vietmessenger.com


Chồng Con

Trần Tiêu

Chồng Con





Phần thứ nhất


Chương I

Cứ kể xã Bổng cũng vào bậc khá trong xóm.

Hắn có một cái nhà "trên" hướng Nam, một cái nhà "ngang" hướng Đông, sát đầu nhà ngang một chuồng lợn; bên kia, đối diện với nhà ngang, một cái bếp và một cái chuồng trâu nối liền nhau. Tất cả những nhà ấy vây bọc lấy ba phía cái sân đất nện vuông vắn, nhẵn nhụi như chiếc chiếu rộng. Còn một phía trước mặt là bức tường đất gồ ghề, trên cắm xương rồng mặt nguyệt. Cổng ra vào mở ngay ở đầu chuồng lợn. Ở khoảng đầu nhà trên và nhà bếp là một màu đất vuông để đống rạ.

Vì hết chỗ, và vì tiện lợi nữa, bốn năm cái nồi "chân" và một cái vại mẻ đựng nước tiểu đặt thành rẫy (dãy) dài từ cổng đến tận cái tường hoa thấp xây chung quanh dải đất ăn lấn vào sân. Phần nhiều nhà chật hẹp đều thế cả, nên kể ra, người vào đã quen với mùi nước tiểu và mùi phân lợn. Vả lại những thứ ấy rất cần cho lúa má nên ai cũng quý và không ai kêu ca. Chả thế mà có người quá hà tiện, lúc đi đường cố nhịn để về giải vào vại nhà.

Chính giữa quay mặt vào nhà trên, một "cầy hương" xây gạch, cao như cái cột vuông, chia làm hai tăng. Tầng trên, hình cái đấu có hậu bành, hàng chục bát hương nhỏ bày la liệt chung quanh một bát hương lớn: chân hương đỏ cắm tua tủa, đã gần bạc hết màu vì dầm mưa dãi nắng. Những bát hương nhỏ là những vị hợp với số thờ của mẹ và vợ chồng Bổng. Tầng dưới có cái miếu con, trong xây bệ thờ trên đặt chiếc bát hương sứ, trước bức tranh hổ vẽ màu sặc sỡ. Một cái mành mành hoa che cửa, giữa đôi câu đối viết ngay vào tường vôi.

Trước mặt cây hương, một cái bể con chỉ đựng nổi chừng mươi thùng nước, chia rẻo đất và tường hoa ra hai phần đều nhau.

Trong rẻo đất, một hàng sáu cây cau cao vút và hai cây chanh cỗi ở hai đầu bể.

Cây cối và cây hương, Bổng không biết có tự đời nào, nhưng thời còn ẵm nách, hắn đã trông thấy rồi. Cây hương khi ấy, đối với hắn, cao quá đến nỗi hắn phải trèo lên thành bể, nghển mãi cổ mới nhìn thấy bát hương.

Biết bao kỷ niệm: Từ đời nào không biết cho đến đời hắn, rồi đến đời con, đời cháu, đời chắt hắn, tháng Giêng mỗi năm lại có một ngày lễ dâng sao thường gọi là lễ năm mới.

Ngày ấy cây hương biến thành một cái đàn, một nơi tụ họp của bà con hàng xóm. Mặt bể ghép cánh cửa thành một cái bệ trên để rượu, gà, xôi, oản, chuối và những cổ mũ lóng lánh những mặt gương, những trang kim, lòe loẹt những đầu rồng, đầu phượng xanh, tím, đỏ, vàng. Một vị hòa thượng, vẻ mặt từ bi, trong chiếc áo cà sa, màu nâu thẫm, cùng các vãi đến niệm Phật cầu nguyện cho nhà hắn làm ăn thịnh vượng quanh năm. Rồi những ngày rằm, mồng một, những ngày ốm đau hay hoạn nạn, những ngày làm ăn thua lỗ đều nhắc hắn cầu khấn đến cây hương.

Nhà trên của Bổng là một nếp nhà ba gian hai chái, bằng gỗ lợp ngói. Cái nhà ấy đến hắn là năm đời, nhưng so với những nhà mới dựng cũng không khác mấy. Có phần thấp hơn, nhiều cột và chạm trổ sơ sài hơn. Nếu không có màu mốc bạc và những vết tròn trắng như phân chim thì ít ai biết được nhà hắn đã có lâu đời.

Lịch sử nhà hắn, hắn thuộc rành rọt. Ai hỏi, hắn sẽ trả lời trôi chảy: "Thưa, cái nhà này làm từ đời cụ tuần (tuần tổng), cụ ngũ đại nhà tôi. Cụ giàu lắm; sân trước, sân sau, vườn, ao rộng rãi gấp ba gấp bốn bây giờ. Nhà này xưa kia lợp ngói cho mãi đến đời cụ tổng Cống là tam đại nhà tôi. Cụ này chơi bời hào phóng lừng lẫy một thời. Cụ chẳng để tâm gì đến việc cửa việc nhà. Vì thế, nhà dột nát, cụ cũng chẳng buồn chữa. Đến đời cụ Lý đẻ ra thầy tôi thì vườn, ao, và sân sau đã vào tay hàng xóm. Thầy tôi kể lại rằng cụ Lý tôi hà tiện lắm, không dám bỏ tiền ra lợp lại. Bao nhiêu ngói lành, cụ tôi cho lợp ra đằng mái trước, còn mái sau, cụ tôi lợp rạ. Thế mà lúc cụ Lý tôi mất, cụ cũng chẳng để lại cho thầy tôi được mấy tí, ngoài con trâu với vài mẫu ruộng".

Đồ đạc, từ bàn thờ cho chí giường phản, đều cổ như cái nhà của hắn. Trong ấy có một cái hòm gian kê ngay trước mặt bàn thờ là đặc sắc hơn cả. Hắn coi như một gia bảo, ít người có: Hòm có tám chân và chắc chắn như tám cái cột, những khung, những ván dày dặn, ngoài mặt có những đồng trinh cổ to gần bằng đồng bạc đóng liền sít nhau như những tờ giấy tiền (giấy mã có in những đồng tiền) bận ở các hàng mã nhà quê. Cứ trông hình thù nó thì hai chục người vị tất đã khiêng nổi. Trong hòm đựng những gì, vợ chồng hắn giấu kín. Nhưng cả xóm, cả làng, ai cũng biết hắn có độ chục bát mẫu cổ của cụ Cống để lại, ba cái nam bạch định, một cái khay tre chạm khắc và một bộ đồ chè. Những thứ ấy đều cổ cả. Hắn chỉ đem ra bày trong những ngày Tết hay ngày kỵ. Cả đời, hắn chẳng dám sắm thêm thứ gì khác, nhưng hắn cũng chưa hề cầm cố, bán chác để đến nỗi mang tiếng mang tai.

Kê ở hai gian bên đối nhau một cái giường và một chiếc khung cửi (đồ hồi môn của vợ). Giường quang dầu, có lan can, đã trải qua một thời gian dài, đã từng biết bao nhiêu sự buồn, vui, tủi, nhục của bao cuộc đời bằng phẳng, tối tăm, không thay đổi. Cái giường quý ấy truyền từ đời ông cẫm bà cẫm, ông kỹ bà kỹ cho đến đời vợ chồng hắn mới gẫy có một chân. Hắn đã thay vào một thanh gỗ mộc. Nhiều người chê và bảo sao không quang dầu cho đẹp. Hắn cười, hứa sẽ làm theo chiều ý khách, nhưng hắn vẫn để nguyên như cũ. Hắn nghĩ bụng: "Cái giường chứ cái gì mà phải vẽ ra quang dầu quang diếc cho thêm phiền".

Hắn chỉ chăm nom, săn sóc riêng một cái bàn thờ. Ở đó mà khiếm khuyết thứ gì thì hắn băn khoăn, nghĩ ngợi cho tới khi bồi bổ xong mới yên tâm. Chả thế mà bộ thất sự lâu ngày tróc sơn, hắn thân hành cùng phó Vân lên tận tỉnh mua vàng son về tô lại. Việc trang hoàng bàn thờ là cái thú vào bậc nhất của hắn. Hắn sung sướng hay khổ sở cũng vì ở đó một vài phần.

Còn một vật nữa, hắn ham mê săn sóc đến luôn là cái diều, mười lăm thước - thước ta - phất cậy, gác trên xà nhà ngang suốt dọc gian giữa, một bộ sáo năm; một chiếc sáo cồng và một cuộn dây tre quấn vào cái vòng mây như chiếc vành bánh ô-tô.

Bắt đầu từ tháng Tư cho đến tháng Bảy, không mấy chiều có gió mà người ta không thấy hắn với một vài người anh em họ đem diều ra thả trên dọc đường cái quan. Thả xong mấy anh em dong về buộc gốc cây ngay đầu ngõ. Hắn ngồi ngây ra hằng giờ ở thềm nhà trên ngắm diều và nghe sáo, trong khi mẹ hắn cúi gập người làm đôi quét sân và vợ hắn hì hục thổi cơm, nấu nước, băm bèo, quấy cám cho lợn. Không ai trách được hắn. Hắn đã làm việc vất vả, nặng nhọc ở ngoài đồng từ tang tảng sáng cho đến xế chiều. Con trâu của hắn, đi làm về lúc nào cũng sạch sẽ bóng mượt. Lưỡi cày, răng bừa lau chùi không bao giờ để rỉ.

Vả lại, hắn lấy vợ đã bảy tám năm trời mà chưa có con. Vậy mà hắn không rượu chè, không cờ bạc, không mượn cớ lấy vợ lẽ thì hắn ham mê chơi diều là phải lắm. Vợ hắn cũng hiểu thế nên rất mực chiều chồng tuy không bao giờ để lộ ra nét mặt, sợ chồng biết mà kiêu hãnh chăng.

Mẹ hắn có ý bực bội về nỗi ngoài năm mươi tuổi đầu vẫn chưa có cháu nội. Hai cô con gái mới về nhà chồng được ba bốn năm mà cô nào cô ấy đã con bồng, con bế. Cháu ngoại tuy cũng là cháu, nhưng không thể so sánh với cháu nội được. Lắm lúc nỗi bực tức của bà trội lên mạnh quá bật ra những tiếng thở dài và một câu phẫn uất: "Ối chao ôi! Người ta đẻ đông đẻ tây mà mày thì cứ ỳ ra thôi!" Thấy nàng dâu buồn tủi, rơm rớm nước mắt, bà hối hận nói chữa: "Tao thì tao trông mày chẳng bệnh tật gì cả. Hay là tại thằng chồng mày? Hay là tại số chúng mày muộn màng? Ừ chắc có lẽ số chúng mày muộn màng. Cụ tổng Cống ngày xưa cũng mãi đến năm bốn mươi tuổi mới sinh cụ Lý". Bà tìm hết lời an ủi. Không những bà không ghét nàng dâu mà lại còn nể nữa. Ông khán Tịn, chồng bà, mất đi đẻ lại ba đứa con dại, bà phải xốc vác, lo lắng đủ mọi việc. Nhưng từ ngày bà có nàng dâu, bà không phải nghĩ ngợi, không phải mó tay vào việc gì ngoài những việc nhẹ nhàng như đánh ống, đánh suốt, quét nhà hay cho gà ăn. Nàng dâu bà đảm đang quá. Thôi thì dệt vải, may vá, đi chợ đi búa, làm cơm, làm nước, buôn ngược bán xuôi, tần tảo, làm lợi cho nhà bà khá nhiều mà không bao giờ phàn nàn về nỗi vất vả. Mười chín tuổi đầu mà biết đủ mọi việc như thế thì thật là hiếm có, một nàng dâu hiếm có.

Những lời an ủi của bà không làm cho nàng dâu hết buồn, hết tủi. Nàng quên sao được những câu thốt tự tâm bà và những lời cợt giễu ông chú bà bác, của những hàng xóm láng giềng. Chỉ một câu: "Người hơ hớ thế kia mà chẳng đẻ đái gì cả" cũng đủ khiến nàng nghĩ ngợi, cho như một câu nguyền rủa.

Mỗi lần về thăm bố mẹ đẻ, mẹ nàng lại xoa bụng nàng và nói: "Cố bằng chị bằng em chứ. Sao mà con gái tôi lười biếng thế?" Nàng đỏ mặt, trả lời bằng một giọng chua chát: "Lúc đẻ thì tự khắc đẻ chứ cố cũng chẳng được".

Thật thế, nàng đã tìm hết cách. Nàng đã sang tận bên Họ, tìm đến ông lang chuyên chữa về đường tử tức. Nàng đã nhờ ông khóa vịnh vừa là họ ngoại, vừa là thầy cúng, lần mò vào tận Hương Tích kêu cầu, xin dấu. Chẳng hội đền nào là nàng không ngầm gửi tiền ông ta đi lễ hộ. Nàng mua cả thuốc mường, thuốc mán. Nàng đã xin sư cụ chùa Tiên nổi tiếng về môn phù thủy một đạo bùa cầu tự buộc vào cổ yếm mà nàng có ý luồn trong áo để mọi người khỏi biết, sợ họ cười. Nàng đã xem bói và thầy bói đã bảo cho nàng biết rằng số nàng muộn màng, đến năm hăm tám thì có con giai và sẽ con đàn cháu đống. Nàng vẫn bán tín bán nghi. Nàng nghĩ thầm: Lắm người khô như hạc còn đẻ huống chi nàng, thân hình tròn trĩnh. Nàng lại nghe thấy người ta nói: người đàn bà nào vú nở và lưng hơi gù thì lắm con. Lời ấy đúng như tướng mạo nàng.

Bởi vì nàng không ưa trẻ nên hiếm hoi thì thật vô lý. Từ ngày nàng còn bé, còn là cái đĩ, nàng đã thích có em. Nàng thường lấy cái gối mây của bố làm con, lấy áo cộc làm tã. Nàng bồng bế, hôn hít, ôm ấp vào lòng. Nàng ru con ngủ trên võng hay đặt con nằm trên phản. Nàng cũng bắt chước mẹ, giả đi chợ đông bán và trong trí lúc nào cũng nghĩ đến đứa con nằm nhà. Khôn lớn lên, nàng thích bế những đứa trẻ thực, những đứa trẻ bụ sữa, mũm mĩm như bột nặn. Nàng ôm chặt lấy hôn hít, thích ngửi mùi sữa thơm ở đứa trẻ. Lắm lúc nàng nghịch để đầu ngón tay út hay để môi vào mồm xinh xinh của đứa trẻ. Đứa trẻ ôm chầm lấy bú lấy bú để.

Bảo nàng vô tình thì lại càng vô lý. Trái lại nàng lúc nào cũng xuân tình nồng nàn. Nàng sớm dậy thì. Từ năm nàng mười lăm mười sáu, đứng trước trai tơ nàng đã thấy nóng bừng cả mặt, vì thế mà nàng có vẻ thẹn thùng e lệ. Cử chỉ vụng về, lời ăn tiếng nói không được tự nhiên cũng vì thế. Vài năm nay tình nhục dục của nàng càng thêm bồng bột.

Nàng đĩ người nhưng không đĩ nết. Nhờ có nết mà nàng không đến nỗi ngoại tình và còn giữ được trinh khi về nhà chồng.

Còn chồng nàng?... Nàng thấy chồng nàng có tính lãnh đạm, thờ ơ, ít khi nồng nàn như nàng. Hay là tại thế mà nàng hiếm hoi? Không, không phải thế. Chồng nàng vốn khỏe mạnh, và phần nhiều đàn ông có tính lãnh đạm, cứ gì một chồng nàng. Nàng cố tìm lẽ chống chế để khỏi sinh ra thù ghét chồng.

Nàng thường nghĩ liên miên như thế, song lần nào nàng cũng kết thúc bằng một giọng quả quyết: Thế nào mình cũng phải đẻ.

Chương II

Một buổi trưa hè chói lọi và nồng nực.

Sáu ngọn cau với những tàu lá mềm rũ, lóng lánh như thép, in lên da trời xanh thẳm. Không một vẩn mây. Những mái tranh khô đét, với những tia khói bốc ở dưới lên như sắp bật lửa.

Mẹ, mình trần, mặc mỗi cái yếm nâu, đầu xõa tóc, ngồi phệt xuống thềm nhà trên, tay cầm quạt mo phe phẩy từng hồi. Ánh sáng chói trên mặt sân phản chiếu làm cặp mắt bà nhíu lại.

Nàng dâu ngồi trên ngưỡng cửa cúi xuống đầu mẹ rẽ tóc bắt chấy, cả hai mẹ con, không một lời nói. Hình như khí nóng của trưa hè đã ru ngủ tâm hồn họ và làm cho họ lười nghĩ. Chốc một lại vẳng đưa những tiếng gà gáy xa xăm, và luôn luôn những tiếng ru trẻ và tiếng võng đưa kẽo kẹt bên hàng xóm.

Đàn sẻ ríu rít dưới mái tranh. Một vài con bay xuống sân. Cả đàn ùa theo, tiếng cánh vù vù, rồi nhảy nhót, mổ những hạt bụi. Con vện ở bếp thủng thỉnh đi lên. Đàn sẻ hoảng hốt bay tán loạn...

Mẹ chồng ngồi, mắt lim dim, ngủ gà ngủ gật. Nhưng mỗi bận nàng dâu tuốt sợi tóc, bà biết hiệu, tỉnh dậy, ngửa bàn tay ra đợi...

Bỗng tự nhiên, bà bật ra câu nói:

- Mày ạ. Tao không dáo vải được đâu. Mấy hôm nay, tao thấy cái chân nó lại rức (nhức).

Bà nói và đầu vẫn không động đậy, mắt vẫn lim dim nhìn ra sân.

Nàng dâu trả lời một cách thản nhiên:

- Vậy bu để con dáo cũng được.

- Ứ ừ, không được. Mày còn bận nhiều việc. Để tao thuê thím Tâm thím ấy dáo. Có năm xu một buổi với một bữa cơm thôi mà.

- Vâng, cũng được.

Hai mẹ con lại im lặng.

Bên hàng xóm, cái Gái hát ru em:

Cái ngủ mày ngủ a... cho lâu.

Mẹ mày đi cấy a... ruộng sâu chưa về...

Giọng nó trong, kéo dài, nhỏ dần như mỏi mệt, buồn ngủ, làm cho bà mẹ bên này cũng muốn ngủ lây.

Dưới tàu cau, dưới bóng cây, những con sẻ ríu rít se sẽ như thì thầm.

Một con gà sống ở chuồng lợn nhảy ra, đi dõng dạc đến đống bẩn ngay cửa bếp. Nó lấy chân vãi bẩn tung tóe ra chung quanh, rồi vừa mổ vừa cúc cúc một hồi. Ba con gà mái ở chuồng lợn cùng nhảy ra, chạy vội lại, tranh nhau mổ.

Nàng dâu giật mình ngửng lên nhìn rồi lại cúi xuống bắt chấy.

Anh đi, em chửa a... có chồng.

Anh về, em đã con dắt, con díu a... con bồng con mang.

Mấy câu hát ấy đưa sang như rót vào tai hai người làm cho họ lại nhớ đến nỗi quạnh hiu buồn tẻ.

Mẹ thở dài, nói:

- Mày ạ, mày gửi thế không ăn thua đâu.

- Bu bảo gửi gì cơ?

- Gửi lễ chứ gửi gì... Ý tao... tao muốn mày phải thân chinh đi đến nơi đến chốn mà cầu tự thì mới hiệu nghiệm. Hoặc chùa Hương hay đền Sòng, đền Kiếp hay là đền... đền gì ở gần Nam Định ấy nhỉ?

- Phủ Giầy.

- Ừ phải, đền Phủ Giầy. Tao thấy họ nói linh thiêng lắm.

- Đền ấy hội ngay từ tháng Ba rồi. Có đi thì lại phải chờ đến tháng Ba năm sau.

- Hay là tháng Tám này, mày đi trẩy hội đền Kiếp với bọn ông khóa Vịnh.

- Con nghe nói đền ấy chỉ để cho những người có ma hay hữu sinh vô dưỡng.

- Thế con ông hội Lĩnh? Cũng con cầu tự đền Kiếp đấy chứ đâu... Mà biết đâu, mày cũng có ma thì sao?

Nàng dâu gượng cười:

- Bu chỉ nói dại.

- Dại gì! Lắm người đi cầu tự mà rồi té ra có ma, như con gái bác Trương Bách đấy nhé. Được, tháng Tám này mày cứ đi đền Kiếp rồi tháng Ba năm sau lại đi Phủ Giầy.

- Vâng.

Nàng không muốn kéo dài câu chuyện ấy, vì mỗi lần nhắc đến là mỗi lần nàng đau khổ, tự cho mình như một người thừa. Nàng không muốn ai biết rằng nàng đương băn khoăn, khao khát về đường con cái, nàng đã hết sức giấu diếm, tưởng chỉ một mình nàng với những người mà nàng đã thổ lộ can tràng để nhờ cậy họ giúp là biết thôi. Lạ thật! Thế mà sao mẹ chồng nàng biết được. Bà đã biết một việc, tất những việc khác bà cũng biết. Nghĩ vậy nàng đâm ra bực tức với mình, với mẹ chồng, với hết thảy mọi người mọi vật chung quanh.

Con vện không để ý đến nỗi bực tức của nàng. Nó nằm, một chân sau co lên gãi tai, đập vào thành cửa thình thịch.

Nàng khó chịu cau mày, quay ra, quát: "Vện! Xuống!" Con vện nằm yên, vểnh tai nghe lấy làm ngạc nhiên. Nó còn ngờ, vì mọi khi nàng vẫn là một bà chủ hiền lành nhân hậu.

Thấy con vện không nhúc nhích nàng cáu tiết, quát to thêm: "Vện! Xuống! Xuống ngay!"

Không còn ngờ gì nữa. Bà chủ nó, hôm nay làm sao ấy. Biết rằng không nghe thì sẽ khó đến thân, nó đứng dậy, duỗi bốn chân, uốn mình, vươn vai ngáp. Đoạn nó uể oải bước xuống sàn và đi xuống bếp với con vàng. Những móng nó đặt trên đất rắn kêu tanh tách se sẽ và hàng vú chảy xệ đưa bên nọ sang bên kia. Sáu con nó đẻ lứa vừa rồi, bà chủ nhà nó đã đem cho và bán cả. Ngót tháng trời, nó buồn, nó nhớ lũ con, nhưng nay nỗi buồn nỗi nhớ đã khuây hết. Bây giờ nó lại sẵn sàng đẻ lứa khác.

Nhà trên trở lại yên lặng như tờ... Ngồi đã chồn chân và thấy nàng dâu không được vui, mẹ chồng cất tiếng: "Thôi, để lúc khác", rồi đứng dậy ưỡn mình, vươn vai ngáp.

- Trưa nay oi quá, mày nhỉ. Tao đi ngủ tí, mệt nhoài cả người... Mày đánh nốt mấy ống hộ tao nhé. Đánh cho kịp để mai còn mắc vải mà dệt chứ. Dạo này nghe vải tấm lại cao rồi đấy.

- Vâng, mỗi tấm cao được năm xu. Nhưng rồi chẳng bao lâu họ lại bán cao vải sợi lên. Nghề đời vẫn thế. Họ chẳng chịu cho mình được chút lời.

- Ấy thế mới lại càng phải làm "vổ vất" lên. Thôi, tao đi nghỉ. Mày đánh xong rồi làm việc gì hãy làm.

- Vâng. - Nàng vừa đi vào trong nhà lấy mấy vòng sơi dáo rồi, mắc vào cái quang, còn mẹ chồng nàng thì đến ngả lưng trên chiếc giường quang dầu có lan can của vợ chồng nàng.

Một lát sau, tiếng vỏ ống, tiếng guồng quay sè sè, vang động cả buổi trưa.

Tuy hai tay nàng làm việc nhanh nhẹn như máy mà tâm trí nàng vẫn bám lấy nỗi bực rọc (bực dọc). Lúc này nàng muốn có công việc gì phải dùng đến trí nghĩ, nhưng giá có công việc ấy cho nàng thì nàng sẽ làm hỏng hết, vì nàng không thể tự chủ được, không thể đem trí nghĩ vào việc gì ngoài việc con cái.

Tiếng ống đập vào trục, tiếng guồng quay hình như cũng gay gắt, bực bội. Nàng chỉ muốn đứng phắt dậy đi sang hàng xóm nói chuyện cho khuây khỏa. Nhưng, biết làm thế nào? Nàng phải đánh cho xong năm cái ống còn lại. Nàng còn phải giã hết cối gạo bỏ dở ban sáng. Nàng còn phải thổi cơm, nấu nước, băm bèo, quấy cám cho hai con lợn. Cái gì cũng do tay nàng và nàng phải làm trong lúc bực tức.

Mọi lần, nỗi bực tức ấy chỉ thoáng qua óc nàng, nhưng lần này... lần này có lẽ vì mẹ chồng nàng đã biết việc thầm kín của nàng, vì nàng đã đoán chắc họ hàng, làng xóm đều biết như mẹ chồng nàng. Nàng đánh xong năm ống chỉ và một rổ suốt để tối nay dệt nốt tấm vải cuối cùng của lứa trước. Lúc quay ra thì đã xế chiều. Sáu cây cau, cây hương dãy nhà ngang đã ngả bóng cả về đằng đông. Gió nồm bắt đầu hây hây thổi. Những tàu cau cọ vào nhau sột soạt. Bên kia tường, vài chiếc diều con trắng sáng, nhẹ nhàng như cánh bướm, nghiêng ngả chao đi chao lại trên nền trời xanh biếc.

Nàng đứng dậy, giật mạnh cánh tay mấy cái và bẻ những ngón tay cho đỡ mỏi. Nàng yên lặng một lúc, lắng tai nghe những câu quát tháo của bà mẹ bên hàng xóm. Những câu chửi rủa con cái đưa sang rõ mồn một: "Sao chúng mày không chết quách đi. Rõ cái tội cái nợ. Lũ quỷ lũ quái, sống chỉ tổ ăn hại đái nát... Đẻ! Đẻ cho nhiều vào để mang công mắc nợ. Thật đấy cứ hiếm hoi như chị xã bên ấy còn sung sướng hơn gái sề này".

Nàng tủm tỉm cười, đi thẳng xuống bếp lấy rổ và cái sào trên ngọn cài chiếc rế cũ ra ao vớt bèo; cái ao mà nàng đã thuê mỗi năm ba đồng của bà khán ở đằng sau. Cái ao ấy, nghe nói, ngày xưa là của cụ tổng Cống bán lại cho ông cụ sinh ra bố chồng bà khán.

Trên cầu ao bên kia, bà khán đang tắm cho thằng cu cháu, một đứa trẻ mũm mĩm như hạt mít. Con dâu cả bà đẻ đến đứa này là sáu, không kể hai đứa chết về sài và chết về cam sũng.

Nàng thở dài, lẩm bẩm nói một mình:

- Sao người ta thì dễ thế mà mình thì cầu hết đền này phủ nọ cũng chẳng đẻ!

Bên kia ao, bà khán nói sang:

- Này chị xã! Đã thấy gì chưa hay vẫn ỳ ra đấy?

Nàng vờ không nghe tiếng, cúi gò xuống vớt bèo.

Thằng cu cháu vừa khóc vừa giằng tay bà nó, hai chân đạp xuống cầu ao bành bạch. Bà khán đe dọa:

- Im ngay! Khóc thì bà vứt xuống ao cho con "nam" nó ẵn thịt bây giờ.

Thằng bé sợ, im bặt và chịu để bà nó kỳ cọ khắp mình. Bà khán lẩm bẩm trong mồm:

- Sao bố mẹ nó lười thế! Để thằng bé bẩn như ma như mãnh. Không có mình thì ghét ngập lên tận mũi.

Bà quay sang cười, nói tiếp:

- Này chị xã ạ. Chị cao số lắm đấy. Cứ lấy vợ lẽ cho anh ấy rồi tự khắc đẻ ngay.

Bà thực thà nói thế nhưng lại cho bà có ý khác. Nàng vội vã vớt cho chóng đầy rổ bèo.

Bên kia bà khán nói tiếp luôn, giọng vui vẻ:

- Này, có thì để tôi làm mối cho anh ấy một người hiền lành và ham việc. Thật đấy, chị ạ.

Nàng cười gượng:

- Vâng, bà làm mối cho. - Rồi cắp rổ quay lưng đi thẳng, tai còn vẳng nghe thấy bà khán phàn nàn một mình - Con bé mập mạp thế mà chẳng đẻ đái gì cả!

Nàng chép miệng nói thầm:

- Dào! Bà chánh hội mười năm mới đẻ thì đã sao?

Nhưng nàng cũng đã ngoài tám năm rồi mà vẫn chẳng thấy gì.

Nàng đến cổng thì một người đàn ông bằng trạc tuổi nàng cũng vừa đến. Hai con chó ở trong bếp sồ ra sủa. Thấy người quen chúng nó ve vẩy đuôi quấn quýt chung quanh nàng và người đàn ông.

Mẹ chồng nàng ở trong nhả bước ra hỏi:

- Ai thế mày?

- Anh Mịch đấy ạ.

Người đàn ông hớt hơ hớt hải, quên cả chào, vừa nói vừa thở:

- Cháu sang xin bà ít lông ở... ở... mông con chó vàng.

- Làm gì mà dùng đến của quỷ quái ấy?

- Bẩm cháu hòa vào thang thuốc cho thằng bé... Ông lang bảo thế thì biết thế chứ mình biết thuốc men ra sao mà...

Nàng đứng cạnh, không thể nhịn cười, ngắt lời:

- Ông lang nào mà lại dùng những thứ oái oăm thế, hở anh?

- Ông lang nào ở bên Hạc ấy. Thấy nói ông ta giỏi về môn cam sài... Sáu bảy ông lang rồi đấy, chị ạ... Tốn quá! Thằng bé cam đã hơn năm nay. Bu nó và tôi cũng chẳng để ý, tưởng nó lớn lên rồi tự khắc khỏi như mấy đứa trước. Ai ngờ bây giờ nó cam nặng quá, lở cả mồm cả miệng, chẳng ăn uống gì được nữa. Thằng bé không khéo đến chết mất, chị ạ.

Nàng thấy hắn nói nhiều quá, sốt ruột bỏ xuống bếp băm bèo. Hắn cũng theo xuống ngồi cạnh, nói cho hết câu chuyện:

- Chị xã ạ, cứ kể hiếm hoi như chị cũng khổ mà lắm con như tôi cũng là cái tội cái nợ. Đời thuở nhà ai, làm đã chẳng đủ ăn mà bu nó cứ năm một thì có chết người ta không! Bây giờ lại bụng to sắp đẻ rồi đấy.

- Cứu bệnh như cứu hỏa mà anh chùng chình thế à?

Ý nàng muốn giục hắn về ngay, vì nàng đã biết hắn hay nói dai.

- Thế chị lấy hộ tôi.

- Chịu thôi, anh đến mà lấy. Nó nằm kia kìa. Anh quen nó không cắn đâu. - Rồi chẳng biết nghĩ thế nào, nàng đứng dậy đi lại vặt dúm lông trắng ở mông con chó vàng. Con chó quay cổ chực cẳn. Thấy chủ nó sợ chạy trốn mất.

Nàng tủm tỉm cười, đưa nắm lông cho Mịch. Hắn còn nói nữa nhưng nàng vội ngắt lời:

- Anh đem về kẻo chị ấy nóng ruột.

Hắn đi ra đến cổng còn ngoái cổ lại nói cho đỡ thèm:

- Chị ạ, nó có chết là tại số nó chứ chúng tôi cũng đã mời hết ông lang ở vùng này rồi.

