vietmessenger.com


Tú Mỡ

Giòng Nước Ngược - Tập I





MỤC LỤC

"Điếu" đức tụng
"Phở" đức tụng
Ông cụ non
Ông nghị đi hội đồng về
Bài phú "thầy phán"
Bầu cử
Bốn lần đi thi
Chồng gàn
Duyên con vồ
Giầu và nghèo
Hồ Gươm phú
Hư danh
Khai bút rông
Khuyên ai kén vợ
Kiệu bay
Kinh tế khủng hoảng phú
Mề đay
Mỡ mà chẳng... mỡ
Mười thương
Nhắn nhủ ông nghị
Phụ bạc
Quan phán
Tú Mỡ với Quan Ôn
Tủi cho bà Tú Mỡ
Tự thuật
Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu
Vợ chồng đời nay
Văn tế bảo hộ
Xoay hòn đất


TỰA
VĂN BÁC HỌC VÀ VĂN BÌNH DÂN

Cũng như nhiều nền văn minh cổ kim, văn chương nước ta có rõ rệt hai giòng: Giòng bác học và giòng bình dân.

Giòng bác học, ta có thể ví với con sông, hai bên bờ có đê kiên cố để làn nước không tự do tràn ra đồng bằng được, phải lặng lẽ theo lòng sông mà chảy thẳng ra biển. Chỗ nào ngòng ngoèo quá thì người ta đào lạch cho nước thông mau, chỗ nào nông quá thì người ta khơi sâu thêm cho nước dễ thoát.

Trái lại, giòng bình dân chỉ ví như cái suối chảy trong vùng đồi núi hoang vô, quanh co, lượn khúc cạnh rừng lau mọi rợ hay bên bờ rậm dầy cỏ sắc hoa dại, có khi thì thầm róc rách trong khe, có khi ầm ầm đổ xuống thành ngàn thành thác, lại có khi gặp tảng đá lớn ngáng giữa giòng, hung tợn vọt ngược lên cao.

Đê và lạch đối với con sông, cũng như, đối với nền văn chương bác học những luật lệ qui tắc nhất định mà các văn nhân đạo mạo tự bắt buộc phải theo. Ở nước ta, tuy không có những sách văn pháp như ở bên Thái Tây, song đời đời người ta cứ lề lối cũ của Tàu mà bắt chước, không hề dám suy suyển. Văn sách, kinh nghĩa phải thế nào, thi phú, từ khúc phải thế nào, đặt câu bằng bằng trắc trắc ra sao, làm bài phá thừa luận kết ra sao, nhất nhất không dám mảy may thay đổi.

Văn chương bình dân thì chẳng mấy khi theo luật lệ qui tắc. Khi nào miễn cưỡng theo, cũng hục hặc phá phách như con ngựa bất kham, vì dùng vần thất niêm thất luật be bét, dùng chữ và tiếng sai nghĩa lung tung. Song, chính nhờ đómà nền quốc văn đã có lắm chữ mới và lối văn mới đặt rất bạo, thí dụ như những thổ ngữ, những thi ca lục bát, song thất lục bát, tứ tự, cùng là các lối vè có vần ở giữa câu.

Về hình thức thì thế, mà về ý tưởng cũng vậy. Trong văn chương bác học, ta thấy đầy những điển tích chép nhặt trong các sách Tàu. Trong một bài diễn văn, ông Lê Dư đã bênh vực cho nền văn bác học bằng một câu rất có ý nghĩa: "Văn không có điển tích không phải là văn". Nào chỉ có điển tích. Văn chương bác học nước ta lại còn phải ở trong khuôn phép thánh hiền, không bao giờ được vượt ra ngoài những tư tưởng luân lý, như tam cương, ngũ thường.

Không dùng điển tích, không hề đạo mạo, đó là hai tính cách cốt yếu của văn chương bình dân. Và tuy cũng theo luân lý cổ nhưng văn chương bình dân xiết bao giản dị với những tính tình chân thành, với những nguyện vọng thiết thực. Khi bọn bình dân gặp một sự gì trái ngược với tính tình và nguyện vọng của họ, họ liền mạnh bạo thốt ra những lời văn oán trách chẳng chút rụt rè che đậy bằng những ý tứ mập mờ, bóng bảy, cao xa. Ta hãy nghe bài hát sau này của một người đàn bà nhà quê, về thời vua Minh Mệnh:

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang
Có quần ra quán bán hàng
Không quần đứng nấp đầu làng trông quan

Lời văn thành thực giản dị mà táo bạo và ngộ nghĩnh ấy, không hề thấy có trong văn chương bác học, tuy văn chương bác học cũng nhiều khi nhiễm tư tưởng trào phúng, - cái trào phúng nặng nề đầy điển tích và nhút nhát rụt rè đối với kẻ có quyền thế.

Vì vậy, muốn biết tập quán, phong tục trong dân về thời nào, không gì bằng đọc văn bình dân, nghĩa là những ca dao tục ngữ của thời ấy: Đó là những cái gương phản chiếu tính tình và nguyện vọng của cả một thời đại. Hát một câu ca dao hay, ta biết cổ nhân vui hay buồn, sung sướng hay khổ sở. Ta ngậm ngùi rằng tác giả không để tên để tuổi lại hậu thế. Song đó cũng là một tính cách bình dân: Sống không để ai biết đến, có danh vọng cũng không cần ai hay. Những áng văn vô danh kia, đời đời ta truyền khẩu cho nhau, không bao giờ để mai một đi, như thế cũng đủ làm hài lòng bọn bình dân rồi, vì họ đã lưu được lại cái linh hồn chân thật của cả một nòi giống.

Song tuy thế mà thỉnh thoảng ta vẫn thấy một vài tác giả có chân tài trong phái bình dân. Đó là một sự rất hiếm trong văn giới nước ta, vì bọn học giả mình thường chỉ biết ngày xưa theo văn Tàu, ngày nay theo văn Tây, - có khi theo một cách nô lệ, - mấy ai đã lưu ý đến văn chương bình dân.

