vietmessenger.com


Nguyễn Hiến Lê

Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc





MỤC LỤC


PHẦN THỨ NHẤT. VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN
  I. Khởi Nguyên
  II. Văn Nghị Luận Của Các Triết Gia
  III. Văn Ký Sự
  IV. Kinh Thi
  V. Sở Từ

PHẦN THỨ HAI. TỪ ĐỜI TẦN ĐẾN ĐỜI TUỲ
  I. Văn Trào Hai Đời Tần, Hán
  II. Văn Xuôi Đời Tần, Hán
  III. Phú, Nhạc Phủ Và Thơ Đời Hán
  IV. Thời Kiến An (196-220)
  V. Văn Trào Các Đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều Và Tuỳ (221-621)
  VI. Văn Xuôi Từ Nguỵ Tới Tuỳ
  VII. Từ, Phú Và Thơ

PHẦN THỨ BA. VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
  I. Văn Trào Đời Đường (618-907)
  II. Văn Xuôi Đời Đường
  III. Thơ Đời Sơ Đường
  IV. Thơ Đời Thịnh Đường - Lý Bạch
  V. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Xã Hội
  VI. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Biên Tái
  VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Tự Nhiên
  VII. Thơ Thịnh Đường (Tiếp) - Phái Quái Đản
  IX. Vài Thi Hào Khác Thời Thịnh Đường
  X. Vãn Đường
  XI. Nhạc Phủ Và Từ Đời Đường

PHẦN THỨ TƯ. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ TỐNG
  I. Văn Trào Đời Ngũ Đại (907-960)
  II. Văn Trào Đời Tống (960-1279)
  III. Văn Xuôi Đời Tống
  IV. Thơ Đời Tống
  V. Từ Đời Tống

PHẦN THỨ NĂM. VĂN HỌC CÁC ĐỜI NGUYÊN, MINH, THANH
  I. Văn Học Đời Nguyên (1234-1368) 1
  II. Văn Trào Đời Minh (1368-1660)
  III. Cổ Văn Và Thơ Đời Minh
  IV. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Minh
  V. Văn Trào Đời Thanh (1616-1911)
  VI. Văn Học Chính Thống Đời Thanh
  VII. Tuồng Và Tiểu Thuyết Đời Thanh

PHẦN THỨ SÁU. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
  I. Hai Cuộc Cách Mạng Trong Văn
  Ii. Tác Giả Hiện Đại

TỔNG KẾT
  


Công trình mệt cho tôi nhất – mệt mà thú – hồi tản cư ở Long Xuyên nhất là viết bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc gồm ba cuốn: I. Từ thượng cổ đến đời Tuỳ; II. Đời Đường; III. Từ Ngũ đại đến hiện đại.

Viết bộ đó chủ ý của tôi cũng là để tự học. Trong bài Tựa – mà tôi lấy làm đắc ý – tôi nói hồi ở trường Bưởi tôi đã tò mò muốn biết về văn học Trung Quốc. Nền cổ học Trung Quốc như có sức gì huyền bí thu hút tôi, một thanh niên theo Tây học. Mỗi lần nghe đúng tên như Văn tâm điêu long, Chiêu Minh văn tuyển, Tiền Xích Bích phú, Qui khứ lai từ… dù chẳng hiểu nghĩa, tôi cũng thấy trong lòng vang lên một điệu trầm trầm, như nhớ nhung cái gì. Phải chăng đó là tiếng vang những giọng ngâm nga của tổ tiên tôi còn văng vẳng trong lòng tôi?

Muốn tìm hiểu văn học Trung Quốc mà sách báo Việt chỉ làm cho tôi thất vọng. Cuốn Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính sơ lược quá; còn đọc những bài dịch Cổ văn, thơ Đường đăng lác đác trên tạp chí Nam Phong và một số báo khác thì không khác gì coi mấy bông sói, bông hồng, bông ngâu, bông móng rồng mà mấy chị bán hoa ở phố Hàng Đường (Hà Nội) gói trong chiếc lá chuối, chứa trong cái thúng để bán cho các bà nội trợ mua về cúng rằm, làm sao biết được vườn làng Ngọc Hà, làng Yên Phụ ra sao.

Tôi chỉ còn cách học chữ Hán để đọc sách của người Trung Hoa viết. Khi đã có một số vốn độ 3.000 chữ, đủ để mò trong các tự điển Trung Quốc, tôi kiếm mua mấy bộ Cổ văn, Đường thi, Văn học sử, Bạch thoại văn học sử, Trung Quốc văn học tư trào sử lược… như tôi đã nói (chương XIII), rồi mò mẫm lần. Thật khó nhọc vô cùng! Đọc một bài trong Cổ văn quan chỉ dài độ hai mươi hàng, tôi thường mất cả buổi mà chỉ hiểu lờ mờ. Bộ ấy chú thích rõ ràng, và có dịch cổ văn ra bạch thoại; nhưng cổ văn và bạch thoại của tôi đều ở mức sơ đẳng, phải dùng cổ văn để đoán bạch thoại và ngược lại dùng bạch thoại để đoán cổ văn.

Còn những cuốn Văn học sử thì tuyệt nhiên không có chú thích, nhiều chỗ tôi phải viết thư hỏi bác tôi, nhưng không dám hỏi nhiều vì mất công bác viết thư trả lời. Đành đọc nhiều sách, nhiều lần rồi vỡ nghĩa dần.

Học tới đâu tôi tóm tắt, ghi tới đấy, so sánh các sách, sắp đặt rồi chép trong những tập vở 100 trang. Sau cùng dịch một số bài văn thơ, viết thành chương. Nội công việc dịch và viết này cũng mất chín, mười tháng. Các bài cổ văn thì tôi dịch lấy, thơ tôi dịch được một số, bác tôi dịch cho một số lớn. Bài thơ nào không đề tên người dịch là của tôi, đề "Vô danh dịch" là của bác tôi. Hai bác cháu đều chú trọng nhất tới đức "tín", nghĩa là dịch sao cho đúng, cho sát, không dám sửa lời, thêm ý. Chúng tôi biết nhiều bài người trước đã dịch rồi mà hay, nhưng vì ở Long Xuyên thiếu sách, tôi không thể kiếm được, nên không dẫn vô.

Tôi viết như vậy cốt để học, chứ không nghĩ đến việc in. Viết xong, thấy có thể giúp cho các bạn hiếu học có một khái niệm về văn học Trung Quốc nên mới sửa lại rồi cho xuất bản. Sự nhận định của tôi chắc không sai nhiều vì tôi đã tham khảo kĩ, bằng những phương tiện tôi có; bố cục có mạch lạc và sáng sủa; nhưng tôi nhận rằng còn những lỗi dịch sai, nhất là phiên âm sai, mặc dầu vậy tôi cũng cứ cho ra mắt độc giả. Sở dĩ "tôi cả gan như vậy là vì tin lòng quảng đại của các vị cựu học, không nỡ trách kẻ hậu tiến học thức nông cạn mà sẵn lòng hạ cố chỉ bảo cho những chỗ sai lầm, hầu giúp bọn tân học chúng tôi hiểu thêm cái cổ học của các cụ, tức là cái nền tảng văn hóa dân tộc Việt Nam chúng ta" (trích trong bài Tựa).

Văn học Trung Quốc ảnh hưởng rất lớn đến văn học Việt Nam mà các cụ quá khiêm tốn không chịu viết thì bọn xẩm như tôi đành phải mò kim vậy.

Viết xong tôi chép lại, khoảng 750 trang, mất ba tháng nữa (vì có nhiều chữ Hán và bài nào cũng có phần phiên âm).

