vietmessenger.com


Nhật Tiến

Hành Trình Chữ Nghĩa Tập 2 - Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi





MỤC LỤC


Phần Thứ Nhất - Về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương
  1.Cái Nhìn Của Một Người Trong Cuộc Về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương
  2. Cảm Nghĩ Của Giới Văn Học Nghệ Thuật Trong Nước Trước Chủ Trương “Đổi Mới”
  3. Dư Luận Văn Giới Hải Ngoại Về Phong Trào Văn Chương Phản Kháng Ở Trong Nước
  4. Việc Ấn Hành Cuốn "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương" Ở Hải Ngoại
  5. Nội Dung Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương
  6. Dư Luận Về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương
  7. Nhật Tiến Viết VềNhà Văn Nguyên Ngọc
  8. Thơ Văn Thời Văn Chương Phản Kháng
  9. Đỗ Quyên Phỏng Vấn Nhật Tiến Về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương

Phần Thứ Hai - Hành Trình Chữ Nghĩa "Qua Những Chặng Đường Nhận Thức"
  1. Một Suy Nghĩ Của Người Cầm Bút Lưu Vong
  2. Nguyên Văn Bản Tuyên Ngôn Của Nhóm Văn Nghệ "Chân Đất"
  3. Phỏng Vấn Của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo
  4. Phát Biểu Trong Buổi Ra Mắt Tác Phẩm Của Nguyễn Vạn Hùng
  5. Tác Phẩm Gây Tranh Cãi Quanh Truyện Dài "Mồ Hôi Của Đá"
  6. Thụy Khuê Đọc Mồ Hôi Của Đá
  7. Mồ Hôi Của Đá Lời Nhà Xuất Bản
  8. Mồ Hôi Của Đá Lời Tác Giả
  9. Trích Một Chương Trong Mồ Hôi Của Đá
  10. Truyện Ngắn Chuyển Hướng Viết: Người Tù Cuối Năm
  11. Tác Phẩm Gây Tranh Cãi: Truyện Ngắn Cánh Cửa
  12. Tác Phẩm Gây Tranh Cãi: Truyện Ngắn Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm

Phần Thứ Ba - Hãy Làm Sạch Môi Trường Chữ Nghĩa Hải Ngoại
  1. Nguyễn Hữu Nghĩa
  2. Nguyễn Hữu Nhật
  3. Nguyễn Thiếu Nhẫn
  4. Hoàng Hải Thủy


Lời Nói Đầu

Như đã thông báo trong Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn I , cuốn II của tập sách này đã tới tay bạn đọc với  tên  "SỰ THẬT KHÔNG THỂ BỊ CHÔN VÙI".

Tựa đề này hẳn gây thắc mắc cho bạn đọc : "Sự thật nào đã bị chôn vùi ?"

Xin nói ngay, kể từ khi miền Nam bị mất vào tay Cộng sản, đã có hàng ngàn, hàng vạn con người mang theo những kinh nghiệm sống chất chứa rất nhiều sự thật  hãi hùng trước khi họ bị vùi thây trong rừng sâu, nơi biển cả, hay trong các trại cải tạo..v…v…Những Sự Thật ấy tuy riêng lẻ, tuy xẩy ra ở những thời điểm khác nhau, không gian khác nhau, nhưng  trong một ý nghĩa nào đó, có thể gói chung vào hai chữ "vận nước" mà phạm vi cuốn sách nhỏ bé này không có ý định đề cập tới.

Ở đây, người viết chỉ nói đến một vài Sự Thật, tuy không lớn lao và hãi hùng như đã xẩy ra trong vận nước, nhưng trong sinh hoạt chữ nghĩa ở hải ngoại, triền miên trong nhiều năm ròng rã, cho đến nay nó vẫn bị chôn vùi.

Đó là sự thật về những thiện chí của nhiều người muốn đóng góp tâm sức vào công cuộc chung của Cộng đồng nhưng rồi đã bị xuyên tạc, bôi nhọ do ý đồ đen tối của nhiều kẻ chỉ muốn gây chia rẽ hàng ngũ cầm bút hoặc triệt hạ những nhân vật có thiện chí để khiến cho tiềm năng chống Cộng  của người Việt hải ngoại trở nên suy yếu đi.

Nhưng cái hậu quả tệ hại nhất sinh ra bởi những mưu đồ triệt hạ liên tục không ngơi nghỉ này, là nhiều người Việt đã nẩy sinh lòng  thắc mắc,  nghi hoặc, tâm trạng hoang mang, thậm chí đến nỗi tuy nhìn nhau mà không còn phân biệt được ai là bạn, ai là thù.

Sở dĩ để xẩy ra cái tình trạng đau lòng như vậy là vì ta đang sinh sống ở một xứ tự do. Đã có nhiều kẻ lợi dụng sự tự do quý báu này để  làm xáo tung hàng ngũ những người Việt hải ngoại lên bằng đủ mọi thủ đoạn đê hèn qua những lời lẽ hạ cấp, ti tiện  để xuyên tạc, chụp mũ, dựng chuyện lên đời tư của nhiều người khiến cho trong một thời gian dài cả nhiều chục năm, nhiều người chân chính tuy đứng trong cùng một hàng ngũ, tuy cùng chia sẻ với nhau lý tưởng chống CS và xây dựng lại quê hương nhưng lại đã nhìn nhau ngỡ ngàng, lắm khi còn sinh ra đến cả sự khinh bỉ hay hận thù.

Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho Cộng đồng VN hải ngoại trong nhiều thập niên qua, tuy vững mạnh về mặt đời sống nhưng rất yếu kém trong thành quả chống lại CSVN.

Xin lấy một ví dụ cụ thể :

Vào cuối thập niên 80, đất nước đã tới thời điểm cực kỳ  đen tối : Đổi Mới hay là Chết, nên Tổng Bí Thư của Đảng CSVN là Nguyễn văn Linh vào khoảng năm 1987 đã phải chấp nhận một sự đổi mới và để cho văn nghệ sĩ trong nước được tự do phần nào viết lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Nhờ thế mà ở trong nước, vào thời điểm đó đã nổi lên một cao trào mà ở hải ngoại mệnh danh là "cao trào văn chương phản kháng".

Trên phương diện sách lược chống lại Cộng sản, thì dù có đặt nghi vấn là "phản kháng thật hay phản kháng giả" thì mọi người cũng nên thổi vào đám lửa "phản kháng" đó cho nó bùng rộng thêm và khiến cho sự kiện đó hóa ra"lộng giả thành chân" thì mới phải.

Biết đâu, trong hàng ngũ những nhà văn, nhà thơ gọi là phản kháng đó lại chẳng có những con người khát khao tự do thực sự, viết ra những lời tâm huyết thực sự và muốn tâm tư, tình cảm của mình được tất cả mọi người Việt trên toàn thế giới lắng nghe?

Đây là lý do mà nhiều anh chị em trong làng văn, làng báo ở hải ngoại hồi cuối thập niên 80 đã ngồi lại với nhau, bỏ công sức biên soạn một cuốn sách mà chính chế độ CSVN khi hết "cởi trói văn nghệ sĩ" lại cũng muốn đem vùi giập.

Cuốn sách mang tên ‘TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG", lấy ý tưởng của nhà biên khảo Hoàng văn Chí hồi cuối thập niên 50’s viết cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Quê Hương khi nói về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

Khi nhóm biên soạn chúng tôi sử dụng những chữ "Vẫn Nở" là có ngụ ý rằng tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm của văn giới trong nước hồi thập niên 50, sau hơn ba chục năm sau vẫn còn tồn tại, và do đó đã tạo nên phong trào Văn Chương Phản Kháng để cho ta thấy rằng từ hồi Nhân Văn Giai Phẩm đến nay, sau biết bao nhiêu vùi giập mà  Trăm Hoa VẪN NỞ .....

Ý hướng của nhóm thực hiện rõ ràng như thế mà vẫn bị đám tay sai nhà nước cộng sản hợp sức cùng một vài  tên lộn sòng vào hàng ngũ cầm bút khác, nhất loạt xuyên tạc nội dung của cuốn sách để dẫn dắt dư luận cộng đồng đi theo một hướng khác, đến nỗi nhiều người chỉ mới nghe thấy tên cuốn sách "Trăm Hoa Vẫn Nở…." là đã nghĩ ngay đó là sản phẩm tuyên truyền cho Cộng Sản rồi.

Cho nên, đã tới lúc phải để cho Sự Thật không bị chôn vùi, phải có một hợp lực đồng loạt lên tiếng để xóa tan những ngộ nhận, vạch mặt chỉ tên những bàn tay lợi dụng ngòi bút để phá hoại Cộng đồng ngõ hầu vừa làm sạch mội trường chữ nghĩa, vừa trả lại công bằng cho những người công chính.

Biên soạn cuốn sách này, ngoài việc góp phần cho mục đích kể trên, tôi còn tiếp tục ghi lại vài dấu ấn trong cuộc hành trình chữ nghĩa của tôi, và nhân dịp này tôi cũng mong muốn góp phần vào công cuộc dọn dẹp sạch sẽ môi trường chữ nghĩa tại hải ngoại vốn đã từ lâu bị bôi bẩn bằng những thứ văn phong tục tĩu, vô văn hóa của một số ngòi bút vẫn tự phong cho mình vai trò ngự sử văn hóa, văn nghệ,  nhân danh lý tưởng chống Cộng để vùi giập, hạ nhục rất nhiều con người công chính.

Thành quả chống Cộng chẳng thấy đâu, mà chỉ thấy bọn này đã  làm lợi rất nhiều cho Cộng sản.

Như đã thưa trước trong Lời Mở Đầu,  việc tôi biên soạn cuốn sách này, ngoài việc làm sáng tỏ thêm những ngộ nhận đã từng bao trùm lên cuốn sách Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương cùng một số tác phẩm của riêng tôi , tôi còn  mong muốn góp phần vào công cuộc dọn dẹp sạch sẽ môi trường chữ nghĩa tại hải ngoại vốn đã từ lâu bị bôi bẩn bằng những thứ văn phong tục tĩu, vô văn hóa của một số ngòi bút vẫn tự phong cho mình vai trò ngự sử văn hóa, văn nghệ,  nhân danh lý tưởng chống Cộng để vùi giập, hạ nhục rất nhiều con người công chính. Đây là một hậu quả bi thảm của tình trạng Tự Do trong địa hạt Chữ Nghĩa đã bị lạm dụng tối đa bởi những kẻ không biết " liêm sỉ"  hay  "tinh thần trách nhiệm" là cái gì. Bọn chúng chỉ viết cho sướng tay, cho thỏa mãn tự ái cá nhân và đầu óc bệnh hoạn vốn chỉ chất chứa những hình ảnh tục tĩu để lúc nào cũng sẵn sàng văng ra trên bài viết của mình.

Tôi nói không ngoa!

Thí dụ có mấy  ai biết rằng Nguyễn Hữu Nhật với bút danh Chém Đá, phụ họa với Nguyễn Hữu Nghĩa với bút danh Mõ Làng Văn trong một bài viết về một nhân vật già khả kính là bà Khúc Minh Thơ, Chủ tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị, mượn cớ thằng nhỏ phải mặc quần rộng vì nghịch ngợm cứ phải xốc lên, để đưa ra 2 câu thơ với ý đồ bệnh hoạn, tục tĩu không thể che giấu: "Xốc quần quần tụt tụt quần. Xốc sao cho bọn cù lần mỏi tay"  ( Trong cuốn Đá đổ mồ hôi, của Sắc Không tức Nguyễn Hữu Nhật ở Na Uy do Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa ở Canada xuất bản).

Người Việt chân chính hỏi ai mà không phẫn nộ khi nhận ra rằng môi trường văn hóa hải ngoại đã  bị bọn chúng quấy hôi bôi nhọ đến như thế !

Trên đây chỉ là một ví dụ trong hằng hà sa số những bài viết hạ thấp Nhân phẩm cũng như bôi đen Chính nghĩa  chống Cộng xuất hiện đầy rẫy trên báo chí, trên Internet trong hàng chục năm vừa qua.

Tôi nghĩ, đã tới lúc chúng ta không thể tiếp tục cho phép tình trạng viết lách hỗn loạn , tục tĩu, vô luân ấy được duy trì mãi để khiến cho người Việt ở hải ngoại cứ bị mang tiếng xấu xa chỉ vì từ lâu đã  dung dưỡng những loại cầm bút vô trách nhiệm, kém đạo đức và thiếu lương tâm này.

Ước mong những nỗ lực chính đáng và chân thành của tôi sẽ không trở thành tiếng kêu trong sa mạc.. ..

NHẬT TIẾN
California , tháng 5 năm 2012



Phần Thứ Nhất

Về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương


Chương 1

Cái nhìn của một người trong cuộc về cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG

 

TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG là nhan đề một cuốn sách được biên soạn bởi 27 người viết ở hải ngoại vào cuối thập niên 80 khi ở trong nước có vấn đề "đổi mới" và "cởi trói cho văn nghệ sĩ".

Chính nhờ đường lối cởi mở này (dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi rồi lại bị khép lại) mà nhiều tâm tình thầm kín, nhiều ước vọng tự do của cả người viết lẫn người đọc có dịp được bung ra, in ấn tràn lan trên nhiều trang báo trong nước.

Là những người sinh hoạt trong giới Văn Học Nghệ Thuật ở hải ngoại, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hay biên khảo đã cảm thấy mình có liên đới trách nhiệm đến sự kiện kể trên và nhất là thấy nội dung vấn đề rất gắn bó với nhu cầu đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ trên đất nước. Vì thế, một số đông đảo anh chị em cầm bút đã ngồi lại với nhau trong những buổi gặp gỡ cuối tuần  ròng rã trong cả gần hai năm trời để:

1) Tìm hiểu cặn kẽ diễn tiến của phong trào văn chương đổi mới mà chúng tôi gọi tên là Văn chương Phản kháng, có mục tiêu "không chấp nhận loại văn chương cung đình" vốn đã tồn tại trước đó ở trong nước.

2) Góp phần phổ biến những lời tâm huyết, những sáng tác mang đầy những ước mơ về quyền làm người của nhiều văn nghệ sĩ trong nước, điển hình như:

- " Mình trót nói dối hết hai phần ba thì cũng phải tự phủ định hai phần ba ấy. Đến tuổi này, lúc này, không nói dối được nữa." (nhà văn Nguyễn Khải).

- " Không phải cứ là nhà chính trị thì cao hơn nhà nghệ sĩ. Nhà văn lớn phải là nhà tư tưởng lớn. Chính trị có nhiều cấp độ, thật đáng buồn khi người ta đòi văn nghệ trở thành sự vụ.... tức là hạ chính trị xuống những cấp độ thông tục nhất và bắt văn nghệ "phục vụ" ở cấp độ ấy." (Tạ văn ThànhHọc viện Nguyễn Ái Quốc).

 -" Kiểu bảo trợ có nhiều mức, nhiều dạng, nhưng mức cao nhất là đẻ ra nghệ thuật quan phương, như kiểu "tao đàn" của Lê Thánh Tông. Dạng nghệ thuật này khó mà có giá trị cao, vì nó gắn với "cảm hứng nhà nước" diễn đạt tư tưởng của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước. Trong khi đó, nghệ thuật chân chính phải phát ngôn ý thức nhân dân, ý thức thời đại, phải diễn đạt nhu cầu phát triển con người và xã hội cao nhất của thời đại và dân tộc.

(Nguyễn Đăng Mạnh- Đại Học Sư Phạm)     ….v…v…

3) Nhóm biên soạn cũng muốn gióng lên lời đáp ứng nhiệt thành rằng: những nguyện vọng chính đáng của anh chị em cầm bút trong nước nói riêng, và toàn thể đồng bào nói chung đã được bên ngoài nước lắng nghe và được hỗ trợ bởi khối đông đảo người Việt hải ngoại, tất nhiên trong đó cũng có giới cầm bút.

4) Chúng tôi gom góp các tài liệu văn học nghệ thuật được sáng tác trong thời gian đó kèm thêm những bài nhận định, tổng hợp hay phê phán do chúng tôi viết để in thành cuốn "Trăm Hoa Vẫn Nở trên Quê Hương".

° ° °

Một công việc làm với đầy đủ ý nghĩa như thế tất không thể là một sự "quỵ lụy, lòn gối, lấy lòng CSVN" như một số dư luận từ xưa tới nay đã nghĩ, do nhiều người đã bị  hướng dẫn bởi vài kẻ cầm bút thiếu lương tâm, sách thì chưa đọc, chưa biết sự thể Ất Giáp thế nào đã nhào vô chửi bới với lời lẽ rất vô văn hóa để chứng tỏ ta đây mới là người đích thực chống Cộng và có quyền vùi giập bất cứ ai không vừa ý mình.

Nhưng có biết đâu, càng chống cuốn "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương" bao nhiêu thì càng rơi vào ý muốn của đám lãnh đạo CSVN bấy nhiêu. Bằng cớ là chỉ vài năm sau, tất cả những tâm tư, nguyện vọng về tự do sáng tác ghi gói trong phong trào văn chương phản kháng đều đã bị chính quyền trong nước dẹp bỏ.

Bây giờ, thời gian đã trôi qua trên 20 năm, tưởng cũng đã đủ để nhìn lại sự việc một cách chính xác, và nhất là để làm sáng tỏ những sự kiện xoay quanh cuốn sách này vốn vẫn còn gây thắc mắc trong tâm trí nhiều người mà vì lý do sách đã tuyệt bản, không mấy ai còn lưu giữ để có thể tìm hiểu cặn kẽ.

Riêng cá nhân tôi, nhân danh một người đã góp phần biên soạn cuốn sách này, tôi thấy cần phải lên tiếng trả lời những luận điệu xuyên tạc đã có từ nhiều năm qua (và cho đến bây giờ nó vẫn còn được sử dụng mỗi khi thấy cần bêu tên cuốn sách để làm luận chứng chống Cộng)  để một phần làm sáng tỏ vấn đề và phần khác, trả lại sự công bằng cho những thiện chí của nhiều người cầm bút, cả trong lẫn ngoài nước ở vào thời điểm cuối thập niên 80’s.

Xin  nêu một luận điệu chống đối hàm hồ sau đây do Nguyễn Thiếu Nhẫn đã viết:

"Mấy ông văn nghệ sĩ lưu vong tỵ nạn chắc vì nhớ cái cũi sắt của "nền văn chương cũi sắt" ở trong nước  mà họ đã liều sống, liều chết thoát ra, bèn ra báo Hợp Lưu và xuất bản sách "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương " đem về nước để dâng Đảng lập công...."...

Tôi sẽ chứng tỏ lối phê phán kiểu này chỉ là sự bất lương cầm bút vì sự thực ra sao, nội dung cuốn sách sẽ tự nó nói lên . Xin mời độc giả tiếp tục đọc những  phần kế tiếp.

Trước khi đi vào phần nói về sự ra đời của cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, một công trình biên soạn của 27 tác giả ngoài nước viết về 79 tác giả trong nước, được ấn hành vào tháng 9-1990 ở Nam Cali, xin mời độc giả đọc trước một số cảm nghĩ của các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo..v..v.. ở VN vào thời kỳ của những năm 1986-1989 mà ta vẫn thường gọi là "Thời Kỳ Đổi Mới" với "Phong trào Văn Chương Phản Kháng".

Chương 2

CẢM NGHĨ CỦA GIỚI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TRONG NƯỚC TRƯỚC CHỦ TRƯƠNG "ĐỔI MỚI"

 

1) Ngày 7 tháng 10 năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh đã có một cuộc gặp gỡ với văn nghệ sĩ.

Nhà văn Nguyên Ngọc, khi đó đang là Tổng Biên tập báo Văn Nghệ, tức là người có trách nhiệm duy trì đường lối của tờ báo và tuyển chọn các bài vở để cho in lên mặt báo, đã phát biểu một bài dài  trong có đoạn như sau :

"Một nguyên nhân khác, theo tôi, là đẻ ra từ hệ tư tưởng bao cấp nặng nề thống trị trong suốt thời gian rất dài, kể cả "bao cấp về tư tưởng". Có những thời kỳ dài, tôi xin nói một cách hình ảnh, cứ hàng quý đến kỳ anh tuyên huấn cấp dưới lại khăn gói lên tuyên huấn cấp trên, lĩnh một ít tư tưởng do cấp trên cấp phát cho, về để tiêu dùng cho mình và đơn vị mình trong suốt quý. Hết quý, lại đi lĩnh suất khác. Nếu chẳng may đến kỳ rồi mà giao thông trắc trở chưa đi lĩnh được suất tư tưởng mới thì đành lúng túng ngồi chờ vậy, chẳng thể tự mình nghĩ ra được và dám nghĩ ra cái gì khác. Bởi đã quen: quyền suy nghĩ là quyền của cấp trên!

Tôi e rằng tình trạng này đến nay cũng chưa hết hẳn đâu.

Trong văn học nghệ thuật, tình trạng này cũng nặng nề. Mãi gần đây, một hôm tôi được chứng kiến một nhà văn có tên tuổi hẳn hoi và đang giữ một cương vị khá quan trọng trong bộ máy lãnh đạo văn học ta, lên chỗ Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương của đồng chí Trần Độ, nằng nặc đòi: "Trung ương phải chỉ đạo cho chúng tôi nên xây là chính hay chống là chính chứ! Lúc này văn học nên ca ngợi cái tốt là chính hay đấu tranh chống tiêu cực là chính? Phê bình đấu tranh đến mức nào? Tỷ lệ như thế nào?... Yêu cầu Ban của Đảng phải chỉ đạo cho chúng tôi!...".

Riêng tôi, hôm ấy, tôi nghĩ: nếu tự anh không biết được trước cuộc đời hôm nay anh cần ca ngợi cái gì, đấu tranh chống cái gì, anh yêu ai ghét ai, anh phải yêu như thế nào và ghét như thế nào... thì anh còn là nhà văn cái nỗi gì!"

(Nhà văn Nguyên Ngọc phát biểu trong cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với văn nghệ sĩ, ngày 7-10- 1987)

Nguồn: http://www.viet-studies.info/NhaVanDoiMoi/NhieuTacGia_ThaoLuanBanTron.htm

Chương 3

DƯ LUẬN VĂN GIỚI HẢI NGOẠI VỀ PHONG TRÀO VĂN CHƯƠNG  PHẢN KHÁNG Ở TRONG NƯỚC

 

Bất cứ ai trong văn giới hay báo giới vào thời kỳ đó (những năm cuối của thập niên 80) nếu còn quan tâm đến sinh hoạt chữ nghĩa thì không thể không đón nhận những tín hiệu thay đổi quanh vấn đề sáng tác ở quê nhà.

Một số có tinh thần lạc quan thì cho rằng đã có một "phong trào văn chương phản kháng"

Một số vị khác thì dè dặt nêu vấn đề " Phản kháng thật hay Phản kháng giả ?"

Hai ý kiến này đã làm bùng nổ một cuộc tranh luận trên hầu hết các trang báo, đặc biệt là các trên các tạp chí văn nghệ của người Việt hải ngoại trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, dù tranh cãi, dù đã vận dụng tất cả kinh nghiệm sống cũng như lý luận văn học để bênh vực cho ý kiến của mình thì hầu hết những cây bút tham dự cuộc tranh luận này đều đã chứng tỏ được hai điều :

- Một là họ có thực sự theo dõi những biến chuyển văn hóa, chính trị ở quê nhà và có đọc những tác phẩm của nhiều văn nghệ sĩ ở VN đã viết ra trong thời kỳ đó.

- Hai là dù tranh luận cách nào thì vẫn giữ thái độ ôn hòa, nghiêm túc, theo thói quen của người cầm bút chân chính là có một thái độ văn hóa khi đề cập đến một văn đề văn hóa.

Nhưng ngoài những ngòi bút nghiêm túc vừa kể, trên mặt báo cũng không thiếu gì kẻ chưa biết Ất Giáp sự thể ra sao, chưa từng đọc một bài nhận định nghiêm túc về phong trào này, hầu hết chỉ nghe đồn láng thoáng ở chốn trà đình tửu quán đã nhào vô nhân danh chống Cộng để đánh hôi bằng những ngón võ bất cận nhân tình, để chỉ mong tên tuổi của mình cũng được nhắc nhở trên mặt báo, hay là để thỏa mãn một mối tư thù hay lợi nhuận cá nhân vặt vãnh khi cố tình đi vùi giập kẻ khác.

Hậu quả là dư luận trong cộng đồng đã bị đầu độc bởi những tên viết lách kiểu này, đến nỗi về sau,  khi cứ nhắc tới cái tên " Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương" là nhiều người đã nghĩ ngay đến một cuốn sách  thiên Cộng, bợ Đảng, chống lại lý tưởng Tự do, Dân chủ.

Và đấy là một thực trạng đáng buồn và là lý do mà chương sách này được viết ra để cho "Sự thật không thể bị chôn vùi."

° ° °

Trong lãnh vực văn hóa đích thực, đã có nhiều nhà văn, nhà phê bình văn học viết bài phê bình, nhận định về phong trào Văn Chương Phản Kháng đăng rải rác trên nhiều tạp chí xuất bản ở hải ngoại hay qua các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh loan tải trên toàn thế giới. Xin tạm trích những lời nhận định của vài cây bút tiêu biểu :

  Nhà văn MAI THẢO

(trong cuộc phỏng vấn do nhà phê bình Thụy Khuê thực hiện cho đài RFI)

Thụy Khuê: Anh nghĩ sao về văn học phản kháng trong nước?

Mai Thảo: Trong một cuộc phỏng vấn mới đây cho báo Hợp Lưu của nhóm Khánh Trường, tôi có nói đến văn nghệ phản kháng, tôi cũng không thể trả lời được gì nhiều bởi vì tôi không theo dõi từ đầu, và những tiểu thuyết, những bài viết, những bài báo của những người ở trong khuynh hướng gọi là đối kháng ở Việt Nam bây giờ, gửi ra, tôi cũng không đọc được nhiều. Tôi cho là phong trào đối kháng đó có. Đáng lý nó phải có từ lâu rồi. Nhưng có lẽ bởi vì trước kia, sự kiểm soát của đảng, của nhà nước gắt gao quá, hay họ không có tinh thần đối kháng lại chế độ, chính sách của chế độ, lúc ấy họ không có môi trường, không có phương tiện để tỏ hiện sự đối kháng của họ ra, mà thời gian gần đây, họ đã có một số điều kiện để có thể lên tiếng hay để có thể xuất bản những cuốn sách không theo đường lối, chính sách của văn chương xã hội chủ nghĩa. Nhưng nói đến phong trào đối kháng sẽ đi tới đâu thì tôi không rõ bởi vì nếu đảng hay nhà nước lại thi hành chính sách kiểm soát khắc khổ trở lại thì cái đối kháng ấy có thể bị dập tắt.

Nguồn : RFI

° ° °

Nhà văn NGUYỄN ĐỨC LẬP:

……..

Xin thành thật nể phục những cây bút đã đóng góp vào cao trào dùng chữ nghĩa để phản kháng tại Việt Nam hiện nay.

Dù là chống chủ nghĩa, chống chế độ hay chống lại những việc làm sai trái của cán bộ địa phương, mọi sự phản kháng bằng sách vở, báo chí, trên giấy trắng mực đen, đều đáng nể phục.

Những ai đã từng sống với Cộng sản đều biết rằng chế độ vốn tráo trở như nướng bánh phồng, vốn lật lọng như đảo bàn tay. Nhân dân không tin chế độ. Hơn ai hết, những người được phép cầm viết trong chế độ hiểu rõ bản chất của chế độ.

Một lời tuyên bố "cởi trói văn nghệ" của Tổng bí thư Nguyễn văn Linh, đã nổi lên một phong trào phản kháng trong văn chương bác học, đã có những tên tuổi nổi bật, đã có những tác phẩm được bàn tán.

Điều nầy, có thể giải thích bằng hai lý do.

Một là, các nhà cầm bút, làm công việc phản kháng ở Việt Nam, đã đặt niềm tin tuyệt đối vào lãnh tụ. Lãnh tụ đã hạ lệnh "cởi trói", các nhà cầm bút tuyệt đối tin tưởng rằng đây là toàn tâm thiện ý của đảng, họ không hề cảm thấy phải dè dặt ở sự tráo trở, lật lọng ngày một ngày hai, đúng với bản chất của chế độ trước đây. Niềm tin sáng chói đó đã kết tụ thành những dòng chữ, những tác phẩm.

Hai là, các nhà cầm bút phản kháng, đã nương lấy cơ hội "cởi trói" để đứng về phía nhân dân, nói lên tiếng nói uất nghẹn của đại khối nhân dân. Đây là một hành vi can đảm, cực kỳ can đảm, đem chính cái an nguy của mạng sống mình, nói lên tiếng nói của đám đông bị đàn áp.

Cho dù phát xuất từ lý do nào, các người cầm bút phản kháng ở Việt Nam cũng đáng nể phục. Trong trường hợp ở lý do thứ nhất, họ đáng nể phục vì vẫn còn có niềm tin sáng chói, trong khi, niềm tin để viết đã mất ở một số cây viết ở hải ngoại, mất đến nỗi phải vay mượn niềm tin từ kẻ khác và tưởng đó là của mình.

Trong trường hợp ở lý do thứ hai, không đáng khâm phục, kính trọng sao,  những người đã đem hết tương lai, sinh mạng của mình để đánh đổi tiếng nói đau thương của nhân dân?…….

(Tạp chí Văn Học ở Nam Cali - Số 49, Đặc biệt Văn Chương Phản Kháng –ra ngày 1 tháng 3-1990)

NGUYỄN HƯNG QUỐC :

Nhà văn, Nhà Phê bình Văn học

....Cuộc vận động đổi mới diễn ra trên cả ba lãnh vực: sáng tác, phê bình và lý luận.

Cuộc vận động đổi mới trong lãnh vực sáng tác khởi sự khá sớm và kéo dài khá lâu. Tuy nhiên, số cây bút tham gia và thực sự thành công tương đối. Cũng dễ hiểu. Đổi mới trong sáng tác có nghĩa là đổi mới cả một nếp cảm xúc trong con người. Nhiều nhà văn, nhà thơ ở Việt Nam tự ví mình như những con gà công nghiệp, sau một thời gian dài bị nhốt trong chuồng, nay được thả ra giữa sân, mắt lóa nắng, đi đứng lạng quạng, gặp cái gì cũng ngỡ ngàng, không biết bới rác và không biết về đâu đến đâu.

Với những mức độ khác nhau, có thể coi những tên tuổi sau đây ít nhiều đổi mới sáng tác của mình. Về văn xuôi, có Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Lê Lựu, Xuân Cang, Phạm thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc... Về thơ, có Nguyễn Duy, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Trần Vàng Sao, Trần Mạnh Hảo... Có thể tóm gọn sự đổi mới của họ vào bốn điểm :

- Thứ nhất, họ chấp nhận có mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp vô sản và trong bản thân xã hội chủ nghĩa.

- Thứ hai, vì chấp nhận có mâu thuẫn nên họ cũng chấp nhận có bi kịch.

- Thứ ba, họ chấp nhận, trong văn học, có một khu vực khá rộng rãi dành cho cái "tôi", cái riêng của con người, những con người bình thường, tầm thường.

- Và thứ tư, họ chấp nhận sự hiện diện của những yếu tố "vô hại" trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Bốn điểm gọi là mới trên, so với lịch sử văn học dân tộc nói chung, là những cái cũ mèm, tuy nhiên, so với lịch sử văn học cộng sản, từ năm 1945 đến nay, là những canh tân độc đáo và cực kỳ quan trọng.

(Phong trào đổi mới văn học tại Việt Nam từ phản tỉnh đến phản kháng- Tạp chí Văn Học ở Nam Cali, số 53-54 tháng 7&8-1990)

° ° °

Nhà phê bình Văn học THỤY KHUÊ: duyệt qua tính chất của văn học phản kháng ……

Những năm gần đây, văn học phản kháng không phải là một phong trào. Không bùng lên như một ngọn lửa, nhưng là những đợi sóng ngầm, những lớp địa tầng, sửa soạn chuyển mình, ấp ủ những suy tư chín mùi của những con người đã sinh ra hoặc đã trưởng thành trường kỳ luân lạc trong đói rét, thiếu thốn, hy sinh và đau khổ, trên nhiều miền đất nước, qua nhiều lãnh vực của nghệ thuật và tư tưởng.

Văn học phản kháng hiện nay là tiếng kêu tuyệt vọng của thế hệ trí thức trung niên và trẻ, thấm nhuần tư tưởng Cộng sản trước sự đổ vỡ, tha hóa của con người dưới chế độ độc tài, mục rữa vì những tệ đoan xã hội, chồng chất những quyết đoán bất công, u tối và sai lầm từ nhiều thập kỷ.

Những bài nghị luận phê bình lãnh đạo hiện diện những ngòi bút sắc bén, đôi khi lý luận bằng chính hệ thống triết học trong tư tưởng Cộng sản, tìm đến cội nguồn của sự sai lầm trong nền văn học chỉ đạo, bằng lối suy luận có hệ thống vững chãi và sâu xa: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Hồ Ngọc...

Trên địa hạt sáng tác, xuất hiện nhiều nét đặc thù:

- Những quằn quại của con người khát khao tìm mà chưa từng được biết hạnh phúc (Thời Xa Vắng, Lê Lựu. Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Dương Thu Hương. Thiên Sứ, Phạm thị Hoài...).

- Cái nhìn bất lực của con người trước sự tan rã của những tâm hồn lành mạnh trong một môi trường mục rữa (Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt, Lưu Quang Vũ).

- Nét cay độc và sâu sắc của bằng người đã thấy giữa "có nhân" và "phi nhân" không còn giới tuyến, đả phá đến tận nền tảng chế độ đưa con người tới chỗ phi nhân (hiện tượng độc đáo Nguyễn Huy Thiệp).

- Lật lại quá trình của một chế độ, khai sinh trên đất nước với một lý tưởng cao đẹp: giải phóng quê hương, dìu dắt con người đến thiên đường hạnh phúc, nhưng trên đường đi đến "thiên đường" đã dùng mọi thủ pháp xảo trá để tiến bước, dẫm lên lý tưởng và đè bẹp con người, đưa dân tộc tới ngõ cụt ngày nay (Ly Thân, Trần Mạnh Hảo).

- Lật đổ hiện tượng thần thánh hóa chiến tranh với những nhân vật vĩ đại, anh hùng: có những người hèn của chiến tranh.

- Đặt lại giá trị cuộc chiến Nam - Bắc như một cuộc nội chiến với bộ mặt thê thảm! Anh em tàn sát lẫn nhau.

- Phán xét đấu tranh giai cấp như một sai lầm trầm trọng đưa đến hủy hoại con người, trong đó có cái phần dốt nát, vô học (dưới tên vô sản) đã đè bẹp cái phần trí thức, tư tưởng và tình cảm (dưới tên tiểu tư sản) (Những Mảnh Đời Đen Trắng, Nguyễn Quang Lập).

- Những tư tưởng đến từ những cái nhìn thăm thẳm vào con người, vào cuộc sống của chính những tâm hồn - sinh ra trong xã hội Cộng sản – nhìn và đánh giá sự thất bại của cái gia đình, cái xã hội đã hoài thai và mang nặng đẻ đau mình, bằng cái nhìn thẳng thắn đến độ lạnh lùng, gay gắt; để  thức tỉnh mọi người, để đổi thay hay cảnh giác xã hội, để tìm một lối thoát cho quê hương đã cận đường, tuyệt lộ.

Những tư tưởng bắt nguồn từ những cỗi rễ sâu xa như thế, không dễ gì mà dập tắt cho được.

THỤY KHUÊ

(Tiến trình văn học phản kháng từ 1980 đến 1990- tạp chí Văn Học ở Nam Cali, số 51- ngày 1 tháng 5-năm 1990)

Chương 4

VIỆC ẤN  HÀNH  CUỐN "TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG" Ở HẢI NGOẠI

 

Trong bầu không khí sôi nổi về văn chương phản kháng ở trong nước như thế, nhiều anh em trong giới văn nghệ ở hải ngoại tự nhận thấy có nhu cầu phải thực hiện một điều gì khả dĩ góp phần phổ biến cho những tiếng nói ấy, một mặt để những sáng tác của họ được nhiều người biết đến hơn và một mặt khác để người trong nước nhận thấy cũng đã có những hỗ trợ tinh thần ở bên ngoài xoay quanh công cuộc phản kháng mà họ đang tiến hành.

Sáng kiến thu thập tài liệu rồi phân công viết bài nhận định để in thành một cuốn sách bắt nguồn từ đó.

Những vị tham gia công việc này kể là rất đông đảo, cả ở Mỹ, ở Canada, Âu châu, Nhật Bản hay Úc đại Lợi..v..v... Người ở xa thì sưu tập tài liệu từ trong nước, nhận phân công viết bài, người ở ngay Orange County (khoảng trên 10 vị)  thì tụ họp hàng tuần để bàn thảo nội dung cuốn sách, góp ý cân nhắc để chọn lựa các tài liệu đã có, lập danh sách phân công viết bài.

Tuy nhiên những vị đóng góp công sức tích cực nhất thì có thể kể tên như : Trần Vịnh, Đỗ hữu Tài, Thân Trọng Mẫn, Nguyễn Quốc Trung, Lê Bửu Tấn, Nguyễn Bá Tùng, Trương đình Luân, Hoàng Sử Mai,  Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Đỗ Thái Nhiên….

Cuối cùng, cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG được thành hình, in trong loại sách khổ lớn dầy 800 trang, bao gồm 27 tác giả ngoài nước viết về 79 tác giả trong nước. Theo tôi, có lẽ đây là một lần duy nhất tính cho đến nay, đã có một nhóm cầm bút thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau ngồi lại được với nhau trong suốt ròng rã hơn một năm trời với những sinh hoạt sôi nổi, nhiệt tình và đầy thiện chí. Họ đã tiến hành một công trình văn học đến nơi đến chốn kể từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn tất, không có một trở lực nào mà họ không xúm lại cùng giải quyết để vượt qua. Cuối cùng, cuốn sách đã được in ra và phát hành ở Nam Cali vào khoảng tháng 8-1990.

Chương 5

NỘI DUNG CUỐN TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG

  Lời nói đầu của nhà xuất bản

(Có  in lại nguyên văn Lời Nói Đầu, xin coi trang 36 )

 

Nội dung cuốn sách gồm bẩy phần và một phần kết thúc gọi là CHUNG, theo thứ tự như sau :

PHẦN 1: Bối cảnh và Diễn tiến

PHẦN 2: Tác phẩm và Tác giả

PHẦN 3: Hai biến cố Phản Kháng tiêu biểu

PHẦN 4: Phân tích Chính trị

PHẦN 5: Tài liệu : Lý Luận văn Học và Tự Do Tư Tưởng

PHẦN 6: Văn Liệu/Văn-Thơ-Ký

PHẦN 7: Nhìn từ nước ngoài.

CHUNG : Thư ngỏ gửi anh chị trong phong trào văn chương phản kháng ở  trong nước –Nhóm Chủ biên

Đóng góp bài vở cho 7 phần này gồm bài viết của 27 ngòi bút  ở hải ngoại, theo thứ tự như sau:

- Từ phong trào Nhân văn Giai phẩm đến Cao trào văn nghệ phản kháng (1986 -1989) - Thân Trọng Mẫn .

- Phong trào đổi mới văn học tại Việt nam: từ phản tỉnh đến phản kháng -Nguyễn Hưng Quốc

- Tâm lượng kẻ hào sĩ - Nghiêm Xuân Hồng

- Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến, những người cầm bút trung thực - Nguyễn Mộng Giác

- Nhà văn Nguyên Ngọc: suy nghĩ và hành động trong cao trào văn nghệ phản kháng - Nhật Tiến

(Có  in lại nguyên văn trong sách này, xin coi trang 55)

- Lưu Quang Vũ: chim sâm cầm đã chết - Vũ Hạ

- Đọc Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương -Phạm Việt Cường

- Trần Mạnh Hảo một con đường ly thân với quá khứ - Hoàng Chính Nghĩa

- Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp - Phan Tấn Hải

- Giới thiệu Trần văn Thủy - Thụy Khuê

- Tản mạn với Phạm thị Hoài - Phạm Kim Khải

- Dẫn nhập: Trường hợp tạp chí  Langbian

- Dẫn nhập về đại hội nhà văn lần thứ IV  - Hoàng Khởi Phong

- Dẫn nhập phần Bốn

- Những suy nghĩ chính trị về cao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam (1987-1989) - Đỗ Hữu Tài

- Từ đề cương 1943 đến nghị quyết 1987  - Đỗ Thái Nhiên

- Chung quanh cuộc tranh luận về quan hệ giữa  chính trị và văn học – Nguyễn Bá Tùng

- Dẫn nhập phần Năm

- Hạnh ngộ cụ Nguyễn Mạnh Tường - Phạm Trần

- Ảo tưởng và thực tế qua một vài tác phẩm của văn chương phản kháng trong nước - Nguyễn văn Sâm

- Dòng thơ từ phía khác - Hoàng Sử Mai

- Vai trò của Ký trong cao trào văn nghệ phản kháng - Trương Đình Luân

- Vài suy nghĩ liên quan đến văn chương  phản kháng - Trương Vũ

- Ly thân hay ly đảng - Thi Vũ

- Cảm nghĩ rời - Nguyễn Đức Lập

- Lá thư Hoa Thịnh Đốn - Bùi Bảo Trúc

- Sĩ phu và sinh mệnh dân tộc - Thập Lang

- Văn chương phản kháng, nhìn từ hải ngoại - Nguyễn Trần Ngọc Thu

CHUNG

- Thư ngỏ gửi anh chị trong phong trào văn chương phản kháng ở  trong nước – Nhóm Chủ biên  ( Có in lại nguyên văn trong sách này, xin coi trang 39.)

° ° °

Nội dung cuốn sách cũng trích dẫn nhiều tác phẩm Thơ, Văn, Ký, Tham luận, Phỏng vấn..v.v..của 76 tác giả trong nước, liệt kê như sau :

* Hòa đồng nhân loại - Nguyễn Minh Châu

* Vết về chiến tranh - Nguyễn Minh Châu

* Nhớ anh Châu - Phạm Tiến Duật

* Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió - Hoàng Ngọc Hiến

* Phỏng vấn Hoàng Ngọc Hiến: Phê bình cần có văn - Sông Hương

* Đề cương đề dẫn để thảo luận ớ hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học của hội nhà văn Việt Nam -  Nguyên Ngọc

* Gặp gỡ Nguyên Ngọc - tạp chí Sông Hương

* Phỏng vấn Nguyên Ngọc - tạp chí Sông Hương

* Vấn đề cách chức Nguyên Ngọc : Dương-T-Hương & Trần Bạch Đằng 

* Hồn Trương Ba da hàng thịt (cảnh 5) -  Lưu Quang Vũ

* Molière  Việt Nam tên là Lưu Quang Vũ -

* Christian Hoche (Lưu Trùng Dương  chuyển dịch)

* Lưu Quang Vũ vị đăng đắng nồng cay một mùa hoa Hànội –  Minh Trang

* Những Thiên Đường Mù (một đoạn) -  Dương Thu Hương

* Quan điểm về thời cuộc -  Phỏng vấn Dương Thu Hương –  CA TPHCM

* Đừng lạm phát tuyên ngôn về đổi mới - Dương Thu Hương

* Dương Thu Hương tự bạch phỏng vấn - Nguyễn Trọng Chức

* Ly thân (Chương cuối) - Trần Mạnh Hảo

* Nhớ Nguyễn Bính (thơ) - Trần Mạnh Hảo

* Đêm phương bắc nhớ về tổ quốc- (thơ) - Trần Mạnh Hảo

* Vĩnh biệt tiếng hót (thơ) -  Trần Mạnh Hảo

* Con gái Thủy Thần - Nguyễn Huy Thiệp

* Cún - Nguyễn Huy Thiệp

* Vàng lửa - Nguyễn Huy Thiệp

* Chuyện tử tế (phân cảnh)  - Trần văn Thủy

* Lời cảnh tỉnh nghiêm khắc  - Nguyễn thị Ngọc Phượng

* Thiên Sứ (Chương I và X) -  Phạm thị Hoài

* Người đoán mộng giỏi nhất thế gian - Phạm thị Hoài

* Viết như một phép ứng xử  - Phạm thị Hoài

* Những cây thông kêu (thơ) - Thanh Thảo

* Mùa thu đi qua (thơ)  - Đặng thị Vân Khanh

* Cảm xúc đi trên đường Nguyễn Trãi (thơ) Đặng thị Vân Khanh

* Phản ứng chống đối - Biện Duy Tích và Ngô Thanh Loan

* Phản ứng ủng hộ - Tuấn Đức, Lưu Vĩnh Hy, Hà Sĩ Phu, Mai Dy Linh, Đình Hy, Trung Hồ, Hoàng Bình, Dương thị Kim Loan, Nguyễn  văn Toàn, Nguyễn Lương Tâm, Nguyễn Hữu Cầu và  Nguyễn Thân Văn

* Bản tin tức đọc tại CLB Cựu Kháng Chiến –  Nguyễn Đắc Xuân, Phan Vũ Thu Bồn

* Nhà văn và số phận của nhà văn -   Tham luận - Thu Bồn

* Chức năng của người cầm bút  -Tham luận - Dương Thu Hương

* Dân chủ hóa và trách nhiệm  của nhà văn –  Tham luận - Bùi Minh Quốc  

* Tham luận - Bửu Tiến

* Góp ý về lãnh đạo văn nghệ  - Thương Chính

* Gặp gỡ Trần Dần: đối thoại mất ngủ - Hoàng Phủ Ngọc Tường

* Tôi thích viết văn trên giấy có kẻ dòng (thơ) - Phùng Quán

* Ái hoa và nấm độc (thơ) - Hữu Loan

* Phỏng vấn Hoàng Cầm -tạp chí Sông Hương

* Kết luận của bộ chính trị về mấy vấn đề trước mắt trong công tác tư tưởng -Báo SGGP

* Văn học, cuộc trường chinh gian khổ- Trần Bạch Đằng

* Góp phần tổng quát về vấn đề chính trị  và văn nghệ - Trần Độ

* Phỏng vấn Nguyễn Đình Thi - tạp chí Sông Hương 

* Về một phương diện quan hệ giữa  văn nghệ và chính trị - Lại Nguyên Ân

* Chính trị và văn nghệ: đổi mới hay không đổi mới - Lữ Phương

* Cái hèn của người cầm bút - Phạm Xuân Nguyên

* Đoàn kết thực sự, dân chủ thực sự,  đổi mới thực sự - Nguyễn Đăng Mạnh

* Chúng ta bảo vệ cái gì ? – Đặng Nhật Minh

* Ngẫu hứng và sáng tạo - Ma văn Kháng

* Vấn đề thẩm định văn học nghệ thuật và ý niệm nhạc vàng – Nguyễn Trọng Tạo

* Thị hiếu và lối đọc truyện hiện nay qua một cuộc tranh luận - Đặng Anh Đào

* Cuộc sống hôm nay &  trách nhiệm của thơ - Bùi Minh Quốc

* Góp ý về đổi mới -Tham luận tại Mặt trận Tổ quốc - Phan Đình Diệu

* Trên chuyến tàu tốc hành về năm 2000 - Vũ Kim Hạnh

* Biện chứng và ngụy biện trong công cuộc đổi mới - Hà Sĩ Phu

* Con khuớu xổ lồng- Nguyễn Quang Sáng

* Ôi, cam sao mà đắng- Ninh Đức Định

* Dưới tán rừng còn lại- Nguyên Linh

* Ba người trong hẻm đuôi voi -Xuân Đài

* Về nhà trước cơn mưa - Trang Thế Hy

* Người đội mồ - Trúc Chi

* Nhìn từ xa... tổ quốc (thơ) - Nguyễn Duy

* Cuộc chạy tiếp sức của bệnh sốt rét rừng (thơ) - Phạm Tiến Duật

* Cái nhìn của tương lai (thơ) - Thanh Thảo

* Di cảo (thơ) - Thanh Thảo

* Mộng dữ (thơ) - Trinh Đường

* Người đàn ông 43 tuổi nói về mình (thơ) – Trần Vàng Sao

* Cuộc đời như vợ của ta ơi (thơ) - Việt Phương

* Người ơi (thơ) - Đỗ Nam Cao

* Hànội Perestroika  - Nguyễn Trọng Tạo

* Lương Thiện (thơ) - Trần Chấn Uy

* Viết về một ông quan (thơ) -  Nguyễn văn Chương

* Lời khai bị can – Trần Huy Quang

* Suy nghĩ trên đường làng - Hồ Trung Tú

* Bông lúa nổi giận - Hà văn Thùy

* Công lý, đừng quên ai - Lâm thị Thanh Hà

* Đêm trắng - Hoàng Hữu Các

* Tiếng kêu cứu của một vùng văn hóa -  Võ văn Trực

° ° °

Phần dưới đây xin trích lại hai bài đã in trong cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương :

- Lời Nói Đầu (trang 7 cuốn Trăm Hoa).

- "Lá thư ngỏ gửi anh chị em trong phong trào văn chương phản kháng ở trong nước".(trang 795 cuốn Trăm Hoa)

Lời Nói Đầu của Nhà Xuất Bản

(Trong Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương- trang 7)

Đặt tựa đề "Trăm Hoa Vẫn Nở" cho Tuyển Tập này, chúng tôi có ý làm một việc tương tự công trình sưu tập văn liệu mà cụ Hoàng văn Chí đã làm vào thập niên 50 với cuốn: "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" . Chúng Tôi cũng muốn ghi lại những chứng tích của một cuộc đấu tranh cho Tự do Dân chủ và Nhân quyền khởi đi từ những người trong nước hiện nay. Trước đây cụ Hoàng đã viết:

"Bốn mươi năm một thuở" (nhân dịp hạ bệ Stalin), họ (nhóm Nhân văn Giai phẩm) đều đứng dậy đấu tranh chố ng đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng... Trí thức ở miền Bắc đã sản xuất được trên một trăm văn bản có giá trị. Cộng sản coi những bản văn ấy là những cỏ độc, nhưng chúng tôi coi những tác phẩm của họ như một "trăm hoa" thực sự ."

Hôm nay, lại có những người cầm bút nổi dậy đòi phục hồi quyền tự do bất tử ấy:

"Hoa Vẫn Nở... ."

Ở chủ đề này, chúng tôi nhận định rằng :

"Hiện có cao trào phản kháng ở trong nước".

Đây không phải chỉ là một "phong trào văn nghệ " mà còn xuất hiện đồng thời một cao trào quần chúng đón nhận, thôi thúc và cổ võ dòng văn chương thịnh nộ trong nước. Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa "trăm hoa" bây giờ với "trăm hoa …trên đất Bắc". Nhân văn Giai phẩm trước kia chưa ai có thể đặt thẳng các câu hỏi  như bây giờ :

- " Có hay không một khuynh hướng phủ nhận 40 năm văn học Xã Hội Chủ nghĩa"

- Có hay không "cái tâm lý muốn phủ nhận, xóa sạch"

Hồi đó cũng chưa có ai dám nói toạc ra trước mặt giới lãnh đạo Đảng và lãnh đạo văn nghệ rằng đời Lê, đời Trần đánh thắng ngoại xâm đâu cần đến sự hỗ trợ của phe Xã Hội Chủ Nghĩa ; họ chưa dám công khai phán xét tội của giới lãnh đạo, của đảng!

"Trăm Hoa Trên Đất Bắc" là một thiểu số văn nghệ sĩ làm một hành động bất khuất. Thiểu số ấy đã sớm phản tỉnh vì thấy cái tệ hại của chế độ chuyên chính, trong khi hầu hết dân miền Bắc lúc ấy chưa "mở mắt" hoặc còn sợ sệt. Bây giờ, thế giới ai cũng đã "sáng mắt"cả rồi.

Chúng tôi tin rằng các văn bản xuất hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-1989 sẽ là những "sử liệu quý báu cho các sử gia mai sau viết về một thời đại đen tối của dân tộc mang tên Thời đại Xã hội Chủ nghĩa".

° ° °

Đi vào việc hình thành Tuyển Tập, chúng tôi đã không tránh khỏi một vài điểm chưa thỏa đáng.

Vấn đề tuyển chọn tác giả, tác phẩm, văn liệu và dữ kiện thông tin trong nước: Số lượng tài liệu chúng tôi thu lượm được so với khối lượng sáng tác trong giai đoạn phản kháng vẫn còn quá ít ỏi. Có tác giả được nhận định là tiêu biểu cho dòng văn chương phản kháng thì chúng tôi lại không tìm được tác phẩm của họ.

Lại có những tác phẩm rất căn bản đã được nhiều tác giả khác trích dẫn như rường cột tư tưởng phản kháng nhưng không chuyển được ra nước ngoài. Dẫu sao tài liệu hiện có ở đây cũng đã thể hiện rõ nét đa diệnđa nguyên bởi sự khác biệt về động lực phản kháng, đối tượng phản kháng và cường độ phản kháng.

Chúng tôi cũng tin rằng các văn bản (tài liệu báo chí, các tác phẩm văn, thơ, ký, kịch, điện ảnh...) trong Tuyển Tập này sẽ đóng góp một số dữ kiện cần thiết cho các cuộc thảo luận giữa những người Việt trong khuôn khổ đấu tranh cho Tự do - Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi đã gom góp và lựa chọn một số sáng tác, tham luận có hệ thống cũng như cảm nghĩ tản mạn của những người đang thao thức vì vận mệnh tổ quốc trong thập niên giao thừa này.

Về số lượng các bài viết xuất hiện trên nhiều tạp chí hải ngoại, chúng tôi chỉ xin trích đăng một ít vì sách đã quá dầy.

Lời cuối, xin để tỏ lòng thành thật cám ơn bằng hữu gần xa đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp chúng tôi từ bước khởi đầu cho đến ngày ra mắt Tuyển Tập này.

Kính chào

Nhà Xuất Bản Lê Trần

California, USA

Tháng Bảy năm 1990

° ° °

Thư ngỏ gởi văn nghệ sĩ trong phong trào văn nghệ phản kháng tại quê nhà

(Trong "Trăm Hoa vẫn Nở Trên Quê Hương" – Trang 795)

Thân gửi các anh chị:

Chúng tôi, một số anh chị em hằng thao thức đến vận mệnh đất nước, hội họp nhau qua chương trình Hội Thoại Tự Do, nhằm mục đích nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề then chốt nóng bỏng của quê hương qua những chương sách vừa trình bày ở trên, đã cố gắng giới thiệu với độc giả, nhất là độc giả ở hải ngoại, một cao trào văn nghệ mà chúng tôi gọi là Cao trào Văn nghệ Phản kháng.

Một số nhận định của chúng tôi đã được nêu lên, một vài vị trong các anh chị đã được đề cập đến, kèm theo những văn liệu mà chúng tôi coi là tiêu biểu. Dĩ nhiên, cao trào văn nghệ phản kháng ở quê nhà không chỉ vỏn vẹn có thế.

Vốn tích lũy âm ỉ từ nhiều năm, có cơ hội bộc phát từ những năm cuối của thập niên 80, đặc biệt là hai năm 1987, 1988, chỉ riêng với một số tài liệu hiếm hoi mà chúng tôi tìm được, chúng tôi cũng đã nhìn thấy tính chất đa dạng và phong phú của một dòng văn chương trung thực, nói lên được thực trạng đau xót của quê hương và cuộc sống cay cực buồn tủi của đa số quần chúng.

Nếu quan niệm rằng tác phẩm nghệ thuật là thông điệp người sáng tạo gửi đến cho người thưởng ngoạn, thì chúng tôi, ở cương vị những độc giả của các anh chị, chúng tôi đã nhận được từ phía các anh chị rất nhiều thông điệp, có thể là những băn khoăn về đời sống, những thôi thúc trách nhiệm của người cầm bút, những ray rứt của lương tâm, những bàng hoàng vì ảo tưởng, có thể là những cay đắng hay phẫn nộ về những kinh nghiệm sống các anh chị đã từng trải qua.