Mà thực ra thì ta vẫn khao khát được đọc văn bình dân, ta vẫn quý trọng các nhà văn bình dân. Cô Hồ Xuân Hương tuy lẳng lơ nhưng vẫn được ta yêu tài và truyền tụng những bài thơ cợt nhả. Vì cô là một nhà văn bình dân. Ông Tú Xương tuy mỉa đời mà vẫn được đời kính mến. Vì ông là một nhà văn bình dân. Và ngày nay Tú Mỡ tuy tinh nghịch đùa bỡn, chế nhạo mà vẫn không mấy người ghét được. Vì Tú Mỡ cũng là một nhà văn bình dân.

So sánh Tú Mỡ với ông Tú Xương và cô Xuân Hương, hẳn có người cho là hơi quá, vì họ thấy hai bậc văn hào kia tuy viết văn giản dị song đều ở trong phái nho học, còn Tú Mỡ thì lại là một nhà Pháp học. Nhưng văn bình dân không cần cỗi rễ ở đâu hết, quý hồ tả được tính tình và cốt cách của cả một dân tộc là đủ rồi.

Mà văn Tú Mỡ thì cũng như văn ông Tú Xương, văn cô Hồ Xuân Hương, cũng như những câu ca dao tục ngữ, quả thực hoàn toàn có tính cách An Nam.

Khái Hưng
ngày 25 tháng 9 năm 1934


Đề tặng

Ít lời lẽ ngang phè
Mấy vần thơ lỗ mỗ
Tặng anh Nguyễn Tường Tam
Ðáp tấm ơn tri ngộ

Ngày 27 tháng 5 năm 1934
Tú Mỡ


° ° °

 


"Điếu" đức tụng

Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc tuý
Còn thú vị nào hơn thú vị yên vân!
Từ vua, quan, đến hạng bình dân,
Ai là chẳng bạn thân với điếu...
Từ ông thừa, trở lên cụ thiếu,
Đi ngoài đường, phi điếu bất thành quan.
Ngồi công đường, vin xe trúc nghênh ngang,
Hút mồi thuốc, óc nhà quan thêm sáng suốt.
Nhà thi sĩ gọt câu văn cho chuốt,
Tất phải nhờ điếu thuốc gọi hồn thơ.
Lại những khi óc mỏi, mắt mờ,
Nhờ điếu thuốc mới có cơ tỉnh tớm...
Dân thuyền thợ thức khuya, dậy sớm,
Phải cần dùng điếu đóm làm vui.
Khi nhọc nhằn lau trán đẫm mồ hôi,
Vớ lấy điếu, kéo một hơi thời cũng khoái.
Dân cày cấy mưa dầm, nắng dãi,
Bạn tâm giao với cái điếu cầy.
Lúc nghỉ ngơi, ngồi dưới bóng cây,
Rít mộì thuốc, say ngây say ngất.
Rồi ngả lưng trên đám cỏ tươi xanh ngắt,
Dễ thiu thiu một giấc êm đềm.
Bạn nhà binh canh gác thâu đêm,
Nhờ điếu thuốc mới khỏi lim dim ngủ gật.
Nội các thức say sưa nghiện ngập,
Ngẫm mà coi, thú nhất thuốc lào.
Nghiện thuốc lào là cái nghiện thanh tao,
Chẳng hại tiền của, mà chẳng hao sĩ diện.
Chốn phòng khách, anh em khi hội kiến,
Có thuốc lào câu chuyện mới thêm duyên.
Khi lòng ta tư lự không yên,
Hút mồi thuốc cũng giải phiền đôi chút.
Nghe tiếng điếu kêu ròn, nhìn khói bay nghi ngút,
Nỗi lo buồn theo khói vút thăng thiên.
Cái điếu cùng ta là bạn chí hiền,
Từ thiên cổ tơ duyên chặt kết.
Cũng có kẻ muốn dứt tình khăng khít,
Vùi điếu đi cho hết đa mang.
Nhưng nỗi nhớ nhung bứt rứt tấm gan vàng,
Chút nghĩa cũ lại đa mang chi tận tuỵ.
Cho nên: bảo điếu thuốc lào là quốc tuý,
Thật là lời chí lý không ngoa.
Thuốc lào, ta hút điếu ta,
Điếu ta thọ với sơn hà muôn năm...

 

"Phở" đức tụng

Trong các món ăn "quân tử vị",
Phở là quà đáng quý trên đời.
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
Náy bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ,
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mủi.
Như xúc động tới ruột gan bàn phổi,
Như giục khơi cái đói của con tì.
Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì,
Xới một bát nhiều khi chưa thích miệng.
Kẻ phú quý cho chí người bần tiện,
Hỏi ai là đã nếm không ưa,
Thầy thông, thấy phán đi sớm về trưa,
Điểm tâm phở, ngon ơ và chắc dạ.
Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả,
Phở xơi no cũng đỡ nhọc nhằn.
Khách làng thơ đêm thức viết văn,
Được bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí…
Bọn đào kép, con nhà ca kỹ,
Lấy phở làm đầu vị giải lao.
Chúng chị em sớm mận tối đào,
Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc.
Phở là đại bổ, tốt bằng mười thang thuốc bắc,
Quế, phụ sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì.
Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì,
Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch.
Anh em lao động đồng tiền không rúc rích,
Coi phở là môn thuốc ích vô song.
Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công,
Chưa chén phở, vẫn còn chưa đủ món.
Chớ chê phở là đồ ăn hèn mọn,
Dẫu sao thành Ba-Lê còn phải đón phở sang.
Cùng các cao lương vạn quốc phô trương,
Ngon lại rẻ, thường hay quán giải.
Sống trên đời, phở không ăn cũng dại,
Lúc buông tay ắt phải cúng kem.
Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.

 

Ông cụ non

Nhớ thuở còn hàn vi,
Chửa nên danh phận gì.
Trí anh to tát lạ,
Chẳng thẹn tiếng nam nhi.

Bàn tính những công cuộc,
Lợi dân cùng ích nước.
Lưu danh cùng núi sông,
Mới thỏa lòng ao ước.

Nay ngoáp chiếc lương to,
Yên thân được ấm no.
Đã quăng chí nguyện cũ,
Khối óc như thò lò.

Nghiễm nhiên mặt trưởng giả,
Thờ chủ nghĩa nhàn hạ,
Đội mũ ni che tai,
Việc đời thây kệ cả!

Ngày bốn buổi đi về,
Ăn no lại ngủ khè.
Ngoài câu truyện bếp nước,
Chắng thiết để tai nghe.