Ngày 20 tháng mạnh đông năm Quý Tị (26-XI-1953), mọi công việc hoàn thành, tôi thấy khoan khoái. Tôi thảo bài Tựa, cuối bài ghi cảnh trăng khuya trong vườn hoa ở phòng viết trông ra:

"Trăng mới ló dạng. Cảnh vật đang tối tăm, bí mật bỗng hoá ra êm đềm nên thơ. Nhành liễu là đà lấp lánh bên dòng nước. Giò huệ rung rinh toả hương dưới bóng dừa. Đêm nay tôi muốn thả hồn tìm thi nhân cùng danh sĩ Trung Hoa thời trước.
"Hỡi hương hồn chư vị ấy! Tôi mang ơn chư vị rất nhiều, gần bằng mang ơn văn nhân nước tôi; vì từ hồi mới sanh, tôi đã được nghe lời ngâm Chinh phụ, Thuý Kiều xen lẫn với lời bình văn thơ của chư vị và ngay trong văn học nước tôi cũng thường thấy ẩn hiện nỗi của lòng chư vị. Tâm hồn tôi ngày nay một phần cũng do chư vị đào luyện nên.
"Viết cuốn này tôi muốn có cơ hội gần chư vị thêm một chút. Tác phẩm của chư vị quá nhiều, tôi không đọc hết, nên ngoài cái lỗi giới thiệu vụng về, tất còn mang thêm cái tội vô tình xuyên tạc. Xin chư vị lượng thứ".

Mới có 27 năm mà cảnh tôi tả trong đoạn đó nay đã thay đổi hẳn: dòng kinh đã lấp, gốc liễu đã không còn, nhưng thêm được hai cây hoàng lan, chiều tối hương thơm ngào ngạt cả một xóm.

Bác tôi mừng tôi hoàn thành tác phẩm, cho tôi hai bài thất ngôn tứ tuyệt:

紅紫門前鬥艶香
滿盤詩史費平章
金風鉄馬閒中過
一匣青山自主張
Hồng tử môn tiền đấu diễm hương,
Mãn bàn thi sử phí bình chương.
Kim phong thiết mã nhàn trung quá,
Nhất hạp thanh sơn tự chủ trương
.

伱自編之我閱之
一家樂事在相知
何須更向東西問
继往開來更属誰
Nễ tự biên chi ngã duyệt chi
Nhất gia lạc sự tại tương tri.
Hà tu cánh hướng đông tây vấn,
Kế vãng khai lai cánh thuộc thuỳ?

Dịch nghĩa:

(1) Trước cửa, các hoa đỏ, tía tranh nhau phô hương sắc,
Trên bàn đầy thi sử, khó nhọc phê bình.
Gặp lúc nhàn trong thời buổi binh đao,
Có chủ trương lưu lại một hộp sách trong núi xanh (lưu tác phẩm cho đời
sau)

(2) Cháu cứ viết đi, bác duyệt cho,
Cái vui trong gia đình ở chỗ bác cháu hiểu nhau.
Cần chi phải hỏi người bên đông bên tây,
Việc kế vãng khai lai còn tuỳ thuộc vào ai nữa
.

Bác tôi còn cho tôi hai câu đối:

古色古香文自古
辛心辛筆世方辛
Cổ sắc cổ hương văn tự cổ
Tân tâm tân bút thế phương tân
.

一門文獻堪徵史
两國兵焚不滅書
Nhất môn văn hiến kham trưng sử
Lưỡng quốc binh phần bất diệt thư

Dịch nghĩa:

(1) Sắc cổ, hương cổ, văn thời cổ
Lòng mới, bút mới, đời vừa mới
(2) Một nhà văn hiến có thể ghi vào sử
Lửa binh hai nước không diệt được sách
.

Bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc, ông P. Văn Tươi nhận là có giá trị nhưng không chịu xuất bản vì in rất tốn (phải sắp chữ Hán) mà khó bán. Năm 1955 tôi lại phải bỏ vốn ra in, 1956 mới xong. Chỉ in 1.500 bản, tốn 75.000đ (mỗi cuốn 25.000đ). Giá vàng hồi đó vào khoảng 4.000đ – 5.000đ một lượng. Bán một năm được khoảng 500-600 bộ, đủ vốn; số còn lại bán bảy tám năm sau mới hết. Vậy, làm cái nghề viết văn cũng cần có vốn kha khá thì mới giữ được chí hướng, làm được những việc mình thích, mà chẳng phải tuỳ thuộc ai. Nếu tôi không có xuất bản lấy thì 10-15 năm sau chưa chắc đã có nhà chịu in cho, lòng ham viết tất phải nguội dần mà sẽ không viết thêm được cuốn nào về cổ học Trung Hoa nữa.

In xong tôi mang về Long Xuyên ngay để bác Ba tôi coi. Tôi buồn rằng cha mẹ tôi và bác Hai tôi không còn. Tôi đã không phụ công của ba người thân đó. Trang đầu sách tôi đề:

KÍNH DÂNG
Hương hồn Thân mẫu tôi,
Người đã cho tôi học thêm chữ Hán
ở giữa thời tàn tạ của Nho học
.

Bộ đó năm 1964 nhà Khai Trí tái bản; in 2.000 bản, được viện Đại học Huế khuyên sinh viên đọc; nhưng năm 1974 bán vẫn chưa hết. Lần tái bản này tôi chỉ sửa được một phần lỗi trên bản flan (bản để đổ chì) thôi, vì sắp chữ lại thì tốn công lắm.

(Trích Hồi kí Nguyễn Hiến Lê – Nxb Văn học, năm 1993, tr. 444-446)


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Văn học Trung Quốc có bề dày trên 3.000 năm, thuộc những nền văn học đồ sộ và rực rỡ nhất thế giới.

Do hoàn cảnh lịch sử và địa lý, văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hóa lâu đời này.

Từ lâu, các nước phương Tây đã có nhiều công trình nghiên cứu văn học Trung Quốc rất công phu và khoa học.

Trước đây, ở nước ta có "Việt Hán văn khảo" của Phan Kế Bính; tuy là công trình có giá trị tiên phong trong lãnh vực này, nhưng tiếc là còn sơ lược quá.

Trong kho tàng văn học đồ sộ ấy, một người "dù chỉ chuyên đọc trong 50-60 năm cũng vị tất đã coi được đủ và kỹ, đừng nói đọc rồi còn phân tích, so sánh, lựa chọn, tổng hợp, phê bình…". "Nhưng không phải vì vậy mà người Trung Quốc không viết về văn học sử của họ và người Anh, người Pháp… không viết về văn học sử Trung Quốc".

Học giả Nguyễn Hiến Lê, từ nhỏ đã say mê nền cổ học Trung Quốc. Ông được may mắn được thầy, chú và các bậc túc nho đương thời chỉ dạy. Có được vốn Hán học ban đầu, ông dốc tâm tự học và dày công nghiên cứu. "Học đến đâu ghi đến đấy. Khi học thì chỉ ham mê tìm hiểu cái đẹp mà không có ý viết sách. Khi học xong, thấy công việc ghi chép ấy có thể giúp các bạn hiếu học một khái niệm về văn chương Trung Quốc, nên mới sửa lại rồi cho xuất bản" quyển sách Đại cương văn học sử Trung Quốc. Đây là lần tái bản thứ ba 1997, cách lần thứ nhất 1962, lần thứ hai 1964, trên 30 năm. Trong thời gian ấy, chắc rằng số lượng tác phẩm viết về văn học sử Trung Quốc, cả trong và ngoài nước, rất nhiều. Nếu học giả Nguyễn Hiến Lê còn sống, nhất định ông sẽ có những hiệu đính, bổ sung nhiều tư liệu, nhiều chương giá trị, nhất là nền văn học đương đại – từ 1949, trải qua Cách mạng văn hóa và hậu Cách mạng văn hóa đến nay.

