vietmessenger.com


Nhật Tiến & Nhật Tuấn

Quê Nhà Quê Người (Còn tiếp)





MỤC LỤC


QUÊ NGƯỜI
  Cái Thuở Ban Đầu
Những viết sỏi trên đường
  Tha Thẩn Sân Trường
  Ngày Nàng Trở Lại
  Hương Vị Ngày Xưa

QUÊ NHÀ
  Đá Trắng
  Một cái chết thong thả
  Công ty vẽ chân dung
  Người thứ ba
  Vườn vắng
  Chùa trên núi


Cái Thuở Ban Đầu

Cái diện H.O. của gia đình ông  Bửu có hai điều tốt đẹp hơn những người khác. Một là  ông có người em đã đi Mỹ  từ năm 1975, hiện ở vùng California, thủ phủ của dân tỵ nạn. Qua thư từ trao đổi, ông Bửu thấy cô chú đã ăn nên làm ra và có thể trở thành chỗ dựa vững chắc cho cả  gia đình nhà ông Bửu. Còn điều tốt đẹp thứ  hai, hai ông bà  có hai đứa con, một  trai, một gái, chưa đứa  nào lập gia đình và  đều dưới mười tám tuổi.  Thế là cả gia đình  được đi hết, không  còn phải băn khoăn  bịn rịn vì ai.  Một hoàn cảnh như thế, ai mà không  mơ ước. Hôm cả nhà ra sân  bay, rất đông bạn bè đi tiễn. Ông Bửu  hân hoan tươi cười giơ tay vẫy  chào với tất cả niềm sung sướng trọn vẹn. Bước chân của ông nhẹ tênh. Ánh mắt của ông sáng rực.  Nụ cười của ông rạng  rỡ. Ông có cảm giác  như mỗi bước chân trèo  lên một bậc thang phi  cơ là một bước đi  vào một vùng hào quang  chói lọi mà ông đã  hằng mơ ước từ bao  nhiêu năm nay. Bây giờ ước mơ đã thành  sự thực. Cũng bõ với biết bao nhiêu là ngày tháng đắng cay, tủi nhục mà ông đã từng trải qua.

Hôm đến Mỹ,  cả gia đình chú Tài  kéo nhau ra đón người  mới tới, đông đúc  một bầy đàn dễ  đến chín mười người.  Chú trông vẫn trẻ trung, nhưng đã có  dáng bệ vệ. Chú mập hơn xưa  rất nhiều. Da dẻ hồng hào,  căng bóng. Mái tóc  chải chuốt kỹ lưỡng,  đen láng như chưa hề có một  sợi tóc bạc. Chỉ có đôi mắt  tươi cười của chú là không thay đổi. Nó biểu lộ ở  nơi chú một con người lạc quan, yêu đời. Đối với chú, ở đời chẳng có sự việc gì khó khăn mà không thể giải quyết được. Hoàn cảnh nào cũng có lối thoát của nó, dĩ nhiên nhiều khi  nó chẳng như ý  mình mong muốn nhưng  có điều kiện khả thi, tức là không thể không thực  hiện được. Và chú chấp nhận cái lối thoát khả thi đó, rồi không  thắc mắc gì thêm nữa. Có lẽ quan niệm sống như  vậy đã làm cho chú  trẻ lâu. Chú không bao  giờ tự tàn phá  thân xác mình bằng  những đêm trằn trọc,  thao thức, mất ngủ. Ngày xưa,  ông Bửu vẫn nhận xét rằng  cái thằng Tài phổi bò, đặt lưng xuống là ngáy khò chẳng biết lo toan là cái gì hết.

Vậy mà, bây giờ, ở đây, nơi cái xã hội văn minh vật chất khổng lồ này, chỉ cần phóng tầm nhìn ra  mọi sinh hoạt ở chung quanh là đã thấy chóng mặt vì cái tốc độ vận chuyển của nó, thì chú Tài đã có một đời  sống vững vàng,  sung túc,  chỉ  cần nhìn cái  cử chỉ an nhiên, tự tại, và vẻ mặt sung mãn của chú là cũng đủ thấy.

Nhưng chính cũng  vì cái vẻ sung mãn  này mà ông Bửu trở  nên rụt rè. Lúc phi cơ sắp sửa đáp  xuống phi trường, ông đã hình dung racảnh hai  anh em ôm  ghì lấy nhau,  nước mắt ràn  rụa, những giọt nước mắt thương nhớ tích tụ từ hơn mười lăm năm xa cách. Ông tiến lại phía  người em và mở  rộng hai vòng tay.  Trong thâm tâm, ông chờ đợi chú Tài sẽ nhẩy bổ đến  ôm chầm lấy ông. Bề gì, cử chỉ đó cũng là một cái thước đo tình cảm mà ông cần biết trong hoàn cảnh này. Nhưng sự chờ đợi của ông  đã không tới. Chú Tài chỉ chộp lấy hai bàn tay của  ông rồi lắc lấy lắc để. Trong  lòng, ông Bửu hơi thoáng một nét buồn,  nhưng ông tự cho là mình vô  lý. Nếu chú ấy không quan  tâm đến mình  thì đâu có  kéo cả một  bầu đoàn thê tử đông đúc thế kia  ra đón. Bây giờ ông Bửu mới  chú ý đến người em dâu và lũ cháu đông đảo trước mặt. Ông thấy vợ của mình cũng đang tần ngần trao đổi điều gì đó với thím ấy. Còn lũ cháu thì đều trố hết cả mắt ra nhìn.  Ông Bửu không  còn nhận ra  đứa nào với đứa nào. Chúng nó  đã lớn hết cả rồi.  Có đứa đã lập gia  đình và hôm nay cũng đang tay bồng tay mang. Một vài đứa sinh ra và lớn lên ởđây. Dĩ nhiên là chúng nó phải  nhìn ông bằng cặp mắt xa lạ, cũng như chính  ông, ông không  hoặc chưa tìm  thấy một tình  cảm ràng buộc thân thiết nào đối với chúng nó cả.

Cả đoàn người kéo nhau lên chật bốn cái xe hơi. Ngồi cạnh bên tay lái của chú Tài, ông Bửu nghe chú ấy nói:
- Bây giờ anh chị và hai cháu hãy về qua đằng em. Hôm nay, nhà em nấu phở cho cả nhà. Sau đó, chúng em sẽ đưa anh chị về chỗ ở mới.
Ông Bửu ngạc nhiên:
- Ô! Thế chúng tôi không ở chung với cô chú à?
Chú Tài mỉm cười:
- Rồi anh sẽ thấy, mọi cung cách  ăn, ở sinh hoạt ở đây hoàn toàn khác biệt với những  điều mà anh vẫn hình dung ra  khi ở nhà. Đâu còn có cái  cảnh mấy anh em chui  rúc trong cùng một phòng kê ba bốn cái đi-văng  hay giường nằm. Ở đây, sự  riêng tư là một quyền tuyệt đối không thể  bị xâm phạm, ngay cả bố mẹ  đối với con cái. Cho nên, ai cũng phải có  phòng riêng, anh chị  đừng hiểu lầm là chúng em không quan tâm đến anh chị.

Đến buổi  chiều, sau một bữa  ăn ồn ào (sự  ồn ào gây nên  bởi lũ trẻ, hầu hết  là xì xồ toàn tiếng  Mỹ), chú Tài đưa gia  đình ông Bửu đến một  khu chung cư hẻo lánh.  Nhà cửa ở đây, cái  nào cũng giống cái  nào, trừ những  con số  gắn  trên cánh cửa  mà mầu sơn trắng đã cáu  đen đến gần trở thành  mầu sơn nâu của gỗ  cửa. Căn nhà có  hai phòng ngủ,  một phòng khách,  bếp liền với  phòng ăn, cộng với hai phòng tắm riêng  biệt. Thảm trải từ ngoài vào trong, tuy cũ kỹ nhưng so với căn nhà  của ông Bửu hồi còn ở Sài Gòn thì cũng đã một  trời một vực. Chú Tài  vừa dẫn mọi người đi  coi mọi chỗ vừa giải thích:
- Đồ đạc tuy còn thiếu nhiều nhưng  rồi từ từ đâu sẽ vào đấy. Một vài người  bạn của em  hứa đem lại  cái bàn ăn,  bộ salon, cái tủ đựng quần áo, chắc họ chưa có thì  giờ chở tới. Để em sẽ nhắc họ. Anh chị thì  ngủ trong căn phòng có buồng  tắm riêng biệt này. Mỹ nó gọi là  master bedroom. Còn cháu Trang thì  giữ căn phòng bên. Cháu Toản  ngủ tạm ngoài phòng  khách, là con trai  cũng không hề gì.
Trang nhanh nhảu:
- Cháu chia chung phòng với em cháu được rồi.
Chú Tài chặn ngay:
- Không được. Ở Mỹ, con trai, con  gái lớn dù là anh em ruột cũng không thể ở  chung phòng. Ấy, cái xứ  này nó kỳ cục như  vậy đấy, nhưng nhập gia tùy tục cháu à.

Lục đục kê dọn đến chiều tối thì  mọi sự kể như đã yên ổn, mặc dù nhà cửa trông vẫn còn tuênh  toang. Phòng khách trống trơn khôngcó lấy một cái  ghế ngồi. Bữa cơm chiều, mấy bố  mẹ con trải giấy xuống thảm, ngồi xổm ăn uống với  nhau. Được cái nồi niêu bát đĩa thì khá đầy đủ.  Điều quan trọng nhất là vấn đề  tiền bạc thì chú Tài đã nói rành rẽ:
- Gia  đình anh  chị được  trợ cấp  trong vòng  8 tháng. Trừ tiền thuê nhà, còn dư được sáu trăm. Nhà  em sẽ giữ lại ba trăm để mỗi tuần đưa chị đi chợ một lần. Còn  ba trăm là tiền cả nhà chi dụng trong mỗi tháng,  bao gồm tiền tiêu vặt, tiền  xe buýt di chuyển, tiền sách vở của các cháu và tiền điện thoại tối thiểu.
Bà Bửu nghe thấy đã kêu lên:
- Thôi, xài điện thoại làm chi cho tốn tiền.
Chú Tài đã giải thích:
- Rồi chị sẽ thấy ở đây mà  không có điện thoại thì sẽ chẳng khác gì giam  mình trong ốc  đảo. Ngay  như  chúng em là  chỗ thân cận nhất, nhà  lại ở xa  đây, đâu có  thể mỗi chốc  chạy qua hỏi thăm nhau được.  Do đó, cần  có cái  điện  thoại để liên  lạc. Mà cũng không tốn kém gì  ghê gớm lắm đâu, vài chục bạc  là cùng, miễn là anh chị  đừng gọi điện  thoại viễn liên.  Tuyệt đối dặn các cháu cũng đừng  gọi đi xa.  Thời gian đầu  ở Mỹ, phải  hết sức dè  dặt trong vấn đề chi tiêu mới được. Rồi chú ấy còn dặn thêm, mặc dù đã nói nhiều lần:
- Anh chị và các cháu có tám tháng lo sắp xếp, ổn định để tự túc. Cho nên phải  cấp tốc học Anh văn  và nhận lãnh bất cứ  công việc gì, với  bất cứ giá nào.  Việc chọn lựa những  cái mình thích hãy gác qua một bên để chờ sau này ổn định vững chắc cái đã.
Ông Bửu cố nén băn khoăn, lo lắng, chỉ thở dài:
- Thôi thì lúc đầu, mọi sự trông cậy vào chú tất cả...
Nói xong ông thấy chua xót trong  lòng. Ông tự hỏi tại sao ông đã phải dùng lời  lẽ khách sáo đó với chính  thằng em ruột của mình. Điều gì đã xẩy ra trong một  ngày ngắn ngủi thúc đẩy ông làm việc đó? Ông  không thể trả  lời một cách  rõ rệt, nhưng  sự băn khoăn hiện ra trên nét mặt của ông đã bị bà Bửu bắt gặp. Bà khẽ nắm lấy tay ông rồi  xiết chặt. Vậy là bà  cũng cùng chia xẻ với ông cái tâm trạng bất  ổn mà ông vừa trải  qua. Đó là cái nhậy cảm tuyệt vời của người bạn đường đã cùng ông trải qua biết bao nhiêu là cơn sóng gió của đời sống.

Tối hôm  đó, lần đầu  tiên hai ông  bà ngủ qua đêm trên đất  Mỹ, trong căn phòng mà chú Tài gọi là master bedroom, với hai cái túi ngủ do  thím Tài cho mượn. Trong bóng tối mênh  mông, cả hai đều thao thức  nhưng chẳng ai  nói với  ai  một câu nào.  Ở phòng bên cạnh,  cái Trang  còn thức  hay ngủ,  còn thằng  Toản đang làm gì ngoài phòng khách cũng chẳng thể  ai biết. Căn nhà tuy chẳng rộng rãi gì nhưng sao khoảng cách giữa người này với người kia hầu như quá lớn, quá sự tưởng tượng mà  ông Bửu có thể hình dung ra được. Hồi còn ở nhà, đang trong giai  đoạn sửa soạn ra đi, chú Tài luôn luôn viết thư về nhắc nhở:
- Đừng có ảo tưởng gì hết nhớ! Anh chị cứ nên nhớ rằng đời sống ở Mỹ cũng đầy rẫy những khó khăn.
Sự cẩn thận của chú chỉ khiến cho ông Bửu bật cười:
- Có ai mang ảo  tưởng gì đâu mà chú ấy khéo  lo. Còn sự khó khăn thì có  nơi nào khó  khăn bằng hoàn  cảnh mà mình  hiện đang sống đâu.
Bây giờ thì ông Bửu bắt đầu thấm thía về những lời dặn dò của chú. Sự khó khăn mà ông nhận diện được lần đầu tiên, ở đây, không phải vì  nhà cửa tuênh toang,  đồ đạc còn trống  vắng, cũng không phải vì ông đã loay hoay xoay  trở nhiều lần trong cái túi ngủ mà vẫn còn  thao thức, nhưng chính  là ở cái khoảng  cách giữa người này với người kia, giữa ông với chú Tài, giữa ông với hai đứa con ruột thịt mà  hình ảnh của chúng đang chập  chờn lẩn khuất đâu đó trong bóng tối mênh mông của đêm dài đầu tiên trên đất Mỹ.

° ° °

Những ngày hôm  sau, chú Tài vẫn lui tới  một cách sốt sắng. Điều này khiến ông Bửu cảm thấy vui  vẻ hơn mặc dầu trong lòng ông còn đôi chút lấn cấn vì thiếu sự vồn vã của người em dâu. Cả gia đình ông đã theo chú đi làm các thủ tục giấy tờ, đi khám sức khoẻ tổng quát và thăm thú một vài khu chợ Việt Nam đông đúc, phồn thịnh.
Một hôm cuối tuần, chú Tài nói nho nhỏ, riêng với ông Bửu:
- Em sẽ đưa  anh chị và các cháu  tới một ngôi nhà thờ Tin Lành.
Ông mục sư  ở đây hứa tặng gia  đình anh chị quần áo  mùa đông và các đồ đạc gia dụng khác. Vậy ông nói gì mặc ổng, miễn mình có đồ xài. Ông Bửu nghe rồi, hơi nhăn mặt lại:
- Mà ông ấy sẽ nói gì chứ?
Chú Tài cười xuề xòa:
- Ồ! Truyền đạo vớ vỉn thôi. Ăn thua ở mình, mình không tin thì thôi chứ ai bắt buộc. Xứ này là xứ tự do mà.
Ông Bửu miễn cưỡng nhận lời, không phải vì những bộ quần áo mùa đông được hứa hẹn nhưng nể lời đề nghị của chú ấy. Từ chối sợ làm
chú phật lòng.

Cuộc gặp gỡ đã diễn ra không có gì lấy làm ngột ngạt cho lắm. Cũng là bởi ông mục sư Thành là người sốt sắng, vồn vã,  và có lòng chân tình muốn trợ giúp cho những gia  đình mới tới. Tuy nhiên, ông ta cũng không thể bỏ qua nhiệm vụ chính yếu của mình. Sau khi thuyết giảng rất lâu về vấn đề tôn giáo,  ông đã ấn vào tay của Trang và Toản một chồng lẫn lộn cả sách kinh lẫn tài liệu. Rồi ông nói:
- Các cháu  đem về đọc kỹ đi để  biết thêm về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và công việc cứu chuộc của ngài. Nhờ ngài mà chúng ta mới
được cứu rỗi. Kỳ sau gặp nhau ta sẽ trao đổi thêm về đức tin Thiên Chúa.
Trong lúc thằng Toản còn ngần  ngừ thì Trang đã  rụt tay lại, và nói:
- Thưa mục sư, gia đình cháu theo đạo Phật.
Ông mục sư hơi khựng lại,  mặt ông thoáng một  vẻ bối rối, nhưng ông trấn tĩnh được rất nhanh. Ông nở một nụ cười đầy vẻ thân ái:
- Thì đâu có sao. Đây là vấn đề tìm hiểu mà.
Bầu không khí đột nhiên có vẻ bắt đầu găng lên, và điều này đã khiến  chú Tài phải chen  vào cuộc.  Chú tưởng  rằng chỉ cần dặn riêng ông anh là đủ, nhưng chú  không ngờ phản ứng ương ngạnh của đứa cháu gái mà  trước đây, chú vẫn mang định kiến  là nó còn nhỏ nhít, không cần đếm xỉa đến làm gì. Chú đã vội đưa tay ra đón lấy chồng sách của mục sư Thành  và nói lấp liếm:
- Mục sư nói phải đấy cháu ạ.  Đã sang đến đây thì chuyện gì cũng phải tìm hiểu,  chuyện gì cũng phải mở mắt,  vểnh tai lên. Có thế thì mới hội nhập vào cái xứ này được.
Tất cả  mọi người đều không  ngờ được rằng, cái  Trang đã trả lời chú một cách rất đĩnh đạc, cái giọng rành rọt, sắc sảo của nó như
đượm một vẻ gì khinh miệt ông chú mà nó tích lũy từ bao lâu, bây giờ mới có dịp phát ra:
- Thưa chú hội  nhập không có nghĩa là phải  đổi đạo, là bán linh hồn. Nếu chú nghĩ rằng có  thể mua được linh  hồn của chúng cháu,  có thể bắt chúng cháu phải bỏ đạo bằng mấy thứ quần áo cũ này thì thật là một giá quá rẻ.
Mặt chú Tài sạm đi thấy rõ. Chú  nhìn con bé một cách sững sờ như không thể  tưởng tượng rằng  nó đang là  đứa cháu ruột  của mình. Phải lặng đi rất lâu rồi chú mới buông được một câu:
- Con bé này ăn phải đũa Việt Cộng mất rồi.

Trên đường  về, chú Tài không  che dấu cơn giận  dữ của mình. Chú vùng vằng  trong lúc lái xe,  mặt chú đỏ gay lên không thấy giảm xuống chút  nào, còn đôi  mắt của chú  thì long lanh  một cách dữ tợn. Qua  kính chiếu hậu,  chú nhìn một  cách căm ghét khuôn mặt chai lì, lạnh lẽo của con bé mười sáu tuổi đang ngồi ngậm câm bên cạnh khuôn mặt đầy ẩn nhẫn chịu  đựng của ông bố. Suốt từ lúc xẩy ra câu chuyện, ông Bửu chưa lên tiếng một lời nào.  Điều này cũng  khiến cho chú  Tài bực bội  thêm. Chú tự nghĩ con cái thì  phải dậy dỗ chúng nó chứ, đâu  có thể để cho tự do ngang ngược, luông tuồng như vậy được.

Chiều hôm ấy, lúc chú Tài đã ra về rồi, ông Bửu thấy  cái Trang đang ngồi khóc ở trên một cái ghế  gỗ kê bên cạnh cửa sổ. Ông xót xa cảm thông những  ý nghĩ tức tưởi của nó sau câu chuyện đã xẩy ra. Ông tiến lại, khẽ vuốt tóc nó và thầm thì:
- Thôi đừng buồn. Bố hiểu, nhưng nhập gia phải tùy tục con ạ.
Cái Trang  không đáp lại lời ông, nhưng có vẻ nó cố nén lại để khỏi khóc to  hơn. Có lẽ đây là  lần đầu tiên kể từ  khi đặt chân lên xứ Mỹ, ông Bửu cảm thấy quyết định ra đi của mình là sai lầm. Phải chi như ngày xưa, khi còn tuổi  trẻ và sức lực, thì sự sai lầm nào cũng có thể sửa chữa được.  Nhưng giờ đây nơi xứ sở xa lạ đầy bất trắc này,  ông thấy rõ bất lực yếu kém  của mình. Ông chỉ còn tự  an ủi mình  bằng một câu,  thôi thì định  mệnh đã an bài, biết làm sao.

Một lát sau, cái Trang đã nín  khóc. Nó vừa vuốt lại mái tóc, vừa ngồi lên ngay  ngắn. Rồi  nó cất  tiếng, cái  giọng nghe vừa quả quyết, vừa đĩnh đạc như thể nó  tin tưởng tuyệt đối vào những lời lẽ nó đang nói ra:
- Bố ạ, bằng  mọi cách mình phải thoát ra  khỏi chỗ này thôi. Con không còn thể  chịu đựng được hơn nữa  những thái độ của  chú Tài. Qua cái nhìn của chú ấy  mà con thấy ở trong kính xe,  con thấy rõ chú ấy đã nghĩ gì.
Ông Bửu cố tìm lời an ủi:
- Cũng phải từ từ  con ạ. Mình mới tới, chú ấy lại hết lòng giúp đỡ mình, bỏ đi ngay sao tiện.
Giọng cái Trang đột nhiên gầm lên:
- Chú ấy hết lòng ở chỗ nào? Bố  thử nghĩ coi, bố có thể đón tiếp một người thân ruột thịt bằng những ngày  đầu tiên nằm  lăn lóc trên mặt thảm mà không có tấm ván kê lưng không. Một cái bàn ngồi ăn cơm không có.  Nhìn bố mẹ ngồi xổm xuống đất bưng bát cơm lên ăn, con chịu không nổi. Mỗi đêm trằn trọc trong túi ngủ, nghĩ đến bố mẹ cũng cùng một cái cảnh ấy,  con thấy rõ chú ấy hết lòng với gia đình  mình tới mức  độ nào.  Rồi  bố sẽ thấy,  trong vòng tám tháng nữa  khi hết tiền  trợ cấp, chú  thím ấy sẽ  có thái độ thế nào.

Ông Bửu  cau mặt lại. Ông  cảm thấy tình ruột  thịt bị thương tổn mặc dù nhận xét của con bé không sai. Ông cố vớt vát:
- Thì chú  thím ấy cũng lo cho tương  lai của mình  đấy chứ. Mấy tuần  nay, lúc  nào chú  ấy chẳng  đôn đáo  đi lo  cho mình  công việc...
Cái Trang mỉm một nụ cười chua chát:
- Điều đó  dĩ nhiên. Để cho mình khỏi phiền lụy khi hết còn trợ cấp. Mà bố có thấy không, ngoài việc đi xin chỗ này chỗ kia đồ đạc vật dụng dư thừa, chú ấy có chi một đồng xu teng nào cho mình ngoài số tiền chính phủ trợ cấp đâu.
Ông Bửu đuối lý nhưng cố gạt đi:
- Thôi đừng có suy diễn, nghĩ ngợi xa xôi làm phụ lòng chú thím ấy đi.

Nói rồi ông định đứng dậy bỏ  đi. Lúc ông ngẩng đầu lên, ông chợt bắt gặp đôi mắt  buồn bã của bà Bửu đang nhìn  ông thăm thẳm. Ông bối rối  quay đi. Lòng ông  trĩu nặng những tâm  tình ngổn ngang. Vừa buồn vừa lo.  Ông thấy rõ cái thời hạn tám  tháng trợ cấp nhưmột bức tường thành sừng sững trước  mặt. Làm sao ông có thể vượt qua... Ông không thấy một tia sáng  hy vọng nào khi đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại của mình. Như một con thú bị dồn tới chỗ đường cùng, mọi khả năng vùng vẫy của ông hầu như bị tê liệt.

Ngày hôm sau, chú Tài trở lại với nụ cười hớn hở trên môi. Chú ấy nói ngay từ khi mới bước vào nhà:
- Có việc cho lũ nhỏ rồi đây.
Ông bà Bửu cùng mừng rỡ:
- Ô! Thế à! Trời ơi, may mắn quá.
Như sợ sự vui mừng của anh chị  mình bừng lên quá lố, chú Tài vội nói thêm:
- Việc tạm thời thôi, chứ không lâu dài gì, nhưng rất nhẹ nhàng, đủ kiếm thêm tiền mua sách vở.
Rồi chú ấy giải thích rằng có một cơ sở mà chú ấy quen biết, trong vài  ngày nữa, sẽ  tưng bừng khai  trương. Thằng Toản,  cái Trang chỉ việc bận  một bộ đồ đặc biệt, một đứa  làm gấu, một đứa làm thỏ  đứng ở ngay  trước cửa công ty, giơ cao  tấm biển: NGÀY KHAI TRƯƠNG, thế  là có bốn đô la  cho mỗi đứa một giờ.  Đứng tám giờ kiếm được hơn ba chục đồng. Không phải là ít!
Vẻ mặt  đang tươi rói  của ông Bửu  bỗng nhiên sịu đi. Ông mường tượng ngay ra  cái tình thế khó khăn  khi cả hai đứa con  của ông không chịu nhận  cái loại công việc hết sức  kỳ cục đối với chúng nó như thế. Tuy nhiên, để khỏi  phụ lòng chú em của mình, ông vội vã chặn ngay, không để cho chú ấy tiếp xúc trực tiếp với hai đứa.
Ông nói:
- Vậy thì tốt quá. Chú để tôi nói  lại với chúng nó. Mà  bao giờ thì làm, ở đâu.
Chú Tài vui vẻ:
- Rất gần chỗ này thôi. Chỉ một chặng xe buýt là tới. Đây này, em đã viết  sẵn thư giới thiệu và ghi  rõ địa chỉ,  ngày giờ cần có mặt. Các  cháu chỉ nói tên chú Tài giới thiệu là ở đó họ biết ngay.
Chú Tài lấy trong túi ra một bao thư trao cho anh mình rồi vội vã đi ngay. Chú nói còn rất nhiều công việc phải giải quyết.

Khi chú đi khỏi rồi, thằng Toản, cái Trang ở trong phòng bước ra, mặt nhăn  nhó, như chúng  đã nghe thấy  toàn bộ câu  chuyện. Toản nói:- Bốn đồng chứ bốn mươi đồng con cũng không làm đâu. Công việc gì kỳ cục như một thằng hề.
Ông Bửu cãi lại:
- Mày đâu có phải chường mặt ra mà sợ. Cả cái bộ đồ thú chùm kín mít từ đầu đến chân rồi còn gì.
Toản phụng phịu:
- Nhưng vẫn là xấu hổ. Xấu hổ với chính mình.
Ông Bửu  quay sang nhìn cái Trang. Vẻ mặt lạnh lùng, trơ như đá của nó làm ông thất vọng. Ông  biết là mình không thể thuyết phục được gì ở nơi chúng nó. Ông thở dài, nhún vai:
- Thôi được. Không muốn làm thì thôi, mình đâu đã chết đói mà sợ.

Tối hôm đó, nằm  trong hai cái túi ngủ đặt sát  cạnh nhau, ông bà Bửu đã sầm sì trao đổi. Cả hai đi đến quyết định là cùng thay thế hai đứa nhỏ  để vẫn giữ được công việc do chú Tài giới thiệu. Ở đời, chỉ có người xấu chứ không có nghề xấu. Đồng tiền kiếm ra từ sự lương thiện đều là quý giá cả. Nghĩ đến cái giây phút người vợ nhỏ bé của  mình phải chui vào bộ  đồ thú hình con thỏ,  lòng ôngBửu đau như xát muối. Ông thò tay  qua nắm lấy bàn tay nhỏ bé của bà, nước mắt tự  nhiên trào ra. Bà cũng nắm chặt  lấy tay ông như một sự chia xẻ như suốt bao  nhiêu năm ròng rã trong cuộc đời nổi trôi bà  cũng đã từng chia xẻ với  ông mọi nỗi  thăng trầm trong bất cứ hoàn cảnh nào. Giọng của ông như nghẹn lại. Ông thì thào:
- Anh cám  ơn em. Có  em, anh sẽ  vượt qua được  mọi thứ khó khăn trên đời này.
Bàn tay của bà  nắm lấy tay ông chặt hơn. Điều  này rất mau chóng đem lại cho ông sự bình an trong tâm hồn. Đêm hôm ấy, ông đã trải
qua một giấc ngủ dài, bình an, không mộng mị.

° ° °

Cái ngày  khai trương ấy, nơi  cửa xí nghiệp buôn  bán đồ gỗ Đông Phương mà hầu hết là nhập cảng  từ Hồng Kông hay Đài Loan, có haicon thú  nhởn nhơ qua lại,  trên tay cầm tấm  bảng một tiếng Anh, một tiếng Việt:  GRAND OPENING, ĐẠI KHAI TRƯƠNG.  Một con là thỏ. Một con là gấu. Con thỏ cố làm  ra vẻ nhanh nhẹn của dáng thỏ. Nó nhẩy tới, nhẩy  lui. Tạt sang trái. Tạt sang  phải. Có lúc nó sánlại gần con gấu,  cái đầu gật gù thân thiện. Con  gấu có vóc dáng nặng nề, chậm chạp hơn. Nó không phản ứng gì khi thấy con thỏ dụi cái đầu  vào vai nó. Cái  miệng nó trễ xuống.  Hai hàm răng trắng nhởn nhe ra như đang cười. Nhưng ở  đằng sau cái vỏ lông lá sù sì ấy, là  cả khuôn mặt  của ông  Bửu  đang ròng ròng  nước mắt. Ông thương người vợ thân yêu của ông  đến cùng độ. Cái dáng nhẩy chân sáo của người làm thỏ gợi cho ông hình ảnh nhanh nhẹn, vui vẻ của bà hồi hai  người chưa cưới nhau. Rồi  ông đã đưa bà đi  qua khắp mọi hoàn  cảnh nổi trôi  trong đời sống.  Chưa bao giờ  bà có lại dáng  điệu nhanh  nhẹn, tươi  vui như  đôi chân  nhẩy nhót của bà bây giờ. Đôi chân bờm sờm những  đám lông dựng lên, và xỏ vào đôi giầy có mũi dài quá khổ ở đầu mút có những cái móng cong lên, sơn đỏ loét.

Những giờ dài dằng dặc qua  đi trong đám đông người tấp nập lui tới. Cả hai ông  bà cùng thấy rõ từng vẻ mặt,  từng ánh mắt, từngnụ cười của mỗi con người qua lại. Tuy nhiên, ở phía thật xa, núp sau một lùm cây  tỏa bóng um tùm, ông bà không  thể nhìn thấy đứa con gái của mình đang ngồi gục  xuống nệm cỏ, khóc nức nở, có lúc ngất đi từng cơn.

Chiều tối hôm ấy,  lúc trở về nhà, cái Trang đã  chạy đến ôm chầm lấy bố mẹ, quỳ xuống chân và nói tức tưởi:
- Con xin lỗi bố mẹ...

Cô bé định nói gì thêm nữa nhưng tiếng nấc nghẹn không cất được lên thành lời. Ông  Bửu vội vàng nâng  con gái dậy, giơ bàn tay khẳng khiu lên vuốt những sợi tóc ướt mèm nước mắt của nó và nói giọng đầy cảm xúc:
- Không có gì đâu... Không có gì đâu... Công việc... nhàn mà!
Bà Bửu cũng chen vào đôi lời an ủi:
- Nghĩ cho cùng thì để bố mẹ đi thay cho các con là phải. Ở tuổi các con, bố mẹ không muốn làm các  con nẩy nở lòng tự ti mặc cảm. Các con sẽ tìm được những công việc xứng đáng hơn nhiều.