Nhưng ngoài những trăn trở đớn đau bàng bạc trên trang giấy, thước phim, dòng nhạc, lời kịch… Chúng tôi còn nhận ra những ưu tư, những khát vọng, những đòi hỏi, những tuyên ngôn đấu tranh cho quyền làm người, đấu tranh cho tự do sáng tạo nhằm phục vụ cho những giá trị chân chính của con người và của dân tộc. Đã đành những ràng buộc của đời sống không cho phép các anh chị được nói hết khát vọng của mình, hoặc tác phẩm của các anh chị chưa được phép phổ biến trọn vẹn và trung thực như các anh chị đã can đảm viết ra, nhưng chúng tôi cũng hiểu được phần nào tâm nguyện của các anh chị. Đó là khát vọng được sống chân thực trong một đất nước thực sự tự do, thực sự dân chủ, thực sự phồn vinh, khát vọng chính đáng và đơn giản đó, trớ trêu thay, không phải lúc nào cũng được nhà cầm quyền trân trọng lắng nghe. Nhiều văn nghệ sĩ trí thức chân chính trên thế giới đã bị đàn áp, tù đầy vì tư tưởng nhân bản của mình. Sakharov ở Liên Sô đã phải chịu đựng biết bao nhiêu lời phỉ báng xuyên tạc, biết bao nhiêu năm bị quản thúc cô lập cuối cùng mới được công nhận là "lương tâm của thời đại, đất nước". Ngay trên quê hương chúng ta, nhóm Nhân văn Giai phẩm đã bị truy chụp biết bao nhiêu tội chỉ vì muốn:

Yêu ai cứ bảo rằng yêu

Ghét ai cứ bảo rằng ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu…

(Thơ Phùng Quán)

Đó là chưa kể đến trường hợp những văn nghệ sĩ chỉ vì muốn nói lên khát vọng chân thực của mọi người mà hiện đang bị giam cầm như Nguyễn Chí Thiện, Doãn Quốc Sỹ, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát.. v.v…

Các anh các chị có thể khác chúng tôi về quá khứ, đứng khác phía với chúng tôi trong cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng hơn ba mươi năm, nhưng qua tác phẩm của các anh chị, chúng tôi mừng rỡ được thấy rằng dù ở đâu, lúc nào, cũng có những văn nghệ sĩ trí thức can đảm nói lên tiếng nói của lương tâm, không hổ thẹn với lòng tin cậy của quần chúng. Trước đây, chúng ta đã nhìn nhau xa lạ. Chúng ta đã ngó nhau hận thù. Biến cố lịch sử tháng 4 năm 1975 tự nhiên đẩy giạt chúng ta ra xa nhau thêm, khoảng cách giữa những kẻ chiến thắng và kẻ chiến bại. Một bên lớn tiếng kết tội! Một bên nhẫn nhục chịu đựng. Hoặc nếu có ai may mắn không phải trực diện với cảnh truy chụp tàn nhẫn đó thì cũng đành nhắm mắt quay đi, chứ không có ý kiến gì khác về con đường đã vạch ra của bạo lực. Để được yên thân, nhiều người trong chúng ta đã cam chịu nhận đóng những vai trò hèn mọn của một vở kịch lớn đã diễn ra trên đất nước. Chúng ta đã nói những điều không muốn nói. Chúng ta đã giấu kín một cách tủi hổ, những ý nghĩ, tình cảm, tư tưởng chân thật.

Mười lăm năm ròng đã trôi qua kể từ cái mốc lịch sử tháng 4 năm l975. Thời gian đã đủ dài để cho mọi xáo trộn bèo bọt của đời sống lắng xuống.

Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị khác biệt như thế nào, thì qua lời viết của các anh chị, chúng tôi nhận thấy chúng ta vẫn còn nhiều điểm tương đồng. Chúng ta đã cùng mang chung những nỗi đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng ta đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời sống đáng sống.

Vì ở xa cách quê hương cả một đại dương, không có cơ hội hít thở trực tiếp bầu không khí khắc nghiệt ở quê nhà, nên chúng tôi chỉ có thể chia xẻ trong muôn một những nỗi nhọc nhằn, những cơn trăn trở thao thức, những khát khao được hiện thành lời, được viết thành chữ của các anh chị. Chúng tôi ý thức rất rõ rằng để làm được những việc đó, các anh các chị đã phải sẵn sàng trả giá cho những sự thực cần phải viết ra. Chúng tôi hiểu rằng sự lên tiếng bằng cách này hay cách khác của các anh thị, đều xuất phát từ những rung động tận cùng của trái tim những con người đã kinh qua những cay đắng khổ nhục. Bằng ngòi bút và lương tâm của mình, các anh chị đã cất lên tiếng nói của nhiều người, đã cảnh cáo chế độ trước hố thẳm tăm tối mà dân tộc chúng ta sắp sa vào.

Được may mắn sống ở một nơi có quyền tự do phát biểu những gì mình nghĩ, chúng tôi thông cảm những băn khoăn do dự và những nỗi đe dọa chờn vờn các anh chị đã trải qua.

Chúng tôi không có quyền đòi hỏi gì ở các anh chị, vì biết rằng quyết định im lặng hay lên tiếng là tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của các anh chị, tùy thuộc vào lương tâm của chính mình hơn là chờ đợi những lời khen chê bên ngoài. Chúng tôi cảm phục lòng can đảm của các anh chị và không mong ước gì hơn là được thấy các anh chị càng ngày càng có nhiều người biểu đồng tình, để sự thật được phục hồi, nhân phẩm được tôn trọng. Độc Lập, Tự Do không còn là cái chiêu bài của quyền lực, và Hạnh Phúc là mơ ước gần gũi có thể với tới được của mọi người Việt Nam chúng ta.

Hải ngoại, ngày 14-7-1990
Nhóm Chủ Biên

Chương 6

Dư luận về cuốn Trăm Hoa Vẫn NởTrên Quê Hương

 

Cho tới tận bây giờ, tôi chưa hề được đọc một bài điểm sách nào nói về nội dung cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, để nghe tác giả phân tích xem các bài viết trong cuốn sách có những bài nào cần mổ xẻ, tranh luận.

Nhưng những thứ bài chửi bới rác rưởi thì nhiều vô số kể! Qua những trang sách với Lời Mở ĐầuLá Thư Kết Thúc ở trên, hẳn độc giả thấy những nhận định, những chủ trương, đường lối, tâm tình của những người thực hiện cuốn sách này đã quá rõ ràng, đã chứng tỏ không bao giờ có thể có chuyện chúng tôi là "lũ văn nô, quỵ lụy in tác phẩm của các nhà văn trong nước để tuyên truyền cho Cộng sản" mà nhiều kẻ cầm bút ở hải ngoại vốn chưa từng nhìn thấy cuốn sách, chưa đọc qua một dòng nhưng vẫn nhắm mắt lăng mạ.

Ở trên tôi bất đắc dĩ phải dùng chữ "rác rưởi" bởi vì nhiều bài đã chứa đựng những  ngôn từ hạ cấp, với luận điệu chụp mũ hàm hồ, toan tính vu oan giáng họa cho những người thực hiện cuốn sách, và nhất là thủ đoạn cắt xén câu văn in trong sách để xuyên tạc nội dung tư tưởng của đoạn văn hòng đánh lừa độc giả. Hành vi đê tiện này nếu không gọi là rác rưởi thì không biết còn danh từ nào khác hơn nữa để diễn tả sự kiện theo đúng bản chất của nó. Xin nêu một vài thí dụ cụ thể :

1) NGUYỄN THIẾU NHẪN  lên án cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương :

(trích - với những chỗ tô đậm để nhấn mạnh)

"Sự thật là những loạt sách này chỉ nhằm thực hiện kế hoạch kiều vận theo chỉ thị của Đảng về "giao lưu văn hóa", các văn nghệ sĩ này được phép chống Đảng để xây dựng Đảng cho thêm vững mạnh chứ có phải phản kháng gì đâu. Mấy ông văn nghệ sĩ lưu vong tỵ nạn chắc vì nhớ cái cũi sắt của "nền văn chương cũi sắt" ở trong nước mà họ đã liều sống, liều chết để thoát ra, nên bèn ra báo Hợp Lưu và xuất bản sách "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương" (THVNTQH) đem về nước để dâng Đảng, lập công.

Nhật Tiến, nhà văn đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc thời Đệ Nhị Cộng Hoà Miền Nam viết trong sách này những lời như sau:

"Chúng tôi vẫn thao thức với vận mệnh đất nước. Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị khác nhau như thế nào, qua lời các anh chị, chúng tôi vẫn thấy chúng ta còn nhiều điểm tương đồng".

Để đáp lại những lời tha thiết xin xỏ để "hoà giải hòa hợp, xóa bỏ hận thù" này của nhà văn Nhật Tiến, những đảng viên cầm bút của VC đã đáp ứng như thế nào? Xin mời độc giả đọc bài trả lời cho những người thực hiện quyển THVNTQH của tờ Quân Đội Nhân Dân xuất bản ngày 18 tháng 5 năm1991, như sau:

"Thật là lố bịch, những kẻ đã từng làm bồi bút phục vụ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam trước đây, khi nhân dân phá bỏ chế độ thực dân năm 1975, thì chạy trốn ra ngoài sống lưu vong, tiếp tục phản bội lại lợi ích dân tộc. Họ đã tự nguyện nhận tiền, nhận vàng, đô la của thế lực quốc tế, tự nguyện làm công cụ thực hiện mọi mưu đồ chính trị đen tối cho chúng, nay lại tự nhận mình là bạn đồng hành đi tìm tự do, dân chủ với những người cầm bút trong nước, những người đã từng vào sinh ra tử với sự sống còn của dân tộc trong Kháng Chiến Chống Pháp, Chống Mỹ."

Thật là đau đớn! Thật là chua chát cho những kẻ bạc đầu, đen óc – như nhà văn Nhật Tiến và những kẻ cùng-đi-một-đường với ông ta! Đã bị những người cộng sản cầm bút chê hôi mùi thực dân đế quốc lại còn đòi đi song hành chỉ vì muốn cướp công lao xương máu của họ, vì họ đã "vào sinh ra tử với sự sống còn của dân tộc."-     (hết trích)

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Nguồn : http://nguyenthieunhan.wordpress.com

 

Trả lời của Nhật Tiến :

Đây là một bằng chứng bắt quả tang sự cắt xén lươn lẹo một đoạn văn rồi tuôn ra luận điệu chụp mũ để xuyên tạc sự thật. Nguyễn Thiếu Nhẫn tưởng người đọc không có tài liệu hay cơ hội đối chiếu nên vẫn theo thói quen giở thói bất lương của mình. Trong đoạn văn Nguyễn Thiếu Nhẫn trích ở trên:

"Chúng tôi vẫn thao thức với vận mệnh đất nước. Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị khác nhau như thế nào, qua lời các anh chị, chúng tôi vẫn thấy chúng ta còn nhiều điểm tương đồng",

Anh ta đã cố ý cắt xén phần sau của toàn câu, mà nguyên văn đã in ở  những trang trước về "lá thư ngỏ gởi văn nghệ sĩ trong phong trào văn nghệ phản kháng tại quê nhà ", xin nhắc lại như sau:

" Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị khác biệt như thế nào, thì qua lời viết của các anh chị, chúng tôi nhận thấy chúng ta vẫn còn nhiều điểm tương đồng. Chúng ta đã cùng mang chung những nỗi đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng ta đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời sống đáng sống. "

(xin coi lại phần gần cuối trang 41)

Nguyễn Thiếu Nhẫn trả lời ra sao với những độc giả của anh ta về cung cách cầm bút thiếu lương thiện này khi thò tay cắt câu sau (phần in đậm dưới đây) rồi dùng câu trước tác giả chưa nói hết ý, để làm luận chứng cho sự chửi bới vô tội vạ của mình :

"Chúng ta đã cùng mang chung những nỗi đớn đau khi nhìn thấy quê hương điêu tàn, đồng bào lầm than khổ cực. Chúng ta đã có chung một niềm mơ ước về một tương lai đẹp đẽ của đất nước, ở đó giặc dốt, giặc nghèo, giặc ngu muội bị đẩy lui và mỗi người Việt Nam có được một đời sống đáng sống?"

Và các độc giả của Nguyễn Thiếu Nhẫn sẽ nghĩ sao khi bây giờ thấy rõ mình đã bị anh ta nhồi nhét vào đầu những luận-cứ lươn lẹo, cắt xén, xuyên tạc để vu cáo và nhất là nhân danh chính nghĩa "chống Cộng" cứ to mồm hô hoán chửi bới cả một công trình tim óc của nhiều người !

Than ôi! Thị trường chữ nghĩa ở hải ngoại trong bao nhiêu năm nay vẫn đầy rẫy những thứ rác rưởi này, hỏi nếu ai cũng cứ im lặng mãi mãi thì  những thứ lộn sòng chữ nghĩa này còn quấy hôi bôi nhọ, làm nhục bộ mặt của những người Việt Quốc Gia chân chính cho tới bao giờ ?

° ° °

2) NGUYỄN HỮU NHẬT đã bịa đặt trắng trợn cái gọi là "Tuyên ngôn Thơ đỏ của Nhóm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương" để đánh lừa người đọc. Vì nhu cầu làm sáng tỏ vấn đề, nên dù biết đã làm phí giấy, tốn mực, nhưng tôi cũng phải tường thuật đầy đủ nội dung như sau :

Sách " Đá đổ Mồ Hôi" của Sắc Không (tức Nguyễn Hữu Nhật) do Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa ở Canada xuất bản năm 1997, trang 98 có đoạn như sau :

(trích 4 trang rưỡi liên tục sau đây)

"Một trong những đám "ghetto" văn nghệ thuộc mặt chữ nhiều, hiểu lòng nghĩa ít, ở ngoài này phải kể tới các tay thơ văn nhà nghề từng chủ trương Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương. Cuốn sách in năm 1990, cộm cứng tới 797 trang, rống lên kêu gọi người cầm bút trong và ngoài nước:

VẬN HỘI MỚI *

(* Tuyên Ngôn Thơ Đỏ của Nhóm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương. SanTa Ana, tháng 4 năm 1990, trang 126 sách đã dẫn.)

Con đường chông gai ấy

dĩ nhiên trở lực nhiều  

Xuất phát từ lãnh đạo

giới bảo thủ quan liêu

Chỉ nhìn thấy quyền lực

không trông rõ lớn lao

Bao khát vọng quần chúng

đang dâng lên cao trào

Nhưng trở lực lớn nhất

phải kể ra trước hết

Nơi chính mỗi cá nhân

con người giới cầm bút

Họ phải biết cảm thông

sâu sắc với quần chúng

Đứng về phía đám đông

rồi chính mình lột xác

Trong thời gian gần đây

đời quanh ta bao thứ

Đang mãnh liệt đổi thay

Mỗi ngày một thay đổi

 

Người cầm bút phải biết

tự mình bước khỏi ra

Cái ốc đảo cá thể

vào cuộc đời chung hòa

Nhập trong sự sống mới

Đang ra sức chuyển nhanh

Chỉ ở vị trí mới

chức năng mới hoàn thành

Quả là quanh con người

và trong mỗi con người

Từng nhà văn đã đổi

bao khát vọng cuộc đời

Chắc chắn là không nhỏ

cũng chẳng hề gián đơn

Những mơ ước về một

cuộc đời tốt đẹp hơn

Xã hội có đầy đủ

dân chủ và tự do

Ai cũng được hạnh phúc

áo ấm cùng cơm no

 

Ngăn cản làm sao được

cao trào của con người

Bước vào thế kỷ mới

ở tất cả mọi nơi

Các nhà văn Việt Nam,

giới cầm bút nói chung

Không thể không nhìn thấy

cuộc "thay máu" tới cùng

Nhịp tim đập chia xẻ

chan hòa cùng niềm tin

Về một vận hội mới

(niềm tin ôi niềm tin)...

" Nhà thơ tình Lê Thị Ý, hiện ở Mỹ, người có thói quen hết sức dè dặt trong Sinh hoạt Văn học Nghệ thuật Hải ngoại đọc lại bài thơ trên, cũng phải thở dài thườn thượt:

Cởi ra rồi lại trói vào

Cao trào cũng phải

thoái trào chịu thua

Con rùa

Phản kháng mu rùa

Cái càng phản kháng

con cua cắp người. . .

" Nhà báo Thợ Hồ, người có giọng văn "bê-tông" và ý tứ "cốt sắt" chuyên "trộn xi-măng" bọn văn nghệ nằm vùng, lại bảo: "Khốn kiếp! "Trăm Hoa vẫn Nở trên Quê Hương chính là tiếng gõ búa, quay ma-ni-ven cho ồn lên trong tiểu thuyết Giông Tố của ông Vũ Trọng Phụng, bọn đầy tớ của Nghị Hách đập át giọng người kêu cứu, để chủ của chúng tha hồ hiếp Thị Mịch trên xe! Tiếng ồn kiểu ấy, 7 năm sau, tức ngay lúc này đây vẫn còn đang ầm ầm trong văn học, báo chí Việt ngoài nước !"

" Nhà báo Mõ Lờ Vờ, vua "chọc cười, rơi lệ", rất tinh đời qua câu chuyện kể sau đây:

XỐC QUẦN

(Xốc quần quần tụt tụt quần. Xốc sao cho bọn cù lần mỏi tay)

"Bà Khúc Minh Thơ, Chủ tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính trị, tới thăm nhà một nữ hội viên, thấy thằng cháu bé khoảng năm tuổi cứ luôn tay xốc quần. Khúc Phu Nhân bèn hỏi:

- Nè! Em nổi tiếng may đồ giỏi, sao hổng sửa cái lai quần cho thằng nhỏ, mắc công chuyện thời cũng phải mua cho va sợi dây nịt chớ... ?

Bà chủ nhà, lắc đầu, cười:

- Không được đâu! Chị à! Lưng quần của nó phải rộng.Luôn luôn tụt. Mãi mãi xốc. Tự tụt. Tự xốc. Lúc nào nó cũng bận rộn với việc xốc xốc, tụt tụt !

- Em, hành thằng nhó, chi vậy?

Bà chủ nhà, hết sức vui vẻ, xòe ngay lá bài tẩy của mình:

- Cháu nó phá quá, chị à! Mở lồng cho chim bay túa ra sân, vớt cá vàng trong bồn... Nói chung là nó phá loạn nhà. Em lại không thể khuyên bảo hay đánh mắng gì được cháu. Giận điên người. Hội Bảo Vệ Trẻ Em ở đây mạnh hơn Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị. Cái khó ló cái khôn. Em mua toàn quần thật rộng cho cu cậu mặc. Thường trực tụt. Tha hồ xốc. Còn tay nào rảnh mà phá phách nữa?

Bà Khúc Minh Thơ phá ra cười, xong giật mình đánh thót một cái, kêu lên:

- Chết ! Chết !

- Chị nói gì? Ai chết?

- Còn ai dzô đây nữa! Em rõ thiệt... Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn mình ngoài này, phần lớn, cũng mắc chứng "quần rộng"!  Lo lắc lia lịa. Kéo lên. Rớt xuống. Kéo lên.

Mệt nghỉ ! Hổng có phá lại được bọn đỏ. Chúng vẫn tàng tàng chơi trò " cá chậu, chim lồng!"

- Thôi, em hiểu ra rồi. Trăm hoa vẫn nở ? Các lực lượng dân chủ. Trăm thứ quần rộng. Hết quần nhân nghĩa Nhật Tiến tới quần yêu nước Bùi Tín, rồi quần thương nòi Dương Thu Hương. Nay lại đến quần "Ông Nguyễn Hộ" rồi quần "Ông Hà Sĩ Phu"… Sao hai "ông" ấy có lắm "cháu" ngoan ở hải ngoại thế ? Chết mất thôi !

- Chị dzìa nghen em! Nè, thằng cu Xốc kia, bác dzìa đââây ! Cha mày chớ, xốc goài !

-  Chị đi đâu mà vội thế ?

- Kiếm mớ dây nịt !

(Ngưng trích trong cuốn Đá Đổ Mồ Hôi của Sắc Không tức Nguyễn Hữu Nhật, Làng Văn xuất bản,  trang 98-101)

Ý KIẾN CỦA NHẬT TIẾN

1) Xin nói ngay, bài thơ ngũ ngôn VẬN HỘI MỚI mà Nguyễn Hữu Nhật ghi chú "Tuyên Ngôn Thơ Đỏ của Nhóm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương. SanTa Ana, tháng 4 năm 1990, trang 126 sách đã dẫn" là hoàn toàn xuyên tạc, có ác ý.

Anh ta đã lấy một đoạn văn của tôi viết về Nguyên Ngọc ở trang 126 cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở , rồi chế ra thành bài thơ ngũ ngôn kể trên, tự ý đặt tên là "Vận Hội Mới" và khoác cho nó cái nhiệm vụ là "Tuyên Ngôn Đỏ" để đánh lừa người đọc. Xin coi đoạn văn của tôi ở cuối trang 66 trong sách này. 

Hỏi có còn thủ đoạn nào lưu manh hơn nữa, nhất là lại được tiến hành bởi một người vừa mang danh nghĩa là nhà Thơ, là Họa sĩ, là tác giả những cuốn Hoa Đào Năm Ngoái (về Ngọc Hân Công Chúa), Thơ Hoa Sen (về Phật Giáo), Chí Tôn Ca (về Thiên Chúa Giáo, sách đã đem trình bản thảo lên tới cả Trung Ương Tông Đồ Mục Vụ Hải Ngoại ở Vatican),  và chủ trương nhà xuất bản Anh Em,  Hương Xa.

Nguyên văn đoạn mà Nguyễn Hữu Nhật đã lấy ra của tôi trong bài tôi viết về Nguyên Ngọc như sau:

"Con đường chông gai ấy, dĩ nhiên có nhiều trở lực xuất phát từ giới lãnh đạo bảo thủ, trì trệ, chỉ nhìn thấy quyền lực mà không thấy sự khát vọng lớn lao của tuyệt đại đa số quần chúng, nhưng trở lực trước hết phải kể đến chính cá nhân của mỗi con người trong giới cầm bút. Họ phải biết cảm thông sâu sắc với quần chúng, phải biết đứng về phía quần chúng để tự lột xác chính mình. Trong thời gian gần đây, đời sống quanh ta đã có biết bao nhiêu là đổi thay mãnh liệt. Người cầm bút phải tự bước ra khỏi cái ốc đảo của mỗi người để hoà nhập vào đời sống đang chuyển mình. Bởi chỉ ở vị trí mới đó, người cầm bút mới có thể hoàn thành được chức năng của mình. "

Và Nguyễn Hữu Nhật chế thành thơ 5 chữ để đặt tên là "Tuyên Ngôn Đỏ":

" Con đường chông gai ấy,

 dĩ nhiên trở lực nhiều

 Xuất phát từ lãnh đạo

 giới bảo thủ quan liêu

Chỉ nhìn thấy quyền lực

không trông rõ lớn lao

Bao khát vọng quần chúng

đang dâng lên cao trào…" …vân.. vân…

Tôi coi đây là một trong những sự vu khống trắng trợn nhất của một thứ tâm địa  ti tiện nhất trong lãnh vực chữ nghĩa. Tôi thực tình cảm thấy xấu hổ khi phải đứng chung hàng ngũ với những người cầm bút nhân danh chống Cộng theo kiểu đốn mạt này.

2) Khẩu khí  trên những trang sách của Nguyễn Hữu Nhật vừa được tôi trích dẫn ở trên còn thể hiện ở việc anh ta đem bà Khúc Minh Thơ với tuổi già khả kính vào những chuyện "tụt quần, xốc quần" qua mấy câu thơ mà Nguyễn Hữu Nhật cho là của Mõ Làng Văn tức Nguyễn Hữu Nghĩa kể lại (đúng là tác phong tung hứng, gian manh của một lũ Maffia VănNghệ).

Chúng còn gài vào những chữ để nhục mạ cả Cộng đồng:

"Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn mình ngoài này, phần lớn, cũng mắc chứng "quần rộng"!  Lo lắc lia lịa. Kéo lên. Rớt xuống. Kéo lên.Mệt nghỉ ! Hổng có phá lại được bọn đỏ. Chúng vẫn tàng tàng chơi trò " cá chậu, chim lồng!"

Cũng trong Mục Chém Đá trên báo Làng Văn do Nguyễn Hữu Nhật phụ trách, cùng với sự phụ họa của Nguyễn Hữu Nghĩa dưới bút hiệu Mõ Làng Văn, Cung Vũ...v..v...cả hai trong suốt một thời gian dài đã vấy bùn lên rất nhiều văn hữu có uy tín trong Văn Bút VN Hải Ngoại để đến nỗi cả một tập thể  trong tổ chức này đã chia rẽ tan hoang và gây mang tiếng trên trường Quốc tế vì đã bị treo giò hoạt động một thời gian và phải nhờ đến nhân sự Quốc tế đứng ra can thiệp, hòa giải !

(Xin coi thêm về những thủ đoạn của nhóm này ở phần  sau)

V . Phụ  Lục :

Trước khi chấm dứt Phần I  nói về cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, xin mời độc giả đọc thêm 3  bài, coi như phần phụ lục của Phần này :

1)  Một bài do tôi được phân công viết về nhà văn Nguyên Ngọc, đã in trong cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương, phần nói về Tác giả và Tác phẩm.

2) Vài bài Thơ Văn thời Văn Chương Phản Kháng

3) Một bài trích từ cuộc phỏng vấn chính tôi do nhà văn, nhà thơ Đỗ Quyên thực hiện. Trong cuộc phỏng vấn, người hỏi đã duyệt qua nhiều giai đoạn trong cuộc đời cầm bút của tôi, bao gồm nhiều lãnh vực như viết văn, làm báo Thiếu Nhi, sinh hoạt Văn Bút, chuyện vượt biển và đặc biệt có phần hỏi về việc ấn hành cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương.

Tôi xin trích đăng phần Phỏng vấn về Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở để mời độc giả thưởng lãm với sự đồng ý của anh Đỗ Quyên, người thực hiện cuộc phỏng vấn.

Chương 7

Nhà văn Nguyên Ngọc:

những suy nghĩ và  hành động trong cao trào văn nghệ phản kháng

Nhật-Tiến

 

Nhà văn Nguyên Ngọc (tên thật là Nguyễn văn Báu), sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội năm 1950. Tốt nghiệp trường Lục quân Khu 5, tham gia chiến trường một thời gian rồi trở thành phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân, khu 5. Tác phẩm đầu tay "Đất nước đứng lên " xuất bản năm 1956 viết về cuộc chiến đấu của một thanh niên thuộc bộ lạc Bahnar tên là Núp và dân làng Kông Hoa, được trao giải nhất về tiểu thuyết thuộc giải Văn Học 1954-1955 của Hội Văn Nghệ Việt Nam (miền Bắc). Sau đó in tiếp những tác phẩm như: Mạch Nước Ngầm, Rẻo Cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng. Năm 1962, là chủ tịch Chi Hội Văn Nghệ Giải Phóng miền Nam Trung Bộ và phụ trách tờ báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng Khu 5, sáng tác với những bút hiệu khác như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.

Sau 1975, ông ra Hà nội, công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi phụ trách Ban Thường Vụ Hội Nhà Văn V.N trong cương vị Bí thư Đảng Đoàn. Nhìn lại quá trình sáng tác của Nguyên Ngọc từ 1956 đến l975, Nguyễn văn Long trong Tự Điển Văn Học V.N. đã nêu nhận định :

"Sự quan tâm hàng đầu đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại lịch sử của dân tộc và cách mạng cùng với niềm say mê những tính cách anh hùng khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang tính chất hùng tráng lại đậm nét trữ tình và chất lý tưởng ."

Sau năm 1975, trong sự tan rã của chế độ VNCH miền Nam, và trước những vấn đề nẩy sinh trong cuộc thống nhất đất nước do sự hòa nhập ồ ạt của dân chúng hai miền Nam Bắc sau hơn một phần tư thế kỷ cách biệt vì chia cắt, người cầm bút nói chung đã phải đối diện với những thực tế ngày càng gay gắt. Vấn đề khả năng quản lý và lãnh đạo của các cán bộ miền Bắc trong sinh hoạt xã hội miền Nam. Vấn đề cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư doanh. Vấn đề tù nhân Cải tạo với sự dính líu liên hệ gia đình của nhân dân cả hai miền. Vấn đề thất bại thảm thương của chiến dịch vận động đi Kinh tế mới (lý thuyết thì rất hay ho nhưng thực tế là cả một sự đầy đọa quần chúng trong tinh thần vô trách nhiệm). Vấn đề thuyền nhân ồ ạt ra đi. Vấn đề hủ hóa của những con người đã từng đóng góp tích cực cho cách mạng. Và đời sống xã hội ngày càng đi xuống về cả mặt vật chất lần tinh thần. Đó là những lý do mà sau 1975, giới cầm bút đã không đưa ra được những tác phẩm có giá trị tiêu biểu, tương xứng với "thành quả vĩ đại" mà chế độ miền Bắc đã đạt được sau cuộc chiến thắng mùa xuân 1975.

Rõ ràng đã có một sự trăn trở trong tâm thức người cầm bút khi họ nhìn ra xã hội chung quanh, với đầy rẫy những gai nhọn của đời sống thực tế hằng ngày. Và đó hẳn cũng là lý do mà Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam đã phải tổ chức hội nghị một số đảng viên trong Hội để bàn về "Sáng tác văn học" vào tháng 6-1979 để bước đầu trao đổi ý kiến trước khi đem ra thảo luận rộng rãi trước toàn thể hội viên.

Nhân danh Bí thư Đảng đoàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã đọc một bản "Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về sáng tác văn học".

Nếu trước đây, lao mình vào cuộc chiến với "Sự quan tâm hàng đầu" những vấn đề "có ý nghĩa lịch sử dân tộc và cách mạng" và với niềm "say mê những tính cách anh hùng",  Nguyên Ngọc đã viết như một sự đóng góp hăng hái cho cuộc chiến đấu mà ông nghĩ là thần thánh, viết như một tuyên dương cho những cá nhân xả thân vì lý tưởng anh hùng cách mạng, thì nay trong bản Đề dẫn kể trên, nhà văn đã có dịp thẩm định lại quá trình sinh hoạt văn học của giới cầm bút với cái nhìn thâm trầm hơn, sâu xa hơn và thoát ly được cái tình cảm bồng bột, say mê vì lý tưởng hơn. Ông nhận định rằng:

"Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn quá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên và đây là chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên nhưng mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh nhưng còn tính sần sùi, phức tạp của đời sống thì yếu hơn. "

Tính sần sùi, phức tạp của đời sống ấy là gì, nếu không là tính cách trở lại với con người đích thực cùng với những nỗi khốn cùng mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh.

Thân phận con người như thế, trong một thời gian dài bị khỏa lấp đi vì những nhu cầu của chiến tranh, nhưng khi hòa bình trở lại, nó đã trở thành mối day dứt của những người cầm bút có lương tri khi một mặt phải trực diện với những thân phận đó hiện diện đầy rẫy trong xã hội trước mắt, và một mặt khác viết lách vẫn phải nằm trong sự chi phối của tính Đảng, tính cách mạng, để chỉ có thể in ấn được những gì có tính cách "phải đạo".

Đó là lý do mà Nguyên Ngọc đã phải nêu lên trong bản đề dẫn:

"Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn của cuộc sống nay hầu hết đều bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ với đời sống chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng ", và rằng : "Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết văn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra . "Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muốí người. " Văn học nói theo một cách nào đấy là lòng tin. Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn. " (Bản đề dẫn, tháng 6-1979)

Bước sang lãnh vực lý luận, phê bình văn học, một hình thức công an văn hóa nhằm ngăn chặn và triệt tiêu ảnh hưởng của những tác phẩm đi ra ngoài lề lối văn chương "phải đạo", cũng trong bản đề dẫn nói trên, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định:

"Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận, phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xói mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm xã hội đứng đắn của nhà văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ và ở chính họ. "

Trên cương vi một bí thư Đảng đoàn, và với sự mẫn cảm về tình trạng sinh hoạt văn học tồi tệ của một người cầm bút có lương tri, vào thời điểm đó (tháng 6-1979), Nguyên Ngọc tuy mong muốn đi tìm một lối thoát cho sự sáng tạo của người cầm bút, nhưng vì ông vẫn còn tin tưởng ở đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nên phương hướng giải quyết vấn đề của ông vẫn không ngoài sự trông cậy vào sự chỉ đạo của giai cấp lãnh đạo. Ông nhận định :

"Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đốí với sáng tác. Nói chung vừa qua, trong chỉ đạo sáng tác chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào chỉ đạo chủ đề hoặc có thì cũng còn khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài sẽ để dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của văn học. Đánh đồng tất cả đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận ra tính đúng đắn sâu sắc của những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống. Nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định " (Đề dẫn, tháng 6,1979)

Đúng là lề lối suy nghĩ của Bí thư Đảng đoàn của một hội nhà văn trong sinh hoạt của một xã hội đã gần một phần tư thế kỷ luôn luôn chịu đựng sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, phủ nhận khả năng suy nghĩ và cảm hứng tự do sáng tạo của người cầm bút.

Tuy nhiên ngần ấy năm trời trôi qua, từ 1979 đến 1987, hẳn thời gian đã đủ chín mùi để nhà văn Nguyên Ngọc ngày càng cảm thấy khả năng của giới lãnh đạo văn nghệ không phải là vô hạn, và nhất là sự rung cảm nghệ thuật của họ lại càng không phải là sự rung cảm nghệ thuật của người cầm bút chân chính.

Do đó, con người văn nghệ của Nguyên Ngọc hẳn đã đấu tranh kịch liệt với con người Bí Thư Đảng Đoàn, và kết quả là nhà văn Nguyên Ngọc đã nhẩy vô nhập cuộc với phong trào văn nghệ phản kháng tuy trễ tràng hơn một năm sau so với những báo khác, nhưng lại là sự đóng góp tích cực nhất, tiêu biểu nhất, dọn đường để cho nhiều nhà văn phản kháng có cơ hội đưa ra ánh sáng những tác phẩm của mình.

Nhận công tác Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Nhà Văn V.N. từ tháng 6, 1987, nhà văn Nguyên Ngọc phải lèo lái tờ báo ngay đúng thời điểm phong trào văn nghệ đổi mới đang lên cao với những đồng nghiệp nhập cuộc sớm sủa khác như tờ Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ, Tuần Tin Tức ở miền Bắc, hay những tờ Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Sông Hương,  Lang Bian,.., ở miền Nam. Tuy trễ hơn các đồng nghiệp khác hơn một năm sau, nhưng với sự lèo lái của người Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc, tờ Văn Nghệ đã mau chóng trở thành ngọn cờ đầu đăng tải những truyện ngắn, những bài ký có nội dung phản kháng sâu xa và mạnh mẽ, gây được sự hưởng ứng hết sức sâu rộng và có tiếng vang rộng rãi cả trong nước lẫn ngoài nước. Sau đây là phần nhận định của nhà văn Mai văn Tạo trong việc đánh giá sự đóng góp của tờ Văn Nghệ trong phong trào văn chương đổi mới:

"Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn cường hào mới, kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công ức hiếp nhân dân được nhìều ngòi bút có lòng còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc. Cái đêm hôm ấy đêm gì, Vua lốp, Tiếng hú con tàu, Tướng về hưu, Công lý chẳng quên ai... tưởng chừng không bao giờ được ra mắt người đời, thì nhiều tháng qua đã phơi bầy trên những trang Văn Nghệ. Chưa bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng tác trên khắp mọi miền đất nước như thời gian qua. Và chính vì thế,  độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ như người bạn trung thực, đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình. Chưa bao giờ  Văn nghệ  được coi là tờ báo của mọi người như  những tháng gần đây.

(Các nhà văn nói về vụ  "báo Văn Nghệ" - Đất Việt, Canada, tháng 2-1989)

Tuy không đưa ra những tác phẩm trực tiếp đóng góp vào phong trào văn nghệ đổi mới, nhưng ở cương vị Tổng Biên tập của tờ Văn Nghệ, nhà văn Nguyên Ngọc quả đã có công rất lớn trong nhiệm vụ làm đòn bẩy cho những tác phẩm đổi mới có cơ hội bùng lên. Chính vì sự đóng góp lớn lao này mà Nguyên Ngọc bị cất chức một cách mờ ám vào ngày 2-12-1988. Phóng -viên của tờ Tuổi Trẻ ở Hà Nội ngày 4-12-88 đã có dịp gặp nhà văn và nêu câu hỏi:

- Lúc này anh đã thôi là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ?

Trả lời:

- Chính tôi cũng không xác định được lúc này tôi là gì. Về công việc, tôi không còn là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ nữa. Cách đây 40 giờ, trong buổi họp đột xuất của toà soạn báo Văn Nghệ do ban Thư Ký Hội Nhà Văn triệu tập, đồng chí Chính Hữu, Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam đã đọc quyết định cho tôi "thôi giữ chức" Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ để nhận công tác khác, và cho biết quyết định ấy có hiệu lực ngay sau khi đọc, tức là khoảng 18 giờ ngày thứ sáu 2 tháng 12-1988. Kể từ sáng hôm qua, mồng 3 tháng 12, đồng chí Hoàng Minh Châu, phó Tổng Biên Tập thứ nhất được chỉ định điều hành tờ báo. Nhưng cho tới lúc này, 40 giờ sau khi nghe đọc quyết định, tôi vẫn chưa có trong tay cái văn bản pháp lý mà tôi có trách nhiệm thi hành.

Có lẽ chẳng bao giờ Nguyên Ngọc có được cái văn bản pháp lý ấy. Bởi vì chiều 15 tháng 4 - 1989, trong dịp đến Huế hai ngày, nhà văn Nguyên Ngọc đã được Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên, ngoài sự tham dự của các hội viên còn có các cán bộ giảng dạy đại học, và sinh viên, các thầy cô giáo dạy văn và học sinh, các sĩ quan hưu trí của Câu lạc Bộ Phú Xuân, các phóng viên đài và báo tiếp đón trọng thể và nồng nhiệt. Trong cuộc gặp gỡ này, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:

- Tôi chấp hành quyết định của Ban Thư  Ký để các anh ấy khỏi nghi tôi muốn bám lấy cái ghế này. Nhưng các anh ấy còn nợ tôi một cái quyết định hợp thức của Ban Tuyên Huấn Trung Ương và Bộ Thông Tin và lý do tại sao đình chỉ công tác Tổng Biên Tập của tôi. Từ đó đến nay, họ vẫn im lặng.

Cũng trong dịp này, nhân có người đề cập đến sự phân hoá trong toà soạn báo Văn Nghệ về thái độ và sự ra đi của nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyên Ngọc đã bùi ngùi kết luận:

- Đọc Pasternak tôi thấy bi kịch Zhivago vẫn là của một người đứng ngoài, đứng trên cả nước Nga mà đau. Còn bi kịch của tôi: một người trong cuộc, đảng viên, cầm súng, nhiệt thành xây dựng chủ nghĩa Xã Hội mấy mươi năm. Thế mà tại sao Tình yêu của chính mình lại bị giày đạp đến như vậy?

Câu hỏi tự đặt ra như vậy, có lẽ không phải vì chính Nguyên Ngọc không tìm thấy câu trả lời mà ông đã nêu ra như một sự thú nhận. Phải chăng người Đảng viên, người cầm súng, người nhiệt thành với chủ nghĩa xã hội mấy mươi năm, nay trước thực trạng bi thảm của quê hương, đất nước, bỗng vụt nhận ra rằng Đảng ấy, chủ nghĩa ấy, đã chẳng phải là những giải pháp lý tưởng đem lại cho con người nguồn hạnh phúc và đời sống ấm no đúng như sự mơ ước của nhiều người.

Nhìn ra được sự thực đó, sau bao nhiêu năm đóng góp với lòng nhiệt tình và đầy hào khí, quả là một bi kịch không chỉ của riêng nhà văn Nguyên Ngọc mà hẳn còn là của nhiều đảng viên và các tầng lớp cán bộ khác.

Phải chăng, chính điều này đã tạo nên một loại tâm thức mới trong hàng ngũ trí thức và văn nghệ sĩ ở quê nhà vốn đã quá chán chường, mệt mỏi với những sự giả trá, khuôn phép một chiều thường vẫn là cái khung ngục tù giam hãm tư tưởng tự do và cảm hứng sáng tạo của người cầm bút. Dựa vào biện pháp cởi mở của nhà nước như một cơ hội cánh cửa ngục tù vừa mới hé ra, văn nghệ sĩ ở trong nước đã mau chóng tìm được lối thoát cho con đường sáng tác hiện đang bế tắc của mình: tự giải phóng ra khỏi khuôn phép văn chương tô hồng hay văn chương phải đạo, trực diện với đời sống của quần chúng để lôi ra ánh sáng cái thực tế thảm thương đã từng bị chính giới cầm bút che đậy, giấu giếm bằng cách tô son vẽ phấn bưng bít từ hàng chục năm qua, và hơn tất cả, đó là sự tìm lại được cái giá trị đích thực, cái nhân cách đích thực, cái dũng cảm đích thực mà văn nghệ sĩ đã từng bị tước đoạt hay vì hèn nhát mà tự mình tước đoạt trong sinh hoạt sáng tác nhiều năm trước đây.

Giới cầm bút trong cao trào văn nghệ phản kháng ở quê nhà, chỉ trong thời gian vỏn vẹn không đầy 3 năm (1987 đến 1989) đã mau chóng lấy lại được lòng tin cậy của người đọc, và thậm chí đã trở thành ngọn đuốc sáng rỡ soi rọi tới được những hoàn cảnh tối tăm, cơ cực của quần chúng, đã trở thành cái phao của quần chúng trong khi họ đang chết đuối giữa sức ép của dòng đời đầy rẫy bất công, thối nát và áp bức.

Hầu hết những tác phẩm quan trọng trong cao trào văn nghệ phản kháng đều đã xuất hiện trên tờ Văn Nghệ do nhà văn Nguyên Ngọc chủ trương. Chỉ riêng một sự kiện Hội Nhà Báo Việt Nam ra quyết định khen thưởng ba phóng sự đăng trên báo Văn nghệ (Gồm:  Lời khai của bị can của Trần Huy Quang, Tiếng Hú của con tầu của Nguyễn thị Vân Anh, Anh hùng khi đã sa cơ của Hoàng Minh Tường) đã đủ chứng minh sự đóng góp lớn lao của tờ Văn Nghệ trong cao trào này. Và thật là điều dễ hiểu khi người ta thấy mọi giới, bao gồm cả nhà văn, nhà báo và độc giả quần chúng đều tỏ ra vô cùng phẫn nộ khi được tin tờ Văn Nghệ gặp khó khăn (tháng 9-1988, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam ra nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ là có những lệch lạc nghiêm trọng, và tháng 12-1988, Ban Thư ký của Hội này cách chức Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc và thuyên chuyển công tác).

Ngay từ giữa tháng 9-1988, gần một trăm nhà sáng tác trẻ đã hội họp ở Hà Nội để phản đối nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ. Sau đó là 12 nhà văn ở thành phố Hồ Chí Minh, các nhà văn, nhà báo ở Lâm Đồng, Phú Khánh, Nghĩa Bình, tờ Sông Hương ở Huế, và đặc biệt là Hội Nghị  hội Nhà Báo Việt Nam lần thứ 5 tại Hà Nội họp từ 28-11, đến 1-12-1988, tất cả đều có ý hướng dứt khoát ủng hộ tờ Văn Nghệ đồng thời phản đối việc làm của Ban Chấp hành Hội Nhà văn. Đặc biệt, nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân Hội Văn nghệ Lâm Đồng đã vận động lấy được hơn 100 chữ ký của các nhà văn ủng hộ Nguyên Ngọc. Sau đây là một vài ý kiến phát biểu trong vụ Nguyên Ngọc bị cách chức :

- Nhà văn Mai Văn Tạo: Biết tin báo Văn Nghệ "lâm nạn", Tổng Biên tập bị "hành", công chúng miền Nam, độc giả thành phố Hồ Chí Minh, tỏ vẻ bất bình, lo ngại như thể bạn mình gặp cảnh khốn nguy. Nhiều người gặp tôi, họ lo lắng hỏi "Văn Nghệ thế nào rồi? Sao kỳ vậy?". Những người ấy không chỉ là cán bộ, công nhân viên, người có học vấn cao, mà cả những ông thợ cắt tóc , các bác đạp xích lô... từng yêu mến tờ báo. Tuần báo Văn nghệ từ cuối năm 87 đến nay không còn là tờ báo riêng của giới phong lưu và những nhà học giả. Nó còn là món ăn bổ ích và thú vị cho các loại độc giả phía Nam này. Lẽ nào Ban thư ký Hội Nhà văn không thấy ra điều đó?

- Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Qua việc này, tôi thấy so với các ngành nghề khác thì anh nhà văn, nhà báo nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung, đối với những người đang thực sự làm việc thì bị cách chức quá dễ dàng. Từ đó mà nghĩ đến thân phận của giới này, nói rõ hơn là đối với những người thực sự làm việc của giới văn nghệ sĩ.

- Nhà thơ Diệp Minh Tuyền : Tổng Biên Tập đổi mới này mất đi, sẽ có Tổng biên tập  đổi mới khác xuất hiện hoặc thay thế.

° ° °

Dư luận phản đối ồn ào và mạnh mẽ như vậy, nhưng việc cách chức Tổng biên tập của Nguyên Ngọc vẫn được thi hành. Sự kiện này đã cho ta thấy 2 điều:

- Một là: Giới lãnh đạo đã thực sự run sợ trước cao trào đổi mới, trong đó ngày càng lôi cuốn được nhiều cây bút có giá trị với những tác phẩm có giá trị, được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng độc giả.

- Hai là: Biện pháp cứng dắn áp dụng với Nguyên Ngọc đã mở ra một cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe trong giới cầm bút: phe bảo thủ, tiếp tục chấp nhận đường lối lãnh đạo văn nghệ do Đảng đề ra và phe đổi mới, đòi hỏi người cầm bút phải có tự do sáng tạo.

Tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ 23 đến 31-10-1988 tại Hà Nội, cuộc đấu tranh giữa hai phe đã diễn ra rất gay gắt và độc giả có cơ hội được biết đến qua các bài tường thuật của báo chí, đài phát thanh. Bản tin tức tổng hợp từ tin tức các báo, đài, và tự thuật của các nhà văn Thu Bồn, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Vũ ngày 9-12-89 tại Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ đã viết : "Suốt thời gian đại hội, đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng nhà văn: bảo thủ và tiến bộ, và sự phản đối mạnh mẽ có hiệu quả của lực lượng nhà văn tiến bộ đối với mọi sự áp đặt phản dân chủ, thậm chí cả sự chụp mũ ."

Nhìn chung kết quả của Đại Hội, phe bảo thủ đã thất bại nhiều điều:

1/ Lập sẵn một danh sách Ban Chấp Hành gồm 30 người định vận động thông qua nhưng bị bác bỏ.

2/ Dự định không để Đại Hội bầu chức Tổng Thư Ký mà để cho Ban chấp hành tự bầu ra. Kết quả, đại hội cũng bác bỏ và chức vụ này cũng do Đại Hội bầu trực tiếp.

3/ Ba nhân vật bị phe bảo thủ dưới sự chỉ đạo ở trên mong muốn loại ra (Nguyễn Quang Sáng, Xuân Cang, Nguyên Ngọc) nhưng đã đắc cử với số phiếu cao nhất.

4/ Ba nhân vật được phe bảo thủ ủng hộ và sự chỉ đạo ở trên cố ý đưa vào ban chấp hành đều bị rớt đài (Anh Đức, Trần Bạch Đằng, Bằng Việt).

Trong khi đó, phe tiến bộ ngoài việc ngăn chặn những mưu đồ đen tối trong đại hội, còn nêu lên được những tiếng nói dõng dạc, thể hiện quyết tâm đi tới của những người cầm bút can đảm:

1/ Một nữ thi sĩ trẻ ở Huế yêu cầu Đại Hội làm sáng tỏ vụ nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân hội Văn Nghệ Lâm Đồng bị khai trừ khỏi đảng vì "tội" đã vận động lấy hơn 100 chữ ký của các nhà văn để ủng hộ Nguyên Ngọc.

2/ Một nhà văn trẻ yêu cầu Trần Trọng Tân, trưởng Ban Văn Hoá - Tư Tưởng Trung ương Đảng phải kiểm thảo vì đã để xẩy ra những vụ đàn áp như ở trên cùng các vụ khác nữa nhưng làm ngơ.

3/ Các nhà văn Thu Bồn, Bửu Tiến, Bùi Minh Quốc, và nhất là Dương Thu Hương đã đọc những bài tham luận nẩy lửa, được đại hội đánh giá là "sâu sắc nhiệt huyết và cảm động"

4/ Tạp chí Sông Hương (Huế) bị kết 8 tội và bị đóng cửa, qua Đại Hội, đã kể như không có tội nào và đang làm thủ tục tái xuất bản.

51 Nhà văn Nguyên Ngọc bị cách chức, nay trở thành một trong ba nhà văn tiến bộ được đắc cử cao phiếu nhất và ở vào vị trí trực tiếp lãnh đạo của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Tuy nhiên, Bản Tin Tức dù lạc quan đến đâu, cũng vẫn phải kết luận:

"Lực lượng nhà văn đổi mới, tiến bộ đã thắng lợi bước đầu. Cuộc đấu tranh cho đổi mới còn đang tiếp tục tiến lên trên con đường đầy chông gai "

Con đường chông gai ấy, dĩ nhiên có nhiều trở lực xuất phát từ giới lãnh đạo bảo thủ, trì trệ, chỉ nhìn thấy quyền lực mà không thấy sự khát vọng lớn lao của tuyệt đại đa số quần chúng, nhưng trở lực trước hết phải kể đến chính cá nhân của mỗi con người trong giới cầm bút. Họ phải biết cảm thông sâu sắc với quần chúng, phải biết đứng về phía quần chúng để tự lột xác chính mình. Trong thời gian gần đây, đời sống quanh ta đã có biết bao nhiêu là đổi thay mãnh liệt. Người cầm bút phải tự bước ra khỏi cái ốc đảo của mỗi người để hoà nhập vào đời sống đang chuyển mình. Bởi chỉ ở vị trí mới đó, người cầm bút mới có thể hoàn thành được chức năng của mình. Phải chăng, cũng chính vì chia xẻ với nhận thức này, mà trong " Cuộc trò chuyện cuối năm với Quốc Dũng và Bế Kiến Quốc" được đăng tải trên tờ Văn Nghệ (Tổng biên tập hiện thời là Hữu Thỉnh)  số Tết Canh Ngọ ra ngày 13-1-1990, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:

"Những năm gần đây, tôi thấy viết càng khó hơn. Lần này thì có lẽ không phải chỉ vì "tính trời"; tôi thấy cần tìm cho mình một tiếng nói khác, một ngôn ngữ nghệ thuật khác. Quanh tôi, và trong tôi đã có biết bao thay đổi không nhỏ, không giản đơn. Phải viết khác. Mà đối với người cầm bút đã có nghề đôi chút, thì có lẽ không có gì khó hơn là viết được khác đi. Đó là "thay máu" như anh Nguyễn Minh Châu từng nói."

Quả là quanh con người và trong con người của mỗi nhà văn đã có biết bao nhiêu thay đổi không nhỏ, không đơn giản. Khát vọng về một đời sống tốt đẹp hơn, về một sinh hoạt xã hội có đầy đủ tự do dân chủ đã như một cao trào không thể ngăn cản được của con người đang chuẩn bị bước vào một thế kỷ mới. Nhà văn Việt Nam, hay giới cầm bút nói chung, dù ở bất cứ nơi nào trên mọi phần đất thế giới không thể không nhìn thấy khuynh hướng đó và không thể không "thay máu" để chia xẻ nhịp tim đập chan hoà niềm tin mới về một vận hội mới của tương lai dân tộc. Niềm tin đó, không chỉ là mối ấp ủ riêng tư của Nguyên Ngọc hay những nhà văn, nhà thơ trong phong trào văn chương đổi mới ở quê nhà, mà hẳn còn là những ước mơ của toàn thể người Việt Nam vẫn từng thiết tha đến tiền đồ của dân tộc.

Santa Ana, tháng 4 năm 1990
NHẬT TIẾN

(TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, trang 118-126, nxb LÊ TRẦN, California- 1990)

Chương 8

THƠ  VĂN THỜI VĂN CHƯƠNG PHẢN KHÁNG

cái nhìn của tương lai

Thanh Thảo

 

những đứa trẻ như những cây cao su còi

mọc không hàng không lối

nắm tay nhỏ vung qua bụi đỏ

mắt gườm gườm xói vào chúng tôi

những nhà văn đi thực tế bằng xe hơi

tung bụi bẩn vào mắt đàn em nhỏ

tung ngôn ngữ gấm hoa

vào mặt những túp lều khốn khổ

nơi đói nghèo công khai rách nát công khai

chúng tôi cứ hồn nhiên ca ngợi tương lai

cho tới chiều nay. Rừng cao su Chư-pả

tương lai bỗng ném vào chúng tôi cái nhìn  kỳ lạ

qua cặp mặt gườm những đứa trẻ ngây thơ

Cao su Chư-pả 11-1989

Di căn

Thanh Thảo

như nghẹt thở

như không muốn thở

ô nhiễm

ung thư máu

ung thư không khí

những kẻ bán mình

di căn hung hãn

 

khát một hớp trong lành

khát một ánh thật thà

cần ngọn lửa sờ thấy nóng

không phải lửa ma trơi

 

viết một dòng cho một người

cho hai người

không viết một chữ cho ngợm

 

nói một lời nhỏ nhẹ

yếu đuối

như roi quật

khạc vào mặt giả nhân

 anh lặng lẽ ra đi

dấu chân nhà văn

vỡ những dòng run run trên mặt đất.

 

Mộng dữ

Trinh Đường

Người bạn đường hỏi tôi

Anh đi bằng chân anh hay bằng chân người khác?

 

Người hàng xóm hỏi tôi

Anh múc nước giếng gần hay biển xa khi nhà cháy?

 

Nhà tư pháp hỏi tôi

Thủ phạm phải chăng là sự nghèo nàn ?

 

Người công nhân hỏi tôi

Làm thế nào để thiết kế lại nhân tâm?

 

Người làm vườn hỏi tôi

Do sâu đục thân hay do giống xấu ?

 

Người lọc nước cật hỏi tôi

Làm sao mẻ sau bảo đảm vô trùng?

 

Tôi bàng hoàng tỉnh dậy vã mồ hôi

Bao câu hỏi nhảy múa quanh tôi như

hồn ma bóng quỷ.

 

cuộc đời như vợ của ta ơi:

Việt Phương

 

Năm xưa ta nói rất nhiều về "Cực kỳ " và

"Hết sức"

Tội nghiệp là ta nói chân thành rất mực

Chưa hiểu rằng trời còn xanh hơn cả "trời xanh"

Ta thiếu sự trầm lặng cũng do bởi nhiệt tình.

Ta cứ nghĩ là đồng chí rồi không còn ai xấu nữa

Trong hàng ngũ ta chỉ dành chỗ cho yêu thương

Đã chọn đường đi chẳng ai dừng ở giữa

Mạc Tư  Khoa còn hơn cả thiên đường.

 

Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn

đồng hồ Thụy Sĩ

Hình như đây là ý chí, niềm tin và tự hào

Mường tượng rằng trăng Trung Quốc

đẹp hơn   trăng nước Mỹ

Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời nhưng

ngờ nghệch làm sao!

Một nửa thế kỷ qua đi và bấy giờ ta đã biết

Thế nào là yêu thương thế nào là chém giết

Ta đã thấy chỗ lồi, chỗ lõm trên trăng sao

Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao.

 

Sức ta tăng bội phần khi ta say

đến trở thành rất tỉnh

Ta có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh

"Những cái gì tốt đẹp của mày thuộc về tao!

Những cái gì xấu xa của tao thuộc về mày!"