Nàng lại ngồi xuống, vừa băm bèo vừa nghĩ đến gia đình của Mịch, một gia đình hai vợ chồng, một mẹ già và một đàn con nheo nhóc như đàn lợn, đứa lớn nhất không đầy mười hai tuổi. Nàng nghĩ đến thằng bé út mà thương. Khốn nạn! Mới tháng trước nó còn theo lũ trẻ sang ăn giỗ nhà nàng: Thằng bé đầy đặn tuy mặt mũi nhem nhuốc và quần áo xốc xếch bẩn thỉu. Nàng đã để ý đến cái mũi đỏ hỏn, cái cằm dưới mụn mạy nhầy nhãi. Nàng đã nhắc mẹ nó mua thuốc cam cho nó uống, nhưng mẹ nó không lấy làm quan hệ và nói dãn ra: "À dào! Lớn lên rồi nó khỏi, việc gì phải vẽ thuốc men thêm tốn tiền". Nay cứ nghe lời hắn vừa kể thì có lẽ sâu cam đã ăn vào trong mồm, trong lợi rồi. Thằng bé có chết là chết tại nuôi nấng cẩu thả chứ số với siếc gì. Chả bù cho nàng, mong có đứa con để nuôi nấng mà chẳng được.

Suốt cả ngày, nàng nghĩ quanh nghĩ quẩn về số phận hiếm hoi, động khuây khỏa được chốc lát thì lại có một việc hay một câu chuyện gì nhắc nàng nghĩ tới.

Mặt trời đỏ rực đã khuyết sau rặng tre. Cây cối nhuộm một màu úa. Một vài con chích chòe cất giọng hót lanh lảnh và chim chóc ríu rít dưới khóm cây, dưới mái tranh tìm chỗ trú. Xa xa vẳng tiếng hát mục đồng dong trâu về xóm. Trên không, những tiếng sáo diều âm u, buồn nản...

Chiều rồi mà nàng còn phải làm bao nhiêu công việc. Nàng vội vã đi chất bếp thổi cơm, nấu cám. Rơm rạ hết, nàng phải rút bó cói mà chồng nàng mới mua ban sớm, lúc đi làm. Nàng ngả mái đầu xuống mà thổi. Khói un lên mà chẳng thấy lửa bốc. Hai bỏ cói vừa ẩm vừa tươi. Nàng quên không đem rãi nắng.

Đương lúc bực mình, nàng nói gắt một mình:

- Người đâu có người vụng thế. Vụng khốn vụng nạn! Rồi về tôi bảo.

Cùng lúc ấy chồng nàng ở cổng đi vào, cánh tay quàng lấy cán cuốc vác trên vai, một tay cầm một gốc dành dành cỗi.

Cày bừa đã xong, không phải dùng đến trâu, hắn vác cuốc đi phá những luống thuốc hái cữ tháng năm mới rồi để ngả cấy nếp. Hôm nay còn có năm sáu luống nên hắn làm xong sớm. Trở về, qua xóm lũy, hắn gặp bố con ông chú đương hì hục đánh giậu tre để trồng nhích ra ngoài, vì chú hắn vừa mới tậu thêm được vài thước đất ở đằng trước.

Sẵn có cuốc, hắn rẽ vào làm giúp. Hắn cuốc được ba, bốn khóm. Đến khóm thứ năm hắn vớ được gốc dành dành. Thích chí, hắn bỏ mặc hai bố con nhà chú, đi về. Hắn vừa đi vừa ngắm nghía gốc dành dành. Lúc thì hắn nhìn nó ra con rồng, lúc hắn nhìn ra con long mã, con phượng, rồi sau chẳng nhìn ra gì cả, nhưng hắn thấy đẹp lắm. Hắn sung sướng như người vừa bắt được của. Vì hắn có cái bể đá của cụ tổng Cống để lại. Trước kia ông cụ vẫn thả sen, một thứ sen mà hắn quên mất tên. Hắn đã định kiếm thứ sen ấy về nhưng sau nghe chừng khó kiếm, hắn lại đổi ý, định chắp cái núi con thật xinh như cái núi của cụ cử Hạ. Hắn sẽ đi chợ Hội Am mua vài ông tiên, hoặc ngồi đánh cờ, hoặc ngổi gảy đàn thập lục, hoặc cầm bầu rượu, lom khom chống gậy, và một cái chùa, một anh tiều phu gánh củi, một cái cầu có con trâu với thằng bé chỉ đường ngồi trên. Hắn xếp đặt trong trí chỗ nào vào chỗ ấy như thể đã có rồi. Ngày đi tháng lại, ý định vẫn chưa thành rồi tự nhiên không nghĩ đến, hắn vớ ngay được gốc dành dành rất đẹp này để thế vào.

Hắn định khoe vợ và hỏi xem vợ nhìn nó ra hình cái gì. Hắn đi thẳng vào bếp, chưa kịp ngỏ ý định thì vợ hắn đã gắt ngay phủ đầu:

- Gớm! Sao mình vụng về quá thế? Rơm rạ thiếu gì chả mua, vớ ngay hai bó cói còn tươi nguyên. Nhìn đấy này. Có khổ người ta không?

Hắn đứng thuỗn người ra nhìn khói tỏa mù mịt cả mấy gian bếp rồi phát cáu, nói bướng:

- Tôi chỉ vụng về thế thôi. Mình khéo thì sao không đi mà mua lấy?

- Nếu biết mình vụng về thì đã chả đến nỗi chảy cả nước mắt nước mũi thế này... Cữ nọ có đống rạ thì nằng nặc đòi bán cho bằng được, tưởng để làm gì, chẳng hóa ra chỉ để mua sáo, mua tre làm diều. Mà đã cái diều to tướng rồi còn chưa hả hay sao?

- Người thế mà ngoa! Người ta tiêu cả một đống rạ à?

- Không cả thì cũng quá nửa... Thế mà ra dạo ấy rẻ thối ra, bốn năm xu một gánh. Bây giờ hào mốt, hào hai rồi đấy! Đã thấy tai hại chưa.

Hẳn đuối lý, phát khùng:

- Thôi thôi, thèm vào nói nữa - Rồi lảng ra sân đi đến cái bể đá bỏ quên ở xó bể, cạnh tường hoa. Hắn ngồi xổm cặm cụi đặt gốc dành dành theo hết chiều này đến chiều nọ mà chẳng chiều nào nó đứng vững. Hắn lấy những manh ngói kê rồi đổ nước vào, lau các thành bể. Đoạn, hắn khệ nệ bê đặt trên chiếc hòm gian. Hắn vắt tay ra sau lưng, nghiêng đầu, ngắm. Thấy chướng, hắn lại khệ nệ bê ra chỗ cũ. Hắn chống tay cạnh sườn đứng nhìn xuống hồi lâu, rồi nhếch mép cười, nói:

- Trông ngoài thì to mà để vào bể trông lọt thỏm ấy nhỉ! Thôi được để khi nào có núi ta sẽ thay.

Trên từng mây biếc, hết chiếc diều nọ đến chiếc diều kia hiện lên. Những tiếng sáo trầm bổng thi nhau đổ hồi, vang cả buổi chiều ban nãy còn tịch mịch.

Chợt nhớ đến cái diều sáu thước vừa phất cậy xong để thả lúc gió bé và bộ sáo ba mới mua của bác Oánh, hắn chạy vội vào nhà ngang đem ra thả trên dọc đường cái quan.

Một lát sau, hắn dong dây về buộc vào gốc cây. Hắn ngồi ngây ra hàng giờ ở thèm nhà trên ngắm diều và nghe sáo, tâm trí không còn vướng víu đến việc khác nữa.

Chương III

Mười sáu tháng Tám chị xã Bổng đã định đi cầu tự đền Kiếp với bọn ông khóa Vịnh. Nàng đã sắm được cái thúng con xinh xắn để đựng đồ lễ và nhuộm lại chiếc dây lưng thiên lý. Nàng đã sẵn sàng đủ cả, chỉ đợi ngày đi.

Nhưng ngày ấy càng gần, nàng càng thấy ngần ngại. Ý định nàng nhụt dần, rồi rút cục, nàng thoái thác bận, không đi nữa.

Đến khi chị em, bà con đi lễ về, kể chuyện lại. Nàng tiếc ngẩn tiếc ngơ, hối hận và tự an ủi: "Thôi được. Để đến hăm mốt tháng này ta trẩy hội Đồng Bằng".

Năm hôm sau, chị em đến rủ, nàng lại thoái thác, lấy cớ rằng hội Đồng Bằng không phải hội để đi cầu tự, tuy mấy năm trước nàng vẫn gửi tiền ông khóa đi lễ ở đấy. Rồi nàng lại tiếc, lại hối hận như lần trước và tự hứa: nhất định tháng giêng sang năm đi trẩy hội chùa Hương.

Ngày tháng qua, hội chùa Hương đã đến. Bà con đi trẩy tấp nập. Bọn ông khóa còn đợi nàng. Nhưng nàng vẫn chùng chình, nấn ná hết ngày ấy sang ngày khác.

Tháng rộng ngày dài đi đâu mà vội! Hội chùa mai hết tháng hai mới vãn kia mà.

Rồi sau cùng, người ta không chờ nàng nữa, để nàng ở lại nhà mà tự trách:

"Chỉ có cắp thúng ra đi, cũng không sao đi được. Hay tại mình định trước mà ngài làm ngăn trở, không cho đi?"

Mẹ nàng không bằng lòng, mắng nàng không thiết gì đến việc sinh đẻ. Nàng chỉ cười, không đáp. Vì mẹ chồng đã mắng oan nàng. Nàng thiết lắm chứ. Mẹ chồng mong có cháu một phần thì nàng mong có con mười phần. Ấy cũng chỉ vì nàng mong ước quá mà đâm ra rụt rè để lỡ cơ hội. Nàng tưởng như ai cũng để ý đến việc nàng và cười thầm nên nàng tỏ ra vẻ sốt sắng.

Mùng hai tháng Ba, hội Phủ Giầy, nàng lại định thoái thác. Nhưng lần này mẹ chồng, mẹ đẻ và chú bác, cô dì giục giã, hết nói ngọt đến nói xẵng, nàng mới chịu cắp thúng ra đi, lòng không hết ngần ngại.

Nàng đi thẳng đến đằng ông khóa Vịnh. Các bà đi chợ thấy nàng ăn mặc như ngày Tết, liền hỏi: "Chị xã đi trẩy hội đấy à? Mang lộc thánh về cho chúng tôi với nhé!"

Nàng sượng sùng bẽn lẽn, trả lời nhu nhú trong mồm.

Đến cổng nhà ông khóa đã thấy vài chị em đứng đợi. Một chị kêu lên:

- Có thế chứ! Tưởng lại thoái thác lần nữa. Chúng tôi vừa đánh cuộc với nhau đấy. Đố biết ai được cuộc?... Ối chà! Thắt lưng mới nhuộm lại bao giờ mà như mới ấy nhì? Trông chị đẹp đẽ gọn gàng hơn tôi nhiều.

- Các chị cứ nói! Các chị son sẻ trông đẹp chứ tôi...

Một chị khác ngắt lời:

- Phải, son sẻ! Đẻ lắm nó thành ra sồ sề thì có.

Tuy nói thế mà trong lòng chị ta vẫn sung sướng, sung sướng vì đẻ nhiều. Chị ta đẻ từ mười sáu. Năm nay mới hăm bốn mà đã năm con rồi: bốn gái, một trai. Ý chừng chị ta đi cầu lấy một trai nữa. Vì nhiều gái mà mới có mỗi một trai cũng vẫn mang tiếng là hiếm hoi.

Chị em dắt díu nhau vào trong nhà, mỗi chị cắp một cái thúng con mới đẹp.

Các bà có tuổi ngồi cả trên phản kê ở gian cạnh. Bà cụ huyện cũng nhập bọn, ngồi ở phản bên kia. Cô cháu gái đứng cạnh bà vào chạc mười lăm, mười sáu, ăn vận lối tỉnh: khăn nhung, áo "sa tanh", quần lĩnh "Sài Gòn". Trong áo sa tanh lấp ló chiếc áo hàng "bom bay" màu hoa đào và chiếc ô cán sơn giả đồi mồi cầm nhăm nhăm trong tay. Trông cô có vẻ bẽn lẽn vì thấy mình khác hẳn bọn nhà quê tuy cô cũng quanh năm tháng ngày ở thôn quê.

Ông khóa Vịnh nằm bò trên chiếc phản ở gian giữa, ngay trước bàn thờ, đương cặm cụi viết cho xong mấy đạo sớ. Bên cạnh ông, một cái tráp sơn then ngỏ nắp, trong để bề bộn những lá sớ chưa kịp xếp gọn lại.

Thấy thêm chị xã, một bà làm ra vẻ ngạc nhiên:

- Ôi chào! Chị xã đấy à! Trốn tránh mãi, bấy giờ mới thấy mặt. Này, muốn có con mà không chịu đến cửa thánh thì đừng có hòng!

Các bà cười ồ làm nàng thẹn đỏ mặt. Một bà giục:

- Xong chưa, cụ khóa? Mau lên chứ, không có trưa mất rồi!

- Xong rồi đấy ạ. Gớm! Các cụ giục xồn xồn như giục đò thì còn ai biết đằng nào mà rờ.

Ông ngồi dậy, xếp các sớ vào đáy tráp, ngẩng lên thấy chị Bổng, ông nói trách:

- Sao không thoái thác ở nhà lần nữa! Mà chồng đâu? Người ta đã bảo: cầu tự thì phải có đôi kia mà!

-  Thưa cụ, - Nàng vừa nói vừa cười gượng - nhà cháu còn phải ở nhà trông nhà vì nhà cháu vắng lắm, cụ ạ. Bu cháu thì già lão lẩm cẩm.

Nàng nói thế chứ nàng cũng không muốn rủ chồng cùng đi, hòng khi việc cầu tự của nàng không có kết quả, nàng còn níu lấy cớ ấy mà đi cầu tự với chồng lần nữa.

Một bà giục:

- Ta xuất hành thôi chứ!

Ông khóa đứng dậy gọi:

- Ký Phát đâu?

- Dạ! - Một anh xanh xao, ẻo lả như đàn bà ở nhà dưới đi lên để nhận việc cắp tráp theo hầu ông khóa.

Một bà hỏi:

- Ô hay! Ký Phát cũng đi à?

Ông khóa vội trả lời:

- Vâng, hắn có số thờ. Mình cao số nặng làm hắn ốm lủng củng ròng rã ba bốn tháng trời nay. Hẳn bóng cô đấy, các bà ạ!

Bà cụ huyện từ nãy vẫn ngồi yên với cô cháu gái, bắt đầu nói:

- Thảo nào mà trông anh ấy như con gái.

Mọi người cùng cười. Ký Phát bẽn lẽn, cắp tráp đứng dựa cột.

Ông khóa cất tiếng gọi:

- Cu ơi! Đi ra cổng đứng đợi sẵn đấy nhé! Có đàn bà con gái thì bảo họ đi ngay nhé!

Một anh cao lênh khênh chạy qua sân ra cổng. Bà cụ huyện trách:

- Chú ấy lớn rồi mà ông cứ gọi chú ấy thế. Sao không đặt tên cho chú ấy.

Ông khóa cười, đáp:

- Chính tên nó là Phùng kia đấy. Nhưng thời còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cứ gọi là thằng cu, thành ra tôi cũng gọi quen mồm không sao đổi được.

Các bà, các cô đến từ sớm mà chùng chình mãi khi mặt trời lên khỏi ngọn tre mới khởi hành. Bà huyện đi đâu, rồi đến thầy trò ông khóa, các bà già, các bà có tuổi, sau cùng đến bọn trẻ phất phới những dây lưng màu lòe loẹt. Cô cháu gái bà cụ huyện cũng đi trong bọn ấy. Cô, ngày thường mặc áo nâu, yếm trắng, vẫn vào hạng đẹp có tiếng trong làng, nay đổi lốt, ăn vận tỉnh trông cứng nhắc.

Cả bọn đi thành một dãy dài như đám cưới. Những tiếng "Nam vô a di đà Phật!" chào nhau làm náo động sự yên lặng ngày thường của thôn quê.

Một lát, ra khỏi làng, cả bọn rẽ xuống ruộng đi tắt đến đường đê cho gần.

Sáng hôm ấy, trời ấm và tạnh ráo. Chung quanh, đồng lúa bát ngát. Mùi lúa non phảng phất thơm như mùi cốm mới. Những con cò trắng muốt bay là là trên mặt lúa xanh.

Xa xa, dòng nước bạc. Rải rác vài cây đa cổ thụ trùm lên những miếu con, vài mô cỏ biếc với những con trâu, những trẻ mục đồng như để thay đổi cho phong cảnh đỡ bằng phẳng.

Chị xã trong lòng khoan khoái, và sự ngần ngại ban nãy đã đổi ra sự vui sướng bồng bột.

Cái quán nước ở trên đê trông mỗi lúc một gần và dần dần thấy lố nhố những xe tay đứng đón khách. Rồi những tiếng mặc cả, những tiếng cười đùa của những bọn trẻ khỏe mạnh.

Nàng đứng trên đê nhìn lại xem nhà nàng còn trông rõ không. Nàng chỉ thấy một dải xanh om, lũy tre làng, một dãy tường trắng vây bọc lấy mấy cái mái ngói cổ của Văn miếu. Một cây đa nhô lên khỏi những ngọn tre, cành lá rườm rà, đánh dấu nơi quán chợ. Nhà nàng ở gần đấy...

- Kìa! Chị xã, không lên xe, còn đứng thưỡn ra mãi. Hay lại nhớ chồng đấy?

Đó là câu nói của một chị ngồi đợi trên xe. Người phu xe còn ghé vào quán làm bát nước chè nóng.

Nàng vội cắp thúng bước lên ngồi cạnh. Anh xe nhấc đôi càng, thân xe trở nên bằng bặn; chứ không dốc như trước khiến người ngồi trên nệm phải víu chặt lấy thành xe cho khỏi tuột xuống.

Hai chị em thấy êm êm, dễ chịu.

- Mau lên! Gớm ghiếc! Các xe đã đi cả rồi kia kìa!

Nhất là chị xã, từ thuở bé mới đi xe lần này là lần đầu. Nàng khoan khoái, nhìn khắp chung quanh. Phong cảnh vẫn quen quen thân mật như phong cảnh quê hương, vẫn ruộng lúa xanh rì, bát ngát, vẫn những lũy tre làng, những miếu con ẩn dưới những cây đa cỗi, vẫn dòng nước bạc chảy ngoằn ngoèo, vẫn một mùi thơm như mùi cốm non.

Nhưng ngồi lâu thấy tê chân, mỏi lưng, mỏi gối, nàng phải đổi chiều luôn và chỉ muốn xuống xe đi bộ hay muốn chóng đến nơi để được ngồi hàng nước nghỉ ngơi.

Chốc chốc nàng lại hỏi: "Đến chưa chị?"

Một lần nàng hỏi, không thấy bạn trả lời. Quay lại, đã thấy bạn gục đầu vào mình. Nàng chép miệng lắc đầu, tủm tỉm cười, nói sẽ:

- Thế mà ngủ được!

Đến cầu Mục, các xe đỗ cả bên vệ đường. Xe nàng còn lẽo đẽo... Nàng vỗ vai bạn, đánh thức:

- Dậy! Đậy! Đến rồi!

Chị kia giật mình mờ choàng mắt đỏ ngầu.

- Đến rồi à? Chóng nhỉ!

- Ngồi ê cả người còn kêu chóng.

Nàng vừa bước xuống xe, chưa hết mỏi thì một chiếc "cam nhông" ở phía Hải Phòng đã đến đỗ ngay trước mặt. Mọi người xô đẩy, tranh nhau lên trước làm nàng cuống quýt đến nỗi ai giật mất thúng cũng không biết nữa. Nàng hốt hoảng kêu:

- Thúng của tôi, ai lấy rồi? Thúng của tôi...

Ông khóa Vịnh, một người đi nhiều lần đã quen, đứng sau nàng, vừa giục vừa gắt:

- Thì cứ bước lên! Thúng mủng người ta để cả trên mui kia rồi.

Lên xe ngồi đâu vào đấy, ông vẫn còn gắt:

- Gớm ghiếc! Ai cũng ngẩn ngơ như chị cả thì người ta khổ. Ở Hà Nội mà thế thì mất cả người nữa, chứ mất thế thôi à?

Hành khách trên xe nhìn chòng chọc vào nàng, nhiều người cười tủm tỉm. Nàng xấu hổ cúi gằm mặt xuống.

Từ đấy, nàng thấy khó chịu, phần vì nỗi ngớ ngẩn của mình, phần vì xe chật quá, phải ngồi ép vào nhau khiến nàng không sao cựa cậy, nhúc nhích được, phần vì mùi "ét xăng" mà nàng không quen, đánh thốc mãi vào mũi nàng, hăng sè sè, làm cho mắt nàng cay và môi nàng se lại.

Mấy hôm trước, một vài bà đã bàn đi thuyền từ bến Tiên vào Nam, vừa đỡ tiền, vừa rộng rãi, tuy chậm mất vài hôm. Bà cụ huyện không nghe, cho đi như thế có nhiều sự trở ngại và đêm hôm nguy hiểm, nhất là nguy hiểm cho cô cháu gái, cho đôi hoa tai, cho chuỗi hột vàng của cô. Nhiều người đồng ý. Và nếu Bổng có mặt ở đấy, nàng cũng về phe bà cụ huyện. Là vì nàng vẫn mong ước được đi "ô-tô", tưởng cũng sung sướng, mát mẻ, dễ chịu như ông phủ, ông đoan ngồi trên xe của họ. Nay nàng đã biết mùi và nàng sẽ không bao giờ dám mong ước nữa...

Xe còn cách Thái Bình độ một cây số, bỗng đứng lại. Người soát vé kéo bốn năm hành khách thải xuống đi bộ, mặc dầu những người ấy kháng cự, kêu la rầm rĩ. Người "ét" ở trên mui vứt những tay nải, những hành lý của họ xuống đường trong khi xe từ từ chạy.

Chị xã sợ hãi và mừng thầm không phải nhập bọn khốn khổ ấy.

Xe đến tỉnh. Nàng trố mắt nhìn những tòa nhà mà nàng cho là đồ sộ, vì từ thuở nhỏ, nàng chỉ nhìn thấy toàn những nếp nhà ngói thấp lè tè như nhà tranh của chồng nàng. Nàng không dám kêu: "Ồ! Lạ nhỉ!" Sợ người ta lại cho nàng ngớ ngẩn, và nhìn nàng một cách tò mò như lần trước. Nhưng trong trí nàng, nàng cũng đã nhiều lần thầm kêu như thế mỗi khi nàng gặp một sự lạ.

Đến bến Tân Đệ, bao nhiêu hành khách đều phải xuống. Nàng nhớ đến cái thúng xinh xinh của nàng, dướn cổ mãi, cố nhìn xem có trên mui không. Nhưng mui cao quá, nàng không nhìn thấy. Nóng ruột, nàng hỏi chúng bạn:

- Thúng mủng các chị đâu?

- Cả trên mui chứ đâu! Ngớ ngẩn lắm.

Nàng không thích hai tiếng "ngớ ngẩn" thốt ở miệng các bạn, nhưng mà nàng bắt đầu yên tâm từ đấy.

Rồi xe đến Nam Định, chen lấn với các xe khác đỗ nhan nhản, chật cả một khoảng đất rộng. Vì là ngày hội nên khách thập phương tới tụ ở đấy đông nghịt. Những phu khuân đồ, phu xe xúm lại giằng co, tranh khách. Những tiếng roi mây của đội sếp vụt đôm đốp lên những nón sơn. Nàng bối rối, sợ hãi, bíu chặt lấy cánh tay bạn, quên cả nón lẫn thúng, cái thúng mà nàng vẫn nghĩ đến suốt dọc đường. May sao, một bà lão trong bọn đã nhờ cầm hộ. Nàng lúc ấy khác nào một đứa trẻ nhút nhát không bao giờ dám rời khỏi mẹ. Tâm trí nàng rối loạn, mắt nàng hoa lên đến nỗi từ bến "ô-tô" ra ga, từ ga lên xe hỏa, nàng không còn nhớ đã làm những việc gì và trông thấy những gì. Nàng quên cả nàng định đi đâu nữa. Mãi lúc ngồi yên một lúc trên xe, nàng mới định thần. Bất giác nàng hỏi ông khóa ngồi cạnh: "Có phải Hà Nội đây không cụ?"

- Nam Định chứ Hà Nội hà ngoại nào ở đây? Ngớ ngẩn như mán rừng! - Ông nói to quá khiến bao nhiêu con mắt tò mò đưa cả về nàng.

Một bà hành khách nói:

- Ý chừng chị này chưa ra tỉnh bao giờ.

Nàng xấu hổ, quay ra ngoài nhìn để giấu sắc mặt đỏ ửng vì nàng thấy mặt nàng đương nóng bừng. Nhưng không bao lâu xe chạy, nàng trở lại vui vẻ, hồn nhiên ngắm những cảnh lạ bày trước mắt. Nàng sung sướng nhất khi cùng chị em bắt đầu đi từ ga Gôi vào đền. Chỗ ấy tuy đông nhưng không gặp phải những xe cộ, không có những lũ quỷ sứ tranh cướp hành lý, không có những phố sá ngang dọc như mắc cửi. Chỉ có một con đường đi quen quen như đường làng và những khách thập phương đi lễ phần đông cũng na ná như nàng, từ nét mặt hiền hậu, cử chỉ hồn nhiên cho chí quần áo sơ sài mộc mạc. Nàng sung sướng nhẹ nhàng như vừa thoát khỏi một trận bão lớn hay vừa qua một nơi rừng rậm, đầy mãnh thú.

Nàng ung dung ngắm những đồi núi xanh mơn mởn vây bọc chung quanh, một cảnh lạ mắt, khác hẳn quê hương nàng ở vùng bể bằng phẳng như đời nàng và buồn tẻ như tâm hồn nàng trong lúc bình tĩnh.

Nàng ung dung ngắm những ông đồng, bà đồng, với những bộ khăn áo xanh đỏ lòe loẹt mà nàng ví với bộ xiêm cào cào. Những người ấy đi xa trông như một đám rước.

Thỉnh thoảng nàng lại gặp những người đàn ông xiên lình. Có người xiên hai đôi má đôi lình to bằng thanh đao mà nàng thường trông thấy ở các đình, miếu, và nặng quá, phải hai người nâng đỡ hai bên. Trông mắt họ dữ tợn như mắt ông ác ở chùa khiến nàng sợ tái xanh mặt, đi nép mãi vào vai bạn. Ở các điện trong làng, nàng cũng có được trông thấy "quan lớn" xiên lình để thị oai, nhưng chỉ những chiếc lình nhỏ bằng cái dùi quay suốt.

Nhưng rồi sau gặp họ đi lại luôn, nàng trông cũng quen. Nàng trở nên bạo dạn và nếu còn con gái, nàng dám nhí nhảnh, chòng ghẹo cả bọn đồng trẻ. Nàng cắp thúng cùng với chị em theo sau ông khóa đi lễ đền, thản nhiên như người đi xem hội. Nàng mải vui quên cả việc cầu tự.

Nhưng khi vào đền đức Thánh Mẫu thì tín ngưỡng của nàng chú trọng cả vào đấy. Nàng đứng cạnh ông khóa, cúi rạp người xuống, chắp tay cầu khấn. Nàng cầu khấn tha thiết, nồng nàn đến nỗi chị em khấn xong cả rồi, vẫn còn thấy nàng xuýt xoa mãi.

Chương IV

Từ ngày nàng đi cầu tự ở Phủ Giầy đến tháng Ba này vừa đúng hai năm mà vẫn chưa thai nghén. Mẹ chồng nàng gắt gỏng luôn tuy không bao giờ chửi mắng hay trách móc. Nàng cũng biết, chỉ vì mẹ chồng nàng tức tối về nỗi chưa có cháu nội và nếu không vì thương nàng chịu khó vất vả quanh năm thì mẹ chồng nàng đã ép nàng lấy vợ lẽ cho chồng rồi. Nàng biết thế nên lại càng nể mẹ chồng và tủi cho số phận hiếm hoi của mình. Kể ra tuổi nàng đã lấy gì làm nhiều, nàng mới hai mươi bảy. Có người mãi ba mươi mới lấy chồng thì sao?

Chồng nàng, trái ngược hẳn, chẳng bao giờ để tâm đến đường con cái. Hắn còn đương thì trai trẻ, đương độ ham chơi vui thú.

Từ Tết, không mấy khi hắn về nhà. Cả ngày hết đánh chắn đằng xã, chừng lại đánh tổ tôm góp hai hào ở nhà khán Đệ. Phần vì đánh thấp sợ thua to, phần vì chức nhỏ, hắn không dám ngồi kề đùi kề vai với các ông lý, khán cựu. Lắm khi mê chơi, mãi già nửa đêm hay sáng rồi hắn mới mò về, vợ có gắt thì hắn chỉ cười trừ hay gắt ngay phủ đầu nếu hắn thua.

Hai sào thuốc trồng cữ tháng Giêng, hắn chẳng nhìn nhận, để mặc nàng trông nom. Vì thế nàng phải nuôi đứa con gái nhà cả Mịch để nó thay nàng thổi cơm, nấu nước, băm bèo quấy cám cho lợn. Còn nàng suốt ngày ở ngoài vườn, cặm cụi bắt sâu bẻ ngánh và rửa "nhờn". Hai sào vườn, nàng phải bỏ hơn ba chục bạc "bởi" chứ có ít tiền đâu mà bảo bõ liêu bỏ bễ được. Hơi trễ biếng là tranh mọc đầy, sâu ăn hết lá hay muội phủ đen kịt. Lúc ấy thì vốn liếng sẽ đi đời!

Tuy vậy mà không bao giờ nàng dám oán trách chồng. Nàng coi chồng như một đứa trẻ để nâng niu, để săn sóc, để chiều chuộng. Vả lại, trong làng có mấy anh chồng là không rong chơi thỏa thích trong mấy tháng xuân, có mấy anh chồng là đi bắt sâu, bẻ ngánh, trừ khi những anh ấy thuộc vào hạng đụt, không biết quân bài lá bạc là gì, không biết đỏ mặt tía tai vì chai rượu với chiếc đùi thịt chó.

Nhưng, rồi cũng như mọi năm; cứ đến cuối tháng Ba là hết mùa ăn chơi, hết mùa cờ bạc, chồng nàng lại trở nên ngoan ngoãn, làm việc chăm chỉ. Sáng dắt trâu vác cày ra đồng, chiều về thả diều rồi ngồi khềnh trên thềm nghe sáo.

Vì hai sào thuốc, nàng vất vả cả ngày, không còn có những buổi trưa nhàn rỗi để ngồi bắt chấy cho mẹ chồng, không còn thì giờ để sang hàng xóm chuyện gẫu. Bao nhiêu tâm trí, bao nhiêu nghị lực, nàng để cả vào hai sào thuốc.

Chiếc khung cửi suốt ngày bỏ không, trừ khi mẹ chồng kỳ cạch một vài lúc. Bà vừa dệt chậm lại vừa có tuổi, ngồi hơi lâu là thấy mỏi.

Nhưng tối đến, cơm nước xong, chưa kịp xỉa răng, nàng đã vùi đâu vào khung cửi dệt cho đến gần sáng. Vì thế mà chẳng buổi chợ nào là nàng không có vải bán. Cũng vì thế mà chị em thường thì thầm với nhau: "Nhà chị ta khôn ngoan quá nên hiếm hoi đấy mà!"

Nàng mải việc quá. Về cuối tháng Năm, ngày nào nàng cũng phải đi nhặt lá "thuốc lá" về nhờ cả Mịch làm thành cuốn và đem bàn thái sang thái hộ. (Cả Mịch vốn là thợ thái thuốc). Mỗi lần, nàng không quên đãi hắn một cút rượu với hai tấm đậu phụ rán và một bữa cơm.

