áp chân thành. Một thị xã đìu hiu bề ngoài thường có bề trong rộn rã.

Ngày thứ nhất ở Tuy Hòa chấm dứt. Chúng tôi chia tay tại nhà Trần Huiền Ân. Ra tới đường đã nghe tiếng còi hụ của xe quân cảnh chạy dọc phố Trần Hưng Đạo. Nhà nhà tới tấp đóng cửa. Vì, mười phút sau sẽ có hồi còi hụ... giới nghiêm chính thức phát ra tự Tiểu Khu. Giới nghiêm ở Tuy Hòa cũng "hồn nhiên" ra phết! Đêm ấy, Võ Hồng và tôi ngủ tại căn nhà riêng của ông bà Thanh Đạm. Không hề nghe bom B 52 dội từ xa làm rung cửa kính. Không hề nghe tiếng đại bác câu đi. Đêm bình yên.

° ° °

SÁNG HÔM SAU, TÔI ĐƯỢC GẶP khá đông độc giả của tôi qua sự loan tin của anh em văn nghệ Tuy Hòa. Nhà văn Võ Hồng trở về Tuy Hòa lần này để "thăm những Carnot" và để thăm ngôi mộ của một nữ nhân vật trong Hoài cố nhân của anh. Chuyện cảm động vô vàn. Người cha (bạn của Võ Hồng) đi kháng chiến. Rồi thất lạc. Đứa con gái lớn lên không bíết rõ về cha mình. Mẹ nó đã "lỡ bước sang ngang". Nó sống với ngoại của nó. Mười lăm tuổi, tình cờ nó đọc Hoài cố nhân, nó khóc. Nó muốn biết cha nó bây giờ ra sao, thuở nó còn bé ra sao. Nó nhiều lần định vô Nha Trang tìm Võ Hồng hỏi thăm. Có lần nó đã vô nhưng nó ngại ngùng đứng trước ngôi nhà số 53 đường Hồng Bàng. Rồi mới đây, Phương Thảo (tên trong truyện Võ Hồng) chết. Cô bé vừa tròn mười chín tuổi. Hay tin cô chết và biết chuyện cô bé muốn gặp mình, nhà văn Võ Hồng đã xúc động đến quên ăn quên ngủ. Anh cũng chưa biết mặt cô bé như cha cô ta. Võ Hồng sắm hương nến, hoa, mời tôi ra nghĩa trang cùng anh. Chúng tôi phủ hoa lên mộ một nhân vật tiểu thuyết Hoài cố nhân, thắp hương và khấn vái. Tôi thấy Võ Hồng ứa nước mắt. Những bạn trẻ thích viết văn, bạn đã hiểu nhà văn cần có gì ngoài kỹ thuật và nghệ thuật viết ?

Chúng tôi được đưa đi thăm cây si hai trăm năm ở quận Hiếu Xương, sau đó. Không người đẹp nào xuất hiện để tôi trồng cây si. Hình như, gần một rễ phụ có giò lan, song nếu tôi "trồng cây si" bên cạnh, chắc chắn, anh em văn nghệ Tuy Hòa sẽ bứng cây si của tôi đi ngay. Phải vậy chăng, thi sĩ Phạm Cao Hoàng?

Tôi quên chưa kể ở Tuy Hòa có hai nhà sư rất văn nghệ. Toàn chức sắc của trường Bồ Đề. Một trong hai nhà sư này cũng đến cây si. Cây si, với nhà sư, chỉ là cây... bồ đề. Tôi bị giục về. Vì những bữa cơm. Đến hơn ba vị mời ăn cơm. Cơm nước làm ta bận rộn, làm ta mất cái thú ngao du sơn thủy. Tuy Hòa biết bao thắng cảnh, núi ta chưa leo, biển ta chưa xuống, ta chỉ còn hôm nay mà lại ăn cơm khách thì nản quá chừng. Tôi tự nhủ lần sau giã vợ đi giang hồ, đến đâu ta cứ âm thầm đóng vai kẻ lãng du, đôi mắt ta ngắm cảnh, đói bụng ta ghé quán chọn... cơm gà (phải gà Giao Chỉ cơ, gà Mỹ ta chê) ta ăn là thú nhất. Ta chưa sống cho ta một phút nào riêng với Tuy Hòa.