 

Năm xưa ta vô tình tô thăm cuộc đời để mà tin

Nay đã tin mà không cần tô thắm gì nữa cả

Quen thuộc rồi mối bất ngờ kỳ lạ

Ta đã trả giá rất đau và đã học nhìn.

 

Ta đã gặp những điều không hề chờ đợi gặp

Mà đâu phải chỉ rắn phục giữa vườn hoa

Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách

Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta.

 

Ta suy nghĩ tám nghìn đêm đánh giặc

Nghiền tâm tư với những hạt ngô bung

Giữa bom đạn ta lọc ra hạnh phúc

Tim ta dần trong sáng đến vô cùng.

 

Ta đã sống những phút giờ sự thật

Tâm dân tộc ta và kích thước loài người

Bừng vẻ đẹp chắc bền của Đất

Những thung lũng đau xưa vàng rực niềm tin.

 

Ta đã hiểu sai và có thể vẫn còn sai

Chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa

Trút vẻ thần tượng đi, càng lồng lộng

con người

Phía trước, đằng sau, bên ngoài, và chính giữa.

 

Như Quảng Bình, Vĩnh Linh càng tươi máu lửa

Ta hiểu hết sự xấu xa, bỗng nở nụ cười

Mở đài địch như mở toang cánh cửa

Nghe nó chửi mà tin tưởng ở ngày mai.

 

Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở

Cuộc đời thân như hơi thở của ta ơi

Ta vui lờm những niềm vui cởi mở

Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi !  

VIỆT PHƯƠNG

 

Ba người trong hẻm đuôi voi

 Xuân Đài

(trích)

- Anh Tư là đại úy, học tới đại học sao không xin được việc làm hả anh Hiền ?

- Tà tà anh kể chú nghe. Cách đây gần ba năm, trung đoàn ở Campuchia  về nước, bọn anh được phục viên. Anh Tư Thắng ra Bắc tìm đơn vị xây dựng cũ. Đơn vị làm ăn thua lỗ sao đó, giải tán. Anh Tư ba lô khăn gói về quê. Bố anh đã mất từ hồi anh chưa vào đại học. Anh về giữa lúc mẹ già đang ốm nặng. Về hôm trước, hôm sau bà cụ thều thào: "Mẹ được nhìn thấy con lành lặn là mẹ yên lòng nhắm mắt xuôi tay được rồi." Nói xong bà cụ tắt thở. Nhắc lại chuyện này với anh, anh Tư chảy nước mắt, bảo: may mà đơn vị xây dựng rã đám, chứ không mình chẳng được gặp mẹ. Số tiền dành dụm trong mấy năm đi lính cộng với tiền phục viên, anh Tư trang trải vào đám ma bà cụ hết sạch. Anh Tư kể với anh, sau đó anh ấy ra Hà Nội tá túc nhà người anh ruột. Người anh giáo viên cấp hai, lương ba cọc ba đồng, thương em, chạy ngược chạy xuôi xin việc không đâu nhận, lý Do đơn giản, đã không có hộ khẩu lại thiếu tiền trà lá.

Thằng Hải nói xen vào:

- Gặp cảnh thế này, ông nội em hay chửi "tổ cha cuộc đời vô hậu" !

- Cuộc đời không phải lúc nào cũng vô hậu cả đâu em. Nhưng con người ta được số phận an bài hết trọi. Anh Tư lộn về quê bán nhà. Anh ấy kể, gần nửa làng đi kinh tế mới, nhà rẻ rề, bán như cho vừa đủ một suất vé tàu vào Sài Gòn. Em biết câu họa vô đơn chí không? Có hả, giỏi. Trên tàu, bọn khốn nạn nẫng gọn ba lô anh Tư. Quần áo, chứng minh thư, giấy tờ phục viên mất sạch. May mà cái thẻ đảng để ở túi áo ngực là còn. Em nhìn thấy thẻ đảng chưa? Đẹp lắm, nhưng nó lại vô tích sự không giúp được anh Tư việc gì trong lúc này. Có lần, chính nó lại xuýt gây "tai nạn" cho anh ấy. Số là thế này. Anh Tư mới vào, ngủ nhà anh, nửa đêm công an kiểm tra hộ khẩu. Anh Tư xuất trình thẻ đảng. Cái ảnh ông đại úy trong thẻ đẹp trai, tự tin, còn cái hình hài ông đại úy ngồi trước mặt tiều tụy, quần áo nhếch nhác, họ nghi cho là anh Tư xài thẻ giả. Dong lên đồn ngủ với muỗi một đêm, mai sáng tha về, xác định sau. Đã gần hai năm nay, họ không trả lại thẻ đảng, anh Tư cũng không buồn đòi. Mà thôi, em chẳng nên nghe những chuyện tầm phào thêm mệt.

Hiền  sờ tay vào trán thằng Hải, gật gật đầu, hỏi nó có thích uống nước chanh để anh pha. Hải lắc đâu. Chuyện đời phiêu bạc, đa đoan của Tư Thắng đang hấp dẫn, nó tò mò hỏi:

- Sao anh không giữ anh Tư ở lại đây với gia đình ?

- Dạo mới ngoài Bắc vô, anh Tư ở đây. Hai anh em chạy khắp nơi xin việc. Cũng giống Hà Nội, không có hộ khẩu, không chỗ nào người ta nhận. Hôm trước má anh tính bán cái tủ gương, phụ thêm ít tiền mua cho anh Tư cái xích lô chân co chân duỗi, kiếm sống qua ngày. Anh Tư gạt đi, đâu có chịu. Năm ngoái, anh ấy định về Long Khánh làm rẫy, má anh cản không cho đi. Gương mấy gia đình ở hẻm này, bán cửa bán nhà đi kinh tế mới, chịu không thấu bỏ về hết trọi, còn sờ sờ ra đó. Anh Tư mày khái tính lắm, không muốn nhờ vả ai lâu. Hôm bỏ ra đi, anh bảo với anh: Sức dài vai rộng như tao, cứ níu gấu quần đàn bà già ăn bám, nhục lắm. Vả lại, ở đây, em biết không, dăm bữa nửa tháng, người ta lại sục vô vặn hỏi giấy tờ tạm trú làm anh ấy bực mình.

Má anh Hiền đi bán hủ tiếu rong về, cười xởi lởi, hỏi oang oang từ ngoài sân:

- Thằng nhỏ sao rồi, lành bệnh chưa? Tao mua cho hai anh em tụi bay một lố bánh cam đây. Ăn liền cho nóng.

Hiền tất tả chạy ra đỡ gánh hàng cho mẹ. Đặt đĩa bánh cam lên bàn, giục Hải :

- Bánh cam bà "Sáu chín năm" ngon có tiếng, em ăn đi. Ăn xong uống hai viên thuốc nữa. Thuốc anh gói để trên tủ, cái gói trắng trắng đó. Ăn uống rồi ngủ một giấc, chiều là lành hẳn. Bây giờ anh phải tới Bộ tư lệnh lấy lại giấy tờ phục viên cho Tư Thắng. Hôm nay họ hẹn, chắc được. Không có giấy tờ tùy thân có ngày người ta hốt vô Chí Hòa thì khốn. Anh đi chút  xíu về liền.

Hiền đội mũ, khoác xắc cốt, dong xe đạp ra đường.

(ngưng trích)

Chương 9

ĐỖ QUYÊN phỏng vấn NHẬT TIẾN về cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương

 

Đỗ Quyên tên thật là Đỗ Ngọc Thủy, sinh tại Hà Nội (1955), tốt nghiệp (1977) và giảng dạy (1977-1988) ngành Vật Lý hạt nhân, trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Hiện định cư tại Canada. Sáng tác chính : Thơ, Truyện, Tiểu luận, 

Phỏng vấn: Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương:

Hai vấn đề Nhân văn-Giai phẩm và Cao trào Phản kháng 1986-1989

ĐỖ QUYÊN: - Sau này, sau 30-4-1975 và khi ra hải ngoại, rồi qua những lần về Việt Nam, anh thấy biến cố Nhân Văn-Giai Phẩm ra sao?

NHẬT TIẾN : Tôi chưa hề được gặp bất cứ nhà văn, nhà thơ nào liên hệ đến vụ Nhân Văn Giai Phẩm dù đã trở về Hà Nội đôi lần trong mấy năm gần đây. Tuy nhiên, cảm nhận của tôi là có vẻ như mọi người ở cả hai phía (đàn áp và đã bị đàn áp) đều muốn coi biến cố ấy như một trang bi thảm đã lật qua, và không muốn nhắc lại. Một phần là vì nó đã trôi vào khá  xa trong quá khứ, một phần khác, tình hình đất nước trong hoàn cảnh mới đã đặt ra nhiều vấn đề rộng lớn hơn, sâu xa hơn, tâm thức của con người hiện nay cũng khác biệt hơn so với cái tâm thức của thời kỳ mà các nhà văn trong Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm đã từng sống.

 ĐQ: Ở trên đã nói đến cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương như là các anh muốn tái thực hiện cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của học giả Hoàng Văn Chí. Anh có sự so sánh gì giữa "những cây bút phản kháng ở quê nhà (1986-1989)" với biến cố Nhân Văn-Giai Phẩm?

NT: Về nội dung sáng tác của người cầm bút trong cả hai hoàn cảnh dĩ nhiên có nhiều điểm tương đồng: cả hai đợt đều biểu lộ cái khát vọng tự do của người cầm bút, đều đấu tranh cho sự tự do sáng tạo nhằm phục vụ cho những giá trị chân chính của con người.

Tuy nhiên, nếu cần so sánh thì ta cũng có thể thấy rõ có một sự khác biệt sâu xa: đó là những cây bút tham gia cao trào văn nghệ phản kháng (1986-1989) có tính chất đa dạng và rộng rãi hơn nhiều so với Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm hồi cuối thập niên 50. Hơn nữa, mục tiêu phản kháng và cường độ phản kháng của cao trào này cũng sâu  xa hơn, mạnh mẽ hơn, và tính chất biểu lộ sự đồng tình của giới độc giả quần chúng cũng sôi nổi và rộng rãi hơn nhờ ảnh hưởng đến từ các biến cố trọng đại bên ngoài và chính sách cởi mở của Tổng Bí thư thời đó là Nguyễn Văn Linh.

Nhưng đấu tranh với một chính quyền còn đang ở thế mạnh, lại có cả một bề dầy những kinh nghiệm lọc lõi về phương cách đàn áp và khống chế con người, thì thành quả và số phận của cao trào này sau đó ra sao, ai cũng đã nhìn thấy. Nó đã xẹp đi  như một quả bóng xì hơi, số ngòi bút vẫn  còn  tiếp tục một cách quyết liệt con đường đã lựa chọn bây giờ chỉ còn  là con số rất nhỏ nhoi, và đáng buồn hơn, lại có cả những ngòi bút từng tham gia cao trào ấy nay đã quay 180 độ để ngồi xổm lên chính những điều mà mình đã từng viết ra.

Tuy nhiên, tôi vẫn tin tưởng rằng sở dĩ có những hiện tượng đáng buồn như vậy không phải vì mọi người đã nhận ra sự sai trái của mình trong nhận thức  mà chính vì sự  sinh tồn của mỗi cá nhân trong mỗi hoàn cảnh riêng biệt. Nghĩa là tôi vẫn tin tưởng rằng khát vọng tự do cầm bút không bao giờ nguội tắt trong tâm tưởng của mỗi người dù hiện nay họ đang lựa chọn đất đứng nào. Phải trực diện đời sống thực tế ở trong nước thì mới có thể cảm thông với nhận định này. Không nên chỉ cứ ở xa mà kêu gào người khác đóng vai anh hùng.

Xu hướng thời đại vẫn đang lừng lững tiến lên, sự phát triển của kỹ thuật tin học không ngừng chiếm lĩnh các địa bàn trong mọi sinh hoạt của đất nước, tất cả sẽ tạo điều kiện cho những người khát khao tự do, dân chủ, đặc biệt là những người cầm bút sẽ có cơ hội viết lên trang sử mới đẹp đẽ hơn của dân tộc trước bình minh của Thế kỷ 21.

ĐQ:  Tôi nghĩ, ít nhất cũng là qua các sự kiện nhìn thấy, nghe thấy thì "cao trào văn nghệ phản kháng (1986-1989)" có bề rộng, lan tỏa xa mà không sâu nặng, không cam go như thời Nhân Văn-Giai Phẩm. Nói theo ngôn ngữ nhà binh mà trong nước ưa xài là "có diện mà không có điểm".

NT: Nêu vấn đề Diện và Điểm, như anh nói, là nhận diện cao trào văn nghệ phản kháng như một cuộc đấu tranh có tổ chức, có đường lối chỉ đạo rõ rệt và có sách lược đã được nghiên cứu kỹ luỡng. Tôi cho rằng nếu xét như thế là đã bỏ qua vấn đề bản chất "lề mề" của văn nghệ sĩ. Không hiểu có phải tôi đã chủ quan khi nêu nhận định này không, nhưng theo tôi, người văn nghệ sĩ thường đa dạng trong cung cách ứng xử cũng như trong sự lựa chọn đề tài sáng tác cho mình. Cái gì thích, cái gì gây xúc động, gây rung cảm cho mình thì mình viết. Họ không quen đứng trong một hàng ngũ để sáng tác hay viết lách theo nhu cầu đánh giá của hàng ngũ ấy. Có thể vì thế mà họ không phân biệt rạch ròi, hoặc ngay cả sự không thích phân biệt rạch ròi, đâu là diện, đâu là điểm để đưa cao trào tới những thành quả cụ thể.

Còn về những hệ lụy đến với những người tham gia cao trào không sâu nặng, không cam go như hồi Nhân Văn-Giai Phẩm thì hoàn toàn đúng, nhưng cũng có thể vì thế giới ngày nay đã có quá nhiều đổi thay so với gần 50 năm trước, dân chúng Việt Nam cũng không còn là những con cừu ngoan ngoãn như xưa, nhà nước dù muốn cũng không thể, không dám áp dụng chính sách đàn áp quyết liệt, thẳng tay như hồi trước. Xin hỏi anh, vào thời điểm 1986-1989, có một nhân vật văn hóa, văn nghệ nào ở Việt Nam mà dám muối mặt đứng ra làm một thứ Tố Hữu của những thập niên 50 hay không?

ĐQ:  Những anh chị em ra đi từ miền Bắc sinh sống, làm việc và tỵ nạn ở các nước Âu châu đón nhận cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương với một sự xúc động và thán phục. Cuốn mà tôi được gửi tặng ngày 3-12-1991 từ anh Lê Bửu Tấn, bạn bè tôi chuyền tay nhau đến mức nó sờn cong như thường thấy ở một cuốn chưởng Kim Dung! Mười năm đã qua, cho thấy giá trị hiếm có của cuốn sách trong vô vàn các sách báo hải ngoại. Theo tôi, hình như đây là cuốn sách duy nhất quy tụ được hầu hết các cây bút có khuynh hướng khác nhau của những người viết hải ngoại? Xin cho biết Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương được thực hiện về bài vở, về in ấn, phát hành như thế nào? Anh có những công việc gì trong đó và xin nói vài lời về bài viết "Nhà văn Nguyên Ngọc: suy nghĩ và hành động trong cao trào phản kháng" có trong cuốn sách?

NT: Tôi thật bất ngờ khi được anh cho biết cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương đã được tiếp đón nồng hậu đến như thế ở bên trời Âu, thế mà trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ nó chỉ mang lại nhiều hệ lụy trong khi thành quả thì không có bao nhiêu, mặc dù tôi vẫn tự hào là đã được đóng góp một phần nhỏ nhoi trong việc hình thành cuốn sách  ấy. Đúng như anh nhận xét, đây là một cuốn sách hiếm hoi ở hải ngoại quy tụ được hầu hết  các cây bút có khuynh hướng khác nhau ở hải ngoại.

Theo nhận xét của tôi và nhiều anh chị em khác, thì đây cũng là một lần duy nhất tính cho đến nay, đã có một nhóm như thế ngồi lại được với nhau, sôi nổi, nhiệt tình và đầy thiện chí để làm đến nơi đến chốn một công trình kể từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn tất. Ngoại trừ những người ở quá xa, phần còn lại khoảng trên dưới 20 người, chúng tôi đã làm việc ròng rã suốt một năm trời, tuần lễ nào cũng họp mặt  để thảo luận, để trao đổi tin tức, để thu góp tài liệu, để phân công làm việc, để giải quyết mọi vấn đề xoay quanh cái chủ đề lớn khi đó: Cao trào văn chương phản kháng ở trong nước. Cuối cùng thì chúng tôi cũng hoàn tất được việc biên soạn và ấn loát được một cuốn sách khá đồ sộ, dầy tới 800 trang khổ lớn, bao gồm bài vở và tài liệu của 27 tác giả ngoài nước đọc và viết về 79 tác giả ở trong nưóc. Công lao lớn nhất phải dành cho những người đã bỏ ra rất nhiều thì giờ, tiền bạc và tim óc cho công trình này như các anh Trần Vịnh, Đỗ Hữu Tài, Thân Trọng Mẫn, Nguyễn Quốc Trung, Lê Bửu Tấn, Nguyễn Bá Tùng, Trương Đình Luân, Hoàng Sử Mai và một vài anh em khác nữa.

Sau khi cuốn sách được in ra, chúng tôi còn phân công với nhau đi tổ chức ra mắt ở vài nơi như Portland (Oregon), Houston (Texas) và Washington DC. Tôi và anh Đỗ Thái Nhiên nhận lãnh nhiệm vụ ra mắt cuốn sách ở Portland State University thuộc thành phố Portland, tiểu bang Oregon với sự hợp tác tận tình của các anh chị em thuộc  Hội Sinh Viên Việt Nam ở đó. Cả hai  chúng tôi thay nhau thuyết trình về những vấn đề xoay quanh Cao trào văn chương phản kháng ở Việt Nam và trả lời những thắc mắc do cử tọa nêu ra. Nhìn chung thì có sôi nổi nhưng không có vấn đề  gì đáng tiếc xẩy ra.

Điều bất ngờ là sau này, chính anh Đỗ Thái Nhiên đã thay đổi lập trường chính trị và là một trong những người phê phán tôi bền bỉ và mạnh mẽ  nhất. Dẫu sao thì tôi cũng cám ơn anh ấy ở chỗ đã chịu khó đọc những tác phẩm hay bài viết của tôi và trình bày những cái nhìn khác biệt với cái nhìn vốn có của tôi bằng một giọng văn nhã nhặn, không phải là thứ văn chương chợ búa mà một số người khác đã dành cho tôi trên mặt báo.

Trở lại với cuốn sách kể trên, như anh đã hỏi, tôi nhận sự phân công của anh chị em  trong nhóm biên soạn để viết về tác giả Nguyên Ngọc, nguyên bí thư Đảng đoàn Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Thực ra tôi không được quen biết hay tiếp xúc với nhà văn này trong những năm tôi chưa ra khỏi nước (1975-1979). Tuy nhiên, những văn liệu mà chúng tôi có về Nguyên Ngọc thì khá phong phú, nên tôi đã viết bài "Nhà văn Nguyên Ngọc, những suy nghĩ và hành động trong Cao trào văn Nghệ phản kháng" chủ yếu là  qua việc nghiên cứu  những văn liệu này.

ĐQ:  Nếu có ý cho rằng vấn đề của Nhân Văn-Giai Phẩm khởi thủy từ một vài đề nghị có tính "góp ý thành thực để xây dựng Đảng" (đại để như: "Bây giờ không còn ở chiến khu nữa, mà đã hòa bình rồi, văn nghệ sỹ vẫn dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng Đảng cần cho anh em tự do trong sáng tác", v.v...), gửi trực tiếp tới tướng Nguyễn Chí Thanh lúc đó nắm Tổng cục chính trị QĐNDVN, của một số anh em nhà văn quân đội mà Trần Dần đại diện; Sau do bị "nâng quan điểm" nên mới thành lớn chuyện và thành cái gọi là "vụ án" có tính "phản kháng văn nghệ" như đã xảy ra. Anh nghĩ sao về ý kiến này?

NT: Tôi không đồng ý với nhận định này vì như thế vừa đánh giá quá thấp khát vọng tự do của anh chị em văn nghệ sĩ (mà đa số không ở trong quân đội, không là cấp dưới của tướng Nguyễn Chí Thanh để phải gửi kiến nghị), vừa bỏ qua những biến động trong tình hình thế giới vào thời điểm đó.

Theo nhận định của cụ Hoàng Văn Chí thì có nhiều nguyên nhân cả về phương diện khách quan ngoài nưóc lẫn chủ quan trong nước. Xin tóm tắt như sau:

- Nguyên nhân khách quan: bao gồm những biến cố chấn động thế giới như việc hạ bệ Staline do Krushchev khơi mào trong Hội nghị lần thứ 20 của Đảng CS Liên Xô vào tháng 2-1956, như chủ trương "Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh" do Lục Định Nhất, Cục trưởng Cục Tuyên Huấn của Đảng CS Trung Quốc đưa ra vào tháng 5-1956, như các cuộc nổi dậy ở Poznan (Ba Lan) tháng 6-1956, ở Budapest (Hung gia lợi) tháng 10-1956.

-Nguyên nhân chủ quan: Phải kể đến tâm trạng của giới trí thức, văn nghệ sĩ trước tình cảnh: "báo chí, sách vở xuất bản ở Hà Nội sau ngày tiếp thu vẫn đầy rẫy những bài ca tụng Đảng, Bác, những bài kêu gọi nông dân đứng dậy tàn sát địa chủ, phản động, lưng chừng". Đời sống vật chất của họ cũng cực kỳ thấp kém, hoàn toàn chênh lệch so với các cán bộ văn hóa cấp cao như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu... và những kẻ "bận đồ lớn, đi dự hội nghị, ăn uống ngồm ngoàm". Rồi những biến động to lớn trong nưóc cũng xẩy ra trong thời kỳ đó như vụ nông dân ở xã Quỳnh Lưu nổi loạn, vụ thanh niên và công nhân  "miền Nam tập kết" đập phá trụ sở đồn công an ở Bờ Hồ và nhất là vụ sửa sai trong cuộc cải cách ruộng đất khiến nhà nước phải thả 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì tố điêu, tố sai, dẫn tới việc Trường Chinh, Hồ Viết Thắng bị mất chức.

Trong bối cảnh ấy, giới cầm bút không thể lặng lẽ ngồi yên. Sau cùng, không thể không nói tới những vị lớn tuổi trong hàng ngũ trí thức, văn nghệ sĩ còn mang nhiều tính chất của kẻ sĩ như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Thụy An, và đặc biệt là nhà nho đầy tiết tháo Phan Khôi. Không lẽ những tên tuổi như thế mà lại chỉ biết đóng góp phần tâm huyết của mình sau khi Trần Dần, đại diện các nhà văn quân đội gửi "vài đề nghị có tính cách xây dựng Đảng" lên tướng Nguyễn Chí Thanh?

ĐQ:  Tôi có coi một số các bài nhận định của giới phê bình trong nước (cả loại bài viết có tính "văn công" , cả loại bài viết có tính độc lập) về văn học và sách báo hải ngoại (mà một số báo hải ngoại in lại), nhưng như không thấy có đánh giá nào về "sự kiện" cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương; Khi anh về nước, anh có thấy giới văn nghệ trong nước biết về cuốn này không? Nếu không, thì với anh em văn nghệ trong nước, ta làm một việc gần như "ném đá xem tăm"! Uổng quá anh à?

NT: Cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương sau khi được phát hành, tuy hầu như không có một bài điểm sách nào nhắc nhở đến (hoặc giả nếu có thì tôi cũng không được đọc), nhưng tự nó đã dấy lên trên mặt các báo chí hải ngoại những loạt bài nhận định và phê phán trên chủ đề "Có hay không có một cao trào văn chương phản kháng ở quê nhà?" Hầu hết các bài viết mà tôi được đọc thì đều nghiêng về lập luận: đó là những chống đối giả, phản kháng giả, là những nắp xì hơi của chính quyền. Cũng như số phận của cuốn sách bị giàng dây kéo lê trên mặt đường Bolsa, những cây viết trong nước được nhắc đến trong cao trào phản kháng thì lại bị đem ra nhục mạ cách này hay cách khác, nhưng hằn học nhất phải kể tới sự kiện Dương Thu Hương được gọi là "Con Việt Cộng Cái" (chữ của N.V.N) hoặc "Con Việt Cộng" (N.V.C).

Trong khi đó, về phía trong nước thì tiếc thay, hầu như không mấy ai biết tới sự hiện diện của cuốn sách này, kể cả giới làm văn hóa, văn nghệ! Đúng là "uổng quá anh à", như anh nói, nhưng không bao giờ chúng tôi tiếc xót công trình của mình đã thực hiện. Cuốn sách đã đóng đúng vai trò của nó trong thời điểm ấy, và chúng tôi không có cao vọng gặt hái được cái gì nhiều hơn.

Phần Thứ Hai

Hành Trình Chữ Nghĩa "Qua Những Chặng Đường Nhận Thức"


Chương 1

Thời điểm 1985 : Sinh hoạt Văn hóa  ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn

MỘT SUY NGHĨ CỦA NGƯỜI CẦM BÚT LƯU VONG

( Phát biểu trong dịp ra mắt tác phẩm "MỘT THỜI ĐANG QUA" của Nhật Tiến và tập nhạc THẤM THOẮT 10 NĂM của Phạm Duy do Tạp chí Xác Định, Hội Văn Hóa VN tại Bắc Mỹ và Tủ sách Cành Nam tổ chức  tại Washington DC ngày 11-10-1985)

 

Kính thưa toàn thể quý vị,

Tôi rất lấy làm vinh dự lần đầu tiên được ra mắt quý vị tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong một buổi sinh hoạt mang nhiều ý nghĩa văn hóa như buổi tổ chức ngày hôm nay.

Trong suốt cuộc đời gần 30 năm cầm bút, đây là lần đầu tiên tôi tham gia công việc tổ chức ra mắt cho một tác phẩm của chính mình. Điều này đối với một tác giả đương nhiên là một sự kiện đầy cảm hứng, khích lệ và vô cùng đáng ghi nhớ, nhưng thực ra, cái ý  nghĩa hệ trọng đáng nói hơn cả, chính là ở mục tiêu cao đẹp  mà nhóm chủ trương bao gồm Tạp chí Xác Định, Hội Văn Hóa VN tại Bắc Mỹ và Tủ sách Cành Nam đang nỗ lực thực hiện mà buổi tổ chức hôm nay coi như cuộc thử nghiệm khởi đầu.

Trong lá thư ngỏ đã được phổ biến ở ngay trang đầu mỗi tác phẩm ra mắt ngày hôm nay, nhóm Chủ trương đã nêu nhận định : "Viết đã đòi hòi nhiều nghị lực, bỏ tiền túi ra in lấy thì thực là một việc làm quá đáng, đó là chưa kể việc phân phối đang đặt ra những trở ngại tưởng như không thể giải quyết được."

Nêu lên được thực trạng này, quả thật Nhóm Chủ trương đã cảm thông được một cách sâu xa những nỗi khó khăn chật vật của giới cầm bút kể từ lúc cặm cụi ngồi sáng tác cho đến khi đánh máy lấy bản thảo, chạy tiền in và lo phân phối tác phẩm của mình như tôi đã được biết những trường hợp của Hà Thúc Sinh với Đại Học Máu, Phạm Quốc Bảo với Cùm Đỏ, Đời Từng Mảnh, Trần Diệu Hằng với Vũ Điệu Của Loài Công, Nguyễn Bá Trạc với Ngọn Cỏ Bồng, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng với Măng Đầu Mùa, Trong Lòng Cách Mạng và còn bao nhiêu nhà văn, nhà thơ khác không thể kể hết ra như Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp, Đức Chính, Đỗ Quốc Anh Thư, Nguyễn Đức Bạt Ngàn..v..v..

Cho nên kêu gọi thân hữu góp vốn để ấn hành các tác phẩm của những tác giả không có khả năng tài chánh để tự lo liệu là một sáng kiến hết sức kịp thời và rất đáng được cổ võ. Có thể nói, đây lại cũng là lần đầu tiên ở hải ngoại, một nhóm chủ trương đã được hình thành để hỗ trợ cho công cuộc bảo vệ và phát huy văn hóa có tính cách liên hệ rất trực tiếp đến sinh hoạt của giới cầm bút.

Điều này, tôi hy vọng sẽ mở ra được một hoàn cảnh thuận lợi mới để cho Văn Học Nghệ Thuật ở hải ngoại có cơ hội phát triển. Người viết có cơ may khỏi bận tâm gì đến việc ấn loát, phát hành. Người đọc có cơ may được cung ứng thêm những tác phẩm có giá trị về mặt nội dung thông qua sự tuyển chọn của Nhóm chủ trương điều hành.

Như thế, nếu sinh hoạt văn học nghệ thuật từ nhiều năm qua có những điều được ghi nhận là bế tắc, thì nay một trong những lãnh vực bế tắc ấy đã có chiều hướng được khai thông nếu như sáng kiến của Nhóm Chủ Trương được sự tiếp tay  nồng nhiệt của toàn thể đồng bào.

Vấn đề còn lại phải được nêu ra là về phía người cầm bút cần nghĩ gì và viết gì để đáp ứng nhu cầu văn hóa  đích thực trong hoàn cảnh hiện nay.

Tôi muốn nhân cơ hội này xin được bày tỏ trước quý vị một vài điều suy nghĩ của mình với lòng mong ước được quý vị và đặc biệt là các anh chị em trong giới cầm bút sẽ góp phần soi sáng, bổ túc thêm ngõ hầu toàn thể chúng ta khai mở được một chiều hướng nhận thức mới vào sinh hoạt văn học nghệ thuật vốn đang còn trì trệ , dậm chân tại chỗ như hiện nay.

° ° °

Thưa quý vị, nói đến sinh hoạt văn học nghệ thuật là nói đến sự TỰ DO. Vì thiếu tự do ở trong nước nên hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, trong đó có rất đông anh chị em cầm bút.

Trong một lá thư gửi ra từ quốc nội, một văn hữu có hỏi tôi một câu ngụ ý rằng "ở hải ngoại, các anh đã thực sự có tự do cầm bút hay không ?"

Tôi không thể dài dòng trả lời câu hỏi này vì lý do thư từ qua lại tế nhị, nhưng thực sự tôi đã tìm ra lời giải đáp một cách dễ dàng. Đó là sau năm năm trời sống ở nước ngoài, trải qua những buổi sinh hoạt, những cuộc gặp gỡ tiếp xúc, những lần trao đổi góp ý và cả sự được đọc những bài viết đăng rải rác trên nhiều mặt báo, tôi thấy rõ người cầm bút ở đây chưa thực sự có tự do cầm bút.

Tôi không thể diễn tả một cách cụ thể những hình thức gò bó nào đã giới hạn ngòi bút của những người lưu vong, nhưng tôi cảm nhận được những sự giới hạn ấy nằm ở trong nhiều lãnh vực: Những thành kiến cố hữu, những quan điểm chính trị cực đoan, một chiều, những đầu óc bè phái, chia rẽ, những thái độ nhút nhát, thiếu can đảm, sợ hãi trước những thủ đoạn bôi nhọ, chụp mũ và sâu xa hơn cả là ở sự thiếu sót một cái nhìn sáng suốt và toàn diện những diễn biến về mặt tâm thức của tuyệt đại đa số đồng bào còn nằm trong gông cùm cộng sản ở quê nhà.

Những sự kiện vừa kể đã mặc nhiên dựng lên trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ỏ hải ngoại những hàng rào, những hố ngăn cách, những con đường mòn hay những ngõ cụt, nó khiến cho sinh hoạt văn hóa, ít ra là ở lãnh vực sáng tạo, mang một bộ mặt nghèo nàn, phân hóa và hầu như có một tính chất đồng dạng là ở chỗ tự mãn, ủy mị với quá khứ, nhởn nhơ, ù lì trong hiện tại và mờ mịt thiếu cảnh giác trước mhững bước đi của lịch sử trong tương lai.

Trong lời tựa của cuốn Đạo trường Ngâm, một tác phẩm đã được nhóm Nhân Chủ Học Xã cho tái bản gần đây, tác giả Thái Dịch Lý Đông A đã viết rằng : " Tin thờ lý tưởng đang tranh đấu đâu phải "mắt mù", "mặt cúi". Nhà làm văn nghệ  không thể làm tiếng "chó sủa" đồng thời không thể làm đồ đùa cho cho giai cấp độc quyền " (Đạo Trường Ngâm, thay lời tựa, trang 5).

Vì không thể mắt mù, mặt cúi và vì không thể là tiếng chó sủa hay đồ đùa cho giai cấp độc quyền nên tất cả anh chị em văn nghệ sĩ ở miền Nam cũ đều đã quẳng bút khẳng khái chấp nhận kéo dài một đời ảm đạm nơi quê nhà, sinh sống bằng đủ loại nghề nhưng không phải là cầm bút ca ngợi chế độ.

Một số đông anh chị em khác đã bỏ nước ra đi. Nhưng sự ra đi ấy chỉ có nghĩa khi người làm văn nghệ không tự biến thành mõ chợ hay nhởn nhơ quay về tiếc nuối quá khứ tưởng là vàng son nhưng thực chất vẫn là một xã hội còn tham nhũng, bất công, và nhiều người vẫn còn khốn khổ vì đất nước đang trong thời chiến.  Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận quá khứ. Chẳng có điều gì trong quá khứ, dù hay hoặc dở lại không giúp cho chúng ta rút ra được một điều gì để học hỏi. Cho nên tôi khẳng định rằng người cầm bút phải từ những đau thương của quá khứ mà vươn lên. Cả vinh quang cũng như tủi nhục xuất phát từ quá khứ đều là những hành trang tốt cho con người sáng tạo, hành trang được sử dụng như một thứ dấn thân vào con đường tiếp nối trước mặt chứ không phải một dãy sự kiện cồng kềnh cột chân con người tại chỗ để rồi chính họ tự chôn mình trong những đắm đuối, dễ dàng của một thời đã trôi hoàn toàn vào quá khứ.

Thêm vào đó, ít ra con người sáng tạo phải thấy rõ những diễn biến về mặt tâm thức của tuyệt đại đa số đồng bào còn đang lầm than ở quê nhà.

Cái tâm thức đó không còn là tâm thức của những con người thuộc ngày tháng trước khi miền Nam sụp đổ.

Cái tâm thức đó cũng không còn là của riêng đồng bào ở miền Nam, phía bên này của vĩ tuyến 17.

Cuộc cưỡng chiếm của CS tại miền Nam sau 1975 đã đem lại cho quê hương VN ít ra là hai yếu tố mới :

Một là : sự giao thông đi lại giữa hai miền Nam, Bắc đã soi sáng một vấn đề mà trước đó ít ai nhận ra : đó là tuyệt đại đa số nhân dân miền Bắc dù đã bị nhào nặn trong lò cừ của chế độ XHCN nhưng con người đích thực của họ vẫn còn tồn tại, sự tồn tại trong cái thế phải co rút vào cái vỏ dối trá, diễn kịch, nói một đàng nói một nẻo vì lý do phải tự bảo vệ để tồn tại trước những đàn áp của bạo lực. Điều đó có nghĩa là dù bị cộng sản nhồi nhét chủ nghĩa cách nào thì tâm thức con người miền Bắc vẫn chỉ là tâm thức của một tầng lớp bị trị, và cho dù CS chủ trương xóa bỏ giai cấp  nhưng thực tế vẫn chỉ là dựng lên một giai cấp mới, giai cấp mà tính quan liêu, bóc lột cũng không khác gì cái thứ trước đây họ đã diễn tả để hô hào xóa bỏ.

Hai là : Sau hơn 10 năm sinh hoạt  dưới chế độ CS, dù muốn dù không, hầu hết đồng bào miền Nam cũng đã bị lôi cuốn vào guồng máy của xã hội CS. Điều này có nghĩa là hiện nay ở quê nhà đã có không thiếu gì anh chị em ta, con cháu ta, đồng bào ta đã hoặc đang trở thành những cán bộ, những đoàn viên, những công nhân viên, thậm chí cả những bộ đội đi xâm chiếm Lào và Kampuchea đối với những tầng lớp trẻ ở vào tuổi  phải đi "nghĩa vụ quân sự".

Đó là chưa kể tới thế hệ mầm non, ra đời vào năm 1975, nay đã ở tuổi lên 10, không biết quá khứ là gì và thực sự đã bị nhào nặn từ thuở bé trong guồng máy nhồi nhét về giáo dục hay văn hóa của CS.

Như thế, chống Cộng là một khẩu hiệu giản dị, nhưng tìm ra được một đối tượng đích thực để tiêu diệt sẽ không phải là một điều dễ dãi.

Có một vị nữ ca sĩ nổi tiếng đã có lần tuyên bố với báo chí ở Úc châu rằng "Ước gì tôi có phép, tôi sẽ giết hết người cộng sản". Câu nói có vẻ mang một lập trường chống Cộng vững chắc, nhưng đi sâu vào vấn đề, những loại cán bộ, đoàn viên, công nhân viên, bộ đội như tôi vừa kể có phải là những loại người đáng giết hết hay không, thì câu trả lời hẳn sẽ gây ra những điều khó khăn, phúc tạp hơn nhiều.

Nêu lên cùng quy vị những nhận thức như thế, tôi muốn bầy tỏ một điều suy nhgĩ rằng, sau 10 năm trời của sự sụp đổ đất nước, mọi vấn đề nhận thức đều cũng theo đó mà thay đổi. Nếu đem tâm tình của một con người chống Cộng cực đoan trước năm 1975 áp dụng vào thời điểm  này hẳn sẽ có những điều trục trặc, bất ổn. Nó chẳng những giới hạn khả năng đấu tranh của những người Quốc Gia tự do mà còn gián tiếp ngăn cản con đường trở về với đại gia đình dân tộc đối với một tập thể đông đảo nhân sự, trong đó bao gồm cả những con người đã từng có thời gian chiến đấu trong hàng ngũ CS, nay đã bừng tỉnh nhưng chưa có cơ hội nói lên tiếng nói đích thực của mình.

Văn hóa, trong hoàn cảnh đó, không thể chỉ là cái khuôn để chỉ những người cùng một phe chui lọt  mà phải là tấm gương trong sáng của dân tộc, ở đó ai cũng soi thấy vị trí của mình và thấy con đường sinh lộ duy nhất mà mình phải đi để đem quê hương ra khỏi cảnh lầm than, cơ cực.

Trên cơ sở nhận thức đó, tôi chủ trương rằng người cầm bút chống lại chế độ Cộng Sản  nhưng không loại trừ toàn thể những con người đang sống trong chế độ Cộng sản. Mặc dầu quá khứ của họ là gì, xuất thân từ miền Bắc hay miền Nam, nhưng một khi đã nhận chân được nhu cầu phải tiêu diệt cơ chế tổ chức xã hội theo kiểu Cộng sản để xây dựng một quốc gia có ý thức nhân bản mới thì họ chẳng thể chỉ được coi như một kẻ chiêu hồi, đầy mặc cảm mà hơn thế, họ chính là những kẻ đồng hành, sát cánh cùng chúng ta đi xây dựng một quê hương mới.

Tôi luôn luôn tin tưởng rằng trong cuộc sụp đổ của chế độ CS sẽ xẩy ra chắc chắn trong tương lai, thì nỗ lực chính yếu phải là những con người đang ngụp lặn lầm than nơi quê nhà, những con người đã nhìn ra thân phận bị trị của mình và đang nuôi dưỡng một tinh thần quật khởi, vùng lên.

Một bằng chứng cụ thể gần đây nhất là tâm tình sắt son của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện với tác phẩm đầy máu và nước mắt trong suốt hơn hai mươi năm lăn lộn ở chốn lao tù.

Trước đó, bản Tuyên Ngôn của Nhóm Văn Nghệ Chân Đất được phổ biến vào ngày 30-4-1979 tại Paris, do một nhà văn miền Bắc vượt thoát từ Hà Nội mang đi đã mang chữ ký của 14 nhà văn, nhà thơ với đầy đủ tên tuổi và địa chỉ , sẵn sàng  chấp nhận mọi hậu quả , bởi vì theo họ : " Chúng tôi đã khổ quá rồi, không còn có thể khổ hơn nữa. Ở trong hay ngoài nhà tù cũng thế thôi."

(Ghi chú : Nhà văn này là Diệu Tô Minh làm việc ở Đài Phát thanh Tiếng Nói Việt Nam, vượt biên và công bố trước một tòa án nhân quyền ở Paris bản "Tuyên ngôn của nhóm Văn Nghệ Chân đất" và  tài liệu " Một nền thơ ly khai chủ nghĩa xã hội ở Hà Nội")

Trong bản Tuyên Ngôn này, những văn nghệ sĩ can đảm ở miền Bắc đã dõng dạc tuyên bố với thế giới rằng :

" Chúng tôi kêu gọi những người cầm bút lâu năm, những văn nghệ sĩ trí thức, những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi và có nhân cách vốn đã từng là những bó đuốc dẫn đường cho chúng tôi. Hãy theo đúng tinh thần nghệ thuật, đứng lên trên những thành kiến và tín điều đang vây bọc và che phủ chúng ta. Hãy lên tiếng ủng hộ chúng tôi, hỗ trợ chúng tôi để cùng nhau nối tiếp và phát huy truyền thống  của nền văn hóa 4,000 năm.

Hãy cùng chúng tôi vượt qua những hình thức nô lệ và bỉ ổi vốn đã từ lâu  gò ép chúng ta trong mỗi sáng tác phẩm. Làm chúng ta cùn mòn trong suy tư và nghèo nàn trong sáng tác.

Chúng tôi cảnh cáo những mưu toan lố bịch nhằm biến nền văn hóa thành công cụ riêng của một tín ngưỡng. Hãy trở về  với TỰ DO, hỡi những người cầm bút !"

(trích Tuyên Ngôn của Nhóm Văn Nghệ Chân Đất)

Thưa quý vị, tiếng kêu trầm thống đó của những nhà văn, nhà thơ miền Bắc tưởng sẽ tạo nên ảnh hưởng sôi nổi  trong sinh hoạt văn học nghệ thuật lưu vong ở hải ngoại, nhưng tiếc thay trong thực tế, nó đã không gây được một biến động nhỏ nhoi nào. Là một người cầm bút, tôi thực tình lấy làm hổ thẹn vì sự thờ ơ đó trong giới của mình, ngoại trừ sự cố gắng của nhóm Quê Mẹ của nhà thơ Thi Vũ Võ văn Ái ở Pháp cùng một thiểu số các bài báo khác.

Nhưng dù bản Tuyên Ngôn của Nhóm Văn Nghệ Chân Đất có được tiếp đón cách nào, thì vấn đề tâm thức của dân tộc vẫn còn nguyên vẹn ở đó.

Đây là một trong những bằng cớ hiển nhiên, cụ thể cho thấy rằng dù con người sinh sống ở miền nào trên quê hương và bị nhào nặn cách nào, thì cuối cùng ai cũng sẽ nhận ra được thân phận  bị trị của mình để nuôi dưỡng một lý tưởng quật khởi,vùng lên.

Hiện nay  đã có rất nhiều người ở quê nhà có được cái tâm thức đó.

Đối với  những người khác, nếu chưa có cơ hội nhận thức ra thì chính vai trò của văn  học nghệ thuật là phải góp phần khai mở cho những sự bừng tỉnh kể trên được lan tràn. Nói khác đi, chúng ta không những chỉ chống Cộng giữa chúng ta với nhau mà còn phải góp phần lay chuyển cái thành trì tâm thức của toàn thể mọi người đang bị bạo lực CS vây  hãm ở quê nhà hiện nay.

Để thực hiện mục tiêu đó, tôi tin tưởng rằng không có loại võ khí nào sắc bén hơn là công tác văn hóa. Văn hóa, do đó không thể vùi giập con người dưới những lằn roi của sự cực đoan, một chiều mà trái lại phải nâng cao giá trị của con người, vạch rõ thực trạng đớn đau, tủi nhục để trang bị cho con người  một nhận thúc mới, ở đó con người  nhìn ra thân phận bị trị của mình, biết phẫn nộ trước sự phi lý về nông nỗi con người đã bị khai thác triền miên trong bao nhiêu năm ròng bởi một thiểu số đầy tham vọng và quyền lực mà không biết đứng dậy làm một cuộc cách mạng giải phóng chính mình.

Trên cơ sở đó, văn hóa đòi hỏi mỗi người làm công tác văn hóa phải có môt cái nhìn mới,biết rõ mình đang ở đâu và cần thiết phải làm gì. Để thực hiện được điều đó, người làm văn hóa ít ra là phải có một sự can đảm. Sự can đảm trước hết  là phải biết khước từ những sinh hosạt dễ dãi, biết chọn lựa để từ chối những đề tài sáng tạo chỉ có tác dụng ru ngủ chính mình trong một cái nôi vị kỷ, chật hẹp và sự can đảm sẵn sàng nhận lãnh những búa rìu có thể sẽ đến từ nhiều phía khi khởi sự đụng vào bức tường kiên cố của những cực đoan chính trị hay những cơn nung nấu của lòng hận thù. Và tối thiểu, đến ngay cả sự nhận thức là mình chưa có tự do cũng đã ngại ngùng không dám nói đến.

Đã hơn 10 năm trôi qua, người cầm bút lưu vong tuy đã nói lên được rất nhiều thực trạng của quê hương, nhưng chưa bao giờ họ có tự do để nói hết.

Không như ở quê nhà, sự tự do bị triệt tiêu bởi guồng máy cai trị chuyên sử dụng bạo lực để đàn áp, nhưng ở hải ngoại, ai cũng có thể viết lên những điều gì mìnhh muốn viết, chỉ trừ khi chính mình tự giới hạn lấy mình bởi sự lười biếng suy nghĩ hay e ngại những hàng rào thành kiến vây quanh, sự bao che, bè phái hay sự tâng bốc, thù tạc.

Cho nên đã tới lúc người cầm bút lưu vong phải tự giải phóng chính mình để tìm lại chân trời tự do sáng tạo ngõ hầu có thể cung ứng những tác phẩm đáp ứng với nhu cầu  của quê hương, đất nước hiện tại. Tôi vẫn  hằng tin tưởng rằng đồng bào ở quê nhà , và đặc biệt là những anh chị em cầm bút ở miền Bắc  hay miền Nam, dù đang ở bên lề xã hội hay vẫn còn bị ràng buộc  trong một cương vị nào đó của guồng máy xã hội, thì thâm tâm của mọi người vẫn hướng về những người có may mắn ra đi với một tấm lòng kỳ vọng. Tấm lòng kỳ vọng đó, sau 10 năm mòn mỏi đợi chờ, có được chúng ta đáp ứng hay không, điều này xin để tùy thuộc câu trả lời của từng người,

Tôi chỉ xin mạo muội nêu lên vài ý tưởng có tính cách gợi ý. Rất mong những điều phát biểu của tôi sẽ còn được đồng hương, các anh chị em cầm bút soi sáng thêm để vấn đề nêu ra còn được làm cho sáng tỏ hơn nữa.

NHẬT TIẾN
Tháng 10-1985

Chương 2

Thời điểm 1970-80

NGUYÊN VĂN BẢN TUYÊN NGÔN  CỦA NHÓM VĂN NGHỆ "CHÂN ĐẤT"

 

Gửi toàn thể những người đang công tác trên lãnh vực văn hóa ở miền Bắc Việt Nam.

Hỡi những văn nghệ sĩ, trí thức, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ, nhạc sĩ, những người biên kịch, đạo diễn, quay phim, những diễn viên, các nhà phê bình nghiên cứu và tất cả những ai đang làm việc và sáng tác cho nền văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi, những anh em trẻ đang làm những công việc của người cầm bút. Chủ trương một khuynh hướng sáng tác rộng rãi và tiến bộ, gồm những người làm thơ, viết truyện, viết kịch, họa sĩ…trong những ngày gần đây đã quyết định ra lời tuyên cáo trước anh em, bè bạn trong mọi ngành văn hóa nghệ thuật.

Chúng ta sắp chết ngạt trong ao tù của một cuộc sống bị đóng kín bởi những qui định của một nền văn hóa thời chiến và vì thế mọi sáng tác phẩm đều mang khuôn mặt của người lính trong chiến tranh : khắc khổ, đơn điệu, lạnh lùng và máy móc như mệnh lệnh.

Trong khi đó, trên thế giới, những trào lưu văn hóa mới đã có những thay đổi lớn với sự giải phóng hoàn toàn con người thoát khỏi những giáo điều chật hẹp. Người nghệ sĩ mới và tác phẩm không phải là nô lệ và công cụ theo kiểu những khuôn mẫu định sẵn của môn thống kê kế hoạch.

Những năm qua, gia sản văn hóa của chúng ta quá nghèo và không có ai viết được những tác phẩm lớn theo kịp  với những chuyển động của thời đại. Bởi vì chúng ta đã đóng cửa nhìn ra thế giới và bởi vì tất cả những sáng tác phẩm tự do đều không được khuyến khích mà bị dập vùi.

Chúng tôi những người cầm bút trẻ nhưng chưa một ai có nổi một đầu sách, một tập thơ nhỏ được xuất bản để ra mắt nhân dân. Điều đó, chẳng phải chúng tôi không biết viết mà bởi chúng tôi không được viết, không được tự do nói lên những điều  cần phải nói. Cũng bởi chúng tôi và những anh em  văn nghệ sĩ trẻ ở miền Bắc, chúng tôi không hề có trong tay bất kỳ  một phương tiện nào ngoài những đêm không ngủ với trái tim chất đầy những khát vọng muốn nói lên sự thật của đất nước.

Chúng tôi không NỔI LOẠN nhưng chúng tôi không IM LẶNG.

Chúng tôi kêu gọi những người cầm bút lâu năm, những văn nghệ sĩ trí thức, những nhà văn, nhà thơ, có tên tuổi, có nhân cách vốn đã từng là những bó đuốc dẫn đường cho chúng tôi. Hãy theo đúng tinh thần nghệ thuật, đứng lên trên những thành kiến và tín điều đang vây bọc và che phủ chúng ta. Hãy lên tiếng ủng hộ chúng tôi, hỗ trợ chúng tôi để cùng nhau nối tiếp và phát huy truyền thống của nền văn hóa 4.000 năm. Hãy cùng chúng tôi vượt qua những hình thức nô lệ và bỉ ổi vốn đã từ lâu gò ép chúng ta trong mọi sáng tác phẩm. Làm chúng ta cùn mòn trong suy tư và nghèo nàn trong sáng tác.

Hãy cùng chúng tôi khai mở một trào lưu mới. Thổi luồng sinh khí đậm đà mầu sắc và tình người vào bộ mặt văn hóa của chúng ta như 40 năm trước nhóm thơ "Mới" Tự Lực Văn Đoàn đã làm.

Chúng tôi không chấp nhận việc coi những công việc sáng tác của người nghệ sĩ như những công việc của viên chức  trong văn phòng các công sở và sự thai nghén tác phẩm chỉ là sự viết lại những chỉ thị từ xa. Cái thứ tác phẩm sản xuất theo kế hoạch và đơn đặt hàng chỉ có thể đầu độc  mọi người và làm đần độn nhân dân. Chúng tôi cảnh cáo những mưu toan lố bịch nhằm biến nền văn hóa thành công cụ riêng của một tín ngưỡng. Hãy trở về  với TỰ DO, hỡi những người cầm bút !"

Cách đây hơn 10 năm, hẳn mọi người còn nhớ những số báo "Nhân Văn", "Giai Phẩm  Mùa Thu" đã thét lên tiếng thét đòi quyền sống – quyền làm người. Chúng ta phải được sống chứ không phải "chuẩn bị sống" với "Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng" đã bị cả nước "lên án" do một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi. Mà họ không được quyền viết bài bảo vệ.

Chả nhẽ chúng ta cứ say đắm và ôm ấp mãi cái thứ văn nghệ một chiều chán ngấy đó sao ? Đã đến lúc phải thể nghiệm và hơn thế phải thể hiện tính đa dạng và sự phản ánh trung thành của nghệ thuật với cuộc đời.

Bằng vào sự đập phá những thần tượng rỗng tuếch, chúng tôi không nhằm chỉ phá hoại mà chính là để xây dựng.          Chúng tôi kêu gọi tất cả anh em văn nghệ sĩ, những người làm văn hóa, những người cầm bút. Hãy mở tung mọi cánh cửa để vươn tới những phương trời tự do trong sáng tác.

Và bởi vì chúng ta đang sống trong một cánh rừng đen, ở đó có quá nhiều bóng rợp, có quá nhiều những "cây đa", "cây đề" những "thiên sứ", những ‘chủ soái" của văn chương, nghệ thuật. Cả một lớp những cây cổ thụ đó đã phủ bóng râm lên lớp trẻ ngày nay. Hãy mạnh dạn cùng chúng tôi gạt bỏ những lề thói, những tín điều khô cứng để cùng chúng tôi đi tới chân trời mông mênh của nghệ thuật đã từ lâu nay bị che kín trong sự bao vây.

Xin hãy cầm bút lên và hãy cùng chúng tôi soi sáng mọi nhà.

Hãy xứng đáng với nền  văn hóa ông cha và phải tiến xa hơn. Chúng tôi, những người CHÂN ĐẤT sẽ đi tiên phong trong trận tiến công lớn này, như những bầy người hang động đi tìm về ngọn lửa thiêng rực rỡ.

Mặc cho người ta có thể hiểu lầm và chụp mũ. Chúng tôi biết việc chúng tôi làm nó sẽ đi đến đâu. Nếu như chỉ 14 người trong khi ở đầu kia  là cả những đội ngũ khổng lồ của những "bậc thầy" văn hóa !

Nhưng trong nghệ thuật cũng như chân lý, không chấp nhận một số đông không vận động.

Chúng tôi không tôn thờ và sợ hãi những người SỐNG MÀ ĐÃ CHẾT.

Nếu như chúng tôi không làm nổi và hoàn tất những gì chúng tôi muốn thì những người đi tiếp chúng tôi-những người đồng quan điểm- sẽ tiếp tục hoàn thành con đường tất yếu mà mọi người cầm bút có nhân phẩm sẽ đi tới.

Mọi con người – nếu đã là con người – phải được nói lên tất cả những gì thuộc về con người.

Nghệ thuật dành cho những trái tim con người và nó sẽ sống cho sự tốt đẹp của con người. Những hình thức của một thứ văn hóa công cụ, cố chấp và biến thành thứ phương tiện hiện đại của chiến tranh tâm lý chỉ là những hiện tượng rời rạc và sau này con cháu chúng ta sẽ không khỏi xấu hổ khi đọc đến giai đoạn này.

Để khỏi cho thế hệ sau sẽ phỉ nhổ khi chúng đọc lại lịch sử văn hóa của ông cha, ngay ngày hôm nay chúng ta phải thay đổi để xứng đáng với tiền nhân và để có thể nhìn thẳng vào ngày mai với trái tim kiêu hãnh.

Chúng ta không được phép lùi lại.

Chúng tôi, nhóm văn nghệ "Chân Đất" với những bàn chân không giầy, những con mắt bị bịt kín, những cái mồm không được nói và những cái đầu đói khát tự do, không đành để mình và tất cả bị nhào nặn thành những tên hề của lịch sử,

Chúng tôi, những con người vốn sinh ra như con người dưới mặt trời muôn thuở, kêu gọi tất cả mọi sáng tác phẩm được viết phải dành cho mọi trái tim yêu thương chứ không dạy mọi người phải căm thù và chuyên chính !

Với bộ ngực trần, chúng tôi tuyên chiến với mọi thứ văn hóa bịp bợm, lố bịch đang ngày đêm làm bẩn bầu không khí xung quanh chúng ta.

Hãy chống mọi thứ ô nhiễm đang đầu độc nền văn hiến 4.000 năm.

Và bởi vì trong khi đang lùi lại và quẩn quanh trong độc đạo những người đang dẫn dắt chúng ta lại quá tin rằng mình đang tiến.

Nền văn hóa của chúng ta đang lâm bệnh. Đó là căn bệnh đơn điệu và nghèo nàn về hình thức và nội dung.