Trong khi Mịch kề cà nói chuyện với mẹ chồng thì nàng đi sang hàng xóm rọc thuốc giúp để khi thuốc nàng hái về họ lại sang làm giúp mình.

Chồng nàng khi ấy cũng bận, không còn thời giờ đâu mà thả diều. Nhưng công việc của hắn lại là cái thú đối với hắn.

Chiều đi làm về, dắt trâu vào chuồng, dựa cày vào xó bếp, ném vài nắm rơm cho trâu ăn, rồi vội đi ngay đến nhà có thuốc rọc, ngồi lẫn vào bọn con gái. Dưới ánh trăng trong (vì mùa thuốc thường vào đêm có trăng) câu chuyện nở như gạo vàng. Hắn thích nghe những câu hát ví, những lời giễu cợt của chị em - thường hắn vẫn là đầu đề câu chuyện vui của họ - để trả lời lại rằng:

- Muốn lắm chứ! Nhưng mà ai chịu làm lẽ mình mà lấy, hay là chị lấy tôi nhé?

Có chị xấu hổ, cầm cái que rọc vụt mạnh vào vai hắn, nói õng ẹo:

- Anh phải gió!

Cũng có chị bạo quá, vênh mặt nhoẻn cười, nói phứa:

- Ừ, nhưng mà liệu chị ấy có ghen không đã?

Những lúc ấy nếu có vợ hắn ngồi đấy thì chị em lại đùa lối khác. Họ nể nang, kính trọng đức hạnh của nàng, không nỡ để nàng tủi nhục.

Mùa thuốc chưa qua, mùa gặt đã đến. Mọi khi chỉ một vụ gặt cũng đủ không kịp thở, huống năm nay thóc lúa, thuốc men đổ dồn cả vào một tháng. Nàng bận tới tấp, việc nọ chưa xong đã phải bắt tay vào việc kia, suốt ngày đi lại dưới ánh nắng chang chang. Mặt mũi, chân tay cháy xem, trông nàng xấu hẳn đi. Ấy là việc bếp nước còn có con bé giúp, việc nặng nhọc đã có chồng, có anh em họ dương bá tay vào nếu không, có lẽ nàng đến héo quắt đi về nỗi vất vả.

Nhưng hết những tháng bận lại tiếp theo những tháng nhàn. Nàng lại quay về bếp nước, quay về khung cửi bỏ bẵng trong lâu nay. Nàng lại có những buổi trưa hè ngồi bắt chấy cho mẹ chồng ở thềm nhà trên, để nghe những tiếng hát ru em của cái Gái bên hàng xóm và những tiếng gà gáy báo trưa gần xa. Và bao nhiêu nỗi phiền muộn lại đến xâm lấn tâm hồn nàng.

Ngày tháng buồn tẻ, âm thầm trôi như dòng nước lờ đờ chảy trong quãng đồng quạnh hiu...

Rồi một hôm, một buổi sáng vào khoảng tháng một, nàng bắt đầu nôn khan. Nửa tháng sau, nàng thấy thích của chua và ăn cơm thấy ngan ngán.

- Hay là mình ốm nghén?

Nàng nhớ lại những đêm ân ái và tủm tỉm cười, nhắc lại:

- Có lẽ mình ốm nghén thực.

Đoán thế thôi, chứ nàng cũng chưa dám khoe ai hay tỉ tê với mẹ chồng. Nhỡ không phải thì thẹn chết!

Nàng đã thấy nhiều người cũng thích của chua, cũng ngán cơm, hay quằn quại đau bụng mà rồi sau thành ra tích huyết.

Nàng có thể tích huyết, cũng chưa biết chừng. Nghĩ vậy, nàng hơi buồn và chăm chú vào công việc để quên nỗi ngờ vực ấy đi.

Tháng thứ hai, nàng nắn bụng thấy răn rắn. Nàng mừng quá, cố nén mới nhịn được khỏi đi khoe với mẹ chồng.

Nhưng, rồi cái ngờ vực ở đâu nó lại đến lẩn khuất bên lòng và luôn luôn nhắc trong thâm tâm nàng: "Biết đâu đấy! Tích huyết thật thì sao?" Làm cho nàng lúc nào cũng nửa mừng nửa lo.

Tết đến bận tiếp kẻ ra người vào, bận trông nom cỗ bàn, bận đi lễ đi bái, nàng quên hẳn nàng đi. Nỗi ngờ vực cũng vì thế mà không lảng vảng đến nữa.

Tháng thứ ba, bụng nàng to dần. Nàng vừa lấy tay xoa bụng vừa nghĩ:

"Đích thị có mang rồi. Mình khỏe mạnh béo tốt thế này, có mang là phải lắm chứ!" Sự ngờ vực cãi lại liền:

"Chưa biết chừng. Tích huyết cũng nên! Người ta có thể tích huyết trong vài ba tháng mà bụng cũng to dần".

Nàng thở dài, luôn luôn khó chịu với cái ngờ. Thì sao nàng không thổ lộ cho mẹ chồng hay, mẹ chồng nàng đã đẻ nhiều, đã kinh nghiệm, đã từng trải, thực hư thế nào tất mẹ chồng nàng phải biết. Thì chính vì thế mà nàng rụt rè, e ngại, mà nàng không dám quả quyết.

Hết ngày này sang ngày khác, nàng chỉ muốn mẹ chồng nàng để ý đến sự thay đổi trong người nàng, gọi nàng đến mà xem xét kỹ lưỡng cái bụng của nàng. Nhưng bực thay! Mẹ chồng nàng vì mãi chẳng thấy nàng dâu đẻ nên cũng chán mà cố nghĩ sang việc knác.

Sau nàng nghĩ được một kế. Ít lâu nay nàng chưa về thăm bố mẹ đẻ. Nàng xin phép về nhà.

Trước mặt mẹ, nàng ưỡn mãi bụng ra cốt để mẹ chú ý. Nàng mừng thầm khi thấy mẹ đã trúng kế. Mẹ nàng xoa bụng nàng rồi tươi tỉnh hẳn nét mặt, nói bằng một giọng nồng nàn vui sướng của người mẹ yêu con:

- Úi chào! Phúc đức quá! Quý hóa quá! Con có nghén rồi, con ạ!

Nàng vờ ngạc nhiên:

- Có nghén thật à, bu?

- Đích thị con có nghén rồi. Bu đoán không khi nào sai được.

Nàng sung sướng quá, ứa nước mắt, hỏi lại, giọng run run vì cảm động:

- Thật à, bu? Con chỉ lo - Nàng ngần ngại, sợ sự ngờ vực của nàng thành sự thực, sợ mẹ nàng chưa để ý đến bệnh tích huyết - con chỉ lo con mắc bệnh tích huyết.

Kbông để nàng chờ đợi, mẹ nàng nói ngay:

- Không! Không! Không phải tích huyết. Chính con có nghén đấy. Bu sờ bu biết. Đích thị con có nghén. Người tích huyết da dẻ xanh xao, chứ không được thế. Với lại, bu sờ bu biết. Người tích huyết bụng nó cũng to, nhưng to khác cơ.

Bà nhắc đi nhắc lại: "Quý hóa quá! Con tôi có nghén!" mỗi khi có người bà con đến thăm. Bà hớn hở, sung sướng như thể chính bà đã có nghén. Còn nàng, suốt cả buổi sáng ở nhả mẹ đẻ để giới thiệu cái bụng nghén với mọi người và để nghe họ đố nhau:

- Bà bảo chị ấy chửa được mấy tháng nào?

- Bụng ấy thì có chửa độ hai, hơn hai tháng chứ mấy.

- Bụng ấy ít ra phải bốn tháng.

- Bốn tháng! Bà này nói như người chưa đẻ bao giờ ấy. Bà đã đẻ năm con rồi đấy nhé.

- Bà ấy nói phải đấy. Bốn tháng thì đã trông thấy bụng rồi cơ.

- Thì gì bằng cứ hỏi ngay chị ấy tắt kinh được mấy tháng tự khắc biết, việc gì các bà phải cãi vã lôi thôi.

- Này chị xã! Tôi hỏi thật chị. Chị tắt kinh được mấy tháng?

Nàng tủm tỉm cười:

- Cháu cũng quên không biết được mấy tháng. Hình như tháng Chạp hay tháng Giêng ấy.

Bà khách thất vọng, thở dài:

- Rõ nỡm! Tắt kinh tháng nào cũng chẳng biết nữa.

Xế trưa, nàng hớn hở ra về, lòng chứa chan hy vọng.

Từ thuở về nhà chồng, không hôm nào nàng thấy sung sướng bằng hôm nay. Còn gì sung sướng bằng đương lúc băn khoăn, bực dọc về nỗi ngờ vực, đương lúc mong mỏi khao khát có con thì... thì nay một tin đích thực về thai nghén đã đến đánh tan sự ngờ vực và làm cho nàng toại được lòng mong mỏi. Nàng phấn khởi, bước những bước bạo dạn, mạnh mẽ như một tên lính trở về báo tin thắng trận cho xứ sở. Phải, nàng cũng sắp đem đến cho mẹ chồng nàng, cho cả họ nhà chồng nàng một tin mừng quan trọng. Từ nay nàng không còn phải nghe thấy những câu phẫn uất của mẹ chồng, những lời riễu cợt của họ hàng làng xóm. Từ nay, những ngày sống của nàng sẽ đẹp đẽ, quý báu như chuỗi hạt ngọc.

Nghĩ vậy, nàng thấy không lúc nào nàng yêu chồng tha thiết hơn.

Nàng vui lòng mua thêm đường đất rẽ vào xóm lũy, qua cánh đồng lúa, để giáp mặt chồng. Hãy còn tận đằng xa, nàng đã gọi to:

- Mình ơi! Mình vẫn còn làm cơ à? Sao mà chăm quá thế!

Chồng nàng đương giở cày, ngửng lên nhìn thấy và lấy làm ngạc nhiên, phần vì câu hỏi của nàng (lúc ấy mới xế trưa) phần vì mọi hôm không bao giờ thấy nàng lảng vảng qua đấy.

- Mình đi đâu về?... Mà ra đây làm gì?

Nàng nhoẻn miệng cười:

- Ra đây để nhìn mình.

Nàng định dừng lại báo tin mừng rồi hình như ngượng lại đi thẳng để chồng một mình với sự ngạc nhiên. Đi được một quãng, không biết nghĩ thế nào, nàng định trở lại, rồi tự nhiên nóng ruột, nàng tất tưởi rảo bước về cho chóng...

Vừa thấy nàng đến cổng, mẹ chồng nàng đương kỳ cạch chữa khung cửi, đứng dậy:

- Này, mày ạ, khung cửi lệch lạc làm sao ấy. Tao chữa mãi không được.

Nàng tươi tỉnh, cắp thúng từ cổng vào, vừa đi vừa cười nói:

- Bu để đấy con chữa - Nhìn xuống khung cửi, nàng phàn nàn nhưng nét mặt vẫn tươi - Bu dệt làm sao mà mặt vải xùi lên thế này?

- Thôi chết! Tao lại nối "mặt ba" rồi.

- Sao bu không nối "ca go" cho khỏi nhầm.

- Ấy thế mới sinh chuyện!

Nàng ngồi xuống khung cửi, vặn chặt chốt cho căng mặt vải, nâng ca go, lấy bối tóc chải cho sạch bựa. Hai tay cầm "khổ" nâng lên đập xuống mấy cái, hai chân dận đi dận lại bàn đạp như anh tài xế soát lại máy trước khi cho ô-tô chạy.

- Tại bu để chùng go quá đấy mà - Nàng quay xuống nhìn dưới chân - Với lại... A, thảo nào! Hòn ngói con vẫn kê ở bến chân phải. Bu làm thế nào mà để nó bật ra được.

- Nào ai biết! Tao có đụng chạm gì đến nó đâu!

Nàng đứng dậy kê lại chân khung cửi, rồi ngồi vào bắt đầu dệt, trước còn thong thả nhát một, sau nhanh dần, đều đều như cái máy tốt.

- Thế thì mày tài thật!

Nàng sung sướng mỉm cười.

Nhưng việc ấy chưa phải là việc can hệ. Nàng không sao để chùng chình câu chuyện mà nàng đã định nói từ trước. Nàng bèn ngừng tay dệt, tỉ tê:

- Bu ạ, hơn hai tháng nay con chỉ nôn khan và thích của chua... Bụng lại thấy răn rắn. Hay là... dễ muốn có nghén, bu ạ.

Nói đến đây nàng đỏ mặt và nóng bừng cả người.

- Ồ! Thật à? Con đứng lên cho mẹ xem nào!

Mặt bà bỗng tươi sáng, cặp mắt bà bỗng long lanh vì nguồn sung sướng quá mạnh, khi bà đã xoa nắn bụng con dâu:

- Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thánh, vạn bái. Con tôi có mang rồi.

Bà mừng quá không nói hơn được câu gì nữa. Bà đứng ngay dậy, bỏ nàng đấy, tất tả đi ra cổng như người chợt nhớ đến một việc cần mà mình chưa làm.

Nàng ngồi bên khung cửi nhìn ra cười, nói khẽ:

- Bà lão đã đi khắp xóm khoe con dâu bà có nghén. Hì! Chả ai nóng nảy như bà lão nhà mình.

Rồi nàng lại mải miết dệt. Chiếc thoi đi lại thoăn thoắt. Tiếng "cút thạch cun thành" liên tiếp nhau, vang động như đem hết nỗi vui sướng của nàng đi rao khắp mọi nơi.

Chương V

Chóng thật! Vừa mới ngày nào bây giờ đã gần đến tháng đẻ. Cái bụng nàng to sẵn, thắt lưng chặt quá vì sợ xổ, phềnh ra bằng cái thúng đại. Lắm lúc trông nó to một cách ngạo nghễ quá, nàng bật cười một mình. Mấy tháng trước mà to thế thì nàng xấu hổ có lẽ không dám thò ra đến ngoài. Nay nàng đã quen với nó lắm rồi. Nàng không tưởng đến nó nữa mà chỉ tưởng đến đứa con nằm trong. Nàng vẫn phân vân không chắc, tuy mẹ chồng, mẹ đẻ nàng đã đoán biết trước thế nào nàng cũng đẻ con trai, lấy cớ rằng bụng nàng to về bên trái và cái thai hay cựa quậy về bên trái. Còn mọi bà trong họ thì mỗi bà một thuyết, chẳng ai giống ai.

Mới rồi nàng đương đi chợ, bỗng nghe thấy bà tổng gọi đằng sau. Nàng quay lại. Bà tổng mừng, bảo nàng đẻ con trai vì thấy nàng quay về bên trái. Nàng cho là hú họa. Nàng nhớ lúc ấy nàng cắp rổ về bên tay trái. Nếu cái rổ ở bên tay phải, nàng sẽ thuận chiều mà quay về phía ấy ngay.

Nhưng trai hay gái rồi chẳng bao lâu nàng sẽ biết. Mấy hôm thấy râm râm đau bụng, nàng không dám đi chợ, sợ đẻ rơi giữa đường. Đợi mãi sáng nay chẳng thấy gì nàng mới cắp rổ ra đi. Lúc trở về đến cổng, bỗng cơn đau bụng nổi lên dữ dội. Nàng bỏ rơi rổ đồ ăn xuống đất. Hai tay bíu chặt lấy thành cửa, mặt nhăn nhó và tái mét.

Mẹ chồng nàng chạy vội ra, gọi con ở cầm rổ vào bếp rồi vừa xốc nách nàng vừa nói:

- Con đi vào để bu đỡ cho, nhỡ đẻ ở đây thì rầy rà.

Nàng vẫn bíu chặt lấy cánh cửa. Một lát bụng đã đỡ đau, nàng vịn vai mẹ chồng, cố lê vào nhà ngang. Nàng đã kê sẵn giường phản và quây liếp chung quanh thành cái buồng kín. Nàng kiêng không dám để ở nhà trên vì có bàn thờ ông vải.

Vừa đến phản, cơn đau lại tăng bội, nàng nằm vật xuống, bíu chặt lấy mép phản, nghiến chặt răng để khỏi kêu.

Mẹ nàng chạy tất tả sang hàng xóm, đứng ở cổng gọi:

- Chị Vót ơi! Chị Vót!

Vót là tên tục vợ xã Khoan, nhà ở ngay sát vách với nhà Bổng. Chị ta là một người đàn bà đanh đá, chua ngoa. Cả xóm không mấy ai dám đôi co. Hơi có chuyện xích mích với ai chị ta lải nhải hằng giờ nếu người kia cả nhịn. Nếu không thì phải biết! Bốn năm ngày liền chưa chán mõm. Tuy vậy mà cả xóm không ai nỡ ghét. Chị ta có tật ấy thì lại có nhiều nết khác. Chị ta không giận ai lâu, và sẵn lòng bỏ việc nhà để giúp việc người một cách tận tụy miễn là người ta chịu khó phỉnh chị một vài câu.

Người chồng tính khác hẳn như nước với lửa. Vợ nóng nảy thì chồng hiền lành nhu mì. Vợ lơ đễnh, làm đâu vứt đấy, bỏ vương, bỏ vãi thì chồng ngăn nắp, cẩn thận, quét tước dọn dẹp luôn. Vợ bỏ liều con cái, đánh mắng chửi rủa luôn mồm thì chồng chăm nom săn sóc từ ăn uống cho chí tắm giặt. Còn bao nhiêu tính khác nhau như thế, nhưng trong nhà không bao giờ lục đục vì anh chồng suốt đời chịu nhịn nhục, mặc cho vợ quát tháo.

Nghe thấy tiếng bà lão bên hàng xóm, chị ta vội ẵm con chạy ra. Một lũ con chạy theo sau như đàn gà.

- Cụ gọi gì cháu?

Đứa bé ẵm trong lòng vẫn ngậm đầu vú, một tay luồn vào yếm mẹ.

- Việc này phải nhờ đến chị mới xong. - Bà đã biết tính, bao giờ cũng phỉnh trước rồi mới nói vào việc - Chị ạ, cái xã nó giở dạ.

- Ý chừng cụ muốn nhờ cháu đi gọi bà Vị.

- Phải việc này chỉ có chị mới giúp được.

Chị ta mừng như người vừa vớ được việc gì thú để làm, chạy vào bếp đưa con cho chồng:

- Thầy nó bế hộ, tôi đi đằng này có chút việc.

Đứa trẻ rời vú mẹ òa lên khóc, tay bíu chặt lấy yếm.

- Hộ ai hẵng để đấy có được không. Việc còn ngập ra đây nhé!

- Việc việc cái gì! Chẳng làm lúc này thì làm lúc khác. Mượn bế hộ tí mà đã vội duỗi ra. Bế lấy nó!

Chồng không dám hé răng, giơ hai tay đỡ lấy con. Thằng bé rời khỏi tay mẹ càng khóc to. Chồng luống cuống, hát liều: "A, a... Mẹ nó chỉ săn sóc việc người thôi a... a...".

Vợ đã ra tới gần cổng còn quay lại, nói bướng:

- Thế thì đã làm sao?

Chồng sợ hãi hát tiếp luôn:

- A, a... Thế thì chả làm sao cả a, a...

Vợ tủm tỉm cười đi thẳng. Nhưng nếu không may cho chị xã Bổng thì chị ta sẽ gặp toàn những người nỏ mồm như chị ta. Chị ta sẽ đứng lại chuyện trò từng lúc một. Lúc ấy dài hay ngắn sẽ tùy theo tính nết từng người mà chị ta bắt gặp...

Người mẹ chồng đợi lâu quá; nóng ruột, đi ra đi vào, hai bàn tay chắp lại khấn khứa: "Lạy bốn phương Trời, mười phương Phật, chư Phật mười phương, phù hộ cho nhà nó được mẹ tròn con lành". Cặp mắt bà luôn luôn nhìn ra cổng chê chán mới thấy bà Vị với Vót theo sau. Bà nói trách:

- Gớm! Mong cụ suốt từ sáng đến giờ! Sao mà chậm thế?

- Mãi gần trưa tôi mới thấy chị ta đến mời.

Vót vội cãi:

- Thì nhà cụ ở mãi tận cuối làng, xa hàng thôi đường... Với lại chị xã chị ấy đã xổ đâu mà rộn.

Lúc ấy đã xế trưa, chị xã vẫn còn quằn quại rên rỉ trên giường.

Bà Vị không sốt ruột, ngồi ung dung trên phản đợi, thỉnh thoảng động viên người đẻ bằng những câu nói ngọt ngào, thân mật mà vì nhắc đi nhắc lại luôn, bà đã hầu như thuộc lòng.

Bà vốn dòng Gia Tô, thường ở gần các bà sơ, nên bà học được những điều phổ thông về nghề đỡ đẻ. Giá lúc này vớ phải tay bà Tỵ ở xóm trong thì người ta đã hành hạ người đẻ đủ thứ, nào vuốt bụng, nào đấm lưng, nào dứt tóc, nào bắt rận, giục đẻ như giục tà.

Cùng như người mẹ chồng khấn Trời khấn Phật, bà Vị luôn luôn cầu nguyện Chúa và đức Bà.

Còn Vót đứng thuỗn ra, hết nhìn hai bà lại nhìn chị Bổng nhăn nhó, quằn quại trên giường đẻ. Bỗng Vót sực nhớ, chạy vội ra rút cọc chuồng lợn, rồi vừa trở vào vừa nói:

- Cách này không xong, cháu còn cách nữa rất công hiệu.

- Ừ, phải đấy. Tôi rối ruột cũng quên lú đi mất - Người mẹ chồng nói thêm - Này chị ạ, bây giờ tôi mới lại nhớ ra. Chị xuống bếp, lật ông bồ rau, khoét lấy một ít đất...

Bà Vị không bằng lòng, ngắt lời:

- Úi chào! Các người cứ vẽ. Lúc chị ấy đẻ thì tự khắc đẻ. Tôi đỡ mãi mà không am tường hay sao? Cái thai cũng chẳng khác gì cái quả...

Vót cũng không bằng lòng, cãi lại:

- Cụ cứ nói chứ... Thì ngay bác Mịch ở xóm này chứ đâu. Có lần nào mà không phải dùng đến ngoại khoa.

Chị Bổng mê man, không biết gì. Mỗi lần cơn đau trội lên quá, lại bíu chặt lấy thành giường, nghiến cnặt hai hàm răng để chống lại với cái đau.

Bà Vị vẫn thản nhiên ngồi đợi. Mẹ chồng nóng ruột hỏi:

- Liệu có việc gì không, bà?

- Việc quái gì. Có người giở dạ đến hai ngày mới đẻ cũng chả làm sao nữa là.

- Nhưng tôi sợ lâu quá, cháu nó kiệt sức.

- Cụ đừng lo. Tôi đã có thuốc.

Ngoảnh đi ngoảnh lại, Vót đã biến đâu mất. Nửa giờ sau thấy xã Bổng và Vót ở cổng vào.

- Cởi thắt lưng ra, mau!

Người chồng còn ngơ ngác, chưa kịp hỏi thì Vót giục luôn:

- Bảo cởi thì cứ cởi ra nào! Vứt qua nóc nhà kia!

Bổng chợt hiểu, cười:

- Thế mà chị chẳng nói rõ. Nói thế thì bố ai hiểu được.

Hắn vội vàng ném dây lưng qua mái nhà ngang. Trong lúc vội, không kịp nghĩ, hắn quên không quấn vào một viên gạch nhỏ. Chiếc dây lưng nhẹ quá, xõa xuống nửa chừng mái. Vót gắt. Hắn cuống lên, đứng thuỗn ra nhìn trong lúc Vót đi tìm sào khều xuống.

Trong nhà bỗng có tiếng oe oe trẻ khóc. Mẹ chồng cảm động, thấp thỏm đứng ngoài, không dám hỏi.

Bà Vị ở trong buồng nói ra:

- Con gái, cụ ạ.

Bà kia đã nghe rõ, nhưng còn mong nghe nhầm. Hỏi lại:

- Con gái, hở cụ?

- Vâng, con gái. Sinh gái đầu lòng càng dễ nuôi, cụ ạ.

Mẹ chồng thất vọng thở dài.

Chương VI

Vừa tỉnh dậy nàng đã hỏi đến đứa con.

Vót ngồi ở phản cho đứa bé bú, đứng lên, định đưa con cho nàng. Bà Vị ngăn lại. Bà đã biết lòng mong mỏi của nàng và không muốn nàng thất vọng trong lúc đang cần dưỡng sức.

Gian ngoài và nhà trên chật ních những họ hàng khu xóm. Đứa ở gái đem hết ba ấm nước chè rồi mà vẫn chưa đủ.

Thấy nàng sinh con gái, bà nào cũng tỏ vẻ thất vọng và khởi đầu bằng câu nói: "Sinh gái đầu lòng đỡ đần mọi việc" để an ủi mẹ chồng nàng.

Vót ẵm đứa bé còn đỏ hỏn trong cái tã làm bằng cái váy cũ, đi khoe hết bà nọ bà kia, hớn hở sung sướng như thể chị ta là mẹ nó vậy: "Cụ trông cái trán nó giống ai? Cái mũi nó giống cái mũi bà ngoại nó như đúc... Này, cụ trông, đôi mắt nó với cái cằm nó, có như in mẹ nó không?"

Một bà hỏi đùa: "Thế còn cái gì giống bố nó?"

Một bà khác đáp lại liền: "Cái mồm chum chúm, mồm thằng bố nó chứ mồm ai".

Rồi mỗi bà bình phẩm một câu, ồn ào cả mấy gian nhà ngang.

Nhà trên các ông bác, ông chú được thể đến ăn trầu uống nước, nói hươu nói vượn mãi sâm sẩm tối mới về.

Vót ở lỳ không tưởng gì đến chồng con. Bốn năm lần cái Gái sang giục. Lần cuối cùng chị ta chạy ra mắng át: "Làm gì mà rối lên thế? Nó có đòi bú thì bế nó sang bác cả Mịch cho nó bú rình không được à?" Cái Gái sợ mẹ đánh, khóc khóc mếu mếu chạy về.

Đêm đã khuya. Bên kia vách, tiếng trẻ khóc từng hồi, tiếng đàn ông ồm ồm ru, giọng hát rầu rĩ.

Người mẹ chồng thương hại, giục Vót hai ba lần, Vót mới chịu đưa con bé cho bà:

- Cháu gửi cụ, tí nữa cháu lại sang. Chị ấy mới ở cữ đã làm gì có sữa.

Một lát bên này đã nghe thấy tiếng chị ta gắt chồng: "Rõ cái tội, cái nợ! Hễ mình rời đi một tí là ầm cửa ầm nhà. Rồi người nọ giục, người kia giục rối lên".

Tiếng chồng nói lại: "Ai mà mình bảo người nọ với người kia? Có cái Gái nó thấy thằng bé khóc lắm thì nó sang gọi mình về cho nó bú..."

Tiếng chị ta quát to: "Thì người ta đã bảo cho nó sang bú rình bác cả Mịch kia mà!" Đứa bé đã bú no, nằm ngủ say trong lòng mẹ. Vót đưa con cho chồng và dọa: "Hễ làm nó thức dậy thì tôi bảo!"

Anh chồng ngoan ngoãn, giơ hai tay, rón rén đỡ lấy đứa bé ấp vào lòng ru se sẽ trên võng. Vót lại đi sang săn sóc việc người. Hai hôm liền mà chồng không hề một câu, chịu ở nhà bế ẵm chăm nom thằng bé như người vú.

Thấy chị ta như thế, người mẹ chồng không nỡ để thiệt, thường đem gạo sang cho, cho giấu chứ nếu để chị ta biết thì thế nào chị ta cũng cự chồng và bắt mang sang trả lại.

Xã Bổng từ hôm vợ đẻ, không dám bén mảng vào trong buồng. Hắn sợ bẩn, sợ hôi hám chăng? Không, hắn sợ đứa bé. Ở đời, hắn sợ nhất chuột con đỏ hỏn rồi đến những đứa mới đẻ.

Một lần Vót đã nghịch, bắt mấy con chuột chưa mở mắt ở trong vựa thóc đem vứt ngay vào giữa cổng ra vào. Hắn đi làm về, trông thấy vội hét lên, chạy mất.

Lần này chị ta muốn trêu hắn. Gặp dịp hắn có việc không dừng được, phải xuống nhà ngang, chị ta ẵm đứa bé áp mãi vào người hắn và cười nói:

- Này, bố nó, tám chín năm trời mới có con. Bố nó bế thí cho đỡ thèm.

Hắn gượng cười, nhưng mặt tái mét, lùi, lùi mãi rồi chuồn mất, khiến chị ta cười rũ rượi.

Vợ đã biết tính chồng, nên không oán giận. Còn mẹ chồng thì thốt ra một câu đầy giọng căm hờn vì thất vọng:

- Phải, thử con trai xem anh ấy có vơ ngay lấy không?

Vót thực thà, đáp lại:

- Thưa cụ, con trai, con gái hay con gì đi nữa, anh ấy cũng sợ như sợ chuột.

Nằm cữ chưa đầy tuần lễ, chị xã đã đi lại tắm gội và làm việc như thường.

Hôm qua mẹ đẻ nàng đến thăm và cho con nàng một cái mũ bằng ba thứ nhiễu xanh, đỏ, tím can liền nhau thành ba từng và một cái áo lụa mộc vàng như nghệ.

Nàng cầm cái mũ ở trong buồng đi ra, úp vào đầu đứa bé rồi ẵm lấy nó, cúi xuống nói nựng: "Úi nào ơi, con tôi có phải là con chuột đâu mà bố nó sợ". Nàng ngửng lên bảo Vót: "Chị Vót ạ, em nhờ chị việc này nhé. Chị đến đằng cụ Hội xin hộ em ít lá bạch đồng nam về nấu nước tắm cho cháu. Có tiện thì chị xin bà cụ Hội cho em ít riềng ấm giã rồi để em hòa với nước tiểu nhi uống cho tiêu".

Vót được có người khẩn khoản, lộ hẳn vẻ mừng:

- Cái gì chứ riềng ấm thì nhà tôi có nguyên một lọ đây. - Chị ta tiếp luôn - Cũng ở bố nó chứ tôi thì phải vạ mà trữ sẵn như thế!...

Vót ra đi rồi, chị xã ẵm con vào giường, vạch vú cho con bú. Hai bầu sữa của nàng lúc nào cũng đầy. Lắm khi đầy ứ, cặp vú căng rắn như hai quả bóng, nàng phải sang hàng xóm cho trẻ bú rình. Có khi thừa thãi quá, nàng phải vắt bớt vào cái chén, đem đổ xuống ao. Nàng không dám đổ xuống đất, sợ cạn sữa. Vì thế mà đứa bé vừa đặt mồm bú, sữa đã tràn ra hai bên mép.

Vài phút sau, đứa bé lim dim ngủ, mồm vẫn ngậm lấy đầu vú, cặp môi nhỏ xíu thỉnh thoảng mấp máy và chân tay khẽ cựa cạy. Nàng sợ nó giật mình, ôm chặt vào lòng, rồi khi nó đã ngủ say, nàng hết sức gượng nhẹ, đặt mình xuống giường, mồm se sẽ ru.

Lúc này đứa bé không còn là đứa gái rẻ rúng nữa. Nó là hòn ngọc của nàng, là nguồn sống của nàng, là một cái gì thân mật, quý báu ở trong người nàng. Giá nàng được luôn luôn ôm ấp lấy nó. Nhưng không thể được. Nàng còn phải trông nom săn sóc mọi việc. Nhất là chiếc khung cửi. Nàng động rời nó lúc nào là thiệt cho nhà nàng lúc ấy. Nó là một tay giúp việc rất trung thành rất đắc lực. Vắng nó, cuộc sống của cả gia đình nàng sẽ một ngày một khó khăn. Vắng nó, công nợ sẽ một ngày một đẻ dần, rồi một ngày kia làng nước sẽ có dịp bàn tán với nhau rằng nhà nàng bắt đầu sa sút. Chiếc khung cửi quan hệ như thế mà nàng cũng không luôn tay với nó được. Tâm trí nàng để cả vào đứa bé như ngày còn nhỏ nàng để ý đến đứa bé của nàng làm bằng cái gối mây. Chốc chốc nàng lại bỏ việc, vào buồng ngắm nghía con, hoặc cho con bú, hoặc thay tã thay lót cho con. Nàng không muốn nhường ai công việc ấy, cả mẹ chồng nàng.