Để đáp ứng phần nào nhu cầu học hỏi của những người yêu thích văn học Trung Quốc, trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu đầy đủ và khoa học hơn của các nhà "Trung Quốc học" Việt Nam, chúng ta xin giới thiệu "Đại cương văn học sử Trung Quốc" này cùng quí bạn.


TỰA

Khi soạn bộ này, tôi được sống lại những ngày vui cách đây 25 năm.
Hồi ấy, tới vụ nghỉ hè nào, tôi cũng về Sơn Tây ở với bác tôi
trong một ngôi nhà cổ, dưới bóng tre, giữa một cánh đồng lúa, bên bờ sông Nhị. Cảnh thì có núi, có gò, có đầm, có lạch, không khí thì thơm tho, lúc nào cũng văng vẳng những tiếng sáo diều, tiếng ca hát của thôn nữ cùng tiếng ngâm thơ của nhà nho. Tôi thích nhất là giọng bình văn: nó ung dung, nghiêm trang và thanh nhã làm sao! Tôi thích đến nỗi mỗi lần bác tôi chỉ nhắc tới những tên như Văn tâm điêu long, Chiêu minh văn tuyển, Tiền Xích Bích phú, Qui khứ lai từ… là trong lòng tôi cũng vang lên một điệu trầm trầm, như nhớ nhung cái gì. Những lúc ấy, tôi thấy trời như cao hơn, mây như nhẹ hơn.
Không hiểu tại sao tôi lại có cảm tưởng lạ lùng đó và cho những cái tên như Corneille, Hugo thô tục, chẳng du dương như những tên Lý Bạch, Đào Tiềm. Nào có phải tôi không yêu tiếng Pháp. Gặp dịp được khoe một câu tiếng tây bồi với các ông Lý, ông Chánh trong làng, tôi vẫn hãnh diện lắm chứ và có ai mà bảo tôi cái học "tây u" là cái học vong bản thì tôi giận đến đỏ mặt lên được chứ! Nhưng nền cổ học vẫn có sức gì huyền bí thu hút tôi. Sức huyền bí đó phải chăng là những tiếng ngâm nga từ ngàn năm về trước còn văng vẳng trong tâm hồn tôi? Có lẽ vậy. Và tôi muốn biết nền cổ học ra sao mà làm tôi say mê được đến bực ấy.
Một hôm đứng hầu trà bác tôi, tôi được nghe bốn tiếng "Văn tâm điêu long". Đợi bác tôi ngừng nói để hút điếu thuốc lào, tôi đánh bạo hỏi:
- Thưa bác "Văn tâm điêu long" là gì?
Phà khói thuốc lên nóc nhà, bác tôi mỉm cười đáp:
- Cháu học tiếng Tây mà muốn biết những cái đó làm gì? Phải tốn công mười năm đèn sách mới hiểu được mà cái học nho bây giờ đã thành vô dụng rồi. Thím Tư (tức mẹ tôi) muốn cho cháu về đây học bác để sau này đọc được gia phả bên nội, bên ngoại. Bác cũng nghĩ vậy là phải, còn văn thơ cổ nhân thì thôi, thôi đi. Để sức tìm hiểu khoa học, cháu.
Thế là tôi cụt hứng. Cụt hứng nhưng lại càng tò mò hơn, muốn biết cho được cái "Văn tâm điêu long" ấy là cái gì. Tách riêng ra từng chữ thì tôi hiểu: Văn là văn chương, tâm là lòng, điêu là chạm, long là rồng. Nhưng "Văn tâm điêu long" là cái gì thì tôi không rõ, chỉ đoán mang máng là một bộ sách
1 .

Có lần thừa lúc bác tôi đi thăm một con bệnh ở làng bên, tôi cả gan lục tủ sách của người ra kiếm, nhưng không thấy bộ nào có tên ấy.
Những năm sau, mãi học, tôi quên hẳn chuyện đó.
Khi ở trường Công chính ra, nhằm lúc kinh tế khủng hoảng, phải nằm nhà sáu tháng đợi bổ. Trong thời gian đằng đẳng ấy, biết làm gì cho hết ngày? Tôi bèn xoay ra học chữ Hán. Rủi thay! Lúc đó bác tôi đã quy tiên không còn ai ở gần để chỉ bảo. Tôi phải học lấy trong những cuốn Tam thiên tự, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh và Grammaire chinoise của Cordier (?)
Khi có một số vốn độ 3000 chữ, đủ để mò trong tự điển Trung Quốc, tôi bèn kiếm những sách về văn học Trung Hoa mà đọc. Thật khó nhọc vô cùng! Đọc một bài trong "Cổ văn quan chỉ" dài độ 20 trang, tôi thường mất độ một buổi mà chỉ hiểu lờ mờ. Bộ sách ấy chú thích rõ ràng và dịch cổ văn ra bạch thoại
2 . Khốn nỗi cổ văn tôi đã "bí" mà bạch thoại tôi cũng "đặc", phải dùng cổ văn để đoán bạch thoại rồi ngược lại, dùng bạch thoại để đoán cổ văn. Cũng may là có một ông bác khuyến khích tôi, viết thư giảng những câu khó hiểu cho tôi, song học theo lối hàm thụ ấy tốn công cho tôi và mệt cho bác tôi quá – người viết chữ quốc ngữ rất chậm – nên nhiều lúc tôi chán nản tìm những sách Việt chép văn học Trung Quốc để đọc cho mau biết thì hỡi ơi! Tôi hoàn toàn thất vọng. Cuốn "Việt Hán văn khảo" của Phan Kế Bính sơ lược quá, còn kiếm trên báo thì lâu mới gặp được một bài dịch Đường thi. Đọc những bài dịch ấy để tìm hiểu văn học Trung Quốc, không khác chi đi coi tượng bà Jeanne d’Arc hoặc Paul Bert trong công viên để tìm hiểu dân tộc Pháp vậy.
Gần đây, vài học giả xuất bản những cuốn dịch thơ Đường, nhưng không vị nào chịu khó viết mươi trang về các thời kỳ trong thơ Đường, các thi phái trong thơ Đường, đặc sắc của thơ Đường và tư tưởng cùng nghệ thuật của thi nhân đời Đường. Thành thử kẻ ít học như tôi, đọc 300 – 400 trang mà chẳng được một ý niệm rõ ràng về thơ Đường.
Tôi bất mãn lắm, đành phải đọc những bộ Trung Quốc văn học sử của người Trung Hoa viết. Những bộ này không có chú thích, tôi dò dẫm lâu lắm mới hiểu được lõm bõm.
Văn học Trung Quốc là nguồn gốc của văn học Việt Nam mà không một nhà nho nào viết ra cho bọn tân học chúng tôi hiểu, cứ bắt xẩm mò kim, cực cho chúng tôi quá. Mà số nhà cựu học hiện đại còn sống đâu phải là hiếm đâu!
Đã nhiều lần tôi năn nỉ một vài cụ viết. Cụ thì nói không có thì giờ; cụ thì cho cổ học là vô dụng, "nên chôn chặt nó đi!", cụ thì quá nhũn, tự nhận không đủ sức.
Bảo cổ văn học là vô dụng, chỉ là tỏ một quan niệm chán ngán về thời thế. Bất kỳ nước nào Âu, Mỹ trong các trường Trung học cũng có ban cổ điển giảng về cổ văn học của nước họ hoặc của Hy Lạp, La Mã.
Không hễ theo mới thì bỏ cũ. Phải biết cái cũ rồi mới tìm thêm được cái mới. Huống hồ văn học Trung Hoa rực rỡ vào bực nhứt thế giới, người Pháp và người Mỹ còn nghiên cứu nó, lẽ nào mình lại bỏ cái gốc của mình đi cho đành?
Còn bảo là không đủ sức thì ai mà đủ sức đâu? Văn học Trung Hoa từ trên 3000 năm, tác phẩm rất nhiều, dù chỉ chuyên đọc trong 50-60 năm cũng vị tất đã coi được đủ và kỹ, đừng nói đọc rồi còn phân tích, so sánh, lựa chọn, tổng hợp, phê bình. Nhưng không phải vì vậy mà người Trung Quốc không viết về văn học của họ và người Anh, người Pháp không viết về văn học Trung Quốc.
Vườn hoa mênh mông thật, không ai đi ngắm kỹ được từng bông một, nhưng càng mênh mông lại càng phải đi, kẻ theo lối này, người theo lối khác, kẻ gặp kỳ hương nọ, người gặp dị sắc kia, rồi tả lại cho người khác biết; như vậy chẳng lợi cho hạng đứng ngoài hàng rào kiễng chân ngó vô mà mù mịt chẳng thấy chút gì ư?
Ý kiến của một người có thể thiên lệch; kẻ yêu lan thì trầm trồ khen lan, kẻ thích cúc thì tấm tắc khen cúc; nhưng như vậy, ít nhất người ngoài cũng biết được trong vườn ấy có lan, có cúc, lan ra sao, cúc ra sao, chẳng hơn cứ hoang mang rồi phỏng đoán ư?
Thận trọng vốn là một đức quý, nhưng thận trọng quá thì hoá ra rụt rè.
Đã mỏi mắt trông chờ mà không thấy ai tả vườn bông đó cho biết, nên chúng tôi phải tìm tòi lấy. Chúng tôi đọc những sách của người Trung Hoa và người Pháp về văn học Trung Quốc, chỗ nào không hiểu thì nhờ một vị lão nho
giảng cho, chủ ý là để thoả lòng tò mò từ mười lăm mười sáu tuổi.
Học đến đâu chúng tôi ghi đến đấy. Khi học thì chỉ đam mê tìm hiểu cái đẹp mà không có ý viết sách. Khi học xong, thấy công việc ghi chép ấy có thể giúp các bạn hiếu học một khái niệm về văn chương Trung Quốc nên mới sửa lại rồi cho xuất bản.
Sở dĩ chúng tôi cả gan như vậy là vì tin ở lòng quảng đại của các nhà cựu học, không nở trách một kẻ hậu tiến, học thức nông cạn, mà sẵn lòng hạ cố chỉ bảo cho những chỗ sai lầm, hầu giúp bọn tân học chúng tôi hiểu thêm cái cổ học của các cụ, tức cái nền tảng văn hoá của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Vắng các cụ chúng tôi thấy lẻ loi, bơ vơ lắm!