Trở lại thị xã, Võ Hồng và tôi... chia đôi. "Nhà văn tỉnh nhỏ" ăn cơm với ông Chủ Tịch Hội Đồng Tuy Hòa. Tôi ăn cơm với anh em văn nghệ. Còn nơi thứ ba xin... hẹn dịp khác! Tuy Hòa gió lộng mà ruồi nhiều phát khiếp. Tôi vô duyên cười há hốc miệng, bị hai bạn ruồi noi gương phi công Thần Phong nhào vô. Phải uống liền tù tì hai ly bia mới... cứu nguy nổi bao tử. Bia nốc đầy rồi, tôi xin phép anh em được cô đơn vài tiếng đồng hồ. Gọi xích lô mà dạo quanh thị xã Tuy Hòa.

- Ông bạn cho tôi tới một quán cà phê nào ngon nhất ?

- Ở xa lắm.

- Mãi đâu ?

- Nhà ga cũ, đường Nguyễn Huệ.

- Xa cũng tới.

Người xích lô có vẻ... văn nghệ nhân dân lắm. Anh ta thong thả đạp thay vì đạp lấy "giải chết" như quý vị xích lô trẻ Sàigòn. Một lát, người văn nghệ nhân dân của tôi đã đưa tôi tới quán Nhớ. Uống cà phê ở Nhớ về sẽ nhớ nhung. Nhớ ai ? Ai nhớ ? Nhớ ai ai nhớ bây già nhớ ai ? Nhớ ai ai nhớ mai về nhớ ai ? Nhớ giò Cầm Lan ? Nhớ cô hàng cà phê tỉnh nhỏ ? Nào đã biết. Bởi vì, hình ảnh đi vào nỗi nhớ thường đi rất chậm, đi rất thong thả.

Rất nhiều khi, nó mới đi chút xíu đã quay gót.

- Thầy về ngay chứ ?

- Uống cà phê đâu về ngay được. Ông bạn có thể neo xe chờ tôi. Nếu bạn "văn nghệ" xin mời vô uống cà phê với tôi.

Người xích lô cười. Tôi bước vào quán Nhớ. Ngụm cà phê đầu đã thấy nhớ vợ, nhớ con. Chẳng nhớ nổi ai. Hết rồi, tâm hồn tôi đã hết chỗ cho một nỗi nhớ.

Rời quán Nhớ, tôi bảo người văn nghệ nhân dân đưa tôi tới các quán cà phê ở Tuy Hòa làm một cuộc quan sát. Tuy Hòa khá đông quán cà phê văn nghệ. Những ngày gió Nam lộng thổi, trời không có nắng, ngồi quán cà phê tâm sự vụn thì tuyệt. Phải vì thế chăng mà dân Tuy Hòa nhiều người làm văn nghệ ? Kìa Võ Hồng "trưởng lão ". Nọ Khánh Linh, Nhã Nam, Trần Huiền Ân "thiếu hiệp". Đạo diễn Bùi Sơn Duân dễ thương cũng dân Tuy Hòa đó. Tuy Hòa, tỉnh lỵ duy nhất ở Việt Nam, có nhà in offset. Tuy Hòa, đặc biệt quán Cây Phượng dán đầy bích chương quảng cáo sách báo văn nghệ và tủ sách bày bán văn chương bớt những... sáu mươi phần trăm. Sàigòn tôi đang sống, Đà Lạt tôi đã lên, Nha Trang tôi đã tới, Huế tôi đã ra và tôi đã chịu khó đến các quán cà phê. Nhưng không ở đâu có không khí văn nghệ đúng nghĩa của văn nghệ như ở Tuy Hòa. Nghĩa là người ta đến quán cà phê, uống cà phê, thủ thỉ với nhau về chuyện gì đó chứ không phải chuyện văn nghệ. Sẽ khó chịu lắm nếu ta thấy ở bất cứ quán cà phê nào một vài anh lý luận văn nghệ to tiếng, một vài anh vác máy chữ tới viết văn, một vài anh ngồi quay lưng ra ngoài, hì hục làm thơ!