Đứa bé lớn như thổi, bụ sữa, mũm mĩm như hòn bột, thơm như mùi gạo nếp. Hàng xóm họ đương ai đến cũng tranh lấy bế để hôn hít.

Mẹ chồng nàng thấy thế cũng khuây khỏa dần và vui sống đợi đứa cháu sau.

Chồng nàng không sợ như trước nữa. Mỗi khi đi làm hay đi đâu về, hắn vồ lấy đứa trẻ ở lòng mẹ, hôn hít, thổi mạnh vào rốn cho nó cười sằng sặc, rồi bế đi khắp nhà trên nhà dưới hay nằm võng vừa đưa bồng vừa hát nghêu ngao. Hắn bế vụng quá, nàng phải sửa lại xống áo cho con khỏi xốc xếch và trách chồng bế như bế con hàng xóm. Có khi nàng giữ lấy mép võng sẽ đưa và cúi xuống, đợt giọng ra nói chuyện với con. Cứ bắt đầu mỗi câu, nàng lại uốn lưỡi đập xuống kêu như tiếng mõ, tiếng "âu" kéo dài nối liền sau.

Đứa trẻ nằm ngửa dềnh trên bụng bố, hai chân co lên, hai tay cà cuộng nắm lấy ngón chân. Cái mồm nhỏ xíu chúm chím cười.

Chương VII

Nàng ngừng dệt, quay lại, mặt hầm hầm:

- Này tôi bảo thật. Đừng có đem tiền của tôi đi mà đánh bạc, kẻo rồi chẳng ra gì với tôi đâu.

Hắn chẳng thèm nói năng, cứ việc thọc hai tay vào túi áo trong, cắm đầu đi thẳng.

Mẹ chồng nàng ngồi trên giường, trong bóng tối, bế đứa cháu gái mới đẻ được bốn năm tháng. Đứa gái đầu lòng đã lên ba, nằm ngủ co ro trong chiếc chăn nâu ở bên cạnh. Nghe thấy nàng gắt chồng, bà ngửng lên quát mắng theo:

- Thằng phải gió chết băm chết vằm kia! Mày có trả ngay nó không? Khốn nạn thân mày! Làm đã chẳng chịu làm. Vợ đầu tắt mặt tối kiếm ra được đồng vốn đồng liếng nào thì mày lại đem đi nướng sạch.

Trong lúc mẹ hắn quát tháo thì hắn đã đi ra khỏi cổng và đã lẫn vào trong xó tối.

Nàng thở dài, nước mắt chạy quanh:

- Thôi, bu nói làm gì với cái con người ấy. Người ta có nghĩ gì đến mẹ, đến vợ con.

Nàng nói thực. Từ khi hắn ham mê xóc đĩa, hắn chỉ nghĩ đến các sòng bạc. Động trong túi có tiền là mất hút không còn thấy bóng vía hắn đâu nữa. Nhất từ ngày nàng đẻ đứa con gái thứ hai, hắn làm ra mặt chán đời để lấy cớ chơi cho thỏa thích. Có ai trách hắn lêu lổng, hắn làm ra vẻ buồn, thở dài, nói: "Bác tính, con trai chẳng có, để tiền làm gì mà chẳng chơi".

Có người biết rõ tâm tính, nói thẳng ngay vào mặt hắn: "Phải, có con trai nữa bác không chơi, không chết mê chết mệt với bốn đồng tiền cái".

Mấy hôm nay, không còn đồng trinh dính túi, hắn đã định theo đòi lý Cúc, cầm hai sào vườn lấy tiền gỡ gạc, thì may sao, ban trưa vợ vừa bán ba vại thuốc lào được bốn mươi lăm đồng.

Hắn giật được mười lăm đồng bỏ túi. Nàng níu chặt lấy áo. Hai vợ chồng giằng co. Hắn đẩy mạnh. Nàng ngã ngay trước mặt bọn lái thuốc. Hắn bỏ chạy. Nàng ngồi phệt xuống đất, mặt tái hẳn đi vì xấu hổ và căm tức. Nàng vừa thở hổn hển vừa vấn lại tóc rồi đứng dậy phủi áo xống và ngồi trên ngưỡng cửa quay vào phân bua: "Các ông tính chồng con thế đấy! Rõ điêu đứng chưa!" Nàng ngừng ngay được không đến nỗi để thố lộ nỗi khổ của mình và nói thậm tệ chồng trước mặt người lạ tuy những người ấy cũng là "người làng người nước cả".

Bọn lái ra rồi, nàng lẳng lặng đi lại ngồi vào khung cửi dệt mải miết để quên nỗi căm tức chồng vì thực tâm nàng không bao giờ muốn thù ghét chồng.

- Được, để nó về rồi tao bắt nó trả. Thằng tệ bạc thế thì thôi. - Mẹ chồng nói để an ủi con dâu chứ bà cũng thừa biết là mất đứt.

Chiều, hắn trở về, tưởng thế nào vợ cũng rầy la om sòm đòi cho bằng được. Hắn định, nếu vợ làm quá, hắn sẽ trả, chỉ giữ lại năm đồng để tối nay đi mừng đám khao nhà lý mới và đánh dè dặt một vài đồng họa may phất chăng.

Vê đến nhà thấy vợ chẳng nói nửa lời, có ý dỗi, hắn lặng yên, tủm tỉm cười một mình và nghĩ bụng: "dỗi càng hay". Duy có mẹ hắn chửi mắng hắn thậm tệ. Hắn không tức, không sợ, mặt trân trân như mặt phỗng đá.

Lúc hắn đội khăn mặc áo ra đi thì vừa mới chập tối. Đêm ấy là đêm mười sáu tháng Hai trăng lên muộn và trời hơi lạnh lạnh. Ngõ xóm vắng tanh. Ngoài những con chó đứng cổng sủa ra, không còn tiếng gì khác. Hắn cắm đầu, vừa đi vừa nghĩ.

Từ ngày biết chơi bời, hắn chỉ đánh chắn hay tổ tôm còm được thua độ một đồng trở xuống. Những hôm tết, hắn đi lễ, có thấy bọn nghèo hèn ngồi họp xóc đĩa cò con với lũ trẻ hay lũ mục đồng trong quán, hắn dừng lại, đứng ngoài vứt liền ba bốn xu vào mặt chẵn hay lẻ. Cũng có khi, may tay hắn cúi xuống mở bát. Cả hai mặt dồn lại không đầy dăm hào chỉ, có thua cũng chả mấy. Hắn đánh một vài tiếng rồi đi. Hắn vẫn sợ xóc đĩa là thứ chơi quốc cấm, nhỡ bị quan hay ông chánh tổng bắt được thì rầy.

Những ngày mùng sáu, hội quan lão năm xưa, hắn có tám hào trong túi. Đã sẵn tiền lại gặp ngày được phép đánh thả cửa, hắn rẽ vào quán đa, liều một canh để nếm mùi đổ bác lớn. Hắn cố lách vào chiếm được một chỗ ngồi. Bắt đầu hắn đã phải đặt ngay một hào vì họ chỉ ăn từ hào trở lên. Hắn thua liền bốn tiếng bạc. Mặt hắn nóng bừng. Hắn tiếc quá. Biết thế để bốn hào đánh chắn, thua hết cũng còn lâu chứ có đâu không đầy một chốc. Hắn ngồi mân mê bốn hào còn lại túi, cặp mắt thao láo nhìn một cách thèm thuồng những tờ giấy bạc và một đống hào trong lòng nhà cái. Sau cùng hắn nhắm mắt, cố ghìm lòng ham muốn, đứng dậy, định về thì bỗng tiếng reo, "ngửa tư" giữ hắn ngồi lại. Hắn đã nghiệm nhiều lần, bao giờ tiếng trước ngửa tư hay sấp bốn thì tiếng sau cũng sấp hai, chắc chắn là sấp hai. Ấy là theo cuộc thí nghiệm của hắn, chứ không nhiều khi sấp một, sấp ba là thường. Hắn mạnh bạo, quả quyết, cái quả quyết hiếm có của hắn ném cả bốn hào vào mặt chẵn. Ném rồi hắn mới thấy hắn bạo tay quá, định kéo về một nửa thì nhà cái đã cân liền.

- Sấp hai. - Hắn vỗ tay reo to hon hết mọi người bên phía chẵn.

- Tiếng này lại sấp hai đây. Bạc hôm nay nhiều lúc dồn, cứ đánh gấp chão vào.

Hắn biết người nói ngồi cạnh hắn là tay cờ bạc lõi, đương hăng và trong lòng phấn khởi, hắn nghe theo nhưng không dám táo gan đánh cả. Hắn vơ sáu cái chẵn liền, và lúc đứng dậy còn được tám đồng bạc giấy với cái vốn tám hào bỏ túi. Chóng thật! Không đầy hai tiếng đồng hồ. Ấy là hắn còn non gan không dám đặt hàng đồng hay đặt gấp chão.

Từ đấy, sẵn có cái vốn to, hắn quen mui đi vào các sòng, không thèm đếm xỉa đến những bàn chắn, bàn tổ tôm nhỏ xíu của những bạn hằng ngày. Dần dần hắn đâm ra say mê quên cả sợ phép quan, không còn nhìn nhỏ đến nhà đến cửa.

Mà cũng lạ! Lúc mới tập thì sao đỏ thế. Đánh đâu được đấy. Có lần người ta đồn hắn được hằng trăm. Đến lúc hắn đã thạo nghề, đã biết tính nước bạc nào "tám phi" nào "tứ đối" "ngũ thành phần", đã biết mua bán, biết "vào vị" biết "keng bằng, keng lệch", đã dám bạo tay mở tiếng bạc hằng chục thì lại là lúc hắn thua xiểng liểng. Bao nhiêu tiền được thua hết, thua lấn cả vào tiền nhà. Rồi nay hắn bán vài thúng thóc để gỡ gạc, mai hắn nói dối quanh đi mừng đám này, đi phúng đám nọ để nặc tiền vợ, Nhưng chưa bao giờ hắn lấy của vợ quá số năm đồng.

Hôm nay, không hiểu sao, hắn dám lấy tới ngần ấy. Thật là một sự phi thường.

Đến đầu xóm, hắn dừng bước, nửa muốn đi thẳng, nửa muốn trở về trả bớt vợ. Hắn còn đương băn khoăn, hối hận ngập ngừng thì một con bạc ở đâu đến, khoác vai hắn kéo đi:

- Đêm nay nhiều con bạc sộp lắm đấy. Tớ có dăm đồng. Không biết chừng, may ra phất hằng trăm cũng nên. Đằng ấy có đem đi khá thì cho tớ giựt tạm một ít.

- Tớ cũng chỉ có ngần ấy thôi. - Và hắn nghĩ thầm: "Nó có dăm đồng mà còn hy vọng hằng trăm huống chi mình".

Hắn hớn hở dấn bước, trong lòng hết băn khoăn, hối hận.

Trăng đã lên khỏi lũy tre, mập mờ đằng xa. Vành trăng tuy tròn, nhưng ánh trăng đục như ánh đèn chiếu qua lần giấy bóng. Sương xuống nhiều và lạnh.

Tuy vậy tâm trí hắn vẫn nhẹ nhàng, khoan khoái, hắn đương nghĩ đến những tiếng bạc sắp mở, những tập giấy nằm cuộn tròn trong lòng bàn tay, những hào đầy túi. Chuyến này hắn sẽ không dại như mọi chuyến, biết chắc được mười mươi mới thò tay mở. Hắn sẽ không dại, đánh đến tan cuộc mới chịu đứng dậy. Hắn sẽ găm như ông hội Quỳnh hay ít ra cũng dành lại vốn dăm đồng bạc trước.

Dưới ánh trăng mờ, những vườn thuốc cao ráo, sạch sẽ, những cây thuốc non, lá xanh phơn phớt, gióng thành hàng lối như những vườn cải.

Hắn vừa đi vừa bàn, nghĩ không để ý đến hai vườn thuốc của hắn ngay sát vệ đường. Bạn nói gì hắn cũng chẳng hiểu nữa.

Hai người đi lẫn vào khóm tre um tùm ở cõi Hùng nổi tiếng là lắm ma, qua đình thôn Trung, rồi rẽ vào xóm "chánh Quất" - Phần nhiều xóm không có tên. Người ta thường lấy tên một vị đàn anh nhất trong xóm để gọi cho dễ nhớ, hoặc tên một nhà giàu nhất như xóm "lý Trí", xóm "cán Thận" hoặc tên người mà ai ai cũng biết như xóm bà "đồng Ấn".

Hai người rẽ vào xóm "chánh Quất", qua bốn năm nhà, vòng quanh cái ao vuông nhà chánh Quất đến gốc sung nằm ngang thành cái cầu rồi đến cái cổng gạch nhà lý mới trên có đắp cái đồng hồ quả lắc và con số 1923. Họ cứ việc đi thẳng vào, biết trước rằng mấy con chó đã cũi, qua sân gạch, không lên nhà trên, đi thẳng xuống nhà ngang là chỗ chứa bạc.

Sáu bảy chiếc chiếu trắng trải liên tiếp nhau, ngang dọc khắp gian giữa. Hai chiếc đèn phạn treo từ xà nhà đến gần sát đầu người ngồi bằng những dây chão.

Ông chánh hội ngồi xếp bằng xóc cái, các con bạc ngồi bày chung quanh chiếu thành hình bầu dục. Hàng chục người tò mò, hoặc không tiền, nhất là không tiền, đứng sau cúi xuống nhìn cho đỡ thèm và bàn tán, mách nước như những tay chầu rìa tổ tôm.

- Tưởng thế nào chứ thế này thì lấy gì làm to. - Hai anh em thì thầm với nhau.

Một người đứng cạnh nghe rõ quay lại nói:

- Các ông muốn ăn to thì lát nữa. Những khách sộp các nơi còn chén cả ở nhà trên. Ông trưởng bạ, ông quản Chu, và các tay sộp làng ta cũng ở cả trên ấy. Lát nữa chỉ sợ các ông không đủ tiền mở một tiếng.

Bổng hơi tức, định bắt bẻ cái anh hỗn xược ấy, nhưng sợ mất thời giờ phiếm vô ích, hắn lờ đi, chăm chú nghe tiếng bạc đương rền trong cái bát úp trên cái đĩa nằm trong lòng hai bàn tay thạo nghề của ông chánh hội.

- Bán lẻ!... Lẻ bán! - Nhà cái xướng một cách đường hoàng dõng dạc.

Hắn nhìn mặt lẻ, nhằm tính vào khoảng ba đồng.

- Bán lẻ!

Ông chánh hội nhắc lại và nói tiếp:

- Không ai đắt thì tớ cân đây này. - Vừa nói ông vừa xoay trôn bát, dọa mờ. Bổng vội giơ tay ra cản:

- Hượm! hượm! Cụ!... Cho cháu mở "châm lửa" một cái lấy may.

Ông chánh hội ngửng lên:

- Xã đấy à?

- Vâng, cụ xướng lại cho cháu mở.

- Bán lẻ! Lẻ bán! - Ông chánh hội vừa xướng vừa giơ tay ra đỡ.

- Đắt. - Hắn ngồi xuống, miệng nói tay cầm trôn bát hắt mạnh vào nhà cái.

Phía chẵn reo mừng: "Sấp hai!" Còn phía lẻ tức tối, phàn nàn: "Lại sấp hai!"

Một người nói gắt: "Sấp hai đâu lại sấp hai đến sáng chắc. Mình cứ khát nước mãi thế này thì nguy kịch".

Ông chánh hội vừa giam tiền vừa phàn nàn theo:

- Ông khát nước thì nữa tôi không. Tôi thua bốn tiếng bạc liền, mất ngót hai chục rồi đấy.

- Một dịp bạc chuyền, cụ đã vơ bao nhiêu!

Người đương nói ấy là khán Duy, một nhà trước kia giàu sụ bây giờ khánh kiệt về xóc đĩa.

Xã Bổng mở "châm lửa" được tiếng bạc ấy rồi lại được luôn tiếng sau. Đến tiếng thứ ba, Bổng lại định đánh chẵn thì một anh ngồi cạnh ném hai động bạc giấy ra giữa chiếu: "Keng bằng đây!"

Bạc rền luôn chín tiếng rồi. Đương linh tay, hắn liền cộp bốn đồng lên hai đồng kia, rồi cầm cả sáu đồng ném vào mặt chẵn. Đánh thế có phần lợi cho hắn, vì nếu sấp hai, hắn còn được sáu đồng bạc đền và nếu may ra ngửa tư hay sấp bốn, hắn sẽ được mười hai đồng, một gấp ba...

- Sấp bốn. -Tiếng reo vang cả mấy gian. Bao nhiêu mắt ngạc nhiên hay thèm thuồng đổ dồn cả vào Bổng. Hắn sướng run lên, mặt nóng bừng. Đỏ thật! Cả canh bạc không có một tiếng lạ lùng như thế, hắn bạo dạn đặt luôn mấy tiếng. Tiếng được tiếng thua, đổ đồng hắn còn được vài ba chục.

Bỗng ngoài sân sáng rực. Lý mới cầm cái đèn cao ngọn đi trước dẫn lối. Một lũ hằng chục người theo sau. Nhiều người say, nói bô bô.

Ông chánh hội nghỉ xóc, đứng dậy cười nói:

- Ông nào đánh nhỏ thì xin nhường chỗ cho khách ngồi.

Một vài con bạc tép nhép đứng dậy. Bọn khách vào ngồi thành hai dãy dài. Một tên người nhà đưa cho ông chánh hội một cỗ bài xanh và một cái hòm con trên nắp đục một cái khe nhỏ như cái hòm tiền hàng xén, để đựng hồ lỳ. Hai người đàn bà hàng sáo, ngồi ăn trầu uống nước ở gian cạnh.

Ông lý Cúc mau mồm mau miệng, cất tiếng:

- Hôm nay đông đủ quý khách, xin mời cụ chánh Nam ngồi xóc cái, cụ xóc mặn mà, có duyên.

Quản Chu lúc say quên cả trật tự, cãi lại:

- Cụ nói mặn mà có duyên thì nhất "điệng" đàn em không chịu. Ăn nói mặn mà có duyên chứ xóc thì chỉ có thể rền hay rời rạc như cơm nguội thôi, cụ ạ.

Ông lý Cúc thấy hắn say bí tỉ, không thèm chấp. Vả lại ở đây, trong lúc này, chỉ có ai sẵn tiền, đánh to, mở bạo là đáng kể. Mà quản Chu lại là tay mở bát có tiếng, nên ông đã không bắt bẻ lại còn khen hắn nói phải, làm cho hắn sướng phồng mũi.

Chủ khách đã ngồi đâu vào đấy. Ông chánh hội đối diện với ông chánh Nam. Cỗ bài và hộp tiền để trước mặt. Cỗ bài vừa dùng làm bàn tính vừa dùng làm thẻ hồ. Cứ mỗi cây bài là năm xu. Mỗi người bỏ ra một đồng đôi lấy hai mươi quân. Bao giờ hết hai mươi quân lại phải bỏ ra đồng nữa để lấy hai mươi quân khác.

Trước khi vào cuộc, ông dặn cặn kẽ:

- Bây giờ đông đủ các cụ, các ông, tôi xin nói đỡ nhà chủ. - Thực thì chính ông là chủ, vì khách các nơi phần nhiều là khách của ông cả. Tiền hồ chia tay, ông sẽ được phần to nhất - Tiền hồ xin cứ như lệ thường, nghĩa là mỗi đồng năm xu. Đánh khấu đồng trở lên...

Quản Chu ngắt lời:

- Trở lên bao nhiêu, cụ?

Ông chánh hội cười:

- Trở lên bao nhiêu là tùy ở sức các ngài, một chục, một trăm, một nghìn, càng nhiều càng lời cho... hồ. Ai có dã tâm đem bạc giả lộn sòng, nếu bắt được thì phạt bỏ vào hồ một đồng, mà đồng bạc giả phải xé đi.

Quản Chu lại ngắt:

- Cụ chỉ làm lợi cho hồ. Nhưng nếu đồng bạc giả bỏ ra không ai biết ở tay ai và không ai nhận thì cụ tính sao? - Hắn nói rồi ngả người ra đằng sau, cười ha hả.

Một người khác nói:

- Úi chao! Cụ hội người tinh mắt lắm. Đồng giấy nào của ai ném ra mà cụ chẳng biết.

Ông chánh hội nhũn nhặn:

- Cái đó là nhờ cả con mắt của các ngài. Với lại nói thì nói chứ làm gì có người tồi đến thế... Ai đã thò tay ra xoay trôn bát thì bắt buộc phải mở. Nếu không cũng phải phạt một đồng...

Quản Chu nói:

- Vào hồ.

Ông chánh hội cười:

- Cố nhiên... Ai muốn ăn một hai đồng, năm sáu đồng với người đặt, phải cộp ngay, không cộp không ăn. Tiếng "keng" tiền "vào vị" phải để ra giữa bàn.

Quản Chu lại định ngắt. Một người gạt đi:

- Thôi, ông quản, để cụ hội người nói nốt kẻo muộn rồi.

Ông chánh hội tiếp luôn:

- Người nào mở bát mà những người đánh không tin là có tiền giam thì phải cộp trước khi mở. Người nào mãi lúc nhà cái hay người đắt thò tay mở mới vứt tiền ra đánh thì không được đền. Thôi thế bây giờ xin mời cụ chánh "khởi" cuộc.

Ông chánh Nam ngồi xếp bằng, gò vai lại xóc một hồi rất ròn, rồi ông để bát trước mặt ông lý Cúc: Rước cụ cựu mở trước... Sấp một! Hừ, canh bạc hẳn to. Đoạn ông lại xóc: "Tiếng này phần ông quản... Sấp hai! Bạc đều đấy". Tiếng thứ ba, nhà cái mở lấy: "Sấp hai! Canh bạc này hẳn sẵn sấp hai..." Ông mở luôn tiếng nữa: "Sấp ba! Thôi thế là bạc chuyền đủ mọi mặt, vậy giờ xin mời các ngài đánh đi".

Bắt đầu chưa biết bạc đi về ngả nào nên ai cũng đánh cầm chừng, một hai đồng đến năm đồng là nhiều nhất. Cả trong lẫn ngoài đổ đồng không đầy vài chục.

Rồi bạc mỗi lúc một to. Có tiếng, riêng mặt chẵn hay mặt lẻ đã tới năm sáu chục. Mấy gian nhà yên lặng. Bao nhiêu tai mắt, tư lự chú trọng cả vào cái bát và đồng bạc. Lúc này mới thật đúng nghĩa: "Thần đổ bác", vì sự yên lặng lúc ấy nhiễm vẻ thành kính, tôn sùng của mọi người như lúc họ vào trong cung cấm vậy.

Ông chánh hội bày những quân bài thành hàng để tính số bạc la liệt trên hai mặt như lúc ông tính số bằng que diêm. Cứ tới mỗi chục, ông lại gác hai quân lên nhau như hình chữ thập. Đoạn ông hô: "Chẵn: Bốn mươi hai đồng. Lẻ: Mười bảy đồng. Chẵn thừa vị chi là - Ông làm tính trừ vẫn bằng những quân bài bày trước mặt - Hai mươi lăm đồng. - Chẵn thừa hai mươi lăm đồng!" Nhà cái xướng theo.

Ông chánh hội nhìn ông chánh Nam, ngạc nhiên hỏi:

- Ô hay! Cụ không đánh mấy tiếng liền à?

Nhà cái lắc đầu, tủm tỉm cười nhạt nhẽo:

- Đen lắm, cụ ạ. Phải nghỉ một dạo cho nó hồi lại đã.

Ông chánh hội quay sang bên cạnh:

- Xã! Đương đỏ, đánh dấn lên chứ!

- Cụ tha lỗi, bạc nhảy cộc kệch như ngựa chạy ba chân thì đánh làm sao được mà đánh.

Kể bạc lúc ấy chuyển cũng có phần không đều. Nhưng thực thì không phải vì thế mà hắn đánh rụt rè. Hắn trót canh ty với trưởng bạ mở hai tiếng cùng thua cả. Rồi hắn cố gỡ gạc, vào mấy cái "vị" cũng đều mất hút. Rồi càng gỡ càng thua, càng thua càng cay, hắn đâm mụ, mất cả trí khôn, quên cả nước bạc, đánh liều đánh lĩnh. Cuốn bạc trong lòng bàn tay tuôn ra mòn dần cho đến khi còn tay trắng. Hắn thò tay vào túi đếm nhẩm và ngạc nhiên chỉ thấy còn vỏn vẹn năm đồng. Chả có nhẽ! Hắn đinh ninh ít ra còn vài chục. Móc sang túi khác, hắn chỉ thấy lọc cọc cái sáp thuốc với năm sáu đồng "xanh căng". Hắn không còn túi nào nữa để tìm kiếm chút hy vọng.

Ông chánh hội quay sang giục:

- Đánh đi chứ! Bạc lúc này đương rền đấy nhé.

- Bạc thế mà cụ bảo rền!

Quản Chu chưa hết say, ngồi nghiêng ngả, cặp mắt lừ đừ. Tiếng bạc nào nhà cái bán, hắn cũng vươn tay ra vội: Đắt! Đắt!

Cả bàn thấy hắn say dí, cho là hắn mất trí khôn, thi nhau đặt cho hắn chết một mẻ. Nhưng cái say vẫn chịu cái đỏ, hắn mở tiếng nào là được tiếng nấy. Không mấy chốc đống bạc của mọi người vào lòng hắn quá nửa.

Một vài người căm tức, thì thầm với nhau: "Ấy thế mà rồi hẽt nhẵn củ kiệu lúc nào cho mà xem". Họ nói không phải không có lý. Quản Chu có mấy khi được đâu! Dẫu lúc này có được rồi đến lúc tan cuộc cũng hết. Vì say, hắn nhắm mắt đánh liều.

- Tiếng này sấp hai đây xã ạ. Đánh to vào cho lão ấy chết.

Bổng lắc đầu cười trừ. Tiếng bạc mở. Ông chánh hội quay sang gắt:

- Đã bảo đánh thì chẳng đánh. Thế mà cũng học đòi đánh bạc.

Nhưng ông chánh hội có biết đâu rằng hắn chẳng còn đồng cóc nào trong túi và nụ cười nhạt nhẽo của hắn là nụ cười của người tuyệt vọng.

Không còn tiền đánh, hắn ngồi rồi, đoán suông vậy.

Thật mỉa mai! Lúc này lại là lúc hắn đoán trúng hơn hết. Trưởng bạ theo hắn mở mấy tiếng cùng được cả. Hắn đau đớn, nghĩ bụng: "Còn tiền thì làm gì mà chẳng gỡ được".

Một lần, bấy giờ gần về sáng, bạc đã mãn canh, trưởng bạ thò tay sắp mở. Hắn máy miệng nói liều:

- Hượm cho tôi ăn với.

Trưởng bạ, tay vẫn nắm trôn bát quay lại hỏi:

- Sáu đồng nhé?

Hắn ừ liều. Tiếng ấy thua. Rõ cay đắng! Hắn vờ soát các túi rồi làm ra vẻ ngạc nhiên:

- Quái! Chục bạc mình để ở túi đi đằng nào mất... Ông... ông cho tôi giựt tạm bốn đồng nữa là một chục. Mai kia tôi trả nhân thể.

- Thật đấy nhé. Nếu sai hẹn, tôi đến tận nhà thì đừng trách. - Vừa nói trưởng bạ vừa xỉa bốn đồng cho hắn mượn.

Thua lắm, hắn đâm ra rụt rè, mất cả lòng tự tin, ngồi mân mê mấy tờ giấy bạc, thỉnh thoảng thò ra đồng nào, mắt gió đồng ấy. Chắng bao lâu, tay trắng lại hoàn tay trẳng. Hắn ngồi ngây ra như người mắc bệnh si, cặp mắt lờ đờ, buồn thiu, thong thả đưa từ đồng tiền này sang đồng tiền khác.

Sau cùng hắn tắc lưỡi, đứng dậy ra về, nét mặt thê thảm như anh chàng đại hà tiện vừa bị mất cắp.

Chương VIII

Cơm nước dọn dẹp vừa xong thì trời tối mịt.

Hai mẹ con, mẹ chồng và nàng dâu ngồi hai bên phản. Chiếc đèn Hoa Kỳ để giữa. Trong ánh lờ mờ, chiếc hòm gian kê liền đấy trông to rộng quá. Còn những vật khác đều chìm trong bóng tối. Ba gian nhà rộng thênh thang và tịch mịch, lạnh lẽo. Tiếng thở đều của hai đứa trẻ ngủ trong chiếc màn nâu...

Mấy con chuột đuổi nhau rúc rích một lát rồi im bặt như để làm tăng sự yên lặng của ban đêm.

Nàng dâu thở dài rồi cất tiếng:

- Bu ạ - Thấy tiếng mình vang lên quá, nàng hạ giọng nói sẽ như thì thầm - Bu ạ, con nghĩ cụ hội cụ ấy nói thế mà phải. Nhàn cư vi bất thiện. Nhà con chơi bời chỉ vì rỗi quá đấy, bu ạ.

- Chuyện! Vườn ruộng nó bỏ bừa, phải thuê canh điền thì hiếm nào nó chẳng rỗi. Ngày xưa tao có thấy nó rỗi thế đâu. Chẳng qua nhà mình vô phúc, nó mới sinh ra đốn thế.

- Không phải con bênh gì nhà con, nhưng mỗi thời một khác, bu ạ. Thời nay đàn ông họ không thiết gì đến việc đồng áng. Họ đua nhau chơi bời để đợi kỳ ra làm việc làng việc thôn... Bu ạ, thời buổi nào kim cương ấy. Con thiết tưởng cứ nghe cụ hội, lo cho nhà con cái lý thôn là xong. Đã ra làm lý thôn thì trên đã có các cụ dưới đã có phép làng, cu cậu chả còn dám bỏ việc mà lêu lổng nữa.

- Tao cũng biết thế nhưng mà... - Bà ngừng lại ngồi thừ ra nghĩ. Dòng dõi chồng bà bốn năm đời chức dịch. Đến đời chồng bà tuy nghèo mà bà cũng cố bóp bụng, dành dụm lo được cái chức khán thủ.

Đợi lâu không thấy mẹ chồng nói, nàng dè dặt:

- Chẳng giấu gì bu, khi còn con gái con cũng có cái vốn nhỏ. Đến khi về nhà chồng, con có gửi lại thầy mẹ con bên ấy hơn đong kém bán. Nay tính ra được trăm rưỡi bạc.

- Ồ khá nhỉ! Có bao nhiêu vốn mà được tới ngần ấy?

- Thoạt đầu chỉ có ba đồng tám bạc thôi bu ạ. Ba đồng tám bạc mừng tuổi gom góp mãi từ năm con lên sáu cho đến năm con mười hai. Gặp năm lợn rẻ, con mua một con về nuôi chung với mẹ con. Nói là nuôi chung chứ tiền cám là của mẹ con cả.

- Tiền nuôi không mất thì hiếm nào mà vốn của cô chả lên chóng thế!