° ° °

Trăng mới ló dạng. Cảnh vật đương tối tăm, bí mật, bỗng hoá ra êm đềm, nên thơ. Nhành liễu la đà, lấp lánh bên dòng nước. Giò huệ lung linh toả hương dưới bóng dừa. Đêm nay tôi muốn thả hồn tìm thi nhân cùng danh sĩ Trung Hoa thời trước.
Hỡi hương hồn những chư vị ấy! Tôi mang ơn chư vị rất nhiều, gần bằng văn nhân nước tôi; vì từ hồi mới sanh, tôi đã được nghe lời ngâm Chinh phụ, Thuý Kiều xen lẫn với lời bình văn của chư vị và ngay trong văn học nước tôi, cũng thường thấy ẩn hiện nỗi lòng của chư vị. Tâm hồn tôi ngày nay một phần cũng do chư vị luyện nên.
Viết cuốn này, tôi muốn có cơ hội gần chư vị thêm một chút. Tác phẩm của chư vị quá nhiều, tôi không được đọc hết nên ngoài cái lỗi giới thiệu vụng về, tất còn mang thêm cái tội vô tình xuyên tạc. Xin chư vị lượng thứ
.

Long Xuyên, ngày 20 tháng Mạnh Đông
năm Quí Tị (26, XI, 1953)

° ° °

Hai năm trước, khi bộ Đại cương Văn học sử Trung Quốc mới bán hết, chúng tôi đã thấy rõ ràng nó sơ lược quá, không đủ thoả mãn nhu cầu mỗi ngày mỗi tăng một số người hiếu học, nên chúng tôi đã dự định soạn lại một bộ khác đầy đủ hơn. Công việc này nếu khởi sự ngay thì sớm lắm cũng phải ba năm nữa mới hoàn thành.
Trong khi chờ đợi, để giúp các bạn trẻ có sách đọc, chúng tôi tạm cho tái bản bộ này sau khi sửa chữa những lỗi quan trọng, và sẽ cho xuất bản bộ
Cổ Văn Trung Quốc mà chúng tôi soạn gần xong. Bộ cổ văn đó gồm khoảng trăm bài phiên âm rồi dịch, chú thích và giới thiệu, lại chép thêm tiểu sử các tác giả và văn trào mỗi thời đại, sẽ bổ túc một phần cho Đại cương và giúp độc giả hiểu thêm Văn học Trung Quốc từ cuối đời Xuân Thu đến cuối đời Minh.

Sài Gòn, ngày 4-1-1964
NGUYỄN HIẾN LÊ


PHÀM LỆ

1. Bộ này không phải là một công trình nghiên cứu, chỉ thuộc về loại phổ thông, nên chúng tôi muốn cho rõ ràng và giản lược. Chúng tôi vẫn theo quy tắc của chúng tôi: cuối mỗi chương tóm tắt ý trong chương. Những đoạn tóm tắt ấy có thể dùng để dạy cho học sinh ban Trung học cổ điển. Còn sinh viên Đại học văn khoa cùng các bạn đã thôi học thì có thể dùng bộ này để hiểu thêm bài giảng ở trường.

2. Vì sách viết cho các bạn tân học mà phần đông không thuộc lịch sử Trung Quốc nên ở đầu mỗi thời đại, chúng tôi tóm tắt lịch sử trong thời đại ấy, nhưng chỉ tóm tắt những điều cần thiết có thể giúp độc giả hiểu văn trào trong thời đại ấy thôi.

3. Xét văn học mỗi thời đại, chúng tôi theo thứ tự sau này: văn trào, tản văn, vân vân. Tuy nhiên, loại văn nào quan trọng nhất trong thời đại (như thơ đời Đường, tuồng đời Minh…) thì chúng tôi để lại sau cùng.

4. Khi kể tên một văn nhân hoặc một bộ sách, chúng tôi ghi chữ nho ở bên cạnh. Lần sau gặp tên ấy, chúng tôi khỏi ghi nữa.

Ở cuối bộ (tức cuối tập III), chúng tôi kê một bản ghi theo thứ tự a, b, c… tên những văn sĩ, tác phẩm để độc giả dễ kiếm 3 .

5. Chỉ tên tự hoặc tên hiệu 4 nào được nhiều người biết, chúng tôi mới chép lại. Như Đào Tiềm chúng tôi sẽ ghi: Chính tên là Uyên Minh, người đời gọi là Tĩnh Tiết tiên sinh, ông tự gọi là Ngũ Liễu. Còn Trần Duy Tùng, một tác giả đời Thanh, tuy có tên là Kỳ Niên, song chúng tôi không ghi lại vì tên đó ít người biết.

6. Chúng tôi chỉ kể vài tác phẩm của mỗi văn nhân; kể hết rườm quá. Chúng tôi sẽ dịch tên tác phẩm nào nếu thấy có ích cho độc giả.