Các ngài, các ngài lại tưởng –hay tự lừa dối mình – rằng các ngài đang giầu có và đa dạng !!!

Và vì quá tôn thờ chủ nghĩa nên các ngài đã cưỡng ép nàng thơ phải vác súng hành quân và "xuống đường" hô khẩu hiệu đã bao năm rồi.

Chúng tôi khước từ thứ cháo loãng ăn trừ bữa của văn nghệ tuyên truyền hâm lại từ bao lâu nay.

Không phải đợi đến ngày phán xét. Mà ngày hôm nay 14 người chúng tôi- những người Chân Đất- xin thay mặt Nguyễn Du, Nguyễn Trãi…và nhân danh thế kỷ 21, chúng tôi xử bắn lối văn nghệ Một Chiều, Giáo điều và Phản nhân tính.

Ngày Mai sẽ là của chúng tôi.

Hãy cầm bút cho một nền Văn Hóa Việt Nam !

TỰ DO - ĐỘC LẬP VÀ NHÂN ĐẠO

NHỮNG NGƯỜI CHÂN ĐẤT

(Nguồn : tạp chí Quê Mẹ -  Paris số 40, năm 1980)

Chương 3

30 PHÚT VỚI NHẬT TIẾN

Phỏng vấn của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo sau buổi ra mắt tập truyện MỘT THỜI ĐANG QUA

(11 tháng 10-1985)

 

Hoa Thịnh Đốn Việt Báo : Anh Nhật Tiến, thưa anh, trong bài nói chuyện của anh nhân dịp ra mắt tác phẩm " Một Thời Đang Qua", có đoạn anh đề cập đến khía cạnh nhân bản của một số nhân sự hợp tác với chế độ bên kia vì hoàn cảnh, vì gông kềm của áp bức…Theo đó , anh cho là : " Nếu đem tâm tình của một con người chống Cộng cực đoan trước 1975 áp dụng vào thời điểm này hẳn sẽ có những điểm trục trặc, bất ổn. Nó chẳng những giới hạn khả năng đấu tranh của những Quốc Gia tự do mà còn ngăn cản con đường trở về với đại gia đình dân tộc đối với một tập thể đông đảo  nhân sự, trong đó bao gồm cả những con người đã từng có thời gian chiến đấu trong hàng ngũ CS, nay đã bừng tỉnh nhưng chưa có cơ hội nói lên tiếng nói đích thực của mình." Nhân vật thủ trưởng trong truyện ngắn "Người Tù Cuối Năm" của anh có liên hệ gì với lối lập luận trên của anh không ? (Xin coi truyện ngắn này ở trang 137)

Nhật Tiến : Có, thưa anh là có. Tôi muốn nhấn mạnh đến giá trị nhân bản còn tồn tại trong những con người vì lý do này hay lý do khác đang phục vụ cho chế độ bên kia. Người văn nghệ sĩ sáng tác chân chính nên có nhiệm vụ tạo điều kiện để đưa họ về với dân tộc. Họ giống như một thanh thép bị CS làm cho gỉ sét.Văn nghệ cần phải có sứ mạng làm bật ra những hoen gỉ đó.Tôi đã có dịp ra thăm và quan sát đời sống cũng như tâm tình của nhiều người dân miền Bắc sau bao năm sống dưới ách cai trị của CS. Tôi nhận thấy con người của họ có hai mặt. Một mặt giả dối, cứng ngắc do hệ thống CS nhào nặn. Một mặt khác, họ còn có rất nhiều chất người. Trong khi đa số bọn lợi dụng nằm trong giai cấp thống trị chạy theo chiến thắng ở miền Nam để vơ vét thì tôi thấy một số khác ở miền Bắc nhếch mép cười khinh bạc, buồn bã "phát biểu : "Bao năm hợp tác , đóng góp cho chế độ, đâu phải để thực hiện một xã hội như thế này."  Phải là người có lòng nhân bản thì mới nêu ra nhận định này, nhất là đang ở phe chiến thắng.

Điều đó cho phép tôi khá vững tin vào việc người cầm bút ở hải ngoại cũng cần phải có nhiệm vụ  soi thấu giá trị  nhân bản này. Vì chỉ có ở góc nhìn nhân bản đó, con đường đấu tranh giải phóng dân tộc mới có tập hợp được nhiều người, rút ngắn được thời gian tranh đấu và tránh được  cuộc chiến nồi da xáo thịt lại có nguy cơ xẩy ra lần nữa.

HTĐVB.- Khi lập luận như thế anh có mường tượng ra rằng anh sẽ bị phản ứng bởi một số người có thể vì quá sức cực đoan mà cho đó là một nhận định thiếu tích cực không ?

Nhật Tiến: Thưa anh có. Nhưng mà nhà văn, người sáng tác là phải can đảm và trung thực. Hơn nữa vấn đề mà tôi đã trình bầy chỉ mới là điều gợi ý. Nó còn cần có sự đóng góp ý kiến để soi sáng của nhiều người. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng hy vọng rằng những người cầm bút ở hải ngoại sẽ cùng nhau thảo luận để làm sáng tỏ vấn đề.

HTĐVB.- Thưa anh, chúng tôi có một câu hỏi khác liên quan  đến vấn đề tự do trong sáng tác. Anh có nói là anh "thấy rõ người cầm bút ở đây  chưa thực sự có tự do cầm bút". Xin anh vui lòng nói thêm một chút nữa về điều này.

Nhật Tiến : Đúng như vậy,  người cầm bút ở đây chưa thực sự có tự do cầm bút! Chuyện chụp mũ, bè phái, ngộ nhận, thành kiến, bôi nhọ…. là những chuyện làm đắn đo và gây chán nản không ít cho nhiều người cầm bút. Nó đã làm cho bộ mặt văn hóa ở hải ngoại thiếu sinh động.

HTĐVB.- Điều anh vừa nói, một đàng cũng rất chia xẻ và đồng ý với anh, đàng khác, về phía người đọc chúng tôi muốn chuyển tới anh một suy nghĩ khác. Đó là trước kia, ở bên nhà, người cầm bút được khích lệ và đền bù bằng ít nhiều danh vọng và vật chất. Yếu tố này đã tác động mạnh mẽ đến một số người (chúng tôi chỉ nói một số người), nay sang đây, những đền bù đó coi như không có. Phải chăng vì đó mà  một số người  cầm bút trở nên lười biếng chăng ? Nếu quả tình như vậy thì ngoài cái điều anh đã nói ra còn có một điều khác, điều này nằm ở phía người sáng tác, cũng cần phải nói tới. Đó là tấm lòng. Phải chăng vì thiếu tấm lòng. Hay vì tấm lòng không đủ lớn, không đủ kích thước để bao trùm lên mọi chuyện khác, để đủ và thừa sức mạnh mà sáng tác.

Nhật Tiến:  Có lẽ vấn đề phải được giới hạn. Nó chắc không đúng cho trường hợp những người cầm bút chân chính. Về phần tôi, tôi sáng tác vì bạn bè và vì đồng bào còn lại ở quê nhà. Nó là một thôi thúc không ngưng nghỉ. Khi tôi thức suốt đêm để viết, tôi không hề nghĩ tới những đền bù mà quý báo vừa đề cập. Dù sao thì cũng cám ơn anh đã đưa ra một góc nhìn khác.

HTĐVB- Xin thành thật cám ơn anh đã có nhã ý dành cho Hoa Thịnh Đốn Việt Báo buổi nói chuyện thân mật, tâm tình và hữu ích này.

Chương 4

Thời điểm 1996 Sinh hoạt Văn hóa ở Nam Cali

PHÁT BIỂU TRONG BUỔI RA MẮT CUỐN VIỆT NAM QUA LĂNG KÍNH 24 NHÂN VẬT THỜI ĐẠI

của NGUYỄN VẠN HÙNG

Ngày 29-6-1996  Tại Trung Tâm Công Giáo VN – Orange County – California.

Nhật Tiến

 

Trước hết, tôi xin được ngỏ lời cám ơn ban tổ chức đã có nhã ý dành cho tôi cái cơ hội được tham dự và phát biểu trong buổi ra mắt tuyển tập ngày hôm nay.

Tôi cũng nhân dịp này xin bầy tỏ lời đặc biệt cám ơn nhà báo Nguyễn Vạn Hùng , một ký giả chuyên nghiệp đã liên tục trong nhiều năm tìm đến những nhân vật có liên quan đến các vấn đề thời sự để phỏng vấn và tường trình cùng độc giả, và đến nay lại san định và chọn lựa để in chung vào một tuyển tập như chúng ta thấy trong buổi ra mắt ngày hôm nay. Chính nhờ cuốn sách này mà tôi có dịp ôn lại những điều do chính mình đã nghĩ, đã phát biểu từ hơn sáu năm qua, tất cả tưởng đã vùi sâu trong dĩ vãng không ai còn nhớ đến nữa. Nay nhờ thế mà đôi điều có thể được ôn lại thì đối với tôi quả là một điều lý thú. Và cũng chính nhờ tuyển tập này mà tôi cũng lại có cơ hội được đọc một cách tổng hợp hơn những vấn đề mà hơn hai mươi vị khác đã phát biểu, qua đó tôi cũng đã có dịp thu nhận được nhiều điều bổ ích, bởi vì mỗi vị với một vị trí riêng, một hoàn cảnh ricng, một kinh nghiệm sống riêng đã soi sáng được nhiều phía, nhiều mặt xoay quanh nhiều vấn đề liên quan đến tình hình đất nước. Chỉ riêng với một ưu điểm này, nhà báo Nguyễn Vạn Hùng cũng đã thành công trong việc ấn hành tuyển tập để chúng ta có được buổi gặp gỡ ngày hôm nay.

Thưa quý vị, riêng về phần tôi, khi nhìn lại hoàn cảnh và thời điểm mà cuộc phỏng vấn được thực hiện khoảng cuối năm 1990, tôi nhận thấy cũng nhân cơ hội này nên phát biểu một vài cảm nghĩ, một phần là để làm sáng tỏ thêm những nhận định của mình từ sáu năm về trước , và một phần khác cũng là để bổ túc thêm cho thích hợp với hoàn cảnh thực tế vốn cũng đã thay đổi rất nhiều trong mấy năm vừa qua.

Có một điều tuy đương nhiên nhưng cũng nên khẳng định lại, đó là ở đâu, bao giờ và trong bất cứ thời điểm nào thì nhận định sau đây bao giờ cũng đúng :

" Đó là chế độ Cộng Sản không bao giờ đem lại tự do, hạnh phúc cho con người và tạo dựng được một xã hội công bằng, phát triển và thịnh vượng. "

Sáu năm về trước, cái tạm gọi là chân lý này hầu như chỉ phổ biến đối với người thuộc chế độ Miền Nam cũ, nhưng nay thì càng ngày thực tế càng cho thấy, ngay cả những người được tôi luyện trong xã hội Cộng Sản cũng đã nhận ra và đã có nhiều người công khai phát biểu. Nhìn lại 10 năm trở về trước, những tên tuổi như Dương Thu Hương, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Lữ Phương, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn văn Trấn..v..v ...dù tên tuổi của họ vẫn tồn tại trước đó nhưng họ đã không xuất hiện ồn ào, phong phú và đa dạng như thời gian gần đây. Liên tục trong vài năm qua, họ cũng như nhiều trí thức khác trong nước đã cất lên tiếng nói tuy còn trong mức độ tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và vị trí mà họ đang sống, nhưng nội dung đã không chỉ bộc lộ sự thay đổi nhận thức riêng tư mà họ đã hướng rất nhiều về những nguyện vọng chung của dân tộc. Sự kiện xẩy ra như thế đã phù hợp với hoàn cảnh thực tế trong đó hàng loạt chế độ C.S. đã sụp đổ ở các nước Đông Âu và ngay cả Liên Xô nữa. Như thế, theo tôi nghĩ, nhất thiết con đường chống Cộng của người Việt ở hải ngoại phải được đặt trước một hoàn cảnh mới, đòi hỏi phải có một nhãn quan mới qua đó có thể đề ra được những sách lược mới thích nghi được với tình thế hiện nay.

Vào thời điểm mà cuộc phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn Hùng được thực hiện, tôi đã góp phần cùng với nhiều anh chị em văn nghệ sĩ khác đi tìm một phương thức đấu tranh trong chiều hướng này, và đó là lý do cuốn Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương đã được xuất bản vào cuối năm 1990 sau gần 2 năm chuẩn bị cùng với sự ra mắt của một vài tờ tạp chí có cùng một khuynh hướng như tờ Hợp Lưu, tờ Đối Thoại hay những cuộc trao đổi, thảo luận cùng các sinh hoạt khác. Cũng chính từ những hoạt động này mà đã có nhiều người cho rằng chúng tôi chủ trương giao lưu văn hóa, một từ ngữ tức cười thay, không do chúng tôi đặt ra, và ngay cả cho tới nay, chúng tôi cũng chưa hề thảo một bản văn nào đem công bố để vận động cho một trào lưu mang cái danh nghĩa đó !

Tôi còn nhớ Họa sĩ Khánh Trường cách đây 5 năm khi làm bản maquette cho tờ tạp chí của  mình, anh dự định lấy tên tờ báo là Giao Lưu, nhưng chính tôi đã góp ý nên đổi là Hợp Lưu để tránh ngộ nhận. Anh  Khánh Trường đã chấp nhận ý kiến đó và tờ báo của anh vẫn còn mang cái tên  Hợp Lưu cho đến tận ngày hôm nay.

Nhưng ta hãy gạt qua chuyện từ ngữ để đi vào thực chất của vấn đề. Đối với chúng tôi, dù trong bất cứ một sinh hoạt văn hoá nào, chuyện giao lưu văn hoá một chiều chỉ là chuyện thơ ngây, phi lý, không cần phải có người dạy dỗ cho thì mới biết. Bởi nếu có sự giao lưu đúng nghĩa thì sách báo của người Việt ở hải ngoại đã tràn ngập thị trường ở trong nước rồi. Ở đây, tôi thấy cần phải nhắc lại rằng khi đề cao phong trào văn chương phản kháng vào thời điểm đó, chúng tôi chỉ mong mỏi nối được vòng tay với những ngòi bút phản kháng ở trong nước, cổ võ họ, nâng đỡ tinh thần họ, và nếu có thể , yểm trợ được họ trong công cuộc phổ biến những tác phẩm do họ đã viết để khơi dậy một cao trào văn chương phản kháng, nói lên được tâm tư và nguyện vọng của toàn thể dân tộc ngõ hầu góp phần vào công cuộc đấu tranh cho Tự do và Dân chủ trên quê hương.

Trong một vài lần phát biểu ở đây đó rải rác trong mấy năm vừa qua, tôi cũng đã từng nhấn mạnh rằng:

" Chúng tôi không chủ trương thỏa hiệp với cường quyền hay bạo lực. Bởi khi người cầm bút thỏa hiệp với bất cứ một bạo quyền nào thì anh ta cũng sẽ chỉ là một thứ công cụ và tự biến vai trò độc lập của mình trở thành một thứ văn nô vốn là điều mà không một người cầm bút chân chính nào chấp nhận."

Nhưng để tiến tới việc chấp nhận những con người phản kháng ở trong nước , nhìn lại điểm khởi đầu từ sáu bẩy năm về trước, tôi nhận thấy đó không phải là một tiến trình suông sẻ bởi vì đã có một thành kiến khá phổ biến cho rằng hễ đã là người của Cộng sản rồi thì dù có thay đổi thế nào cũng không còn gì để đối thoại nữa. Đây là một thành kiến dễ giải thích vì nó xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế, nhiều khi bao gồm cả những sự mất mát, đau thương, đổ vỡ với những vết thương rất khó hàn gắn, bởi vì như tất cả mọi người đều thấy, kể từ khi chiến tranh chấm dứt, nhân dân miền Nam đã bị xô đẩy vào một cuộc trầm luân mới với biết bao sinh mạng bị hy sinh một cách phí uổng trong rừng sâu, nơi biển cả, trong các trại tù trại cải tạo hay trong những vùng gọi là kinh tế mới. Biết bao nhiêu đau thương, mất mát, chia lìa trong các hoàn cảnh đó đã ghi thành những dấu ấn hết sức nặng nề về cả mặt tinh thần cũng như thể xác đã khiến cho lòng căm thù có môi trường để nẩy nở lên một cách hết sức chính đáng, khiến cho nhiều người hầu như không muốn thay đổi nhận thức của mình. Hậu quả là cho tới nay vẫn còn những khuynh hướng khoanh vùng, vạch vòng phấn, loại cả ra ngoài những nhân sự vốn trước đây tuy không đứng chung trong cùng một hàng ngũ nhưng nay cũng đã chia xẻ với mình một ước mơ về một tương lai tốt đẹp của quê hương, dân tộc. Tôi cho rằng sự chấp nhận một cuộc thay đổi nhận thức trong thực trạng đó quả là một điều hết sức khó khăn, đòi hỏi nhiều sự thao thức, trăn trở. Nhưng vấn đề đặt ra là thời gian càng trôi qua, cuộc diện thế giới và thực trạng ở quê hương đã có nhiều thay đổi, vì thế vấn đề Việt Nam bây giờ không còn chỉ là vấn đề riêng của người dân miền Nam như trước đây nữa mà đã trở thành vấn đề chung của cả dân tộc, mọi chiều hướng giải quyết nhất thiết đều phải đặt trước một nhu cầu không thể chối bỏ đó là sự thống nhất đất nước và thống nhất dân tộc .

Trong hơn 20 năm qua, lòng hận thù chính đáng kể trên đã có nhiều cơ hội để thử lửa, nhưng chưa bao giờ nó cho thấy sự nuôi dưỡng hận thù trong một nhãn quan khô cứng lại là một giải pháp tốt đẹp nhất, không bị lãng phí thời gian nhất trong công cuộc phục hồi và xây dựng quê hương.

Cho nên tôi vẫn tha thiết khẳng định là chúng ta cần phải mở rộng hàng ngũ dân tộc để tạo dựng sức mạnh cho chính mình, đó là hàng ngũ của những con người không phân biệt quá khứ chính trị hay điều kiện địa dư, miễn là cùng chia sẻ với nhau một mơ ước là xây dựng một quê hương tôn trọng giá trị nhân phẩm và quyền làm người trong một xã hội tự do, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng.

Muốn tạo dựng một hàng ngũ như thế, tôi thiết nghĩ chúng ta phải mạnh dạn bước qua những ý tưởng hận thù, như chính ông Nguyễn đình Huy cũng đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn in trong tuyển tập được ra mắt ngày hôm nay. Tôi xin phép được nhắc lại nguyên văn lời phát biểu ấy như sau :

" Nói đến hận thù thì có lẽ chúng tôi là những người hận thù nhiều hơn ai hết vì gần 17 năm nằm trong các trại tù. Thế nhưng chúng tôi phải lấy súng tự bắn vào trái tim thù hận của chính mình và bắn cây súng khác vào sự chia rẽ và nghèo khổ của dân tộc."

Chủ trương của ông Nguyễn đình Huy hoàn toàn phù hợp với quan điểm của tôi khi vận dụng công tác văn hóa vào công cuộc vận động chung của dân tộc.

Thưa quý vị, dù thế nào thì những điều tôi vừa phát biểu cũng chỉ là những cảm nghĩ riêng tư, có thể có người chấp nhận, cũng có thể có người sẽ nêu ra nhiều vấn đề để bàn cãi. Tuy nhiên, đó không phải là mục tiêu của một buổi ra mắt tác phẩm. Trong phạm vi của buổi tổ chức hạn hẹp ngày hôm nay, tôi rất tiếc là đã làm mất thì giờ của quý vị. Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể qúy vị đã lắng nghe và một lần nữa, xin cám ơn nhà báo Nguyễn Vạn Hùng cùng ban tổ chức đã cho tôi cơ hội phát biểu ngày hôm nay.

NHẬT-TIẾN
26-6-1996

Chương 5

TÁC PHẨM  GÂY TRANH CÃI

Thời điểm 1988

Quanh truyện dài MỒ HÔI CỦA ĐÁ

 

Mồ Hôi Của Đá là một truyện dài duy nhất của tôi ở hải ngoại, khởi sự viết từ những ngày tháng còn nằm ở trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan (1980) và hoàn tất vào tháng 3-1988 ở Beaverton, tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.

Ở vào thời điểm 1988, khi chính phủ Hoa Kỳ vẫn còn giữ chủ trương cấm vận đối với Việt Nam và hai nước chưa thiết lập quan hệ ngoại giao, thì công cuộc chống Cộng ở hải ngoại - đặc biệt là ở Hoa Kỳ và vùng Nam Cali - cũng đã diễn ra dưới nhiều hình thức ngặt nghèo. Hầu như bất cứ cái gì đến từ xứ Cộng sản cũng đều là sai trái, đáng ghê tởm, bất cứ con người nào đã xuất thân từ hàng ngũ cán bộ miền Bắc cũng đều là loại người phải bị diệt trừ, hễ ai công khai ngỏ lời khen ngợi một người CS, dù chỉ là một cá nhân riêng lẻ thì cũng bị lên án, cho là đã tuyên truyền cho cộng sản.

Rồi cũng vào khoảng thời điểm đó, việc đi về thăm quê hương cũng được coi là quá sớm. Người ta chỉ thì thào loan báo với nhau ở chỗ riêng biệt chứ không dám tiết lộ công khai. Một vài cơ sở bán vé máy bay thì bị biểu tình ngay trước cửa. Nếu tôi nhớ không lầm thì có một cơ sở du lịch ở Bolsa còn bị hỏa hoạn nữa, tuy không biết chắc nó bị cháy là vì nguyên do gì. Nghi vấn này cũng đã từng được đặt ra cho cái chết của nhà văn Hoài Điệp Tử, chủ nhiệm báo Mai chết vì bị đốt và ngộp khói  ngay tại tòa soạn ở Bolsa, Nam Cali vào đêm 9 tháng 8-1987.

Theo tờ Dân Chúng số 121 ra ngày 5 tháng 8 năm 1995 nhắc nhở lại vụ này thì đã có một tổ chức mang tên Diệt Cộng Hưng Quốc Đảng nhận mình là tác giả vụ án mạng. Và vẫn theo báo này thì  chắc  tờ báo Mai của Hoài Điệp Tử đã đăng quảng cáo cho một vài hãng bên Canada buôn bán với Việt Nam nên mới xảy ra án mạng.

(Nguồn: http://motgocpho.com/forums/showthread.php/6952 - Nhà Văn Hoài Điệp Tử) .

Tuy không có một chứng cớ cụ thể nào nêu rõ lý do về cái chết của nhà văn Hoài Điệp Tử, nhưng nhắc lại biến cố bi thảm này của làng văn, làng báo xẩy ra vào thời điểm của những năm 80 tại Hoa Kỳ, ta thấy vấn đề chống Cộng ở hải ngoại vào thời điểm đó đã nghiêm ngặt và khét lẹt đến như thế nào, và bất cứ một nhận định nào đi lạc ra ngoài "ý thức chung" đều rất dễ bị ngộ nhận và bị lên án.

Đó là bối cảnh chính trị mà tôi sinh sống ở trong đó khi viết  một số tác phẩm hoặc dài hay ngắn, đã cho in trên các báo chí ở hải ngoại và vài truyện đã trở thành những đề tài tranh cãi ồn ào.

Tranh luận quan điểm sáng tác trong sinh hoạt văn nghệ là một  ưu điểm của xứ có tự do cầm bút và người viết dù bất cứ ai, thuộc phe phái nào cũng đều phải nên lấy làm may mắn, tự hào là mình được sinh hoạt trong bầu không khí tự do đó.

Nhưng tranh luận về đề tài văn hóa thì phải sử dụng ngôn ngữ có văn hóa.

Tiếc thay, những bài viết đứng đắn như thế thì thường hiếm hoi, mà trái lại, những thứ nông cạn, ấu trĩ học đòi phê phán thì lại khá nhiều. Bọn này đã  xông vào lãnh vực văn hóa, văn nghệ để chống đối bạt mạng (có khi chưa đọc tác phẩm đã viết bài chửi bậy rồi), rõ ràng không phải vì mục đích làm cho vấn đề thêm sáng tỏ hay mang lại điều gì bổ ích cho người đọc mà chỉ thuần túy vì lý do nhẩy vào đánh hôi, ăn có, mong cho tên tuổi của mình cũng được ngự trị trên các diễn đàn văn hóa.

Nhưng nguy hiểm hơn cả là  những tên "cố tình phá hoại mọi sinh hoạt tử tế của người Việt Quốc Gia" nhằm lũng đoạn tinh thần chống Cộng của người Việt hải ngoại theo chỉ thị từ trong nước và do đó trong nhiều năm qua, chúng đã thi hành được nhiều nhiệm vụ hoàn toàn có lợi cho CS.

Một trong những tên đã bị vạch mặt chỉ tên nhiều nhất trong làng văn, làng báo là Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút tờ Làng Văn ở Canada, một loại viết lách mang gốc tích mù mờ ngay từ khi còn ở VN trước năm 1975 .

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một nhân vật có uy tín trong lãnh vực văn hóa, người đã bỏ rất nhiều tâm-lực trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại suốt mấy chục năm qua cũng đã có lần phải lên tiếng :

(trích bài: TẠI SAO TÔI KHÔNG ÐI DỰ ÐẠI-HỘI VĂN-BÚT KỲ NÀY -Nguyễn Ngọc Bích

......

Về Nguyễn Hữu Nghĩa, chúng ta biết những sự thực chắc nịch như sau:

1/ Anh là con đại-tướng VC Nguyễn Chí Thanh.

2/ Vợ đầu của anh là con cháu Dương Minh Châu, người VC đã dùng tên để gọi cả một chiến-khu của họ.

3/ Anh đã từng tung tin giả chết ở Sài-gòn để ra bưng vào năm 1970. Từ đó, anh đã làm ra bài hát "Anh sẽ về, em ơi, anh sẽ về..."

4/ Anh là tác-giả của những con vi-rút điện-tử để ám-hại hết người này đến người khác, ít nhất là có vài chục người, không trừ cá-nhân tôi (NNB). Vì việc làm ám-muội này, Langvan.com của anh đã bị tố-cáo với hãng Hotmail và anh đã bị đuổi ra khỏi Hotmail.com.

5/ Dù như Làng Văn đã ra tới hai cuốn sách để đánh một ân-nhân của vợ chồng anh, người đã nuôi dưỡng cơ-sở Làng Văn qua những tiểu-thuyết "bestseller" của ông ta, anh vẫn không rửa được tội dựng đứng chuyện bài hát (bịa đặt) của Ðoàn Chuẩn rồi gán cho Thúy Nga Paris By Night và Nguyễn Ngọc Ngạn.

…….

Ðã có đôi ba lần NHN dùng bút-hiệu (tập-thể) của tôi là Tâm Việt rồi ký TamVietNguyen, để mập mờ đánh lận con đen, gởi đi tin này tin nọ làm cho người ta có thể hiểu lầm là tin đó đến từ tôi. Tuy-nhiên, những chuyện trẻ con như vậy, không ai bị mắc mưu nên tôi cũng không đếm xỉa.

Nhưng đến đầu tháng 5-2000, Nguyễn Hữu Nghĩa lại giả mạo đưa ra một cái tin nói là trích từ "Trang Nhà QÐND" (để cho mọi người có thể hiểu ngầm đây là báo Quân Ðội Nhân Dân viết từ trong nước) bề ngoài như khen Luật-sư Trần Thanh Hiệp và tôi và đánh "nhóm cực đoan" Sơn Tùng, tức Nguyễn Minh Ngọc, Phạm Kim Vinh, Nguyễn Văn Chức.

Cái xảo-quyệt và đê hèn của NHN là không những anh đã bịa đặt chuyện trên, anh lại còn dùng địa-chỉ Internet "ttxqg" gởi tin đó đi, để người không sáng ý có thể ngờ là tôi vì muốn khoe nên dùng QGTTX (Quốc Gia Thông Tấn Xã) của tôi mà tự tố-cáo bằng cách đăng lại một bài từ trong QÐND. Dù như không ai bị đánh lừa trong vụ này, Sơn Tùng (tức Thợ Hồ) vẫn bỉ ổi đủ để mau mắn đem in lại nguyên con cái tin giả-tạo kia (còn in nghiêng để cho mọi người phải chú ý) rồi lại thêm những lời bàn Mao Tôn Cương nhảm nhí vào đó (Thế Giới Ngày Nay, Wichita, Kansas, số 158, trang 32-34) để đánh ông Hiệp và tôi.

Như vậy rõ ràng là có tung có hứng. Không thể bảo ngẫu-nhiên mà Sơn Tùng và NHN lại ăn ý với nhau như thế được. Nếu như bài kia có thật trong QÐND mà hai người chỉ in lại rồi "phát tán" ở ngoài này thì họ cũng đã là tiếp tay cho CS rồi. Ðằng này, CS trong nước cũng chẳng rỗi hơi hay dại gì mà đi ca tụng tôi và ông Trần Thanh Hiệp nên điều NHN và Sơn Tùng tung hứng trong vụ này chỉ chứng tỏ họ là "cá mè một lứa" chơi trò du-côn "đá cá lăn dưa."

Tôi thách NHN và Sơn Tùng chỉ ra cho cả thế-giới xem bài báo kia lấy ở trong "trang nhàQÐND" nào, số nào, ngày nào?

(ngưng trích)

Nguồn: http://mt-nguyenhuunghia.tripod.com/pb2_taisaotoi_0dudaihoi.html

° ° °

Chẳng riêng một mình GS. Nguyễn Ngọc Bích phải lên tiếng về Nguyễn Hữu Nghĩa mà rất nhiều văn hữu ở hải ngoại đã viết bài tố giác Nguyễn Hữu Nghĩa gây ra nhiều chuyện lũng đoạn hàng ngũ văn giới, quấy nát tổ chức Văn Bút VN hải ngoại cùng  những thủ đoạn đê tiện  như  viết những bài dựng đứng, xuyên tạc, bỏ thư rơi, fax rơi, cắt ráp tuồng chữ viết tay của người khác tạo thành lá thư giả để gây chia rẽ những người trong một tổ chức..v..v…

Thật là một tên nham hiểm, đầy  ý  đồ, lộn sòng vào hàng ngũ người cầm bút ở hải ngoại từ bao nhiêu năm qua.

Cuốn sách mà quý vị đang cầm trên tay, nếu được in ra cũng một phần là có mục đích cảnh giác mọi người về một tình trạng ô nhiễm trong sinh hoạt chữ nghĩa ở hải ngoại do những loại cầm bút như Nguyễn Hữu Nghĩa cùng vây cánh của hắn gây ra.

Tôi mong mỏi mọi người trong chúng ta hãy cùng góp  tay làm sạch môi trường chữ nghĩa để bảo vệ khuôn mặt chân chính của người Việt hải ngoại không bị những tên cầm bút vô trách nhiệm làm cho nhếch nhác đi.

Khi nhắc lại cuốn Mồ Hôi Của Đá, không phải vì tôi muốn phân bua, tranh luận thua đủ gì với những ngòi bút chống đối theo kiểu ngồi nặn mấy câu vè như của Nguyễn Hữu Nhật núp dưới bút danh Sắc Không viết trong một mục thường xuyên của báo Làng Văn, tự biến mình thành một thứ tay sai của Nguyễn Hữu Nghĩa:

 

Lồng to, chim bé bâng khuâng

hót bao nhiêu tiếng cũng không nghĩa gì

Da ngà, bọt trắng mép ly

Bia ôm Cửa Mở, mặt lỳ Thềm Hoang

 

(trong Chém Đá của Sắc Không,  Làng Văn xuất bản, trang 151)

Thật ra, tôi chỉ muốn cung ứng một số trang tài liệu để độc giả có cơ hội tìm hiểu thêm tâm tình của người viết (nguyên cuốn thì nay cũng tuyệt bản hay khó kiếm) và khi đọc xong, dù đồng cảm hay chống đối thì tôi tin là những phản biện sau này nếu có, thì hẳn cũng mang một cung cách ứng xử có tính chất văn hóa, ngôn ngữ phát biểu có tính xây dựng, chứ không phải  là những loại văn chương bông phèng, rẻ tiền như của Nguyễn Hữu Nhật.

Chương 6

Đã phát thanh trên đài RFI(Radio France International) - 1991

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê Đọc Mồ Hôi Của Đá Của Nhật Tiến

 

Có những nhà văn dùng tiểu thuyết để nói lên thực trạng của cuộc đời, để miêu tả đời sống , để chứng minh cuộc đời hiện hữu.

Có những nhà văn dùng tiểu thuyết để cải tạo xã hội, minh định một lập trường, giãi bầy một khái niệm tư tưởng và hy vọng thông điệp của mình sẽ đến tay người đọc qua tác phẩm.

Nhật Tiến ở trong loại thứ nhì. Ông bắt đầu viết Mồ Hôi Của Đá tại trại tỵ nan Songkhla Thái Lan  từ năm 1980 rồi phải rời trại tỵ nạn sang định cư tại Hoa Kỳ. Do nhu cầu sinh sống, tác phẩm phải đình lại. Sự chậm trễ này là dịp  để Nhật Tiến suy nghĩ hêm về thực trạng quê hương.

Vào năm 1988 khi tác phẩm ra đời, Mồ Hôi Của Đá mang những nhận xét mới về tình thế của quê hương, đất nước, chủ yếu ở phần kết ông đề nghị một con đường những người ở hai phía đã từng chiến đấu  dưới mầu cờ này hay mầu cờ khác cùng ngồi lại với nhau tìm một đường lối đấu tranh ôn hòa cho tự do, dân ch . Quan niệm về quê hương của ông cũng đã mở rộng hơn tầm mắt nhiều người. Nhật Tiến viết :

Quê hương bây giờ là vấn đề của dân tộc, của chung tất cả những người cùng chia xẻ với nhau một ước mơ là xây dựng lại trên quê hương một xã hội tự do, công bằng, hạnh phúc, không phân biệt những ai đến từ đâu, miền Nam hay miền Bắc, đã từng phục vụ ở bên này hay bên kia.

Những con người ấy đã tới thời điểm nhận thức được chỗ đứng của mình, hiểu rõ ước muốn của mình, nhìn ra được con đường phải đi của mình trong một vận hội mới, nhằm phục hồi và xây dựng lại quê hương đang điêu tàn, đen tối và đầy rẫy nhục nhằn như hiện nay.

Bây giờ lịch sử đã qua một trang khác !

Hoài vọng khôi phục lại một miền Nam gọi là Miền Nam Tự Do như trước đây là một hoài vọng không chính đáng, vì hoài vọng khôi phục ấy phải được đặt trên một kích thước rộng lớn hơn, mang đích thực tầm vóc lớn lao của dân tộc hơn, và do đó cần phải có yếu tố tập hợp thích nghi hơn, ngõ hầu hàng ngũ của chính nghĩa tự do có thể quy tụ được nhiều người, thuộc nhiều phía mà họ vốn cũng đã từng là  nạn nhân của Cộng sản, của độc tài, của bạo lực, của tham nhũng bóc lột, của những ý đồ đen tối chính trị  và những tham vọng cá nhân.

Tôi nghĩ rằng Văn Hóa nói chung, Văn Học Nghệ Thuật nói riêng, có khả năng góp phần vào công cuộc tạo dựng những điều kiện quy tụ tốt đẹp kể trên trong công cuộc hình thành một sức mạnh tổng hợp cả trong lẫn ngoài nước để hoàn thành sứ mạng giải phóng quê hương.

Sự may mắn của người cầm bút lưu vong là ở chỗ họ đang sinh sống ở một xã hội cho họ những điều kiện để có thể tiến hành những thử thách đó, trái ngược hẳn với anh chị em cầm bút ở quê nhà hiện nay, muốn viết lên những tâm tư nguyện vọng của mình mà không viết được."

Chúng ta vừa đọc những lời giới thiệu của Nhật Tiến trước khi vào truyện.

Giãi bầy một tư tưởng như thế về quê hương đối với bất cứ một dân tộc nào khác cũng chì là một sự thực hiển nhiên, một tấm lòng thành thực đối với đất nước không ai chối cãi được.

Nhưng với hiện tình của người Việt hải ngoại trong thập niên 80-90 thì đó là một tư tưởng mới, mới lắm và Nhật Tiến đã bị dư luận cực đoan chống đối, gạt bỏ.

Trong Mồ Hôi Của Đá, Nhật Tiến muốn xóa bỏ hận thù, muốn bắc lại nhịp cầu Nam-Bắc, muốn coi đất nước hai miền là một, toàn dân là nạn nhân chung của nghèo đói, cơ cực, tham nhũng hậu quả của chế độ độc tài, lạc hậu.

Câu chuyện diễn ra ở miền Nam, nhân vật chính là Nguyệt, chán nản với tệ đoan xã hội dưới chế độ miền Nam cũ , sau biến cố 1975 Nguyệt quyết định đi theo chế độ mới, hy vọng xây dựng một tương lai tốt đẹp cho đất nước. Ban đầu với bao hăng say sôi nổi rồi dần dà nàng gặp những khó khăn rồi nhận ra thực trạng của cuộc đời. Nếu chế độ miền Nam cũ có những khuôn mặt thối tha như Hồng Phát thì chế độ miền Bắc cũng mới đem vào những khuôn mặt bỉ ổi như Sáu Thu.

Nhận ra được thực trạng ê chề đó, Nguyệt quyết định chuyển mình, không lựa chọn giải pháp vượt biển vĩnh viễn ra đi. Nàng ở lại, nhưng ở lại để tranh đấu dưới hình thức bất bạo động trên quê hương đất nước mình.

Những người ở lại trên quê hương như Nguyệt giải thích con đường của họ :

– " Chúng ta sẽ nhóm lên những ngọn lửa và trông cho nó lan thành những cơn bão lớn  chứ không phải trông chờ ở những ai bật đèn xanh đèn đỏ gì hết, bởi chính dân tộc của chúng ta nắm vận mệnh quê hương chúng ta chứ không phải ai khác. Chúng ta còn cả quê hương đất nước và con người. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình mất quê hương cả. Quê hương của chúng ta hiện nay chỉ đang đi trên một giai đoạn lầm than, đang rất cần những nỗ lực của mọi người để đưa nó qua khỏi giai đoạn lầm than ấy mà thôi."

Chúng ta vừa đọc một đoạn trong Mồ Hôi Của Đá.

Thập niên 80, trong môi trường hải ngoại, hai chữ "mất nước" đã du nhập vào ngôn ngữ của nhiều người.

Khẳng định rằng chúng ta chưa mất quê hương, Nhật Tiến đã chọn con đường can đảm khó đi. Một phần vì phải đối thoại với những thói quen khó bỏ. Một phần  phải đối phó với những tư tưởng cực đoan, cứng rắn.  Nhưng việc gì mà chẳng có những bước đầu và Nhật Tiến là nhà văn đi tiên phong trong việc ấy. Ông đưa ra những nhân vật CS tốt như ông Năm Tỏa, một người suốt đời đi theo cách mạng liêm khiết, yêu nước, muốn xây dựng tương lai đất nước sáng sủa hơn.

Nói tóm lại đó là một nhân vật mà các nhà văn hải ngoại dù có muốn đề cập tới  cũng phải dè dặt, né tránh sợ bị ngộ nhận, chụp mũ là thiên Cộng.

Lối suy tư của một số thành phần chống Cộng cực đoan tại hải ngoại về người CS không khác lối suy nghĩ giáo điều của một số người CS về thành phần ngụy, phản động, đại khái cũng giống như người Mỹ khi bắt đầu làm phim cao bồi thì phim nào cũng chỉ thấy người da đỏ xuất hiện như những quân man rợ, chỉ biết nhẩy chồm chồm, nói ú ớ, giết người như ngóe.

Đùng một cái, có một đạo diễn nhẩy ra làm phim cao bồi với những người da đỏ thông minh, biết suy nghĩ, yêu thương và có một tấm lòng. Hình ảnh  đó lúc đầu bị phản đối coi như một sự ngạo mạn, phỉ báng dân tộc Mỹ nhưng thật ra khi làm việc ấy, người đạo diễn can đảm kia đã mang lại cho dân tộc Mỹ cái giá trị nhân bản mà người Mỹ đánh mất khi sáng chế ra những phim cao bồi với những người da đỏ  nhẩy chồm chồm như đã nói ở trên.

Tác dụng của Nhật Tiến trong Mồ Hôi Của Đá cũng tương tự như thế.

Khi ông đặt người Việt ở hai bờ vĩ tuyến trên cùng một bình diện với nhau, CS hay không CS đều có kẻ xấu người tốt. Đó là  một sự thực nhưng từ trước tới nay có tác giả nào ở cả trong lẫn ngoài nước đã rạch ròi phanh phui hoặc đề cập tới vì lúc nào chúng ta cũng quan niệm rằng chưa phải lúc, rằng phải chĩa mũi dùi vào đối phương.

Ngoài ra Mồ Hôi Của Đá có nhận xét khá sâu sắc về tâm lý một số người miền Nam. Ông viết :

" Đi đâu chàng cũng nghe một kiểu lập luận chống Cộng mà theo chàng là hết sức ấu trĩ như thể cán bộ nghèo đói, ngu dốt, bộ đội răng đen mã tấu với những ngôn ngữ quê mùa, cục mịch của họ như cái phin cà phê là cái nồi ngồi trên cái cốc ..v..v…Nhưng chưa mấy ai nhìn được ra rằng  tất cả sự nghèo đói, ngu dốt, quê mùa ấy  đều là sản phẩm của  một chế độ ngu dân, cực kỳ phong kiến hơn cả thời đại cực thịnh của phong kiến….và do đó họ không đáng bị mỉa mai, chê cười nếu không muốn nói là đáng thương xót".

Trước đây, người miền Nam miệt thị dân miền Bắc là chỉ quan tâm đến vấn đề xin xỏ, lượm mót đủ thứ để rồi ùn ùn chở về Bắc, nhưng hiện nay, tình trạng kiệt quệ của đời sống đã đẩy mọi người đến hoàn cảnh tương tự. Biết bao người đã trông chờ vào nguồn tiếp tế của thân nhân ở  hải ngoại.

Nhật Tiến mô tả trường hợp một người mẹ già lặn lội  từ Bắc vào Nam thăm con, chắt chiu vài thước vải quý báu, những chiếc bát đĩa hiếm hoi thô thiển đem vào cho con. Đến nơi, bà mẹ không ngờ con mình sống trong một biệt thự sang trọng như thế. Chồng bát đĩa thô sơ  này của bà cụ  bị ném vào sọt rác với lời lẽ châm biếm của vợ chồng đứa con về món quà thổ tả này. Nhật Tiến viết tiếp:

" Không mấy ai nhìn ra tấm lòng yêu thương của bà mẹ gói ghém trong món quà "thổ tả" đó.  Chưa thấy ai lên án cái hành vi ném cả chồng bát đã vượt qua bao gian nan khổ ải, chứa đựng đầy lòng yêu thương đó vào sọt rác."

Lối nhìn trung thực của Nhật Tiến về nhân phẩm và tư cách của tất cả người Việt ở hai miền Nam-Bắc không phân biệt Quốc Gia hay Cộng Sản, những biện pháp ông đề nghị để cải tạo xã hội, để thay đổi chiều hướng suy nghĩ của hai phía, khuynh hướng muốn đoàn tụ tất cả người Việt vào một khối chống lại kẻ thù chung là tham nhũng, đói rách, chậm tiến hậu quả của chế độ độc tài. Qua tác phẩm,  Nhật Tiến đã đạt được.

Nếu Mồ Hôi Của Đá thành công trong luận đề, nhưng trên phương diện nghệ thuật, Mồ Hôi Của Đá là một thất bại. Những nhân vật của Nhật Tiến phải sống trong vai trò gượng ép của đời sống, nói những lý thuyết, lập luận của nhà văn nên họ trở thành quy ước, giả tạo.

Tuy vậy, Mồ Hôi Của Đá vẫn là một tác phẩm quan trọng về mặt tư tưởng, là tác phẩm đầu tiên trong văn học Việt Nam sau chiến tranh đề xướng khuynh hướng hòa hợp hòa giải dân tộc  xóa bỏ hận thù để chung vai chống lại CS.

Giữa lúc quan điểm về quê hương đất nước vẫn còn xâu xé nhau, người Việt  hai miền vẫn chưa dám nhìn thẳng nhau trong ánh mắt, Mồ Hôi Của Đá đặt vấn đề, tìm những giải đáp và đưa ra những biện pháp nhân bản của một nhà văn, điều mà những người cầm quyền trong nước vẫn còn bịt tai, câm lặng và  cấm cản, điều mà những người chống Cộng cực đoan chối bỏ vì hủ lậu và tự dối mình.

Cho nên, nếu Nhật Tiến chủ ý hy sinh phần giá trị nghệ thuật trong Mồ Hôi Của Đá để bộc lộ phần tư tưởng chủ yếu của mình thì sự hy sinh ấy đã không vô ích và  đáng để cho chúng ta suy ngẫm…..

THỤY KHUÊ
(Radio France International 1991)

Chương 7

MỒ HÔI CỦA ĐÁ

(Tủ Sách Cành Nam ấn hành tháng 12-1988)

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

 

Với Mồ hôi của đá,  Nhật Tiến lại đi được một bước nữa trong tiến trình sáng tác của ông ở hải ngoại. Là một nhà văn có kỷ luật, sung sức và đều tay, nhà văn Nhật Tiến đã cống hiến cho chúng ta hai tập truyện ngắn rất nổi từ ngày ông sang Mỹ: tập Tiếng Kèn do nhà xuất bản Văn Học in năm 1982 (và mới tái bản gần đây do nhà xuất bản Văn Nghệ) và tập Một Thời Đang Qua  do Tổ hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ ấn hành vào năm 1985.

Song vì là truyện ngắn nên hai tập trên không nói hết lên những ý tưởng lớn, những suy nghĩ có tầm vóc mà tác giả hằng ấp ủ. Phải đợi đến Mồ hôi của đá, truyện dài đầu tiên của ông hoàn tất ở xứ người, ta mới có dịp được biết trong thâm tâm ông nghĩ gì về hiện tình đất nước, một sự đổi đời không tiền khoáng hậu, và đặc biệt là về một giải pháp mà ông mới phác họa ra cho ta thấy vào những trang cuối của tác phẩm.

Là một tác giả cổ điển - theo nghĩa là bị ảnh hưởng không ít bởi những kỹ thuật  viết văn như của Tự Lực Văn Đoàn - Nhật Tiến kết thúc cuốn sách của ông chỉ bằng vài nét đan thanh nhưng với nhiều gợi ý. Có thế câu chuyện mới còn tiếp nối trong đầu óc chúng ta khi ta xếp sách lại.

Giả thuyết của Nhật Tiến về một hướng đi mới tương lai cho dân tộc có thể đem ra bàn rộng rãi trong lúc này. Cái đáng yêu của giải pháp mà tác phẩm đề nghị với chúng ta nằm ở chỗ: đó là một giải pháp nhân bản, một giải pháp có chỗ cho tất cả những thành phần còn nặng tình dân tộc, những thành phần còn đủ rộng rãi con tim để có thể vượt lên những lằn ranh suy tưởng của ngày hôm nay, những bức vách dựng lên bởi hận thù đã ngăn cản một cái nhìn bao quát, bao dung và tổng hợp. Song cũng có thể vì đề nghị đó rộng rãi quá mà có người sẽ cho là không tưởng.

Cũng như có người sẽ không nhất thiết đồng ý với quan điểm này hay quan điểm khác được bày tỏ do các nhân vật ở trong truyện - đặc biệt nếu độc giả ai còn nghi ngờ đó cũng là những ý nghĩ mà tác giả chia xẻ. Về phương diện này, nhà xuất bản cho rằng vị trí của chúng tôi không nên - và không bao giờ có thể -  là để thay thế độc giả mà tiền phán xét về một tác phẩm được.

Tủ Sách Cành Nam, do đó, rất hân hạnh được đem giới thiệu đến độc giả Việt Nam trên khắp năm châu (và lẽ dĩ nhiên là gồm cả những độc giả ở trong nước, ngày nào mà đồng bào chúng ta có hoàn cảnh để đọc những tác phẩm tự do) tác phẩm dài hơi đầu tiên của nhà văn Nhật Tiến kể từ ngày ông bỏ nước ra đi. Nhìn từ quan điểm vật chất, viết được một tác phẩm dài hơi là chỉ hiệu của một sự ổn định trong đời sống mà tác giả đã gây dựng lại được ở xứ người. Là độc giả, chúng ta chia xẻ với ông sự vui mừng là nay ông đã có điều kiện để sáng tác dài hơi trở lại, ít gì cũng có điều kiện hơn mấy năm trước khi ông còn ở trại tỵ nạn Thái Lan hay mới qua Mỹ.

Như vậy, chúng ta có thể còn trông mong được nhiều hơn nữa với những tác phẩm dài hơi và giá trị khác, từ ngòi bút của một nhà văn mà không ít người trong chúng ta đã từng theo dõi từ gần 40 năm nay.

TỦ SÁCH CÀNH NAM

Chương 8

LỜI  TÁC  GIẢ

(Mồ Hôi Của Đá trang 9-12)

 

Tôi khởi thảo tập truyện dài Mồ Hôi Của Đá này tại trại tỵ nạn Songkhla miền Nam Thái Lan từ tháng 6-1980. Viết được một phần thì tôi rời trại đi định cư tại Hoa Kỳ (tháng 9-1980). Do nhu cầu ổn định cuộc sống, ngoài hai tập truyện ngắn đã viết và xuất bản, tôi không còn đủ thì giờ để hoàn tất một tác phẩm dài, mặc dù đề tài của tập truyện là một ám ảnh thường xuyên trong ý nghĩ của tôi.

Tuy nhiên sự chậm trễ này lại là một điều tốt cho tác giả. Bởi nhờ thế, tôi đã có dịp suy nghĩ thêm về thực trạng quê hương, về những nguyên nhân và hoàn cảnh làm thay đổi lịch sử và nhất là thời gian đã cho tôi nhìn thấy một cách rõ nét hơn về những biến chuyển tâm thức của mỗi loại nhân vật tiêu biểu mà tôi có ý định đưa ra trong tác phẩm, đồng thời cũng giúp tôi gạn lọc được bớt những phần chủ quan, thiên kiến của mình khi nhìn lại những sự kiện, những hoàn cảnh, những tâm tình, những dị biệt..vv…mà từ đó câu chuyện được xây dựng nên.

Đã đành rằng, cứ xét cho đến cùng thì không có điều gì được gọi là hoàn toàn khách quan cả, vì tùy theo mỗi vị trí, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người mà sự việc được mô tả với nhiều điểm dị biệt. Nhưng trên một bình diện tương đối nào đó, tôi hiểu rằng sự khách quan bao hàm ý nghĩa không thiên lệch, không khăng khăng chỉ có một cách nhìn duy nhất mà mang một phần nào tính chất của sự cảm thông, đặt mình vào vị trí người khác để suy xét hoàn cảnh của ngườI, không chỉ lấy cái ta đã có hoặc đang có để làm thước đo mọi giá trị.

Dựa trên những suy nghĩ này, tôi muốn nhìn lại một vài hoàn cảnh, một vài tâm tư, một vài nhận thức trong số muôn vàn những hoàn cảnh, tâm tư, nhận thức kể từ sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào tháng 4-1975.

Tác phẩm này,  không có tham vọng dựng lại cả một thời kỳ đổi thay của lịch sử vừa qua, và có lẽ chẳng một tác phẩm của một nhà văn nào đó đủ rộng lớn để nói lên mọi khía cạnh của một xã hội vừa đi vào khúc quanh cực kỳ khốc liệt, ở đó đã bao gồm biết bao nhiêu điều trái nghịch, có phấn khởi, có ê chề, có những nỗi đớn đau vì chia ly, có những sự ngỡ ngàng vì đoàn tụ, có những niềm hy vọng nhen nhúm, có những nỗi thất vọng não nề…v..v..

Tập truyện này chỉ mong đề cập đến một phần rất nhỏ của đời sống trong cái bối cảnh cực kỳ hỗn độn đó mà thôi. Nhưng tác phẩm tuy là nhỏ, người viết lại muốn gửi gấm ở đây những tâm tình, những gợi ý, những vấn đề vốn có mà chưa mấy ai đặt ra …để hy vọng chia xẻ với bạn đọc về những lời giải đáp cho nhiều sự kiện trong vô vàn sự kiện đã từng xẩy ra trên quê hương.

Chẳng hạn, trong xã hội miền Bắc, sau hơn 30 năm xây dựng Chủ Nghiã Xã Hội, dưới những phương tiện tuyên truyền dồi dào và những biện pháp bạo lực triệt để, con người đích thực với tất cả những nét hiền hòa, giản dị vốn có từ ngàn xưa, nay đã còn lại gì ?

Chẳng hạn, trong số những người đã từng tham gia cuộc chiến, đứng ở bên kia, đặc biệt là những người ở trong hàng ngũ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, có phải cho đến nay vẫn là những con người tận tụy phục vụ cho chủ nghĩa Cộng Sản, hay là trong số đó đã có những người đổi thay về nhận thức khi họ nhìn lại cả chặng đường gian khổ vừa đi qua, chỉ thấy một tâm trạng não nề do ở sự mình đã quá xa rời con đường "dân tộc" hoạch định từ lúc khởi đầu ?

Thật là một việc hết sức dễ dàng khi ta chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quát (đôi khi lười biếng suy nghĩ hoặc đã bị sự chủ quan, thiên kiến ngự trị) vào cả một tập thể phức tạp rồi đi đến một kết luận chung chung cho cả tập thể ấy. Điều này hầu như đã từng xẩy ra và có thể đang còn là một thói quen phổ biến.

Tôi muốn được nêu lên một câu hỏi rằng, trong cuộc chiến tranh chống lại bạo quyền Cộng Sản, một cung cách phân loại bạn-thù chung chung và giản dị như thế có lý do để tồn tại mãi hay không, trong khi chúng ta vẫn nhìn nhận rằng vấn đề của quê hương bây giờ là vấn đề của dân tộc, của chung tất cả những người cùng chia xẻ với nhau một ước mơ là xây dựng lại trên quê hương một xã hội tự do, công bằng, hạnh phúc, không phân biệt những ai đến từ đâu, miền Nam hay miền Bắc, đã từng phục vụ ở bên này hay bên kia.

Một tập hợp như thế, không thể mang danh nghĩa của sự Chiêu Hồi, một từ ngữ đã từng bị những chính phủ tham nhũng, thối nát, không đại diện cho tuyệt đại đa số quần chúng làm cho hư hỏng đi từ trước 1975.

Thành quả của công tác Chiêu Hồi trước đây, nếu có, thì chỉ là loại bớt ra khỏi hàng ngũ bên kia một số người đang tham gia cuộc chiến, nhưng không biến đổi họ thành những người có cùng chung với chúng ta một chính nghĩa sáng tỏ. Chính nghĩa của chúng ta không thể sáng tỏ được  khi mà miền Nam còn đầy rẫy những bất công, những thối nát, những con buôn chính trị, những kẻ làm giầu trên mồ hôi nước mắt của quần chúng và trên xương máu của chiến sĩ. Công tác Chiêu Hồi, theo tôi, đã cáo chung theo những thể chế chính trị đã từng được dựng lên và đã sụp đổ sau ngày 30-4-1975.

Bây giờ lịch sử đã qua một trang khác !

Hoài vọng khôi phục lại một miền Nam gọi là Miền Nam Tự Do như trước đây là một hoài vọng không chính đáng, vì hoài vọng khôi phục ấy phải được đặt trên một kích thước rộng lớn hơn, mang đích thực tầm vóc lớn lao của dân tộc hơn, và do đó cần phải có yếu tố tập hợp thích nghi hơn, ngõ hầu hàng ngũ của chính nghĩa tự do có thể quy tụ được nhiều người, thuộc nhiều phía mà họ vốn cũng đã từng là  nạn nhân của Cộng sản, của độc tài, của bạo lực, của tham nhũng bóc lột, của những ý đồ đen tối chính trị  và những tham vọng cá nhân.