Cái Trang xà sang phía mẹ, ôm chặt  lấy bà và nói qua đôi vai còm cõi của bà:
- Không đâu mẹ  ạ. Bố mẹ đã dậy  cho con một bài học rất sâu xa. Bây giờ thì  con nhận ra rằng dù  ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù đen tối đến  đâu thì mình cũng  phải biết đứng dậy. Lạc quan mà đứng dậy.
Vẻ mặt của bà Bửu rạng rỡ hẳn  lên. Lòng bà tự nhiên nhẹ tênh như trong khoảnh khắc, mọi nỗi u ám  nặng nề đang đè chĩu lên lòng bàtan biến đi rất nhanh. Chưa bao  giờ bà thấy được một sự trả công cho tám giờ lao động chân tay lại quý giá và lớn lao như lần này. Bà quay  sang phía chồng  và nhìn ông  với ánh mắt  như muốn được chia xẻ  nỗi vui mừng.  Ông Bửu cảm  nhận được ngay  những ý nghĩ trong đầu của bà. Ông nói:
- Vậy là  con đã biết  suy nghĩ rồi  đấy. Bố mẹ  tin rằng với cái quan niệm mà con vừa nói ra đó,  con sẽ đứng dậy vững vàng ở vùng đất xa lạ này.
Rồi bỗng ông chợt hỏi:
- Thế còn thằng Toản đâu?
Trang đáp:
- Chắc nó đang ở trong phòng. Sáng  nay, nó bị chú Tài mắng mỏ dữ dội.
Ông Bửu nhăn mặt:
- Chú ấy mắng nó làm gì. Nó  còn con nít, không muốn đi thì thôi, bố mẹ làm thay cũng được rồi.
Trang tiếp:
- Không chỉ riêng chuyện đó đâu, bố  ạ. Chú ấy tức giận vì nó lại từ chối chú ấy một công việc khác.
Ông Bửu ngạc nhiên:
- Ủa! Còn việc gì nữa đây.
Trang giải thích:
- Tại vì chủ nhật này, cộng đồng Việt Nam ở đây tổ chức biểu tình chống việc bỏ  cấm vận. Chú ấy bảo  nó đi cầm biểu ngữ,  tham gia biểu tình cho nó đông đảo.
Mặt ông Bửu tự nhiên biến sắc ngay đi, ông nói giọng như quát:
- Cái nhà chú này như thế là quá quắt lắm rồi. Tại sao lại lôi kéo con nít vào những chuyện như thế.
Bà Bửu cũng xen vào, giọng bất mãn:
- Để  rồi phải  giải thích  cho chú ấy hiểu. Nhà mình tuyệt đối không nhồi nhét cho bọn trẻ  những tư tưởng chính  trị. Chúng nó chẳng có lý do gì phải chia  xẻ những cái mất mát, thua thiệt của thế hệ đi trước.  Với lại, chú ấy đâu có hiểu  rằng chống việc bỏ cấm vận là ngược với ý muốn của mọi người ở nhà.

Nói rồi bà buồn bã ra ngồi  phệt xuống một góc phòng. Sau một hồi lâu, suy nghĩ rất lung, bà đứng dậy, nói với mọi người:
- Thôi để tôi sẽ  đi cầm biển cho cuộc biểu tình.  Kẻo chú ấy lại nói, cứ có tiền thì mới thò  mặt vô, còn những việc đấu tranh, tự nguyện thì cả nhà đều trốn tránh. Bất tiện!
Vừa nghe dứt lời, ông Bửu quay phắt ngay lại, ngó bà chăm chăm:
- Bà có cái ý kiến kiểu gì mà kỳ cục như thế. Bộ cứ sợ làm chú ấy mất lòng là mình  phải làm tất cả mọi điều chiều  theo chú ấy hay sao.
Ông chợt nhớ  tới lời cái Trang đã  nói chú trước mặt ông  mục sư Thành hôm nào:
- Nếu chú nghĩ rằng có thể mua  được linh hồn của chúng cháu bằng mấy thứ quần áo cũ này thì thật là một giá quá rẻ.
Trong  thâm tâm,  ông vẫn thầm kiêu  hãnh về sự suy nghĩ trưởng thành của đứa  con gái của mình, nhưng ông  không khỏi bận tâm về
lời nói sau đó của chú Tài để  trả lời cho cái luận điệu cứng đầu của nó:
- Con bé này ăn phải đũa Việt Cộng mất rồi.

Ông chợt  nhớ tới hoàn cảnh  sinh hoạt chính trị  của những người Việt ở hải ngoại mà ông đã loáng thoáng nghe được ngay từ hồi cònở quê nhà. Hầu như ai cũng cho  là mình đang ôm được chính nghĩa, và người ta sẵn sàng chụp lên đầu  kẻ khác cái mũ cộng sản nếu cả gan nói  lên những điều khác  biệt với chính kiến  của mình. Phản ứng mau  chóng của chú  Tài hôm ấy  là một chứng  minh cụ thể cho những điều  mà trước đây ông  chỉ được nghe kể  lại. Bất giác ông bật lên  cười khi nghĩ rằng  ngay cả ông, người  đã lăn lộn trong nhà tù cải tạo suốt bao nhiêu năm  trời có thể cũng dám bị chú ấy cho là ăn phải  đũa cộng sản khi từ chối đi  biểu tình chống việc bỏ cấm vận. Tiếng  cười cùng cục, khô khan của ông  bật ra một âm ngắn gọn  rồi tắt ngóm  trong sự ngơ  ngác của mọi  người. Bà Bửu nhìn ông như dò hỏi. Ông phải nói lảng đi:
- Tôi bật cười khi nghĩ đến hình  ảnh của bà tay cầm cái biểu ngữ đi tới đi lui hò hét trong đám đông người...
Bà Bửu như vui lây cái vui của chồng, trong lòng bà nhen nhúm một sự vui mừng khi nghĩ tới cơn căng thẳng trong gia đình đã bắt đầu trôi qua. Bà cũng mỉm cười đáp lại:
- Nhưng đâu có  tức cười bằng cái hình ảnh tôi bận bộ đồ thú đi tới đi lui nhẩy nhót suốt một ngày, trước mọi người qua lại.
Ông Bửu lắc đầu:
- Cái hình ảnh  đó chỉ chua xót thôi  mà không ai có thể  cất lên tiếng cười. Còn  đằng này, trong suốt cuộc đời  của bà, bà chưa bao giờ quan tâm  hay dính líu tới chuyện chính  trị, thế mà nay phải chường mặt ra, hò hét với cái biểu ngữ trên tay. Bà không thấy đó là chuyện đáng tức cười hay sao.

Rồi ông đổi sang giọng quả quyết:
- Để rồi  tôi sẽ nói  với chú  ấy.  Mình dứt khoát không thể làm những chuyện ruồi bu, trái với  nguyện vọng của bà  con, bạn bè, đồng bào mà mình đã thấy rõ khi còn ở quê nhà.
Cái Trang hôm nọ đã nói đúng, mình đâu có phải là loại người chịu bán rẻ linh hồn chỉ vì miếng cơm, manh áo.

Buổi tối hôm sau, quả  nhiên có một  cuộc cãi vã tay đôi xẩy ra giữa hai anh em xoay quanh đề tài bỏ hay không bỏ chuyện cấm vận.Mặt chú Tài cứ mỗi lúc một đỏ gay lên. Vào cái lúc cả hai gần như đã trình bầy hết nhẽ của mình, chú đã phải thốt lên một câu:
- Em lấy làm lạ là anh chị đã  chấp nhận Cộng Sản đến thế sao còn sang đây làm gì.
Ông Bửu không nén được cơn giận, đã quát lên:
- Tôi cấm chú  được nói với tôi những  lời lẽ như thế. Chú  đã bỏ chạy ngay từ năm bẩy lăm, cuộc  đời của chú sau đó không kinh qua lấy một ngày được nhìn vào thực trạng của quê hương, không có lấy một phút chia xẻ với những  nỗi khó khăn, nhục  nhằn của bà con, anh em,  bạn bè nơi  quê nhà, do  đó chú không có quyền phán xét người khác.

Lần đầu tiên chú Tài đứng dậy bỏ ra về mà  không có một lời chào từ biệt. Vấn đề chính kiến quả là một chuyện nguy hiểm. Nó có thểlà mầm  mống chia rẽ,  ngăn cách ngay  cả đối với  những người có cùng máu mủ ruột  thịt. Căn bệnh này hẳn sẽ còn  tác hại rất lâu, ít ra là một thế hệ nữa. Bọn trẻ sau này lớn lên, không phải chịu áp lực nặng nề  nào của quá khứ, hy vọng sẽ  nhìn nhau bằng những cặp mắt cảm thông và cởi mở một cách dễ dàng hơn.

Một tuần  lễ sau, chú Tài  cũng không thấy quay  trở lại. Vào một buổi sáng, như thường lệ trong lúc cả nhà quây quần quanh nồi cơmnếp do  bà Bửu nấu  thay cho bữa  sáng, ông Bửu  vừa bưng bát cơm lên, vừa tần ngần:
- Rồi đây, mình sẽ chẳng trông được vào ai đâu. Hết hạn tám tháng trợ cấp là phải tự lực cánh sinh đấy.

Cái Trang nhìn cái dáng gầy gò  của bố ngồi xổm trên thảm tay cầm bát cơm nếp mà  lòng đầy thương cảm xót xa. Sự  xót xa không phảivì hoàn cảnh thiếu thốn bây giờ  mà ông đang phải trải qua, nhưng mà ở cái vẻ  ẩn nhẫn, kiên trì biểu hiện trên  từng nếp nhăn trên vầng trán  hay những cái chớp  chớp liên tục trên  đôi mắt đã ngả màu đục lờ của  ông. Tự dưng Trang nghẹn ngào muốn  rơi lệ. Cô bé nhìn ông qua ánh mắt nhạt nhòa, rồi chợt lên tiếng hỏi:
- Bố ơi...  bố có lấy làm  tiếc rằng mình đã  quyết định nhận lời chú Tài bảo lãnh qua đây không?
Ông Bửu đang nhai nhỏ nhẹ miếng xôi trong miệng, bỗng ngừng lại. Ông quay sang nhìn  đứa con gái với một vẻ hơi  sửng sốt, rồi nhưnhận ra được tầm mức đáng kể trong  câu hỏi mà nó vừa đặt ra, ông vội buông cái  bát xuống mặt thảm và đổi  lại thế ngồi. Trầm ngâm một giây lâu sau, ông mới chậm rãi:
- Các con ạ.... Rời bỏ quê hương mà đi là chuyện đau lòng. Đâu có phải chỉ  là chuyện ham hố  trong một chuyến đi  du lịch hào hứngnhất  thời. Đối  với hoàn  cảnh của  bố, đó  là chuyện chẳng đặng đừng. Bố đã chọn lựa và bố không bao giờ hối tiếc riêng cho mình. Nhưng điều  quan trọng là bố  đã lôi các con  vào trong công cuộc giải quyết cuộc đời của bố. Đây mới là điều trọng đại cần nói ra. Xứ sở này đầy dẫy những cám dỗ rất dễ làm cho tuổi trẻ sơ sẩy. Bố sẽ vô cùng  hối tiếc nếu các con  tự ý xô đẩy mình  rơi vào những cái sơ sẩy  đó. Nhà trường của Mỹ  đã có vô số tuổi  trẻ Việt Nam tốt nghiệp,  nhưng trong nhà tù  Mỹ cũng có không  thiếu tuổi trẻ Việt Nam.  Cho nên câu  trả lời là  tùy thuộc ở  chính các con mà thôi.

Nói xong ông từ từ đứng dậy. Ông  chậm rãi tiến ra phía cửa sổ và đứng lặng rất  lâu nhìn ra bầu trời trong  xanh, quang đãng trước mặt. Ông  chợt nhớ đến  khoảng trời xanh  mà ông đã  nhìn thấy nó xuyên qua những  vòng rào kẽm gai. Trước đây,  ông mơ ước nó. Bây giờ ông có cảm giác như đã hòa  được ở trong nó. Cuộc đời ông quả là đã trải  qua biết bao nhiêu tang thương,  biến đổi, và cho đến bây giờ,  gần cuối cuộc đời,  ông cũng vẫn chưa  tìm được một chỗ trú chân ổn định.  Những ý nghĩ đó khiến cho ông  như già thêm đi trong bóng  dáng nhỏ bé,  còm cõi của  ông in rõ  trên khung trời xanh thẳm ngoài cửa sổ. Cái Trang  như cảm nhận được hết nỗi lòng của ông và nó chợt thấy mình dâng lên một niềm xót xa khôn tả. Nó cũng đứng  dậy, tiến lại  phía sau  ông,  giơ cả hai  cánh tay ôm choàng lấy thân hình nhỏ bé của ông. Rồi nó thì thào:- Bố cứ yên tâm về phía chúng  con. Chúng con sẽ cố gắng để không bao giờ làm cho bố bị hối tiếc cả. Chỉ riêng có điều vì hoàn cảnhcủa mình hiện tại nó khó khăn  cực nhọc quá nên con băn khoăn cho bố thôi.

Ông Bửu giơ bàn tay khẳng khiu ra vuốt nhè nhẹ lên mái tóc óng ả, mượt mà của con gái. Rồi ông nói:
- Đấy là con đường mà ai cũng  phải đi qua, một cái giá tối thiểu mà mình phải trả cho sự đã chọn lựa. Bố thấy được như vầy cũng là may mắn lắm rồi. Còn sự đứng  vững được hay không là hoàn toàn là tùy thuộc ở chính nơi mình, con ạ.
Trang ghì chặt lấy bố lòng tràn đầy một sự cảm thông và cất giọng quả quyết:
- Bố đừng có  lo. Cả nhà mình cứ  lăn lưng ra làm thì  đâu có sợ. Bữa hôm trước, bố mẹ đội lốt thú ra đứng đầu đường đã dậy cho con thấy  từ nay  chẳng việc  gì lương thiện mà  con không làm được cả....

Ông Bửu chợt  rơm rớm nước mắt, ông  nắm lấy hai bàn tay của con gái rồi nghẹn ngào:
- Các con  nhận ra được điều đó thì thật theo bố nghĩ chẳng có cái thù lao nào mà lại quý giá đến thế so với công việc nhỏ mọn mà bố mẹ đã làm.
Thấy bố con  bịn rịn lo lắng về  vấn đề công ăn việc làm, bà Bửu cũng cất lời an ủi:
- Trời sinh voi sinh cỏ mà ông. Hồi mấy  năm trước, chật vật vất vả còn gấp trăm lần thế mà rồi nhà mình cũng qua được nữa là. Dạo ấy, tôi  với chị Ba nhiều lúc quẫn quá tưởng đã phải buông xuôi rồi, vậy mà cũng qua.

Tần ngần giây lát, bà nói tiếp:
- Ờ, nhân nhắc đến chị Ba, tôi nhớ tháng này là tháng chị ấy sinh nở đây này.  Tội nghiệp,  chẳng biết chị ấy sẽ xoay sở ra sao trong lúc nách lại  một đàn con nhỏ thế này. Cho nên tôi đề nghị với ông món tiền mấy chục kiếm được bữa nọ, ta mua gói quà gửi về cho chị ấy bù đắp thêm vào chi phí sinh nở, ông nghĩ sao.
Ông Bửu gật đầu:
- Bà tính thế cũng phải. Tôi chỉ e gửi về ít ỏi quá, ở nhà lại dè bỉu, chê  trách là đã đi Mỹ mà bần tiện  gửi về cho có vài chục bạc.
Bà Bửu gạt đi:
- Ôi, ai nói gì thì nói, ăn thua  gì, miễn ở tấm lòng của mình ấy chứ.
Riêng cái Trang thì bật lên cười:
- Con nghĩ  món quà của  mẹ rồi sẽ  bị chê, nhưng  ai có thể hiểu rằng  nó được kiếm ra từ  những giờ phút do chính mẹ đã mặc bộ đồ thú đi nhảy nhót giữa đám đông người.....

Nhật Tiến
Garden Grove, 4/94

Những viết sỏi trên đường

Tha Thẩn Sân Trường

Buổi sáng, trước khi đi học, bao giờ mẹ cũng dúi vào tay của Khoa một khúc bánh mì. Bà vuốt lại vài sợi tóc đang xòa trên trán của nó, sửa lại cái ve áo có khi bị dắt dưới cái cổ áo len. Bà ngắm lại cung cách ăn mặc của nó, xem trời bên ngoài nếu trở lạnh hơn thì đã đủ ấm chưa. Xong xuôi, với một vẻ mặt hài lòng, bà xua nó ra xe. Mọi bổn phận đối với nó, sau chừng ngần ấy động tác, bà hoàn toàn yên tâm và trở lại với những công việc bận rộn, hối hả hàng ngày.

Có nhiều lúc, Khoa muốn níu tay mẹ lại, trong lòng nó chưa nguôi ngoai nỗi niềm thổn thức đã làm nó trằn trọc từ lúc đi nằm của đêm hôm trước, và buổi sáng ra, lúc mở choàng mắt dậy, nó vẫn còn có cái cảm giác ấy hồi đêm. Tuy nhiên, chưa lần nào Khoa làm phiền mẹ trong những giờ phút khởi sự một ngày bận rộn của bà. Nó tự nghĩ, thà chẳng nói ra thì có lẽ tốt hơn, bởi vì, chưa chắc mẹ của nó hiểu được cái tâm tình mỏng manh, ngấm vào lòng nó thì ngấm rất sâu, nhưng diễn tả bằng lời nói có khi lại chẳng ra đâu vào đâu. Người lớn có những cung cách suy nghĩ của riêng họ. Tuy ở vào cái tuổi mười hai, muời ba,  Khoa cũng đủ đầu óc nhận xét để thấy rõ điều đó.

Cho nên khi lủi thủi ra xe, Khoa vẫn ôm trong lòng một cảm giác nặng chĩu. Về một chuyện gì đó xẩy ra trong lớp học hôm trước.

Bố thường hay ra xe trước mẹ. Ông có nhiệm vụ phải làm cho máy nổ một thời gian cho động cơ được hâm nóng lên. Trong khi chờ đợi, một tay ông cầm ly cà phê, một tay mở rộng tờ báo trước tay lái và chăm chú đọc một tin tức sốt dẻo nào đó. Lúc thằng Khoa mở cửa sau để leo lên ngồi, ông cũng không quay lại. Hình như mọi công việc săn sóc đứa con trai độc nhất của hai người, ông khoán trắng cho người vợ đảm đang của mình. Trong gia đình, mỗi người có một bổn phận phải lo toan. Những bổn phận ấy, chưa bao giờ hai người phải ngồi lại để phân chia rạch ròi, nhưng mặc nhiên, ai cũng cảm nhận thấy những điều mình phải làm. Và trong cái gia đình nhỏ bé, hạnh phúc của ông từ hơn mư­ời năm qua, lúc nào ông cũng cảm thấy mình chu toàn trách nhiệm làm bóng mát, làm tàn cây che chở cho những ngư­ời thân yêu. Ngay cả hồi tr­ước, khi còn ở Việt Nam, đời sống khó khăn, cựïc nhọc là thế, mà ông cũng đã cố gắng hết sức của  mình để vợ con không bị thiếu thốn.

Thằng Khoa, nhờ vào những cố gắng đó, cũng đã đ­ược cắp sách đi học. Tuổi thơ của nó tràn ngập những kỷ niệm hồn nhiên. Buổi sáng trở dậy, trước khi đến trường, nó được mẹ dúi cho một nắm sôi nóng. Mẹ nó không cho ăn gì khác hơn, kể cả bánh mì kẹp thịt có một mớ đồ chua lổn nhổn ở bên trong. Bà nói ăn xôi lành.

Hồi đó cắp sách đi học, đối với Khoa là cả một   niềm vui. Một sự bay bổng từ căn nhà chật chội, nhỏ bé, tù túng của gia đình nó để đi đến một khoảng trời rộng rãi, khoảng khoát đầy ắp những nguồn vui và tiếng cười. Nó hay tha thẩn trên con đư­ờng khấp khểnh từ đư­ờng cái đi vào cổng trường. Hai bên đ­ường có bụi cỏ mọc cao lên, buổi sáng sớm, nó nhìn ngắm hơi sương còn bay là trên những cọng cỏ, thỉnh thoảng có những bông hoa me vàng chóe mọc chen chúc trong lớp lá cỏ mầu xanh rờn ở trên còn đọng lại những giọt sư­ơng đêm đang phản chiếu ánh sáng mặt trời trở nên có mầu sắc lóng lánh. Tâm hồn của Khoa phơi phới niềm vui . Một tay nó cắp một mớ tập có kẹp lỉnh kỉnh cái bút,  cái thư­ớc ở bên trong, một tay nó thọc vào túi quần và cảm nhận thấy có những hòn sỏi nhẵn bóng, những cái nút phéng hay những sợi cao su còn nằm chen chúc lên nhau. Mỗi một món đồ vật đều có sự ràng buộc với một loại trò chơi cùng với hình ảnh của từng đứa bạn hiện ra lẫn lộn đủ loại khuôn mặt quen thuộc. Mỗi đứa là một thế giới riêng, nh­ưng tất cả đều hòa hợp với nhau một cách tự nhiên, rất thân ái đủ khiến cho thằng Khoa tìm thấy ở đó là thế giới của mình, là nơi chốn đã đan đầy những kỷ niệm không bao giờ có thể quên trong suốt quãng đời thơ ấu.

Qua đến đây, lần đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa choáng ngợp ngay về cái vẻ đồ sộ, qui củ, ngăn nắp của ngôi trường, dù đấy chỉ là một ngôi trường tiểu học. Nó cảm thấy xót xa, buồn bã khi nhận ra thế giới nhà trường ở đây chẳng giống một tí tẹo nào cái thế giới mà nó vẫn hình dung ra trong trí t­ưởng t­ượng. Trường gì chỗ nào cũng lát xi măng phẳng lì không có chỗ cho những mảnh đất loang lổ, sau những cơn mư­a còn đọng lại từng vũng n­ước, ở đó thỉnh thoảng có những con dế bị ngộp thở phải bò lên, ngơ ngác giơ hai cọng râu ngoe nguẩy dư­ới ánh nắng đầu hôm xuyên qua những tàn cây che kín cả sân trường. Ở đây nó cũng không thấy có những lớp học san sát bên nhau, chung nhau một dãy hành lang chạy dài, vào lúc buổi học bắt đầu, học trò xếp hàng thành dẫy dài trước mỗi cửa lớp để chờ lệnh thầy cô tiến vào lớp học.

Làm gì có chuyện xếp hàng vào lớp trong ngôi trường đầy rẫy những sự kiện xa lạ này. Vào buổi sáng, trước giờ vô lớp, cái hành lang rộng rãi đến độ có thể chạy được cả một chiếc xe hơi trên đó, học trò ồn ào nhốn nháo đi ngược đi xuôi nhộn nhịp. Tiếng cười có cất lên rộn rã nhưng nghe vẫn lạ tai. Ngôn ngữ thì ríu rít nhưng tự nhiên, mạnh dạn, không mang một đôi chút dáng vẻ nào là nhút nhát hay e dè. Tốc độ đi lại của mọi người thì nhanh đến chóng mặt. Rõ ràng là thằng Khoa nhận thấy cái cảm giác như mình là một thứ chim chích đang lạc vào một khu rừng to lớn, rậm rạp.

Nó cố gắng đi tìm một chỗ bấu víu để không cảm thấy rằng mình đang bị lạc lõng. May thay, Khoa cũng nhận ra được mấy đứa học trò đầu đen, cũng có mầu da và dáng vẻ Việt Nam như mình. Tuy nhiên, hầu hết chúng nó đều là những đứa đã đến trước. Chẳng rõ là bao lâu, nhưng coi bộ chúng đã có những cử chỉ quen thuộc, tự nhiên và dễ dàng hòa hợp được vào bầu không khí ồn ào, xa lạ ở đây.

Buổi học đầu tiên đã qua đi và để lại trong đầu của Khoa một cảm giác như mình vừa trải qua một cực hình. Nó chỉ mong cho mau chóng tới giờ tan học để thoát cho lẹ về căn nhà quen thuộc của mình. Ít ra, ở đó nó còn tìm thấy được sự yên ổn và bình thản trong lòng. Hồi trước còn ở quê nhà, chẳng bao giờ Khoa có nhu cầu kể lể với bố mẹ về những chuyện đã xảy ra ở trong nhà trường. Nhiều khi nó lại còn muốn giấu giếm thêm đi nữa là khác, vì nó nghĩ thế giới ở trường là thế giới của riêng nó, chẳng ăn nhập gì với những ng­ười lớn cả, trừ khi nó được hỏi  đến và bó buộc phải trả lời.

Như­ng ở đây, trong khung cảnh xa lạ này, Khoa muốn chia xẻ những nỗi lo lắng, bồn chồn bất ổn của mình với bố mẹ. Lúc leo lên chiếc xe của bố đi đón mình về, Khoa toan cất tiếng thì bố đã xoải tay vặn to hơn một bản nhạc trong cuốn băng vừa cất lên mà bố cảm thấy ư­a thích. Tiếng hát của cô ca sĩ chợt ùa lên, tràn ngập trong lòng xe chật hẹp,  giống nh­ư một bức tư­ờng đột nhiên sừng sững hiện ra ngăn cách Khoa và bố. Nó đành chán nản ngồi co mình lại, buồn bã nhìn ra cảnh bên đường phố đang vùn vụt trôi qua trong tấm cửa kính. Hai bố con vẫn giữ nguyên sự thầm lặng đó trên suốt đư­ờng về.

Khi vào nhà, mẹ đón hai bố con bằng một nụ c­ười rạng rỡ khi bà đứng trước cái bếp ga đang phừng phực những tia lửa xanh lét bao quanh những cái nồi bằng nhôm láng bóng. Lại một lần nữa, Khoa cảm thấy thất vọng khi mẹ không nhắc nhở gì đến buổi học đầu tiên của mình, mà bà chỉ nói với bố :

- Hôm nay em đã đi gặp chị Thu rồi. Anh chuẩn bị ăn cơm, em sẽ thuật lại cho mà nghe.

Thế là trong suốt bữa cơm của buổi chiều hôm đó, hai người chỉ trao đổi công chuyện làm ăn gì đó với bác Thu, người chị họ của bố, đã qua đây từ bốn, năm năm về trước. Lần đầu tiên Khoa cảm thấy tủi thân về sự đã bị quên lãng của mình. Trái tim nhỏ bé của nó đã bị thương tổn đến độ nó thổn thức riêng trong lòng qua suốt cả bữa cơm. Ðêm hôm đó, lần đầu tiên đặt chân lên xứ Mỹ, Khoa nằm khóc một mình. Nó nhớ trường, nhớ bạn, nhớ thầy cô ở Việt Nam.

Trong suốt thời gian một tuần lễ đầu tiên cắp sách đến trường, Khoa luôn luôn mang tâm trạng buồn bã đó. Cho đến khi nó tình cờ quen được một người bạn. Anh này, Khoa mới phát giác ra rằng ở Việt Nam, anh ta là dân con nhà lao động, tối ngày phải vật lộn với miếng ăn nên ít có dịp cắp sách đến trường. Trình độ của anh chỉ là biết viết, biết đọc. Vậy mà qua đây, vì to xác, lại lớn tuổi, nên anh bị nhét ngay vào lớp học cao hơn lớp của Khoa đến hai trình độ. Dĩ nhiên là anh ù ù cạc cạc chẳng biết ất giáp gì, suốt buổi ngồi thu ở một cái bàn nhỏ kê gần cuối lớp, mặt anh ta lúc nào cũng buồn thiu, buồn chẩy, còn cử chỉ thì lén lút, tránh né cứ như một anh ăn trộm vặt lo mình bị bắt quả tang.

Khoa gặp anh ta lần đầu ở nơi xếp hàng ăn bữa trưa. Sau khi lãnh xong phần của mình, Khoa định đi lại phía dẫy bàn ăn thì chợt bị anh ta níu lại và nói:

- Ăn...ăn...ăn... giùm.....!....

Ôi dà! Thì ra cái nhà anh này đã thế lại còn nói lắp! Học hành ở cái xứ Mỹ này,  đã đủ thứ khó khăn mà lại còn nói lắp nữa thì hết thuốc chữa. Chả trách, mọi ng­ười đã để yên cho anh cố thủ nơi cái bàn cuối phòng học và mặc để cho anh ta ngồi yên gậm nhấm

"nỗi bất hạnh vì phải đi học" của mình.

Sự yếu kém về khả năng ngôn ngữ của anh làm Khoa dễ nẩy sinh tình cảm thân thư­ơng. Nó hỏi anh tại sao lại nh­ường phần ăn cho nó. Chừng đó, anh mới giải thích, bằng cung cách nói nghịu của mình. Thì ra hôm nay anh ta đau bụng, lại không nỡ vứt đồ ăn vào thùng rác. Khoa vặn lại:

- Nếu không ăn đư­ợc thì anh xếp hàng lãnh phần làm gì ?

Anh ta trợn mắt:

- Đâu... đâu.... đâu... đư­ợc! Mọi.....mọi...mọi ng­ười cùng....cùng xếp hàng mà!

Anh thật thà, đơn giản nh­ư thế đấy. Điều này khiến Khoa càng có cảm tình với anh hơn. Hai ngư­ời trở nên thân thiết một cách dễ dàng mau chóng. Anh ta tên là Sửu. Đi Mỹ theo diện di dân, do bố là công dân Mỹ bảo lãnh. Hồi Sửu chư­a qua đây, bố của anh vẫn gửi tiền về cấp dư­ỡng. Như­ng mẹ anh mê bài bạc nên cứ có đồng nào là đem nư­ớng vào quân bài hết cả. Qua tới bên này, thấy anh thất học, hai vợ chồng đánh nhau một trận

náo loạn cả làng xóm, một suýt nữa thì bố của anh phải đi ngồi tù.

Sau rồi mọi việc cũng đ­ược dàn xếp ổn thỏa và bố của anh nhất quyết bắt anh đến tr­ường để giành lại những thời gian quí báu đã bỏ một cách uổng phí nơi quê nhà.

Trời sinh ra anh có khuyết tật về ngôn ngữ thì lại bù cho anh một khả nàng thiên phú khác. Đó là anh thổi khẩu cầm rất hay. Anh th­ường hay nhét cây kèn vào tận cùng lớp áo trong. Cây kèn nhỏ xíu bóng loáng vì đã đư­ợc cầm nhẵn đi nhiều lần, do anh mang đi từ quê nhà. Vào những lúc buồn bã và nhà không có ai, anh hay leo lên cửa sổ ngồi thổi đủ mọi loạt bài. Những lúc như­ thế, Khoa thấy ở anh hiện ra một con ng­ười khác, đam mê, đắm đuối, nồng nhiệt, đúng là một hình ảnh của một nghệ sĩ có tài.

Nh­ưng chỉ ở những lúc đó thôi. Buông cây kèn ra, thả anh vào sân trư­ờng, anh lại trở về bản tính nhút nhát cố hữu của mình. Hình như­ mọi thứ ở cái xứ Mỹ này đối với anh cái gì cũng to lớn quá, ồn ào quá, nó khiến cho anh sợ hãi và cố tình thu nhỏ mình lại. Anh thổ lộ, chẳng bao giờ anh có thể hội nhập một cách bình thư­ờng như­ mọi ngư­ời đang sống bình th­ường ở đây.

Khoa rất muốn đem chuyện của Sửu ra kể lại cho bố mẹ nghe. Nhưng chẳng bao giờ nó có cơ hội chen lấn được vào những câu chuyện làm ăn kéo dài tưởng như bất tận của hai người. Bố mẹ của Khoa có vẻ như đặt hết lòng tin tưởng vào sự hoàn hảo vô song của nhà trường Mỹ. Ông bà ấy tưởng như một khi đã gửi con vô trường rồi thì tự nó, nó có thể gặt hái đ­ược mọi sự thành công theo sự dạy dỗ của thầy cô Mỹ, cùng với chư­ơng trình giáo dục kiểu Mỹ. Vấn đề còn lại là làm sao kiếm ra thật nhiều tiền để có thể bảo đảm đ­ược nếp sống sung túc, tạo cơ hội cho con th­ường xuyên cắp sách đi học mà không phải đi làm thêm như những học trò khác. Riết rồi thằng Khoa không còn tìm thấy ở nơi bố mẹ mình một niềm an ủi, cảm thông mỗi khi nó gặp chuyện khó khăn nơi nhà trường. Như một lần, trong buổi xếp hàng lãnh phần ăn tr­ưa, Khoa bị một thằng Mễ to con, huých vào mạng sư­ờn một cái đau điếng. Rồi nó nhìn thằng Khoa với cặp mặt đầy vẻ khinh thị và nói :

- Get out of here!  (Cút khỏi đây đi !)

