vietmessenger.com


Nhật Tiến

Hành Trình Chữ Nghĩa Tập 3 - Một Thời Như Thế





MỤC LỤC


Phần Thứ Nhất - Hà Nội- Thời Hoa Niên
  Tuổi Thơ Thế Hệ Chúng Tôi

Phần Thứ Hai - Một Thời... Thiếu Nhi
  1. Thế Giới Tuổi Thơ Của Tôi
  2. Nội Dung Các Tiết Mục Sinh Hoạt Linh Tinh Của Tờ Thiếu Nhi
  3. Nhà Văn, Nhà Thơ, Nhà Biên Khảo Lê Minh Quốc
  4. Nhà Văn-Nhà Báo Với Vấn Đề Kiểm Duyệt
  5. Một Vòng Thị Trường Sách Bán Xon Trên Vỉa Hè Sài Gòn
  6. Tạp Ghi - Nhật Tiến
  7. Xuân Ất Mão -1975, Một Mùa Xuân Đầy Ảm Đạm
  8. Ông Khai Trí Và Tờ Thiếu Nhi Tại Miền Nam Trước 1975
  9. Vĩnh Biệt Ông Khai Trí
  10. Trường Hợp Hồi Hương Sinh Sống Lúc Cuối Đời Của Ông Nguyễn Hùng Trương
  11. Lời Kết Cho Phần "Một Thời... Thiếu Nhi"

Phần Thứ Ba - Một Thời... Hải Ngoại
  1. Thân Phận Giáo Chức Ở Quê Nhà
  2. Phát Biểu Trong Đại Hội Phụ Huynh Của Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng
  3. Những Dự Phóng Cho Tương Lai Các Lớp Việt Ngữ
  4. Cô Bé Đánh Vần
  5. Hãy Chấm Dứt Việc Hạ Nhục Anh Chị Em Văn Nghệ Sĩ Ở Quê Nhà
  6. Về Dòng Văn Chương Phản Kháng
  7. Viếng Thăm “Đông Hồ Thi Nhân Kỷ Niệm Đường” Tại Hà Tiên
  8. Trao Đổi Giữa Nhật Tiến Và Nguyễn Đình Chính

Phần Thứ Tư - Một Thời... Chữ Nghĩa
  1. Thế Giới Nhân-Bản Của Nhật Tiến
  2. Đinh Quang Anh Thái Báo Người Việt Phỏng Vấn Nhật Tiến
  3. Mặc Lâm Mạn Đàm Với Nhà Văn Nhật Tiến
  4. Anh Thiện Ơi ! Hãy Ngơi Nghỉ!


Lời Nói Đầu

Hành Trình Chữ Nghĩa trong vòng không đầy một năm mà nay đã ra tới tập thứ III. Nhiều độc giả quan tâm hẳn sẽ nêu câu hỏi:

" Có cái gì đáng viết mà ra liên tục đến thế ?"

Thay cho lời nói đầu, tôi xin giải đáp thắc mắc này.

Nói cho đúng ra, trong sinh hoạt Văn học Nghệ thuật ở miền Nam trước đây và ở hải ngoại sau này, tất cũng có nhiều điều đáng viết và cần phải viết lại lắm chứ. Bởi đó là chứng tích của một thời tuy đã qua nhưng không phải là đã phai tàn.

Chính cái thời ấy, tạm tính từ năm 1954 cho đến năm 1975, không kể những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của nhiều thời gian trước đó, ở miền Nam đã hình thành một xã hội có những nét sinh hoạt văn hóa đặc thù, vừa không mất truyền thống tốt đẹp của dân tộc vừa thể hiện một bản sắc văn hóa tôn trọng tự do, nhân phẩm, nó hoàn toàn khác biệt với hình thái cũng như nội dung của xã hội CS ở miền Bắc cũng ở cùng một thời điểm đó.

Nói một cách cụ thể, thì chỉ ở miền Nam trước đây mới là chỗ để cho mọi sinh hoạt văn hóa phục vụ con người có cơ hội được nở rộ.

Sách vở, báo chí đem lại cho mọi người ý thức tự do dân chủ.

Các nhà sáng tác và các nghệ sĩ trình diễn đã góp phần hun đúc và  tạo dựng những mẫu người có lý tưởng cao đẹp, luôn đề cao nhân phẩm và quyền làm người.

Các nhà giáo dục đã đào luyện nên nhiều thế hệ, lớp này kế tiếp lớp kia qua đường lối, chính sách giáo dục dựa trên những nhu cầu cơ bản của  Con Người và của truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Sau 30-4-1975, dù ở phe chiến bại, những người miền Nam cũng không mong gì hơn là mô hình xã hội đẹp ấy sẽ được duy trì để các thế hệ đi sau vẫn có thể được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí thương yêu giữa những con người để cùng tiến bước theo đà tiến hóa chung của nhân lọai.

Nhưng sự thực đã không xẩy ra như tất cả mọi người ước muốn.

Trải gần 40 năm cầm quyền, Đảng CSVN đã phá nát mọi truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đạo đức xã hội càng ngày càng suy đồi. Quyền làm người bị chà đạp thô bạo. Công lý nhầu nát trước sức mạnh của đồng tiền hay của bạo lực.  Nói chung, xã hội miền Nam VN trước 1975 đã hoàn toàn bị biến chất và chỉ có cơ hội được vực dậy một khi chế độ hiện hành ở VN hoàn toàn bị sụp đổ.

Cái triển vọng tương lai ấy chắc chắc rồi nó sẽ tới và nó phải tới.

Trong tiến trình hình thành những vận động đổi thay ấy, tất đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhiều hình thức đấu tranh khác nhau của nhiều người, nhiều phía.

Riêng đối với những người làm công tác văn hóa thì nhiệm vụ gìn giữ và khôi phục những giá trị truyền thống là một công việc nhất thiết không thể bỏ qua.

Những ghi chép trong mấy cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa này không ngoài mục tiêu đó.

Nhưng ghi chép không phải là để phô trương. Thường thường khi muốn phô trương thì sẽ có sự thêm thắt, lắm khi mất cả sự trung thực. Điều này không cần thiết, bởi di sản tinh thần cơ bản nhất mà chúng ta trao lại cho các thế hệ đi sau chính là sự trung thực.

Có thể thế hệ Cha, Anh cũng đã mắc phải những sai lầm, nhưng đó không phải là những lầm lỗi chính yếu. Chính nền nếp sinh hoạt, tác phong, đạo đức xã hội cùng những ý thức tôn trọng tự do, tôn trọng phẩm giá cũng như quyền làm người  thường được thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt văn hóa xã hội ở miền Nam trước đây mới là tài sản tinh thần mà chúng ta cần truyền đạt lại cho con cháu với lòng ước mong là chúng sẽ kế tục những gì còn dang dở để góp phần vào công cuộc tạo dựng ở quê hương sau này một đời sống đáng sống, một xã hội vừa có tự do tư tưởng vừa chan hòa tình người, trong đó nhân phẩm phải được đề cao và quyền làm người phải được tôn trọng.

Dĩ nhiên độc giả cũng sẽ tìm thấy ở đây, trong cuốn sách này, những ghi nhận linh tinh, có khi  hạn hẹp qua công việc của người viết ở một thời đã qua.

Điều này dễ hiểu, vì một cá nhân không thể bao gồm mọi chuyện, mọi thứ.

Tuy nhiên, nếu đem tổng hợp với những nỗ lực ghi chép của nhiều người khác, ta sẽ thấy hiện ra cả một nền văn hóa dồi dào và phong phú rất đáng trân trọng và xứng đáng để khuyến khích các thế hệ đi sau gìn giữ và phát triển.

Ý hướng của những tập sách này là như vậy, mong sẽ làm sáng tỏ được những thắc mắc nếu nó được đặt ra.

Và xin mời bạn đọc đi vào một cuộc hành trình chữ nghĩa, tuy chỉ là hành trình của một người viết nhưng ắt cũng phản ánh được đôi ba hình bóng của một thời mà chúng ta đã từng sống, từng trải qua và luôn luôn ước mong nó được gìn giữ và phát triển tốt đẹp hơn.

Garden Grove ngày 8 tháng 10-2012
NHẬT TIẾN



Phần Thứ Nhất

Hà Nội- Thời Hoa Niên


Thời điểm : Hà Nội 1944-1954

Tuổi Thơ thế hệ chúng tôi….

 

Thế hệ của tôi là những người sinh ra trong khoảng gần giữa thập niên 30 của thế kỷ trước. Nghĩa là khi Đệ Nhị Thế Chiến xẩy ra (1939-1945)  thì chúng tôi cũng đã đủ trí khôn để có thể ghi gói trong đầu vài kỷ niệm của thời kỳ ấy.

Như tôi còn nhớ năm 1944, bóng đèn nhà nào cũng đều phải chụp cái abat-jour, tức cái chụp đèn để che bớt ánh sáng cho phi cơ Đồng Minh "khỏi nhìn thấy" ! Hầu hết mọi nhà đều thấy có đào riêng một cái hầm trú ẩn.

Ở nhà tôi, cái hầm này được đào ngay giữa phòng ngủ, nắp che là tấm "ghế ngựa" tức những tấm phản bằng gỗ lớn được ghép lại làm giường nằm. Khi có còi báo động thì mọi người trong nhà choàng dậy, khỏi chạy ra ngoài, cứ lục tục kéo nhau rút xuống hầm mà thật ra nó cũng chẳng kiên cố gì mấy ngoài sự đem lại cho mọi người cái cảm giác được an toàn. Đã thế, tuy vách và sàn hầm đã được trát vữa hẳn hoi, nhưng chỉ là loại vữa chứa xi-măng thì ít, cát trộn thêm thì nhiều nên nước ngầm phía dưới cứ rỉ vào hầm khiến có khi xuống hầm cứ phải lội nước lõng bõng. Ấy là thường xuyên, cứ vài ngày cả nhà đã phải xúm lại hì hục múc nước từ hầm rồi chuyển từng xô ra ngoài đem đổ đi.

Vào thời gian Đồng Minh thả bom xuống Hà Nội dữ dội hơn thì nhiều nhà nhát gan đã phải mang cơm nắm muối vừng để "chạy loạn", sáng đi, chiều tối quay về. Thường thì chúng tôi vào đóng đô trong Văn Miếu, tức Quốc Tử Giám mà chung quanh đã đào sẵn rất nhiều "tăng sê" (tranchée) tức hầm trú ẩn. Rồi có lúc lại nghe đồn ngay giữa thủ đô thì dễ bị ăn bom hơn là ngoại thành, thế là mọi gia đình lại kéo nhau hàng đoàn đi xuống Ô Kim Mã,  leo qua Núi Bò để vào đền Voi Phục, gần Ô Cầu Giấy bây giờ. Núi Bò thật ra chỉ còn là một cái đồi vẹt, dốc thoai thoải, ở đó có vài  lò sản xuất  kẹo Bột và kẹo Vừng mà bọn trẻ tụi tôi rất mê, nhất là mê cái mùi thơm của đường bốc ra ngào ngạt cả một vùng quanh đó!

Đền Voi Phục là một khu đất rộng, cây cối um tùm, có nhiều khoảng trống riêng biệt ẩn dưới những tàn cây xum xuê , nhiều bóng mát. Thế mà dưới những cái tàn cây lý tưởng đó, nhiều chú Ba Tầu đã bầy ra những bàn mạt chược để sát phạt nhau từ sáng đến chiều. Họ ăn uống nhồm nhoàm, cười nói toàn tiếng Tầu om sòm tíu tít trong những tiếng xoa bài kêu lách cách ở khắp mọi chỗ khiến cho cả khu chẳng còn có vẻ gì là nơi chốn để "chạy bom",  "chạy loạn" cả !

Viết ra như vậy để bạn đọc thấy là trí nhớ của tôi, dù đã bị thời gian bào mòn trong hơn ba phần tư thế kỷ, thế mà cũng không đến nỗi bị làm cho phai mờ đi hết. Nhất là cái quả bom Đồng Minh rơi ngay cạnh cái tăng-sê đào sát vách tường Văn Miếu,  nơi gia đình chúng tôi núp lúp xúp ở dưới,  thì tôi khó mà có thể quên được.

Quả bom rớt chỉ cách chúng tôi khoảng hơn chục thước. May mà nó không nổ ! Lúc còi báo động hú lên báo tin chấm dứt cuộc oanh tạc, khi leo lên mặt đất, tôi còn trông thấy nó hình thuôn dài, mầu nhôm trắng xóa, nom  như một con cá khổng lồ nằm ngoan ngoãn trên mặt cỏ. Coi như là một phen hú hồn nhưng bọn nhãi tụi tôi thì sau này lại được dịp kể lể rành rọt khi bất cứ ai hỏi đến.

Thế rồi Thế Chiến chấm dứt và Hà Nội đi vào một chu kỳ rực rỡ đủ thứ mầu cờ của các nước Đồng Minh. Hồi ấy hầu như nhà nào cũng đều treo ở trước cửa một dây dài mang đủ loại cờ, nào cờ Anh, cờ Mỹ, cờ Nga, cờ Pháp, cờ Ấn Độ, có cả cờ  Tầu Tưởng Giới Thạch với ngôi sao 12 cánh nằm ở góc trái trên cùng…. Đó là những nước nằm trong phe "Đồng Minh" chiến thắng trục "Đức-Ý-Nhật". Đó cũng là thời điểm đầu tiên tôi được nhìn  thấy những hàng chữ bằng tiếng Anh viết trên những tấm biểu ngữ, hoặc lên vải, hoặc lên tường ở khắp mọi nơi : "Viet Nam to the Vietnamese !".

Dân Hà Nội bình dân chẳng hiểu ất giáp gì bèn dịch ngay ra thành tiếng Việt và câu dịch này đã phổ biến rất sâu rộng hồi bấy giờ: "Việt Nam to thế, Việt Nam mẹ sề !"

° ° °

Thế rồi đến ngày 19 tháng 8, Hà Nội tràn ngập cờ đỏ sao vàng mà chúng tôi gọi là cờ Việt Minh. Chuyện chính trị diễn tiến thế nào, những âm mưu tiêu diệt người Quốc Gia thâm độc và tàn bạo ra sao, lũ trẻ chúng tôi không hề quan tâm (vả lại biết gì mà quan tâm) nên chỉ thích tham dự những trò chơi mà theo ý chúng tôi  là rất mới mẻ và vui vẻ. Đặc biệt là "trống ếch" của nhi đồng. Tôi không hiểu ai và vì lý do gì đã đặt ra cái tên như thế nhưng thực chất nó chỉ là một dàn trống bao gồm 1 cái trống lớn, hai cái trống con và một cái phèng la. Có thể nói không khu phố nào lại không có một dàn trống như thế do các đoàn viên Nhi Đồng Cứu Quốc  hay Thiếu Niên Tiền Phong tập gõ om sòm suốt ngày để sửa soạn cho những cuộc diễn hành, mít tinh, biểu tình xẩy ra như cơm bữa.

Và trong bầu không khí "vui vẻ, mới mẻ đó", chúng tôi đã tham dự cuộc đánh trận giả bên Hồ Gươm đúng vào dịp tết Trung Thu năm đó. Hai phe Ta và Địch ném nhau bằng vỏ quả bưởi khiến vỏ bưởi trôi lềnh bềnh trắng xóa cả một vùng nước hồ xanh biếc.

Rồi toàn thành phố, khu nào cũng đều tổ chức một bữa cơm gọi là "Cơm Đoàn Kết",  trong đó các nhà ở hai dẫy  phố đều đem bầy bàn ăn ra đường để mọi người ăn chung với nhau một bữa. Thực đơn có món rau muống luộc được đặt tên là "Món Độc Lập", món giá sào là món "Tự Do", món muối vừng  là món "Hạnh Phúc". Ối chà chà, lòng người dân Hà Nội vào thời điểm đó, ai cũng hân hoan, phấn khích và ai cũng đều tưởng như mình đang được ôm cả mớ Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc vào lòng.

Đó là lý do mà Tuần Lễ Vàng ( khởi sự từ ngày 16-9 chấm dứt ngày 23-9-1945 ) khi phát động đã được dân chúng hưởng ứng nhiệt liệt. Nhiều thương gia, kỹ nghệ gia, công tư chức, thậm chí đến cả những người bán rong hay những bà nội trợ cũng đều sốt sắng dốc ống, tháo đồ trang sức đang đeo để hưởng ứng cuộc quyên góp mà theo ước lượng của Bộ Tài Chính hồi đó, chính phủ đã thu được khoảng 370 kilô vàng và 20 triệu tiền Đông Dương mà tính theo thời giá bây giờ thì 20 triệu này cũng phải tương đương với trên 60 triệu đô la.

Còn thanh niên nam nữ thì lòng yêu nước lại càng bùng lên sôi nổi. Họ đã nhất tề tham gia một cách nồng nhiệt vào những tổ chức quân sự như Vệ Quốc Quân, Công an  Xung Phong, Tự vệ Thành. Sau này, các lực lượng đó khi rút ra khỏi Hà Nội thì trở thành Trung đoàn Thủ Đô, một danh xưng mà khi nhắc đến, lòng ai cũng đều ngưỡng mộ vì những chiến công cũng như vì những tấm gương tiết liệt thà chết để bảo vệ Tổ quốc khi cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ vào tháng 12-1946.

Riêng bọn nhỏ chúng tôi thì hầu như đã được âm nhạc thổi vào tâm hồn bầu không khí hào hùng của lịch sử dân tộc qua những bài hát mà chúng tôi nghêu ngao suốt thời thơ ấu như những bài Anh Hùng Xưa, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hội Nghị Diên Hồng, Thăng Long Hành Khúc, Trưng Nữ Vương, Việt Nam Hùng Tiến….và còn biết bao nhiêu bài khác nữa.

Cho đến khi khôn lớn hơn chút nữa thì  những gương anh hùng tiết liệt nhiều khi còn như ở ngay trước mắt như Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái, Phó Đức Chính, Cô Giang, Cô Bắc..v….v…tất cả hầu như đã là những cái nôi êm đềm bảo bọc và gây dựng cho  thế hệ chúng tôi tình yêu quê hương, đất nước .

Nhắc lại cả một giai đoạn sôi nổi, ồn ào, hăng say, nồng nhiệt của thời điểm này tôi muốn nói lên một điều rằng : Cuộc kháng chiến chống Pháp có toàn thể mọi người tham gia, là do động cơ của lòng yêu nước cũng như do truyền thống chống xâm lăng của dân tộc chứ chẳng phải vì mọi người đã được "dạy dỗ " như guồng máy tuyên truyền của nhà nước CSVN rỉ rả trong suốt hơn 60 năm qua :

"Bác Hồ và Đảng ta cũng đã thể hiện tấm gương hết lòng vì nước, vì dân nên nhân dân ta đã có niềm tin vững chắc vào lãnh tụ kính yêu, vào Đảng mới nhất tề đứng lên quyết chiến như vậy."

Không ! Năm 1946, nhân dân Việt Nam bao gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, từ Tư bản cho đến Tiểu Tư sản, từ trí thức, trung lưu, lao động nơi thành phố cho đến địa chủ, phú hào, nông dân nơi đồng quê….v.v. toàn quốc nhất tề đứng vào hàng ngũ kháng chiến là do lòng yêu nước xuất phát từ tình tự dân tộc, từ truyền thống chống thực dân Pháp thời Văn Thân, Đề Thám, Nguyễn Thái Học cùng nhiều phong trào yêu nước khác, chứ chẳng vì Đảng Cộng Sản như sách báo trong nước vẫn thường kể công như thế.

Nhưng đó là chuyện đã thuộc vào lịch sử. Tôi không muốn những trang thuần túy nói về thuở đầu đời này của thế hệ chúng tôi lại sa vào chuyện biện bạch một sự thật vốn đã được làm sáng tỏ từ lâu trong lịch sử.

° ° °

Cuộc Kháng chiến toàn quốc nổ ra vào đúng 8 giờ tối hôm 19-12-1946 .

Trước đó, dân Hà Nội đã tản cư hết ra các làng quê lân cận.

Gia đình tôi cũng rời Hà Nội khá sớm sủa, vào khoảng gần cuối năm 1946, nhưng rồi cũng hồi cư khá sớm sủa, vào khoảng giữa năm 1947, tức rời Hà Nội để "chạy tản cư" mới chỉ trong vòng hơn 6 tháng.

Ấy thế mà trong 6 cái tháng nổi trôi ấy, tôi cũng đã đi qua biết bao nhiêu địa danh của vùng trung du Bắc Việt : Nào ở làng làng Vân Canh ít tháng thì di chuyển tới vùng rồi Sấu  Giá, rồi lội qua sông Đào đi về làng Trúc Động, rồi lên Đất Đỏ, rồi ngồi thuyền đi ngược sông Hồng qua cầu Trò, Sơn Tây, Việt Trì rồi lết bộ qua những vùng thuộc huyện Thạch Thất để vào tỉnh Hưng Hóa, rồi cũng lại đi bộ từ Hưng Hóa tới bến Trung Hà để qua phà sang thị xã Phú Thọ…Đám người gồng gánh, bồng bế nhau đi như thế hầu hết là dân Hà Nội. Nhưng rồi đi đâu, làm gì cuộc sống sẽ ra sao…chẳng một ai có thể trả lời. Tiền ăn đường, tiền dự trữ để sinh sống…tất cả chỉ trông vào ít chỉ vàng, nhẫn, xuyến hay thậm chí cả những thúng đồ đồng, đồ bát sứ, bát mẫu quý giá gồng gánh mang đi từ Hà Nội cứ ngả ra bán dần trên đường ‘chạy loạn";

Đám đồng hành tản cư với chúng tôi ấy, tưởng sẽ còn lếch thếch dắt díu nhau đi xa lên mạn ngược hơn nữa, nhưng nào ngờ đã phải rã đám ngay tại thị xã Phú Thọ sau một cuộc dội bom của Pháp xuống thành phố này vào chỉ đúng một hôm sau khi tất cả chúng tôi đặt chân tới.

Bị trúng bom tan nát, chúng tôi đã bỏ cuộc hành trình dự tính đi Thái Nguyên, Tuyên Quang mà quay ngược đường trở lại, sau khi đã cử hành một đám tang tập thể trong đó có 18 gia đình đi theo sau 18 cái  xe bò chở những quan tài của các nạn nhân trong cuộc dội bom vừa rồi.

° ° °

Hà Nội - năm 1947, ngày tôi trở lại – hãy còn nhiều chỗ chỉ có tàn than và những cái cột nhà cháy. Mọi người lớn di chuyển đều phải xài loại giấy tùy thân do Pháp cấp, gọi là giấy Laissez- Passer. Lính Pháp da đen, người Phi châu đầy nhan nhản. Họ đứng gác ở các công sở, họ kiểm tra giấy tờ ra vào thành phố ở các cửa Ô.

Hà Nội như con bệnh vừa hồi sinh hãy còn thoi thóp thở và tất nhiên là vắng người.

Nhưng chỉ hơn một năm sau, mọi sự được phục hồi nhanh chóng. Tiếng xe điện leng keng đã bắt đầu rộn rã. Người hồi cư trở về buôn bán tấp nập. Và nhiều trường học đã mở cửa lại. Chỉ trong vòng 5 năm sau đó, cho đến 1952, 1953 thì mọi sinh hoạt đã trở lại bình thường.

Hà Nội đã xuất hiện nhiều tiệm sách với khung cửa kính sáng choang, bên trong bầy đầy ắp sách báo mới ra chen giữa những văn phòng phẩm đủ các loại, thứ nào thứ nấy mới toanh và đầy sức quyến rũ, như tập vở học sinh in hình Shirley Temple, bút máy Kaolo vỏ ngoài là bút máy nhưng bên trong thì chỉ cắm ngòi bút phải chấm mực. Loại bút máy thứ thiệt như Wearever, Pilot, Chatodo thì phải mãi sau này, khoảng năm 1952, 1953 mới thấy có.

Tuy nhiên, điều mà chúng tôi say mê nhất, không phải là những thứ văn phòng phẩm đắt tiền dù chúng tôi cũng chẳng bao giờ ước ao, mà chính là những sách mới ra vào thời kỳ đó.  Đó là những tác phẩm của các nhà văn đương thời như Ngọc Giao với Quán Gió, Cầu Sương, Hà Bỉnh Trung với Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình, Triều Đẩu với Trên Vỉa Hè Hà Nội, Hồ Hữu Tường với Thu Hương, Chị Tập, Phi Lạc Sang Tầu, Mộng Sơn với Vượt Cạn, Linh Bảo với Gió Bấc, Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, Trại Tân Bồi, Sao Mai với Nhìn Xuống….và còn nhiều tác giả khác nữa như Văn Thuật, Thy Thy Tống Ngọc, Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam, Huy Sơn, Thế Phong…v..v…

° ° °

Trong bầu không khí thấm đẫm tính chất văn học nghệ thuật của thế hệ đàn anh như vậy, bọn trẻ chúng tôi như bị cuốn hút vào lãnh vực sáng tác. Có đứa làm thơ, có đứa viết tùy bút, lại viết cả truyện ngắn hay truyện dài. Những "mầm non" ấy sau này đơm hoa kết trái, tạo nên một lớp cầm bút kế thừa theo đúng tính chất "Tre già, măng mọc".

Phải nói rằng sinh hoạt văn nghệ của giới trẻ hồi đầu thập niên 50 ở Hà Nội là rất sôi nổi.  Có thể kể Hiệp Nhân, học sinh lớp đệ Tam tự in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc mà thầy Nguyễn Uyển Diễm, giáo sư môn Văn đệ Nhị Cấp đã đem giới thiệu trước nhiều lớp mà thầy đang giảng dạy. Rồi Lê Ninh ra giai phẩm Lửa Lựu; Nguyễn Nam Tê vừa đạp xích lô, vừa làm thơ để ra tập Tin Về Đất Bắc; Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; Song Hồ, Kiều Liên Sơn, Song Nhất Nữ (bút hiệu của anh Đặng Bá Ngư), Hồ My, Tạ Vũ v.v… đều có thơ, truyện  in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp… ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại, Đời Mới ở… Sài Gòn.

Nếu kể về kỷ niệm riêng tư với những nhân vật này thì tôi phải nhắc tới một người bạn rất thân thiết hồi đó là anh Nguyễn Đức Cầu, sau này nổi tiếng với bút hiệu Hùng Phong.

Vào khoảng 1950 - 1951, nhà của Nguyễn Đức Cầu ở phố Hàng Than, còn nhà tôi thì ở dốc Hàng Kèn (góc phố Nhà Chung và Tràng Thi bây giờ). Khi đó phố hàng Kèn còn mang tên là Rue Jaureguiberry, mà thật tình tôi không biết và cũng chẳng cần biết cái ông Tây này là ông nào. Về sau, tên phố được đổi ra là phố Quang Trung, và giữ mãi cho tới tận bây giờ.

Hai đứa chúng tôi quen nhau từ hồi còn theo học lớp Nhất ở trường Hàng Vôi mà tên gọi chính thức là "Trường nam tiểu học Nguyễn Du. ". Ngôi trường này ở gần hồ tắm công cộng dành cho con nít thường gọi là Ấu Trĩ Viên, nơi chúng tôi cũng thường hay bơi lội ở đó. Ấu Trĩ Viên nay thì không còn, nhưng ngôi trường hàng Vôi thì trải trên nửa thế kỷ nó vẫn còn gần y nguyên như vậy, trừ mấy cây bàng ngoài sân đã bị chặt đi, và một khoảng đất trống trong sân cũng đã được xây thêm lớp học.

Thỉnh thoảng Cầu hay đạp chiếc xe sơn mầu xanh rêu, một bên tay lái đã bị gẫy hẳn, và anh chỉ lái xe bằng có mỗi một tay. Anh đến chơi với tôi, nói chuyện văn nghệ và không khi nào quên mang theo cây đàn Banjo để gẩy nhiều bản nhạc vừa mới xuất hiện trên thị truờng cho tôi nghe. Tiếng đàn của Cầu nghe rất giòn giã, những lúc Cầu "vê’ nhiều dây vào những đoạn cần láy dài, mọi người trong nhà dù đang làm gì thì cũng lắng hết tai để nghe. Mà  "người trong nhà " ở đây đâu phải chỉ có một gia đình. Căn gác của nhà tôi ở có tất cả 4 phòng thì 4 gia đình đã thuê chung.

Phía trước, ngon lành nhất, có balcon nhìn xuống đường là nơi gia đình của một ông Thiếu Úy nhẩy dù cư ngụ (khi đó binh chủng Nhẩy Dù hình như vẫn còn thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp vì lon Thiếu Úy của ông này đeo trên cầu vai có một vạch vàng).

Phòng bên cạnh là nhà của một bà giáo đã góa chồng, có một đứa con trai bằng tuổi tôi. Bà giáo này rất quý tôi, có nhiều buổi , bà gọi tôi vô để đọc dictée tức là chính tả bằng tiếng Pháp cho tôi viết. Mỗi lần viết xong, tất nhiên là đìa lỗi (fautes), bao giờ bà cũng kiên nhẫn giảng giải từng chữ cho tôi nghe. Nhiều khi tôi cứ phải chống chế vì cái dốt của mình :

-  Bây giờ chúng cháu đã đổi qua chương trình Việt, mỗi tuần chỉ học có 4 giờ Pháp văn thôi. Mọi thứ ngày xưa như Écriture, Leçon de Choses, Travail Manuel……nay hóa thành Tập viết, Cách trí, Thủ công…hết rồi.

Bà giáo ngước đôi mắt qua những tròng kính trắng vừa to vừa nặng, và bảo tôi :

- Mấy giờ thì mấy giờ cũng phải cố giữ lấy căn bản để mà đọc hiểu được văn hóa Pháp. Tiếng Pháp là thứ ngôn ngữ có văn phạm minh bạch, rõ ràng, rành mạch nhất thế giới.

Bên cạnh nhà bà giáo là gia đình một ông công chức góa vợ, không biết làm ở sở nào, nhưng cô con gái cưng độc nhất của ông thì vô cùng xí xọn, nói tiếng Pháp như đầm, rõ ra là dân trường Tây. Tất nhiên lũ học trò cà mèng chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lân la để léng phéng.

Kể lể như vậy để thấy căn nhà tôi đang ở cũng chỉ coi như một đơn vị đi share phòng.  Cho nên tiếng đàn của Cầu mà cất lên là ai cũng có thể nghe thấy, thậm chí kể cả những nhà khác đang cư ngụ ở dưới tầng một.

Ngoài tài gẩy đàn, Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu năm ấy mới là cậu học trò lớp đệ Lục (năm thứ hai bậc trung học) mà đã là tác giả của một phóng sự dài nhiều kỳ lấy tên là Con Cò Mày Đi Ăn Đêm (viết về những đường dây buôn lậu từ hậu phương vào thành) trên tờ nhật báo Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên. Tôi thật tình không hiểu cái anh chàng Cầu ấy, người nhỏ thó, tóc húi cua, miệng luôn tươi cười và hay cười thành tiếng "‘hề ..hề" ấy làm cách nào mà lại có thể là viết được một thiên hồi ký "động trời" như thế.

Đã thế, ngoài việc viết phóng sự cho báo hàng ngày, Hùng Phong còn tự viết, tự thuê in, và tự phát hành một tờ tuần báo thiếu nhi khổ nhỏ, cỡ 32 trang nhưng chỉ in đen trắng mà không có mầu. Dẫu vậy, thật cũng không thể ngờ được sức làm việc và cái đầu nhiều sáng kiến và tham vọng của anh. Chỉ tiếc là tờ báo đã chết yểu ngay sau vài số vì một cậu học trò đơn thương độc mã lại ít tiền như anh làm sao có thể cạnh tranh được với những tờ báo chuyên nghiệp hơn như tờ Ngày Xanh của nhà văn Anh Hợp hay tờ Tuổi Ngọc của hoạ sĩ Thy Thy Tống Ngọc đã ra trước đó nhiều năm và rất được giới học trò ưa chuộng.

Sự thất bại của Cầu trong việc ra báo thiếu nhi, vì lý do tế nhị tôi cũng không muốn hỏi rõ ngọn ngành. Chỉ biết, hằng ngày, tôi vẫn cuốc bộ ra đầu phố Hàng Trống gần Hồ Gươm, nơi có tờ báo Liên Hiệp được treo trên một cái giá ngay trước cửa toà soạn để ai không có tiền mua báo đều có thể đọc ... chùa và tôi đã say mê theo dõi thiên phóng sự của Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu tại đó.

Việc treo báo ở cửa toà soạn cho ai cũng được đọc, không phải chỉ là sáng kiến của riêng báo Liên Hiệp mà hầu hết các báo lớn ở Hà Nội trong thời kỳ đó như các tờ Giang Sơn, Tia Sáng, Chánh Đạo, Công Tội, Thanh Niên ...v..v...đều có mỹ tục này.

Ngoài ra, Sở Thông Tin của thành phố cũng dựng một dãy các bảng treo nhật báo ở ngay trước cửa Rạp Philharmonique nhìn qua Cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Nay cái rạp này đã trở thành nơi thường trực trình diễn môn Múa Rối Nước, hầu hết là du khách ngoại quốc vào xem.

Ngay bên cạnh rạp Philharmonique là Nhà Thông Tin Đô Thành. Đây là căn nhà một tầng chỉ có một phòng rất rộng, đặt trên nền cao, khi vô phải bước lên nhiều bậc thềm. Vừa thoạt bước lên bậc thềm chót, nhìn vô trong là người ta đã thấy ngay hai bức chân dung đen trắng, khổ rất lớn, mặt kính nhìn ra ngoài của Nam Phương Hoàng Hậu và Hoàng đế Bảo Đại treo kế bên nhau. Trong hình, bà  Nam Phương còn đội khăn hoàng hậu, bận áo gấm thêu, chứ Hoàng Đế thì nay đã tây hóa hoàn toàn. Ngài bận áo veste, đeo cà-vạt, mặt mũi phương phi, nom bệ vệ như một chính khách ngoại quốc chứ  không ra vẻ một ông vua chút nào. Ấy vậy mà chỉ trước đó vài năm, tức năm 1949, nhiều học sinh ở  bậc tiểu học đã phải tập trung đi phất cờ tiếp rước "Hoàng Đế hồi loan" và mỗi đứa tham dự đã được thưởng 2 đồng coi như tiền ăn bánh, uống nước!

Ở giữa Phòng Thông Tin là một cái bàn hết sức rộng, có ghế dài bao quanh, có thể ngồi luôn một lúc dễ tới ba, bốn chục người. Trên mặt bàn thì ôi thôi, có đủ thứ nhật báo, từ Nam chí Bắc. Chính từ chỗ này mà lũ học trò chúng tôi được biết, được đọc nhiều tờ nhật báo xuất bản ở Sài Gòn như Thần Chung, Tiếng Dội, Tin Điển, Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới ….với những tên tuổi các nhà văn quen thuộc lẫy lừng như Phú Đức, Bà Tùng Long, Dương Hà, Hồ Biểu Chánh, Tô Nguyệt Đình, Phi Vân, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Ngọc Sơn…đặc biệt là Hồ Hữu Tường với tờ báo Phương Đông tung ra chủ trương "Trung Lập Chế" (1953) mà lũ học sinh trung học Đệ Nhị Cấp chúng tôi đặc biệt theo dõi sau khi đã từng say mê những tác phẩm đã in thành sách của ông như Thu Hương, Chị Tập, Phi Lạc Sang Tầu…v..v…

Bên cạnh những nhật báo quen thuộc bầy trên bàn cho độc giả ngồi coi thoải mái, báo trong Nam thì như đã kể ở trên, còn báo Hà Nội thì có những tờ như Công Tội, Giang Sơn, Liên Hiệp, Tia Sáng, Chánh Đạo, Ngày Mai, Dân Chủ, Tiếng Dân….hay những tờ ra hàng tuần như Cải Tạo, Hồ Gươm, …lại còn những tủ kệ bầy chung quanh tường, trong có những tạp chí văn hóa, văn nghệ như Thế Kỷ, Quê Hương, Thời Tập, Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Đời Mới …hoặc những tờ báo dành cho trẻ em như Ngày Xanh (của nhà văn Anh Hợp), Tuổi Ngọc (của họa sĩ Thy Thy Tống Ngọc), một số tờ  rập theo khuôn của những tờ báo của thời tiền chiến như Cậu Ấm, Trẻ Em, Truyền Bá, Nhi Đồng Họa Bản , nhưng sau sống không nổi, đã im lìm đóng cửa.

Trong cả "rừng" báo chí đọc miễn phí như thế, tất nhiên là chúng tôi mê tơi theo dõi đủ mọi loại tin tức từ Nam chí Bắc, nhưng bao giờ chúng tôi cũng chú ý tới những truyện ngắn, truyện dài in từng kỳ trên các trang báo như Dao Bay, Người Nhạn Trắng, Lệ Hằng Phục Thù, Ngày Xuân La Bích Vân, Độc Nhỡn Kiếm..v…v..hay những tiểu thuyết in trên báo trong Nam như Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Châu Về Hiệp Phố của Phú Đức, Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh….v..v…tuy nhiên tôi vẫn thích tác giả Ngọc Sơn hơn với cuốn Hồng và Cúc chẳng hạn, vì lối viết mới mẻ hơn, kết cấu câu truyện cũng ‘đời thường" hơn so với nhiều tác phẩm của thời đó. Một số nhà văn theo kháng chiến ở trong Nam như Vũ Anh Khanh với Nửa Bồ Xương Khô, Lý văn Sâm với Kòn-Trô, Xin Đắp Mặt Tôi Mảnh Lụa Hồng, hay Thẩm Thệ Hà với Vó Ngựa Cầu Thu….lũ chúng tôi cũng là những độc giả theo dõi rất sát các tác giả này.

Riêng trong lãnh vực văn nghệ , thì hầu như chúng tôi chú trọng tới nhất là tờ Đời Mới !

Đây là một tạp chí ra hằng tuần, khuôn khổ giống như tờ Newsweek bây giờ. Bìa giấy trắng láng, in hai mầu đen và đỏ và không bao giờ đi ra ngoài 2 mầu này. Chủ Nhiệm báo Đời Mới khoảng giữa thập niên 50 là ông Trần văn Ân, Chủ bút là Hà Việt Phương, một bút hiệu của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh thuộc khuynh hướng Đệ Tứ,  và cũng là thân phụ của nhà báo Duy Sinh sau này. Tổng Thư ký tòa soạn báo Đời Mới là ông Tế Xuyên có người phụ tá đắc lực là kịch tác gia Minh Đăng Khánh, mà thật không ngờ, sau khi di cư vào Nam, tôi được Minh Đăng Khánh coi như một trong những người bạn thân thiết của ông.

Phải nói là bọn "làm văn nghệ lau nhau" chúng tôi mê nhất là tờ Đời Mới. Hễ anh nào có bài được in trên Đời Mới, dù chỉ là một bài thơ ngắn ngủi thì cũng đã được nhìn với ánh mắt kiêng nể, như là một thi sĩ thứ thiệt,  "có tác phẩm in trên Đời Mới" hẳn hoi !

Một trong những người có thơ in trên Đời Mới là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm, học sinh lớp Đệ Tam trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, ngôi trường tọa lạc ở ngay gần phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội. Năm ấy (1952) Nguyễn Thanh Đạm đã lấy bút hiệu là Song Hồ, thường ngồi chổng mông, chui vào cái quầy  kính của một cửa tiệm sửa  đồng hồ để làm thơ. Trời thì nóng, không gian thì chật hẹp (anh vừa đi học, vừa đi làm) thế mà trong thơ có khi cũng thấy có hình ảnh của sông Seine, của Vườn Lục Xâm Bảo, trời lại có tuyết bay để có cớ ký ở dưới bài thơ là "Paris, ngày…" ra cái điều mình là một thi nhân lãng tử, lang thang trên khắp mặt địa cầu. Ấy vậy mà lũ chúng tôi không lấy làm kỳ, trái lại còn phục lăn ra nữa !

Sau này, Song Hồ có nhiều tác phẩm như Hai Cánh Hoa Tim (Huyền Trân 1969), Thơ Song Hồ ( Khai Trí- 1964), Đá và Hoa (Hướng Dương-Hoa Kỳ1992), Rock and Flower ( bản dịch Anh ngữ cuốn Đá và Hoa do tác giả dịch và tự xuất bản 1998).

Điều rất đáng tiếc là ông đã  soạn xong cuốn "Việt Nam Mãi Mãi" , một tuyển tập gồm toàn Ca dao, Thơ và Hình ảnh do Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm chụp. Bộ sách dầy tới 1.400 trang, do nhà sách Khai Trí sửa soạn in năm 1975 thì miền Nam sụp đổ và bản thảo bị thất lạc không biết đi đâu, về đâu.  Ngoài ra , ông còn  có tập Thơ "Đám Cháy Trên Địa Cầu" gồm 1.600 câu Thơ (không được phép in năm 1973), và cuốn "Văn Học và Đời Sống" một  tiểu luận văn học. Hai cuốn này đều còn ở dạng bản thảo cũng đã đều bị CS  tịch thu và thiêu hủy hết.

Nhớ đến  bạn bè xưa cũ, tôi không thể không nhắc tới  Vũ Khắc Mai Anh,  cũng là một tay viết tiểu thuyết dài xuất sắc nhất trong bọn trẻ yêu văn nghệ chúng tôi.

Vũ Khắc Mai Anh nhà ở phố Hàng Đồng, năm 1952 mới chỉ là học sinh lớp đệ Ngũ của trường Chu văn An.  Thế nhưng, sức viết của Mai Anh thì lại rất khỏe. Anh chuyên xài loại giấp thệp, khổ lớn có kẻ dòng để viết văn. Trong cặp-táp của anh, lúc nào cũng có từng xấp truyện đang viết giở, chữ nhỏ li ti, chỉ cần liếc qua cũng đã thấy mất vía vì số lượng chữ mà anh sản xuất mỗi ngày. Vào thời điểm ấy, Mai Anh đang có truyện dài Duyên Kiếp in từng kỳ trên báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Thạch. Rồi nhà xuất bản Chính Ký ở phố Sinh Từ đã in cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, cuốn Phũ Phàng mà tôi còn nhớ cái bìa in litho đủ mầu, trên vẽ một chàng trai đang ngồi rầu rầu trước ngôi mộ của một thiếu nữ vừa sớm qua đời. Mấy cây nhang cắm cạnh bia mộ tỏa khói bay lên lững lờ, tản mạn như càng khiến cho cảnh trí thêm …phũ phàng ! Cuốn truyện này của Mai Anh tuy là tác phẩm đầu tay nhưng bán rất chạy, đã gây xôn xao rất nhiều trong đám bạn bè văn nghệ chập chững của chúng tôi lúc bấy giờ. Đã thế, trong cái cặp-táp căng phồng, sách thì ít, bản thảo thì nhiều, Vũ Khắc Mai Anh còn cho biết anh đang viết tiếp một cuốn nữa !

° ° °

Phải nói là tuy Hà Nội ở vào cái thời bị mệnh danh là "vùng tạm chiếm" và tiếng súng của cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn chưa ngưng nghỉ, nhưng bầu không khí sinh hoạt văn nghệ của thời kỳ đó vẫn âm thầm mà phong phú và đa diện mà nghiêm túc, vẫn thật  xứng với danh nghĩa là Thăng Long Ngàn Năm Văn Vật.

Tất nhiên, một câu hỏi cũng rất đáng nêu ra là vào thời kỳ đó, bọn học sinh chúng tôi đa số đã nghĩ gì về cuộc chiến vẫn đang xẩy ra ? Ý thức chính trị của họ khi đó ra sao ?

Dầu sao thì những nhận xét của tôi nêu ra dưới đây cũng chỉ là ý kiến cá nhân và có tính chất hết sức tổng quát. Tuy nhiên tôi vẫn muốn đề cập tới để góp phần soi lại quá khứ, bởi nếu nhiều người khác cũng góp phần viết lại với những nhận định dồi dào, phong phú khác thì chân dung của thế hệ trẻ vào thập niên 50 thế kỷ trước cũng sẽ được làm cho rõ nét hơn.

Cho nên, về mặt tâm tưởng và ý thức chính trị, tôi nhận thấy đa số bọn trẻ chúng tôi hồi đó, dù đã "dinh tê" (entrer = vào) vào Thành , tức bỏ vùng hậu phương để hồi cư về Hà Nội,  nhưng hầu như những ấn tượng sâu xa của  những ngày Mùa Thu Tháng Tám 1945 chưa bị phai nhòa. Kháng chiến là để chống thực dân Pháp. Điều này dĩ nhiên là ai cũng ủng hộ và hoan nghênh. Vì vậy hiển nhiên là đa số học sinh Hà Nội vào khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước thường có đầu óc thiên về hậu phương hơn.

Chẳng thế mà trường Chu văn An (khi đó còn tọa lạc ở phố Hàng Bài, chưa dời lên phố hàng Than để nhường chỗ cho trường Nguyễn Trãi mới thành lập) cứ thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải trắng xóa sân trường và việc học sinh bãi khóa, nghỉ học thì cứ xẩy ra xoành xoạch. Tất nhiên hành động bãi khóa này, chủ chốt thì ít (do Ủy Ban Học Sinh Kháng Chiến Đô Thành xách động) nhưng "a dua’ thì nhiều. Vừa vui vừa được nghỉ học, ai chả thích, chứ hầu như không mấy ai đặt ý nghĩa chính trị vào những dịp bãi khóa đó, ngoài sự có cảm tình với kháng chiến như đã nói ở trên.

Cho đến năm 1953 thì tình hình có đổi khác khi những tin về các cuộc phát động đấu tố bắt đầu, tạo thành dư luận tại Hà Thành mà điển hình gây sôi nổi nhất là vụ bà Cát Thành Long, một người đóng góp rất nhiều công của cho Kháng Chiến đã bị đem ra xử bắn coi như bị làm dê tế thần mở màn cho một phong trào đấu tố phá nát đồng quê kể cả sự hủy diệt tình nghĩa giữa những bà con trong xóm làng.

Bọn trẻ chúng tôi bắt đầu quan tâm đến vấn đề Cộng sản khởi đi từ những chuyện đấu tố đó. Nhưng mới chỉ coi là "quan tâm " đến thôi, chứ ý thức "chống Cộng" trong đa phần lũ chúng tôi hồi đó dường như vẫn còn rất mờ nhạt, mãi cho đến lúc dân Bắc ồ ạt di cư vào Nam.

Cuộc di cư vĩ đại này không phải chỉ là một tình cờ của lịch sử. Biết bao nhiêu con người cùng với gia đình hay thân nhân của dân phải bỏ nhà bỏ cửa mà đi, vốn đã phải trả bằng xương máu cho những cuộc đấu tố kể trên, mở đầu cho thời kỳ công khai dẫn dắt đất nước đi theo chế độ Cộng Sản mà ông Hồ và các đồng chí của ông có dã tâm muốn thực hiện.

Một triệu người đã vượt thoát ra đi, trong đó cũng có một số rất đông bọn trẻ chúng tôi mà tôi có thể kể ra như Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu, như Nguyễn đình Toàn, như Cung Thúc Tiến, như Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm và những Huy Sơn, Thế Phong, Vũ Mai Anh, Dương Vy Long, Hồ Nam tức Lê Nguyên Ngư…v..v....

Có thể nói, thời gian đầu khi mới di cư vào Nam, bọn trẻ chúng tôi có đời sống không dễ dàng gì. Một số tiếp tục nốt bậc trung học nhờ gia đình khá giả, còn đa phần thì nằm ép rệp sống qua ngày hoặc bỏ đi tứ tán khắp mọi nơi.

Cũng đã có một thời gian, dễ cả hàng năm, một nhóm nhỏ chúng tôi trong đó có cả Nguyễn đình Toàn, Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm sống túm tụm với nhau dưới mái lá tồi tàn và thấp tịt ở Xóm Gà bên Gia Định.

Nguyễn đình Toàn bắt đầu sáng tác Nhạc và làm Thơ ở thời gian này. Anh hay ôm cây đàn guitar Espagnol vừa đàn vừa hát nghêu ngao. Rồi Toàn cũng viết truyện trên những trang bản thảo sử dụng mặt sau của những bản tin cũ của Việt Nam Thông Tấn Xã thường được bán cho những hàng ve chai làm giấy gói đồ. Hồi đó, Toàn ký bút hiệu là  Tô Hà Vân. Cái tên Nguyễn đình Toàn chỉ xuất hiện khi in cuốn Chị Em Hải, tác phẩm đầu tay do Cơ sở Báo chí và Ấn loát Tự Do xuất bản. Cuốn này đã nổi tiếng ngay và độc giả không ai còn biết đến cái tên Tô Hà Vân nữa.

Một thời gian sau, Song Hồ theo đại tá Hồ Hán Sơn đi Tây Ninh làm đài phát thanh cho Phật giáo Hòa Hảo. Được một năm, anh trở lại Sài Gòn đi dạy học. Đây cũng là thời gian mà học giả Hoàng văn Chí cho in " Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" , một tác phẩm "mở mắt" cho chúng tôi biết thêm thế nào là tính cách "toàn trị" của chế độ miền Bắc cũng như số phận đau thương của những văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

Kể từ năm 1954, sau hơn bốn năm bị hoàn toàn xa lìa mọi thứ tin tức của miền Bắc, tác phẩm " Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" kể trên đã được hầu hết giới văn nghệ ở miền Nam đón nhận nồng nhiệt, hầu như ai cũng đọc, ai cũng có thể ghi gói một đôi điều để kể lại về biến cố văn học này. Hơn thế nữa, nhiều đoạn thơ, văn của văn nghệ sĩ miền Bắc tham gia phong trào này cũng đã được giới văn nghệ trẻ chúng tôi thời đó truyền tụng, nhắc nhở, và trong lòng mỗi người không khỏi dấy lên nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa, có khi cả căm giận.

Trong số những tác giả của phong trào này, tôi rất thích cụ Phan Khôi với truyện Ông Năm Chuột, trong đó ông nói xéo bọn cán bộ văn công nhà nước là ít học mà cứ nhẩy vô lãnh vực uốn nắn văn chương, tư tưởng:

"Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi".

Sự căm phẫn như được đẩy lên cao hơn khi cuốn sách của Cụ Hoàng văn Chí tiết lộ chi tiết như sau :

Nhân dịp cụ Phan Khôi thượng thọ 70 tuổi, giữa lúc cụ bị Đảng quy vào tội phản động, không một ai dám lai vãng đến chúc thọ, cụ bèn làm một bài thơ trong có 2 câu :

Lên bẩy mươi rồi mẹ nó ơi !

Thọ ta, ta chúc lọ phiền ai.

Thế mà ông Nguyễn Công Hoan, chắc muốn lấy lòng nhà nước nên đã làm bài họa như sau :

Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi

  Thọ mi, mi chúc chớ hòng ai

  Văn Chương ! Đù mẹ thằng cha bạc !

  Tiết tháo ! Tiên sư cái mẽ ngoài

  Lô-dích, trước cam làm kiếp chó

  Nhân Văn, nay lại hít gì voi

  Sống dai thêm tuổi, cho thêm nhục

  Thêm nhục cơm trời, chẳng thấy gai.

 Có thể nói, cái tên Nguyễn Công Hoan trước đây đối với tôi là một thần tượng qua những tác phẩm của ông mà tôi đọc rất nhiều từ khi còn bé, như Lá Ngọc Cành Vàng, Cô Giáo Minh, Kép Tư Bền, Bước Đường Cùng….

Tuy nhiên,  sau bài thơ rất bất nhân này, thần tượng trong tôi hoàn toàn sụp đổ !

Cho nên, dưới mắt tôi, và có thể là với hầu hết anh chị em văn nghệ sĩ miền Nam ở thời điểm cuối thập niên 50, thì những tên tuổi Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Ðạt, Hoàng Cầm... đều là những người cầm bút hào hùng, dũng cảm, khi võ khí trong tay họ chỉ có tâm huyết và ngòi bút mà dám đứng lên đương đầu với cả một guồng máy đang ra sức tiến hành một chế độ toàn trị mệnh danh là "chuyên chính vô sản".

Rồi sau  năm 1956, vì đã không có cuộc Tổng tuyển cử thống nhất đất nước như đã ghi trong Hiệp định Gènvève năm 1954, chúng tôi đã nhận thấy miền Nam đang hình thành một khung trời tự do, hoàn toàn khác miền Bắc, mà chúng tôi có bổn phận phải gìn giữ. Chính tại đây, miền Nam này đã mở rộng vòng tay để tiếp đón cả triệu người từ miền Bắc ùa vô với chan hòa tình cảm. Không có chuyện kỳ thị Bắc, Nam. Không có chuyện chèn ép, phân biệt xuất xứ, nguồn gốc hay thân phận của những kẻ ăn nhờ ở đậu. Tất cả đã quây quần dưới chung một thể chế tự do để cùng nhau xây dựng và hình thành một quốc gia với tên gọi Việt Nam Cộng Hòa.

Nhớ lại năm 1976,  trong cái gọi là "Khóa Bồi Dưỡng Chính trị cho các văn nghệ sĩ", khi phải ra "điển hình" để trả lời động cơ nào đã khiến tôi sáng tác, tôi đã trả lời trước cả khóa học :

" Tôi di cư vào Nam năm 18 tuổi. Khi đó tôi chưa có ý thức chính trị gì nhiều, nhưng trước mắt tôi là cả triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Điều này cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã phải có vấn đề. Tuy nhiên, ý định vào Nam của tôi chỉ thực sự bắt nguồn từ cái tính thích phiêu lưu của tuổi trẻ. Vả lại sau hai năm, sẽ có tổng tuyển cử và tôi sẽ có thể trở về quê quán của mình. Sau đó thì chuyện tổng tuyển cử không được thực hiện và tôi nhận ra rằng miền Nam dần dà hình thành một quốc gia được rất nhiều nước trên thế giới công nhận. Cho nên tôi đã phục vụ quốc gia này trong tư cách một công dân, và trong tư cách công dân ấy, tôi đã viết tác phẩm đó cũng như nhiều cuốn khác."

Với sự kiện huỵch toẹt không tránh né này, ban điều hành Khóa học không hạch hỏi gì tôi thêm nữa.

Mà nói đúng ra, cái điều tôi trình bầy ở trên chỉ là nói lên một sự thật hiển nhiên.

Sau năm 1954, miền Nam đã hình thành một chính thể, mà tại đó, mọi người dân đều có cơ hội sinh sống trong bầu không khí tự do.  Mọi người đều có cơ hội phát triển khả năng của mình. Và riêng về sinh hoạt văn học nghệ thuật thì trong suốt hơn 20 năm sau đó, cả một nền văn hóa khác biệt hoàn toàn với miền Bắc đương thời đã được tạo dựng bởi rất đông các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ thuộc đủ mọi loại bộ môn mà sức lan tỏa của nền văn hóa này vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ.

Việc khôi phục lại một nên văn hóa đặt trên cơ sở Dân Tộc, Khoa học, Đại Chúng hẳn là điều mong mỏi của nhiều người. Trong suốt hơn 30 năm ở hải ngoại, đã có biết bao nhiêu ngòi bút góp phần nỗ lực vào công cuộc duy trì nền văn hóa đó.

Những trang sách kế tiếp của cuốn này cũng không ra ngoài công việc nhìn lại quá khứ với mục đích gìn giữ những gì tốt đẹp trong lãnh vực chữ nghĩa đã qua đi..

Dĩ nhiên, những trang sách tôi gom được lại cũng chỉ nằm trong lãnh vực thu hẹp của một cá nhân trong một cuộc hành trình chữ nghĩa.

Xin hãy cũng chỉ coi đây như là một trong nhiều mảnh rời mà nhiều người đi trước đã để lại cho thế hệ sau.

Hy vọng sau này, các bạn trẻ sẽ ghép thành một toàn cảnh chung ngõ hầu có thể nhìn lại những công trình mà thế hệ Cha, Anh đã góp phần trước đó khi họ thực thi nhiệm vụ gìn giữ truyền thống văn hóa của đất nước.