Những con người ấy đã tới thời điểm nhận thức được chỗ đứng của mình, hiểu rõ ước muốn của mình, nhìn ra được con đường phải đi của mình trong một vận hội mới, nhằm phục hồi và xây dựng lại quê hương đang điêu tàn, đen tối và đầy rẫy nhục nhằn như hiện nay.

Tôi nghĩ rằng Văn Hóa nói chung, Văn Học Nghệ Thuật nói riêng, có khả năng góp phần vào công cuộc tạo dựng những điều kiện quy tụ tốt đẹp kể trên trong công cuộc hình thành một sức mạnh tổng hợp cả trong lẫn ngoài nước để hoàn thành sứ mạng giải phóng quê hương.

Văn Học Nghệ Thuật do đó sẽ có thêm một hướng đi mới bên cạnh hướng đi đã có, đã góp phần tích cực vào công cuộc tiếp nối truyền thống của văn hóa dân tộc ở hải ngoại.

Chấp nhận một chiều hướng sáng tạo như thế, trong khung cảnh còn đầy rẫy những ngộ nhận như hiện nay, là chấp nhận một sự thử thách.

Sự may mắn của người cầm bút lưu vong là ở chỗ họ đang sinh sống ở một xã hội cho họ những điều kiện để có thể tiến hành những thử thách đó, trái ngược hẳn với anh chị em cầm bút ở quê nhà hiện nay, muốn viết lên những tâm tư nguyện vọng của mình mà không viết được. Tác phẩm của họ, nếu có, sẽ chỉ mãi mãi là những tác phẩm lén lút và chỉ được phổ biến trong vòng hết sức hạn hẹp.

Tôi nghĩ rằng, chỉ riêng một sự kiện đó cũng đáng để cho tôi mạnh dạn hoàn tất tác phẩm nhỏ bé này.

Dĩ nhiên, sự phê phán và đánh giá vẫn là quyền tự do của bạn đọc.

Beaverton, Oregon ngày 26-3-1988
NHẬT TIẾN

Chương 9

Trích một Chương trong

Mồ Hôi Của Đá

 

Sau khóa học, Quận đoàn cử thêm một cán bộ Công đoàn về trực tiếp tham gia công tác tổ chức ở cơ sở nhà in Hồng Phát. Người ấy là ông Năm Tỏa. Ông này là người ở Khu về. Bệnh hoạn. ốm yếu. Bản tính xuề xòa dễ mến. Tuy nhiên, ông ta không phải là loại công nhân chất phác thuần túy. Cứ theo cung cách nói năng và thái độ cư xử của ông, Nguyệt đoán chừng ông ta phải xuất thân từ thành phần có Tây học. Hôm họp tất cả công nhân trong nhà in lại để nghe ông ta phát động công tác tổ chức Công đoàn, ông ấy nói :

- Thế này nhé ! Ngày trước thì giai cấp bóc lột không bao giờ quan tâm đến đời sống công nhân và tạo dựng những điều kiện để làm thăng tiến đời sống công nhân. Anh chị em ta nếu ai có ốm đau, bệnh tật thì chủ nhân xí nghiệp cũng chẳng thèm biết tới. Mà hễ cứ nghỉ ngày nào thì trừ lương ngày đó. Đó là tại sao? Là tại vì họ chỉ nghĩ đến lợi nhuận. Mục tiêu của họ là càng thu về nhiều lợi nhuận bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Bây giờ thì khác. Cách mạng thành công đem lại cơ hội cho chúng ta làm chủ chính mình. Nhưng làm chủ ở đây không phải là ta đã là ông chủ rồi thì ta khỏi phải lao động gì hết mà vẫn được ăn trên ngồi chốc. Nói như thế thì có khác gì ta xóa cái chế độ bóc lột cũ để lại xây dựng một chế độ bóc lột mới. Cái ý nghĩa "làm chủ" mà chúng ta nói ở đây là chúng ta có quyền hoạch định mọi công tác, mọi tổ chức để làm thăng tiến đời sống của tập thể nhân dân lao động, điều mà trước đây, dưới chế độ cũ chúng ta không bao giờ được làm.

Ngừng một chút, ông tiếp:

- Muốn tiến hành có kết quả tốt đẹp mục tiêu đó, chúng ta phải có tổ chức, có kỷ luật. Mọi hành vi, mọi hoạt động, mọi sáng kiến đều phải được thông qua Tổ chức. Bởi không có Tổ chức thì mạnh ai nấy làm, có khi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược dễ đi đến chỗ hỗn loạn. Tổ chức ấy là Công đoàn. Công đoàn là tổ chức của các công nhân trong xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp có một Công đoàn Cơ sở, đặt dưới quyền lãnh đạo của Công đoàn Quận. Trên Quận là Tỉnh hay Thành phố. Trên nữa là Trung Ương. Nhiệm vụ của Công đoàn Cơ sở là phát huy quyền làm chủ tập thể của các công nhân, là tổ chức học tập để nhằm nâng cao trình độ của công nhân, là đấu tranh để khắc phục những tập quán tàn dư còn lại của nền sản xuất nhỏ. Mà những tàn dư ấy là gì ? Là sự chây lười, là khinh lao động, là thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật, nói dối, làm dối. Nói chung là ta đào luyện công nhân để trở thành những người biết lao động một cách có kỷ luật, có kỹ thuật, có óc sáng tạo để đạt được năng suất cao nhất...

° ° °

Như hầu hết các buổi học tập diễn ra ở mọi nơi sau ngày 30 tháng 4 năm 75, người nói cứ nói, người nghe cứ giả bộ nghe dù đầu óc vẩn vơ nhiều chuyện phải lo nghĩ, và nhất là ít có ai dám nêu thắc mắc ngoại trừ khi đến lượt phải phát biểu thì nói chung chung, xuôi theo lời của thuyết trình viên. Công việc tiến hành tổ chức Công Đoàn Cơ sở diễn ra nhẹ nhàng, xuôi chẩy như đã được dự tính.

Ý của Nguyệt là muốn đưa Toàn ra nắm chức vụ Thư Ký Công Đoàn. Nguyệt biết Toàn dư khả năng làm công tác đó. Nhưng hôm trước, lúc nàng vừa ngỏ ý ấy thì đã bị Toàn hỏi sẵng giọng :

- Tại sao lại là tôi nhỉ !

Mặt Toàn như đanh lại, ánh mắt của chàng long lên. Điều này nói lên sự đổ vỡ giữa chàng và Nguyệt đã tới chỗ khó có thể hàn gắn.

Có điều lạ là Nguyệt không hề cảm thấy đau xót về sự đổ vỡ này. Tình yêu gắn bó giữa nàng và Toàn như cất cánh bay đi từ lúc nào, Nguyệt không nhận ra. Có thể vì nàng quá bận rộn. Có thể vì nàng đã chọn lựa một niềm say mê mới : chạy theo những quyền lực mà trước đây chưa từng bao giờ nàng có được Nhưng chắc chắn sự xấc xược của Toàn đã đem lại cho nàng một va chạm nặng nề đến lòng tự ái. Điều này khiến mặt nàng trở nên lạnh tanh. Rõ ra là hai kẻ thù nghịch đang đối diện nhau chứ không còn là một đôi uyên ương gắn bó thiết tha chỉ trước đây mới có vài tháng. Giọng Nguyệt như rít lên giữa hai hàm răng nghiến chặt:

- Anh không bằng lòng thì thôi, nhưng đừng có cái thái độ phủi vào mặt kẻ đã có nhã ý với mình như thế.

Toàn cười khẩy :

- Cám ơn cái nhã ý ấy của cô. Nhưng cô nên nhớ, tôi không phải là một kẻ phản bội.

Dằn mạnh xong hai chữ "phản bội", Toàn lập tức quay người đi, không để cho Nguyệt kịp có phản ứng gì. Một việc như thế thật quá sức chịu đựng của chàng. Câu nói ấy bật ra như một cái lò so mà không hề có sự tính toán. Đã bao lâu nay, Toàn đâu có xía vô công việc đoàn thể của Nguyệt. Chàng chỉ thấy lòng lạnh tanh mỗi khi nhìn thấy Nguyệt hối hối hả hả mỗi khi đi đâu về. Rõ ra là một người tận tụy với công việc. Nhưng chắc chắn công việc ấy chẳng liên hệ gì tới mình. Toàn nghĩ như thế và chỉ thế thôi, chứ không tỏ thái độ hằn học gì với nàng. Cho đến khi nàng rủ Toàn tham gia công tác.

Sau lúc bỏ đi, Toàn thấy đầu óc của mình nóng ran lên, ngực bị dồn ép đến độ như bị ngộp thở. Cổ họng của chàng se đắng lại. Nhưng chàng không hối tiếc việc mình vừa làm. Chàng có đầy đủ lý do để tự bằng lòng với mình về thái độ ấy. Tuy nhiên, cơn buồn bã mênh mang cứ úp chụp lên đầu làm chàng ngơ ngẩn như một kẻ mất hồn. Toàn đã đạp xe đi lang thang hết phố này qua phố khác mà không để ý đến những hoạt động huyên náo ở chung quanh.

Thành phố này không còn gì để chàng lưu luyến, gắn bó. Khung cảnh êm đềm, ấm cúng khi trước nay đã thay thế bằng một vẻ tuy vẫn nhộn nhịp đấy nhưng là sự nhộn nhịp ẩn chứa những nét bàng hoàng, lo âu, ngỡ ngàng. Tuy mọi cảnh vật xung quanh vẫn tràn đầy sinh hoạt đấy nhưng đã bắt đầu lộ rõ sự tan hoang, sa sút, nghèo nàn.

Đạp xe lang thang từ lúc trời chưa tắt nắng cho đến lúc phố xá đã lên đèn, Toàn mới khám phá ra rằng mình đang lên cơn sốt nặng. Cổ họng chàng khô khan. Trán nóng hôi hổi. Hai bàn tay cầm tay lái mà thấy run lẩy bẩy. Toàn hối hả đạp xe quay về nhà, quên cả chào mẹ và leo lên gác nằm thiếp đi trong cơn đầy mộng mị.

Ngày hôm sau, Toàn không đến sở làm. Ngày hôm sau nữa cũng vậy. Ở nhà in Hồng Phát. mọi người nhao lên về sự vắng mặt bất thường của chàng. Người lo lắng nhất là ông Hồng Phát. Ông ta cứ như con kiến bò quanh chảo nóng. Lâu lâu ông lại dẫy nẩy lên, than thở với một vài công nhân cũ quen thuộc:

- Ông ấy nghỉ thế này là "chít ngộ giồi". Đến hạn kỳ phải giao sách học Toán cho kịp ngày khai giảng niên học mới mà không xong thì các ông cách mạng nó giết ngộ. Nó đem ngộ trôi sông.

Tình hình khẩn trương này được báo cáo lên ông Năm Tỏa. Ông ta có vẻ không bằng lòng khi được biết rằng chỉ có một mình Toàn là người duy nhất có khả năng xếp chữ được những trang sách với những ký hiệu Toán chằng chịt. Ông ta trách Nguyệt:

- Sao cô lại ỷ lại về một "khâu" như thế vào tay có mỗi một người. Trong công tác tổ chức, đấy là một khuyết điểm quan trọng không thể chấp nhận được.

Nguyệt ấp úng :

- Cháu cũng đã có kế hoạch đào luyện thêm nhân sự vào tổ xếp chữ môn Toán. Chỉ hiềm vì số công nhân có trình độ một chút hãy còn hiếm hoi quá. Để phân biệt con số 2 với lũy thừa bậc 2 trong bản thảo viết ngoáy, không phải công nhân nào cũng có thể làm được. Ấy là chưa kể những ký hiệu trong các bài toán Đạo hàm, Nguyên hàm, Tích phân….

Ông Năm Tỏa có vẻ cảm thông ngay với Nguyệt nên không cằn nhằn gì thêm nữa mà chỉ lấy giấy bút ra hí hoáy ghi chép rồi nói :

- Tôi sẽ đặt vấn đề này lên Quận để giúp cô giải quyết mau chóng tình trạng thiếu sót đó. Trong khi chờ đợi, cô cũng nên tiếp xúc tìm hiểu xem cá nhân anh Toàn có điều gì lấn cấn không khắc phục được.

Lần đầu tiên Nguyệt nói dối ông ta và may cho nàng, lời nói dối ấy lại trùng với sự thực:

- Anh ấy chỉ đau ốm thôi chứ chắc không có gì lấn cấn cả.

Ông Năm "à" lên một tiếng thỏa mãn và nói tiếp :

- Nếu chỉ ốm đau thôi thì tốt ! Để tôi thử đi tiếp xúc và tìm hiểu coi sao.

Thế là ông ta xách xe đạp tìm đường đến địa chỉ của Toàn.

Hôm ấy Toàn đã ốm khỏi và đang loay hoay tra dầu mỡ vào ổ bi của chiếc xe đạp dựng ở ngay trước sân. Rõ ràng là Toàn đã có thái độ chọn lựa: Chàng không thể nào quay lại nơi chốn mà ở đó tình yêu của chàng đã bị bầm giập não nề. Thành ra khi thấy bóng dáng của ông Năm hiện ra ở khung cửa gỗ ngoài hàng rào, Toàn không lấy thế làm bối rối. Chàng thản nhiên đứng dậy, vừa chùi tay vào mảnh giẻ rách đầy dầu mỡ, vừa tiến ra mở cổng :

- Chào ông Năm. Tôi không ngờ lại được ông tới thăm.

Giọng ông Năm sốt sắng:

- Đáng lẽ ra tôi phải tới thăm anh lâu lắm rồi ấy chớ. Mà điều công việc bề bộn quá. Sao? Hôm nay anh thấy khỏe khoắn lại chưa ?

- Cám ơn ông, tôi đã bình phục hoàn toàn. Cảm sốt lăng nhăng, có gì đâu mà ông phải bận tâm.

Đến giây phút ấy thì ông Năm Tỏa nhận ngay ra được sự vắng mặt của Toàn là đã phải có điều gì bất thường. Ông muốn kéo dài thời gian suy nghĩ của mình trước khi trực diện với cái bất thường đó. Nên ông chỉ mỉm cười nói lảng qua chuyện khác:

- Anh ở đây yên tĩnh quá nhỉ. Mùa hè mà có giàn hoa giấy này chắc mát !

Toàn lẳng lặng bước vô nhà, kéo ghế mời ông ta ngồi rồi xin phép đi sửa soạn nước uống. Trong khi Toàn vắng mặt, ông Năm Tỏa được tự do nhìn khắp quang cảnh chung quanh. Cái bàn kính dài có sáu chiếc ghế nơi ông đang ngồi kê ở sát vách tường phía bên phải. Sau lưng ông là khuôn cửa sổ nhìn ra sân trước, chỗ Toàn vừa lúi húi sửa xe. Trước mặt ông là một tấm vách ngăn đôi phòng khách bên ngoài với gian bên trong. Dựa lưng vào tấm vách này là một cái kệ sách trong để lưa thưa vài cuốn tự điển và một số sách mà ông không nhìn rõ nhan đề ở sau gáy. Phía trên kệ sách là hai bức tranh sơn dầu cũ kỹ, một vẽ tĩnh vật với vài quả cam, quả táo xếp hỗn độn bên cạnh một bình hoa và một bức vẽ cảnh phố nghèo, nhà cửa lụp sụp với hậu cảnh là những dẫy building rực rỡ ánh đèn ở phía xa. Ông Năm giả bộ tiến về phía kệ sách để ngắm nghía một cách kỹ lưỡng bức tranh, nhưng mắt ông cũng đã không bỏ qua những cuốn sách trong kệ mà vừa mới đây ông chưa nhìn thấy rõ gáy sách.

Đó là một vài cuốn tiểu thuyết mới xuất bản gần đây, như cuốn Thép đã tôi thế đấy của Boris Polevoi, cuốn Vùng Trời của Hữu Mai, cuốn Con đường đau khổ của Alexei Tolstoi xếp bên cạnh cuốn sách giáo khoa về Hình Học, về Đại Số Học. Có cả một cuốn Truyện Kim Vân Kiều do một nhà xuất bản của Sài Gòn cũ ấn hành nữa.

Lúc Toàn bưng nuớc ra mời, ông Năm Tỏa chỉ tay vào bức tranh sơn dầu và nói :

- Ngày trước địch nó cũng để cho tự do treo những loại tranh này sao ?

Toàn ngạc nhiên :

- Thưa ông, có gì đâu ?

- Bức tranh vẽ nhà cửa lụp sụp tồi tàn ngay ở giữa những khu phố có nhiều cao ốc đèn đóm sang trọng. Nội dung đã tố cáo một xã hội đầy bất công, chênh lệch.

Toàn bật lên cười :

- Hồi trước, chúng tôi chỉ nhìn một họa phẩm theo khía cạnh nghệ thuật, không nhìn theo quan điểm chính trị.

Ông Năm cũng mỉm cười, nhưng đầy vẻ chế giễu :

- Nghệ thuật nào mà không có nội dung chính trị ! Tách nghệ thuật ra khỏi chính trị là quan điểm ngây thơ, ấu trĩ.

- Có những tác phẩm nghệ thuật vượt qua được mọi không gian và thời gian. Giá trị của nó không bị lệ thuộc vào bất cứ một khuynh hướng chính trị nào.

- Thí dụ ?

- Như truyện Kiều của ta chẳng hạn.

- Ô ! Truyện Kiều có một nội dung hiện thực phê phán rất là cao. Nó tố cáo cả một xã hội phong kiến thối nát, đầy rẫy những bất công, tham nhũng của giai cấp thống trị.

- Theo ý tôi, đó chỉ là dấu vết đương nhiên của xã hội ở vào thời kỳ mà tác phẩm ấy đã được ra đời. Nhưng chân giá trị của truyện Kiều không phải ở chỗ đó. Phải xét nó trên lãnh vực văn chương.

- Văn chương chỉ là một bộ phận sinh hoạt của xã hội. Và không có một loại văn chương nào mà lại không mang dấu vết của những khuynh hướng chính trị trong xã hội đó. Một là nó phục vụ cho giai cấp thống trị, hai là nó làm đòn bẩy cho giai cấp bị trị thống khổ biết vùng lên. Đó là quan điểm đấu tranh giai cấp không thể nào phủ nhận được.

Toàn chỉ lên bức tranh tĩnh vật ở gần chỗ ông Năm ngồi và hỏi :

- Vậy thì theo ông, bức tranh tĩnh vật này phục vụ cho giai cấp bị trị hay thống trị ?

Ông Năm xoay hẳn người lại, nhìn ngắm những quả táo đỏ ửng trong bức vẽ rồi mỉm cười :

- Ở vào thời kỳ mà những bất công, áp bức còn tồn tại trong xã hội thì bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào làm cho người ta quên đi hiện tại đau khổ mà họ đang phải chịu đựng thì đều thuộc về loại tác phẩm phục vụ cho giai cấp thống trị.

- Nếu cứ xét theo quan điểm đó của ông thì những sách vở của miền Bắc mà tôi được đọc sau này, tôi thấy chỉ toàn tô hồng cho đời sống. Trong khi đó hẳn ông cũng đã rõ là dân chúng vẫn thiếu thốn, khổ cực. Như vậy những sách đó đã chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị mà thôi sao ?

Ông Năm Tỏa vừa nhìn thẳng vào mắt Toàn vừa chợt thốt lên :

- Ôi chà ! Mình bỗng nhiên đụng tới một vấn đề đáng gọi là "căng" đây ! Nó căng không phải chỉ giữa anh và tôi, giữa người đã từng tham gia cách mạng và người ở vùng mới giải phóng mà còn căng ngay cả ở trong giới cầm bút ngoài miền Bắc. Cái đám Nhân văn Giai Phẩm đó !Tuy nhiên tôi thử cố trình bày để mong có thể giúp anh soi sáng thêm được gì không nhé.

Ngưng một lát, ông Năm Tỏa nói tiếp :

- Có hai điều phải nêu rõ trong câu thắc mắc của anh. Một là đích thị những tác phẩm văn học ở miền Bắc đang phục vụ cho giai cấp thống trị hiểu như giai cấp đang nắm chính quyền. Hai là sử dụng từ ngữ giai cấp thống trị vốn mang ý nghĩa xấu xa, cho chế độ miền Bắc là không đúng. Bởi vì đó là chế độ phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động là thành phần chiếm tuyệt đại đa số trong quần chúng.

- Nếu con đường của nghệ sĩ đã bị vạch rõ ra như thế thì  người nghệ sĩ đâu còn chút tự do gì để sáng tạo nữa ?

Ông Năm lại mỉm cười :

- Cái này lại là một vấn đề khác nữa phải nhìn cho rõ. Anh vừa sử dụng hai chữ tự do. Ừ thì tự do. Tự do là quý, chả thế mà bác Hồ đã nói "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Nhưng bản chất hai chữ tự do là gì? Chúng tôi quan niệm rằng tự do không phải là ai muốn nghĩ gì thì nghĩ, làm gì thì làm. Đó chỉ là cái tự do vô tổ chức. Cần phải hiểu rằng tự do phải nằm trong ý niệm biết rõ sự tất yếu trong quá trình đi lên của lịch sử loài người. Sau tư bản chủ nghĩa, tất yếu là phải đi tới Cộng sản chủ nghĩa mà bước trung gian là xã hội chủ nghĩa. Người nghệ sĩ nhận thức được điều tất yếu đó thì tha hồ tự do sáng tạo để góp phần thúc đẩy cho cái tất yếu đó mau chóng được thực hiện.

Thấy Toàn có vẻ dửng dưng trước sự cung ứng bài học cốt tủy mà mình vừa đưa ra, ông Năm ngưng lại mấy giây rồi tiếp:

- Tôi hiểu rằng đây là bước nhận thức rất cam go, không phải dễ gì ngày một ngày hai mà anh tiếp thu được. Anh cứ việc thắc mắc. Cứ việc trăn trở. Sự thắc mắc, trăn trở là những bước tất yếu ai cũng phải trải qua. Không qua giai đoạn đó mà chấp nhận bừa bãi thì chỉ là những kẻ giả dối bề ngoài, những bọn cơ hội chủ nghĩa. Nhưng cũng có một cách tốt nhất giúp anh mau chóng tiếp thu tư tưởng mới, đó là quá trình chuyển hóa trong lao động. Lao động thật tốt sẽ giúp anh dần dà nhận thức ra được cái chân lý đó.

Ông Năm nói một hơi không nghỉ. Toàn có cảm giác như mình vừa đụng phải một cái nút bấm trong con người của ông. Cái nút làm vận chuyển một cuốn băng đã được thu sẵn, bất cứ lúc nào cũng có thể phát ra, đầy đủ, trọn vẹn những ý tưởng mà không ai có cách gì xoay chuyển được…

(Mồ Hôi của Đá , trang 37-43)

Chương 10

Thời điểm sáng tác : 1983

Vào thời điểm thập niên 1980's của thế kỷ trước, các nhà văn hải ngoại dù có muốn đề cập tới một vài khía cạnh tốt của một nhân vật CS thì cũng phải dè dặt, né tránh vì sợ bị ngộ nhận, chụp mũ là thiên cộng. Nhân vật thủ trướng trong truyện ngắn dưới đây là một thí dụ.

- Nhân vật thủ trưởng trong truyện ngắn "Người Tù Cuối Năm" của anh có liên hệ gì với lối lập luận trên của anh không ?

(Câu hỏi của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo- trang 99)

NGƯỜI TÙ CUỐI NĂM

Truyện ngắn của NHẬT TIẾN

 

Khi lão thủ trưởng về tới đơn vị thì trời đã xế chiều. Hôm nay Ba Mươi Tết, các cơ quan đều nghỉ việc nên truớc cổng trụ sở không còn diễn ra cái khung cảnh ồn ào, hỗn độn của đám dân chúng chờ đợi để xin giấy tờ. Việc canh phòng cũng lơi là hẳn đi. Trên chiếc chòi đóng bằng gỗ thùng sữa tùm hụp như chiếc chuồng chim, lão thấy một nhân viên của mình đang ngồi hút thuốc trong tư thế chiếc ghế ngồi bị đưa ngả cả về đằng sau để cho lưng anh ta dựa được hoàn toàn lên vách gỗ. Điều này làm anh ta không nhìn thấy vị thủ trưởng của mình vừa đạp xe tới. Mãi tới lúc lão ta xuống xe và đã dắt chiếc xe đeo lỉnh kỉnh đủ thứ túi, giỏ, gói đồ cồng kềnh đi qua cánh cổng làm bằng sườn gỗ và những sợi kẽm gai thì anh chàng gác trên chòi canh mới bật dậy, giọng nói hốt hoảng hẳn lên :

- Thưa thủ trưởng…. thủ trưởng đã về. . .

Lão ngước mắt nhìn lên. Ánh mắt đầy nghiêm khắc, nhưng miệng lão vẫn nở một nụ cười làm ra vẻ hiền lành, dễ thương tương phản hẳn với tia nhìn lạnh buốt như lưỡi dao mới mài sắc. Lão nói với thủ hạ một câu, với một giọng chọn lựa đủ để anh ta không đoán ra được là lão đã xuề xòa bỏ qua hay vẫn còn để tâm tới sự canh phòng lơi là của mình:

- Mọi sự tốt cả đấy nhỉ ?

Anh công an vội vã xoắn xuýt:

- Thưa thủ trưởng mọi sự tốt cả. Trừ có mỗi một vụ ngày hôm qua. . .

Anh ta chưa kịp nói hết câu lão đã đi ngang qua mặt, chẳng ra vẻ ngạc nhiên hay chú ý gì tới lời báo cáo bất thường này. Hình như lão ta không cho anh cái dịp để xuề xòa cái tội đã canh gác trong tư thế "Ngồi trên ghế mà dựa cả lưng vào vách gỗ để nhìn trời !".

Lão lầm lũi dắt cái xe đi qua một khoảng sân cỏ nhỏ. Mặt tiền của trụ sở cơ quan đóng im ỉm nhưng ở phía trong vọng ra những tiếng cười nói ồn ào. Lão đi vòng ra phía sau và qua khung cửa sổ, lão nghe thấy tiếng reo hò lẫn những tiếng chửi thề tục tĩu.

Lão dựng chiếc xe ở đầu hè, cố tạo ra tiếng động rổn rảng bởi chiếc bàn đạp cọ sát trên sàn xi măng để gây sự chú ý của mọi người. Lão không muốn khi mình sắp bước vào văn phòng mà mọi người trong đó không ai hay biết gì cả, nhất là trong cái hoàn cảnh tất cả đều đang bệ rạc chúi đầu vào canh bạc.

Sự đánh tiếng của lão có ngay kết quả, vì hình như trong đám nhân viên đang sát phạt, vẫn có kẻ thỉnh thoảng liếc ra sân dòm chừng. Tiếng động do lão gây ra lập tức làm cho tiếng ồn ào bỗng nhiên im bặt. Lão bước tới những bước thật chậm về phía cửa phòng. Lão cảm thấy hài lòng về sự im lặng tuyệt đối ở chung quanh mình. Điều đó có nghĩa là lão vẫn nắm trọn vẹn quyền uy ở đây, loại quyền uy luôn luôn gắn theo một mục tiêu là tạo ra cái cảm giác khiếp sợ bao trùm trên tất cả mọi người.

Rồi lão bước chân vào phòng. Kẻ đứng ngay phía ngoài là một nhân viên trẻ. Anh ta mới được đổi về đây không đầy hai tháng. Trong mọi trường hợp, anh ta luôn luôn chứng tỏ là một kẻ cuồng tín nhưng lại rất non tay nghề ở chỗ dễ hốt hoảng, dễ bối rối. Cho nên mới vừa chỉ chạm vào ánh mắt sắc lẻm của lão, là Vinh, tên anh ta, đã vội vàng nói bằng một giọng ấp úng:

- Thưa Thủ trưởng. . . . hôm nay cuối năm . . . . .

Rồi mặt  đỏ rần lên, anh ta không thể tìm thêm được lời nào để tiếp nối câu nói của mình. Ngay lúc đó, ở góc phòng có giọng nói quen thuộc của Hào cất lên:

- Thủ trưởng đã về. Anh em đang vui tất niên. Nếu không mệt xin mời thủ trưởng nhập cuộc với anh em.

Lão đưa mắt về phía cuối phòng. Lão thấy Hào đang cởi trần và trên tay còn cầm mấy quân bài. Trong đám thủ hạ, Hào là kẻ vững chãi nhất. Gã có một đức tin mãnh liệt. Điều này nhiều lúc biến gã thành một kẻ cứng đầu, nhưng đồng thời cũng là một nhân viên ưu tú, góp phần đắc lực trong mọi công tác điều hành ở đây. Tuy nhiên về một phương diện nào đó, đối với thủ trưởng, gã là một tên đáng ngại. Tận tụy và hay rình mò. Đó là đặc điểm của những kẻ đứng chung trong cùng một ngành, làm chung một cơ quan, chia sẻ chung một mối quan tâm hay một công tác được giao phó.

Thái độ ngang nhiên của Hào đáng để cho lão ngừng lại một giây. Lão nhìn thẳng về phía Hào. Lão cố tạo cho mình một vẻ ngạo nghễ, ở ánh mắt, ở nụ cười chỉ nhếch ra không tới một nửa vành môi, bờ vai của lão cũng vuông thẳng lại. Rồi lão cất tiếng khoan thai, pha một chút bỡn cợt nhưng nhiều phần là quyền uy :

- Nhập cuộc với các đồng chí thì sẵn sàng rồi. Nhưng đừng vì ham vui mà mất cảnh giác đấy nhé.

Trong sinh hoạt thân thiết, ngoài nhiệm vụ hằng ngày, khi dùng tới tiếng "đồng chí" với nhau thì đó là lúc bắt đầu có vấn đề. Ai cũng thấy vậy. Và lão đã sử dụng tiếng xưng hô đó để bầy tỏ sự bất như ý của mình. Rồi không chờ cho Hào có dịp nói thêm một câu nào khác, lão lầm lũi quay lưng trở ra. Mấy nhân viên đang đứng gần đó vội vã lùi giật lại mặc dù lối đi còn rộng rãi. Lão trở về bàn giấy của mình trong một căn phòng ở cuối dẫy hành lang.

Khi lão kéo ghế ngồi xuống trước đống hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn thì Hào cũng đã vội vã theo vào. Bây giờ gã đã mặc thêm chiếc áo sơ mi tươm tất. Sự bỏ cuộc chơi đang ồn ào của gã để tới trình diện mình ngay khiến lão thấy cơn bực tức dịu lại. Lão nhoẻn ngay một nụ cười hoàn toàn dễ dãi rồi nói với gã bằng một giọng cởi mở, thân thiết:

- Sao chú Hào? Tết nhất rồi, nhớ nhà không?

Hào vui vẻ:

- Em mới nhận được thư của bà cụ hồi chiều. Cụ nhận được gói quà em gửi về rồi. Thôi, thà để tiền mua thêm cái bồi dưỡng cho nhà còn hơn là dẫn thân về, có đồng nào chạy vào tiền xe đi đường hết.

Lão mỉm cười :

- Hà..hà...Chớ không phải vì cô Tâm bên quán hàng trước cổng cơ quan mà chú chịu bỏ mấy ngày phép để ăn Tết ở đây hả?

Mặt Hào đỏ bừng lên. Gã tỏ ra luống cuống thấy rõ. Hiển nhiên là cấp chỉ huy của gã đã nhìn thấu đến tận tim đen của mình. Điều này làm lão thủ trưởng càng thêm hài lòng vì lão đã nắm trúng nhược điểm của gã nhân viên dưới quyền. Chỉ một sự vướng mắc này thôi thì lão cũng đã có dư điều kiện để vo tròn bóp méo con người của Hào như một món đồ chơi trong tay rồi.

Lão đổi giọng nghiêm chỉnh:

- Chú trẻ, chưa vợ thì có quyền tìm hiểu. Nhưng chớ có nhẹ dạ để mất cảnh giác đấy nhé.

Rồi lão chuyển ngay qua đề tài khác:

- Bây giờ chú báo cáo cho tôi cái vụ xẩy ra hôm qua coi.

Hào giật nẩy người lên. Gã thực sự thán phục cấp chỉ huy của mình về cái tài ma xó này. Lão ta về đây chưa đầy mười phút đồng hồ, lại chưa tiếp xúc với ai, chính gã là người đầu tiên đến chào lão trở về, thế mà lão đã "nắm được tình hình" thì thần sầu quỷ khốc thật! Gã cứ ngẩn mặt ra mất đến mấy giây rồi mới sực tỉnh và nói vội vã:

- Trình thủ trưởng, vụ này không xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của mình. Việc phát giác chiếc tầu trốn ra nước ngoài là ở khu vực của bên các đồng chí Vĩnh Hậu. Lúc bị phát giác, bọn phản động chạy phân tán khắp mọi chỗ. Đồng Văn có, Minh Thuận có. Thuận Hiệp cũng có. Riêng khu vực của mình thì chúng em chỉ bắt được một tên mà chúng em đánh giá là chủ chốt. Bản báo cáo đầy đủ nội vụ em đã thảo và đệ trình trong hồ sơ trên bàn của thủ trưởng.

- Chú thông báo vụ này đi những đâu rồi?

- Chưa! Em chờ lệnh thủ trưởng !

Mặt lão thoáng một vẻ hài lòng. Dĩ nhiên trước sau gì thì hồ sơ cũng được chuyển đi, nhưng lão không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố sơ xuất nào có thể tránh trước để có thể được rộng rãi hơn trong cung cách giải quyết vấn đề. Yếu tố chủ động bao giờ cũng là điều kiện tuyệt hảo trong mọi công tác.

Lão vẫy tay cho Hào lui ra rồi tiến lại bàn mở tập hồ sơ ra coi. Hào đã báo cáo khá đầy đủ, từ bản tự khai của người tù cho đến lý lịch của đương sự, bản phúc trình nội vụ của Hào cùng biên bản về những tang vật tịch thu được. Mải nghiền ngẫm đến hơn nửa giờ sau lão mới đặt tập hồ sơ xuống bàn.

Những chi tiết ghi trong tập hồ sơ quả thực đã lôi cuốn lão một cách mãnh liệt đến nỗi lão quên bẵng cả mọi cảnh vật chung quanh lúc này thì nắng bên ngoài đã xuống thấp ở lùm cây phía bên ngoài cửa sổ và xa xa thỉnh thoảng vẫn có tiếng pháo đì đẹt vọng lại mang hương vị phảng phất cái rộn ràng của một ngày giáp Tết.

Trong khoảnh khắc, lão đã quên đi tất cả hiện tại để đắm hồn mình vào dĩ vãng xa xăm với những nhân danh, địa danh ghi trong hồ sơ mà hàng mấy chục năm qua, lão không có dịp được nghe nhắc lại. Những tên người, tên đất năm xưa xen lẫn với mớ kỷ niệm hỗn độn, mơ hồ tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng nhưng nay đã vụt trỗi dậy như hiện lên qua những hàng chữ trong tập hồ sơ để lôi kéo lão trở về những ngày xa xưa của thời kỳ đầu cách mạng. Lão vội vã đứng bật dậy và toan tìm xuống phòng tạm giam tù nhân. Nhưng bản tính trầm tĩnh đã khiến lão tự kiềm chế được ngay hành động vội vã của mình. Cả một đời lăn lộn trong đấu tranh nhiều khi vào sinh ra tử, nếu lão có leo lên được tới chức vụ bây giờ thì phần lớn cũng là nhờ ở cái sự biết tự kiềm chế đó.

Vì thế, lão chỉ tiến ra phía cửa sổ và móc túi lấy bao thuốc lá châm một điếu để cho cái đầu tự do lan man suy nghĩ. Bên ngoài, trời đang bảng lảng nắng chiều trên những ngôi gò thấp có những bụi cây um tùm xào xạc tiếng lá xen lẫn tiếng chim. Cho đến cái giây phút đó lão mới chợt ngạc nhiên nhận ra rằng ở đây sao giống với khung cảnh thôn cũ ngày xưa của lão đến thế, mà suốt thời gian qua do bận rộn nên lão không hề nhận ra.

Bây giờ thì lão phó mặc cho dòng tâm tưởng của mình trôi về dĩ vãng với hình ảnh của con sông hiền từ chẩy qua xóm làng, có những cánh đồng xanh bát ngát với những mái tranh lô nhô sau những bụi tre già, những thân cau thẳng tắp nhô lên bầu trời mầu xanh lơ và những đụn rơm cao ngất ngưởng mọc lên sau những vụ mùa. Chính ở đó đã xẩy ra cái bi kịch đầu đời của lão và cũng chính từ nơi đó, lão đã bỏ làng ra đi mang theo trong lòng tất cả mối hận thù của một con người bị đàn áp dưới bạo lực. Rồi hơn ba mươi năm trôi qua, trong khoảnh khắc, cái khởi sự và cái hiện thời bỗng nhiên trùng hợp nhau, ở đây, tại cái đồn công an hẻo lánh này qua tập hồ sơ báo cáo về một tên tù, một nhân vật mà lão không bao giờ quên, từ dáng dấp của hắn cho đến ánh mắt cuối cùng mà hắn đã nhìn lão trước khi mỗi người nổi trôi theo một ngả khác nhau trên đường đời.

Cái lý tưởng mà lão đã mang đi từ ngày đầu đã mờ nhạt chẳng còn gì sau những năm dài chứng kiến những cuộc đấu tố ở miền Bắc. Lão biết rõ sự thay đổi ấy trong tâm tư của mình từ lâu, nhưng cuộc sống vẫn lôi lão đi như một khúc gỗ trôi theo dòng. Nhưng cũng lại chưa bao giờ lão thấm thía với chính lòng mình ở giây phút này, cái giây phút khởi đi từ lúc lão miệt mài nghiền ngẫm bản báo cáo do Hào đã để trên bàn.

Những nhân danh, địa danh ghi gói trong đó chợt lôi lão trở về dĩ vãng ngày xưa và đặt lão trong khoảnh khắc vào vị thế của một con người sống cùng một lúc tới hai hoàn cảnh: Một kẻ bắt đầu ra đi và một kẻ đã đi gần như tận cùng của con đường cách mạng. Nhìn lại thành quả, lão thấy xã hội chung quanh hầu như chẳng thay đổi gì. Con người chung quanh lão vẫn lầm than cơ cực. Công cuộc đấu tranh giai cấp làm nảy sinh một giai cấp mới có đầy đủ bản tính bóc lột của chính cái giai cấp mà nó vừa đạp đổ !

Nói cho ngay, cái nhận thức kinh khủng này chỉ gậm nhấm lão một cách âm ỉ và chẳng thường xuyên. Bởi vì một phần là lão quá bận rộn trong công tác, phần khác là do chính lão muốn giập tắt nó ngay vì lão tự nghiêm khắc cho mình là đã lệch lạc mất cảnh giác, mất lập trường.

Nhưng vào buổi chiều hôm nay, một buổi chiều cuối năm có những tiếng pháo đì đẹt từ xa vọng lại hầu như mang lại cho lão một sự hối thúc muốn quay trở lại những hình ảnh ngày xưa. Lão quăng điếu thuốc đang hút giở qua khung cửa sổ rồi mở cửa phòng tiến ra hành lang, đi về phía phòng tạm giam. Viên cảnh vệ đang ngồi trên ghế, trông thấy lão, vội vàng đứng dậy. Lão cất tiếng hỏi:

- Yên ổn cả chứ ?

- Trình thủ trưởng, mọi sự bình thường.

Lão kéo tấm vải bạt che kín bên ngoài để nhìn qua những chiếc song gỗ. Lão trông thấy người tù cuối năm đang nằm co quắp tại góc của căn phòng giam chật hẹp và nhờ nhờ ánh sáng. Chiếc áo sơ mi hắn mặc trên người đã rách bươm để phô ra một mảng lưng bầm giập và đọng nhiều vết máu. Chợt lão thủ trưởng hơi nhăn mặt lại. Hình như lão bắt gặp lại cái hình ảnh bầm máu của chính mình hồi gần bốn mươi năm về trước.

Tay lão bấu chặt lấy một tấm song gỗ. Lão gần như thò cả nửa mặt của mình qua khe song để cố nhìn người tù cho thật rõ. Nhưng hắn ta vẫn im lặng nằm ở đấy, không ngước lên, cũng chẳng quay ra nhìn. Trầm ngâm giây lát, lão thủ trưởng quay lại nói với viên cảnh vệ :

- Thằng này nguy hiểm đấy. Phải coi chừng !

Nói rồi lão tất tả đi lên phòng. Lão sai một đàn em mang tất cả mọi thứ vặt vãnh quà bánh, thực phẩm Tết mà lão mua được ở trên thành phố đem ra bầy la liệt lên mặt bàn. Ngoài mấy món đồ dùng lặt vặt như bàn chải răng, xà phòng, dao cạo râu, khăn mặt, vài cuốn sách mới xuất bản, còn kỳ dư toàn là đồ ăn Tết. Có mứt. Có rượu. Có bánh chưng, lạp xưởng và nhiều đồ hộp linh tinh khác đủ để khao cả cái đồn nhỏ bé này một bữa thịnh soạn. Lão gọi Hào vô để ban chỉ thị :

- Thông cảm với các chú vất vả quanh năm, lại tình nguyện không xin phép về quê ăn Tết, tôi khao các chú một bữa tất niên.

Cái tin ấy loan ra làm bầu không khí trong đơn vị rộn ràng hẳn lên. Hào nhanh nhẩu lãnh nhiệm vụ điều động tất cả mọi công việc cần làm: nấu nướng, kê dọn, trang hoàng như chuẩn bị một bữa đại tiệc.

Tối hôm ấy, hàng rào ngăn cách giữa mọi người hầu như mặc nhiên được hủy bỏ (Tết nhất có khác, đồng chí ‘Thủ trưởng dễ dãi hẳn ra). Nhất là khi có rượu vào. Hai chai của Thủ trưởng đem ra, cả đơn vị có hơn chục người chỉ quanh vài vòng là cạn queo. Hào gãi tai xin phép Thủ trưởng cho "vượt chỉ tiêu" một bữa. Thủ trưởng ngần ngại giây lâu rồi miễn cưỡng gật đầu. Thế là có ít nhất hơn một nửa số người hiện diện đã cùng ùa lên, chạy vội vã về phòng riêng. Họ đem bầy ra đủ loại rượu mà nếu chẳng có dịp này thì không bao giờ lão thủ trưởng lại biết được rằng nhân viên của mình lại đổ đốn ra như thế. Nhưng tết nhất mà ! Mọi sự xuề xòa hết. Bởi chính lão cũng uống, lão cũng say ngà ngà. Lão cũng đùa giỡn vui vẻ như chưa bao giờ ở đây có ai thấy lão đùa giỡn vui vẻ đến thế. Đến giữa buổi tiệc, lão đem vấn đề người tù ra nói với đám nhân viên:

- Tóm được thằng này tôi phải ghi công các chú. Nó đối với tôi có nhiều nợ máu đấy !

Vừa nói lão vừa cởi phăng chiếc áo đang mặc trên người và xoay lưng về phía néon sáng. Chờ cho mọi người đã đủ kinh ngạc và thắc mắc về những vết sẹo sần sùi, nhăn nhúm rải rác trên khắp lưng của mình, lão mới nói tiếp :

-  Đòn thù của cường hào ác bá làng tôi đấy ! Cũng một ngày cuối năm như thế này vào thời tiền cách mạng, tôi bị chúng nó trói vào thân cau, vừa đánh vừa dội nước sôi. Sẹo đấy. Sẹo nước sôi đấy !

Rồi lão lại tụt chiếc dép ở chân trái ra và giơ cái cẳng của mình lên cao cho mọi người nhìn thấy:

- Chưa hết đâu. Các chú có thấy vết sẹo cắt ngang gót chân đấy không ? Tôi còn bị chúng nó cắt gân, mà kẻ cầm dao chính là thằng này !

Vừa nói lão vừa chỉ về phía phòng tạm giam. Ngay lúc đó có tiếng ly đập bể và có tiếng hét to:

- Cắt tiết nó đi !

Tiếp theo là những tiếng ồn ào, tiếng rủa xả, tiếng văng tục làm bầu không khí tự nhiên sôi sục cả lên.

Lão Thủ trưởng giơ ly rượu lên và cất giọng bình thản:

- Thôi ! Rồi đâu sẽ có đó. Ta chẳng nên để cái loại người đó làm mất vui buổi tiệc tất niên hôm nay. Nào, mời các chú nâng ly. Hôm nay đặc biệt cho các chú thả dàn. Nhưng chỉ một hôm nay thôi đấy nhé !

Mọi người quên ngay câu chuyện bi thảm vừa qua và trở về với những ly rượu tràn đầy trước mặt. Ly này cạn, ly khác đã rót thay. Rượu vào lời ra, bầu không khí ồn  ào, vui vẻ đúng như một ngày tết.

Khi tàn tiệc, đồng hồ đã chỉ gần mười hai giờ khuya. Trong phòng chỉ còn lác đác một vài người là còn ngồi vững. Những kẻ khác thì đã gục ngay tại chỗ hay lê lết nằm đâu đó trong các góc phòng, ngoài hành lang hay trên những chiếc võng mắc rải rác ở phía sau khu vực kê bàn làm việc.

Lão Thủ trưởng cũng say khướt. Lão được hai tên đàn em xốc lên và dìu về phòng. Mà hai cái anh này cũng chẳng tỉnh táo gì hơn. Bộ ba dính chùm lấy nhau như một chùm sung, chập choạng đi mãi mới hết chiếc hành lang có ánh néon héo úa, vàng vọt.

Khi tới phòng, lão Thủ trưởng cố cất lên tiếng cám ơn bằng một giọng say líu lưỡi rồi lão nhào vào phòng. Hình như lão ngã dúi xuống tại một góc nào đó trong căn phòng, kéo theo một cái ghế ngã đổ. Nhưng điều này chẳng khiến cho hai tên đàn em quan tâm. Họ cũng chuệnh choạng đi về phiá dẫy phòng ngủ dành cho các nhân viên. Một anh lên tiếng hát. Giọng hát ồ ề cất lên chỉ được vài ba câu rồi tắt ngóm. Hình như anh ta cũng đã ngã gục đâu đó trên đường mò về giường ngủ của mình. Cả căn trại trước đầy tiếng la lối, cười nói om sòm nay chìm hoàn toàn trong sự yên tĩnh lạ kỳ. Rải rác đâu đó lâu lâu có tiếng nói mê, có tiếng cựa mình, đạp dẫy lung tung. Cũng có chỗ lại vang lên tiếng ngáy đứt đoạn.

Rồi tiếng pháo giao thừa ở nhiều nơi bắt đầu vọng về. Trước còn thưa thớt, sau trở nên râm ran, rộn rã. Năm cũ đã qua. Một năm mớí bắt đầu. Đời sống cơ cực của mọi người không chắc có thay đổi gì nhưng con người vào cái giờ phút thiêng liêng giữa đêm trừ tịch vẫn nhen nhúm một niềm hy vọng mới, dù là đang ở ngoài đời sống hay đã nằm sau những trấn song của nhà tù.

Người tù ở đây cũng vậy. Tiếng pháo giao thừa đã làm cho ông ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng dài. Hơi ẩm từ sàn đất đưa lên khiến ông ta thấy đầu óc của mình dịu lại. Ông nhấc thử chân tay của mình. Nó vẫn cựa quậy theo sự điều khiển của ông, điều đó khiến ông yên tâm phần nào. Nó đã không bị hề hấn sau những trận đòn mà ông chịu đựng từ hôm trước. Hơn một ngày trôi qua kể từ khi ông bị bắt giữ mà ông thấy nó dài như một thế kỷ. Ông nghĩ đến gia đình, đến bạn bè, đến những người đồng hành trong một chuyến đi hoàn toàn đổ vỡ. Ông cố không muốn nghĩ tới họ nhiều hơn vì ông biết trong hoàn cảnh này ông ông cần dành những tàn lực còn lại cho những chuyện khác quan hệ hơn. Chẳng hạn sự tỉnh táo trong những lời khai báo. Điều gì nói ra được. Điều gì nói ra không được. Lời khai nào có lợi. Lời khai nào dẫn tới hậu quả làm sụp đổ cả một hệ thống những dữ kiện mà ông đã dóng lên qua lời khai báo để tạo cho mình cái vị thế không có gì nguy hiểm trước những cặp mắt soi mói của kẻ lấy cung.

Tiếng pháo giao thừa làm ông tỉnh táo hơn lên. Ông lết lại phiá cửa phòng. Cũng là những tấm song gỗ chắc nịch được che kín mít bởi lớp vải bạt căng từ phía bên ngoài. Ông không nhìn thấy gì nhưng cố vểnh tai lên nghe ngóng. Bốn phiá chung quanh hoàn toàn yên tĩnh gây cho ông cái cảm giác biệt lập hẳn với thế giới bên ngoài. Ông mường tượng qua song gỗ là dẫy hành lang, con đường ông đã quen thuộc khi bị dẫn giải một đôi lần lúc lên phòng thẩm vấn. Bên kia đầu hành lang là dẫy nhà làm trụ sở nơi làm việc của cơ quan. Rồi qua một cái sân đất. Rồi đến hàng rào kẽm gai. Và sau cùng là con đường lộ nhỏ, biên giới giữa đời sống bên ngoài và nhà tù.

Bỗng trong cái tĩnh mịch đến ghê rợn của căn phòng giam nhỏ hẹp chợt vọng lại tiếng chân người. Ông ghé sát tai vào song gỗ để nghe ngóng cho rõ hơn. Ông nghe thấy tiếng chân đi về phía phòng giam của mình. Rồi tiếng chân dừng lại ngay trước cửa phòng. Có tiếng sột soạt của lớp vải bạt che bị kéo lên. Và ánh sáng héo úa của ngọn đèn trước cửa hắt qua song gỗ làm ông hơi nheo mắt lại. Nhưng rồi ông thấy ngay một người đứng ở đó, mặt quay vào. Có tiếng cất lên nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, rành mạch, tiếng của lão Thủ trưởng:

- Ông Nguyễn Phú Định !

Người tù, ông Nguyễn Phú Định, hơi giật mình mở to mắt lên nhìn kỹ kẻ mới đến. Nhưng trong đầu óc bồng bềnh tan loãng của mình, ông không nhận ra được ai ngoài khuôn mặt xa lạ của một kẻ đã bước qua tuổi già với những nếp nhăn ở trán ẩn dưới mái tóc đã ngả mầu đốm bạc. Lão Thủ trưởng nói tiếp :

- Ông không nhận ra tôi đâu, kẻ ba mươi sáu năm trước đã bị chính ông cầm dao cắt gân chân. Ông còn nhớ chứ ?

Đầu óc của ông Định bỗng lóe lên một kỷ niệm như một tia chớp sáng lòa. Ông nhìn sững kẻ đối diện. Thời gian đã xóa nhòa hình ảnh quen thuộc, đã chìm sâu trong quá khứ. Ông không còn tìm thấy ở nhân vật này hình bóng chàng thanh niên năm xưa, tóc tai rũ rượi, mặt mũi bầm tím, quần áo rách nát bị trói giật hai tay ra phía đằng sau lưng vòng qua thân của một cây cau. Anh ta đã lẻn vào trong vườn nhà ông Lý trưởng trong làng. Anh ta đã leo lên cây cau để bẻ trộm một buồng cau to nhất, đẹp nhất mà ông Lý dự định sẽ dùng tới trong lễ ăn hỏi của con trai ông. Đang bẻ trộm thì anh ta bị phát giác. Ông Lý vác tù và ra thổi inh ỏi và tráng đinh trong làng đổ xô lại. Cuộc hành hạ một kẻ nghèo đói, khốn cùng kéo dài suốt từ sáng cho đến chiều. Đánh đập. Chửi rủa. Dội nước sôi vào lưng và sau cùng như vẫn còn giận vì mất buồng cau đẹp nhất dành cho ngày lễ trọng, ông Lý lạnh lùng phán :

- Cắt gân chân cho nó chừa đi ăn trộm !

Công việc hãi hùng này ông Lý truyền cho Định cũng là một tráng đinh, phải thi hành.

Định cầm con dao sắc như nước của ông Lý giao cho mà người cứ như lên cơn sốt. Trong đời anh, anh đã từng cắt tiết gà, thậm chí có nhiều lần thọc cả huyết heo nhưng điều đó không làm cho anh có can đảm gì hơn khi phải cắt gân một con người. Chỉ cần nghĩ tới thôi anh đã bủn rủn tay chân rồi. Nhưng lệnh là lệnh, anh không có quyền chối từ. Anh cầm con dao với tất cả sự run rẩy mà chỉ có anh tự nhận biết. Trời xẩm tối, ông Lý ra lệnh cho đốt đuốc lên để soi sáng cho cuộc bạo hình. Ánh lửa bập bùng soi lên từng khuôn mặt dữ tợn của đám tráng đinh đang in những cái bóng chập chờn trong tiếng kêu than rền rĩ của tội nhân tạo thành một bầu không khí ma quái, ghê rợn như khung cảnh địa ngục có bầy quỷ sứ.

Định vô cùng ngại ngần nhưng cuối cùng cũng phải sấn tới. Anh ta đứng trấn ngay trước mặt tội nhân để che lấp mọi người. Rồi anh ta nhìn thẳng vào đôi mắt cầu cứu, van lơn của gã ăn trộm.

Suốt nhiều năm sau đó, mỗi khi nhớ lại, ông Định cũng chẳng bao giờ quên được cái ánh mắt khẩn cầu, tuyệt vọng của một kẻ đang bị dẫn tới đường cùng. Còn chính nạn nhân, tức là Thủ trưởng bây giờ, mỗi khi nhớ lại cái giây phút hãi hùng đó, lão cũng không thể quên được ánh mắt của kẻ cầm dao trước mặt. Trong ánh lửa bập bùng, tia nhìn của gã tráng đinh tên Định không mang vẻ gì gọi là hung ác, bạo tàn mà ngược lại nó có vẻ bao hàm một nỗi cảm thông, thương xót.

Rồi một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu óc Định. Gã nháy mắt với tên trộm, hươi con dao lên, và lợi dụng đang còn sấp bóng, gã bấu lên vai tên trộm một cái như có ý ra hiệu.

Thế rồi cuộc hành hình xẩy ra theo đúng ý muốn của viên Lý trưởng. Định đã nhấc cẳng chân trái của tội nhân lên, nhắm đường gân ở gót mà cứa mấy đường dao.

Máu phụt ra chan hòa và tội nhân hét lên kinh hoàng đau đớn. Nó đã bị cắt đứt gân chân. Nó không còn lết được. Người ta đã khiêng nó đem vứt ở ngoài cổng làng. Ai cũng nghĩ rằng sẽ không còn bao giờ gã còn cơ hội bén mảng tới đây để leo trèo những cây cau, vì chân của gã bị tàn phế.  Trừ người trong cuộc.

Quả thật Định đã áp dụng kỹ thuật chọc tiết heo của mình vào cuộc bạo hình. Đường dao của anh trông dữ dằn như thế nhưng chỉ làm đổ máu ở bên ngoài. Gã ăn trộm đêm hôm ấy, chờ không còn ai, đã nhỏm dậy bỏ làng đi mất biệt.

Hơn ba mươi năm trời trôi qua, bây giờ hai nhân vật ấy lại đối diện nhau nhưng vị thế đã đảo lại, tên tội nhân đã trở thành người quyền thế và kẻ kia thì đứng sau những song gỗ của phòng giam tù. Có tiếng của lão Thủ trưởng cất lên:

- Ông Định. Hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.

Bàn tay của lão chìa ra và ông Định cũng thò tay ra nắm lấy. Lòng ông rưng rưng cảm động. Ông thấm thía về hai chữ tình người, dù là giữa những con người đến từ hai phía. Cuối cùng, bao giờ tình người cũng vượt lên trên được tất cả, trên áp bức, trên cường quyền, trên căm thù bạo lực.

Trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, con người đã vận dụng bạo lực, căm thù để mong giải quyết những vấn đề của xã hội. Thời gian đã đủ dài để ai cũng thấy rằng bạo lực hay căm thù chỉ làm đổ vỡ thêm những gì vốn đã hoang tàn, rách nát.