Nàng tủm tỉm cười:

- Thì mỗi ngày con đã dệt cho mẹ con một tấm vải và sáng nào con cũng đi vớt bèo. Bu ạ, chóng thật! Trong vòng có bốn năm, cứ bán con này lại nuôi con khác mà vốn của con đã lên tới bốn chục. Sau năm ấy, cám đắt quá, mẹ con không cho nuôi lợn nữa, bắt con mua sợi về dệt vải lấy. Rồi con bắt chước mẹ con, cũng hơn đong kém bán. Đến năm con lấy nhà con thì vừa tám chục.

- Giá chồng mày cũng được như mày thì mấy lúc mà giàu! Nghĩ đến nó lúc nào tao lại lộn cả ruột.

- Đàn ông ai chả vậy. - Nàng nói thế nhưng trong thâm tâm nàng vẫn bảo chồng là một người đàn ông hư. Nghĩ một lát nàng nói tiếp - Hiện giờ ở đây con cũng dành dụm được ngót hai trăm!

Mẹ chồng ngạc nhiên:

- Hai trăm! Tao tưởng mày có dành dụm chăng nữa cũng chỉ được bảy tám chục là cùng.

Nàng nhếch mép cười, có vẻ tự phụ. Nàng đứng dậy, vừa nói vừa đi đến chiếc hòm gian, mở khóa:

- Để con lấy cho bu xem.

Lách cách một lúc, nàng xách ra một cái hũ sành, đổ ít đỗ xuống chiếu rồi thò tay vào miệng hũ lôi ra một cuộn giấy bạc gói trong vuông vải ta. Nàng chọn toàn giấy mới. Mẹ chồng nàng nhìn hoa cả mắt.

Không phải nàng muốn khoe hay thấy mẹ chồng ngờ vực mà đem ra phân bua. Nàng đã có ý định của nàng...

Bỗng ngoài sân hai con chó sủa ầm ĩ. Đứa con nít nằm trong màn giật mình khóc òa lên. Mẹ chồng nàng chạy ra sân. Nàng luống cuống, cuốn vội những tập giấy bạc vào trong khăn, nhét xuống đáy hũ, rồi hấp tấp bốc đỗ phủ lên, mặc đứa con khóc trong màn.

Lúc mẹ chồng đe chó xong, trở vào thì nàng đã cất đâu vào đấy, đóng khóa cẩn thận rồi. Đứa con vẫn còn khóc. Nàng đứng dậy, chạy lại giường ẵm nó vào lòng, vạch yếm, nhét đầu vú vào mồm nó: "Thôi thôi, bu đền, bu đền. Úi nao ơi, con tôi nó giận tôi đây mà. Tôi chỉ bận việc đâu đâu chẳng nhìn nhận gì đến nó. A thôi thôi, bu đền, bu đền". Đứa trẻ nhoài ra khóc ba bốn lần rồi hình như hết tủi thân, ngậm lấy đầu vú, thỉnh thoảng còn khóc bằng mũi và nấc lên mấy tiếng.

- Bu đã bảo bu xin rồi mà, bu đền rồi mà. Gớm! Con tôi khó tính quá.

Đứa trẻ im bặt, vừa bú vừa ngủ gà ngủ vịt. Hai mẹ con lại ngồi xuống phản nói tiếp câu chuyện ban nãy. Con dâu bắt đầu:

- Bu ạ, cứ kể hơn ba trăm bạc ấy cũng đủ lo liệu rồi. Đóng cả một lúc ba năm thì mất hai trăm sáu, cỗ bàn này khao hết độ bốn chục... Nhưng mà... con nghĩ, nếu bỏ tiền ra lo thì nhà con lại cho nhà sẵn đồng tiền đồng nong, rồi cầm bán ruộng vườn đi mất. Như mới rồi, chưa đầy nửa tháng nay, ông ấy đã cầm mất hai sào vườn...

Mẹ chồng hoảng hốt:

- Chết chửa! Nó... nó cầm hai sào vườn đi rồi à? Thằng Trời đánh thánh vật, chết băm chết vằm thế thì thôi!

Nàng cười:

- Sao bu cứ rủa nhà con thế. Cầm rồi thì lại chuộc chứ sao.

Mẹ chồng căm giận thằng con phá gia, ngồi thẳng lưng lên, hai cánh tay bó lấy đầu gối:

- Phải, chuộc! Chuộc rồi nó lại cầm, cứ thế mãi cho đến khi bán cả nhà đất đi mà ăn mày.

Nghe mẹ chồng nói, nàng lấy làm sung sướng, Nàng không cần phải biện thuyết khó khăn để làm lay chuyển lòng mẹ chồng nữa. Nàng tươi cười đáp lại:

- Ấy chính vì thế mà con định bán hai mẫu ruộng đồng cửa cho bác lý cả. Chỉ để lại một mẫu hương hỏa với hai sào vườn trồng thuốc thôi.

- Bác ấy thiếu gì ruộng. Tao chỉ sợ bác ấy không chịu tậu.

- Bác ấy đã hứa với con ngay từ độ tháng trước kia rồi. Bác ấy lại nóng nảy, muốn lo liệu cho nhà con bằng mấy bu con mình cơ. Cái năm khuyết phó lý ấy mà, bu ạ, bác ấy cứ giục mãi con lo cho nhà con. Thiếu bao nhiêu bác ấy sẽ giúp. Độ ấy nhà con đương chăm chỉ làm việc và con thì còn bận nghĩ việc khác. - Nàng không muốn nói: nàng nghĩ về đường tử tức.

Mẹ chồng ngồi nghĩ một lát rồi nói:

- Ừ, mày làm thế nào thì làm. Tao thì mình già tuổi yếu. Thằng chồng mày thì chả còn trông cậy được việc gì. - Bà muốn đổ hết trách nhiệm vào nàng dâu. Bà đứng dậy vươn vai - Thôi, khuya lắm rồi. Mày cũng nên đi nghỉ.

- Con dệt nốt ghi vải đây. - Vừa nói nàng vừa giao đứa bé cho mẹ chồng, vặn tỏ ngọn đèn Hoa Kỳ rồi cầm để trên cái đế gỗ cao chân, cạnh khung cửi.

Đêm càng khuya càng yên lặng, tịch mịch. Hình như cảnh vật ngủ lịm. Cả đến tiếng gió hắt hiu trong không khí cũng ngủ yên.

Nàng ngồi vào khung cùi, sửa chữa qua loa rồi bắt đầu dệt. Nhát đầu nện xuống vang động cả mấy gian nhà. Đứa con lớn tỉnh dậy khóc. Bà nó nằm cạnh ôm lấy nó và dọa: "Chít! Chít! Ngủ đi không có ông chuột ông ấy đến cắn chân đấy!... Ông chuột ơi! Cháu tôi nó ngủ rồi. Thằng bé bên hàng xóm nó khóc đấy, ông ạ".

Đứa trẻ phần thì sợ ông chuột, phần thì nghe tiếng dệt đã quen tai, nằm yên ngủ.

Mọi hôm nàng dệt từ sớm, ngay sau bữa cơm tối. Đêm nay có câu chuyện dai kia là vì ban sáng đã xảy ra một việc: Ban sáng, khi nàng giở xong tấm vải, vừa đem vắt ra sào phơi thì ngoài cổng có tiếng chó sủa. Nàng quay ra, trông thấy ông chánh hội đi vào. Theo sau có ông lý thôn, người trong họ nhà nàng. Rồi đến hai ông khán cựu và năm sáu anh đương thứ.

Nàng chạy vội xuống bếp đun nước để mẹ chồng ra đón mời khách vào nhà trên.

Lúc nàng bắc ấm nước lên thì ông hội đương nói chuyện với mẹ chồng nàng về việc bầu bán khóa cấp điền này. Thấy nàng, ông quay ra nói:

- Này chị xã! Cứ để anh ấy chơi bời lêu lổng thì vườn ruộng cũng đến cầm bán hết mà thôi. Chi bằng, chị nghe tôi, lo cho anh ấy cái lý thôn hay cái quản xã lại hóa được cái tiếng làm nên danh nên giá cho chồng. - Ông chỉ vào bọn đương thứ - Như lũ nhép kia, sắp sửa cữ đình đám này ra ngồi bên "đông đình" cùng với các cụ cựu rồi đấy. Rõ sung sướng chưa! - Mấy anh đương thứ sắp mãn khóa, nhếch nụ cười khoái lạc, nhiễm vẻ tự kiêu.

Rồi mỗi người đế thêm một lời. Ai nấy đều tán tụng cái ngôi thứ trong làng nước, trong thôn ổ, bụng không khỏi mơ tưởng đến bữa cỗ "rấp bút" nay mai.

Nàng nghe xuôi tai và xin các cụ hãy thư thư cho để nàng còn hỏi ý chồng.

Ông lý thôn đã thông tỏ ngõ ngàng, bèn nói trúng vào tâm lý nàng:

- Hỏi thì hỏi chứ hết thảy mọi việc, cả đến cái lý thôn cũng là ở trong tay chị ấy cả.

Bây giờ ngồi bên khung cửi, nhớ lại câu nói nửa đùa nửa thực ấy, nàng vẫn còn buồn cười. Phải, ngoài tay nàng ra, chồng nàng chẳng làm nên trò trống gì. Nàng không muốn nghĩ thêm vì càng nghĩ nàng càng thấy chồng nàng vô vị và sợ lại đâm ra khinh bỉ chồng. Nàng bèn dệt nhanh thoăn thoắt để cho tâm trí nàng chú trọng cả vào công việc.

Mẹ chồng nàng tỉnh giấc vẫn thấy nàng dệt, liền hỏi:

- Chửa đi ngủ cơ à, con?

- Con dệt nốt dăm chỉ này nữa thôi ạ.

Nàng vừa rời khung cửi thì gà gáy. Nàng vươn vai, ngáp: "Quanh quẩn đã gần sáng rồi, chóng thật!"

Nàng đi đến giường mẹ chồng nằm, ẵm đứa bé sang giường mình, vừa đi vừa nũng nịu hôn vào hai má nó: "Con tôi thế mà gớm lắm chứ chẳng vừa đâu". Nàng ôm đứa bé, sẽ ngả lưng xuống giường, chiếc giường có lan can quang dầu mà mọi khi nàng vẫn nằm bên chồng. Chiếc giường ấy đã được nghe thấy những tiếng thở dài, những cơn thổn thức, đã được biết những lúc nàng khóc ngầm, khóc ngầm trong những đêm giá lạnh.

Nay nàng đã được hai con. Tuổi nàng đã đứng. Tính đằm thắm của nàng đã nguội dần. Nàng chỉ còn chút buồn man mác, chút buồn của một người vợ có nhiều sự lo âu nằm trơ trọi một mình.

Chương IX

Sáng hôm sau, nàng dậy sớm để dệt bù vào đêm vừa qua. Hôm nào vì bận việc hay vì tiếp chuyện ai mà nàng dệt chậm mất một vài vuông, nàng vẫn thấy tiếng tiếc.

Nàng dệt cho đến khi ánh vàng xuyên vào tận trong nhà ngang mới đứng dậy đi làm công việc khác. Nàng gọi con ở lên, dặn nó đi tìm chồng về:

- Mày đến đằng bác Chung. Nếu không có đấy thì đến đằng ông khán Để. Không có thì hỏi ông ấy xem bác mày ở đâu nhé! - Con ở đi được vài bước, nàng gọi giựt lại, nói thầm - Nếu bác mày không chịu về thì mày bảo bác mày cứ về, bà không mắng đâu mà đứng đợi về cùng với bác mày nhé... Này, này, tao bảo đã: hễ bác mày có hỏi chuyện nhà thì mày cứ nói không biết nhé!

Đắn đo xong, nàng xuống bếp rửa bát đĩa thay cho con ở. Rồi nàng nấu cám băm bèo cho lợn.

Con ở tinh quái. Nó đã hỏi dò từ trước nên biết đích hơn nàng. Nó đi thẳng đến đằng xã Vị, chú lý mới, một nhà quanh năm chứa tổ tôm, xóc đĩa. Nó xồng xộc vào trong nhà, thấy chủ nó ngồi bơ phờ chầu rìa tổ tôm bên cạnh khán Để.

Từ ngày thua canh bạc ở đằng lý mới, hắn đã cầm hai sào vườn lấy năm chục để trả trưởng bạ và trang trải những nợ vặt. Còn thừa vài chục hắn đem đi đánh gỡ mấy tối liền ở làng Đoài vì làng ấy vừa xin được phép mở hội khánh thành đình mới.

Cờ bạc lúc đen thì hết cả nói thánh. Hắn tính sai bét, đặt đâu thua đấy. Trở về, hắn còn giữ được vài đồng trong túi để nằm khàn nhà xã Vị đánh tổ tôm còm. Nhưng mấy đồng bạc khổ ấy rồi sau cũng mất hết. Hắn đang ngồi chầu rìa để đòi chén "gạch" anh em vậy.

Vì thế, con ở đến gọi về hắn nghe ngay, trong bụng còn mừng thầm vớ được dịp tốt. Hắn đội khăn, khoác áo, theo con ở ra sân.

Xã Vị đương nói lảm nhảm trong bếp, chạy ra giữ lấy lệ, chứ hắn còn "cóc khô" gì nữa mà hòng. Hắn thoái thác nhà có việc cần. Ra đến đường hắn hỏi gạn con ở:

- Này mày, bà có chửi rủa tao lắm không, mày?

Con ở đi sau, tủm tỉm cười:

- Mấy hôm đầu, cụ con chửi dinh nhà, nào những thằng trời đánh thánh vật, thằng chết băm chết vằm, thằng phải gió, chết đồng lăn, đồng...

Hắn cũng tủm tỉm cười, quay lại:

- Mày chửi tao đấy à?

Con bé sợ, vội cãi:

- Không, con đâu dám chửi bác. Là cụ con chửi thế chứ.

- Thế còn bác gái... có nói gì tao không?

- Bác con cứ lì lì suốt ngày. Con trông bác con buồn thiu buồn chảy. - Con bé đã quên lời chủ dặn, kể vanh vách cả sự thể trong nhà. Nó còn bịa đặt thêm để ông chủ nó hối hận.

Hắn bước những bước mạnh bạo, trong lòng hơi vui vui, nhưng khi về đến cổng, hắn đâm ngượng, bẽn lẽn như gái về nhà chồng. Nhất lúc giáp mặt vợ, hắn không còn biết nói năng ra sao, cứ đành cắm mặt xuống nhìn mấy đầu ngón chân như người chờ chịu tội.

Mẹ hắn không chửi mắng như hắn tưởng, nhưng nói mỉa:

- Ông đã vác mặt về đấy à? Úi chào! Trông rõ thiểu não chưa. Còn vài mẫu ruộng nữa sao không bán nốt đi mà cúng ông thần đổ bác.

Vợ hắn biết hắn đã hối hận, thương hại, tuy trong lòng chưa hết giận. Nàng ngồi thản nhiên dệt để anh chồng đứng sau lưng mãi rồi nàng mới ngừng tay nói buông thõng: "Năm nay mãn khóa khuyết lý thôn. Có định làm thì đến nói với cụ hội để người ta còn liệu". Nói rồi không đợi chồng trả lời, nàng lại bắt tay dệt.

Mẹ hắn ngồi bế cháu trên phản nói thêm: "Có thì đi đến cụ hội ngay bây giờ, nếu không thôn sẽ chọn người khác rồi lại trơ mắt ếch ra đấy". Bà có ý sợ con chùng chình lỡ việc, và nếu hắn tỏ ra vẻ không cần, chắc bà sẽ bắt ép. Bà cho cái việc may mắn này là một hạnh phúc lớn. Bà còn mong hậu vận con bà mỗi ngày một hơn, bắt đầu từ lý thôn rồi lý trưởng, rồi chánh tổng, lừng lẫy một thời. Bà thường nói ra miệng:

"Con hơn cha là nhà có phúc". Ngày đêm bà ước ao con bà hơn cả các cụ khi xưa nên bà càng uất ức thấy con mình chỉ ham chơi bời lêu lổng.

Theo lời mẹ, hắn đi vội đến đằng ông hội. Lúc trở về, hắn đã hết ngượng, nói năng, cử chỉ tự nhiên. Hắn đi lại chỗ mẹ, ẵm lấy đứa bé hôn hít. Con bé lớn bíu lấy vạt áo bố vòi quà. Con ở đi lên thấy thế trở xuống bếp, lẩm bẩm: "Thế là ông bà lại làm lành nhau rồi. Ừ, có thế nhà mới vui vẻ chứ không thì buồn chết".

Cách năm hôm, sau buổi tiệc làng, nhà hắn bỗng trở nên tấp nập. Kẻ ra người vào không lúc nào ngớt. Tiếng giã giò, tiếng băm chả, tiếng những người làm giúp ồn ào như phiên chợ. Cái sân đã biến thành cái rạp trên lợp bằng những sảo thuốc. Hai bên che liếp. Trước mặt treo mành mành. Những bàn ghế mượn các nơi bày thành ba dãy. Trên mỗi cái bàn để sẵn một tích nước, nhiều cái sứt vòi, mẻ nắp, bốn cái chén cáu vàng, một cái điếu, một chiếc đèn Hoa Kỳ và một đĩa trầu. Khách ngồi rải rác nói ba hoa, cười vô tư lự.

Người chồng chạy đi chạy lại, hớn hở trong bộ quần áo mới. Thỉnh thoảng một con bạc quen hỏi:

- Thế nào, ông lý mới? Chén xong, ta ra cái xó kia sát phạt nhau một mẻ chứ?

- Chết! Chớ! Nhà tôi làm địa lên cho.

Rồi hẳn vội lảng đi chỗ khác tiếp khách.

Tuy vậy, sau bữa chén say khướt, các ông cũng giở giói đánh chác một lúc và hắn cũng lảng vảng đến làm một vài tiếng cho bõ thèm.

Vợ ngồi têm trầu với mẹ chồng và các bà, các cô trong họ. Mỗi khi họ gọi đùa "bà lý", nàng lại đỏ mặt, xấu hổ, nhưng trong lòng nàng hớn hở, sung sướng. Trước kia nàng muốn lo cho chồng cái lý thôn cốt để chồng bận việc thôn mà thôi chơi bời lêu lổng. Nay nàng cảm thấy cái chức nhỏ ấy nó còn đem lại cho nàng thêm ít hạnh phúc. Từ nay chồng nàng đã lên chức ông lý và nàng đã lên chức bà lý, không còn là anh xã chị xã tầm thường rẻ rúng như hôm qua nữa. Kể cũng sung sướng thật!

Hôm sau, nhà ông lý bà lý trở lại yên lặng như thường. Bà lý trở lại công việc hàng ngày, hoặc quanh quẩn ngoài vườn thuốc bắt sâu, bẻ ngạch, rửa nhờn, hoặc dệt cửi, làm cơm làm nước; hoặc đi chợ mua bán, chẳng khác ngày còn là chị xã chút nào.

Ông lý thì xem chừng đổi cả tâm tính lẫn hình thức.

Đêm đêm cầm tay thước, cái tay thước mun khảm xà cừ bốn mặt của ông lý Khang vừa mãn khóa để lại cùng với chiếc tù và bằng con ốc, ông lý đi một cách dõng dạc đến cái điếm ở đầu chợ, đánh một hồi trống gọi tuần.

Ngày ngày ông lý ra đình hầu việc các cụ. Hầu việc các cụ kể cũng chẳng khó. Hôm nào việc làng, việc giáp, ông lý cầm roi đi mời các ông, các cụ cựu. (Cầm roi đe chó chứ ai dám cầm roi đe các cụ). Bọn đương thứ khóa trước đã được lên chức "ông cựu" cũng được ông lý mới đến mời.

Những tiết rằm mồng một hay những ngày giỗ hậu, ông lý phải "xắn" xôi, gà, rước ra miếu ra đình để các cụ tế tuần rồi ngả ra mời các cụ chén; cuối năm các cụ cũng lấy tiền thôn trả cho chút đỉnh.

Bận nhất là những ngày đại tiết như tiết tháng Năm, tháng Bảy, tiết trùng cửu, trùng thập. Ông lý phải thân hành đi mua lợn. Rẻ thì được các cụ khen: "Nhà lý khéo mua đấy". Đắt thì bị các cụ mắng mất mặt: "Tiền thôn không phải tiền của anh có khác, cứ nhắm mắt mua liều!" Các cụ mắng chán rồi các cụ nhất định chỉ trả một giá rất rẻ, còn thiếu bao nhiêu, mặc ông lý xoay xở.

Việc dầu đèn, hương nến, việc quét dọn lau chùi, bày biện đều là ở việc của ông lý. Các cụ chỉ việc ngồi trỏ tay năm ngón và bắt bẻ mỗi khi có chếch lệch.

Nhưng, cho hay trời chẳng phụ ai, có những ngày vất vả khó nhọc, có những ngày nhục nhã, khổ sở thì cũng có những ngày sung sướng để bù vào. Những ngày sung sướng ấy là những ngày đình đám hội hè. Ông lý cùng các ông lý, ông quản đồng khóa đi lại chào mời vui như tết.

Các đầu kép phải kiêng nể một vành. Vì đi gọi, chọn lọc đầu kép là ở các ông. Cơm nước sang trọng hay tồi tĩnh cũng quyền ở các ông. Các cụ chẳng biết đấy là đâu. Vả các cụ có muốn cũng chẳng được, cái chức đạo mạo của các cụ đã ngăn cấm, đã bắt buộc các cụ phải nhường lại quyền ấy cho đương thứ.

Vì thế mà làm đương thứ có tình nhân cô đầu. Ông lý tôi tuy sành sỏi nghề đổ bác, nhưng đối với cô đầu xem chừng còn ngượng nghịu vụng về lắm. Vụng về không phải là không mê, cố nhiên. Liệu hồn cho ông lý! Cặp mắt lóng la lóng lánh, liếc đi liếc lại, đưa tình kia, cái miệng cười nhí nhảnh để lộ đôi hàm răng đen nhánh hạt huyền với cặp môi cắn chỉ kia có ngày sẽ làm ông lý chết mệt.

Mà hầu như ông lý tôi đã gần chết mệt với đầu Ngoạt rồi thì phải. Vì cớ rằng: mỗi lần đầu Ngoạt gọi ông bằng một giọng lả lơi, lả lơi cả từng con mắt cho chí miệng cười: "Anh lý ơi! Anh lý! Anh cho em xin miếng trầu. Em nhạt mồm lắm, anh lý ạ". Hay: "Anh lý ơi, anh đấm hộ em cái lưng tí nào. Chết chửa. Chưa già mà đã như già rồi. Em có già không, anh lý?" Hay: "Anh lý cho em năm xu ăn phở. Em đói quá anh lý ạ, đói cào cấu cả ruột gan". Những lúc ấy ông lý tôi như ngây như dại và ngoan ngoãn bảo sao nghe vậy.

Ông mê, nên sau việc đình đám vừa rồi, các bạn đương thứ rủ vào hội hát, mỗi xuất đóng bốn đồng, ông vui lòng vào ngay.

Hội, cả thảy mười xuất, một ông cựu đánh chầu lỗi lạc đứng chủ, ông phải góp tiền để dạy các đàn em. Hội chọn một vài nhà làm chi điếm, những nhà mà ông chủ bắt nạt vợ hay được vợ quá nể. Mỗi tối, hội chi một đồng hát, một đồng chén. Ở nhà quê, một đồng một tối hát đã là phong thể lắm rồi. Hỏi kinh tế có ông chỉ ba hào cũng nên. Còn một đồng chén thì khí chặt chẽ, eo hẹp một chút. Nhưng mà các quan viên cần uống chứ cần gì nhắm. Nhắm môi món độ vài ba đĩa, hoặc đĩa giò đĩa chả, hoặc đĩa đậu phụ luộc, đĩa cá rán là đủ lắm rồi, miễn là nhiều, thật nhiều rượu để các quan viên say bí tỉ. Có say các ngài mới dám giở ngón kề cả gàn nhà ra với cô đầu, còn lúc tỉnh thì nặn mãi mới được một vài câu ngớ ngẩn hay ngu ngốc.

Ông lý tôi được cái việc gì đã mê thì rất chăm, rất chịu khó. Ông chịu khó biên chép những bài hát vào mảnh giấy, khuyên những chỗ nào có trống, gạch những chỗ nào cắc. Ông học thuộc lòng những khổ xếp, khổ xuyên, ông học cả gối hạc.

Một lần, ở ngay nhà, uống rượu say, ông cao hứng, quên cả bà lý ngồi đấy, lấy chiếc gối mây làm trống, lấy chiếc đũa làm dùi. Ông ngồi xếp bành tròn bệ vệ như một ông đại, vừa ngửng mặt lên xà nhà hát: "Hường hường tuyết tuyết" vừa nện trên mặt gối hay gõ vào đầu chiếc gối gỗ.

Bà lý khó chịu gắt:

- Muốn hát thì ra đình ra miếu mà hát chứ nhà tôi không chứa cô đầu.

- Thích chí thì hát chơi chứ cô đầu cô đít nào ở đây. Mình rõ hay chưa, có thế mà cũng gắt.

Bà lý giận, đi lại khung cửi dệt để át tiếng hát, tiếng chầu của ông lý.

Thấy mình quá bạo, sợ bà lý làm rầy rà sau này, ông lý lấy cái gối ra đầu giường nằm gối lên ngủ.

Hơi rượu nhạt dần, ông lý bắt đầu tỉnh và hối hận nghĩ thầm: "Không khéo vì thế mà việc thầm kín của mình bị vỡ lở mất". Có lẽ rồi vợ ông đâm ngờ, không tin là tối nào ông cũng chăm chỉ vác tay thước đi tuần. Ông có biết đâu: bà lý nhà ông cũng đã biết "tỏng tòng tong" rằng: ông vào hội hát mà không mấy tối là ông không đi hát với các quan viên hội. Bà lý biết, nhưng thực bà không ghen, bà cũng phải biết cầm cái roi chầu cho khỏi ngượng nghịu để những khi đình đám, hội hè, đám xá, khao vọng, khỏi mang tiếng với anh em là người không biết ăn chơi. Bà có biết đâu rằng chồng đã mê mệt đầu Ngoạt, đã mất cho nó mỗi bận vài đồng, tính đổ dồn có tới vài chục bạc.

Số tiền ấy, ông đã làm văn tự vay lãi mười phân của can Thận, một tay giàu xụ trong xóm.

Chương X

Thầy nó lại đi đâu thế hử?

- Đi tuần chứ đi đâu, hỏi mới rõ lẩn thẩn. Tối nào người ta chẳng phải đi tuần. - Ông lý vừa nói vừa khoác chiếc "ba-đờ-suy" lên vai, chiếc áo mà năm ngoái, lúc mới ra làm việc, ông đã nhờ ông lý Thế buôn thuốc lào ở Phùng mua hộ.

Mồm ngậm thuốc lá tay cầm đèn "pin", ông lý đi thủng thỉnh ra cửa.

Bà lý đương ngồi nói chuyện việc cửa việc nhà với Vót, đứng dậy chực nắm áo kéo lại rồi không biết nghĩ thế nào lại thôi, chỉ dậm dọa:

- Này tôi bảo trước... Liệu hồn! Tôi mà cáu tiết lên thì mất cả tử tế.

Vót cũng nói len:

- Anh lý ạ, tôi khuyên anh, đừng làm thế mà rồi người ta cười cho đấy. Bà cụ ốm đương nằm rên trong buồng kia nhé.

Ông lý vờ ngạc nhiên:

- Ơ hay! Tôi làm gì, ăn trộm ăn cắp gì mà người ta cười. - Vừa dứt lời ông đi biến vào trong tối để mặc vợ ngồi trơ với bạn.

Ra đến đường, ông bấm đèn "pin" sáng rực cả một khu. Bỗng có người ở đằng xa kêu lên:

- Ông lý đấy phỏng? Gớm! Chiếu ngay vào giữa mặt người ta quáng lòa, chẳng còn biết đằng nào mà rờ nữa.

Ông lý chiếu đèn ra chỗ khác và đi tiến lên.

- Ừ, đích mà, ông lý! Đi đâu đấy? Hay lại mò đến cái sở ấy chứ gì. - Người bắt gặp ấy là ông quản Giáp, đồng khóa nhưng còn kém chức lý thôn một bậc. Ông đi ra điếm để cùng với bọn dũng đi tuần. Ông tiếp luôn - Ông lý ạ, các cụ đương kêu ông đấy, trách độ rầy ông chẳng nhìn nhỏ gì đến việc tuần phòng.

- Tuần phòng đã có các ông. Công việc của chúng tôi là đi soát các điếm thì bây giờ tôi đi soát điếm đây, còn thế nào nữa.

Hai người đã cách xa nhau... Quản Giáp lẩm bẩm: "Cu cậu lại chết mệt về con đầu Ngoạt đấy thôi. Có ngày thì hết nghiệp vì nó như lão phó lý với con Trác ngày nào".

Ông lý cũng lẩm bẩm: "Ai cũng như lão quản Giáp cả thì cô đầu đến chết đói nhăn răng. Cả đời chỉ biết cặm cụi làm việc, bo bo giữ của thì chán chết".

Rồi ông vừa đi vừa nghĩ đến đầu Ngoạt, một ả đào tuy không đẹp nhưng có duyên, hát hay, vui chuyện. Ông rút ở túi áo "ba-đờ-suy" ra một chiếc mùi soa lụa ông giật được của nó trong lúc đùa bỡn. Ông để lên mũi ngửi. Một mùi nước hoa rẻ tiền xông lên, thơm hắc. Ông chẳng hiểu là thứ nước hoa gì và ông lấy làm quý lắm.

Ông nhớ lại cữ đình đám năm ngoái, ông khờ khạo, ngớ ngẩn, quê mùa quá đến nỗi không biết câu gì để nói chuyện với nó nữa, tuy rằng ông đã say mê nó, đã mơ tưởng, thờ thẫn về nó hàng tháng, khi nó rời khỏi làng đi hát nơi khác. Thì trước kia có bao giờ ông giáp mặt hay ngồi cạnh một cô đầu! Có bao giờ họ để ý cợt nhả đến ông! Cho hay cái chức vị nó cũng cho ta nếm được chút ít hương Vị mùi đời.

Bây giờ thì ông có thể gọi là thạo được. Này nhé: Ông biết đủ mọi lối hát, nào ngâm vọng, nào bắc phản, nào thiết nhạc, nào gửi thư, dịp ba cung bắc, tỳ bà, sa mạc... đủ, chẳng thiếu lối hát nào ông không biết. Ông lại biết nói chuyện, biết lả lơi, chòng ghẹo, biết cấu cấu, véo véo, biết nói xỏ nói xiên, biết câu tình tứ, biết cả một vài tiếng lóng nữa. Một ông lý mới ra đời như ông kể cũng thạo một cách hiếm có lắm đấy chứ.

Ông nghĩ liên miên riêng về con Ngoạt của ông. Còn con Sinh, con Tửu, con Luận đều bị người yêu của ông làm mờ đi cả. Vả lại, chúng nó mỗi đứa đã có một ông đương thứ hay một ông lý cựu đa tình để bắt tình nhân rồi. Ông không cần phải bàn đến chúng nó nữa.

Trí ông nghĩ, chân ông bước tràn, qua đình thôn Trung, qua ba bốn hiệu khách, qua xóm Cõi Ba, qua đình thôn Thượng, rẽ vào nhà bà Khoai - một bà trùm cô đầu quê - từ lúc nào không biết.

- Anh lý! Luồng gió may mắn nào đưa anh đến đây? Em mong anh mỏi cả mắt. Chỉ một chút nữa thì nổ con ngươi. Em lạnh quá, anh cho em mượn cái áo tơi xù của anh tí nào? - Đầu Ngoạt vừa nói vừa lột áo "ba-đờ-suy" của ông lý, khoác vào người - Trông em có giống bà đầm không, anh?

Có lẽ ông lý cũng chưa nhìn thấy "bà đầm" bao giờ nhưng ông nói tràn:

- Giống lắm. Các cô ấy có nhà hay đi hát cả rồi?