Bây giờ, thế hệ ấy sắp qua đi và lại trông chờ ở thế hệ kế tiếp. Chính sự mặc nhiên tiếp nối  này mà từ ngàn xưa tới nay, dân tộc ta vẫn luôn luôn có một nền văn hóa liên tục trong lịch sử.

Phần Thứ Hai

Một Thời... Thiếu Nhi


Chương 1

Phần này là để ghi nhớ :

- Ông Nguyễn Hùng Trương, Giám đốc nhà sách Khai Trí , một con người suốt đời tận tụy với chữ nghĩa và là Chủ Nhiệm tuần báo Thiếu Nhi, một tờ báo giải trí và giáo dục đã một thời góp phần vào công cuộc phục vụ độc giả thiếu nhi ở Miền Nam trước 1975.

- Phần này cũng ghi nhớ sự đóng góp vô cùng quý báu của rất đông quý anh chị em văn nghệ sĩ cùng các nhà giáo và các phụ huynh học sinh trên toàn quốc,  trong suốt một thời gian dài đã cộng tác trực tiếp hay hỗ trợ tinh thần để cho tờ Thiếu Nhi được tồn tại cho đến tháng 15-3-1975.

THẾ GIỚI TUỔI THƠ CỦA TÔI

 

Trong phần trước, tôi đã ghi lại nhiều chuyện linh tinh mà những ai ở cùng thế hệ của tôi, tức sinh vào nửa đầu của thập niên 30 ở thế kỷ trước chắc cũng hãy còn nhớ, và dĩ nhiên là còn biết bao nhiêu chuyện khác đáng ghi lại ngoài mấy trang sách tôi mới chỉ phác họa được đôi điều.

Tuy nhiên ở phần thứ hai này, vì có chủ đích nhắc lại cả một thời làm báo Thiếu Nhi ở Sài Gòn trước 30 tháng 4-1975, cho nên tôi lại muốn ngược dòng về quá khứ để nói thêm về những lý do tại sao tôi gắn bó đối với vấn đề sách báo nhi đồng đến thế.

Ấy cũng là bởi vì những năm còn bé, tôi là độc giả trung thành của nhiều loại sách  báo dành cho thiếu nhi.

Về sách thì những truyện của Lê văn Trương phải được kể hàng đầu. Tôi đã theo dõi say mê những truyện dài viết cho thiếu nhi của Lê văn Trương như Anh Em Thằng Việt, Thằng Việt Nghỉ Hè, Thằng Còm, Ba Ngày Luân Lạc, Săn Đuổi …hoặc ngay cả truyện viết cho người lớn của ông tôi cũng đọc say mê như Người Anh Cả, Trường Đời, Tôi Là Mẹ….Có thể nói, cái triết lý "người hùng" trong hầu hết những tác phẩm của Lê văn Trương đã rất thích hợp cho lứa tuổi đang khôn lớn vốn sẵn tinh thần hướng thượng và đầu óc tưởng tượng phong phú.

Nói đến báo chí dành cho nhi đồng hồi thập niên 40, ta không thể không nhắc đến những tờ như Trẻ Em, Nhi Đồng Họa Bản, Cậu Ấm Cô Chiêu, Học Sinh….mà bài vở tờ nào cũng rất phong phú cộng thêm những nét vẽ tài hoa của nhiều họa sĩ thời danh như Mạnh Quỳnh, Ngym, Tô Vũ…. Riêng Mạnh Quỳnh, các tranh hí họa của ông bao giờ cũng ký tắt chữ M đặt lên chóp chữ Q hóa thành hình con chuột có cả hai tai lẫn cái đuôi nom rất vui và hấp dẫn.

Ngoài các loại báo kể trên, tuổi trẻ chúng tôi còn được cung ứng rất nhiều loại sách mỏng chỉ 32 trang, đăng trọn mỗi kỳ một truyện của một tác giả nổi tiếng như Khái Hưng, Nhất Linh, Tô Hoài, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu …. phần sau và cả trang bìa trong cũng còn có các mục linh tinh khác như ô chữ, tò mò, vui cười, danh ngôn, thủ công ..v..v.. Đó là những loại sách như Truyền Bá, Hoa Mai, Hoa Xuân, Sách Hồng … vốn là cả vòm trời đầy dẫy những chuyện vui, hay, lạ, vô cùng hấp dẫn bao trùm suốt thời thơ ấu của thế hệ chúng tôi.

Nhưng nói vậy không phải là thế hệ chúng tôi chỉ đọc có mỗi loại sách dành cho nhi đồng. Với ai thì tôi không rõ, nhưng riêng tôi thì những truyện trinh thám, kiếm hiệp khác tôi cũng là "con mọt" say mê những loại này.

Nói về sách vở một cách sang trọng (nghĩa là không thuộc loại sách in ra theo từng số chỉ bán 3 xu một số  như loại sách kiếm hiệp thời tiền chiến) thì tôi rất mê nhà văn Phạm Cao Củng với loạt truyện trinh thám có thám tử Kỳ Phát như Đám Cưới Kỳ Phát, Kỳ Phát Giết Người, Nhà Sư Thọt, Bóng Người Áo Tím….hay tiểu thuyết trinh thám cùng loại của Thế Lữ như Lê Phong Phóng Viên, Gói Thuốc Lá,  Đòn Hẹn…

Còn đối với sách kiếm hiệp của Thanh Đình hay Lý Ngọc Hưng ra khoảng năm 1941, 1942…thì ôi thôi, lúc lên 8,  lên 9 tôi cũng đã nghiền nát những cuốn như Thiên Thai Lão Hiệp, Long Hình Quái Khách, Bồng Lai Hiệp Khách  …với nhân vật như Kim Hồ Điệp, sau khi làm một việc gì lại gài một cánh bướm tết bằng tơ mầu vàng để lại hiện trường làm dấu tích. Gớm, sao mà những tình tiết này đánh trúng vào trí tưởng tượng, thích phiêu lưu của tuổi thơ hồi đó đến thế.

Sau này, khi đã hồi cư về Hà Nội, nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh ở phố Hàng Bông cũng thực hiện lại cái sáng kiến ra một loạt sách in mỏng, chỉ có 32 trang thôi, nhưng thực chất là cả một cuốn sách dầy in tách ra từng kỳ, đánh số từ 1 cho đến hết cuốn sách, nhiều khi độc giả phải đón mua tới 3 chục, 4 chục kỳ mới hết. Nhưng cũng chính nhờ sáng kiến này mà tôi có cơ hội mua để đọc ( 1$ một số, vừa túi tiền học trò !) đủ loại truyện như Đêm Hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, Máu Đỏ Lòng Son của Phạm Cao Củng hay những truyện Tầu như La Thông Tảo Bắc, Tam Quốc Chí, Thất Quốc Chí, Tây Du, Thủy Hử..v..v..…

Theo cảm nghĩ của tôi thì dù là bất cứ loại truyện gì, từ những tác phẩm văn chương thứ thiệt đến những loại báo giải trí như trinh thám, kiếm hiệp..v..v..  tất cả những nỗ lực của các nhà văn, nhà báo, nhà xuất bản thời ấy cũng đều đã góp phần vừa làm sinh hoạt sách báo luôn sôi nổi, vừa hun đúc tinh thần của thế hệ mới lớn khiến cho chúng tôi nẩy nở lòng yêu nước, trau giồi khả năng tiếng Việt và nhất là làm phong phú tâm hồn của tuổi trẻ.

Sau này khi đã trưởng thành, di cư vào Nam sinh sống, thì cái ước nguyện tiếp nối các công trình văn chương chữ nghĩa nhi đồng của các bậc cha, anh cũng đã theo đuổi trong tâm tưởng tôi một cách dai dẳng.  Điều đó có nghĩa rằng, luôn luôn có một tờ báo dành cho lứa tuổi học trò nằm sẵn trong ý tưởng của tôi với đầy đủ nội dung như hình thức ra sao, bao gồm những mục gì, mục gì. Tôi còn nhớ năm 1960, khi còn cư ngụ ở một căn nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, Vườn Chuối Sài Gòn, tôi đã dành nguyên cả căn gác xép thấp lụp sụp để treo lên vách tường những maquettes của tờ báo mang tên hẳn hoi, tờ "Nắng Hồng", mà tôi ước ao nó sẽ được trình làng. Nhưng đó cũng chỉ là ước mơ. Bởi vì tôi mới chỉ chân ướt chân ráo bước vào nghề dạy học, lương tạm đủ để nuôi sống gia đình, đâu có tiền bạc dư giả gì để ra báo, nhất lại là giới văn nghệ sĩ đàn anh ở Sài Gòn khi đó, tôi quen biết rất ít, ngoại trừ vài người như Minh Đăng Khánh, Lê Tất Điều, Bùi Kim Đĩnh….mà tôi mới thân thiết sau này.

Cho đến giữa năm 1971, tức đã tròn 10 năm sau những ước mơ "ấp ủ trong lòng", ông Nguyễn Hùng Trương, Giám Đốc nhà sách Khai Trí đề nghị hợp tác với tôi ra một tờ báo học trò. Ông danh cho tôi chức vụ Chủ Biên có toàn quyền quyết định nội dung và bài vở. Ông chỉ đứng tên Chủ Nhiệm trên phương diện pháp lý và sẽ yểm trợ hoàn toàn về phương diện tài chính, bất kể lỗ lời  (mà tình hình khi đó thì xác xuất lỗ nhiều hơn lời !)

Tờ báo Thiếu Nhi được hình thành mau chóng với hình thức ấn loát tốn kém và với trang bìa nhiều mầu. Còn nội dung thì tờ báo có sự cộng tác của rất đông nhà văn, nhà giáo, nhà báo, họa sĩ, nhạc sĩ thời đó .

Về mặt hội họa, chúng tôi có họa sĩ Vi Vi là chủ lực. Ông đảm nhận minh họa tất cả các trang bìa từ số đầu (8-1971) cho đến số cuối (3-1975). Ngoài ra, tòa soạn cũng còn có sự hợp tác của họa sĩ Vương Nghiêm, họa sĩ Nguyễn Tài  phụ trách minh họa hay truyện tranh từng kỳ ở các trang trong.

Về phương diện âm nhạc, có nhiều nhạc sĩ tham gia, như nhạc sĩ Phạm Đức Huyến vừa soạn bài hát chính thức cho Gia Đình Thiếu Nhi, vừa mở trang dạy nhạc cho các em, với sự hợp tác của nhạc sĩ Anh Tuyền. Ngoài ra, trên trang báo thỉnh thoảng còn có những bản nhạc mới sáng tác do các nhạc sĩ Lâm Tuyền, Huy Trâm, soạn riêng cho độc giả thiếu nhi .

Về mặt bài vở, chúng tôi được sự cộng tác của các nhà văn, nhà giáo như Nguyễn Hiến Lê, Tế Xuyên, Doãn Quốc Sỹ,  Lê Tất Điều, Đỗ Phương Khanh, Minh Quân, Vũ Hạnh, Huy Yên, Quốc Bảo, Lê Xuân Nho, Nguyễn Tài Năng, Trường Kỳ, Trần Ngọc Kính, Thu An, Đặng Hoàng, Văn Trung, Vũ văn Việt  …v…v…

Cũng nên kể tới người giữ các chuyên mục hàng tuần, ông Chủ Nhiệm Nguyễn Hùng Trương dù rất bận rộn trong nhiều công việc nhưng cũng đã đích thân đảm nhận trang "Thư Chủ Nhiệm" không nhờ ai, kể từ số 1 Ra mắt ngày 15-8-1971 cho đến số 136 là số cuối cùng ra ngày 15-3-1975. Trong suốt hơn 3 năm ròng rã ấy, ông không hề bỏ sót một số báo nào. Và bất cứ trong một Lá Thư Chủ Nhiệm nào, ông cũng đều ân cần nhắn nhủ các thiếu nhi những bài học xử thế, đạo đức làm người hay cố gắng học hỏi, nhẫn nại để đi đến thành công sau khi đã dẫn chứng bằng những gương danh nhân, những giai thoại trong lịch sử, hay những chuyện sưu tầm lượm lặt trên sách báo khắp năm châu. Tấm lòng của ông đối với vấn đề giáo dục thiếu nhi thật vô cùng thiết tha và sâu đậm.

Mục thường xuyên trên báo và cũng bền bỉ từ số đầu đến số cuối, lại được dành riêng cho các bạn trẻ thuộc phái nữ,  đó là trang Vườn Hồng do Đỗ Phương Khanh phụ trách mà trong đó, những bài Suối Mát xuất hiện hằng tuần là những trang tâm tình hết sức đằm thắm và  thân thiết để giải đáp những thắc mắc của các nữ sinh về gia đình, về bạn bè, về trường học hay về ngay cả những ước vọng vào đời.

Những người cũng tận tụy với tờ Thiếu Nhi kể từ số đầu tới số cuối còn phải kể tới các nhà giáo như Vũ văn Việt (thường lấy bút hiệu Vịt Mò để gửi tới các em những bài sưu tầm hay, vui, lạ), Đặng Hoàng, Trần Ngọc Kính, Huy Yên, Trường Kỳ, Lê Xuân Nho, Phạm Đức Huyến..…và đặc biệt phải kể tới Vi Vi một họa sĩ đã làm "mê tơi" độc giả toàn quốc trong 136 bức tranh bìa tuyệt vời mà tôi có in lại vài tấm trong mấy trang phụ bản mầu của sách này. Ngoài trang bìa, họa sĩ Vi Vi còn chịu khó ngồi vẽ những bức minh họa cho một số bài hay những hình dùng làm tiêu đề cho những mục chính như Thư Chủ Nhiệm, Vườn Hồng, Thắc mắc của Em, Bướm Trong Vườn (trang Thơ độc giả), Muôn Hồng Nghìn Tía (trang sáng tác của độc giả)..v..v…

Về phía độc giả, sự đóng góp của các em cũng vô cùng đáng kể, cả về mặt bài vở cũng như công tác sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi. Có thể kể các bạn trẻ như Phan Khương Thái, Trịnh Việt Thảo, Trần Mai Hoạt, Trịnh Công Truyền, Trần Linh Nga, Nguyễn Trường Anh, Uyên Thụy Vũ, Lương văn Bình, Đằng Linh, Thiên Bất Hủ, Vũ thị Ca Dao, Hùng Vỹ, …và rất đông các bạn trẻ khác không kể xiết.

Nói chung, hoạt động của tờ Thiếu Nhi, ngoài vấn đề bài vở thường xuyên, tòa soạn còn tổ chức các cuộc thi sáng tác về Thơ, về Văn, về làm Bích báo và tổ chức Gia Đình Thiếu Nhi với khá nhiều chi nhánh trên toàn quốc. Ngoài ra, với sự hỗ trợ đặc biệt của ông Nguyễn Hùng Trương, một thư viện với trên 2.000 cuốn sách được đặt tại tòa soạn để các em có thể tới mượn mang về nhà đọc miễn phí. Tòa soạn cũng đã mở nhiều khóa Xếp Giấy Nhật Bản Origami với sự tham dự của rất đông các Thầy, Cô giáo và các sinh viên nam, nữ.

Một lớp dạy may cắt miễn phí do cô giáo Bùi Lan Vân tình nguyện từ Biên Hòa xuống tòa soạn giảng dạy cũng đã được mở ra và có đông đảo nữ sinh tới tham dự.

Vào một vài giai đoạn theo nhu cầu của thời thế,  tòa soạn còn phát động các em làm Thơ, Vè, Ca dao  để mở chiến dịch "Chống Ma Túy" dài hạn trên trang báo.

Có thể nói, đem đối chiếu  châm ngôn của tờ báo ngay từ số đầu là "Giải Trí và Giáo Dục" thì trong suốt cuộc hành trình đầy khó khăn kéo dài từ 1971 đến 1975, nhờ công khó của các nhà văn, nhà báo, nhà giáo mà tờ Thiếu Nhi đã làm trọn vẹn được vai trò của nó. Các số báo Thiếu Nhi còn ế bán không hết đã được đóng thành Bộ, cứ mỗi bộ 10 số, có bìa carton dầy phía ngoài cũng đã lọt vào rất nhiều tủ sách gia đình trên toàn quốc.

Chính những bộ báo này cũng đã được các thầy, cô giáo ở miền Bắc sau 30-4-1975 vào Nam đã chiếu cố tận tình và cũng ngỏ lời ngợi khen nhiệt liệt. Tôi nghĩ rằng, dù vào thời nào, ở đâu thì những nhà giáo chân chính cũng nhận biết được những giá trị đích thực liên quan tới nghề nghiệp của họ.

Và theo tôi, chính những lời ngợi khen nồng nhiệt này cũng đã tô thêm một điểm son vào nền văn hóa của miền Nam trong khi chính nó đang bị mạt sát và vùi giập !

Những trang kế tiếp sau đây sẽ ghi lại một số sinh hoạt cụ thể trích từ những trang báo Thiếu Nhi mà tôi còn giữ được.

Xin mời đọc thêm để thấy miền Nam trước đây, sinh hoạt sách báo dành cho tuổi học trò cũng rất sôi nổi mà trong đó, tờ báo Thiếu Nhi cũng đã đóng góp một phần nỗ lực không nhỏ cho đến khi mọi sự hoàn toàn sụp đổ.

Chương 2

Nội dung các tiết mục sinh hoạt linh tinh của tờ Thiếu Nhi

THƯ CHỦ NHIỆM GỬI CÁC EM THIẾU NHI

(Báo Thiếu Nhi số 1- ra ngày 15-8-1971)

 

Các em,

Tập báo THIẾU NHI hôm nay đã tới tay các em.

Chúng tôi, toàn thể bộ biên tập hết sức sung sướng đã đem lại cho các em một tờ báo bổ ích.

Mục đích của chúng tôi là vừa giải trí, vừa giáo dục, chúng tôi cố gắng để bài vở đều lành mạnh, viết đúng chính tả, chữ to dễ đọc, đầy hình ảnh vui tươi, ấn loát rõ ràng.

Trong mỗi số báo THIẾU NHI , hàng tuần, các em sẽ tìm thấy :

- Một G­ƯƠNG DANH NHÂN,  như trong kỳ này, truyện một nhà thông thái không bằng cấp, nhà nghèo, con một ng­ười thợ hồ, 17 tuổi còn đi lau nhà cho một y viện,  tự học để trở thành nhà Bác học dạy ở các Đại học đường và có chân trong Viện Hàn Lâm,

- Một bài học KHÉO TAY LÀM LẤY, như làm cái lồng chim bằng giấy treo ở trong nhà cho vui.

- Một chuyện VỆ SINH Y HỌC, như bệnh sâu răng đã làm cho nhiều em đau đớn,

- Một chuyện KHOA HỌC THƯỜNG THỨC, như nói về máy chiếu phim và kỹ thuật ngành điện ảnh,

- Một trang TÒ MÒ để các em hiểu Tại sao có mống trời ? Tạo sao chó thè lưỡi ra ? Tại sao cá không bị lạnh dưới nước ? Cá ngủ như thế nào ? Tại sao chim cú kêu về ban đêm ?

-  Hai trang GIẢI TRÍ trong đó các em sẽ làm quen với những câu hỏi NÁT ÓC, chuyện  ĐỐ VUI, màn ẢO THUẬT, nhiều TRÒ CHƠI,

- Một trang KỸ THUẬT để hướng dẫn  các em hiểu các thắc mắc về các loại máy thu thanh, truyền hình, thâu băng..v..v…như cách chế tạo một máy thu thanh chỉ làm bằng một củ khoai tây mà thôi.

- Một trang EM HỌC VẼ rất giản dị, cam đoan bất cứ em nào bắt chước cũng có thể vẽ được,

- Những câu TRUYỆN CỔ chọn lọc,

- Một TRUYỆN BẰNG TRANH phiêu lưu ­ đầy hứng thú,

- Một TRUYỆN PHIÊU LƯU MẠO HIỂM , ĐƯỜNG RỪNG  xây dựng trên một tinh thần khoa học,

- Một TRUYỆN NGẮN  hay TRUYỆN DÀI  sáng tác của một nhà văn danh tiếng,

- Một DANH VĂN NGOẠI QUỐC như truyện bác sĩ Kim, thiên thần hay ác quỷ.

- Các em xem chiếu bóng hay truyền hình có khi nhìn thấy những bộ mặt dễ sợ, nhưng các em có biết đâu các chuyên viên hóa trang đã biến các tài tử đẹp trai thành nhân vật quái đản khủng khiếp, việc này cũng có trình bày rõ trong tập báo THIẾU NHI của các em.

Các em gái THIẾU NHI cũng không bị bỏ quên. Hàng tuần, chị Đỗ Phương Khanh sẽ gặp các em trong hai trang VƯỜN HỒNG. Mặc sức các em tâm sự với chị. Các em xem chị Đỗ Phương Khanh như một người chị, hay hơn nữa, một người bạn lớn tuổi hơn mình. Chị Đỗ Phương Khanh sẽ tìm mọi cách giúp các em đời sống được vui tươi, hạnh phúc hơn. Chắc các em cũng biết Yaourt rất bổ dưỡng, chị Đỗ Phương Khanh chỉ cách các em làm xong trong 10 phút.

Sau cùng, một cuộc thi SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG THIẾU NHI  tổ chức 6 tháng một lần sẽ đem lại cho các em cơ hội tập luyện ngòi bút để có thể dễ dàng diễn tả những tình cảm và ý nghĩ của mình.

Tất cả tâm trí của tôi cũng như ­ bạn NHẬT TIẾN cùng các cộng sự viên khác là làm sao cho tờ báo THIẾU NHI  xứng đáng là món ăn tinh thần cần thiết cho các em, giúp ích cho các em, mầm non của đất nước, để các em trở thành người hữu dụng cần thiết cho quê hương xứ sở.

CHỦ NHIỆM

NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG

Thiếu Nhi -Năm thứ nhất- Số 1

  Ra ngày 15-8-1971

° ° °

Chủ biên NHẬT TIẾN  và Chủ nhiệm NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG

trong buổi phát giải Cuộc Thi Sáng Tác trên tuần báo Thiếu Nhi

được tổ chức tại trụ sở của  Trung Tâm Văn  Bút  VN - Sài Sòn, Tháng 8-1972

CUỘC THI SÁNG TÁC DO TUẦN BÁO THIẾU NHI TỔ CHỨC

(Đợt I, chủ đề : GIA ĐÌNH MẾN YÊU)

Sau 4 tuần lễ đọc và tuyển lựa theo chiều hướng không đòi hỏi các em phải là những  cây bút sâu sắc, già dặn nhưng  chỉ nằm trong  mục tiêu  khích lệ những tài năng mới, Tòa soạn  hân hạnh  công bố cùng  các em kết quả  cuộc thi sáng tác đợt I, chủ đề Gia Đình Mến yêu  như sau :

GIẢI NHẤT :

Tác phẩm NHÀ MẾN YÊU của  THÙY NHI  ( Đà Nẵng).

Giải gồm có  1 văn bằng tưởng lệ, 5.000 đồng do tòa soạn  tặng, một cái radio một băng  do anh Bình Electronic tặng,  và một số sách  giá trị do nhà sách Khai Trí tặng.

GIẢI NHÌ  :

Tác phẩm CHUYỆN CU TÍ  của  ANH VŨ (Sài Gòn).

Giải gồm có 1 văn bằng tưởng lệ, 1 cây viết  máy hiệu Parker do tòa soạn tặng, và một số sách  giá trị do nhà sách Khai Trí tặng.

GIẢI BA :

Tác phẩm THƯƠNG YÊU của ĐỖ THỊ KIM OANH  (Đà Lạt)

Giải gồm có 1 văn bằng tưởng lệ, 1 cây viết  máy hiệu Pilot do tòa soạn tặng, và một số sách  giá trị do nhà sách Khai Trí tặng.

Ngoài 3 giải trên, còn 8 giải khuyến khích, mỗi giải gồm một văn bằng tưởng lệ và một số sách  giá trị do nhà sách Khai Trí tặng. Tác phẩm của các em :

Buổi trao tặng giải thưởng sẽ được tổ chức  vào hồi 8g30 sáng ngày 13-8-1972  tại trụ sở  Trung Tâm Văn Bút  VN số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn. Buổi này cũng là dịp  Họp mặt Gia Đình Thiếu Nhi nhân ngày Kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên tuần báo Thiếu Nhi.

Yêu cầu các em có tên  trong danh sách trúng giải  hãy liên lạc gấp với  tòa soạn  vào buổi sáng từ hôm nay đến ngày 10 tháng 8-1972 để làm thủ tục trao tặng giải thưởng. Riêng các em ở xa, xin liên lạc bằng  thư, xác định rõ địa chỉ chắc chắn để tòa soạn  gửi bảo đảm  phần thưởng qua đường bưu điện.

° ° °

TIN TỨC VỀ CUỘC THI BÍCH BÁO

Cho đến ngày khóa sổ Cuộc Thi Bích Báo (15-7-1973) tòa soạn đã nhận được bích báo tham dự của các chi nhánh sau đây :

Nhận thấy việc gửi Bích Báo về tham dự qua đường Bưu điện có thể chậm trễ, nên trong suốt tháng 7-1973 tòa soạn vẫn tiếp tục nhận Bích Báo dự thi của các em. Mong các em xúc tiến gấp việc gửi báo về dự thi để cuộc thi thêm phần phong phú và hào hứng.

(Thiếu Nhi số 99, ra ngày 22-7-1973)

° ° °

NHẮN TIN CHUNG

CÁC ĐẠI DIỆN TRƯỞNG CHI NHÁNH

GIA ĐÌNH THIẾU NHI TOÀN QUỐC

Trong thời gian gần đây, nhiều chi nhánh Gia Đình Thiếu Nhi đã bắt đầu sinh hoạt mạnh mẽ qua các cuộc cắm trại, thể thao, du ngoạn, tham gia các công tác xã hội tại địa phương, tổ chức các lớp học hè miễn phí  …v..v….rất tốt.

Để ban Điều Hành Trung Ương nắm vững tình hình sinh hoạt của các chi nhánh, xin các em Đại diện Trưởng đặc biệt lưu ý :

  1. l) Gửi th­ường xuyên hàng tháng về trung ương bản tường trình các sinh hoạt trong tháng. Những sinh hoạt đặc sắc có thể viết thêm bằng hình thức phóng sự ngắn, kèm hình ảnh để đăng trên Thiếu Nhi.

2) Trong khi điều hành sinh hoạt trại, triệt để tôn trọng  chủ trương của Gia Đình Thiếu Nhi  là không phổ biến văn nghệ gây căm thù, phân chia giai cấp, xách động đấu tranh dưới mọi hình thức, không lợi dụng tập thể vào những sinh hoạt có tính cách chính trị, tranh đấu, vận động cho cá nhân..v…v…

Nói chung mục đích của Gia Đình Thiếu Nhi  là chỉ nhằm vào công cuộc đào tạo một tầng lớp thanh thiếu niên lành mạnh, khỏe về thể chất, trong sáng về tâm hồn, giầu lòng vị tha, có tinh thần huynh đệ, đoàn kết trong mọi sinh hoạt như học tập ở nhà trường, công tác từ thiện ngoài xã hội và có tinh thần trách nhiệm, biết phục vụ, biết hy sinh để làm đẹp cho gia đình, học đường và xã hội.

Mong các em luôn luôn sáng suốt để điều khiển các sinh hoạt theo đúng đường lối đã đề ra, kịp thời ngăn chặn những hành động lệch lạc và liên lạc thường xuyên với Ban Điều hành Trung Ương khi gặp phải những khó khăn.

GIA ĐÌNH THIẾU NHI

(Thiếu Nhi số 91, ra ngày 27-5-1973)

°

HỌP MẶT  GIA ĐÌNH THIẾU NHI

NHÂN DỊP KỶ NIỆM  ĐỆ NHẤT CHU NIÊN

- Địa điểm :  Trụ sở  Trung Tâm Văn Bút  VN số  107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn.

- Ngày : Chủ Nhật 13 tháng 8 năm 1972

- Giờ : từ 8 giờ 30 đến 12 giờ.

CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT

1) Giới thiệu  các em trong gia đình Thiếu Nhi, các nhân viên tòa soạn, các nhà văn , nhà giáo cộng tác với  tuần báo Thiếu Nhi.

2) Trao tặng giải thưởng Cuộc Thi Sáng Tác Đợt I

3) Ca Cộng đồng.

4) Chiếu phim hoạt họa tô mầu và phim ngắn  của Charlot.

Đặc biệt  kỳ họp mặt thân hữu này tòa soạn không đạt giấy mời  các quan khách  chính thức như  những kỳ trước  để chúng ta  không bị ràng buộc  bởi  các  hình thức nghi lễ. Truy nhiên, các em vẫn có thể mời phụ huynh tới tham dự trong tinh thần hòa đồng, thân ái.

Tòa soạn mong  mỏi  các em tới tham dự đông đảo để đánh dấu  một năm  sinh hoạt của Gia đình Thiếu Nhi đồng thời tạo thêm sự thông cảm  thân ái trong gia đình ngõ hầu  chúng ta cùng đẩy mạnh những sinh hoạt có lợi ích thiết thực hơn nữa trong  năm tới.

° ° °

TIN MỸ THO

Tất cả các bạn Thiếu Nhi Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè hãy liên lạc gấp đến trụ sở chính. Trực tiếp hay thư từ :

KIM LOAN

(Đường Mỹ Tho - Chợ gạo nối dài)

hay thư về :

 NGUYỄN VĂN HOÀNG

39/8 Trần  Hoàng Quân – Mỹ Tho

Riêng các bạn Võ văn Hồng, Kinh Thiêm, Nguyễn văn Dũng, Lê Tấn  Hiến ở Cai Lậy và bạn Đoàn văn Hùng Phong ở Cái Bè  hãy liên lạc về 2 địa chỉ trên để tạm lập phân  nhánh Liên Quận.

TIN ĐÀ LẠT

Kể từ ngày 01 tháng 05 năm 1973, Ban điều hành quyết định sinh hoạt  cố định tại sân Cù A (đạo quán Hướng Đạo ngó lên)

Sinh hoạt từ 2 giờ 30 đến 5 giờ.

Các bạn (ở Đà Lạt) muốn gia nhập xin đến "thời điểm" trên để biết thêm chi tiết.

TIN  AN  GIANG

Các em trong thiếu nhi ngụ tại An Giang hãy tới nhà bạn:

HUỲNH THỊ MINH NGUYỆT

36 Quang Trung – An Giang

vào sáng Chủ Nhật 29-7-1973 để họp mặt bàn về việc thành lập chi nhánh Gia Đình Thiếu Nhi tỉnh An Giang.

(Thiếu Nhi số 99, ra ngày 22-7-1973)

° ° °

TIN QUẬN 7 VÀ QUẬN 8

Chi nhánh Gia Đình Thiếu Nhi Quận 8 thân mời các bạn Thiếu Nhi  Quận 7 đến tham dự buổi trại họp mặt  tại trường Trung học Bồ Đề  Quận 7,  từ 8 giờ 30 đến  17 giờ ngày 29-7-1973. Mời các bạn đến trường Trung Học Quận 7 để cùng đi đến địa điểm trại.

BAN ĐẠI DIỆN

TIN BIÊN HÒA

Nhằm đánh dấu một năm hoạt động và sinh hoạt của GĐTN Biên Hòa, Ban điều hành Chi nhánh Biên Hòa thân mời các Chi nhánh bạn (nếu có thể tham dự được) vui lòng đến tham dự buổi SINH HOẠT TRẠI KỶ NIỆM  được tổ chức vào 05-08-1973 (lúc 9:30 sáng) tại núi Bửu Long, Biên Hòa.

Chào thân ái, đoàn kết

T.M.  Ban Điều Hành GĐTN Biên Hòa

UYÊN THỤY PHƯƠNG

TIN DIÊN KHÁNH

Gia đình Thiếu Nhi chi nhánh Nha Trang đang phát động chiến dịch thành lập phân nhánh tại các Quận. Yêu cầu các em ở Diên Khánh hãy liên lạc với nhau để thành lập Ban đại diện  cùng phát triển sinh hoạt  cộng đồng và công tác xã hội. Hãy viết thư về:

NGUYỄN LẶC

(Nguyễn Trường Anh)

102 Trần Quý Cáp - Nha Trang

TIN QUẢNG TÍN

Chi nhánh GĐTN Quảng Tín sinh hoạt ngày 05-8-1973 vào lúc 14 giờ chiều Chủ Nhật tại trường Trung Học Trần Cao Vân -Tam Kỳ.

Rất mong các bạn đến họp mặt đông đủ.

Lưu ý : Khi đi mặc đồng phục nhà trường, mang theo sổ tay.

Nhắn tin : Phạm Hồ, Lê văn Tự, Trịnh Công Truyền : Cho Lương văn Bình biết địa chỉ mới để liên lạc. Thư về Box 70 Tam Kỳ.

- Các bạn độc giả Thiếu Nhi trên toàn quốc nếu muốn góp ý kiến xây dựng xin viết thư về địa chỉ trên.

LƯƠNG VĂN BÌNH

và Ban Đại Diện Chi Nhánh G.Đ.T.N. Quảng Tín

TIN AN GIANG

Vì em Minh Nguyệt chưa thể có mặt  tại An Giang ngày 29-7-73, yêu cầu các em dời buổi họp lại như sau :

9 giờ sáng 12-8-1973  họp tại 36 Quang Trung, An Giang. Mong các em tới họp đông đảo để tiến tới việc thành lập Chi nhánh.

° ° °

TIN SINH HOẠT

GIA ĐÌNH THIẾU NHI HIẾU THIỆN (Tây Ninh)

HTCN Tap 3 Pix 2

Quý thầy, cô ngồi dự tiệc trà thân mật quanh bàn triển lãm sách, báo

Nhằm đẩy mạnh phong trào sáng tác thơ văn và phát động mạnh mẽ cho tờ báo Thiếu Nhi thân yêu của chúng ta càng thêm làn rộng, Gia Đình Thiếu Nhi Hiếu Thiện tổ chức một cuộc thi "triển lãm bích báo" tại trường Trung học Hiếu Thiện (Gò Dầu, Tây Ninh). Nhờ sự đóng góp của các anh chị em trong đoàn, hơn 20 tờ bích báo lộng lẫy xinh xắn cùng một số sách báo có tính cách giáo dục như Thiếu Nhi, Tuổi Hoa, Thằng Bờm, Ngàn Thông..v..v.. được trưng bày trong phòng sinh hoạt của trường trông rất đẹp mắt.

Dưới sự chủ tọa của thầy Hiệu trưởng và quý thầy, cô của trường , ngày 25-3-1973 buổi lễ phát giải "cuộc thi triển lãm bích báo" diễn ra trong bầu không khí  vô cùng  tưng bừng và náo nhiệt với một chương trình văn nghệ đặc sắc do các Thiếu Nhi trình diễn.

Sau cuộc thi triển lãm bích báo, Nhóm Gia Đình Thiếu Nhi Hiếu Thiện  cũng như tờ báo TN của chúng ta  được hầu hết  quý thầy, cô  và học sinh  trong trường lưu ý đến. Đó là một niềm khích lệ lớn lao đối với anh chị em trong đoàn. Và cũng sau "cuộc thi triển lãm bích báo"  này, Gia Đình Thiếu Nhi Hiếu Thiện  liền tổ chức thành từng nhóm đi cổ động cho tờ báo Thiếu Nhi  mà chúng ta hằng mến chuộng. Kết quả  thâu hái được rất khả quan.

HTCN Tap 3 Pix 3

Ban Điều hành Gia Đình Thiếu Nhi Hiếu Thiện

Từ trái qua: Mai thị Mọn-Đoàn Thanh Nguyên-Nguyễn văn Bảy-Lê văn Đảo

Nguyễn thị Lộc -Nguyễn Thiện Duyên-Võ Phúc Tuyên- Nguyễn Hùng Sơn

° ° °

TIN SINH HOẠT TẠI TÒA SOẠN

Để đẩy mạnh sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi Trung Ương, kể từ tuần này ( 29-7-1973) chúng ta không  sinh hoạt tại tòa soạn  nữa, mà dời  về Vườn Tao Đàn Sài Gòn cho thoáng và rộng.

Địa điểm tập trung  tại Hồ Tao Đàn lúc 8 giờ 30, sẽ có người hướng dẫn tới nơi sinh hoạt. Buổi sinh hoạt sẽ kết thúc lúc  10 g 30  như thường lệ. Mong các em tham dự đông đảo.

TIỂU BAN SINH HOẠT

(Thiếu Nhi số 99, ra ngày 22-7-1973)

TIN VỀ CÁC KHÓA HƯỚNG DẪN MIỄN PHÍ

NGHỆ THUẬT XẾP GIẤY ORIGAMI

(Tổ chức tại trường mẫu giáo Anh Vũ, ngay kế bên tòa soạn báoThiếu Nhi)

° ° °

* Khóa 3 xếp giấy Origami đã bế giảng ngày 10-11-1974 với 36 học viên được cấp chứng chỉ tốt nghiệp lưu niệm sau một kỳ thi gấp 6 kiểu thú vật bằng giấy mầu : Con Công, con Tê Giác, con Voi, con Cọp, con Nai và con Gấu.

Các  học viên tốt nghiệp khóa này là một số đông Thầy, Cô giáo, phần còn lại là các sinh viên Đại học, các Hướng Đạo Sinh sinh hoạt trong các Thiếu Đoàn và các em nam , nữ học sinh.

* Khóa 4 tiếp tục khai giảng vào hồi  8 giờ sáng ngày Chủ Nhật 17-11-1974, vẫn do chú Nhật Tiến phụ trách hướng dẫn. Các học viên đã ghi danh xin tới đúng ngày giờ kể trên, nhớ mang theo  kéo, keo, giấy pelure fort  và sổ tay ghi chép.

* Khóa 5 được dự trù khai giảng vào ngày 15-12-1974. Hiện nay chỉ còn chừng 10 chỗ, tòa soạn sẽ ưu tiên dành cho các học viên tới sớm nhất.

(Thiếu Nhi số 132, ra ngày 15-11-1974)

° ° °

THIẾU NHI MỞ LỚP  CẮT MAY

Y PHỤC PHỤ NỮ MIỄN PHÍ

Nằm trong khuôn khổ chương trình Giúp Ích Thiết Thực cho các độc giả và thân hữu, song song với lớp hướng dẫn miễn phí  Nghệ thuật Xếp Giấy Nhật Bản, tòa soạn tổ chức tiếp Khóa Cắt May Y Phục Phụ Nữ miễn phí với sự tình nguyện giảng dạy của cô BÙI LAN VÂN giảng viên  các lớp Dự Bị Hôn Nhân về Gia Chánh và May Cắt (Biên Hòa).

Chi tiết như sau :

- Địa điểm : Lớp học tổ chức ở tòa soạn  Thiếu Nhi số 159 Thiệu Trị Phú Nhuận (gần cổng xe lửa số 6, đường Trương Minh Ký, Gia Định). Trạm xe  buýt Sài Gòn –Lăng Cha Cả cách tòa soạn 20 mét.

- Thời gian khóa học : 4 tháng, - Mỗi tuần học vào chiều Thứ Ba và Thứ Năm, từ 4 giờ tới 6 giờ.

- Ngày Khai Giảng : Thứ Ba 15-10-1974. Xin ghi tên tại tòa soạn  vào những buổi sáng. Vì số chỗ ngồi có giới hạn  nên tòa soạn dành ưu tiên cho các học viên ghi tên sớm. Lớp học dành cho Phụ nữ và Thiếu nữ trên 15 tuổi.

- Chương trình học :

* Tháng thứ I : Tập may tay: luôn, vắt khuy (khuyết) và đơm nút  (khuy).

* Tháng thứ II : Áo tay ráp cổ bẻ danton. Áo tay ráp và hai loại  cổ căn bản và đẹp. Quần tây phụ nữ. Quần tây các kiểu thời trang.

* Tháng thứ III : Áo chemise : Cổ tenant, tay dài manchette – Áo blouse : cổ chữ B – Áo blouse : Ba kiểu tay áo đẹp.

* Tháng thứ IV : Áo dài Raglan- Áo dài tà Nam- Áo dài tà Bắc- Học thêm các kiểu  cổ thông  thường và đẹp.

(đăng trong Thiếu Nhi số  130, ra ngày 1-10-1974)

° ° °

CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT TẠI TÒA SOẠN

Ngày Chủ nhật : 27-5-1973 - Từ : 8g30 đến 10g30

Văn Nghệ : Anh em ta về - Hò yêu Nước

Trò Chơi : Học nghề - Đoàn ta xông pha

Ngoài ra, các bạn tới tham dự có trò chơi, bài hát hay thủ công nào khác, xin cứ đề nghị  để tiểu ban Sinh Hoạt sắp xếp vào chương trình.

TIỂU BAN SINH HOẠT

(Thiếu Nhi số 91, ra ngày 27-5-1973)

° ° °

NIỀM TIN TỪ MỸ LỘC

Phóng sự sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi Đà Lạt

-Anh Hoàng, "cà lem"  mô ?

- Xí, chưa chi mà đòi ăn, đã "nàm" được gì chưa "lào"

- Chi vui vẻ rứa hè ?

- Ừ, có chi ! Đó là gia đình Thiếu Nhi đang làm công tác đấy mà.

Chủ nhật vừa rồi, gia đình Thiếu Nhi Đà lạt có tổ chức một ngày công tác lấy tên là ngày công tác Mỹ Lộc, với sự tham dự của giáo sư cố vấn Ngô Tôn Long. Đoàn di chuyển đến địa điểm lúc 8 giờ 30 phút. Đó là một ngôi trường nhỏ đơn sơ, nghèo nàn nằm chơ vơ giữa khuôn  đất khô cằn : "Trường Sơ Cấp Mỹ Lộc".

Một thùng vôi lớn, dăm ba lọ sơn, một bó chổi, vài cái cuốc, vài cái xẻng hứa hẹn công tác nhiều thử thách. Sau vài lời nhắn nhủ của thầy Long, đoàn bắt tay vào viẹc. Những bàn tay ngọc ngà không còn  e lệ, từng khuôn mặt ngây thơ rạng rỡ vui tươi. Ai cũng hăng say, ai cũng hết lòng , khung cảnh thật  vui tươi sống động. Bao nụ cười thênh thang mở rộng vang mãi dưới ánh nắng hồng buổi sáng. "Ơ ! Anh kia sao quần áo trắng bạch thế nọ….Ối giời ơi ! Chị thèm sơn lắm sao, áo gì mà dính đầy sơn cả…Bơm…chi rứa bay !....Ha ha ha…bà con coi kìa : người về từ thùng vôi…ha  ha  ha….

Còn gì vui hơn nữa, tuổi trẻ sống lại từ đây. Cùng nắm tay nhau đi chung một con đường xây dựng, giúp đỡ thương yêu người, ta nghe lòng hớn hở. Ngoài kia, mương đã đào xong, nụ cười chợt nở lên trong làn mồ hôi mỏng. Sơn cũng vừa hết, vôi đã tạm xong, mọi người nhìn nhau thoải mái thông cảm.

Công tác chấm dứt bằng một màn khao "cà lem’ của thầy Hiệu trưởng Mỹ Lộc. Vài bô hình kỷ niệm, lời cầu chúc "phẻ phắn" hứa hẹn. Sau lời cảm tạ cùng ít lời khuyên nhủ xây dựng của thầy Hiệu trưởng, đoàn chia tay  lúc 11giờ 30 phút mang theo một niềm vui khôn tả.

(Thiếu Nhi số 92, ra ngày 3-6-1973)

Cảm tạ trong kỳ trại du ngoạn

PHAN RANG - CAM RANH - NHA TRANG

 

1) Gia Đình Thiếu Nhi Đà Lạt kính gởi lời cảm tạ đến ông Thiếu tá Quận Trưởng quận Ninh Chữ, Phan Rang đã giữ gìn an ninh cho chúng em trong đêm cắm trại ngày 2-7 tại bãi biển.

2) Gia Đình Thiếu Nhi Đà Lạt chân thành biết ơn Ngài Trung tâm Trưởng  và 2 Thầy đặc trách Thiếu Nhi Tin Lành Việt Nam, Nha Trang đã cho chúng em cắm trại trong khuôn viên.

3) Gia Đình Thiếu Nhi Đà Lạt tỏ lòng thân ái cùng các bạn Thiếu Nhi Nha Trang  đã sinh hoạt chung với Đà lạt trong " trại liên kết" , nhất là anh Đại diện Thiếu Nhi Nha Trang cùng các đội trưởng đã đến trại với Đà lạt trong 03 đêm (một đêm lửa trại).

Gia Đình Thiếu Nhi Đà Lạt

  (Thiếu Nhi số 99, ra ngày 22-7-1973)

CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT

GIA ĐÌNH THIẾU NHI TOÀN QUỐC

(12-08-1973)

°

- 10 Phút : Đồng ca bài "Thiếu Nhi Việt Nam hành Khúc (của nhạc sĩ Phạm Đức Huyền) – Băng reo.

- 15 phút : Trò chơi mạnh (động) để Thiếu nhi có dịp vùng vẫy tay chân cho máu nóng lên- Trò chơi kỳ này "Thỏ Què Chân" ( coi trang 23 số này)

- 15 phút : Tập bài hát mới : Tim Hồng Reo Vui (Thiếu Nhi số 80)

- 15 phút : Thực hành thủ công hay chuyên môn trại. Tuần này : Thực hành các nút trong các số Thiếu Nhi cũ.

- 5 phút : Ôn bài hát tuần trước – Kỳ này ôn bài Việt Nam -Việt Nam.

- 20 hay 25 phút : Thảo luận , kể chuyện, thuyết trình và phê bình. Đây là một tiết mục khá quan trọng và cần thiết cho Thiếu Nhi. Thế giới hiện đại tiến bộ nhanh chóng nhờ vào sự suy luận, nhận xét, phán đoán…của bộ óc con người. Do đó chúng ta phải cố gắng phát triển về mặt tư tưởng nhiều  hơn mới mong theo kịp đà tiến hóa.

Ban Điều Hành Trung Ương mỗi tuần sẽ đưa ra một đề tài liên quan đến những vấn đề mà thiếu nhi thường gặp khó khăn, hay những đề tài liên quan tới lịch sử, địa dư, danh nhân Việt Nam…Thiếu Nhi Việt Nam đã " bị và được"  nghe quá nhiều nhưng rất ít dịp được bộc lộ cảm nghĩ của mình. Mục này lập ra  nhằm đem tới một môi trường thuận lợi cho sự mạnh dạn, và tự do phát biểu ý kiến, cảm nghĩ và cũng để thiếu nhi tập suy luận, tìm hiểu một vấn đề nào đó. Sau mỗi buổi sinh hoạt, đại diện các Chi nhánh hãy làm một bài phúc trình gởi về Ban Điều Hành T/Ư về mọi ý kiến đã được các thiếu nhi tán đồng và những ý kiến chưa thống nhất trong phần sinh hoạt này. Ban Điều Hành T/Ư sẽ tổng kết  và trình bầy để các bạn cùng thu thập những ý kiến hay của nhau. Bài phúc trình không cần dài, chừng hai hay ba trang thì vừa. Các chi nhánh có thể thảo luận những vần đề liên quan tới địa phương của mình.

Đề tài tuần này : Các bạn mong gì, suy nghĩ gì trước và sau khi gia nhập Gia đình Thiếu Nhi ? Các bạn có  ý kiến gì để cải tiến sinh hoạt của Gia Đình Thiếu Nhi.

- 10 phút : Trò chơi nhẹ (tĩnh) thường trò chơi này chú trọng trên sự chú ý và bộ óc hơn : Trò chơi tuần này : "Hỏi Gà , đáp Vịt".

- 15 phút : Linh tinh. Thời gian này dành cho các Thiếu Nhi giúp đỡ lẫn nhau hay hàn huyên. Chẳng hạn một Thiếu Nhi được giao phó làm bài thuyết trình ở lớp nhưng chưa có đủ tài liệu, Thiếu Nhi này sẽ thông báo để nhờ các bạn cho mượn tài liệu  hoặc chỉ dẫn…các bạn có thể nêu ra những khó khăn, thắc mắc ở gia đình, học đường....để cùng nhau giải quyết. Đây cũng là thời gian dự bị cho những bất ngờ.

- 10 phút : Thông báo - Tin Tức - Tạm biệt : "Lúc thú vui này"  hay "Dây thân ái".

Ban Điều Hành T/Ư mong rằng sẽ giúp đỡ các bạn phần nào và hân hoan nhận sự đóng góp của các bạn.

(Thiếu Nhi số 101 -Ra ngày 3-8-1973)

Chương 3

Nhà văn, Nhà Thơ, Nhà Biên khảo LÊ MINH QUỐC đã từng là độc giả của Thiếu Nhi

 

LÊ MINH QUỐC là một ngòi bút nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay. Ông sinh năm 1958 tại Đà Nẵng. Năm 1977-1983 đi bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Kampuchia. Học Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Tp.HCM. Là hội viên của Hội Nhà Báo Việt Nam, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam. Từ 1988 đến nay, ông  làm việc  tại báo Phụ Nữ TP.HCM .

Thuở thiếu thời (1971-1975),  Lê Minh Quốc còn là độc giả của báo Thiếu Nhi, và nhờ mới đây ông đưa lên trang web leminhquoc.vn một bài viết có tựa đề  "Thưở Mơ Làm Thi Sĩ", chúng tôi mới được biết là ông đã từng gửi Thơ đăng trên báo Thiếu Nhi cùng là gia nhập Gia Đình Thiếu Nhi từ ngày 31-7-1972.

Vì tài liệu kể trên đã được lên trang Web nên chúng tôi tin là tác giả Lê Minh Quốc chỉ nhắc lại chuyện này như một kỷ niệm đáng ghi nhớ trong thời mới chập chững bước vào làng Thơ nên nhân dịp ấn hành phần mang nhiều tư liệu về báo Thiếu Nhi, chúng tôi mạn phép in lại nguyên văn bài viết kể trên mặc dù chưa có cơ hội xin sự chấp thuận của tác giả, nên mong được tác giả cảm thông và thứ lỗi.

Cũng phải nên nói thêm rằng, cậu học sinh Lê Minh Quốc với bút hiệu Thiên Bất Hủ năm nào còn rụt rè gửi bài thơ đầu đời đến tòa soạn Thiếu Nhi và hồi hộp mong chờ được đăng, nay Lê Minh Quốc đã trở thành nhà Văn, nhà Thơ, nhà Biên khảo kiêm cả Họa sĩ với rất nhiều tác phẩm đã ấn hành ở trong nước. Xin liệt kê (không thể kể hết) như sau :

- Thơ : Trong Cõi Chiêm Bao, Ngày Mai Còn Lại Một Mình Tôi, Thơ Tình Của Quốc, Tôi Vẽ Mặt Tôi, Nếu Không Còn Cổ Tích (thơ thiếu nhi), Đất Bên Ngoài Tổ Quốc, Yêu Em Đà Nẵng, Tôi Chạy Theo Thơ…

- Truyện: Sân Trường Kỷ Niệm, Mùa Thu Đứng Trước Cổng Trường, Vẽ Hồn Mưa Để Nhớ,  Thu Của Mỗi Người, Hoa Cúc Không Phải Mầu Vàng….

- Bút Ký : Một Ngày Ở Mỹ, Du lịch của Người Câm, Gái Đẹp Trong Tôi…

- Tiểu Thuyết Lịch Sử : Nguyễn Thái Học, Tướng Quân Hoàng Hoa Thám, Nguyễn An Ninh Dấu Ấn Để Lại, Chiến Tướng Tôn Thất Thuyết…

- Biên Khảo : Tiếng Cười  dân gian hiện đại Việt Nam, Hành Trình Chữ Viết, Mối tình đầu của các Danh Nhân, Hỏi Đáp Giáo Dục Việt Nam….

THUỞ MƠ LÀM... THI SĨ

LÊ MINH QUỐC viết

Năm lớp bảy, suốt ba tháng hè được nghỉ học tôi tha hồ trốn nhà theo lũ bạn đi tắm biển Mỹ Khê, Thanh Bình. Lần nọ, khi hay tin tôi suýt chết đuối, ba tôi bực lắm. Biết chắc thế nào chiều về cũng bị một trận đòn nên thân, tôi láu cá xin mẹ cho lên nhà ông ngoại tôi tìm chỗ náu thân. Ở đây, ngày qua ngày tôi tha hồ thẩn thơ dạo chơi trong vườn cây xanh, xem hoa nở, nghe chim hót... Riết rồi cũng chán. Tôi vào chui vào phòng ngủ của ông cậu tìm sách đọc. Bất kỳ sách nào lọt vào tay là tôi đọc. Để giết thời gian. Không hiểu cũng đọc. May mắn, có những bài thơ in trên tạp chí Phổ Thông do nhà thơ Nguyễn Vỹ làm chủ nhiệm thì tôi hiểu chút đỉnh.

 "Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng...". Cái nhịp điệu khoan thai ấy đã đi vào trong trí nhớ từ lúc nào cũng không rõ nữa. Đến một lúc, tôi bắt đầu tập tễnh... làm thơ. Bấy giờ, tờ báo Thằng Bờm cũng của nhà thơ Nguyễn Vỹ đã ra đời. Tôi bắt đầu gửi những bài thơ đầu tiên của mình đến tờ báo này, nhưng không được in. Ít lâu sau, tờ báo Thiếu Nhi của ông chủ nhà sách Khai Trí cũng góp mặt trong làng báo. Tờ báo do nhà văn Nhật Tiến làm chủ bút. Tôi lại gửi thơ của mình về cái địa chỉ mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in trong óc "159 Thiệu Trị, Phú Nhuận, Sài Gòn"

Gửi thơ cộng tác với báo như gieo hạt. Chờ ngày hạt nẩy mầm. Chờ từng số báo. Mỗi kỳ báo ra là hồi hộp lật từng trang báo còn thơm mùi mực in để xem bài mình có được in hay không? Sau nhiều lần thất vọng, lần đầu tiên tôi rú lên khi thấy cái bút hiệu của mình năm chình chình trên mặt báo. Sướng nhé. Sướng suốt mấy ngày liền. "Tác phẩm" đầu tiên của tôi được in trên báo là bài Em tôi - in trên báo Thiếu nhi số 89 (13.5.1973). Năm đó tôi  13, 14 tuổi.

Sau này, trong một lần lang thang tại các hiệu sách cũ, tôi mua lại được tờ báo này và đọc ngấu nghiến. Như gặp lại người bạn thuở ấu thời. "Em tôi bé nhỏ/ Bầu bĩnh dễ thương/ Trên môi son đỏ/ Nụ cười trầm hương...". Nay đọc lại những bài thơ của cái thuở ấy, tôi thấy mình làm thơ ngày một... tiến bộ.  Bằng chứng là sau đó tôi liên tục có thơ in trên báo này - mà thơ ngày càng hay thế có chết không chứ! Này nhé! "Mười ba tuổi tập làm thơ/ Ngồi trong lớp học ngẩn ngơ nhìn trời/ Lắng nghe chim hót đầy vơi/ Quên lời cô giảng được xơi trứng gà"; hoặc "Quê nhà buổi sáng tinh sương/ Con gà trống gáy sau vườn ó o/ Xa xa bác mặt trời to/ Như vừa thức giấc tròn vo là tròn"...

Chương 4

Thời điểm : Sài Gòn, tháng 5 - 1973

Nhà văn-Nhà báo với vấn đề kiểm duyệt

Chuyện vui buồn ở tòa soạn:

Trung úy Lê Sơn Cương: Chánh Sự Vụ Sở Kiểm Duyệt

 

Chuyện vui buồn ở Tòa Soạn Thiếu Nhi thật ra nếu đem kể hoài sẽ liên miên bất tận. Nhưng để khỏi choán chỗ của tờ báo, tôi xin tạm chấm dứt loạt bài này ở đây và xin hẹn sẽ trở lại mỗi khi cần bầy tỏ với bạn đọc những chuyện vui buồn. Trong liên tiếp 8 kỳ báo  vừa qua, được độc giả theo dõi từng chi tiết nhỏ, và nhiều bạn, nhiều em đã gửi thư về chia sẻ sự vui buồn với người viết, tôi hết sức cảm kích và xin gửi ở đây lời cảm ơn chung.