Thằng Khoa tức uất cả người lên, muốn chống trả mãnh liệt bằng bất cứ giá nào nhưng nhìn thằng Mễ Tây Cơ với vóc dáng hộ pháp, đứng cao hơn nó cả một đầu người, có gây gổ cũng thiệt thân, nên nó cắn răng chịu nhục và vùng vằng bỏ đi. Phía sau nó, cả một đám bạn bè thằng Mễ phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ đó ám ảnh thằng Khoa trong suốt bao nhiêu ngày, thậm chí còn đi vào giấc ngủ trằn trọc của nó làm cho nó thao thức đến độ không cách nào nhắm mắt đư­ợc cho đến khi ngủ thiếp đi.

Đến chuyện này thì Khoa không còn muốn giấu giếm bố mẹ nữa. Lần ấy, trong bữa cơm, Khoa chen vào ngang xư­ơng câu chuyện làm ăn của bố mẹ.

Lập tức, như một kẻ sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi khi đặt chân lên xứ sở này để khỏi gây phiền nhiễu, mẹ của Khoa vội trả lời ngay:

- Chuyện chẳng đáng gì, chúng nó nói gì mặc nó, mình cứ mũ ni che tai con ạ.

Khoa nhìn bố, hy vọng ông chia xẻ nỗi uất ức của mình. Nhưng trái lại, ông còn nhăn mặt nhìn nó trách móc:

- Ðừng có sinh sự rồi đâm ra rắc rối lắm chuyện. Hãy cứ lo học hành đi đã !

Lần đầu tiên, Khoa nhận thấy bố mẹ của mình có cung cách suy nghĩ sai lầm, mặc dù trong ngôn ngữ hàng ngày, ông vẫn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam cùng với hơn bốn nghìn năm văn hiến vẻ vang, đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, vì là đứa con ngoan, nên Khoa không muốn đào sâu những sự suy nghĩ lệch lạc, làm cho mình trở nên bất kính đối với bố mẹ của mình. Nó chỉ mơ hồ cảm thấy lòng tin của mình đối với bố mẹ có phần giảm đi. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, đã có lúc nó không còn cảm thấy hai người vẫn còn là cái phao cho nó tìm đến bấu víu, để được che chở, bảo vệ hay chia sẻ những nỗi buồn vui, phiền muộn. Một cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình bắt đầu có dấu hiệu thành hình. Kể từ câu chuyện đó, Khoa bắt đầu đi tìm sự chia sẻ ở một nơi khác bên ngoài gia đình.

° ° °

Trong trường học, ngoài các thầy Cô Mỹ ra, còn có một vài chân trợ giáo. Cả thẩy năm người, trong đó có một người Lào, một người Miên và hai người Việt Nam. Trong hai thầy cô trợ giáo người Việt đó, Khoa có cảm tình với Cô Nguyệt nhiều hơn. Cô tuy không đẹp nhưng dáng vẻ hiền hậu, nhu mì. Có lẽ Khoa bị hấp dẫn về giọng nói của Cô nhiều hơn là cái bề ngoài trầm lặng, ít sôi nổi, sốt sắng với mọi người chung quanh.

Cô không bao giờ nổi bật trước đám đông. Có vẻ như Cô có tâm sự buồn bã, u uẩn nào đó đã khiến cho Cô trở nên trầm mặc và chìm khuất trước mọi người. Tuy nhiên. Cô đã làm đầy đủ bổn phận của mình. Mỗi lần  đứng trước đám học trò Việt Nam để giảng lại bài học trong lớp hay giải đáp những thắc mắc của mọi người, giọng của Cô hiền hoà, thánh thót như tiếng của một con suối róc rách chẩy. Lũ học trò dù ngổ ngáo cách mấy thì cũng không dám bầy trò phá phách trong giờ giảng bài của Cô. Riêng thằng Khoa thì như đư­ợc sống lại những giờ phút huy hoàng đầy rẫy những kỷ niệm yêu thương của nhà trường nơi quê nhà. Cô Nguyệt đã hiện ra ở đây, như một hình ảnh nó hằng mơ ước được sống lại trong những đêm nó chìm trong giấc ngủ chập chờn. Cô đã là hiện thân đúng nghĩa của một Cô giáo trong niềm ư­ớc mơ của nó. Vì vậy, thật là dễ hiểu khi thằng Khoa đã tìm đến Cô để thổ lộ những điều khiến cho nó băn khoăn, day dứt.

Trái với bố mẹ của mình, Khoa đã thấy Cô không đưa ngay ra một lời giải đáp. Cô nắm tay nó và dẫn đi qua dẫy hành lang để tới một khu yên tĩnh, chung quanh có những bồn cây và thảm cỏ xanh rờn. Cô kéo nó ngồi xuống một thềm xi măng, và cất giọng nhỏ nhẹ:

- Khoa ạ ! Cái chuyện kỳ thị chỉ là quan điểm của từng cá nhân mà không phải chủ trương của toàn thể nhà trường. Hơn nữa, những cá nhân đó rất là thiểu số. Chúng nó thường suy nghĩ là những hạng nhỏ nhoi, yếu kém như chúng mình thì sẽ không xứng đáng hiện diện ở trong cái xã hội đầy đủ, giầu sang vốn khác biệt hẳn với những xứ sở nghèo khó mà chúng nó hình dung ra ở trong đầu. Như thế, kỳ thị đồng nghĩa với khinh miệt. Khoa có nghĩ rằng mình có là hạng người đáng để cho nó được khinh miệt không ?

Khoa kêu lên:

- Không đời nào !

- Vậy thì hãy chứng tỏ đi ! Chứng tỏ rằng mình không phải là loại người để cho nó khinh miệt được. Mà chứng tỏ bằng cách nào, Khoa có biết không?

Khoa suy nghĩ rồi trả lời:

- Con nghĩ rằng cung cách hay nhất là mình học hành khá hơn chúng nó, vượt trội chúng nó về mọi mặt.

Cô Nguyệt vụt tươi mặt lên. Cô nắm lấy tay nó xiết chặt và nhoẻn một nụ cười :

- Khoa giải đáp đúng vấn đề rồi đó. Vậy thì hãy tập trung vào việc học để chứng tỏ không ai có  thể khinh miệt mình được.

Lời nói của cô nh­ư một tia sáng soi rọi vào tâm hồn u uất của nó.

Trong giờ học, Khoa cố gắng xoá bỏ những giây phút lan man suy nghĩ, hầu hết là những  mộng tưởng quay về quá khứ với ngôi tr­ường xinh xắn ở quê nhà. Những ngày trư­ớc đây, chuyện gì nó cũng có thể đem ra so sánh cái ngày xư­a với cái bây giờ, và lúc nào nó cũng cảm thấy buồn bã vì mọi sự đều đã thay đổi hết. Chẳng hạn cái việc nhỏ nhoi là làm bài, viết bài, ở đây học trò toàn sử dụng bằng cây bút chì. Ở quê nhà hồi trước, chép bài mà dùng cây bút chì thì thể nào cũng bị cô khẻ vào tay và bắt chép lại. Phải dùng mực tím đàng hoàng. Ôi, cái bình mực tím tuy trông nhem nhuốc, sứt mẻ sao mà nó dễ th­ương thế. Nó nằm êm ả bình an trên bàn học trò ngay trư­ớc mặt, như­ng lại luôn luôn gắn bó với cây bút mà thằng Khoa vẫn xài. Cán bút thì bằng gỗ xấu xí, lem luốc. Ngòi bút thì luôn luôn gây trở ngại mỗi lần nó phải chép một bài dài lượt thượt cả một, hai trang giấy. Tuy nhiên Khoa vô cùng quen thuộc với động tác thò cây bút  vào miệng bình mực để nghe thấy tiếng động của ngòi bút lúc chạm vô tới tận đáy bình. Những hôm bình cạn mực, Khoa phải nghiêng nó đi, ngoáy mãi vào trong miệng bình để vớt vát lấy một vài giọt có thể bám được vào thân ngòi bút. Có hôm nó lấy nước máy đổ thêm vào bình để đủ mực viết cho một buổi trước khi đem đi châm bình mới. Mầu mực tím loang ra bàn tay, dây lên cả vạt áo hay ống quần. Có thánh mà giặt sạch được những vết mực này, nhưng Khoa chẳng bao giờ quan tâm. Trái lại nó còn hãnh diện nữa là khác, bởi vì chân tay có dính mực là dấu hiệu của kẻ đang được cắp sách đến trường, điều mà có nhiều đứa cùng xóm, cùng ngõ trông thấy rất thèm thuồng. Có bao nhiêu là đứa cũng muốn đi học nhưng hoàn cảnh gia đình đâu có cho phép.

Cho nên Khoa phải khổ sở, vất vả lắm mới làm quen được với cung cách, suốt đời đi học, học trò chỉ sử dụng có cây viết chì. Tập vở cũng là điều trái ý với Khoa. Không có loại vở đóng sẵn, ngoài bìa có in hình cái xe gắn máy, hay xe cần trục như những tập vở nó dùng nơi quê nhà. Ở đây, ai cũng xài những tờ giấy rời có đục lỗ. Việc xé giấy liệng bỏ nguyên một tờ tuy mới chỉ viết có một hai chữ lên trên, là chuyện bình thường.

Quanh nhà trường, chỗ nào cũng có thùng rác, loại thùng rác vừa to, vừa cao, có lót bao rác bằng nhựa để tiện việc đem đổ. Chỉ việc túm lấy nguyên bao đem đi, rồi thay thế bằng một bao mới. Ngày nào bao rác cũng ngập ứ lên những giấy là giấy. Có đủ loại giấy nằm chen chúc nhau bên cạnh những chiếc vỏ chai, lon hộp và những gói đồ ăn dư­ thừa. Mức độ phí phạm ở đây đã khiến Khoa lắm lúc phải nhăn mặt. Đem so sánh cái cảnh phí phạm này với hoàn cảnh chắt chiu từng khoanh bánh, từng củ khoai, hay những lúc học trò phải ngồi cặm cụi mài lại cái ngòi bút cùn đã hoen gỉ, Khoa thấy lòng xót xa cho bạn bè, cho thầy cô ngày trước rất nhiều. Có hôm nó đem điều này kể cho mẹ nghe thì bà đã cau mặt lộ vẻ không bằng lòng:

- Con học không lo học, lại cứ lẩn thẩn về những chuyện không đâu. Sao lại thế  ?

Thật là chán chường, riết rồi đến độ Khoa chẳng còn muốn thổ lộ bất cứ điều gì đã xảy ra trong trường học. Sự bận rộn của bố mẹ đã đẩy nó vào vị trí phải phấn đấu cô đơn một mình trước bao nhiêu là điều thay đổi. Lại bị ngăn cấm không đư­ợc nói ra. Vậy mà bố mẹ Khoa lại hay than thở về sự khác biệt giữa đời sống ở quê nhà với đời sống ở đây. Giá thuê nhà cao, tiền thuê đắt đỏ gấp mấy chục lần nơi quê nhà. Xe cộ di chuyển là một điều không thể thiếu so với việc có thể cuốc bộ mà vẫn làm được đủ mọi thứ trong đời sống hồi trước. Rồi đủ mọi loại than phiền về sự khác biệt giữa hai nơi. Thì ra người lớn quả là có bất công đối với tâm hồn của những đứa trẻ thơ mới tới. Chúng nó cũng có những lý do để cho mình buồn tủi hay xót xa, mặc dù nguyên do của những mối tình cảm ấy chỉ là chuyện cỏn con xẩy ra dưới mái học đường.

May cho thằng Khoa ở chỗ là nó còn có cô Nguyệt. Cô chẳng có chồng con gì, nhưng sao Cô có thể kiên nhẫn với chúng nó đến thế. Chuyện gì của chúng nó, sau khi giải quyết xong, qua mấy hôm sau Cô vẫn còn nhắc lại và hỏi han thêm để tin chắc rằng vấn đề đã được ổn thỏa. Hình như, Cô đã tìm thấy sự thoải mái, an toàn trong công việc giúp đỡ bọn trẻ. Khi có đứa nào tìm đến Cô để bầy tỏ điều gì, Cô biểu lộ niềm vui trong cả nụ cười lẫn ánh mắt. Cô không mong gì hơn là được chúng nó khẳng định một cách gián tiếp là sự có mặt của Cô ở đây là điều cần thiết. Ðiều đó chứng tỏ  là Cô cũng đã gặp quá nhiều khó khăn kể từ ngày khởi sự làm việc ở đây. Bọn học trò người Mỹ, hay Mễ, nhiều đứa đã có thái độ coi Cô chẳng ra cái gì. Chúng nó thường ngổ ngáo ngay trước mặt Cô. Tuy lối đi chật hẹp, gặp Cô đi ngược hướng, không bao giờ chúng nó nhường bước. Lại còn nhìn Cô trừng trừng như muốn nuốt tươi. Ngồi trong lớp thì bất chấp cả thầy lẫn cô, mồm miệng chúng vẫn nhóp nhép nhai kẹo cao su, chán thì ghếch lên ghế trước, còn người thì ngả lên thành ghế. Chúng nó có thể cười rúc rích với nhau ngay trong lúc thầy cô đang giảng bài. Lúc cần ra khỏi lớp giữa giờ học, chúng đứng dậy tự nhiên đi ra, khỏi cần xin phép ai, cứ y như là ở chỗ không người. Xứ sở này tự do, và người ta diễn dịch cái nghĩa tự do là như thế. Và cung cách này, nhiều học trò Việt Nam học lâu ở đây cũng bắt ch­ước rất nhanh.  Mấy cô nữ sinh, mặt non choẹt, vậy mà đi học cũng bôi môi son đỏ choét. Dáng dấp thì nghênh ngang, điệu bộ cố làm ra vẻ ta đây đã Mỹ hóa. Dĩ nhiên lũ này thân thiết với bọn học trò người ngoại quốc hơn là đối với những đồng hư­ơng. Đó là lý do Khoa chẳng ngạc nhiên khi thấy những đứa học trò Việt Nam tìm đến Cô Nguyệt để tâm sự hay giãi bầy chỉ là một thiểu số so với đám đông trong cả trường học. Nhưng dù ít, dù nhiều, thì chúng cũng vẫn đem lại nhiều an ủi cho tâm hồn dịu dàng, nhậy cảm của Cô. Trong số này, ngoài Khoa ra còn có thêm cả Sửu. Sửu đến với Cô là do Khoa lôi kéo chứ tuyệt nhiên Sửu không cảm thấy có vấn đề gì phải nhờ đến Cô giải đáp hay giúp đỡ ý kiến. Cái mặc cảm nói nghịu của nó làm cho nó luôn luôn nín thinh, dù gặp bất cứ sự gì thua thiệt.

Dĩ nhiên Cô Nguyệt nhận ra sự yếu kém này nên Cô đặc biệt chú ý đến nó. Lòng thương cảm của Cô càng tăng thêm khi một hôm cô bắt gặp nó ngồi ở một góc sân trường với hai cặp mắt đỏ hoe. Một thằng cao lớn tồng ngồng như nó, khóc trong sân trường là một sự kiện bất thường. Cô Nguyệt đã rút khăn tay lau nước mắt cho nó và kéo nó trở lại khu vực bên trong trường học. Tuyệt nhiên cô không hỏi han một lời nào, nhưng nhìn ánh mắt của cô, Sửu cảm thấy ngay một nguồn an ủi mà trước đây chưa một lần có ai ban phát cho nó. Trong giờ ra chơi kế tiếp, cô đi tìm Khoa và được Khoa giải thích:

- Bố mẹ của Sửu đã đem nhau ra tòa ly dị. Bà ta qua đến đây vẫn không chừa cái tật đánh bạc.

Có đủ mọi loại cờ bạc người ta có thể tham gia tại vùng đông đảo người Việt cư ngụ này. Dĩ nhiên là bất hợp pháp, vì luật lệ ở đây cấm đoán mọi trò chơi giải trí có tính cách ăn thua bằng tiền bạc. Nhưng chỉ cần biết mối dẫn dắt là người ta có thể lui tới những sòng bài nằm riêng lẻ trong khu dân cư, xì phé có, tứ sắc có, tổ tôm, tài bàn có, thậm chí có cả sòng xóc đĩa mà tiền bạc ném xuống chiếu như mưa vào những ngày cuối tuần. Mẹ thằng Sửu bị cuốn hút ngay vào những cuộc chơi mà bà ta tưởng qua đến Mỹ rồi thì không bao giờ còn gặp lại nữa. Người cha đau khổ của nó không thể nào chịu đựng hơn, nên đành phải chọn giải pháp chia tay. Tấm huy chương nào cũng có bề mặt trái của nó. Ở đằng sau cái dáng vẻ phồn vinh, sung túc và phát triển một cách rất mau chóng với một tốc độ chóng mặt của khu Bolsa Tiểu Sài Gòn này, đã có biết bao nhiêu là thảm kịch gia đình. Ch­ưa ai có đủ khả năng làm một cuộc thống kê về tỷ lệ gia đình Việt Nam tan vỡ ở đây, nhưng chắc phải là con số không nhỏ.

Thảm kịch gia đình kéo theo một loạt những tệ đoan khác trong bầy con cái tự nhiên bỗng bị xẩy nghé, tan đàn. Xì ke, ma túy, băng đảng và bỏ nhà đi hoang. Đây có lẽ là một cái giá phải trả của một cộng đồng còn quá non trẻ, phải đối phó với biết bao nhiêu vấn đề xã hội phức tạp khi bị bứng từ một vùng đất này để hồi sinh trên một vùng đất khác. Cho nên người ta chỉ săm soi vào những trường hợp thành công, tiến bộ để làm liều thuốc an ủi trước những mất mát, thua thiệt. Mà những trường hợp này kể ra cũng không thiếu, nhất là sự thành công của đám trẻ may mắn có đ­ược một căn bản gia đình vững chắc. Trẻ em Việt Nam học hành thông minh, luôn luôn đạt thành tích xuất sắc trong bất cứ lãnh vực học vấn nào. Chúng nó đang đi vào công cuộc xây dựng một thế hệ di dân thứ hai với những b­ước vững chãi. Thôi thì đó cũng là niềm an ủi cho những ông già, bà cả Việt Nam nơi xứ người.

Không lâu sau ngày đó, Cô Nguyệt, Sửu và Khoa đã trở thành bộ ba vô cùng quấn quít với nhau. Ngoài việc tận tình giúp Khoa dần dà vư­ợt qua những trở ngại khi phải thích ứng với bài vở và sinh hoạt nơi trường học, Cô còn bàn với nó những phư­ơng cách làm cho thằng Sửu nói năng bớt ng­ọng nghịu. Cô nhẫn nại mỗi ngày soạn ra những câu nói thật ngắn, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt rồi bắt thằng Sửu chép đi chép lại. Vừa chép vừa nhẩm một mình. Ðến lúc gặp mặt hai người thì cô bắt nó nói to, nói dõng dạc.

Cô cũng hay tổ chức những cuộc đi chơi cuối tuần cho ba người, với sự đồng ý của bố mẹ Khoa và ba của Sửu. Cô đưa chúng nó vào những công viên rộng mênh mang, đầy cây to bóng mát, có cả những cái hồ phẳng lặng ở trên có những đàn vịt hoang nô rỡn, bơi lội rất bình an. Ba người thường chọn lựa một nơi yên tĩnh nhất để trải khăn lên ngồi. Cô hay kể nhiều về thời kỳ cô đi dạy học ở quê nhà. Thế giới học đường là cả một khung trời kỷ niệm đẹp đẽ mà Khoa cũng có dịp được ôn lại. Rồi cô đặt nhiều câu hỏi cho thằng Sửu trả lời. Bây giờ nó nói năng dễ dàng hơn trước rất nhiều. Mặc cảm trong lòng nó bớt đi, niềm tự tin lại được cô Nguyệt vun xới thêm. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt rạng rỡ, sáng ngời mỗi lúc nó cất tiếng, cũng đủ biết nó đang trên đà thay đổi một cách sâu xa. Rồi cô Nguyệt yêu cầu nó đem chiếc khẩu cầm ra thổi. Tiếng kèn của nó vừa tha thiết, vừa sôi nổi. Cô bảo nó trình diễn rất có hồn, và Cô bầy tỏ dự kiến sẽ thu xếp để nó có thể góp phần vào chương trình văn nghệ nhà trường trong dịp cuối năm.

Mùa hè năm ấy là một mùa hè chia tay đầy nước mắt. Cô Nguyệt không còn được lưu giữ làm chân trợ giáo nữa vì ngân sách nhà trường bị cắt cắt giảm. Cô nói có thể Cô sẽ đi xa, mặc dầu trong suốt cả năm học Khoa không hề thấy Cô có một người bạn hay họ hàng thân thích nào.

Ngày mãn khóa học, nhà trường tổ chức một đêm họp mặt có sự tham dự của toàn thể phụ huynh. Bố mẹ của Khoa vẫn không tới vì càng ngày ông bà càng bù đầu vào công việc. Nhưng Ba của Sửu thì đư­a nó đến rất sớm. Ông mang theo một bó hoa hồng tuyệt đẹp có bao giấy bóng kính và cột bằng một giải lụa dài. Ông trao tận tay Cô Nguyệt và nói bằng một giọng xúc động:

- Tôi không biết bầy tỏ thế nào về lòng nhớ ơn của tôi đối với sự tận tình chăm sóc của Cô dành cho cháu.

Cô Nguyệt cũng cảm động không kém. Cô đỡ lấy bó hoa hồng, cùng lúc kéo tay thằng Sửu lại sát gần mình. Cô nhìn Sửu với tất cả niềm hãnh diện chan hòa trong đôi mắt cũng nhòe những giọt lệ của Cô.

Sửu hôm nay trông rất bảnh. Nó bận quần tây, áo sơ mi trắng lại còn thắt cả một cái cà vạt người lớn. Trông rõ ra là một thanh niên chứ không còn là một anh học trò ngù ngờ như lúc trước. Điều quan trọng hơn nữa là bữa nay, Sửu có mư­ời phút để tham gia phần trình diễn khẩu cầm của mình. Đó là công trình sắp xếp của Cô Nguyệt với ban giám đốc nhà trường. Trong mư­ời phút ngắn ngủi ấy, Sửu có một phút để bầy tỏ lòng cám ơn tới tất  cả các thầy cô giáo trong trường. Mà lại nói bằng tiếng Anh nữa chứ ! Ðây là một chuyện vĩ đại, không một thầy cô giáo nào có thể tưởng tượng được nổi. Có ai mà quên được hình ảnh một tên học trò lúc nào cũng ngồi ru rú ở một cái bàn cuối lớp, vẻ mặt thì ngơ ngác, buồn thiu không một chút gì gọi là hoạt bát sinh động.

Vậy mà hôm nay, dưới ánh sáng chói lòa của hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ trên sân khấu, Sửu đã tỏ ra chững chạc và tự tin vô cùng. Giọng nói của nó mạnh mẽ và rõ ràng. Cái âm thanh nồng ấm của nó như được nhân lên bởi dàn máy khuếch âm cực kỳ hiện đại. Rồi tiếng kèn của nó cất lên  chan hòa trong cả hội trường. Rộn ràng. Sôi nổi. Thiết tha. Nó đã lôi cuốn trọn vẹn sự theo dõi chăm chú của hàng mấy trăm con người ngồi kín mít trên tất cả mọi hàng ghế. Ðến khi bản nhạc chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên như muốn nổ tung hội trường. Ngồi ở một ghế phía dưới, cô Nguyệt cứ để cho những giọt nước mắt trào ra, chan hòa hai bên má.

Sau buổi trình diễn, bố của Sửu ngỏ ý mời tất cả đi ăn cơm tối, nhưng cô Nguyệt từ chối. Ðối với Sửu, cô tự cho mình là đã hoàn tất nhiệm vụ. Cô không muốn bịn rịn tạo thêm kỷ niệm để khiến cho mọi người phải quyến luyến. Ngoài ra, cô cũng còn cả một tương lai đầy bất trắc trước mặt phải đối phó. Những ngày êm ả ở ngôi trường này qua đi như một giấc mơ. Hãy chỉ nên coi đó như một giấc mơ vì không có gì bền vững  ở cái xứ sở luôn luôn sinh động và thường trực đổi thay này.

Lúc ra khu vực đậu xe, cô ôm cả hai đứa trong vòng tay và thì thào :

- Chúc hai em may mắn. Nếu còn nhớ tới cô thì hãy luôn luôn cố gắng học hành.

Thằng Khoa bật lên như mếu :

- Còn Cô, Cô sẽ đi đâu?

Cô Nguyệt chỉ xiết chặt thêm vòng tay của mình mà không trả lời, bởi vì chính Cô, Cô cũng chưa biết ngày mai mình sẽ đi đâu, về đâu. Một lát sau, Cô lủi thủi tiến lại phía đậu xe của mình. Hai bố con của Sửu và Khoa đứng ở bên lề đư­ờng chờ cô lái xe đi qua. Cô thò đầu qua hẳn kính cửa, vừa cười vừa giơ tay vẫy. Nụ c­ười đầy vẻ g­ượng gạo vì cô đang muốn nén cho mình khỏi phải bật lên khóc.

Đó là hình ảnh cuối cùng của cô mà Khoa ghi nhận đ­ược. Nó có cảm giác như­ cô là một nàng tiên, vừa chắp cánh bay đi sau khi đã đến với nó với tràn đầy niềm yêu thương trong  một thời gian ngắn ngủi. Có lẽ thằng Sửu cũng cùng chia sẻ với nó cái cảm giác ấy. Mặt Sửu lúc này nh­ một kẻ mất hồn. Nhưng không phải là một thứ vô hồn ngu ngơ như­ ngày nào đó còn ngồi thu nhỏ mình lại sau chiếc bàn kê ở cuối lớp. Bây giờ nó có vẻ cứng cỏi hơn tr­ước rất nhiều. Trong ánh mắt như nhìn vào khoảng không vô định trức mặt, Khoa nhận thấy như­ nó đang đắm chìm vào một thế giới khác. Nào ai biết được nó đang suy nghĩ những gì  ở phía sau nỗi niềm u uẩn đó.

Ba của Sửu thả Khoa xuống trước cửa nhà. Căn nhà nằm im trong bóng tối. Tất cả các căn phòng đều chưa được lên đèn. Ðiều đó có nghĩa là bố mẹ Khoa cũng chưa về. Có lẽ ông bà ấy đi dự tiệc tùng hay đang hiện diện ở một buổi dạ vũ nào đó. Những thời gian sau này, vắng mặt vào đêm cuối tuần đã trở thành thói quen của cả hai người. Ðiều này không còn là mối bận tâm của Khoa nữa. Nó cảm thấy rất dửng dưng mỗi lần thấy bố mẹ ăn diện thật đẹp đẽ đi ngang qua phòng khách để ra xe. Bao giờ mẹ của nó cũng nói một câu:

- Khoa ở nhà ngoan nhé.

Khoa không buồn quay lại để chào hai người. Cái hố ngăn cách giữa nó và gia đình đã trở nên trầm trọng, mà duy chỉ có một mình nó cảm nhận được.

Bây giờ nó lủi thủi ngồi một mình ở bực thềm trước cửa. Tuy có chìa khóa, nhưng Khoa không muốn bước vô nhà. Nó cảm thấy chán chường khi nghĩ đến những căn phòng trống trải nằm im bất động dưới ánh đèn sáng. Thà là ngồi ở đây, dưới bóng tối của tàn cây hoa giấy che kín cả khoảng sân trước mặt. Bóng tối như đùm bọc lấy nó, che chở nó, gây cho nó một cảm giác yên ổn, riêng tư. Nó nhắm mắt lại và thấy mình tiếc nuối những ngày ở quê nhà một cách xót xa. Trường học. Thầy cô. Bạn bè. Và vòng tay yêu thương của bố mẹ. Bây giờ tất cả những thứ ấy đã bay xa. Bay đi rất xa...

Nhật Tiến
California, 13/3/1994

Ngày Nàng Trở Lại

Chiều hôm ấy, khi vừa đi làm  về thì Huy nhận được điện thoại của anh Hải. Giọng của anh vẫn rổn rảng như hồi nào, từ hơn hai nămtrước, thời  kỳ mà Huy còn  chia một phòng trong  căn nhà ấm cúng của anh chị ấy:

- Huy đấy hả? Hải đây.

- A! anh Hải. Lâu lắm rồi mới  được nghe lại giọng của anh. Anh chị vẫn bình thường cả chứ ?

Hải cười hề hề:

- Thì vẫn vậy.  Còn cậu thì sao? Dễ đến sáu tháng nay mình không gặp nhau rồi đấy nhỉ? Cậu có gì  vui không hay là vẫn sô lô vò võ một mình.

- Gớm, nghe anh nói mà tôi cứ tưởng mình đang rũ dần rũ mòn. Cuộc sống sô lô nó cũng có những cái thuận lợi riêng của nó chứ. Nhưngmà này, chắc anh điện thoại cho tôi không phải chỉ vì tấm lòng ưu ái quan tâm đến chuyện độc thân tại chỗ của tôi đấy chứ.

- Cũng chưa thể nói là đúng hay  là sai một cách vội vã được. Cái đó cũng còn tùy.

Huy la lên:

- Gớm! Sao mà hồi này anh lại sinh tật úp úp mở mở, hồi trước đâu có thế.

- Thì chuyện đâu vẫn còn đó. Thôi  này, nghe tôi hỏi, cậu còn nhớ Quỳ không?

- Cô Quỳ cũng chia một căn phòng trong nhà anh chị ấy à?

- Còn ai  vô đấy nữa.  Hiện nay, cô  ấy vẫn còn  ở đây. Cuối tuần này, chúng tôi tổ chức mừng sinh  nhật Quỳ nên mới điện thoại mời cậu đây.

Huy ngớ người  ra như không tin ở  lỗ tai của mình. Phải  lặng đi một giây, chàng mới lên tiếng hỏi, giọng còn đầy vẻ ngạc nhiên:

- Anh nói cái gì? Tổ chức sinh  nhật cho cô Quỳ đấy à? Chuyện lọa ở đâu ra mà động trời như vậy.

Ở bên đầu dây, Hải  cười rất thích chí:

- Thì thế mới  mất công điện thoại cho cậu.  Nào, có nhận lời hay không thì nói quách đi cho rồi. Cấm hỏi han gì lôi thôi.

Huy láu táu:

- Được chứ. Chỉ nội một cái sự lọa  ấy cũng đủ để cho tôi hy sinh một buổi chiều cuối tuần rồi.

Sau khi  hỏi lại ngày  giờ buổi tổ  chức sinh nhật,  Huy cúp điện thoại xuống mà lòng chưa hết xốn xang. Có thể  nói, đối với  Huy, Quỳ là  một nhân vật  khá kỳ lạ.  Nàng không còn trẻ lắm, ước chừng ngoài ba mươi, không đẹp nhưng khuôn mặt khả ái với nước da trắng mịn màng và một mái tóc óng ả, buông xõa tới ngang lưng. Nàng rất ít nói, lại càng không hay cười, hầu như trong một thời gian gần một năm trời ở chia phòng tại nhà anh chị Hải, chưa một lần  nào Huy bắt gặp một nụ cười của nàng trên vành môi lúc nào  cũng ửng mầu hoa đào. Nàng có mộttâm sự u uẩn, điều này hiện rõ  trong đôi mắt đen láy, khá to, ẩn dưới đôi lông mày tuy không được chăm sóc nhưng cũng rất cong, vàdài, đôi  mắt đượm vẻ  thờ ơ như  phản chiếu một  tâm hồn lúc nào cũng chìm đắm  trong một thế giới riêng biệt,  không quan tâm đến bất cứ một sự việc gì đang xẩy ra ở chung quanh.

Hôm đầu tiên đến  thuê phòng ở nhà anh chị Quảng,  chị ấy đã giải thích:

- Nếu anh cần sự  yên ổn thì ở đây là lý  tưởng. Chúng tôi chỉ có hai vợ  chồng, không con  cái, ở một  phòng. Một phòng  nữa đã cóngười thuê từ hai năm nay. Rất kín đáo, rất ít lời, không bao giờ làm phiền ai....