7. Khi chú thích một đoạn văn, chúng tôi chỉ chú thích vừa đủ để hiểu nghĩa. Ví dụ: Gặp tên Hà Dương trong bài Thạch Hào lại của Đỗ Phủ, chúng tôi chỉ ghi: "Hà Dương là tên đất", không nói miền Hà Dương ở đâu.

8. Trong các bộ Văn học sử Trung Quốc, quê quán văn nhân đều được ghi đủ.

Như sách chép Tư Mã Thiên là người ở Phùng Dực, Hà Dương. Nhưng chúng tôi nghĩ biết thêm được tên đất ấy, chẳng có lợi cho độc giả, nên bỏ đi. Chúng tôi chỉ ghi những tên đất nào mà phần đông chúng ta đã nghe qua vài lần hoặc có thể giúp ta hiểu thêm tư tưởng, thiên tài của văn nhân.

9. Người Trung Quốc có thói chép hết chức tước của mỗi văn nhân, nếu văn nhân đó làm quan. Ví dụ về Bạch Cư Dị, họ viết: Ông làm Hàn lâm học sĩ ở đời vua Hiến Tông, làm Tả Tán thiện đại phu, sau bị biếm làm Giang Châu tư mã, đến đời vua Văn Tông, được lãnh chức Thái Tử thiếu phó, làm tới Hình bộ thượng thư rồi về trí sĩ.

Chép như vậy rườm lắm. Chúng tôi chỉ ghi hai điều là có lần bị biếm làm chức tư mã ở Giang Châu, sau cùng làm đến chức Hình bộ thượng thư; điều thứ nhất vì người đời sau có khi dùng bốn chữ "Giang Châu tư mã" để chỉ ông; điều thứ nhì vì nó giúp ta biết ông có uy thế danh vọng ở đương thời.

10. Khi trích một bài văn, thơ nào, chúng tôi chép lại bản chữ nho, phiên âm rồi dịch nghĩa.

* Dịch văn thì chúng tôi ráng giữ cho đúng ý và theo sát điệu bổng trầm. Như vậy đôi khi câu hoá tối, phải chú thích, nhưng có lợi là lột tả được ít nhiều tinh thần nguyên tác.

* Về dịch thơ, theo thiển ý có hai lối:

- Nếu thiên về văn chương thì cần dịch thoát, nhưng phải lột hết thi vị trong bài. Đó là lối dịch thơ Đức của Gérard de Nerval và lối dịch thơ Trung Hoa của Tản Đà.

- Nếu thiên về khảo cứu thì phải dịch cho thật sát và có thể dịch ra văn xuôi, Như vậy tất mất gần hết thi vị trong nguyên tác. Các giáo sư thạc sĩ ở Pháp thường dịch Virgin, Horace theo cách đó.

Chúng tôi không phải thi sĩ, theo lối trên không được; muốn theo lối dưới e thiếu cái học thâm thuý; đành phải châm chước cả hai, ráng diễn gần đủ tình, ý và giữ được ít nhiều thi vị trong mỗi bài.

11. Nhiều khi chúng tôi phải mượn bài dịch của các học giả, thi nhân như Nguyễn Khắc Hiếu, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim…

12. Nếu một bài có hai ba người dịch thì chúng tôi lựa bài nào dịch sát nhất hoặc theo đúng thể thơ nguyên tác. Như nguyên tác là thơ luật thì chúng tôi bỏ bài dịch theo thể lục bát, mà lựa bài dịch theo thể luật. Nếu bài dịch theo thể luật kém lắm thì chúng tôi phải lựa bài lục bát.

Trong lúc tản cư, sách vở chúng tôi mất hết. Gần đây sưu tầm lại những bài dịch thơ Trung Quốc nhưng còn thiếu rất nhiều, vì sức chúng tôi có hạn. Nên có nhiều bản dịch mà chúng tôi không biết. Độc giả nào vì yêu văn thơ chỉ giùm cho để kỳ tái bản, chúng tôi sửa lại cho hoàn bị hơn thì chúng tôi mang ơn lắm.

13. Những bài dịch dưới đề tên "Vô danh" đều là của một nhà nho đương thời. Chúng tôi vâng ý cụ mà không kê tên thật của cụ. Nếu không được cụ giúp sức thì chắc bộ này không soạn thành vì chẳng những cụ chỉ bảo chúng tôi hiểu văn thơ Trung Quốc mà còn chịu khó hiệu đính bộ này nữa.

14. Thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch có hàng ngàn bài, những thi sĩ khác cũng có hàng trăm; mà chúng tôi chỉ trích dẫn mỗi nhà nhiều lắm là vài chục bài, có khi một, hai bài, thật là quá thiếu sót. Nhưng làm sao được? Nếu cho tác giả nào cũng tàm tạm đủ thì bộ này chắc phải dày đến vài ngàn trang.

15. Khi trích dẫn một bài văn, chúng tôi chép bản chữ Hán, rồi phiên âm, sau mới dịch. Chúng tôi không chấm câu trong bản chữ Hán, chỉ chấm câu khi phiên âm, như vậy để những bạn mới học chữ Hán có dịp chấm câu lấy rồi so sánh với cách chấm câu của chúng tôi. Học như vậy tuy tốn công nhưng nhiều lợi.



LỜI MỞ ĐẦU

1. VĂN HỌC LÀ GÌ?

a. Hai quan niệm trái ngược nhau về văn học

Văn học Trung Quốc đã có từ trên 3000 năm mà cuốn văn học sử đầu tiên của Trung Quốc mới viết cách đây nửa thế kỷ, tức cuốn "Trung Quốc văn học sử" của Lâm Tuyền Giáp 5 . Từ đó đến nay đã có độ năm chục cuốn xuất bản. Đọc những cuốn ấy, ta thấy hai chủ trương khác nhau:

- Chủ trương của Tăng Nghị cho văn học một nghĩa rộng: hễ dùng chữ để ghi nhất thiết những biểu hiện của tư tưởng thì gọi là văn học, nên chẳng những kinh học, triết học, lý học là văn học mà đến văn tự học, ngôn ngữ học, y học… cũng là văn học. Quan niệm cổ đó được tóm tắt đầy đủ trong câu sau này của Chương Bỉnh Lân: "Viết lên tre, lụa thì gọi là văn" 6 .

- Gần đây có một quan niệm khác, tức quan niệm của Hồ Văn Dực trong cuốn "Tân Trước Trung Quốc văn học sử". Ông theo các học giả Anh, Mỹ mà chủ trương rằng chỉ những tác phẩm có nghệ thuật mà chuyên tả tình cảm hoặc có phần tưởng tượng dồi dào mới gọi là văn. Theo ông, chẳng những kinh học, triết học, lý học, sử học không phải là văn mà ngay những bài nghị luận của Hàn, Liễu, Âu, Tô 7 cũng không phải là văn. Chỉ có thi ca, từ, phú, tiểu thuyết, tuồng, kịch, du ký mới đáng mang tên ấy.

Theo tôi hai chủ trương đó đều là thiên kiến. Văn học cố nhiên khác với học thuật: một bài khô khan viết về toán học, lý học, y học, hoá học thì sao gọi là văn được? Nhưng một bộ sử ký viết bằng những lời hoa lệ, vừa nhiều tình cảm, vừa giàu tưởng tượng, làm say mê người đọc như bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, bộ Histoire de France của Michelet thì rất đáng được sắp vào hàng những giai tác về văn nghệ chứ?

Tả con gà trống như trong các cuốn "Khoa học thường thức" dạy trẻ em ban Tiểu học thì cố nhiên không phải là làm văn, song bảo Buffon, tác giả bộ Histoire de Naturelle không đáng mang tên văn sĩ thì chẳng là sai lầm quá ư?