- Chị Luận, chị Tửu hát ở đằng cụ hội. Chị Sinh thì ông lý Hữu cuỗm đi cao lâu mất rồi (cao lâu là một túp lều tranh bán phở của bếp Ấp mở ra trong mấy tháng xuân). Chỉ còn em ở nhà đợi anh đây... Với hai bác kép đói thuốc nằm meo ở ổ rơm kia kìa. Anh có đồng nào mua thuốc cho họ hút chẳng tội nghiệp. - Nói rồi nó móc cái túi "ba-đờ-suy". Đến túi trong nó rút cái ví, mở ra soát các ngăn - Ba đồng, bốn đồng, năm đồng. Á chà! Hôm nay anh lý em "rích" nhỉ. Cho em vay một đồng nhé. Nói thế chứ em đâu dám tự tiện nhỡ anh từ chối thì thẹn chết.

- Được, cô có cần thì cứ lấy mà tiêu. - Và ông mừng thầm, cám ơn con bé. Giá nó lấy ngay vài ba đồng, ông cũng không biết tính cách nào mà từ chối được. Ông vội cầm lấy ví, đưa một đồng cho nó rồi nói lảng sang chuyện khác, sợ nó đổi ý nài thêm chăng.

Ông đi lại ngồi xuống chiếc phản mục kê ở giữa nhà. Bên cạnh, ngay sát chiếc phản, một ổ rơm trải suốt một gian, từ trong đến ngoài, nghĩa là rộng độ bằng hai cái phản, vì cả ba gian nhà bà Khoai không được rộng bằng một cái buồng khác. Phía bên kia cách cái phản bằng một cái liếp, có cái gưrờng tre long mộng, trên phủ chiếc màn nâu hằng năm không giặt. Đấy là chỗ các cô đầu chen chúc nhau ngủ và đấy cũng là chỗ khách nằm tình tự suông với chị em.

Thấy ông lý bước vào, hai anh kép nghiện oặt đương nằm ngáp vặt với chiếc khay đèn không dầu, không thuốc, ngồi nhổm dậy chào. Một anh nói, giọng rè rè:

- Bẩm cụ, anh em chị em đến đông quá, tiền hát chả đủ ăn ngày hai bữa, còn tiền đâu mua thuốc. Túng quá, xin cụ dăm hào.

Ông lý móc ví đưa ra một đồng dặn mua cho ông chai rượu, hai bìa chả hay một gói giò lụa, còn bao nhiêu mua thuốc cả.

- Bác mua về cho tôi thưởng vài phát với nhé.

Đầu Ngoạt liếc mắt lườm rồi làm như một người vợ cấm đoán chồng:

- Em không muốn cho anh hút đâu. Hút nay một vài điếu, mai một vài điếu rồi quen hư thành nghiện đấy.

Ông lý sướng nở ruột, nở gan, quay lại tươi cười hỏi:

- Em không muốn chồng em nghiện à? - Ông cho câu nói của ông tình tứ mặn mà lắm.

Đầu Ngoạt ngước mắt nhìn ông lý một cách vừa âu yếm vừa lả lơi và cười nói:

- Hẳn chứ lỵ... À này, anh lý, em mới học được vài lối hát chèo. Em hát anh nghe nhé?

Ngoạt đằng hắng mấy cái dồn giọng rồi cất tiếng hát lanh lảnh.

Ông lý ngồi đờ ra nghe. Ngoạt liếc nhìn tủm tỉm cười đổi giọng ai oán sang giọng lả lơi, đầu ngả dựa vào vai ông lý. Thấy ông run run, nó nghĩ thầm: "Anh chàng say mất hồn mất vía rồi".

Một lát anh kép đem rượu và đồ nhắm về. Còn thuốc phiện, anh ta mua vào trong cái cóng sừng đậy chặt bỏ túi. Một vài ông lý cựu có tiếng là chơi keo, nghe rõ tiếng hát, tạt vào tự tiện che tàn.

Ông lý chau mày nhưng bất đắc dĩ cũng phải đứng dậy chào mời niềm nở. Mấy ông khách quý nhận lời ngay, ngồi xuống nhắm rượu gạnh và chốc nữa nghe hát boóng. Các ông không mấy khi chịu bỏ tiền chi hát nhưng lại vào tay sành ăn, sành nói, sành hát nhất làng. Các ông lả lơi, ôm ấp phứa, mặc dầu Ngoạt nói bóng nói gió, nói xỏ nói xiên, mặc dầu Ngoạt vùng vằng giãy nảy và nói lắm câu quá thậm tệ. Ăn uống no say rồi, một ông gạ:

- Chị Ngoạt hát đi cho chúng tôi nghe nhờ tí. Chị ấy là đệ nhất danh ca ở vùng này đấy, các bác ạ. Chú, chú kép! Vứt cho tôi cái trống.

Anh kép nằm, điềm nhiên tiêm thuốc và nói liền:

- Thưa, trống vỡ tan rồi.

Đầu Ngoạt tiếp luôn:

- Với lại tôi cũng khàn giọng và mệt lắm không hát được. - Ngoạt vừa nói vừa liếc mắt cười tình với ông lý.

- Thì ban nãy chị vừa kể bồng mạc, sa mạc đấy nhé.

- Lúc nãy tôi hát được, bây giờ tôi lại không hát được thì các ông bảo sao?

Một ông xem chừng thấy cách cử chỉ khiếm nhã và lời nói dấm dẳn của đầu Ngoạt, hơi ngượng, bèn kéo chúng bạn ra về: "Chị ấy chẳng muốn hát cho cánh mình nghe thì thôi, cần đếch gì. Ta đến đằng cụ hội đi".

Các ông vừa ra khỏi cửa, đầu Ngoạt liền đến ngồi cạnh, quàng vai ông lý, nói õng ẹo:

- Gớm! Sao mà em ghét họ thế!

- Các ông ấy suốt đời chỉ độc chơi bửa thế thôi. Cả làng, những tay chơi, có mấy người ưa.

- Thế thì nan du la... ắm... khó chơi la... ắm... - Tiếng "lắm" Ngoạt kéo đợt ra cả người Ngoạt ngả mãi vào lòng ông lý. Thế thì làm gì mà ông chẳng chết mê chết mệt!

Trong khi ba hồn bảy vía ông lý bị thu cả vào trong khóe mắt, trong miệng cười của đầu Ngoạt thì ở nhà bà lý uất lên vì ghen, uất đến ứa cả nước mắt. Bà thở ngắn thở dài, đi ra đi vào, nhắc đi nhắc lại:

- Con người thế mà tệ bạc!

Lửa ghen đã cháy bùng trong tim gan bà. Vót lại vô tình đổ dầu thêm:

- Chị lành quá, cứ để anh ấy lấn át mãi. Phải tay tôi xem, tôi thì lôi nó ra đường xé tan thây nó ra chứ lị.

Vót về rồi, bà vẫn còn hậm hực, tức tối, không sao ngồi yên được. Bà đã cố dệt vải để quên đi, nhưng cái ghen nó đã đánh át cả công việc, làm cho bà dệt vấp váp đứt luôn. Sau cùng máu ghen đưa lên mạnh quá, làm bà nghẹn ngào khó thở. Bà không chịu được, đứng dậy gọi con ở lên coi nhà. Bà xách chiếc đèn chai, nhất định đến tận nhà bà Khoai đánh xé cho nó một mẻ nhừ tử rồi muốn ra sao thì ra.

Chợt trông thấy cái tay thước mun khảm dựa ở vách, bà không nghĩ ngợi, cầm ngay lấy, hầm hổ bước chồm ra cổng như một con sư tử cái dữ tợn. Con ở ngồi ngây trên phản. Nó trông thấy chủ nó ghê gớm quá mà nó run lên cầm cập.

Đêm đã khuya. Sương xuống nhiều. Gió thổi lạnh thấu qua làn áo. Khí uất trong người bà nguội dần. Bốn bề yên lặng. Một vài con chim ríu rít rất sẽ trong bụi tre. Thỉnh thoảng tiếng chó từ xa vẳng tới và luôn luôn tiếng lúa cọ vào nhau sột soạt. Chung quanh mờ mờ, mịt mịt, với những tiếng thì thầm của đêm như ôm ấp, lấy cơn ghen của bà mà ru ngủ, như gợi lòng trắc ẩn của bà vốn sẵn có tự xưa.

Bà bước chậm lại, nhìn xuống cái tay thước rồi bất giác mỉm cười, nói sẽ một mình: "Rõ chán! Mình vác tay thước đi, định đánh vỡ đầu người ta chắc. Tội vạ ai chịu?"

Bà nghĩ đến thân bà tuy chưa già nhưng cũng đã gần bốn mươi. Đứng tuổi rồi, bà không còn xuân tình đâu nữa để được chồng bà săn sóc tới. Bà tưởng đến lũ ả đầu, phác họa hình dung chúng nó ra trước mắt. Bà thấy sắc đẹp bà, nếu bà còn sắc đẹp, chẳng thấm vào đâu với sắc đẹp chúng nó. Bà buồn nản, lui gót trở về và tự mai mỉa mình bằng một giọng chua chát thấm đến tâm can: "Già mà còn ghen, chẳng sợ người ta cười. Rõ dơ đời". Bà nghĩ đến hành vi của bà lý Nhàn năm xưa. Bà ấy cũng đứng tuổi như bà, cũng ghen như bà, cũng giờ này đi đánh ghen như bà rồi rút cục bị ông chồng hành hạ ngay trước mặt bọn cô đầu. Bà ấy lại còn bị tai tiếng khắp làng về tội bêu xấu chồng, làm nhục chồng trước mặt công chúng. Kết quả rõ thiểu não! Rõ điêu đứng!

Bà vừa đi vừa lẩm bẩm: "Cái gương tày liếp sờ sờ ra đấy chứ còn đâu xa".

Bà về đến nhà thì trời đã gần sáng. Bà nằm vật xuống giường, thổn thức, nghẹn ngào trong chăn. Cơn ghen của bà ở đâu lại nổi lên đùng đùng. Người bà tuy không còn trẻ nữa nhưng tâm hồn bà vẫn còn trẻ măng.

Chương XI

Không biết ai nói đến tai cụ huyện mà buổi việc làng hôm kia, cụ gọi bọn đương thứ ra quát mắng:

- Các anh gớm thật! Chẳng còn biết nể nang gì các cụ. Ý chừng các anh thấy các cụ lập hội, các anh cũng giở giói lập hội phỏng? Nhưng phải hiểu, hội của các cụ nó có cái nghĩa thuần túy, nào hội văn khoa, nào hội tư văn, hội tư vũ, nào hội đồng khoa, đồng danh, chứ đồng hát của các anh còn có nghĩa lý gì? Hội họp nhau vào mà chơi bời phóng đãng hử? Mà phung phí đồng tiền mồ hôi nước mắt của bố của mẹ hử? Mà bán cửa bán nhà, bán vườn bán ruộng đi hử? - Cụ cười mãi - Hừ! Hội với hè! Thế mà cũng học đòi... Còn cái anh lý Bổng đâu?... Liệu hồn! Anh say mê con đầu Ngoạt, (mọi người nhìn ông lý, tủm tỉm cười) bỏ cả việc làng, việc thôn, bỏ cả việc tuần phòng. Liệu hồn! Từ giờ trở đi mà chứng nào cứ giữ tật ấy, tôi sẽ nói với làng truất ngôi trừ ngoại anh đi, nghe chưa?

Ông lý xấu hổ cúi gằm mặt xuống, dạ sẽ một tiếng rồi lui xuống đằng sau dãy đương thứ.

Cụ huyện quay ra bàn với làng:

- Này các quan viên làng (một tràng dạ đều răm rắp). Tôi thiết nghĩ, bây giờ đã cuối tháng Ba, đình đám, hội hè qua đã lâu rồi mà ta cứ để lũ cô đầu chúng ở lỳ mãi nhà con mẹ Khoai rồi thì trai làng đến hư cả mất. Chi bằng cứ cấm cửa từ nay trở đi chúng nó không được lai vãng đến làng này nữa là xong, có phải không các quan viên làng?

Lại một tràng dạ nữa đáp lại, đều răm rắp... Xong buổi việc làng ấy, ông lý lủi thủi về, trong lòng buồn rầu và uất ức. Lạ thật! Không biết kẻ nào lại dã tâm đến thế. Nó làm cho ông mất cả thể diện với chúng bạn, với làng nước. Nó còn làm cho ông... Ông nghĩ đến đầu Ngoạt, đến cặp mắt đa tình, đến cái miệng cười có duyên, đến những câu chuyện đằm thắm, ngọt ngào của nó. Nghĩ đến chốc nữa nó sẽ cuốn gói cùng con Sinh, con Luận, con Tửu từ biệt bà Khoai mà ông coi thân như mẹ đẻ, ông muốn đến ứa hai hàng lệ. Rồi ông ngờ hết người này người nọ, cho họ ghen ông, ghen ngấm ghen ngầm mà không sao được nên mới tìm kế ton hót với cụ huyện. Ông có biết đâu rằng chính bà lý nhà ông đã ngầm đem chè lá đến van lạy cụ huyện để "người" cứu lấy chồng bà ra thoát khỏi lưới tình.

Về nhà, ông lý bỏ cả ăn cả uống, hết nằm vật ra giường thở dài thở vắn, lại đứng dậy đi ra đi vào, ngẩn ngơ như người mất hồn.

Bà lý không nói với chồng nửa lời. Bà ngồi điềm nhiên, chốc chốc lại tủm tỉm cười bâng quơ. Không, bà không cười bâng quơ, vì tim bà lúc ấy đương bị rạn vỡ, bị tê buốt bởi những mũi tên độc của chồng bà. Bà vẫn còn ghen. Tuy cơn ghen không sôi nổi, không bồng bột như hôm mới rồi, nhưng nó âm thầm, nung nấu trong tâm can bà như than hồng phủ dưới tro tàn làm cho bà càng đau đớn thấm thía hơn trước. Bà muốn khóc mà không khóc lên được, bà muốn kêu gào mà không kêu gào lên được. Cái mưu kế khôn ngoan của bà càng làm cho bà thêm tủi nhục.

Bà vừa căm giận chồng tệ bạc vừa thương hại mẹ chồng. Mẹ chồng bà ốm đau, nằm rên trong xó buồng, chỉ còn có mình bà chạy ra chạy vào nâng đỡ thuốc thang. Họa hoằn mới được Vót sang giúp đỡ bà đôi chút, vì thế nên bà vẫn cảm cái lòng quý hóa của Vót. Ngờ đâu một người đàn bà chua ngoa đanh đá mà lại tử tế đến thẽ.

Nay mẹ chồng bà đã khỏi, song người còn yếu ớt lắm lại sinh ra chứng đau xương đau mình, đi ra đi vào phải chống gậy. Bà cụ trông gầy sọm và già hơn trước nhiều. Tóc đã bạc gần hết. Má hóp, da mặt nhăn nheo. Bà cụ mới ngoài sáu mươi mà trông hom hem bằng bà lão bảy tám mươi vậy.

Cụ vẫn tưởng ăn uống, tẩm bổ rồi da thịt sẽ lại dần, rồi chứng đau xương đau mình tự nhiên khỏi hẳn, rồi cái gậy của cụ sẽ bỏ xó, không phải dùng đến nữa. Nào ngờ người cụ cứ thế mãi, như cái cây đã cằn cỗi, dầu chăm nom vun xới hết sức cũng vô ích. Cụ biết mình sắp đến cõi nên mỗi khi ngồi với các bà già, cụ thường nói ra miệng: "Các cụ ạ, tôi chả còn sống được mấy nữa".

Thế nào cũng có bà vội cãi lại:

- Ẩy chết! Cụ chớ nói gở. Rồi da thịt nó lại dần chứ, nhữ bà cụ...

- Không, tôi biết mình tôi lắm. May ra thì được qua cái năm nay. Tôi cũng chả tiếc... Kể thì cũng dâu, cũng rể, cũng cháu chắt cả rồi. Duy còn chút cháu nội. - Nói đến đấy, trông bà cụ có dáng ngậm ngùi.

- Chả nên buồn cụ ạ. Nhờ Trời, nhờ Phật, nhờ Thánh tổ, tất thế nào rồi cụ cũng có. Tôi trông bà lý còn đẻ chán.

- Vâng, thì cũng còn nhờ Trời... nhờ Phật... nhờ Thánh tổ. - Và cặp mắt mờ lòa của cụ đăm đăm nhìn xa.

Bà lý xem ra cũng chu đáo. Thấy mẹ chồng gần đến cõi, bà đi đặt cỗ hậu sự bằng vàng tâm dầy dặn ván sơn son, hai đầu thiếp bạc, mất cả thảy hơn ba chục, đem về kê ngay gầm bàn thờ. Bà cụ mừng quá, đi đâu cũng khoe nàng dâu hiếu thảo.

Mà chẳng cứ gì một mình bà cụ, cả xóm, cả họ ai cũng tấm tắc khen bà lý và nhân tiện chê ông lý một thể. Họ cho ông lý đã tu từ kiếp trước nên kiếp này mới vớ được bà lý đảm đang hiếu thảo như thế. Những như ông thì cứ như là tan cửa nát nhà, manh áo cũng chẳng giữ được mà mặc.

Một hôm bà cụ đi chùa về, lom khom một tay chống gậy trúc, một tay cầm phẩm oản với quả chuối.

Cái cháu lớn chạy ra cổng, reo mừng: "A a, bà đã về". Rồi cầm lấy oản chuối chạy nhảy khắp sân. Bà cụ đứng nheo đôi mắt nhìn và nghĩ thầm: "Giá nó là thằng cu cháu".

Cụ đi tới thềm nhà trên, sắp bước lên. Bà lý đương dệt vải, chạy vội ra, cầm tay: "Cụ để con đỡ".

Từ ngày bỏ chức chị xã lên chức bà lý, bà thường gọi mẹ chồng là "cụ" và mẹ chồng, từ ngày ấy, cũng đổi cái xã nhà tôi ra "nhà lý" hay "bà lý nhà tôi".

Cụ vừa giơ tay cho bà lý nắm lấy vừa nói:

- Này nhà lý ạ, hôm nay tao ra chùa An thấy các bà đến quy đông lắm. Cả vợ chồng cụ Hương, vợ chồng cụ hội cũng quy. Thế mà tao chẳng biết gì cả.

Cụ bước lên thềm nói tiếp:

- Nhà lý ạ, cứ lời các bà ấy kể thì quy cũng không tốn kém mấy. Mất có năm hào nộp sư cụ để đèn nhang, một hào giấy sớ, ba hào vuông lụa để sư cụ người viết tên tuổi lẫn tên hèm nhà Phật người đặt cho và thư phù vào đây. Người gọi nó là cái gì nảy... ừ ừ, hải hội, phải, hải hội để lúc chết đặt trong quan tài. Với lại tiền bỏ ra lập đàn quy hết độ ba bốn hào hay năm sáu hào tùy theo số người quy gom góp. Tất cả độ một đồng thôi, nhà lý ạ.

Cụ nói một thôi dài. Nói xong cụ thở hổn hển. Bà lý hiểu ý mẹ chồng, liền hỏi:

- Cụ có muốn quy thì con quy cho cụ.

Bà cụ tủm tỉm cười, mặt tươi tỉnh:

- Có, tao cũng quy một tí kẻo rồi lúc chết lại hối hận sao không quy.

Bà lý thấy mẹ chồng lộ vẻ sung sướng, cũng hả dạ hỏi tiếp:

- Cụ có vào hội Phật giáo, con đóng cho cụ nhân thể.

- Úi chào! Được thế thì còn quý hóa gì bằng... Nhưng mà tao nghe thấy nói đắt lắm, những hai ba chục, năm sáu chục một vị kia, lý ạ. Tiền đâu!

Bà lý cười, đáp:

- Đấy là những chức sáng lập, vĩnh viễn, trụ trì, chứ thiện tín hội viên như cụ Rêu, cụ Mộc chẳng hạn thì đóng có ba đồng thôi.

- Ò! Thế thì tao cũng vào hội Phật giáo nữa để lúc chết được các bà vãi đội cầu tụng niệm nam vô và chết được thất thất lai tuần...

- Muốn được thất thất lai tuần thì phải đóng thêm chục bạc nữa kia, cụ ạ. Nhưng rồi con cũng đóng cả cho cụ.

- Ồ! Thế thì còn gì bằng! Thật là nhất con. Chả bù cho thằng chồng con nó chẳng nhìn nhỏ gì đến mẹ cả.

Bà cụ sung sướng chảy cả nước mắt. Từ đấy cụ nóng lòng nóng ruột mong cho đến ngày rằm để được cùng bọn các bà tân quy đến chùa học vỡ lòng.

Sư cụ hôm ấy, y phục khác hẳn ngày thường, một chiếc cà sa bằng vóc vàng chói khoác ra ngoài chiếc áo lụa nâu thẫm, chiếc mũ thất phật bằng nỉ đỏ thêu toàn chỉ kim tuyến xòe ra như bảy cánh sen.

Sư cụ ngồi xếp bằng, miệng tụng kinh, tay gõ cũng đều đều. Một chấm câu, cụ rời củng, cầm cái dùi con gõ vào cái "đẩu" đặt ngửa. Sư bác và đạo tràng ngồi hai bên sư cụ để giúp đỡ cụ trong lúc đọc kinh kệ. Một lúc lâu, sư cụ tụng xong, đứng dậy chắp hai bàn tay vào nhau lễ Phật. Trước mỗi lễ cụ đọc một tên ông Phật.

Các bà vãi ngôi xếp tè he la liệt cả mấy hàng chiếu sau và đọc theo. Có lắm tên dài và khó đọc quá, mẹ chồng bà lý không sao nhắc lại được. Thoạt đầu bà còn đọc liều lĩnh, sau sợ tội, bà không dám đọc theo như mọi bà mà chỉ đọc "nam-vô-a-di-đà-Phật" thế vào.

Sau một tuần lễ khá dài, cụ quản, một ông cụ đầu râu bạc phơ, quần áo lụa nâu non, ra lễ rồi nằm phủ phục xuống như con bò thui. Sư cụ cầm tấm vải ta rỡ ra, chằng xuống dọc lưng cụ quản đến bàn thờ Phật. Một mâm sớ màu đỏ để trên lưng. Sư cụ cầm vài nén hương với cành lá đi chung quanh múa may thư phù. Sư cụ múa mềm dẻo quá khiến mọi người đứng xem phải tấm tắc khen thầm. Các bà vãi lễ nghi nga nghi ngóp, khấn khứa rì rầm. Mẹ chồng bà lý được dịp, khấn cho trong nhà làm ăn thịnh vượng và cho con dâu bà sinh cháu trai để bà được trông thấy trước khi nhắm mắt.

Đàn quy họp từ chập tối, mãi già nửa đêm mới tan. Bà cụ trở về, chân tay mỏi rừ, nhưng lòng rất hoan hỉ.

Còn ông lý dạo này xem ra chăm việc tuần phòng và ở nhà luôn. Ông hối hận chăng? Dù sao ông cũng đã mang tiếng với họ hàng khu xóm là người đàn ông hư thân mất nết đi rồi. Và bà lý nhà ông cũng khó lòng tin ông được, tuy bà đã sẵn lòng tha thứ hết mọi lỗi.

Gia đình nhà ông trở lại êm ấm như xưa, nhưng trong cái êm ấm không khỏi có nhiễm chút vẻ lãnh đạm, buồn tẻ. Bà lý ít nói cười hơn và không bao giờ vồ vập, hỏi han chồng như trước. Họa chăng có những lúc bà ngồi cùng với hai đứa trẻ xinh xắn. Chúng nó đùa, làm lắm trò ngộ nghĩnh, buồn cười, khiến bà cũng vui lây đôi chút.

Bà cụ từ ngày quy thường năng đi lễ đi bái. Đêm nào có đàn chay hay lễ vào hè ra hè, lễ dâng sao chẳng hạn, bà cụ ở lại chùa mãi gần sáng mới về. Trong trí bà không mấy lúc là không nghĩ đến Phật, đến những ông bụt ốc vàng chói lọi ngồi phệ bụng trên tòa sen, đến bà Thị Kính ẵm con, đến ông "Châu Xương" gầy nhòm, đến ông "Di Lặc", đến những Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi chầu hai bên đức Ngọc Hoàng, rồi đến đức Thích Ca nhỏ xíu, một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa. Mỗi lần nghĩ tới, cụ không quên cầu nguyện cho con cụ sớm sinh cháu trai để cụ được thấy trước khi về cõi Phật.

Nhưng không bao lâu, gân cốt cụ mềm yếu quá, chân cụ không mang vững thân, tay cụ không chống vững gậy, cụ vừa bước lập cập vừa thở hổn hển. Thỉnh thoảng lại phải dừng chân nghỉ để lấy sức.

Sư cụ thấy bà cụ yếu quá đã cho phép cụ tu tại gia, chỉ đến chùa vào những ngày đại hội như ngày Giảng đàn, ngày Phát họa, ngày Tam phát, ngày nhượng kinh giải nạn. Sư cụ lại tặng một bức tranh Phật và sai các sư bác, sư chú, các vãi rước đến tận nhà. Bà cụ cảm động, liền bảo con dâu mang thúng gạo nếp với tiền dầu nhang ra cúng chùa.

Thế là từ hôm ấy, cái khung cửi của con dâu đã phải đem kê xuống nhà ngang, nhường chỗ cho bàn thờ Phật.

Từ đấy, sáng chiều nào bà cụ cũng ngồi tụng kinh gõ mõ. Bà cụ vừa niệm vừa lấy ngón tay cái lần tràng hạt, cái tràng hạt mà bà lý đã gửi mua tận Thanh Hóa toàn bằng sừng đen như hạt huyền. Cứ chín hạt lại có một hạt to hơn bằng long não già. Hạt cuối cùng to gần bằng đầu ngón tay cái, có tua đỏ để trang điểm cho đẹp. Bà cụ quý lắm. Mỗi khi tụng xong, cụ gói ghém cẩn thận vào chiếc khăn vuông nhiễu đỏ, để một cách kính cẩn lên bàn thờ, cạnh bức tranh Phật.

Họa hoằn người ta mới thấy cụ ra ngoài và mỗi lần trông cụ hom hem, yếu đuối thêm. Họ thương hại thì thầm với nhau: "Bà cụ muốn sắp về cõi Phật đến nơi rồi".

Bà cụ sắp về cõi Phật đến nơi thật. Vì cứ ba bốn tháng cụ lại ốm một trận thập tử nhất sinh, làm cho ông lý, bà lý hốt hoảng. Ông lý bỏ cả việc tuần phòng, bà lý bỏ cả việc khung cửi. Nhưng, lần nào cũng vậy, hễ gượng dậy được là cụ đã cố lần ra phản ngồi tụng kinh, niệm Phật. Nhất là từ ngày cụ biết tin con dâu cụ có mang. Cụ cho được thế là nhờ ở tấm lòng sùng bái của cụ thấu đến Phật, Trời.

Một hôm, vào lúc cụ đương ốm nguy kịch ở nhà trên thì ở nhà ngang bà lý cũng đương giở dạ đẻ. Bao nhiêu họ hàng khu xóm đến thăm đều xúm xít cả nhà trên! Ở nhà dưới chỉ có bà đỡ Vị với Vót.

Mỗi khi có người ở nhà trên đi ra, Vót gọi với lại hỏi:

- Này bác, bà cụ liệu có qua khỏi được không?

Người kia lắc đầu, thất vọng:

- Khó lòng lắm, các thầy bỏ qua.

Người ấy đi rồi, Vót đứng trong bực cửa nhìn lên thỉnh thoảng lại thở dài thương hại bà cụ.

Bỗng có tiếng bà Vị ở trong buồng đẻ ra nói:

- Chị Vót còn đấy chứ?... Dê-su-ma, lạy Chúa tôi. Bà lý sinh con trai, chị ạ.

Vót mừng cuống quít, chạy vào giục rối lên:

- Cụ tắm nhanh để cháu ẵm lên khoe bà cụ; chắc bà cụ trông thấy cháu trai là khỏi hết bệnh, chẳng thuốc nào bằng... Thôi cụ ạ, tắm qua loa thôi mà, rồi chốc nữa sẽ tắm kỹ. Nhanh lên cụ!

Bà Vị thản nhiên, - cái thản nhiên của các bà đỡ sành nghề - đáp lại:

- Vội đến đâu thì vội, việc đỡ đẻ bao giờ cũng phải cẩn thận. - Bà vừa nói vừa chăm chú vào công việc. Thằng bé khóc oe oe từng hồi, còn bà lý đã ngủ thiếp trên giường đẻ. Vót đứng đợi sốt cả ruột, giục luôn:

- Thôi cụ, kỹ lắm rồi. Cháu thấy vạn người đẻ rơi, chỉ lau qua loa cũng chẳng sao.

Bà Vị phát gắt:

- Gớm cái nhà chị này mới nóng nảy làm sao chứ. Được rồi đây, đem tã ra mà ẵm lấy nó.

Bà Vị lau chùi thằng bé, lấy tã quấn cẩn thận như cái tổ sâu rồi đưa cho Vót. Vót ôm đứa trẻ vào lòng, chạy tất tả lên nhà, rẽ đám đông, đi thẳng vào trong buồng: "Cụ ơi! Cụ! Cụ có cháu trai đây rồi!"

Một vài người thân thích theo Vót vào. Bà cụ nghe thấy tiếng "cháu trai" ngồi nhổm ngay dậy, cặp mắt gần tỉnh táo như mắt người thường. Cu nói rất sẽ nhưng rõ ràng: "Cháu tôi đâu? Bế vào đây cho xem nào!" Vót tháo hết lót, nâng thằng bé trần truồng ngay trước mắt bà cụ. Cụ nhìn chòng chọc vào đứa bé mồm lầm bầm: "Nam-vô-a-di-đà-Phật!"

Mắt cụ bỗng sáng lên rồi phút chốc cụ nằm vật xuống, lịm hẳn đi. Cụ đã thở hơi cuối cùng.

Phần thứ hai


Chương I

Hĩm a!

Hĩm khi xưa vẫn gọi là cái đĩ nhớn, nay đã thành một cô gái mười sáu tuổi với cái khuôn hình nở nang, yểu điệu, nõn nà, một vẻ đẹp có thể làm say đắm nhiều cậu trai tơ trong làng.

Lúc bà lý gọi ở nhà trên thì Hĩm đương bận làm dáng ở nhà ngang.

Hĩm thích làm dáng. Sáng nào cũng vậy, vừa trỗi dậy, nó đã lẻn xuống chải đầu cho mượt, rẽ ngôi cho thẳng, vuốt dải yếm lụa bạch và dây lưng thiên lý cho phẳng phiu rồi mới đi làm các công việc.

- Hĩm a!

Hĩm đương mải ngắm vuốt, không nghe thấy tiếng mẹ gọi.

Sồi, cái đĩ con khi xưa, ở trong bếp đi ra. Nó đi chậm chạp, lạch bạch như con vịt.

Kém chị hai tuổi, nó trông mập mạp, tròn trĩnh như mẹ nó thời còn trẻ, hơi lùn hơn.

Khác hẳn chị, nó không biết hay không thiết làm dáng. Khăn đội không mấy khi được gọn gàng, ngay ngắn, tóc lúc nào cũng rối bù. Bà lý thường ví nó với cái tờ bô cáp. Người lùn sẵn, váy lại sắn lên gần đầu gối, trông người càng lùn thêm.

Ấy thế mà họ hàng, khu xóm đều cho cô em đẹp hơn cô chị. Họ cho khuôn mặt cô em phì mị (vì má cô phinh phình như má lợn), trông có vẻ phúc hậu. Họ khen cả dáng đi thong thả, đoán sau này tất cô sẽ được nhàn hạ. Nhưng bà lý lại khác, không ưa cái dáng đi quá thong thả ấy.