° ° °

Phần cuối cùng của loạt bài này, chúng tôi muốn dành riêng để nói về một nhân vật đã và đang ân thầm góp phần tích cực vào việc lành mạnh hóa sách báo thiếu nhi.

Đó là Trung Úy Lê Sơn Cương, Chánh Sự Vụ Sở Phối Hợp Nghệ Thuật (tức Sở Kiểm Duyệt sách báo, văn nghệ phẩm) thuộc Tổng Ủy Dân Vận.

Tôi gặp anh Lê Sơn Cương lần đầu tiên  tại buổi Hội Thảo về Sách Báo do Ủy Hội Quốc Gia  thuộc UNESCO (Cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc) tổ chức.

Phải thành thật mà nói, trong cương vị của một người viết văn, tôi không ưa gì mấy ông trong Hội Đồng Kiểm Duyệt, hay nói cho đúng hơn, là không ưa chế độ kiểm duyệt.

Tuy  nhiên, nghĩ cho cùng, trong một quốc gia có cuộc chiến tranh lâu dài, việc bãi bỏ hoàn toàn chế độ kiểm duyệt, tuy có lợi ở phương diện này thì lại đồng thời có hại ở phương diện khác. Cho nên tôi cho là anh Lê Sơn Cương, trong cương vị của một nhân vật đại diện cho chính quyền, đã hữu lý khi anh phát biểu ý kiến này trong buổi hội thảo :

- Dù ở bất cứ quốc gia tự do nào, thì quan niệm tự do không phải là mạnh ai muốn làm gì thì làm. Sự tự do phải được hiểu là có ý nghĩa tương quan tập thể, tôn trọng quyền lợi của tập thể. Bởi vậy giữa chính quyền và văn nghệ sĩ, ít nhất phải gặp nhau ở một vài điểm tương dồng. Tại điểm tương đồng ấy, hai bên thỏa thuận vạch một vòng phấn giới hạn. Việc kiểm duyệt chỉ là một biện pháp ngăn chặn những tác phẩm đi ra ngoài vạch phấn đã được sự thỏa thuận của hai bên.

Thú thật, khi nghe lời biện minh ấy, tuy nó hữu lý nhưng tôi không mấy tin tưởng.Tôi đã nói riêng với anh Lê Sơn Cương là trong hơn 10 năm sáng tác, tôi cũng đã nhiều lần khốn đốn về vấn đề kiểm duyệt, và nếu không nhờ cảm tình bạn bè của các anh em thì tác phẩm của tôi đã có nhiều cuốn phải liệng bỏ vì bị gạch xóa quá nhiều. Như cuốn Quê Nhà Yêu Dấu đáng lẽ bị gạch bỏ một phần tư trước khi in, cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn bị gạch nát bằng bút đỏ và cuốn Giọt Lệ Đen bị bỏ đi mấy truyện.

Thi hành một chính sách mà chỉ dựa vào tình cảm cá nhân thì công việc  sẽ trở nên rất phiêu lưu. Giả sử nếu tôi không có hân hạnh được quen biết, hay giả sử những người quen biết của tôi rời nhiệm sở cũ, thì sự thể sẽ ra như thế nào ?

Anh Lê Sơn Cương, khi đó mới về nhận chức Chánh Sự Vụ Sở Phối Hợp Nghệ Thuật đã nói với tôi :

- Từ nay anh đừng lo. Tất cả sách của các anh do đích thân tôi đọc. Muốn xóa của các anh, dù chỉ một dòng, một chữ, tôi cũng sẽ mời các anh lên  thảo luận trực tiếp. Nếu lý tôi thua, tôi xin để nguyên, không gạch xóa.

Thừa dịp ấy, tôi nói ngay với anh :

- Chính sách kiểm duyệt của Bộ Thông Tin đã gây cho anh chị em văn nghệ sĩ nhiều ấn tượng không tốt đẹp. Nhiều người có sách viết xong không dám mang đi kiểm duyệt, sợ bị xóa bỏ, sẽ uổng công đánh máy.

Anh Lê Sơn Cương nói :

- Tôi cam đoan với anh hành cảnh ấy đã chấm dứt rồi. Ai có sách, anh cứ bảo mang lên trực tiếp với tôi.

Ít hôm sau, tôi thuật lại câu chuyện trên với nhà văn Bùi Kim Đĩnh và nói với anh cứ đem cuốn Đốt Xác lên kiểm duyệt. Kết quả, cuốn sách  của anh Bùi Kim Đĩnh tưởng sẽ không ra được, cũng đã được giấy phép ấn hành. Cuốn này do nhà Huyền Trân xuất bản và đã được bầy bán ở các tiệm sách trong tuần lễ vừa qua.

Tôi bắt đầu thấy mến anh Lê Sơn Cương từ sau vụ ấy. Anh là người đầu tiên xóa bỏ được cái hố ngăn cách giữa tôi với giới chức có thẩm quyền gạch xóa tác phẩm.

Sau tôi được biết anh còn mắc võng ở ngay bàn giấy để làm việc từ sáng đến khuya (chắc khi đó anh độc thân), tôi lại càng mến tác phong nồng nhiệt, trẻ trung, hăng hái của anh.

Một lần gặp gỡ khác, tôi đã hết sức phàn nàn với anh về việc sách báo nhảm nhí nhi đồng đã được in lậu (ngụy trang số Kiểm Duyệt) để phát hành bừa bãi. Anh Lê Sơn Cương đã trình bầy với tôi về tất cả những công trình của anh trong việc đối phó với bọn gian thương làm giầu  trên sự đầu độc  tinh thần tuổi thơ ấy.

Tính đến cuối năm 1972, sau 10 tháng sục sạo, anh đã đích thân  đi từng tiệm sách bán xon để đem ra xa lộ tiêu hủy cả thẩy 59.014 cuốn báo nhảm nhí  như Chú Thoòng, Ma lai rút ruột, Quỷ truyền kiếp hiện hình, Quỷ nhập tràng, Quỷ báo oán..v..v…

Riêng trong kỳ phát động đợt I của đầu năm 1973, sau 11 ngày công tác tảo thanh báo nhi đồng nhảm nhí, anh cũng đã tịch thu được 11.300 cuốn  truyện nhi đồng in lậu, 8.395 cuốn báo trẻ em nhảm nhí và 2721 cuốn sách đồi trụy, tổng cộng  là 21.416 cuốn sách, báo được đem ra đốt ngoài xa lộ cùng lập thủ tục truy tố ra tòa  những người liên hệ đến việc giả mạo giấy phép của Sở Phối Hợp Nghệ Thuật.

Một hôm trong tuần lễ trước (đầu tháng 5-1973), tôi có công việc phải tới Phòng Kiểm Duyệt, tôi đã gặp anh Lê Sơn Cương vừa xuống xe Jeep  ở đầu cầu thang. Mồ hôi mồ kê của anh nhễ nhại, khuôn mặt đi nắng đỏ gay, hai tay anh xách hai chồng báo nặng trĩu mới vừa đi tịch thu về. Theo sau anh còn mấy nhân viên trực tiếp nữa cũng đang rỡ những chồng báo nhảm nhí còn đang chất chồng trên xe. Hình ảnh tận tụy với nhi đồng của anh làm tôi hết sức xúc động. Công việc của anh chẳng khác công việc của một anh hùng vô danh. Anh đã âm thầm làm, và làm một cách kiên nhẫn, liên tục và can đảm. Bởi phải có can đảm  mới dám đương đầu  với bọn gian thương, vì ở thời buổi  này, chỉ cần một số tiền  thuê nhỏ nhoi là cũng sẽ có kẻ sẵn sàng tìm tới anh để thanh toán.

Mặc dầu ảnh hưởng của loại sách báo nhảm nhí còn đang đè nặng lên sinh hoạt tinh thần của tuổi thơ, và mặc dầu  gian thương vẫn còn có ba đầu sáu tay tìm đủ trăm phương ngàn kế để làm giầu một cách bất chính, nhưng nỗ lực  của anh Lê Sơn Cương thật đáng đề cao.

Buổi gặp gỡ hôm ấy, tôi đã nắm chặt tay anh mấy lần. Xin anh hiểu cho đó là những cái xiết tay chân tình, cảm mến, bởi việc làm của anh dành cho tuổi thơ chính là cùng một mục đích mà Gia Đình Thiếu Nhi đang theo đuổi .

NHẬT TIẾN

(Thiếu Nhi số 91, ra ngày 27-5-1973)

Chương 5

Thời điểm : Sài Gòn - Tháng 7, 1973

MỘT VÒNG THỊ TRƯỜNG SÁCH BÁN XON TRÊN VỈA HÈ SÀI GÒN

 

Tường trình của  BÁCH KHOA

( Một bút hiệu của Nhật Tiến, phụ trách mục Thắc Mắc Của Em trên tuần báo Thiếu Nhi)

 

Sinh hoạt sách báo ở VN (thời điểm 1973) có một  khía cạnh hết sức độc đáo.

Đó là  thị trường mua, bán sách xon (Tiếng Pháp: Solde=hàng bán hạ giá)

Trung tâm  của thị trường  sách xon là lề đường Công Lý, khúc từ ngã tư đường Lê Lợi lên tới gần ngã tư đường Hàm Nghi. Một rừng sách báo  tràn ngập hai bên vỉa hè: sách bầy la liệt ở dưới đất, sách nằm ngổn ngang trên sạp gỗ đóng sơ sài, sách dựng bên bờ tường, sách nằm trong thùng sữa, sách chất thành đống, cao thành ngọn dưới gốc cây, bên miệng cống, không mái che, không thảm lót, sách chen chúc với chỗ đậu xe hơi, lấn át nơi dựng xe gắn máy, choán cả đường đi của mọi người đang chen chúc.

Lạc vào đây, người ta ngợp mắt vì sách, lách qua sách mà đi, dẫm lên sách mà sấn tới, bò lổm ngổm trên từng đống sách để bới, để tìm. Gặp cuốn nào không vừa ý thì liệng đại xuống rồi lại bới nữa, tìm nữa…dưới ánh nắng gay gắt như đổ lửa  hay dưới bầu trời vần vũ  đe dọa bởi cơn mưa.

Những ai thích sách, yêu sách, ít tiền mà vẫn muốn có sách cất giữ thì không thể không ghé nơi đây một lần. Đối với những dân mọt sách, đã từng phải bỏ ra cả ngàn bạc để mua một cuốn sách mỏng teo trong tiệm sách (trong khi giá 1 cuốn báo Thiếu Nhi 32 trang là 50 đồng theo thời giá năm 1972, qua năm 73 lên giá 6o đ) hẳn thấy giá cả ở đây quả là một…thiên đường !

MỘT CÁI NHÌN SƠ LƯỢC

Đi vào chợ sách, muốn tìm được những cuốn sách tốt, sách quý nằm trong những đống sách ngút ngàn, trước tiên phải có tinh thần mê sách rồi thứ đến là có nhiều thì giờ  rảnh rỗi. Phải chịu khó mấy mò, ngồi lê bê lết bết trước đống sách hết giờ này qua giờ khác, để lục, để tìm, để lựa chọn, và nếu gặp may mắn, ta có thể moi ra được nhiều cuốn sách đáng giá một cách bất ngờ. Như thể :

- Một cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu in năm 1942 được bán với giá hai chục đồng.

- Một cuốn Quốc Văn Sơ Học Độc Bản in năm 1936 bán sáu chục đồng.

- Tập truyện dài Cu Tý của Thy Thy Tống Ngọc do họa sĩ Vi-Vu Bùi Xuân Phái  minh họa bìa, in năm 1953 ở Hà Nội bán có 5 chục.

- Bộ Thiên Văn Học của Nguyễn Dương Đôn in năm 1949 trọn bộ 2 cuốn bán 160 đồng.

- Tập truyện Nhân Gian, minh họa theo lối cổ truyền, in mầu, xuất bản ở Hà Nội 1960 (không hiểu vì lý do nào lại lạc vô rừng sách xon ở Sài Gòn!) được bán với giá 20 đồng , chưa bằng nửa giá tờ tuần báo Thiếu Nhi !

- Cuốn tiểu thuyết giáo dục Truyện Loài Vật  của Tô Hoài, ấn bản 1952 của nhà Chính Ký  ở Hà Nội, gồm 5 tập truyện đã in trong tuần báo Truyền Bá ngày xưa, dầy 214 trang, chỉ bán với giá 40 đồng.

…v..v..

Đó là kể những sách đã tuyệt bản mà lâu lâu gặp may, người chơi sách có thể bắt gặp nó đang nằm lăn lóc giữa những chồng sách ngổn ngang bên vỉa hè.

Còn về những cuốn sách giá trị nhưng chưa tuyệt bản thì cũng có thể mua được dễ dàng ở chợ sách bán xon với giá rẻ mạt. Thí dụ như :

- Cuốn Thú Chơi Sách của Vương Hồng Sển in năm 1960, dầy 176 trang do Cơ sở Tự Do ấn hành, mặc dầu đã dán giá mới 250 đ cũng bán với giá 100 đồng.

- Cuốn Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh, Nguyễn Hoạt dịch dầy 230 trang do cơ sở Tự Do ấn hành năm 1960 cũng bán đồng giá 100 đồng.

- Bộ truyện lừng danh Cuộc đời ly kỳ của bác sĩ Arrow Smith, giải Nobel Văn Chương năm 1930, Trương Bảo Sơn dịch, ấn bản offset in ở Phi Luật Tân, trọn bộ 2 cuốn dầy ngót 1.000 trang, giá chỉ 400 đồng.

- Rồi những bộ  báo quý như Văn Hóa Ngày Nay, Giữ Thơm Quê Mẹ, Quê Hương, Trình Bày, Đại Học Quân Sự, Tập san Quốc Phòng, những số báo lẻ ngoại quốc  như Science et Vie, Mécanique Populaire, Tout Savoir, Femme et Ménager, Femme Aujourd’hui..v..v..lâu lâu lại thấy xuất hiện cả chồng đã được chiếu cố rất kỹ bằng một giá rẻ mạt từ 20 đến 100 đồng tùy loại.

Trên đây mới chỉ là một vài nét sơ lược chỉ mặt, vạch tên một vài cuốn sách, tờ báo nằm trên vỉa hè. Để bạn đọc có ý niệm rõ ràng hơn về các sách báo bán xon, người viết thử cố gắng làm một sự phân loại chúng, mặc dầu trong rừng sách ngút ngàn hỗn tạp ấy, sự phân loại cũng chỉ rất là tương đối.

PHÂN LOẠI CÁC SÁCH BÁN XON

A/ Sách Giáo Khoa:

Sách Giáo Khoa có thể chia làm nhiều thứ :

1) Loại sách Giáo Khoa thuộc chương trình cũ :  Số lượng này hết sức đông đảo, bởi vì chương trình học trong vòng mười năm trở lại đây thay đổi gần như thường xuyên. Mỗi lần có một sự sửa đổi là một loạt sách, dù mới in ra, cũng trở nên lỗi thời. Sách vì thế có cơ hội đổ ra vỉa hè, thuộc đủ loại, nhiều nhất là sách Toán, Lý, Hóa, Công Dân, Sử Địa, Vạn Vật, Quốc Văn. Sách càng cũ giá bán càng rẻ : một cuốn Hóa Học lớp Đệ Nhất, một cuốn Vạn Vật Đệ Nhị, một cuốn Vật Lý Đệ Tam, giá đồng loạt 20 đồng. Nói rằng  đó là những sách bỏ đi thì không đúng. Nó chỉ lỗi thời so với chương trình mới nhưng  vẫn còn hữu dụng  đối với người mua. Bởi chương trình học không gọi được là đổi  mà chỉ là đảo. Tỷ dụ phần Quang Học, hồi năm 1958, 1959  nằm trong chương trình lớp Đệ Ngũ thì bây giờ leo lên  chương trình lớp Đệ Tứ và Đệ Nhị. Phần Cơ cấu Nguyên tử trước ở chương trình lớp Đệ Nhất hay dự bị Đại Học thì bây giờ xuất hiện trong chương trình Hóa Học lớp Đệ Tam..v..v.. Cho nên học sinh muốn mua thêm sách để tham khảo, muốn có bài tập giải sẵn để trau giồi thêm bài học ở nhà trường khỏi phải  tìm đâu xa. Trong rừng sách xon có đủ loại tên giáo sư đầy đủ uy tín, bảo đảm khả năng viết sách, có thể yên tâm bỏ ra hai chục  mua một cuốn đem về học thêm.

Duy có một nhận xét sau này ta phải công nhận, là càng về sau này, kỹ thuật soạn sách, in sách Giáo Khoa càng tiến bộ. Cho nên một cuốn sách soạn theo cùng một chương trình, in hồi trước  và in bây giờ  đã có một sự khác biệt về phẩm chất ấn loát khá xa. Nhưng  là một khách hàng nếu trung thành với sách bán xon, bạn cũng chẳng  nên làm một cuộc so sánh làm chi. Chung qui cũng chỉ vì lẽ túi tiền eo hẹp…

2) Loại sách Giáo Khoa cóp y hệt sách ngoại quốc:

Đây là một lối làm ăn tuy bất chính nhưng đem lại mối lợi lớn lao cho các tay tổ mang nhãn hiệu "Made in Chợ Lớn" và đồng thời cũng khiến cho bà con hiếu học ở VN  phần nào dễ thở.

Khi hối suất đồng Mỹ Kim càng lên cao thì sách báo ngoại quốc càng đắt giá. Như một tờ Paris Match trước 400 đồng nay lên tới 1.200 đồng (gửi theo lối Hàng Không-Air mail). Một cuốn thuộc loại sách bỏ túi (Livre de poche) trước 20 đồng sau lên 40 đồng, rồi 80 đồng, rồi 120 đồng và bây giờ là 250 đồng.

Các sách giáo khoa ngoại quốc, dù mỏng teo cũng đề giá cả ngàn. Vần đề mua sách đầy đủ để học càng ngày càng trở nên  là một vấn đề lớn  so với túi tiền eo hẹp của phần đông các gia đình. Nhưng các tay tổ Chợ Lớn đã nhẩy vào "đại cuộc" để đi một đường gươm hiệp sĩ. Đường gươm này  là "sao" lại nguyên bổn tất cả các sách giáo khoa ngoại quốc thông dụng ở các trường học để bán lại với giá bình dân (nên nhớ  tình trạng này không phải chỉ ở VN mới có, mà ngay như ở Nhật, ở Hồng Kông, Đài Loan cũng rứa. Một cuốn về Kiến Trúc, nguyên bản đề giá 24 đô la, Nhật Bổn "sao" lại  bán trong nội xứ chỉ có 4 đô la rưỡi, ai mà không ham !)

Thế cho nên trên vỉa hè của chợ sách xon ta thấy đầy dẫy những bộ sách chụp lại nguyên văn, tất nhiên in trên giấy xấu hơn, ấn loát lem nhem hơn, nhưng cũng còn xài được. Đó là những bộ như English for Today, Cours de langue et de civilisation française, Mastering Americain English ….. Thậm chí bộ tự điển bỏ túi của nhà Larousse (Larousse de Poche) rất hữu ích cho học sinh Trung học, dầy 500 trang cũng được sao y nguyên bản, bán chỉ với giá 200 đồng (so với giá nguyên bản là 1.200 đồng).

Sách càng rẻ, học sinh càng mua nhiều, học sinh càng mua nhiều sách càng có cơ hội bán rẻ. Đó là qui luật phát hành, nhưng xin bà con nên nhớ là chỉ áp dụng cho những loại sách có nhu cầu cắt cổ, không có không được, mà thôi đấy nhé ! Chớ như tờ Thiếu Nhi , Tuổi Hoa xuống giá 30 đồng  thì sẽ lỗ chỏng gọng ra vì nó đâu có phải là nhu cầu cắt cổ. Chú Nhật Tiến đã chẳng có lần than rằng có nhiều độc giả mua Thiếu Nhi chỉ vì cái bìa đó sao? ( Thật ra như thế hơi oan, phải nên hiểu là có nhiều độc giả mua Thiếu Nhi thì đầu tiên là vì cái bìa trước đã, còn nội dung thì mở ra coi sau  sẽ biết !)

3) Loại sách Tiểu học VN in ở ngoại quốc:

Đây là loại sách được tài trợ của Hoa Kỳ, thuộc đủ mọi bộ môn như Lịch sử, Khoa Học thường thức, Công Dân Giáo Dục, Toán Pháp, Quốc văn ..v..v.. thuộc đủ các lớp tiểu học. Sách đã được Bộ Giáo Dục duyệt y, lại được in bằng kỹ thuật tối tân, nhiều mầu sắc. Cầm một cuốn Toán Pháp lớp Ba  trên tay mà như cầm một cuốn sách Luật dầy cộm trên Đại Học. Vậy mà được đổ ra bán xon trên lề đường từ 2 chục đến 4 chục một cuốn tùy theo mỏng, dầy.

Trong khi đó, nếu bà con cô bác có những con em học tiểu học sẽ thấy rõ tình trạng  sách vở của các em như thế nào. Vào đầu niên học, cô giáo ra lệnh xài sách nào thì  phải mua sách ấy. Những cuốn sách được chiếu cố kỹ nhất là sách của nhà Sống Mới với các tác giả như Bùi văn Bảo, Cao văn Thái … Phải mở thêm dấu ngoặc ở đây để nói thêm về vấn đề lương tâm và trách nhiệm của các nhà xuất bản đối với loại sách Giáo Khoa  đang dùng  ở bậc  tiểu học. Vì sách bán chạy, phải in nhiều, nên có những nhà xuất bản  bất chấp đối tượng  độc giả là các em học sinh tiểu học. Họ đã ấn loát những cuốn sách hết sức  lem nhem, hết sức  tồi tệ, tồi tệ từ bản đúc chì, đúc đi đúc lại cà hàng chục năm, chữ mờ, chữ gẫy, chữ mất mát không in lên giấy, rồi còn tồi tệ ở  cả việc đóng sách bằng dây kẽm, đóng ẩu, xén lệch, nhiều tờ bị lẹm vào đến mất cả chữ, và tồi tệ cả ở những chữ in sai, bỏ dấu sai cứ để thế hàng chục năm không thèm xếp chữ lại để sửa chữa, miễn sao in ra cho nhiều, cho kịp cung ứng  với nhu cầu  (hẳn là có sự ăn chịu) vào những dịp khai trường.

Chỉ tội nghiệp thay cho những em bé mới chập chững đánh vần, mới chập chững làm những bài tập đơn sơ đã phải nhìn lòi con mắt ra mới đọc, mới thấy, mới học thuộc được  một bài học ngắn không đầy 3, 4 dòng.

Hỡi các vị  đã và đang làm giầu trên sách giáo khoa cho trẻ nít, xin hãy thương đến các em nhỏ. Con cái thiên hạ  thì cũng là con cái  chúng ta, con cái các vị. Nếu các vị  có rủ lòng  thương xót một con chó, con mèo, con chuột bị trẻ nít  chọc lòi con mắt  thì cũng xin  các vị tốp bớt cái trò  làm lòi con mắt  trẻ nít do chính các sách giáo khoa  của các vị  tung ra  đang làm mưa làm gió  trên thị trường chữ nghĩa. Làm giầu, ai chẳng muốn. Nhưng đã giầu rồi thì cũng chẳng nên tham lam quá đáng đến độ  mất cả âm đức. Thời buổi này, quả báo nhỡn tiền, nhất định lẽ ấy không sai !!

B/ CÁC LOẠI SÁCH BIÊN KHẢO

Không đến nỗi bị xếp vào loại 2 chục, 4 chục đồng nhưng thường ở vào loại bán nửa tiền hoặc đồng  giá hàng loạt… một trăm…một trăm….

Ở đây, ta có thể tìm thấy đủ loại sách sưu khảo về đủ mọi vấn đề : Văn học, Khoa học, Chính trị, Xã hội, Học Làm Người, Tiểu sử, Công nghiệp, Danh nhân, Sưu khảo về Tướng số, Bói toán..v..v…Đặc biệt là những sách hồi trước được dịch từ nguyên bản ngoại quốc (do một nguồn tài trợ nào đó) bây giờ đổ ra bán xon ê hề nhưng coi mòi không được độc giả chiếu cố lắm nên vẫn chịu cảnh nằm phơi  mưa dãi nắng bên lề đường, giá đồng hạng 100 đồng/cuốn.

C/ CÁC LOẠI VĂN NGHỆ PHẨM

Sinh hoạt tiểu thuyết và các văn nghệ phẩm ở chợ sách bán xon tuy phức tạp nhưng cũng có thể chia thành 3 loại chính :

1) Loại tiểu thuyết đúng nghĩa với tinh thần bán xon : Nghĩa là loại sách cũ đã được in ra cách đây cả ngoài 10 năm, giấy đã vàng, bìa đã ố, đôi ba cuốn có giá trị, còn phần  đông ở tầm mức làng nhàng nếu không muốn nói là vô bổ, mua về đọc chẳng những không qua được đôi ba giờ giải trí  mà còn chuốc thêm những ý tưởng bực mình.

2) Loại sách bán xon đồng giá : Loại này đông đảo nhất, hiện diện gần như đông đủ  danh tính của các cây bút nổi tiếng miền Nam, các cây bút  tên tuổi tiền chiến và cả một số các cây bút ngoại quốc qua bản dịch như Jean Paul Sartre, Ionesco, John Steinbeck, William Faulner, André Maurois …v..v.. Nghĩa là đủ loại, đủ cỡ, từ truyện ngắn, truyện dài đến hồi ký, bút ký, phóng sự, kịch bản, khảo luận, phê bình … thuộc các ấn bản mới in chừng trong vòng 1, 2 năm trở lại, nhất nhất đều được bầy trên sạp gỗ bán với giá 80 đồng  không bao nylon. Một cuốn sách đề giá 200 đ, 300 đ bán với giá 80 đ, lại là  tác phẩm giá trị  của tác giả tên tuổi, ai chẳng không ham mà bỏ tiền ra mua. Ta có thể tìm thấy ở đây gần đầy đủ tác phẩm của Tô Hoài, của Lê văn Trương,  của Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Trần Tiêu ….v..v.. với những cuốn sách mà cách đây mươi mười lăm năm trước là những tác phẩm hiếm hoi , có thể phải mua với giá tới cả ngàn một cuốn vì toàn là sách tiền chiến.

Tại sao lại có tình trạng sách hay mà bán rẻ như thế ? Thật ra đây là  một cách giải quyết nạn kẹt vốn của các nhà xuất bản, đồng thời cũng biến luôn thành một lề lối xuất bản  mà mới chỉ vài năm gần đây mới xuất hiện. Đó là lề lối xuất bản sách chỉ để bán xon.

Giả sử tác giả X. là một nhà văn đang thời ăn khách. Ông ta (hay bà ta) được các tòa báo chiếu cố mời viết truyện từng kỳ trên trang báo hằng ngày, gọi là viết feuilleton. Có ông  hay bà nhận 7 feuilleton một ngày. Có những ông bà khác nhận 5 cái, 3 cái (làng báo xì xào là có vị cứ mở một cuốn truyện tranh ngoại quốc ra, mỗi ngày theo diễn tiến trong truyện tranh mà diễn tả ra văn Việt, thêm mắm thêm muối cho xôm trò là cũng được một ngày feuilleton, khỏi suy nghĩ !).

Vậy cứ tính trung bình một "nhà văn" viết 3 cái feuilleton cho báo hàng ngày, mỗi feuilleton trung bình cứ 3 tháng là chấm dứt để qua cái mới (trừ cái nào ăn khách thì cứ kéo dài cho đến khi độc giả chán thì mới thôi) thì sau 3 tháng đã có 3 tác phẩm mới. Lập tức có nhà chuyên xuất bản sách xon đến thương lượng in ra thành sách. Nhuận bút thường không tính theo 10% như thông lệ mà tính  theo…mớ ! Đổ đồng dầy mỏng trung bình cứ trả 20 ngàn một truyện. Cò cưa làm gì cái thứ sáng tác phi văn nghệ ấy ( xin nhớ là dù vậy vẫn có một vài tác phẩm in trên báo hằng ngày mà vẫn có giá trị, tuy nhiên số này hiếm).

Thế là nhà xuất bản đem in  một cách cẩu thả, lem nhem  không cần o bế lắm (thường là in ở các nhà in trong Chợ Lớn, thợ không biết đọc tiếng Việt, nhưng giá rẻ). Vốn in mỗi cuốn giả sử là 30 đồng. Đề giá 300 đồng. Phát hành đợt đầu  được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, nhưng chỉ vài tháng sau là  đổ ra bán xon chỉ với giá 80 đồng. Thế vẫn còn lời chán.

Độc giả thường có tâm lý đem so giá đề sau lưng sách với giá tiền phải bỏ ra. Càng thấy hời càng dễ dốc túi. Nhưng mấy ai biết đâu cái giá mà bạn chịu dốc túi là cái giá đã được tính toán trước để nhà xuất bản vẫn có lời. Còn chuyện in giá tiền lên bìa sách thì "nâng"  lên bao nhiêu mà chả được. Có luật nào cấm cản đề giá cao quá đâu !

3) Loại bán theo giá riêng :

Phần đông là sách mới in ra, hãy còn nóng hổi, hoặc sách đã in từ lâu  nhưng vẫn còn có giá trị (bởi tên tác giả hay bởi nội dung tác phẩm). Mua loại này, khách hàng phải trả giá cao hơn mặc dầu cũng được trừ. Tâm lý độc giả là thích được trừ, thường là 10% giá sách, có cuốn trừ 20 %. Mà cũng đừng tưởng khi được trừ như thế là bạn được giá hời. Thật ra việc trừ % cho độc giả như thế lại cũng nằm trong xảo thuật đề giá cao ở bìa cuốn sách. Nhà xuất bản, người bán sách có mất gì đâu, cũng chỉ là một cung cách để chiều lòng khách hàng mà thôi.

Trong một tương lai hẳn không mấy xa, khi sự nóng hổi của cuốn sách nguội dần, khi nhà xuất bản bắt đầu kẹt vốn hay cần thêm vốn để khai thác một cuốn sách mới, thì loại sách bán theo giá riêng này sẽ lại tụt xuống bàn nhì, nghĩa là lại được gạt qua bên chiếu "bán đồng giá 80 đồng" để nhường chỗ cho những cuốn mới. Và độc giả trung thành của  chợ sách xon lại  tha hồ mà lựa, mà mua những tác phẩm hay với giá vừa túi tiền. Sinh hoạt của chợ sách xon là như thế.

D/ CÁC LOẠI SÁCH BÁO NGOẠI QUỐC.

Hồi người Mỹ mới rút khỏi VN, chợ sách xon đổ ra không biết cơ man nào là sách Mỹ. Những cuốn sách hồi đầu còn để nguyên bìa trước, ấn loát tuyệt đẹp thuộc đủ các loại  như tiểu thuyết cao bồi, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết khoa học giả tưởng, chiến tranh, tình cảm, xã hội..v..v..mỗi cuốn chỉ bán với giá có 10 đồng (bằng 1/5 giá một tờ báo Thiếu Nhi hằng tuần !!). Cứ mua về  bầy cho chật ních  tủ sách để lấy đẹp  cũng vẫn còn rẻ thối.

Về sau, sách đổ ra nhiều hơn nữa, lần này có đủ loại sách biên khảo của các đại học, các nhà xuất bản danh tiếng bên Mỹ, sách về kinh tế có, chính trị có, nhân văn, xã hội có, dù dầy ba, bốn trăm trang hay bẩy, tám trăm trang cũng chỉ bán  từ 30 đồng tới 50 đồng một cuốn, chỉ hiềm có mỗi một điều là bìa trước của cuốn sách đã bị xé bỏ, do đó loại sách này cũng đã nằm trắng xóa cả dẫy lề đường.

Đề cập đến sách Mỹ mà không nói đến báo Mỹ thì cũng là cả một sự thiếu sót. Phần đông các báo Mỹ được bầy bán xon là các loại báo dành cho đàn ông, như Play Boy, For Men Only, Man’World, Mr, Sir, Bachelor, Adventure for men, All men, Pin up, Girl Illustrated, Swank, Rogue, Nugget, Dapper….vân vân.. và… vân vân…

Cuốn mới thì giá 150 đồng, cuốn cũ thì 8 chục, 5 chục, 3 chục, mỗi tấm ảnh mầu lớn xé ra ở tờ Play Boy thì 2 chục. Báo chí đã một thời đả kích rất mạnh về những loại báo nu này nhưng cho đến nay vẫn thấy bầy bán công khai.

Đi một vòng chợ sách bán xon mà trình bầy mới chỉ được như trên, kể ra vẫn còn là sơ lược. Nhưng muốn hiểu rõ ngọn ngành, muốn hưởng hết cái thú bươi  từng chồng sách cũ, ngắm từng loạt tạp chí, từ loại cũ như Giáo Dục Phổ Thông, Sinh Lực, Quê Hương, Minh Tâm, Văn Hữu, Chỉ Đạo…cho đến loại mới như Thứ Tư Tuần san, Thời Nay, Tân Phong, Đông Phương, Văn Học…v…v.. và muốn thấy mình quả thực đã hòa mình vào thế giới sách cũ, báo cũ thì phải tới tận nơi, bỏ thật nhiều thì giờ, tới lui thật nhiều buổi, la cà  thật nhiều sạp, nhiều khu, có lẽ chỉ như vậy thì ta mới thấy hết được cái cảm giác nôn nao, hào hứng, thi vị  của con mọt sách được rơi vào rừng sách  hay của con  chuột nhịn đói lâu ngày bỗng được sa vào đúng ngay cái chĩnh gạo.

Trong phạm vi ngắn ngủi  của một bài nửa phóng sự, nửa tường trình đầu Ngô mình Sở này, người viết chỉ biết  là đã cố gắng hoàn tất một phần vụ  nhỏ do tòa soạn giao phó  cho số đặc biệt chủ đề về Từ Bản Thảo đến Cuốn Sách này, đó là phần vụ viết bài về Sách Bán Xon. Hẳn nhiên là bài viết còn nhiều thiếu sót. Dám mong tòa soạn cũng như bạn đọc bốn phương vui lòng lượng thứ.

BÁCH KHOA
(Thiếu Nhi số 96 ra ngày 1-7-1973)

Chương 6

TẠP GHI - NHẬT TIẾN

( THIẾU NHI SỐ 129, ra ngày 15-9-1974)

 

Trong các phương tiện di chuyển hàng ngày, theo ý tôi, xe đạp  là thứ đem lại nhiều thảnh thơi nhất.

Giữa giòng xe cuồn cuộn chảy, giữa tiếng ồn ào của muôn ngàn động cơ rộn rã trong lòng phố, nếu đừng có gì phải gấp gáp vội vã, ngồi thả rễu trên yên của chiếc xe chậm chạp quay từng vòng xích, tôi tìm thấy cảm giác của kẻ tách rời ra ngoại cuộc, để đứng bên lề nhìn dòng đời đang hối hả trôi xuôi.

Tôi đã nhìn thấy được biết bao  nhiêu là thứ mà nếu có ngồi trên một xe có động cơ , khó có thể ai đã nhìn thấy.

Một mô đất quen thuộc trên đường phố. Một cái kẹp tóc nhỏ xíu của cô nữ sinh nào đó đánh rơi nằm giữa lớp bụi đường. Một búi rác gần bít kín một miệng cống trong những ngày nắng ráo. Một cậu học sinh vừa đi vừa mở sách ôn lại bài.  Vẻ mặt nhớn nhác của một bà nội trợ đang đi tìm tờ giấy bạc nào đó đánh rơi.

Mỗi ngày là thêm một hình ảnh mới. Mỗi đoạn đường có thêm  một xen sinh hoạt. Và tất cả những thứ đó đã gom tụ lại để trở thành đời sống. Thật tầm thường, nhưng quý giá biết bao.

Tôi không mong gì hơn là đời sống cứ kéo dài bình dị như thế, nhưng là ở mọi nơi, mọi chốn, trên cùng khắp dải quê hương yêu dấu này.

Ngày hôm qua, báo chí đăng tải những bức hình của những đồng bào đang tất tả chạy ra khỏi vòng lửa đạn. Vẻ mặt mọi người đều sợ hãi, kinh hoàng. Những cụ già. Những phụ nữ. Và trẻ em.

Cô thiếu nữ kia chẳng còn kẹp tóc  mà đánh rơi.

Em bé nọ đã không còn trường học để có thể vừa đi vừa  ôn bài.

Người phụ nữ đó đã chẳng thể cắp rổ ra khỏi nhà để mà đánh rơi một tờ giấy bạc  trên đường hàng ngày tới chợ.

Giữa  cơn kinh hoàng đang xẩy đến, ước mơ được trở về đời sống bình dị  quả là  sự mơ ước cao xa và  nó trở nên quý giá biết đến chừng nào.

Một tác giả đã nói : Hạnh phúc nằm trong tầm tay với.  Nhưng chỉ khi  nào nó đã rời xa, ta mới  chợt  nhận ra là  đã để cho nó vuột đi  và lòng ta tràn đầy tiếc nuối.

Mấy ai tìm thấy niềm vui khi đi trên con đường thơm mùi đất ẩm xen lẫn hương vị  ngai ngái  của rác đốt, hoặc lòng  phơi phới  khi chỉ thấy từng sợi khói xanh lơ bay êm ả trên  từng mái nhà tranh trong đồng quê lặng lẽ.

Bây giờ khói lửa lan tràn, những hình ảnh ấy chỉ còn như cái bóng của hạnh phúc  êm đềm đã vuột khỏi tầm tay và chỉ còn chập chờn  trong trí nhớ.

Đất nước ta đã trải qua hơn hai mươi lăm năm khói lửa. Chưa có một cơ quan thăm dò dư luận nào mở ra một cuộc phỏng vấn để  tìm hiểu xem trong lòng mọi người  dân ta  coi người này kẻ kia sẽ mơ gì ?

Về phần tôi, nếu được hỏi đến, tôi sẽ trả lời :

- Tôi ước mơ sẽ được thảnh thơi đạp xe  trên mọi nẻo đường của quê hương đất nước, hàng ngày đi giữa dòng đời rộn rã  trôi xuôi, lại sẽ bắt gặp những hình ảnh tầm thường, bình dị.

Như một cái kẹp tóc bên vệ đường, một mái đầu xanh đang dán mắt lên tập vở để ôn bài, hay những bà nội trợ với chiếc giỏ đầy ắp đồ ăn trên đường về chợ, vẻ mặt không còn hằn lên  những vẻ lo âu, thảng thốt, dấu hiệu của những đêm dài trằn trọc.

NHẬT TIẾN
(Thiếu Nhi số 129, ra ngày 1-9-1974)

Chương 7

Thời điểm : Xuân Ất Mão – 1975

Những ý nghĩ rời lúc Xuân về

(Viết cho số Xuân Thiếu Nhi Ất Mão -1975, một mùa xuân đầy ảm đạm)

 

Buổi chiều ở tòa soạn, bầu không khí thật vắng vẻ đìu hiu.

Hôm nay là ngày đầu của tháng Chạp năm Giáp Dần, sắp qua xuân Ất Mão.

Bằng giờ này những năm trước, quang cảnh ở đây thật  nhộn nhịp. Bàn làm việc của tòa soạn không lúc nào là không có người ngồi quanh, vì nó là nguyên một cái divan biến cải thành cái bàn làm việc chung. Hồ sơ, tài liệu, bài vở và thư từ độc giả  gửi về chất  ngập mắt.  Và thêm vào đó luôn luôn có tiếng cười  rộn rã của rất đông  người trong Gia Đình Thiếu Nhi : Đinh Gô, Mai Loan, Tuyên Quang, Việt Thảo, Mai Hoạt, Phan Khương Thái.....

Những giờ phút ấy, công việc thật ngập đầu. Cả một guồng máy chuyển động, từ tòa soạn đến phòng xếp chữ, phòng in, phòng xếp giấy..v..v… để hoàn thành một số báo Xuân cho đúng với hạn kỳ. Tờ báo khổ lớn, dầy gấp đôi và trong một thời gian càng ngó lên cuốn lịch  càng thấy như bị thôi thúc, dồn dập.

Tôi nhớ là tôi đã cáu kỉnh bực dọc thât nhiều. Bài trình bầy  không đúng ý, kiểu chữ này sai với maquette, bản kẽm kia chưa đục hết những vết đinh còn lằn lên trang giấy.…và cả trăm công việc nhỏ nhặt linh tinh khác. Bề ngoài, tôi  đã thể hiện đúng tính cách của một kẻ bồn chồn, lo lắng  trước trách nhiệm điều hành một tòa soạn đang thai nghén một tờ báo Xuân. Nhưng trong lòng, trái lại, tôi thấy êm ả vô cùng. Tôi yêu công việc tôi đang làm. Tôi cám ơn Thượng Đế đã ưu ái  cho tôi được cái quyền chọn lựa công việc mà mình ưa thích. Tôi không mong ước gì hơn là mọi việc cứ vẫn chuyển vận đều hòa như thế, với tất cả những người đang cộng sự với tôi bây giờ, trong công việc này. Đó là chưa kể tới đám đông độc giả trên toàn quốc, như một sự hỗ trợ tinh thần, chắc lúc này cũng đang trông ngóng về tòa soạn với sự cầu mong cho công việc của chúng tôi xuôi chảy để mọi người sớm được đón coi tờ báo mới ra lò.

Vui nhất là lúc báo đã được phát hành.Tòa soạn còn đông đủ hơn bao giờ hết. Có những lúc nhiều người phải trèo lên mặt bàn hay ngồi xổm trên đống hồ sơ bừa bãi để bàn tán om sòm, để chia xẻ với nhau niềm hãnh diện là đã chạy đua đạt thắng lợi với sự trôi qua vùn vụt của thời gian.

Mùa Xuân đã đến với tôi ngay từ những giây phút đó. Đó là những giây phút tươi đẹp nhất trong cuộc đời của những người làm báo. Và tôi đã được trải qua bốn mùa Xuân liên tiếp  như thế kể từ  ngày Thiếu Nhi ra đời.

***

Năm nay, những ngày giáp Tết cũng đang trở về.

Hôm nay là ngày đầu tháng Chạp. Cái bàn lớn của tòa soạn bây giờ vẫn nằm đó. Những tài liệu, hồ sơ và  thư độc giả vẫn  nằm rải rác trên mặt bàn. Nắng chiếu qua khe cửa rọi một vệt sáng thật dài vẩn bụi đến chỗ tôi ngồi. Phía bên cạnh, vài chiếc ghế gỗ xô lệch mà một hai người đã tất tả tới rồi lại tất tả  đi. Bài vở vẫn đầy đủ. Báo Xuân sẽ ra ra kịp ngày dự trù. Nhưng đã không còn bầu không khí  hối hả ngày xưa. Không còn cả những dịp để gắt gỏng với nhau ngậu xị, để chê bai với nhau ỉ eo, để cằn nhau với nhau bằng những cái nhìn bực dọc.

Trong nỗi buồn quạnh hiu đó, tôi vẫn thấy là mùa Xuân  đang trở về.  Cuốn lịch mới trên tường chụp rõ một cảnh  Xuân. Tờ nhật báo trên mặt bàn dành một chỗ thật rộng để quảng cáo cho tờ báo Xuân  sắp phát hành. Cuốn lịch Tam Tông Miếu, cuốn lịch sách Xuân Tử Vi, tất cả đã nhắc nhở là mùa Xuân sắp về.

Tôi cũng cố tự nhắc tôi điều đó. Nhưng tôi chợt khám phá ra rằng tôi đã không lay chuyển nổi một nỗi rửng rưng, lạnh nhạt không biết đã xâm chiếm  tâm hồn tôi từ bao giờ. Sự rửng rưng  này đã khởi sự  từ bao giờ nhỉ ?

Có lẽ từ ngày có những chiếc thiệp Giáng Sinh đầu tiên được bầy bán  ở bên hè phố chăng ? Hay là kể từ khi những tin tức đầu tiên về Phước Long  được loan trên mặt báo và sau đó là  những hình ảnh đớn đau không thể nguôi được  của đồng bào ruột thịt ở đó đã và đang phải chịu đựng.

Có lẽ là tất cả. Mỗi  phía một ít. Mỗi ngày một tăng. Hèn chi mà năm nay, hướng vào công việc dành cho Xuân với Tết, tôi thấy khó vô cùng.  Hứa hẹn với nhật báo Sóng Thần một truyện ngắn  Tết, tôi ngụp lội suốt 3 tuần liền mà không viết nổi lấy một dòng.

Anh chị em văn nghệ sĩ ở Trung Tâm Văn Bút bàn chuyện gặp mặt Tân Niên mà tôi cứ tưởng như đang nói chuyện về quá khứ. Còn số báo Xuân Thiếu Nhi này, tôi đã chỉ làm trong âm thầm, đủ bổn phận,  nhưng cái hào hứng  của năm trước thì không còn nữa.

Tối hôm qua, tòa soạn chỉ có ba người ngồi lại với nhau. Chị Đỗ Phương Khanh loay hoay mãi với xấp bản thảo bằng giấy pelure hồng cố hữu, dập xóa mãi mà không qua được tờ giấy đầu. Họa sĩ Vi Vi cắm cúi vẽ, tiếng bút chạy trên tờ giấy trắng nghe rõ hơn là tiêng muỗi vo ve bay.  Và tôi, tôi ngồi đó, trước tấm lịch Xuân có hình hoa Mai nở rộ. Tờ lịch đã bóc qua đầu tháng Chạp  mà tôi không thấy sự thách đố nôn nóng nào của thời gian. Hai tuần  nữa thôi báo  phải ra rồi. Bài vở loại linh tinh vẫn còn thiếu đìa vậy mà tôi vẫn thấy bình tĩnh lạ lùng.

Tôi đang nghĩ đến những độc giả nghèo không còn đủ tiền mua báo. Tôi nghĩ đến những bữa cơm thiếu thốn của những đám trẻ nhỏ trong các xóm nghèo, đến những tin tức nóng bỏng, khét lẹt  mùi thuốc súng ở Phước Long, ở  Bà Đen, ở Bình Tuy, ở Long Khánh..v..v…

Thời gian vẫn đang đưa mùa Xuân trở về. Những người làm báo vẫn phải nói về Xuân, viết về Xuân cho dù  dư âm của mùa Xuân năm nay thật mỏng manh, yếu ớt. Tôi chợt nhớ đến cú điện thoại của anh Lê Thanh Thái gọi cho tôi vào buổi chiều hôm qua từ tòa soạn báo Bách Khoa. Tôi chắc Lê Thanh Thái đang làm một cuộc phỏng vấn văn nghệ sĩ  đối với cái Tết sắp tới này. Khi tôi nhấc điện thoại lên thì có tiếng anh ở đầu dây bên kia :

- A lô ! Tiến  đấy hả ? Thái đây. Năm nay cảm tưởng của cậu đối với cái Tết như thế nào ?

- Á..à….định phỏng vấn đấy hả ?

- Chứ sao !

- Muốn tôi nói cái gì đây ?

- Thì cảm tưởng của cậu  thế nào về cái Tết năm nay. Vui hay buồn, có chờ Tết, đón Tết không ? Cậu nghĩ thế nào nói chung về  Xuân với Tết?

- Hừm ! Đã bước sang tuổi bốn mươi rồi còn Tết với nhất nỗi gì.

- Vậy năm nay tính không ăn Tết hả ?

- Có chứ ! Dẫu thế nào thì cũng vẫn phải có như thường. Tôi không ham Tết nhưng không muốn làm mất ý nghĩa cái Tết trong lòng con cái. Chúng nó chỉ có một thời gian ngắn của tuổi thơ trong thời thơ ấu. Tôi muốn chúng nó có những kỷ niệm đẹp để mà ghi nhớ mãi mãi. Thế cho nên, tôi chủ trương dù trong hoàn cảnh eo hẹp nào tôi cũng không làm chết trong lòng các con tôi những kỷ niệm về Tết. Tết có thể giầu, có thể nghèo nhưng vẫn là nên có Tết. Phát biểu như vậy đã hài lòng chưa ?

- Thế đủ rồi. Cám ơn nhé !

Tôi xin thuật lại cuộc điện đàm ấy để kết thúc bài Tạp Ghi này. Nếu trong ý nghĩa dù thiếu thốn thế nào cũng vẫn là có Tết thì dù chỉ một lời chúc Tết cũng vẫn là mang ý nghĩa của một mùa Xuân đang trở về. Tôi xin thân chúc toàn thể Thiếu Nhi VN, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù ở bất  cứ phần đất nào, hoặc đang nằm trong chăn ấm đệm êm hoặc đang phải chui rúc nơi những lều tạm trú với đói và lạnh, lời cầu chúc cho đất nước chúng ta sớm thanh bình để mọi gia đình được sum họp, mọi đồng hoang được cầy cấy, mọi nhà máy đều có khói phun lên và các em, tất cả các em đều được đến trường trong tiếng cười rộn rã của tuổi hồn nhiên tươi sáng.

NHẬT  TIẾN
(Thiếu Nhi - số Tết Ất Mão- Ra ngày 26-1-1975)

Chương 8

Ông Khai Trí và tờ Thiếu Nhi tại miền Nam trước 1975

Làng Đậu

 

Tôi đã định viết một bài về tờ Thiếu Nhi, tờ báo giáo dục lớn nhất và thành công nhất tại miền Nam trước năm 1975; nhưng rồi nhiều biến cố xảy ra khiến tôi chưa làm được việc ấy, và sáng nay (11 tháng 3 năm 2005) thì được tin: Ông Nguyễn Hùng Trương, nguyên chủ nhiệm tờ báo Thiếu Nhi và là chủ nhân Nhà sách Khai Trí tại miền Nam trước 1975 vừa từ trần tại Sài Gòn.

Xin mượn diễn đàn talawas này như một nơi để tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam, trong đó tác giả bài này là một độc giả nhỏ bé theo cả nghiã đen lẫn nghiã bóng.

Nhắc tới Khai Trí, tôi tin rằng ai đã sống tại Sài Gòn thì không thể quên được cái tên này. (Sau 1975, nhà sách này được trưng dụng làm một cửa hàng phát hành sách tại số 60-62 Lê Lợi.)

Còn nhớ những ngày đầu sau 1975, khi còn là con mọt sách mới nở, tôi lang thang trên đường phố Sài Gòn, được mục kích tận mắt ông chủ nhiệm Nguyễn Hùng Trương trải tấm ny-lon lớn trên viả hè ngay trước cửa Nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại; tờ báo vốn khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét. Có lẽ số phận của nó cũng tương tự như số phận cuả các bạn thiếu nhi ở các vùng nóng trong những ngày tơi tả cuả một cuộc chiến đang đến hồi kết: cố thu mình lại là để giữ nguyên vẹn cái hình hài mà cha mẹ Việt Nam đã ban cho. Tôi còn nhớ rất rõ một bài trong một số đã phát hành, đại ý như sau:

"Cho dù tờ báo có nhỏ đi, số trang có bị bớt đi và số người đọc có giảm thiểu đến bao nhiêu thì mãi mãi chủ trương, mục đích giáo dục và chất lượng cuả tờ báo vẫn sẽ không thay đổi..."

Ông Khai Trí thật sự làm đúng những gì đã nêu: Tiền lời cuả nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành xử "bù lỗ nhiều hơn"; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.

Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Khai Trí đã có thời gian sống ở Hoa Kỳ, dự định mở lại Nhà Khai Trí, nhưng điều trớ trêu cho ông là hầu hết các tác phẩm của Nhà Khai Trí đã "được" một số nhà xuất bản hải ngoại khác in lại mà không hề nghĩ đến chuyện... bản quyền! Có lẽ đó là một trong những nguyên do chính khiến ông chán nản và trở về sinh sống tại Sài Gòn.

Tiện đây, thay mặt cho các độc giả, xin chân thành ghi ơn tất cả những người đã bỏ rất nhiều công lao viết bài cho tờ Thiếu Nhi, trong đó phải kể tới chủ biên Nhật Tiến, họa sĩ Vi-Vi (Võ Hùng Kiệt) và các nhà văn, nhà báo, các dịch giả mà tôi không thể nhớ hết tên.

Sau đây xin ghi lại những hình ảnh mà tôi còn giữ về tờ báo đã "vang bóng một thời" ấy.

Về hình thức, trang bià và trang cuối cuả tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ.

Trang bià thường in hình vẽ cuả hoạ sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm cuả hoạ sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

Nếu như trang đầu cuả tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện cuả Walt Disney... Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Hoạ sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh hoạ một số truyện tranh Việt Nam.

Đến phần trong, in offset, mầu mực thay đổi từng mỗi vài trang, lúc nào cũng bắt đầu bằng lá thư chủ nhiệm hay chủ bút; chủ nhiệm tờ báo qua các lá thư này thường gởi những lời nhắn nhủ khuyên bảo chân tình đến các em thiếu nhi và các bậc phụ huynh về nhiều đề tài thiết thực cuả cuộc sống. Các chủ đề biến động theo sự lớn mạnh cuả lượng độc giả cũng như theo sự suy tàn cuả chế độ chính trị ở miền Nam. Nhưng cho dù thế nào, trong các mục chính cuả tờ báo, chưa bao giờ thiếu truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch cuả các nhà văn nhà báo miền Nam cũng như những bài văn thơ chọn lọc cuả bạn đọc hay cộng tác viên. Bên cạnh đó là các bài phổ biến kiến thức khoa học thường thức cũng như các bài về kiến thức sống. Tôi còn chưa quên các bài trích đăng cuả dịch giả Nguyễn Hiến Lê về những tấm gương thành công, những bài học về nhân cách từ các cuốn sách "học làm người". Tờ báo không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kì thi đố vui có thưởng, các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các tiết thơ, văn, nhạc, hoạ cuả nhiều tác giả già, trẻ. Mục "Truyện cổ tích" cũng thu hút người đọc không kém bằng các truyện cuả Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác.

Chỗ không kém phần thú vị cuả tờ báo là hai mục: "Thắc mắc của Em" và "Tay ngọc bên bếp hồng". Chắc không viết thì các bạn cũng rõ hai mục này để làm gì. Một lần có bạn đọc nào đó cắc cớ hỏi đố về độ cao cuả một ngọn núi tên lạ hoắc, khiến cả Ban biên tập tờ báo gặp khó dễ hết mấy tuần. Nếu tôi không lầm thì chính nhà văn Nhật Tiến đã ra thông báo rằng mục tiêu cuả mục trả lời thắc mắc không phải là để thi thố tài năng, cũng không phải để thách đố mà là hỗ trợ các bạn trong học vấn, kiến thức. Trong bài trả lời, ông đã khéo léo biến câu hỏi đố thành bài học đạo đức đáng giá.

Sau 1975, do các đợt vận động cuả chính quyền về việc "tiêu huỷ các tàn dư văn hoá đồi truỵ phản động" cũng như các đợt kêu gọi thiếu niên nhi đồng làm "kế hoạch nhỏ", những số báo Thiếu Nhi còn sót lại cuả tôi và có lẽ cũng cuả nhiều gia đình đã lần lượt ra đi. Tôi không trách gì những người thực hiện chủ trương này, nhưng nếu họ có được cái nhìn thoáng hơn và sâu xa hơn thì có lẽ những tài sản quí báu về văn hoá vốn đã bị huỷ hoại quá nhiều trong cuộc chiến cũng đỡ bị tuyệt diệt.

Tờ Thiếu Nhi, theo thiển ý, bỏ rất xa các tờ báo sau này được xuất bản dành cho thiếu nhi trong nước về cả chất lẫn phẩm, vì nó là tinh hoa cuả nhiều nhà văn, nhà báo, trí thức, nghệ sĩ góp thành và đặc biệt nó lại không chịu bất kỳ một ảnh hưởng chính trị hay một xu hướng văn hoá độc đoán nào.