Biết sơ qua về Tuy Hòa văn nghệ qua các quán cà phê, tôi trở lại nhà anh Hoan. Tối hôm đó, tôi dự đêm văn nghệ trên lầu một của Ty Điền Địa, nơi thi sĩ Nguyễn Công Minh "ngự trị". Nghe nói, ở đây, anh em văn nghệ Tuy Hòa thường tụ họp làm thơ xướng vịnh và liên ngâm. Cảm khái thật. Tôi đã nghĩ không sai: Bây giờ, những bài thơ hay thường được sáng tác ở tỉnh nhỏ. Tôi vào cái nghề văn bút đã tròn mười hai năm, lần đầu tiên, mới dự đêm văn nghệ với những người văn nghệ. Văn nghệ có gì ? Bánh mì, cà ri, chả giò, nem nướng bầy trên giấy báo thay mâm và đặt trên nền nhà thay bàn. Bia đổ ngâm nước đá trong cái thùng múc nước. Ly là lon sữa bột Guigoz. Ăn chí tình. Nói văng mạng. Ngâm thơ. Hát. Văn nghệ đấy chứ ? Thú thật, tôi không khoái văn nghệ kiểu này. Nó ồn ào mà văn chương đòi hỏi sự cô đơn tuyệt đối. Mỗi nghệ sĩ là một con ốc trôi dạt trên bãi cát. Anh ta không được nói về anh ta. Anh ta không được nói về người khác. Bởi anh ta đã nói quá nhiều. Trong tác phẩm của anh. Nhưng ở tỉnh nhỏ, sinh hoạt văn nghệ lối văn nghệ Tuy Hòa nó mang tính chất đoàn tụ thân mật. Tôi đã hỏi một câu : Tại sao anh em văn nghệ Tuy Hòa thương yêu nhau thế ? Họ chỉ cười. Quả thật, họ thương yêu nhau thắm thiết. Họ thật. Họ sống với nhau, cho nhau. Không có đố kỵ nhỏ mọn, ghen tài ti tiện, oán ghét hạnh phúc riêng của nhau. Tàm hồn họ phơi phới như gió lộng trên cầu Đà Rằng. Tâm hồn họ cao như đỉnh núi Nhạn. Ở Sàigòn khan hiếm sinh hoạt văn nghệ cởi mở. Ở Sàigòn, văn nghệ. chỉ tụ tập từng bàn tại quán Cái Chùa với thời khắc khác nhau để nói xấu những kẻ vắng mặt. Thỉnh thoảng, lò dò tới vài anh văn nghệ lộn sòng ưa nói phét, thứ văn nghệ viết lách rất tồi song đọc ai mấy anh ấy cũng đè ra chê bai ầm ỹ như cảnh mổ bò, giết trâu, xưng xưng mình là ngự sử văn chương. Ôi, những con mối gặp mưa lúc nhúc bò dưới đất, đáng thương biết mấy ! Những con mối văn nghệ Sàigòn chưa gặp mưa - và sẽ trốn mưa bằng áo tơi của chúng rất giỏi - lên giọng khinh miệt, làm như độc giả thưởng ngoạn toàn người mù. Mù nên mới không hiểu nổi cái huyền diệu trong văn chương ế mốc của chúng.