Vừa thấy Sồi, bà đã gắt:

- Sồi! Tao gọi nó, mày nghe thấy cũng phải thưa lên chứ! Con gái con giếc gì mà lỳ lỳ, cả ngày chẳng nói được một câu... Bảo chị mày mở cửa buồng lấy bốn bơ gạo thổi cho người làm. Hôm nay có hai người tát nước với hai người nhổ mạ. Gớm! Rảo bước lên một tí, cô. Chậm chạp như sên, ai mà chịu được.

Sồi điềm nhiên, thong thả bước một vào nhà ngang. Thấy chị đương soi gương ngắm vuốt, không gắt, không nói dài dòng, bảo chị lên mẹ gọi, rồi cầm cái thớt và con dao, lừ lừ trở xuống bếp băm bèo. Nó làm suốt ngày, nhưng mỗi việc nó làm, người ta có đủ thì giờ làm được vài việc. Vì thế nó vẫn bị mẹ mắng nhiều hơn chị.

Hĩm bỏ cái gương con vào túi áo cộc trắng mặc trong áo vài đông lầm, chạy lên nhà:

- Bu gọi gì con cơ?

Trông thấy con gái trang điểm gọn gàng, bà lý bằng lòng. Thời còn trẻ, bà cũng thích trang điểm, tuy không dám mặc quần cạp đỏ cánh sen để lộ ở hai bên nách áo, không dám mặc áo cổ thìa hồ lơ trắng bóng. Bà chỉ dám mặc đến cái váy chổi thâm, cái áo cộc nâu non là cùng. Nhưng bà không khen con gái ra miệng, sợ nó được thể sinh hư. Bà mắng qua loa lấy lệ:

- Lúc nào cũng thấy mày điểm trang. Giá mày san sẻ cho em mày một tí thì phải. Tao chẳng thấy mày rời cái dây lưng xanh lúc nào (Hĩm tủm tỉm cười). Con Sồi nó có bảo gì mày không?

- Không. Nó chỉ bảo con lên bu gọi.

- Biết mà! Lần nào chả vậy. Tao không thấy ai ít mồm ít miệng quá như nó. Thế mà họ ưa được. Mày mở cửa buồng lấy bốn bơ gạo thổi cho thợ làm.

- Bốn người bốn bơ thì làm sao đủ hở, bu? Nếu có chú Trạch thì riêng mình chú ấy đã hai bơ rồi.

Bà lý tủm tỉm cười:

- Chú ấy ăn khỏe thì lại làm khỏe, đi đâu mà thiệt. Nhưng mà hôm nay không có chú ấy. Chỉ có bác Sẹo, thằng Ngỗng với hai người đàn bà tát nước thôi.

- Thế thì bốn bơ cũng thiếu, bu ạ.

- Thiếu đã có cơm nguội tối hôm qua.

- Sồi nó trộn vào cám cho lợn ăn cả rồi còn đâu.

Bà lý hơi có giọng gắt:

- Mày tính nó ít lời thế đấy. Thế mà nó cũng chẳng buồn nói cho tao biết. Vậy mày lấy thêm bơ nữa là năm bơ. Năm nay theo đuổi cấy chiêm cánh ruộng đằng sau tốn quá. Trời cứ không mưa mãi thế này thì những công tát nước cũng đủ nhựợc.

Hĩm vừa đáp vừa đi lại mở khóa buồng thóc:

- Ông ấy nắng mãi rồi cũng phải mưa chứ. Ra Giêng con chắc mưa nhiều. - Hĩm mở cửa bước vao trong buồng tối. Bà lý nói theo:

- Mưa lắm thuốc men lại hỏng. Đằng nào cũng tội.

Hĩm ở trong buồng nói ra:

- Thế thì biết thế nào cho vừa lòng bu được.

Hĩm đặt rá gạo xuống thềm, khóa cửa lại, rồi cắp rá đi ra bể vo gạo.

Ông lý vừa dậy, chưa kịp súc miệng đã vớ lấy cái điếu hút một hơi dài. Ông say lử, ngồi gục đầu xuống thở, cặp mắt lim dim như đứa trẻ ngủ gà ngủ vịt. Một lát, bớt say, ông lầm bầm, nói một mình: "Ăn đi đẫy chùng", thế mà họ dám đánh xuống "khuôn" thì lạ thực. Thuốc này chẳng "đâu thuận" thì ít ra cũng "giữa thuận" hay "cuối thuận" là cùng. Dẫu cái điếu của mình ăn có đổi thuốc đi nữa. Bà lý nhà mình, động ai nói cũng tin mình nói thì cấm tin bao giờ. Bụt nhà không thiêng có khác.

Bụt nhà thiêng hay không cũng tại ông.

Từ ngày mãn khóa, theo gót các cụ bước lên chiếu trên, ông đã nghiễm nhiên thành một ông cựu có vai vế, có quyền ăn nói hống hách trong thôn. Suốt tháng, suốt năm ngoái những việc ra đình mỗi khi có tuần tiết, ngoài những việc đi đám xá chè chén, ông chỉ việc ngồi nhà nếm thuốc; hoặc có bọn thuốc nào hỏi giá, ông mang chiếu về rồi đi mua giúp bà. Bà vẫn tin dùng ông, coi ông như quân sư của bà.

Nhưng, một lần ông thông đồng với nhà có thuốc đánh hàng "khuôn" lên "thuận", ăn lấn của bà được mỗi trăm thuốc đồng bạc. Đến khi vỡ lở thì ông đã nướng sạch trong đám bạc rồi. Từ đấy bà không tin ông nữa, có mượn ông nếm rồi bà cũng tìm một vài người thân tín soát lại như món thuốc ông vừa mới nếm chiều xong.

Nói lảm nhảm hồi lâu, ông đứng dậy xách chiếc thau đồng con ra bể. Chiếc thau nhỏ xíu như chiếc thau "quán tẩy" ở đình, chỉ một gáo nước là đầy ngập. Ông ngồi xuống rửa mặt. Ông rửa đi rửa lại, bao giờ cho nước trong thau đục ngầu như nước đất, không nhìn thấy đáy nữa mới thôi.

Bà lý đã ra ruộng trông nhổ mạ. Cái Sồi băm bèo quất cám cho lợn xong cũng đi ra đồng tát nước thay một người đàn bà để họ cấy cho đỡ tốn thêm buổi làm. Cái Hĩm cắp rồ bát đĩa ở ao về xếp lên chạn, giặt giạ phơi phóng xong, liền ngồi vào khung cửi dệt.

Từ ngày nó biết dệt, bà lý thỉnh thoảng mới đỡ đần nó một vài lúc, tuy bà dệt vừa nhanh vừa mịn mặt vải. Bá muốn con bà dệt thạo hơn bà để kén chồng cho dễ vì các bà kén vợ cho con chỉ chăm chú vào cái khung cửi.

Thằng cu nhớn đã sang hàng xóm chơi đình với lũ trẻ bên ấy. Chính tên nó là Quy, vì nó sinh vào năm bà nó quy, hoặc vì bà nó quy nên mới có nó. Năm nay nó lên mười, người gầy xác như que trẽ, trán gồ, mắt ti hí, mồm rộng và cặp môi mỏng quèn. Nó hiền lành, nhút nhát, ra đường sợ trẻ bắt nạt, nhưng về nhà lại bắt nạt em. Nó có tính hay nói dối, hay thù vặt, hay ghen ghét, keo kiệt, bủn xỉn, nhưng lại có tính ham mê cờ bạc. Dành dụm được bao nhiêu, nó thường đem cúng vào đám lú hết. Rồi nó tiếc, đứng thừ một xó, mặt xì xì hằng giờ.

Thằng cu con đã ra sân đình nô đùa với lũ quỷ sứ. Tên nó là Chút, cái tên ngộ nghĩnh do một bà trong họ đặt, có ý chúc cho bá lý đẻ thêm thằng Chít nữa.

Thằng Chút ít khi đùa nghịch với anh. Nó ghét anh nó cũng có, nhưng thực ra nó không thích ngồi co ro một chỗ, cặm cụi xếp gạch làm đình, nhào đất nặn tượng. Nó thích chạy nhảy, làm ngựa, chơi ba ba, thuồng luồng, đánh nhau vỡ đầu sứt tai. Không mấy lúc nó chịu yên chân yên tay. Vì thế, tuy kém anh hai tuổi mà trông người nó vạm vỡ khỏe mạnh hơn nhiều. Có người thấy nó táo tợn, đã bảo mẹ nó sau này nên cho nó ra lính, tất sẽ chóng lên cai lên đội, như ông đội Thắng trong làng.

Bà lý xem chừng mến nó hơn thằng anh, tuy bà thường bị rầy rà mất công mất việc vì nó. Chẳng mấy chiều là không có bà mang con đến tận cổng réo: "Bà lý ơi! Bà ra xem con bà nó ném (hoặc nó đánh, nó vật) thằng bé nhà tôi đổ cả máu mồm, máu miệng ra đây này!" Bà lý phải ra xin lỗi và cầm roi quất lấy lòng vào mông con mấy cái. Trước kia, thằng bé gan lỳ, đau thì đau, chỉ đỏ mặt tức giận chứ nhất định không khóc. Sau nó thấy anh nó, mỗi lần cái roi động sẽ vào người là tru tréo ầm nhà làm cho mẹ nó không dám đánh nữa, nên nó cũng bắt chước, nhưng chỉ chốc lát nó lại tươi cười, nghịch ngợm như thường.

Ông lý rửa mặt xong, cầm thau tưới vào hai chậu đinh lăng trên hai cái đấu ở hai đầu bể. Đoạn, ông đem thau vào đặt trên phản để lát nữa bà lý về têm trầu bỏ vào đấy thay cho cái âu. Ông đứng thu tây vào bọc, ngắm nghía đôi lộc bình bày hai bên cỗ ỷ, ngay sát vách. Đôi lộc bình Thanh Trì, miệng loe như miệng ống nhổ, thân phình ra như cái chĩnh, vẽ cây chuối với con voi xanh lè trên thứ men trắng bệch, rõ như đồ mã rằm tháng Bảy. Ông mua ở chợ Nam cữ trong Tết, có hai đồng rưỡi

một đôi. Ông cho là rẻ lắm. Cứ cái xác to của nó cũng đáng hai đồng rưỡi rồi, không kể công trình và tài khéo léo của người nặn ra nó.

- Đẹp tốt phô ra xấu xa đậy lại. Mình phải để nó ra ngoài sáng cho mọi người biết chứ.

Ông bèn lấy mảnh vải cũ lau chùi sạch bụi rồi bê cẩn thận, đặt cạnh đôi đèn gỗ sơn son thếp vàng. Ông liên tưởng đến những đồ sứ, từ cái ống hoa nhỏ, cái điếu bịt bạc, cái nậm cho chí những bát kiểu con phượng bày la liệt trong chiếc tủ chè bằng gỗ tâm trai của quản Chu. Ông không dám ngỏ ý muốn với mẹ đĩ, sợ mẹ đĩ lại giở cái liều lĩnh của ông ra mai mỉa: "Ối chào! Ông mà cũng định sắm với siếc kia. Bao nhiêu của đổ cả vào cái bát thì sao không bớt lấy một ít mà sắm có được không". Thôi đành để khi nào phất canh bạc to, ông sẽ bỏ tiền ra sắm lấy vậy.

Ngắm nghía đôi lộc bình chán rồi, nghĩ chẳng còn việc gì làm, ông đi ra đằng sau nhà cúi đầu xuống mái chuồng, thăm hai con lợn đương rúc mõm trong cái ang sành hết cám. Một con ngửng đầu, động đậy cái mõm hồng hồng, nõn như gan bàn chân đứa trẻ mới được vài ba tháng. Đôi mắt híp nhìn ông như muốn nói: "Cám hết rồi, trộn thêm vào cho chúng tôi ăn thêm chứ!" Ông lý đáp lại bằng câu mắng nhiếc: "Ăn đến xấu thói. Bao nhiêu cám ăn hết nhẵn cả, chỉ còn để độc bèo. Ông cho chốc nữa đói rồi cũng phải sực hết". Ông khen bà lý: "Con mẹ thế mà mua khéo đấy! Mới độ nào còn ton hỏn mà bây giờ trông đã khá lắm nhỉ. Tháng Hai này bán cho thôn làm lễ an tạ được rồi đấy". Giá lúc ấy có bà lý thì phải biết. Bà thì rủa cho hàng thôi và đốt vía ông như cữ nào có người khách đến quở, lúc khách ra bà bực tức, đốt vía vang, đốt những đứa quở quang, độc mồm độc miệng...

Ông đi ra sân, nhìn vẩn, nhìn vơ, nhìn mấy buồng cau chót vót trên ngọn, nhìn những bát hương lạnh ngắt trên cây hương. Rồi ông lần vào bếp, thấy trơ trọi lỏng chỏng có mỗi một ấm nước trên ba đầu rau. Ông ngồi xổm, dốc vòi xuống rót. Chẳng còn một giọt nào. Ông gắt: "Thế thì thôi. Rót nhẵn, chẳng để phần mình tí nào". Ông đứng dậy, hai tay vắt sau lưng, đi sang hàng xóm. Mấy con chó đã quen hơi, ve vẩy đuôi, quấn quít chung quanh, mừng. Ông không để ý, đi thẳng vào trong nhà.

Xã Khoan ngồi xếp bằng trên phản, tay cầm xe điếu gõ vào điếu. Trí lơ đễnh nghĩ đâu đâu. Thằng cu cháu lên hai, ngồi trong lòng, ngả đầu ra, một tay chống, một tay đập xuống phản - chiếc vòng bạc có nhạc với quả bí đụng vào nhau sang sảng.

Thấy ông lý vào, xã Khoan ngồi thản nhiên mời (vì hai người đã thân nhau như anh em):

- Ông lý! Tôi có ấm chè nóng ngon lắm. Ông ngồi lại xơi nước. Chòm ạ! Bắc ấm nước lên cho thầy!

Chòm là thằng thứ ba. Hai thằng lớn, thằng Hương, thằng Quán, đã đi trông nom đồng áng thay bố. Tên nó là thằng Chòm vì ngày còn bé, tóc nó cứng quá, đâm tua tủa lên như cái chổi sề. Nó mới lên mười, còn ở nhà coi cháu cho anh cả và giúp việc lặt vặt cho bố mẹ.

Nghe thấy tiếng thầy gọi, nó nói vội lên:

- Có phải đun lại không, bố?

- Ấy chết chớ! Còn nóng đấy nhé! Đun lại nó đỏ ngòm ra thì hỏng bét.

Thằng bé có ý. Nó lấy mấy cọng rơm lót cho khỏi bòng tay và thổi bụi bám ngoài vành ấm, rồi bưng lên rót vào hai cái bát mẫu khê cáu vàng.

Ông lý uống vài ngụm, khen lấy lòng:

- Ôi chào! Bác mua được cái chè ngon quá nhỉ. Chè này chè đồi chứ không phải chè vườn, thơm thơm, chan chát như trồng cạnh khóm sắn ấy...

- Vâng, tôi cũng thấy thế.

- Bác gái đi chợ Ngảy phỏng? Chợ ấy xa, có lẽ chiều tối mới về đến nhà.

- Vâng, nhà tôi đi từ sớm. - Và trông mặt hắn tươi hẳn lên. Hắn tươi là phải, vì mấy người được đảm như vợ hắn để hắn được nhàn nhã ngồi bế cháu.

Vót đỏng đa đỏng đảnh, chua ngoa có tiếng nhưng lại là một người đàn bà đảm đang, chỉ có một cái đội đi chợ, bác đã làm giàu làm có cho chồng, lo được hương chánh cho con cả, được quản xã cho con thứ. Còn thằng thứ ba cũng tập tễnh sắp sửa ông nhiêu ông xã nay mai.

Có nhiều người đã khuyên bà xã lo nốt cho ông xã cái chức lý thôn như ông lý bên hàng xóm. Bà xã bĩu môi nói: "Các bà ạ, không phải tôi tiếc gì tiền mà không chịu lo cho ông ấy đâu. Nhưng các bà phải hiểu ông xã nhà tôi đã hơn năm mươi tuổi, gần lão đến nơi rồi. Không lẽ bây giờ ông ấy lại cầm roi đi mời từ ông lý cựu chẳng lớn gì hơn thằng Hương, thằng Quán nhà tôi. Các bà tính tội gì mất tiền mua chuốc lấy cái dại vào mình... Ừ, tôi chỉ là con mẹ xã nhép. Nhưng đố ai dám bắt nạt tôi, dám hạch sách tôi, dám động đến chân lông tôi".

Mọi người cười xòa: "Ai dám động đến chân lông bà!"

Ông lý uống vài bát nước, nói dăm ba câu chuyện phiếm rồi đứng dậy đi lang thang ngoài đường. Ông quen chân bước đến nhà khán Để, làm việc trước ông một khóa. Chức khán thủ khi xưa tức là chức lý thôn bây giờ. Các cụ thấy chức khán đối với thiên hạ vẫn bị rẻ rúng, coi thường coi khinh mà công việc vất vả, chẳng kém gì công việc lý trưởng, nên các cụ đã họp việc làng bàn đổi sang tên lý thôn. Từ đấy có người gọi khán Để là lý, có người vẫn quen mồm gọi là khán.

Vợ khán Để vừa đóng oản với hai con xong đương rửa nồi chõ, đứng dậy chào:

- Ông lại chơi. Nhà tôi vừa mới ra miếu làm tuần.

- Chết chửa! Hôm nay tuần mà tôi quên bẵng đi mất. Thế mà đương thứ chẳng đến mời mình gì cả. Họ tệ thật. Để tôi ra đình tôi bảo.

- Có lẽ họ đến vào lúc ông đi vắng đấy. Nay đến lượt nhà tôi làm tuần nên mới đi từ sớm.

- Thôi thế kính bà nghỉ. Tôi cũng ra miếu đây.

Ông hấp tấp, vội vàng như có công việc gì quan hệ lắm. Đến miếu thì mấy ông hành lễ vừa tế xong. Các ông cựu theo thứ tự lễ hai người một. Sau cùng đến bọn đương thứ. Rồi các ông ngả xôi gà ra chén, còn oản chuối đem phân phát biếu những ông chức dịch, tức cũng là những ông cựu ở đây và những ông nằm nhà, mỗi ông một phẩm oản với một quả chuối.

Lộc thánh tất cả có ba con gà và một mâm xôi nhỏ. Thế mà hai mươi ông ăn cũng đủ, miễn là mỗi mâm có một chai rượu là được rồi, tuy không được túy lúy càn khôn như ngày đại tiết... Ăn uống xong, các ông tản mát mỗi người một ngả. Năm bảy ông ngồi lại họp tổ tôm. Ông không đánh ngồi chầu rìa, mách nước. Gần hết hội mà chưa ông nào chịu góp. Ông lý và một vài ông có tiền cũng không dám bỏ ra, sợ được thì được "tịch" mà thua thì mất "thiếc". Hết hội, các ông tính toán tiền nong, ông thua nợ ông được, rối xòe. Các ông đã vậy, còn thằng mõ chia bài thì sao? Một ông thua nhiều nhất chịu đứng ra nhận vậy, ông khất nợ: "Này, cái số một hào chia bài, tao nhận, mai kia tao trả nhé".

Ba bốn ông đòi đánh hội nữa. Ông lý đứng dậy cáo thoái: "Xin nhường các cụ đánh với nhau, tôi bận phải đi đằng này". Ra đường ông lẩm bẩm: "Các cụ đánh cái lối biên sổ thế thì nhà cháu xin kiếu các cụ thôi". Ông đi lang thang, tạt vào những nhà sẵn khách đánh sòng phẳng, nhưng đang mùa cày cấy, hiếm khách chơi gò gẫm mãi vẫn không sao đủ chân. Lúc trở về nhà thì vừa nhá nhem tối.

Thế là ông lý đã sống đầy đủ một ngày để rồi ngày mai ông lại sống tương tự như thế.

Chương II

Bỗng có tiếng chó sủa. Thằng Quy chạy ra cổng. Bà chánh Bút đứng ngoài gọi: "Này em, coi chó cho bác tí".

Bà lý đương têm trầu ở nhà trên, bước ra chào: "Lạy bà ạ. Rước bà vào chơi trong nhà". Và bà lấy làm lạ, vì từ xưa có bao giờ bà chánh Bút đến chơi nhà bà. Họa hoằn có gặp đi chợ, bà ta cũng chỉ chào hỏi vài câu lấy lệ.

Bà chánh nhìn khắp mấy gian nhà và khen nịnh:

- Nhà bà rộng rãi mát mẻ quá nhỉ.

Bà lý đáp:

- Chật chội thế mà bà bảo rộng... Không bằng cái bếp nhà bà.

- Không, thật mà! Nhà tôi, nhà ngói, sân gạch, trưa đến nóng quá. Nhất về dạo tháng Sáu tháng Bảy, nóng như thiêu như đốt... À, vụ chiêm này bà lý cấy có được khá không?

- Thưa bà, nhà cháu làm gì có mà cấy nhiều. Có ba mẫu đồng cửa với một mẫu đồng sau. Năm nay cấy ruộng đồng sau vất vả quá, bà ạ.

- Vâng, năm nay ít mưa, công tát nước hết nhiều quá. Tôi cũng cấy ba mẫu đồng sau. Giá cứ nghe bà hậu bỏ goá lại hóa may... À này, tôi... tôi định hỏi lại quên. Cô Hĩm năm nay bao nhiêu tuổi nhỉ? Đã có chỗ nào dạm chưa?

Bà lý tủm tỉm cười:

- Thưa bà, cháu năm nay mười bảy. Nhà nghèo nên chưa có ai hỏi cả. Đến ế mất, bà ạ. Bà có đám nào...

- Ấy, tôi đến cũng định làm mối cháu cho ông chánh Ích, ông chánh nghị giàu nhất nhì huyện ta đấy mà, chắc bà cũng biết.

- Thưa tôi biết tiếng thôi. Nhưng mà tôi nghe thấy nói người ta đã có vợ con rồi. Mà con gái tôi cũng chỉ bằng con người ta thôi. Ai lại gả bán thế.

Bà chánh vội chống chế:

- Người ta hiếm hoi, mới có hai cô con gái thôi, bà ạ. Cầu tự mãi chẳng được mụn trai nào. Bà cả nghe chừng khó đẻ lắm. Mà đi xem bói xem số, đâu cũng nói: "Phải lấy vợ lẽ cho chồng". - Bà chánh đương nói thì ông lý ở đâu về. Bà quay ra, đổi sang câu khác. - Ông lý đã đến chơi nhà ông ta mấy lần đây. Ông chánh Ích, nghị Ích ấy mà.

Hình như hai người, ông lý và bà chánh đã bàn mảnh với nhau rồi, nên ông lý biết trước công việc của bà ta, nói đế vào:

- Thưa bà, ai chứ ông ấy thì khắp huyện đều biết: người rất nhã nhặn, tử tế.

Bà chánh nói chêm:

- Và giàu có lắm. Ông có biết ông ta có bao nhiêu ruộng không? - Bà quay sang phía bà lý - Ngót trăm mẫu, bà ạ, trăm mẫu với mười lăm mười sáu con trâu cày. Ông lý đã xuống chỗ làm ăn chưa nhỉ? Một rẫy (dãy) chuồng trâu, chuồng lợn dài như quán chợ. Sáu bảy cây thóc tướng. Nhà mình ăn tiêu một năm vị tất đã hết một cây của người ta... Dễ ông lý đã ngồi tiếp chuyện bà ta rồi đấy nhỉ?

Ông lý còn đương nghĩ xem ngồi chỗ nào cho tiện, bỗng bị hỏi, ông luống cuống:

- Vâng, bà ta, bà ta...

Bà chánh đỡ lời:

- Bà ta hiền từ, phúc hậu quá. Thế mà chỉ tội hiếm hoi. Hai cô gái thì nết na, hiền lành, dễ bảo. Con gái ông bà được vào chỗ ấy thật chúng tôi cũng mừng.

Bà lý không trả lời, vẻ mặt suy nghĩ. Ông lý hớn hở đáp lại liền:

- Nếu con gái tôi được vào nhà ấy còn đâu sung sướng bằng.

Bà chánh quay sang hỏi bà lý:

- Ông lý bằng lòng lắm rồi, còn bà nghĩ sao? Tôi thiết tưởng làm lẽ cũng năm bảy đường làm lẽ. Có chỗ khổ sở thật, nhưng chỗ này thì tôi dám quyết là sung sướng. Người ta vì hiếm hoi nên quý trọng người. Nếu nhờ trời, con gái bà lại đẻ được cậu con trai thì người ta quý như vàng như ngọc. Thật đấy, bà cứ bằng lòng đi.

Bà lý không nỡ chối từ, sợ mếch lòng bà chánh. Nhưng bà cũng không trả lời nhất quyết về mặt nào:

- Thưa bà, xin hãy thong thả. Để tôi còn hỏi ý cháu xem đã.

Bà chánh gạt đi:

- Trẻ nó biết gì mà hỏi nó. Mình là cha là mẹ, mình xem nơi nào con mình có thể nương nhờ được thì cứ việc ưng thuận. Chúng nó thì cứ nên cho đặt đâu ngồi đấy là phải. - Bà tìm hết những bà vợ lẽ được chồng yêu, vợ cả chiều, như bà vợ hai ông chánh Yên, bà vợ ba ông hội Long, bà cụ huyện hai, bà cụ phủ ba, nhưng còn không biết bao nhiêu bà vợ lẽ khốn khổ hơn tôi đòi thì hình như bà quên khuấy đi mất. Mỗi lần bà chánh kể một bà vợ lẽ thì ông lý lại chêm vào vài câu khen ngợi.

Bà lý yên lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng nhếch mép cười. Không biết nụ cười của bà có vẻ mỉa mai hai người hay đó là nụ cười tiếp khách.

Bà chánh ra rồi, ông lý đi lại ngồi chỗ bà lý gạn hỏi vợ:

- Bà ta nói thế, bà nó nghĩ thế nào? Tôi thì tôi cứ gả phăng, chắc là con mình được chỗ nương tựa, mà mình...

Bà lý phát cáu, ngắt lời:

- Thôi thỏi, việc gả bán ông cứ để kệ tôi, chẳng việc gì đến ông. Ông còn nhớ ông thông đồng với người ta, ăn lận...

Ông lý ngượng, đứng dậy nói lấp:

- Đương việc nọ thì sọ sang việc kia, chẳng đâu vào đâu. Đã thế thì mặc kệ bà, tôi chẳng rỗi hơi bàn bạc. - Nói rồi ông đi thẳng ra cổng, cút mất. Ông đến đằng xã Vị đánh tổ tôm cho qua thời cơ nhàn rỗi. Chiều, ông thủng thỉnh đến nhà bà chánh Bút để xoay kế khác.

Bà chánh chạy vội ra, hỏi:

- Thế nào ông lý. Việc xong chú?

Ông lý cười nhạt lắc đầu:

- Nhà tôi ương ngạnh, cáu kỉnh, có chịu nghe tôi bao giờ đâu.

Bà chánh thất vọng, đương vui đổi ra nét mặt buồn:

- Thế thì ông chịu mất món bở à? Tôi nói thực với ông, tôi cũng chỉ làm mối giúp người ta thôi. Xong thì người ta cho một cái quà nhỏ độ vài ba đồng, chứ có đâu được những năm chục bạc như ông.

Bà chánh quyệt lắm. Bà nhắc lại số tiền to ấy để đánh vào lòng tham của ông lý. Ông lý đi thẳng vào trong nhà:

- Chẳng xong rồi cũng phải xong. Tôi còn cách này chắc phải được mười mươi.

Bà chánh theo sau. Hai người cùng ngồi trên chiếc sập quang dầu kê ngay trước mặt chiếc buồng ăn chạm trổ, sơn son thếp vàng. Ông lý nói tiếp:

- Bà chánh ạ, tôi bảo bà nhé! Bà đến đằng cụ lý cả là ông bác tôi ấy mà. Tính ông cụ! Bà chưa biết chỉ thích danh giá, thích bè đảng mạnh, có quyền thế... Mà nhà tôi kính nể, sợ cụ lắm. Cụ bảo thế nào, hay dở, nhà tôi đố dám trái ý. Vậy bà cứ đến cụ lý cả là xong xuôi, nhưng phải nói khéo, phật ý cụ tôi một tí là hỏng bét. Chỗ ấy mà...

Bà chánh giở (trở) lại tươi tỉnh, ngắt lời:

- Việc gì chứ việc nói khéo thì chẳng phải bàn. Tôi chỉ sinh nhai về nghề làm mối, không nói khéo thì ai nghe. Thế ông lý đến với tôi nhé.

- Ấy chớ, tôi mà đến thì lại thêm khó ra. Cụ ghét tôi lắm. Được, để tôi nhờ vài ông chú họ, những người thường được cụ tôi gọi đến bàn việc hương đảng... Thôi thế chào bà. Bà ngồi đợi tí nữa tôi rủ họ đến. - Ông vừa nói vừa đứng dậy đi ra cổng.

Bà chánh đứng trên thềm nói với:

- Nhanh lên ông lý ạ. Tôi đợi đấy.

- Vâng.

Sâm sẩm tối, bà chánh cùng hai ngưòi chú ông lý đến nhà cụ lý cả. Dưới ánh đèn ba dây, cụ đương đứng nhìn cháu cụ gấp bộ xiêm áo và mũ tế vào trong hòm áo. Vì ban sáng có đại tiết cụ đứng chủ tế.

- Lạy cụ ạ. - Bà chánh chắp tay vái chào lễ phép lắm.

Cụ lý giương mục kỉnh nhìn. Cụ chưa kịp hỏi thì một ông chú liền nói:

- Bẩm cụ, bà chánh Bút ở xóm ngoài đó ạ.

- À, bà chánh con dâu cụ lý Trần phải không?

Bà chánh cười tít mắt, nói bằng một giọng niềm nở:

- Bẩm vâng, cháu đây ạ. Cụ nhớ quá nhỉ. Bẩm cháu đi chẩy (trẩy) hội về, có ít quà đem đến biếu cụ, gọi là lộc thánh. - Vừa nói, bà vừa lấy ở thúng ra hai phong bánh khảo và một buồng chuối ngự thơm phưng phức.

Cụ lý tươi tỉnh, giơ tay ra mời:

- Bà chánh ngồi ghế chơi. - Nói xong, cụ cũng vén áo ngồi trên chiếc sập gụ, đưa tay vào cái tráp sơn then. Bên cạnh cụ một cái điếu ống khảm, xe dài con vót. Rõ ra một cụ cựu có vai vế nhất trong thôn, không kể ông tiên chỉ đi làm việc quan vắng. Cụ nói tiếp:

- Thằng cháu cả đâu? Cháu bảo thằng nhỏ đun nước pha chè Chính Thái đấy nhé.

Bà chánh đứng dậy chối từ:

- Bẩm chỗ con cháu, xin cụ chước cho ạ.

- Được. Thì bà chánh hãy thưởng vài chén trà với lão tí nào.

Bả chánh ngồi xuống, tủm tỉm cười:

- Dạ.

Hai ông chú ngồi nghiêm chỉnh. Không ông nào dám ho he, vì cụ lý cả người vốn hách dịch, trọng lễ nghi, trật tự. Các ông đối với cụ chỉ là hạng đàn em, có hỏi đến mới được thưa.

Bà chánh uống nước, nói chuyện làm ăn rồi dần dà đi vào công việc của bà. Bà nói không có vẻ đột ngột tí nào:

- Bẩm cụ, rễ (dễ) cụ cũng biết ông chánh Ích ở xã Thịnh Cầu, đấy nhỉ?