Cuối cùng, xin "trình" lại vài câu thiệu trong vô vàn các câu mà tờ Thiếu Nhi đã in trong phần footnote ở trang bià ngoài cuả các số báo:

Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan (Thích Ca)

Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghiã thắng hung tàn (Nguyễn Trãi)

Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi

Cầu cho hương hồn ông chủ nhiệm tờ Thiếu Nhi được an nhiên.

Làng Đậu

(14-3-2005)

© 2005 tala

Chương 9

Vĩnh Biệt ‘Ông Khai Trí’

Nguyễn Thụy Long

 

Ông Khai Trí, đã ra đi vĩnh viễn, đành bỏ lại bao nhiêu công việc dang dở mà ông dự định. Ông đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp văn hoá Việt Nam, người ta biết cái tên Khai Trí trước khi Việt Nam chia đôi đất nước.

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Đức Gia Định, mất hồi 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3 năm 2005, tức ngày mồng 2 tháng 2 năm Ất Dậu, thọ 80 tuổi, sau hai tuần nằm bệnh viện. Ông mất đi do sức già lực kiệt, nhiều năm ông cố gắng tranh đấu để xin lại hiệu sách vĩ đại của ông sau khi bị nhà nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa tịch thu, sau đợt cải tạo văn hoá 1976 tại Sài Gòn. Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hoà bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội họ là Biệt Kích Văn Nghệ.

Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng kết tội ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hoá Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954. Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi "ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai".

Đúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hoá, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng "đầu nậu" xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.

Tôi thuộc hàng hậu sinh, khi biết thành phố Sài Gòn thì tôi cũng biết đến nhà sách Khai Trí rồi. Những năm đầu trung học tôi đã đến hiệu sách của ông ở đường Bonard (Lê Lợi) để mua sách, sau này tôi còn mua bao nhiêu sách ở đó, loại sách học làm người của nhiều tác giả do ông xuất bản. Khi đó ở Sài gòn có vài hiệu sách nữa, cũng nổi tiếng, như Portail (Xuân Thu) ở passage Eden, đường Bonard-Catinat (Lê Lợi-Tự Do) nhưng không nổi tiếng bằng Khai Trí. Hiệu sách Khai Trí thuở đó còn là căn nhà trệt, sách bầy trên giá suốt từ ngoài vào trong, tha hồ mà chọn. Ngày còn đi học, tôi thường xuyên đến hiệu sách Khai Trí, có tiền thì mua, chưa có tiền thì đến hiệu sách của ông săm soi quyển sách mà mình ham thích, lật ít tờ ra đọc, xem rồi để nó vào chỗ cũ, và mơ ước làm sao mình có được nó .

Hiệu sách Khai Trí sau này lên lầu, dựng đến mấy tầng lầu, có những cô bán hàng sách mặc áo xanh lam phục vụ khách hàng. Những cuốn sách mua rồi ra quầy tính tiền, phong bên ngoài tờ giấy màu vàng in tên hiệu nhà sách Khai Trí, như từ thuở nào đến giờ. Có lần chính phủ Ý có mời ông sang Ý triển lãm sách, và ông được đánh giá cao.

Ngoài việc xuất bản sách, ông Khai Trí còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi, giao cho nhà văn Nhật Tiến trông coi. Tờ tuần báo Thiếu Nhi nội dung rất lành mạnh, rồi tập san Sử Địa do Nguyễn Nhã trông coi, toàn là những sách báo bổ ích thời ấy. Ông Khai Trí lại ra tay giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn, mua tác phẩm của họ, tuy chưa in còn để đấy nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ không thiếu một xu. Ngoài ra ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài gòn. Tôi không biết nhiều, nhưng tôi biết về tờ báo Sống của Chu Tử, cũng có sự góp sức về mặt tiền bạc.

Cách nay chừng mười năm, ngày 30 tháng 4 tôi gặp ông Khai Trí đến thắp nhang và dự bữa giỗ ông Chu Tử ở nhà Chu Vị Thủy và Đằng Giao, như hằng năm chúng tôi gặp nhau vào ngày ấy. Tôi hỏi lại ông Khai Trí về việc đó, ông khẳng định:

- Đúng đó, anh Chu Tử muốn làm một tờ nhật báo, anh bán bản quyền quyển tiểu thuyết Yêu rất nổi tiếng của anh để lấy tiền làm báo, cho lớp anh em ký giả trẻ có nơi làm việc. Một số tiền lớn, tôi hứa với anh Chu Tử lo thêm khi báo cần đến tiền bạc, và tôi đã làm được việc đó.

Tôi là nhà báo làm việc với tờ báo Sống của ông Chu Tử, qua bao nhiêu thăng trầm từ ngày đầu đến ngày cuối, tôi biết chuyện đó, nhưng cũng hỏi lại ông Khai Trí, để ông khẳng định. Tôi tin ông và lúc nào cũng tin ông vững chắc hơn cho điều hiểu biết về chuyện gì đó còn lờ mờ trong tôi.

Khoảng ba năm nay tôi không gặp mặt ông Khai Trí tại những bữa giỗ nhà ông Chu Tử, những anh em bạn già vắng bóng dần trong bữa giỗ ấy, vì bệnh hoạn, sức khoẻ suy yếu hoặc "dạo chơi miền tiên cảnh". Ông Khai Trí thì tôi biết ông sức khoẻ suy yếu rồi. Sau khi ông ở Mỹ về Việt Nam và chấp nhận hồi tịch để được lấy lại nhà sách Khai Trí của ông.

Số sách báo quí giá Việt Nam ông mang từ Mỹ về bị nhà nước làm khó dễ, đòi lấy, đòi đốt khiến ông phải làm không biết bao nhiêu đơn từ, có thể có chạy chọt nữa, nhưng số sách được trả lại là những sách không mấy có giá trị, thí dụ như cuốn sách dậy người ta nghề chụp ảnh, còn báo Loa xuất bản ở Hà Nội, từ số đầu đến số cuối rất có giá trị về mặt văn chương cũng như lịch sử thì bị tịch thu, nếu không nói là bị lên án phản động, dọa sẽ bị đốt, bị tiêu huỷ đi. Bao nhiêu lần tôi đi qua đường Lê Lợi, tôi nhìn thấy ông Khai Trí buồn bã đứng ở góc đường đó, nhìn sang hiệu sách cũ của mình. Mang tên mới là Phahasa. Một lần khác, cũng trong bữa giỗ ông Chu Tử, tôi hỏi ông Khai Trí về việc xin lại nhà sách Khai Trí đến đâu rồi?

Ông cười chua chát :

- Phải đến năm 3000 thì may ra….

Ngày ông bị bắt, bị bỏ tù bao nhiêu bài báo nói xấu ông, kết tội ông còn giấu bao nhiêu kho sách Ngụy, không thành thật khai báo. Chuyện thế thái nhân tình lúc ông gặp hoạn nạn, những kẻ trước đây từng chịu ơn ông, tố cáo ông bao nhiêu là tội kể cả những điều không có để lập công.

Buổi lễ tang ông Khai Trí tại nhà ông ở đường Xô Viết Nghệ Tĩnh ( Phan Thanh Giản cũ) tôi gặp nhiều bạn bè của ông, những người thuộc chế độ cũ đến thắp cho ông những nén nhang và chia xẻ sự thương tiếc với gia đình ông. Cái hình ông cười toe toét đặt trên áo quan, như tôi đã từng thấy ông thuở sinh tiền.

Tôi gặp cụ nhà văn Toan Ánh, tác giả của hơn một trăm đầu sách viết về phong tục Việt Nam do ông Khai Trí in xuất bản cũng có mặt. Cụ Toan Ánh năm nay đã 91 tuổi cũng chống gậy đến thắp nhang tiễn biệt ông.

Trên tờ cáo phó ghi chữ động quan hồi 6 giờ sáng ngày 14 tháng 3 năm 2005, tức (ngày mồng 5 tháng Hai năm Ất Dậu ). Xác thân ông sẽ hoả thiêu ở Bình Dương, xương cốt mang vào chùa nào đó nghe kinh siêu thoát. Tin cuối cùng mà tôi mới nhận được không hoả táng ông nữa, di quan về đất nhà quận 9 mai táng, có lẽ con cháu muốn ông có một nấm mồ.

Tôi nhớ mãi dáng ông Khai Trí đứng nhìn lên hiệu sách cũ của mình và câu nói chán nản của ông, năm 3000 thì người ta trả lại cho ông nhà sách Khai Trí. Sao mà chua chát thế cho ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, cả một đời chỉ có một đam mê là làm văn hóa, giữ gìn cái hay, cái đẹp cho thế hệ mai sau .

Xin chia buồn cùng gia đình ông.

Chương 10

TRƯỜNG HỢP HỒI HƯƠNG SINH SỐNG LÚC CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG,

NGUYÊN GIÁM ĐỐC NHÀ SÁCH KHAI TRÍ , SÀI GÒN

 

Trên nhật báo Người Việt, xuất bản ở Quận Cam, California, số ra ngày 13-3-2005, có đăng một bài báo của ký giả L.T. viết sau khi ông Nguyễn Hùng Trương, Giám đốc nhà sách Khai Trí đã từ trần ở Sài Gòn, trong có đoạn như sau :

"Năm 1991, ông Khai Trí sang đoàn tụ với vợ con  ở Hoa Kỳ, nhưng lúc đó có nhiều tin  đồn là nhà nước Cộng Sản  VN đã có chủ trương mới, với chính sách cởi mở, sẵn sàng trả lại nhà, cơ sở kinh doanh cho các chủ cũ trước năm 1975 nên ông Khai Trí  hy vọng nhiều là  khi trở về  có thể lấy lại  được nhà sách, tiếp tục  nghiệp buôn bán sách trước đây. Năm 1996, ông xin trở về với hy vọng to lớn trên nhưng đi đến đâu cũng bị đáp lại  bằng một cái lắc đầu.. . . . . .".

Nhân danh một người được ông Khai Trí coi là thân thiết, đã từng nhiều lần được nghe chính ông thổ lộ nhiều tâm tư, cảm nghĩ của ông sau khi đã trải qua nhiều biến cố trên quê hương, đất nước, tôi nhận thấy có bổn phận phải làm sáng tỏ một đôi điều trong đọan viết kể  trên, để  một mặt soi sáng lại một sự thật như chính nó, ngõ hầu trả lại sự công bằng cho người đã khuất và mặt khác, để an ủi phần nào vong linh  người vừa nằm xuống, thân xác chưa kịp ấm đất đã có thể bị dư luận choàng thêm nhiều điều  mai mỉa khi cho rằng "ông Khai Trí  hy vọng nhiều là  khi trở về  có thể lấy lại  được nhà sách, tiếp tục  nghiệp buôn bán sách trước đây. Năm 1996, ông xin trở về  với hy vọng to lớn trên nhưng đi đến đâu cũng bị đáp lại  bằng một cái lắc đầu.."...

Có thực là ông Khai Trí đã xin trở về VN sinh sống chỉ vì ông hy vọng nhà nước có chủ trương cởi mở, sẽ trả lại nhà sách cho ông để ông tiếp tục hành nghề như trước đây ?

Với ai thì tôi không rõ, nhưng với ông Khai Trí, con người  sau bao nhiêu năm bị vùi giập, vừa bị tước đoạt tài sản, vừa nằm ốm đau vật vã trong tù, tôi không nghĩ là ông lại mang nhiều ảo tưởng về sự cởi mở của nhà nước như thế .

Sau biến cố 30-4-1975, cùng với số phận của các nhà tư sản khác, ông Khai Trí đã bị chính quyền mới tịch thu toàn bộ tài sản bao gồm nhiều kho sách vừa do chính ông xuất bản, vừa do ông nhập cảng từ nước ngoài,  cộng với rất nhiều tài sản, nhà cửa, đất đai, biệt thự ở Sài Gòn do chính ông gây dựng nên sau bao nhiêu năm cật lực làm ăn bằng chính tài năng, mồ hôi  và sức lực lao động của mình. Vào năm 1976, ông đã từng than thở với tôi sau khi nhà nước ra lệnh "Kiểm kê sách báo đồi trụy" như sau :

" Chú nghĩ mà coi, họ chỉ cho tôi 2 ngày để kiểm kê bao nhiêu là kho sách chứa  hàng triệu cuốn với trên 20 ngàn tựa sách, làm sao tôi làm nổi".

Giọng nói của ông tuy cố làm ra vẻ thản nhiên nhưng nó đã bao hàm biết bao nỗi bùi ngùi và chứa chan ê chề, chịu đựng. Tuy không nói ra, nhưng chúng tôi cũng đã hiểu số phận mà chính quyền mới đã dành  cho ông thế nào. Quả nhiên, để hợp thức hóa việc chiếm đoạt những tài sản kể trên, đặc biệt là căn nhà sách Khai Trí, nhiều tầng lầu nằm ngay trên đại lộ thênh thang Lê Lợi tại trung tâm Sài Gòn, nhà nước Cộng Sản đã quy chụp nhiều tội nặng cho ông như tư sản mại bản, ấn loát và phổ biến văn hóa đồi trụy đầu độc tinh thần dân chúng miền Nam, rồi bắt ông đi tù trong nhiều năm khiến cho một con người mạnh khỏe, năng động như ông đã trở nên suy sụp rất nhanh chóng, và thân xác của ông còn bị đầy đọa trong tù với nhiều  bệnh tật.

Tuy nhiên, vốn là một con người trọn đời mê sách như nhiều người đã có cùng nhận xét, khi ra tù ông Khai Trí vẫn không từ bỏ ý định gây dựng lại  sự nghiệp sách vở của mình. Tuy nhiên, ông không hề có ảo tưởng là sẽ được nhà nước "trả lại tiệm sách để tiếp tục kinh doanh nghề sách ở Sài Gòn" như bài báo đã đưa ra một cách võ đoán.

Làm sao ông có thể ảo tưởng như thế được, khi vào  những ngày gần cuối đời, ông còn tâm sự với tôi về sự đấu tranh âm thầm nhưng không mệt mỏi của ông trước nhiều áp lực bắt ông ký giấy cho phép một vài tập đoàn tư bản đỏ ký hợp đồng với công ty nước ngoài (Thụy Sĩ) để xây cất building ngay trên phần đất đã tịch thu của ông.

Dĩ nhiên là ông đã không ký. Nhưng bất chấp sự đồng ý hay không của chủ nhà, việc xây cất cứ  được lẳng lặng tiến hành. Ông đã phản ứng lại bằng cách gửi toàn bộ bản sao chủ quyền của mình cho giới lãnh đạo công ty nước ngoài với lời tố cáo :

"Đất hợp đồng đang xây là đất chiếm đoạt, là một công ty lớn của một nước văn minh, các ông không thể nhắm mắt tiến hành !".

Thế là hợp đồng xây cất bị hủy bỏ. Mảnh đất trống cho tới năm 2005 vẫn còn là bãi trống chỉ làm chỗ để xe.

Ông Khai Trí đã thắng bạo quyền ít ra là trong giai đoạn đất nước đã đi vào thời kỳ kinh tế thị trường, mong muốn hòa nhập cùng thế giới !

Sự thực là ông Khai Trí muốn gây dựng lại nhà sách Khai Trí, không phải ở Sài Gòn mà là ở hải ngoại sau khi ông được phép định cư ở Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Nhưng khi sang tới nơi, ông đã trực diện một sự thực não nề :

-   Độc giả ở hải ngoại đã không nhiều như ông nghĩ, mặt khác, sau bao nhiêu năm ổn định đời sống, riêng ở Hoa Kỳ đã hình thành nhiều cơ sở xuất bản hay nhà sách lớn lao, có danh tiếng. Là người tới sau, lại trắng tay không còn vốn liếng, hỏi làm sao ông có thể mở lại tiệm sách hay nhà xuất bản ở hải ngoại để có thể cạnh tranh và đứng vững ?

-   Thêm nữa, rất nhiều loại sách giá trị trong tủ sách Khai Trí trước đây của ông,  đặc biệt là nhiều loại tự điển thông dụng mà ông đã mua trọn bản quyền, không hiểu do những bàn tay gian thương nhớp nhúa nào đã cho in lại hầu hết ( sách bán rất chạy trong những thập niên 80, 90 là những năm người tỵ nạn ồ ạt tới Hoa Kỳ, ai ai cũng có nhu cầu học hỏi, nhất là Anh ngữ). Mỉa mai thay, người đã từng đầu tư vào những cuốn sách đó là ông Khai Trí, thì hầu như ông đã không được mấy ai đền bù cho công lao của mình dù chỉ một đồng xu ! Cái Thông Báo sau đây là một bằng chứng :

Chương 11

Lời kết cho phần "Một Thời… Thiếu Nhi"

 

Kể ra người viết cũng là bạo gan khi đem toàn những chuyện linh tinh của một tờ tuần báo đã đình bản từ lâu vào nguyên một phần khá dài trong cuốn sách này.

Nhưng nghĩ cho cùng, đây không phải là một tài sản riêng tư mà là của nhiều người, trong đó bao gồm rất nhiều công lao, tim óc của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo trước đây của miền Nam.

Mặt khác, tuy tờ Thiếu Nhi chỉ có tuổi thọ không đầy bốn năm, nhưng bằng vào nội dung và những ảnh hưởng cụ thể của nó đối với nhiều thiếu nhi miền Nam trước 1975, nay nhìn lại ta sẽ thấy tờ báo quả đã là sản phẩm của một một nền văn hóa nhân bản, một xã hội còn tôn trọng những giá trị cổ truyền và nền tảng gia đình cũng như học đường còn bền vững dẫu cho đất nước khi đó vẫn còn đang mịt mù khói lửa chiến tranh.

Thời chiến đã vậy, nay đã là thời bình thì sao ?

Nền giáo dục và chính sách đối với công cuộc giáo dục con em của Nhà Nước CS ra sao, trong suốt gần bốn chục năm qua, thành quả của nó thế nào, hẳn ai đã từng quan tâm theo dõi đều đã nhận biết.

Ở đây tôi chỉ muốn nói đến công cuộc giáo dục trẻ em tại hải ngoại, không phải là sự bao trùm toàn bộ mọi lãnh vực vì trường học của các nước sở tại đã làm nhiệm vụ ấy, nhưng là ở khía cạnh dạy dỗ tiếng Việt và duy trì văn hóa Việt.

Trong hai lãnh vực vừa kể, người Việt hải ngoại đã có mối quan tâm ngay từ buổi đầu, khi mới còn ở giai đoạn chân ướt chân ráo vừa đặt chân lên xứ người. Rồi bền bỉ suốt hơn 30 năm sau đó, các Trung Tâm Việt Ngữ đã được thành lập ở khắp mọi chỗ, những nơi có đông đảo người Việt tụ tập, sinh sống. Và cũng trong suốt hơn ba chục năm trời ấy, đã có rất nhiều Thầy, Cô giáo, nhiều nam nữ Thanh niên, Sinh viên, Học sinh tham gia vào công tác bảo toàn tiếng Việt dưới những hình thức này hay hình thức khác (như sinh hoạt đoàn thể, ca hát, trình diễn văn nghệ, cắm trại, thám du ngoài trời..v..v…). Kết quả của những nỗ lực này quả là rất đáng kể và cho tới ngày nay, tại thời điểm 2012 này, nhiều Trung Tâm Việt Ngữ vẫn còn đang tiếp tục hoạt động và số lượng các Thầy, Cô thuộc các thế hệ kế tiếp vẫn gia tăng chứ không hề sút giảm.

Đây là một sự kiện đáng vui mừng, nhưng niềm vui hầu như chưa phải trọn vẹn vì cho đến nay trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt, ta vẫn thấy thiếu một tờ báo dành cho thiếu niên nhi đồng như xưa kia ở miền Nam đã từng có những tờ báo như Tuổi Hoa, Ngàn Thông, Thằng Bờm, Tuổi Ngọc, Thiếu Nhi…

Tôi nhớ vào đầu thập niên 80, nhà văn Quyên Di đã cố gắng duy trì tuần báo Tuổi Hoa mà tòa soạn đặt tại Nam Cali. Nhưng nhân sự ít ỏi, tài chính eo hẹp, cơ sở thương mại chưa phát triển và nhất là đến ngay nơi chốn được mang tên là Thủ đô Tỵ nạn thì số người Việt định cư cũng chưa được gọi là đông đảo. Vì những lý do đó mà sau một thời gian cố gắng một cách tuyệt vọng, tờ Tuổi Hoa đã vĩnh viễn ra đi và trong hơn 30 năm sau đó, cũng vẫn chưa có một tờ báo nào dành cho tuổi thơ được ấn hành để thay thế.

Bây giờ lại cũng đang là thời điểm cực thịnh của kỹ thuật vi tính. Nền tảng của lãnh vực báo giấy đang có cơ nguy bị lung lay vì người đọc tin tức, bài vở  trên internet thì nhiều mà độc giả chịu mua báo giấy có vẻ như ngày càng ít đi.

Như thế đem đặt vấn đề xuất bản một tờ báo cho nhi đồng giống như thế hệ trước đã làm như Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc…v..v. há chẳng phải là một chuyện đi lội ngược dòng chăng ?

Thưa không ! Một tờ báo dành cho thiếu niên đâu nhất thiết phải cứ là báo giấy. Tôi được biết chiến lược giáo dục ở một vài Tiểu bang tại Hoa Kỳ đã đặt tài liệu giáo khoa (nhất là text book) trở thành vấn đề phải "số hóa" hết tức là biến những thứ đó trở thành tài liệu digital để các học sinh có thể truy cập bằng internet mà khỏi phải lích kích mang theo cả chồng sách nặng trĩu trên vai khi tới trường học.

Tài liệu giáo khoa có thể "số hóa’ vậy thì tại sao chúng ta lại không có  thể mang chuyện báo nhi đồng bằng Internet ra để bàn thảo và thực hiện.

Với kỹ thuật vi tính và những khả năng diệu ảo của những loại chương trình như photoshop, tôi tin là với trình độ kỹ thuật của các bạn trẻ bây giờ sẽ thừa đủ khả năng để làm những số báo nhi đồng rực rỡ nhiều mầu, có đủ loại bài vui tươi, lành mạnh thuộc nhiều trình độ để có nhiều lứa tuổi trong thời hoa niên có thể thưởng ngoạn, học hỏi, giải trí, và trau giồi tiếng Việt. Ngoài những lợi ích vừa kể, với một tờ báo trong hình thức tòan cầu ấy, các độc giả thiếu nhi ở trong nước cũng có cơ hội vào coi. Như thế, tuổi trẻ Việt Nam sẽ cũng được hun đúc, vun trồng trên chung một lý tưởng cao đẹp : Có lòng yêu Tự Do, chuộng lẽ Công Bằng, tôn trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhất là trong giao tiếp hàng ngày, biết ứng xử để tôn trọng nhân phẩm con người và nâng cao tư cách, phẩm giá của chính mình.

Nếu được thế thì đó cũng là cách gián tiếp cung ứng cho tuổi trẻ trong nước một phương tiện tự vệ để chống lại hiện tượng đạo đức xã hội cứ ngày một suy đồi, trong khi trong địa hạt giáo dục thì cứ nghiễm nhiên ngự trị những luận điệu giả trá, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử chỉ cốt nhằm phục vụ cho lợi ích nhất thời, giai đoạn của một thiểu số có chức, có tiền hay có quyền hiện nay ở trong nước.

Gợi ý này, mong đồng hương nhiều ngành, nhiều giới, nhất là các Thầy, Cô giáo trẻ của các Trung Tâm Việt Ngữ thử quan tâm.

Nhật Tiến
California ngày 14-10-2012

Phần Thứ Ba

Một Thời…. Hải Ngoại (1980-2010)


Chương 1

ÀI LIỆU GIÁO DỤC  THỜI  XHCN

THÂN PHẬN GIÁO CHỨC Ở QUÊ NHÀ

NHẬT TIẾN

 

(Bài nói chuyện tại Đại Hội Cựu Giáo Chức VN ở California ngày 26 tháng 11-1982)

Lời tác giả : Bài nói chuyện này, được viết từ thời điểm 1982,  đáng lẽ nó phải được in trong cuốn "Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác" ấn hành tháng 3-2012, nhưng rất tiếc dù nó đã được phổ biến trên báo chí từ hơn 30 năm trước nhưng không mấy ai còn lưu giữ.

Nay, may mắn  tác giả tìm lại được bản thảo nên đánh máy lại và  phổ biến để độc giả, nhất là các bạn trẻ được biết thêm về một chứng tích trong  thời kỳ đau thương của đất nước mà trong đó, thân phận nhà giáo với công tác giáo dục cũng đã  lận đận, nổi trôi theo vận nước.

Kính thưa quý đồng nghiệp,

Nhận lời mời của Ban tổ chức để trình bầy với quý đồng nghiệp về đề tài " Thân phận giáo chức ở quê nhà", tôi thật có một điểm áy náy. Đó là vì tôi rời xa quê hương tính đến hôm nay cũng đã gần tròn 3 năm. Một năm ở trại tỵ nạn, 2 năm ở Hoa Kỳ, trong thời gian này hẳn cũng đã có biết bao nhiêu tang thương, biến đổi ở quê nhà, nên mức độ hiểu biết của tôi về thực trạng của quê hương có phần hạn chế. Mặt khác, trong số các đồng nghiệp hiện diện đông đảo tại đây, hôm nay, chắc chắc có nhiều vị đã là những nhân chứng mới tới. Tôi hy vọng với những dữ kiện nóng hổi nà quý vị vừa mang tới từ quê nhà sẽ được quý vị bổ túc thêm cho phần trình bầy của tôi, để chúng ta có thể phác họa được một chân dung đích thực, phản ảnh chính xác thân phận  của những đồng nghiệp kém may mắn của chúng ta hiện nay còn đang bị đầy đọa trong đau thương ở quê nhà.

Trong ý niệm khởi đầu đó, tôi xin được trình bầy với quý đồng nghiệp  về thân phận Giáo Chức ở VN hiện nay qua mấy phần chính yếu sau đây:

- Giáo chức với sinh hoạt nhà trường.

- Giáo chức với vấn đề giảng dạy.

- Sự đãi ngộ của  chế độ đối với giáo chức.

- Tâm trạng chung của giáo chức trong các nhà trường XHCN ở miền Nam.

I/  Giáo chức với sinh hoạt nhà trường :

Sau khi tiến chiếm sài Gòn, nhà nước CS phải để ra 2 năm mới ổn định xong các cơ cấu tổ chức  trong nhà trường. Có nhiều lý do giải thích sự chậm trễ đó. Trước hết là vấn đề thiếu thốn cán bộ. Trong một sớm một chiều, chính quyền CS không thể tung hết nhân sự của mình để nắm trọn guồng máy  giáo dục sâu sát xuống đến tận các ban Giám Hiệu của các trường học, trong khi họ vẫn cần tới những nhân sự cũ, có khả năng, có uy tín với phụ huynh và với học trò để làm cho guồng máy giáo dục vận chuyển điều hòa.

Cộng Sản vẫn thường hãnh diện rằng chỉ 3 tháng sau khi tiến chiếm sài Gòn, năm học đầu tiên  của nhà trường XHCN đã được khai giảng  đúng hạn kỳ ở tất cả các tỉnh thuộc miền Nam. Có 3 công tác chính mà họ đã thực hiện một cách gấp rút trong thời gian đó :

1) Bắt tất cả các giáo chức tham gia một khóa học chính trị để có những ý niệm khởi đầu về lý thuyết CS, về quan niệm giáo dục của nhà trường XHCN và về một số nguyên tắc cơ bản  giảng dạy trong nhà trường thuộc chế độ mới. Điều căn bản mà chế độ mới xác định công khai với các giáo chức là "giáo dục là công cụ phục vụ cho nền chuyên chính vô sản của chế độ mới" cho dù đã có rất nhiều thầy, cô còn lơ mơ chưa thấu hiểu "chuyên chính vô sản"  là cái gì !! Riêng tại Sài Gòn đã có khoảng 20.000 (hai mươi ngàn) giáo chức thuộc khắp các quận đô thành tham dự khóa học này.

2) Vận dụng tất cả các cơ sở ấn loát ở Sài Gòn để ấn hành kịp thời khoảng 4 triệu cuốn sách  giáo khoa chụp lại nguyên vẹn bộ sách giáo khoa  của chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam VN. Đây là bộ sách được soạn theo hệ 12 năm (khác với hệ 10 năm ở ngoài Bắc) và nó đã được ấn hành ở Trung Quốc từ năm 1966. Điều này cho thấy CS đã chuẩn bị tiến chiếm miền Nam rất kỹ lưỡng trước khi tiến hành cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Họ soạn sách giáo khoa, ấn hành sách mẫu ở Trung Quốc từ năm 1966 là cốt để cung ứng cho tình thế vào năm 1968, nếu như cuộc tấn công Mậu Thân của họ thành công.

3) CS đưa khoảng 6.000 cán bộ giáo chức ở miền Bắc vào Nam, phối hợp với các đoàn viên Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh là những phần tử nằm vùng từ trước năm 1975 hoặc kết nạp vội vã sau này để đưa ra nắm các vai trò quyết định them chốt trong nhà trường, mặc dù bề ngoài, trên danh nghĩa điều khiển nhà trường thì vẫn do một Ban Điều Hành  mà thành viên toàn là giáo chức của chế độ cũ đảm nhận. Các vị này dĩ nhiên chẳng có quyền hành gì, mà chỉ có nhiệm vụ thi hành răm rắp theo mọi chỉ thị.

Nhờ những biện pháp này mà nhà nước CS đã khai giảng được năm học đầu tiên ở miền Nam vào ngày 5 tháng 9 năm 1975. Và những năm sau đó, họ tăng cường tổ chức, tăng cường cán bộ, triệt hạ dần những giáo chức không thích hợp trong công tác giảng dạy, đặc biệt là ở những bộ môn Văn, Sử, Địa để đến khi mọi cơ cấu tổ chức đã tạm thời ổn định thì tung một đòn quyết liệt cuối cùng được đưa ra để gạn lọc lần chót những phần tử mà họ đánh giá là tiêu cực, cứng đầu (nhưng thực chất chỉ là trò quen thuộc vắt chanh bỏ vỏ mà thôi). Đòn ấy gọi là biện pháp " Duyệt xét để biên chế".

Người được tuyển vào biên chế tức là được chính thức công nhận làm giáo viên của nhà trường XHCN.

Mà được vào biên chế, thì trên bình diện tổng quát, mọi tội lỗi cũ đối với cái gọi là "cách mạng" coi như đã được thanh toán xong, kể từ nay mọi người có quyền xóa bỏ "mặc cảm" cũ để "phấn khởi " tham gia xây dựng chế độ XHCN.

Và khi được biên chế tức là được sắp xếp mức lương  chính thức, căn cứ theo bằng cấp đã có, theo khả năng và chức vụ đang đảm trách và đặc biệt là theo trình độ giác ngộ cách mạng mà đương sự đã bầy tỏ trong quá trình công tác phục vụ.

Sau những cuộc tổ chức hội họp công bố danh sách phô trương ồn ào, người giáo viên sẽ nhận được một bản Quyết Định Biên Chế trong đó ghi rõ cả số lương sẽ được lãnh hàng tháng. Kẻ nhận thấp nhất thấy ghi là 40 Đồng, cao nhất thì 70 Đồng, đây là chỉ kể tiền lương của các giáo viên ở bậc trung học, kể chung cả đệ Nhất cấp lẫn đệ Nhị cấp.

Dĩ nhiên nhà giáo thấy rõ là mình bị bóc lột. Bởi vì đồng lương như thế, trong thời giá 1 đồng một mớ hột bắp đựng đầy một lon sữa bò hay 10 đồng một kí-lô gạo mua ngoài chợ đen, thì hỏi làm sao nuôi sống nổi gia đình, và hóa ra việc hành nghề giáo chức trong xã hội mới không phải là một ngành nghề để kiếm sống.

Tuy nhiên, chuyện kinh tế không phải là vấn đề mà giáo chức ở quê nhà đem ra để cân nhắc. Đi dạy học không đủ sống thì phải làm thêm nghề khác: đạp xích lô, lái xe ôm, bán chợ trời, cùng lắm không xoay trở gì được thì bán bàn ghế, tủ giường, quần áo…nhưng nhất thiết cứ phải bám lấy danh nghĩa giáo viên cho được yên thân về mặt chính trị để không bị Phường, Khóm làm khó dễ, không bắt đi lao động XHCN đổ mồ hôi không công cho các công trường, nông trường và đặc biệt là không bị nằm trong danh sách đẩy đi vùng Kinh Tế Mới. Điều này cho thấy một khía cạnh vô cùng tàn bạo của xã hội CS. Nhà nước bóc lột công nhân, viên chức đến xương tủy nhưng ai cũng phải cắn răng nhịn nhục, nếu không, guồng máy công an trị sẽ dùng đủ mọi hình thức để làm khó dễ : nhẹ nhất thì bị gọi lên Phường bất cứ lúc nào để bị hạch hỏi, xét nét; nặng hơn thì bị đẩy ra khỏi thành phố hay tệ hơn nữa là bị đưa vào các trại cải tạo. Những viễn tượng hãi hùng ấy đã gieo vào lòng  các giáo chức ở quê nhà một niềm thống hận sâu xa mà không ai có thể trực diện đứng ra công khai biểu lộ những cảm nghĩ của mình được.

Hình ảnh gây xúc động cho tôi nhất mà tôi chẳng thể quên là hình ảnh của đồng nghiệp Nguyễn Phố. Như các đồng nghiệp đã rõ, anh Nguyễn Phố dạy môn Quốc Văn. Tôi đã gặp anh nhiều lần ở trường Tabert Sài Gòn trong những dịp hè giáo chức tập trung ở đấy để học chính trị. Nhưng tới mùa hè năm 1978 thì tôi không còn gặp anh nữa. Bạn bè cho biết anh không được vào biên chế và đã bị sa thải. Qua đầu năm 1979, một hôm tôi ra mở cửa vì có khách tới thăm. Trước mặt tôi là một ông già khoảng gần bẩy mươi, râu đen nhánh ba chòm mọc xuống tới ngực, khuôn mặt hom hem thiểu não. Tôi cất tiếng chào "Thưa cụ", nhưng cụ kỵ gì, đó chính là anh Nguyễn Phố. Anh nói rằng từ ngày mất việc, anh phải để râu để cho Phường, Khóm nó bớt để ý. Dẫu gì thì một cụ già với râu ba chòm khả kính cũng bớt có vấn đề hơn là hình ảnh một trung niên còn nhanh nhẹn, nhiều nhiệt huyết như ta thường thấy ở anh nguyễn Phố. Tôi cảm thông sâu xa với vai trò già nua mà anh phải đóng, không chỉ một buổi diễn mà liên tục ròng rã trong nhiều tháng, có thể sẽ cả nhiều năm. Nhưng cũng vì dấn mình vào cái vai trò này mà hóa ra anh cũng đã bị thay đổi lúc nào không hay bởi ngay khi đó, tôi cũng đã thấy con người anh đờ đẫn, bạc nhược, dáng điệu chậm chạp, cử chỉ lờ đờ như một cụ già đang trên đà suy yếu.

° ° °

Rồi kể từ khi cái màn "biên chế" được thực hiện thì cơ cấu tổ chức trong các nhà trường cũng đã được đầy đủ, trọn vẹn. Các đồng nghiệp của chúng ta cũng từ đó phải chịu đựng cái cảnh một cổ không phải ba tròng mà nhiều tròng.

Kể về mặt nổi, thì trên hết có Ban Giám Hiệu gồm Hiệu Trưởng và Hiệu Phó. Dưới Ban Giám Hiệu là các Tổ Bộ Môn cũng có Tổ Trưởng, Tổ Phó. Đó là về mặt hành chánh.

Bên cạnh các tổ chức hành chánh còn có các đoàn thể bao gồm Công đoàn Giáo Dục, Chi đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh và Chi đội Thiếu Niên Tiền Phong.

Đằng sau tất cả những tổ chức đó là Chi Bộ Đảng trong nhà trường.

Như thế, hành vi, cử chỉ, tác phong giảng dạy và tư tưởng lập trường của mỗi giáo viên đều bị dò xét, đánh giá bởi nhiều phía: Ban Giám Hiệu, Thư ký Ban Chấp Hành Công đoàn, Bí thư Chi đoàn Thanh Niên, Bí thư chi đội Thiếu Niên Tiền Phong, các tổ trưởng Bộ Môn, và dĩ nhiên có cả những bàn tay sắt máu đứng ở mặt chìm là các đảng viên thuộc Chi bộ Đảng trong nhà trường.

Đó là chưa kể trong một lớp giảng dạy, bất cứ một học sinh nào trong lớp cũng có thể báo cáo hành vi của Thầy, Cô giáo, đặc biệt là sau này xuất hiện nhiều học sinh từ miền Bắc vào, những phần tử này đã thi hành nhiệm vụ dò xét , báo cáo một cách rất tận tình.

Với một hệ thống kiểm soát chặt chẽ như thế, mỗi giáo viên dù là thuộc bất cứ bộ môn nào cũng phải tham dự những sinh hoạt chính thức sau đây :

1) Đứng lớp theo quy định 12 tiết mỗi tuần (1 tiết trung bình là vào khoảng 55 phút). Do tình trạng thiếu giáo viên, mỗi Thầy, Cô phải dạy phụ trội có khi lên tới 18 hay 24 tiết và một tiết phụ trội được trả thêm 8 hào ( 0$80).

2) Mỗi thầy cô phụ trách quản trị hồ sơ, học bạ , lý lịch của một lớp và được gọi là Chủ Nhiệm của lớp đó. Mọi sinh hoạt chính trị, tác phong, kỷ luật, thái độ và kết quả học tập của học sinh trong lớp  đều do giáo viên Chủ Nhiệm chịu trách nhiệm. Trong học bạ cuối năm của học sinh ngoài các lời phê của giáo viên các bộ môn, còn có phần phê của giáo viên Chủ Nhiệm. Nhà trường duyệt xét việc lên lớp của học sinh thông qua đề nghị của giáo viên Chủ Nhiệm.

3) Giáo viên phải tham gia các sinh hoạt lao động sản xuất trong trường, hoặc nuôi heo, nuôi gà, hoạc làm mành mành trúc, đan lát các đồ dùng bằng mây, tre hay canh tác một mảnh đất nào đó của nhà trường xin được ở vùng ngoại thành. Nói chung là phải đóng góp vào công việc làm ra của cải vật chất cho nhà trường. Tiền thu được sẽ chi tiêu vào những việc gì thì chỉ có Ban Giám Hiệu được biết mà thôi. Trung bình mỗi tuần, ít nhất mỗi giáo viên phải đi lao động sản xuất hai lần: một lần lao động cho chính nhiệm vụ của bản thân mình và một lần thì đi theo lớp do mình làm Chủ Nhiệm để hướng dẫn học sinh lao động sản xuất trong phần vụ của chúng.

4) Giáo viên phải tham gia sinh hoạt các tổ chức trong trường, trung bình mỗi tuần lễ có 5 buổi họp : Họp Hội đồng Giáo viên do Hiệu Trưởng hay Hiệu Phó chủ tọa, Họp Công Đoàn do Thư ký Công đoàn chủ tọa, họp Tổ Bộ Môn do Tổ trưởng Bộ Môn chủ tọa, họp Chủ Nhiệm Lớp do Bí Thư Chi Đoàn hay Hiệu Phó chủ tọa, và cuối cùng là họp Tổ Lao Động Sản Xuất do Tổ trưởng Lao động chủ tọa. Đó là chưa kể các Thầy, các Cô trẻ tuổi còn phải sinh hoạt bên Chi đoàn Thanh Niên hay được cử xuống trông nom các sinh hoạt của Chi Đội Thiếu Niên Tiền Phong vào những ngày Chủ Nhật nữa.

Cho nên mang tiếng là được sắp xếp giảng dạy có 12 tiết mỗi tuần nhưng giờ giấc họp hành ở trong trường đã choán gấp 5, gấp 6 lần thì giờ giảng dạy. Đó là chưa kể những công tác được giao phó ngoài việc giảng dạy như chia nhau  tắm cho heo, bằm rau, quấy cám, trực trường, đi chở gạo, thịt và các thứ nhu yếu phẩm từ các Hợp tác Xã về phân phối cho các giáo viên, hướng dẫn lớp học đi cạo trúc làm mành trúc, trông coi học sinh quét dọn sân trường, hành lang, lớp học và cuối cùng là tham dự những buổi học tập chính trị  để quán triệt chủ trương, đường lối của Nghị Quyết hay về lịch sử truyền thống của một ngày kỷ niệm hay một ngày lễ lớn nào đó trong năm.

Để hoàn tất những nhiệm vụ chồng chất kinh khủng này, người giáo viên phải tuân theo qui định là sử dụng đúng "8 giờ vàng ngọc". Điều đó có nghĩa là sau khi giảng dạy ở lớp ra, dù hết giờ trách nhiệm cũng phải ở lại trường cho đến khi tan học. Cả sáng lẫn chiều. Mà nếu chỉ làm 8 giờ một ngày rồi về nhà được nghỉ  ngơi thì cũng đã đỡ, nhưng trong thực tế thì buổi tối về giáo viên còn phải chấm bài, soạn giáo án, sắp xếp quản trị hồ sơ của học sinh lớp mình làm Chủ Nhiệm, vô sổ điểm hàng tháng, và đến kỳ thi cá nguyệt  thì còn phải cộng điểm, chia trung bình. Nói chung là tất cả công việc của các nhân viên văn phòng nhà trường hồi xưa đã làm thì nay đổ hết lên đầu giáo viên.

Đó là phác qua một vài nét sinh hoạt  của người giáo viên trong một nhà trường XHCN.

II/ Giáo Chức với vấn đề giảng dạy :

Giáo án là một sản phẩm được đưa vào từ miền Bắc.

Bắt nguồn từ 2 nguyên do chính yếu sau đây mà nẩy sinh nhu cầu giáo viên phải soạn giáo án trước khi vào lớp :

1) Kiểm soát tư tưởng của giáo viên tối đa trong lúc giảng bài trong lớp.

2) Trình độ giáo viên miền Bắc đa số yếu kém nên phải buộc họ chuẩn bị chi li từng động tác một trong khi đứng lớp để tiết giảm những sự giảng dạy sai lầm trong lớp học.

Mỗi bài học dù là của bộ môn nào cũng đều phải có giáo án riêng. Mỗi giáo án bao gồm 5 phần gọi là "5 bước lên lớp":

Bước 1: Ổn định lớp.

Bước 2 : Kiểm tra bài cũ.

Bước 3 : Giảng bài mới.

Bước 4 : Củng cố kiến thức mới.

Bước 5 : Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà.

Trong 5 bước kể trên bước giảng bài mới là bước quan trọng nhất. Mỗi bài giảng phải chia theo thứ tự lớp lang sau đây :

1) Phần mở bài : Giáo viên phải nêu mục đích yêu cầu của bài, trọng tâm của bài và phải làm nổi bật được nhu cầu chính trị của bài đó. Điều "phải làm nổi bật" này đối với các giáo viên bộ môn Văn, Sử, Địa thì còn dễ, nhưng với các giáo viên thuộc bộ môn Toán hay Khoa Học Tự Nhiên (tức Vật Lý-Hóa Học-Sinh Vật) thì là cả một sự chật vật để tìm cho ra sự liên hệ giữa tư tưởng chính trị với một bài Hình Học như Tam giác đồng dạng, một bài Đại số như Đơn thức, Đa thức hay một bài Hóa học như  sự hóa savon  và  cách làm xà phòng…v…v….

2) Phần thân bài : tức là đi vào nội dung chính yếu của bài học, giáo viên phải ghi rõ ở đoạn nào thì dùng thí dụ gì và sẽ kể câu chuyện nào (phải viết rõ cả ra), hay dùng trợ huấn cụ nào, tiến hành ra sao. Do đó, trong giáo án, trang giấy phải chia thành 2 cột: một cột thì ghi rõ các động tác, tóm tắt lời giảng của thầy, còn cột bên kia tương ứng thì ghi rõ các động tác của trò như lúc nào thì ngồi nghe, lúc nào thì ghi chép, thậm chí đến độ giáo viên còn phải ghi cả những câu hỏi của trò mà Thầy, Cô ước lượng rằng có thể học trò sẽ đặt ra trong lúc giảng, đồng thời phải nêu rõ câu trả lời cho những câu hỏi đó.

3) Phần củng cố kiến thức : cuối cùng là là phần tóm tắt lại bài giảng để cho học sinh dễ nhớ, dễ nắm được những điểm chính yếu trong bài học.

Soạn một bài giáo án như thế sẽ rất mất thì giờ và cũng rất công phu. Khi soạn xong, không phải là đã có thể mang dùng ngay mà còn phải thông qua một buổi họp Tổ Bộ môn để các đồng nghiệp góp ý, rút tỉa ưu khuyết điểm. Sau cùng, cứ mỗi cuối tuần thì giáo viên lại phải treo cuốn giáo án của mình trên tường văn phòng Ban Giám Hiệu, để nơi đây sẽ đóng dấu kiểm soát hay có ý kiến gì bổ sung không.

Như thế, hầu hết các giáo viên được "lưu dung" đều coi giáo án là một cái gì kinh khủng nhất, nó ám ảnh Thầy, Cô cả ngày lẫn đêm. Đi đâu cũng nghe thấy Thầy, Cô than thở về những nỗi khó khăn, cực nhọc trong vấn đề soạn giáo án. Nhiều Thầy, Cô chịu không thấu cảnh này cũng đã kiếm cớ tự ý xin nghỉ việc.

° ° °

Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên tuyệt đối phải trung thành với sách giáo khoa do nhà nước cấp phát, Những sách ấy hoặc vì soạn thảo vội vã, hoặc vì trình độ người soạn còn thiếu sót nên không tránh khỏi có những sai lầm đầy dẫy. Nhưng mọi người đều đã được nghe nhắc đi nhắc lại câu nói :

"Tuyệt đối các đồng chí không được tự ý sửa đổi bất cứ điều gì đã in trong sách giáo khoa. Đó là Pháp Lệnh ! Nếu có phát hiện sai sót thì cứ tiếp tục giảng dạy và làm phúc trình báo cáo lên cấp trên để cứu xét sau."

Điều này đã khiến cho những giáo viên có nhiều lương tâm chức nghiệp vô cùng bực bội và ray rứt. Nhân danh làm thầy mà giảng sai, giảng láo cho học trò thì lòng không đang. Mà tự ý cắt bỏ  hay sửa đổi thì vi phạm pháp lệnh, có thể đi tù. Nỗi khổ tâm đó cắn rứt giáo giới rất nhiều, và sau đây là một thí dụ điển hình :

" Một cô giáo giảng dạy lớp 5 ở trường tiểu học Bàn Cờ Sài Gòn, một hôm phải giảng một bài Văn nhan đề " Ngụy ăn thịt người!". Có đứa học trò lên tiếng hỏi :

- Thưa Cô, Cô dạy chúng con như thế nhưng Cô có tin là thực hay không ?"

Cô giáo chỉ òa lên khóc và sau đó tự ý xin nghỉ việc.

Đấy là một trong nhiều thảm kịch đã xẩy ra dưới mái nhà trường XHCN sau 30-4-1975.

° ° °

Khi hoàn cảnh giáo dục đã đưa tới cái thực trạng thầy dạy không tin tưởng  vào điều mình nói thì kết quả giáo dục chỉ là những con số báo cáo láo trên giấy tờ. Đó là chưa kể học trò không còn mang tâm trạng thích học, hiếu học như ngày xưa nữa. Lý do dễ hiểu là, ngoải chuyện bài giảng dối trá như kể trên, đa số học sinh miền Nam đều lại còn dính líu vào thành phần liên hệ với chế độ cũ. Nhiều em có cha, anh là các Sĩ quan đang bị bắt đi học tập cải tạo, nhiều em khác thuộc thành phần tư sản mại bản hay thương nghiệp tư bản tư doanh. Tương lai của các em không có gì sáng sủa. Đại Học là cánh cửa rất hẹp chỉ thu nhận những thành phần "không có nợ máu với nhân dân". Con đường duy nhất mà tuổi trẻ ở VN đa số sẽ phải đi tới là "Nghĩa Vụ Quân Sự". Đang học lớp 12, có lệnh trình diện là phải đi ngay chứ không được đình hoãn, ngay cả trường hợp đang theo các lớp trên đại học cũng vậy. Ở xứ CS, không có quy chế miễn dịch vì lý do học vấn. Vì vậy mà cả ngàn thanh niên đã bị đẩy vào chiến trường Lào và Kampuchea. Họ thù ghét chế độ nhưng họ vẫn phải khoác trên mình những bộ quần áo bộ đội và đội nón cối. Một số, liều mạng đào ngũ chạy qua Thái Lan, nhưng ở đây họ không được hưởng quy chế tỵ nạn mà lại bị đối xử như những tù binh hay cán binh Cộng sản. Đây là hoàn cảnh đau thương mà tuổi trẻ Việt Nam  đã và đang còn phải trải qua như định mệnh khắt khe  đã đẩy họ vào cái xã hội của giờ thứ 25 với cuộc sống đầy dẫy phi lý và bất công này.

° ° °

Những nguyên do kể trên đã dẫn tới hậu quả  là trình độ học sinh bây giờ vô cùng sa sút. Đến nỗi nếu chỉ xét điểm căn cứ trên bài tập hằng tuần hay bài thi mỗi lục cá nguyệt thì 95 phần trăm học sinh trong lớp phải học đúp lại. Nhưng thực tế lại xẩy ra trái ngược. Hàng năm, có 95 phần trăm học sinh được lên lớp và chỉ có 5 phần trăm là phải học lại. Lý do dễ hiểu là, trước ngày thi nửa tháng, giáo viên phải phổ biến cho học trò học trước nhũng bài sẽ ra trong kỳ thi  kèm theo cả phần hướng dẫn cách giải. Nếu chăm chỉ, học sinh chỉ cần học vỏn vẹn có một số đề tài nào đó thì cũng đủ đạt điểm trung bình. Vậy mà chúng vẫn không chịu học. Khi cộng sổ các điểm thi, vẫn còn đến quá nửa học sinh không làm được bài. Giáo viên lại được lệnh nâng điểm toàn lớp, nâng mãi, nâng hoài cho đến khi nào có 95 phần trăm đủ điểm lên lớp thì mới được Ban Giám Hiệu chấp thuận, phê chuẩn biên bản học sinh được lên lớp. Sau này, vì đã có kinh nghiệm, giáo viên khi chấm bài sẽ cho điểm không dựa vào trình độ học trò mà căn cứ vào số phần trăm cho lên lớp. Học sinh thấy mình lười  mà vẫn cứ được lên lớp thì lại càng đổ lười ra hơn. Đó là thực trạng đã diễn ra ở miến Bắc từ nhiều chục năm trước và đang diễn ra ở miền Nam bây giờ. Chính nhiều giáo viên ở miền Bắc cũng đã than rằng nền giáo dục XHCN là nền giáo dục chạy theo chỉ tiêu. Nhận định đó xét ra thấy đích đáng và thấm thía vô cùng.

III/ Sự đãi ngộ của chế độ đối với Giáo chức :

Muốn thấy rõ sự đãi ngộ của chế độ đối với giáo chức thì chỉ chỉ cần nhìn vào chính ngay hình hài của các Thầy Cô giáo. Tôi có thể khẳng định một điều là hầu hết đều xanh xao, hốc hác. Họ đã thiếu thốn mọi chất bổ dưỡng và đã trải qua nhưng cơn đói đúng nghĩa. Rất ít người còn có hoàn cảnh để có được một bữa ăn sáng trước khi đi dạy học. Thâm chí đến một ly cà phê buổi sáng cũng là một sự xa xỉ hiếm thấy.

Mỗi năm, chúng tôi có dịp quan sát các bữa ăn của nhau trong suốt một tháng hè vào dịp tham dự khóa học chính trị được tổ chức để bồi dưỡng tư tưởng cho giáo viên. Người tham dự khóa học, sáng đi, chiều về, buổi trưa nghỉ đúng 1 tiếng để ăn uống, nghỉ ngơi. Vào giờ đó, ngay trong hội trường hoặc dọc theo hành lang, hoặc ngay sau các bục gỗ khuất nẻo trong các lớp, anh chị em bầy biện ra những bữa cơm chất chứa vừa đầy một cái lon Guigoz có cơm độn mì, cơm độn ngô và hầu như rất ít ai có lấy miếng thịt. Tôi đã gặp ở đấy hầu hết các bạn bè thân quen, đa số đều mang những ánh mắt đục lờ, mệt mỏi, những gò má hốc hác, những nụ cười gượng gạo, héo hắt và những bộ quần áo xốc xếch, tả tơi.

Hiện tượng Thầy giáo, Cô giáo vào lớp mặc áo vá, quần vá không còn là một điều gì kỳ quặc trong sinh hoạt trường lớp ở đây. Bởi vì ai cũng hiểu rõ hoàn cảnh của nhau, cả thầy lẫn trò. Xe gắn máy là một cái gì xa xỉ, vì khi đổ xăng, một lít cũng đã hết 1 phần 5 số lương rồi ! Do đó, tất cả đều đi xe đạp. Đạp xe miết thì chỉ sau một năm là mông quần bai ra, phần ở chỗ đùi gối cũng rách hết. Nhà nước có phát phiếu mua vải rẻ. Nam giáo viên mỗi năm được mua 1 thước 2 vải may quần tây, nhưng đa số đều vẫn mặc quần vá  vì cái phiếu đó đã được đem bán đi bù đắp tiền đong gạo, mua mì. Của trong nhà ngày càng đội nón ra đi. Năm trước khách đến còn mời ngồi salon, năm sau khách tới thăm thấy cả căn nhà đã trống trơn vì chủ đã bán hết bàn ghế, tủ giường, thậm chí đến cả quần áo, những thứ còn tươm tất. Nói chung là ai có gì cũng đem bán sạch. Giữa sàn đá hoa trống trơn, nhà giáo trải chiếu bò nhoài ra soạn bài, chấm bài và dĩ nhiên khách tới chơi thì cũng cởi giầy ngồi xệp xuống chiếu nữa.

Vậy mà mối lo của đời sống không chỉ đến đó là chấm dứt, mà ngược lại cơn sợ hãi thao thức ngày một to lớn hơn lên vì đồ đạc đã bán đi hết rồi  sau sẽ lấy gì mà ăn? Điều này dẫn tới hậu quả là giáo viên đồng loạt lăn xả vào xã hội để kiếm sống. Cho nên không lấy gì làm lạ khi học trò gặp thầy đi lái xe ôm, đi đạp xích lô  buổi tối hay lang thang ở chợ trời vào ngày Chủ Nhật. Nhiều cô giáo (nhất là ở các trường tiểu học) đã đi buôn kẹo, bánh bầy bán ngay trong lớp học vào những giờ ra chơi để kiếm  thêm chút đỉnh phụ chi tiền chợ trong gia đình. Có thể nói trong xã hội C.S, tầng lớp giáo viên là một trong những tầng lớp bị bóc lột kỹ lưỡng nhất, bị bạc đãi nhất và số phận của họ cũng thê thảm nhất vì họ chẳng còn có cơ hội để mà hưởng thụ, chẳng có khả năng để mà bon chen, tranh sống và cũng chẳng có nhiều thì giờ để lo chuyện riêng cho gia đình vì giờ giấc của họ trong suốt năm đều bị cán bộ giáo dục bầy đặt hết chuyện này tới chuyện khác để chiếm dụng hết.