 

b. Đối tượng của văn học

Loài người đặt ra chữ để diễn tư tưởng, tình cảm và những điều mắt thấy tai nghe. Hễ diễn được một cách có nghệ thuật, gây được mỹ cảm trong tâm hồn người đọc tức thị là có văn.

Đối tượng của văn học cũng như mọi nghệ thuật khác, rất mênh mông: nó bao la cả vũ trụ, vũ trụ trong người ta và vũ trụ chung quanh ta.

Trong người ta có phần thể chất và tinh thần. Tả những cảm giác, nỗi vui, nỗi buồn… cùng những hành động, cử chỉ… là thuộc về phần thể chất. Diễn những ý nghĩ hoặc các mơ mộng (như mơ mộng một thế giới huyền ảo trong các truyện thần tiên, hay một xã hội tốt đẹp hơn xã hội hiện tại), là thuộc về phần tinh thần.

Vũ trụ chung quanh ta là vạn vật. Một đoá hoa, một tiếng chim có thể làm lòng ta rung động, phát ra những lời du dương thì một giọt sương mai, một phiến cẩm thạch cũng có thể làm cho ta cảm thấy cái tận thiện của Hoá công mà ngâm lên những vần tuyệt diệu.

Cái gì cũng có thể là đối tượng của văn học, thì văn học, cũng có thể xâm nhập bất kỳ khu vực nào. Chia ra từng loại: tiểu thuyết, thi ca, triết lý, sử ký… là việc cần thiết để dễ bề so sánh, song chia ra để hoạch định khu vực của văn học thì rất không nên mà cũng không thể được. Một bài thơ "con cóc", một bài vè mà bảo là văn chỉ vì nó thuộc về loại thi ca, còn một đoạn nghị luận của Trang Tử, rực rỡ những hình ảnh tân kỳ thì cho không phải là văn, chỉ vì nó thuộc vào loại triết lý, như vậy còn có gì vô lý hơn không?

 

c. Quan niệm của chúng tôi

Chúng tôi theo quan niệm của các nhà viết văn học sử Pháp, chẳng những sử học, triết học là văn học mà ngay đến một bài khoa học cũng có thể là văn, miễn nó viết có nghệ thuật. Người Pháp cho Buffon, Michelet, Taine, Sainte Beuve, Claude Bernard… là văn nhân thì trong cuốn này chúng tôi cũng sẽ kể những tên như Tư Mã Thiên, Hàn Dũ, những tác phẩm như Tả Truyện, Sử ký… O.K Ghéquier 8 và G. Margoulière 9 khi viết về văn học sử Trung Quốc cũng theo quan niệm ấy.

Tóm lại, không phải cái đối tượng mà là cái phần nghệ thuật trong tác phẩm mới định được tác phẩm ấy là văn hay không văn.

 

2. VĂN HỌC CỦA VĂN NHÂN VÀ CỦA BÌNH DÂN

a. Hai quan niệm cũ và mới

Đứng về phương diện khác, các nhà viết văn học sử Trung Quốc cũng chia làm hai phái.

- Một phái cũ chiếm phần đông, chỉ lựa những tác phẩm của văn nhân. Trong phái đó có Triệu Cảnh Thâm soạn giả cuốn "Trung Quốc văn học tiểu sử". Nhất thiết văn học của bình dân ông đều loại bỏ, thậm chí đến Kinh Thi cũng không được dẫn, chỉ vì nó có nhiều ca dao.

- Một phái mới, mà người đại diện là bác sĩ Hồ Thích, tác giả bộ "Bạch thoại văn học sử" chủ trương rằng phàm những tác phẩm viết bằng bạch thoại đều là kiệt tác và văn thơ của bình dân có giá trị hơn văn thơ của văn nhân nhiều.

 

b. Quan niệm của chúng tôi

Văn học không phải là vật sở hữu của riêng giai cấp nào nên ta không thể quả quyết rằng chỉ có hạng quý phái tài cao học rộng mới biết làm văn. Đọc ca dao ta chẳng thường thấy nhiều bài bóng bẩy, thiết tha, cảm động ta mạnh hơn biết bao bài thơ nhạt nhẽo, tầm thường của một số văn nhân đấy ư? Nhưng cũng không phải cứ sinh trong giai cấp cần lao và văn thơ tự nhiên sẽ tuyệt. Làm văn cần có tài, mà cái tài, trời phân phát công bằng cho mọi giai cấp. Tài đó, giai cấp cần lao ít có cơ hội được mài luyện, nhưng chính vì vậy, văn của họ, tuy mộc mạc, nhiều khi vụng về mà luôn luôn tự nhiên, trong trẻo như dòng suối ở trong khe chảy ra.

Trong cuốn này, chúng tôi rán tránh thiên kiến của họ Triệu và họ Hồ: hễ tác phẩm nào có nghệ thuật thì dù là của văn nhân hay của bình dân, chúng tôi cũng lựa.

 

3. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC

a. Nội dung là cần

Nhưng thế nào là một tác phẩm có nghệ thuật? Là một tác phẩm vừa đẹp về hình thức, vừa đẹp về nội dung.

Có những kẻ quá khoan hồng hoặc hoài nghi, cũng nhận rằng nhiều tác phẩm ô uế, nhưng lại bào chữa cho nó: "Song lời đẹp quá; bấy nhiêu cũng đủ rồi".

Chúng tôi tưởng: bấy nhiêu chưa đủ. "Vệ sinh về tâm hồn cũng khẩn thiết như vệ sinh về cơ thể". Goethe hối hận đã viết Werther; Chateaubriand, khi về già, muốn thu lại hết những cuốn René 10 đã xuất bản, thì tại sao chúng ta không lựa những tác phẩm lành mạnh để đọc? Thiếu gì hoa đẹp mà phải hái những bông hoa ấy?

Vậy chúng tôi sẽ kể tên những cuốn như "Tây sương ký", "Kim Bình Mai", nếu không thì thiếu sót, nhưng chúng tôi sẽ rất thận trọng trong khi trích dịch.

La Bruyère nói: "Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần bạn lên và gợi cho bạn những tình cảm cao thượng và can đảm, thì bạn đừng kiếm một quy tắc nào khác để xét nó; nó hay đấy và do một nghệ sĩ viết ra đấy". Đó là đẹp về nội dung.

 

b. Còn cái đẹp về hình thức?

Nó muôn hình vạn trạng. Có cái đẹp rực rỡ như cánh bướm, có cái đẹp thanh nhã như bông mai; mềm mại như cành liễu cũng đẹp mà cứng cỏi như thân cây tùng cũng đẹp; lại có khi lơ thơ mà đẹp, có lúc rườm ra mới đẹp; có cái đẹp chạm trổ, lại có cái đẹp hồn nhiên… cho nên chúng tôi không theo hẳn chủ trương của phái Duy Mỹ, lời văn cứ bóng bẩy, du dương mới nhận là khéo.

 

4. VĂN HỌC TRUNG QUỐC

a. Một trào lưu thịnh vào một triều đại

Văn học sử của Pháp chia làm nhiều thời kỳ; mỗi thời kỳ thường là một thế kỷ: như thế kỷ 17 là của văn cổ điển, thế kỷ 19 là của văn lãng mạn…

Văn học sử của Anh vừa chia theo thế kỷ, như thế kỷ 18 là thế kỷ của sự xung đột giữa hai phái duy lý và kinh nghiệm, nhưng cũng chia theo từng triều đại, như có triều Elisabeth, tức thời kỳ văn học phục hưng, triều đại Victoria, tức thời kỳ văn chương tả chân và xã hội.