Làm bạn với non bộ,
Uốn cành cây cổ thụ.
Hết trưa lại đến chiều,
Lẩn thẩn như ma xó.

Uống rượu rồi ngâm thơ,
Say sưa khéo phỡn phờ.
Khác chi đồ cổ hủ,
Xác sống mà hồn mơ.

Người ta khi phú quý,
Càng phải phấn tâm trí.
Anh mới nếm phong lưu,
Cớ sao vội chết dí!

Non bộ kia nên xếp,
Chơi gì cảnh nhỏ hẹp.
Nọ giang sơn Việt Nam,
Mới thật là xinh đẹp.

Túi thơ thắt lại thôi,
Nậm rượu quẳng cho rồi.
Cái thứ đùi rung nẩy,
Chờ khi sáu bảy mươi.

 

Ông nghị đi hội đồng về

- Ông ơi, ông đi đâu về
Có vẻ phỡn phè, phấn chấn hỡi ông?
- Rằng tôi đi họp hội đồng
Mỗi năm một bận, hết lòng vì dân
Gật gù, nghe đọc diễn văn
Vì dân giáng sức mấy lần vỗ tay
Trăm công, nghìn việc, nặng thay!
Vì dân nên phải đêm ngày miên man
Bao chương dự toán luận bàn
Vì dân sái cổ gật tràn đòi phen
Nhờ trời công việc đã yên
Vì dân phải xuống Khâm Thiên giải sầu
Quản gì thức mấy đêm thâu
Vì dân khai trí mấy chầu tổ tôm
Mỗi năm vất vả mươi hôm
Một bầu nhiệt huyết vẫn ôm kè kè

 

Bài phú "thầy phán"

(Tự trào)

Sở có một thầy:
Mặt mũi khôi ngô
Hình dung chững chạc
Quần là ống sớ, áo vận khuy vàng
Khăn lượt vành giây, ô che cán bạc
Bảnh bao lắm mốt, trời nắng, mưa: giầy nọ, giầy kia
Lịch sự đủ vành, mùa rét, nực: mũ này, mũ khác
Ra phết quan thông, quan phán, đua ngón phong lưu
Rập rìu tài tử, giai nhân, điểm mùi đài các
Trong đóm ngoài đuốc, trông ra mầu mỡ riêu cua
Tiếng cả nhà thanh, xét kỹ thân hình pháo xác
Cuối tháng ba mươi, ba mốt, giấy bạc rung rinh
Qua ngày mười một, mười hai, ví tiền rỗng toác
Sổ tiêu tính phác, hy hoay cộng cộng, trừ trừ
Lương tháng thấy vèo, tuyu nguỷu ngơ ngơ, ngác ngác
Ấy cũng bởi vung tay quá trán, mới đâm đầu vương lấy nợ như lông lươn
Mà lại còn quen thói bốc trời, chết đến đít vẫn coi tiền như cỏ rác
Ăn toàn ăn sỏi, khi Hiệp Thành, khi Nguyên Lợi, khi Đông Hưng, khi Nhật Tân
Chơi cũng chơi sành, tối Pa-lát, tối Pa-tê, tối Sán Nhiên, tối Quảng Lạc
Bè bạn những sừ tham, sừ ký, một bọn trai lơ
Nhân tình nào con hát, con đào, cùng phường đĩ rạc
Chức đệ tam chi thư ký, nhà nước cấp bằng
Hàm điển tịch chi hàn lâm, trào đình ban sắc
Tiếng Lang-sa thoắng trơn nước chẩy, những "uẩy" cùng "nông"
Câu Hán tự giốt đặc cán mai, đọc "tộ" hoá "tác"
Giở những giọng văn chương sốc nổi "tam tổ thánh hiền"
Bàn những điều nghĩa khí viển vông "thiên hô bát sát"
Hai buổi đến ung dung ư buồng giấy, sổ to, sổ nhỏ bày liệt, bày la
Mấy giờ ngồi chễm chệ ư ghế mây, mực đỏ, mực đen viết chi, viết chát
Lỡ buổi đi trưa, nhìn trước nhìn sau lấm lét, rụt rè như rắn ráo mồng năm
Lỡ khi lầm lỗi, đứng lên ngồi xuống băn khoăn, ủ rũ như diều hâu tháng chạp
Hễ động lúc luôn tay bận bịu, mặt nặng bằng đá đeo, gắt ỏm mắm tôm, cau cau có có, kêu ca việc này khó, việc nọ dài
Chẳng bù khi khểnh cẳng ngồi rồi, cười ròn như nắc nẻ, tán nhăng phó-mát, cợt cợt, bông bông, bình phẩm xếp kia lành, xếp ấy ác
Truyện nào có ra chuyện, giở dại giở khôn
Đùa nào có ra đùa, nửa nạc nửa mỡ
Vắng mặt chủ nghịch nô như quỷ sứ, tầm váo, tầm vênh
Thấy hút Tây vờ vĩnh khéo ma bùn, nhớn nhơ, nhớn nhác
Chỉ những ước được thưởng mề đay năm bẩy chiếc, sở nguyện thầy cũng khá cao xa
Lòng chỉ mong xơi lên lương bổng bốn năm đồng, hy vọng thầy thật là to tát
Nhiên nhi:
Luống hợm mình thế kia thế khác, lập loè sĩ diện với bà con
Còn đắc chí ta đây kẻ giờ, khinh khỉnh vênh vang cùng xóm mạc
Sự nghiệp có thế thôi, người ngoài cuộc tưởng rằng ghê gớm, chẳng trách nào ai cũng ước ao!
Công danh không mấy hột, kẻ qua cầu mới biết giở giang, dám nhắn nhủ khách đừng khao khát

 

Bầu cử

Thiên hạ nôn nao họ rủ nhau:
Người ra ứng cử, kẻ đi bầu.
Phen này lắm cậu gia tài vỡ,
Mà chức "Ông dân" 1 đã chắc đâu!

Họ kéo từng đàn xuống xóm hát,
Lu bù ngày ấy sang đêm khác
Phen này ông quyết xuống KT 2
Mở tiệm cô đầu có lẽ phát

Họ mời nhau chén tại cao lâu
Thả cửa sâm panh với rượu Tầu
Các chú 3 phen này càng béo bở
Annam còn lắm cuộc đi bầu!

Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết:
Công tâm công ích lời tâm huyết...
Phen này mở hiệu viết văn thuê
Dẫu chẳng làm giầu cũng đỡ kiết

Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh
Nghe đâu mỗi vé một "rồng xanh" 4
Phen này có lẽ mưa ra bạc,
Mà nghị viện ta lắm phỗng sành!

Họ lại ra công làm quảng cáo
Đen ngòm cả cột mấy tờ báo
Chương trình đem đọc thật là kêu,
Thử nghĩ sau này ai nói láo.

Họ kể xấu nhau như hát hay,
Hàng rau, hàng cá cũng thua tài,
Phen này bào chế tha hồ đắt:
Thuốc tím 5 cần mua để rửa tai.

Xem cuộc mua danh thực dữ dội,
Người hay, kẻ dở, trò thơm thối...
Quốc dân được lợi cuộc mua vui,
Chẳng phải mất tiền xem hát bội.


Bài thơ này có phỏng theo bài Chúc Tết của Tú Xương.

 

Bốn lần đi thi

(Tả cảnh một ông phán làm việc ở tỉnh xa, bốn lần về Hà thành thi tham biện)

Lần đầu về thi tại Hà thành
Anh em tấp nập đến tiễn hành
Tiệc rượu linh đình thật vui vẻ
Chén thù chén tạc chúc công danh

Đi về tốn bao tiền phí lộ
Thế mà thi cử lại cóc đỗ
Lời chúc hôm xưa chẳng được thành
Anh em an ủi chia buồn hộ

Cách một năm sau lại về thi
Được tiệc trà soàng tiễn chân đi
Bạn rằng: "khoa trước anh đã rủi
Chắc hẳn công danh đến khoá nhì"

Tại mình, tại trời, hay tại số
Mà đến khoa này lại vô bổ?
Bạn lại hỏi thăm chỉ lắc đầu
Không ai chê cười mà sấu hổ

Năm sau, đi thi lần thứ ba
Được vài bốn anh tiễn ra ga
Suông tình đưa mấy lời chúc tụng
Mất cả tiệc rượu lẫn tiệc trà

Khoa này tưởng khác hai khoa trước
Chẳng may trời làm trượt vẫn trượt
Giở về, bạn hỏi thi thế nào?
Cay đắng đáp rằng: "Tớ lại bước!"

Đến bận thứ tư về Hà thành
Bạn hỏi làm gì, nói dối quanh
Không tiệc, không trà, không kẻ tiễn
Một mình lủi thủi lối công danh

Một mình đi thi, một mình biết
Chẳng khiến ai mừng cùng ai tiệc...
Con đường danh lợi, đường chông gai
Phen này có bương đỡ tha thiết

Kết luận
Cái cuộc ganh đua khó lạ nhường
Thấy ai lận đận nghĩ mà thương
Vinh hoa là bả cho người thật!
Một bước công danh, bước đoạn trường

 

Chồng gàn

Mợ thấy chồng người lên chức "tham"
Xe nhà ngất ngưởng ngự đi làm
Lương sơi mỗi tháng hàng gang bạc
Mợ tưởng danh lừng khét đất Nam

Mợ về mợ dục tôi xoay học
Khuân sách trong hòm chúi mũi đọc
Nhà nước sang năm mở khoá thi
Vác cây bút sắt ra cầy cục...

Thấy tôi chỉ mải viết văn thơ
Mợ mắng tôi rằng: "Khéo vẩn vơ!
Luyện tập làm gì văn quốc ngữ
Lao tâm, tổn trí, mất thì giờ!"

Mợ bắt tôi theo đời vật chất
Học mong thi đỗ, nhờ hòn đất
May ra ngoáp được con ruồi xanh
Mợ sẽ lên bà "tham biện tắt"

Tôi vốn trời sinh tính khác người
Không ưa bôn tẩu như ai ai
Phàm danh, tục lợi lòng không bợn
Chỉ thích cuộc đời dản dị thôi

Áo quần ưa mặc the cùng vải
Ghét rượu, ghét chè, ghét trai gái
Thuốc phiện, bạc bài lại rất kiêng
Lương dẫu không cao vẫn thừa thãi

Ơn trời mắt sáng, chân tay lành
Xe đạp trèo lên phóng rất nhanh
Hà tất xe nhà đầy tớ kéo
Chẳng là không hợp lẽ trời sinh

Đời người bóng ngựa nhoáng qua sổ
Không lẽ chỉ lo thi với đỗ
Nếu chẳng góp gì với núi sông
Trăm năm cũng mục như cây cỏ

Hai chữ công danh chán lắm rồi
Làm ăn cứ miễn đủ tiêu thôi
Tôi van, đừng bắt tôi thi nữa
Xin để linh hồn tôi thảnh thơi!

 

Duyên con vồ

"Me tây" kia trở về già
Vớ anh phán kiết la cà kết duyên
Anh thời say chị lắm tiền
Chị mê anh trẻ, có duyên mặn mà
Trúc mai xum họp một nhà
Rõ rằng trúc mọt, mai già sánh đôi
Mình mình với lại tôi tôi
Anh làm cho chị tưởng đời còn xuân
Chị thời vỗ đức lang quân
Sắm cho xe ngựa, áo quần bảnh bao
Ngờ đâu anh thắng bộ vào
Anh đi sớm mận, tối đào lung thiên
Một lần chị để anh yên
Hai lần chị nổi cơn ghen tam bành
Ba lần chị phát lôi đình
Lót tay lá chuối lôi anh phú về...

 

Giầu và nghèo

(Độc vần)

Đồng bạc sinh ra kẻ khó, giầu
Vụng xoay thời khó, khéo thời giầu
Giầu đeo tiếng xấu không bằng khó
Khó giữ danh thơm chẳng kém giầu!
Chớ hợm mình giầu khinh bỉ khó
Đừng than thân khó ghét ghen giầu
Ai ôi, giữ lấy lòng trong sạch
Bận bịu làm chi nỗi khó, giầu

 

Hồ Gươm phú

Tặng cô Thoại Ngữ, người bạn xa chưa quen biết. (Hội Khai trí Tiến Đức có mở cuộc thi văn chương, trong các môn thi có bài phú Hồ Gươm, hạn vần: ’’Hồ đó, gươm đâu?’’ Tú Mỡ thấy đầu đề hay, cũng hứng bút viết chơi. Viết chơi thôi, không dự thi, và cố nhiên không lấy thưởng...!)