° ° °

KHI MỌI NGUỜI ĐÃ NGÀ NGÀ MEN BIA thì một nhà sư văn nghệ tới. Nhà sư chức sắc của trường Bồ Đề. Nhà sư có dáng dấp Chiêu Lỳ Phạm Thái. Đẹp trai. Cao lớn. Thích ngâm vịnh. Tôi muốn nhà sư ấy ngồi cụng bia bằng lon Guigoz, nhấm nháp thịt gà cà ry. Tôi muốn nhà sư ấy cởi áo cà sa trải xuống làm đệm ngồi như nhà sư Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu phơi áo cà sa trên ghế, vào bàn xì phé trầm tư mặc tưởng một ván bài nghi ngờ bị tháu cáy. Thế mới Người, mới Cuộc Đời, mới Văn Nghệ. Văn chươrg đòi hỏi phóng khoáng, tự do. Ràng buộc vào cái gì đó, văn chương khó thoát. PhạmThiên Thư phá giới thơ sẽ hay nhất nhân loại. Bởi chưa phá giới, lại vác thơ dự thi nên chỉ ăn giải an ủi. Phạm Công Thiện sẽ xuất chúng nếu đừng tu hành giả vờ! Nhưng nhà sư Tuy Hòa không chịu cởi áo cà sa, thành thử, tôi mất hứng. Và tôi bỏ ngang cuộc vui, đi tìm cà phê Nhớ. Đêm về ngủ với thi sĩ Phan Long Yên, đọc thơ Tình quê để ngẩn ngơ tiếc mai mình đã rời Tuy Hòa. Phan Long Yên tả quê hương Tuy Hòa đẹp quá, nên thơ quá. Tình yêu quê hương nồng nàn của anh trải dài mấy ngàn câu thơ mà chưa dứt. Anh Phan Long Yên, hẹn cùng anh ngày nào đó, vào mùa lúa chín, sẽ về thăm Tuy Hòa và bắt anh đưa đến cánh đồng Ô Long vàng rực tương lai.

Tạm biệt Tuy Hòa, tạm biệt Trần Huiền Ân, Nhã Nam, Khánh Linh, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Công Hoan, Phạm Ngọc Lư, Phạm Cao Hoàng, Phan Long Côn, Phan Long Yên, tạm biệt Minh, chủ nhân Cây Phượng, người tôi quý nhất vì giấc mơ viết bộ Địa lý Việt Nam của anh, tạm biệt tất cả. Tôi sẽ đi bằng xe lửa ra thăm các anh. Tôi sẽ lên đỉnh núi Nhạn nhìn xuống thấy Tuy Hòa bình yên, thấy Tuy Hòa xanh ngát. Tôi sẽ về Hiếu Xương kiếm hai người thương binh trên chuyến xe đò. Đời thôi chiến trường rồi, hẳn họ đang sống hạnh phúc bên vợ hiền có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ. Ngôi trường sơ học Xuân Tự chắc đã rộn ràng tiếng hót chim khuyên. Tôi sẽ về Tuy Hòa túi không thẻ căn cước, không thẻ nhân dân tự vệ, không giấy tờ tình trạng quân dịch phiền toái. Những bót cảnh sát dọc đường đã thu dọn. Sư đoàn Bạch Mã của Đại Hàn đã về xứ họ, mang theo những chiếc bảng cấm sọ người trắng hếu sợ hãi. Không sợi thép gai nào sót lại đe dọa làm chảy máu chân ta, tay ta, mình mẩy ta và quê hương ta. Chúng ta có thể nằm ngoan trên võng bắc qua hai cây ngọc lan ngâm ca dao, tập lẩy Kiều. Hay chúng ta vào hang núi làm thơ tương tư bãi biển. Hay chúng ta đứng giữa cầu Đà Rằng viết văn chờ đợi gió Nam, chờ đợi nước nguồn ra bề. Chúng ta nằm. Chúng ta ngồi. Chúng ta đứng. Suốt đêm. Đồng hồ vất đi. Chẳng còn hồi còi hụ giới nghiêm. Chỉ còn tiếng sáo diều vi vu lơ lửng bầu trời. Chỉ còn tiếng gió luồn qua lá. Tiếng nước đùa chân cầu, Tiếng thầm tình tự của những người yêu nhau. Đời không còn chiến trường. Đời không còn những người con đi vắng. Đời không còn những người mẹ già nhớ nhung.

Em có mong ngày ấy anh về thăm quê em không, em gái Tuy Hòa ?

(18-8-1972)



THƯ TÌNH TRÊN CÁT
truyện dài của DUYÊN ANH VŨ MỘNG LONG
do TUỔI NGỌC xuất bản lần thứ nhất.
Mẫu bìa của ĐINH TIẾN LUYỆN
In xong ngày 8 tháng 4 năm 1973.
Giấy phép số 602/PTUDV/PHBCNT/KSALP
Sàigòn ngày 21 tháng 3 năm 1973