Văn học sử Trung Quốc thì ta phải chia theo triều đại. Sự phân chia như vậy có khi miễn cưỡng, nhưng các học giả Trung Hoa từ trước tới nay đều nhận rằng ở nước họ, chính trị ảnh hưởng mật thiết đến văn học: các loại văn, thơ đều nhờ sự giúp đỡ, thúc đẩy của chính trị mà phát đạt, như lối phú thịnh ở đời Hán, lối thơ ở đời Đường, lối từ ở đời Tống, lối tuồng ở đời Nguyên…

Không những vậy, mỗi triều đại chia làm ba thời kỳ: sơ, thịnh, suy, thì văn thơ trong triều đại cũng theo luật thịnh suy ấy nữa. Đó là một đặc điểm của văn học Trung Quốc.

Tuy nhiên không thể quyết được những trào lưu văn học 11 đó tới năm nào thì dứt hẳn vì lẽ một trào lưu mới phát hiện ngay từ khi trào lưu cũ bắt đầu suy và trào lưu này còn tiếp tục mãi tới khi trào lưu mới đã mạnh mẽ.

 

b. Các thời đại của văn học sử Trung Quốc

Khi xét những trào lưu ấy, chúng tôi sẽ – nếu có thể được – tìm nguyên nhân của nó trong tình hình xã hội và chính trị, rồi vạch rõ ưu điểm cùng khuyết điểm của nó.

Chúng tôi sẽ chia làm những thời kỳ sau này:

Văn học trước đời Tần: Phần thứ nhất

Văn học đời Tần và đời Hán, Văn học các đời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều: Phần thứ nhì

Văn học đời Đường: Phần thứ ba

Văn học đời Ngũ Đại, Văn học đời Tống: Phần thứ tư

Văn học đời Nguyên, Văn học đời Minh, Văn học đời Thanh: Phần thứ năm

Văn học hiện đại: Phần thứ sáu.

 

TỔNG KẾT

Theo chúng tôi,



PHẦN THỨ NHẤT

VĂN HỌC TRƯỚC ĐỜI TẦN


CHƯƠNG I. KHỞI NGUYÊN

1. ĐỜI THƯỢNG CỔ

(Thế kỷ thứ X tới thế kỷ thứ VI tr.CN)

Tương truyền rằng ông tổ của dân tộc Trung Hoa là Bàn Cổ, rồi tới đời Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng), Hữu Sào, Toại Nhân, Phục Hi, Thần Nông. Từ Phục Hi trở về trước, nước Tàu gồm nhiều bộ lạc, gọi là chư hầu. Mỗi bộ lạc lựa một người thủ lĩnh cầm đầu.

Hoàng Đế (2700-2600 tr.CN) dẹp các chư hầu và được tôn làm thiên tử rồi truyền ngôi cho con cháu được 5 đời (Ngũ Đế).

Sau, đến Đường Nghiêu (2359-2259) và Ngu Thuấn (2256-2208), Trung Quốc thịnh trị và bắt đầu văn minh. Hai vua Nghiêu và Thuấn đều nhường ngôi cho người đức hạnh trong thiên hạ.

Từ vua (nhà Hạ) trở đi, ngôi báu lại cha truyền con nối cho tới vua Kiệt (2205-1784).

Nhà Thương diệt vua Kiệt, đến đời vua Trụ lại bị nhà Chu diệt (1783-1135).

Nhà Chu chia làm 2 thời kỳ:

Đầu đời Chu, chư hầu đếm trên 1000, họ thôn tính lẫn nhau, sau còn độ 100, nhưng chỉ có mấy nước sau này là mạnh: Tề, Sở, Tấn, Tần, Lỗ, Tống. Nhà Chu tuy suy, song các nước chư hầu chưa nỡ hoặc dám bỏ; họ chỉ dẹp lẫn nhau để được làm minh chủ (gọi là bá). Năm chư hầu kế tiếp nhau làm minh chủ, là Ngũ Bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Sở Trang Công, Tần Mục Công.

Khổng Tử chép lại thời hỗn loạn ấy trong cuốn Xuân Thu, người sau nhân đó gọi là thời đại Xuân Thu (772-479).

Từ năm 403 đến năm 221, các chư hầu đánh nhau liên miên. Thời đó gọi là thời Chiến Quốc, có 7 nước mạnh nhất là Tần, Sở, Yên, Tề, Nguỵ, Triệu, Hàn. Sau Tần diệt được nhà Chu và 6 nước chư hầu kia, thống nhất Trung Quốc. Thế là chế độ phong kiến tàn và bắt đầu chế độ quận huyện 12 .

Trong thời Thượng cổ ấy, dân tộc Trung Hoa mới đầu chiếm lưu vực Hoàng Hà rồi các chư hầu lần lần mở rộng đất đai. Khi Tần thống nhất giang sơn thì bờ cõi đã gồm cả lưu vực sông Dương Tử (cũng gọi là Trường Giang).

Về kinh tế, nông nghiệp thịnh hơn cả, Nhà Ân, nhà Chu theo phép tỉnh điền, nghĩa là chia đất ra 9 khu, hình chữ "tỉnh" 井; mỗi nhà lãnh một khu ở chung quanh và phải chung nhau cày cấy khu giữa cho nhà vua. Nhờ cách ấy mà trong dân gian không có nhiều sự chênh lệch về giàu nghèo. Đến đời Xuân Thu, Thương Ưởng làm tướng nước Tần, bỏ phép tỉnh điền, cho dân tự do làm ruộng, nên giàu nghèo mỗi ngày một chênh lệch, nhất là trong đời Chiến Quốc, thương mãi lại khá phát đạt. Do đó, sự cách biệt giữa 2 giai cấp quý tộc và bình dân bớt đi (kẻ buôn bán giàu có mua được đất đai của nhà quý tộc), nhưng đồng thời xuất hiện 2 giai cấp khác: bần và phú.

 

2. KHỞI NGUYÊN CỦA VĂN TỰ TRUNG HOA

Các học giả đời Chiến Quốc đều nhận Sương Hiệt 蒼頡 là người đầu tiên đặt ra văn tự. Nhưng Sương Hiệt ở đời nào thì không ai biết. Vả lại, theo lý, đặt ra chữ tất phải là công của nhiều người, mỗi người góp một chút, lần lần mới thành.

Gần đây người ta đào ở An Dương (Hà Nam) nhiều mu rùa, xương loài vật, và đồ đồng như chuông, đỉnh… trên đó khắc chữ. Các học giả cho các chữ khắc đó vào đời Thương. Nếu thuyết ấy đúng thì hình thức chữ đời Thương chưa được nhất định. Như chữ là ngựa (馬) tuỳ chỗ mà thấy khắc như sau này:

Chữ kiến là thấy (見) cũng có 4 lối:

Xét chữ Mậu Thìn (năm mậu thìn: 戊辰) – coi hình dưới – ta thấy nó phản phất như chữ bây giờ thì ta có thể đoán được rằng văn tự Trung Quốc phải phát sinh trước đời Thương khá lâu.

Đại loại những văn tự khắc trên đồ đồng thời Thương phần nhiều ghi những lời bói (về mưa, nắng) 13 và một đôi việc quan trọng xảy ra. Lời văn rất giản lược.

 

3. VĂN KÝ SỰ ĐỜI XUÂN THU

Thượng Thư (尚書), Chu cáo (周誥), Tần thệ (秦誓) (Đều chép trong Kinh Thư).

Đến đời Tây Chu, chẳng những chữ viết đã nhiều hơn, tề chỉnh hơn, mà lời cũng văn hoa hơn. Người ta đã thấy những bài thơ có điệu và những bài trường thiên ký sự gọn gàng, bóng bẩy như những thiên Thượng Thư, Chu cáo, Tần thệ mà tác giả không rõ là ai.