Nghìn năm văn vật
Nhất chốn kinh đô.
Tuy nhiều thắng cảnh,
Đâu đẹp bằng hồ...

       *

Thợ Tạo đã tài xếp đặt,
Công người cũng khéo điểm tô.
Giữa trần tục xen nơi tiên cảnh,
Trong thị thành nổi đảo san hô.

Sỏng biếc lăn tăn, lấp lánh vàng gieo ngấn nước,
Cây xanh rườm rạp, lơ thơ liễu rủ quanh bờ.
Đền Ngọc Sơn tháp bút nguy nga, tôn cảnh non bồng tịch mịch.
Cầu Thê Húc màu son đỏ thắm, chắn làn nước cuốn lô xô.
Nào những khi gió nồm hây hẩy, nào những khi sương toả lở mờ,
Xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa một vẻ,
Nào những lúc nắng mới rung rinh, nào những lúc trăng soi vằng vặc,
Sáng, trưa, chiều, tối, bao cảnh nên thơ.

Qua tỉnh Hà đây,
Dạo hồ Kiếm đó,
Ngắm cảnh ngày nay,
Nhớ hồi sử cũ:

Diệt vua nguỵ Quý Ly,
Gớm tướng Minh Trương Phụ,
Giả danh nghĩa hiệp khôi phục Trần gia,
Giở ngón gian hùng đoạt thâu Việt thổ.

Dân lành hai nhăm triệu, rắp đem làm kẻ tì nô;
Nước cũ bốn nghìn năm, dìm đặt dưới quyền đô hộ.
Trên, bọn quan quân tàn bạo, chỉ lo vơ vét, thoả dạ tham ô;
Dưới, dân sưu dịch nặng nề, cam chịu lầm than, nhiều bề cực khổ.
Nào xuống bể mò trai, lấy ngọc, ai oán vô cùng.
Nào lên rừng tróc tượng, săn tê, căm hờn quá độ.

May sao:
Nhà nông Lê Lợi,
Kẻ sĩ Lam Sơn,
Thấy dân khốn đốn,
Động lòng xót thương

Quyết chí lớn tảo trừ giặc nước
Dựa thần thiêng trao tặng lưỡi gươm.
Hào kiệt ra tay phất cờ cứu quốc,
Anh hùng lập nghiệp, khởi nghĩa xưng vương.

Trận Tuy Động, Vương Thông kinh hồn, mảnh giáp chẳng còn, bon về cố quốc.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng bỏ xác, đầu lâu lăn lóc tại chốn sa trường.
Vùng vẫy ngoại mười năm, quét sạch non sông quân Bắc tặc;
Lẫy lửng trong vạn thuở, mở mang bờ cõi đất Nam. Phương.

Ôi!
Nghìn thu đất nước
Một cuộc bể dâu
Hồ Gươm vẫn đó.,
Thần kiếm chìm đâu?

Chỉ thấy tượng đồng cao chót vót,
Đứng trông làn nước vẩn xanh ngầu!
Toà nhà Khai trí ben đền, trống bài điếm chát tom, thái bưởng quá nhỉ!
Vườn cảnh Bônbe trước mặt, khách phồn hoa nhộn nhịp, vui vẻ xiết bao!

 

Hư danh

Bác kia, ruộng cả ao liền
Lắm bạc, nhiều tiền, chạy tước, mua danh
Bài ngà với áo thụng xanh
Súng sa súng sính như anh phường chèo
Về làng khao vọng ỉ eo
Ăn trên, ngồi trốc, eo sèo thịt sôi
Bây giờ cơ nghiệp đi đời
Thẻ ngà, giấy sắc đem mài mà ăn

 

Khai bút rông

Là văn sĩ chẳng lẽ không khai bút
Chẳng hay ho cũng nặn nọt một bài
Ngót hai năm xổng bút mỉa mai đời
Thì Tết đến cũng phải có bài thơ... rắc rối
Rót thêm mực, thay ngòi bút mới
Thảo mấy dòng cảm khái sau đây

Thơ rằng:
Tú chi tú ấy nực cười thay!
Chẳng phải Nho mà chẳng phải Tây!
Rửng mỡ trêu đời, văn mách qué
Thế mà cũng tiếng... bấy lâu nay!

Ngồi ngâm nga, đùi rung chuyển nghế mây
Rồi chép lại, rắp thả ngay "Giòng nước ngược"
Bắt chước cụ Tú Xương thủa trước
Hỏi mợ Tú rằng: "Nghe được hay chăng?"
Bĩu môi, mẹ đĩ phê rằng
"Nôm na mắch qué, lố lăng, ngược đời!"
Đầu năm đã bị rông rồi
Chắc là văn viết ngược đời quanh năm!

Bài này nhại theo bài "Tết đến dán câu đối" của Tú Xương.

 

Khuyên ai kén vợ

I
Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền
Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên
Tốt duyên gặp được người như nguyện
Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên

II
Lấy vợ khuyên ai kén vợ soàng
Cần chi giầu có với quan sang
Quý hồ nội trợ tề gia giỏi
Cái cảnh gia đình mới vẻ vang

III
Lấy vợ khuyên ai cốt chữ tình
Xin đừng vụ lợi, chớ ham danh
Mấy người tiểu kỷ vì danh lợi
Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh

IV
Lấy vợ không nên kén vợ giầu
E rằng ỷ của lại khinh nhau
Hổ thay! cái tiếng nhờ lưng vợ!
Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu!

V
Lấy vợ không nên lấy ả đầu
Hoa tàn, nhị rữa, tiết còn đâu
Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn
Chẳng trách phương ngôn đã có câu...! 6

VI
Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều
Một bà thôi cũng đủ thương yêu
Ai về nhắn nhủ phường tham thịt
Cả lẽ làm chi, tổ ỷ eo...!

 

Kiệu bay

Đám rước làng ta đã tới đền
Vía bà động cỡn, tốc bay lên
Các cô chân kiệu siêu lơ chạy
Mấy mụ đồng quan lẽo đẽo rên
Pháo đốt, nhang bay mù đảo địa
Con công, cái bán lễ huyên thiên
Thánh bà mới biết linh thiêng thật
Gặp cái ô tô, kiệu đứng liền!