Đã lâu lắm, lão Thủ trưởng vẫn từng gậm nhấm những ý nghĩ dằn vặt này. Nhưng chưa bao giờ lão có cơ hội để bứt phá cái định kiến vốn đã in hằn trong tâm khảm của lão. Như một giọt nước nhỏ vào một cái ly đã tràn đầy, cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa lão và  người tù đã khiến lão thừa đủ năng lực để giải phóng chính mình.

Đêm hôm ấy, ông Định thong thả ra đường cái để đón xe trở về Sài Gòn.

Và sáng hôm sau, đúng Mồng Một Tết, tại cái đồn công an nhỏ bé ấy, viên Thủ trưởng đã gieo một cơn phẫn nộ sấm sét lên đầu đám nhân viên thuộc cấp của mình về tội nhậu nhẹt say sưa, đã làm sổng mất người tù cuối năm. Một kẻ có nợ máu. Một tên tù tối nguy hiểm.

NHẬT TIẾN
Santa Ana tháng 1-1983

Chương 11

TÁC PHẨM GÂY TRANH CÃI

Thời điểm sáng tác : 1985

Trong Thư ngỏ gửi nhà văn Nhật Tiến, nhà văn Diệu Tần đã nhân danh độc giả để phê phán rằng Nhật Tiến "luôn luôn nêu lên cái phi nhân, cái thành kiến, cái ngu dốt của phía quốc gia". Rồi ông dẫn chứng nhân vật Trường trong truyện ngắn Cánh Cửa, với lời phê phán rằng Nhật Tiến đã "dựng một cựu sĩ quan pháo binh...có một nhãn quan hẹp hòi, ấu trĩ, ngu dốt".

(Trích Hành Trình Chữ Nghĩa, cuốn I, trang 208)

cánh cửa

Truyện ngắn NHẬT TIẾN

 

Mối liên hệ giữa Trường và Sủng, thằng công an mặt non choẹt chỉ đáng tuổi con trai của chàng, khởi sự từ hôm Trường kiếm được một mảnh nhôm lớn. Mảnh nhôm nằm đâu đó trong bụi cỏ và bị vùi nông dưới một lớp đất bùn. Thoạt tiên, Trường tưởng đó là một miếng tôn gỉ. Nhưng nắn thử, chàng thấy nó vừa cứng, vừa nhẹ. Lúc chàng miết mạnh móng tay cái của mình xuống, Trường thấy nó để lại một vệt sáng ngời. Thế là Trường thủ mảnh nhôm đem về trại và phác họa trong đầu đủ thứ vật dụng mà chàng có thể biến chế. Chàng nghĩ đến một cái lược cài tóc cho vợ, một cái trâm gài đầu cho đứa con gái và một cái mặt dây chuyền đeo cổ để tùy nghi. Thời giờ ở đây có thừa để Trường đủ kiên nhẫn ngồi gò những món vật dụng của mình trở thành tinh xảo. Như cái lược là một công trình tuyệt hảo của bàn tay tài hoa phối hợp với khối óc nhiều sáng tạo. Hàng răng lược đều đặn, khoảng cách cân đối, còn dẫy hoa văn khắc trên mặt lược là cả một nghệ thuật trang trí tỉ mỉ, gợi ý từ những mặt hổ phù, những nét khắc họa trang trí trên đồ gỗ, đồ khảm, đồ chén đĩa mà trước đây Trường đã có nhiều lần say sưa ngắm nghía.

Một công trình như thế, Trường đã phải dành ra cả tháng ròng rã để hoàn tất. Trong thời gian ấy, đi đâu chàng cũng mang nó theo, dắt kỹ ở lần túi trong của chiếc áo thô sơ may bằng vải bao cát. Khi đi lao động có chút thì giờ nghỉ ngơi, Trường hay đem nó ra ngắm nghía để thấy mình còn đôi chút hơi hướng nghĩ về người vợ thân yêu. Chiếc lược này rồi ra sẽ được cài lên mái tóc óng ả, mợt như tơ của nàng.

Nói cho đúng ra, đó là mái tóc trong kỷ niệm, trong trí nhớ của thời kỳ đoàn tụ, yên ấm đã qua chứ không phải là mái tóc cũng của chính nàng nhưng đã tơi tả, héo khô và ngả màu đốm bạc mà chàng đã trông thấy trong lần thăm nuôi kỳ trước. Hôm ấy Trường đã giơ bàn tay sần sùi, chai sạn vuốt lên mái tóc xác xơ của nàng, với lòng đầy nghẹn ngào, xúc động. Mới có vài năm trôi qua mà mọi sự đổi thay mau chóng đến bàng hoàng. Tuy nhiên hình ảnh mái tóc phong sương đầy vất vả ấy dù đã hiện hữu nhưng hãy còn quá bỡ ngỡ, mới mẻ. Nó không đủ sức để bôi xóa được trong tâm tưởng của chàng về một mái tóc đen mượt, óng ả bao quanh chiếc cổ trắng ngần và phủ xuống hai bờ vai thon.

Ngày xưa đã xa lắc, đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại như mái tóc đã đổi màu chẳng thể bao giờ còn lấy lại được vẻ nuột nà. Nhưng Trường vẫn cứ muốn níu kéo, cứ muốn mọi kỷ niệm, mọi hình ảnh, mọi tâm tình đều phải dừng lại ở thời điểm nồng nàn ấy như một cái phao cuối cùng giúp chàng có can đảm lội qua được chặng đường khổ ải này. Cho nên chàng vẫn chắt chiu cái lược với tất cả sự say sưa. Mồ hôi lao động thấm qua lớp áo vải thô đã làm cho nó lên nước bóng ngời. Chàng vừa khắc những nét tỉ mỉ vừa thủ thỉ với nàng, với kỷ niệm, với cả chính chàng.

Cơn mê sảng thảng thốt ấy khiến chàng đôi lúc đã bứt rời thực tại và đắm chìm trong những giấc mơ huyễn hoặc. Chàng không nghe thấy tiếng báo cáo viên nói. Còi tập hợp của cán bộ đã thôi thúc luôn hồi, chàng vẫn chưa buồn đứng dậy. Hết giờ nghỉ giải lao mà chàng hãy còn mơ mộng, lần khân. Cho đến một lần thì thằng công an mặt non choẹt đã giận dữ xông lại. Nó túm lấy ngực áo của chàng. Nó kéo chàng bật dậy, sừng sộ:

- Nàm chưa được một góc công nênh mà đã đổ nười ra hả. Ông thì đá cho một cái xem mắt có mở to thao náo, nàm ăn tỉnh táo ra ngay không lào!

Trường không đáp, lẳng lặng nhét cái lược vô trong túi rồi định quay gót đi. Nhưng thằng Sủng tưởng chàng giấu giếm cái gì đã vội vã vặn ngoéo cổ tay chàng lại. Hai người đột nhiên ở vào cái thế phải giằng co. Rồi cái lược rớt xuống đất. Cái lược sáng loáng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời nom như một thỏi bạc sáng ngời. Vật lạ khiến cho Sủng ngây hẳn người ra. Nó cúi xuống lượm lên rồi giơ lên ngắm nghía cái công trình tuyệt hảo ấy một cách sững sờ. Lâu lắm nó mới lại cất tiếng, lần này giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng hơn:

- Anh nàm nấy đấy à?

Trường không đáp mà chỉ lẳng lặng gật đầu. Rồi chàng giật lấy cái lược trên tay thằng công an mà lòng nhen nhúm một sự tức giận, khinh bỉ đến tột cùng. Những hạng súc vật như nó không đáng sờ mó lên vật kỷ niệm vô giá của chàng. Tay chàng run lên. Mắt chàng long sòng sọc. Chàng sầm sầm quay đi. Đây là lần đầu tiên chàng có phản ứng mạnh mẽ đối với một đứa công an. Những lần khác, chàng chỉ khinh bỉ mà không hề giận dữ. Chàng vẫn nói với các bạn đồng tù rằng chỉ có lòng khinh bỉ mới đặt mình ở vị trí cao hơn. Giận dữ với chúng nó là tự đặt mình ngang hàng. Thế mà hôm nay chàng đã bầy tỏ thái độ giận dữ. Cơn giận dữ ùa đến bất ngờ khiến chàng không thể kiểm soát được, có lẽ nó bắt nguồn từ bàn tay thô bạo của thằng công an đã dám sờ mó lên vật kỷ niệm thiêng liêng của chàng. Nhưng rồi chàng tự nhủ, như thế là còn may. Nó chưa có dịp mè nheo, xin xỏ hay tệ hơn nữa, tạo đủ lý do để tịch thu bất cứ cái gì mà nó muốn.

Sau hôm đó, Trường chôn kỹ cái lược ở một chỗ kín đáo ngoài phòng giam tù. Chàng chỉ sẽ đào nó lên trong lần thăm nuôi kỳ sau để tự tay cài lên mái tóc úa khô, xơ xác của vợ chàng. Bây giờ thì chàng khởi sự công trình mài rũa chiếc trâm dành cho đứa con gái. Công việc ngày một thêm khó khăn hơn, bởi vì những ngón tay xước nát, bầm dập của chàng. Lúc mài mảnh nhôm xuống mặt xi măng hay trên một hòn đá nhỏ, chàng nghe thấy sự buốt xót từ những đầu ngón tay hòa lẫn với cái cảm giác trơn láng, mát lạnh của mặt nhôm. Chàng thì thầm với con gái về sự nó có cảm nhận được làn da tay sần sùi, rớm máu, đau đến tê dại của bố khi cài chiếc trâm này trên đầu hay không. Phải chăng đấy cũng là một loại ngôn từ di chúc của cha gửi đến cho con. Và trong lòng quê hương khốn khổ này, đã có biết bao nhiêu là ngôn ngữ lưu truyền kiểu đó, của thế hệ này gửi lại cho thế hệ sau.

Trong thời gian đó, Trường cũng để ý đến sự thay đổi khác lạ trong cung cách đối xử của thằng công an. Nó bớt hẳn giọng điệu gay gắt đối với chàng. Thỉnh thoảng nó hay nhìn chàng với ánh mắt nửa như thân thiện, nửa như lấm lét. Trường ngạc nhiên tự hỏi cái lược chạm trổ của chàng đã làm chóa mắt thằng côn đồ đó đến cỡ nào khiến nó thay đổi thái độ như thế. Nhưng Trường tự nhủ, dù thế nào thì công an vẫn là những thằng công an. Chế độ sản sinh ra chúng nó để chỉ thuần túy là công cụ của bạo lực, để sẵn sàng đàn áp không nương tay và bất chấp tình người. Ngay các bạn đồng tù của chàng cũng đều chia sẻ cái thành kiến này. Chúng nó chỉ sống theo bản năng và gần gũi với loài súc vật. Trường băn khoăn tự hỏi thằng Sủng toan tính gì đây khi nó muốn lân la với chàng. Điều này khiến cho chàng phải chú ý đến nó nhiều hơn và chàng ngạc nhiên khám phá ra rằng đối với tất cả những tên cán bộ ở đây, chưa bao giờ chàng nhìn ngắm chúng kỹ lưỡng cả. Hàng năm trời gặp gỡ, tiếp xúc, bọn chúng chỉ như những cái bóng mờ nhạt xuất hiện qua lại trước mắt chàng mà chàng không thấy cần thiết phải bận tâm. Thì giờ đâu bận tâm đến lũ người ấy?

Nhưng bây giờ, trong hoàn cảnh này, Trường không thể không nhìn ngắm thằng Sủng kỹ lưỡng hơn. Nó còn trẻ lắm. Tuổi chỉ mời chín, hai mươi là cùng. Đầu nó hớt cao. Vầng trán thấp ngủn lại gồ. Đôi mắt hơi xếch ẩn dưới đôi lông mày rậm. Mặt nó vuông hình chữ điền, đôi môi dầy, bậm sịt lúc nào cũng mím lại làm cho vẻ mặt tăng thêm phần dữ tợn, loại dữ tợn ẩn chứa một vẻ đần độn, đơn giản, cực đoan và liều lĩnh. Chung qui, cả khuôn mặt của nó chỉ vớt vát lại được có mỗi một nụ cười. Lúc nó cười, hai hàm răng trắng bóng phô ra làm dịu đi nét cau có ở đôi lông mày, và trong ánh mắt của nó toát ra một niềm vui không thể che giấu.

Cho đến một hôm, nhân dịp vắng vẻ, thằng Sủng tự ý sấn lại gần chàng. Lúc này Trường đang ngồi mài chiếc trâm bằng nhôm trên mặt cát. Vừa nhác thấy nó, Trường ngừng tay và thủ cái trâm vào ống tay áo. Thái độ của Sủng đầy vẻ rụt rè. Một nửa nó muốn tiến tới, một nửa nó định bỏ đi. Nhưng nó không quyết định được dứt khoát nên hóa ra tần ngần và mỗi lúc một thêm bối rối. Rút cục nó không biết làm gì khác hơn là nhe răng ra cười. Dù cảnh giác cách nào thì Trường cũng không đủ nhẫn tâm để cau có với một kẻ đang cười với mình. Nét mặt của chàng dịu lại. Chàng vẫn không cất tiếng, nhưng nhìn nó với một vẻ dò hỏi. Một lát thằng Sủng mới vô đề bằng một câu bâng quơ:

- Lày, nính Ngụy cũng có nắm tay tài hoa đấy chứ nhỉ.

- Tài hoa về cái gì?

- Cái nược ấy. Cái nược mà anh nàm nấy đấy.

Trường mỉm cười:

- Ờ! Đó là nghề tay trái.

Sủng ngơ ngác:

- Nghề tay trái nà nghề gì?

- Là nghề phụ. Là thứ nghề không phải nghề. Làm chơi cho vui vậy thôi.

- À! Cái đó gọi nà "nghiệp dư". Nghiệp dư thì lói nghiệp dư chứ cái gì mà nại đi ví von tay phải với tay trái. Chữ nghĩa của các anh đến nà buồn cười.

Trường nhún vai:

- Thì cũng giống như chúng tôi buồn cười khi nghe anh nói nghiệp dư, nghiệp thừa vậy.

Phải như khi trước thì Sủng đã nổi sùng về câu nói móc máy này rồi. Nhưng lần này nó vẫn giữ một vẻ thản nhiên. Nó thú nhận:

- Tôi chưa bao giờ trông thấy một cái nược đẹp đẽ đến như thế. Ló nại nàm bằng tay không thôi. Lếu tôi không chính mắt thấy thì tôi không tin nà do anh nàm.

Thấy Trường không đáp, Sủng lại nói tiếp:

- Mẹ tôi ở nhà cũng có một cái nược bằng bạc. Cái nược di truyền mấy đời rồi cơ đấy. Lom thấy cái nược nàm tôi nhớ đến mẹ tôi, thương mẹ tôi vô cùng.

Trường ngạc nhiên về tâm tình của thằng Sủng. Chàng cất tiếng hỏi:

- Bà cụ bây giờ vẫn khỏe mạnh chứ ?

Sủng bùi ngùi:

- Bà ấy mất rồi. Mất hồi lăm kia... Bệnh tật nâu mà thuốc men thì thiếu thốn...

Rồi chợt nhớ ra rằng kể khổ trước mặt bọn Mgụy là sai lập trường, Sủng vội xoay ra chuyện khác:

- Anh cũng còn mẹ hả? Anh khắc cái nược cho bà cụ hả?

Trường lắc đầu:

- Mẹ tôi cũng mất rồi. Cái lược đó tôi dành cho vợ tôi.

Mắt thằng Sủng rạng lên một niềm vui. Hình như nó cũng biết chia sẻ tấm lòng của một người đang xa cách gia đình. Trường tự nhủ, thằng này cũng còn có tâm tình riêng đấy chứ. Điều này làm cho Trường trở nên dễ dãi hơn và chàng không còn giấu cái trâm ở tay áo nữa. Cái trâm mới đang ở giai đoạn hình thành, với dáng dấp thuôn dài và mặt nhôm còn nhiều vẻ thô sơ. Mắt thằng Sủng sáng lên khi nhìn thấy mảnh nhôm trên tay chàng:

- Tôi thấy tài thật. Miếng nhôm xấu xí thế lày mà anh biến chế thành đồ mỹ thuật rất tinh xảo. Tôi phục năn!

Trường giơ cái trâm lên ngắm nghía rồi giảng giải:

- Gọi là nghề tay trái... hay nghiệp dư gì đó. Nhưng vận dụng được nó nhuần nhuyễn cũng phải đòi hỏi cả một quá trình tập luyện.

- Phải rồi, nàm gì thì nàm cũng phải có học tập tốt đã chứ. Anh học cái nghề trạm trổ lày ở trong quân đội Ngụy à?

- Không! Tôi ở ngành pháo binh, mà pháo binh thì ai mà đi dạy cho cái nghề lẩm cẩm này. Tôi tự nghiên cứu, học hỏi lấy.

Sủng ngơ ngác:

- Học hỏi nấy một mình mà cũng nàm được như thế cơ ?

- Chứ sao? Miễn là có một đôi chút năng khiếu cộng với lòng say mê nghệ thuật.

Mắt Sủng thoáng một tia hớn hở và nó cất giọng hỏi thành thực:

- Say mê thì tôi dứt khoát nà say mê rồi. Nhưng nàm sao để biết rằng mình có được đôi chút lăng khiếu?

Trường nhìn vẻ mặt đần độn của nó một cách thương hại rồi trả lời buông xuôi:

- Thì cứ làm đại đi rồi sẽ biết.

- Anh hướng dẫn tôi nhớ!

Lời đề nghị bất ngờ của Sủng khiến Trường bối rối. Nhưng chàng chưa kịp trả lời thì nó suy nghĩ thế nào đã vội chữa lại:

- Nhưng không được đâu! Tôi niên hệ nhiều với anh, cấp trên sẽ đặt vấn đề.

Vừa lúc đó có một toán lao động đi ngang, Sủng vội vã bỏ đi.

° ° °

Tối hôm ấy, hình ảnh của Sủng với ước vọng đơn sơ của nó khiến Trường trằn trọc. Vậy ra tiềm ẩn ở đằng sau những hành động đàn áp, ngỗ ngược, nó vẫn còn có tâm tình riêng, và có cả năng khiếu trong lãnh vực thẩm mỹ. Điều này thật hoàn toàn bất ngờ đối với thành kiến sẵn có của Trường. Từ lâu, chàng vẫn nghĩ rằng tất cả bọn chúng nó đều chỉ là những công cụ vô tri của chế độ, hay tệ hơn nữa, lũ người này chỉ đáng được xếp ngang hàng với một lũ súc vật. Có nghĩ họ là súc vật thì chàng mới bất thần nổi nóng bất tử khi Sủng dám đụng tay vào cây lược kỷ niệm vô giá của mình. Bây giờ nghĩ lại, Trường cảm thấy xấu hổ về cơn giận dữ quá đáng của mình. Ai đã được sinh ra, đầu tiên lại chẳng là một con người. Nhưng từ con người đến nỗi trở thành con thú là do hoàn cảnh xô đẩy. Sự kiện đã xảy ra chẳng cứ ở bên này hay bên kia.

Trong xã hội cũ, có thiếu gì con người cũng chẳng còn đôi chút nhân tính. Đó là những kẻ đầu cơ, tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ, phè phỡn trên cơn thiếu thuốc men, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình. Còn trong xã hội Cộng sản này, con người bị xô đẩy vào một tình huống khác, ở đó nó bị chế độ nhào nặn bằng những phương pháp vận dụng khoa học tinh vi nhất, thân phận con người trở thành những mẫu mực được đổ khuôn theo nhu cầu trấn áp để bảo vệ chế độ. Trường tự lấy làm ngạc nhiên rằng tại sao mình dễ dàng nổi giận với Sủng mà chưa bao giờ một lần trước đây, chàng nổi cơn phẫn nộ đối với những con người phi nhân tính ở trong xã hội cũ. Hẳn cơn giận dữ về sự buôn bán trên sinh mạng, sức khỏe và sự nghèo đói cơ cực của đồng đội, đồng bào sẽ đích đáng hơn là cơn giận ùa đến từ sự kiện một kẻ dám sờ tay vào một cái lược vô tri chứ ? Trường thấy rõ nỗi bất công của mình và đó là lý do đã khiến cho chàng bứt rứt về cơn giận dữ vừa qua của chàng.

Chàng tự nghĩ, nếu trước đây ai cũng biết nổi giận, và nổi giận kịp thời thì đất nước đâu đến nỗi cơ cực, lầm than như hiện nay. Và ngay cả đến bây giờ, ở bài học mất nước có bao nhiêu người rút tỉa được điều gì đích đáng? Trường thực sự lao đao về những nhận thức mới mẻ này. Chàng có cảm giác như mình vừa đụng phải cái phao vật vờ đâu đó trong cơn chìm tàu hoảng hốt giữa đại dương đầy bão tố. Chàng cố gắng bình tĩnh để nghiền ngẫm đầy đủ mọi sự ngay từ cái khởi đầu. Nghĩa là  phải vén những tấm màn che của thành kiến, nông cạn, phải đâm toạc vào bóng tối u mê của những nhận thức cực đoan, một chiều. Nói gọn lại là hãy tự giải phóng chính mình trước để có tự do nhìn ngắm con đường sẽ phải đi tới nhằm giải phóng quê hương.

Ngày hôm sau, Trường đã gặp lại Sủng trong một tâm trạng bình thản hiếm thấy ở chàng. Điều đó có nghĩa là chàng đặt thằng Sủng trước hết ở vị trí một con người để từ đó chiêm nghiệm xem con người đó đã bị chế độ làm biến chất đi đến mức độ nào và những gì còn vớt vát lại được ở trong nó. Không như trước đây, vì mất mát, vì đổ vỡ, vì chìm đắm trong thiếu thốn, khổ hình, Trường hay có thái độ sổ toẹt. Nghĩ cho cùng, kể cũng thật là ghê gớm khi người ta dễ dãi sổ toẹt một con người. Thằng Sủng hôm nay có vẻ rất phởn phơ. Nó nhoẻn với Trường một nụ cười ngay khi vừa chợt trông thấy chàng. Hai hàm răng của nó trắng bóng dưới ánh nắng của một ngày đẹp trời. Trong tia nhìn của nó thấp thoáng ánh sáng của một niềm vui. Trường hỏi:

- Có chuyện gì mà sao hôm nay vui thế ?

Sủng vỗ lên túi áo ngực và nói:

- Nhận được thư... nhà !

- Thích nhỉ. Tất cả đều bình yên chứ ?

Sủng ngần ngừ, rồi đáp nhỏ:

- Lói đúng ra, không phải thư nhà đâu. Tôi nhận được thư của cô Ninh.

Trường ngạc nhiên:

- Cô Ninh là ai?

Sủng cười hềnh hệch:

- Người yêu của tôi đấy. Hai đứa dự định lăm tới sẽ đứng ra "tổ chức".

- Tổ chức cái gì?

- Còn cái gì. Tổ chức nà nấy nhau, mà nập gia đình chứ còn gì.

Trường bật lên cười và lần này chàng có dịp nhạo lại nó:

- Cái đó gọi là làm đám cưới. Làm đám cưới thì nói là làm đám cưới chứ cái gì mà tổ chức với tổ chiếc. Chữ nghĩa các anh dùng đến là buồn cười.

Thằng Sủng không lấy làm phật lòng về sự châm trích này. Nó chỉ đáp buông xuôi:

- Ừ thì quen thế lào, lói thế ấy.

Rồi bỗng nó buông một lời nhận xét khiến Trường phải giật mình:

- Nghĩ cũng buồn cười đấy nhỉ. Mình cũng nà người Việt lam mà lói với nhau nắm khi không hiểu.

Trường bị xúc động lắm về câu nói bất ngờ này. Bao nhiêu ngày bị giam hãm ở đây, chưa bao giờ Trường nhớ lại được ra rằng quê hương Việt Nam từ ngàn xa vẫn trải dài từ Nam Quan cho đến Cà Mâu. Cơn sụp đổ phũ phàng của đất nước đóng khung sự suy nghĩ của chàng vẫn ở cái thời điểm mà đất nước bị chia cắt. Bên này và bên kia. Bên này sụp đổ. Bên kia xâm lược, chiến thắng. Uớc mơ của chàng về sự giải phóng đất nước, nếu có thì chỉ là sự giải phóng một miền Nam, khôi phục lại vùng đất cũ chứ chưa bao giờ chàng nghĩ đến một giải giang sơn trải dài từ Bắc xuống Nam cùng chung sống trong một vận hội mới. Làm sao Trường có thể hình dung ra được một sự chung sống như thế với nhân dân hai miền đầy rẫy những mâu thuẫn, khác biệt. Nhưng ít ra đó cũng là một ước mơ, một nguyện vọng chính đáng phải thể hiện chứ.

Trường hỏi Sủng:

- Anh nghĩ rằng tôi cũng là người Việt Nam như anh à?

Sủng ngạc nhiên:

- Anh không nà người Việt Nam thì nà người gì?

- Thì tôi vẫn là người Việt Nam. Nhưng tôi tưởng, dưới mắt các anh, chỉ có một bên là các anh, một bên là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Làm gì có người Việt Nam với nhau, có phải thế không?

Hình như Trường đặt ra với Sủng một câu hỏi có vẻ vượt quá khả năng suy nghĩ của nó. Nó hơi bối rối một chút, Nhưng rồi cũng tìm ra câu trả lời:

- Với chúng tôi, bạn, thù rất phân minh. Nẫn nộn với bạn và thù nà chao đảo, nà hữu khuynh.

- Vậy anh nghĩ về tôi là gì? Bạn hay thù?

- Trước học tập cải tạo, anh nà thù. Sau học tập cải tạo anh nà bạn. Nà bạn hay thù, cái đó tùy thuộc ở anh!

Trường cười khẩy:

- Thôi đi mà anh Sủng? Anh thuộc bài bản đấy, Nhưng thực tế nó đâu phải vậy. Anh thừa biết đấy, trước hay sau học tập, chẳng bao giờ chúng tôi được chế độ tin dùng. Còn trong học tập lại càng rõ ràng cụ thể nữa. Cái chính sách kéo dài cải tạo vô thời hạn, đời sống vật chất cực kỳ thiếu thốn, công tác lao động lại cực kỳ nặng nhọc, tất cả cho thấy không có một kết luận nào khác hơn là các cấp lãnh đạo của các anh có chủ trương hủy hoại khả năng chống đối của con người.

Mắt Sủng tự nhiên sững lại. Nó ngó Trường một cách trân trân, cái nhìn biểu lộ một sự ngạc nhiên hơn là hận thù. Rồi nó buông một câu nhỏ vừa đủ để cho Trường nghe:

- Anh cũng nhận ra điều ấy, hả!

Nói xong Sủng đột nhiên bỏ đi. Thái độ vội vàng này chỉ có thể giải thích được rằng Sủng đã sợ hãi sau khi buông ra một lời thú nhận, đồng tình.

Dẫu sao thì sau lần đó, giữa Sủng và Trường đã mở ra thêm được một cánh cửa. Sự dè dặt của Trường đối với nó đã giảm thiểu đi rất nhiêu. Bây giờ thì Trường có thể kể cho nó nghe huyên thuyên về đủ mọi thứ chuyện trong đời sống ở một xã hội tự do. Trước thì chỉ là vì ý thích, vì lòng hoài vọng những kỷ niệm đã xa vời, nhưng dần dà Trường trở nên say mê trong một dụng ý mới. Chàng muốn cải tạo chính thằng nhỏ đang có nhiệm vụ cải tạo mình. Điều này thật ra không phải dễ. Sủng có những quan niệm đã đóng khuôn và trở thành chai đá. Như quan niệm về sự tự do mà Trường đã nhiều lần gợi ý, Sủng chỉ cho rằng đó là một sự hỗn loạn, cá lớn nuốt cá bé, giầu bóc lột nghèo.

- Điều đó cũng đúng thôi. Nhưng không phải vì chán ghét cái này mà mình phải chấp nhận cái kia cũng tệ hại chẳng kém.

Trường nói với nó như thế và nó im lặng đồng tình. Nó thú nhận:

- Ở miền Bắc, chả có ai rỗi hơi đặt ra những vấn đề như anh lói. Mọi sự đều có Đảng và nhà lước no hết.

Trường kêu lên:

- Thế thì cả cái xã hội ấy đã trở thành một cái chuồng trâu, chuồng bò rồi còn gì.

- Có sao đâu! Bao nhiêu chục lăm lay, chả thấy có ai cần lêu thắc mắc gì ngoài sự tranh cãi về sự thiệt thòi nhu yếu phẩm.

Trường bùi ngùi:

- Thế thì phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc đã bị tước đoạt quyền tối thiểu làm người. Bởi vì đời sống đâu chỉ có gói tròn trong có mỗi một vấn đề nhu yếu phẩm.

- Anh lói thế chứ, đó nà một vấn đề quan trọng hàng đầu đấy. Dời nhu yếu phẩm ra nà chết đói nhăn răng.

Trường chép miệng:

- Chưa bao giờ trên đời này lại có một kiểu xã hội đơn giản và khủng khiếp đến như vậy.

Lòng Trường đột nhiên tràn ngập một nỗi xót xa đến độ chàng không còn muốn nói thêm với Sủng một lời. Chàng im lặng đẩy mũi dao nhọn hoắt trên những đường hoa văn chạy trên một cái trâm cài. Sủng cũng không nói gì thêm mà chỉ say sưa chăm chú theo dõi những nét tài hoa mà Trường đang chạm trổ. Khi Trường hoàn tất những  nét sửa chữa cuối cùng, chàng giơ cái trâm lên ngắm nghía. Lúc ấy Sủng mới trầm trồ:

- Tuyệt đẹp anh ạ. Lếu anh rảnh, nhờ anh khắc cho tôi một cái để tôi gửi tặng Ninh.

Trường gật đầu:

- Anh đi kiếm nhôm đi. Chuyện khắc là chuyện dễ.

Sủng reo lên như một đứa trẻ được mẹ hứa cho quà. Bây giờ nó mới thú nhận rằng nó đã tom góp được bao nhiêu là mảnh nhôm và ước vọng của nó chỉ là có được một cái lược giống y như cái lược nó đã trông thấy hôm nào để gửi tặng người yêu. Sủng nói:

- Chỉ xin anh thêm cho vô đây một hàng chữ viết nà "Yêu Ninh trong nghĩa vụ thanh liên".

Trường hỏi:

- Ninh hay là Linh. En nờ hay E lờ?

- E nờ chứ! Giống như điện Cẩm Ninh mà anh lói đấy.

Trường bật cười:

- À ! Thế là E lờ? Linh! Linh chứ không phải Ninh. Nhưng này, cái gì mà "yêu trong nghĩa vụ thanh niên". Nói yêu thôi, không phải là đủ à?

Sủng cúi đầu, bùi ngùi:

- Phải lói thế Ninh mới hiểu được nòng tôi. Bởi vì lếu không dính đến cái vụ nghĩa vụ thì tôi đã nuôn nuôn ở bên cạnh cô ấy rồi còn gì.

Trường chép miệng:

- Đất nước đã hòa bình, độc lập từ bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn cái vụ nghĩa vụ làm cho tình yêu phải phân ly, chia lìa. Nói thật, cái giới lãnh đạo của chế độ này quả là một lũ người không còn nhân tính.

Sủng kêu lên:

- Chết! Anh phát ngôn ninh tinh như thế có ngày mang họa.

- Thì chỉ có tôi với anh. Chả lẽ anh đi tố cáo tôi. ...

- Sợ nà sợ anh quen mồm đó thôi. Lói ở đây thì được, về tới trại mà như thế nà chết. Có thiếu gì tai mắt, nguy hiểm nắm.

Trường nhìn Sủng biểu lộ một sự cám ơn về lời khuyên cảnh giác của nó. Niềm cảm thông nẩy nở giữa hai người đem lại cho Trường thêm những ý tưởng mới mẻ. Rõ ràng cả cái dân tộc này cần tới một sự đối thoại. Bọn lãnh đạo, bọn có đầy đủ uy quyền chỉ là một thiểu số. Đa phần còn lại đều là những nạn nhân. Giữa nạn nhân nếu vẫn còn dựng lên những hàng rào, những hố ngăn cách thì sức mạnh tổng hợp không bao giờ tìm thấy được.

Những ngày sau đó, Trường chuyên chú vào việc mài rũa cái lược dành cho Sủng. Sủng có vẻ cảm kích lắm. Lòng nó hẳn có nhiều xốn xang khi nghĩ đến cái lược tuyệt hảo này sẽ được gài lên mái tóc của người yêu. Trường chưa bao giờ hỏi thăm một lời nào về Linh cả. Chàng chỉ nghĩ rằng họ cũng là những trái tim biết thổn thức. Ngoài chuyện cá nhân, đôi lứa, sự thổn thức của trái tim có hướng về một mục tiêu nào khác nữa hay không là do ở trình độ nhận thức, hiểu biết. Cái nhược điểm lớn lao của xã hội này là toàn thể mọi người đều bị chế độ bưng bít tối đa. Giống như tên xà ích che mắt một con ngựa để chỉ cho nó đi theo hiệu lệnh của làn roi. Con ngựa trở nên mù lòa và suốt đời không thể tưởng tượng ra được ở bên kia bóng tối bao trùm tất cả đời sống của nó, là cả một cánh rừng bao la, những đồi cỏ non, những thung lũng trải dài, những triền núi cao thăm thẳm. Và có cả những đàn ngựa hồng xoải vó cất tiếng hí vang động cả trời cao. Ý nghĩ này khiến Trường nẩy ra sáng kiến giành ra một góc nhỏ để trạm trổ một đôi ngựa. Như một thứ thông điệp tự do của kẻ nằm trong tù gửi cho những kẻ ở ngoài nhà tù. Chàng nhắn nhủ với Sủng:

- Nhìn ngắm đôi ngựa này để biết thù ghét kiếp ngựa bị che mắt và chỉ tuân hành theo chỉ thị của làn roi. Kiếp người cũng thế mà thôi.

Sủng chớp mắt liên hồi khi được Trường nhồi nhét cho cái hình ảnh ấy, điều mà trước đây, không bao giờ nó có thể tưởng tượng được ra. Nó hình dung đến hình ảnh một ngày nào đó trong tương lai, ngồi cầm lược chải đầu cho vợ mới cưới, hẳn nó sẽ bối rối nhiều lắm khi phải giải thích cho nàng nghe về ý nghĩ của một đôi ngựa.

 

Bẵng đi nhiều ngày sau, tự nhiên Trường không thấy Sủng xuất hiện trong những nhiệm vụ hằng ngày nữa. Lúc đầu, Trường dự đoán là Sủng bận rộn một công tác đột xuất nào đó. Sau dần dà, sự vắng bóng lâu lắc của nó gây cho chàng một mối lo ngại về một sự bất thường nào đó đã xẩy ra. Mãi đến hơn hai tuần sau, trong một buổi chập choạng tối, lúc chờ giờ phân phối thực phẩm ăn tối, Trường mới thấy Sủng bất ngờ xuất hiện một cách lén lút và kéo tay chàng ra một chỗ khuất riêng.

Sủng nói:

- "Em" bị gặp khó khăn rồi. Các đồng chí nãnh đạo kết tội em hữu khuynh và truy kích em kịch niệt. Các đồng chí ấy lói rằng tưởng em có nhiệm vụ cải tạo Mỹ Ngụy, lào ngờ chính em bị Mỹ Ngụy nàm cho chao đảo. Biện pháp áp dụng nà gửi em hoàn trả cho đơn vị gốc tùy lơi lày xử ný. Thế nà em không chờ anh hoàn tất được cái nược để em tặng cho Ninh rồi.

Trường vội vã nói:

- Chú chờ ở đây. Tôi tặng chú cái lược của chính vợ tôi.

Nói rồi Trường tất tả đi bới lên cái lược mà chàng đã cất giấu. Dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn lửa trên lò bếp, nó vẫn sáng ngời như một thanh kiếm bạc. Chàng dúi vào tay Sủng và thầm thì:

- Nhất là chẳng có một đôi ngựa...

Sủng mỉm cười theo:

- Chẳng có đôi ngựa ở trên nược thì em cũng đã ghi gói hình ảnh đó ở trong đầu. Em sẽ lói với Ninh về đôi ngựa ấy khi có dịp.

Trường xúc động ghì chặt lấy đôi vai vạm vỡ của Sủng. Trong cái nhá nhem của một ngày tàn, đôi mắt của Sủng chợt sáng lên một cách lạ kỳ. Rồi Sủng nhe răng nhoẻn một nụ cười thật hồn nhiên. Nụ cười của tuổi trẻ còn sót lại sau bao nhiêu thiêu đốt của những lò đổ khuôn một con người.

Sau lần đó, không bao giờ Trường còn được nghe nói về Sủng. Nhưng lòng của Trường vẫn tràn ngập một niềm vui vì chàng đã gửi đi được một thông điệp tự do ngay giữa vòng rào kẽm gai của một trại tù.

Santa Ana, tháng 12 năm 1985
NHẬT TIẾN

Chương 12

TÁC PHẨM GÂY TRANH CÃI

Truyện ngắn

Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm

Thời điểm sáng tác : 1989

 

Nhận xét về truyện ngắn "Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm" in dưới đây, bình luận gia Đỗ Thái Nhiên đã viết:

"Gặp gỡ ngày cuối năm" là một truyện đầu voi đuôi chuột! Truyện này đã mở đầu bằng bài toán cộng tả và hữu để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương nhưng lại kết thúc bằng một cuộc làm hòa giữa hai anh em để ngay sau đó người anh dẫn người em đi "hồi tà"!... " Gặp gỡ ngày cuối năm" hiển nhiên chỉ là truyện cổ võ cho một cuộc "Hồi tà"!

Giáo sư Bùi Ngọc  Đường lại có ý kiến khác, ông đã nêu nhận định :

"…….sẽ có lúc, ông Đỗ Thái Nhiên nhận được ra rằng ông đã hơi vội vàng trong khi phê phán những nhận thức của nhà văn Nhật Tiến:

- là "ấu trĩ ,
- là "toan tính dùng lòng khoan dung của đạo đức giả để che lấp nghĩa vụ phục hoạt dân sinh",
- là "khiếp sợ và an thân",
- là "nên ân cần xin lỗi độc giả của ông ta"!

(Xin coi Hành Trình Chữ Nghĩa, Tập I , trang 193-203)

 

gặp gỡ ngày cuối năm

Truyện ngắn

NHẬT TIẾN

Cuối cùng thì hai người cũng đã gặp nhau. Một người ở trong tù. Một người ở ngoài tù. Một người thuộc chế độ miền Nam cũ. Một người là sĩ quan mang quân hàm Đại tá thuộc bộ đội miền Bắc. Họ là hai anh em ruột. Ba mươi năm trời không gặp lại, hơn năm năm cậy cục để mong được tiếp xúc, bây giờ ông anh Đại tá mới được toại nguyện.

Căn phòng trống trải, bốn bề vách gỗ, mái lợp tôn có những chỗ nứt nẻ. Gió ở ngoài lùa qua những lỗ thủng mang theo cái căm căm lạnh của một buổi cuối năm nơi rừng núi. Đồ đạc trong phòng không có gì khác ngoài chiếc bàn gỗ và hai tấm ghế dài kê ở hai phía đối diện. Người công an bảo vệ đã lặng lẽ rút ra ngoài từ mấy phút trước sau khi kín đáo khép cánh cửa ra vào làm bằng tôn xộc xệch. Ngọn đèn héo úa trên trần cũng đã được bật lên. Ánh sáng vàng vọt, xanh xao như bầu không khí thoi thóp, bệnh hoạn của cả trại tù.

 

Từ nãy, hai người vẫn nhìn nhau. Lòng họ đầy bối rối, ngỡ ngàng. Anh mình, em mình đấy ư ? Đâu còn là hình ảnh thân thiết, ruột thịt ngày xưa, thằng anh cõng thằng em chạy nhong nhong trên con đường nhỏ hẹp để đi theo một đám rước, đi ra chùa xem tế lễ hay mải mê chạy theo con diều bang bay bổng trên nền trời cao.

Hình ảnh thân thiết của dĩ vãng như có động lực làm cho hai trí não đang đóng băng của họ trở nên động đậy. Họ cố gắng thu ngắn khoảng cách của thời gian đằng đẵng gần ba mươi năm. Họ kín đáo tìm kiếm ở nhau dấu tích của ngày xưa thân ái cũ. Nhưng rồi họ bất lực. Họ chẳng tìm thấy ở người này hay người kia một chỗ bấu víu nào để có cảm giác gần gũi nhau hơn. Cuối cùng người anh cũng phải lên tiếng trước:

- Chú hút với tôi một điếu thuốc nhé?

Người tù vẫn không trả lời. Anh ta chỉ nhìn bằng cặp mắt lạnh lùng những cử chỉ có vẻ hơi lúng túng của người đối diện có vẻ đang cố gắng phá tan bầu không khí im lặng nặng nề mà vô hiệu quả. Ông ta moi ra ở trong túi áo một bao thuốc đã nhàu nát và lục ở túi bên kia một cái bật lửa cũ kỹ đến nỗi cái bản lề ở nắp đã xộc xệch và nước kền mạ ở ngoài đã phai đi để lộ ra nước đồng màu đỏ quạch. Rồi ông ta nghiêng đầu châm một điếu thuốc. Đôi môi dầy của ông ta chúm lại. Cặp lông mày rậm rịt lốm đốm bạc ríu lấy nhau, kéo theo những lớp da ở hai bên đuôi mắt nhăn túm lại. Chợt người tù khám phá ra rằng cái đuôi mắt ấy, cái cung cách nghiêng đầu châm lửa hút thuốc ấy đã giống hệt như những cử chỉ quen thuộc ngày xưa của bố mình. Lòng anh chợt thoáng một niềm xúc động. Anh cố nén cái cảm giác buốt nhói vừa chạy qua trái tim của mình.

Bây giờ viên Đại tá chìa ra trước mặt anh một điếu thuốc. Bàn tay khô cằn xương xẩu của ông ta hơi run run. Người tù tự nghĩ đó là dấu hiệu của tuổi già chứ không phải là hậu quả của một cơn xúc động. Người Cộng sản không dễ gì biểu lộ những cảm nghĩ của mình một cách dễ dàng và lộ liễu như thế.

Quả thật, "anh ấy" đã già thật. Người tù tiếp tục nghĩ. Những đuôi mắt đã nhăn. Những lớp da hai bên gò má đã rúm ró. Những sợi tóc đã ngả màu xám bạc. Anh cố gắng mường tượng hình ảnh của ông ta không qua ảnh hưởng của thời gian. Nhưng anh ta hoàn toàn bất lực trong ý định này. Hơn ba mươi năm xa cách, hình ảnh của người anh lúc chia tay không để lại trong óc anh một ấn tượng nào. Điều này khiến người tù nẩy ra cái cảm giác kỳ cục khi nghĩ rằng mình có thể nhớ hình ảnh của ông ta thời thơ ấu lúc mà hai anh em còn cõng nhau chạy rông ngoài ngõ rõ ràng và gần gũi như nó mới chỉ xẩy ra đâu đó ngày hôm qua, hôm kia, nhưng muốn bắt lại một hình ảnh khác xẩy ra mới mẻ hơn  thì anh đành chịu, như thế thì dĩ vãng đâu có ảnh hưởng bởi yếu tố thứ tự của thời gian. Nó phải là điều gì gắn bó với những nỗi rung động trong trái tim của mình. Có những điều xẩy ra, người ta có thể ghi nhớ cả một đời người, nhưng cũng có nhiều điều khác người ta đã dễ dàng rũ đi như một lớp bụi mỏng bám víu lấy khoảng trời kỷ niệm của riêng mình.

Như thế, quả là mình đã coi "anh ấy" là một hạt bụi trong đời sống, người tù tiếp tục nghĩ. Cũng đúng vậy thôi. Tình cốt nhục, anh em, không có chỗ cho những kẻ đã đứng trên vị trí của lòng căm thù. Leo lên tới quân hàm Đại tá, hẳn ông ta đã nhúng tay vào biết bao nhiêu thảm họa, đã gây nên những thảm trạng đau thương như hiện giờ: những con người bị đầy đọa triền miên trong những trại tù, những bạn bè, đồng ngũ của anh đã âm thầm gục ngã trong tủi nhục đớn đau. Và hơn hết thẩy là trong số những kẻ gục ngã ấy, có cả bố của anh nữa. Người tù thốt nhiên thấy mình sục sôi lên vì một cảm giác căm hờn. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đục lờ của người đối diện. Hình ảnh của những ngày thơ ấu ngày xưa tan biến mất. Trước mắt anh chỉ là một kẻ xa lạ. Hơn thế nữa, một kẻ đã chịu trách nhiệm về biết bao nhiêu biến cố đau thương, tang tóc chia lìa. Đó là lý do mà anh từ chối điếu thuốc vẫn được chìa ra từ một bàn tay run run.

Viên Đại tá chờ đợi không được, liền đặt gói thuốc xuống mặt bàn. Ông ta cũng không biểu lộ một ánh mắt hay cử chỉ nào dù bất mãn hay bối rối về sự lạnh lùng, căng thẳng của người tù. Ông chỉ cầm cái bật lửa cũ kỹ đặt chồng lên gói thuốc rồi đẩy chúng lại gần hơn nữa về phía người đối diện. Hai người bây giờ cách nhau bởi một màng khói mỏng tuôn ra từ đầu điếu thuốc vừa được châm lên và đang nằm giữa hai ngón tay xương xẩu của viên Đại tá. Cuối cùng vẫn lại là lời lên tiếng trước của ông ta:

- Tôi đến thăm chú năm lần trong năm năm. Lần này chú mới cho gặp, tại sao chú không nói gì hết vậy?

Người tù lại nhìn thẳng vào đôi mắt của viên Đại tá. Anh ta biết rõ mình đang trồi lên từ một cơn sóng của sự thù hận. Rồi anh ta nói rành rẽ:

- Có chứ! Tôi có nhiều điều muốn nói với anh lắm chứ! Tuy nhiên có lẽ tôi chẳng cần dài dòng chi nhiều. Tôi chỉ tóm tắt bằng một câu thôi. Đó là, nếu tôi có súng, tôi có thể bắn anh mà không chút mảy may thương xót gì.

Viên Đại tá mỉm cười. Nụ cười chẳng mang một vẻ gì cay đắng hay bất mãn cả. Hình như ông ta đã quá quen thuộc với sự trực diện đối với lòng hận thù. Ông ta chỉ nhìn "thằng em của mình" với ánh mắt chế giễu. Rồi ông ta nhỏ nhẹ:

- Bắn tôi xong rồi, chú có giải quyết được vấn đề gì không?

Người tù cười khẩy:

- Được chứ! Ít nhất tôi cũng loại được một tên ra khỏi hàng ngũ của những kẻ bạo tàn.

- Vậy thôi sao?

Người tù nhún vai:

- Thế cũng đủ.

Viên Đại tá bật lên cười:

- Có hai điều đáng phàn nàn trong ước muốn điên rồ của chú. Một là tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé trong hàng ngũ của những kẻ mà chú gọi là bạo tàn. Loại đi một cá nhân không thôi, sẽ chẳng có gì thay đổi đâu. Hai là hành động ấy của chú sẽ đổ dầu thêm vào lửa, nó không những không làm suy yếu hàng ngũ của những kẻ bạo tàn mà trái lại còn dấy động chúng nó lên bằng lòng hận thù. Một hành động như thế chỉ thuần túy cảm tính chớ không giải quyết được gì !

Người tù cãi lại:

- Tại sao không giải quyết được gì? Bè lũ các anh, bớt được một tên nào hay tên đó. Sẽ có ngày cả nước sẽ nổi dậy có cùng một hành động như thế, và lúc đó anh sẽ thấy mỗi cá nhân sẽ chỉ làm một việc nhỏ bé đó thôi, cũng đủ để làm nên đại cuộc rồi!

Mặt viên Đại tá bỗng nhiên nhăn lại. Ông ta biểu lộ sự bất mãn của mình bằng cách đập nhẹ bàn tay của mình xuống mặt bàn. Rồi ông nói, lần này người tù thấy rõ những nghị lực của ông ta như tuôn ra theo từng lời:

- Chú ở tù năm năm rồi mà còn ấu trĩ đến như thế à? Phải nói rằng chính sách cải tạo không nhằm dậy dỗ các chú trở thành những con người Cộng sản mà mục đích của nó là nhằm tiêu diệt khả năng đề kháng của những người ở phe của chú. Thành quả của nó thế nào, chú đã thấy. Phần đông các sĩ quan cải tạo về đều ôm một mơ ước đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài. Đó có phải là một hình thức tháo chạy hay không? Còn nhân dân nổi dậy? Họ làm sao nổi dậy được khi chính những người có khả năng chiến đấu, lãnh đạo như các chú chỉ có một mơ ước là muốn ra đi, và mặt khác làm sao họ nổi dậy được khi mà đời sống bây giờ đã thu gọn họ vào có một điều kiện duy nhất là lo chạy vạy để có miếng cơm hàng ngày? Chủ trương thắt bao tử để cai trị của chính quyền nó có tác dụng như thế nào, chú chưa nhìn ra hay sao?

Người tù như chết lặng đi vì những sự thực tàn nhẫn mà ông ta vừa trút lên đầu mình. Anh ta choáng váng đến độ cũng không thấy ngạc nhiên khi những sự thực ấy lại được thốt ra từ một cán bộ cao cấp của chính quyền, những kẻ mà vốn từ xưa tới nay chỉ quen nói những lời nhân nghĩa giả trá, đề cao chế độ đến tận mây xanh.

Đến lúc này thì người tù thực sự thấy cần một điếu thuốc. Anh ta muốn nén xuống cơn hoang mang cực độ đang xâm chiếm trọn vẹn tâm trạng của mình. Chẳng cần chờ đợi mời mọc, anh nhặt gói thuốc lên và gắn một điếu lên môi. Viên Đại tá nhoài người ra, cầm lấy cái bật lửa, mở nắp ra và đánh lửa lên. Lúc cúi xuống châm điếu thuốc, một lần nữa, người tù lại thấy rõ bàn tay run rẩy của ông ta.

Một lát sau, viên Đại tá lại cất tiếng:

- Kinh nghiệm cho chúng tôi biết, căm thù là nguồn nhiên liệu để nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh. Nhưng nếu chỉ biết căm thù không thôi thì tự mình cô lập mình. Nó là một con số trừ chứ không phải là con số cộng. Trong ý nghĩ đó tôi có thể nói, chú chỉ biết làm tính trừ chứ chưa biết làm tính cộng.

Người tù nhún vai:

- Tuyệt đối, không bao giờ chúng tôi làm tính cộng với những người như anh, cho dù anh là ruột thịt đi chăng nữa.

Viên Đại tá kêu lên:

- Chẳng có điều gì trên cõi đời này được gọi là tuyệt đối cả trừ cái chết của mỗi người. Đấy cũng là một điều chú nên trang bị cho nhận thức của mình.

Người tù nhìn người đối diện với ánh mắt ngạc nhiên. Anh ta cố gắng tìm hiểu những ẩn ý gợi lên đằng sau câu nói của ông ta. Tuy nhiên, anh không thấy điều gì khác hơn là ông ta đang là cán bộ quân sự cao cấp của bạo quyền và điều này chỉ có một ý nghĩa duy nhất là ông ta phải là người sẽ sống chết vì bạo quyền, cho bạo quyền. Nghĩ được như thế, người tù thấy mình thoải mái hơn. Anh ta tự thấy rằng mình không hề sai lầm khi vẫn giữ được thái độ hoàn toàn đối lập đối với ông ta, dù ông ta là ruột thịt. Anh em ruột thịt không có ý nghĩa gì hết đối với những kẻ đã lựa chọn đứng trên hai chiến tuyến. Anh chợt nhớ đến "con số cộng" mà ông ta vừa nhắc nhở đến. Bất giác, anh chợt nở một nụ cười mang đầy vẻ giễu cợt. Anh tự nghĩ "Làm gì có được con số cộng giữa tôi và anh. Đấy là chuyện ảo tưởng". Điều này lại lôi kéo anh qua ý nghĩ duyệt lại những người đứng về phe hàng ngũ của mình. Quả là viên Đại tá đã nói đúng khi đề cập đến mơ ước đoàn tụ của những người đã ra tù. Đó là một sự thực cay đắng. Nó cũng cay đắng như lúc nhìn vào hoàn cảnh của những con người đang tranh sống, chụp giật với tất cả tận cùng ý nghĩa của hai chữ sinh tồn để có được miếng cơm manh áo hằng ngày.

Bất ngờ, anh cảm thấy rùng mình khi biết rõ mình đang bị trôi xuống con dốc của nỗi tuyệt vọng. Nó làm anh nhược hẳn người ra. Anh cố gắng che giấu tâm trạng của mình bằng cách đưa điếu thuốc lên môi, rít một hơi thật dài và thở mạnh ra. Làm khói xanh tỏa ra mù mịt làm che mờ khuôn mặt của người đối diện. Người tù thấy rõ nỗi cô đơn đang phủ kín con người của mình. Bỗng có tiếng của viên Đại tá cất lên:

- Tôi không đến đây để dìm chết chú xuống bằng những nỗi tuyệt vọng mà chú đang cảm nhận ấy đâu. Không bao giờ có hai chữ tuyệt vọng đối với những người còn duy trì cho mình một mơ ước muốn thực hiện. Vấn đề là ở chỗ hãy bắt đầu từ những cái gì mình đang có chứ không phải cái gì mình muốn có. Và vấn đề là ở chỗ đừng bao giờ xây dựng những nhận thức của mình chỉ vỏn vẹn bằng cảm tính, bởi cảm tính chỉ là bước đầu của nhận thức trước những trực quan sinh động của thế giới khách quan bên ngoài.

Lại một lần nữa người tù tự hỏi "ông ta muốn ám chỉ cái gì đây?". Anh ta định nói toẹt ra thắc mắc này nhưng rồi lại kìm giữ được ngay. Bởi vì anh biết rõ, dù ám chỉ điều gì, ông ta vẫn là ông ta, một kẻ được tôi luyện trong bạo lực và trở thành một giai cấp quyền thế của bạo lực. Chỉ bấy nhiêu điều cũng đủ xác định vị trí của ông ta rõ rệt trong bất cứ hoàn cảnh nào rồi. Nghĩ như thế, người tù không nói năng gì thêm mà chỉ lơ mơ ngồi nhả khói với sự cố ý làm ra vẻ lơ là đối với những lời nói của viên Đại tá. Khoảng cách giữa hai người như thêm lên vì sự im lặng nặng nề lại kéo dài. Một lát sau, vẫn lại ông ta lên tiếng trước:

- Tôi có một thắc mắc nhỏ muốn hỏi chú. Tại sao những lần trước chú từ chối không gặp tôi, mà lần này chú lại chấp nhận cho tôi được gặp chú? Có điều gì thay đổi ở nơi chú không?

Người tù nhún vai:

- Chẳng có gì thay đổi hết. Tôi đồng ý gặp mặt anh không phải vì nghĩ tới anh mà vì lời trăn trối của bố.

Nhắc đến người cha thân yêu, giọng người tù như nghẹn lại. Anh ta chớp mắt nhiều lần, cố nén cơn xúc động đang ùa đến, và tiếp tục nói bằng giọng khó khăn, cắt quãng:

- Bố chết ở trại giam Chí hòa như anh biết. Giây phút cuối cùng có thằng Quang hiện diện. Anh nhớ thằng Quang con chú Sáu chứ ? Nó là cán bộ của Cục Bảo vệ Trại giam. Nó nghe được lời trối trăng của bố. Bố trối trăng rằng dù anh em thù hận thế nào thì cũng cố gặp nhau một lần. Như một hình thức nối lại sợi dây ràng buộc gia đình đã đứt quãng mấy chục năm. Còn anh? Anh làm gì trong thời gian bố tù tội và chết tức tủi trong trại giam?

Viên Đại tá cúi đầu, tránh né cái nhìn như xoáy vào óc của đứa em của mình. Ông ta nói:

- Khi đó tôi bận công tác ở bên Cam bốt. Mãi tôi mới được tin bố bị bắt. Khi có hoàn cảnh về thăm thì bố đã mất rồi.