Hải thật thà xen vào:

- Nói thế thì cũng không đúng hẳn.  Cũng phải cho anh ấy biết kẻo sau này lại  trách là mình không nói trước.  Người thuê căn phòngbên cạnh  là một phụ  nữ rất kín  đáo, điều đó  đúng, nhưng cô ta sống bằng  nghề may thuê.  May tối ngày,  sáng đêm, bẩy  ngày một tuần, bất  kể là ngày  thường hay thứ  bẩy, chủ nhật.  Tuy nhiên, tiếng máy chạy cũng không ồn lắm đâu. Tôi đã dành một phần cái gara cho cô ấy sử dụng.

Điều này, đối với Huy cũng không  có gì phiền hà lắm. Một vài đêm đầu dọn  tới ở, giấc  ngủ của Huy  thường được ru  bằng tiếng máychạy rù rì. Nhiều hôm thức giấc vào quá nửa đêm, Huy vẫn còn nghe thấy tiếng máy chạy. Có lần Huy tò mò hỏi Hải:

-  Cô Quỳ sống độc  thân, có gì phải lo mà sao  cô ấy làm việc dữ vậy. Suốt gần một  tháng ở đây, tôi chưa thấy lúc  nào cô ấy nghỉ ngơi hay giải trí.

Hải cười:

- Người ta xây  dựng tương lai đấy. Quả là  một người kiên trì số một.

Rồi Hải hé cho Huy biết sơ qua  một chút về đời sống riêng tư của nàng. Quỳ  sang đây đã  hơn ba năm.  Diện tỵ nạn  vì nàng đã vượtbiển cùng với gia đình chỉ gồm có  một bà mẹ và một em gái. Bà mẹ không may đã  chết vì kiệt sức trên  biển. Cô emm gái thì  đã lấy chồng và rời đi một tiểu bang  khác. Thế là nàng chỉ còn sống đơn phương có  một mình. Tuy  nhiên niềm hy  vọng của nàng  trước sau không bao giờ thay đổi. Bởi vì  nàng còn có người hôn phu còn kẹt lại ở Việt Nam. Hai người tuy chưa chính thức đính hôn, nhưng Quỳ vẫn tự cho là mình đã gắn bó và tất cả niềm vui cũng như năng lực của nàng, bây  giờ là dành cho những dự  định tương lai. Kiếm một số vốn rồi trở  về Việt Nam làm hôn lễ. Đó là  lý do nàng đã sống trong suốt  mấy năm trời  cuộc đời của  một chinh phụ  chờ chồng. Không ra  ngoài. Không bạn bè.  Không giao tiếp với  ai. Mục tiêu duy nhất của nàng  ở cái xứ sở xa lạ này  là kiếm tiền bằng những giờ cặm cụi may vá. Thật là một mẫu người phụ nữ tuyệt hảo trong lãnh vực trung thành với tình yêu.

Vậy mà hôm nay Hải lại mời chàng  đến dự một buổi sinh  nhật của Quỳ, thì làm sao chàng không thể ngạc nhiên cho được. Hẳn là phảicó một sự thay  đổi gì rất lớn lao mà Huy  tò mò muốn biết. Chàng sẵn sàng hy sinh một buổi tối cuối tuần để tìm hiểu xem chuyện gì đã xẩy ra cho con người thầm lặng và trung kiên như thế.

Buổi họp mặt không đông đảo như  Huy dự tưởng. Cả thẩy chỉ có sáu người. Anh chị Hải, Quỳ, Huy và  thêm một cặp vợ chồng già, nhữngngười đã đến thuê  căn phòng mà trước đây Huy đã  dọn đi. Chỉ cần điểm mặt sơ qua, Huy đã thấy  ngay được dụng ý của Hải. Anh chàng này chắc toan  tính làm chuyện môi giới gì  đây. Điều này làm Huy có ý nghĩ vui và khiến chàng chú ý đến Quỳ một cách đặc biệt hơn.

Hôm nay nom Quỳ hoàn toàn khác  hẳn với hình ảnh mà Huy vẫn mường tượng  trong đầu.  Trước hết  là ở  việc trang  điểm, một điều mà trước đây chưa bao giờ Huy được  thấy nơi nàng. Với nước da trắng và mịn màng, chỉ cần thoa phớt lên một lớp phấn hồng, và đôi lông mày tô  hơi đậm hơn  lên một cách  kín đáo cũng  đủ khiến cho Quỳ lộng lẫy hẳn lên. Thêm vào đó, y phục của nàng cũng hoàn toàn đổi khác. Một chiếc áo sơ mi lụa mầu đen có điểm những nụ lấm tấm hoa vàng, mái  tóc chải kỹ  hơn, xõa  xuống  hai bờ vai  tròn trịa và buông lơi  vài lọn xuống  cổ áo phía  trước để lộ  ra một làn  da trắng nuốt nổi lấp lánh một sợi dây có gắn một mặt nạm đá quý mầu xanh biếc. Một mùi nước hoa  bay thoảng trong căn phòng chật hẹp, rất nhẹ  nhàng, phảng phất nhưng  cũng đủ khiến cho  Huy cảm thấy ngất ngây.  Lòng Huy chợt  rộn lên một  niềm xao xuyến  khó tả và chàng tự  trách thầm rằng  một đóa hoa  quý như thế  mà sao trong suốt hơn một năm trời sống ngay ở kế bên mà chàng nhìn không ra.

Quỳ đón  tiếp Huy bằng một  nụ cười. Hai mắt  của nàng linh động, lấp lánh. Nàng cất tiếng nhỏ nhẹ:

- Cám ơn  anh Huy đã  tới. Tôi  tưởng  anh không còn  nhớ đến mọi người ấy chứ.

Huy ấp úng, và thấy rõ mình không kiểm soát được mình:

- Sao.... Sao  mà tôi quên được.  Cô là một mẫu người siêng năng hiếm có.

Quỳ bật lên cười:

- Suốt ngày cắm cúi vào cái máy  may bất kể mọi người chung quanh phải không?

- Vâng ...  chính điều đó làm  tôi ngạc nhiên. Tôi  không bao giờ nghĩ rằng lại có một buổi như hôm nay.

Vừa nói, Huy vừa  đặt bó hoa hồng lên mặt bàn.  Chàng có cảm giác mình đang lấy lại sự thoải mái tự tin thường ngày:

- Thật đấy chứ! Ngay  cả lúc tôi vào tiệm mua bó  hoa này, mà vẫn ngỡ như mình nằm mơ!

Chị Hải cười ròn rã xen vào:

- Thôi xạo  vừa chứ ông  ơi. Chứ không  phải ông mới  chỉ bắt đầu thấy mình mơ từ lúc vừa bước chân vô phòng này à?

Huy mỉm  cười tự nhủ,  cái nhà bà  này lúc nào  cũng đầy vẻ  tinh quái:

- Ôi, chị  Hải ơi, chị  đừng có tố  cáo tôi như  thế cho tôi được phận nhờ chứ.

Trong một thoáng ngắn ngủi, Huy thấy ánh mắt của Quỳ chợt lóe lên và hai má của nàng hơi ửng hồng. Tự nhiên, chàng có cảm giác ngọtngào như vừa được nhấp một chút hơi men. Buổi tiệc sinh nhật diễn ra trong bầu không khí hết sức cởi mở và thân tình. Sau  phần cắt bánh và mọi người  ngồi nhấm nháp với ly trà đượm ngát hương sen, chị Hải nói:

- Trà này  cô Quỳ đem  từ Việt Nam  qua đấy. Đúng  là trà sen thứ thiệt.

Anh Hải giơ tay coi đồng hồ và nói:

- Mới hơn chín giờ, kể là còn sớm. Tôi đề nghị cậu Huy lái xe đưa cô Quỳ đi dạo mát một vòng.

Huy chưa kịp phản ứng thì Quỳ đã nói:

- Kể ra anh chị thật đã hết sức tận tình. Thì đi một vòng có sao. Cái đó chỉ còn tùy ở anh Huy thôi.

Huy vội nói:

- Thật không có điều gì hân hạnh cho tôi bằng.

Thế là chỉ trong vòng không đầy  hai mươi phút sau, Hải và Quỳ đã rời trung  tâm thành phố  để đi  dọc  theo con đường  chạy ven bờ

biển. Một bên là những hàng cây  cao in bóng từng tàng lá rậm rạp xuống mặt đường để lại những lốm  đốm sáng lay động qua ánh trăng

của một đêm chưa qua hạ tuần. Một bên là khoảng trống bao la, tầm mắt có  thể phóng tới  tận chân trời,  ở đó biển  như một tấm màn

nhung xanh  thẫm thỉnh thoảng  lại nổi lên  một vài sánh  đèn lấp lánh của những con tầu nhỏ đang  buông neo hay di chuyển chậm rì.

Khung cảnh  hoàn toàn yên  tĩnh và  Huy  có cảm giác  như đang đi trong một giấc  mơ huyền ảo. Chàng hết sức  gượng nhẹ đến cả từng

hơi thở để không làm khua động Quỳ lúc đó đang ngả đầu trên thành ghế và  dõi cặp mắt  đăm đăm nhìn  ra phía ngoài  xa. Nét mặt của

nàng rất bình thản, hầu như nàng đã rũ bỏ được mọi nỗi phiền muộn trong đời sống để tận hưởng những  giây phút hiếm hoi êm ả, thanh

tịnh và vô tư như bây giờ.

Chiếc xe  của Huy vẫn trôi  đi trong êm ái,  nhẹ nhàng. Con đường trước mặt tuy quanh co nhưng càng  lúc càng xa thành phố nên bóng

cây thưa dần và đã đi sát vào mé biển. Trong không gian yên tĩnh, hai người  đã bắt đầu có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào vỗ lên ghềnh đá. Đến một khúc quanh mở rộng, có khoảng đất  trống đủ để  làm chỗ đậu  cho nhiều xe  cộ nghỉ ngơi, chợt Quỳ nói:

- Mình ngừng ở đây  đi anh. Ở đây khung cảnh có  vẻ giống như bãi Dâu ở Vũng Tàu.

Huy lẳng lặng lái xe vào chỗ đậu và tắt máy. Bây giờ thì chàng có đủ thời  giờ để quay  sang nhìn ngắm  khuôn mặt của  Quỳ một cáchchăm chú hơn.  Trong ánh sáng trăng mờ nhạt,  đôi mắt của Quỳ đen và sâu  thăm thẳm. Quỳ có  vẻ không né tránh  cái nhìn của chàng. Thái độ ung dung của nàng biểu lộ  một vẻ đầy tự tin như thể nàng ý thức rất  rõ mình đang  đi đến đâu,  muốn làm gì.  Rồi nàng cất tiếng:

- Tôi biết là anh có điều băn  khoăn từ chập tối. Hẳn là anh muốn biết tại sao  tôi lại có thể hoàn  toàn thay đổi lối sống  nếu sotôi bây giờ với thời kỳ anh còn ở chung căn nhà với anh chị Hải.

Huy mỉm cười:

- Nếu cô không lên án là tôi tò mò thì xin  thú thật, quả là tôi hết sức băn khoăn, thắc mắc về chuyện đó.

- Thế thì để tôi giải thích cho  anh nghe. Hẳn anh cũng rõ, trước đây tôi có một vị hôn phu còn sống ở Việt Nam.

- Vâng. Tôi có nghe anh Hải nhắc tới.

- Anh ấy là  lẽ sống của đời tôi  trong suốt những năm dài  kể từ khi tôi đặt chân lên đất Mỹ. Đối  với tôi, hồi đó, chỉ có một mục

tiêu duy nhất.  Đó là làm việc thật  cật lực để gây dựng  một cái vốn và trở về làm đám cưới. Hồi đó tôi sống ở đây, mà hồn lúc nào

cũng chìm đắm  trong giấc mơ trở về quê  hương. Không hẳn tôi chỉ có nhớ thương  một mình anh ấy, mà  nỗi nhớ của tôi bao  trùm lên

mọi thứ. Tôi nhớ  căn nhà tôi đã ở. Nhớ con  đường tôi đã đi. Nhớ từ những  viên sỏi bên  vệ đường cho  đến những sợi  khói bay tản

mạn trên  từng đống lá khô  đang bị đốt cháy.  Quê hương, đối với tôi, càng đi xa càng thấy nhớ quay quắt, từng giờ, từng phút trôi

qua  trong một  ngày, từng  tiếng nói,  giọng cười  không chỉ của người thân  mà cả những hình  ảnh chợt đến, chợt  đi trong ý nghĩ

của tôi. Đầu óc  của tôi, lúc nào cũng chỉ bám  chặt một ước muốn không rời: "Trở về. Trở về. Trở  về. Nói như thế để anh thấy, tại

sao tôi không màng gì tới bất cứ  một sinh hoạt nào ở bên đây, kể cả việc  giao thiệp, bạn bè,  hay những buổi giải  trí cuối tuần.

Không phải tôi  muốn xa lánh mọi người ở  đây. Nhưng chính là tôi muốn rút ngắn thời gian mòn  mỏi nơi xứ người  bằng cách hối hả,

cặm cụi làm việc để kiếm tiền.

Huy chen vào:

- Và cô đã thực hiện được điều ước muốn của mình.

Quỳ mỉm cười:

- Vâng! Tôi đã dành  dụm được đủ số tiền dự trù  và gần hai tháng trước tôi đã thực hiện được chuyến về Việt Nam.

- Tuyệt diệu!

- Cứ cho là như  thế đi. Bởi vì tôi đã làm  được một công việc mà tôi đã dự tính trong nhiều năm.

Huy hấp tấp hỏi:

- Kể cả chuyện cô định làm đám cưới chứ.

Quỳ nhìn Huy  không đáp, nàng chỉ khẽ lắc  đầu. Huy như người hụt hẫng:

- Vậy thì... vậy thì anh ấy đã không chờ cô.

Mắt Quỳ chợt sáng lên. Nét mặt của nàng đột ngột biến đổi như tâm hồn của nàng vừa kéo qua một đám mây buồn bã, u uẩn:

- Không phải vậy đâu. Anh ấy vẫn chờ tôi. Và cả hai chúng tôi đều có đầy đủ điều kiện để thực hiện một cuộc sống chung.

- Thế thì thực tình tôi không hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Quỳ bật lên cười:

- Chính tôi cũng đã nhiều ngày, nhiều  đêm tự đặt ra cho mình câu hỏi y như vậy, nhưng chưa bao giờ tôi tìm được câu trả lời cho nó

thỏa đáng cả.

Huy hăm hở:

- Tôi nghĩ rằng  mấu chốt của vấn đề  nó nằm ở đâu đó  mà cô chưa nhận diện được nó đấy thôi. Tôi hy vọng là tôi có thể giúp cô nếu

cô không cho là quá tọc mạch vào chuyện riêng tư.

Quỳ lắc đầu:

- Không... Không... tôi chẳng có điều  gì thấy cần phải giấu giếm ai cả. Chỉ  sợ cứ nói mãi về  cái tôi của mình ...  e mất thì giờ

của anh.

Huy quay hẳn người qua phía Quỳ  để hai người trực diện với nhau. Bây giờ thì chàng  nhận thấy đôi mắt của Quỳ nở  to hơn trước, vàchàng đọc được ở đó một nét  buồn phảng phất, nó khiến cho vẻ mặt của nàng  bỗng xa vắng  đi. Tuy nhiên,  chỉ một thoáng  giây sau, nàng lấy lại được vẻ linh động qua một nụ cười hết sức hồn nhiên. Nàng đổi giọng vui vẻ:

- Này nhé,  khi trở về  quê nhà, chính anh ấy đã  đón tôi ở  phi trường bằng chiếc xe hơi mà anh ấy đã đi thuê, với cả tài xế láinữa. Điều  này dễ hiểu, vì  khung cảnh chèo kéo,  giành giật hành khách ở ngoài vòng rào phi trường nó sô bồ, phức tạp lắm.

- Cảm nhận đầu tiên  lúc cô trong thấy anh ấy là  như thế nào. Cô có thấy anh ấy thay đổi gì nhiều không, về mặt hình thức thôi.

Quỳ suy nghĩ rồi trả lời:

- Có lẽ không có gì quan trọng. Gần bốn năm trời trôi qua rồi, ai cũng phải có điều đổi khác chứ. Tôi không thấy mình quan tâm chútnào khi  gặp lại thấy  anh ấy có  già dặn đi  hơn một chút, phong trần, từng trải hơn một chút, mà có lẽ anh ấy cũng tìm thấy ở tôi những nét như vậy.

- Điều quan trọng là anh ấy vẫn yêu cô. Và anh ấy đã biểu lộ tình yêu đó một cách nồng nàn ngay từ phút đầu gặp lại cô chứ?

Quỳ mỉm cười:

- Chúng tôi đã ôm nhau ngay ở cửa phòng đợi của phi trường. Chúng tôi vô cùng xúc động ghì lấy vai của nhau. Tôi chỉ không cho anhấy hôn tôi trước mặt mọi người thôi.

Ngừng lại một giây, chợt giọng của Quỳ trầm hẳn xuống:

- Tại giây phút đó, tôi chợt bị  rơi vào một cảm giác khác lạ khi tôi phát giác ra rằng, anh ấy đeo một chiếc đồng hồ có vẻ rất đắttiền với một sợi dây bằng vàng ối. Điều này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi.

Huy hơi mỉm cười, vẻ riễu cợt:

- Chắc cô thắc mắc về sự anh ấy đã không giữ  lại cái đồng hồ kỷ niệm nào đó  mà cô đã trao tặng  anh khi hai người chia  tay phảikhông?

Quỳ lắc đầu lia lịa:

- Không... không... tôi  chẳng tặng anh ấy một  chiếc đồng hồ nào cả. Vấn đề là ở chỗ, trong suốt  thời gian cặm cụi làm việc ở Mỹ, tôi vẫn đinh ninh là anh ấy rất nghèo.

Huy kêu lên:

- Ô! Thế thì  bất ngờ là phải. Nhưng trong  suốt thời kỳ xa nhau, anh ấy không thư từ trò chuyện gì  với cô về công việc làm ăn củaanh ấy hay sao.

- Tôi vì tế nhị nên không hỏi,  sợ anh ấy tủi thân. Và ngược lại, anh ấy cũng không hề đả động  gì đến chuyện đời sống riêng tư cả.

Do đó,  thư từ trao  đổi với nhau  chỉ toàn chuyện  nhớ thương và cùng nhắc lại những kỷ niệm êm đềm cũ.

- Nhưng chuyện  anh ấy có nghèo  đi, hay giầu có  lên, thì đâu có phải là nguyên nhân để cô trở thành bất như ý.

- Dĩ nhiên! Anh ấy đâu có lỗi  gì. Tôi không bao giờ trách anh ấy về chuyện này cả. Nhưng thành thực mà nói, kể từ lúc phát hiện racái đồng hồ, tự nhiên tôi như bị khựng lại. Tôi thấy rõ bao nhiêu năm cặm cụi, chắt  chiu từng đồng ở bên này, với  ý nghĩ là để sẽ lo lắng cho anh ấy. Tôi luôn luôn tự hào về những sự vất vả triền miên nhưng có  mục tiêu rõ rệt. Nay  thì cái niềm tự hào  đó bỗng tan như mây khói.  Tôi cứ bị dằn vặt về ý  nghĩ chẳng lẽ mình ích kỷ đến độ cứ muốn cho anh ấy  nghèo rớt mùng tơi để cho mình được lo lắng hay sao.

Huy chen vào:

- Tôi hiểu được cái tâm trạng ấy của cô. Nhưng điều đó không phải là tất cả. Chỉ trừ phi tâm tình của anh ấy cũng lại thay đổi theonhịp độ giầu có lên của mình.

Quỳ kêu lên:

- Không! Tuyệt đối không! Anh ấy vẫn nhã nhặn, hồn nhiên, và nồng nàn như  ngày nào. Chứ mà đổi tính kiêu căng,  phách lối thì cònnói làm gì. Tôi biết anh ấy không phải loại  người như vậy.

- Sau đó thì....

- Có lẽ  là tại tôi  hết. Như tôi  đã vừa nói  với anh là tôi bị khựng lại. Cái khựng lại rõ ràng, cụ thể nhất là tôi đã không còn muốn đưa cho anh ấy cái đồng hồ điện tử mà tôi mua tặng anh trước khi trở về. Tôi  có cảm giác như đem tặng anh ấy một cái đồng hồ trung bình, chỉ trị giá có vài chục đô la ở bên này trong khi anh ấy đã  có một cái  đồng hồ đắt  tiền như thế,  thì là chuyện khôi hài. Mặc dù cái đồng hồ của tôi  mua nó có tính chất của lòng yêu thương, gắn bó, dĩ nhiên.

Huy thở dài:

- Thế thì "vấn đề" nó đã khởi sự ngay từ cái lúc ấy rồi.

Quỳ gật đầu:

- Tôi cũng nghĩ như vậy. Bởi vì  những ngày sau đó, tự nhiên giữa tôi và ảnh có một khoảng cách  mà tôi không thể hình dung rõ ràngra được.  Phải chi mà  anh ấy vẫn  nghèo như xưa  thì tôi đã hồn nhiên và vui sướng biết bao. Anh biết không? Ngay tối hôm đó, anh ấy đã dẫn tôi đi nhà hàng để  chào mừng ngày hai đứa đoàn tụ. Một bữa ăn khá  tốn tiền và đượm vẻ  mầu mè, trong khi tôi  cứ ước ao rằng giá hai đứa ngồi phệt xuống  vỉa hè cùng húp sì sụp bát cháo nóng hay bát bún  riêu thì hạnh phúc sẽ tuyệt vời  hơn. Mà ý nghĩ này tôi cũng không dám nói ra, có lẽ đấy cũng là lần đầu tiên tôi không thể nói ra  với anh ấy về những ý nghĩ  của mình. Trước kia thì đâu có thế, tôi tin anh ấy  tuyệt đối, và bao giờ tôi cũng có thể nói ra bất cứ điều gì.

- Cô vừa dùng hai chữ mầu mè để diễn tả bữa ăn đoàn tụ. Cô có thể tả thêm một vài chi tiết được không?

Quỳ ngả đầu  trên ghế. Hai mắt nàng hơi  nhắm lại. Nàng hồi tưởng đến những giây phút đã trải qua như một khúc phim quay chậm:

- Anh có thấy một tiệc đoàn tụ thay vì chỉ có hai đứa để cùng thủ thỉ tâm sự lại đi mời cả đám bạn  bè tới dự thì có phải là mầu mèkhông. Đành rằng tôi cũng là người  biết tôn trọng bạn bè của anh ấy, nhưng rõ ràng hôm đó không phải là lúc. Anh có đồng ý như vậy không?

Thấy Huy không lên tiếng trả lời, Quỳ nói tiếp:

- Trong bữa tiệc,  dĩ nhiên tôi vẫn là cái  đinh để mọi người trò chuyện và thăm  hỏi. Nhưng sau đó, bao giờ  cũng liên hệ tới việclàm  ăn, buôn  bán và  vị hôn  phu của  tôi lại  nhiệt thành nhất trong chuyện đó. Đến  nỗi tôi đâm ra có mặc cảm  về sự chẳng biết gì về cái xứ  Mỹ xa lạ này mỗi khi được hỏi  về một chuyện nào đó và tôi giấu biến  cái chuyện tôi đã miệt mài chỉ  với mỗi một cái máy may trong suốt bao nhiêu năm trời.

Rồi Quỳ kêu lên:

- Trời ơi! Tôi không thể tưởng tượng được ra rằng giữa tôi và anh ấy lại cách xa nhau đến thế,  chỉ trong khoảnh khắc không đầy hai ngày sau khi tôi đặt chân về Việt Nam. Cái khoảng cách này còn xa thêm nữa khi  nhìn thấy anh ấy móc  túi chi ra hàng xấp  giấy bạc khi trả nhà  hàng. Anh có biết là bao  nhiêu không? Gần hai triệu đồng tức là  xấp xỉ hai trăm đô  la, bằng lương suốt một  tuần lễ tôi cặm cụi ngồi may từ sáng đến  nửa đêm. Sau bữa ăn đó, tôi cảm thấy mình  bắt đầu trở  nên thừa thãi  trong cuộc đời  của anh ấy rồi.

Huy vẫn ngồi yên lặng, hết sức chú tâm ngồi nghe tâm sự của nàng.

Còn giọng của Quỳ thì mỗi lúc một trầm xuống, đều đều:

- Ngày hôm  sau, nhân lúc  rảnh rỗi, tôi  mới mở va  li để lấy ra những món quà tôi mua tặng thân  nhân, bạn bè. Anh có biết không,có nhiều món  dự định tặng anh ấy  nhưng tôi đã không mở  ra. Tôi giấu biến  đi và đem  trở lại ra ngoài này. Đó  là những thứ vặt vãnh, không đáng tiền, nhưng rõ ràng  là tôi chắt chiu nó như một người vợ yêu thương và săn sóc chồng. Cũng phải thú thực với anh, có nhiều món tôi đã mua ở các tiệm rẻ tiền, hay các lần ở tiệm họ đại hạ giá. Khi mua những món đó, trong đầu tôi vẫn mang hình ảnh ở nhà mọi thứ đều hết sức thiếu  thốn của những năm gần cuối thập niên tám mươi. Vào  thời kỳ đó quả là cái gì  cũng quý hết. Nhưng nay thì mọi  sự đổi khác hết rồi,  chỉ có tôi là hết  sức lạc hậu đối với tình hình trong nước thôi.

Tiếng nói của Quỳ cứ mỗi lúc  như một thay đổi, như thể nàng đang trải qua một  cơn nghẹn ngào mà cường  độ cứ mỗi lúc một  lên cao hơn:

- Sau hôm đó, tôi vẫn cứ cố  đinh ninh trong lòng rằng cái chuyện quà cáp đó  chẳng qua cũng chỉ là những  thứ linh tinh, vặt vãnh, không nên để nó dằn vặt mình. Và tôi đã xếp đặt một chuyến đi thơ mộng ở vùng quê  để có dịp cùng nhau ôn lại  kỷ niệm cũ. Lòng tôi phơi phới trở lại khi nhìn cánh đồng xanh tươi bát ngát trước mặt có những cánh cò trắng phau xoải cánh bay dưới ánh nắng lấp loáng của một  ngày đẹp trời. Biết  bao nhiêu kỷ niệm  êm đềm chợt sống dậy trong lòng  tôi trước khung cảnh êm đềm,  thanh khiết đó. Vậy mà anh biết không,  anh ấy đã phá vỡ dòng suy  tưởng của tôi bằng cách cứ kéo tôi  về đời sống thực tại qua những  câu hỏi mà những hôm trước đông  người, anh ấy không có dịp  nêu ra. Chẳng hạn như khả  năng kiếm  tiền của  tôi ở  bên đó,  vấn đề  lương bổng hàng tháng, vấn đề chi tiêu hay dành dụm. Tôi thực tình vừa lúng túng, vừa  sượng sùng.  Làm sao  tôi có  thể làm  cho anh  ấy tin  được rằng may một bộ cầu vai tôi chỉ được trả có mười xu trong khi chỉ tiền thuê phòng để trú ngụ tôi  đã phải trả tới ba trăm đồng. Cho nên khi anh ấy đưa ra một con  số ước lượng về số tiền tôi có thể dành dụm được trong ngần ấy năm  trời thì tôi rụng rời. Tôi không còn hào hứng gì để kéo dài chuyến  đi. Tôi đã lấy cớ nhức đầu đòi quay về. Và tôi thấy rất rõ vị trí của tôi đối với anh ấy lúc đó. Tôi không còn  là con người mà anh  ấy thực sự đang kỳ  vọng nữa. Cái cảm nhận này không phải là  tôi tưởng tượng ra, mà tôi đã đọc được rất rõ trong  ánh mắt đầy thất vọng của anh  khi tôi trả lời bằng một nụ cười hết sức gượng gạo: "Với số tiền đó, em có đi làm cả đời cũng  chưa có được lấy một phần".  Điều băn khoăn, day dứt nhất của tôi, không phải là tôi  đã bắt anh ấy phải trực diện với sự thực, nhưng  chính là nỗi e sợ  rằng anh ấy không tin  lời tôi nói. Tôi  đã chống chỏi  lại cơn e  sợ đó bằng  cách cố gắng giải thích và giải bầy tấm lòng thành  khẩn của mình. Nhưng anh ấy chỉ đáp ứng lại  bằng cái nhìn lạnh lùng và  những nụ cười chua chát, nửa miệng. Chính  ở chỗ đó mà tôi  cảm thấy sự đổ vỡ  giữa tôi và anh khó có thể hàn gắn lại được.

Ngừng lại một  lát như để nỗi lòng được  lắng sâu xuống sau những giây phút bị khua động, Quỳ lại nói tiếp bằng một giọng bùi ngùi:

- Có những lúc ngồi nghĩ lại, tôi  lại thấy mình có nhiều điều tự mâu thuẫn. Nếu tôi đã mang cảm  giác chim bị tên sợ cành cây congmỗi khi nghe  có ai nhắc nhở đến chuyện  lương bổng của mình, thì chính tôi cũng lại phiền lòng khi gặp lại đám bạn bè cũ, trong đó có nhiều người rất  thân thiết nhưng họ lại giữ ý  quá đáng về sự giao tiếp với tôi. Cứ như thể họ sợ vi phạm vào lòng tự trọng khi bầy tỏ  tình cảm một  cách nồng nhiệt,  đối với kẻ  đi xa trở về. Dẫu sao thì tôi cũng bị mang dấu ấn của một Việt kiều trở về thăm quê hương.

Chợt Quỳ bỗng thở một hơi dài:

- Nhưng nghĩ cho cùng, nếu tôi ở  địa vị của họ thì tôi cũng hành xử như vậy. Trong những ngày ở Sài Gòn, tôi đã gặp không thiếu gì những khuôn mặt  vênh váo, nghênh ngang của  những con người mang tâm trạng  áo gấm về làng.  Chính họ cũng góp  phần không nhỏ vào công cuộc tạo dựng nên những khoảng  cách chua xót đã xẩy ra. Quê hương không  bao giờ hắt  hủi ai, nhưng  đời sống là  như thế đó. Mỗi con người dù  ở trong hay ở ngoài cũng đều  góp phần theo một cung cách nào đó  để trở nên nhìn nhau xa lạ  nhưng âm thầm không ai muốn  nói ra. Riêng  về phần tôi,  anh có thể  tưởng tượng nổi không, khi  đi lại giữa  đường phố Sài  Gòn, tôi đã  mang một cảm giác bất an. Sự bất an không phải  vì mình lo sợ ai hà hiếp mình, bởi vì tình hình an ninh khá tốt đẹp, nhưng là nỗi bất an của một kẻ chỉ sợ mình hành xử vụng về sơ xẩy một điều gì trong cung cách giao dịch, ứng xử với đời sống  chung quanh, bắt nguồn từ sự mình không thấu hiểu những qui luật nẩy  sinh trong đời sống đó mà chỉ người trong cuộc mới nắm vững. Còn tôi, như chỉ đứng bên lề.

Huy góp ý:

- Ngày xưa, những người đi du học  năm bẩy năm khi trở về, đâu có ai mang cái cảm giác đó.

- Thế là anh đã bắt đầu hiểu vấn  đề rồi đó. Tôi thì tôi cho rằng quả là đã  có sự thay đổi về  tâm tình, ở cả hai  phía mới gây ra những nỗi cách biệt này. Riêng đối  với tôi, tôi cũng tự cảm nhận thấy sự  thay đổi trong  thế giới suy  tưởng của mình.  Chẳng hạn hằng đêm, trước khi nhắm mắt ngủ, tôi mơ ước được trở về, đi trên con đường  cũ, hít thở  bầu không khí  cũ, ngắm nhìn  những khung cảnh cũ.  Nhưng lạ lùng  thay, cũng vẫn  con đường đó,  vẫn những viên sỏi đó, vẫn  những mùi ngai ngái của từng lớp  lá khô bị đốt cháy bốc khói lên thoang thoảng  trong bóng chiều đang gần xế đó, vậy mà tôi  không bắt được cái cảm giác  thiết tha, trìu mến, day dứt như những cảm giác nó khiến tôi nhớ nhung trằn trọc hàng đêm. Như thể là tôi bị rơi vào  một niềm thất vọng không tên đang khởi sự nhen nhúm trong lòng tôi, thế có đau đớn cho tôi không chứ...