Thượng Thư là sử liệu tối cổ của Trung Quốc, trong đó những thiên Nghiêu điển, Vũ cống, kể những việc xảy ra trong đời Nghiêu và Thuấn. Thiên Nghiêu điển có lẽ viết vào khoảng 776-600 trước Công nguyên, tức vào đầu đời Xuân Thu.

Chu cáo chép những lời vua nhà Chu bố cáo cho thiên hạ, cũng rất quan trọng về phương diện sử liệu, và so với Thượng Thư thì nghệ thuật tấn bộ hơn.

Đến Tần thệ (lời thề của vua Tần 14 ) thì văn đã đẹp đẽ, đọc lên thấy hứng thú, như đoạn dưới đây:

眛眛我思之:如有一介臣,斷斷猗,無他技;其心休休焉,其如有容;人之有技,若己有之;人之彥聖,其心好之,不啻如自其口出;是能容之,以保我子孫黎民;亦職有利哉!人之有技,冒疾以惡之;人之彥聖而違之,俾不達;是不能容,以不能保我子孫黎民;亦曰殆哉!邦之杌陧,曰由一人;邦之榮懷,亦尚一人之慶。

Phiên âm:

Muội muội ngã tư chi: như hữu nhất giới thần, đoán đoán y, vô tha kỹ; kỳ tâm hưu hưu yên, kỳ như hữu dung; nhân chi hữu kỹ, nhược kỷ hữu chi; nhân chi ngạn thánh, kỳ tâm hiếu chi, bất sí như tự kỳ khẩu xuất; thị năng dung chi, dĩ bảo ngã tử tôn lê dân; diệc chức hữu lợi tai! Nhân chi hữu kỹ, mạo tật dĩ ố chi; nhân chi ngạn thánh nhi vi chi, tỉ bất đạt; thị bất năng dung, dĩ bất năng bảo ngã tử tôn lê dân; diệc viết đãi tai! Bang chi ngột niết, viết do nhất nhân; bang chi vinh hoài, diệc thượng nhất nhân chi khánh.

Dịch nghĩa: 15

Ta trầm tỉnh suy nghĩ: Như có một người bề tôi có đức thành thực, không cần tài gì khác; lòng thì yêu điều thiện, dung được kẻ khác; kẻ khác có tài cũng như mình có; kẻ khác thông minh đức hạnh thì lòng thành thật yêu mến chớ không chỉ yêu ngoài miệng; như vậy là người bề tôi ấy biết dung người mà sẽ giữ gìn cho con cháu, lê dân ta được; dùng người đó thật lợi cho nước thay! Còn nếu có người bề tôi thấy kẻ khác có tài mà ghen ghét; thấy kẻ khác thông minh đức hạnh mà ngăn cản khiến cho kẻ đó không thành đạt; thế là không biết dùng người mà sẽ không giữ được con cháu lê dân cho ta; dùng người đó thật nguy cho nước thay! Nước mà nguy biến là do một người; mà nước vẻ vang, yên ổn cũng do phước của một người (ý nói do người bề tôi hiền hay không).

 

TÓM TẮT

  • Tương truyền là SƯƠNG HIỆT đặt ra văn tự Trung Hoa nhưng thuyết ấy không chắc đúng. Đặt ra văn tự phải là công của nhiều người.
  • Văn tự có trước đời Thương (1783-1135) đến đời Thương chữ chưa được nhất định, nhưng nhiều chữ đã phảng phất như bây giờ.
  • Những thiên ký sự đầu tiên của Trung Quốc là Thượng thư, Chu cáo, Tần thệ… ở đời Xuân Thu.

    Văn trong Tần thệ có nghệ thuật khá cao: mạch lạc, khá rõ ràng, lời lẽ bóng bẩy nhưng cũng còn nhiều chỗ tối nghĩa.

  • --------------------------------
    1"Văn tâm điêu long" là tên một bộ sách luận về văn. Tác giả là Lưu Hiệp ở đời Lục Triều. Sở dĩ gọi là Văn Tâm vì có câu: "Ta hồ! Văn chương chi sự, thốn tâm thiên cổ". (Than ôi! Cái việc văn chương, một tấc lòng mà để ngàn năm!).
    2Khi nhà Tần (cách đây trên 2000 năm) thống nhất văn tự rồi thì quan lại, văn nhân và học sinh đều dùng những chữ đã được quy định. Nhưng tiếng nói thay đổi hoài từ đời thời này qua thời khác, từ miền này tới miền kia, thành thử lối văn được quy định ấy mà sau gọi là cổ văn, mỗi ngày một cách biệt với lối thông thường trong dân gian tức là bạch thoại và cổ văn hoá ra mỗi ngày một khó. Gần đây có một cuộc cách mạng trong văn học Trung Quốc, bỏ cổ văn, dùng bạch thoại và hiện nay báo chí, sách vở đều viết bằng bạch thoại. Bạch thoại cũng có người đọc là bạch hoại.
    3Tức "Bảng kê tên các tác giả và tác phẩm đã nói đến trong sách".
    4Phép đặt tên tự như sau này. Ví dụ tác giả cuốn Việt sử giai thoại, họ Đào tên Nhất. Trong Luận ngữ có câu của Khổng Tử: "Ngô đạo nhất dĩ quán chi" (Đạo ta có một mối mà gồm đủ các mối). Ông Đào lấy 2 chữ Quán chi làm tên tự. Hễ thấy tên Quán chi thì người học nho nhớ ngay tới câu ấy và đoán được tên ông là Nhất.
    Bùi Kỷ lấy tên là Ưu Thiên vì trong Tả Truyện kể chuyện một người nước Kỷ lo trời sập (Ưu thiên là lo trời).
    Hoàng Tích Chu lấy tên là Kế Thương (nối nhà Thương) vì nhà Thương nối nhà Chu.
    Tên hiệu có hai cách đặt:
    a) Hoặc lấy tên núi sông, tên làng, tổng, phủ, tỉnh, nơi mình ở mà đặt: như Nguyễn Khắc Hiếu quê ở Sơn Tây, nơi có núi Tản, sông Đà, nên ông lấy tên hiệu là Tản Đà; một nhà nho khác ở Sơn Tây, làng Phương Khê, lấy tên là Phương Sơn.
    b) Hoặc thích cái gì thì lấy cái đó đặt tên: như Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ.
    5Trước cuốn đó còn có cuốn A history of Chinese Literature của H.A.Giles.
    6Trước khi chế ra giấy, người Trung Hoa khắc chữ lên thanh tre hoặc viết trên lụa.
    7Tức Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha.
    8Tác giả cuốn La Littérature chinoise.
    9Tác giả bộ Histoire de la Littérature chinoise (3 cuốn).
    10Đều là những tiểu thuyết quá lãng mạn.
    11Từ đây trở đi, chúng tôi sẽ gọi tắt là văn trào.
    12Coi chương 1 phần nhì.
    13Điều ấy chứng rằng đời Thương, dân tộc Trung Hoa đã trải qua giai đoạn du mục mà bước vào giai đoạn nông nghiệp.
    14Có tài liệu bảo là Tần Mục Công.
    15Văn đời Thượng cổ rất khó hiểu (vì những lẽ: lời gọn quá, nhiều chữ mà nghĩa đã thay đổi, cách đặt câu khác bây giờ, cổ nhân lý luận không minh bạch), đời sau mỗi người chú thích một khác. Chúng tôi châm chước những lời chú thích ấy và muốn cho rõ ràng, chúng tôi không ngại dài dòng, có khi phải thêm ít lời cho xuôi nghĩa.