Người tù cười nhạt, nụ cười vừa đắng cay vừa có tính chất thù nghịch:

- Thế cũng là may cho anh. Anh có lý do để bào chữa. Chứ thực ra, nếu có hoàn cảnh thì anh cũng chẳng làm được gì. Trong chế độ bất nhân này, bố là một chuyện, anh lại là một chuyện khác. Nhân danh Đại tá, anh cũng chẳng làm gì được cho bố hết.

- Chú nói đúng đấy. Cũng như hoàn cảnh của chú bây giờ, tôi có làm được gì cho chú đâu, ngoài mấy gói quà thăm nuôi.

Người tù chăm chú nhìn người anh, lần này anh ta dịu giọng:

- Ít ra anh cũng có đôi điều thú nhận sự thật. Nhưng nói cho ngay, một chế độ như thế, anh vẫn trung thành phục vụ thì kể cũng là chuyện lạ.

Viên Đại tá chợt mỉm cười:

- Thì chú "thuyết phục" tôi đi.

Người tù kêu lên:

- Tôi đâu có phí hơi sức để thuyết phục những người như anh! Mèo bao giờ cũng hoàn mèo!

- Chú lại đầy định kiến mất rồi? Khổ thay cho con số trừ thường trực của chú.

- Anh muốn tôi làm tính cộng hả? Muốn thế thì tôi phải thay đổi hay là chính anh phải thay đổi?

- Cả hai bên, chú à ! Chú rũ bỏ định kiến của chú đi, chú sẽ thấy tôi có thể là bạn đồng hành của chú. Ngược lại tôi cũng vậy. Và tôi nghĩ là tôi đang làm vậy.

Người tù cười khẩy:

- Đồng hành đi đâu? Làm gì? Hay là cùng nắm tay xây dựng cái chế độ phi nhân của anh?

Viên Đại tá chợt bật lên cười. Tiếng cười rổn rảng phá tan bầu không khí yên tĩnh của căn phòng, vọng ra cả hành lang phía bên ngoài. Cánh cửa ra vào bỗng sịch mở và anh bảo vệ viên thò đầu vào với vẻ mặt ngơ ngác. Anh ta bắt gặp tia nhìn lạnh lẽo của viên Đại tá đang ném về phía mình với một điệu bộ hách dịch, điều này khiến anh ta sợ hãi vội vàng đóng sập ngay cánh cửa lại. Sau tiếng cười, viên Đại tá châm thêm một điếu thuốc nữa và nét mặt trở lại vẻ trầm ngâm, lạnh lùng. Một lát sau, ông ta nói chậm rãi:

- Hai chữ Cộng sản hình như là một vấn đề ám ảnh đối với nhiều người, trong số đó có chú. Trong khi đó, thật ra đối với thế giới, nó đã trở thành lỗi thời. Nó lại càng trở nên lỗi thời đối với những người đã từng tích cực tham dự vào cái guồng máy ấy, như tôi chẳng hạn. Nói khác đi, chỉ những thằng ngu thì cho tới bây giờ vẫn còn tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản sẽ đem lại ấm no và hạnh phúc cho nhân loại.

Người tù nhìn viên Đại tá với ánh mắt ngạc nhiên. Anh ta tò mò nhìn ngắm kỹ khuôn mặt của người đối diện để tìm tòi xem ông ta đã che giấu bản chất qua sự giả trá đến mức độ nào. Nhưng anh ta không tìm thấy được điều gì qua cử chỉ của ông ta cả, kể cả sự thành thực. Rút cục, anh tự nghĩ, những thằng Cộng sản đều là những đứa nói láo, quan điểm, lập trường, nhận thức luôn luôn chỉ có tính cách giai đoạn. Nghĩ như vậy, anh cảm thấy lòng thản nhiên, chẳng hề thấy chút rung động trước những lời lẽ bất ngờ của ông anh quý hóa.

Viên Đại tá lại nói tiếp:

- Chủ nghĩa Cộng sản thuần túy đã biến đổi bản chất của nó từ lâu rồi. Hãy cứ nhìn cái cảnh những tên lãnh tụ siêu cường qua lại thăm viếng nhau và cụng với nhau những ly sâm banh thì đủ thấy!

Người tù chợt mỉm cười, cắt ngang lời nói của viên Đại tá:

- Anh già đầu rồi mà còn ngây thơ nhỉ! Hoặc giả anh là một chuyên viên kịch cỡm đang thủ một vai nói dối một cách ngờ nghệch!

- Đối với chú, tôi chả cần thiết phải nói dối làm gì. Chú ở đây đã năm năm mà vẫn còn một đôi chút bướng bỉnh. Nhưng mười năm nữa, mười lăm năm nữa, chú sẽ chỉ còn là một thân xác tàn úa, vô dụng, không đáng để tôi phải quan tâm!

- Thế thì anh là một kẻ ngây thơ ! Tụi tôi ngây thơ thì mọi sự cũng đã kể như xong rồi. Nhưng anh ở trong guồng máy của chế độ, anh mà ngây thơ thì chỉ có ngày guồng máy nó sẽ nghiền nát anh ra.

Viên Đại tá nhún vai:

- Thì tôi đã nói với chú rồi. Chỉ những thằng ngu mà bây giờ vẫn còn tin rằng chủ nghĩa Cộng sản là liều thuốc đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân loại. Tôi đâu có ngu!

Người tù cướp lời:

- Cho là anh sáng suốt đi. Nhưng cái xã hội tồi tệ này còn biết bao nhiêu là thằng ngu.

Viên Đại tá chặn ngang:

- Không! Chúng nó cũng không ngu gì. Một số đông đã nhận chân ra sự thực thì hoặc câm nín hoặc còn đang trăn trở nhìn lại con đường đã đi qua của mình. Một số khác có cơ hội được hưởng thụ thì đang cố gắng níu lấy điều giả trá để mưu cầu đặc quyền đặc lợi cho bè lũ phe nhóm của mình. Chú cứ nhìn kỹ mà xem, bọn chúng nêu chiêu bài chống phong kiến bóc lột, nhưng trong đời sống thực tế, chúng nó phong kiến hơn ai hết. Chúng nó nêu khẩu hiệu "Không gì quý hơn độc lập, tự do" nhưng chúng nó tước đoạt độc lập tự do của con người hơn ai hết. Nếu phải dùng danh từ "ngụy" thì chính chúng nó ngụy hơn ai hết.

Người tù giương to đôi mắt để cố nhìn ngắm con người đối diện. Anh ta lại không tin những lời lẽ vừa phát ra lại là của "ông anh Đại tá" của mình? Thâm tâm anh tự nhủ phải hết sức thận trọng để tránh cái cạm bẫy mà tên cán bộ cao cấp này đang giăng ra. Thói quen theo thành kiến có sẵn đã tạo cho anh cái thái độ dè dặt. Cuối cùng, anh đã nói:

- Tôi chẳng cần mất công đánh giá những lời phát biểu của anh thành thực đến mức độ nào. Tôi chỉ tự hỏi tại sao bỗng dưng anh lại đem những lời đó ra nói với tôi? Để làm gì cơ chứ ?

Trầm ngâm một lát, viên Đại tá mới nói:

- Chú không nhớ những lời trăn trối của ông cụ à? Cụ dặn rằng dù anh em thù hận đến mức nào thì cũng cố gặp nhau một lần, như một hình thức nối lại sợi dây ràng buộc gia đình đã đứt quãng mấy chục năm. Tôi cho rằng, gặp nhau để rồi vẫn thù hận về nhau thì sự gặp gỡ chẳng mang lại ý nghĩa gì. Mà tại sao ta phải làm như thế trong khi mọi sự đều đã đổi thay? Chú có một mơ ước về đời sống ấm no, hạnh phúc thì tôi cũng vậy. Và tôi tin rằng nhiều người trên giải đất này cũng đều như vậy. Tại sao không thể nhìn nhận nhau để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương?

Người tù nhìn ông anh của mình bằng cặp mắt lạnh lùng. Anh phấn đấu trong lòng một cách dữ dội và lý trí của anh luôn luôn nhắc nhở "Đừng tin những gì Cộng sản nói, hãy nhìn những gì Cộng sản làm". Điều này khiến anh cảm thấy tự tin hơn và anh buông một câu lạnh lùng:

- Nếu có điều kiện thì tôi chắc chắn sẽ toan tính một cái gì với bất cứ ai, trừ những tên cán bộ Cộng sản!

- Nghĩa là chú vẫn chỉ thích có một con toán trừ ?

- Phải ! Trừ đi những kẻ như anh.

- Bằng cách nào?

- Có được súng trong tay, tôi sẽ bắn không tiếc tay.

Viên Đại tá nhìn anh ta bằng đôi mắt lạnh lùng. Rồi bằng một cử chỉ hết sức bất ngờ, ông ta rút khẩu súng ở phía sau thắt lưng ra và ném lên bàn. Ông buông sõng một câu:

- Có súng rồi đó ! Chú bắn đi !

Người tù sửng sốt nhìn ông ta bằng một vẻ bàng hoàng. Anh ta không thể ngờ được rằng tình thế đã du mình tới cái giây phút ấy. Anh hết nhìn người đàn ông trước mặt rồi lại liếc khẩu súng đang nằm tênh hênh trên mặt bàn. Nó là một khẩu nhỏ nhắn, quen thuộc, dễ sử dụng, có nước thép bóng ngời như lúc nào cũng được lau chùi kỹ lưỡng. Thốt nhiên anh nhoẻn một nụ cười chế nhạo:

- Anh đừng dọa tôi. Súng của anh làm gì có đạn! Tôi thừa biết mánh khóe của anh rồi!

Viên Đại tá lẳng lặng chộp lấy khẩu súng, và bằng những ngón tay thiện nghệ, ông ta lật cái ổ đạn qua một bên cho người tù nhìn thấy những viên đạn sáng ngời. Sau đó, ông ta kéo cơ bẩm cho viên đạn sẵn sàng lên nòng. Rồi ông ta ném trả lại nó trở lại chỗ cũ với tất cả sự lạnh lùng đến ghê rợn. Cử chỉ của ông ta làm cho người tù chết lặng đi. Anh đã bị dồn vào cái thế phải chọn lựa. Và anh chợt phát giác ra rằng nói thì được chứ thực hành điều mình nói sẽ không phải dễ dàng gì. Phải chi viên Đại tá này không phải là anh ruột của mình! Phải chi hai người đang đối diện với nhau ở ngoài trận địa. Phải chi ông ta không tự nguyện thấy khẩu súng cho kẻ đối diện để giục dã hắn ta bắn lại chính mình. Những điều kiện "phải chi" ấy cứ dồn dập nảy ra trong óc của người tù khiến cho tâm trạng của anh bấn loạn lên. Anh thấy mồ hôi rịn ra ướt cả chân tóc và đầm đìa một mảng lưng. Anh thấy mình đang rũ liệt và anh cảm thấy mình không đủ can đảm để cầm khẩu súng trên tay.

Chờ đợi một lát, khi đã nắm chắc phản ứng của người tù, viên Đại tá mới lẳng lặng nhặt khẩu súng lên, trả nó lại vị trí ở sau lưng như cũ, rồi ông ta mới nói:

- Như thế là đủ. Tôi thấy chú chẳng có lòng dạ nào cầm súng bắn tôi, mặc dù chú vẫn thường xuyên bị ngự trị bởi lòng hận thù. Cuộc đời còn đáng sống chính là cái yếu tố nhân bản ấy.

Người tù nhìn ông ta thảng thốt:

- Tại sao anh lại làm như vậy chứ ?

Viên Đại tá nhún vai:

- Để cho chú tin rằng những điều tôi nói với chú là thực. Trong hàng ngũ của những kẻ mà chú coi là thù nghịch, thật ra vẫn còn ẩn chứa những nhân tố có thể đem áp dụng toán cộng chứ không phải là toán trừ. Nếu cứ ôm mãi quan niệm chỉ làm tính trừ, chú sẽ chẳng bao giờ có hy vọng thay đổi được cái xã hội này đâu.

- Nhưng tôi là một thằng tù. Bài học ấy của anh, trong hoàn cảnh tôi, có áp dụng được gì đâu!

- Tù thì vẫn có ngày hy vọng được thả. Vấn đề là ở chỗ gìn giữ được cho mình một niềm tin, một hy vọng. Niềm tin và hy vọng ấy phải được xây dựng trên một cái nhìn sáng suốt và khách quan chứ không phải là những thành kiến cố hữu. Thế thôi !

Nói hết lời, viên Đại tá đứng dậy. Ông ta xòe một bàn tay ra trước mặt người tù. Anh ta rụt rè một giây rồi giơ tay ra nắm lấy bàn tay xương xẩu, với nước da đen xạm có nổi lên những đường gân xanh. Đột nhiên, anh xiết chặt lấy bàn tay ấy, và lần đầu tiên anh có cảm giác buốt nhói của một tình thân thiết ruột thịt.

Hai người nhìn nhau trong yên lặng một hồi lâu rồi cùng tiến ra phía cửa phòng. Lúc viên Đại tá giơ tay cầm lấy cái nắm cửa thì người tù vội vã chặn lại, và thốt lên hỏi:

- Tại sao anh lại làm như thế ? Nếu tôi chai lì, cứ lượm khẩu súng lên và bóp cò thì sao?

Viên Đại tá ôm lấy bờ vai của em mình, xiết chặt rồi thủ thỉ:

- Tôi hiểu rõ những con người đã được đào luyện và giáo dục trong xã hội tự do, nhân bản. Chú là em của tôi. Điều đó có nghĩa là dù ở hoàn cảnh nào, trong lòng chú vẫn có những tình cảm máu mủ ruột thịt. Nếu chú được sinh ra và lớn lên ở xã hội Cộng sản, có lẽ tôi đã xử sự theo cách khác.

NHẬT TIẾN
2.1989

Phần Thứ Ba

Hãy Làm Sạch Môi Trường Chữ Nghĩa Hải Ngoại


Chương 1

HÃY LÀM SẠCH MÔI TRƯỜNG CHỮ NGHĨA HẢI NGOẠI

 

Một vài thân hữu có nhã ý ngỏ lời nhận xét về tôi, đã cho tôi một trong những người "rất hết lòng với chữ nghĩa". Tôi xin cám ơn và hy vọng rằng, với hai cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa vừa ấn hành có thể sẽ không làm phụ  những tấm lòng đã ưu ái dành cho tôi cái nhận xét đó.

Nói cho đúng ra, hầu như tất cả những ai đã từng cắp sách đến trường ở vào thời buổi xa xưa, cái thời mà miệng còn ê-a những bài trong các cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu, lớp Dự Bị….thì hầu như ai đều cũng đã rất hết lòng với chữ nghĩa.

Ở vào trường hợp của tôi cũng vậy. Ngay từ hồi còn bé, tuổi thơ của tôi cũng đã thấm đẫm biết bao nhiêu là lời hay, ý đẹp mà các thế hệ cha anh đã để lại đầy dẫy trong sách vở.

Khi vừa mới bắt đầu bước vào năm đầu tiên của bậc tiểu học, tôi cũng đã từng nghêu ngao bài học trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu:

"Hỡi các cậu bé con

đang lúc tuổi còn non,

các cậu phải chăm học,

có học mới nên khôn.".

Rồi thì những năm sau đó, nhà trường đã luôn dạy dỗ chúng tôi toàn những lời hay, ý đẹp, những bài học luân lý dạy làm người ngay từ thuở đầu đời như "Đi học để làm gì", "Chọn bạn mà chơi", "Học trò biết ơn thầy", "Làm người phải học" ..v..v..

Trải nhiều năm ròng rã của thời thơ ấu, đầu óc của tôi vẫn vang vang những câu trong các bài học thuộc lòng, như:

Thấy người hoạn nạn thì thương,

Thấy người tàn tật lại càng trông nom.

Thấy người già yếu ốm mòn,

Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.

Những lời lẽ nghe đơn giản, mộc mạc là thế nhưng đã thấm sâu vào trí não của lũ con trẻ chúng tôi, không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ , để từ đó đã tạo dựng nên những con người khi lớn lên, bước vào đời sống trong xã hội đã biết tôn trọng các phẩm chất làm người

Thế mới biết thế hệ cha ông chúng ta trong chủ trương gắn bó những giềng mối như Gia đình, Học đường, Xã hội đã dụng công kiến tạo một truyền thống văn hóa vô cùng tốt đẹp mà tiếc thay, càng về sau này đã càng bị những biến động chính trị, xã hội làm cho bị  bào mòn, hay hủy diệt đi.

Vậy những nguyên nhân nào đã góp phần vào sự bào mòn và hủy diệt đó?

Dĩ nhiên, thủ phạm chính yếu vẫn là đường lối, chính sách và chủ trương của nhà nước CS.

Sự tàn phá truyền thống văn hóa của CSVN đã thể hiện rõ ràng nhất qua các cuộc Cải Cách Ruộng Đất  trời long đất lở mà hàng vạn gia đình đã xẩy ra những thảm kịch: con tố cha, vợ tố chồng. Bộ mặt bất nhân, tàn ác của đám lãnh đạo CS vào thời điểm bấy giờ (thập niên 50 của thế kỷ trước) đã bộc lộ rõ ràng, và chính sách của họ đã tàn phá biết bao nhiêu gia đình, hủy diệt biết bao nhiêu nhân mạng cũng như tài sản văn hóa.

Sau này, mức độ tàn phá không thể hiện cụ thể trên khía cạnh vật chất nhưng vẫn tồn tại trong chủ trương giáo dục, chỉ nhằm biến con người  trở thành công cụ phục vụ cho chế độ (khác xa với nền giáo dục nhân bản truyền thống).

Hậu quả của chính sách giáo dục phục vụ chính trị  này ngày nay đã bộc lộ quá rõ: kỷ luật nghiêm minh ở chốn học đường đang trên đà lụn bại, nền đạo đức xã hội càng ngày càng suy đồi...chỉ cần xem tin tức trên báo chí trong nước hàng ngày là đủ thấy rõ.

Đấy là lý do khiến cho hàng triệu con người đã bỏ nước ra đi và cho đến nay vẫn còn quy tụ trong một cộng đồng hải ngoại với lý tưởng chống CS  để có Tự do, Dân chủ trên quê hương  đất nước.

Tuy nhiên, công cuộc chống Cộng của người Việt hải ngoại đã nhiều khi bị nhiều kẻ nhân danh chính nghĩa này để quấy hôi bôi nhọ bằng nhiều cung cách tệ mạt, như  tráo trở, đổi trắng thay đen, sử dụng những ngôn ngữ ti tiện hạ cấp làm hạ phẩm giá con người như đã  thấy trên mặt báo chí hay Internet ở hải ngoại trong suốt mấy chục năm qua.

Đặc biệt, một vài bút hiệu vốn đã nổi tiếng về những thủ thuật gian manh gây chia rẽ để phá nát  hàng ngũ cộng đồng mà lạ thay,  hầu như ai cũng thấy mà ít ai dám lên tiếng

Sự quấy rối và phá nát hàng ngũ này đã được thể hiện qua những cung cách như sau :

- Dựng đứng bất cứ một câu chuyện nào, bất chấp sự thật, bất chấp liêm sỉ để hòng triệt hạ đối thủ nhân danh chính nghĩa chống Cộng.

- Trong tiến trình dựng chuyện, bịa đặt, xuyên tạc, thì đủ loại ngôn từ, đủ cách ví von, lươn lẹo hạ cấp nhất đã được  đem ra  sử dụng để triệt hạ đối thủ. Kết quả là, những bài viết, những câu thơ vần vè theo cung cách như thế đã làm nhơ nhuốc bộ mặt chân chính của Cộng đồng người Việt hải ngoại, làm gương xấu vì đã tạo thói quen dùng ngôn ngữ vô giáo dục, vu cáo, ăn nói hàm hồ, chụp mũ, bịa đặt. Điều này khiến cho thế hệ trẻ đi sau sẽ  hoặc là khinh miệt trình độ giáo dục thấp kém của cha, ông, hoặc là bắt chước, đua đòi theo kiểu viết lách hung hãn, đem ứng dụng trong mọi cuộc tranh chấp cần đến sự hỗ trợ của chữ nghĩa.

Đã đến lúc tình trạng này cần phải được cộng đồng triệt để lưu tâm tới và  những  thủ đoạn của đám cầm bút đầu gấu, chuyên việc trấn áp và triệt hạ nhiều nhân vật có thiện chí của Cộng đồng cần phải được tiếp tục phơi bầy ra ánh sáng.

Xin lần lượt điểm qua từng tên tuổi đã và đang còn quấy hôi bôi nhọ trong địa hạt chữ nghĩa.

NGUYỄN HỮU NGHĨA

( còn xài nhiều bút hiệu khác như  Cung Vũ, Cả Cười, Mõ Làng Văn, Dương Thượng Ngã, Bút Chì  -  Chủ bút tờ Làng Văn ở Canada )

Làng văn, làng báo trong cả chục năm qua hầu như không ai còn lạ gì một nhân vật thâm hiểm, bất nhân, bất nghĩa nổi tiếng vì cung cách hành xử ném đá giấu tay, vốn đã từng là kẻ gây biết bao nhiêu ngộ nhận cũng như xáo trộn trong văn giới, báo giới bằng những thủ đoạn như dựng chuyện, xuyên tạc, gửi fax mạo danh người khác, cắt xếp lại thư tay của người khác để có một bản văn mới, nội dung gây chia rẽ đoàn thể để hòng chiếm đoạt vai trò lãnh đạo..v..v…

Kẻ đó tên là Nguyễn Hữu Nghĩa.

Trong Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn 1, tôi đã trình bầy trường hợp chính tôi là nạn nhân xuyên tạc của tên này.

Ngay sau khi sách phát hành, Nghĩa lại đưa lên mạng một loạt bài trích trong cuốn Chém Đá của tác giả Sắc Không (tức Nguyễn Hữu Nhật) do Làng Văn, cơ sở xuất bản của Nghĩa ở Canada ấn hành, với ý đồ lợi dụng tình thế để  vừa bán thêm sách, vừa dùng bài viết của Nguyễn Hữu Nhật trong mục Chém Đá để tiếp tục bôi nhọ tôi một lần nữa.

Riêng chuyện Chém Đá này, tôi xin dành xuống phần dưới (trang 187), khi đề cập đến những chuyện xoay quanh giữa tôi và Nguyễn Hữu Nhật.

Trong phần này, tôi chỉ xin nhắc lại một vài vụ việc mà Nguyễn Hữu Nghĩa đã gây ra trong làng Văn, làng Báo mà tài liệu ghi gói vẫn còn tồn tại trên nhiều trang mạng, với nhiều nhân sự thuộc nhiều lãnh vực khác nhau đã đề cập tới.

1) Nguyễn Hữu Nghĩa hại đời tư nhà văn Võ Kỳ Điền ra sao ...do nhà báo Hải Triều tường thuật như sau :

(trích)

Ngày 16/5/1998, tôi ( nhà văn Hải Triều) có mặt ở Montreal chuẩn bị cho buổi nói chuyện và ra mắt tập "Vết Hằn Để Lại Nghìn Sau" ngày Thứ Bẩy 17/5. Đêm đó, tôi ngủ nhà anh Võ Kỳ Điền. Lâu mới gặp nhau, anh buồn buồn tâm sự muôn thứ chuyện, trong đó có chuyện "phone tặc" hại gia đình anh:

"Anh nghĩ, cứ nửa đêm, vợ chồng đang say giấc, nó gọi phone; bốc phone, một giọng nói xa lạ vọng lên trong máy: Có (TSTYĐB) nằm bên cạnh không? Có lúc tôi bắt phone, có lúc vợ tôi bắt phone, và bà không thể kéo dài tình trạng này. Gia đình tan vỡ!"

Không có một người đàn bà nào nằm bên chồng mà chịu nổi cái cảnh này. Hai vợ chồng, vì hậu quả chuyện fax rơi do người làm văn hóa bằng tờ Làng Văn/Nguyễn Hữu Nghĩa chế ra, và chuyện phone tặc mà ly dị nhau.

Chuyện "phone tặc ban đêm" trên đây, thực ra chỉ là cơn mưa rớt còn lại của vụ nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa có trong tay một bức thư "riêng tư tình cảm" liên hệ đến nhà văn Võ Kỳ Điền, và ông chủ bút Làng Văn đã chơi cái trò bỏ vô máy Làng Văn rồi gửi đến cho bà xã nhà văn Võ Kỳ Điền để những ngày sau đó, gia đình người ta tan nát trong cơn bão cách ly, đường ai nấy đi!

Xin viết lại cho độc giả rõ, nhà văn Võ Kỳ Điền một thời chính là cộng tác viên có tên trong danh sách Làng Văn, khi thấy không thuận thì Nguyễn Hữu Nghĩa thẳng tay cạn tàu ráo máng!

Lúc thực hiện cái trò bá đạo đen tối này, chủ bút Nguyễn Hữu Nghĩa nhà ta cẩn thận dấu đi cái số fax của máy Làng Văn để phủi tay sau khi gửi đi, nhưng cái máy fax ở sở của chị Võ Kỳ Điền qua cái "journal report" ghi lại được số fax nơi gởi: "(416). 240. 0342 lúc 15.49 ngày 17.08.1992. Đó là số fax in trên trang 1 của tờ Làng Văn! Nguyễn Hữu Nghĩa đã bị bắt quả tang, chối lòng vòng, nhưng sau cùng phải thú nhận!

"Chuyện này cả thế giới đều biết, tôi không cần chạy lại cái "fax rơi" đó làm chi cho buồn lòng bạn tôi, anh Võ Kỳ Điền. Cái thứ "fax rơi" cỏ rác đó in vào sách chỉ làm bẩn sách mà thôi. Có điều rôi rất bất nhẫn và thất vọng về tình trạng nín khe của những thức giả Văn Bút Hải Ngoại trước những oan khiên của nhà văn Võ Kỳ Điền; trong lúc, chánh phạm gây ra cái vụ vô đạo này vẫn nhởn nhơ múa gậy vườn hoang như những ngày "giả chết vô bưng, hồi sinh về thành" mấy mươi năm trước; trái lại anh ta còn trở thành nhân vật được một số thức giả trọng nể, tin cậy và đang là cố vấn cho Hưng ca và giám sát một vài hội đoàn cựu quân nhân ở miền Đông Canada...

Tôi nhớ, cũng vì "phục" chuyện fax rơi này mà sau khi ông Nguyễn Hữu Nghĩa ra một tập tham luận chính trị lấy tên là "Dọn Đường Về Nước", một độc giả chúng tôi gửi về tòa soạn hai câu thơ nhờ gửi tặng chủ bút Làng Văn:

 Dọn đường về nước ai ơi

 Nhớ đem máy fax thư rơi mà dùng!

Kể ra, việc xấu đến độ tán tận lương tâm cũng tạo được ít tiếng vang trong đời, thì người ta đâu cần chuyện làm việc tốt chi cho mất công!

" Như vừa nói trên, tôi không có ý đánh máy để in lại "lá thư fax rơi" của Nguyễn Hữu Nghĩa ký dưới tên Chung (nhưng có bản chụp ở phần phụ bản sau khi anh VKĐ bỏ đi một đoạn.), nhưng tôi chạy lại nguyên văn hai thư nhà văn Võ Kỳ Điền đã gửi thẳng cho tôi và tạp chí Lửa Việt, để độc giả đọc chính những gì "nạn nhân" viết về vụ "thư fax rơi" của nhà làm văn học kiêm chủ bút Làng Văn Nguyễn Hữu Nghĩa.

Thư số 1.

- Laval 7 Sept 1992

Anh Hải Triều thân mến,

Hôm trước tôi có gởi cho anh xấp tài liệu liên quan tới vụ thư rơi do Làng Văn gởi. Tài liệu vẫn có giá trị, vì việc tôi làm chính đáng, trách nhiệm, có sự cố vấn của luật sư đàng hoàng. Tuy nhiên cô XX khi hay tin, có vẻ lo sợ vì một vài chi tiết đời tư mà cô ta không muốn bị phơi bày. Tôi thông cảm điều đó, và tôi có điện thoại cho anh ngay tối hôm thứ Bẩy nhưng chỉ gặp được người nhà. Chắc cô ta đã nói với anh.

Hôm nay, cũng do sự cố vấn của luật sư, tôi gởi đến anh bản đính chánh lá thứ hai này có xóa bỏ vài dòng, câu xúc phạm nặng nề đời tư cô X. X. còn lại bức thư nặc danh vẫn giữ nguyên. Nếu khi dùng để viết bài liên quan đến vụ "thơ rơi" này, anh nên dùng bản này ( bản có xóa vài dòng) để làm tài liệu chính thức.

Mọi sự trông cậy vào anh.

Thân mến

Võ Kỳ Điền

Thư số 2.

- Laval ngày 12 tháng 11 năm 1992

Kính anh Hải Triều

Tôi cám ơn anh nhiều lắm. Vừa qua, tờ Làng Văn+Chiến Sĩ Tự Do để nguyên một số báo mạ lỵ tôi, lời lẽ hàm hồ, mất dạy. May quá, nhờ có Lửa Việt ra kịp lúc với bài của Phạm Hoàng, bài của anh, tôi cảm thấy hả dạ. Anh đã trả lời dùm tôi, tát vào mặt tụi nó những cái tát đau điếng. Nghĩa bị mất mặt vì vụ thơ rơi nên lồng lộn như con thú bị thương, lúng túng biện bạch.

Nó là tên trây trúa hạng nặng nên chắc sẽ phản ứng bằng hai thái độ ở thời gian tới. Sau bài đánh phá tôi, nó sẽ nằm im để dưỡng thương, chờ thiên hạ quên đi rồi sau đó sẽ tính tới theo kiểu VC, lui một bước để tiến tới hai bước. Hai là sẽ tiếp tục bôi tro trát trấu vào tôi theo kiểu đánh anh, Hà Thúc Sinh, Huỳnh Dung lúc trước. Nó ỷ có tờ báo trong tay và một số báo phe đảng. Tôi lúc nào cũng sẳn sàng để viết bài tiếp tục lột mặt nạ nó và không bao giờ lùi bước hết. Đã chấp nhận chiến đấu rồi thì không hề lùi bước, nhưng mục đích của tụi Nước Đục là cố ý đánh phủ đầu tôi để tôi không dằn được cơn nóng giận, trả lời qua, trả lời lại, nó sẽ nhân theo đó mà đánh vào chỗ yếu của mình....

Sau loạt bài đánh phá tôi, rất nhiều bạn bè thân tình đều khuyên tôi im lặng, không nên trả lời, vì trả lời là mắc bẫy nó. Tôi tuy tức giận lắm, nhưng cũng thấy được những lời khuyên đó là quý báu. Người ta có thể dùng lý luận để làm sáng tỏ sự thật chứ không thể dùng lý luận để bóp méo, che dấu sự thật.

Đã hơn một lần tôi nhịn được là không công bố bài viết trả lời Trà Lũ, tuy tôi đã "nạp đạn xong và sắp bắn". Điều đó rất hay, vì hôm nay có bài của anh và của Phạm Hoàng hay hơn bài của tôi nhiều lắm. Trong cơn tức giận, có nhiều khi ý kiến của mình chủ quan sơ sót, tôi lại không quen với lý luận đấu tranh. Bạn bè ở bên ngoài nhìn vấn đề sáng suốt và khách quan hơn...

Một lần nữa, cám ơn anh và Lửa Việt nhiều lắm.

Thân mến

Võ Kỳ Điền

(Chấm dứt phần trích thư Võ Kỳ Điền)

Tôi (tức nhà văn Hải Triều) xin minh bạch rằng, tôi với anh Võ Kỳ Điền chỉ là bạn văn mà thôi. Thấy bạn mình ngộ nạn oan khiên từ một hành vi tà đạo của một kẻ làm văn hóa có tờ báo và nhà xuất bản, phe nhóm trong tay, trong lúc Võ Kỳ Điền không có báo, tôi nhào vô cứu bồ bạn tôi.

Chủ quan, tôi nghĩ rằng tôi làm việc công đạo, Nguyễn Hữu Nghĩa làm là việc tà đạo; một phần vì việc lén ngụy tạo thư rơi rồi fax đến vợ người ta để phá gia cang người ta là tội bị xuống địa ngục, hay đáng làm mồi câu cá mập; một phần khác là cả Nguyễn Hữu Nghĩa (Trung tâm VBVNHN Ontario) và Võ Kỳ Điền đều là thành viên Văn Bút VNHN thuộc hai trung tâm miền Đông Canada (Võ Kỳ Điền là Tổng Thư Ký VBVNHN Trung tâm Quebec). Ông Ontario xắn bàn tay lông lá "sát thủ" ông Quebec bằng một đòn hạ cấp mà không có cái hội văn chương, chữ nghĩa nào có thể chấp nhận nổi. Thế mà ông Nguyễn Hữu Nghĩa vẫn được bốc lên mây trong VBVNHN, thì cho kẹo dừa tôi cũng không vào để làm thành viên. Ông Nguyễn Hữu Nghĩa và Khải Chính Phạm Kim Thư cứ đoán mò rồi quả quyết là Hải Triều gia nhập Văn Bút Viên Linh, gom chung vào một mối để ném bùn, là một điều rất ư là tầm bậy.

Ở Hoa Kỳ, trừ nhà văn Nguyễn Tà Cúc, không biết có vị thức giả Văn Bút nào cảm thương hoàn cảnh nhà văn Võ Kỳ Điền mà viết lên được một chữ bất bình! Dường như không có mấy ai! Cả cho đến lúc này.

Hải Triều

(Hải Triều-Vũng Lầy Văn Báo Hải Ngoại –  Chương13)

Nguồn: http://www.freewebs.com/matthatnguyenhuunghia/nhn_vokydien.html

2) Nguyễn Hữu Nghĩa gây chia rẽ hàng ngũ người Việt Quốc Gia :

Ghi chú : Những điều ghi trong mục 2 , 3, 4 là do nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn tiết lộ sau một thời gian dài cộng tác với Nguyễn Hữu Nghĩa, và nhờ đó nhà văn có điều kiện thấu rõ những hành vi đốn mạt của người cộng tác với mình. Vài đoạn trích từ báo TỰ DO số 107 - Tháng 1.1998, phát hành tại Toronto, Canada :

(trích)

Năm 82, khi Mặt  trận Hoàng Cơ Minh vừa ra đời, đang hoạt động mạnh, Nguyễn Hữu Nghĩa liền phịa ra bản tin "Hội Cựu Quân Nhân Ontario họp đại hội lên án kháng chiến bịp", gửi cho tờ Việt Nam Hải Ngoại. Tờ này đang chống Mặt Trận nên mừng rỡ đăng lên ngay không kiểm chứng ! Mục đích của Nghĩa là để Mặt Trận và Hội Cựu Quân Nhân Toronto thù nhau!  (báo Việt Nam Hải Ngoại số 125/tháng 8/82).

3)  Nguyễn Hữu Nghĩa viết thư nặc danh để chiếm đoạt quảng cáo :

(trích)

Năm 84, vừa dứt tờ Lửa Việt để làm tờ Làng Văn, Nghĩa liền viết thư nặc danh gửi cơ quan chính quyền Canada đang đăng quảng cáo trên Lửa Việt, cốt để cơ quan này cúp quảng cáo trên Lửa Việt mà chuyển sang Làng Văn ! Thư nặc danh, nhưng Nghĩa viết tay, không ngờ cơ quan này gửi lá thư đó cho Lửa Việt ! Tôi đang làm công việc hòa giải giữa Làng Văn và Lửa Việt, nhìn lá thư của Nghĩa do Bùi Bảo Sơn đưa ra, tôi ngượng quá, không biết nói gì để phân trần cho Nghĩa !

4) Nguyễn Hữu Nghĩa cắt xén thư tay của nhà văn Hà Thúc Sinh để hoàn thành một lá thư tay khác nhằm lũng đoạn phong trào Hưng Ca  :

(trích)

Thâm độc hơn nữa là Nghĩa lấy thư viết tay của Hà Thúc Sinh, cắt xén từng chữ, rồi ghép lại những câu theo ý mình để chửi người khác ! Sau đó Nghĩa đem photo và gửi cho anh em trong phong trào Hưng ca, mục đích để họ ghét Hà Thúc Sinh mà đứng hẳn về phe Nghĩa ! Những câu Nghĩa ráp nối ấy, mang nội dung chửi Hưng ca mà mọi người cứ tưởng Hà Thúc Sinh viết, bởi đúng là bút tự của Hà Thúc Sinh ! Ngày ấy Hà thúc Sinh và Nguyễn Hữu Nghĩa cùng là phong trào trưởng phong trào Hưng ca. Một rừng hai cọp ! Nghĩa muốn Hưng ca chống lại Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, Hà Thúc Sinh không bằng lòng, chủ trương hoặc thân Mặt Trận, hoặc ít ra cũng không chống ! Kết quả là Nghĩa thắng là nhờ nhiều mánh khóe và nhờ có tờ Làng Văn trong tay.

Nguyễn Ngọc Ngạn - 25.11.97

(Trích từ báo TỰ DO số 107 - Tháng 1.1998, phát hành tại Toronto, Canada)-

Chương 2

NGUYỄN HỮU NHẬT

(Còn có bút hiệu SẮC KHÔNG, phụ trách  mục Chém Đá trên tờ Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa,
sau gom một số bài in thành 2 cuốn:

CHÉM ĐÁ, ĐÁ ĐỔ MỒ HÔI do Làng Văn xuất bản.)

 

Tôi (Nhật Tiến) và ông Nguyễn Hữu Nhật không hề có chuyện giao du, thân thiết để sinh lòng yêu mến hay thù oán, ganh ghét nhau. Giữa hai người chỉ có một sợi dây ràng buộc duy nhất: Nguyễn Hữu Nhật là chồng sau của nhà văn Nguyễn thị Vinh, mà gia đình chúng tôi trước đó hàng mấy chục năm thì đã coi bà Nguyễn thị Vinh như một người thân thiết, các con tôi thường gọi bà Vinh là "me Vinh".

Nếu Nguyễn Hữu Nghĩa không post lại trên internet một đoạn của cuốn Chém Đá sau khi cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa của tôi vừa được phát hành, thì tôi vẫn hoàn toàn không hay biết gì về việc Nguyễn Hữu Nhật đã từng liên tục bôi nhọ tên tuổi của tôi trên báo Làng Văn từ hơn 10 năm trước đó, rồi sau lại còn cho in thành sách nữa !

Nội dung đoạn Nguyễn Hữu Nghĩa đã post lên Net trong tháng 3 -2012 vừa qua như sau :

Giới thiệu sách: CHÉM ĐÁ -Tác giả: Sắc Không -Nhà xuất bản: Làng Văn

Số trang: 224-Giá : 12 mỹ kim (kể cả cước phí đường bộ trong Canada và Mỹ)-Trả bằng Paypal cho: langvan@langvan.net- Hoặc gửi chi phiếu về:Làng Văn -250 N. Service Rd. Grimsby, Ontario L3M-4E8 Canada

Mời đọc một đoạn:

CHIM HÓT TRONG LỒNG

Mỗi người Việt là một nhà thơ, trừ Sắc Không, một kẻ gần thành... nhà thơ, bởi "sở trường gồm rất nhiều sở đoản và sở đoản là chẳng có sở trường nào cả". Ngay cái tên Sắc Không, nằm trong câu hỏi - dao chém đá có sắc không- cũng đủ sặc mùi quê rồi. Nào có biết chi về "sắc tức thị không, không tức thị sắc" trong Tâm Kinh nhà Phật, xin quí bạn đọc đừng hỏi gì cao xa thêm nữa.

Trong số những người cật vấn Sắc Không, hân hạnh thay có cả nhà văn Nhật Tiến, tác giả tập Chim hót trong lồng (có giê), hôm qua đã gay gắt hỏi Sắc Không:

- Này! Anh thấy tôi và Nguyễn Chí Thiện khác nhau ở chỗ nào?

-  ……....

- Cứ nói! Giữa hai lằn đạn bắn ra. Một mình đi tới mà ta chẳng sờn. Huống hồ...

- Khác ở chỗ này: Bùi Nhật Tiến là nhân vật cai ngục trong thơ Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Chí Thiện là nhân vật bà sơ trong truyện của Bùi Nhật Tiến!

Chưa hết, nhà văn Nhật Tiến còn cố hỏi thêm:

- Người ta bảo ở hải ngoại này có "tam Bùi qui độc". Hai người kia là Bùi Duy Tâm và Bùi Tín. Lạ thật, tên ba anh em chúng tôi, cùng khác cha mẹ, đều vần T. Nhưng anh thấy ai đáng mặt "đệ nhất độc"?

- Không dám. Nhưng nhà thơ Mậu Binh Hà Huyền Chi có một bài thơ nói về việc ấy. Ông có thể nghe...?

- Được!

- Tôi xin đọc:

Chó săn thua đứt chim mồi,

những tên cầm-bút-làm-bồi, gáy vang

Sông Đà bọt nổi sớm tan

giả làm Mặt Thật càng tàn rụi nhanh

Quê Người hết em lại anh

ra công giấu vuốt, che nanh Quê Nhà

Sự thật sao không nói ra:

Bởi đâu con trẻ, người già đói ăn?

° ° °

Ngay sau khi đoạn văn kể trên được đưa lên net, một độc giả tên Hà Xuân Thắng đã gửi email chất vấn Nguyễn Hữu Nhật như sau :

From: "Thang Ha" <haxuanthang1@yahoo.com>

Chào ông Nguyễn Hữu Nhật,

Tôi có 2 câu hỏi mong ông lấy danh dự của kẻ làm người trả lời:

1 - Có phải bút hiệu Sắc Không chính là ông?

2 – Đoạn đối thọai giữa ông và ông Nhật Tiến bên dưới là do ông sáng tác, đúng không?

Ngoài ra, ông Hà Xuân Thắng cũng post lên net lá thư gửi cho tôi như sau:

From: This sender is DomainKeys verified"Thang Ha" <haxuanthang1@yahoo.com>

Kính gửi nhà văn Nhật Tiến,

Mấy ngày gần đây, trên nhiều  mạng lưới toàn cầu đã có sự xôn xao về những chuyện đã từng xẩy ra trong quá khứ liên hệ tới nhà văn, nhân cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa của ông được nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành.

Vốn là một độc giả của ông từ lâu năm, chính nhờ cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa này, mà một số chuyện đồn đại cũng đã được ông làm sáng tỏ. Tuy nhiên, riêng câu chuyện đối thoại giữa nhà văn Nhật Tiến và tác giả Sắc Không (nghe đâu là do ông Nguyễn Hữu Nhật ở Na Uy đội lốt) mà tôi gửi đính kèm, tôi xin được hỏi :

1) Có đúng là đã có một cuộc đối thoại như thế xẩy ra giữa nhà văn Nhật Tiến và tác giả Sắc Không hay không ? Nếu đúng, thì Sắc Không là một người khác hay chính là ông Nguyễn Hữu Nhật, người chủ trương tủ sách Anh Em và tạp chí Hương Xa ở Na Uy?

2) Nội dung cuộc đối thoại ấy có đúng như ông Sắc Không đã viết lại hay là nó đã bị thêm bớt hay xuyên tạc đi, vì tôi thấy ngôn ngữ sử dụng cũng như ý tưởng của Nhật Tiến trong cuộc đối thoại này quá thấp kém, không phù hợp với những gì mà tôi đã từng biết về ông.

Kính mong ông làm sáng tỏ cũng như đã làm sáng tỏ chuyện "sau 1975, đeo băng đỏ hướng dẫn công an đi bắt văn nghệ sĩ "(do Nguyễn Thiếu Nhẫn vu cáo) hay chuyện "nhà văn đi quyên góp 18.000 đô la đem về VN nộp cho CS để xin in Tuyển tập Văn chương Hải ngoại" " (như Nguyễn Hữu Nghĩa đã bịa đặt trên báo Làng Văn).

Xin cám ơn ông  rất nhiều.

HÀ XUÂN THẮNG

 

Tôi đã  trả lời lá thư kể trên với nội dung như sau:

"Kính gửi ông Hà Xuân Thắng,

Xin cám ơn nhã ý của ông đã theo dõi những chuyện thị phi xoay quanh quãng đời cầm bút của tôi trong vài chục năm vừa qua. Cũng may nhờ nhà Huyền Trân phát hành cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa mà một vài chuyện thị phi đã được làm cho sáng tỏ. Riêng câu chuyện đối thoại giữa tôi và ông Sắc Không mà ông có gửi kèm theo 2 câu hỏi, thì tôi xin được trả lời như sau :

1) Đây lại là một thứ chuyện bịa đặt một cách trắng trợn nhằm bôi nhọ tư cách của tôi do tên Sắc Không nào đó viết ra. Thật tình, tôi không hề có bất cứ một sự liên hệ nào với ngòi bút mang bút danh Sắc Không dù qua hình thức thư từ, điện thoại hay email  chứ đừng nói là đã đối diện nhau để có cuộc đàm thoại mà trong đó tôi đặt ra những câu hỏi hết sức thấp kém như thế.

Còn chuyện ngòi bút Sắc Không có phải là Nguyễn Hữu Nhật hay không thì tôi cũng không thể trả lời. Bởi vì tuy tôi có biết ông Nguyễn Hữu Nhật từ thời còn ở Sài Gòn trước 1975, nhưng khi ra tới hải ngoại, tôi không hề có sự liên lạc nào với ông ta, ngoại trừ có lần ông ấy từ Na Uy ghé Nam Cali để nói chuyện ở trụ sở báo Người Việt thì tôi cũng ghé qua chào hỏi theo tính cách xã giao nhân danh tôi còn làm việc ở tòa soạn báo Việt Tide có trụ sở ngay gần đó.

Thế thôi !

2) Tuy nhiên tôi lại được đọc một đoạn như sau trong cuốn "Trận Giặc Văn Bút" do tác giả Đặng văn Nhâm viết, tôi thấy có hé lộ vài chi tiết liên hệ giữa tác giả Nguyễn Hữu Nhật và bút danh Sắc Không. Tôi xin trích lại để giúp ông tìm hiểu thêm, mặc dù tôi không thể kiểm chứng được những gì mà ông Đặng văn Nhâm đã viết ra về 2 nhân vật này. Xin ông hãy chỉ coi đoạn trích dưới đây như một thứ tài liệu để tham khảo thôi:

" Hơn thế nữa, NG.H. Nhật ….đã viết trên tờ Làng Văn, số 157, trang 98, núp dưới bút hiệu "Sắc Không" nồng nặc sặc sụa mùi Thiền , bịa chuyện để  nhục mạ bà Thụy (tức nhà văn Trương Anh Thụy), …..bằng những lời đểu cáng, cực kỳ tục tĩu chưa từng thấy  trong lịch sử  văn, báo giới VN…"

(Trận Giặc Văn Bút, trang 187  do

Việt Nam Văn Hiến ấn hành năm 2000 tại Cali)

Sau cùng, xin một lần nữa rất cám ơn ông trong những nỗ lực mà  ông đã bỏ ra để đi tìm sự thật cho sinh hoạt chữ nghĩa cũng như trả lại sự công bằng cho những người công chính.

NHẬT TIẾN

° ° °

Rồi lại thêm một chuyện động trời nữa xuất hiện trên net : Nhà thơ Hà Huyền Chi hiện cư ngụ ở Portland đã lên tiếng rằng bài thơ trích trong đoạn "Chim Hót Trong Lồng" mà Nguyễn Hữu Nghĩa "mời đọc một đoạn" để giới thiệu cuốn Chém Đá (như đã nêu ở trên) tuy nói ông là tác giả nhưng thực sự là ông không hề sáng tác bài thơ này.

Email của Hà Huyền Chi viết như sau :

" Hhc, Maubinh  không phải là tác giả của bài thơ này :

Chó săn thua đứt chim mồi,

những tên cầm-bút-làm-bồi, gáy vang

Sông Đà bọt nổi sớm tan

giả làm Mặt Thật càng tàn rụi nhanh

Quê Người hết em lại anh

ra công giấu vuốt, che nanh Quê Nhà

Sự thật sao không nói ra:

Bởi đâu con trẻ, người già đói ăn?

Trước đây NHNghiã từng mạo danh HHC trong 1 bài đánh Viên Linh, in trong sách. (HHC đã chính thức trả lời NHNghĩa trên tờ VanNgheTienPhong và còn giữ bản lưu)"

HHC

° ° °

Mà không phải Nguyễn Hữu Nhật chỉ "làm thơ" giấu mặt dưới bút hiệu Sắc Không để nhục mạ tôi có một lần.

Do Nguyễn Hữu Nghĩa mới đây nhẩy vào quảng cáo cuốn Chém Đá để kiếm thêm ít tiền lẻ, nên tôi mới có dịp tìm đọc cuốn sách này,  và thấy Nghĩa đã vô tình để lộ bộ mặt tráo trở, hèn hạ của Nguyễn Hữu Nhật.

Thật vậy, trong suốt chiều dài 2 cuốn sách của Nguyễn Hữu Nhật (cuốn Chém đá và cuốn Đá Đổ Mồ Hôi) nội dung đã phơi bầy biết bao nhiêu nạn nhân bị nhục mạ , kể cả tôi cũng bị mang ra bêu riếu nhiều lần (mà hẳn Nguyễn Hữu Nhật muốn giấu kỹ từ khi qua San Jose tính chuyện phát triển công cuộc làm ăn ngành xuất bản báo chí tại địa bàn có đông người Việt định cư, nhưng việc không thành).

Sau đây là một bài thơ khác mà trong cuốn Chém Đá (trang 151), Nguyễn Hữu Nhật bịa đặt ghi là của Mậu Binh  (một bút hiệu khác của nhà thơ Hà Huyền Chi) :

DA NGÀ, BIA NGOẠI

(Thơ Mậu Binh)

Lòng bát úp lật ngửa trôn

Viết văn, đánh-đĩ-tâm hồn, từng câu

Ta về chẳng biết đi đâu

Tìm nguồn cảm hứng cho sầu bớt dâng

Lồng to, chim bé bâng khuâng

hót bao nhiêu tiếng cũng không nghĩa gì

Da ngà bọt trắng mép ly

Bia ôm Cửa Mở, mặt lỳ Thềm Hoang

Hồn Người Áo Trắng lang thang

Bến Ninh Kiều *, gậm Cầu hàng * , nay đâu?

Ta, Người Thổi Kèn, bấy lâu

ống đu đủ toác, miệng ngầu máu me…

Quê Nhà trên búa dưới đe

Lại khen đổi mới còn khoe Quê người

 

Lập thân khốn nạn nhất đời

hợp tung văn nghệ tùy thời lưu manh?

 

* Đất tung hoành của bọn nhà "đất"

Nội dung bài thơ nhắc đến tên vài tác phẩm của tôi: Chim hót trong lồng, Thềm Hoang, Những người áo trắng,  Cánh cửa, Tiếng kèn, Quê nhà Quê người.

Cung cách dùng chữ nghĩa và khẩu khí trong bài thơ kể trên với những câu như đánh-đĩ-tâm hồn, Lồng to, chim bé, mặt lỳ Thềm Hoang, Lập thân khốn nạn , văn nghệ tùy thời lưu manh?..Đất tung hoành của bọn nhà "Đất", (Nguyễn Hữu Nhật muốn ngụ ý "nhà thổ")  v..v…nói lên sự  phóng bút một cách vô tội vạ, vô lương tâm và  bất cận nhân tình ra sao chỉ cần đọc sơ qua một lần ai cũng thấy.

Dy có điều cần nói rõ ra là: tôi đã nhờ cô Hoàng Vân, một người quen  với  nhà thơ Mậu Binh (tức Hà Huyền Chi ) hỏi xem ông có làm bài thơ này để in trong cuốn Chém Đá của Nguyễn Hữu Nhật không, thì nhà thơ đã trả lời như sau:

"Hi Hoa`ng Va^n,

Ba`i tho* Che’m DDa’ du*o*’i dda^y kho^ng pha?i cu?a Ma^.u Binh dda^u em. Te^n kho^’n na`o cho^m bu’t bie^.u cu?a anh ddo’ em.

MauBinh

Vâng, cái "te^n kho^’n na`o cho^m bu’t bie^.u"  Mậu Binh đó,  còn ai khác ngoài Nguyễn Hữu Nhật nữa !

Trước sự thật đã quá rõ ràng này, Nguyễn Hữu Nhật không chối cãi được sự lươn lẹo của mình, đã thế, ông ta còn bịa đặt thêm một câu chuyện khác nữa qua một email gửi cho Michael Bùi (nhờ Diễn đàn Chính nghĩa chuyển) mà nội dung có những đoạn như sau :

Anh Em Xuất Bản /USA 1990.

AE__3/19/2012__Kg DienDanChinhNghia__Kg OngMichael Bui

Na Uy, Oslo ngày 19 tháng 3 năm 2012

Kính gửi Diễn đàn ChinhNghiaViet@yahoogroups.com

Xin diễn đàn giúp chuyển vi thư. Đa tạ.

Kính.

Nguyễn Hữu Nhật.

° ° °

Kính gửi ông Michael Bùi

(trích)

Tôi (tức Nguyễn Hữu Nhật) chỉ kể lại sự thật những gì đã xảy ra:

A_Không ai có thể ‘’hạ nhục nhục tư cách’’ của ai. VGCS đã và đang ‘’hạ nhục tư cách’’ của bao nhiêu người Quốc gia Dân tộc mà có được đâu. Ông Nhật Tiến chủ trương ‘’giao lưu, hòa hợp’’, tôi chống lại, thuộc vấn đề chính trị, như đảng Cộng Hòa, đảng Dân chủ ở Mỹ chống lại nhau về đường lối chính trị, không ai đặt vấn đề ‘’tư cách’’ trong việc đó. Chẳng qua loại ‘’biếm văn’’ có nhiều cách viết. Nó thường được "hư cấu’’ như tranh hí họa (cartoon). Biếm họa thường cay độc hơn biếm văn nhiều. Tôi thành thật xin lỗi ông nếu ông cho rằng cuộc "phỏng vấn’’ phải phải có thật.

B_Năm 2005, tôi qua Mỹ để ra mắt sách tại Phòng Sinh Họat của Nhật báo Người Việt. RMS (Ra Mắt Sách) khó có thể là ‘’bành trướng sự nghiệp’’? Ông bà Nhật Tiến có tới dự. Buổi ra mắt sách được gia đình ông Nhật Tiến tặng cho chiếc bánh lớn đãi quan khách. Tôi nghĩ là "anh em’’ có dấu hiệu ‘’cảm thông’’ vì sách CĐ do nxb Làng Văn in năm 1997, sau 8 năm mọi chuyện đã khác, kể cả quan điểm chính trị của ông Nhật Tiến, sau vụ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương thất bại. Cho tới giờ, năm 2012, hỏi hoa vàng nào còn nở nữa không? Trói, cởi trói, rồi trói lại. CS giờ đây vẫn chơi trò ‘’trăm hoa đua nở’’ của Mao?

C_Sau buổi sinh hoạt, chúng tôi đến thăm tư gia ông Nhật Tiến, hình như hôm đó có cả ông Michael Bùi. Chúng tôi nói chuyện văn chương, chữ nghĩa, bình thường. Ông Nhật Tiến còn bảo ‘’có gì’’ thì gửi cho báo Việt Tide. Và báo Việt Tide của ông Nhật Tiến còn đăng phóng sự, hình ảnh buổi ra mắt sách của tôi, tôi còn lưu giữ số báo đó. Thăm xong, chúng tôi về nơi ở của mình.

D_Hai năm sau, sinh hoạt ra mắt sách tại San Jose, chúng tôi từ nơi ở riêng, được mời tới thăm nhà ông anh của ông. Ông nói đúng ‘’ở vài ngày’’. Nay trở thành vì miếng ăn, nơi ở. Nơi chúng tôi ở, nhiều bà con, bạn văn nghệ, bạn đọc dễ đến thăm chúng tôi hơn là ở nhờ riêng một tư gia nào, dù không ít tư gia bạn bè có nhã ý cho tá túc. Đó là sự thật.