 

Kinh tế khủng hoảng phú

Ghê thay nạn kinh tế!
Ghê thay nạn kinh tế!
Nguyên bởi từ đâu?
Hại sao đến thế!
Trong vạn quốc, từ nhỏ đến to
Khắp muôn dân, cả lớn lẫn bé
Cũng băn khoăn vì tài chính lung lay
Đều nhăn nhó bởi bán buôn tắc bế
Làm ăn lủng củng, dưới con dân khôn nỗi xoay xu
Xuất nhập hụt hao, trên nhà nước khó đường thu thuế
Hạng quan lại đang ăn tiêu rộng rãi, cũng cắn răng vâng lệnh sụt lương
Bọn sinh viên vừa thi đỗ vênh vang, đành bấm bụng đóng vai vô nghệ
Sĩ đã buồn tênh
Nông càng quẫn tệ
Mừng được năm hoà cốc phong đăng
Rủi gặp lúc thông thương đình trệ
Tiền hòm rỗng tuếch, lấy chi mà nộp thuế, nộp sưu
Thóc vựa chứa chan, lo để đấy mọc mầm, mọc rễ
Bởi nông phu tiền thiếu gạo thừa
Nên thương mại khách thưa hàng ế
Buôn thua bán lỗ, hiệu nhỏ to vỡ nợ đùng đùng
Mượn quịt vay lường, kẻ hơn thiệt kiện nhau chí choé
Nhà kỹ nghệ hàng không trôi chẩy, giảm bớt nhân công
Bọn thợ thuyền việc ít nằm khàn, khó tìm sinh kế
Việc tuy không sẵn, miệng vẫn phải ăn
Gạo chẳng ai cung, hàm không nhẽ trễ
Túng phải tính liều
Đói đâm ê trệ
Nẩy nòi trộm cướp, khó giữ cho yên
Vỡ tổ ăn mày, cứu sao cho suể
Kinh tế khủng, ái tình cũng khủng, lo ế chồng phụ nữ chổng mông gào
Sự nghiệp suông, loan phụng đành suông, hoãn lấy vợ nam nhi quay mặt... kệ!
Cả đến sóm hoa đưa liễu đón, vừa độ nào anh yến sôn sao
Cũng trải phen phách mốc đàn meo, nay đã thấy làng chơi vắng vẻ
Nghĩ cũng lo thay
Nguy khôn xiết kể
Mới trong ít độ, tứ dân đà tấn tới rật lùi
Cứ thế này lâu, nhân loại sẽ văn minh tắc tị
Chấn hưng kinh tế, hỏi ai nào đại thánh ra tay?
Cứu vãn tiền đồ, còn đợi có phúc tinh giáng thế

 

Mề đay

Ông phán cành cạch 7 mươi năm nay
Mà được bốn, năm chiếc mề đay
Những khi tết nhất hoặc yến tiệc
Ông đeo trước ngực hai dẫy đầy

Cái bạc, cái vàng, đủ các hạng
Này cái "Cao-mên", cái "Vạn Tượng"
Này cái "Danh dự", cái "Rồng Nam"
Thiên hạ trông vào thực là choáng

Ông hỏi tôi rằng: "Cớ làm sao
Tôi cũng đi làm, chức cũng cao
Chẳng xin lấy độ răm mười chiếc
Để dương danh giá với đồng bào?"

- Thưa ông: Tôi đây cũng vẫn biết
Huy chương nhà nước là quý thiệt!
Để thưởng công lao kẻ tận tâm
Khuyến khích lòng người cho được việc

Tôi tự xét tôi đứa bất tài
Công danh sự nghiệp chẳng bằng ai
Chỉ biết đi, về ngày bốn buổi
Cuối tháng lĩnh lương mang về nhai

Nếu ông không phải người lỗi lạc
Nếu cũng như tôi, như kẻ khác
Mà cũng được một mớ huy chương
Tôi xin chịu ông người quái quắc

Dám xin hỏi ông: "Sự trạng gì?
Hoặc là cứu khổn với phò nguy
Hoặc là hi sinh vì nghĩa vụ
Hoặc là... hoặc là... cái chi chi?"

 

Mỡ mà chẳng... mỡ

Tặng bạn Nam Hương
(Thơ thất ngôn thập nhị cú)


Tú Mỡ, nghe tên rõ chướng phè
Làm thiên hạ tưởng béo xù ghê
Chẳng thua cụ Ỷ lườn nung núc
Cũng hệt ông Vâm bụng lặc lè

          *

Mà hoá người thon như cái nhái
Té ra mình sác tựa con ve
Đôi hàng sườn sụn da căng sát
Hai hũm quai xanh nước đỏ be
Màu mỡ vì chưng ra cả bút
Thân hình nên mới ngẳng như que
Tú này béo mép, người không béo
Há phải như ai tướng lợn xề...!<

 

Mười thương

Một thương tóc lệch đường ngôi,
Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn san.
Ba thương hôm sớm điểm trang,
Bốn thương răng ngọc hai hàng trắng phau.
Năm thương lược Huế cài đầu,
Sáu thương ô lục ngả màu thanh thiên.
Bảy thương lắm bạc nhiều tiền,
Tám thương động tí nữ quyền giở ra.
Chín thương cô vẫn ở nhà,
Mười thương... thôi để mình ta thương mình...

 

Nhắn nhủ ông nghị

Áo sa, khăn nhiễu, giầy ban
Kính trắng gọng vàng, tay cắp cặp da
Ấy là ông nghị vùng ta
Súng sa súng sính đi ra hội đồng
Mấy lời nhắn nhủ cùng ông
Có ra hội đồng thì miệng phải to
Xin đừng khúm núm co ro
Nói không ra tiếng họ cho rằng đần
Cũng đừng ngẩn mặt tần ngần
Ngồi nghe diễn thuyết ngủ dần thiu thiu

 

Phụ bạc

Nhớ xưa còn thủa hàn vi
Chàng thời đi học, thiếp đi chạy hàng
Sớm hôm đầu đội vai mang
Yên phận bần hàn, kiếm gạo nuôi nhau
Lần hồi bữa cháo bữa rau
Chàng lo học tập mai sau thành tài
Công danh tiến bước kịp người
Mở mặt với đời, thiếp cũng hiển vinh
Bây giờ chàng đã nên danh
Chê thiếp vụng dại, nỡ đành phụ công
Khi nghèo còn vợ còn chồng
Đến khi phú quí, chồng đông, vợ đoài