Bên cạnh những thiếu thốn, lo âu về đời sống, người giáo viên còn bị nhồi nhét tư tưởng chính trị kỹ lưỡng nhất. Hằng năm ngoài một tháng học tập chính trị tập trung trong những hội trường chất chứa cả ngàn người mà mỗi buổi nghe giảng là một cuộc tra tấn trên bình diện cân não, người giáo viên còn phải phát biểu, thảo luận, viết bài thu hoạch và đọc trước nhóm hay tổ của mình để chịu sự phê bình, nhận xét dưới con mắt quan sát soi mói  của cán bộ chính trị. Khi được trả về trường sinh hoạt, họ còn phải tiếp tục học tập chính trị thường xuyên không ở tổ, ở nhóm thì ở Công đoàn, ở Hội đồng giáo viên toàn trường, nhất là trong những lần phải học tập một Nghị quyết mới, một thông tư mới, một quy định mới hay những ngày kỷ niệm, những ngày lễ lớn trong năm.

Đó là tất cả những gì mà người giáo viên nhận lãnh được ở chế độ trong những năm tháng  dài phục vụ cho xã hội mới.

IV/ Tâm trạng chung của giáo chức trong chế độ mới :

Trong hoàn cảnh sống khắt khe như thế, lo âu và chán nản là hai tâm trạng chung phổ biến nhất trong hàng ngũ giáo chức ở quê nhà.  Họ lo âu cho đời sống kinh tế  thiếu thốn trước mặt, lo âu cho sức khỏe của chính mình và tương lai của bầy con cái. Bên cạnh đó là sự chán nản vì vẫn phải kéo dài một đời sống vô nghĩa và đầy mặc cảm vì sự hổ thẹn với lương tâm. Một nhà buôn có thể nói dối khách hàng về phẩm chất món hàng của mình mà lương tâm ít áy náy.  Nhưng một nhà giáo dạy dỗ học trò về những điều mà chính mình không tin tưởng  thì đó là một sụ đầy đọa  hết sức đớn đau đối với lương tâm chức nhgiệp.

Vậy mà các đồng nghiệp của chúng ta ở quê nhà vẫn tiếp tục phải sống, phải dạy dỗ, phải đóng kịch ngay trên bục giảngvà đau đớn hơn nữa là chính lũ học trò ngồi ở dưới  cũng thấy rõ Thầy mình, Cô mình đang là một con vẹt nói dối không ngưng nghỉ.

Trò khinh thầy. Thầy đầy tự ti mặc cảm. Hỏi có còn nền giáo dục nào khác bi thảm hơn  thế nữa hay không?

Và khi một nền giáo dục với những cơ cấu tổ chức và đường lối điều hành như thế, cộng thêm một đội ngũ nhà giáo mệt mỏi chán chường và một tầng lớp học trò không thấy nhu cầu thiết yếu của học vấn, thì tương lai của đất nước sẽ ra sao ?

Nếu như miền Bắc đã trì trệ, trình độ khoa học kỹ thuật còn đầy dẫy những nhược điểm sơ đẳng, lạc hậu thì nguyên nhân sâu xa phải kể đến là do hậu quả của một nền giáo dục đào tạo những con người chỉ biết cúi đầu tuân phục chế độ.

Miền Nam sau hơn 7 năm theo tiến trình ấy tất cũng đang đi vào những hậu quả tương tự.

Chúng ta sẽ chẳng còn trông mong gì vào thế hệ trẻ đã được đào luyện trong chế độ CS. Đó là chưa kể đến những truyền thống cũ, quan niệm cũ, nền tảng đạo đức luân lý cổ truyền cũng đã bị nhà trường XHCN tẩy rửa đi hết.

Có thể nói không ngoa rằng ý thức hệ dân tộc lấy nhân bản làm nền tảng đang bị xoi mòn và bôi xóa đi ở quê nhà.

Cho nên trách nhiệm bảo tồn những di sản văn hóa của dân tộc, không có ai khác hơn phải nhận lãnh chính là những người có may mắn vượt thoát xứ sở để ra đi.

Và trong cộng đồng VN tại hải ngoại, những người gần gũi nhất trong trách nhiệm gìn giữ những di sản kể trên hẳn không ai khác hơn là những cựu giáo chức lưu vong.

Tôi luôn luôn tin tưởng rằng tập thể giáo chức của chúng ta là một trong nhhững tập thể  có trình độ nhất, có ý thức nhất và có một tấm lòng gắn bó thiết tha nhất đối với văn hóa.

Chúng ta sẽ phải làm gì đối với thế hệ trẻ lưu vong nói riêng và với cả tiền đồ văn hóa dân tộc nói chung  ?

Câu hỏi này, tôi tin tưởng là quý vị sẽ tìm thấy lời giải đáp sau khi đã theo dõi nội dung của những bài thuyết trình của các đồng nghiệp kế tiếp và đã trao đổi, thảo luận kỹ càng.

Trước khi dứt lời, một lần nữa, tôi xin minh định rằng vốn hiểu biết về vấn đề giáo dục ở quê nhà hiện nay của tôi còn rất hạn chế và không được cập nhật hóa sau gần 3 năm tôi rời nước ra đi. Tôi mong mỏi các đồng nghiệp đi sau tôi sẽ bổ túc thêm ý kiến để cho chân dung của giáo chức ở quên nhà được thêm phần phong phú và sáng tỏ hơn.

Xin trân trọng cám ơn và xin kính chào quý đồng nghiệp.

NHẬT TIẾN
Santa Ana, California ngày 26-11-1982

Chương 2

PHÁT BIỂU TRONG ĐẠI HỘI PHỤ HUYNH của TRUNG TÂM VIỆT NGỮ HỒNG BÀNG

tại Orange County, Nam California ngày 27-11-1982

 

Trong hơn một tuần lễ vừa qua, Cộng đồng VN tại Nam California đã diễn ra mấy sự kiện liên tiếp vô cùng có ý nghĩa.

Vào ngày thứ Sáu 19-11-1982, tại Los Angeles đã có hơn 500 sinh viên thuộc tổ chức liên trường 23 đại học ở Nam Cali đã tổ chức một cuộc mít tinh trước tòa Lãnh sự Thái lan để đấu tranh cho quyền sống của đồng bào tại các trại tỵ nan.

Qua ngày Chủ Nhật 21-11, hai đòan thể "Trung Tâm Người Việt Quốc Gia’ và "Đoàn Thanh Niên Thiện Chí"  đã tổ chức buổi ra mắt cuốn tái bản Tự Điển Việt Nam do Hội Khai Trí Tiến Đức soạn thảo kèm theo một cuộc hội thảo  về vấn đề duy trì và phát huy văn hóa ở hải ngoại.

Đến ngày hôm qua, 26-11, hơn 200 cựu giáo chức VN từ nhiều nơi trên đất Mỹ đã đổ về Orange County để tham dự Đại Hội Cựu Giáo Chức VN Hải Ngoại được tổ chức lần đầu tiên tại Hoa Kỳ với sự ra đời  của Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức VN mà mục tiêu  nhằm tiến hành những công tác liên quan đến vấn đề văn hóa, giáo dục. (Xin coi bài nói chuyện về  "Thân Phận Giáo Chức Ở Quê Nhà" tại Đại Hội này ở trang…….).

Và ngày hôm nay, tại đây, trong hội trường này, Đại Hội Phụ Huynh Học Sinh của trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng cũng đã được cử hành trọng thể lần đầu tiên tại Nam California.

Bốn sự kiện kể trên, tuy cách biệt về thời gian, về mục đích tổ chức và về đối tượng tham dự nhưng thực sự đã mang một ý nghĩa hết sức trọng đại trong cộng đồng VN tại hải ngoại chúng ta.

- Anh chị em sinh viên đã nhận thức được vai trò của mình trong công cuộc chia sẻ trách nhiệm đối với số phận đau thương của đồng bào tỵ nạn và đặc biệt là đã ngồi lại với nhau lần đầu tiên trong một tinh thần đoàn kết, cảm thông hết sức đáng ca ngợi.

- Hai tổ chức có mầu sắc đấu tranh chính trị : Trung Tâm Người Việt Quốc Gia và Đoàn Thanh Niên Thiện Chí lần đầu tiên chia sẻ trách nhiệm chung trong một công tác văn hóa thiết thực, cụ thể, đó là việc tái bản cuốn Tự Điển Việt Nam, một tài liệu văn hóa quý giá rất cần thiết cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa.

- Những cựu giáo chức, sau hơn 7 năm sống rời rạc, riêng lẻ, nay đã nhận thức được vai trò  và trách nhiêm  của mình nên đã xúc tiến thành công  trong Đại Hội Cựu Giáo Chức với sự ra đời của Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức VN Hải Ngoại.

Và lực lượng phụ huynh học sinh, một tập thể  nắm giữ một vai trò hết sức  quan trọng trong công cuộc duy trì văn hóa ở giới trẻ, như quý vị hiện diện tại đây, hôm nay, đã tiến hành  một Đại Hội lần đầu tiên không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà có thể cũng là lần đầu tiên ở hải ngoại.

Tất cả những sự kiện vừa kể, ghép lại dưới chung một cái nhìn, cho ta thấy quả thực đã có một sự biến chuyển lớn lao và rất đáng mừng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng chúng ta.

Tình trạng trì trệ, dậm chân tại chỗ, buông xuôi, thờ ơ ngoại cuộc hầu như đang bị phá vỡ.

Tập thể sinh viên, các cự giáo chức, các phụ huynh  và các đoàn thể có thành tích đấu tranh chính trị hầu như đã nhìn thấy rõ thái độ mà chúng ta cần phải nhìn ra và chấp nhận. Đó là sự dấn thân một cách tích cực vào những công cuộc trọng đại và khẩn thiết, không có không được của cộng đồng VN tại hải ngoại.

Chúng ta hãy nhìn về quê nhà để thấy văn hóa và giáo dục đã bị CS hủy diệt ra sao.

Văn nghệ sĩ bị bắt cầm tù.

Sách vở báo chí bị tịch thu và bị ném vào lò nấu bột giấy.

Nhà trướng XHCN thực chất chỉ là nơi hủy diệt nền văn hóa  cũ, tẩy xóa mọi giá trị luân lý đạo đức truyền thống và thay thế bằng một nền tảng đạo đức "cách mạng" mới, loại đạo đức chỉ lấy hận thù và đấu tranh giai cấp làm cứu cánh trong mọi suy nghĩ, mọi hành động của tất cả mọi con người sinh sống dưới chế độ XHCN.

Như thế, trách nhiệm bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc không thể trao vào tay tập thể nào khác hơn là cộng đồng VN lưu vong tại hải ngoại, trong đó tập thể học sinh, sinh viên, các cựu giáo chức, các phụ huynh  và những Hội đoàn, những Tổ chức, những Đoàn thể và những Lực lượng chính trị. (câu này có vẻ như chưa đủ nghĩa?)

Để thực hiện trách nhiệm đó, từ nhiều năm nay, quý anh chị em trong Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng đã âm thầm và dũng cảm họat động với một thái độ hết sức kiên trì đáng khâm phục.

Những lớp học Việt ngữ đã được mở ra liên tục.

Những nỗ lực đóng góp của các hội viên Trung Tâm Hồng Bàng đã đem lại cho toàn thể cộng đồng VN tại Hoa Kỳ  nói riêng và trên khắp thế giới nói chung một niềm cảm phuc sâu xa và một lòng tin tưởng mãnh liệt.

Nhưng dạy Việt ngữ mới chỉ là một giai đọan, một mắt xích trong cả một chuỗi dài của trách nhiệm duy trì văn hóa.

Các con em của chúng ta thông thạo Việt ngữ chưa hẳn đã đương nhiên trở thành một con người Việt Nam thuần túy.

Các em, ngoài khả năng nói tiếng Việt, viết và đọc tiếng Việt, còn cần phải có một tâm hồn Việt Nam, một nếp suy nghĩ theo nền nếp đạo đức, văn hóa cổ truyền Việt Nam và cũng cần có một tấm lòng thiết tha gắn bó với nguồn gốc dân tộc VN của mình.

Có đủ  những yếu tố đó, các em mới là những người VN thuần túy.

Thiếu hẳn những yếu tố đó, các em sẽ chỉ giống như một người ngoại quốc nói và viết được tiếng Việt.

Để đạt được những điều kiện tế nhị và khó khăn vừa kể, chúng tôi thiết nghĩ quý vị phụ huynh với sinh hoạt trong gia đình sẽ đóng góp một phần hết sức quan trọng .

Trong vòng tay thương yêu và đùm bọc của gia đình, quý vị phụ huynh  sẽ làm yếu tố VN nẩy nở trong tâm hồn các em. Quý vị giáo chức , các đoàn thể, các tổ chức …sẽ góp phần tiếp tay với quý vị để làm cho tâm hồn  của các em nẩy nở những bông hoa Việt Nam quý giá đó.

Dĩ nhiên ý kiến này không phải là  những phát giác mới mẻ gì.

Trước đây, nhiều phụ huynh, nhiều nhân sĩ , nhiều vị thức giả  đã nêu lên những yếu tố ràng buộc liên đới đó.

Nhưng thật sự trong tuần lễ vừa qua, với những dữ kiện sinh hoạt liên tục như đã liệt kê, tất cả đã khiến cho vấn đề mà chúng ta hằng quan tâm trở nên hết sức đáng khích lệ với những dấu hiệu cụ thể đáng mừng.

Tôi thiết tha mong mỏi kể từ Đại Hội này của quý phụ huynh, cũng như kể từ khi các sinh viên đã thể hiện tinh thần trách nhiệm của mình đối với các vấn đề của dân tộc, các vị giáo chức, các đoàn thể đã quan tâm  một cách tích cực hơn đối với vấn đề văn hóa … thì công trình phát huy văn hóa, giáo dục trong cộng đồng chúng ta sẽ đi vào một giai đoạn mới, với những nỗ lực cụ thể, tích cực và liên tục hẳn là sẽ được thể hiện trong các sinh hoạt của cộng đồng ở những ngày sắp tới.

Chúng ta  sẽ phục hồi tất cả những gì chúng ta đã mất.

Chúng ta sẽ phục hưng tất cả những gì mà CS ở quê nhà đang hủy diệt.

Trong ý niệm đó, tôi xin mạn phép được bầy tỏ niềm tin tưởng sâu xa của tôi đối với toàn thể quý vị hiện diện trong ngày hôm nay.

Tôi cũng xin được bầy tỏ lòng cảm phục và ngưỡng mộ của tôi đối với những sự hy sinh, sự tận tụy và những đóng góp vô vị lợi  của các anh chị em trong Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, những người chiến sĩ của văn hóa dân tộc.

Tôi cũng xin chân thành kính chúc Đại Hội Phụ Huynh ngày hôm nay gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong những công tác cụ thể  mà chắc chắn quý Hội sẽ đề ra trong kế hoạch hoạt động trong tương lai.

Kính chúc quý vị đạt nhiều thành  công tốt đẹp trong mọi công tác văn hóa phục vụ cho quê hương, dân tộc.

NHẬT TIẾN
Santa Ana ngày 27-11-1982

Chương 3

Một vài điểm gợi ý về vấn đề

NHỮNG DỰ PHÓNG CHO TƯƠNG LAI  CÁC  LỚP VIỆT NGỮ

NHẬT TIẾN

 

Trình bầy tại Trung tâm Việt Ngữ Hồng Bàng ngày 20-2-1983

Dưới đây là phần tóm tắt nội dung bài thuyết trình:

- Có 5 phạm vi cần thảo luận : ĐỐI TƯỢNG giảng dạy, MỤC TIÊU giảng dạy, PHƯƠNG THỨC giảng dạy, NHÂN SỰ thi hành, TỔ CHỨC hợp nhất.

-  Mỗi phạm vi sẽ được đề cập đến nội dung để thảo luận và kèm theo vài đề nghị để nghiên cứu, thực hiện.

I/ ĐỐI TƯỢNG giảng dạy :

1) NỘI DUNG thảo luận :

- Những học sinh đang đi học.

- Những học sinh vừa mới tới định cư.

- Những em không có điều kiện tới trường.

2) ĐỀ NGHỊ  nghiên cứu, thực hiện:

- Hoàn cảnh, tâm lý, khả năng thích ứng  trong môi trường mới

- Những động cơ thuận lợi, hay cản trở việc phá ttriển tiếng Mẹ, tình cảm đối với quê hương.

  II/ MỤC TIÊU giảng dạy:

1) NỘI DUNG thảo luận :

  1. a) Lãnh vực chuyên môn :

- Nói tiếng Việt.

- Viết tiếng Việt.

  1. b) Lãnh vực tinh thần :

- Tình cảm gắn bó với quê hương.

- Đạo đức của người học sinh trong truyền thống Việt ( với Thầy, Cô, bạn bè, nhà trường, gia đình….)

2) ĐỀ NGHỊ  nghiên cứu, thực hiện:

- Những phương thức hiệu quả nhằm phát triển ngôn ngữ Việt

- Những phương thức làm nẩy nở  tình cảm quê hương, gắn bó với Quốc gia, dân tộc.

 

III/ PHƯƠNG THỨC giảng dạy :

1) NỘI DUNG thảo luận:

- Lớp học : Viết – Nói.

- Các buổi sinh hoạt : Trò chơi, bài hát, chuyện kể, thủ công ứng dụng bài học, hội họa, sinh hoạt ngoài trời.

- Các tài liệu sách báo : Báo dành cho thiếu nhi, tủ sách nhi đồng, nhạc thiếu nhi, hội họa…

2) ĐỀ NGHỊ  nghiên cứu, thực hiện:

- Sách giáo khoa.

- Tài liệu về nội dung sinh hoạt và kỹ thuật sinh hoạt, kỹ thuật tổ chức.

- Sách đọc bằng tranh song ngữ

- Sách thủ công, hội họa.

- Truyện giải trí song ngữ

- Xuất bản nguyệt san dành cho thiếu nhi.

- Các loại giải thưởng.

IV/ NHÂN SỰ thi hành:

- NỘI DUNG thảo luận:

- Giáo chức : Phụ trách giảng dạy trong lớp

Phụ trách các bộ môn sinh hoạt.

- Nhân viên (Cán bộ) tổ chức :

-Tổ chức lớp học.

- Tổ chức khóa huấn luyện

- Tổ chức các buổi hội thảo

- Điều hành Bản Tin

- Sưu tầm tài liệu, trao đổi kinh nghiệm với những địa phương khác

- Vận động yểm trợ, tham gia…

2) ĐỀ NGHỊ  nghiên cứu, thực hiện:

- Vận động các sinh viên tham gia

công tác giảng dạy Việt ngữ

- Tổ chức các buổi sinh hoạt (Hội thảo, Sinh hoạt ngoài trời, thăm viếng các sinh hoạt của các Hội đoàn…)

- Vận dụng khối nhân lực Phụ huynh

-  Tìm nguồn tài chánh yểm trợ.

- Liên lạc với các Hội đoàn để vận động sự yêm trợ tinh thần, vật chất…..

 

V/ TỔ CHỨC thống nhất :

NỘI DUNG thảo luận:

Hợp nhất tổ chức theo hệ thống :

CỘNG ĐỒNG VN HẢI NGOẠI

HIỆP HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC

CHI HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG

TRUNG TÂM VIỆT NGỮ

(Ban Điều Hành- Khối Giáo Chức- Khối Sinh Hoạt- Hội Đồng Bảo Trợ)

2) ĐỀ NGHỊ  nghiên cứu, thực hiện:

- Hoàn bị tổ chức riêng lẻ ở từng địa phương.

- Liênlạc, trao đổi tin tức, tài liệu, kinh nghiệm

- Vận động hợp nhất

NHẬT TIẾN
Santa Ana ngày 20-2-1983

Chương 4

CÔ BÉ ĐÁNH VẦN

Truyện ngắn của NHẬT TIẾN

 

Ngày Chủ nhật 23 tháng 2-1986 vừa qua, đài truyền hình ABC của Mỹ đã trình chiếu lần đầu tiên trên màn ảnh nhỏ cuốn phim "The Girl Who Spelled Freedom", kể chuyện cô bé tỵ nạn Cam-bốt Linn Yann đã v­ượt thắng mọi trở ngại để hoà nhập một cách tốt đẹp vào đời sống mới tại Hoa Kỳ, và sau cùng, đã vinh dự vào chung kết, đoạt hạng nhì giải "Spelling Bee" - giải thi đánh vần những chữ khó - của liên quận Chattanooga - Hamilton, tiểu bang Tennessee.

 Cô bé tỵ nạn Cam-bốt đã nêu một g­ương sáng cho những người tỵ nạn nói chung và cho giới trẻ tỵ nạn nói riêng, trong những nỗ lực không ngừng nghỉ để đi đến thành công. Đến  Mỹ năm 1979,  gần như không biết một chữ Anh nào, Linn Yann đã cố gắng học hỏi để đoạt được vinh dự nêu trên.

Truyện ngắn dưới đây viết qua cảm  hứng khi tên tuổi của Linn Yann được phổ biến rộng rãi trên các cơ sở truyền thông cả Việt lẫn Hoa Kỳ.

Buổi tối hôm trước, lúc trở về, bố đập tay vào vai Hưng, nói một câu vỏn vẹn, giọng sặc sụa hơi bia:

- Mai dọn nhà!

Hư­ng chẳng ngạc nhiên gì lắm trước quyết định bất ngờ này. Ở Mỹ, dọn nhà đối với Hưng đâu có gì là chuyện trọng đại. Bố một cái túi xách. Hưng một cái túi xách. Thêm vào đó là hai cái thùng giấy đựng sách vở, thư từ và những đồ vặt vãnh. Tất cả chất không đầy một cái xe Pinto cũ rích của bố. Thế là muốn đi đâu thì đi. Một lần ở tạm dưới garage nhà bác Thìn. Một lần share phòng với bác Vĩnh. Một lần ở đỡ ngoài salon nhà bác Hải. Và ở đây, đang yên ổn tại một căn phòng xép của bác Phong thì bố lại vỗ vai, buông xõng một câu: Dọn nhà!

Hưng không quan tâm gì lắm đối với những lý do phải di chuyển hoài hoài vậy. Một phần, nó nghĩ rằng đây là chuyện riêng của người lớn. Khi bố nói dọn nhà, điều đó có nghĩa là bố phải có đầy đủ lý do đề đổi chỗ ở. Một phần khác, Hưng đã thừa kinh nghiệm đề chấp nhận hoàn cảnh của những kẻ lang thang, tạm bợ.

Bố và Hư­ng đã lang thang tạm bợ từ những ngày còn ở quê nhà kìa. Mọi sự khởi đầu từ hồi cuối năm 1976, gia đình Hưng bi ph­ường ủy chỉ định đích danh phải dọn nhà đi kinh tế mới. Về Xuyên Mộc được hơn một năm thì mẹ mất. Năm đó, Hưng mới lên sáu. Bố dắt Hưng trở về sống lang thang trên vỉa hè thành phố.

Có thời gian bố để Hưng dưới gậm cầu để đi kiếm sống. Hư­ng khóc hết hơi, nhưng riết rồi cũng quen đi. Sau đó là những tháng ngày trôi nổi, hết Sài Gòn đến Vĩnh Long, Cần Thơ, trở lại Sài Gòn và cuối cùng là Bà Rịa trước khi bố lo được ph­ương tiện để xuống ghe vư­ợt biển.

Rồi trại tỵ nạn Songkhla, trại tạm trú Lumpinie trước khi vào tới Mỹ. Nói chung, cả cuộc đời thơ ấu của Hưng là những cuộc di chuyển. Di chuyển không ngừng, chả nơi nào Hư­ng ở ấm chỗ được quá ba tháng, trừ quãng thời gian chờ đợi hàng năm ở trại tỵ nạn.

Bố tuyên bố xong câu nói "Mai dọn nhà" là lăn ra ngủ. Hưng thì mải mê với cuốn phim "Cô bé đánh vần "nên cũng không bận tâm cả đến sự thắc mắc dọn nhà đi đâu, ở nhà ai, xa hay gần, việc học hành bố sẽ sắp xếp ra sao. Nó ngồi thu lu ở một góc. Bên cạnh nó cũng lố nhố ba bốn đứa, con của bác Phong. Đứa nằm, đứa ngồi, đứa dựa lư­ng vào vách t­ường đứa mải mê theo dõi cuốn phim, kể cả những lời dẫn giải của bác Phong. Còn bác Phong gái thì thỉnh thoảng lại chêm vào một câu dạy dỗ lũ nhỏ:

- Chúng mày thấy ch­ưa, con nhà người ta học hành chăm chỉ như­ thế "mới nên người", chứ lêu lổng như­ tụi bay thì ăn mày cả lũ!

Thằng Huy, đứa lớn nhất nhìn mẹ có vẻ bất phục, và buông một câu chỏng lỏn:

- Ở Mỹ làm gì có ăn mày, mẹ!

Cung cách của nó làm bác Phong gái nổi đoá lên. Bà to giọng:

- Không ăn mày thì ăn c­ướp! Ăn c­ướp còn tệ mạt hơn ăn mày.

Nói rồi bà hậm hực xoay trở trên chiếc ghế sa-lon rộng rãi nuốt lọt thỏm thân hình còm cõi của bà. Bà làm như­ thể cả lũ lóc nhóc con cái của bà vì lư­ời biếng nên sắp thành ăn c­ướp đến nơi. Bà định nói thêm điều gì đó, nhưng thấy cả nhà chăm chú theo dõi cuốn phim, chẳng ai quan tâm gì đến lời phát biểu của mình, nên bà đành im lặng mặc dù ánh mắt còn đầy vẻ tức tối.

Bầu không khí căng thẳng cho đến lúc cô bé nhân vật trong phim đạt chiến thắng cuối cùng khi đánh vần được chữ Acronym. Một đứa lên tiếng hỏi trống không:

- Acronym là gì?

Thằng lớn nhất tịt mít, nhưng cảm thấy có trách nhiệm trong câu hỏi của em mình, nên gợi ý:

- Hỏi bố ấy.

Bác Phong trai khuôn mặt đang rạng rỡ theo sự chiến thắng rạng rỡ của nhân vật trong phim, nghe thấy thế liền quay lại giảng giải bằng một giọng vui vẻ:

- Acronym là chữ ghép từ nhiều chữ khác lại để đọc cho gọn. Thí dụ nh­ UCLA là một Acronym.

Một đứa hỏi:

- Tiếng Việt "mình" có acronym không bố?

- Có chứ? Nh­ư Việt Nam Cộng Hoà thì mình viết là VNCH. Đó là acronym.

Hình như­ bác Phong định nói thêm gì nữa, nhưng tình tiết của cuốn phim hấp dẫn đến độ bác không muốn dài lời giảng giải, mặc dù đó là thói quen của bác.

Khi cuốn phim chấm dứt, cả căn phòng khách ấm cúng, chật hẹp như muốn náo loạn lên về những ý kiến, những lời phê bình, những câu bàn ra tán vào, và dĩ nhiên bác Phong gái lại không thể bỏ qua một cơ hội để dạy dỗ con cái về sự chúng nó phải lấy nhân vật chính làm cái gương mà soi cho mình.

Hư­ng cảm thấy mình không có đôi chút ràng buộc gì với nếp sống ồn ào của gia đình này nên nó lẳng lặng rút về căn phòng xép ở cuối dãy hành lang. Đèn trong phòng vẫn bật sáng mà bố nó đã ngủ vùi. Ông có vẻ không bận tâm gì đến chuyện chuẩn bị cho một cuộc dọn nhà vào sáng ngày mai. Hưng liếc nhìn đống sách vở, thư­ từ nằm ngổn ngang trên mặt thảm. Mắt nó đụng phải mấy cái thùng giấy xếp chồng lên nhau ở một góc phòng. Nó nhún vai với ý nghĩ cả cái đống đồ đạc, sách vở bùi nhùi này chỉ tém dẹp trong mư­ời lăm phút là đâu vào đó ngay.

Và lại sẵn sàng ra đi ! Lần này bố lái xe đ­ưa Hưng tới một căn chung cư­ thật nghèo nàn. Không có thảm cỏ. Không có bồn cây. Bốn bề bao quanh những dẫy nhà lụp xụp chỉ toàn là một mầu xi măng lát trắng toát. Điều này khiến cho khoảng sân giữa hai dẫy nhà đối diện nhau thêm rộng ra. Cái sân chạy một hơi từ đầu dẫy xuống cuối dẫy, dưới ánh nắng buổi trưa trở nên sáng chói một cách nhức mắt, gây cho mọi người cái cảm giác khô khan. nhàm chán.

Sự nhàm chán còn như bị làm cho tăng thêm vì những lớp tường quét vôi nhếch nháp, những cánh cửa ra vào ở từng căn đã bong rộp lên toàn bộ lớp sơn ngoài, và cả những vòi n­ước chắc trước đây dùng để tưới cho những thảm cỏ, những bồn cây đã bị khoá lại, nay han rỉ đến độ có thể coi như là đã mục sét.

Vào buổi chiều, hầu như­ con nít từ mọi nhà đều túa cả ra sân. Chúng mặc những bộ quần áo tuy sặc sỡ đủ mầu nhưng không làm tăng thêm được cái vẻ gì sang trọng, giầu có ở đây. Là bởi vì hầu hết cũng lại là những bộ quần áo cũ kỹ xin được ở một nhà thờ nào đó, có đứa mặc vào vẫn rộng thùng thình, có đứa lại vớ được những cái quần ngắn cũn cỡn. Có đứa ch­ưa xin được bộ nào thì vẫn cái quần xà-lỏn mang theo từ trại tỵ nạn với những chiếc sơ mi may từ hồi đó nay đã phai mầu. Có điều dù vẻ bề ngoài nghèo nàn cách nào thì cũng không làm giảm được cái bầu không khí ồn ào, sinh động của tuổi trẻ.

Chúng nó đạp xe quắng lên trên sân xi-măng. Chúng nó chạy đuổi ồn ào từ dẫy này qua dẫy kia. Có nhóm xúm lại chơi nhẩy dây. Có đám bầy ra trò đánh đáo, đánh bi. Nhiều đứa lễ mễ bế đứa em nhỏ đến vẹo cả sư­ờn mà cũng rán tham dự trò vui nào đó, y cái cảnh con mèo tha con chuột chạy đầu làng, cuối xóm.

Và cũng chỉ vài hôm sau là Hư­ng đã nhập cuộc được với đám đông hỗn độn này. Nhóm của Hưng thì kéo nhau ra tụ tập ở phía parking lot mé đằng sau, nơi đặt một dãy thùng rác sơn mầu nâu kê sát vách t­ường. Cả bọn có tám đứa thì năm đứa là con trai, ba đứa là con gái.

Hưng nhất thời chư­a thể nhớ hết tên cả bọn, nhưng nó không thể không chú ý đến cái Thoa là con gái của bác Thịnh, người cho bố con Hư­ng share một phòng. Thoa cũng chỉ mới đến Mỹ trong vòng ba năm. Da nó trắng nuột, mắt thật to và đen, mái tóc Nhật bản xoã xuống vừa chấm hai bên gò má hồng hào, phúng phính. Năm nay Thoa học lớp năm và nó cũng thuộc vào loại đứng đầu lớp học.

Hôm chiếu cuốn phim "Cô bé đánh vần" cả bọn cũng đều chúi mũi vào xem. Tất cả chúng nó hầu nh­ư đều bi khích động bởi thành tích vẻ vang của nhân vật nên cũng say s­ưa bầy ra trò chơi thi đua đánh vần với nhau. Ngày mà thằng Hư­ng nhập cuộc thì Thoa đang có vẻ thắng thế vì Thoa đã loại gần hết đấu thủ. Nó thích thú ngồi ở vòng ngoài ngắm cặp mắt sáng ngời của Thoa mỗi khi Thoa ngẫm nghĩ về một chữ nào đó phải đánh vần ra. Lúc phát âm xong, Thoa nhoẻn một nụ c­ười phô hai hàm răng răng bóng. Hưng tìm thấy cái cảm giác xúc động y hệt nh­ư hôm nào được xem cuốn phim, tới đoạn cô bé nhân vật chính đứng trước micro, xinh xắn, dịu dàng, thận trọng đánh vần những chữ mà hội đồng giám khảo nêu ra. Mà có khi còn xúc động hơn thế nữa, bởi ở đây Thoa bằng x­ương, bằng thịt, mà cũng xinh xắn dễ thư­ơng chả kém.

Rồi bỗng một đứa nào đó trong bọn tự­ nhiên nêu ý kiến:

- Còn Hưng nữa! Ai ở đây cũng phải "thi" hết!

Thế là cả bọn nhao nhao lên bắt Hưng nhập cuộc. Chả phải chúng nó công bằng gì. Cái ngữ đen đúa, gầy còm, bộ dạng còn ng­ọng nghịu, lớ quớ y chang dân mới vừa ở đảo qua, sức nào đánh vần tay đôi được với loại học trò đứng đầu lớp nh­ư Thoa. Nhưng lôi một đứa cù lần vào cuộc chơi thì sự vui thú, đùa nghịch càng thêm phần hào hứng chứ sao.

Thế là Hưng bị lôi ra trước mặt ba đứa khác đang đóng vai trò giám khảo. Hưng tức mình lắm, nhưng không thể kiếm được ra cái cớ nào đề thoái thác. Nó thấy rõ mình đang bị lũ nhỏ lôi ra làm trò cư­ời. Nhưng nó cũng thấy rõ là chẳng có cách nào tốt hơn để chọn lựa. Bỏ đi thì ê. Mà ở lại chịu trận cũng ê nốt !

Mấy chữ Anh học ăn đong ở trại tỵ nạn có nhằm nhò gì với một lũ đã mài vẹt đũng quần tại nhà tr­ường Mỹ. Rồi có đứa nói:

- Hưng! Đánh vần đi. Chữ dumb!

Cả bọn phá lên c­ười. Chúng nó còn vỗ tay thêm về sự lựa chọn từ ngữ rất đích đáng của cái thằng mới phát biểu. Bắt thằng ở đảo mới qua đánh vần chữ dumb thì còn gì đúng chỗ hơn cho bằng.

Ơ ! Mà cả cái bọn này không ngờ! Chữ gì thì chữ, chứ Hưng tuy dốt đặc cán mai cũng nhớ được cái chữ dumb này nó đã đọc ở đâu đó nhiều lần, ngay tại trại tỵ nạn kia kìa!

Thế là trong lúc cả bọn đang đổ dồn mất về phía Hưng để chờ đợi một sự tịt mít như­ pháo tịt ngòi, thì thằng Hưng đã dõng dạc đánh vần:

- Đi..iu ... Em... Bi...DUMB!

Y chang cái cung cách nó học được khi xem cuốn phim trong tuần rồi!

Lúc nó đánh vần xong thì Thoa là người vỗ tay trước. Cả bọn qua một giây ngỡ ngàng cũng vụt ùa lên vỗ tay loạn xạ. Hưng chẳng hãnh diện gì về thành tích chó ngáp phải ruồi này, chỉ cảm thấy mắc cỡ thêm vì vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của mình. Nó tự nhủ là sẽ theo g­ương con nhỏ người Campuchia để cố gắng tối đa trong việc học hành. Chỉ có một điều trở ngại là bố thay đổi chỗ ở hơi nhiều, mặc dù bố hẳn có lý do của bố. Tuy nhiên, bây giờ chư­a phải lúc mơ mộng. Nó cảm thấy mình phải trả đũa cái thằng nhỏ đã khi dể mình là đồ "dumb" cái đã. Thằng này kiêu căng phách lối, nếu lơ đi thì hèn quá. Thế là Hư­ng phá ngay cuộc chơi bằng cách túm ngay lấy vai thằng nhỏ và nói to:

- Đánh vần được tiếng Anh ch­ưa phải là giỏi. Mình là người Việt, phải biết đánh vần chữ Việt trước đã, mới là ngon. Bây giờ mày đánh vần chữ Việt đi, cũng chữ "đâm " ấy, coi nào !

Thằng nhỏ ngớ mặt ra, nhìn Hưng, nhìn cả bọn, rồi lúng túng:

-  Ơ! Mình đang thi đánh vần Anh ngữ mà!

- Mặc kệ ! Giỏi Anh ngữ đã đành, nhưng phải giỏi cả tiếng Việt nữa chứ ! Mình là người Việt mà. Vậy đánh vần đi!

Mặt thằng nhỏ tự nhiên đỏ rần lên. Nó không ngờ thằng nhãi tỵ nạn mới từ đảo qua lại du nó vào cái thế thật là kẹt. Ba má ở nhà vẫn tập cho nó nói tiếng Việt, mà cứ nói được tiếng Việt nào là ba, má đã khen ngợi rối rít rồi, nó đâu có thấy cần phải quan tâm đến chuyện học đọc, học viết. Bây giờ, nó thấy rõ là không thể cãi lại với luận điệu chắc nịch của thằng Hưng: "Giỏi Anh ngữ đã đành, nhưng phải giỏi cả tiếng Việt nữa chứ ! Mình là người Việt mà".

Hình như­ có một đứa biết đọc biết viết định mấp máy cái môi để nhắc nó đánh vần chữ ĐÂM. Nhưng nó bị ngay cái Thoa tròn xoe đôi mắt phư­ợng trừng lên nhìn. Đã thi là không có nhắc, dù đó là cuộc thi trong hội trư­ờng nghiêm chỉnh hay là tại khoảng sân sau của một khu chung cư­ nghèo nàn.

Tình thế đó tất khiến cho thằng nhỏ bị thua cuộc. Nó trở thành một kẻ rất dummy khi cả lũ lại quay ra reo hò chế nhạo. Đấy là dịp tốt nhất để Hưng rút lui một cách hùng dũng khỏi cuộc chơi. Nó đứng dậy, bỏ đi sau khi buông thêm một lời:

- Chả hay ho gì khi giỏi Anh văn mà lại dốt đặc chữ Việt!

Ngày hôm sau, nó gặp Thoa ở ngoài phòng khách, Thoa sà ngay lại và nói với nó bằng một giọng hết sức hồn nhiên:

- Hôm qua, Thoa thắng cuộc thi đánh vần. Nhưng Hưng nói đúng đấy. Đánh vần được Anh ngữ chư­a phải là giỏi. Mình là người Việt, mình phải giỏi cả đánh vần chữ Việt nữa mới là ngon. Phải không?

Hưng nhìn Thoa chăm chú hơn và mỉm cư­ời gật đầu. Nó tự nhủ Thoa còn có phần xinh đẹp hơn cả cô bé đánh vần trong phim "The Girl who Spelled Freedom" nữa.

Tự nhiên, Hưng nghĩ đến những cuộc di chuyển lang thang, bất thần của bố. Hưng thư­ơng bố, và thầm cầu mong cho tâm hồn của bố ổn định. Và lần dọn nhà kỳ này Bố sẽ khởi sự cho một cuộc sống bất đầu ổn định.

Nhật Tiến
01 tháng 3, 1986

Chương 5

Sinh hoạt Chữ nghĩa ở hải ngoại-Thời điểm1982

TỪ BỌN LÀM GIẦU TRÊN TIM ÓC CỦA VĂN NGHỆ SĨ ĐẾN LIÊM SỈ CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

HÃY CHẤM DỨT VIỆC HẠ NHỤC ANH CHỊ EM VĂN NGHỆ SĨ Ở QUÊ NHÀ

 

Tôi là một người cầm bút đã tìm được tự do sau gần 5 năm sống dưới chế độ Cộng sản. Điều đó nói lên rằng tôi là một trong những người có thẩm quyền nói lên về hoàn cảnh đau thương của anh chị em văn nghệ sĩ còn kẹt lại ở quê nhà, về những thiếu thốn của họ, về sức chịu đựng của họ, về cả tinh thần cao cả, bất khuất  của họ trong những năm dài  đen tối luôn luôn bị đầy đọa về mặt vật chất cũng như tinh thần.

Trong gần 5 năm trời ấy, tôi đã gặp gỡ nhiều anh chị em cầm bút bạn bè thân quen, đã chứng kiến những tang thương biến đổi cùng cực trong đời sống của họ. Có những cuộc gặp gỡ hàn huyên chỉ ở bên lề một bãi rác khi anh chị em  đang đi nhặt  nhặnh những mảnh túi nylon bán lấy tiền độ nhật. lại cũng có những cuộc hàn huyên  ở dưới gốc cây, ở bên lề đường, ở giữa trưa nắng nơi chợ trời ồn ào hỗn loạn. Họ cũng như tôi, những người đã  trải qua đủ thứ nghề thấp kém  để cố gắng  tồn tại và trông chờ một ngày  mai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

Tôi có thể khẳng định một điều hết sức rõ ràng, trung thực, rằng dù ở nơi  chốn thiếu thốn  như thế, đau khổ như thế, đầy đọa như thế, nhưng tất cả  các anh chị em mà tôi đã gặp gỡ , đã trò chuyện, đã trao đổi tâm sự, đều đã gìn giữ cho mình một tấm lòng thẳng băng , một lương tâm trong sạch và một sĩ khí sáng ngời. Không có hệ lụy nào của đời sống lại có thể làm cho khí tiết của họ phai mờ đi được.

Kịch tác gia Minh Đăng Khánh với tấm thân tàn phế có lần đến nhà tôi để cùng nhau chia sẻ tô mì luộc rưới nước tương Tầu Vị Yểu, đã nói :

"Minh Đăng Khánh gần hai hôm nay chưa được ăn gì !"

Anh nói nhưng miệng vẫn mỉm cười. Đôi mắt của anh long lanh, sáng ngời. Điều này cho thấy trong trái tim của anh vẫn còn rực rỡ một niềm tin cháy bỏng. Anh vẫn coi chuyện đói no chỉ là những chi tiết nhỏ nhặt của đời sống , như chuyện nắng mưa, bởi vì ngay sau đó, anh đã lôi trong túi vải vẫn đeo ở bên mình ra để khoe với tôi về những họa phẩm mà anh đang tập vẽ bằng bàn tay trái run rẩy của anh. Bức họa này có hình tượng của lá  cờ quốc gia với nền vàng và ba sọc đỏ…

_____

(Ghi chú: Minh Đăng Khánh là một nhà Thơ kiêm kịch tác gia. Ông cộng tác thường xuyên với tạp chí Đời Mới xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1952, sau trở thành diễn viên đóng trong nhiều cuốn phim nổi tiếng của miền Nam trước 1975 như Chân Trời Tím, Người Tình Không Chân Dung, 11 giờ 30…v..v..cùng với nhiều diễn viên nổi tiếng khác như Kiều Chinh, Tâm Phan, Lê Quỳnh, Mộng Tuyền, Đoàn Châu Mậu, Trần Đỗ Cung, Hùng Cường, Kim Vui…

Năm 1975, ông bị CS bắt đi tù, sau bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, CS phải thả ông ra, được ít lâu thì ông mất tại Sài Gòn..

Xin đừng lẫn lộn với một bút danh khác, cũng là Minh Đăng Khánh nhưng xuất thân từ miền Bắc, tên thật là Trần Đăng Thái sinh năm 1941 tại thành phố Vinh mất năm 2011 tại Sài Gòn. Ông Minh Đăng Khánh tức Trần Đăng Thái làm Báo Cứu Quốc, Báo Sài Gòn Giải Phóng, học khóa đầu tiên của Trường Báo chí Việt Nam, là dịch giả của nhiều cuốn sách ngoại ngữ,  và  làm việc tại Ban Tuyên huấn Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng CSVN.

Dư luận trong vòng thân hữu cho rằng kịch tác gia Minh Đăng Khánh sau năm 1975, thấy mình bị trùng bút danh với người khác, bút danh này lại xuất hiện trên nhiều báo nhà nước ngay từ  năm 1975 trong khi bạn bè văn nghệ bị truy nã, bắt bớ, cầm tù…nên anh sinh buồn phiền và đi tới hậu quả là bị tai biến mạch máu não…)

Nguyễn đình Toàn ngày chưa bị bắt  vẫn thường đạp xe lên thăm tôi bằng chiếc xe đạp "đầm" –loại xe dành cho phụ nữ - mầu nâu, thấp tịt so với tấm thân  cao ngòng của anh. Khi đó, nét mặt của anh tái xám, hai bên má hóp lại, nụ cười cay đắng, ngạo nghễ sau những cọng râu mọc lởm chởm. Anh nói rằng:

" Lũ con tao suốt bẩy ngày trong tuần, 30 ngày trong tháng chỉ ăn mì độn với muối".

Nhưng rồi anh vẫn thầm thì  hát cho tôi nghe bản nhạc mà anh vừa sáng tác, bản Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên .

Nhà văn Nguyễn thị Vinh lếch thếch với bầy cháu ngoại (khi đó con rể của bà, tức nhà thơ Dương Kiền còn đang nằm trong tù) vì một mình mẹ chúng nó - tức cô Trương Kim Anh, ái nữ của ông bà Trương bảo Sơn và Nguyễn thị Vinh - lo không xuể giữa thời buổi ai cũng lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn. Có lúc bà Vinh bị đe dọa phải rời Sài Gòn đi kinh tế mới, nhưng được chính quyền "ban cho ơn huệ sẽ khỏi phải đi" nếu bà chịu ghi danh tham dự khóa "đi thực tế sáng tác" (!). Nhưng nhà văn Nguyễn thị Vinh đã khảng khái chối từ để khỏi phải bán rẻ ngòi bút của mình khi phải viết ra những điều giả dối.

Và còn biết bao nhiêu trường hợp thà chịu khổ còn hơn viết lách khác không thể kể ra cho hết được.

Nói chung, anh chị em văn nghệ sĩ ở quê nhà, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng giữ nguyên vẹn cho mình cái liêm sỉ, cái sĩ khí của người cầm bút. Họ chỉ trông chờ ở những người đã ra đi, về mặt tinh thần thì hãy thắp sáng  lên một niềm tin ở hải ngoại, và về mặt vật chất, nếu có thể hãy chia sẻ qua những gói quà để làm giảm thiểu những đau thương, thiếu thốn mà họ đã phải gánh chịu  kể từ ngày quê hương sụp đổ.

Tuy nhiên điều đó cũng không có nghĩa là họ sẵn sàng bán rẻ phẩm giá của mình để cầu xin hay nhận lãnh một ân tình.

Thế mà trong một văn thư ký tên đơn lẻ một mình, ký giả Trần Tam Tiệp ở Paris đã nhân danh tập thể  văn nghệ sĩ ở quê nhà để phổ biến trên báo chí  một câu văn có tính cách vô tình hạ nhục phẩm giá  của mọi người như sau :

" Thay mặt anh chị em văn nghệ sĩ ở quê nhà, tôi xin quỳ lậy tất cả nhũng vị hảo tâm…."

Thật tình, tôi vô cùng khâm phục  thiện chí của anh Trần Tam Tiệp kiêm Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Việt Nam lưu vong, nhưng tôi cũng vô cùng bất bình trước những lời lẽ quá đáng này của anh.

Có lẽ trong lúc quá quan tâm đến nỗi thiếu thốn của bạn bè ở quê nhà mà anh đã quên mất một điều quan trọng vượt lên trên cả đời sống của họ, trên cả  những đau khổ, chịu đựng triền miên  trong một xã hội đen tối, đó là  phẩm cách của họ, sĩ khí của họ và cả công lao mà họ đã đóng góp để làm phong phú  nền văn hóa Việt Nam. Nếu chịu hạ phẩm giá để đổi lấy  một đời sống vật chất khá hơn  thì họ đã sẵn sàng bán rẻ  ngòi bút  cho CS, nhưng 7 năm trời trôi qua, chưa có người nào ở quê nhà  chịu đầu hàng  vật chất  theo kiểu đó (mấy ngòi bút nằm vùng thì dĩ nhiên không kể tới).

Như thế, không có gì vô lý cho bằng những nhà văn hóa lão thành như Toan Ánh, Tam Lang, Vương Hồng Sển…, những nhà thơ kỳ cựu như Bàng Bá Lân, Cung Trầm Tưởng….những nhà văn suốt cả cuộc đời đóng góp cho văn hóa như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn đình Toàn, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long…. lại phải để cho người khác "quỳ lậy"  nhân danh sự đau khổ, thiếu thốn của họ ư ?

Tôi khẳng định một ngàn lần rằng không thể bao giờ có chuyện đó. Họ có thể  quỳ lậy nhân danh sự tồn vong  của tổ quốc, nhân danh hạnh phúc của toàn  thể quê hương, đồng bào nhưng không bao giờ chịu mất liêm sỉ để mưu đồ cơm áo cho cá nhân mình. Tư cách sáng chói của họ  trong quá khứ đã minh định rõ điều đó. Họ là những người mà chính cộng đồng hải ngoại  phải coi như những cá nhân xuất sắc, dũng liệt của tổ quốc, những ân nhân đã đem lại  cho văn hóa dân tộc những tinh hoa bồi đắp bằng suốt một đời tận tụy của họ. Tôi không tin  rằng đó chỉ là ý nghĩ của riêng tôi, nhưng hầu hết mọi người đều có thể nhận rõ như thế.

Cho nên, nếu có những nhà hảo tâm nào âm thầm gửi quà về cho anh chị em thì trong số ấy sẽ chẳng có ai đã gửi quà cho họ trong tinh thần ban phát, bố thí hay mủi lòng vì một sự "quỳ lậy" như thế.

Ngay từ khi còn ở VN, tôi đã biết rõ  trong cộng đồng VN ở hải ngoại  đã có những tổ chức, những cá nhân âm thầm làm công cuộc trợ giúp anh chị em còn kẹt lại ở quê nhà.  Qua tới đây, tôi đi cũng nhiều, tiếp với bạn bè, thân hữu cũng lắm, tôi lại càng thấy rõ những nỗ lực ấy vẫn đang diễn ra âm thầm ở khắp mọi nơi, những nỗ lực chỉ làm chứ không nói, mang tính cách thuần túy một sự chia sẻ, cảm thông chứ nhất thiết không phải là trên cái tinh thần làm mất phẩm giá của họ.

° ° °

Mặt khác, trên tinh thần công bằng, người cầm bút ở quê nhà đòi hỏi các cá nhân đang làm giầu trên tim óc của họ (bằng cách tái bản các tác phẩm in trước 1975) phải góp phần làm giảm thiểu  những thiếu thốn, khó khăn của họ trong đời sống vật chất.

Nhà thơ Bàng Bá Lân, nhà văn hóa Toan Ánh, trong một thư gửi ra từ quê nhà - đã được báo chí phổ biến -  khẳng định rằng :

" Tôi không xin xỏ bất cứ ai. Tôi chỉ đòi hỏi sự công bằng !".

Những người làm văn hóa nói riêng và cả cộng đồng VN  ở hải ngoại nói chung phải có bổn phận đấu tranh cho sự công bằng đó được thể hiện. Nhưng xin đừng biến cuộc đấu tranh này trở thành một sự ăn xin bố thí, vừa hạ nhục nguòi cầm bút vừa tạo nên  yếu tố  ve vuốt lương tâm  của những kẻ làm giầu bất chính khi gán cho họ cái nhãn hiệu " đã thanh toán sòng phẳng mọi tiền nhuận bút các sách tái bản"  bằng một cái giá rẻ mạt  để rồi lại tiếp tục sống trên sự bóc lột tim óc của người khác.

Trong một văn thư vừa phổ biến của ông Giám đốc cơ sở  xuất bản và phát hành  Đại Nam mà nội dung nói về việc mệnh danh là " hưởng ứng lời kêu gọi  của Hội Văn Bút", người đọc thấy rõ  cái tính chất ban phát và bần tiện đó.  Thí dụ, nguyên văn của tờ văn thư này, thấy kể lể :

" 500 cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam ( cuốn này đã có 3 nhà xuất bản  khác nhau, in từ lâu tại Hoa Kỳ) xin nhờ ông chuyển giúp đến tác giả  hoặc thân nhân $ 200.

- 500 cuốn  Ngựa Chứng Trong Sân Trường của Duyên Anh xin được chuyển đến $200 (cuốn này  trước đó  một nhà xuất bản khác  đã in)…v..v..

Và cũng thí dụ cùng trong văn thư kể trên:

" Ngoài ra,  chúng tôi sẽ chuyển đến ông 8 gói quà  bằng đường hàng không (khi nào có Airway Bill sẽ chuyển đến ông) để nhờ ông chuyển giúp đến  những vị sau đây, một phần chúng tôi quen biết, một phần cá nhân tôi rất yêu thích  và cũng một phần chúng tôi có phát hành một số tác phẩm của các vị đó : Tô Ngọc, Vũ Bằng, Nguyễn thị Hoàng, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn thị Vinh, Bà Đinh thị Thục Oanh ( vợ Vũ Hoàng Chương), bà Đỗ thị Hải (vợ Nguyễn Mạnh Côn).

Ta thấy gì trong cung cách giải quyết của nhà xuất bản Đại Nam :

- Sách của Duyên Anh bị tái bản gần hết sao chỉ liệt kê được có một cuốn Ngựa Chứng Trong Sân Trường?  Ít nhất  nhà Đại Nam đã quảng cáo việc xuất bản và phát hành 32 cuốn của tác giả Duyên Anh.

- Số lượng in 500 cuốn được nêu ra  có gì  để minh chứng và kiểm soát ? Nó đã được in chỉ một lần hay nhiều lần, trong khi sức tiêu thụ của cộng đồng VN ở hải ngoại không phải là nhỏ do nhu cầu tìm đọc lại những tác phẩm văn học của miền Nam trước 30-4-1975.

- Nhân danh "một phần quen biết, một phần cá nhân rất yêu thích" và một phần "có phát hành một số tác phẩm của họ" mà chỉ thí cho một gói quà, đó là lý do mà tôi  buộc lòng phải  sử dụng  hai chữ "bần tiện"  kể trên, thật cũng là chuyện chẳng đặng đừng.

- Tưởng cũng nên nhắc lại rằng nhà Đại Nam đã hãnh diện in trên quảng cáo rằng : "Mỗi tuần đều có sách mới xuất bản"; rằng : "đã thành lập và phục vụ đồng bào từ tháng 5-1976" ; và rằng : " Hệ thống phát hành rộng lớn trên khắp Hoa Kỳ và các quốc gia trên toàn thế giới". Ngần ấy điều đã cho thấy nhà xuất bản này đã có quy mô phát hành đến như thế nào.

- Và trong số 8 vị sẽ nhận được mỗi vị một gói quà theo kiểu ban phát bố thí kể trên, ít nhất Hoàng Hải Thủy đã có 15 tác phẩm được Đại Nam quảng cáo; Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn thị Vinh nằm trong danh sách các nhà văn nổi tiếng với tổng cộng 80 tác phẩm do Đại Nam xuất bản và phát hành.

- Rồi còn hàng trăm các loại sách khác như Nguyễn văn Khôn với  những tự điển Anh Việt, Việt Anh được ấn loát dưới đủ hình thức to, nhỏ khác nhau; như Nguyễn Hiến Lê với hàng chục cuốn thuộc loại sách Học Làm Người; như Duy Lam, Nguyễn thị Thụy Vũ, Nguyễn Thụy Long, Đặng Trần Huân và hàng mấy chục tác giả khác tại sao không thấy nhắc  tới ? Cả một rừng tự điển, sách học, truyện chưởng, tiểu thuyết tổng cộng trên 500 loại khác nhau (nguyên văn) đã được giải quyết với Hội Văn Bút qua một văn thư 1200 đô la và 8 gói quà !!

- Rồi còn những nhà xuất bản khác  mà cơ sở  Đại Nam đã liệt kê : Zieleks ( Diên Hồng), Pacific North West Trading Co. ; Grand Asia Publication, nhà xuất bản Việt Nam, Xuân Thu, Tinh Hoa Miền Nam, Trăm Việt..v…v..  thì từ bấy lâu nay vẫn không thấy nơi nào lên tiếng.