Hai người không ai bảo ai, đột  nhiên cùng im bặt. Họ như vừa đưa nhau đến một  khúc quanh hiểm nghèo của sự  phức tạp khó đo lườngtrong lãnh vực  suy tưởng. Không của riêng Quỳ,  mà hầu như đã có khá nhiều  người đã từng  trải qua. Điều  này, Huy đã  thấy được, và chàng lên tiếng  để giải thích về ý nghĩa của  sự thất vọng mà Quỳ vừa nói ra:

- Tôi  cũng đã  được nghe  nói về  tâm trạng  phức tạp này. Nhiều người đã  hao hức trở  về để tìm  lại những kỷ  niệm, những quangcảnh, những con đường trên quê hương. Nhưng cảnh ấy, người ấy, kỷ niệm ấy  thì vẫn còn nguyên  đó, nhưng không phải  là những gì mà người ta mơ ước  gặp lại. Có bao giờ cô để  công phân tích xem là tại sao không?

Quỳ đáp:

- Có chứ sao không.  Bởi vì điều này nó đã xẩy  ra thiết thân với chính tôi, đã làm cho tôi tiêu tan cái hy vọng, cái ước mơ mà tôi gây dựng nó từng giờ, từng phút  ở nơi xứ người. Nhưng tôi chỉ có thể trả lời bằng một cách tóm gọn là khi tâm trạng con người thay đổi, thì dù  đứng trước cảnh cũ, người xưa,  con người cũng không bao giờ còn tìm lại được những cảm nhận cũ nữa mà thôi.

Huy trầm ngâm rồi gật đầu:

- Đó cũng là một cách giải thích.  Nhưng theo tôi thì, ở đây, nơi xứ người, người ta đã đi tìm quê hương ở trong trí nhớ. Chính tại vùng trời suy tưởng đó, mà điều gì xẩy ra cũng tốt đẹp, cũng bình an, cũng êm đềm, cũng đầy những chi tiết gợi cảm. Một ly nước mía trong tâm tư bao giờ cũng mát rượi và ngọt ngào hơn là trong thực tế. Mọi  hình ảnh, kỷ niệm  khác cũng cùng chung  một số phận như thế.

Quỳ xoay người một lần nữa để đổi lại thế ngồi. Lần này, nàng đặt bàn tay lên vai áo của Huy và nói bằng một giọng xúc động:

- Rất cám ơn anh đã đưa ra một  lời giải thích mà bao lâu nay tôi chỉ cảm nhận thấy  mà không biết cách diễn tả nó  ra. Tôi đã trực diện với cái tâm  trạng này khi trở lại gặp bạn  bè thân hữu ngày xưa. Chúng  tôi đã đi  lại trên những  con đường đầy  kỷ niệm cũ, trong một  khung cảnh của  những buổi chiều  nhạt nắng, đúng  cái khoảng không  gian và thời  gian mà tôi  đã im đậm  nét trong trí tưởng tượng của mình, vậy mà tôi thấy lòng mình sao trống rỗng lạ thường. Những cảm  giác đầy ắp yêu thương mỗi  lần ở bên đây nhắc nhở đến,  nay bỗng tan  biến đi đằng  nào. Anh Huy  ạ. Chỉ có một cách  giải  thích  được  là  tôi  đã  không  còn là chính tôi lúc trước. Phải vậy không?

Huy gật đầu:

- Tôi cho  là đúng như vậy.  Và cũng không phải  chỉ riêng có một mình cô có  sự thay đổi đó. Trong  địa hạt suy tưởng của  mỗi con người, khi bước  chân ra khỏi vùng đất của  quê hương, dù là bằng cách nào, thì  mỗi người cũng đã đều ghi  gói thêm những hình ảnh mới, những  kỷ niệm mới, những  băn khoăn, thao thức  mới. Tất cả những cái  gọi là mới  này đã choán  chỗ đầu óc  của ta trong đời sống thiết thân hằng ngày và đẩy  những hình ảnh của quê hương đã được thêu  dệt lên, đan kết  lại, in đậm nét  trong tâm tưởng của mỗi người.  Và như thế người  ta đã sống với  quê hương trong trí nhớ với tất  cả những cảm giác được  tô vẽ lên chứ không  phải là quê hương bằng xương, bằng thịt với những vật thể sờ sờ có thể va chạm tới được. Đó  là nguyên do đổ vỡ một khi  người ta lên đường trở lại chốn cũ để  đi tìm lại  những cảm xúc  chất chứa đầy ắp trong tâm hồn của mỗi người trong  những ngày sống xa xứ. Tôi nhớ có một người  bạn trở về thăm quê  nhà, lúc lại ra đi,  ngồi trênmáy bay  cất cánh, anh ta  thấy mình bay bổng  như vừa vượt thoát được lần thứ  hai, nhưng lần này là sự  vượt thoát khỏi những cơn nhung nhớ dằn vặt triền miên  trong suốt bao nhiêu năm lang thang trên xứ người....

Quỳ kêu lên:

- Nhưng anh ta cũng vẫn phải còn quê hương chứ!

- Còn chứ!  Nhưng bây giờ, quê  hương đối với anh  ta, chỉ còn là quê hương trong trí nhớ.

Quỳ ngồi trầm ngâm rất lâu rồi cất tiếng:

- Trong  bao nhiêu  năm ở  đây, tôi  cũng đã  đắm chìm triền miên trong những cơn nhớ nhung, dằn  vặt không một phút nào nguôi. Vậymà  bây giờ,  sao tôi  cảm thấy  hết sức  bình tĩnh  để toan tính chuyện  tương lai,  mặc dù  trong lòng  tôi bây  giờ hiện  ra một khoảng trống rất lớn, cái khoảng  trống tôi không cắt nghĩa được, chỉ biết  là nó đã  hiện diện và  chắc chẳng bao  giờ tôi có  thể khỏa lấp được.

Huy tiếp nối dòng tư tưởng của Quỳ:

- Có lẽ đấy cũng  là tâm trạng của một số người  khi trở ra, bỗng lại tê liệt  mọi ý nghĩ mỗi khi  nghe nhắc đến hai chữ  Việt Nam. Hình như  họ bị ruồng  rẫy bởi chính  họ. Căn bệnh này, dĩ nhiên không phải là  kéo dài bất tận, nhưng họ  vẫn cần một khoảng thời gian thật dài để tìm lại sự  quân bình. Nói cho cùng, dù hội nhập ở xứ này đến đâu, trước sau gì họ cũng là người Việt Nam.

Quỳ hỏi  ngang:

- Anh có nghĩ là họ sẽ quân bình được không.

- Cái đó cũng còn tùy người, tùy  hoàn cảnh, tùy môi trường mà họ đang sinh  hoạt. Có người đi  tìm sự quân bình  bằng cách lao vàođời sống của xã hội Mỹ. Nhưng Mỹ  là Mỹ, Việt là Việt, làm sao có thể lấy  cái này bù  đắp cho cái  kia. Rút cục  thì cũng lại  hụt hẫng,  bơ vơ,  thiếu nền  tảng, mất  điểm tựa,  một thứ vong thân thực sự nơi xứ người.

Quỳ bùi ngùi:

- Như thế thì buồn quá anh nhỉ.

Huy chợt quay sang phía Quỳ và bắt gặp ánh mắt của nàng cũng đang nhìn về phía  mình. Hai  người đối  diện với  nhau, lòng đầy cảmthông và cùng cảm  thấy hết sức gần gũi. Chợt Huy  khẽ giơ tay ra nắm lấy  bàn tay ấm  áp, mịn màng  của Quỳ. Chàng  cất giọng trầm ngâm:

- Rất đáng buồn ấy  chứ. Nhưng vấn đề chính là ở  chỗ phải có can đảm đứng dậy  để toan tính chuyện tương lai,  chuyện trước mặt, ởngay đây, trên  xứ sở xa lạ này.  Đó có phải là nguyên  do của sự thay đổi sâu xa mà cô định giải thích với tôi từ đầu đấy không.

Quỳ không trả  lời câu hỏi của chàng, và  nàng cũng không rút bàn tay của mình  lại. Có một niềm vui  đang len khẽ vào tâm  hồn của nàng như một tia nắng ấm chợt  loe lên sau một mùa đông lạnh giá. Nàng khẽ ngước mắt nhìn ra phía đại dương bao la trước mặt. Trăng càng về đêm càng sáng hơn  lên, những gợn sóng lăn tăn, qua ánh trăng phản chiếu trở thành  những vẩy bạc lấp lánh. Nàng chợt khẽ mỉm cười khi  nhận thấy Huy vẫn cầm giữ bàn  tay của mình, và bây giờ thì chàng đang nắm xiết lại....

Nhật Tiến
Garden Grove, 4/6/1994

Hương Vị Ngày Xưa

Hồi ông bà Tâm quyết định dọn ra ở riêng, đối với ba anh em Hùng, Hương, Hạnh là cả một biến cố. Họ họp mặt nhau trong một buổi gặp gỡ riêng để bàn cãi sôi nổi. Hạnh, cô em gái út lên tiếng trách móc:

- Anh chị đối xử thế nào để đến nỗi bố mẹ phải ra ở riêng?

Hùng vò đầu bứt tai:

- Tao có làm gì đâu. Suốt ngày đi làm, chuyện gì xẩy ra ở nhà tao đâu có biết.

Hương nhìn anh bằng cặp mắt vừa buồn vừa giận:

- Làm gì mà anh chẳng thể biết. Có điều tại anh mũ ni che tai, không muốn biết đấy thôi.

Hùng đáp lại bằng một giọng yếu sìu:

- Ừ, thì cũng chỉ toàn là chuyện đụng độ vặt vãnh trong nhà với chị ấy, chứ có cái gì lớn lao đâu.

Hạnh chộp ngay lấy, mở to đôi mắt nhìn về phía anh và nói lớn:

- Vấn đề là ở chỗ ấy. Tính khí của bố mẹ thế nào, anh không biết sao. Lẽ ra, anh phải để tâm tới và phải có lời khuyên nhủ chị ấy về cung cách cư xử với bố mẹ. Ðằng này anh cứ ngậm tăm không nói, như thể anh cũng đồng ý về những điều chị ấy làm, hèn gì mà chị ấy chẳng làm tới.

Hùng bắt đầu nổi cáu:

- Mày ngon sao không mời bố mẹ về ở đi. Nói như thánh thán. Ðến lúc đụng độ với chồng, với con rồi mới thấy hoàn cảnh khó khăn của tao.

Hương thở dài:

- Hoàn cảnh của tụi em, anh đã thấy rồi. Cái Hạnh thì lấy chồng nghèo, chúng nó chui rúc trong một căn apartment, làm sao mời bố mẹ ở chung được. Còn em thì ở chung với gia đình nhà chồng. Mời bố mẹ về sao tiện. Chỉ có anh nhà cao cửa rộng, lại vợ chồng son, bố mẹ không ở với anh chị thì ở với ai ?

Hùng đáp:

- Thì tao vẫn năn nỉ mời bố mẹ ở chung chớ có ý kiến gì đâu. Chuyện ra ở riêng là ý muốn của bố mẹ thôi.

Hạnh không muốn nói gì thêm nữa. Nàng chỉ nhìn anh bằng đôi mắt trách móc. Trong khi ấy, Hương cũng nhún vai, lẳng lặng quay đi chỗ khác, lòng tràn ngập những nỗi buồn phiền. Ðiều này khiến cho Hùng càng cảm thấy nhột nhạt và tìm lời biện bạch:

- Chúng mày không ở hoàn cảnh của tao nên không thông cảm được. Này nhé, nhà mới, thảm mới, màn cửa, cái nào cái ấy trắng tinh khôi. Ngày nào chị ấy cũng phải dành rất nhiều thì giờ để chăm sóc từng ly từng tí. Thế mà bố cứ hút thuốc, phun khói như ống bễ lò rèn thì làm gì nhà không bị ám khói, đượm mùi. Nếu tụi bay ở địa vị của chị ấy thì tụi bay tính sao?

Hương không trả lời trực tiếp câu hỏi của anh, nhưng lại tố thêm:

- Em còn nghe nói chị ấy đòi giới hạn khu vực đi lại trong nhà để thảm trắng khỏi bị dơ. Có đúng không?

Hùng đáp:

- Cũng lại là một nỗi khổ tâm của tao nữa! Ai cũng biết mẹ là người ham xốc vác, làm lụng, suốt ngày cụ bì bõm ở vườn sau cuốc đất trồng rau, làm gì chân tay không dính đầy bùn. Với bộ thảm nhung trắng như tuyết đó, và với chân tay đó, làm sao không có chuyện đụng độ. Mà tao ở giữa tao làm gì được ?

Câu chuyện đi tới chỗ hoàn toàn bế tắc, chẳng ai nhìn ra được phương cách gì để giải quyết, nên cả ba chỉ ngồi thừ người ra, vẻ mặt của ai cũng đều rầu rĩ. Người nào cũng cảm thấy trong lòng buồn bã, xót xa và cùng nhớ lại thời kỳ tràn đầy hạnh phúc ngày xưa.

Chỉ hơn năm năm trước đây thôi, khi chưa có ai lập gia đình và tất cả còn cắp sách đến trường thì bố mẹ con cái quây quần sống với nhau thật là vui vẻ. Ông Tân hồi đó còn nhiều sức khỏe, lại cũng có công ăn việc làm tốt đẹp nên vẫn coi như cột trụ của gia đình. Bọn anh em Hùng, sống đời sinh viên, vừa đi học, vừa đi làm, tiền bạc góp chung lại thuê một căn nhà để mọi người cùng quây quần với nhau. Bà Tâm thì ở nhà lo hết mọi chuyện kể cả giặt giũ, nấu ăn cho cả nhà. Bầu không khí ấm cúng ngày xưa ở quê nhà lại được phục hồi trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của tất cả mọi người.

Vui nhất là những bữa ăn do bà Tâm nấu nướng. Nhờ vật dụng, rau cỏ ở đây thức gì cũng có nên bà đã nấu những món quen thuộc của gia đình, với hương vị như gói trọn cả một thời thơ ấu của mấy anh em. Món canh dưa mà Hạnh luôn tấm tắc "tuyệt cú mèo", món cà ri mà Hương nhận định "chỉ có mẹ nấu mới đặc biệt như vậy, ăn vào là biết ngay". Còn nhiều món khác nữa, cũng đã đi vào khẩu vị của gia đình như làm sống lại cả một thời yên ấm đã qua.

Thế rồi ngày vui qua mau. Hương lấy chồng trước tiên. Rồi đến Hạnh. Anh Hùng kiên trì thêm vài năm nữa, tốt nghiệp đại học, làm lương cao, tậu nhà mới, rồi lấy vợ. Bầu không khí đoàn tụ, thương yêu cứ như những làn sương mỏng tan dần theo ánh nắng của mặt trời đang lên.

Buổi gặp gỡ bàn thảo chẳng đi đến một kết quả gì. Thôi thì đành buông xuôi và mỗi người đành che giấu trong lòng một niềm chua xót riêng tư.

Ông bà Tâm từ ngày ấy dọn ra ở riêng tại một khu chung cư nghèo nàn. Tuy ở vào tuổi sấp sỉ sáu mươi, nhưng ông cũng còn lái được xe chạy đây, chạy đó. Bạn bè của ông giúp đỡ tận tình, người mách việc này, kẻ giới thiệu việc kia nhưng không việc nào được lâu bền. Có người thấy tình cảnh khó khăn của ông bà, đã cất lời khuyên giải:

- Mỗi thời, mỗi nơi có một phong tục, một cách sống. Ông bà giận con cái làm gì cho mệt thân.

Ông Tâm chỉ mỉm cười:

- Tôi đã nói với các ông nhiều lần rồi mà vẫn không chịu tin. Chúng tôi tự ý ra ở riêng chính là vì quan tâm đến chúng nó. Ở xứ này, tự do cá nhân là điều quan trọng hàng đầu. Mình không muốn làm cho đời sống riêng tư của chúng nó bị xáo trộn.

Cái ông vừa mới trước đây cất lời khuyên giải bỗng đã nổi sùng một cách mau chóng hơn ai hết. Ông ta vặc lên ngay:

- Tự do gì bằng bố mẹ của mình.Tôi lấy làm lạ cho cái xứ sở gọi là tuyệt đỉnh văn minh này.

Ông Tâm cười:

- Mỗi thời, mỗi nơi một phong tục. Ngẫm nghĩ ra, ông còn dễ nổi nóng hơn tôi. Nhưng mà ông ơi, phải tự biết mình và phải cảm thông thôi.

Rồi ông giảng giải:

- Theo tôi thấy, phong tục ta ngày xưa, các bậc làm cha mẹ tự đặt cái tôi của mình lên quá cao. Trong quan hệ bố mẹ- con cái, chỉ có bố mẹ là uy quyền tuyệt đối, con cái không có chỗ để len chân vào.

Ông bạn kia nhún vai:

- Cái đó thì cũng đúng thôi. Ðã làm con thì phải biết công lao dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ chứ.

- Ðành rằng thế. Nhưng nhìn vấn đề như vậy vẫn chỉ có tính cách kể công mà không xem trọng cái quan hệ giữa người với người. Tôi cho rằng cái quan niệm đề cao tuyệt đối một con người, lại dẹp bỏ dứt khoát một con người khác, là quan niệm kể công, hẹp hòi. Cái đó phải sửa !

Ông bạn cười khẩy:

- Ái chà! Ông lại còn đòi sửa sai cả phong tục, tập quán của tổ tiên, ông bà cơ đấy. Tôi không ngờ ông lại còn tự do hơn cả Mỹ nữa.

Ông Tâm vẫn mỉm cười, giọng tiếp tục nhỏ nhẹ:

- Ông bà của mình cũng có nhiều cái sai phải sửa lại chứ. Ông thử tính coi, hầu hết các vị làm bố, đều nhìn con cái như một lũ nô lệ dưới quyền. Hơi một chút là phật lòng. Hơi một chút là tự ái nổi lên đùng đùng. Thậm chí nhiều người còn sẵn sàng lôi con cái ra xỉ vả, đánh đập để thỏa cơn giận dữ của mình. Làm như chỉ mỗi một mình mình là có nhân vị, không đứa nào được đụng đến, trong khi nhân vị của chúng nó thì mình cứ coi như không.

Ông bạn mỉa mai:

- Thế là, theo ông, bố mẹ bây giờ, ở đây chẳng có quyền hành gì hết cả à?

- Có chứ sao không! Nhưng sống là thỏa hiệp chứ không phải trấn áp.Thỏa hiệp không xong thì tự mình tách ra, cho khỏe cả hai bên. Chúng nó cũng có những hạnh phúc riêng phải duy trì, có những vấn đề riêng mình không thể lấy quyền làm cha mẹ mà tước đoạt đi được.

Dĩ nhiên, vấn đề còn phải được bàn cãi rất nhiều, nhưng ông Tâm coi như đã lựa chọn cho mình một quan niệm sống, và điều này, ông lại được bà hoàn toàn chia xẻ. Chính vì thế, cả hai ông bà không thấy khổ tâm khi phải tách rời khỏi cuộc sống chung đụng với con cái. Ðời sống ở đây, có quá nhiều điều phải bận tâm nhất là về mặt ổn định kinh tế. Cả hai ông bà đã lăn lưng ra bương trải để có thể tồn tại trong tư thế độc lập. Có thời gian, ông đi cắt cỏ, làm vườn. Rồi đổi qua nghề gác dan, lái xe giao hàng. Còn bà thì vẫn ở nhà nấu nướng, coi sóc nhà cửa và kiếm phụ thêm bằng nghề xâu dây cườm cho một cửa tiệm bán đồ nữ trang, trang trí. Mỗi sợi dây cườm có khoảng hai trăm hột, cứ xâu năm hột mầu này lại đổi sang năm hột mầu khác.Xâu xong phải kiểm lại không được hột nào thiếu, hay là dư. Xâu tới xâu lui, lại mò mẫm đếm đếm, kiểm kiểm, cũng phải mất nửa giờ mới xong một sợi và được trả công hai mươi lăm xu. Mỗi ngày ngồi cặm cụi như thế, bà cũng kiếm thêm được vài đồng tiền chợ. Những đồng tiền ít ỏi nhưng đem lại cho bà nguồn vui và niềm tự hào.

Những ngày gần đây, đột nhiên ông thông báo:

- Tôi đã nhận đi bỏ báo hàng ngày. Có mệt hơn một chút nhưng tiền bạc khá hơn.

Bà Tâm nghe xong dẫy nẩy lên:

- Làm sao ông gánh vác nổi chuyện đó. Ông có biết rằng mỗi tờ báo ở đây nặng bao nhiêu không. Từ kíÔ rưỡi đến hai kí đó ông. Sức của ông làm sao ông liệng nổi.

Ông Tâm co ruỗi cánh tay của mình như ướm thử rồi nói:

- Báo kí rưỡi, hai kí là báo ra ngày Chủ nhật thôi. Còn ngày thường thì đâu đến thế.

Nhưng bà vẫn cương quyết:

- Nhưng ngày gì thì gì, cũng không hợp với sức khỏe của ông. Tôi đã biết nhiều người đi bỏ báo, họ lái xe trên đường phố, vẫn ngồi ở đó mà liệng tờ báo băng qua lề đường vào đến tận cửa. Khoảng cách xa thật là xa. Không có sức khỏe không thể làm được.

Thấy ông tần ngần, bà đề nghị:

- Hay là để tôi đi với ông. Ông chỉ việc lái xe, còn tôi cầm báo chạy vô đặt tại chỗ. Thế là khỏi phải ném, phải liệng.

Ông Tâm dẫy nẩy lên:

- Thôi bà đừng có vẽ chuyện. Bà phải biết, muốn có báo giao, phải đi từ một, hai giờ sáng để xếp hàng, lãnh báo, rồi cột dây. Hôm trời mưa còn phải thuồn báo vô bao ny lông cho khỏi ướt. Ba, bốn giờ sáng mới có đủ báo đem giao. Làm việc như thế sức nào bà kham.

Bà Tâm mỉm cười:

- Thì tôi chỉ phụ với ông ở phần giao báo thôi. Ông lãnh xong đâu đấy, tạt qua nhà đón tôi lên xe. Tôi sẽ đi để báo tại chỗ cho ông. Có gì đâu mà mệt.

Ông Tâm không có cách nào từ chối, đành ưng thuận. Thế là mỗi buổi sáng, cả hai ông bà ngồi trên chiếc xe cũ kỹ, chạy khắp các đường phố. Tới mỗi nhà, bà lanh lẹ mở cửa xe, đem tờ báo chạy tọt qua lề đường và đặt ở ngay trên ngưỡng cửa. Ông vẫn để xe nổ máy, ngừng chờ, mắt theo dõi bước chân thoăn thoắt của bà chạy trên nền xi măng. Trong đầu của ông, bà luôn luôn hiện ra hình ảnh một người bạn đường tuyệt vời, chia xẻ với ông mọi điều, lúc vui vẻ cũng như khi buồn rầu, khi sung túc cũng như trong nghèo khó, lúc ốm đau cũng như khi khỏe mạnh. Trong những trạng huống ấy, bà đã thực hiện một cách triền miên và cụ thể lời rao giảng của cha xứ ngày nào cách đây hơn ba chục năm trong lễ hôn phối của hai ông bà. Ông luôn luôn tự nhủ, ông là một người may mắn. Hôn nhân chẳng phải là một điều dựa trên sự may rủi hay sao? Ông nhận thấy, hồi này, trong tâm tưởng, ông thường hay ôn lại những tháng ngày của thời kỳ hai người còn son trẻ. Hình ảnh của bà hiện ra trong ý nghĩ của ông bao giờ cũng là một người khả ái, dịu dàng, lúc nào cũng tận tụy, gắn bó, chia xẻ với ông trong bất kỳ tình huống nào. Lòng ông cảm thấy xúc động, bồi hồi xen lẫn với cảm giác yên ổn, mãn nguyện như nhận thấy mình đã đi qua gần hết mọi quãng đường đời mà không thấy có điều gì phải tiếc nuối cả. Ðiều này khiến cho ông gìn giữ được niềm lạc quan trong đời sống cho dù rất vất vả, cực nhọc. Hơn thế nữa, ông còn cố gắng che giấu hoàn cảnh cực nhọc của mình để các con của ông khỏi buồn lòng. Cái Hương, cái Hạnh thường xuyên điện thoại hỏi thăm bố mẹ. Bao giờ ông cũng trấn an chúng nó bằng những tiếng cười ròn rã:

- Bố mẹ lúc nào cũng thấy vui vẻ, thoải mái, đừng có lo!

Cũng có nhiều lần cả hai chạy đến dấm dúi cho mẹ những tờ giấy bạc. Nhưng bao giờ bà cũng dẫy nẩy lên:

- Thôi cứ giữ lấy mà lo cho chồng cho con. Chừng nào cần, tao hỏi.

Sự quả quyết của bà khiến cho cả hai cùng cảm thấy yên lòng. Trong thực tế, họ cũng không biết rõ bố mẹ đã làm những gì để sinh sống ngoài ý niệm mơ hồ rằng bố quen thuộc nhiều bạn bè, nên có nhiều cơ hội để sẵn sàng có đủ mọi loại công việc, trong khi ấy, mẹ thì cặm cụi ngồi xâu chuỗi cườm kiếm thêm, kể ra cũng nhàn nhã, không lấy gì làm vất vả.

Cho đến một hôm, ông Tâm cảm thấy mình khó nhỏm dậy được vào lúc một giờ sáng. Nằm ở giường bên kia, bà Tâm đã lên tiếng nhắc chồng đến hai ba lần:

- Một giờ rồi đấy ông.

Bà thấy ông cựa quậy, giở mình, nhưng rồi vẫn êm ru. Trong cơn nửa thức, nửa ngủ bà nghĩ ngợi lơ mơ, nhưng rồi bà chợt choàng dậy vì một cơn hốt hoảng từ đâu chợt ùa đến xâm chiếm trọn vẹn đầu óc của bà. Bà nghĩ đến ông, đến tuổi tác của ông, đến sức khỏe của ông có nhiều sút giảm thấy rõ sau những ngày tháng mò mẫm dậy từ lúc nửa khuya về sáng. Hôm nay ông không trở dậy đúng giờ là một điều bất bình thường. Bà bỗng thấy xương sống của mình lạnh buốt. Bà vội nhào qua bên giường của ông, cất giọng thất thanh:

- Ông làm sao thế?

Lại có tiếng của ông Tâm cựa mình. Bây giờ thì ông có vẻ tỉnh táo hơn. Ông nghển đầu lên, vừa thò tay bật nút đèn vừa cố nhoẻn một nụ cười trấn an:

- Có gì đâu! Có gì đâu!

Bàn tay của bà quờ quạng nắm được cánh tay của ông. Bà nhìn thẳng vào mắt ông như vận dụng bao nhiêu năm kinh nghiệm sống chung của mình để tìm hiểu xem thực sự chuyện gì đã xẩy ra cho ông. Ông Tâm lại nói:

- Tôi chỉ hơi mệt mệt một tị. Bà đừng có lo.

Rồi ông cố gắng ngồi dậy. Chân tay của ông cử động được dễ dàng, nhưng sao trái tim của ông thắt lại. Một cơ bắp nào đó đang co rút khiến cho một vẻ đau đớn thảng thốt vụt hiện ra trên nét mặt rúm ró của ông. Ông lại nằm vật xuống và bây giờ thì bà không còn giữ được bình tĩnh nữa rồi. Bà hối hả ngồi xuống,vực ông dậy,lòng tràn ngập lo âu, tiếng nói của bà đã ríu lại:

- Ông làm sao thế? Ông cảm thấy thế nào?

Ông Tâm yên lặng không trả lời. Ông còn đang bận tâm nghe ngóng xem cái cơ bắp trong tim mình vận hành ra sao. Nó đã rút lại khiến cho ngực của ông nóng ran lên, và đem lại cho ông cái cảm giác cực kỳ đau đớn. Ông nhắm nghiền mắt lại, vận dụng khả năng chống trả của mình, để ráng chịu đựng cơn đau. Ông nghĩ chuyện gì tới rồi nó cũng sẽ tới. Ông không có điều gì phải tiếc nuối cho cuộc đời đã có quá nhiều đắng cay vất vả của ông. Một lúc sau, bỗng ông cảm thấy như cơn đau đã giảm cường độ. Hình như có đường gân nào đó đang rãn trở ra. Nó rãn đến đâu, ông cảm thấy dễ chịu đến đó và lồng ngực của ông trở lại ấm áp như bình thường. Một cảm giác dễ chịu chạy lan từ thân mình xuống tới tận các đầu ngón chân. Ông vui vẻ nhe răng cười:

- Có gì đâu! Tôi thấy dễ chịu rồi.

Vừa nói ông vừa ngồi thẳng dậy. Cử chỉ của ông nhanh nhẹn như bình thường. Ông gỡ cánh tay của bà ra và nhẩy xuống khỏi giường. Mắt ông liếc qua chiếc đồng hồ để trên mặt bàn. Hai chiếc kim đã chỉ gần một giờ ba mươi. Vậy là ông đã bị chậm trễ mất hơn mười lăm phút. Cũng không hề hấn gì. Chỉ đóng gói các tờ báo lẹ chân, lẹ tay hơn một chút là đâu lại vào đó. Rồi ông lại sửa soạn như thường lệ và rồ xe ra đi.

Ông không thể biết rằng sau khi ông đi thì bà cũng không ngủ lại được nữa. Trong thâm tâm của bà đã lộ ra một ý nghĩ quyết liệt: phải chấm dứt cái nghề bỏ báo vất vả này cho ông càng sớm càng tốt. Áo cơm là vấn đề thiết thân thật, nhưng cũng không thể vì nó hy sinh toàn bộ sức khỏe của mình trong khi vẫn còn những đường lối khác để cứu vãn.

Bà đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, bỏ thì giờ chạy đôn chạy đáo để thăm dò trong đám bạn bè quen thuộc. Rồi vài ngày sau, bà báo tin với ông là bà đã tìm ra được một công việc mới. Ði coi nhà, nấu nướng và giữ em cho gia đình một cặp vợ chồng trẻ. Lương lậu không đủ chi trả tất cả mọi chi tiêu, nhưng cũng bù đắp được lỗ hổng một khi ông bỏ việc. Và bà yêu cầu chấm dứt việc đi giao báo hàng ngày. Ông giơ tay lên ôm đầu, giọng đầy xót xa:

- Ðã đến nỗi nào mà bà đã phải làm như thế.

Bà nghiêm khắc nhìn ông như bà đang nắm giữ trong tay tất cả mọi uy quyền. Cái quyền được bảo vệ sức khỏe cho ông. Giọng của bà chắc nịch:

- Không còn đường nào khác! Ông phải nghe lời tôi. Vả chăng ông đã chẳng thường nói chẳng có nghề nào lương thiện mà mình không thể làm. Giữ em cho người ta chứ có gì đâu mà ông phải băn khoăn.

Biết tính của bà mỗi khi ứngxử tùy theo từng hoàn cảnh, ông đành nhún vai buông xuôi.

Thế là từ hôm ấy, bà để ông lái xe đưa bà đi làm lúc gần tám giờ, buổi chiều ông tới đón vào lúc bẩy giờ. Một tuần sáu ngày, trừ ngày Chủ nhật. Bọn cái Hương, cái Hạnh có gọi điện thoại đến hỏi thăm, bà dặn ông trả lời:

- Mẹ đi làm ở xưởng may. Lương bổng khá mà cũng không vất vả gì nhiều.