 

Quan phán

Rất sang quan phán đầu toà
Ngất ngưởng xe nhà, chân bắt chéo khoeo
Ắn chơi xa xỉ đến điều
Đêm đêm nhà hát, chiều chiều cao lâu
Ở nhà mặc cảnh túng, sầu
Vợ, con, cha, mẹ cơm rau là thường
Chầu rượu quan chi cực sang
Tiền nuôi cha mẹ cưa gan từng đồng

 

Tú Mỡ với Quan Ôn

Xuân đã sang hè, trời nắng rát
Trong xóm, thấy mấy ông "Kỳ nát"
Lục tục kéo nhau đi quyên tiền
Để mà sắm sửa lễ Kỳ yên
Đút lót Quan Ôn khỏi tác ác
Người răm ba hào, kẻ đồng bạc
Các ông thu được món tiền to
Đi mua đồ giả đốt ra tro
Nào là vàng mã, nào mũ mãng
Nào là voi ngựa, nào lính tráng
Nào cờ, nào biển, nào thuyền rồng
Văn minh thêm khẩu súng thần công!
Voi ngựa rỗng lòng, thuyền thủng đáy
Thần công tắc tị, bánh không chạy
Các ông man trá cả quỷ thần
Phúc chả thấy đâu, tội vào thân!
Còn về phần riêng tôi, Tú Mỡ
Đừng hòng quyên tiền tôi mà nhỡ!
Tính tôi thẳng tuột, lòng tôi ngay
Chẳng lừa hại ai, chẳng quắt quay
Trần đời ghét nhất thói ăn lễ
Quan Âm, quan Dương thời cũng thế!
Tôi tôn thần thánh, kính Phật Trời
Nhưng chẳng sợ ai, chẳng lễ ai
Ăn uống chơi bời, tôi điều độ
Năng tập thể thao, giạn nắng gió
Quan Ôn dù có muốn lôi thôi
Thời cũng khó lòng bắt nổi tôi...

 

Tủi cho bà Tú Mỡ

(Báo Phụ Nữ Thời Đàm mới tái thế đã có bài tán tụng những đức tính của bà thượng Phạm Quỳnh, khen nức, khen nở, khen thở chẳng được. Tú Mỡ nghĩ đến cái "nái sề" đức tính chẳng kém gì ai, mà chẳng thấy ai khen nên có bài thơ cảm.)

Vừa rồi báo Phụ Nữ
Khen bà Lớn kia dữ!
Nức nở đức Bà hiền
Hiền hơn bà Khổng Tử...

Khen bà khéo đẻ con
Mát mẻ đẻ con khôn
Cô cậu như tranh, đối
Như tiên chốn núi Non...

Khen bà giỏi nội trợ
Bến nước chăm non khá!
Cơm dẻo lại canh ngon,
Một tay săn sóc cả.

Khen bà tính nhu mì
Nhũn tựa con chi chi
Bà ký... lên... bà Thượng
Chẳng kiêu mà chẳng kỳ

Chị em khen nức nở
Một tấm gương rờ rỡ...
Tôi nghĩ đến nhà tôi,
Tủi cho bà Tú Mỡ.

Cũng khéo đẻ xon xon
Ba vuông lại bảy tròn
Cũng chăm việc bếp nước
Cơm dẻo mà canh ngon.

Tính nết cũng nhu mì
Nhũn rừ há kém chi...!
Mợ Hàn kiêm mợ Tú
Chẳng bắc bậc kiêu kỳ

Nào thấy ai đăng báo
Treo gương làm quảng cáo?
Hoạ chăng chỉ có tôi
Rủ rỉ khen láo quáo...

À...! Lỗi tại thằng tôi,
Chỉ quen thơ thẩn thôi
Chẳng làm nên cụ Lớn,
Nên thế vậy, than ôi...!

 

Tự thuật

(Thất ngôn thập bát cú)

Ở sở "Phi-Năng" 8 có một thầy
Người cao dong dỏng lại gầy gầy
Mặc thường soàng sĩnh, ưa lành sạch
Ăn chỉ thều thào, thích tịnh chay
Tom chát quanh năm vài bốn bận
Say sưa mỗi tháng một đôi ngày
Tính vui trò chuyện cười như phá
Lòng thẳng căm hờn nói toạc ngay
Siên sỏ vào tay hơi khá khá
Ở ăn thì nết cũng hay hay!
Yêu người chân thật, người hào hiệp
Ghét kẻ chui luồn, kẻ quắt quay
Võ vẽ hay làm văn quốc ngữ
Sì sồ ít nói tiếng Âu Tây
Bạn mà bàn đến thi cùng cử
Thời vội van luôn: Tớ lạy mày!...
Bởi tính ngang phè như chánh bứa
Già đời chẳng được cái mề đay

1925


 

 


Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu

Trong phòng khách cụ Trời
Cậu nhỏ dâng văn bôi
Xẩy tay đánh rơi vỡ
Nguyễn Khắc Hiếu ra đời

Từ khi Hiếu xuất thế
Vẫn nhớ cảnh thiên tiên
Bữa cơm thường phải rượu
Nhưng túi lại rỗng tiền

Liền xoay nghệ văn chương
Viết bừa bán phố phường
Thơ chay tha hồ uống
Say khướt suốt đêm trường

Rượu ngon thức nhắm ngon
Giọng văn lại càng giòn
Khối tình con, tình lớn
Giấc mộng lớn, mộng con.

Thích chí nằm ngâm nga
Tiếng động vang Ngân Hà
Trời hỏi: "Ai ngâm thế?"
Muôn tâu: Ấy Tản Đà!

Trời nổi trận lôi đình
Rằng: "Cái thằng tiên ranh
Ta đầy xuống hạ giới
Cho hắn chịu nhục hình

Ai ngờ hắn vẫn nhàn
Ngày tháng ngâm thơ tràn
Các người ai có cách
Bắt hắn phải gian nan?"