° ° °

Trong một buổi hội thảo về sinh hoạt văn học nghệ thuật do tạp chí Nhân Chứng của thi sĩ Du Tử Lê  tổ chức hồi đầu năm nay (1982) ở Orange County, tôi đã nêu  ý kiến rằng : " Đói khổ thì anh chị em ở quê nhà đã và đang còn đói khổ. Một đồng ở hải ngoại  gửi về  trợ giúp cho anh chị em  qua được cơn ngặt nghèo cũng đều là quý. Nhưng không phải  chỉ vì đã chót nhận  vài trăm bạc, một gói quà mà anh chị em mất đi  cái quyền lợi tinh thần của mình, mất đi cái quyền  ăn nói của mình do bị há miệng mắc quai vì đã nhận quà,  để rồi những sản phẩm tinh thần của mình lại cứ bị  khai thác vô tội vạ ở hải ngoại.

Giữa "một gói quà" và sự kiện  được hiểu như "tác quyền coi như đã giải quyết xong" hiển nhiên đã có một sự trí trá, đánh lộn sòng một cách trắng trợn. Hẳn ai cũng đã thấy điều đó, nhất là những anh chị em còn kẹt lại ở quê nhà. Họ ở xa không  thể nói gì được, nhưng chúng ta ở bên này phải có bổn phận thay cho người vắng mặt nói lên cái sự thực đau lòng đó và đồng thời cũng phải lên tiếng bảo vệ các tài sản tinh thần cũng như phẩm giá của họ để tài sản tinh thần của họ không thể cứ tiếp tục bị xâm phạm.

Đó là lý do tôi  buộc lòng phải  lên tiếng  trong bài viết này,

Xin các anh chị em cầm bút hãy tiếp tục lên tiếng để chứng tỏ chúng ta đã xứng đáng với lòng  kỳ vọng của anh chị em bạn bè còn kẹt lại ở quê nhà.

Orange County, California ngày 24-8-1982

NHẬT TIẾN

Chương 6

Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật ở hải ngoại- Thời điểm 1990

về dòng văn chương phản kháng

NHẬT TIẾN

 

  1. Có hay không có một dòng văn chương phản kháng ở quê nhà ?

Năm 1987, tôi được xem lần đầu tiên cuốn phim tài liệu "Chuyện Tử Tế"  của đạo diễn Trần văn Thủy. Trong phim có đoạn quay cảnh mấy em thiếu nhi đang xúm xít kẻ một cái biểu ngữ. Màn ảnh chỉ đủ lớn cho thấy phần đuôi của tấm vải với hai chữ lớn "Vĩ Đại". Phóng viên hỏi:

- Các em kẻ hai chữ "vĩ đại", vậy các em đã nhìn thấy có cái gì, ở đâu vĩ đại không?

Một thiếu nhi ngẫm nghĩ rồi trả lời:

- Em chỉ nghe nói đến vĩ đại chứ ch­ưa thấy cái gì vĩ đại cả!

Hầu như­ chỉ những người tỵ nạn chính trị đi sau năm 1975 mới hiểu rõ ý nghĩa trọng đại mà chế độ mới vẫn thường gán ghép cho hai chữ "vĩ đại" mỗi khi đặt nó lên biểu ngữ.

Hai chữ ấy chỉ được dùng khi nói đến hoặc "Đảng" hoặc "Bác Hồ" mà thôi. Vậy mà đạo diễn Trần văn Thủy đã để cho một "cháu ngoan Bác Hồ" tuyên bố một câu khẳng định:

- Em chỉ nghe nói đến vĩ đại chứ chư­a thấy cái gì vĩ đại cả.

Tôi hiểu ngay rằng người văn nghệ sĩ chân chính ở Việt Nam, vừa nương theo cơ hội "cởi trói" của nhà nước, đã biểu lộ tiếng nói phản kháng của mình. Và cũng vì chính điều này mà tôi cho rằng cái thông điệp mà đạo diễn Trần văn Thủy gửi đi ở ngay phần mở đầu của cuốn phim "Chuyện Tử Tế", dù là m­ượn lời của Karl Marx nhưng cũng là để gửi gấm cho giới lãnh đạo cao cấp của Cộng sản Việt Nam trư­ớc hoàn cảnh đen tối của đất nước và sự lầm than của dân tộc.

Thông điệp ấy nói rằng:

- Chỉ có loài thú vật mới quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại để lo cho bộ da của mình.

Sau đó, qua những khoảng thời gian cách quãng nhau trong vòng hai năm, tôi đã được đọc nhiều bài viết khác nhau, từ thơ đến truyện, từ bút ký đến bình luận văn nghệ và chính trị của nhiều cây bút ở quê nhà, đăng tải trên nhiều tờ báo khác nhau từ Nam ra Bắc, trong đó những người làm văn nghệ chân chính ở Việt Nam đã nhất loạt nói lên tiếng nói phản kháng của mình về những nỗi cơ cực mà nhân dân Việt Nam hiện đang phải chịu đựng, về sự tham nhũng thối nát của các cấp lãnh đạo, về sự bất lực của guồng máy tổ chức xã hội, và vì sự bóp nghẹt của c­ường quyền đối với sự tự do của văn nghệ sĩ.

Trong số những tờ báo ấy - nh­ư tờ Văn Nghệ, Tiền Phong, Lao Động Phụ Nữ, Tuần Tin Tức ở miền Bắc, tờ Sông Hư­ơng, Lang Bian ở miền Trung, tờ Đại Đoàn Kết, Tuổi Trẻ, Sài gòn Giải Phóng ở miền Nam - đã xuất hiện những tên tuổi mà bây giờ đã trở thành những tên tuổi sáng chói đối với những độc giả ở quê nhà, hay đã thường xuyên được nhắc nhở trong sinh hoạt đàm thoại của nhiều người cầm bút ở hải ngoại. Có thể kể đến nh­ư Nguyễn Huy Thiệp, Hà văn Thùy, Trần văn Thủy, Phạm thị Hoài, D­ương Thu Hư­ơng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Minh Châu, L­ưu Quang Vũ, Lại Nguyên Ân, Võ văn Trực, Hà Sĩ Phu, Nguyên Ngọc, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Duy, Trần Vàng Sao...

Với một đội ngũ các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo xuất hiện đồng loạt trên những tờ báo từ Nam ra Bắc như­ thế, dù chỉ trội lên trong khoảng thời gian ngắn ngủi không quá ba năm, theo nhận xét của tôi, đã có đủ điều kiện để kết luận rằng thực sự đã hình thành một dòng văn chương phản kháng ở quê nhà.

  1. Nếu có dòng văn chương phản kháng, thì đối t­ượng của nó là gì: Bản chất chế độ Cộng sản, hay hiện t­ượng sai trái của cán bộ thừa hành ?

Người cán bộ Cộng sản vẫn thường sử dụng lập luận "Đó chỉ là hiện t­ượng, không phải bản chất" để cãi xóa cho những biểu lộ yếu kém của chế độ thông qua những ảnh h­ưởng của nó đối với đời sống xã hội.

Thực ra cái lối ngụy biện ấy không thuyết phục được ai. Bởi vì, chính những sách vở của người Cộng sản cũng đã nói rằng bản chất và hiện t­ượng đều tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người và ở trong mối liên hệ hữu cơ khác nhau. Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tư­ợng. Sự thống nhất đó là do ở chỗ: Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua các hiện t­ượng còn hiện t­ượng thì bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất.

Trong bút ký triết học của Lênin, ông cũng viết rằng: "Bản chất hiện ra. Hiện t­ượng có tinh bản chất".(anh xem lại câu này nha)

Nh­ư vậy thì không thể nói dòng văn chương phản kháng khi đề cập đến những sai lầm,  những yếu kém, những bất công, những đàn áp, những nỗi nhục nhằn, cơ cực của đông đảo quần chúng nhân dân chỉ là nhắm vào hiện t­ượng sai trái của cán bộ mà không đụng đến bản chất của chế độ. Rau nào thì phải có sâu ấy, đó là chuyện đ­ương nhiên. Cho nên thật khó mà xác định được lằn ranh rõ rệt giữa hai lãnh vực ấy, bởi vì khi đụng chạm đến lãnh vực này, đem truy nguyên ra, tất nó phải bắt nguồn từ lãnh vực kia.

Hãy lấy lời nhận định sau đây của nhà văn (ở trong nước) Mai văn Tạo nói về sự đóng góp của tờ Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà Văn Việt Nam, trong phong trào văn chương phản kháng để thấy sự phản kháng nhắm vào hiện t­ượng hay bản chất. Theo tôi, nó phải là cả hai:

" Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn c­ường hào mới, kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công, ức hiếp nhân dân đư­ợc nhiều ngòi bút có lòng, còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc.

Những tác phẩm Cái Đêm Hôn Ấy Đêm Gì,  Vua Lốp, Tiếng Hú Con Tàu, Tư­ớng Về Hưu,  Công Lý Chẳng Quên Ai.. . t­ưởng chừng không bao giờ ra mắt người đời thì nhiều tháng qua đã phơi bầy trên những trang báo Văn Nghệ.

Chư­a bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng tác trên khắp mọi miền đất nước nh­ư thời gian vừa qua. Và chính vì thế mà độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ như­ một người bạn trung thực đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình.

Ch­ưa bao giờ Văn Nghệ được coi là tờ báo của mọi người nh­ư những tháng gần đây."

( Các nhà văn nói về vụ báo Văn Nghệ)

Đất Việt Tháng Hai 1989

  1. Trong trư­ờng hợp có một dòng văn chương phản kháng thật sự, những nhà văn lư­u vong phải làm gì để hỗ trợ?

Hôm nay, theo chỗ tôi biết đã có ít ra là hai nỗ lực, trong đó có nỗ lực của tòa soạn Văn Học đang được xúc tiến để góp phần hỗ trợ trực tiếp cho phong trào văn chương phản kháng ở quê nhà. Đó là việc ấn hành những tập sách giống nh­ư cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc của cố học giả Hoàng văn Chí đã thực hiện hồi thập niên 1950 để nói về vụ Nhân văn Giai phẩm.

Việc ấn hành những cuốn sách này có mục đích quảng bá tư tư­ởng đòi hỏi tự do dân chủ của những người cảm bút can đảm và chân chính ở quê nhà, và đồng thời nuôi d­ưỡng ngọn lửa đấu tranh cho tự do dân chủ để nó không thể bị dập tắt do chủ trư­ơng nay mở mai thắt của nhà nước Cộng sản.

Tuy nhiên đó chỉ là những công tác cụ thể, trực tiếp đối với phong trào văn chương phản kháng. Tôi cho rằng, ngoài sự việc đề cập một cách trực tiếp đến dòng văn chương phản kháng đó, người cầm bút ở hải ngoại còn nên tiếp sức cho những cuộc vận động đấu tranh đòi tự do dân chủ ở trong nước bằng chính những suy nghĩ, những đóng góp của mình.

Một khi tiếng nói đồng loạt của giới cầm bút nói riêng, và của toàn thể mọi người nói chung dù ở bất cứ phần đất nào trên thế giới đối với những nguyện vọng chính đáng của dân tộc, thì chắc chắn bạo lực và những tinh thần bảo thủ, trì trệ, ngoan cố sẽ phải lùi bư­ớc để nh­ường chỗ cho những hạt nhân hy vọng sẽ làm nẩy sinh thời kỳ mới, một vận hội mới cho đất nước.

  1. Về ảnh h­ưởng của những tác phẩm văn chương phản kháng đối với độc giả trong và ngoài nước.

Theo tôi thấy, chỉ một câu nhận định của nhà văn Mai văn Tạo đã nêu ở trên "chư­a bao giờ Văn Nghệ được coi là tờ báo của mọi người như­ những tháng gần đây", thì đủ biết ảnh hư­ởng của những bài viết trong phong trào văn chương phản kháng đối với độc giả ở quê nhà đã đến nh­ư thế nào.

Riêng ở ngoài nước, ngoại trừ giới làm văn nghệ có điều kiện trao đổi, truyền tay nhau đọc những tác phẩm ở quê nhà, đa số độc giả vẫn còn bỡ ngỡ và hầu như­ chưa được thông báo đầy đủ về phong trào văn chương phản kháng đã có từ vài năm nay. Tôi hy vọng khi những cuốn sách viết về phong trào văn chương đó (kèm với phần văn liệu trích dẫn) sẽ đư­ợc phát hành trong một, hai tháng tới đây, độc giả ở hải ngoại sẽ có dịp được t­ường trình một cách đầy đủ và cặn kẽ hơn, và dĩ nhiên, chỉ khi dó, ta mới có thể thẩm định được d­ư luận của độc giả ở ngoài nước đối với những sáng tác này.

NHẬT TIẾN
19 tháng Ba 1990
(Tạp chí Văn Học- Nam Cali- Số tháng 4-1990)

Chương 7

Viếng Thăm "Đông Hồ Thi Nhân Kỷ Niệm Đường" tại Hà Tiên

 

Hà Tiên là một danh lam thắng cảnh ở miền cực nam Việt Nam, giáp ranh biên giới - Campuchia, nơi có Hà Tiên thập cảnh, có núi Bình Sơn đặt lăng mộ của Mạc Cửu,  Mạc Thiên Tích, những nhân vật nổi danh lịch sử có công khai phá đất Hà Tiên, góp phần mở mang thêm bờ cõi trên con đường Nam tiến.

Một ngọn núi khác, núi Tô Châu ngăn cách với thị xã bằng một vịnh nhỏ nằm trong vùng biển bao quanh Hà Tiên gọi là biển Đông Hồ.  Một cây cầu phao khá dài nối liền hai bên làm phư­ơng tiện qua lại. Con đường chạy dọc bờ biển bên thị xã, nhìn thẳng sang núi Tô Châu mang tên đường Đông Hồ.

Và tại số 46 đường Đông Hồ, tọa lạc một căn nhà khang trang, có cổng sắt mở vào mái hiên tiền sảnh, trên có tấm bảng lớn mầu đỏ ghi hàng chữ thếp vàng: "Đông Hồ Thi Nhân Kỷ Niệm Đường". Hai bên tiền sảnh có gắn hai tấm bia kỷ niệm. Tấm bên trái ghi tóm tắt tiểu sử thi sĩ Đông Hồ như sau :

" Họ Lâm, húy Tấn Phác, tự Thạc Chi, sinh ngày hai m­ươi sáu tháng Hai năm Bính Ngọ ( 8 tháng Ba  1906) tại Mỹ Đức-Hà Tiên, là nhà thơ, nhà văn, cộng tác với các báo Nam Phong tạp chí, Đông Pháp thời báo, Tân Văn, Bách Khoa, Văn.. v.. v. Chủ trư­ơng tuần báo Sống và đặc san Nhân Loại. giảng viên tại đại học Văn Khoa Sài Gòn. Mất ngày 25 tháng Ba 1969 ngay trên bục giảng đường trong một cơn xúc động, cảm khái khi ngâm thơ."

Dọc theo hai bên tấm bia, có khắc một đôi câu đối như­ sau:

ĐÔNG HẢI MÂY GIĂNG CÁNH HẠC,

VƯƠNG THEO HỒN MẶC KHÁCH

HỒ THU SÓNG GỢN LÀN GƯƠNG,

SÁNG CHÓI CHÍ ANH TÀI

Tấm bia bên phải nhắc nhở tới Trí Đức Học Xã với một đoạn văn và một bài thơ của cụ ­Ưu Thiên Bùi Kỷ trích bia kỷ niệm thi hào Nguyễn Du và của thi sĩ Đông Hồ, nh­ư sau:

Tiếng nào đã làm đ­ược văn

Không phải là tiếng tầm th­ường

Ngư­ời nào đã hay văn

Cũng không phải là ng­ười tầm th­ường

Đất nào đã có ngư­ời hay văn

Lại không phải là đất tầm th­ường.

(trích bia kỷ niệm Nguyễn Du)

­ Ưu Thiên Bùi Kỷ soạn

Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên

Nền móng văn chư­ơng cổ điển

Đặt đây viên đá đầu tiên

Xây dựng tương lai còn hẹn

Vũ trụ thiên thu vạn vật

Cảo thơm hiển hiện trư­ớc đèn

Đất n­ước nghìn năm văn hiến

Lâu đài  tiếng Việt huy hoàng .

Đông Hồ

Ở hai bên của tấm bia lại có khắc một đôi câu đối nh­ư sau:

Tri thức làm gương, đạo đức làm mẫu, chắt tinh túy thời vun nền quốc học

Đông Hồ là nghiên, Tô Châu là bút, phẩy gió mây tô điểm đất h­ưng thịnh

B­ước qua tiền sảnh là một căn phòng khá rộng, nơi l­ưu trữ đ­ược rất nhiều kỷ vật lư­u niệm của thi sĩ Đông Hồ bao gồm các thủ bút, hình ảnh, tranh vẽ, các tập san, báo chí mà trước đây thi sĩ đã từng cộng tác;  đặc biệt là còn cả bộ ghế salon mà thi sĩ đã dùng lúc sinh tiền, trên còn đặt những xấp báo, những tài liệu và cả cặp kính của thi sĩ vẫn để trên tập bản thảo. Tất cả, đều đã gây cho khách tới viếng thăm cái cảm giác nh­ư thể bóng dáng ngư­ời x­ưa còn quanh quất đâu đây.

Trong số những kỷ vật đ­ược l­ưu giữ, chúng tôi còn đ­ược ng­ười cháu gái của Đông Hồ phu nhân cho xem những tấm thiệp mời tham dự những buổi nói chuyện về văn chương của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời kỳ trư­ớc 1975, trên có in tên diễn giả thi sĩ Đông Hồ hoặc thi sĩ nói chuyện chung với các diễn giả khác như­ Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chư­ơng, Hồ Hữu Tư­ờng v.v... Những tấm thiệp mời có giá trị kỷ niệm quý giá này đã nhắc nhở một thời sinh hoạt phong phú của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam mà cố thi sĩ Đông Hồ đã đóng góp rất nhiều công sức từ khi Hội Bút Việt đ­ược thành lập từ năm 1958, sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua nhiều nhiệm kỳ của các vị chủ tịch nh­ư Nhất Linh, Vũ Hoàng Ch­ương, Thanh Lãng.

Đông Hồ phu nhân, tức nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, tuổi hạc năm nay đã gần 90, tuy sức khỏe đã yếu kém lắm nh­ưng cũng cất công từ trong nhà ra tiếp đón khách tới từ ph­ương xa. Khi nhắc lại những kỷ niệm sinh hoạt văn học nghệ thuật ngày x­ưa, với Yiễm Yiễm Thư Trang do thi sĩ Đông Hồ chủ tr­ương, có Viện Văn Nghệ, có Hiên Sáng Tác, bà vẫn còn đầy cảm xúc bùi ngùi. Sau khi ghi mấy hàng vào sổ l­ưu niệm, chúng tôi đ­ược bà cho phép chụp chung một tấm hình. Nội dung lời tôi viết trong Sổ lưu niệm như sau :

"Vô cùng xúc động  đến thăm nhà lưu niệm Cố Thi sĩ Đông Hồ. Biết bao  bồi hồi luyến tiếc và cảm phục Thi sĩ vào những thời gian sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Nam thời kỳ 1959-1975".

NHẬT TIẾN, Nguyên Phó Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.

Sau đó, nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội tức phu nhân thi sĩ Đông Hồ còn cho phép tôi chụp chung một tấm hình và tôi cũng đã làm mấy câu thơ tặng bà như sau :

Tuyết còn vằng vặc ánh trăng soi

Tìm đâu Mộng nữa để lòng vui

Tóc s­ương v­ương vấn hồn thi sĩ

Cõi tạm trăm năm vẫn ngậm ngùi .

Nhật Tiến

Kỷ niệm ngày viếng thăm

  "Đông Hồ Thi Nhân Kỷ Niệm Đường" ngày 29-6-2002

  (bài in trên Việt Tide-Nam Cali số 51 ra ngày 5-7-2002)

Chương 8

Trao đổi giữa Nhật Tiến và Nguyễn Đình Chính

 

Nhà văn Nguyễn Đình Chính sinh ngày 28.10.1946 tại Hà Nội. Ông là con trai thứ hai trong số ba người con của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Trong cuộc chiến chống Pháp (1946-1954) Nguyễn Đình Chính (lúc ấy chưa tới 2 tháng tuổi) và anh trai (2 tuổi) được mẹ bồng đi di tản lên Việt Bắc. Năm 1951, thân mẩu của ông mất vì trọng bệnh, Nguyễn Đình Chính sống với bà ngoại. Năm 1955, Nguyễn Đình Chính về Hà Nội và học hết phổ thông. Năm 1965, đi bộ đội. Năm 1976, xuất ngũ, thương binh loại 2/4, tham gia công tác trong các lĩnh vực điện ảnh, sân khấu và báo chí. Đã lập gia đình và hiện sống ở Hà Nội.

Tác phẩm:

Xưởng máy nhỏ của tôi (tiểu thuyết đầu tay, 1976); Nhớ để mà quên (tiểu thuyết, viết năm 1981 nhưng đến 1998 mới được in, đã được dịch ra tiếng Pháp); Con phù du cánh mỏng (tiểu thuyết, 1986); Đêm thánh nhân (tiểu thuyết tâm hơn 1000 trang, in tập I năm 1998, dự định sẽ in tập II nhưng không được cấp giấy phép. Tháng 10.2006, Nxb. Văn Học in trọn vẹn cả hai tập dưới tựa đề mới là Ngày hoàng đạo). Kịch bản điện ảnh (đã dựng phim): Rừng lạnh, Bãi biển đời người, Hồi chuông màu da cam, Người trên mặt sông và Hòn đảo chìm xuống (không được duyệt). Duyên nợ trần gian (kịch bản sân khấu, giải thưởng Liên hoan sân khấu ở Hàn Quốc 2002) và khoảng 15 vở kịch khác, trong đó 5 vở đã được dựng và diễn trên các sân khấu Hà Nội.

Bài "Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn" (talawas 2007), ghi lời nhà văn Nguyễn Đình Chính trả lời phỏng vấn của talawas do Đinh Bá Anh thực hiện đang gây nhiều dư luận. Với cuộc trao đổi giữa hai nhà văn Nhật Tiến và Nguyễn Đình Chính xung quanh một số nội dung của bài phỏng vấn này, lần đầu tiên một tác giả trong nước và một tác giả ngoài nước công khai đối thoại về những vấn đề rất nhạy cảm và cần tiếp tục thảo luận của đời sống văn học và chính trị Việt Nam.

Talawas

° ° °

1. Nhật Tiến

Thư gửi Nguyễn Đình Chính

California ngày 4-1-2007

Thân gửi anh Nguyễn Đình Chính,

Tôi đã đọc kỹ bài của talawas phỏng vấn anh.(http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8906&rb=0102 do Đinh Bá Anh thực hiện trên talawas)

 Xin có đôi điều trao đổi. Trước hết là một vài quan niệm của anh về:

-Trí thức (Anh nói: Tiêu chuẩn đầu tiên của trí thức lớn là "phải độc lập về tư tưởng, phải suy nghĩ bằng chính cái đầu của anh, và anh phải thể hiện ra trong các hoạt động bằng chính cái tư tưởng, suy nghĩ của anh".);

- về tự do sáng tác (Anh nói: Tự do sáng tác là một "thuộc tính rất cá biệt chỉ thuộc riêng nhà văn. Không một thế lực nào có thể tước đoạt cái quyền đó ngoại trừ chính nhà văn");

- về sự làm "tha hóa thẩm mỹ của đám đông" do giới phê bình trong nước đã gây ra (tất nhiên không phải toàn thể);

- về thái độ viết lách của nhà văn (Anh nói: "Tốt nhất là các nhà văn Việt Nam không nên ngồi nhận lương viết văn. Ai giỏi thì nên tự trả lương cho mình bằng nhuận bút, còn thì nên kiếm sống bằng một nghề nào đó trong xã hội" )...

  - và về sự minh bạch của anh khi anh phân biệt rạch ròi hai trường hợp khác biệt đi làm cách mạng của những vị như Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh với Nguyễn Ðình Thi (Anh nhận định: Nguyễn Ðình Thi "là một trí thức của phong trào cách mạng cộng sản").

Tất cả những quan niệm kể trên của anh, tôi đều chia sẻ và hết sức tâm đắc.

Ngoài những điểm nói trên, tôi có 2 điều muốn trao đổi:

  1. Về phong trào Nhân văn-Giai phẩm 1956 và vụ văn nghệ đổi mới năm 1990

Dĩ nhiên là anh có trong tay di cảo của ông cụ thân sinh (về phong trào NVGP) và anh lại có mặt tại chỗ vào thời điểm 1990 (về vụ đổi mới văn nghệ), nên với cả hai yếu tố này, anh là người hoàn toàn có thẩm quyền hơn tôi về sự nhận chân thực chất của hai biến cố văn nghệ này và có thể đưa ra một kết luận khả tín về những phong trào đó. (Anh nói: "Ẩn giấu bên dưới là những âm mưu, những đầu cơ vốn liếng chính trị cá nhân để tự bảo vệ mình nhằm tranh giành quyền lực ở văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài văn nghệ. Ðám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt.").

Cũng theo anh thì: "Di cảo của Nguyễn Ðình Thi có giải mã cả hai vụ này. Có đúng sự thật hay không thì tôi không biết. Nhưng đó là một quả bom. Và chúng ta hãy kiên trì đợi quả bom đó nổ vào năm 2014, nếu như từ bây giờ đến năm đó không có ai làm hộ anh Thi.

Bẩy năm nữa không phải là một thời gian dài, chắn chắn độc giả cũng muốn và có thể chờ đợi quả bom ấy được tung ra, chưa biết nó chứa đựng những gì, nhưng qua những điều tuyên bố mấp mí của anh, hẳn nhiều người cũng có thể đoán ra sự thực là thế nào. (Anh nói: "Cụ nhà văn đồng ý với tôi là nên cho những phần tài liệu này trong di cảo của Nguyễn Ðình Thi được hoá vàng. Theo cụ, nếu bóc mẽ cả hai vụ ra thì thảm hại quá cho cái giới văn nghệ này. Thế giới ngưòi ta cười cho thối ruột.

Tôi không đồng ý với "Cụ nhà văn" này, vì sự thật cần phải trả cho lịch sử, mọi sự che giấu đều không nên làm vì che giấu là vô trách nhiệm với những thế hệ đi sau, nhưng tôi thấy lo ngại cho cái điều kết luận sẵn có của anh về hai vụ này mà qua văn phong của bài phỏng vấn, người đọc có thể cảm nhận được. Ðại để như đó chỉ là những cuộc tranh giành quyền lực trong giới văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài giới văn nghệ.

Có thực là toàn bộ những người đã tham gia hai phong trào ấy đều là những người cầm bút muốn tranh giành quyền lực không? Ðành rằng nếu có sự thực là "đám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt", nhưng cũng chẳng thể vì thế mà cái mộng ước (đồng ý là chưa thể gọi là lý tưởng) về tự do cầm bút của họ lại bị lên án là tranh giành quyền lực và những đóng góp cũng như những đau khổ mà họ phải chịu đựng lại bị nhấm chìm trong cái bể ô nhục mà di chúc của Nguyễn Ðình Thi sẽ bật mí  ra.

Vì không thể để những người có lòng phải bị vùi dập tới hai lần, nên khi nhắc tới những vụ này thì cần phải có một thái độ cẩn trọng, một sự phân biệt rạch ròi giữa những kẻ có ý đồ riêng tư với những người có thực tâm muốn đem lại một bầu không khí mới mẻ cho văn nghệ vào những thời điểm đó. Cũng vì thế ta nên trân quý những nỗ lực tốt đẹp của nhiều người đã thực tâm đóng góp cho hai phong trào ấy. Những điều này, những thái độ thận trọng này, theo ý tôi, cần phải biểu lộ ngay từ bây giờ chứ không phải chờ tới lúc di cảo của nhà văn Nguyễn Ðình Thi được công bố. Nhưng rất tiếc, hình như anh đã mang sẵn thành kiến với tất cả mọi người tham gia hai phong trào này, và anh đã gây cho người đọc cái cảm nhận họ là "cá mè một lứa."

  1. Về thái độ của các nhà văn trong đời sống sáng tác hiện nay

Anh phát biểu rằng: "Nhà văn thì nên đứng ra ngoài lề xã hội, ngậm miệng ăn tiền, ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì mới là nhà văn lớn, mới là nhà văn khôn ngoan, biết điều."

Và từ quan niệm viết lách này, anh đã đưa ra lời khuyên: "Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm. Còn những ai hy vọng các nhà văn Việt Nam sẽ nổi loạn thì tôi thành thật khuyên các vị hãy tự mình dập tắt niềm hy vọng đó đi. Dã tràng xe cát biển Ðông mà thôi.".

Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh về những luận điểm này.

Một nhà văn mà chỉ ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì hắn viết cái gì? Dấu vết xã hội nơi hắn đang sống có chỗ nào để hiện diện trong tác phẩm? Mà khi viết ra tác phẩm không có dấu vết xã hội (dù dưới dạng thức nào) thì có đáng gọi là nhà văn không, chưa nói là nhà văn lớn! Mặt khác, đồng ý với anh là hầu như đa số các nhà văn không biết nổi loạn hay không muốn nổi loạn, nhưng phẩm chất cần thiết của một nhà văn là Phẫn Nộ. Có phẫn nộ mới có thể nói thay cho những người khác "muốn nói mà không có khả năng nói lên được". Vậy thì chỉ riêng cái phẩm chất này cũng đủ để nhà cầm quyền hết còn yên tâm được rồi, chứ không thể như anh nói: "Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm".

Anh sẽ chỉ đúng khi nào chứng minh được rằng tất cả giới cầm bút trong nước nay không còn ai biết Phẫn Nộ. Riêng tôi thì tuy không có điều kiện sống thực tế với môi trường sáng tác ở ngay trong nước, nhưng thành thực mà nói, tôi không tin điều này. Có thể là tôi đã ngây thơ, nhưng thà chịu nhận mình ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm.

Sau cùng, tôi mong ước vọng của anh thành sự thực khi anh phát biểu: "Rất tiếc là chưa được phép ra báo tư nhân. Nếu được phép thì mấy anh em bạn văn chúng tôi sẽ ra một tờ báo văn nghệ cho... vui.".

 Có lẽ khi ấy thì tôi cũng sẽ cố gắng gửi bài đóng góp với anh, nếu (lại nếu!) tới lúc đó tôi còn sức khỏe để tiếp tục viết được!

Thân ái,

Nhật Tiến

© 2007 talawas

° ° °

2. Nguyễn Đình Chính

Cơn mê kiêu ngạo hơn nữa thế kỷ - Thư trả lời nhà văn Nhật Tiến

Ngày 4 tháng 1 năm 2007 tôi nhận được thư của anh gửi về từ California. Cám ơn anh đã đọc bài phỏng vấn "Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn" (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8906&rb=0102) trên talawas ngày 3 tháng 1 năm 2007, và đã không ngại ngần gửi cho tôi những ý kiến chia sẻ và hết sức tâm đắc, cùng những băn khoăn của anh.

Hôm nay, trên talawas, tôi muốn xin phép được trao đổi lại 2 điều anh muốn trao đổi với tôi qua thư của anh, bởi vì nó đã vượt ra khỏi những vấn đề thư tín riêng tư của tôi và anh, hai nhà văn, hai thế hệ, hai số phận khác nhau.

  1. Vấn đề vụ Nhân văn-Giai phẩm năm 1956 và vụ văn nghệ đổi mới năm 1990

Hai phong trào văn nghệ: vụ Nhân văn-Giai phẩm diễn ra ở miền Bắc Việt Nam và vụ văn nghệ đổi mới trên toàn cõi Việt Nam, mấy chục năm qua được xếp vào loại nhạy cảm. Nó đã xẩy ra và nó đã được thu xếp, lau chùi sạch sẽ bằng lí luận học thuật và bằng các biện pháp tổ chức, hành chính. Tuy nhiên dư âm và di chứng của nó cho đến bây giờ vẫn âm ỉ, đau đớn, hành hạ cái tinh thần văn nghệ Việt Nam và nó đã trở thành một màn sương mù bức bối phủ trùm lên dư luận của toàn xã hội. (Dù nó có đáng được như thế hay không thì, đó vẫn là một thực tế không thể chối cãi được.) Tại sao lại như vậy? Theo thiển nghĩ của tôi (vẫn nghĩ theo cái kiểu ngồi lê mách lẻo thôi) là bởi vì có quá nhiều sự can thiệp và lợi dụng thô bỉ. Và cũng có quá nhiều sự dối trá, quá nhiều những âm mưu hèn hạ trong và ngoài văn nghệ vò xé hai vụ này. Ðây là hai cơn sốt vỡ da cần thiết, có tác dụng làm trưởng thành cái thân thể văn nghệ Việt Nam, hay ngược lại, là hai cơn sốt báo trước những căn bệnh ung thư quái ác có tính huỷ hoại cái thân thể văn nghệ Việt Nam? Câu hỏi đó cho đến nay vẫn chưa có được một trả lời minh bạch. Anh và tôi, hai nhà văn nhỏ nhoi, nhẹ dạ và đầy cảm tính, lại hầu như vô duyên đứng bên ngoài, chưa được vinh dự lây nhiễm hai cơn sốt này; chúng ta lại không có những nguồn thông tin đáng tin cậy, vì vậy, cả anh và tôi đều  không có khả năng đối thoại, trao đổi cặn kẽ tới thấu đáo vấn đề mà anh muốn trao đổi. Chao ơi! Thưa nhà văn Nhật Tiến, không hiểu sao, lúc này đây, cái đầu thế nào ấy của tôi bỗng nhiên lại phân tâm vẩn vơ nghĩ tới một ngày nào không xa, anh và tôi ngồi trong một quán cà phê rất Pháp ở Hà Nội và thú vị, thanh thản nói chuyện tào lao văn chương. Chúng ta cùng nâng những ly cà phê Ban Mê ngon tới mức trên cả tuyệt vời, trong khi đó, có những kẻ mà một thời đã từng là những cán bộ, những nhà văn cán bộ trung kiên của Ðảng Cộng sản, ở một xó xỉnh nào đó đang lầm lũi cúi đầu nuốt dần những giọt đắng của lương tâm đang lặng lẽ tra vấn hắn.

Anh cũng có nhắc tới di cảo của nhà văn Nguyễn Ðình Thi, và trách nhiệm đối với các thế hệ sau. Xin trao đổi với anh: Nguyễn Đình Thi vừa là một nhà chính trị, một triết gia, một nghệ sĩ đa tài. Con người ông chứa đựng cả một khối mâu thuẫn lớn. Cái khối mâu thuẫn đó bao gồm không chỉ là mâu thuẫn tất yếu xẩy giữa ba con người chính trị, triết gia, nghệ sĩ. Nguyễn Ðình Thi còn phải chịu đựng từng khối mâu thuẫn đơn lẻ của một nhà chính trị, một triết gia, một nghệ sĩ vò xé ông trong quá trình những con người riêng biệt đó trưởng thành dần lên trong tâm hồn, trong cuộc đời ông. Ðiều đó đã thể hiện ra phần nào trong di cảo của ông. Tôi có thể nói với anh rằng, di cảo của Nguyễn Đình Thi có 3 phần. Phần thứ nhất, ông đau đớn khi những người cộng sản Việt Nam giành được chính quyền nhưng tổ chức mô hình nhà nước, xã hội lại chủ yếu khuôn theo mô hình của một nước cộng sản khác, mà cái mô hình đó đã không thoát hẳn ra khỏi mô hình tổ chức nhà nước của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa phong kiến và cả chủ nghĩa phát-xít. Theo tôi, đó là con người triết gia của Nguyễn Đình Thi. Phần thứ hai trong di cảo nói về con người Việt Nam, về văn hoá Việt Nam đã lớn lên trong suốt nửa thế kỉ qua. Phần này được thể hiện qua  tâm hồn trong trẻo, mơ mộng và có phần ngây thơ khờ dại của người nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi. Và phần cuối cùng nói về phong trào Nhân văn-Giai phẩm 1956 và văn nghệ đổi mới 1990. Riêng về vấn đề này, Nguyễn Đình Thi nhìn bằng con mắt lạnh lùng, không khoan nhượng của một nhà chính trị, một cán bộ lãnh đạo văn nghệ trung thành của Ðảng Cộng sản. Tôi e rằng anh sẽ thất vọng. Năm cuối đời, trong một buổi mít-tinh long trọng của Uỷ ban Toàn quốc các Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Nguyễn Đình Thi đã ôm một bó hoa thắm tươi lên sân khấu tặng Tố Hữu rồi hai người ôm hôn nhau. Những ai từng chứng kiến mối bất đồng sâu sắc suốt nửa thế kỉ qua của hai nhân vật này thì cho đó là một hành động đóng kịch của cả hai người. Nhưng đọc di cảo của anh Thi, tôi vô cùng khâm phục. Ðó là một cử chỉ văn hoá có pha tạp chút ít tố chất chính trị rất thật lòng của cả hai người. Và họ thật đúng là hai nhân vật lớn, xứng đáng đứng đầu cai trị nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trên mảnh đất này suốt nửa thế kỷ qua. Tất cả những ai trong bộ máy tổ chức văn nghệ XHCN hơn 50 năm qua manh mún ước  mơ muốn soái ngôi họ đều là ngu xuẩn.

Thưa nhà văn Nhật Tiến,

Về trách nhiệm đối với các thế hệ sau, tôi nghĩ thế hệ chúng ta không hề có đủ tư cách được trao một trách nhiệm minh giải nào cả, khi mà cái thế hệ oái ăm của chúng ta chính là thủ phạm đã tương ra một đống những cái đó. Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng. Và cách hay nhất bây giờ là hãy rủ nhau ba lô du lịch bụi. May ra cảnh đất trời cây cỏ hồn nhiên trên thế giới này sẽ dạy cho chúng ta thêm một điều gì hay hớm, đặng kéo dài thêm phần nào những năm tháng đang chầm chậm già nua tàn tạ của chúng ta.

Nhân đây, tôi cũng muốn kính thưa tới các thế sau là các bạn đừng nên tin cậy vào bất cứ một ai, kể cả những di cảo, những hồ sơ... đã công bố hoặc còn dấm dúi cất giấu ở đâu đó. Ðã có một thế hệ cũng rất thông minh, cũng rất hiếu học, cũng rất mơ mộng nhưng luôn tự lừa dối mình và thay đổi lòng tin như thay áo mùa hè, chỉ vì đã đánh mất một điều đơn giản là không chịu suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình, mà chỉ thích a dua đua nhau nghĩ theo cái đầu của người khác. Một tấm gương soi đắng cay. Hãy tự mình đi săn lùng sự thật. Sự thật ở khắp nơi và ở ngay trong những suy nghĩ độc lập của mình. Nhưng hãy coi chừng, hãy cảnh giác, bởi bên dưới mỗi sự thật của những năm tháng mà chúng tôi đã sống qua, đã để lại, bao giờ cũng ẩn giấu rất nhiều điếu dối trá. Và ngược lại.

  1. Về thái độ của các nhà văn trong đời sống sáng tác hiện nay

 Vấn đề này thật thú vị và gần gũi. Tôi thích thú.

Trước hết, tôi rất muốn anh cũng nghĩ rằng bao nhiêu năm qua, chúng tôi đã bị ảo tưởng về sứ mệnh của nhà văn, cũng như chúng tôi đã bị ảo tưởng về sứ mệnh của văn nghệ. Chính căn bệnh ảo tưởng đó đã xô đẩy văn nghệ Việt Nam rơi vào một cơn hôn mê kiêu ngạo ròng rã hơn nửa thế kỷ. Cơn hôn mê ấy đã đẻ ra sự độc tài tập thể rất thô bạo, chỉ chấp nhận một và duy nhất chỉ một trường phái văn học nghệ thuật lạ hoắc của phương Tây ngoại lai, xa lạ với truyền thống làm văn nghệ ôn hoà, độ lượng và mơ mộng của ông bà tổ tiên chúng ta. Cơn hôn mê ấy đã làm lãng phí và ở một khía cạnh nào đó đã làm băng hoại những tài năng văn học của không ít các nhà văn chúng tôi. Cơn hôn mê ấy đã đặc biệt nuôi dưỡng một số kẻ bất tài đầy những tâm địa hẹp hòi, ác độc, đã phù tá cho họ lên ngôi, hoành hành một thời mà giờ đây hầu hết họ, những con người đó, đã may mắn, an toàn chạy thoát hoặc, sắp chạy thoát cả về cõi chết. Lịch sử văn học Việt Nam sẽ không nhắc tên những kẻ đó. Nhưng tình cảm đau thương của văn nghệ Việt Nam thì không bao giờ quên tên những đứa con hư đó.

Là một nhà văn viết trong chể độ Việt Nam Cộng hoà đã tiêu vong hơn 30 năm nay, và giờ đây anh lại đang sống tha hương (dù là có quốc tịch Hoa Kỳ) giữa một rừng mũi lõ (tôi bỗng chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Hồi Thủ), anh tự nhận mình là ngây thơ và anh càng ngây thơ đáng yêu hơn khi chịu nhận thà ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm. Về phẩm chất Phẫn Nộ (phẩm chất hay là thuộc tính?) của nhà văn, tôi rất muốn được trao đổi với anh trong một dịp được tiếp anh ở Hà Nội. Ðây là một phạm trù cũ rích, luộm thuộm và rất riêng biệt của văn nghệ. Chúng ta có cần lôi ra đây làm mất hứng của người đọc talawas không nhỉ?). Tôi rất muốn anh có thời gian suy nghĩ lại để, trước tiên hãy cứ chạy thoát ra khỏi cái luận điểm văn nghệ là bất phục tùng, là phản kháng của ông Tây, tác giả Khung cửa hẹp. Thú thật là, tôi chỉ thích trao đổi với tâm hồn và trí tuệ riêng của một nhà văn Nhật Tiến tài năng, đã mang đầy ắp trên vai hơn bẩy mươi năm những niềm vui và vô vàn khổ đau của cuộc đời này.

Trời Hà Nội mấy hôm nay lạnh giá lạ thường. Và tôi thì đã bắt đầu buồn ngủ. Thưa nhà văn Nhật Tiến, cho đến lúc này tôi vẫn vô cùng kiên định cái lập trường: Thời buổi bây giờ thì nhà văn nên đứng ra ngoài lề xã hội, ngậm miệng ăn tiền, ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì mới là nhà văn lớn, mới là nhà văn khôn ngoan, biết điều. Nói nhiều là ngu. Càng nói càng dại.

 Còn băn khoăn gì nữa, anh có nhận ra không, anh và tôi đang nghiễm nhiên một kẻ trở thành ngây thơ, còn một thằng đã trở thành ngu dại. Ôi chao là sự thật. Anh có tin là như vậy không?

© 2007 talawas

3. Nhật Tiến

Trách nhiệm với các thế hệ đi sau - Lại xin góp ý với anh Nguyễn Ðình Chính

California ngày 11-1-2007

Thân gửi anh Nguyễn Ðình Chính,

Xin rất cám ơn anh đã mau mắn trả lời lá thư của tôi đề ngày 4-1-2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8981&rb=0102). Lẽ ra thì chúng ta nên dành chỗ để được lắng nghe thêm những ý kiến khác của anh chị em bạn bè văn nghệ trong và ngoài nước (mà tôi tin là sẽ có nhiều vị nhập cuộc), xoay quanh những vấn đề rất thiết thân đến lãnh vực mà chúng ta đang sinh hoạt. Tuy nhiên vì có một vài chuyện cần nói thêm, nên tôi lại xin mạn phép gửi tiếp anh lá thư này.

Trước hết xin giải tỏa một ngộ nhận. Có thể do vô tình mà anh đã đặt "2 chuyện ở 2 nơi vào chung một chỗ" nên có thể gây cho tôi những hiểu lầm không cần thiết. Trong thư trả lời của anh có đoạn: "Là một nhà văn viết trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã tiêu vong hơn 30 năm nay, và giờ đây anh lại đang sống tha hương (dù là có quốc tịch Hoa Kỳ) giữa một rừng mũi lõ (tôi bỗng chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Hồi Thủ), anh tự nhận mình là ngây thơ và anh càng ngây thơ đáng yêu hơn khi chịu nhận thà ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm ."

Xin thưa ngay, tôi không hề tự nhận mình là ngây thơ hay mắc phải sai lầm khi đã cầm bút trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà hơn 30 năm trước và khi tôi đã vượt biển rồi qua định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1979.

Mấy chữ ngây thơsai lầm xin nhắc lại, nó chỉ đóng khung trong khuôn khổ của sự việc khi tôi đề cập đến vấn đề phẩm chất Phẫn Nộ của các nhà văn trong nước, mà tôi đã viết như sau: "Anh sẽ chỉ đúng khi nào chứng minh được rằng tất cả giới cầm bút trong nước nay không còn ai biết Phẫn Nộ. Riêng tôi thì tuy không có điều kiện sống thực tế với môi trường sáng tác ở ngay trong nước, nhưng thành thực mà nói, tôi không tin điều này. Có thể là tôi đã ngây thơ, nhưng thà chịu nhận mình ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm.".

Ở đâu, bao giờ thì mọi sự việc cũng nên đặt đúng vị trí của nó. Mong anh hiểu cho sự thận trọng cần thiết này của tôi. Xứ mình hay có chuyện nhiễu nhương cũng vì cái cảnh râu ông nọ cắm cằm bà kia hay là chuyện đặt người không đúng chỗ!

Bây giờ tôi xin góp ý thêm với anh về một vài điều anh mới viết trong thư trả lời:

  1. Trách nhiệm với các thế hệ đi sau

Anh cho rằng: "Thế hệ chúng ta không hề có đủ tư cách được trao một trách nhiệm minh giải nào cả, khi mà cái thế hệ oái ăm của chúng ta chính là thủ phạm đã tương ra một đống những cái đó. Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng. Và cách hay nhất bây giờ là hãy rủ nhau ba lô du lịch bụi."

 Thưa anh Nguyễn Ðình Chính,

Khi anh sử dụng từ ngữ thế hệ chúng ta thì tôi hiểu là anh đã ám chỉ rằng cả anh lẫn tôi đều có tham dự vào cái "thế hệ oái oăm" đó. Ðiều này không sai, vì trong suốt chiều dài của gần 30 năm chia cắt đất nước, dù ở bên này hay bên kia, anh cũng như tôi đã có nhiều dịp tham dự vào đời sống xã hội, mà nay nhìn lại thành quả của những giai đoạn ấy thì chia ly, chết chóc, đau thương, tủi hờn... đã nhiều hơn là thanh bình, yên ấm, hạnh phúc. Nhận chân được điều đó, tại sao anh lại tính phủi tay khi nói: "Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng"?

Theo tôi khi càng xấu hổ, càng tủi nhục thì cung cách hay nhất để rũ bỏ được những mặc cảm tự ti này là hãy can đảm nói lên cho thế hệ sau biết những sai lầm mà mình hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đã can dự vào. Hơn thế nữa, anh là nhà văn, anh có khả năng cầm bút, tại sao anh không viết lên những gì trong phạm vi khả năng hiểu biết của mình (dĩ nhiên là với tinh thần trách nhiệm) để thế hệ sau nhìn thấy những sai lầm của thế hệ cha, anh mà biết đường không giẫm phải những vết xe cũ? Ngoài ra, nếu ai cũng như anh "chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng" thì chẳng hóa ra những tội đồ của dân tộc trong ngần ấy năm (tôi không nói riêng miền nào) sẽ vỗ tay hoan hỉ vì được xí xóa trắng tay hay sao?

Tôi hoàn toàn đồng ý với anh ở những lời khuyên các bạn trẻ: "là các bạn đừng nên tin cậy vào bất cứ một ai, kể cả những di cảo, những hồ sơ... đã công bố hoặc còn dấm dúi cất giấu ở đâu đó".

Ðấy là sự thận trọng cần thiết. Nhưng thận trọng không có nghĩa là sổ toẹt hết mọi tâm tình của cha, anh. Ngày nay khoa học đã tiến bộ rất nhiều, thế hệ trẻ nay đã biết vận dụng trí thông minh của mình để sàng lọc và chắt lấy những tinh hoa trong sự hỗn độn của nhiều dữ kiện. Cho nên hãy đừng sợ "một đống những cái đó", hãy cứ bới nó lên để rồi cùng nhau sàng lọc và tìm ra được những bài học đắt giá mà lịch sử để lại cho thế hệ tương lai.

  1. Khung cửa hẹp

Trong thư trả lời, anh có nhắc đến cái điều tôi chịu sự kìm hãm vì ảnh hưởng của "ông Tây" với Khung cửa hẹp khi tôi cứ khư khư quan niệm rằng văn nghệ là phải bất phục tùng, là phản kháng. Cũng không sao, vì cuộc đời viết lách của tôi thật ra đã chịu ơn của rất nhiều cây bút khác, chả cứ riêng gì một mình André Gide. Nhưng tôi lại cũng bắt chước anh, khi tôi nói tôi cũng "vô cùng kiên định cái lập trường" rằng: "Phẩm chất cần thiết của một nhà văn là Phẫn Nộ. Có phẫn nộ mới có thể nói thay cho những người khác muốn nói mà không có khả năng nói lên được."

Nhưng trong lãnh vực này, tôi  nghĩ chúng ta chẳng nên bàn cãi làm gì thêm kẻo lại sa đà vào cuộc tranh luận đã có từ thế kỷ trước: "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh". Theo cách nhìn của tôi bây giờ thì ai "vị" cái gì cũng được, vì đấy là quyền tự do chọn lựa của mỗi người. Cho nên anh cứ việc "đứng bên lề xã hội, ngậm miệng ăn tiền, ngồi quay mặt vào tường mà viết văn".

 Ðiều căn bản cần nêu ra là chuyện lương tâm của mình có được thanh thản hay không mà thôi.

  1. Tôi thiết nghĩ mình đã lạm dụng nhiều thì giờ của anh cũng như của bạn đọc cho nên tôi xin tạm ngưng ở đây với một điều thích thú sau cùng mà anh đã gợi lên cho tôi trong thư: "Tôi bỗng nhiên lại phân tâm vẩn vơ nghĩ tới một ngày nào không xa, anh và tôi ngồi trong một quán cà phê rất Pháp ở Hà Nội và thú vị, thanh thản nói chuyện tào lao văn chương. Chúng ta cùng nâng những ly cà phê Ban Mê ngon tới mức trên cả tuyệt vời, trong khi đó, có những kẻ mà một thời đã từng là những cán bộ, những nhà văn cán bộ trung kiên của Ðảng Cộng sản, ở một xó xỉnh nào đó đang lầm lũi cúi đầu nuốt dần những giọt đắng của lương tâm đang lặng lẽ tra vấn hắn."

 Thưa anh,

Có khi nào xẩy ra hiện tượng này không, hả anh Chính: "những nhà văn cán bộ trung kiên của Ðảng Cộng sản, ở một xó xỉnh nào đó đang lầm lũi cúi đầu nuốt dần những giọt đắng của lương tâm đang lặng lẽ tra vấn hắn"?

Thân ái,

Nhật Tiến

© 2007 talawas

  1. Nguyễn Đình Chính

Một nền văn học nghệ thuật giả - Thư trả lời nhà văn Nhật Tiến

 Kính gửi nhà văn Nhật Tiến,

Mong được bỏ qua mấy dòng đầu thư giao đãi và khách sáo. Tôi xin tiếp tục cuộc trao đổi này.

  1. Cuối lá thư vừa rồi, anh hỏi tôi là có khi nào xẩy ra hiện tượng này không: Những nhà văn cán bộ trung kiên của Ðảng cộng sản, ở một xó xỉnh nào đó đang lầm lũi cúi đầu nuốt dần những giọt đắng của lương tâm tra vấn hắn. Tôi xin trả lời là. Bởi vì sao? Thưa anh, cứ điểm danh thì thấy rõ hầu như những thủ lĩnh khởi xướng, lãnh đạo và chiến đấu với nhau một mất một còn cho đến tận cùng trong hai vụ Nhân văn-Giai phẩm 1956 và văn nghệ đổi mới 1990 đều là những nhà văn cán bộ văn nghệ trung kiên, nếu không nói là những người đang giữ những vị trí lãnh đạo then chốt trong bộ máy văn nghệ của Ðảng. Toàn những bí thư Ðảng đoàn, uỷ viên thường vụ... Họ đều là đồng chí cùng lí tưởng và cũng là bạn văn chương với nhau. Và trước hết họ đều là những con người. Và không ai có thể chạy trốn khỏi lương tâm của mình. Tôi không tin là chỉ vì cái sự thắng bại, được thua mà giờ đây hai tình cảm cao quý đó đã hoàn toàn chết hẳn trong tâm hồn họ. Tôi tin rằng dù có thoả mãn, đắc chí đến đâu (những kẻ thắng) và dù có căm thù, uất hận đến đâu (những kẻ bại) thì những tình cảm đó của họ dành cho nhau vẫn chưa chết hẳn. Tôi tin vào sự thức tỉnh của lương tâm. Cũng như tôi tin là không thể có một sự nguỵ biện tinh xảo của một hệ tư tưởng và lý thuyết nào có thể ngăn cản những văn nghệ sĩ cán bộ đó có một ngày bước tới toà án bí mật của tâm hồn, chịu sự tra vấn của chính lương tâm họ. Sự tự tra vấn này tôi tìm thấy trong di cảo của Nguyễn Đình Thi và ngay cả trong vở kịch Rừng trúc của ông, khi ông loay hoay đi tìm câu trả lời: Sự nghiệp lí tưởng thì thật là lớn. Nhưng cái tình giữa người với người có lớn thua kém gì không? Thú thực, đây là một cảm phục thứ hai tôi dành cho Nguyễn Đình Thi.

 Tất nhiên, có thể hiện nay trong cái làng văn nghệ chúng tôi ở trong nước còn có một vài người thuộc diện ngoại lệ. Họ vẫn đang mộng tưởng hoang đường làm thủ lĩnh văn nghệ, tập hợp đám đông quần chúng văn nghệ sĩ để phất cao ngọn cờ đổi mới, tự do sáng tác. (Với người nghệ sĩ thì không có thế lực, cường quyền nào tước đoạt được tự do và đổi mới trong sáng tạo của họ, ngoại trừ chính họ). Thưa nhà văn Nhật Tiến, hơn nữa, có một thực tế tàn nhẫn này mà chúng  ta không nên lẩn tránh: đó là, mặt bằng tác phẩm chung của nền văn học viết bằng thứ chữ Việt Nam của chúng ta đang dùng  hiện nay còn thô sơ. Hầu như chưa có cái gì đáng và cũng chưa có đủ đẳng cấp để bàn đến mấy chữ Tự doÐổi mới trong nghệ thuật.

 Nhắc đến cái cụm từ "đám đông quần chúng văn nghệ sĩ", tôi hơi lợm giọng. Cái gọi là đám đông quần chúng văn nghệ sĩ ấy đã từng ùa theo ào ạt tung hô, ủng hộ các thủ lĩnh đòi tự do sáng tác, đổi mới, thì cũng chính nó, cái đám đông ấy, trong các buổi kiểm điểm trên hội trường và trên mặt báo lại quay ngoắt, lại ào ạt đấu tố những thủ lĩnh vừa dắt dẫn họ. Chả thế mà các cụ nhà ta đã phải kêu lên "Bạc như dân... Bất nhân như..." Bài học quả đắng này Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên lĩnh đủ trong một hội trường đấu tố, phê bình thơ không vần ở Việt Bắc năm 1948. Sau này, ông Thi vẫn hay cười hì hì kể cho tôi nghe: "Lúc đó tao (ông Thi hay xưng tao với tôi) ngoái lại, đứng đằng sau ủng hộ tao chỉ còn trơ ra  mỗi một mình cụ Nguyên Hồng và cô Tâm Chung". Quả đắng này chắc chắn không chỉ dành riêng cho Nguyễn Đình Thi.