E_Bút danh SK chỉ là muốn ‘’chơi chữ’’, hỏi dao có sắc/bén  không, như đã in ở trang đầu sách CĐ. Làng Văn 1997, để tránh sự hiểu lầm. Nó không dính dáng gì tới hai chữ ‘’sắc không’’ mà nhà Phật thường dùng. Một vài ‘’nickname’’ đã lạc đề.

F_Xin nhắc lại, ông viết: ‘’…Nhưng nói gì thì nói, dù sao me Vinh vẫn là me của chúng tôi muôn đời muôn thuở, và cũng vì cái chữ tình, tôi sẵn sàng gom góp để lo cho ông ở Motel 6 nếu thật sự ông cần đến nó, ông nhớ chưa?..’’ Xin cảm ơn ông, nhờ mère / me / mẹ Vinh, mà ông chỉ ‘’cấm cửa’’ tôi, nhưng vẫn có ‘’nhã ý’’ cho tôi ở ‘’motel 6’’.

6/ Cũng ‘’vì cái chữ tình’’, tôi xin kể thêm đôi chút:

a- Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài  Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi  đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến.

b- Hành động ‘’khuất tất’’ trên nói lên điều gì? Ông Nhật Tiến và tôi không là CS! Cũng như phần đông người vượt biển đều chống Cộng. Chỉ cách chống Cộng khác nhau thôi.

c- Năm 1989, tôi ra ngoài này, giữa lúc Liên Sô và Đông Âu tan rã, CS Việt chới với. Tôi không hiểu tại sao khá đông văn nghệ sĩ tỵ nạn CS, lại lại xuất bản và tham dự Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương? Sau 2 lần, 11 năm tù qua các trại tập trung, 4 năm quản chế, tất nhiên tôi chống mọi khuynh hướng ‘’giao lưu, hòa hợp’’ với CS. Tự nhiên nó như thế. Trước và sau năm 1975, hàng triệu gia đình người miền Nam đã tan cửa, nát nhà, tù đầy, vượt biển, chết chóc, bị làm nhục, sự không may mắn của đời riêng tôi nào nghĩa lý gì? Khi mối nhục chung của đồng bào ta, là quốc nhục, cũng là nỗi nhục của riêng tôi.

d- Cái khó khăn cho tôi là tôi đã bất đồng chính kiến với một vài người trong họ, với cả đôi người thân quen, dù họ từng là bạn học, bạn lính, bạn tù, bạn văn… Để chống lại sự độc tôn, độc đảng, độc tài, tôi chấp nhận bị đối phương xuyên tạc, đả kích, mạ lỵ…

7/ Thưa ông Michael Bùi, về văn học, tác giả Thềm Hoang là một nhà văn có tài, nhân bản, cùng với các sáng tác khác trước 1975. Sau 1975, nội dung sách in đã khác. Tôi mong rằng sau lá thư này, tôi nên giữ im lặng. Vì tôi chỉ có một, duy nhất, đối tượng cần phải viết, nói đến nhiều hơn nữa là Việt gian CS. Phần khác, tôi cũng không để CS khai thác mâu thuẫn, của người tỵ nạn CS, ở ngoài này, nếu có.

Tôi không nghĩ ông gây khó xử cho tôi. Nhất là khi chính ông Nhật Tiến cũng không muốn lên tiếng. Tôi im lặng cũng kỳ. Trả lời thì dễ rơi vào cảnh ‘’tiếng bấc đi, tiếng chì lại’’ như nhiều chuyện trong ‘’thiên hạ’’? Tôi thiết nghĩ chúng ta nên ngừng ở đây. Một lần nữa, tôi vẫn muốn xin lỗi ông và đặc biệt xin lỗi quý vị trên các diễn đàn ngày đêm đang lo cho vận nước, trong khi nghe chuyện của tôi, chỉ thêm rác tai quý vị.

Nước ta giờ đang mất dần, không phải chỉ Miền Nam năm 1975 đã mất. Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi còn nhớ trong sân nhà của ông bà Nhật Tiến, hình như đường Thiệu Trị, Phú Nhuận, bà PK, thân mẫu của ông, ngồi xé từng cuốn sách để đun nước, pha trà, không chịu nộp cho CS. Sài Gòn thất thủ. NTV và tôi đã khóc cùng ông bà Nhật Tiến. Làm gì có chuyện ông Nhật Tiến ‘’đeo băng đỏ, dẫn công an, đi bắt anh em’’! Cơn ác mộng chưa qua. Sách CĐ viết và in cách nay 15 năm. Một lần nữa tôi xin lỗi đã làm ông phải bận tâm. Tôi vẫn biết ‘’hãy nói về hoa hồng, để mình được thơm lây.’’

Nhưng nếu gõ về VGCS và bọn ‘’tay sai, cò mồi, bồi bút’’ lúc này, bàn phím của tôi trước sau như một, vẫn:

‘’Nếu không cho lửa vào thơ được,
tôi sẽ cho thơ vào lửa ngay!’’

Trân trọng.

Nguyễn Hữu Nhật.

 

       Nhật Tiến Trả Lời

 

Tôi  xin có mấy điều nói về nội dung lá thư trên của Nguyễn Hữu Nhật:

1) Ông Nhật viết : "Năm 2005, tôi qua Mỹ để ra mắt sách tại Phòng Sinh Họat của Nhật báo Người Việt. RMS khó có thể là ‘’bành trướng sự nghiệp’’? Ông bà Nhật Tiến có tới dự. Buổi ra mắt sách được gia đình ông Nhật Tiến tặng cho chiếc bánh lớn đãi quan khách. Tôi nghĩ là ‘’anh em’’ có dấu hiệu ‘’cảm thông’’ vì sách CĐ do nxb Làng Văn in năm 1997, sau 8 năm mọi chuyện đã khác, kể cả quan điểm chính trị của ông Nhật Tiến, sau vụ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương thất bại."

Xin nói ngay rằng vào thời điểm đó (2005) khi ông Nguyễn Hữu Nhật ra mắt sách tại tòa soạn báo Người Việt, tôi không hề hay biết gì về chuyện ông ta đã nhục mạ tôi trong cuốn Chém Đá bằng cách bịa đặt một cuộc đối thoại giữa tôi và ông ta và cài vào miệng tôi những câu hỏi nghe rất hạ cấp.  Rồi lại còn bài thơ ông ta mạo danh Mậu Binh cũng in trong cuốn sách ấy của ông với đầy dẫy những lời nhục mạ tôi  như đánh-đĩ-tâm hồn, Lồng to, chim bé, mặt lỳ Thềm Hoang, ống đu đủ toác, miệng ngầu máu me…Lập thân khốn nạn , văn nghệ tùy thời lưu manh.

Nói trắng ra, nếu tôi biết được Nguyễn Hữu Nhật đã làm những câu thơ này đem đăng báo Làng Văn rồi lại còn in thành sách thì hồi đó không bao giờ tôi lại ghé qua báo Người Việt để chào xã giao ông ta vào cái hôm ông ra mắt sách dù trong lòng tôi vẫn rất muốn gặp nhà văn Nguyễn thị Vinh có ông Nhật đi theo vì ông là chồng sau của bà Vinh.

Và nhất là nếu biết được sự thể ông là tác giả những câu thơ hạ cấp kiểu "Xốc quần quần tụt tụt quần. Xốc sao cho bọn cù lần mỏi tay" đặt trong bài nói về bà Khúc Minh Thơ như thế  thì tôi cũng đã không ngỏ lời mời ông ta  "có gì’ thì gửi cho báo Việt Tide"  bởi vì thứ chữ nghĩa  bệnh hoạn như thế sẽ chỉ làm bẩn mắt độc giả , không đời nào tôi lại chứa chấp trong nội dung của tờ Việt Tide.

Tôi thực tình không hiểu tâm địa của ông thế nào mà sau khi đã làm tất cả những chuyện  như thế mà cho đến bây giờ vẫn còn đi khoe : "Và báo Việt Tide của ông Nhật Tiến còn đăng phóng sự, hình ảnh buổi ra mắt sách của tôi, tôi còn lưu giữ số báo đó...".

Vâng, đúng là Việt Tide đã có bài tường thuật buổi ra mắt sách của ông Nguyễn Hữu Nhật.

Nhưng cái sự khoe khoang này chỉ nói lên một điều rằng:  hồi đó, cũng như bao giờ,  tôi vẫn luôn trân trọng đối với các sinh hoạt chữ nghĩa. Một khi ông mang sách từ Na Uy qua Nam Cali để ra mắt , thì đang còn làm việc ở báo Việt Tide, tất tôi phải phụ với tòa soạn viết bài tường thuật buổi ra mắt sách của ông chứ. Trừ phi tôi biết ông còn có bút hiệu Sắc Không, phụ trách mục Chém Đá trên báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa thì tôi sẽ không đối xử trân trọng với ông như thế. Bởi những gì ông đã viết ra chứng tỏ ông không phải là con người tôn trọng chữ nghĩa.

Và bây giờ thì tôi lại có thể nói rõ thêm ra rằng ông đã chỉ  lợi dụng chữ nghĩa bằng cái tài láu cá vặt của ông để quấy hôi bôi nhọ và làm nhem nhuốc khuôn mặt chống Cộng chân chính của người Việt  và gây chia rẽ trong hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại mà thôi.

Nếu tôi có phải mất công in thêm cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa tập 2, tức Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi này thì cũng chỉ là vì muốn cho toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại khỏi bị những con người như Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Hữu Nghĩa lừa bịp, dối trá, luôn luôn dùng báo chí, sách vở để trấn áp và triệt hạ những người công chính theo những ý đồ gian manh mà rất nhiều người trong văn giới, báo giới đều biết rõ nhưng hầu như ai cũng không muốn dây với những kẻ xứng đáng được gọi là "lũ đầu gấu trong sinh hoạt văn học, nghệ thuật "

Còn chuyện gia đình tôi tặng một chiếc bánh lớn đãi quan khách, lý do không phải vì cuốn sách của ông Nhật mà vì lý do chúng tôi chào mừng sự hiện diện của nhà văn Nguyễn thị Vinh từ Na Uy xa xôi qua Nam Cali, vì bà cũng hiện diện trong buổi ra mắt sách đó của ông ta vậy.

2) Ông Nhật cho đến bây giờ (tháng 3-2012) còn kể lại một chuyện như đã nêu ở trên như sau : "Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài  Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi  đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến."

Ghê gớm thay cho sự trắng trợn khi con người ta quen thói bịa đặt. Tôi có thể nói một cách minh bạch và rõ ràng rằng câu chuyện tôi tháo giầy đứng lên vai ông Nhật để cậy gỡ tấm lưới thông gió của trụ sở Văn Bút  vào một ngày cuối tháng 4-1975 là hoàn toàn bịa đặt.

Tôi đã trả lời ông Nhật về chuyện này trong một bài phổ biến công khai trên internet như sau :

Lại thêm chuyện bịa đặt của  Nguyễn Hữu Nhật liên quan đến
Nhật Tiến và Nguyễn Hữu Nhật :

Thật sự khi phải trần tình hay đôi co với một người vốn không bao giờ tôi có sẵn đôi chút kính trọng nào, nhất là mới đây, sau khi phát giác ông ta là tác giả cuốn Chém Đá, sử dụng tài vặt để về hùa cùng với Nguyễn Hữu Nghĩa của báo Làng Văn quấy hôi bôi nhọ hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại, và hạ nhục riêng tôi, thực tình tôi không còn muốn hạ bút viết một dòng nào nữa về cái bút danh Nguyễn Hữu Nhật này.

Tuy nhiên, trong một lá thư mới đây ông ta gửi cho con trai tôi (Michael Bùi), Nguyễn Hữu Nhật  lại bịa đặt thêm nữa liên quan đến chuyện Văn Bút ngày xưa còn ở VN. Không muốn để cho người đọc bị lầm lẫn vì những chuyện bịa đặt như thế, tôi đành một lần nữa phải nói rõ về chuyện Văn Bút này.

Lời ông Nguyễn Hữu Nhật :

"Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài  Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi  đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến."

Sự Thật là :

"Cái chuyện nhiều văn hữu lui tới trụ sở Văn Bút ở đường Đoàn thị Điểm vào thời điểm cuối tháng 4-1975, trong đó có ông Nguyễn Hữu Nhật hay không thì tôi không nhớ. Nhưng cái chuyện tôi phải tháo giầy đứng lên vai ông ta để gỡ tấm lưới thông gió nhằm vào văn phòng tìm con dấu của Văn Bút, nhưng rồi con dấu bị Chủ Tịch Thanh Lãng mang đi mất rồi là chuyện hoàn toàn sáng tác của Nguyễn Hữu Nhật.

Lý do :

1) Việc đóng, mở cửa văn phòng của Trung Tâm Văn Bút là do Cụ thư ký già Nguyễn văn Hinh phụ trách. Cụ Hinh cùng toàn thể gia đình bao gồm vợ con, dâu rể, và đàn cháu lại cư ngụ ngay ở tầng dưới của trụ sở, vì thế bất cứ lúc nào ban Thường Vụ cần  vô văn phòng để tìm hồ sơ, giấy tờ đều có chìa khóa để mở, can cớ gì phải làm cái chuyện trèo tường, phá lưới thông gió như Nguyễn Hữu Nhật kể lại. Về nhân vật Cụ Hinh trông nom trụ sở Văn Bút như thế nào tôi cũng đã viết rõ trong một bài in trên báo Việt Tide trước đây để bổ túc những chỗ thiếu sót của nhà thơ Du Tử Lê khi ông cũng viết về Văn Bút nhân có tin nhà báo Phạm Việt Tuyền, nguyên Tổng Thư Ký Văn Bút từ trần ở Pháp.

2) Rồi Nguyễn Hữu Nhật lại kể rằng "Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi".

"Con dấu bị mang đi hết rồi" sao lại còn có chuyện nhà thơ Nguyễn Đức Sơn đến trụ sở Văn Bút vào ngày cuối cùng để xin giấy chứng nhận có đóng dấu mà tôi đã viết lại và đã đăng tải trên báo Việt Tide từ mấy năm trước như sau:

NGUYỄN ĐỨC SƠN,

MỘT HỒN THƠ LẠC LÕNG GIỮA CHỢ ĐỜI

Tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn, nếu là ở thời kỳ sinh hoạt bình thường thì ngôi biệt thự đồ sộ ấy chỉ nhộn nhịp vào những ngày Thứ Bẩy hay Chủ Nhật là những ngày có các buổi hội thảo về văn chương hay những buổi ra mắt sách. Riêng mỗi thứ  Tư hàng tuần thì có buổi họp của ban Thường Vụ nên đèn đóm cũng bật sáng và có xe cộ ra vào. Nhưng khi tình hình chiến sự đã thay đổi, số hội viên lui tới trụ sở này thường xuyên hơn  trước và bất kể giờ giấc.  Mọi người lui tới để trao đổi tin tức, để bàn luận riêng về những chuyến đi, và đặc biệt hơn cả là thúc đẩy Ban Thường vụ sử dụng cương vị của mình để vận động những chuyến ra đi tập thể dành cho anh chị em văn nghệ sĩ. Nhưng tất cả những nỗ lực ấy không đem lại một kết quả nào. Không một hội viên nào được cung cấp phương tiện ra đi,  nhân danh Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Rồi thì cơn sụp đổ toàn diện đã tới. !

Vào buổi trưa ngày 1 tháng 5-1975,  khi Ban Thường Vụ đang lo dọn dẹp hồ sơ, giấy tờ thì thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đạp xe tới. Ông nói :

- Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái !

Ông Tổng  Thư ký chép miệng :

- Cậu đùa sao ? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai.

Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn :

- Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về  tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.

Trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối  ấy, Ban Thường Vụ tự thấy nếu  có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Cho nên một cái giấy chứng nhận đã được đánh máy, như sau :

GIẤY CHỨNG NHẬN

Nay chứng nhận : Ông Nguyễn Đức Sơn

Sinh năm :  ....

là :    Hội viên của Hội Văn Bút Giải Phóng.

Giấy này được cấp cho ông Nguyễn Đức Sơn để tiện việc di chuyển.

Làm tại Sài Gòn ngày 1-5-1975

  1. ban Chấp hành

( ký tên không rõ)

Bên lề tấm giấy còn có  dán ảnh của Nguyễn Đức Sơn  trên ảnh có đóng triện son đỏ chói.

Có tấm giấy trong tay, Nguyễn Đức Sơn quơ tay chào mọi người rồi biến nhanh xuống cầu thang. Ông cũng không nói cho anh em có mặt lúc đó là sẽ đi đâu, làm gì.

Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông  ngồi trên chiếc xe đạp mà  từ tay lái tới khung xe, tới cái porte- bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ. Có túm thì đựng măng khô, có túm thì củ mài, có những bọc lá thuốc không biết là để chữa bệnh gì, duy có một bọc được gói ghém cẩn thận mà ông đã giơ lên khoe :

- Trà Blao đây ! Tớ đạp xe 3 ngày từ Blao xuống . Mấy cái gói kia thì nhặt nhạnh ở dọc đường. Nhưng cái món trà này thì đích thị là quà biếu thổ sản đấy.

Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không, khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả :

- Ôi giời ơi ! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng,  kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết !!

(ngưng trích)

° ° °

Chuyện xẩy ra như thế, và nhà thơ Nguyễn Đức Sơn hiện hãy còn sống sờ sờ, ai muốn tìm hiểu thì vẫn có thể thấy rõ sự thật, vậy mà lại có câu chuyện hoang đường  "tôi với Nguyễn Hữu Nhật tháo gỡ tấm lưới thông gió của trụ sở Văn Bút để tìm con dấu nhưng chủ tịch Thanh Lãng mang đi mất rồi " được sao ???

NHẬT TIẾN

° ° °

Trong lá thư gửi Michael Bùi kể trên, Ông Nguyễn Hữu Nhật có kết luận rằng :

" tôi (tức Nguyễn Hữu Nhật) trước sau như một, vẫn:

"Nếu không cho lửa vào thơ được,
   tôi sẽ cho thơ vào lửa ngay!’’

Tôi chưa thấy ông Nhật "cho thơ vào lửa" bao giờ, nhưng ông "gắp lửa bỏ vào tay người" thì đã quá rõ, xin nhắc lại câu đối thoại  mà ông đã bịa đặt ra trong mục Chém Đá đăng trên báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa :

" Chưa hết, nhà văn Nhật Tiến còn cố hỏi thêm:

- Người ta bảo ở hải ngoại này có "tam Bùi qui độc". Hai người kia là Bùi Duy Tâm và Bùi Tín. Lạ thật, tên ba anh em chúng tôi, cùng khác cha mẹ, đều vần T. Nhưng anh thấy ai đáng mặt "đệ nhất độc"?"

Vậy xin nhắn ông Nguyễn Hữu Nhật một lần cuối cùng:

- Nếu ông chưa có dịp bỏ Thơ của ông vào lửa thì ông hãy can đảm bỏ ngay hai tập Chém Đá và Đá Đổ Mồ Hôi tồi tệ do ông là tác giả kia vào lửa, và đừng bao giờ để cho Nguyễn Hữu Nghĩa còn có dịp lừa đánh lừa độc giả bằng cách quảng cáo trên NET một cuốn sách dựng chuyện vu cáo người khác, và  " bán với giá 12 mỹ kim (kể cả cước phí đường bộ trong Canada và Mỹ) Trả bằng Paypal cho: langvan@langvan.net- ".

Kiếm tiền bằng cách này cũng là một thứ làm ăn bất chính đấy, thưa ông.

Chương 3

NGUYỄN  THIẾU  NHẪN

(còn có bút hiệu LÃO MÓC)

 

Trong Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn I, tôi đã nhắc lại vụ Nguyễn Thiếu Nhẫn vu cáo rằng tôi sau 1975 đã "dắt công an CS đi bắt văn nghệ sĩ".

Khi cuốn sách phát hành, một vài độc giả đã post lên net  những email để có ý kiến như sau :

From: MienDu Nguyen <haingoaithica04@...>

Subject: [PhoNang] Re: TRẢ LỜI NHÀ VĂN NHẬT TIẾN

Date: Monday, March 12, 2012, 10:30 AM

Ông Nguyễn Thiếu Nhẫn thân kính,

Xin lỗi ông, xin phép cho tôi được góp ý một vài lời ông nhé, là một người cầm viết, mà ông viết những câu như vậy, thì gây hiểu lầm là phải rồi.

Những câu ông nói rằng, ông viết trong thể NGHI VẤN, !? không khác nào là chiến thuật mà ông muốn tung hoả mù "vu khống" nhà văn Nhật Tiến.

Báo trong nước là báo nào, ngày nào, tháng nào, ai viết, ông chỉ nghe nói vu vơ thôi, rồi đặt bút lại viết những câu vu vơ như thế, làm hại đến nhân phẫm của người khác, rồi còn bào chữa là " viết với thể NGHI VẤN"? lại đưa đi đăng báo khắp nơi.

Nếu là NGHI VẤN, thì ông phải viết như thế này: "Tôi được nghe nói báo trong nước đăng tải là nhà văn Nhật Tiến ..... điều này không biết có đúng sự thật như vậy không, nếu đúng ... , thì thật đáng buồn .... còn không đúng thì xin lỗi ...".

Nhà văn Nhật Tiến nói ông  "ngòi bút BẤT XỨNG", là phải rồi. Phàm là một người cầm viết, muốn trở thành một nhà văn thực thụ, phải biết sử dụng câu cú rỏ ràng, chứng minh, phân tích, phải có nguồn gốc lấy từ đâu. Tôi đọc những điều ông viết, thấy rỏ ràng ông nói vu vơ, trong cách viết vu vơ ấy đã có ý manh nha hại người . Tôi thiết nghĩ ông nên rút lại bài báo và nên có lời xin lỗi với nhà văn Nhật Tiến thì tốt cho ngòi bút của ông hơn, nếu sau này ông còn muốn trở thành một "cây viết đứng ngoài nắng".

Lời thật thì mất lòng, xin lỗi ông, tôi hy vọng ông hiểu những điều tôi viết, mà không trách cứ kẻ hậu sinh này - thân kính chào ông

Miên Du Đà Lạt

http://www.honque.com/miendu

 

From: Hong Vu <hongportland99@...>

To: thanhcongnguyen1951@...

Sent: Friday, March 16, 2012 1:28 PM

Subject: Fw: [PhoNang] Máu mực bể dâu

-- Forwarded Message --

From: Hoa Le <hoale92704@...>

Sent: Friday, March 16, 2012 12:22 PM

Subject: Re: [diendanviahe] NHÀ GIÁO MỘT THỜI NHẾCH NHÁC

Nói gì thì nói, tôi yêu cầu ông không được mang phụ nữ Việt bị hãi tặc trên đường đi tìm tự do ra chế diễu đó nghen ông Nhẫn. Đây là vết thương dân tộc, ông bất nhân nó vừa vừa thôi.

Hòa Lê

Santa Ana,CA

Sự phẫn nộ của ông (hay bà)  Hòa Lê là rất chính đáng và xứng đáng dành cho "ngòi bút Nguyễn Thiếu Nhẫn" mà từ lâu vốn đã bị nhận diện là một ngòi bút bất xứng.

Báo Đại Nghĩa số ra ngày 05 tháng 4 năm 1995, có cho độc giả được biết :

" Lão Móc tức Nguyễn Thiếu Nhẫn là cây viết nồng cốt của báo Quê Hương và đồng thời cũng là nhân viên của đài phát thanh Quê Hương nữa. Những bài viết bôi bẩn, đánh phá cá nhân những nhân vật và tổ chức chống Cộng trong vùng được Nguyễn Thiếu Nhẫn - Lão Móc xử dụng những từ ngữ bẩn thỉu rất hạ cấp, dùng ngòi bút bóp méo sự thực một cách bất cố liêm sỉ, một đức tính cần có của người cầm bút, đến đổi có nhiều đồng bào cho chúng tôi biết là họ rất khó chịu và không thể tưởng tượng nổi một ông được gọi là nhà văn, nhà báo và cũng từng giữ chức chủ tịch hội văn nghệ sĩ tự do nữa thì thật là lạ!"

° ° °

Đáng lẽ ra thì tôi đã chấm dứt nói về cái bút hiệu này để khỏi tốn giấy, tốn mực và nhàm tai độc giả. Nhưng sự kiện về Nguyễn Thiếu Nhẫn lại không chỉ liên hệ đến một vụ bịa chuyện để bôi nhọ cá nhân tôi, mà tệ hại hơn, nó còn là một sự vung vãi, bôi bẩn chữ nghĩa bằng những lời lẽ vô cùng tệ mạt mà Nguyễn Thiếu Nhẫn vẫn còn tiếp tục loan truyền trên trang blog của chính anh ta.

Vì tính chất của vụ việc, tôi đành phải xin lỗi quý độc giả khi phải trưng ra đây những lời lẽ mà Nguyễn Thiếu Nhẫn cho đăng lên blog của chính hắn ( mặc dù nhiều từ ngữ tôi đã phải thay bằng dấu  "... ...",  như sau :

Đ.M. mày hoa chay says:

Tháng Mười 21, 2011 lúc 4:18 chiều

Đ.M. thằng hoa chay này phải lụi vài nhát vào lưng của nó rồi thiến d…i   và tống đầy c…t  vào mồm nó cho nó câm mõm chó khỏi sủa bậy.

Đ.M. mày thích Việt Cộng sao không hả họng cho to ra rồi bú c… và ăn c… tụi nó, đừng núp trong l…. má mày rồi ló họng ra khỏi cửa mình rồi tru sủa như con chó hoang. Đ.M. Mồm mày nói ra toàn mùi cứt đái thúi lắm.

Bú c… tụi Việt Cộng xong rồi ông nội mày đây sẽ thưởng cho mày liếm đít để ông cố nội mày khỏi phải dùng chó Việt Cộng để chùi đít.

Nguồn: http://nguyenthieunhan.wordpress.com/2011/06/09/ai-sang-%E2%80%93-ai-mu/#comment-1520

° ° °

Tao Đ.. L..n má mày thằng HOA CHAY Việt Cộng says

Tháng Một 22, 2012 lúc 2:43 sáng

Tao Đ… L… má mày thằng HOA CHAY Việt Cộng

Mày bú    c… Tầu PHÙ liếm đít tụi Nga Sô

Mả cha mày thằng bú C… ngoại bang

Làm tôi mọi cho Việt Minh Cộng Sản

Đ… má Mày, ăn c… ngon không mà ngu hơn con chó ghẻ

Ló đầu ra trong l… má mày mở miệng sủa hoang

Đ… má mày thằng chó đẻ HOA CHAY BÚ C….

Tao thiến D… những con chó Việt Gian Cộng Sản.

Nguồn:http://nguyenthieunhan.wordpress.com/2011/06/09/ai-sang-%E2%80%93-ai-mu/#comment-1520

° ° °

Nhà văn Chu Tất Tiến chắc cũng rất bất mãn vì cái lối chống Cộng vô tư cách, mạt hạng này nên ông đã "dại dột" lên tiếng ngay trên cùng trang blog đó với lời lẽ như sau:

chu tất tiến says:

Tháng Một 22, 2012 lúc 4:24 chiều

Thưa quý vị,

Thiển nghĩ, trong vấn đề chống lại chủ thuyết phản dân, phản quốc của Đảng Cộng Sản, nếu chúng ta dùng những ngôn ngữ văn minh, trí thức, lịch sự, thì có hiệu quả hơn là sử dụng thứ ngôn ngữ chợ búa của ông bạn trên đây, đọc nghe ghê cả người. Mong tác giả của trang blog này đục bỏ cho không khí chống Cộng trong sạch và khoa học hơn.

Lập tức Nguyễn Thiếu nhẫn giở ngay ngôn ngữ lưu manh hạ cấp để trấn áp Chu Tất Tiến như sau (tôi tô đậm vài hàng để cho rõ thêm) :

NGUYỄN THIẾU NHẪN says:

Tháng Một 30, 2012 lúc 4:20 chiều

THƯA CHUYỆN VỚI
ÔNG CHU TẮT TIẾN

Thưa ông,

Tôi nghĩ trang blog như một cái nhà. Ông vào nhà không ngồi ở phòng khách lại vào restroom "thưởng thức các món ngon vật lạ xong" à thực khách thải ra, rồi lại than phiền với chủ nhân là nên dẹp bỏ những "món ngon vật lạ" mà ông đã được thưởng thức, để cho "không khí chống Cộng sạch sẽ và khoa học hơn (sic!)". Đúng là chuyện khôi hài và lố bịch. Ông muốn "nịnh sằng, nổ sảng" thì cứ làm blog rồi tha hồ "nổ". Sao lại vào nhà người ta đòi thế này, thế nọ. Khi thực hiện trang blog, tôi chủ trương không làm chuyện "vừa đá banh, vừa thổi còi". Sao ông không coi cho hết những "áng văn tuyệt tác" của bọn CAM và tay sai nó dành cho các bài viết của tôi? Tôi đã coi bọn âm binh này không ra gì. Ông lại vào đây ra điều cao ngạo đòi  "không khí chống Cộng sạch sẽ và khoa học hơn".

Đề nghị ông không nên vào đây nói chuyện nhảm nhí nữa. Với lại không nên tự xưng "Người Việt hải ngoại"; lý do ông chỉ là MỘT người.

Chào ông,

Nguyễn Thiếu Nhẫn

Nguồn:http://nguyenthieunhan.wordpress.com/2011/06/09/ai-sang-%E2%80%93-ai-mu/#comment-1520

° ° °

Dĩ nhiên Nguyễn Thiếu Nhẫn sẽ biện minh rằng trang blog là "nhà riêng" của anh ta. Nhưng lý sự kiểu đó chỉ là một thứ ngụy biện. Vì nếu đã ưa thích sống chung với loại ngôn ngữ hạ cấp kiểu đó thì cứ chép vào sổ tay hay nhật ký để cho riêng mình coi, can cớ gì phải đưa lên Internet nếu không muốn cho mọi người vào đọc.

Khi một điều gì đã post lên Net, lên blog thì không còn có thể nói nó là "nhà riêng" để muốn làm gì thì làm, viết gì thì viết được. Bởi nó vẫn đòi hỏi phải tôn trọng pháp luật và giữ phẩm giá con người. Không tin, Nguyễn Thiếu Nhẫn thử post lên vài hình con nít bị lạm dụng coi, xem có cãi được với FBI về chuyện "đây là nhà riêng của tôi, tôi muốn làm gì thì làm" chăng ???

Và cho dù nó chỉ là trang blog, nhưng ảnh hưởng của những thứ blog hạ cấp này không phải là không có, nhất là đối với kẻ đồng hội đồng thuyền hoặc với những tuổi trẻ chưa có kinh nghiệm về chữ nghĩa, đọc xong rồi lại cứ tưởng các bậc trưởng thượng, cha anh đều xài ngôn ngữ kiểu đó, đều có một loại tư tưởng tệ mạt kiểu đó nên lấy đó làm gương.

Xin nêu vài chứng cớ cụ thể :

1) Đồng hội đồng thuyền: "Nhà thơ" (!) Nguyễn Đạt đã góp ý như sau:

"Nếu không có những ngòi bút sắc bén của những nhà văn chân chính, lương thiện và có tâm huyết như nhà văn Hoàng Hải Thủy, nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn thì bọn nhà văn Cỏ Đuôi Chó còn nỏ mồm đến bao giờ?"

° ° °

Thật là khổ cho những chữ "chân chính, lương thiện và có tâm huyết" sau khi những sự kiện như trang blog Nguyễn Thiếu Nhẫn vừa bị phơi bầy ở trên hay là nhà văn Nguyễn Thụy Long trước khi mất đã phải viết về Hoàng Hải Thủy qua  bài "Mõm Chó Vó Ngựa" (xin coi ở phần sau )

° ° °

2) Tuổi trẻ thơ ngây, chưa có kinh nghiệm về chữ nghĩa:

*) Truc thanh, Saigon, on September 19, 2009 at 8:03 am said:  Kính chúc nhà văn Hoàng Hải Thủy luôn luôn được an khang, nhiều phước lộc. Tôi không còn lời nào tốt đẹp hơn  nữa để ca tụng công trình mà Ông đã góp tay xây dựng cho sự nghiệp văn chương chân chính, chói lọi của đất nước Việt Nam.

*) Cô bé, on January 17, 2008 at 1:43 pm said:     Cháu cảm ơn bác đã cho cháu , một cô bé với suy nghĩ mỳ ăn liền, những cảm xúc thực nhất mà cháu đã từng đọc.

(nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com)

Trước khi có những nhận định thêm về những "feedback" (phản hồi) mang lòng tin cậy một cách tội nghiệp kiểu này, xin mời độc giả hãy coi qua phần "chữ nghĩa" của Hoàng Hải Thủy.

Chương 4

HOÀNG HẢI THỦY

Aka Công Tử Hà Đông

 

Trong ròng rã nhiều năm, Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông đã mạt sát tôi trong rất nhiều bài viết, mặc dù khi ông còn ở VN, tôi đã ca ngợi hoặc bênh vực những tác giả của  tập "Tắm Mát Ngọn Sông Đào" trong đó có ông, trên báo chí hoặc trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Nam Cali vào khoảng thập niên 80 (xin xem Hành Trình Chữ Nghĩa, bài "Hoàn cảnh sáng tác của anh chị em văn nghệ sĩ ở quê nhà" trang 55-65).

Cũng không sao, ông lên đã tiếng mạt sát tôi chỉ vì nhân danh tinh thần chống Cộng  là điều có thể hiểu được.

Nhưng tôi thắc mắc là trước khi ông liên tục chửi tôi trong nhiều năm ròng rã như thế, không biết ông đã đọc được bao nhiêu bài viết của tôi để tìm hiểu lập trường chính trị của tôi ra sao trước khi hạ bút xuống?

Tôi lại cũng thực tình không hiểu khi nghe nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ rằng trước 1975, ông Hoàng Hải Thủy cũng đã chứa VC trong nhà. Thế thì những lời lẽ chống Cộng của ông còn có được giá trị bao nhiêu phần trăm?

Xin trích lời của nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long: :

"Trong đợt đầu văn nghệ sĩ bị bắt bị thâu gom, hắn ta (tức Hoàng Hải Thủy) cũng bị bắt được ít lâu tính theo ngày tháng, hắn được anh ruột, nay là CS lớn, bảo lãnh cho về, tôi không nhớ đầy đủ họ tên ông này, chỉ nhớ tên ông ta là Chất. Hồi thời Việt Nam Cộng Hòa, có một thời gian ông này phải trốn trong nhà Hoàng Hải Thủy thuê tại đường Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận, ngay bên cạnh nhà của nhà báo Duy Sinh thời đó, nay cũng ở Hoa Kỳ. Nhiều bạn bè biết chuyện ấy, nhưng tố cáo làm chi, vì nghĩ đó là tình máu mủ ruột thịt thì hắn phải làm việc  "chứa VC trong nhà". Người quốc gia khác người CS ở điểm đó, vì họ không muốn biến thành Công an nhân dân, hay tên chỉ điểm không công."

(trích bài Mõm Chó Vó Ngựa, tác giả Nguyễn Thụy Long, Báo Việt Express, xuất bản ở Nam Cali- số 11 ngày 15-12-2005)

° ° °

"Chữ nghĩa chống Cộng" của Hoàng Hải Thủy sau khi đã an toàn ở hải ngoại nghe cũng rất kinh. Như ông đã mạt sát tôi bằng những lời lẽ dưới đây, mặc dù tôi đoán chừng là ông chưa hề đọc hay đọc kỹ những gì tôi đã viết, mà chỉ moi móc, cắt xén chỗ này một ý, chỗ kia vài câu để lấy cớ chửi rủa :

"Trong lúc ông bố kêu gọi người Việt ở Mỹ "hoà giải" - đúng hơn là "đầu phục" - bọn Bắc Cộng thì tờ báo của bà con gái ông ta ở Quận Cam, Cali, Mỹ Quốc, lại đăng những chuyện ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, ăn lường, ăn bòn, ăn mót, ăn móc, ăn mút, ăn liếm, ăn đút, ăn khoét, ăn đủ cách đểu giả của bọn đầu xỏ Bắc Cộng. Chúng nó bẩn đến như thế mà ông muốn chúng tôi đầu phục chúng nó ư, thưa ông nhà văn kiêm nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính? Ông cha tôi ngày xưa có câu "xui trẻ ăn cứt gà", nay ông nỡ lòng nào ông làm cái việc "xúi người già ăn cứt Cộng sản." Chúng tôi không đến nỗi ngu như ông tưởng đâu, thưa ông. Ai ăn cứt Bắc Cộng thì ăn, chúng tôi, những người Việt ở Mỹ, chúng tôi không ăn."

Nguồn: http://hoinhavanvietnamluuvong.info/index.php?categoryid=17&p2_articleid=23

Công Tử Hà Đông-Như có Boóc Hồ ở Bolsa Street!

Hay một thí dụ khác ::

"Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ vừa mãn nhiệm là ông Michael Michalak. Ông này từng khoe ông học nói tiếng Việt. Ðại Sứ Liên Xô ở Việt Nam Cộng Sản đã học nói tiếng Việt từ năm 1980, tức là trước ông Ðại Sứ Hoa Kỳ xa. Nghe nói Ðại Sứ Liên Xô từng khoe ông nói được tên nữ diễn viên điện ảnh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà:

"Chị Thâm Thúi Háng.."

Lại nghe nói Ðại Sứ Mỹ Michalak cũng khoe ông nói được bốn tiếng:

"Chị Thâm Thúi Háng.."

Và nay ông Ðại Sứ Shear cũng nói ông sẽ học nói tiếng Việt. Chắc mục đích của ông cũng là để nói được cái tên:

"Chị Thâm Thúi Háng.."

Than ôi… Một loạt những ông Ðại sứ Mỹ "Thâm Thúi Háng.." Trông mong gì ở những ông Ðại Sứ Thâm Thúi Háng này!"

Nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com/2011/05/10/nhan-tinh-nhan-banh/

° ° °

Những ngôn ngữ hạ cấp như ở trên của Hoàng Hải Thủy tức Công Tử Hà Đông không khiến cho văn giới phải ngạc nhiên, vì mọi người đã biết từ xưa, hồi đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Hoàng Hải Thủy đã viết phóng sự lấy tên là  "Tây Đực, Tây Cái" đăng báo hàng ngày. Tưởng là thâm thúy, có duyên lắm, nhưng một thời gian sau tác giả phải đổi tên lại là " Ông Tây, Bà Đầm" vì bị công luận lên án là chữ nghĩa có phần nào thiếu tính cách giáo dục.

Tưởng đó là một bài học để đời, nhưng khi ra đến hải ngoại, ngồi ở một nơi an toàn, Hoàng Hải Thủy lại ngựa quen đường cũ, viết lách đến nỗi nhà văn Nguyễn Thụy Long phải than phiền :

"Khi hắn sang được đến đất Mỹ, để tạo ra những câu chuyện làm quà, hắn viết về đời sống của những anh em văn nghệ sĩ còn ở lại Việt Nam, thay vì để người ta còn nhớ những người nghệ sĩ vì lý gì đó còn phải ở lại trong nước, không ra đi được như hắn, hắn lên tiếng chửi bới những người đó, bôi nhọ thân phận những anh em nghệ sĩ phải ở lại không tiếc lời (Như bạn ly dị thì hắn viết là "anh bị vợ bỏ",  không đẹp trai thì hắn viết là "sẹo đầu sẹo cổ",  bạn một cảnh hai quê thì hắn viết "thuyền trưởng hai tầu,") . Nghe nói hắn còn mang nhân vật lịch sử ra viết lách kiểu này, gọi ông Thi Sách là Thuyền trưởng hai tầu vì bịa ra rằng Hai Bà Trưng là vợ cả vợ bé của ông."

( bài Mõm Chó, Vó Ngựa đã dẫn ở trên)

Quên mình là đã có thời "chứa VC trong nhà"như Nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ, Hoàng Hải Thủy còn chửi Cộng bằng thứ ngôn ngữ mà văn giới nghe thấy phải đỏ mặt, như gọi Giải thưởng Nhà Nước VN  trao cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là "Giải thưởng Nhà Thổ":

" Ðầu Năm Lợn, Tháng Hai 2007, bọn Cộng Hà Nội trao cái gọi là "Giải Thưởng Nhà Nước" cho 4 Nhà Thơ Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Ðạt vì các tác phẩm mà bọn Cộng gọi là "có giá trị cao về văn học nghệ thuật, ca ngợi đất nước, nhân dân, góp phần xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo vệ Tổ quốc". Phải gọi cái "Giải Thưởng Nhà Nước Bắc Cộng" này là "Giải Thưởng Nhà Thổ" vì những lý do sau đây... Nguồn : www.gio-o.com

Đồng ý rằng khi nhà nước CSVN trao giải cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là có ý đồ xí xóa mọi tội ác đã gây ra cho biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ VN nên không thể ca tụng loại giải thưởng có tính cách xí xóa này. ( Xin đọc quan điểm của tôi về vụ này ở Hành Trình Chữ Nghĩa, cuốn I, trang 203)

Nhưng khi phê phán một vấn đề thuộc về lãnh vực văn hóa thì cũng phải dùng ngôn từ văn hóa, như thế tiếng nói mới có tác dụng. Chứ phun ra những thứ từ ngữ nhà điếm, nhà thổ thì tôi e rằng chính CSVN sẽ cười lên hô hố mà khuyến khích: " Cứ chửi nữa đi. Càng chửi càng lộ rõ bộ mặt văn chương chữ nghĩa của bọn hải ngoại là những thứ vô học, vô văn hóa."

Mặt khác, sự nghiệp văn chương của Hoàng Hải Thủy để lại được bao nhiêu so với những tác phẩm mà Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán đã sáng tác trong thời Kháng chiến chống Pháp hay Phong trào Nhân văn Giai Phẩm mà nhiều thế hệ độc giả cho đến nay vẫn còn truyền tụng? Không lẽ chỉ trưng ra được những truyện sáng tác như "Yêu nhau bằng mồm" hay viết lại tác phẩm của người khác gọi là phóng tác như "Kiều Giang" từ cuốn Jane Eyre của Charlotte Brontë ?

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là ta phải quan tâm đến nhu cầu đọc sách báo văn chương tiếng Việt của thế hệ trẻ đi sau.

Không lẽ chúng ta cứ để cho giới trẻ, con cháu của chúng ta, những người trẻ có lòng muốn tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu về văn chương Việt Nam, về văn hóa dân tộc, mầy mò vào Internet để nghiền ngẫm những bài của Nguyễn Hữu Nghĩa (Mõ làng Văn), Nguyễn Hữu Nhật (Sắc Không), Nguyễn Thiếu Nhẫn hay Lão Móc, Hồ Công Tâm hay Hồ Công Tử, Hoàng Hải Thủy (Công tử Hà Đông)...v..v…. mà không căn dặn hay lên tiếng với các con cháu một lời cảnh báo rằng "Văn chương chữ nghĩa của các bậc cha, ông không phải là những thứ rác rưởi, cặn bã như thế."

Phải nói cho ngay, nhiều tuổi trẻ ở thế hệ thứ hai, thứ ba chưa đủ trình độ Việt ngữ để đánh giá một bài văn, vài câu thơ nói chi đến chuyện nhận diện được lòng tự trọng và sự thanh khiết, liêm sỉ của người viết.

Bởi nếu không cảnh báo thì sẽ vẫn còn tiếp tục xẩy ra chuyện "tung hứng" làm vẩn đục môi trường chữ nghĩa.

Khi nói hai chữ "tung hứng" là nói về một kẻ đã viết ra thì lại có kẻ khác nhẩy vào phụ họa, khiến cho sự việc được diễn tả trở nên có tính cách " tham gia hội đồng" và sự tác hại cứ thế mà được nhân lên.

Về chuyện này, đành lại phải nhắc tới Công Tử Hà Đông, tức Hoàng hải Thủy khi ông ta viết bài nói "Trần Dần đáng được Giải Văn Chương Nô Ben cần thêm dấu tiếng Việt  (ý nói thiếu dấu Nặng  để Nô Ben thành Nô-Bẹn).

Một độc giả trẻ ở Paris bèn "phụ họa" như sau :

"TTLan-Paris, on September 20, 2011 at 2:33 pm said:

"Kính thưa bác CTHĐ, đúng là thơ Trần Dần quá bẩn, và con người TD đáng kinh tởm. Không còn phải nói gì hơn. Bởi thế nên, để trả lời câu hỏi của bác, Trích : "Trần Dần Jờ Dzoạc đáng được Giải Văn Chương Nô Ben. Cái Giải Văn Chương Nô Ben Trần Dần thiếu một dấu trong 5 dấu của Chữ Việt: Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng. Mời quí vị cho thêm một Dấu.", thì cháu đưa ra dấu ‘nặng’, có nghĩa là giải văn chương nô bẹn, có nghĩa là cái giải văn chương của những đầy tớ ‘nhăn dzăng’ (Nô) viết văn hạ cấp lấy cái ‘bẹn’ ra làm thơ. Cháu xin lỗi phải dùng những tiếng không thanh nhã trên dđ này, nhưng cháu thấy chỉ có những từ ngữ ‘hạ cấp’ ấy mới đi đôi với thơ của TD. Kính Bác, Lan.

Nguồn : http://hoanghaithuy.wordpress.com

° ° °

Đây là một chứng tích cho ta thấy tuổi trẻ trong sáng nhưng tâm hồn đã bị ô nhiễm bởi thứ văn chương hạ cấp.

Người viết ( cậu hay cô TTLan) hạ ngay một câu phê phán "đúng là thơ Trần Dần quá bẩn, và con người TD đáng kinh tởm" mà không đưa ra được một dẫn chứng cụ thể nào để chứng tỏ cố thi sĩ Trần Dần "quá bẩn" ở những chỗ nào? con người của cố thi sĩ Trần Dần "quá kinh tởm" ở những điểm nào ?

Như thế chứng tỏ cô hay cậu TTLan chưa chi đã học thói  bắt chước cung cách chụp mũ, bôi bẩn vô tội vạ của lũ ma cô cầm bút, đã thế lại còn được ông Hoàng Hải Thủy khích lệ đưa lên trang Web của ông nữa (hoanghaithuy.wordpress.com)  thì làm gì tệ nạn "áp đặt chữ nghĩa, dựng chuyện trắng trợn, ăn không nói có lấy được" lại không được thể mà cứ đi xa mãi.

Ngoài chuyện "tung hứng" được khích lệ kể trên, tuổi trẻ vào Internet còn là do ở trí óc tò mò.

Chẳng hạn như đoạn văn của Hoàng Hải Thủy sau đây, chắc chắn sẽ gây bối rối cho nhiều bạn trẻ, nhưng có thể họ vẫn chăm chỉ theo dõi vì tính tò mò :

"Ngày đó sẽ là ngày khu Bolsa, Orange County, Cali đỏ rực cờ máu, một triệu người Việt ở khắp nơi trên đất Mỹ, nghe lời kêu gọi của Nhà văn Nhớn, cơm nắm, muối mè lền khên kéo nhau về khu Bolsa dự mét-tinh chào mừng Ngài Thủ Tướng, hình Boóc Hồ dzại đĩ, xin lỗi, phốt ti-pô, sửa lại: hình Boóc Hồ dzĩ đại được dựng lên che kín mặt tiền nhà Phước Lộc Thọ, nhà tranh đấu cho tự dzo độc tài dzô sản Trần Truồng được Ngài Thủ Tướng Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của ông Nhật Tiến, ông Nguyễn Mộng Giác, bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, ôm hun thắm thiết, gắn huy chương Sao Vành Lá Đa ghi công. Trong mít-tinh dzĩ đại tôn vinh Boóc Hồ và chào mừng Ngài Thủ Tướng, ngoài những bài diễn văn ca tụng công ơn trời biển của Boóc và Đảng còn, theo đúng truyền thống Bolsa, có phần dzăng nghệ dzăng gừng, Thi sĩ Cù Cưa lên micro trang trọng ngâm bài thơ Sao Vành kính dâng Hồ Chủ Tịt:

Tối trời em ngỡ trăng thanh

Em ngồi em để cái Sao Vành em ra.

Sao Vành như cái lá đa,

Đen như mõm chó, chém cha Sao Vành…

Nữ Ca sĩ Thờn Bơn kính dâng Boóc Hồ bài ca từng được nhân dân Sài Gòn hát chào mừng Boóc trong những tháng đen hơn mõm chó cuối năm 1975:

Đêm qua em mơ gặp Boóc Hồ

Chân Boóc dài Boóc đạp xích-lô…"

Nguồn: oinhavanvietnamluuvong.info/index.php?categoryid=17&p2_articleid=23

Văn chương chữ nghĩa kiểu này phải liệt vào hạng hạ cấp tột độ, người Quốc Gia chân chính không bao giờ thèm xài để viết những bài chống Cộng khi chính nghĩa Tự Do, Dân Chủ đã sáng ngời và tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc VN thế nào qua các vụ đấu tố trong Cải cách Ruộng đất hay tham vọng đốt cả Trường Sơn để chiếu cố miền Nam…v..v...thì lịch sử cũng đã làm rõ.

Vậy nếu có vì tò mò mà đọc rồi thì các cháu cũng đừng nên bắt chước thứ viết lách như thế, bởi nó không những làm hủy hoại sự trong sáng vốn có của tiếng Việt mà lại còn hạ thấp tư cách của con người vì đã bộc lộ cho người đọc thấy cái chất tiểu nhân, lươn lẹo, không xứng đáng được gọi là người cầm bút có tư cách.

Phải chăng đó cũng là lý do mà nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long đã phải diễn tả thứ văn chương này là loại văn "Mõm Chó, Vó Ngựa" ý nói  Mõm chó sủa càn, Vó ngựa đá bậy.

Thêm một ví dụ nữa về thứ văn chương nham nhở, xúc phạm đến tiền nhân mà Hoàng Hải Thủy gọi ông Thi Sách là "Thuyền trưởng hai tầu" ý nói là làm chồng của cả Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng của toàn thể dân tộc.

Xin trích từ bài "Đừng Vì Hứng Bút Mà Coi Thường Độc Giả Và Hỗn Láo Với Tiền Nhân" – tác giả Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do  (tôi tô đậm những chỗ cần nhấn mạnh):

"Hoàng Hải Thủy viết :

"Dzậy thì thưa quý dzị chúng ta nên đi đến kết luận ngắn gọn là trong  những truyền thống của ông cha ta có truyền thống cho phép Thuyền Trưởng Lái Nhiều Tàu là tốt đẹp, đáng để ta gìn giữ. Và nếu đám con cháu hèn ngu không giữ được truyền thống cao đẹp ấy đám con cháu ấy đúng là hèn ngu, mà hèn ngu thì ráng chịu."

 

Chuyện làm tôi théc méc là tôi không biết vì sao những vị Nữ Thuyền Phó Mít con cháu Hai Bà Trưng nói chung, và các cụ, các bà, các cô Nữ Sinh Trưng Vương nói riêng các nàng này cũng là những Nữ Thuyền Phó, có nàng còn là Nữ Hải Tặc lận – lại rất quyết liệt trong việc cấm Thuyền Trưởng Chạy Hai Tàu …

Tôi théc méc là bởi vì chính ông cha, chú bác các nàng — mới vài chục niên trước đây thôi- là những Thuyền Trưởng Hai Tàu có Ba-Tăng, có giấy phép Triều Đình cấp."

 

"Lẽ ra là con cháu Hai Bà Trưng các nàng phải tôn trọng cuộc đời tình ái của Hai Bà mới phải. Hai ngàn năm trước thuyền trưởng Thi Sách là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Đốc Điều Hành Công Ty Hàng Hải Trưng Shipping Company,  một mình thuyền trưởng Thi Sách chạy hai tàu viễn dương Trưng First và Trưng Second ngon lành êm ru bà rù…."

……

"Nếu thuyền trưởng Thi Sách không chạy hai tàu họ Trưng cùng một lúc và được cả hai Nữ Thuyền Phó hài lòng thì khi Thái Thú Tô Định tham tàn cho Thuyền Trưởng đi tàu suốt, hai bà đã không căm phẫn.

Nếu Hai Bà đã không căm phẫn thì Hai Bà đã không nổi dậy đánh đuổi bọn quan quân nhà Hán.

Nếu Hai Bà không đánh đuổi bọn quân nhà Hán, không dựng cờ độc lập  ‘Lĩnh Nam riêng một triều đình…’ thì biết đâu bây giờ  chúng ta đã chẳng xí xố xì xồ mí nhau …"……

"Chúng tôi thiết nghĩ nếu ông Hoàng Hải Thủy trở về với sở trường là phóng tác truyện hay ngoại quốc, như Kiều Giang, Tìm Em Nơi Thiên Đường, hoặc chỉ dùng lối văn nham nhở để viết các phóng sự đại loại như Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Nhau Bằng Mồm thì ông sẽ vẫn giữ được cảm tình và sự mến mộ của độc giả. Nếu ông cứ tiếp tục dùng lối văn này để viết về  văn học, hoặc bàn nhảm về các danh nhân, anh hùng của lịch sử thì chúng tôi e rằng ông sẽ chỉ gây công phẫn và nhận sự khinh bỉ nơi người đọc lớn tuổi, gây độc hại và dẫn dắt  lầm lạc các độc giả  trẻ, những người muốn tìm hiểu về văn học và lịch sử nước nhà. …

Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do

Nguồn : http://hoanglanchi.com/?p=256" rel="nofollow">http://hoanglanchi.com/?p=256

° ° °

Đáng buồn thay, những thứ văn chương nham nhở kiểu này, và còn cả những thứ thâm độc và  mạt hạng hơn nữa vẫn còn thấy tiếp tục xuất hiện trong lãnh vực chữ nghĩa, nhiều nhất là trong một số diễn đàn trên Internet.

Chắc chắn những thứ rác rưởi này  sẽ ảnh hưởng xấu xa vào sự suy nghĩ, cung cách ứng xử cũng như ngôn từ nói và viết của thế hệ trẻ đi sau, để rồi ra trong một tương lai thấy rõ, làng Văn, làng Báo sẽ xuất hiện một lớp người viết lách vô văn hóa, chỉ biết đối diện nhau để nhe răng múa vuốt.

Cho nên đã đến lúc không thể còn giữ im lặng được mãi. Phải nhổ hết cỏ dại, nấm độc trên sách, trên báo và nhất là trên Internet để khuôn mặt văn hóa của người Việt hải ngoại không bị làm cho lem luốc đi mãi.

 

Lời Cuối

Như đã thưa trước trong Lời Mở Đầu, việc tôi biên soạn cuốn sách này, ngoài việc làm sáng tỏ thêm những ngộ nhận đã từng bao trùm lên cuốn sách Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương cùng một số tác phẩm của riêng tôi , tôi còn  mong muốn góp phần vào công cuộc dọn dẹp sạch sẽ môi trường chữ nghĩa tại hải ngoại vốn đã từ lâu bị bôi bẩn bằng những thứ văn phong tục tĩu, vô văn hóa của một số ngòi bút vẫn tự phong cho mình vai trò ngự sử văn hóa, văn nghệ,  nhân danh lý tưởng chống Cộng để vùi giập, hạ nhục rất nhiều con người công chính.

Cho nên, xin coi đây là một lời cảnh báo tuy muộn màng nhưng không phải là đã quá trễ.

Văn chương là vẻ đẹp có nhiệm vụ làm đẹp cuộc sống,  nâng giá trị con người chứ không thể là công cụ để vùi giập hay chà đạp lên nhân phẩm cũng như tư cách của con người.

Tôi kêu gọi những Hội đoàn, những Đoàn thể, Hiệp hội Văn Hóa, những Hội Cựu Học Sinh các trường trung, đại học của  miền Nam cũ, những đồng hương còn quan tâm đến văn hóa ..v.v….xin hãy góp phần vào công cuộc dọn trừ những cỏ dại trong lãnh vực văn chương chữ nghĩa để làm trong sạch môi trường sinh hoạt văn hóa ở hải ngoại và để cho chính nghĩa của những người yêu chuộng Tự do, Dân chủ không bị làm cho lem luốc đi.

NHẬT TIẾN
Nam Cali, tháng 4-2012