Chư tiên đồng thanh nói:
"Tội nặng nhất trần phàm
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm chủ báo An Nam"

 

Vợ chồng đời nay

Bây giờ thời buổi văn minh
Phu phụ chi tình có vẻ khác xưa
Mợ tham, mợ đốc nhởn nhơ
Lấy chồng ngồi ruỗi, ăn nhờ chiếc lương
Suốt ngày son phấn điểm trang
Tiêu khiển đêm trường: nhà hát, tổ tôm
Con thời sẵn vú nuôi ôm
Nước, cơm sẵn bếp tận mồm bưng lên
Phong lưu, chồng vợ là tiên
Hễ cậu kém tiền, giở luật cởi duyên
Tung hô "nam nữ bình quyền"!

 

Văn tế bảo hộ

A ha! Bảo hộ! Bỗng nhiên trời hại!
Suy thịnh lẽ thưởng, nào ai ái ngại?
Đọc bài điếu này, dạ ta thiết tha,
Ngươi có khôn thiêng chớ oán giận ta.
Nhớ ngươi thuở trước, xâm chiếm Đông Dương,
Mưu tinh chước quỷ, nham hiểm khôn lường.
Trước thả cố đạo, sau dắt con buôn,
Rốt đến binh lính, trăm khéo nghìn khôn.
Bá Đa mở lối, Đồ Phổ theo đường;
Gia Long mắc bợm, Tự Đức phải nhường.
Sự sinh sình sự, muốn yên chẳng yên,
Được chân lấn cổ, có voi đòi tiên;
Chiến tranh lẵng nhẵng, hiệp ước lung tung
Rốt cuộc công lý, phải thua bạo hung.
Nhớ ngươi đô hộ, đủ khoé gian ngoan,
Giả vờ nhân nghĩa, che đậy tham tàn.
Miệng rằng: khai hoá, sách viết: văn minh;
"Khai" mòn sản vật, "hoá" tận dân tình.
Nhớ người cai trị, thật tối dã man:
Trong là địa ngục, ngoài bảo thiên đàng;
Núi sông khai thác, ruộng đất mở mang,
Chẳng qua tư lợi, há vì dân gian;
Học hành giỏ giọt, trường có công khai,
Chỉ đủ đào tạo một số tay sai.
Nhớ người thâm thiểm: dĩ man, trị man
Nuôi đàn ưng khuyển, dung bọn ô quan,
Cho dễ bóp nặn đám dân hiền lành,
Cho dễ đàn áp bọn sĩ tinh anh.
Nhớ ngươi vơ vét, đã hả dã tâm,
Xấu xa đậy điệm, độc địa ngấm ngầm

Nay đến cực điểm, trăm họ lầm than:
Binh lửa thảm khốc, sinh linh điêu tàn;
Sưu cao thuế nặng, lột da róc xương,
Thóc gạo tích trữ, đói chết đầy đường.
Ngươi tưởng cùng ta, nợ báo còn dài,
Nhưng nhìn dĩ vãng, hòng gì tương lai!
Trời nào chứng mãi cho người rông càn:
Hại nhân nhân hại, thiên địa tuần hoàn.
Nước ngươi đổ nát, nhà ngươi tan tành;
Vận ngươi đã mạt, số ngươi đã đành.
Giữ mình chẳng nổi, còn bảo hộ ai?
Nay ngươi bị diệt, âu cũng lòng Trời.
Tám mươi năm lẻ, đã biết nhau rồi!
Tiếc than chi nữa, đời thế là thôi.
Tây phương cực... nhục, hồn ngươi đi về.
Nước ta giải phóng, dạ ta hả hê.
Ba hồn bảy vía, ngươi chóng siêu sinh.
Biến về nước mẹ, cùng ta dứt tình.
Ngươi có khôn thiêng, hiểu thấu lòng ta.
Chớ còn lẩn quất, Nam quốc sơn hà.
A ha! Sướng thay!
Thượng hưởng!

19-3-1945

 

Xoay hòn đất

Có một anh,
Biếng lười như hủi,
Cờ bạc như tinh.
Rượu chè như quỉ,
Trai gái như ranh.

Mà cứ muốn,
Làm giàu làm có,
Nên giá nên danh.
Sinh con gái tốt,
Đẻ con trai lành.

Nghĩ đến câu,
Tất tươi tất tả,
Lật đà lật đật.
Thầy địa cố tìm,
Mồ cha lo cất,
Có người bà con,
Mách cho thầy khách.
Ăn nói đắn đo,
Nước cơm hạch sách.

Thôi thì,
Rượu nồng dê béo,
Của ngon vật lành.
Món xào đồ nấu,
Cháo lòng tiết canh.
Cung lão địa lý,
Quá ông thân sinh.
Ăn no lòi kèn,
Uống say nứt ruột.
Thầy tỏ lời khen:
"Anh nầy bụng tốt"
Cảm tấm lòng thành,
Cho ngôi đất sộp.
Nào hổ, nào rồng
Về sau kết phát,
Hẳn quá ước mong.
Giàu to danh lớn,
Con đàn cháu đông.
Lo xoay ngôi mộ,
Trả xong công thầy.
Chứa chan hi vọng,
Mong mỏi đêm ngày.
Cho hòn đất phát,
Đợi thời vận hay.

Thế mà,
Đông đi xuân lại,
Tháng trọn ngày qua.
Vẫn trần như nhộng,
Vẫn xác như vờ.
Cô độc cô quả,
Cầu bất cầu bơ...
Người đời, ngu dại,
Nghĩ mà ngùi thương.
Toàn vẹn thân xác,
Hòng nhờ nắm xương.
Đào lên chôn xuống,
Đặt dọc xoay ngang.
Để cầu phú quý,
Khéo chuyện hoang đường.

 

Giòng nước ngược - Tập I, Trung Bắc Tân Văn, 1934.
Sách này in tại Trung Bắc Tân Văn, 61-63 Hàng Bông, Hanoi.
Ngoài những quyển thường có in 20 quyển bằng giấy Vergé Baroque Crême,
đánh số từ 1 đến 20.

--------------------------------
1Ông dân đối lập với thằng dân (ông dân biểu).
2Xóm cô đầu Khâm Thiên ở Hà Nội.
3Chú khách. Người Việt thường gọi Hoa kiều là chú khách.
4Tờ giấy bạc Đông Dương 5 đồng vẽ con rồng xanh.
5Thuốc sát trùng.
6Lấy quan, quan cách; lấy khách, khách về Tầu; lấy nhà giầu, nhà giầu hết của.
7Tục ngữ mới: "Cành cạch như ông phán gãi giấy".
8Tiếng Pháp: Sở Tài chính.