 2. Trách nhiệm với các thế hệ mai sau

 Trong cả hai lá thư gửi cho tôi, anh có nói tới sự mấp mí trong vấn đề vụ Nhân văn-Giai phẩm 1956 và vụ văn nghệ đổi mới 1990. Tôi xin trao đổi lại một lần nữa với anh những thiển ý của tôi như sau:  

Hai vụ này thực chất chỉ là hai vụ tranh giành quyền lực lãnh đạo trong văn nghệ của những ông nhà văn cán bộ có quyền có chức trong bộ máy văn nghệ. Và phải công nhận cả hai phe đã không từ một thủ đoạn, một âm mưu ghê gớm, thô bạo, man trá và vô đạo đức nào để mà kéo bè kéo cánh choảng nhau. Tôi dứt khoát tin rằng rồi một ngày mai, các thế hệ sau sẽ tìm ra sự thật về hai vụ này, mặc dù nó đang bị chôn giấu dưới bao nhiêu điều dối trá hoa mỹ hèn hạ. (Nhưng không biết lũ con cháu chúng ta có đủ hứng thú để mà sục hai cái đống rác này lên không, hay chỉ mải đi tìm kiếm những cơ hội để nổi tiếng, để kiếm tiền và chơi games?)

Anh viết cho tôi: "Anh cũng như tôi đã có nhiều dịp tham dự vào đời sống xã hội, mà nay nhìn lại thành quả của những giai đoạn ấy thì chia ly, chết chóc, đau thương, tủi hờn... đã nhiều hơn là thanh bình, yên ấm, hạnh phúc. Nhận chân được điều đó, tại sao anh lại tính phủi tay khi nói ‘Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng’".

  Tôi đồng ý với những dòng chữ trên của anh. Nhưng tôi và anh đang nói về một đời sống văn nghệ đã qua (không chỉ hai vụ Nhân văn-Giai phẩm và văn nghệ đổi mới) mà tôi muốn nói cả về toàn bộ những tài sản văn học nghệ thuật mấy chục năm qua mà thế hệ chúng ta đã để lại cho các thế hệ sau. Tôi xin  vẫn kiên định giữ vững lập trường đối với cả một đống những gì chúng ta đã tương ra đó thì, "Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng".

 Thưa nhà văn Nhật Tiến, mặc dù dư âm, di chứng của hai vụ Nhân văn-Giai phẩm và văn nghệ đổi mới vẫn còn làm tổn hại tinh thần của văn nghệ Việt Nam và làm vẩn đục dư luận xã hội, nhưng đó chỉ là những đám bọt nổi lên trên dòng chảy văn nghệ Việt Nam hôm nay. Tận bên kia đại dương xa xăm,  anh có cảm nhận được những cơn sóng ngầm dữ dội ở bên dưới dòng chảy mà anh em văn nghệ sĩ trong nước đang phải vật lộn, chống đỡ không? Chúng tôi không phải chỉ chống đỡ những cơn sóng dữ dội đó ở bên ngoài môi trường văn nghệ mà, còn phải chống đỡ những cơn sóng dữ dội đó ở ngay bên trong tâm hồn mỗi một cá thể chúng tôi. Những cơn sóng này đang tàn phá nền văn học Việt Nam và đang  chầm chậm dẫn đến một sự tàn sát tập thể. Nó như một bệnh dịch ác độc chưa tìm ra thuốc chữa. Làn sóng dữ dội đó, bệnh dịch tàn ác đó có tên là một nền văn học nghệ thuật giả. Làn sống dữ dội này, căn bệnh dịch tàn ác này đang tràn từ ngoài biên giới vào và thật cay đắng, nó cũng nổi lên từ ngay bên trong cái thân thể văn nghệ Việt Nam hôm nay. Nếu nói tới trách nhiệm với các thế hệ mai sau, tôi nghĩ anh có thể lưu ý tới vấn đề này. Và nếu anh cho phép, thì, bằng những kinh nghiệm kiêu ngạo và ranh ma của tuổi già, chúng ta sẽ làm hai ông thầy bói hùng hổ ngoa ngôn mà đoán già đoán non, mổ xẻ tuốt tuột những nguyên nhân gây nên thảm cảnh tàn sát tập thể này.

Anh hãy tin là tôi đang mời anh "đánh một quả" lương thiện, tử tế hơn cái trò bới rác. Ðể tôi kể anh nghe cho vui một tí . Năm 2002 chủ tịch Uỷ ban toàn quốc các Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Đình Thi có chính thức tiếp nhà thơ trẻ Văn Cầm Hải tại văn phòng của ông tại Hà Nội. Sau đây là lược trích một đoạn trong cuộc trò chuyện dài hơn 3 tiếng đồng hồ giữa hai người:

Văn Cầm Hải: Thưa nhà văn Nguyễn Đình Thi, ông có thấy một thực tế là hiện nay có rất nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật thuộc loại hàng nhái, hàng giả hay không?

Nguyễn Ðình Thi: Có đấy.

Văn Cầm Hải: Nhiều đến mức có thể chiếm tới một nửa, tức là năm mươi phần trăm.

Nguyễn Ðình Thi: (Cười, không trả lời)

Văn Cầm Hải: Sáu mươi phần trăm.

Nguyễn Ðình Thi: (Im lặng)

Văn Cầm Hải:  Bẩy mươi. Thậm chí tám mươi phần trăm.

Nguyễn Ðình Thi:  Tôi vẫn đang đợi anh cho ra một con số nữa.

Văn Cầm Hải: Thưa chủ tịch, chín mươi lăm phần trăm có được không?

Nguyễn Ðình Thi: (Thong thả): Theo ý kiến của riêng tôi thì khoảng chín mươi phần trăm.

Thưa nhà văn Nhật Tiến, anh có thể kiểm tra thông tin này, nếu anh muốn.

 Khung cửa hẹp

 Ngay sau khi đọc xong phần thứ hai ("Khung cửa hẹp") trong thư anh vừa gửi, thú thực là tôi rất ân hận vì đã phạm một sai lầm vượt xa cả phép lịch sự, lễ phép tối thiểu khi trao đổi thư từ với một nhà văn đã cầm bút trước mình và còn hơn mình hàng chục tuổi đời. Tôi coi những dòng chữ nhắc anh hãy chạy thoát ra khỏi cái luận điểm văn nghệ là bất phục tùng, là bất phản kháng của André Gide là một cử chỉ thiếu văn hoá của tôi, nếu không muốn nói là xấc xược. Thưa nhà văn Nhật Tiến, tôi chân thành công khai xin lỗi anh. Và tôi cũng hoàn toàn đồng ý với anh là "chúng ta cũng chẳng nên bàn cãi làm gì kẻo lại sa đà vào những cuộc tranh luận đã có từ thế kỉ trước". 

Ðúng lúc này đây, đang ngồi viết thư cho anh thì một người bạn thơ rất trẻ từ Sài Gòn điện thoại ra đề nghị chúng ta hãy trao đổi về cái vấn đề văn học giả. Một lần nữa xin anh lưu tâm tới nó, vấn đề một nền văn học nghệ thuật giả mà tôi vừa nêu ở trên. Nếu anh không mệt và còn hứng thú thì mong anh hãy tiếp tục cuộc trao đổi rất thú vị này.

Trân trọng kính chào anh,

Nguyễn Ðình Chính

© 2007 talawas

° ° °

5- NHẬT TIẾN

THƯ GỬI ANH NGUYỄN ÐÌNH CHÍNH

California ngày 15 tháng 1 năm 2007,

Thân gửi anh Nguyễn Ðình Chính,

Ðọc xong thư trả lời số 2 của anh, lòng tôi bỗng tràn ngập nhiều nỗi niềm, vừa xót xa, vừa ngậm ngùi. Những sự thực mà anh nêu ra ở trong thư, tuy tôi cũng đã nghe qua, biết qua nhưng chưa bao giờ nó lại gây ấn tượng trong tôi mạnh mẽ đến thế.

Thực vậy, trong suốt cuộc đời viết lách của tôi, chưa bao giờ tôi phải trực diện những vấn đề mà anh đã thẳng thắn nêu ra, đại thể như :

1) Tôi chưa từng phải loay hoay vì câu hỏi :

"Sự nghiệp lí tưởng thì thật là lớn. Nhưng cái tình giữa người với người có lớn thua kém gì không?"

Theo nhận thức của tôi thì người ta vẫn có thể gìn giữ lý tưởng của mình mà không bắt buộc phải xâm phạm vào tình người, một thứ tình cảm cao quý vốn vẫn được đề cao dù dưới bất cứ một nền văn hóa nào. Có thể nhận thức này bắt nguồn từ ở chỗ tôi may mắn không hề bị rơi vào cái bi kịch trong đó con người phải trèo giẫm lên nhau để chứng tỏ lòng trung thành với lý tưởng đang theo và để xây dựng sự nghiệp cho riêng mình.

2) Từ ngữ "Thủ lãnh Văn nghệ " cũng là một ý niệm rất xa lạ đối với tôi. Từ xưa tới nay, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ là làm văn nghệ thì lại phải có thủ lãnh dẫn đầu dù là để cổ võ cho một đường hướng sáng tác mới, hay vận động cho sự Tự do cầm bút. Tôi nhớ lại hồi sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam vào thời điểm ngay sau khi đất nước bị chia cắt 1954, ở đây cũng đã có một cuộc vận động mạnh mẽ về sự đổi mới trong văn học theo sự ra đời của nhóm Sáng Tạo với chủ trương phủ nhận nền văn chương cũ kỹ của "Tự lực văn đoàn". Nhưng văn nghệ sĩ thời ấy, dù chọn cũ hay lựa mới thì cũng không ai tôn ai làm thủ lãnh và cũng không ai bị chèn ép bởi bất cứ thế lực nào. Ðường ai nấy đi. Phải chăng đấy cũng là một trong những khía cạnh tốt đẹp của vấn đề tự do cầm bút.

4) Ðọc thư anh, tôi lại càng cảm thấy thật là may mắn vì đã không bị rơi vào hoàn cảnh phải sáng tác trong bầu không khí ngột ngạt đã được anh diễn tả: "Cái gọi là  đám đông đám đông quần chúng văn nghệ sĩ đã từng ùa theo ào ạt tung hô, ủng hộ  các thủ lĩnh đòi  tự do sáng tác, đổi mới -  thì,  chính cái đám đông ấy, trong các buổi kiểm điểm trên hội trường và trên mặt báo  lại quay ngoắt lại ào ạt đấu tố những thủ lĩnh vừa  dắt dẫn họ.".

5) Lại thêm hình ảnh của "Buổi kiểm điểm trên hội trường" (và trên mặt báo) vốn cũng là những sinh hoạt hết sức xa lạ mà tôi chỉ phải trải qua có đúng một lần ít ngày sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Một lần thôi nhưng cũng đủ gây cho tôi nhiều ấn tượng kinh hoàng huống hồ anh đã sống với nó, hít thở bầu không khí đó, nổi trôi phận mình trong sự triền miên khắc khoải đó, trách gì chẳng khiến anh đã phải có những tâm tình chất chứa đầy ắp trong lòng như nó đã biểu lộ qua văn phong cũng như những gì anh đã trung thực viết ra qua những lá thư vừa trao đổi.

4)  Dĩ nhiên "cơn sóng nổi lên trong tâm hồn mỗi người" thì ở đâu cũng có. Những người đã có lòng với đất nước thì dù ở nơi nào, cũng khó mà tìm kiếm được sự bình an trong tâm hồn trong hoàn cảnh hiện tại. Nhưng sóng nổi đến mức độ như anh diễn tả thì thật vô cùng đáng sợ nhất là đối với một người ít có kinh nghiệm về các vấn đề nóng bỏng ở trong nước, như tôi:

"Tận bên kia đại dương xa xăm, anh có cảm nhận được những cơn sóng ngầm dữ dội  ở bên dưới dòng chảy  mà anh em văn nghệ sĩ trong nước đang phải vật lộn, chống đỡ không. Chúng tôi không phải chỉ chống đỡ những cơn sóng dữ dội đó ở bên ngoài môi trường văn nghệ mà, còn phải chống đỡ những cơn sóng dữ dội đó ở ngay bên trong tâm hồn mỗi một cá thể chúng tôi. Những cơn sóng này đang tàn phá nền văn học VN và đang chầm chậm dẫn đến một sự tàn sát tập thể.".

Thưa anh Chính.

Sức chịu đựng, khả năng đề kháng và hoàn cảnh ngặt nghèo của anh chị em văn nghệ sĩ trong nước qua đoạn văn của anh ở trên, quả là kinh khủng thật! Tôi không thể nhẫn tâm chỉ tỏ bầy sự cảm thương mà hơn thế nữa, khi viết cho anh tới lá thư thứ ba này, tôi còn cảm thấy rất có lỗi với anh, bởi vì không những tôi đã không trở về chia sẻ với anh những hệ lụy hay những cảm nhận xót xa mà anh đã từng phải nhận lãnh, tôi lại còn đi tranh biện với anh về những vấn đề vốn chỉ những người trong cuộc mới biết để mà thưa thốt. Ðây rõ ràng là một sự khiếm khuyết của tôi, mong được anh tha lỗi.

Ðể chốt lại vấn đề, thì khi tham dự vào cuộc thảo luận giữa hai chúng ta, tôi đã thiếu hẳn nhiều điều kiện thực tế, như không có cùng một bề dầy kinh nghiệm sống dưới chế độ XHCN như anh; như không cùng anh hít thở bầu không khí văn nghệ khắt khe trong đó có những buổi kiểm điểm trên hội trường hay trên mặt báo; như phải sáng tác ở những nơi  có phe phái "đã không từ một thủ đoạn , một âm mưu ghê gớm, thô bạo và  man trá và vô đạo đức nào để mà kéo bè kéo cánh  choảng nhau".

Trong hoàn cảnh khác biệt như thế, tôi sẽ không thể nào không thấy được là những phát biểu của mình có thể bị  "chệch hướng" hoặc đi ra ngoài những vấn đề "cốt lõi" mà anh thực tâm muốn đem ra thảo luận. Ðúng là tôi đã rơi vào cái tâm trạng của một kẻ  đã  lạnh lùng quay đi trước ánh mắt bi thương của người khác.

Thưa anh Chính,

Mặc dầu vậy, nhưng theo thiển ý thì mấy lá thư tranh biện giữa tôi với anh vừa rồi, xét cho cùng cũng không phải là vô ích. Bởi vì qua cuộc đối thoại giữa anh và tôi, có thể sẽ làm dấy lên nhiều sự việc, hé mở một cách công khai về những sự thực vốn lâu nay bị che giấu hay lấp liếm, đặt  ra được nhiều vấn đề đòi hỏi cần được làm sáng tỏ hay giải quyết... và biết đâu, sẽ có nhiều anh chị em cầm bút trong và ngoài nước chờ cho chúng ta phát biểu xong thì sẽ nhập cuộc.

Một sự trao đổi công khai và minh bạch giữa những người cầm bút dù ở trong hay ngoài nước như thế là điều rất nên thực hiện và đó cũng là kỳ vọng của riêng tôi trong nhiều năm qua, mà nay may mắn nhờ có anh, tôi mới làm được dù là vẫn còn trong phạm vi thu hẹp và mang tính cách hời hợt.

Ðể cho cuộc trao đổi được rộng rãi, sâu xa, nêu được nhiều ý kiến liên hệ mật thiết với  vấn đề Văn hóa Việt Nam nói riêng và vận hội của đất nước trong thiên niên kỷ mới nói chung, tôi cũng mong mỏi anh chị em cầm bút trong và ngoài  nước tiếp nối cuộc trao đổi ngắn ngủi này, vì tiếng nói của người cầm bút dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào, bao giờ cũng là tiếng nói của lương tâm dân tộc.

Sau cùng, ở cuối thư anh có đề cập đến vấn đề Văn Học Nghệ Thuật Giả.

Ðiều này thì ở đâu, thuộc lãnh vực nào mà chẳng có của Giả. Nhưng tình hình Văn Học Nghệ Thuật đến độ có 90% hàng nhái, hàng giả như cụ thân sinh tức nhà văn Nguyễn Ðình Thi đã xác nhận ở thời điểm 2002, thì mức độ quả là đáng báo động.

Nhưng chúng ta thì làm được gì trước thực trạng đáng buồn ấy, ngoại trừ ai giả cứ giả, mỗi người cầm bút chân chính cứ tiếp tục sáng tạo theo lương tâm và nguồn cảm hứng của chính mình. Vả lại, tôi vẫn luôn luôn tin tưởng rằng Thời Gian luôn luôn là cái máy sàng lọc tỉnh táo, tinh vi và hữu hiệu nhất. Sẽ không có một thứ của giả nào có thể tồn tại mãi mãi với thời gian.

Xin cám ơn anh rất nhiều vì đã dành thì giờ giải đáp những thắc mắc của tôi, khởi đi từ bài anh Ðinh Bá Anh phỏng vấn anh trên mạng lưới toàn cầu talawas.

Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn.

Thân ái.

NHẬT TIẾN.

° ° °

6- Nguyễn Đình Chính

Sứ mạng là sứ mạng gì? – Thư gửi anh Nhật Tiến

Thân gửi anh Nhật Tiến,

Tại Hà Nội lúc này là 13 giờ 5 phút ngày 16 tháng 1 năm 2007.

Sáng nay, 10 giờ, tôi vừa moi thư của anh từ chiếc Samtron 76DF ra thì, đúng lúc, một lô 5 thằng bạn văn chương rỗi hơi ập đến tán láo. Thế là lũ chúng tôi vừa nhậu xị đế vừa cử một thằng có giọng tốt nhất (25 năm trước vốn là diễn viên kịch nói) đọc to thư của anh cho cả tụi nghe. Ðọc đi đọc lại 4 lần liền.

Phải nói rằng lá thư của anh đã làm cho bữa nhậu của tụi này mất vui, vì... Vì sao?

Thú thật là cho đến lúc này, sau khi đã "tống cổ" mấy con sâu rượu về rồi với lý do, để tao còn phúc đáp lại ông anh nhà văn quý mến bên Mỹ, đến lúc này đây, tôi cũng chẳng hiểu tại sao cả.

Tại sao hả anh?

Bỗng dưng tôi chỉ thấy lòng mình nặng trĩu. Chán quá. Phí cả mấy xị đế làng Vân. Tự dưng tôi chợt nghĩ đến mấy cục cứt chó khô (xin lỗi anh và talawas). Rồi tôi lại nhớ tới bộ phim hoạt hình nhăng nhít tối qua đến xem ở nhà một cô ca sĩ kiêm nhà thơ 8X. Hai con sư tử lông lá bẩn thỉu, gớm ghiếc cấu xé nhau chí tử để tranh cướp cái xác con dê đã thối rữa. Ðằng sau hai con sư tử, lau nhau (hay là tranh nhau?) hai bầy sâu bọ ùa theo, nhảy nhót, chửi rủa, hò hét inh ỏi, rồi cũng say máu lao vào nhau hỗn chiến. Bỗng nhiên hai con sư tử không đánh nhau nữa, lại còn bắt tay nhau hỉ hả rồi, cùng ngồi phệt xuống tì tì chén chú chén anh mời nhau măng-giê bố-cu xác con dê thối rữa. Máy chuyển cảnh. Hai bầy sâu bọ râu tóc lông cánh tả tơi chưng hửng. Một con, hình như là một con gián hôi, lân la bò tới sau đít hai ông kễnh, chắc là cũng định xin ông anh tí phần. Nhưng hai ông sư tử mải ăn (hay là tham ăn quá) chẳng thèm để ý mà một ông lại vô tình còn bốc nhầm chú gián tội nghiệp ngu xuẩn lên, tý nữa thì bỏ tọt vào mồm.

Nhà văn Nhật Tiến quý mến,

Có một giờ phút nào anh nghĩ tới thân phận thằng văn nghệ chúng ta oai phong lẫm liệt sư tử không?

A! Còn mấy cục cứt chó khô (lại phải xin lỗi anh và talawas lần nữa). Năm 1985, cụ Tào Mạt viết vở chèo có vai thằng hề nổi tiếng. Tôi bảo cụ: "Bố là chúa xỏ xiên, dám cả gan ví văn nghệ là thằng hề". Cụ Tào Mạt trợn mắt: "Chắc gì đã được là thằng hề. Là mấy cục cứt chó khô!". Và cụ kể: "Năm 1966 ông Thi được cử sang một nước bạn (thật ra là một nước đàn anh) để thông báo, cũng là xin ý kiến sẽ tổ chức một hội nghị quốc tế ở Hà Nội, mời trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng ở các nước sang dự để phản đối Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam. Sau khi nghe Nguyễn Đình Thi hùng hồn trình bầy (ông Thi vốn nổi tiếng hùng biện), người nghe mặt lạnh tanh, hạ một câu: "Về bảo nhau vót chông mà đánh Mỹ. Mấy cái thằng trí thức, văn nghệ sĩ thì là cái quái gì. Mấy cục cứt chó khô."

Trong thư anh có viết: "Vì tiếng nói của người cầm bút dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào, bao giờ cũng là tiếng nói của lương tâm dân tộc". Thưa anh Nhật Tiến, anh cho phép thằng nhà văn hạng 3 này được nói thẳng: Buổi sáng, khi đọc mấy chữ này, bọn chúng tôi đều trợn mắt nhìn nhau và thằng nào cũng lăm le phen này về nhà bàn với vợ, quyết tống cổ mấy thằng con lười học suốt ngày chúi mũi vào chơi games – phen này phải quyết tống cổ mấy thằng nhóc lười như hủi, phấn đấu nay mai trở thành lương tâm của dân tộc, tấm gương phản chiếu của thời đại, đặng vinh danh dòng họ. Thưa anh, mấy cái cụm từ "lương tâm thời đại", "lương tâm dân tộc"... (và còn một lô một lốc những cụm từ chói lọi nữa mà tôi cam đoan anh chưa bao giờ được nghe), lũ chúng tôi đã bị nhồi nhét quá nhiều rồi. Ngấy quá rồi. Anh đã phải ăn vã liền một lúc một tấn chả quế bao giờ chưa ạ? Ðọc thư của anh, bọn tôi bảo nhau: Ðúng là anh nhiều tuổi rồi. Người già hay xúc động. Xúc động và ngây thơ và cả tin. Tôi bỗng nhớ tới ông Thi. Mấy năm cuối đời tôi hay lếu láo trêu ông, bịa đặt chuyện gì ông Thi cũng tròn mắt: Thế à? Thật thế cơ à? Ôi tâm hồn của những người cao tuổi. Các anh giống nhau quá. Mơ mộng quá. Chẳng trách ở trong nước bây giờ cũng còn có mấy ông cụ nhà văn cổ lai hi rồi mà chẳng chịu ngồi một chỗ, quay mặt vào tường cố mà viết văn đi để cho con cháu, sao lại cứ rừng rực lao ra đường đòi giương cờ thủ lĩnh đánh đu với thiên hạ đi làm cách mạng văn nghệ. Cách mạng văn nghệ là cái con gì hả anh? Nó có đuôi không?

Lại nói tới sứ mạng nhà văn. Tôi vẫn nhớ như in, hồi tôi còn bé ở Hải Phòng, một lần cụ nhà văn Nguyễn Tuân đến chơi với ông Thi. Hai soái văn chương ngồi nói chuyện. Chẳng nhớ ông Thi nói sứ mạng nhà văn những gì những gì..., cuối cùng cụ nhà văn Nguyễn Tuân tru lên: Toa chất lên lưng cái thằng nhà văn chừng ấy sứ mạng không sợ gẫy mẹ mất lưng của nó à? (Lại phải xin lỗi anh và talawas một lần nữa. Lịch sự. Mệt quá.) Sau này lớn lên, tôi hỏi ông Thi những sứ mạng ấy là những sứ mạng gì thì ông Thi nhún vai, xoè hai tay ra (rất Tây)... và không nói. Anh bảo thế có chán không. Có mỗi một thằng con nối dõi văn chương mà lại giấu nhẹm, không truyền bảo bối cho.

Anh Nhật Tiến quý mến,

Tôi không biết các anh ở bên ấy văn chương chữ nghĩa vui vẻ nhộn nhịp thế nào, chứ cái chợ văn chương thơ phú ở trong nước bây giờ hỗn loạn tung bừng như cái chợ trời. (Mà ở chợ trời thì gần như 100% là của dỏm). Nhà nhà làm thơ. Người người viết văn, trùng trùng, điệp điệp. Thú thật là sao người Việt Nam ta bây giờ lại thích thú, thèm khát làm lương tâm của thời đại đến như thế? Ôi nhân dân thật là vĩ đại. Người là ai? Cách đây hai tháng, một buổi tối ở Viện Goethe tại Hà Nội, tôi đã rống lên như thế mấy lần, thế mà cái đám đông ngồi ngay dưới kia, trước mặt tôi, cứ im thin thít. Mấy hôm trước có thằng bạn hoạ sĩ rủ tôi đi dự một cuộc triển lãm cực kì hiện đại, hoành tráng của rất nhiều hoạ sĩ. Thấy tôi cứ trợn mắt lên nhìn, thằng bạn hoạ sĩ nhún vai. Nhìn nữa đi. Nhìn kĩ vào. Ðây là tác phẩm của nhiều hoạ sĩ chứ không phải chỉ là của một hoạ sĩ vẽ đâu đấy nhé. Anh Tiến quý mến, nếu bây giờ chúng ta tổ chức một triển lãm trưng bầy cùng lúc cả ngàn vạn tác phẩm thơ văn của trùng điệp các ông các bà nhà thơ, nhà văn ở trong nước thì, tôi cam đoan anh sẽ có một cảm giác rất... ói và... buồn.

Anh viết: "Ngoại trừ ai giả cứ giả, mỗi người cầm bút chân chính cứ việc sáng tạo theo lương tâm và nguồn cảm hứng của chính mình. Vả lại tôi vẫn luôn luôn tin tưởng rằng thời gian luôn luôn là cái máy sàng lọc tỉnh táo, tinh vi và hữu hiệu nhất. Sẽ không có một thứ hàng giả nào có thể tồn tại mãi mãi với thời gian."

Tôi vốn là một kỹ sư cầu đường, sau năm 1976 giải ngũ về, ốm đau quá nên đành quay sang làm cái nghề viết văn. Thú thật, tôi chỉ là một thằng nhà văn tay ngang văng mạng, học hành văn chương lỗ mỗ. Tôi nói thật đấy chứ không phải giả vờ khiêm tốn nhưng thực chất lại rất kiêu ngạo (kiêu ngạo ngầm kiểu Tầu) như ông Nguyễn Ðình Thi đâu. (Ông ấy giỏi như thế, tài như thế thì, công bằng, ông ấy có quyền kiêu ngạo.) Ðọc xong mấy dòng chữ trên của anh, tôi mất hết cả hứng thú định trao đổi với anh về một nền văn học giả. Thì ra ở đâu mà chẳng có của giả, của thật. Bàn làm gì. Vớ vẩn, ôm rơm rặm bụng có phải không anh, trong khi chính mình có khi cũng đang làm của giả mà không biết. Tôi bỗng rùng mình. Tại sao văn học nó chập chờn, quái quỷ như vậy? Cái hình thật tươi đẹp của nó ở đâu và cái bóng giả dối gớm ghiếc của nó cứ rình mò giăng bẫy ta, nó ở đâu, thưa anh?

Anh nói rằng cuộc trao đổi lan man của chúng ta cũng có cái gì không phải vô ích. Và anh hy vọng... Nhưng tôi nghĩ khác đấy anh ạ. Tôi thấy dân tộc mình mấy chục năm nay đã quen là hễ cứ ngồi lại với nhau thì lập tức ông nói gà, bà nói vịt, ấy là chưa kể còn có cái tật quái dị là chưa nói thì đã gầm gừ nhe răng ra rồi. Mấy hôm nay cũng đã có kẻ nhe răng gầm gừ với tôi rồi anh ạ. Tôi có bảo họ: Khốn nạn, tôi và một ông anh nhà văn lạ hoắc đang mò mẫm ngô ngọng mời nhau trệu trạo ăn vã mấy miếng cơm nhạt văn nghệ. Ðã đâu vào đâu mà các vị nhảy xổ tới trút cả thúng dồi chó chính trị vu cáo hèn hạ thiu thối lên mâm bát của chúng tôi thế! Anh có thích măng-giê cơm nắm chấm với thứ dồi chó đặc sản đó không, thứ dồi chó chính trị tởm lợm đó? Tôi thì không.

Trước khi dừng bút, tôi muốn gửi tới anh một lời cám ơn tự đáy lòng. Qua cuộc trao đổi này, tôi đã học thêm bài học về sự lịch lãm, khiêm nhường, nín nhịn và nhất là cái đẳng cấp văn hoá tối thiểu phải có khi nói chuyện với một nhà văn, nhất là khi người đó cầm bút trước mình và lại là người nhiều tuổi.

Một mùa hè nào đấy, hay là hè 2008 đi, hẹn gặp anh ở đất nước Thuỵ Sĩ hiền lành. Có thể cao hứng lên, tôi hỗn láo thắp một nén nhang mở di cảo của Nguyễn Đình Thi ra đọc trộm vài đoạn trong chương Nhân văn-Giai phẩm và văn nghệ đổi mới cho anh nghe. Không hiểu nghe xong anh sẽ gật gù... ừ, cũng có ích cho những ai còn thích quan tâm tới hai cái đống rác này. Nhưng cũng có thể anh chỉ nhún vai (rất Tây) và... không nói gì.

Trân trọng kính chào.

Nguyễn Ðình Chính

© 2007 talawas

Phần Thứ Tư

Một Thời... Chữ Nghĩa


Chương 1

Thế-giới nhân-bản của Nhật Tiến

Nguyễn Vy Khanh

 

    Nói đến các bài nhận định về sự nghiệp văn chương của tôi, Nhật Tiến, thì kể ra cũng đã có khá nhiều bài viết công phu, như họa sĩ Tạ Tỵ (trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay do Lá Bối in ở Sài Gòn 1972 ), hay ở hải ngoại như nhà văn Võ Phiến, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Đỗ Quyên (Canada), giáo sư Bùi Ngọc Đường, nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh, nhà phê bình văn học Thụy Khuê...v..v...

Tuy nhiên nếu xét về mặt tổng quát, đi vào nhiều chi tiết, duyệt lại hầu hết các tác phẩm qua nhiều thể loại, đặc biệt là những truyện ngắn tôi đã viết sau này khi ra hải ngoại để  dụng công gây dựng một chân dung văn học Nhật Tiến thì có lẽ bài nhận định dưới đây của nhà phê bình văn học Nguyễn Vy Khanh ( Canada) coi là đã thấu hiểu những tâm tình trải nghiệm của tôi khi  nhận thức trước những đổi thay của lịch sử.

Vì vậy, với sự đồng ý của tác giả, tôi trân trọng đưa bài nhận định của Nguyễn Vy Khanh vào đây, như một tài liệu trân quý mà tôi muốn chia sẻ với độc giả và muốn gìn giữ như một thành quả tinh thần của tôi trong hơn 60 năm của cuộc Hành Trình Chữ Nghĩa.

    NHẬT TIẾN

Thế giới tiểu thuyết của Nhật Tiến (sanh năm 1936) có hai đặc điểm chung: một thế giới của những con người bất hạnh và một không gian của nhân phẩm, con người! Tác giả của chúng là một con người đầy lòng nhân ái và ông muốn mọi người chia xẻ cái nhìn của ông! Trước 1975, ông đã xuất bản 19 tác phẩm gồm 11 tiểu thuyết hoặc truyện dài: Những Người Áo Trắng (1959), Những Vì Sao Lạc (1960), Thềm Hoang (1961), Mây Hoàng Hôn (1962), Chuyện Bé Phượng (1964), Vách Đá Cheo Leo (1965), Tay Ngọc (1968), Giấc Ngủ Chập Chờn (1969), Đóa Hồng Gai, Lá Chúc Thư (1969), Quê Nhà Yêu Dấu (1970); ba tập truyện ngắn: Ánh Sáng Công Viên (1963), Giọt Lệ Đen (1968) và Tặng Phẩm Của Dòng Sông; một tiểu thuyết kịch: Người Kéo Màn (1962); một tiểu thuyết dưới hình thức nhật ký: Chim Hót Trong Lồng (1966), một hồi ký viết cho thiếu nhi: Thuở Mơ Làm Văn Sĩ và ba truyện cho thiếu nhi mỗi truyện từ 30 đến 40 trang: Đường Lên Núi Thiên Mã, Quà Giáng Sinh (1970), Theo Gió Ngàn Bay (1970). Giai đoạn đầu tác phẩm ông do các nhà Phượng Giang, Đời Nay và Ngày Nay của Tự-Lực văn-đoàn xuất bản, về sau do nhà xuất bản Huyền Trân của ông. Ông từng làm chủ bút tạp chí Thiếu Nhi. Rời Việt-Nam như là thuyền-nhân (boat-people) và sau khi định cư  ở  Hoa-Kỳ, ông là tác giả tập tường trình Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan (1981, viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy), truyện dài Mồ Hôi Của Đá (1988) và ba tập truyện Tiếng Kèn (1980), Một Thời Đang Qua (1985) và Cánh Cửa (1990).

Nhà văn của tuổi thơ bất hạnh

Nhật Tiến khởi đầu sự nghiệp viết văn với những đứa trẻ mồ côi trong cô nhi viện, một thế giới trầm lặng, có thể nhàm chán đơn điệu đối với những người ở ngoài, bên cạnh những bà Phước, nhưng qua ngòi bút của Nhật Tiến, người đọc khám phá con người, tâm lý, hoàn cảnh, nếp sống của những đứa trẻ mồ côi, những học sinh nội trú và cả những vị tu hành. Đó là Những Người Áo Trắng , Những Vì Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng,...

Những Người Áo Trắng là chuyện của Quỳnh, một nữ tu trẻ. Từ thân phận mồ côi, được thương giúp, Quỳnh đã trở nên nữ tu để thương lại những đứa trẻ cùng phần số hẩm hiu. Quỳnh đã đưa lên trang giấy thế giới đó. Thể loại bút ký đưa người đọc đến với những đứa trẻ, đến với một thế giới đằng sau bức tường kín cổng, ngoài kia là cuộc đời, là sự sống; trong nầy là một sức sống khác, sức sống tinh thần. Con đường đưa Quỳnh đến với đời sống tu hành đã phải qua nhiều chặng đường. Nàng đã nhìn thấy những đứa bạn chỉ vì muốn thoát ly đã phải chết như Hoà, chịu nghiệt ngã như Liễu. Đã theo đường tu hành, nhưng tim nàng đã có lúc xúc cảm mạnh vì tình yêu dù đơn phương với một sinh viên đeo kính gặp ở vườn hoa - tình yêu ở Nhật Tiến nói chung có thể mãnh liệt trong lòng nhân vật chứ tác giả không chi tiết dài dòng! Và khi đã tận hiến cuộc đời cho Chúa và những đứa trẻ cùng số phận, nàng cũng đã phải chịu sự đố kỵ đôi khi nghiệt ngã của một số đồng tu. Chỉ vì nàng thương trẻ, qua Phượng, qua Lucie, với một tình đồng cảm.

Những Vì Sao Lạc rọi ánh sáng nhân từ vào cuộc đời những đứa trẻ và thanh thiếu niên vì hoàn cảnh trở nên mồ côi, và cũng vì đó đã có những hành động xấu đối với xã hội bình thường. Chuyện của Khánh, mẹ chết vì bom đạn, bố tự tử vì thất vọng người vợ tục huyền, anh em đã phải sống nhờ cơm chùa, và khi muốn tự lập thì em bệnh nặng không tiền đi khám bác sĩ; đường cùng dẫn đến trộm tiền người quen để phải bị cái án "du thủ, du thực, ba tháng tù" (tr. 166). Khánh vào tù nhưng lòng nhẹ nhàng khi thấy em Mai tìm được tình thương nơi hai người bạn của Khánh. "Lòng tôi trở nên nhẹ nhàng và can đảm. Ba tháng tù sẽ rửa sạch cho tôi tội lỗi mà tôi phải trốn tránh. Tôi sẽ có cơ hội để làm lại cuộc đời. Mộng tưởng của tôi vẫn là mong muốn được dự phần vào guồng máy khổng lồ của xã hội. Mồ hôi của tôi sẽ đổi lấy những buổi chiều có gió mát dẫn em Mai đi chơi ở trên đường có hoa xoan tây rụng đỏ. Mai sẽ lớn lên như một con chim có linh hồn trong sáng..." (tr. 166). Trong tiểu thuyết này, tình người được đề cao, cao hơn những thói thường tình, như Khánh đối với dì Tự, biết dì ghẻ ngoại tình với người làm của bố, biết em Mai là hậu quả của ngoại tình - tức không phải con của bố Khánh, anh vẫn thương: "Trong cái tang đau đớn này, dì mất chồng cũng khốn khổ như tôi mất cha. Tôi thấy thương dì hơn là giận. (...). Sự cô đơn của người đàn bà góa và đứa con thơ ngây cho tôi nỗi xúc động . Tôi không thể ghét dì mà còn tràn ngập lòng thương. Tôi tin rằng nếu linh hồn ba tôi còn lẩn quẩn ở đây, chắc ông có cùng ý nghĩ như tôi" (tr. 90, 97).

Chuyện Bé Phượng (1964) là chuyện một xã hội thu nhỏ trong một viện mồ côi, những đứa trẻ mang tên Phượng, Alice, Dung, Cúc,... "Con bé Dung khôn ngoan gian giảo, biết nịnh các soeur khi cần nịnh, biết nhường nhịn lũ trẻ khi cần thiết phải nhường, những điều gì làm lợi và vui cho nó thì dù có phải tàn nhẫn để đánh đổi lấy, nó cũng không từ" (tr. 14). Cũng đạo đức giả, cũng ăn cướp cơm chim, cũng ích kỷ độc ác, v.v. như xã hội người lớn. Bé Cúc đóng vai ăn cắp vặt có "lý do", có "quyền" vì nó chỉ lấy của người dư thừa: "Ừ tao ăn cắp thì đã làm sao, tao không lấy của của mày (Phượng), tao lấy của chúng nó, chúng nó thiếu gì" (tr. 128). Phượng được các soeur thương, nhưng cô có tâm hồn, có suy nghĩ, lúc nào cũng nghĩ đến Chúa và sự cứu rỗi. Lớn hơn là các chị Quỳnh, Giang, Thu, Thanh... và những tranh chấp. Mẹ Félicité phải ra đi để rồi được Quỳnh viết thư xin mẹ trở về viện để dìu dắt lũ trẻ. "Bởi vậy con xin mẹ hãy nhân danh những sự cứu rỗi, vẫn thường là con đường của Chúa đã vạch ra, mà trở lại viện cô nhi hướng dẫn dìu dắt và bảo ban chúng con...  Vì mẹ là kẻ sáng suốt, vì mẹ là kẻ đã thực sự nhìn vào cuộc sống khốn khổ của chúng con, thực sự thông cảm nỗi chua xót của những đứa mồ côi..." (tr. 199). Chuyện trẻ con, trẻ mồ côi, đời sống trong một viện mồ côi nhưng nhiều ý nghĩa có thể áp dụng cho cuộc đời!

Chim Hót Trong Lồng thêm một câu chuyện về những đứa trẻ mồ côi và nội trú trường Nhà Trắng với các bà sơ, một đề tài quen thuộc với Nhật Tiến. Nhưng ở đây tác giả cho thấy con người là nạn nhân của nhau và sự vươn lên của những kẻ thấp hèn không dễ. 14 lá thư và những trang nhật ký của một cô bé tên Hạnh mẹ gửi nội trú trường các Soeur. Những lời lẽ ngây thơ chân chất của người con viết cho người mẹ, thật cảm động sự ngây thơ của cô bé khi nghe người khác kể lại mẹ làm nghề điếm: "Má làm nghề điếm phải không má. Chú con Hằng nói chuyện với nó thế. Con hỏi điếm là gì thì nó cũng không biết. Vì chú nó chỉ nói thế thôi. Có thật không má? Sở điếm của má có to không? Má làm chức gì trong ấy? Mà sở điếm thì buôn gì hở má?..." (1). Mẹ bệnh nặng phải nằm nhà thương, Hạnh về nhà bà Tuyết bạn mẹ cùng nghề, ngây thơ trách mẹ "Tại sao má bắt con ở chung với đồ đĩ như thế" (tr. 71). Mẹ chết, hết người để gửi thư, Hạnh viết nhật ký để "nói" với mẹ và cầu xin "Lạy Chúa. Xin Chúa hãy vì má, hãy vì nỗi lòng đớn đau và tinh khiết của má, mà đưa má về nơi thanh cao như lúc này con đang thành tâm tha thiết nguyện cầu cho má..." sau khi nghe lời sơ Félicité cắt nghĩa "Má có linh hồn. Linh hồn của má sẽ được tới gần chân Chúa" (tr. 98-99). Câu chuyện với nhiều cơn mưa dài, lạnh, lá rụng nhiều mà tiếng chuông như gọi hồn cũng nhiều; mưa và lạnh những lúc đi dạo Tết cũng như những buổi hiếm hoi được gặp mẹ và cuối cùng lúc đám tang mẹ!

Đến Tay Ngọc, ảnh hưởng Thiên Chúa giáo đậm đà hơn nữa. Qua những bức thư của Hạnh, một nữ sinh lưu trú gửi cho Mẹ Bề trên, trong đó nàng kể lại những sinh hoạt của viện mồ côi đồng thời ghi lại những suy nghĩ về tương lai và chứng tỏ một niềm tin mãnh liệt nơi đấng thiêng liêng: "Chúa chẳng để sự đe dọa nào có thể làm lung lạc đức tin ấy nơi Chúa. Rồi từ đó, nếu ai ai cũng giữ được lòng thánh thiện, mọi vết nhơ được xóa bỏ, mọi tội lỗi được dung tha, mọi điều khổ sở sẽ được hàn gắn, và nhân loại sẽ tạo được địa vị trong sáng ban đầu". Lòng tin làm nền cho quan niệm sống và cư xử ở đời!

Mây Hoàng Hôn (xuất bản năm 1962 nhưng viết xong từ 1958) kể chuyện cuộc đời buồn nản của Đỗ, một nhà văn trẻ bị bệnh lao phổi, vào nằm điều trị ở một bệnh viện Thiên Chúa giáo, đem lòng yêu bà Tâm, một bà phước trẻ đẹp. Mối tình đơn sơ, tột đỉnh cũng chỉ là cảnh "Đỗ kéo hai bàn tay mềm mại của bà về phía ngực mình. - Tâm ơi... Tâm tha lỗi cho tôi" (tr. 78). Vì tình yêu như thế là tội lỗi, bà phước Tâm xin đổi đi nơi khác và chết trẻ, để lại tập nhật ký, bà Madeleine gửi cho Đỗ, chàng khóc đến hết nước mắt rồi tìm đến bên mộ bà "cúi xuống vuốt mãi tấm bia trắng để cảm thấy mình gần quá với những dòng chữ cuối cùng còn ghi lại di tích của con người bạc mệnh". Một chuyện tình đẹp nhưng bất khả thi, Nhật Tiến kết thúc đơn giản thay vì lèo lái câu chuyện éo le theo thị hiếu.

Không khí tiểu thuyết của Nhật Tiến vừa kể luôn có bóng dáng các nữ tu và một số tín lý đạo Thiên Chúa nhưng thiển nghĩ mục đích của Nhật Tiến là phổ biến và đề cao lòng nhân ái, tình thương người, kêu gọi xóa bỏ ích kỷ trong mọi trường hợp, ngay cả khi yêu. Nhật Tiến theo đạo Phật nhưng đã viết một phần ba tác phẩm về thế giới đạo Thiên Chúa một cách thuần đạo như Thụy An Hoàng Dân thời tiền chiến, trong khi nhà thơ Hàn Mặc Tử tuy có đạo nhưng thi ca ông chịu nhiều ảnh hưởng Phật và Lão. Nhật Tiến đã đưa người đọc vào thế giới đạo đó từ trước khi di cư vào Nam. Mặt khác, thời văn học miền Nam này, nhiều nhà văn đã viết cho tuổi thiếu niên, ngoài Nhật Tiến còn có Nhã Ca, Duyên Anh,... nhưng ông khác hai nhà văn sau, tiểu thuyết của ông còn nhắm độc giả trưởng thành hơn, vì ông luôn nêu lên một vấn đề nào đó không thể không suy nghĩ và tìm giải pháp!

Nhà văn xã hội

Chiến tranh khiến cho người nghèo càng nghèo khó hơn, càng thêm trẻ bụi đời, mồ côi, Nhật Tiến ghi lại trong Giấc Ngủ Chập Chờn, Giọt Lệ Đen, Quê Nhà Yêu Dấu,... Nhân vật của Nhật Tiến rời mái ấm cô nhi, trường các dì phước, trở thành những người nghèo khó vật chất cũng như tinh thần. Thềm Hoang, giải văn chương toàn quốc 1962, viết về một thế giới người nghèo ở Xóm Cỏ, một xóm cận biên ở thủ đô Sài-Gòn mà cũng có thể ở một nơi khác. "Dạo ấy dân xóm Cỏ làm đủ mọi nghề của một tầng lớp thấp kém"(2). Nơi đó có đủ mọi hạng người, đĩ điếm, đạp xích lô, thông cầu tiêu, bán hàng rong, ăn xin, v.v. Một sống chung với những thói hư tật xấu, với lòng ngay và tình đùm bọc khi hoạn nạn. Một mối tình vô vọng nhưng chân thật của bác Tốn mù hát rong xin ăn với cô Huệ gái giang hồ: "Cô Huệ ơi... Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng / Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay". Nhưng cô Huệ sẽ chết thảm, bác Tốn chung tình tự đứng ra lo cho đứa con lai có với lính Tây lê dương. U Tám cũng chết buồn thảm, mụ Nết thì trở thành điên cuồng vì con cháu. Những thằng Ích, cái Ngoan, cái Hòn,... lêu lổng. Chuyện tình đơn sơ dễ tính của Hai Hào đạp xích lô với Đào con Phó Ngữ. Năm Trà qua Lào làm ăn trở về mất vợ mất con, mẹ điên, hắn lên cơn đốt nhà không ngờ cháy tan rụi cả xóm! Cơn mưa to ở cuối truyện phải chăng đã đến như hy vọng quét sạch những tàn tích của tội lỗi lẫn khó nghèo? Xóm Cỏ sống động dưới ngòi bút Nhật Tiến, tình người, nếp sống linh hoạt không ngừng biến cố, diễn tiến. Khi nói đến những vấn đề xã hội là đã ngầm chứa đòi hỏi công bằng, Nhật Tiến làm kẻ quan sát và ông tỏ ra có tài trong công việc này, cả rành tâm lý. Tả sự cô độc của bác Tốn mù, một lần bác ôm đàn ngồi ở bực cửa hát chờ cô Huệ đi ngang qua: "Bóng tối vây quanh như nỗi cô độc của bác trong sự mù lòa" (tr. 28). Lúc khác bác nghêu ngao hát cho mọi người nghe cười cho vui. "Tiếng cười của họ khiến bác nghĩ rằng mình không cô độc" (tr. 29). Tiếng cười của một nhân vật khác, dượng Tám, thời tán u Tám thì "tiếng cười lỗ mãng và ngay thẳng. Vì thế u tìm thấy ở dượng cái vẻ gì gọi là chất phác, đáng yêu" (tr. 33). Nhưng khi đã về với nhau thì chỉ có tiếng hét, la mắng, vòi tiền, lừa gạt! Cảnh lão Phó Ngữ gây với Đào, con gái lão, đã dám thất thân với Hai Hào đạp xích lô, rồi đến bàn chuyện đám cưới, cũng như những cảnh đú đởn tình tứ của đôi nhân tình này, là những bức tranh thật linh động!

Tập Ánh Sáng Công Viên gồm 8 truyện ngắn viết về những mảnh đời, những chuyện tâm tình, những cảnh đời ngang trái  (bị giam vì tình nghi chính trị, cảnh đòi nợ, cảnh gia đình êm ấm trong xóm nhỏ,...). Nói chung tác giả tỏ nhiều thiện chí, muốn con người lưu tâm đến những tệ nạn xã hội hoặc hậu quả của chiến tranh,... trong khi nhiều nhà văn đồng thời với ông  chạy theo siêu hình hay những giải pháp không tưởng!

Giọt Lệ Đen tả một trong nhiều thảm cảnh của thời chiến : một cô gái điếm đem chôn đứa hài nhi do mình vừa sanh và thằng bé có nước da đen nhẫy.

Hay Đường vào trần Gian  diễn tả hai anh em mồ côi, Tư Híp và thằng Út sống với nhau nên khi Tư Híp đi trình diện nhập ngũ thì đã phải đem thằng Út theo, may có Hiên làm nhà bếp thương anh em đã giúp giữ thằng Út trong khi Tư Híp phải đi hành quân xa. Một tình yêu nhẹ nhàng đến với anh em Tư Híp và kết không bi đát trong khi người đọc chờ đợi cái phải đến bi đát của chiến tranh. Tác giả kết thúc với hy vọng, đứa em leo lên ụ đất nhìn theo đoàn quân lên đường bụi mờ mịt!

Một truyện ngắn khác, Kẻ Nổi Dậy là chuyện tâm lý, chuyện anh Ba Sinh, một anh chồng yếu đuối chỉ biết ăn bám vợ, nghi vợ làm điếm nuôi cả nhà mà không dám hỏi. Ra vẻ có ý chí, nhưng không đủ mạnh để thay đổi tình thế, ngay cả việc dạy dỗ đứa con duy nhất.

Nhật Tiến cũng viết về xã hội của giới văn nghệ sĩ, với Người Kéo Màn (1962) và ghi là "tiểu thuyết-kịch". Nếu Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan đem triết lý vào kịch thì Nhật Tiến đem thế-giới tiểu thuyết vào kịch. Phải chăng Nhật Tiến có mục đích giáo dục, xã hội, do đó đã thử nghiệm thể loại này? Không hẳn là một vở kịch để diễn viên trình bày, cũng không hẳn là một tiểu thuyết về thế-giới sân-khấu-về-khuya - cũng là thế-giới con người với đủ tài và tật, thích hào nhoáng, ít tác động, nhiều lý luận tư duy. Hạnh phúc ở đây thật mỏng manh. Người đọc và nhân vật được tác giả mời tham gia vào trò chơi, mà cũng không thể không tham gia. Nói đến sân khấu là nói đến đạo diễn, diễn viên, những thần tượng của một thế-giới. Nhật Tiến đưa người đọc và cả người xem vào trong hậu trường, nơi đó mặt trái buồn nôn được phơi bày. "Tà áo của nàng hất tung lại phía đằng sau. Hắn thấy một vệt sáng chiếu vào khoảng mù mịt đang ngự trị trong lòng mình" (tr. 95). Tác giả vở kịch (không phải tác giả Nhật Tiến) thú nhận: "Cái đau đớn nhất của anh là anh không biết phải hành động thế nào cho hợp lý cả" (tr. 13). Không dám sống thực, do đó tự thấy là bịp bợm mà vẫn phải viết kịch,..." (tr. 13) để rồi đi đến chỗ cô độc đớn đau, người vợ đã không chung thủy. Những nhân vật lão kéo màn, người thiếu nữ trinh trắng, người nghệ sĩ thổi clarinette, đứa bé,... chỉ là những cái cớ cho người kéo màn - không hẳn là tác giả, Nhật Tiến, nói đến định mệnh. Các nhân vật đầy mâu thuẫn, cả tác giả Nhật Tiến, khiến có kịch tính! Màn đã kéo, những thần tượng gãy đổ, những sự thực đắng cay,... Nhật Tiến đi con đường ngược với Bertolt Brecht là người muốn diệt hấp lực của truyện kể ở kịch, chối bỏ sự thật, diễn viên diễn xuất và mời gọi người xem suy nghĩ về tấn kịch được trình bày thay vì để lịch sử thâu tóm hết!

Hướng về dân tộc và tương lai

Sau 1975, Nhật Tiến ngưng viết cho đến khi vượt biển thành công và đến Hoa-Kỳ năm 1980. Khi ở trại tị nạn Songkhla, ông đã bắt đầu viết lại (nhiều truyện sau in trong tập Tiếng Kèn) và đã đem những ưu tư, suy nghĩ vào văn chương. Ngòi bút của ông trở nên phẫn-nộ dù lòng thương và tình người vẫn mạnh ở ông. Trước hết ông viết về số phận những thuyền nhân (boat people) mà ông vừa từng trãi qua, Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan, với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy. Sau đó là các tập truyện ngắn Tiếng Kèn (1982), Một Thời Đang Qua (1985), truyện dài Mồ Hôi Của Đá (1988) và tập truyện Cánh Cửa (1990). Nhật Tiến phát biểu về vai trò người cầm bút ở thời điểm mới: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (3)

Sau những cố gắng tố cáo tội ác hải tặc và chế độ mà nạn nhân hải tặc phải bỏ đi, ông đã đi đến nhận thức tình trạng mới không thể ôm hoài suy nghĩ đã mòn. Ông đưa những ý tưởng đó vào các tác phẩm mới. Tập Tiếng Kèn (1982) là bức tranh sống động về cuộc đổi đời của miền Nam. Những đối xử dã man, không nhân tính với đồng loại. Tiếng Kèn của lão mù kiếm cơm, công an chìm của cộng sản cũng phải theo bắt và kết án là CIA. Khi được thả ra, lão sợ nên thổi bài "Như có bác Hồ..." liền bị dân trong xóm phản đói. Lão thổi bài "Việt Nam! Việt Nam nghe từ vào đời..." thì tiếng vỗ tay vang dậy, nhưng lão không nghe được gì nữa, "hồn gã bay bổng theo tiếng kèn (...). Gã đã đắm mình vào làn âm thanh bao phủ quanh gã, và thực sự đang nâng bổng tâm hồn của gã lên cao" (tr. 25). Những nạn nhân khác là bà lão già còn phải lội rừng đến trại cải tạo thăm con nhưng kiệt lực ngay cổng trại chưa kịp thấy con. Là vợ một đại úy quân y nay chồng đi cải tạo, đói phải đi trộm khoai, may gặp được lão Qưới người bị mất trộm khoai nhưng may người này từng chịu ơn ông chồng bác sĩ cứu tử trước 1975 đã cho 50 chục; nhưng với số tiền này, bà nấu một nồi cháo thịt để cùng với năm con chết để "bầy con tội nghiệp của cháu khỏi phải trầm luân trong cái xã hội đầy cơ cực này" (Nồi Cháo Thịt). Trận Đánh Cuối Cùng Của Một Kẻ Sĩ là trận đánh về mặt văn hóa của Ba Sinh, người bị công an đến nhà tịch thu hơn ba ngàn cuốn sách trân quý lưu trữ. Tình cờ anh gặp lại sách của anh được bày bán "chui" do đường giây công an kiếm ăn - tịch thu rồi đem đi bán thay vì nộp theo chính sách, anh thường ra đó và đầu độc bộ đội và cán bộ cộng sản với những cuốn sách "đồi truỵ" của miền Nam. Không hiểu anh Ba Sinh này trước đã từng làm Kẻ Nổi Dậy một cách nhu nhược?

Hai truyện trong tập nói đến bộ mặt thực xã hội của kẻ thắng: Chiếc Áo Tây Vàng về một  xã hội bạo lực, sự sống sót là quan trọng bất kể phương tiện, cả việc đào mả, như người thiếu nữ đào mả lấy đồ bán chợ trời kiếm tiền nuôi hai đứa em, đã khai trước tòa:"Xã hội của chúng ta là xã hội chủ nghĩa, chủ trương duy vật mà đả phá duy tâm. Chỉ những kẻ còn đầu óc duy tâm mới quan niệm rằng đào mả lên tức là xâm phạm đến linh hồn người chết. Tôi sống bằng lao động của chính tôi. Tôi không ăn bám một ai. Tôi chỉ lấy đi những đồ dùng chôn dưới mả là những thứ mà xã hội bỏ đi, đã phế thải. Hơn thế nữa, tôi lại dùng lợi tức ấy để nuôi các em tôi ăn học, tức là bằng lao động đó, tôi đã nuôi dưỡng những mầm non của đất nước. Vì thế, tôi là người hoàn toàn vô tội" (tr. 143).