Mà quả thực, coi vậy chứ bà cũng không đến nỗi phải lao lực trong khi làm việc. Ðôi vợ chồng trẻ cùng có công ăn việc làm. Họ giao cho bà trông đứa bé mới vừa tròn ba tháng. Thằng bé ngoan ngoãn, tới giờ là bú sữa bình, bú xong thì nằm chơi trên chiếc giường đu đưa có gắn loại máy phát ra những bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng. Bản nhạc bao giờ cũng ru đứa bé vào giấc ngủ say sưa. Nhờ thế bà có dư thì giờ để dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị bữa cơm chiều. Khi đôi vợ chồng trẻ trở về thì mọi sự đã gọn gàng đâu vào đấy. Cơm nước cũng sẵn sàng. Món ăn rất vừa miệng khiến nhiều lần cô vợ buột miệng khen ngon. Ðến nỗi có lần nàng đề nghị với bà:

- Cháu thỉnh thoảng có mời bạn bè ăn uống vào tối thứ bẩy. Những bữa đó, nhờ bác nấu nướng thêm đũa thêm bát giùm cho.

Rồi như sợ bà cảm thấy công việc trở nên vất vả hơn, nàng giải thích tiếp:

- Nấu cơm thường thôi chứ không bầy vẽ gì cả. Bởi nếu bầy vẽ thì cháu đã mời họ đi ăn tiệm. Ðằng này, chúng cháu chỉ gặp nhau hàn huyên trong không khí gia đình.

Bà Tâm vui vẻ nhận lời ngay:

- Thế thì được. Không phải tôi ngại vất vả, nhưng tổ chức tiệc tùng thì tôi nấu nướng không rành, sợ dở không ăn được. Chứ còn cơm thường thì đâu có sao.

Rồi bà kê ra một loạt những món ăn hàng ngày để tùy nghi lựa chọn.

Một ngày thứ Bẩy sau đó, bà bầy biện tươm tất một bàn ăn có tới tám người. Hai bát canh dưa nghi ngút khói đặt giữa những đĩa rau xà lách xanh tươi xen lẫn với những đĩa thịt kho nhừ, và thịt bò xào lẫn với những miếng khóm vàng tươi.

Người chủ nhà tiễn bà ra cửa lúc giờ về, đã nắm lấy tay bà cất giọng đầy cảm kích:

- Bác sửa soạn cho cháu thế này là chu đáo quá rồi. Tối nay chúng cháu tha hồ được vui.

Bà nhìn người vợ trẻ với ánh mắt đầy hân hoan. Bao giờ bà cũng tìm thấy niềm vui trong việc làm hài lòng người khác. Lúc ngồi trong xe trên đường về nhà, bà vui vẻ kể chuyện cho chồng nghe về công việc trong ngày của mình.

Cả buổi tối thứ Bẩy hôm đó, bà luôn luôn thấy lòng nhẹ nhõm, thanh thản. Bà có cảm giác như mình vừa hoàn thành một công việc trọng đại : cất được cái gánh nặng nề vất vả để gìn giữ sức khỏe cho chồng.

Duy có điều, nếu bà hình dung được những gì đã xẩy ra trong buổi tối hôm đó thì chắc niềm vui của bà không được trọn vẹn như thế. Bởi vì, trong đám bạn bè của đôi vợ chồng trẻ tụ tập hôm đó, lại có cả sự hiện diện của Hạnh và Hương.

Lúc ngồi vào bàn ăn, mùi canh dưa bốc khói tỏa lên, làm cả hai xuýt xoa vừa nói với nhau, vừa nói với tất cả mọi người:

- Trời ơi! Tuyệt cú mèo! Ðã lâu lắm không được ngửi thấy mùi canh dưa.

Rồi Hạnh múc một muỗng nhỏ đưa lên môi nếm thử. Hương vị của muỗng canh làm đầu lưỡi của nàng tê đi và đồng thời làm thức dậy trong ý nghĩ của nàng những cảm giác xôn xao, quen thuộc. Hình như chứa ở sau cái vị bùi bùi, ngậy ngậy, chua chua là hình ảnh của khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của mẹ nàng thấp thoáng sau nồi canh đang nghi ngút bốc khói. Rồi đâu đây, rộn rã vẳng lên những tiếng cười, không phải là tiếng cười của Hùng, của Hạnh, của Hương bây giờ mà là của cả ba người trong quãng thời thơ ấu ngày xưa, sau một ngày chạy nhẩy rông dài đầu làng cuối xóm, lòng dạ đói meo, tất cả cùng kéo nhau về tìm mẹ ở trong bếp để ríu rít đòi ăn. Mùi canh dưa y hệt như thế này, đã tỏa lan trong căn bếp chật chội, có mái thấp và những sợi mồ hóng rủ xuống từ những cái đà bằng tre nứa bắc ngang. Mẹ như một bà tiên hiền hậu, hai mắt long lanh, hai má của mẹ đỏ hồng. Mẹ cười như nắng tỏa lúc ban mai:

- Các con đi rửa tay chân rồi ăn cơm. Mọi thứ sẵn sàng hết cả rồi.

Lũ nhỏ chạy túa đi, như một bầy chim nhỏ vui tươi, ríu rít vì được che chở, được yêu thương, chăm sóc.

Trong khoảnh khắc, lòng Hạnh chùng xuống và nàng cảm thấy mùi canh dưa bây giờ đang tỏa ngát chẳng những ở bầu không khí chung quanh mà còn tràn ngập cả trong tâm hồn của nàng. Nàng liếc sang phía chị Hương và nhận ra ngay chị ấy hình như cũng đang trải qua một cơn xúc động. Nhưng rồi bất chợt, có tiếng của Hằng, cô bạn chủ nhà trẻ tuổi vang lên, đầy vẻ mãn nguyện:

- Các bồ đã thấy canh dưa tuyệt cú mèo không. Của bà Tâm, người làm mà chúng tôi mới mượn được đấy! Bà này nấu ăn phải nói là số một!

Tai của Hạnh ù lên. Nàng không còn nghe thấy được tiếng xôn xao của các bạn bè khác đang thi nhau phát biểu ý kiến về những món ăn trên bàn. Nàng có cảm giác như bất chợt có một bàn tay lạnh lùng, tàn nhẫn nào xoè ra, nắm lấy trái tim của mình rồi xiết lại. Cơn đau ùa đến bất chợt làm Hạnh thót người lại, những nét nhăn nhúm chợt hiện ra trên khuôn mặt xanh xao và yếu đuối của nàng, và bỗng nhiên những giọt nước mắt chợt trào ra, chan hòa trên bờ mi làm khung cảnh sáng rỡ ở chung quanh bỗng nhiên trở nên nhòe nhoẹt. Ngồi chết sững ở đó, Hạnh không cất lên được một lời nào, nàng cũng không thể suy nghĩ thêm được một ý nghĩ nào khác ngoài sự nhận thức mơ hồ rằng chị Hương cũng đang đứng dậy. Một tay chị ấy xô cái ghế để lấy lối ra. Một tay giơ chiếc khăn ăn lên che kín gần cả khuôn mặt. Hình như chị ấy đang hối hả đi tìm chỗ có phòng rửa mặt.

Nhật Tiến
California, 25/6/94

Đá Trắng

Rốt cuộc, cái ý tưởng nảy ra vào một buổi chiều gió đùng đùng, vật vã những hàng cây trong vườn, cũng đã được thực hiện. Lúc đó, mới về từ một cuộc gặp gỡ, uống vẫn một thứ rượu, bàn luận vẫn bằng ấy đề tài, tranh cãi triền miên chẳng bao giờ có kết luận khiến ông cảm giác khắp người dính dính một thứ chất nhầy nào đó, mình cứ như là con ruồi mắc mạng nhện, phải thoát ra thôi, phải thoát ra, ông kầm bầm trong miệng, mắt vẫn ngước nhìn trời xanh lư lửng những cụm mây trắng. Đúng vào lúc đó, cái ý tưởng tuyệt vời kia nảy ra. Ông ngồi nhỏm dậy, nhẩy cẩng trên chiếc ghế bố. Ngay lập tức ông vào báo với vợ. "Thôi ông ạ", vợ Ông van nài, "ông đã có tuổi rồi, sức vóc chẳng còn bao nhiêu, thôi cứ ở nhà làm những cái nho nhỏ như mọi ngày là đủ rồi". Những thứ nho nhỏ chính là những bức tượng đủ thứ hình thù ông chất đầy một phòng. Ông vốn là nhà điêu khắc nổi tiếng một thời về những bức tượng danh nhân mà không một cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc nào dám không mời ông. Thế rồi cơn bảo của nền kinh tế thị trường nổi lên làm xơ xác căn hộ tập thể nhà ông. Ông phải bán dần bán mòn những tác phẩm ưng ý nhất lấy tiền đưa bà đong gạo. Đúng vào hôm trong nhà cạn sạch cả mọi thứ, tiền, gạo, tượng, sạch sành sanh, ông tính uống quách liều thuốc chuột rồi lên giường nằm cho xong sự đời, thì bỗng dưng có khách lạ tới tìm, nước da sáng trưng, bộ âu phục sang trọng, khói thuốc thơm lừng cả căn phong tồi tàn, thoạt nhìn là biết ngay kẻ quyền quí. Sau khi đưa mắt xét nét để xác nhận chắc chắn sự nghèp túng tới mức lâm nguy của chủ nhà, khách mới tự giới thiệu là giám đốc của một xí nghiệp tư doanh mỹ nghệ, chuyên sản xuất hàng loạt tượng đủ mọi chủng loại, kích cỡ, từ ông Bithôven tới chó Becgiê, từ "mùa xuân vĩnh viễn" tới ông thần tài bán cho các bà ở ngoài chơ... Tóm lại, đó là cả một ngành kỹ nghệ vừa đáp ứng được các kiểu thị hiếu của các loại "thượng đế" lại vừa không nằm trong danh mục cấm kỵ của nhà nước kiểu như sản xuất pháo, mở báo tư nhân hoặc buôn bán tình dục... Tiếp đó ông giám đốc bày tỏ lòng ngưỡng mộ từ lâu danh tài của nhà điêu khắc và ngỏ ý trân trọng mời ông cộng tác. Thế rồi một phong bì tiền dảy cộp được khách để lên bàn làm lễ ra mắt làm nhà điêu khắc không khỏi sáng mắt lắp bắp:

Tôi... tôi giúp gì được ông?

Có chứ ạ, ông cứ sáng tác mẫu cho chúng tôi làm khuôn sản xuất đại trà thì chẳng mấy chốc ông... mua đất cất được nhà.

ông khách nói vậy mà thành thật, cứ mỗi mẫu tượng nhà điêu khắc sáng tác ra, người ta lại "nhân" lên thành vô số "bản sao" khiến cho nhà điêu khắc cau mày nhắm mắt không dàm nhìn những hình thù vô hồn, vậy nhưng lại bán chạy như tôm tươi nhất là những ngày lễ ngày tết người đời cần tặng nhau một món quà lịch sự lại rẻ tiền. Và thế là những "cái nho nhỏ" theo cách nói của bà vợ cứ sinh sôi mãi trên bàn làm việc của ông. Một đôi chim câu châu mỏ vào nhau, đôi trai gái cong người trong một điệu khiêu vũ, nàng tiên cá với bộ ngực vĩ đại ngoe ngẩy chiếc đuôi bé tý... những bức tượng nho nhỏ ấy được bày bán khắp chợ cùng quê và ông bằng mà nói, nó thỏa mãn được thị hiếu của đám đông của các "thượng đế" kéo nhau vào các cửa hàng mỹ nghệ cốt chỉ ngắm nghía, rút cuộc phải mở túi rút tiền ra muạ Tiền bạc chảy như nước vào nhà ông điêu lhắc và làm biến đổi khắp nơi nơi. Trước tiên, cái tivi đen trắng biến thành cái đa hệ màu Sony Hifi đời mới nhất, rồi đến tủ lạnh, máy giặt, lò siêu âm... tất cả đều là đồ nguyên thùng. Cho đến khi gắn đủ ba cái máy lạnh ở các phòng thì nhà điêu khắc chợt thấy căn hộ tập thể trở nên thật chội và đầy bất tiện. Lúc này mới thấy lời ông Giám đốc năm xưa quả là nghiệm, nhờ mấy ông bà cò, nhà điêu khắc bán được căn hộ cũ kỹ ở khu tập thể, mua được ngàn mét vuông vườn ngay trong thành phố, cất được ngôi biệt thợ xinh đẹp hiện ông đang ở. Khác hẳn với thời trong nhà không có nổi lấy chục kí gạo quanh năm ngày tháng chẵng ma nào tới chơi thăm, từ ngày ăn nên làm ra, lác đác đã có người ghé, tuy nhiên phải đợi khi nhà điêu khắc xây xong ngôi nhà vườn khách khứa mới lũ lượt kéo tới "tham quan" đông chẳng kém gì bà con dưới tỉnh lên thành phố tham quan dinh Độc Lập.

Lui tới thường xuyên nhất có một ông thà thơ hiện đại chuyên sáng tác những bài thơ bí hiểm tới mức chính ông cũng chẳng hiểu mô tê gì, một ông nhà văn chuyên viết chuyện "phòng the" mà bất kỳ ông đầu nậu nào cũng có thể yên tâm bỏ vốn xuất bản mà không sợ sách bị thu hồi hoặc cấm phát hành, và sau hết là một ông nhà báo văn hóa văn nghệ viết đủ thứ từ giới thiệu phòng tranh, sách mới phát hành, phim mới chiếu tới các vấn đề quan trọng như dân tộc, hiện đại và các phiên đổi gác trong thợ Tất cả các ông bạn chầu rìa ấy hợp thành một thứ công chúng hẹp ban phát những ngợi khen hào phóng chẳng kém gì bia rót tràn ly trong bữa tiệc mừng một mẫu tượng của nhà điêu khắc được đưa vào sản xuất hàng loạt.

Trong một buổi như thế, sau một tuần bia ngà ngà, nhà điêu khắc mới trịnh trọng bê ra một tác phẩm mới nất: tượng một người đàn bà khỏa thân duỗi đôi chân dài, ưỡn cao đôi vú và dang ra đôi cánh chim như muốn bay lên trời. Ngay lập tức, nhà thơ hiện đại ứng tác ngay một bài thơ ca ngợi:

"Đôi cánh tay chim liếu điếu, khe tường lông vú ú mang mang... " Nhà báo văn hóa văn nghệ cạn ngay ly bia đặt cốp xuống bàn: "Hay, hay lắm, đúng là bức họa không hình bằng lời, khe tường lông vú ú mang mang.. hoang hô". Cử tọa ào lên tiếng vỗ tay làm nhà văn "phòng the" tức mình đứng ngay dậy ứng khẩu, một đoản văn diễn tả cặp đùi của pho tượng "nõn nà như một cặp giò lụa khiến người ta phải thốt lên: hỡi đôi chân của nàng, ta muốn cắn vào ngươi... ". Nhà báo văn hóa văn nghệ dường như cũng cảm thấy ngôn ngữ bất lực không diễn tả nỗi lòng khâm phục nữa bèn xỉa một miếng giò lụa nhét vào miệng nhà văn mà rằng: "này đây, xin mừi, xin mời... " Cử tọa lại vỗ tay rào rào khiến cho nhà tạc tượng tưởng ngay rằng tác phẩm của mình là một tuyệt phẩm hài hòa được cả hai cái khó hài hòa với nhau là "nàng nghệ thuật đỏng đảnh" và "gã lái buôn dẻo miệng". Dường như có thần giao cách cảm sao đó, nhà báo văn hóa văn nghệ đứng ngay dậy và chúc mừng nhà điêu khắc "đã nêu một tấm gương về sự thống nhất giữa hai yếu tố thương mại và nghệ thuật" trong một tuyệt phẩm không những công chúng "cao cấp" đánh giá cao mà đại đa số quần chúng cũng được hưởng thụ cái đẹp của nghệ thuật. Tuy nhiên, người tỉnh tảo nhất, đứng ngoài cơn bão ngôn từ của sự khen ngợi lại chính là người sẽ bỏ tền túi ra để nhân cái tuyệt phẩm kia lên thành số nhiều. Hai ngày sau, trong phòng làm việc của Giám đốc, ông ta ngắm ngía bức tượng, sờ nắn, lui tới, ngẫm nghĩ theo cái cách của một nhân viên hải quan nghi ngờ bên trong có cấy giấu ma túy chứ không phải là một người đang chiêm ngưỡng cái đẹp nghệ thuât. Nhà điêu khắc đã cảm thấy máu bốc lên mặt, nhưng ông kềm chế được vì ông đã quá quen với cãnh ông là người bán hàng, ông Giám đốc là khách hàng, tức là Thượng đế của ông, mà Thượng đế bao giờ cũng có lý. Bởi vậy ông đành nuốt hận, nín thở, lắng nghe lời phán truyền:

ông nhìn kỹ lại đi, một chân to một chân bé phải không nào? Mà hình như chân phải dài hơn chân trái, đúng không? Lại còn đôi cánh nữa, có cần thiết biến đôi tay thành đôi cánh không? Theo tôi ôn cứ tạc nguyên đôi cánh tay trần thật đẹp, thật khêu gợi vừa rất nghệ thuật lại vừa... dễ bán.

Giá như ngày trước ắt hẳn nhà điêu khắc đã lao cả bức tượng vào mặt ông Giám đốc, nhưng bây giờ, cái tính ngông ấy đã bị thương trường bào nhẵn đến mức ông còn nở một nụ cười gượng gạo trên đôi môi run bắn vì kìm hãm những tiếng chửi:

Được đước, ông lắp rắp, thoáng cái là tôi sửa xong cho ông ngay mà.

ông Giám đốc rút ngăn kéo ra một tập tiền dày cộp và để an ủi nhà nghệ sĩ, ông dịu giọng:

Không cần vội lắm đâu, ông cứ sửa từ từ, miễn là đạt yêu cầu.

ôm bức tượng ra khỏi cửa, nhà nghệ sĩ bỗng cười lên sằng sặc, tiểu tiết, tất cả những cái đó chẳng qua là những chuệt vặt cả thôi, người nghệ sĩ phải biết bỏ qua những cái nhỏ để rồi mai kia sẽ làm cái lớn. Quả nhiên, khi những "cái nhỏ" đã chất đầy hai căn phòng rộng, khi ngôi biệt thự có vườn đã đầy đủ tiện nghi, khi các câu chuyện bàn luận trong đám bạn bè đã trở nên nhàm chán, lặp lại trong một buổi chiều lộng gió, cái ý tưởng "làm cái lớn" sau cùng cũng nảy ra trong đầu nhà điêu khắc. Từ đó người ta thấy ông biến mất trong các cuộc nhậu tiền miên ở quán "Nghệ sĩ" nơi các nhà hoạt động thường lui tới, ông cũng vắng mặt ở những cuộc triển lãm tranh mở ra nhiều không kém các điểm karaokê đang cạnh tranh nhau trong thành phố, người ta thấy ngôi nhà vườn của ông đóng cửa im ỉm không còn mở ra thường kỳ vào ngày chủ nhật trong những cuộc họp mặt om sòm như trước nữa. Nhà văn "phòng the" điện hỏi nhà thơ "không lời", nhà thơ "không lời" lại điện hỏi ông nhà báo văn hóa văn nghệ, tất cả mọi người cứ nháo nhào cả lên không biết nhà điêu khắc biến đi đâu. Trong khi đó, bỏ lại sau lưng cả một thành phố ồn ào, bụi bặm, một đám bè bạn lắm lời, một ngôi nhà vườn đầy tiện nghi và một bà vợ âm thầm, nhà điêu khắc lặn lội trên một vùng núi hoang vắng, chẳng có vô tuyến truyền hình, cũng chẳng có quán nhậu, ở cái nơi sơn cùng thủy tận này, lác đác vài nóc nhà người Thượng nằm chênh vênh như 1 tổ chim nằm trên sườn núi. Hàng ngày ông theo chân dân bản đi làm nương, len lỏi giữa một vùng núi đá, tối về nằm rũ trên giờng gân cốt rời rả. Lặn lội ròng rã cả tuần lễ không kết quả, sức lực muốn cạn kiệt, ông tính chuyện bỏ cuộc trờ về, chợt một hôm có một người Thượng từ trên đỉnh xuống núi tìm ông hỏi:

Tôi nghe đồn ông về đây tìm tảng đá trắng để tạc tượng?

Nhà điêu khắc lúc này đã thấm mệt, gật đầu:

Đúng vậy, tôi đã đi khắp vùng này, không ở đâu có nó.

Mời ông lên nhà tôi trên đỉnh núi, tôi sẽ chỉ cho ông một tảng đá cắc chắn làm ông vừa lòng.

Nhà điêu khắc ngần ngừ, liệu ông còn đủ sức để làm một chuyến viễn du lên tận tỉnh núi đụng mây kia chăng? ông sẽ đi được đến nơi hay gục ngã dọc đường? ông tính từ chối, quay trở về nhưng rồi một sự thôi thúc nào đó, rất lạ, dường như khao khát tìm tòi, khám phá từ lâu tưởng đã chết trong ông, ngờ đâu vẫn còn đó và lúc này bắt đầu thiêu đốt tâm can khiến ông không thể bỏ cuộc quay về. Thế là vào một buổi sáng đẹp trời, người Thượng khoác hành lý s5m s5m đi trước, ông lầm lũi theo sau bước chân vào con đường dốc ngợc dẫn lên trời. Càng lên cao, rừng càng thưa thớt, càng bày ra trước mắt ông những tảng đá hình thù kù dị như những quái thạch gợi cho nhà điêu khắc bao nhiêu bức tượng độc đáo mà thiên nhiên đã làm trớc tới 90 phần trăm công việc sáng tác, còn lại có mười phần trăm cho tôi tay người nghệ sĩ. Có lúc vừa chui khỏi một cái hang để leo lên cao hưn nữa, nhà điêu khắc chựt sững người trước một tảng đá lô nhô nhiều thạch nhũ mà thoạt nhìn ông đã nảy ra một đề tài về một nhóm tượng độc đáo chưa bao giờ ông nghĩ tới, ông dừng ngay lại, chuyến đi kết thúc ở đây thôi, ông sẽ thuê người di chuyễn tảng quái thạch này về nhà, sáng tác một tác phẩm thực sự nghệ thuật, hoàn toàn theo cảm hứng của ông không chiều theo bất cứ một yêu cầu nào của bất kỳ ai. Chuyến đi như vậy đã đạt kết quả vượt dự định ban đầu. Tuy nhiên anh chàng người Thượng khăng khăng không cho ông bỏ cuộc dù rằng được hứa hẹn một món tiền thưởng hậu hỉnh, ông cáo ốm nằm lại, dọa quay tở về một mình cũng không sao lay chuyển được ý định lì lợm của chàng trai miền núi người nhỏ bé nhưng rắn cắc như những rể cây cổ thụ mọc đầy sườn núi. Sau cùng ông đành gượng dậy, nắm mắt nhắm mũi theo chân chàng trai tiếp tục lặn lội lên cao bụng thầm nguyền rủa cái tảng đá trắng chết tệt anh chàng luôn miệng ca ngợi: "Nó trấng như da con gái vậy đó, trắng từ đầu đến chân, không có gợn một vân màu nào khác, ông cứ cố đi đi, tới nơi ông sẽ tiếc đứt ruột nếu ông quay lại giữa chừng... ". Trong những đêm nằm lại dọc đường, chàng trai kể rằng cô vợ xinh đẹp của chàng cũng có nước da trắng như vậy. Hai vợ chồng sống hạnh phúc và êm đềm cứ như thiên đường trên đỉnh núi vậy. Thế rồi bỗng một hôm có một gã đàn ông dưới xuôi quảy đôi bồ đựng toàn những đồ tạphóa và mỹ phẩm lên núi bán hàng Bất hạnh cho chàng, quá tin mệng lưỡi bẻo lẻo của gã bán kết nghĩa anh em, mời gã về ở và chàng đâu cớ ngờ đang "cõng rắn về cắn gà nhà". Chính trong những đêm chàng vác súng đi săn, bị quyết rũ bởi những lời đường ật và một thứ bùa phép, nàng tiên vợ chàng đã ngã vào tay tên hung ồ để rồi một ngày kia chàng đi săn về, cả đôi gian phu dâm phụ đã biến mất, còn lại căn nhà vắng vẻ và hai chếc bồ rỗng gã kia để lại.

Phát điên vì khổ đau và giận giữ, chàng trai xuống núi đi tìm vợ Ở khắp chợ cùng quê, lặn lội vào cả những nơi dơ bẩn nhất trong thành phố cũng tuyệt vô âm tín, không mảy may dấu vết của nàng. Nhà điêu khắc an ủi rằng trong trái tim của bất cứ người đàn bà nào cũng ẩn nấp một con rắn và bất kỳ một thằng đàn ông nào cũng đều đánh thức được nó dậy miễn gọi được đúng tên của nó mà chẳng cần tới bùa phép gì. Chàng trai người Thượng nhất định không tin chuyện đó, chàng vải rằng nếu không có bùa ngải thì một cô gái xinh đẹp như vợ chàng không đời nào lại đi theo một thằng mắt trắng dã môi thâm xì, mặt nhẵn không một sợi râu như thế. Chàng kể ằng sau khi vợ trốn đi, chàng đã tìm thấy cái bùa đó trong hòm quần áo của nàng và hứa với nhà điêu khắc sẽ cho ông xem khi về tới nhà.

Chỉ còn một ngày đường nữa là tới nơi, đêm đó, câu chuyện mất vợ của chàng trai người Thượng làm ông không ngủ được, ông cứ ngồi ngắm mãi gương mặt đầy đau khổ của chàng. Những gian truân trên đường tìm vợ, nỗi nhớ thương trong căn nhà lạnh vắng còn tràn đầy kỷ niệm một thời hạnh phúc, lòng giận dữ sự xấu xa của người đời... đất cả đã tạo trên mặt chàng một vẻ đẹp chưa bao giờ ông thể hiện được trên các pho tượng của ông. Giá như ngay trong lúc này, ông tạc được khuôn mặt của chàng trai, vĩnh viễn hóa được vẻ đẹp kỳ lạ đang mỗi lúc lộ rõ kia, chắc chắn ông sẽ tạo được một tác phẩm tuyệt vời, ông buồn rầu nhận ra rằng lâu nay cái công việc gọi là "sáng tác" của ông không còn dựa trên cảm xúc nữa, ông đã "nghĩ ra" biết bao mẫu tượng bán nhan nhản cho người đời chỉ bằng những kinh nghiệm đã qua của cái đầu. Con người nghệ dĩ tưởng như từ lâu đã chết trong ông, giờ đây đang sống lại trong chuyến đi tìm chất liệu cho một sáng tác mới vượt khỏi cái môi trường đơn điệu và nhàm chám ông đang dãy dụa trong đó.

ông cứ nằm trằn trọc mãi gần tới sáng mới thiếp đi và bất thần một trận mưa lớn trút xuống làm ông tỉnh giấc, rét run cầm cập. Cả đời sống trong thành phố, chưa bao giờ nhà điêu khắc hứng chịu một trận mưa khủng khiếp như thế, tưởng như có một quả núi nước trút xuống đầu hai sinh vật nhỏ bé đang ngoi ngóp trong vùng núi mênh mông. Sau cùng chàng trai người Thượng cũng dìu được nhà điêu khắc vào trú trong một cái hốc đá vừa đủ chỗ cho hai người ngồi. Mưa vẫn phủ trắng trời đất, nhà điêu khắc sau những đợt rét dữ dội lại chuyển sang nóng hầm hập cứ như bao nhiêu năng lượng trong người đang tập trung đốt cháy cái thân xác ướt sũng nước. Ông chìm đắm trong cơn mộng mị kéo dài suốt ba ngày liền trong đó ông thấy mình khát cháy họng mà xung quanh lại mênh mông toàn những nước như thể ông đang trơ vơ ngoài biển cả. Thức giấc tỉnh dậy, ông hé mắt nhìn thấy mình đang nằm trong một căn buồng tối, ẩm thấp và sặc sụa mùi phân trâu. Ông cố gắng ngồi dậy nhưng toàn thân nặng chịch, không nhúc nhích nổi chân taỵ Chàng trai người Thượng mừng rỡ thấy ông tỉnh lại sau khi chất giấc suốt trên đường chàng cõng ông từ hốc đá trên núi về đây, ngôi nhà nhỏ lạnh lẽo của chàng. "đến nơi rồi", chàng vui vẻ nói.

"Nó đâu?" - Ông hỏi, giọng nói tưởng như của người khác. Chàng đỡ ông ra sân, trên chiếc ghế gỗ chỉ tay lên ngọn núi phía trước:

"Đó, nó nằm trên đó, chừng nào ông khỏe ta sẽ lên đó".

ông lắc đầu, nở một nụ cười yếu ớt, ông biết, chỗ ông nằm đây là điểm cao cuối cùng ông có thể trèo tới, ông sẽ không leo thêm được bước nửa cho dù tảng đá trắng kia có là kim cương đi nửa ông cũng chẳng cần, mọi thứ với ông bây giờ trở nên xa lạ, dững dưng, dường như chưa bao giờ ông được thấy. Chàng trai trở vào buồng trong mang ra một gói nhỏ.

"ông có muốn coi cái này không?"

Chàng cẩn thận cởi dây buộc, mở vuông vải bọc ngoài và đưa ra một vật làm nhà điêu khắc sững sờ.

"Đây là cái bùa thằng bán đồ dạo dùng để quyến rủ vợ tôi đây".

Nhà điêu khắc không còn tin ở mắt mình nữa, đó là bức tượng đôi trai gái khỏa thân, cuốn nhau trong một điệu vũ khoái lạc ông đã tạo mẫu và đã được đúc khuôn bày bán nhan nhản ngoài chợ. "ông thấy chưa? không có cái bùa yêu này thằng cha ấy làm sao quyến rũ nổi vợ tôi?". Chàng trai người Thượng buồn rầu dí sát bức tượng vào mắt nhà điêu khắc. Ông giơ tay thu hết toàn lực gạt nó ra, bây giờ mọi thứ với ông đã trở nên xa vời, chẳng mang ý nghĩa gì. Chàng trai vung tay chỉ lên ngọn núi phía trước:

"Trên đó có một tảng đá trắng nom rất giống... vợ tôi. Tôi muốn ông đục đẽo thêm nữa thành một bức tượng vợ tôi đang nhìn xuống căn nhà của tôi. Chiều chiều đi săn về, tôi sẽ lên đó cúng vái thần linh, tôi tin rằng nó sẽ trở về...

Nhà điêu khắc gật đầu, thoáng cười. Ông tin rằng đó sẽ là tác phẩm tuyệt vời nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Ông sẽ tạc pho tượng ở một nơi an nhiên tịch mịch, tít trên đỉnh núi cao kia, không có ông Giám đốc đòi hỏi những yêu sách của thị trường, không có những ông nhà văn "phòng the" nhà thơ không lời, nhà báo văn hóa văn nghệ với những lời tán tụng làm ông buốn mửa. Ở trên đó chỉ có ông, với bầu trời với tảng đá trắng và với hình ảnh người vợ trẻ của chàng trai người Thượng khao khát chân trời, dứt bỏ quê hương đi tìm một cuộc sống mới mà cô tưởng rằng chỉ gồm những hoa thơm, cỏ lạ. Tuy nhiên, tất cả các cái đó đều nằm trong ý nghĩ của nhà điêu khắc, nó làm gương mặt ông sáng bừng đúng lúc ông thở hơi cuối cùng...

Nhật Tuấn
8/1994

Một cái chết thong thả

Tai nạn giáng xuống như sét đánh giữa trời quang, đang đạp xe giữa đường chưa kịp hiểu chuyện gì, gã hất tung lên trời, rơi cái lưng xuống và khi tỉnh dậy, toàn thân bị bóng cứng ngắc như nhét trong một cái ống.

Từ lúc đó, dường như có một bàn tay vô hình và bí mật chạm tới và làm biến đổi mọi chuyện ở khắp nơi nơi. Trước hết vẻ tươi nói trên mặt vợ mỗi khi gã trở về khi tan sở đã biến mất, thay vào đó là một tảng băng ngày một rắn, đến lượt đứa con gái hai tuổi, niềm hạnh phúc và tự hào của gã cũng thôi không quấn quít, chắc nó ghê sợ cái hình hài đầy bông băng của gã. Bạn bè tấp nập một dạo, giờ cũng biến mất, như là chưa từng có trên đời, mà gã vẫn nằm đó, trong góc buồng, rẻo đất cuối cùng, sửa soạn chuyến đi bí mật, vào cõi vô cùng chỉ riêng mình gã biết. Suốt một cuộc đời đã ngược xuôi tất bật, giờ đây chẳng có gì phải vội, cứ nằm đó, thong thả chết, thật chẳng khác con tàu cũ trụ đã xong xuôi hết máy móc, đã nạp đầy nhiên liệu mà cứ nằm lì trên bệ phóng, chẳng chịu cất cánh lên cho khuất mắt người đời.