Truyện Chuyến Tàu Ngày Cuối Năm  diễn tả tâm trạng những người trẻ bắt đầu ý thức, phản ứng trước những đòi hỏi hy sinh cho nghĩa vụ hoặc lý tưởng láo khoét che đậy những mưu đồ bẩn xấu như đưa thanh niên sang làm "nghĩa vụ" bên lân bang Kampuchia. Hùng và một số bạn đã phải đào ngũ và chấp nhận cuộc sống lẩn tránh và hiểm nguy chết chóc, tù tội, nhân danh ước vọng tối thiểu làm người! Trong tập truyện đầu tay xuất bản ở ngoài nước này, một mặt Nhật Tiến cho thấy đời sống cơ cực của người miền Nam sau 1975, ông vạch mặt thủ phạm là chiến tranh, bạo lực, là lòng thú giữa người đối với người, trong sự ghen tương giàu nghèo Nam Bắc càng lộ rõ khi tiếp xúc, người trong Nam không tin tưởng nơi đồng bào từ miền Bắc, họ biết những người kia sống trong một chế độ bưng bít, không hề biết sự thật, lừa dối nhau để sống còn, lãnh đạo thì tuyên truyền, đe dọa, người cùng đinh thì lừa nhau miếng ăn, cái bát và cuối cùng những cảnh tượng "chiến thắng" thực ra chỉ là trò hề tội nghiệp!

Đến Một Thời Đang Qua (1985) gồm hai phần quê người sống hối hả máy móc với những va chạm văn hóa, những người mẹ già lạc lõng ngay trong gia đình mình, trong khi quê nhà giữa bao thảm kịch, sĩ quan bộ đội hủ hóa, tình cờ vẫn có người thủ trưởng công an biết nói cám ơn. Người Làm Ca Đêm, Một Ngày Của Nhiều Người tả nếp sống đến lạ kỳ ở quê người, đời sống thường không còn của riêng mình mà là của guồng máy, đi làm để trả bills, vội vàng vì kẹt xe. Làm việc an ninh mà máy móc đến điên người như Vũ trong Những Mẩu Dây Leo, rồi tranh chấp, rồi bị người làm chung tố với xếp anh bị tâm thần, trong khi thư nhà đến đều với những vấn đề phải giải quyết. Mùa Xuân Của Nàng và Bông Hồng Nào Cho Mẹ đề cập đến những va chạm hội nhập văn hóa, trong khi đó Những Mảnh Trăng Thu đưa người đọc trở lại với những trẻ nghèo khổ nhưng biết thương yếu nhau, một đề tài quen thuộc của Nhật Tiến.

Ngoài ra, trong tập truyện này, Nhật Tiến đi bước đầu trong việc tìm hiểu và viết về con người ở miền Bắc và những người ở miền Nam sau 1975 như những con người "ruột thịt". Văn ông hiền lành nhưng ông đã nói đến những khúc mắc của con người cùng là nạn  nhân của chiến tranh, ông luôn khẳng định sự thất bại của cộng sản muốn tiêu diệt nhân tính nơi con người. Ông tìm hiểu xã hội miền Bắc - của những kẻ tự cho là kẻ thắng, kẻ tài giỏi, và đi đến tố cáo bộ mặt thật. Nhận chân để tìm ra những thái độ của con người miền Bắc dù là đang thuộc thành phần ưu đãi hoặc phía sức mạnh (cán bộ, bộ đội,..) đứng trước những thảm cảnh, thất bại của một chủ nghĩa vô nhân, của một guồng máy bạo tàn.

Những Vết Chân Trâu trình bày bộ mặt thảm hại của xã hội miền Bắc, con người tàn hại nhau nhưng nhân danh những chính sách, chế độ bất nhân như tem phiếu, "còn tem phiếu thì còn được phân phối nhu yếu phẩm theo giá chính thức. Không còn tem phiếu thì kể như đã bị gạt ra khỏi mâm cơm chung của xã hội, dù chỉ là mâm cơm được bày biện những khoai cùng sắn" (tr. 115). Lão Thược cuối cùng mong ước được thay thế con trâu để kéo cày cho xã.

Một Chuyến Đi cho thấy sự đày đọa con người bằng những biện pháp cai trị phi lý mà George Orwell từng nói đến trong 1984. Một Big Brother mất nhân tính, Quý xin giấy tờ để ra Bắc thăm mẹ bị đủ trở ngại để phải thốt lên: "Có lẽ ở trên đời này chỉ có Quý là kẻ duy nhất đã có thể cười được khi nhận được tin mẹ mình đang thật sự hấp hối!" (tr. 91), vì lúc đó mới có thể có giấy di chuyển. Chặng Đường Cuối phá vỡ huyền thoại con người và đạo đức cách mạng.

Huyền thoại Tay Ngà mà nhân vật Lữ từng ôm ấp 30 năm về chị Thu trở nên vô hiệu khi nhìn thấy hai bàn tay chị thô nhám nhăn nhúm và khi nghe giải thích "Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ những ngón tay chai cứng lại. Nốt nhạc trở nên lạc lõng, xớn xác như tâm hồn lạc lõng, xớn xác của toàn thể con người ..." (tr. 66). Thân phận người phụ nữ dĩ nhiên không ra gì trong một xã hội như vậy.

Chân Dung Người Nữ Diễn Viên tên Hồng đã phải sống và trình diễn giả dối cho hợp chế độ, nên khi hết thời, về sống cày ruộng bên anh chồng thương phế binh mà lại cảm thấy thoải mái hơn!

Cái Túi Bùa gây suy nghĩ nơi người đọc, khi tác giả viết về Bà Cụ Tám ba đời tiễn chồng rồi con rồi cháu ra đi chiến đấu không ngày về. Đến đứa cháu, bà đeo bùa vào cổ cho cháu dù đó là chuyện cấm kỵ ở một chế độ làm nhụt lòng chiến sĩ ra đi lên đường vì tổ quốc. Nhưng đứa cháu đã chứng tỏ không như hai thế hệ cha ông, bắt đầu ý thức đâu là chân lý, không chấp nhận hãi sợ vô cớ, không chịu câm lặng hy sinh vì bất cứ lý do nghĩa vụ nào:"Kampuchia là cái xứ chó chết nào? Tại sao mình lại phải đi đánh nhau ở đó? (...). Tuổi trẻ của tao phải khác với tuổi trẻ của ông nội tao, của bố tao. Tao không muốn tiếp tục trở thành những quân cờ, những quân chốt thí muôn năm hết đời này qua đời khác..." (tr. 110). Qua Kampuchia xong, Hải tìm đường vượt biên sang Thái Lan!

Vở kịch Công Lý Xã Hội Chủ Nghĩa - kịch bản hóa truyện Chiếc Áo Tây Vàng, đóng lại tập truyện: kịch tính ở đây không do kịch bản mà do cái hiện thực của đời sống: hầu như mọi người trong xã hội Cộng sản đều phải đóng kịch để sống còn, ai đóng giỏi trở nên mạnh hơn, có lý hơn!

Nhật Tiến là nhà văn gây phản ứng chính trị (thật ra là của vài nhóm người tị nạn) ở hải ngoại khi ông xuất bản truyện dài Mồ Hôi Của Đá (1988) và đăng báo truyện Gặp Gỡ Cuối Năm. Trong Mồ Hôi Của Đá, qua chuyện của những người ở trong nước như Nguyệt, Toàn, Hoàng, ông Năm Tỏa,..., tác-giả đề nghị đối thoại và tìm hiểu trong tinh thần nhân bản và dân tộc, để xây dựng lại quê hương. Ông nói đến con người, dân tộc, muốn không phân biệt nữa, vì tương lai, cho tương lai. Cuộc chiến mới ông muốn đề ra là cuộc chiến giữa nhân bản và phi nhân, giữa lẽ phải và sai quấy và giữa dân tộc và phi dân tộc. Sau những nhận thức những tồi tệ của xã hội, chế độ, Nhật Tiến đã đi đến những nhận thức cho một Việt-Nam tương lai. Mồ Hôi Của Đá dưới hình thức một truyện dài, do đó tác giả có đất để trình bày rõ những suy nghĩ và giải pháp mà hai tập truyện ngắn xuất bản trước đó đã chỉ mới thử những bước đầu. Lấy nhân bản làm nền tảng, dùng khai phóng làm tâm niệm, giải pháp ở đây có một kích thước lớn hơn thường tình phân biệt Bắc-Nam, trong-ngoài nước. Nhật Tiến trình bày ở lời mở đầu: "trong một vận hội mới nhằm phục hồi và xây dựng lại quê hương đang điêu tàn, đen tối và đày dẫy nhục nhằn như hiện nay. (...). Tôi nghĩ rằng, văn hóa nói chung và Văn Học Nghệ Thuật nói riêng, có khả năng góp phần vào công cuộc tạo dựng những điều kiện qui tụ tốt đẹp trong công cuộc hình thành một sức mạnh tổng hợp, cả trong lẫn ngoài nước để hoàn thành sứ mạng giải phóng quê hương. Văn Học Nghệ Thuật, do đó sẽ có thêm một hướng đi mới, bên cạnh những hướng đi đã có, đã từng góp phần tích cực vào công cuộc tiếp nối truyền thống văn hóa của dân tộc ở hải ngoại. Chấp nhận một chiều hướng sáng tạo như thế, trong khung cảnh còn đầy dẫy những ngộ nhận như hiện nay, là chấp nhận một sự thử thách..." (4).

Chuyện xảy ra ở miền Nam sau 1975, người hai miền sống chung, những va chạm, một bên ức hiếp, lợi dụng, một bên chịu đựng hoặc tìm cách qua cầu. Nhưng có những người trẻ lý tưởng, như Nguyệt,... không muốn cực đoan, một chiều, muốn ra tay làm một cái gì trong hoàn cảnh mới, trở thành bí thư chi đoàn thanh niên, quá tin theo tài liệu thổi chuyện làm cách mạng, để rồi thực tế phải thất vọng ê chề. Cách mạng lâu ngày như Hoàng, một nhà văn từ Bắc vào tham quan, cuối cùng đã phải chua nhát nhìn nhận chế độ cộng sản chỉ thêm phong kiến, hủ bại và phân biệt giai cấp nặng nề hơn phong kiến bị họ lật đổ, và "tuyệt đại đa số quần chúng trong xã hội cộng sản chưa ai có quyền làm người cả" (tr. 140).

Trước thực trạng giải phóng thành gông cùm, thống nhất để cả nước cùng đi vào tuyệt vọng, theo tác giả sinh lộ mới là phải khởi từ "tư tưởng đi tìm một chỗ đứng mới, chẳng bên này mà cũng chẳng bên kia, một chỗ đứng chung cho toàn thể những kẻ bị áp bức dù dưới bất cứ một xuất xứ nào, một chỗ đứng trở về dân tộc, hai chữ dân tộc với đày đủ ý nghĩa trong sáng, nhân ái nhưng cũng anh dũng bất khuất, vốn có từ ngàn xưa, thời kỳ chưa bị tha hóa bởi bất kỳ chủ nghĩa ngoại lai nào" (tr. 117). Toàn, người yêu của Nguyệt, không tán đồng việc nàng làm, nhưng lại tin Hoàng và những người thức tỉnh đến từ  miền Bắc như Hoàng, như Năm Tỏa, cán bộ về hưu, sẽ như những mầm nẩy được trong tình thế mới. Nguyệt sẽ là người đi theo con đường mới vận dụng thay đổi đầu óc của mọi con người trong một cuộc đấu tranh mới" đó! Hoàng, Toàn,... thì vận động văn hóa khởi đi với một nhóm văn nghệ có tên là "Chân Đất" đồng hành với Nguyệt. Một cuộc cách mạng bắt đầu!

Lòng nhân ái thương xót những kẻ xấu số, bần cùng trong xã hội chưa đủ, Nhật Tiến còn lên tiếng kêu gọi nhìn lại và xóa bỏ những bất công, những tàn độc của con người đối với đòng loại, ông đi xa hơn kêu gọi xóa bỏ chủ nghĩa, biên giới để xây dựng một thế giới không hận thù, chia rẽ, dân tộc là chính. Sau 1975, tác phẩm của ông có tính cách chính trị theo nghĩa áp dụng cho cả dân tộc, chứ không dừng ở một thành phần dân tộc bị đàn áp, nghèo khổ và chịu sự bất công. Một giải phóng tâm hồn, không bên này bên kia, không phân biệt kẻ thắng người thua khi cả dân tộc sẽ bị thua thiệt trước tiến bộ của nhân loại, trước bước đi của thời gian và lịch sử! Những kẻ chống Cộng tới cùng (?) thời đó, những Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Hữu Nghĩa, ... đã tới tấp tấn công Nhật Tiến theo họ đã chuyển hướng theo Cộng. Thời gian chưa xa nhưng đã đủ lắng để thấy họ hiểu sai, ông có chuyển hướng là chuyển hướng về dân tộc không cần cái nhãn quốc-cộng rồi ra cũng chỉ là một thời, như di sản nặng nề năm-trăm-năm-phân-tranh! Theo Nhật Tiến thì đó là ngộ nhận hơn là bị chống đối (5).

Trong tập Cánh Cửa (1990), ông đi xa hơn, để cho nhân-vật Trường, một người tù cải tạo, thuyết phục, "cải tạo" lại tên cộng sản công an có trách nhiệm cải tạo chàng. Trường đã mở mắt tên công an này để suy nghĩ và sống thực con người. Xã hội miền Bắc đã đánh mất nhân tính. Nhận chân để tìm ra những thái độ của con người miền Bắc dù là đang thuộc thành phần ưu đãi hoặc đứng phía có sức mạnh (lãnh đạo, cán bộ, bộ đội,...) trước những thảm cảnh, thất bại của một chủ nghĩa vô nhân, của một guồng máy bạo tàn. Trong truyện Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm, người anh đại tá Việt-cộng đòi thăm em đang bị cải tạo nhưng người em không chịu tiếp. Chống Cộng ở đây không còn triệt để một sống một chết như trước, nhưng bằng ý thức mới của tình thế địa lý mới của dân tộc. Cộng trở thành đồng nghĩa với những lực lượng tàn độc, vô luân, vô văn hóa và bất nhân. Từ đó, ông đã thử đưa ra những quan điểm, đề nghị - ai trước thảm cảnh có thể làm ngơ nhất là người có tâm huyết!

Nhật Tiến đồng thời có cái nhìn phê phán miền Nam trong hơn 20 năm (1954-1975) cũng có những tiêu cực cần phải nói lên, nhận chân. Ông đã nhìn thấy "những kẻ đầu cơ, tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ, phè phỡn trên cơn thiếu thuốc men, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình...". Xã hội miền Nam đã bị "những kẻ bất tài nhưng có quyền thế thao túng chính trị, thao túng thị trường, thao túng trên cả sinh mạng của binh sĩ" – nhận chân không riêng gì của ông mà còn là của nhiều người khác!

Cũng theo Nhật Tiến, thế hệ trẻ có những suy nghĩ và ước mơ chính đáng. Hoan trong Những Sự Thực Cần Được Nói Ra là những sự thực của Hoan, một bí thư đoàn thanh niên của một trường ở miền Nam sau 1975 và là con của một lãnh đạo CS, thú với người yêu của anh ta: "Bố anh là một thành phần cao cấp trong giới lãnh đạo ở miền Bắc. Ông ấy đã được nuôi dưỡng, tôi luyện trong bầu không khí của căm thù và bạo lực. Đối với ông, căm thù và bạo lực là hai phương tiện mà ông cho rằng duy nhất có thể giải quyết mọi vấn đề trong xã hội. Từ đó, ông không thấy giá trị nhân bản của một con người. Ông chỉ tay và ra lệnh trên sinh mạng của những con người, như thế ngoài ông ra, mọi người khác chỉ là những con sâu, cái kiến (...). Anh không chịu đứng chung trong một lò như người ta vẫn nói cha nào con nấy. Và có lần anh đã nói (chỉ tiếc rằng anh đã nói một cách vô cùng hỗn xược) rằng sau chiến tranh, càng sử dụng bạo lực, càng đưa đất nước đến chỗ điêu tàn. Ông ấy đã đuổi cổ anh ra khỏi nhà và công khai từ bỏ một đứa con có tư tưởng phản động...". Nhân vật Hoan nhìn thấy hy vọng: "Anh tin chắc rằng có rất đông người trẻ đang chia xẻ những điều ước mơ của mình, dù họ là những người ở ngoài nước hay trong nước, (...). Đã qua rồi cái thời gian họ tự chấp nhận thân phận của những nạn nhân trong một guồng máy (...) những nạn nhân ấy đã biết nhìn thẳng vào những đau thương đổ vỡ, thiệt thòi, không phải để than van, khóc lóc như trước nhưng là để nung nấu cho những hành động chín mùi... như em đã biết, trời đất bỗng dưng êm ả, yên tịnh một cách dị thường, đó là dấu hiệu của những cơn bão lớn..." (6). Cho một Việt Nam mới có tự do và tình người!

Những Chuyện Bên Lề là những chuyện phi lý và bất nhân của người Việt tị nạn ở Hoa-Kỳ không nhận người đi từ miền Bắc là đồng bào, cùng là nạn nhân cộng sản. Tư, một giáo viên Sử ở Hà-Nội vượt biên tới Hương Cảng rồi được định cư ở Hoa-Kỳ, bị lạc loài, không cách gì đến gần đồng bào đi từ miền Nam, ông nghĩ "một đàng thì quả đồng hương có nhiều, nhưng họ thuộc về một cộng đồng khác, cộng đồng của những người bên kia, những người vì đã thua cuộc nên có quyền ngẩng cao đầu tự hào về dĩ vãng chính trị của mình, còn tôi thì đâu có một chỗ đứng để chen chân vào. Nói khác đi, dù tôi đã chối bỏ chủ nghĩa cộng sản để qua vùng đất mới thì cái dĩ vãng của tôi, cộng với nền nếp tôi suy nghĩ, thói quen của những từ tôi dùng, cũng đủ để cho tôi cảm thấy lạc lõng giữa đám đông và nhẹ nhàng lắm thì cũng bị coi như một kẻ đứng bên lề...". Cũng tưởng kinh nghiệm giác ngộ của ông trước đó khi thống nhất vào Nam thăm gia đình họ hàng, "cái niềm hãnh diện của một kẻ tham gia hàng ngũ đi giải phóng nó tan xèo như một que diêm", sẽ giúp ông đến gần những nạn nhân như ông, nhưng hoài công!

Đến năm truyện ngắn xuất bản chung với Nhật Tuấn, người em ở trong nước, tập truyện Quê Người Quê Nhà (7), Nhật Tiến tỏ ra mềm mại hơn và giọng văn u hoài, tiếc nuối hơn là tranh đấu. Ở đây là những cảnh đời của nhiều thành phần người Việt vì hoàn cảnh phải thiên cư ra ngoài nước.

Những Viên Sỏi Trên Đường là vợ chồng Thu-Phú đi từ 1975, Phú vẫn đấu tranh để phục hồi cái đã mất nhưng Thu muốn được sử-dụng tự do ở xứ người để đòi hỏi được tự do giúp người khuyết tật ở trong nước; một bên muốn làm cái gì bớt mặc cảm, một bên không muốn sống hết kiếp lưu vong tủi nhục!

Cái Thuở Ban Đầu tức thuở gia đình ông Bửu qua California theo chương trình H.O. đã phải va chạm những giá trị của hai thế giới. Cô giáo và hai học sinh người Việt trong ngôi trường lớn rộng nhưng lạnh lẽo tình người, trong một môi trường mà con người chỉ biết chạy theo tiền bạc bỏ rơi giáo dục con cái.

Ngày Nàng Trở Lại sau khi hai nếp suy nghĩ đã phải va chạm, gây nên những khoảng cách chua xót giữa người ở ngoài nước làm lụng cực khổ và người trong nước ỷ lại chỉ mơ đến phung phí tiền: "Quê hương không bao giờ hất hủi ai nhưng đời sống là như thế đó. Mỗi con người dù ở trong hay ở ngoài cũng đều góp phần theo một cung cách nào đó để trở nên nhìn nhau xa lạ nhưng âm thầm không ai muốn nói ra (...) Người ta đã sống với quê hương trong trí nhớ với tất cả những cảm giác được tô vẽ lên chứ không phải là quê hương bằng xương bằng thịt với những vật thể sờ sờ có thể va chạm tới được. Đó là nguyên do đổ vỡ, khi người ta lên đường trở lại chốn cũ để tìm lại những xúc cảm chất chứa đày ắp trong tâm hồn của mỗi người trong những ngày sống xa xứ..." (tr. 111, 114-115).

Hương Vị Ngày Xưa cho thấy đời sống "tự lập" bi đát của bậc cha mẹ già bên lề cuộc sống của các con đã thành gia thất.

Một thời Nhật Tiến đã bị giới truyền thông hải ngoại lên án là chủ trương ‘giao lưu văn hóa’ và ‘thiên Cộng’. Con người chiến sĩ ở ông đã trung thực đối phó và nay với thời gian và sau những lắng đọng, quan điểm vị nhân sinh của ông hình như cũng là ước muốn của hơn một người có lòng với tiền đồ đất nước và văn học. Ông tin chủ nghĩa cộng sản không thể thành công tận diệt được tình người đã là căn bản còn sót lại nơi mỗi con người dù bị tuyên truyền, nhồi sọ đến mấy, như tên cộng sản cán bộ cải tạo trong Cánh Cửa, như Năm Tỏa, Hoàng trong Mồ Hôi Của Đá, v.v. Chính những căn Thiện còn sót lại đó chứng tỏ con người lúc nào cũng là con người, và khi có dịp sẽ trồi lên bề mặt, sẽ từ đó khởi lên những đòi hỏi chính đáng cho con người dù nhỏ nhoi, căn bản. Nói chung, tác phẩm của Nhật Tiến xuất bản ở hải ngoại vẫn một nhân đạo, nhưng quyết liệt hơn, chứng tỏ ông can đảm và tin ở sứ mệnh nhà văn của mình.

°

>Cả sự nghiệp viết văn, Nhật Tiến luôn tin tưởng nơi con người, dù đó là đứa trẻ mồ côi, trẻ đánh giày, người đạp xích lô, hay một nữ tu, một trí thức, nhà văn hoặc một cán bộ, sĩ quan. Nhân vật của ông dù tuổi đời, hoàn cảnh, địa vị xã hội khác nhau nhưng tất cả đều có một niềm tin hoặc lạc quan nơi tình người và những giá trị nhân bản. Tâm hồn nhân ái của Nhật Tiến hướng thượng, tin ở đấng toàn năng sáng tạo vũ trụ hoặc có liên hệ nhân quả với con người ở trần thế. Niềm tin này mãnh liệt, bền vững. Với một cái nhìn tinh đời, hiểu biết nhưng không tàn độc.

Nhật Tiến có một ngôn ngữ trong sáng, rõ rệt, như tiếp thừa văn phong của Tự-Lực văn-đoàn - các tác phẩm đầu của Nhật Tiến được các nhà Phượng Giang, Đời Nay và Ngày Nay của Tự-Lực văn-đoàn xuất bản và ông có nhiều truyện đăng trên giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. Một lòng chân thành, với cái nhìn tinh tế, thấu suốt. Với ngôn ngữ đó, một lối hành văn đó, dù để thả hồn nhung nhớ một thời ấu thơ hay biện hộ quan điểm xã hội cấp tiến của nhà văn. Văn Nhật Tiến hiền, kết thúc vui, lạc quan hoặc tránh nói đến cái bi đát thường dễ xảy ra, và ở những cảnh tả phụ nữ, tác giả tránh đi sâu vào chi tiết sắc đẹp thể chất, hình như người nữ "hấp dẫn" nhất dưới ngòi bút của ông là chị Sinh trong truyện Kẻ Nổi Dậy ("cả một nửa người trắng như sữa", "sức nóng như muốn làm nổ tung bộ ngực đầy đặn căng lên như hai cái bình sứ", "bộ ngực của chị dính sát vào những khoảng áo ướt sũng, căng tròn như hai cái cóng sứ"). Trong các tác phẩm đã xuất bản của Nhật Tiến, người đọc tìm thấy những vấn đề lớn nhỏ của xã hội Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, nhưng sẽ không tìm thấy dấu vết của những trào lưu thời thượng như hiện sinh, tiểu thuyết mới, cả những phân-tâm mà Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Duy Lam đã thử nghiệm.

Nhật Tiến khởi nghiệp với những trẻ mồ côi, và truyện ngắn mới nhất đến với người đọc hải ngoại là một truyện về những đứa trẻ nghèo vá bánh xe đạp,  - truyện Một Vạt Nắng Xuân Trên Hè Phố, đăng trên giai phẩm Việt Tide (Xuân Nhâm Ngọ 2002) phát-hành ở Quận Cam CA, ông ghi viết tháng 12-2001. Gần đây nhất ông phiên-dịch tiểu thuyết Thân Phận Dư Thừa của Kiên Nguyễn (8), một lần nữa xác nhận tấm lòng của Nhật Tiến đối với những đưa trẻ bất hạnh, trong cái bất hạnh chung! Dĩ nhiên ông còn tiếp tục viết như vẫn thường xác nhận trong một số phỏng vấn (9)! Kinh nghiệm sống và viết của ông theo thời gian đa dạng, tế nhị hơn, nhưng cũng cương quyết hơn khi cần! Những bước tư tưởng của Nhật Tiến chứng tỏ thêm một điều rằng nghệ thuật phải đi một nhịp với thời đại, và nếu được vậy nghệ thuật mới có thể sống lâu!

Tạp chí Hành Trình năm 1964 đã làm một cuộc "Trưng cầu ý kiến bạn đọc về những tác phẩm văn học được nhiều người ưa thích nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây (1954-1964)" dự tính sẽ đăng trong số đặc biệt Nhìn lại 10 năm văn học miền Nam, nhưng chưa kịp ra thì báo ngưng xuất bản. Giáo sư Nguyễn Văn Trung mới đây thu thập những bài chưa in, cả những thư viết tay lập thành một Hồ Sơ Về Tạp Chí "Hành Trình" (10), trong đó ông công bố danh sách các tác phẩm được ưa thích nhất, về tiểu thuyết có 21 tác phẩm thì Nhật Tiến đã có 4 tác phẩm được chọn, 2 được xếp hàng đầu là Mây Hoàng HônThềm Hoang, tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn hạng 7, và Những Người Áo Trắng thứ 11. Tưởng cũng cần nói ở đây là độc-giả của tạp chí Hành Trình phần lớn là sinh viên và trí thức miền Nam lúc bấy giờ!

Nhật Tiến lúc trẻ năng nổ, hăng hái, hội viên rồi phó chủ tịch Văn Bút, phê bình sách, viết tổng kết văn nghệ, tình cảnh nhà văn, v.v. Ông tin nhà văn có sứ mạng đối với tập thể, tin ở vai trò nhân chứng. Lúc nào ông cũng tin tưởng liên hệ vững chắc giữa người viết với người đọc. Sáng tác là để được đọc, viết là đến với tha nhân. Trong một  phỏng vấn của Mai Thảo trên tạp chí Văn hải ngoại (11), Nhật Tiến tự nhận mình là một nhà giáo hơn là một nhà văn. Thời ông, Võ Hồng cũng là một  nhà giáo viết văn, sáng tác từ vị thế và kinh nghiệm của một nhà giáo, trong khi Nhật Tiến cũng hành nghề nhà giáo nhưng trong văn chương ông tự khoác thêm cho mình sứ mạng nhà giáo, như kẻ sĩ ngày xưa. Nghĩa là không làm chính trị theo nghĩa đảng phái, chế độ hay chủ nghĩa. Chính ông có lần thú nhận thời viết Thềm Hoang (1958-1961), ông đã có cái nhìn hạn hẹp khi nghĩ rằng "công việc cải tạo xã hội không thuộc vào trách nhiệm của người cầm bút, nó thuộc về lãnh vực của những chính trị gia hay những nhà lãnh đạo đương quyền..." (12). Các tác phẩm của ông trong suốt hơn 40 năm đã chứng minh điều đó, rằng Nhật Tiến có một sứ điệp, có một ước vọng chân thành! Những thị phi, chụp mũ đã và sẽ rơi vào quên lãng của dư luận, nhưng tác phẩm và ý tưởng, chân tình của ông sẽ còn sống lâu hơn! Nhật Tiến thuộc lớp nhà văn làm văn hóa với quan niệm văn hóa như là một phương tiện chứng minh sự hiện hữu cao quý của con người trong lịch sử. Trong một phát biểu ra mắt tập truyện Một Thời Đang Qua tại Washington DC, ngày 11-10-1985, Nhật Tiến cho biết "văn hóa không thể vùi dập con người mình dưới những lằn roi của sự cực đoan, một chiều, mà trái lại nâng cao giá trị của con người, vạch rõ thực trạng đớn đau, tủi nhục, để trang bị cho con người một nhận thức mới, ở đó con người nhìn ra thân phận bị trị của mình, biết phẩn nộ trước sự phi lý về nông nỗi con người đã bị khai thác triền miên trong bao nhiêu năm ròng bởi một thiểu số đày tham vọng và quyền lực mà không biết đứng dậy làm một cuộc cách mạng mới giải phóng chính mình" (13). Chính tập truyện Một Thời Đang Qua và bài phát biểu này khai mở khuynh hướng gọi là "hòa hợp hòa giải dân tộc", sau đó hơn sáu năm, tạp chí Hợp Lưu ra mắt (1-10-1991) và Nhật Tiến tham gia ban chủ biên!

Thế giới tiểu thuyết của Nhật Tiến là cánh cửa mở rộng chân trời để con người sống với hy vọng, sống xứng đáng với đồng loại và lịch sử!

NGUYỄN VY KHANH

3-1998; 12-2001

Chú-thích

  1. Nhật Tiến. Chim Hót Trong Lồng (San Jose CA: Ngàn Lau tb, 1984), tr. 47.
  2. Nhật Tiến. Thềm Hoang. (Westminster CA: Văn Nghệ tb, 1989), tr. 23.
  3. Trích theo Nguyễn Hưng Quốc. "20 năm văn học Việt Nam ở hải ngoại" In. 20 Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995 (Glendale CA: Đại Nam, 1995), tr. 18.
  4. Lời Tác Giả. Mồ Hôi Của Đá (Arlington VA: Cành Nam, 1988), tr. 11-12.
  5. Hợp Lưu CA, 17, 6-7/1994, tr. 208.
  6. Nhật Tiến. Cánh Cửa (Tustin CA: Thời Văn, 1990), tr. 45.
  7. Quê Người Quê Nhà. Tp HCM: NXB Văn Học, 1994. 200 tr.
  8. Thân Phận Dư Thừa do Việt Tide (Westminster CA) xuất bản 2001. Nguyên tác The Unwanted của Kiên Nguyễn. Trong bài phát biểu của Nhật Tiến nhân buổi ra mắt sách tại Quận Cam ngày 9 tháng 2-2002, ông cho rằng tác giả Nguyễn Kiên - được dịch ra 19 thứ tiếng khác nhau, "đã nói với hàng triệu độc giả trên khắp thế giới lý do tại sao hàng triệu người Việt-Nam đã bỏ nước ra đi sau khi quân đội cộng-sản tiến chiếm miền Nam. (...) (Nguyễn Kiên) đã làm một công việc đầy ý nghĩa với tất cả tấm lòng nhân ái, đầy ắp cảm thông đối với nỗi niềm thống khổ của biết bao nhiêu con người đã sinh ra trong hoàn cảnh trớ trêu, trở thành những thân phận dư thừa, bị ruồng bỏ" (Việt Tide, 31, 15-2-2002, tr. 44).
  9. "Phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến". Văn Học CA, 100, 8-1994, tr. 66; Nguyễn Vạn Hùng. Việt Nam Qua Lăng Kính 24 Nhân Vật Thời Đại (Los Angeles CA: Thời Luận, 1996), tr. 35-42.
  10. Hồ Sơ Về Tạp Chí "Hành Trình" 1964-65. Montréal: Nam Sơn, 2000, tr. 31-33.
  11. Văn CA, 6, 12-1982.
  12. Nhật Tiến. "Chuyện trò, tản mạn với bạn đọc về công việc sáng tác cuốn Thềm Hoang". Văn Học CA, 170, 6-2000, tr. 7.
  13. Nhật Tiến. "Một suy nghĩ của người cầm bút lưu vong". Quê Mẹ (Paris), 68, 11-1985.

Chương 2

Đinh Quang Anh Thái Báo Người Việt Phỏng Vấn Nhật Tiến

Chương 3

Mạn đàm với

Nhà văn Nhật Tiến

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2012-05-09

 

Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Ông bắt đầu sáng tác từ những năm 50 của thế kỷ 20.

Ảnh do tác giả gởi

Năm 1951, truyện ngắn đầu tay của Nhật Tiến là "Chiến nhẫn mặt ngọc" được đăng trên tờ Giang Sơn. Đây là tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trên báo.

Sau 1951, Nhật Tiến cộng tác với tạp chí Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh. Ngoài ra, ông còn viết cho các báo Tân Phong, Văn, Bách khoa, Văn Học, Đông Phương. Ông làm chủ bút tuần báo Thiếu Nhi từ năm 1971 cho tới 1975 do nhà sách Khai Trí xuất bản.

Năm 1954, ông di cư vào Nam, đầu tiên sống tại Đà Lạt. Hoạt động của ông trong thời gian này là viết kịch cho Đài phát thanh sau đó về Sài Gòn dạy học tại các trường tư thục.

Ông viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, kịch. Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là Những Người Áo Trắng, Chim Hót Trong Lồng, Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Giấc Ngủ Chập Chờn.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh đã viết về ông :

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến : nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hôi, nhà văn của lưu lạc xứ người, mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo..

Chúng tôi có cuộc mạn đàm ngắn với nhà văn trong những ngày cuối tháng 4 sau đây, mời quý vị theo dõi:

Truyện "Chim hót trong lồng" của Nhật Tiến.

 Kỷ niệm thời thơ ấu

Mặc Lâm : Trước tiên xin cảm ơn nhà văn Nhật Tiến đã dành cho chúng tôi buổi nói chuyện thân mật ngày hôm nay. Thưa ông, có thể nói tác phẩm đầu tay "Những người áo trắng" đã được xuất bản rất lâu, và từ tác phẩm này nói về những dòng tu kín ở Việt Nam dẫn tới tác phẩm "Chim hót trong lồng" cũng là một câu chuyện bên trong phạm vi bốn bức tường của nhà dòng, xin ông cho biết nguyên cớ nào mà ông thích viết về bốn bức tường trắng của nhà tu kín như vậy?

Nhà văn Nhật Tiến : Dạ vâng. Cảm ơn anh đã nhắc đến hai tác phẩm gần như là loại đầu tay của tôi. Cuốn "Những người áo trắng" thì tôi sáng tác vào khoảng năm 1955 hay 1956 gì đó. Đấy chỉ là một kỷ niệm của tôi vào thời còn sinh sống ở Hà Nội, khi đó tôi là một hướng đạo sinh.

Quý vị đã biết rằng hướng đạo sinh thì thường hay đi làm các công tác từ thiện, làm những việc gọi chung là giúp ích. Đoàn của tôi cũng làm những công việc như mùa đông thì chúng tôi thường hay đẩy những xe bò đi các đường phố ở Hà Nội để quyên góp quần áo của bà con trong thành phố rồi đem giúp cho những người nghèo. Hoặc giả chúng tôi tình nguyện đứng ở đầu phố Hàng Trống hoặc là Hồ Gươm để bán những cuốn sách của những tác giả thời đó, thí dụ như vở kịch của kịch sĩ Văn Thuật mà tôi còn nhớ, thì tiền tác quyền của kịch sĩ Văn Thuật mà bán được thì lại cho vào một quỹ để đem giúp đồng bào bão lụt hay người nghèo thời đó.

Một công tác khác về vấn đề từ thiện là chúng tôi hay lui tới ở cái trại mồ côi, và trại mồ côi đó bây giờ gọi là đường Nguyễn Thái Học, nhưng hồi đó gọi là đường Hàng Đẫy rồi đi sâu xuống Phố Hàng Bột. Có một trại mồ côi mà chúng tôi hay lui tới sinh hoạt ở đó. Và chính thời gian tôi sinh hoạt ở trại mồ côi này thì hình ảnh những người áo trắng như trẻ mồ côi mặc quần áo trắng, những bức tường trắng và những cô thiếu nữ ở viện mồ côi lớn tuổi hơn trông nom đàn em nhỏ đã gây cho tôi nhiều xúc động. Và sau này khi sáng tác tác phẩm dài đầu tay thì tôi đã dùng hình ảnh ở trại mồ côi đó để viết cuốn "Những người áo trắng".

Mặc Lâm : Mọi người đều công nhận ông là một nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, đặc biệt là tác phẩm "Chim hót trong lồng" viết về một cô bé rất cảm động. Từ những nỗi niềm của cô bé đó, ông mang theo trong những chuyến vượt biên sau này… có một sự dính líu nào đó trong những hoàn cảnh của những người vượt biên, chắc chắn ông đã gặp những cô bé bất hạnh trên đường đi, ông có liên tưởng đến nỗi bất hạnh mới từ cô bé trong "Chim hót trong lồng"…?

Nhà văn Nhật Tiến : Theo tôi thì sự liên tưởng từ cô bé trong "Chim hót trong lồng" đến những cô bé vượt biên thì đó là sự liên tưởng hơi quá xa, bởi vì "Chim hót trong lồng" tôi viết từ thập niên 1960 mà chuyện vượt biên thì mãi sau ngày 30-4-1975, thành ra tôi nghĩ rằng nếu tôi viết cuốn ‘Chim hót trong lồng" thì cũng là dư âm của những hình ảnh đọng lại trong tâm tưởng của tôi khi tôi viết "Những người áo trắng".

"Chim hót trong lồng" tập truyện bị từ chối

Khi tôi sáng tác truyện "Chim hót trong lồng" thì nó cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ lắm, thành ra tôi viết rất là lẹ, có lẽ cũng là nguồn cảm xúc của tôi trong suy nghĩ về những em bé mồ côi, nhất là những buổi chiều mùa thu ở Hà Nội mà nhìn ra trời đầy mây xám với những cành cây trơ trọi, mà các em lại không có ba mẹ nào đến đón ra ngoài cả, nên có nhiều cảm xúc lắm.

Cuốn "Quê Nhà, Quê Người" và cuốn Tay Ngọc
của Nhật Tiến

Tôi viết trong vòng hơn một tuần là xong cuốn sách đó. Lúc bấy giờ tôi gửi cho nhà văn Nguyễn Thị Vinh làm chủ nhiệm tạp chí Tân Phong để đăng thì chị Vinh ngần ngại, chị thấy nó hơi dài, có thể là vì một phần nó hơi dài cho Tân Phong vốn là một tạp chí nên nó chiếm nhiều chỗ quá và thứ hai có thể là cái đề tài đó chị Vinh không thích, thành ra khi đưa bản thảo đó cho chị Vinh thì chị từ chối.

Tôi thấy hồi đó mình cũng mới viết mà nên nghĩ nó không có giá trị gì nên tôi cất đi. Đến một thời gian sau thì anh Trần Phong Giao, tôi nhớ hồi đó ảnh xin ra tạp chí Văn, chắc là vì vấn đề tài chính hay sao đó mà đến lúc giấy phép sắp hết hạn ra báo vẫn chưa đủ tài chính để ra một tờ báo đàng hoàng. Ảnh đến nhà tôi ảnh bảo: "Cậu có truyện nào không? Nó vừa vừa thôi để in trong một xấp giấy để tôi giữ cái giấy phép của tờ Văn." Tôi bảo: "Tôi có cái truyện vừa vừa mà chị Vinh đã từ chối đấy. Cậu có lấy thì lấy."

Tôi đưa truyện "Chim hót trong lồng’ và quả nhiên là anh Trần Phong Giao cho in trong cuốn Văn số 1 .Cuốn Văn đó thật sự ra nó gần như là một cuốn chưa hoàn chỉnh lắm, nhưng vì giấy phép sắp hết hạn cho nên ảnh đưa vào.

(Ghi chú thêm của Nhật Tiến: Bản Văn Số 1 này chỉ có 1 truyện Chim Hót Trong Lồng, và chỉ là bản vỗ morasse đem nạp bản để giữ giấy  phép - Sau này, khi đầy đủ bài vở thì VĂN  Số 1 chính thức phát hành ngày 1-1-1964 đã là một số báo hoàn thiện, trong có các bài theo thứ tự  của  Nguyễn Mạnh Côn,  Nhật Tiến,  Lê văn Siêu, Mai Thảo, Hồ Hữu Tường, Đỗ Tấn, François Sagan…..).

Đó là một kỷ niệm. Vâng. Nhưng không ngờ truyện đó được rất nhiều thế hệ độc giả tiếp đón. Có thể nói là trước sau tôi in tất cả mười bốn – mười lăm lần tái bản cuốn "Chim hót trong lồng".

Mặc Lâm : Bên cạnh "Chim hót trong lồng" một tác phẩm khác cũng làm cho người ta chú ý nhiều lắm, mà đặc biệt là chính quyền Hà Nội trước đó đã chú ý rất là nhiều và họ lên án cuốn này dữ dội, đó là cuốn "Giấc ngủ chập chờn" . Ông có thể nói sơ một chút về tác phẩm này được không?

Nhà văn Nhật Tiến : Ồ! Cuốn "Giấc ngủ chập chờn" tôi sáng tác vào giữa thập niên 1960,  lúc bấy giờ cuộc chiến ở Việt Nam cũng dữ dội lắm, tràn lan khắp mọi miền. Tôi viết về hoàn cảnh của một vùng xôi đậu. "Xôi đậu" có nghĩa là một nửa xôi một nửa đậu, tức là một vùng tranh tối tranh sáng. Ban ngày thì do quốc gia kiểm soát, nhưng ban đêm thì do bên kia, thành ra dân chúng sống trong vùng đó thì gia đình rất là phân tán, có anh em thì theo bên này, có anh em thì theo bên kia, và họ chết đi vì cuộc chiến.

Cả đám thanh niên và con nít ở cái làng đó họ thân thiết với nhau và sống trong thanh bình lắm. Nhưng đến lúc cuộc chiến tràn về thì anh em giết nhau, hàng xóm đồng bào giết nhau, gây ra thảm cảnh đau khổ trong cuộc chiến. Tôi viết tất cả những hoàn cảnh đó và với cái nội dung như vậy thì chế độ mới đánh giá cuốn đó là cực kỳ phản động vì nó tố cáo một sự thực là không phải Mặt Trận Giải Phóng Mền Nam là do quần chúng bất mãn chế độ mà nổi dậy. Tôi thấy sự thực không phải như vậy thành ra chế độ cộng sản họ lên án.

Mặc Lâm: Chế độ cộng sản lên án tác phẩm này nhưng sau đó theo chúng tôi biết cũng có một tác phẩm in chung với Nhật Tuấn được một nhà xuất bản trong nước in. Ông có thể cho biết sự thực như thế nào không?

Sự thực về cuốn "Quê nhà, quê người"

 Nhà văn Nhật Tiến : Vâng. Đó là cuốn "Quê nhà, quê người". Cuốn sách này gây sóng gió và bị dư luận hải ngoại chống đối rất nặng nề, nhưng thực sự là như thế này. Quan điểm của tôi trong thời điểm vào khoảng đầu thập niên 1990, tức là sau khi phong trào văn nghệ phản kháng ở trong nước đã phát động thì tôi hy vọng rằng anh em cầm bút ở hải ngoại có thể tiếp sức với những anh em cầm bút phản kháng ở trong nước để có thể làm nên một cuộc kết nối với nhau, tìm ra một con đường hỗ trợ cho nhau trong công việc đòi hỏi tự do – dân chủ cho đất nước. Đó là quan điểm của tôi khi tôi nghĩ rằng làm những công việc hỗ trợ những người cầm bút ở trong nước, vì những người đó là những người chống đối chế độ, chứ không phải tôi chủ trương giao lưu với chế độ, bởi vì chế độ này là một thứ cường quyền, và tôi không bào giờ chủ trương hợp tác với cường quyền hết, bởi vì cái chế độ đó đẻ ra bao nhiêu là tham nhũng, bất công, mất tự do, mất dân chủ.

Tôi đã bỏ nước ra đi, đời nào tôi làm cái chuyện giao lưu với họ. Nhưng mà những người cầm bút ở trong nước đứng trong hàng ngũ văn nghệ phản kháng, đứng trong hàng ngũ những người đòi hỏi tự do cầm bút của mình, thì chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ. Và tôi hợp tác với Nhật Tuấn trên quan điểm đó. Lúc bấy giờ Nhật Tuấn đang làm nhà xuất bản Văn Học ở trong nước và cậu ấy cũng đã là một cây bút nổi tiếng từ trước năm 1975. Cậu ấy đề nghị là "Bây giờ anh em mình hợp tác in chung một cuốn. Anh viết những chuyện xảy ra ở hải ngoại và em viết những chuyện xảy ra ở trong nước. Những chuyện xảy ra ở hải ngoại thì gọi là "Quê người", và những chuyện ở trong nước thì gọi là "Quê nhà". Đó là tên truyện "Quê nhà, quê người" ra đời trong hoàn cảnh đó.

Tôi gom một số truyện đã viết ở hải ngoại và được đăng rất nhiều trên báo chí ở hải ngoại và đưa cho Tuấn, thì Tuấn in ra thôi, chứ hoàn toàn không có một chính sách, một chủ trương hay một kế hoạch nào tiến hành trong việc giao lưu mà có lợi cho cộng sản cả.

Nhân dịp này tôi cảm ơn anh Mặc Lâm đã dành cho tôi cơ hội để tôi có thể nói rõ hơn một lần về cuốn sách "Quê nhà, quê người" này.

Mặc Lâm : Thưa, một câu hỏi cuối cùng. Thưa ông, cũng hơn 60 năm cầm bút ông là cây viết có thể nói rất là kỳ cựu kể từ khi nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh hoạt cho tới ngày nay và vẫn còn sáng suốt, vẫn còn mạnh khỏe và vẫn còn có thể sáng tác được….

Nhà văn Nhật Tiến : Cảm ơn anh.

Mặc Lâm : Thưa ông, điều còn đọng lại nơi ông duy nhất hiện nay mà ông muốn chia sẻ với thính giả nói chung là điều gì ạ ?

Nhà văn Nhật Tiến : Vâng. Xin cảm ơn anh Mặc Lâm, trước tiên tôi xin được cải chính một chút ít. Đối với Tự Lực Văn Đoàn thì là những bậc trưởng thượng và đi trước tôi rất là xa, và tôi không dính líu gì đến sự nghiệp của Tự Lực Văn Đoàn cả. Tôi chỉ là một hậu duệ, một độc giả đọc Tự Lực Văn Đoàn mà thôi.

Còn đặt vấn đề những năm cuối của sự nghiệp – nếu có thể gọi là sự nghiệp – 60 năm cầm bút của tôi như anh Mặc Lâm hỏi là còn đọng lại những điều gì nhất thì phải nói ngay thế này, là tôi rất đau buồn khi nhìn thấy cái khung cảnh sinh hoạt chữ nghĩa ở hải ngoại này nó có nhiều ngòi bút quấy hôi bôi nhọ nhiều quá. Nếu anh chịu khó vào những trang web trên Net hoặc đọc một số báo, thì anh thấy nhiều cây bút đã lạm dụng sự tự do ở xứ sở này để viết nên những bài không còn đúng nghĩa là chữ nghĩa nữa. Nó quấy hôi bôi nhọ, nó làm cho nhếch nhác bộ mặt văn học hải ngoại. Khi tôi nghĩ tới điều đó thì tôi rất đau buồn và có lẽ rằng tôi sẽ phải làm cái việc cuối đời tức là góp phần dọn dẹp cho sạch sẻ cái môi trường chữ nghĩa từ lâu bị quấy hôi bôi nhọ như thế này.

Mặc Lâm : Dạ vâng. Một lần nữa xin cảm ơn nhà văn Nhật Tiến đã dành cho thính giả của Đài Á Châu Tự Do một buổi nói chuyện rất là thú vị với nhiều chi tiết như thế này. Xim cảm ơn ông.

Nhà văn Nhật Tiến : Cảm ơn anh Mặc Lâm. Kính chào quý thính giả của Đài Á Châu Tự Do.

Nguồn :Radio Free Asia3

Chương 4

Anh Thiện ơi ! Hãy ngơi nghỉ  !

NHẬT TIẾN

 

Sáng ngày 2 tháng 10-2012, tôi vào internet đọc Người Việt online thì sửng sốt thấy bản tin "Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bệnh nặng" với một vài chi tiết như sau :

" Sáng sớm ngày Thứ Tư 26 Tháng Chín 2012, ông cảm thấy ngộp thở nên được đưa gấp vào bệnh viện. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện. Tuy nhiên, những tin tức cho đến sáng ngày Thứ Hai 1 Tháng Mười 2012 thì xét nghiệm mẫu phổi chưa rõ ràng để kết luận là ông bị ung thư hay không trong khi ông vẫn thấy đau và cần thuốc giảm đau. Mấy ngày đầu, ông nói rất khó, không ra lời, nhưng nay đã có thể nói tương đối dễ dàng."

Nhưng rồi bản tin lại cho biết :

"Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ."

Tôi hoảng hốt vì nếu nhà thơ đã nhận phép xức dầu Thánh như thế thì tình hình nguy ngập mất rồi. Tôi hết sức đau buồn khi anh Nguyễn Chí Thiện đã nằm trong bệnh viện hơn cả tuần nay rồi mà tôi không hề hay biết để có cơ hội vào thăm anh.

Thế rồi, sáng nay 2 tháng 10, XNV Nhã Lan gọi cho tôi thông báo là nhà thơ vừa mất. Tin đau thương này do nhà báo Đinh Quang Anh Thái text qua điện thoại cho Nhã Lan vì Thái đang đi công tác ở miền Đông. Rồi cũng một lát sau, chính nhà báo Đinh Quang Anh Thái gọi cho tôi khi anh đang còn trên một chuyến xe Bus từ Philadelphia về Washington DC. Anh xác nhận tin nhà thơ đã mất và cho hay báo Người Việt sẽ ra số đặc biệt về nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Anh cũng đề nghị tôi viết một bài cho số báo đặc biệt này. Đây là lý do tôi ngồi khởi thảo ngay những dòng chữ này, trong lòng còn vô cùng xúc động khi nghĩ đến sự thật đau lòng : "Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã không còn nữa" và càng đau buồn hơn khi tôi đã không có cơ hội được nhìn anh lần cuối khi anh đang hấp hối trên giường bệnh.

Thái có bảo tôi bài viết chỉ cần độ 1.000 chữ thôi. Tuy ngắn ngủi vậy, nhưng tôi biết viết gì đây, khi mà toàn bộ cuộc đời đầy gian nan và khổ ải của nhà thơ đã được mọi phương tiện truyền thông đề cập tới trong suốt vài chục năm qua với những nội dung đầy đủ về cuộc đời cũng như tác phẩm, trong đó vui ít, buồn nhiều, nhất là trong những thời gian anh bị nhục mạ, vu khống, cáo gian và vấy bùn lên cả cuộc đời lẫn sự nghiệp thơ, văn sáng chói của anh.

Về tác phẩm của Nguyễn Chí Thiện, tôi có tạm đầy đủ, cả Truyện  (Hỏa Lò - Tổ hợp xuất bản miền Đông-2001) lẫn Thơ.

Riêng về thơ, tuy tôi không còn giữ được ấn bản đầu tiên mang tên "Tiếng Vọng Từ đáy vực" do Thời Tập in vào tháng 9-1980, nhưng tôi có bản in 1 tháng sau đó, tức tháng 10-1980 với tựa " "Bản Chúc Thư của Một Người Việt Nam" do báo Văn Nghệ Tiền Phong ấn hành . Trong cả 2 ấn bản kể trên, chưa một ai biết tên tác giả, đến nỗi có nhiều người, khi cần nêu tên tác giả thì đành phải lấy cái tên nghe rất ngộ,  là "ngục sĩ".

Cho đến tháng 11 năm 1995, Nguyễn Chí Thiện sang được miền đất tự do, độc giả mới biết ông là tác giả của tập thơ nói trên, mà tên chính thức của nó ngay từ dạng bản thảo đã là "Hoa Địa Ngục"  (Fleurs de L’enfer). Tập này do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông in năm 2006 rất trang trọng và đầy đủ, gói trọn "ba mươi năm thơ" là  bốn chữ mà chính tác giả viết ra  khi ký tặng tôi một bản.

Dù đã nghiền ngẫm rất nhiều bài thơ của Nguyễn Chí Thiện, nhưng tôi không hề bỏ qua một chương trình on air nào ghi lại những cuộc đàm thoại về Thơ giữa Đinh Quang Anh Thái và Nguyễn Chí Thiện được phát trên đài Little Saigon Radio từ nhiều năm trước đây. Riêng đối với tôi, đọc thơ của Nguyễn Chí Thiện đã thấy hay, nhưng phải nghe được chính anh diễn tả bài thơ và phân tích nội dung thì mới thấy hết được cái thế giới hãi hùng đã bao phủ lên cuộc đời khốn khổ của anh trong suốt 27 năm bị cầm tù trong chế độ CS. Có thể nói, không một buổi phát thanh nào về cuộc đàm thoại này mà khi nghe tôi không ràn rụa nước mắt.

Về chuyện đời thường, thỉnh thoảng tôi có tới nhà anh Nguyễn Chí Thiện ở đường Flower, thành phố Santa Ana,  khu building 11 tầng dành cho những người có lợi tức thấp, để chở anh đi dùng chung một bữa cơm trưa ở vùng Little Saigon.

Hai nơi mà chúng tôi hay lui tới là quán Nguyễn Huệ và nhà hàng Song Long, ở cùng trên một con đường. Thời gian ngắn ngủi cho một bữa trưa, thế mà cũng đủ cho chúng tôi trao đổi được những thông tin cần thiết về sức khỏe, về đời sống hằng ngày,  và cả về công việc của nhau đang tiến hành . Đấy là những giây phút ấm áp mà tôi tìm được ở nơi anh, và những phút trầm ngâm ở bên cạnh tôi trên đường tôi lái xe chở anh về, hẳn anh cũng nhận biết được như thế.

Nhân đã viết bài về anh, tôi tìm thêm được tấm hình mới nhất, chụp chung với anh ở ngoài cửa quán ăn Nguyễn Huệ vào tháng 4-2012.  Nom anh vẫn giữ phong độ trầm tĩnh, tự tin nhưng cũng trĩu nặng những tâm tình u uất. Mà không u uất sao được, khi mà cuộc đời sau 27 năm bị vùi giập trong chốn lao tù CS, tưởng qua đến bên này sẽ chỉ gặp toàn những tình nghĩa, tình người. Nhưng hỡi ơi, anh đã lại bị vùi giập tiếp bằng những luận điệu giả trá, xuyên tạc…không chỉ một lần mà nhiều lần, không chỉ thu gọn trong một khoanh báo mà um sùm, nhốn nháo.

Tuy nhiên, anh cũng biết rõ đấy chỉ là thiểu số. Còn những người  quý anh, trọng anh, kể cả nhớ ơn anh về những đóng góp của anh trong lãnh vực thi ca thì là số rất đông, nhất là đa số thầm lặng.

Cho nên, tôi hy vọng là anh đã từ giã cõi đời hệ lụy này với một tâm trạng an bình và tha thứ.

Lịch sử Việt Nam sẽ mãi mãi ghi tên tuổi của anh.

Và trong lòng mọi người thân quen hẳn sẽ ghi nhớ mãi mãi hình bóng của anh,  một vì sao trên trời đi lạc xuống bể trầm luân và nay đã tìm thấy đường trở lại cõi bình an vĩnh hằng.

Vậy, anh Thiện ơi ! Hãy ngơi nghỉ nhé  !

 Garden Grove ngày 2-10-2012
Nhật Tiến