Người đầu tiên sốt ruột chính là vợ gã. Ngay từ lúc bệnh viện từ chối không cho gã nằm, bắt phải trở về nhà, thị đã hiểu ngay được rằng gã chỉ còn chờ chết. Giá như gã chết ngay lúc đó ắt hẳn thị gã gào khóc thương xót, cứ để tình thương đó bị xói mòn bằng những phiền toái hàng ngày. Ngày ngày thị bón cơm, đổ bô cho gã và cứ cái đà này kéo dài chắc thị phát điên và nếu có súng trong tay hẳn thị đã tặng gã một phát súng ân huệ vào trán. May mắn thay, nghi thức đó chỉ kéo dài không đầy mười lăm phút, hai lần trong một ngày, còn lại bao nhiêu thời gian đều thuộc về gã, tùy nghi sử dụng, không còn bất kỳ ai quấy rầy.

Điều đó thật tuyệt, cả một đời tất bật, thủ trưởng phân công, bạn bè bấu xấu, vợ con sai việc,,,. Chưa bao giờ gã được nằm yên như bây giờ, cứ nằm đó buông thả cho đầu óc lang thang khắp mọi miền ký ức, vui có, buồn có, đôi lúc gã bật cười ha hả khiến vợ gã đang làm chạy thốc tới coi có phải gã tới số rồi chăng? Cũng có những kỷ niệm thật buồn lam gã thờ dài sườn sượt, nước mắt chứa chan, khi tứ chi bất động, dường như bao nhiêu năng lượng còn lại đều dồn hết cả vào soi sáng bộ não,những người trong cuộc phần lớn đã ra người thiên cổ, ấy vậy mà bỗng chốc lại nảy ra ngay trước mặt vậy. Gã sung sướng sống lại những đoạn đời do chính gã chọn lựa, lạ lùng thay, hầu hết đều rơi vào thuở "hàn vi", hoặc lê gót trên những công trường đập đá kiếm miếng cơm hàng ngày, hoặc cheo leo trên vách núi chém tre đẵn gỗ làm kế sinh nhai. Rồi tới những người đàn bà, một chị góa chồng dưới hầm chữ A một đêm đầy pháo sáng lơ lửng trên trời một bến phà miền núi, cô gái đứng đường bên Lăng Cha Cả thời gã cũnng đồng đội oai hùng "tiến về Sài Gòn"... Những người đàn bà đã qua đều để lại một chút bùi ngùi hoặc như cánh hoa ép khô hoặc một cơn lốc gây tan hoang đổ nát. Lạ một đều trong những người đàn bà đi lại nói cười trong ký ức gã lúc này, tuyệt nhiên không thấy vợ gã cho dù y thị gắn bó lâu dài và chặt chẽ hơn cả, nhất là lại có với gã một đứa con. Có thể vì những tiếng thở dài và vẽ mặt kinh tởm của thị mỗi lần bế gã đi cầu, cũng có thể ngày ngày gã lại nhìn thấy thị Ở trong đời bằng xương bằng thịt nên chẳng còn mảy may muốn nhìn thấy thị trong tưởng tượng nữa. Vợ gã chắc chắn không biết điều đó, và dù cho biết thị cũng chẳng thèm chấp, ôi dà, cái xác chết thị sắp phải chôn đây muốn nghĩ tới con nào cứ nghĩ, nghĩa lý cái gì. Cái chính là gã đừng cứ đủng đỉnh mãi như thế, gã phải nhanh nhanh lên mới được, thị còn biết bao nhiêu việc cần phải lo, biết bao nhiêu việc cần để mắt tới đâu có được thanh thản rũ sạch nợ đời như gã. Đối với thị cái cao hơn tất cả là công việc, từ công việc mới đẻ ra tiền bạc và từ tiền bạc mới ra mọi thứ khác ở trên đời. Trong lúc bón cho chồng từng thìa cơm vào miệng, đầu óc thị đã nhoay nhoáy tính toán, xếp đặt từ thuê nhà đòn, đội nhạc kèn cho tới tiền lì xì cho ông thầy chùa đọc kinh siêu sinh tịnh độ. Mọi thứ đã lên chương trình cả rồi, việc nào ra vệc đó, duy đó điều thị không lường trước được là gã lề mề quá, tới cổ rồi mà chưa chịu chết cho, ăn đấy ị đấy, nấn ná ngày nào khổ vợ con ngày ấy, vả lại nằm kề bên miệng lỗ, sung sướng cái nữi gì. Lẻ tất nhiên người vợ giấu kín cái ý nghĩ đó cho dù đôi lúc nó cũng bật ra theo những tiếng thở dài sườn sượt hoặc những tưởng tượng dịu dàng, mặt mũi gã co rúm lại khiến cho vợ gã cuống quít tưởng đã tới lúc gã "thoát dương". Chưa, chưa đâu, số kiếp gã chắc còn nặng nợ lắm, cho dù tim chỉ còn thoi thóp, hơi thở ngắt quãng đầy nhọc nhằn nhưng ý thức gã vẫn còn leo lét đủ để đưa gã ngược dòng ký ức, sống trong mộng mị ngày xưa. Những cảnh đời hết sức đầm ấm, tràm trề hạnh phúc. Và rồi khi mọi người đàn bà trong đời gã thực sự qua đi, cuối cùng gã cũng nằm mơ thấy vợ gã. Nàng hết sức dịu dàng, rực rỡ trong bộ đồ cô dâu, dắt tay gã bước vào phòng tân hôn kê chiếc giường ngủ trải nệm mềm thơm phức, đặt sẵn đôi đối có thêu hoa và đôi chim liền cánh "Kìa anh nằm xuống đi chứ, sao cứ đứng mãi thế?". Trời ơi, chưa bao giờ gã được nghe nàng thỏ thẻ với giọng thỏ thẻ nhẹ nhàng đến thế, chưa bao giờ gã được nàng vuốt ve êm ái đến thế, thật cứ như nàng biến thành nàng tiên mới giáng trần vậy. Nàng nhẹ nhàng kéo gã nằm xuống mải miết hôn lên mặt gã, những cái hôn êm ái, ướt át, dịu ngọt làm trái tim gã muốn nổ tung vì sung sướng. Đúng vào lúc đó, vợ gã đẩy cửa buồng đi tới chỗ gã nằm để làm cái việc bón cơm gã lần thứ hai trong ngày. Thị bỗng há hốc mồm lắp bắp kêu không thành tiếng. Một con mèo nhà ai đang cúi xuống liếm trên mặt gã. Sau cùng thị cũng hét lên được. Con mèo nhảy vụt ra cửa sổ, còn gã, với nụ cười đầy mãn nguyện còn đọng trên môi, gã trút hơi thở cuối cùng. Chẳng biết vì sao gã vội đi đến thế. Chạy trốn thực tại, khỏi làm tan vỡ những ảo tưởng gã mang theo sang bên kia thế giới?

Ai mà biết được. Con tàu vũ trụ đã rời bệ phóng bay vào cõi vô cùng mang theo bí mật. Hiểu được, may ra chỉ có ông trời.

Nhật Tuấn
27/6/1993

Công ty vẽ chân dung

Trong những giây phút cuối cùng của thời vận, chàng vẫn còn hy vọng một phép màu sẽ tới cứu chàng khỏi hiểm họa tan vở tất cả. Chàng đi dọc theo căn phòng vắng, chìm đắm trong ánh sáng lạnh, giữa những bức tranh lúc này cũng đang ủ tũ như chính chủ chúng. "Đây là lần cuối cùng... ". vợ chàng nói thế trong lúc tháo chiếc nhẫn cưới đưa chàng nộp cho chủ phòng tranh để triển lãm tác phẩm mà chàng đã đổ vào đó toàn bộ tâm huyết của những năm tuổi trẻ: "Em yên chí, lần này ít nhất anh cũng bán được cái "Hỗn độn", cái "cuồng nộ", rồi cả cái "Thẳm sâu" nữa chứ... Mỗi cái bỏ rẻ cũng 500 độ Tha hồ cho em trả nơ... ". Vợ chàng ném một cái nhìn vào hư vô cứ như không co chàng đứng trước mặt vậy. Chiếc nhẫn một chỉ bóng rẫy trong tay chàng, trời ơi, nó khinh mình không thèm nhìn mặt nữa, lẽ ra phải ném trả vào mặt nó, vậy nhưng... chàng nuốt đi cục đau chẹn ngang cổ, thôi thô, muốn là cái lớn phải biết bỏ qua cái nhỏ. Thế rồi sau biết bao những cái nhỏ đả bỏ qua, cuối cùng phòng tranh của chàng cũng được mở ra có bạn bè tới chúc mừng, có rượu tây và có cả một ông trong Ban chấp hành hộihọa sĩ tới cắt băng khánh thành. Quan trọng hơn cả vẫn có mặt vợ chàng rựa rỡ trong bộ váy áo, đứng bên chàng tươi cười như một cặp vợ chồng làm phát ghen những đôi lứa đã tổ chức đám cưới bạc. Khi chai rượu tây đã cạn, chàng dẫn các quan khách đi xem những bức tranh mà người ta chỉ dám khen chê căn cứ vào miếng giấy nhỏ ghi giá tiền. 1000 USD... đời, một tuyệt phẩm. 200 USD... cũng được đấy, nhưng bố cục có hơi lỏng... Các phóng biên văn hóa văn nhgệ tíu tít ghi chép cố gắng không bỏ sót một lời của các vị quan chức. Chàng bỏ ngoài tai tất cả, chàng đang nóng lòng chờ đợi các nhân vật chính của cuộc triển lãm. Có tiếng đóng cửa xe oai vệ Ở ngoài đường. Kia rồi, ông Tổng giám đốc Công ty sành gốm, Mạnh Thường quân số I của các họa sĩ trẻ, bà chủ shop "thời trang là tất cả", người bảo trợ chính cho mọi cuộc triển lãm. Chàng họa sĩ ra tận ngoài cửa, nâng niu bàn tay ông Tổng Giám đốc như một vật dễ vỡ, cúi chào rất điệu nghệ bà chủ shop, không quên nở nụ cười đầy thiện cảm tới đám tùy tùng. Cả phòng tranh dường như nín thở theo bước chân của ông Tổng và bà chủ lần lượt diễu qua từng bức. 1000 USD... 800 USD... 500 USD. ít nhất mỗiê vị cũng phải mua một bức 800 USD trở lên chứ. Đám tùy tùng đã lăm lăm tay bút, tay sổ, chỉ một cái gật đầu thôi, thủ tục chi tiền sẽ được thực hiện trong nháy mắt. Than ôi, cả ông Tổng Giám đốc lẫn bà chủ shop đã đi đến bức tranh cuối cùng, đã ra cửa, đã sập cửa xe cái rầm, để lại cho chàng một tuyệt vọng đến đắng cả miệng. Một tiếng cười nào đó cất lên từ cuối phòng tranh, chàng thoáng thấy đôi mắt vợ chàng tóe lửa và ông Chấp hành Hội tiến tới bắt tay xin lỗi phải về dự cuộc họp rất quan trọng với Thường vụ. Theo chân ông Chấp hành, bạn bè lục tục ra về, người sau cùng là vợ chàng với nụ cười khẩy báo hiệu biết bao nhiêu tai ương. Tiền gạo, tiền nhà, tiền điện... để duy trì cái tổ ấm cần không biết bao nhiêu là thứ tiền, ấy là chưa kể tiền sơn, tiền "toan", một cái xoáy nước khổng lồ hút bao nhiêu chi phí để sản xuất ra những bức tranh định giá bằng ngoại tệ mạnh kia. Đó là một canh bạc lớn nhất trong đời chàng và đang có nguy cơ khi mở bát ra là một con số không to tướng. Không, không thể thế được, còn có ông trời, và ông trời bao giờ cũng công bằng và sáng suốt, phải không nào? Và lại còn có những... ba ngày nữa giành cho các cơ may, biết đâu, phải biết đâu, một ông bà chủ nào đó có cặp mắt tinh đời nhận ra chân giá trị của những bức tranh của chàng và mua nó chỉ còn bằng nửa giá tiền cũng đủ cứu choát chàng rồi. Sang ngày thứ hai, rượu tây được thay bằng bia hơi, và khi can bia đã cạn, người bạn thân nhất cáo từ, ngồi bên chàng chỉ còn vợ chàng với vẻ mặt công tố viên ngồi trước bị can. Sang ngày thứ ba, ngày cuối cùng của thời hạn thuê phòng triển lãm, ngay đến vợ chàng cũng không tới nữa, còn lại mình chàng với những bức tranh và niềm hy vọng mỗi lúc hụt đi theo vòng quay của kim đồng hồ. Suốt từ sáng lác đác khách tới xem tranh đếm được chưa hết mười đầu ngón tay, buổi chiều chỉ có một cặp vợ chồng già lướt qua như cơn gió thoảng, một tốp trẻ con ghé qua chắc chỉ vì tò mò và vì miễn phí vào cửa. Và giờ cuối cùng của phòng tranh cũng đã tới, niềm hy vọng đã cạn kiệt, chàng họa sĩ thất thiểu đi giữa những bức tranh, thì thầm với chúng những lờn than vãn. Chao ôi, các con của ta, độc đáo, tài năng xuất chúng đến như thế mà không đứa nào lọt được vào mắt người đời. Liệu rồi ba trăm năm nữa có kẻ tri âm nào hiểu được. Giữa lúc chàng họa sĩ đang than thở cùng các bức tranh, ngoài cửa có tiếng dừng xe, tiếng lộp cộp giày cao gót và trời ơi... hẳn một phu nhân xinh đẹp, sang trọng, cắp ví tay to tướng bước vào. Không, chàng không thể tuột mất cơ may cuối cùng này được, nhẹ nhàng như một con mèo, chàng lướt theo người đàn bà và khi bà ta dừng lại trước một bức tranh, chàng khom người cung kính:

Dạ thưa bà, đây là bức có tên là "Hỗn độn".

Người đàn bà ném cho chàng một cái nhìn đầy ngờ vực, lẳng lặng bước đi và khi dừng bước một bức tranh, chàng họa sĩ lại lắp bắp:

Thưa bà, bức tranh này có tên là "Cuồng nộ".

Bà ta bước qua những mảng màu sặc sở và rồi khi dừng bước trước một bức tranh khác, bà ta kêu lên:

ông vẽ cái... quỷ gì thế này?

Chàng họa sĩ lễ phép:

Dạ thưa... đây là bức "Thẳm sâu".

Tôi chẳng hiểu ông vẽ cái ma gì.

Dạ thưa đây là một phòng tranh tìm tòi, thể nghiệm... tôi muốn đưa ra một thứ hội họa mới, hội họa... không hình.

Mặc cho chàng thao thao bất tuyệt về cuộc cách mạng nghệ thuật trong những bức tranh chỉ có màu của chàng, người đàn bà mở ví lấy ra chiếc gương nhỏ, khẽ chấm những giọt mồ hôi trên vầng trán mượt mà và quay người bước ra cửa. Chàng cuống lên, tuyệt vọng chạy theo như người sắp lỡ tàu: - Thưa bà, thưa bà... xin bà một phút.

Người đàn bà dừng lại, sáng kiến nảy ra trong chàng như một tia chớp, rất nhanh, chàng lấy giấy vẽ và chì than, kê lên một miếng gỗ và thoăn thoắt ghi lại gương mặt kiều diễm của bà phu nhân. Không đầy hai phút sau, chàng đã có bức chân dung vẽ tặng bà. Người đàn bà miễn cưỡng cầm bức vẽ, mặt hơi sững ra và chợt kêu lên:

Trời ơi, ông vẽ giống quá, thật tôi không ngờ...

Chàng họa sĩ khẽ nghiêng mình:

Xin cảm ơn bà, tôi có thể làm được hơn thế...

Vậy mà tôi cứ tưởng anh chỉ vẽ được loằng ngoằng như những bức tranh kia thôi. Anh có thể vẽ chân dung bằng sơn dầu và to như cái bức "Thẳm sâu" kia không?

Dạ được, tôi xin sẵn sàng hầu bà, nhất là được vẽ chân dung một người đẹp như bà.

Bà phu nhân lắc đầu quầy quậy:

Không không, không phải tôi đâu, mà là vẽ ông nhà tôi. Có điều ông ấy bận bịu lắm. Mỗi buổi ông ấy chỉ ngồi cho anh vẽ được 15 phút thôi và vẽ 3 buổi liệu có xong không? Tôi muốn ông hoàn thành trước ngày sinh nhật ông ấy.

Dạ được, tôi xin sẵn sàng hầu bà.

Chàng họa sĩ nói một hơi và đưa bà phu nhân ra tập cửa xe. Bà dúi vào tay chàng cái danh thiếp và một... tập tiền dày cộp. Chàng quay vào với bộ mặt tươi nói khiến ông chủ phòng tranh phải chạy tới:

Bán được mấy bức?

Không, không mua bức nào cả. Thôi đóng cửa lại, nhờ ông dẹp cho tôi.

Không quan tâm tới những bức tranh, chàng phóng xe quay về nhà và không kịp để chọ vợ kịp buông một tiếng thở dài, chàng đã reo to:

Thắng rồi, tiền đây, tiền đây...

Vợ chàng nở một nụ cười sáng khuôn mặt:

Bán được mấy bức.

Không, không bán được bức nào cả, nhưng có một bà thuê vẽ chân dung cho chồng. Đây là tiền tạm ứng. Chàng quăng một triệu bạc lên bàn như một viên tướng thắng trận quăng thủ cấp của tên chiến bại.

Đấy, em đã bảo mà, cứ khăng khăng chưa vẽ người đã đòi vẽ mạ Anh cứ vẽ thật là thực cho em, tha hồ mà móc tiền thiên hạ.

Vợ chàng cười nắc nẻ, ghì lấy đầu chàng, hôn âu yếm như thể hai vợ chồng mời từ phóng cưới trở về. Đê mê trong hạnh phúc, chàng lẩm bẩm:

Mới tạm ứng đã đưa một triệu, vẻ xong chắc chắn phải vài triệu.

Vợ chàng vênh mặt:

Chứ lại không ư? Vài triệu cũng chưa xứng đáng với tài năng của họa sĩ Hành Đạo. Rồi anh xem, thiên hạ sẽ xúm vào nhờ mình vẽ chân dung cho coi.

Quả nhiên vợ chàng đoán đúng, sau ba buổi làm mê mẩn ông Tổng Giám đốc, chồng bà phu nhân nọ, bằng những nét vẽ "giống như chụp", ông cao hứng mở két, đếm xoẹt cho chàng mười "vé" (tờ 100 đô) mới cứng trong lờn khen nức nở của bà Tổng giám đốc phu nhân:

Đây mới thực là nghệ thuật.

Thế rồi sau ông Tổng, đến lượt bà Tổng, sau bà Tổng, đến lượt các công tử và các tiểu thư, người nào cũng cố chèo kéo chàng vẽ cho được một bức chân dung để treo lên tường. Tiếng lành đồn xa, khỏi cần quảng cáo, khách hàng tìm tới đặt chàng vẽ chân dung đông tới mức vợ chàng phải mở hẳn một văn phòng giao dịch, bên ngoài căng một tấm bảng hiệu rất to: "Công ty vẽ chân dung - họa sĩ Hành Đạo". Lẽ tất nhiên, theo đúng mốt thời đại của những người có tiền, vợ chàng mua một khu đất rộng ở ven đô, bỏ tiền cất hẳn ngôi biệt thự trong có cả một xưởng họa dành cho chừng. Hôm dọn nhà, người làm công tìm thấy trong kho đồ cũ những bức gtranh nhòe nhoẹt những màu chẳng hình thù gì, bị mối xông gần hất. Vợ chàng họa sĩ được mời tới, lập tức nàng la lên:

Đốt ngay, đốt ngay những thứ ma tà quỷ ám này đi, đừng để mối ăn lan sang thứ khác.

Chàng họa sĩ hoàn toàn không được biết gì về chuyện này, bởi lúc đó chàng đang vẽ chân dung ông cụ thân sinh ra một ông Giám đốc sở nhân dịp lễ thượng thọ cụ lên lão tám mươi...

Nhật Tuấn
9/1994

Người thứ ba

Tôi bấm Of Power. Màn hình máy vi tính rút lại và tắt lịm như một con mắt nhắm. Thôi mà, rút cuộc cái máy vô tri này cũng chẳng thể là nơi cho ta ẩn náu mỗi khi ta muốn chạy trốn chính tạ Tôi đẩy ghế, đứng dậy, trong mỗi bước chân lê vào nhà trong, tôi cảm thấy cả dáng đi uyển chuyển của cô tạ Giờ này lẽ ra tôi phải đang trên đường tới nhà anh để làm một việc vô cùng hệ trọng là ra mắt mẹ mới dưới quê lên! Mẹ anh nóng ruột lắm, anh nói thế, mẹ anh chỉ được bế cháu, mai kia có nhắm mắt xuôi tay cũng vui lòng. Thế nào em cũng tới nhé, ăn mặc giản dị thôi. Cụ dưới quê lên mà!... Tôi đã mở tủ và đứng sững trước cả dãy áo quần dài ngắn, mặc đi làm hoặc mặc dạ hội, à la mode hoặc demode... Tôi đã ướm thử lên người tới hàng chục cái nhưng chẳng ưng ý cái nào. "Thôi mà". Cô ta vật nài, "Tới đó làm gì, Spagetti đi, cô không thấy đói bụng sao?". ỌK, người ta có thổ dồn nén mọi thứ stress trong đầu xuống dạ dày được lắm chứ, ở đó nó sẽ được tiêu hóa cùng với thức ăn. Tôi trần mỳ thật kỹ, cái gói mì ý này do anh mang tới trong một sáng chủ nhật đẹp trời anh đánh chiếc Honda ACCORD tới đưa tôi đi chơi ngoài thành phố. Một tay giữ vô lăng, một tay quàng sang tôi, làm tôi ngạt thở bởi những chiếc hôn sặc mùi táo. Xa đậu bên hồ nước xung quanh có những chiếc nhà rông nho nhỏ sẵn sàng cho thuê làm nơi tình tự cho các cặp từ choai choai mới lớn cho tới các cặp "ông nọ bà kia" đi lén vợ trốn chồng. Tôi và anh chẳng còn choai choai nữa, cũng chẳng phải trốn lén ai, nhưng có lẽ khung cảnh hồ nước bát ngát mênh mông dễ say lòng người, ly rượu Brandy anh nài tôi uống trong bữa đặc sản ở nhà hàng thủy tạ, tôi bằng lòng để anh dẫn vào một căn nhà rông như thế. Lúc đó anh là người đàn ông tuyệt nhất trần gian. Anh là giáo sư, tiến sĩ, giám đốc một công ty máy vi tính, là chủ những bất động sản dễ dàng làm đỏ mặt những cô gái rất có thể giành vương miện trong các cuộc thi hoa hậu. Dĩ nhiên, lọt được vào đôi mắt anh, tôi chẳng thua kém gì các cô đó. Bảy ăm đèn sách ở nước ngoài, vắt vai một mảnh bằng Phó tiến sĩ, gương mặt rất khả ái, đặc biệt ở đôi mắt đen láy sâu thăm thẳm theo văn mô tả của các chàng trai vây quanh, và quan trọng hơn cả là một thân hình tuyệt mỹ, kết quả của bao nhiêu năm ròng rã khổ luyện thể dục, tôi dễ dàng chinh phục cả trái tim lẫn khối óc anh ta chỉ trong vài lần gặp gỡ. Cuộc tình của chúng tôi bắt đầu từ bên chiếc máy vi tính anh cho người mang tới lắp đặt tặng tôi. Thật là một món quà tuyệt vời, từ khi còn học ở nước ngoài, tôi đã mơ một cái loại mới nhất như vậy, nó sẽ là vật bất ly thân, là người bạn chung thủy nhất, người bạn cuối cùng khi tất cả các người bạn đã bỏ tôi mà đi. Chính vì vậy nhìn thấy chiếc máy mới tinh, ngự trên chiếc bà formica trắng toát, tôi lẳng lặng ngồi xuống thao tác máy, mê mẩn với những tín hiệu nhấp nháy trên màn hình, chạy thử hết chương trình này sang chương trình khác, cảm giác lạc vào một thế giới kỳ diệu, tin cậy và đầy quyền năng. Tôi quên khuấy mất anh đang đứng sau lưng và rồi như hết kiên nhẫn, anh nắm lấy tay tôi, nhấn nút "dừng máy". Tôi bừng tỉnh nhận ra rằng anh chính là người mang lại niềm vui lớn lao này cho tôi. Tôi nhảy lên ôm lấy cổ anh hôn thắm thiết.

Anh không phải là người tình đầu tiên của tôi, tôi cũng chẳng còn nguyên vẹn khi gặp anh, nhưng quan trọng chuyện gì đó, cái chính là ngay buổi tối hôm đó, trong phòng ngủ của tôi, tôi đã hào phóng ban phát cho anh theo cái cách mà kể từ lúc đó anh sẵn sàng biến thành một con chó, liếm chân tôi nếu như tôi muốn. Những ngày sau đó anh đánh xe đời mới đưa tôi đi các nhà hàng sang trọng nhất, các khu du lịch nổi tiếng nhất, các Shop thời trang đắt tiền nhất. Theo chân anh, tôi bước vào một cuộc phiêu lưu tuyệt vời mà cái đích nhắm tới đương nhiên là một tiệc cưới ở một nhà hàng sa hoa nhất thành phố. Mọi chuyện đều diễn ra theo một kịch bản hết sức ngọt ngào và êm ái cho tới cái buổi chiều tuyệt diệu anh đưa tôi vào nhà rông ven hồ kia. Có lẽ vì sự chật chội của căn buồng chỉ vừa đủ một cái nệm mền. Có lẽ vì cái mái quá thấp tạo cảm giác như đang bị đè nén, và cũng có lẽ chẳng phải những cái đó mà do từ một sự trục trặc nào đó mãi từ vủ trụ phóng về khi anh như một con thú đói mồi vồ chụp lấy tôi ngấu nghiến, tôi bổng thấy người nhón đau khủng khiếp, toàn thân vã mồ hôi và bằng một sức mạnh từ đâu chẳng biết tôi đạp bắn anh ra, đầu đập vào vách tường và rồi hình như chính điều đó làm anh say máu, nhảy xổ vào tôi, bằng sức lực của một gã đàn ông vạm vỡ, anh khóa chân tay buộc tôi phải nhận cái phần đang điên cuồng nhất trong thân thể anh. Tôi vùng vẫy, cào cấu và hình như tôi càng phản kháng lại càng làm anh say máu, sau cùng tôi đành nhắm mắt buông xuôi với cảm giác khủng khiếp của người bị cưỡng hiếp. Đúng vào lúc đó, tôi nghe tiếng nói của cô tạ "Đáng đời con đĩ... ", Trong lúc anh ta vẫn hùng hổ thao tác trên người tôi, tôi vùng ra chỉ để bịt chặt hai tai khỏi nghe tiếng nói kia. Không, không, tôi hoàn toàn không phải con đĩ, tôi không trao đổi thân thể tôi lấy những cái anh đã mang tới. Tôi tới với anh bằng tình yêu và những thứ anh tặng tôi cũng do tình yêu. Mọi thứ đau đớn, ê chề sau cùng cũng chấm dứt, tôi nằm tấm tức khóc, cạnh đó anh quỳ xuống van xin tôi tha lỗi cho anh chỉ vì anh yêu tôi quá cuồng nhiệt. Tôi không nói gì hết, có thể những cái vừa xảy ra chỉ là một cơn ác mộng, tôi sẵn sàng quên đi, sẵn sàng tha thứ cho anh, tuy nhiên, kể từ lúc đó, cô ta vĩnh viễn ở trong tôi. Đã bao nhiêu lần tôi chìm đắm vào cái máy tính thân thuộc cố quên cô ta đi, nhưng tôi hoàn toàn bất lực. Mỗi ngày cô ta càng rõ nét trong tôi, cũng đôi mắt đen lay láy, cũng cái miệng xinh xinh hình trái tim, cũng thân hình thon thả, uyển chuyển, rõ ràng tới mức hình ảnh cô ta ngày càng át đi hình ảnh của chính anh, người tôi đã từng yêu say đắm, đã từng theo chân anh bước vào những tháng ngày tuyệt diệu của tình yêu. Tuy nhiên, mọi chuyện đã khác đi rồi kể từ lúc tôi bước ra khỏi cái nhà rông oan nghiệt kia, không hé nửa lời, suốt dọc đng về như cô gái câm ngồi bên anh. Phải nói rằng anh làm lành với tôi rất giỏi, suốt cả tuần lễ liền anh chỉ tới ngồi lặng lẽ bên tôi không nói năng gì, cứ tđể mặc tôi hoặc ngồi thẫn thờ hoặc chìm đắm trong màn hình xanh xanh của chiếc máy tính. Khi cơn giận giữ của tôi đã gần nguôi ngoai đi, anh mói chỉ dám cầm nhẹ bàn tay tôi, thủ thỉ những lời xin lỗi. Anh chưa dám ôm lấy tôi, chỉ thề thốt rằng không bao giờ, không đời nào xảy ra cái cảnh như ở nhà rông bên hồ nữa. Anh bảo rằng đó là cơn điên đầu tiên, cơn điên cuối cùng chẳng bao giờ lặp lại nữa. Anh nói rằng tình yêu giữa anh và tôi đã có gốc rễ bền chặt tới độ nếu chưa xuất hiện "người thứ ba" hoặc của tôi hoặc của anh thì chưa thể có sự chia taỵ Những lời thủ thỉ của anh như một dòng nước ngọt ngào ngấm dần ngấm dần làm tắt đi sự giận giữ, xóa đi những đớn đau anh đã gây ra cho tôi. Tôi lại vui vẻ với anh, lại theo anh đi nhà hàng, mua sắm, trò chuyện, hôn hít, yêu nhau trên giường, tuy nhiên trong tất cả những giờ phút đó, cô ta đều chen vào và buông ra những lời trêu chọc, can ngăn nhiều lúc dung tục tới hỗn xược.

Đĩa spagetti với những sợi mì trắng muốt trên nền cà chua đỏ au, rưới lên một thứ nước sốt thơm phức đã được làm xong đặt trước mặt tôi. Đúng vào lúc tôi thưởng thức đó, ngoài cửa có tiếng rồ máy xe, tiếng chân chạy gấp gáp lên cầu thang và khuôn mặt giận giữ của anh hiện ra ngpài cửa buồng: "sao thế? Em sao thế? Sao để mẹ và anh chờ hoài vậy?". Tôi nhìn anh không biết nói làm sao. Mặc lệ, cứ ăn đi đã, cô ta lại lên tiếng trong tôi, "cho anh ta về với mẹ cho rồi". Tôi cúi mặt xuống và bỗng lạnh toát cả người khi nghĩ rằng chính cô ta là người thứ ba đã xen vào giữa anh và tôi. Lạy chúa, không phải thế đâu, tôi vẫn yêu anh, một ngày nào đó, cô ta sẽ biến khỏi tôi, tôi sẽ cùng anh về tận dưới quê thăm bà mẹ tội nghiệp lúc này đang đau đáu chờ. Tôi biết tôi không thể làm khác. Lúc này đối với tôi, quan trọng hơn cả vẫn là đĩa mì spagetti thơm phức và đầy hấp dẫn.

Nhật Tuấn
9/9/94

Vườn vắng

"Xin mời ông..." Có tiếng cửa sắt rít lên han gỉ, tiếng khóa loảng xoảng, tiếng dế rúc trong bụi tre chìm ngợp trong đám dây leo bùng nhùng. Trận mưa đêm qua kéo bùn qua lối đi chôn những viên sỏi chắc một thời đã từng lạo xạo dưới những bàn chân dạo chơi trong vườn. Thưa ông, chỉ riêng hai chậu thiên tuế này nếu được tỉa tót lại cũng đáng giá cả chục triệu đồng. Ngày xưa... nó là quà sinh nhật người ta tặng tôi, niềm tự hào của cả khu biệt thự: "Niềm tự hào" ấy đang bị những tùm búi dây leo cuốn quanh cổ và người ta chỉ nhận ra cây thiên thuế ở cái chỏm xanh nhọn hoắt nhô lên như mũi tàu đang chìm. Hai người đàn ông nối nhau đi theo vệt mờ của con đường đang bị cỏ dại xâm lấn. Thưa ông... nơi đây trước là cả một vườn hoa hồng. Vợ tôi thích loại hoa này lắm. Tôi đã cho người đi sưu tập đủ các loại hồng ở khắp nơi nơi. Mỗi buổi sáng trở dậy, phong phanh trong chiếc váy mỏng, nàng thường đứng ở đây nâng niu hít thở từng nụ hoa. Lúc đó từ trên bao lơn cao kia, tôi nhìn xuống thầm cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi một vưu vật quý báu dường kia. Không, không, cả nàng lẫn những luống hoa kia vẫn còn đó, kìa kìa, ông có nhìn thấy không? Người khách e ngại lùi lại. Ông già này đã điên mất rồi, có thể ông bị ám ảnh quá nặng nề những hình ảnh quá khứ khiến cho bây giờ ông vẫn còn nhìn thấy cho dù trong cái vườn hoang này chỉ còn có toàn hoa dại và cỏ lác. hít một hơi thật dài điếu thuốc lá người khách đưa cho, ông già chủ nhà đã lấy lại bình tĩnh. Ông xin lỗi đã mất tự chủ khiến khách phải bối rối, tuy nhiên, ông cam đoan rằng rất nhiều buổi sáng thức dậy trên bao lơn kia, ông vẫn nhìn thấy nàng tươi cười giữa những luống hoa. Hai người đi tiếp quanh khu vườn lác đác những chậu cây cảnh nứt toác, nằm lăn lóc hoặc cỏ dại mọc đầy. Một con thằn lằn nhô ra từ đâu đó cuống quít chạy dọc theo vệt mòn lần theo những tấm bê tông lát đường át hẳn xưa kia vợ chồng chủ nhân thường cặp tay đi dạo. Hai người dừng trước một khu đất trống lúp xúp những cây chó đẻ, thưa ông, ngày xưa chỗ này tôi tính xây bể bơi. Vợ tôi rất thích có một cái để rèn luyện thân thể, tôi đã cho mời kiến trúc sư, thợ đã tới coi, vật liệu đã chở về, thế nhưng... tất cả đã quá muộn. Khách lo lắng, nhìn chủ nhà, sợ ông già lại lên cơn thần kinh nữa. Nhưng không, ông ta trấn tĩnh lại ngay, dẫn khách bước qua những bậc tam cấp phủ đầy lá mục dễ chừng cả năm nay không quét qua được một nhát chổi. Hai người ngồi lại tiền sảnh trên một chiếc ghế gỗ kê cạnh bàn đá, vật dụng sang trọng còn sót lại sau trận bể dâu. Khoát tay ra khoảng không trước mặt, ông già lại chìm đắm trong những hồi ức. Thưa ông, khi làm ngôi biệt thự này, vợ tôi đã cẩn thận mưới cả thầy địa lý Tàu về hướng dẫn. Nhà chếch 30 độ theo hướng phía Nam để đón lộc trời mà theo ông thầy nó thường tới từ hướng đó. Kích thước tất cả các loại cửa đều đặt làm đặc biệt, dôi ra chẵn một xăng-ti-mét cho phù hợp với tuổi tôi và vợ tôi. Thế còn tường và móng? Cũng đều làm vượt tiêu chuẩn bình thường theo lời ông thầy Tàu. Cả tháng trời tôi sưu tập các kiểu kiến trúc nhà vườn, lại nhờ cả mấy ông trong Hội kiến trúc sư vẽ kiểu, rốt cuộc vợ tôi đã chọn cái kiểu này đây, toàn bộ cách điệu thành con tàu đi trên biển, để lát nữa tôi đưa ông tới khu đồi đằng kia nhìn xem có giống hình con tàu không, chỉ tiếc rằng nó là con tàu mắc cạn trên mặt đất và bây giờ đã trở thành con tàu...ma. Ông khách giật thót người: "Con tàu ma? Ông nói sao? nhà này có ma hả?" Ông già vội vã xua tay: "Không, không, không phải ma đâu, vợ tôi đấy, nàng vẫn trở về với tôi và chỉ mình tôi nhìn thấy thôi. Bây giờ, xin mời ông vào nhà". Khách kín đáo buông một tiếng thở dài, ngần ngại nhìn cánh cửa cáu bẩn dẫn vào phòng khách mà chưa đặt chân vào ông đã cảm thấy một mùi ẩm mốc xộc lên mũi. Không đành lòng quay lui, ông theo chân chủ nhà bước vào căn buồng khá rộng, một bộ salon ở góc nhà, một tủ ly tỉnh kỉnh những bình hoa, ấm chén và một con chó nhồi bông đả tróc cả lông. Khách bỗng rùng mình, con chó được chụp trong một tấm ảnh phóng lớn treo trên tường mà một người đàn bà rất đẹp đang ôm nó. Nhìn ánh mắt và vẻ mặt của khách, chủ nhà gật đầu xác nhận: "Đúng nó đấy. Vợ tôi quý nó lắm, đi đâu thì chớ về tới nhà là ôm lấy nó". Khách hỏi buộc miệng: "Vậy bà ấy đâu rồi" và một ý nghĩ ngộ nghĩnh lướt qua đầu: "Hy vọng là ông không nhồi bông bà ấy chớ!". Như bị chạm vào cái phần nhạy cảm nhất, chủ nhà trầm mặt xuống, buông một tiếng thở dài: "Đi rồi, bà ấy đi rồi, tính tới hôm nay vừng đúng 3 năm 9 tháng mười một ngày". Vẻ mặt của chủ nhân làm khách lo lắng. Nó bất động như gương mặt của những hình nhân bằng sáp nhưng lại đầy vẻ chếr chóc của một tên sát nhân. Những lớp bụi bám khắp nơi, mạng nhện buông xuống từ trên trần, căn buồng tranh sáng tranh tối trong im lặng quánh đặc đến rùng rợn. Tất cả đã đẩy tưởng tượng của vị khách đi quá xa khiến ông lắp bắp: - "Có phải... có phải ông đã giết bà nhà rồi chăng?" Ông già tiến lại gần ghé sát vào mặt khách, buông một tiếng cười gằn: "Giết bà ấy ư? Tôi mà lại giếy bà ấy ư? Xin mời ông sang đây". Ông ta kéo tay vị khách, lôi đi sềnh sệch với cái vẻ cương quyết không thể chối từ. Qua hành lang tối và sâu hun hút, chủ nhà mở một cửa phòng và đẩy khách vào. "Thưa ông, ông nhìn coi, đây là phòng ngủ của vợ tôi, nó vẫn nguyên vẹn từ khi nàng bỏ tôi ra đi... Này đây là tủ quần áo, tôi xin mở ông coi, cả trăm bộ khác nhau vẫn treo nguyên như thế. Này đây là bàn phấn mỗi sáng vợ tôi vẫn ngồi ở đó cả giờ đồng hồ. Này đây là giường ngủ với gối nệm sắp đặt đúng như buổi sáng vợ tôi bỏ đi. Tôi đã mất bao nhiêu công sức để duy trì cho được y nguyên mọi đồ vật của phòng ngủ này, một ngày nào đó trở về, nàng sẽ có cảm giác là mọi chuyện mới xảy ra hôm qua đây thôi. Nàng sẽ quên những năm sóng gió dọc đường và nàng lại yêu tôi tha thiết như những ngày năm xưa. Tôi yêu nàng đến như thế, vậy mà ông lại hỏi tôi có giết nàng không đấy ư?" Ông khách thành thực xin lỗi chủ nhà về sự xúc phạm tới tình yêu thiêng liêng của ông. Tuy nhiên ông không thể nén nổi tò mò để không đặt câu hỏi nó dày vò ông từ lúc ông đặt chân vào cái biệt thự hoang phế này: "Vậy thì bà nhà đi đâu?" Câu hỏi vang lên như một phát đạn xỉa vào chủ nhà làm ông co rúm người, lảo đảo khiến khách phải đỡ ông đứng dậy. Thưa ông, cuộc đời có những bất trắc mà ta không sao lười trước được, thật cứ như là sét đánh giữa trời quang. Có thể ngờ được không, gia đình tôi êm ấm như vậy, vợ chồng tôi yêu nhau thắm thiết đến như thế, đùng một cái nó bỏ đi không nhắn lại một lời. Không, không thể tin được, vậy mà sự thực phũ phàng vẫn cứ đấm vào mặt ta những quả trời giáng. Những tháng đầu vợ tôi đi. Tôi không chịu chấp nhận chuyện đó. Mỗi bữa cơm tôi vẫn sắp chén bát chờ nàng, mỗi buổi chiều tôi vẫn cặp tay nàng đi dạo trong vườn, theo sau là con Kiki, mỗi buổi tối vẫn sửa soạn giường cho nàng: Ông có nhìn thấy cái ghế xích đu ngoài cổn không? Đó, hàng ngày tôi và con Kiki ngồi ở đó chờ đợi. Mỗi tiếng xe rồ máy, mỗi tiếng động ngoài cổng, mỗi tiếng người gọi... đều đập vào quả tim của tôi và quả tom con chó khiến cả hai chúng tôi cùng vểnh tay sáng mắt. Hết ngày dài lại đêm thâu, hết tuần này qua tháng khác, con Kiki mòn mỏi quá rồi. Tôi phải động viên nó: "Can đảm lên con, thế nào bà chủ mày cũng về, mua cho mày thật nhiều Sôcôla, bế mày dạo chơi trong vườn và lại còn tắm cho mày nữa chứ..." Quả thật, suốt mấy tháng không được bà chủ tắm táp săn sóc, con kiki xác xơ bẩn thỉu, kém ăn biếng ngủ, thế rồi sự kiên nhẫn của nó thua sút con người. Một buổi sáng ngồi bên tôi, nó lịm dần và thở hơi thở cuối cùng. Không, tôi không thể chôn nó, nhất định một ngày nào đó nàng sẽ trở về ôm hôn nó, chính vì vậy tôi đã nhồi bông nó như ông đã thấy trong tủ ly đó. Than ôi, từ lúc đó, chờ đợi nàng chỉ có mỗi mình tôi, mình tôi mà thôi. Này ông coi... "Ông già chủ nhân rút trong ngăn kéo ra một tấm ảnh lớn chụo đôi vợ chồng còn khá trẻ âu yếm khoát tay nhau. Ông thử coi cái người chồng trong ảnh này có khác tôi lắm không. Rõ đúng là hệt như bố với con vậy, ấy thế mà chính là tôi cách đây có ba năm thôi đó. Ông có biết tôi bao nhiêu tuổi không? Tôi tuổi ất Dậu, năm nay mới vào tuổi 49 thôi đấy, vậy mà có khác một lão già bảy chục? Ông khách sững sờ nhìn chủ nhà. Trời ơi, sự chờ đợi đã làm ông ta già đến thế kia ư? Ông khách nắm lấy tay chủ nhà trong một niềm thương cảm làm rưng rưng nước mắ. Thưa ông, tôi cứ chờ đợi như thế vừa đúng một năm ba tháng thì bà ấy... trở về. Ông khách giật mình: "Bà ấy trở về?". Thưa vâng, vào một buổi chiều như buổi chiều nay, tôi ngồi ở cái ghế xích đu như mọi ngày thì bà ấy đẩy cổng vào. Trời ơi, tôi lạnh toát hết cả người, thật không còn nhận ra cái người vợ xinh đẹp của tôi. Có lẻ bà ta đã nhận hình phạt quá nặng nề khi bỏ tôi mà đi. Xin trời, hãy cho thiên lôi đánh chết tôi đi, lúc đó chẳng hiểu ma quỷ trong lòng tôi núp sẵn trỗi dậy hay một trục trặc thần kinh nào đó, lẽ ra tôi phải ôm bà vào lòng, vuốt ve, an ủi, trời ơi tôi đã không làm như vậy, tôi cứ đứng đực ra như đười ươi giữ ống miệng há ra một tràng cười dài. Tôi cứ cười, cười mãi đến khi dứt tiếng cười tỉnh ra thì bà ấy đả đi mất. Tôi cuống cuồng chạy theo, đâm bổ đi các nơi tìm kiếm nhưng tuyệt nhiên không một dấu vết, không một tăm hơi cứ như là bà ấy đã bay lên trời hoặc chui xuống đất vậy. Từ hôm đó, tôi lại vẫn chờ trên chiếc ghế xích đu kia, nhưng từ nay cùng chờ với tôi còn có niềm ăn năn hối tiếc ngày đêm cào rách tim tôi. Cho tới hôm nay vừa đúng ba năm chín tháng mười một ngày, tôi đã quá mỏi mòn, tôi không thể chờ đợi thêm đợc nữa, nên tôi quyết định bán toàn bộ cái khu vườn này. Ông là người khách đầu tiên tới mua và cũng là người đầu tiên biết được ảnh ngộ của tôi. Tôi chỉ xin ông một điều, ông muốn làm gì cái nhà này ông cứ làm, nó là quyền của ông, tôi chỉ xin ông giữ lại cái ghế xích đu kia, ngày này tôi vẫn ngồi chờ đợi bà ấy đến lõm cả ặt ghế. Tôi vẫn tin rằng bà ấy sẽ trở lại, xin ông đưa bà ấy đến chiếc ghế kể về sự chờ đợi của tôi may ra bà ấy sẽ tha thứ cho tôi chăng?" Đúng lúc đó, có tiếng gõ cổng theo một cách nào đó khiến ông chủ nhà cuống quít: "Bà nhà tôi đó... bà nhà tôi trờ về đó..." Ông chạy điên cuồng qua vườn hồng chết rụi, qua hai cây thiên tuế tiêu điều, qua biết bao kỷ niệm của một thời hạnh phúc. Ông mở tung cổng, không có ai, không có ai, chỉ có một luồng gió thổi ào vào làm xào xạc những chiếc lá khô bay tan tác...

Nhật Tuấn
9/1994

Chùa trên núi

"Em và con thân yêu... ", hàng chữ run rẩy trườn đi trên trang giấy bỗng loằng ngoằng như một con rắn đang bò. Những ý nghĩ rời rạc đang được sắp xếp chọn lọc chợt tản mát đi hết trong cơn đau thắt làm co rút mọi thớ thịt trên gương mặt khiến ông chỉ còn biết ôm đầu chống chọi với cơn bệnh đến bất chợt. Ông cố với tay lên đầu giường lấy viên thuốc trong chiếc lọ nhỏ vừa kịp cho vào miệng trước khi lịm vào ơn ác mộng trong đó chỉ rặt những đau đớn, tê buốt như những mũi khoan xoáy vào đầu. "Tới rồi đó... tới rồi đó... ", ý nghĩ thoảng qua trong một vầng sáng vụt tắt và ông hoàn toàn rơi vào vùng mất tri giác. Trong lúc đó, bóng tối vẫn lặng lẽ lấp đầy căn phòng hẹp, tiếng dế vẫn nỉ non ngoài vườn và thỉnh thoảng xa tít ngoài biển thẳm vẫn loằng ngoằng những tia chớp làm vẳng lại những tiếng ầm ì mơ hồ. Trong cái trang nghiêm của trời đất kia, bởi một lẽ huyền bí nào đó, ông chưa đi hẳn, mờ sáng ông vẫn quay về với các xác phàm khô quắt vì đau đớn. Ông nằm mơ thấy mình đang bơi giữa một con sông đen ngòm chảy cuồn cuộn kéo theo cơ man xác người vá xác xúc vật tất cả bị đẩy đi theo một sức mạnh không cưỡng được, rồi khi rơi xuống một vực thẳm sâu hun hút ông hét lên và thức giấc: "mình chưa chết", ý nghĩ nảy ra và nhảy nhót trong đầu như một tia nắng đầu tiên sau đêm tăm tối. Buổi sáng mới tới làm tươi tắn khoảnh vườn, ông gượng đứng dậy mở cửa sổ nhìn ra. Một bông hoa trạng nguyên mới nở đêm qua, trắng muốt lừng lững vươn lên cao giữa đám cỏ dại, điểm một nét đẹp có vẻ xa xỉ trong khoảng vườn ngập ngụa rác. Ông hít một ngụm không khí trong lành, dịu đi cảm giác luôn luôn như một cái rìu nung đỏ đặt trong lồng ngực. Bao nhiêu hãi hùng của cơn ác mộng đêm qua tan biến, buổi sáng mát mẻ với những ngọn gió biển đưa vào mùi muối mặn như dọn sẵn chờ ông thụ hưởng. Ông vui vui nhớ tới bé Pít, đứa con gái 3 tuổi của ông giờ này chắc đang bi bô với mẹ nó trong bữa điểm tâm trước khi đi mẫu giáo. Còn nàng, vợ Ông chắc như thường ngày trang điểm sơ chút son phấn trước khi khoác chiếc áo dài đến trường dạy học. Nhắm mắt lại ông mường tượng ra căn buồng nhỏ, tổ ấm của ông, tới từng những cái nhỏ bé, vặt vãnh nhất. Trong góc kia, chiếc giường sắm từ hồi cưới, trải nệm mềm phủ drap trắng toát, trên đó ông đã trải qua bao tháng ngày hạnh phúc. Chiếc tủ gương, chiếc bàn ăn xinh xinh, bàn viết của ông, cái bô của bé Pít đặt dưới gầm giường... Chao ôi, cho dù ông đã xa tới cả hàng trăm cây số từ cả tháng nay nhưng chúng vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Ông không hối tiếc đã từ bỏ tất cả, lén lút đi về nơi cùng trời cuối đất này. Số phận đã chơi ông một quả trời giáng khi cách đây không kâu, sau một bữa nhậu trở về, ông ho hung hắng và bỗng kinh hoàng nhìn thấy trên cái nền trắng muốt của bồn rửa mặt một vệt máu tươi. Toàn thân ông bỗng lạnh toát khi nghỉ tới nguy cơ của "căn bệnh quái ác" nỗi ám ảnh đáng sợ cho những người có tuổi qua nhiều năm hút thuốc lá như ông. Ngay hôm sau, ông chạy tới ông bạn bác sĩ để hắn đưa đi đủ thứ phòng soi chụp, xet nghiệm... Yên chí đi, yên chí không có chuyện gì đâu, hắn an ủi vậy, một liều kháng sinh là dứt thôi mà.

ông cũng tin vậy, bỏ ngay thuốc lá, sáng tập thể dục, uống thuốc rất đều, âm thầm chờ đợi kết quả hội chẩn như tội nhân chờ phán quyết của tòa án. Suốt trong thời gian đó, bỗng dưng ông có linh cảm rất kỳ lạ, nó làm ông suốt ngày quấn quít bên vợ con, xa lánh mọi cuộc nhậu nhẹt, họp hành và lần đầu tiên trong đời không vào dịp lễ tết, ông lén vợ vào chùa thắp hương và quỳ rất lâu trước tượng phật. Ông rì rầm khấn vái, cầu xin trời Phật tha cho ông căn bệnh quái ác đó, vợ Ông còn khá trẻ, con còn nhỏ quá, ông cầu xin được sống để nuôi nấng gia đình. Ra khỏi chủa, ông vét sạch tiền trong túi bố thí cho những người hành khuất đứng dọc hai bên và đau nhói lòng nghĩ rằng họ còn sướn hơn ông ở chỗ còn được sống. Nhưng thôi, ông tự nhủ, đừng nghĩ tới chuyện đó nữa, ông cố lẩn tránh nó bằng cách không nghĩ tới, tối nào cũng đưa vợ con đi nghe ca nhạc, thuê băng phim hài và ông cố nói cười làm tổ ấm của ông rộn ràng như những ngày giáp tết. Tuy nhiên ông không lẩn tránh được dấu hiệu của "nó" trong những cơn ho mỗi lúc một kéo dài, máu ra càng nhiều và vẽ mặt hốc hác đi một cách đáng sợ làm vợ Ông phải kêu lên. Ông chối phắt, dấu biến mọi chuyện, trấn an vợ rằng ông chỉ vị viêm họng xoàng, ngậm nước muối vài hôm là khỏi. Buổi sáng hôm đi lấy kết quả, ông dất xe máy ra cửa và gặp ngay người đàn bà mặt đồ đen bán bánh dạo, mẹ kiếp, xui lắm đấy, ông dắt xe quay vào, lát sau khi dắt xe ra, hởi ôi, lại một bà ve chai lõng thỏng gánh hai cáithúng ghé tới hỏi có bàn gì không? Không thèm trả lời, ông lao xe đi như chạy trốn sự xui xẻo. Trên đường tới bệnh viện, ông lại tạt qua chùa, quỳ rất lâu trong khói hương và trước vẻ trang nghiêm, huyền bí của các pho tượng, nhói hy vọng về kết quả âm tính, không phải "nó", ông chỉ cần tiêm, uống thuốc hoặc vào nằm bệnh viện vài ngày sẽ lại mạnh khỏe như trước.

Tuy nhiên, mọi hy vọng dường như hoàn toàn sụp đổ khi ông bước vào phòng và nhìn thấy vẽ mặt của ông bạn bác sỉ. "Sao? thế nào? Lành tính hay các tính". Tiếng ông vang lên, giặt giọng, thảng thốt làm những người ngồi trong phòng quay hết cả lại. Ông bạn bác sĩ vội vã kéo ông vào phòng kín, an ủi ông bằng những lời lẽ mơ hồ và mập mờ khiến ông hiểu ngay rằng kết quả xét nghiệm là "dương tính", mọi chuyện như thế là chấm hết, ông đã bị tuyên án tử hình và tất cả chỉ còn chuẩn bị cái giờ G đó thôi. Ông lạnh toát cả người và bỗng dưng nổi cáu. "Các anh là đồ ăn hại, conngười ta có thể với lên được cả Sao Hỏa, vậy mà chịu bó tay trước căn bệnh này ử" Anh bạn bác sĩ im lặng, lắc đầu, áy náy như chính anh là người có lỗi trong chuyện đó. Ông chợt thấy mình trở nên lố bịch trong nỗi khiếp nhược nó làm ông tháo mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Ông rút thuốc mời bạn, cười héo hắt: "Bỏ thuốc bây giờ đã là quá muộn phải không? Vậy thì cứ hút cho thật đã đi". Hơi thuốc lá làm ông bình tĩnh lại, ông xoay sang chuyện tầm phào với bạn, tưởng như không có chuyện gì và rồi trước khi ra về, ông nắm tay bạn tha thiết: "Tớ cần biết chính xác thời gian để chuẩn bị. Cậu nói đi, tớ còn được bao lâu nữa?". Cái thời hạn ông bác sĩ đưa ra làm ông choáng váng. Nó còn ngắn hơn cả thời gian nằm chờ thi hành án của tên tử tù sau khi Chủ tịch nước đã bác đơn xin ân xá. Ông cảm ơn ông bạn bác sĩ, từ chối mọi lời khuyên mà ông tin rằng nó chỉ gây ảo tưởng chứ không chữa được bệnh. Dắt xe ra khỏi bệnh viện, đường phố vẫn như mọi ngày nhưng với ông nó đã trở nên hoàn toàn khác. Trước đây ông không thể bỏ qua hình ảnh cặp đùi của một cô gái mặc váy ngắn ngồi vắt vẻo đằng sau một xe máy chạy trước ông chẳng hạn, nhưng bây giờ mọi màu sắc sống động trên đường phố bỗng trở nên xa lạ, ông dững dưng với tất cả, tăng ga cho xe vọt nhanh, ở một ngã tư, ông nắm môi vượt đèn đỏ và văng ra một tiếng chửi rất tục khi một chiếc xe đạp tạt ngang qua mặt. Ông ghé trường nơi từ hai mươi năm ông vẫn đứng lớp dạy. Không đếm xỉa tới người thường trực, ông phóng thẳng xe vào tận cửa phòng hiệu trưởng trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Không thèm gỏ cửa, ông đẩy cửa bước vào và cũng chẳng đợi mời, ông kéo ghế ngồi ngay trước mặt ông hiệu trưởng đang tròn mắt nhìn ông qua cặp kính trễ xuống mắt. Nhìn thẳng mặt thủ trưởng, ông cười gằn:

Chà, béo tốt thế kia chẳng biết đến bao giờ mới ốm đây?

ông hiệu trưởng nhổm phắt dậy như bị điện giật:

Cái gì? Anh nói cái gì?

Tôi muốn xin thôi việc.

Trời đất, giá như có động đất ngay giữa sân trường cũng chỉ làm ông hiệu trưởng ngạc nhiên đến thế mà thôi. Ông nhìn người giáo viên lâu năm của mình, hiểu ngay chắc anh ta vừa chịu một tai họa nào đấy nên mặt mũi mới thất sắc, toàn thân mới run ẩy đến thế kia. Ông đừng dậy rót ly nước lạnh đặt vào tay người thầy giáo ặt mày tái mét, nhẹ nhàng:

Nào, uống đi, rồi bình tĩnh kể tôi nghe chuyện gì mới xảy ra với anh?

ông chợt thấy mình lố bịchquá, đúng lúc đó, một cơn ho kéo đến và khi nó qua đi, ông giơ ra trước mặt ông hiệu trưởng chiếc khăn mùi xoa vấy máu. Thế đấy tôi đã trúng độc đắc rồi ông hiệu trưởng ạ, chỉ có điều giải thưởng không phải mười tỷ như người ta thường quảng cáo bên các vỉa hè mà là một... cái chết được biết trước. Ông hiệu trưởng lặng lẽ xem từng tờ trong tập bệnh án, sau đó ông thở dài:

Thôi cứ bình tĩnh ông ạ, sống chết có số cả rồi, trời kêu ai nấy da...

ông giáo bỗng trừng mắt:

Vậy trời sao không kêu ông? Kêu người khác? lại kêu tôi?

Tôi không biết... làm sao tôi biết được?

ông lắp bắp:

Xin lỗi, xin lỗi ông, tôi không có ý hỏi như thế.

ông hiệu trưởng nắm lấy tay ông, chân tình:

Không sao, không sao cả. Anh cứ nói đi, anh cần nhà trường giúp đỡ gì không?

Trước hết xin ông hiệu trưởng giữ kín chuyện này, sau nữa xin ông giải quyết cho tôi trợ cấp thôi việc, nghe nói cũng được vài triệu...

Lúc này đang mùa giảm biên chế nên yêu cầu của ông được chấp thuận không mấy khó khăn. Chỉ vài ngày sai, ông cầm về một ố tiền lớn, dối vợ rằng người ta gửi. Ông tìm cách dấu biệt mọi chuyện, nhưng những biểu hiện bất thường của ông vẫn làm bà ngờ vực. Trước hết bà thấy ông thường xuyên nghỉ ở nhà, ban đêm thỉnh thoảng lên cơn ho ông lại chạy vào nhà cầu và rồi bà không còn thấy ông cầm cây vợt cầu lông đi chơi câu lạc bộ nữa. Để bà yên tâm, ông giải thích rằng ông bị mệt xoàng, nhà trường đang cho ông nghỉ tại chỗ chờ ít ngày nữa sẽ cho xe đưa ông đi điều dưỡng ở một vùng biển. Chính vào lúc đó, ông nảy ý định mỗi lúc một rỏ trong ông, nhất là sau khivào thư viện tra cứu các loại sách về căn bệnh đó khiến ông hãi hùng trước những trang mô tả sự kinh khiếp của nó, nhất là vào những ngày cuối cùng.

"Vào những giây phút cuối cùng trong đời, con ong chúa thu hết tàn lực bay ra khỏi tổ đón nhận cái chết cô đơn trên mặt đất khỏi làm ô uế môi trường chật hẹp nơi nó đã sinh ra". Vốn là thầy dạy sinh vật học, ông nhớ lại bài học về xã hội loài ong bao năm qua ông vẫn giảng cho học trò và mỗi lần nói tới cái chết của con ong chúa ông vẫn đau nhói lòng. Ông cay đắng nhận ra ằng dường như giữa ông và nó có mối liên hệ huyền bí nào đó, để rồi ông cũng như nó, ông sẽ... "bay ra khỏi tổ" chấp nhân một kết cuộc không làm phiền vợ con. Nằm giữa căn buồng nhỏ, xung quanh lầy những vật dụng mà mỗi thứ sắm được, vợ chồng ông đã phải mất bao hơi sức trong những giờ dạy thêm, ông xót xa nghĩ rằng mai kia, để lấy tiền thuốc thang cho ông,chúng sẽ nối đuôi nhau ra cửa hàng đồ cũ. Và con nỗi kinh hoàng ông sẽ gây cho vợ con vào những ngày cuối cùng... Không, không thể để lên đầu vợ con gánh nặng khủng khiếp như vậy được, ông cũng phải như con ong chúa, bay khỏi tổ "đón nhận cái chết cô đơn" như nó thôi. Một tuần liền sau đó, ông lầm lũi sửa sang lại đường dây và ổ cắm điện, thay những đoạn ống nước đã mục, trèo lên mài nhà dọi lại ngói, phòng mưa dột... Ông làm tất cả những việc vợ Ông không thể làm được, ông viết cho vợ một bản chỉ dẫn về mọi thứ trên đời, từ chiếc tivi bị nhiễu hình, con gái ba ngày không đi cầu tớu những khoảng tiền có trong tủ, sổ tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn... Thế rồi một buổi sáng, nói dối vợ được đi điều dưỡng, ông thuê xe đón tận nhà. Nhìn quanh căn buồng một lần sau chót, ông bế bé Pít ứng trước gương lớn, con bé giống anh lạ lùng, bất ngờ ông nhận ra rằng dù ông có đi sang thế giới khác, ông vẫn sống mãi trong thế gian này trong hình hài của chính con gái ông. Chiếc xe rồ máy đưa ông về một làng nhỏ cách xa thành phố. Hình ảnh đôi mắt vợ Ông buồn bã, ngỡ ngàng nhìn ông trong những đêm mất ngủ. Có lần nỗi nhớ đã đẩy ông ra tận bến xe, rắp tâm trở về thành phố, đi qua ngôi nhà thân thuộc, đứng xa xa nhìn ợ con một lần nữa. Tuy nhiên ý chí vẫn giữ ông lại, một việc đã rồi, một kết cuộc đã xảy tới, nhìn lại quá khứ dù chỉ một lần, có ích gì đâu. Ông cứ lần lữa mãi cho tới khi sức lực ngày càng suy kiệt tới mức không thể ngồi xe chạy cả trăm cây số về thành phố nữa. Bây giờ ông chỉ còn đủ sức lê từng bước một từ nhà ra phố, mua vài thứ thắc ăn khô dùng trong vài ngày rồi lại trở về. Thế rồi một sáng thức dậy ông thấy chiếc gối đêm qua ông nằm ướt đẫm máu, đến trưa, một cơn đau dữ dội quật ông lăn lộn trên giường."Đến rồi, đến rồi đó... ", ông mơ màng như có tiếng người nói, tiếng dép kéo lê, tiếng mở cửa... Ông chợt thấy ình lướt ra khỏi nhà nhẹ nhàng như một cơn gió. Theo con đường nhỏ sau nhà dẫn lên núi, ông cứ đi, đi mãi cho tới khi trước mặt ông là một ngôi chùa nằm nép mình bên những tùm búi cây xanh. Tiếng chuông, mùi khói nhang đưa chân ông vào trong, ông chợt nhận ra gương mặt những pho tượng quen thuộc ông đã từng quỳ khấn vái, cầu xin trên đường ông đi tới bệnh viện để nhận kết quả xét nghiệm. Chắc những lời nguyện cầu của ông đã được các vị thần phật chứng giám, phù hộ nên bao nhiêu lo lắng bệnh tật đã tiêu tan hết, giờ đây ông hoàn toàn thanh thản nhẹ nhàng cất bước lướt đi khắp nơi nơi. Niềm sung sướng đó tạo trên gương mặt ông một vẻ mãn nguyện khiến ba ngày sau đó, người ta phá cửa phòng ông kéo nhau vào vẫn thấy trên môi ông phảng phất một nụ cười.

Nhật Tuấn
9/1994