- Có, tôi cũng biết tiếng thôi. Ông ta giàu có lắm thì phải.

- Bẩm, thôi còn phải nói. Từ ngày ông ta lo được cái nghị viên, ông ta lại có quyền thế lắm, cụ ạ. Ông ta đi lại trên cụ thượng luôn và thân với quan huyện lắm, xin gì được nấy... Bẩm cụ, ông ta mấy lần đến chơi nhà cháu, cứ định lại hầu chuyện cụ.

Cụ lý nhún nhường:

- Không dám, lão thì kể vào đâu mà được ông nghị đến chơi nhà. - Trong bụng cụ cũng tin như vậy.

Bà chánh cười nói:

- Bẩm cụ, cụ nghĩ thế chứ ông ta, xin lỗi cụ - Bà vừa cười vừa nói - còn muốn được làm cháu rể cụ đấy.

Cụ lý ngạc nhiên hỏi:

- Bà chánh nói thế nào lão không hiểu.

Bà chánh mỉm cười:

- Bẩm cụ, ông ta muốn hỏi cô Hĩm con ông lý Bổng là cháu cụ ấy.

- Có thật không, hay bà chánh nói đùa đấy?

- Bẩm chả thật mà lại vật nài cháu đến làm mối, cháu chỉ sợ ông lý bà lý không bằng lòng.

Cụ lý vui mừng lộ ra mặt:

- Nếu thế có phải thật thế thì còn đâu hơn nữa lại chả bằng lòng.

- Bẩm cụ, ông ta tuy đã có vợ rồi nhưng mà hiếm hoi lắm, chưa được cậu con trai nào cà. Bà nghị xem chừng không đẻ nữa vì đã bẵng đi hơn mười năm nay còn gì.

- Hay tại ông ta...

Bà chánh vội ngắt lời:

- Dạ không phải. Chính tại bà ta. Ông nghị cháu mới ngoài bốn mươi, trông người hồng hào, khỏe mạnh như con trai vậy.

Cụ lý kéo cái điếu ống vào gần và nói thong thả:

- Ngoài bốn mươi thì còn trẻ chán. Chỗ ấy mà chẳng thuận thì chẳng còn thuận đâu hơn nữa.

Một ông chú chạy vội lại, bật diêm châm điếu. Cụ hút có kiểu cách. Hút xong, cụ nhấp giọng bằng một chén trà. Cụ quay ra, nói tiếp:

- Bà chánh xơi nước, trà Chính Thái có khác, ngon thật.

- Không dám, cụ để mặc cháu - Thấy cụ lý đã bằng lòng, bà nói thật:

- Bẩm cụ, chẳng dám giấu gì cụ, cháu cũng đã nói chuyện với bà lý, nhưng xem chừng bà lý còn luỡng lự. Giá được cụ bảo giùm cho một tiếng thì thế nào cũng xong. Cháu nghe thấy cả họ cùng kính nể cụ lắm.

Cụ lý được bà chánh tâng bốc, hả dạ, nói bằng một giọng quả quyết:

- Được. Bà chánh cứ nói với ông nghị rằng: đã nhờ đến tôi thì thế nào cũng xong.

Bà chánh sung sướng cười đáp lại:

- Dạ, nếu cụ giúp hộ được thì ông nghị và chúng cháu không bao giờ dám quên ơn cụ.

- Không dám.

Bà chánh đứng dậy xoa hai bàn tay vào nhau:

- Bây giờ cháu xin lạy cụ. Mai kia cháu lại đến hầu cụ, nếu được thì cháu sẽ nói với ông nghị chọn ngày...

- Được, tôi đã giúp thì thế nào cũng xong.

- Thôi thì trăm sự nhờ cụ cả. Lạy cụ ạ.

- Không dám. Có đứa nào đấy không? Ra coi chó cho bà chánh, mày!... Dễ tối rồi đấy nhỉ. Đã lão bảo nó cầm đèn...

Bà chánh đã bước xuống sân, vội quay lại ngăn:

- Bẩm xin cụ chước cho ạ. Trời đầy sao, trông còn rõ đường lối ạ.

- Thôi thế bà chánh lại nhà nhé.

- Dạ, lạy cụ ạ.

- Không dám.

Hai ông chú ngồi lại hầu chuyện cụ một chốc rồi cũng về.

Bà chánh ra đến đường nghĩ bụng: "Ông lão dễ bảo quá. Cứ như ông thì muốn lấy cả cô chị lẫn cô em cũng được". Bà sung sướng, chắc mẫm được vài chục bạc quà biếu của ông nghị.

Sáng hôm sau, cụ lý chống gậy trúc đến nhà bà lý. Cụ năm nay đã tám mươi nhưng còn khỏe mạnh, tinh tường lắm, giá không dùng gậy cũng được. Bốn năm ông chú họ đi theo hầu.

Bà lý sợ cuống cuồng, vội chạy vào trong nhà phủi chiếu, xếp dọn rối rít. Thằng Quy, thằng Chút lẻn xuống nhà ngang, chuồn mắt. Không biết cụ lý có cái gì mà chúng sợ thế? Ông lý biết sáng nay thế nào cụ cũng đến, đã lẻn đi chơi từ sớm. Ông không dám giáp mặt cụ bao giờ. Cụ sắp đưa gậy vào khe cửa. Một ông chú vội lại đỡ lấy. Cụ ngồi xếp bằng trên phản giữa, một tay đưa lên vuốt bộ râu bạc phơ. Mấy ông chú ngồi xếp hàng ở phản bên im phăng phắc.

Cụ đưa mắt nhìn khắp ba gian nhà rồi hỏi:

- Anh lý đâu?

- Bẩm bác, nhà cháu đi đâu từ sớm.

- Hừ, cái thằng... Giá nó ra người thì trong thôn ổ, quan huyện cao xa không kể, nhất bác rồi đến nó đấy... À này lý!

- Dạ.

- Bác nghe thấy có ông nghị nào ở Thịnh Cầu muốn hỏi con bé nhớn phỏng?

- Dạ, bẩm bác vâng... nhưng mà cháu hỏi nó cứ giãy nảy, nhất định không chịu làm lẽ. Bẩm...

Cụ lý ngắt lời, cất cao giọng như có ý gắt:

- Việc dựng vợ gả chồng là quyền ở bố mẹ chứ việc gì phải hỏi đến nó. Thế ngày xưa chị lấy chồng, bố mẹ chị có để quyền chị chọn lựa không?

- Bẩm bác nhưng mà lấy làm lẽ thì...

Cụ lý cướp lời, gắt:

- Thì sao? Làm lẽ! Làm lẽ cũng năm bảy đường làm lẽ. Làm lẽ ông nọ, ông kia dễ mà mấy người được... Thà rằng ăn nửa quả hồng, còn hơn ăn cả chùm sung chát sì. Hay là chị không muốn gả thì chị bảo?

Bà lý uất ức, ứa nước mắt:

- Bẩm bác, việc gả bán là quyền ở bác, ở nhà cháu, chứ cháu không bằng lòng cũng chẳng được.

Cụ lý thương hại, đổi giọng:

- Quyền cả cháu nữa chứ. Cháu có công đẻ ra nó kia mà. Nhưng này, bác bảo thật. Từ xưa bác có bảo dại các cháu đâu. Bác muốn cho trẻ nó được nương dựa vào nơi quyền quý để cả họ cũng được thơm lây, chứ bác ăn lễ, ăn nghĩa gì... Vậy cháu cứ thuận đi. Thằng chồng cháu, bác bảo là phải nghe. Sau này rồi cháu mới biết là bác nói phải.

Mấy ông chú ngồi như bụt mọc, thỉnh thoảng đã một vài câu vuốt đuôi để mong được hài lòng cụ.

Cụ hỏi qua loa công việc làm ăn rồi đứng dậy chống gậy về. Cố nhiên mấy ông chú lại theo sau hầu cụ. Cụ cho việc cụ giúp thế là xong. Chẳng xong cũng chẳng được với cụ.

Bà lý, cả ngày hôm ấy, đâm ra cáu kỉnh, gắt gỏng luôn. Không khí trong nhà trở nên nặng nề, khó chịu. Cái Hĩm sợ mẹ, cắm đầu dệt. Cái Sồi vẫn lì lì làm mọi việc, nét mặt chẳng đổi khác chút nào. Thằng Quy, thằng Chút lẻn ra đường chơi với lũ trẻ.

Tối mịt rồi, bà lý vẫn không thấy mặt chồng. Bà cũng chẳng mong đợi, chẳng buồn hỏi han đến. Lần này thì bà ghét chồng thậm tệ, coi như một thằng lừa đảo, vô lương tâm. Bà lủi thủi sang hàng xóm, họa may Vót, người thân tín của bà, có an ủi bà được chút nào chăng.

Vót đương mải gấp, vuốt những tấm lụa mốc xếp vào đẫy để mai đi chợ Hộ sớm. Chiếc đèn búp măng đặt trên bàn thờ chiếu ánh vàng xuống mặt phản. Xã Khoan, chồng Vót, bế cháu nằm võng, thiu thiu ngủ. Con cái ở cả nhà dưới. Trong nhà yên lặng.

- Chỉ bác là sướng thôi.

Vót ngửng lên thấy bà lý, nét mặt buồn thiu, nói khôi hài:

- Đã bị chồng đánh hay sao mà thiểu não thế kia. Có sao thì cũng cứ vui lên chứ. Hay lại con nào cuỗm mất chồng rồi. - Lúc trẻ, lúc già cũng vậy, Vót vẫn có tính bông đùa, cớt nhả như mẹ ranh.

Bà lý càng buồn, ngồi phịch xuống phản, vuốt mặt, thở dài.

Vót thấy vậy, nghiêm nét mặt, lại gần nói bằng một giọng thân mật:

- Này, bác lý ạ, tôi bảo thực, tội gì mà bà buồn mà khổ, chỉ khổ thiệt là mình. Tôi chắc lại chỉ vì bác trai thôi chứ gì. Tôi thì tôi kệ thây họ. Việc mình làm mình cứ làm.

Bà lý lại thở dài, hai bàn tay ôm lấy hai má và hai khuỷu tay chống xuống hai đùi:

- Nếu việc mình làm mình cứ làm được như bác thì tôi đã chả khổ, chả điêu đứng, sống dở chết dở như thế này.

Vót ngồi xuống bên cạnh, hai tay thu vào trong dải yếm, quay sang hỏi:

- Việc gì mà quá quắt lắm thế?

Bà lý buồn rầu thuật hết chuyện lại cho Vót nghe, rồi bà kết luận:

- Bác tính, chính con mình mà mình không có quyền gả bán thì có con làm gì cho thêm nhục.

Vót thấy có cụ lý dúng tay vào, biết rằng chẳng nghe cũng chẳng xong, bèn tìm lời an ủi vậy:

- Tôi tưởng việc gì chứ việc ấy thì bác cũng chẳng nên buồn. Người ta có số cả. Cháu Hĩm làm lẽ người cũng là số cháu. Biết đâu rằng cháu nó lại không sung sướng vì thế. Ông cụ nghĩ cũng phải đấy, bác ạ.

Bà lý rơm rớm nước mắt:

- Thôi thì cũng còn nhờ ở số phận nó, chứ bác tính còn sung sướng gì cái kiếp làm lẽ. Chao ôi! Có ai nhục nhã như tôi không.

Chương III

Từ ngày dạm hỏi, mỗi khi người ta chòng ghẹo gọi Hĩm là cô nghị Ích, Hĩm giãy nảy, mặt phụng phịu, nói gắt: "Tôi thèm vào làm lẽ người ta". Có khi giận quá, Hĩm nói sỗ với cả chú, bác, cô, dì trong họ.

Mặc Hĩm giãy nảy, mặc Hĩm gắt gỏng, mặc Hĩm không bằng lòng, số phận Hĩm đã định rồi. Như con lợn nuôi, đã định trước ngày bán, mặc con lợn khốn nạn ấy lồng lộn trong chuồng mỗi khi có khách đến thăm.

Đem Hĩm ví với con lợn thì tội nghiệp cho Hĩm quá! Vả lại cũng không đúng với tâm tình Hĩm chút nào. Hĩm ngây thơ, dại dột như con chim, dễ quên nỗi khổ, thản nhiên... Mà biết đâu! Bà nghị cả có thể ốm, chết, để lại cho Hĩtn cả một cơ nghiệp đồ sộ. Biết đâu dòng dõi nhà ông nghị, lại không ở Hĩm mà sinh sôi này nở. Ấy là mẹ Hĩm vì quá thương Hĩm mà nghĩ lần thẩn như thế cho khuây khỏa nỗi ăn năn...

Thòi giờ qua, thấm thoắt đã đến ngày cưới, một ngày vui tươi, thỏa mãn, chứa chan tình yêu, một ngày đầy hạnh phúc, đấy mộng tưởng cho những cô gái gặp nhiều sự may mắn. Nhưng đối với Hĩm, nó chỉ là một ngày đầy nước mắt, một ngày ủ dột, lạnh lẽo như một ngày tang.

Khốn nạn thân Hĩm! Ngoài mẹ Hĩm ra, nào có ai thương đến Hĩm, nào có ai để ý đến nỗi cay đắng, đến những giọt lệ chan chứa trên gò má Hĩm.

Họ còn bận nghĩ đến họ, đến ngày vui mừng để được phô những bộ áo mới đẹp, để được chè chén thỏa thuê. Ông lý cũng thuộc vào hạng những người ấy. Ông hớn hở chạy đi chạy lại mời khách, ông cười ha hả mỗi lần người ta cợt giễu, xưng hô ông bằng cái tên "cụ nhong nhong".

Ngay hai hôm trước ngày cưới, ông đã cặm cụi lau chùi bàn thờ, cùng những đồ thờ bóng nhoáng. Ông lôi những nậm bạch định cổ, chén cổ, khay cổ ra bày, ngắm đi ngắm lại, mặc những cái bĩu môi, lườm nguýt của vợ, mặc những tiếng sụt sùi, những giọng thổn thức của con gái ngồi trong xó buồng, quây quần những chị em đến dỗ dành khuyên nhủ. Ông không có hơi chút hối hận. Trái lại ông sung sướng tưởng đến anh con rể mà ông cho là một kho tàng để ông bòn rút. Được rồi! Sau này nhỡ có thua thì ông rẽ đến mượn thằng ông con rẽ dăm bảy chục. Chả nhẽ ông con rể lại tiếc mà từ chối!

Sáng sớm hôm cưới, nhà ông, nhà trên nhà dưới quét dọn sạch sẽ; bàn ghế, giường phản bày biện tích tươm. Gian giữa, trước bàn thờ, một cái sập gụ ông mượn được của ông hội, trên trải chiếu mới, cạp điều để dành riêng cho cụ lý cả và để lát nữa ông nghị lễ với cô nghị trẻ của ông.

Họ hàng khu xóm đến ăn trầu, uống nước mừng cho ông lý, bà lý mỗi lúc một đông. Hai đứa trẻ tuy chẳng được hơn gì ngoài những bộ mặt tết, thấy khách đến dìu đập cũng hớn hở chạy nhảy nô đùa với lũ trẻ hàng xóm.

Ai nấy cùng lộ vẻ hoan hỉ, cười nói om sòm. Nhưng nếu ai to mò để mắt vào buồng cô dâu, sẽ thấy một cảnh thương tâm không sao cầm lòng được. Hĩm đầu bù lóc rối, quần áo lốc thốc, nằm lăn lộn trên giường, gào thét như con một điên: "Con cắn cỏ con lạy thầy bu, thầy bu đừng ép con. Con không bằng lòng lấy người ta đâu..." Hĩm van vỉ như người mắc nạn kêu cầu cứu. Một vài chị em họ ngồi cạnh giường khuyên dỗ mãi chẳng được, phát gắt, nói dọa: "Này chúng tôi bảo thực, cheo cưới đã nhận đủ rồi, không nghe người ta xỏ mũi người ta lôi đi chứ chẳng chơi". Thấy vô hiệu họ đứng dậy bỏ ra nhà ngoài để nhường cho hai bà thím.

Bỗng có tin cụ lý cả đến. Mọi người đứng dậy răm rắp. Trong nhà, ngoài sân huyên náo. Mấy ông đàn anh trong họ đương cười nói bô bô, im bặt.

Cụ lý vừa ngồi xuống sập đã hỏi:

- Vẫn cứ giờ Thìn rước dâu đấy chứ? Cô dâu đã sắm sửa đủ lễ bộ chưa?

Một ông chú đứng dậy, phép tắc thưa:

- Bẩm cụ vâng, vẫn theo giờ cụ chọn. Bẩm con bé ương ngạnh quá, cứ nằm lỳ trên giường, dỗ thế nào cùng không được.

Cụ lý còn cầm gậy trúc trong tay, chống đứng dậy đi lại cửa buồng quát to:

- Con bé đâu! Muốn sống muốn tốt thì ngồi ngay dậy sửa soạn đi. Ối chào! Đã dễ mà một chốc lên chức cô nghị đấy. Mày không biết chứ chán vạn kẻ mong ước mà chẳng được kia kìa. Này, ông bảo, nghe ông thì ông còn thương chứ mà giở cái thói hỗn hào, bất hiếu bất lực ra, ông thì bắt trói bỏ võng khênh đến nhà trai ngay lập tức.

Hai thím nâng dỗ Hĩm dậy, nói thêm: "Đấy, sửa soạn đi cháu. Cụ nóng lên thì các thím cũng chịu".

Khác nào một người bị thôi miên, Hĩm ngồi dậy ngoan ngoãn để hai bà thím trang điểm trước mặt cụ. Hĩm và các em xưa nay vẫn sợ cu lý như sợ cọp. Hĩm đã được nghe người ta kể: ngày xưa con gái thứ hai cụ chê chồng, bị cụ bắt trói bỏ võng khênh đến nhà trai. Vì thế, chợt nghe thấy tiếng võng, Hĩm đã sợ hết hồn hết vía đi rồi.

Từ lúc cụ lý đến, nhà trên tự nhiên biến đi đâu mất những tiếng cười đắc chí. Ngoài sân lũ trẻ tản mát dần. Duy còn một ít huyên náo ở nhà dưới vọng lên.

Cụ lý uống xong tiệc nước thì ở cổng đi vào bốn người đội bốn năm cau trên phủ vuông vải tây đỏ. Theo sau, bốn năm người đàn ông ăn mặc lịch sự lối thôn quê, khăn lượt xếp hạng rẻ tiền, áo sa tanh lụng thụng, quần chúc bâu sột soạt vì chưa giặt lần nào và đôi tất màu sặc sỡ trong đôi giày vừa mới sắm: Họ nhà trai.

Cụ lý vội ra đứng trên thềm đón tiếp ông cháu rể quyền quý của cụ. Cụ chưa kịp hỏi ai là chú rể thì một người mảnh dẻ đến chỗ cụ gãi tai thưa sẽ:

- Bẩm cụ anh nghị con có việc quan cần kíp phải lên tỉnh hầu cụ thượng. Bất đắc dĩ phải cho con là em ruột đến đại diện. Anh con xin cụ cho phép đến hôm nhị hỉ sẽ đến lễ nhà thờ. - Hắn nói thác ra thế. Nghị Ích ung dung ngồi nhà để tránh cái lễ mà hắn cho là không xứng đáng với chức tước và quyền thế của hắn. Bà chánh Bút đã dặn dò người em rằng: việc gì cũng cứ nói khéo với lão lý già là xorg xuôi hết.

Cụ lý quay vào bảo với vợ chồng ông lý:

- Này anh lý chị lý, ông nghị có việc quan cần phải lên tỉnh hầu cụ lớn thượng, cho ông em đi thay. Vậy anh chị ra mà nhận lễ.

Mọi người trong họ đều ngạc nhiền, thì thầm với nhau: "Cưới đâu lại có thứ cưới không rể bao giờ. Họ khinh họ nhà gái mình quá".

Ông lý chạy ra nhận lễ. Ông sung sướng nhìn xuống gói giấy đỏ đề ngoài hai chữ "nhất bách" đặt trên cái dĩa. Ông cho thế là đủ rồi còn ông rể nghị có mặt hay không có mặt cũng chẳng quan hệ.

Bà lý đương ủ dột trong xó nhà. Bà ăn vận như ngày thường. Họ hàng vật nài mãi bà mới chịu mặc thêm chiếc áo the thâm. Thấy nói rể không đến, bà lấy làm nhục cho thanh danh nhà bà. Bà liền đứng dậy theo chồng ra kháng cự:

- Thưa trên có cụ, sau nữa có quan viên họ đông đủ, khi ăn hỏi, rể đã không có mặt, nay rể lại không có đây thì xin hoãn ngày cưới.

Những tiếng thì thầm lan khắp nhà. Cụ lý cất tiếng. Mọi người im bặt.

Theo kế hoạch bà chánh Bút, người em lại gãi tai, thì thầm với cụ lý: "Bẩm cụ trăm sự nhờ cụ. Cụ nói giùm với bà lý cho. Thật là sự vạn bất đắc dĩ, chứ anh con có muốn thế đâu. Cụ đã biết, việc quan thường xảy đến bất thình lình không ai lường trước được. Ngày giờ cưới xin đã được cụ chọn lựa rất kỹ càng. Bỏ đi thì thật khó cho cả nhà trai lẫn nhà gái. Hay là con xin lễ thay anh con vậy".

Cụ lý quay vào nói to như truyền lệnh:

- Ông Hai - Cụ tự tiện gọi thế - ông Hai đã nói thì họ ta cũng bằng lòng đi vậy. Việc là việc trăm năm của cháu, can hệ đến đời cháu nhiều. Còn đặt ra lễ tổ tiên là theo tục lệ xưa, có càng hay mà không có cũng được. Với lại lời ông nghị cũng sẽ đến lễ nhà thờ vào hôm nhị hỉ kia mà.

Cụ vốn trọng lễ nghi, hơi chếch lệch, khuyết điểm là không xong với cụ. Nay cụ chịu dàn xếp một cách giản dị như thế chắc là cụ muốn làm công làm cán với ông nghị.

Bà lý nghĩ đến con. Chỉ còn một ngày hôm nay, rồi con bà sẽ vào tay người ta. Mình mà làm khó, chỉ tổ thiệt cho con mình. Vì thế, tuy trong lòng uất ức mà ngoài mặt, bà vẫn phải bằng lòng theo ý cụ lý. Nhưng bà không muốn trách nhiệm trút sạch cả lên đầu bà để sau này người ta có thể nói được. Bà quay ra nói với họ:

- Thưa quan viên họ, cụ đã dạy thế thì tùy quan viên họ đấy.

Cố nhiên là quan viên họ đều thuận để được lòng cụ lý.

Cụ lý hả dạ, vừa nói vừa trở vào ngồi đĩnh đạc trên sập:

- Công việc khó khăn, lão đã thu xếp được ổn thỏa rồi... Bây giờ ông nào, bà nào, cô nào đi thì bảo để người ta liệu. Cũng nên đi đông đông cho đám cưới được trọng thể.

Em nghị Ích chạy vội đến cụ lý gãi tai thì thầm:

- Bẩm cụ đường sá xa xôi mà xe tay chỉ thuê được tám chiếc, nhà trai đã dùng bốn chiếc, còn bốn chiếc phần nhà gái. Bẩm cụ, có bao nhiêu xe anh con đã thuê cả từ hôm qua mới được thế đấy.

- Thế à! - Thực thì cụ cũng thừa biết rằng xe ở vùng huyện có ít ra là vài chục chiếc và riêng những xe đỗ quán Nam cũng đủ cho hết họ nhà trai lẫn nhà gái. Cụ liền nói chữa - Lão tính đi đông cho trọng thể nhưng hiềm vì đường sá xa xôi và xe vùng này hiếm lắm. Ông nghị thuê được có tám cái thôi. Vậy họ ta cũng liệu liệu thu xếp cho đủ chỗ ngồi.

Một xe đã dành riêng cho cô dâu với cô phù dâu. Còn ba cái có thể chứa được sáu người là cùng. Trong họ, người nọ đùn người kia, không ông bà nào muốn đi. Vì cứ cái tình thế hiện thời, họ biết trước rằng: Có đến cũng vị tất sẽ được ăn uống tiếp rước tử tế. Rút cục các ông đàn anh ở lại để nhường sáu anh xi nhép chẳng ra hồn người.

Trong buồng bỗng có tiếng gào khóc và tiếng van lơn: "Cháu cắn cỏ cháu lạy thím. Cháu không bằng lòng lấy người ta đâu. Thầy bu ơi! Thầy bu không thương con với, thầy bu!"

Nhiều người chạy lại đứng vây ngoài cửa buồng. Một vài người rơm rớm nước mắt nhìn cảnh tượng đau đớn. Hai thím cầm hai tay Hĩm co kéo. Hĩm, nước mắt chứa chan cố sức kéo giựt lại, như con bò non biết trước người ta đem đi đâu, cố cưỡng lại chốc lát.

Cụ lý ngồi trên sập, gọi bà lý lại bảo:

- Chị vào khuyên nhủ con chị, chứ để nó làm thế thì mang tiếng cả họ. Chẳng gì bố nó cũng là một ông lý cựu và chú bác nó toàn là hang chức dịch cả.

Bà lý nét mặt thảm đạm, vào trong buồng. Bà vừa lấy vạt áo lau nước mắt con, mắt bà cũng đẫm lệ, vừa tỉ tê nói nhỏ:

- Con ơi! Số phận con thế thì bu biết làm thế nào! Con nghe bu, con đi về với ong nghị (bà ngượng không dám dùng tiếng chồng). Nhà người ta hiếm hoi... Rồi nhờ trời, con cũng được sung sướng. Bu thấy con khổ, bu cũng đứt từng khúc ruột...

Được mẹ dỗ dành, Hĩm bớt tủi, ngoan ngoãn theo hai bà thím bước ra thềm, xuống sân, đi lẫn vào đám đông, mặt cúi gằm, một tay cầm vạt áo đưa lên lau nước mắt. Hĩm đành nhẫn nhục chịu đựng hết nỗi khổ. Mẹ Hĩm đứng cổng nhìn con mỗi lúc một xa, cặp mắt ngơ ngác như con bò mẹ vừa bị người ta bắt mất con. Trông bà thiểu não ái ngại chẳng kém gì cái Hĩm.

Bà đứng thừ ra như thế không biết bao nhiêu lâu. Lúc trở vào thì họ hàng, khu xóm đã tản mát gần hết, chỉ còn Vót với vài người thân thích ngồi lại. Trông thấy họ, bà cực thân, ngồi gục mặt xuống khóc nức nở. Các bà xúm lại khuyên:

- Bác chả nên buồn làm gì thêm yếu người. Trẻ đứa nào lớn lên rồi chả đi lấy chồng. Mình giữ được mãi chúng nó ở nhà hay sao? - Duy có Vót là biết nỗi đau khổ của bà.

Suốt ngày hôm ấy, bà chẳng buồn mó tay vào việc gì, ngồi lặng trên ngưỡng cửa nghĩ ngợi. Ông lý vớ được hại chục cheo và dăm chục bạc, tiền của nghị Ích và bà chánh Bút đưa cho, đã tìm đến lăn lộn trong đám bạc. Hai đứa trẻ thấy mẹ không vui cũng lẻn ra đường ra quán nô đùa. Cái Sồi lủi thủi làm dưới bếp. Ba gian nhà lạnh lẽo vắng tanh. Chiếc khung cửi bỏ không càng nhắc bà nhớ đến đứa con yêu quý. Chốc chốc hình như có sức mạnh gì ở đáy tim đưa lên làm cho bà thổn thức khóc nấc lên và kể lể nỗi khổ một mình như người điên.

Cả đêm bà không ngủ. Bà nằm nghĩ liên miên, nghĩ đến thời bà còn trẻ. Bà chợp mắt. Một cảnh đám cưới diễn ra trước mặt bà như một phim ảnh: Một tràng pháo nổ ran. Nàng dâu sau bao nhiêu lời giục giã, bẽn lẽn bưng tráp trầu sơn son vẽ vàng mới tinh ra đứng nép sau một bà đứng tuổi. Nàng mặc toàn đồ mới, chiếc khăn nhiễu tam giang mới, chiếc yếm trắng mới, chiếc áo the mới mặc ra ngoài chiếc áo lụa đỏ mới, chiếc dây lưng thiên lý mới và chiếc váy lụa mềm mới. Nàng xấu hổ cúi gằm mặt xuống và đi theo bà kia để bà đỡ lời nàng mời trầu hai họ. Những câu chúc tụng, cợt giễu của họ làm nàng mặt đỏ bừng như quả hồng quân. Mời xong, nàng đặt tráp trên bàn rồi chạy thọt vào buồng đợi chốc nữa các người lại giục giã nàng về nhà chồng.

Nàng chưa biết rõ mặt chú rể. Nàng chỉ nghe thấy người ta nói: chú rể thấp bé hơn nàng, khiến nàng không được thỏa lòng lắm. Nhưng lúc ấy vì xấu hổ, vì bỡ ngỡ, vì sợ hãi, nàng chẳng nghĩ gì cả...

Lại một tràng pháo nổ. Nàng bẽn lẽn bưng tráp trầu trên phủ vuông nhiễu đỏ, bước ra khỏi cửa buồng, đi chen vào giữa bọn người chị em bằng trạc tuổi nàng. Bốn chiếc nón nghệ trắng ngà che nghiêng bốn mặt như không muốn cho những kẻ phàm tục nhìn thấy mặt nàng... Đến nhà trai, họ đưa thẳng nàng vào căn phòng sạch sẽ. Nàng ngôi trơ trọi một mình trên chiếc giường màn mới, trong khi ở ngoài, hai họ ăn cỗ, uống rượu, chuyện trò ầm ĩ. Chốc chốc lại một tràng pháo nổ mừng... Đó là đám cưới bà.

Cảnh tưng bừng tốt đẹp ấy vừa diễn xong thì một cảnh khác tiếp liền, một cảnh ghê gớm và bi thương. Một ông già dữ tợn chống gậy quát vang nhà. Hai người đàn bà cầm hai tay người con gái kéo. Người con gái, nước mắt chan hòa, cố sức kéo lại. Tiếng khóc hòa lẫn tiếng kêu thảm thiết, ông già ác nghiệt quá quát luôn mấy tiếng: Người con gái sợ hết hồn, nhẫn nhục theo sau bọn đàn ông hùng hổ như bọn cướp...

Bà lý giật mình tỉnh dậy uất lên, nức nở khóc. Một lúc lâu, bà lau nước mắt, nước mũi, thở dài mấy cái rồi kêu lên như muốn trút hết nỗi đau khổ ra ngoài: "Ối giời ối là giời ôi! Nhục nhã khổ sở cho con tôi".

Chương IV

Cưới Hĩm đã được hơn năm trời mà bà lý vẫn chẳng biết tin tức gì về con. Bà đã nhờ một người trong họ làm thư ký viết hộ bà lá thư gửi hỏi thăm ông nghị, bà nghị và nhờ ông cho biết cái Hĩm của bà. Nếu bà biết chữ, viết lấy được, bà sẽ kể lể nỗi khổ tâm của bà, bà sẽ ngỏ lời van lơn ông nghị, bà nghỉ một cách thống thiết để họ rủ lòng thương bà mà thương đến con bà. Bà không dám thổ lộ tâm can sợ người ta chê cười.

Nhiều lần đi chợ, bà con gặp hỏi han đến Hĩm: "Cô nghị lâu nay không thấy về chơi nhà. Cô nghị vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? Bao giờ bà lên thăm cô nghị?"

Bà đáp một cách ngượng nghịu: "Cám ơn bà, cháu nó vẫn được mạnh". Và bà nhớ đến Hĩm, thương hại Hĩm, lắm lúc bà rơm rớm nước mắt.

Đã ba bốn lần bà định lên chỗ ông nghị để biết rõ tình cảnh con. Bà đã hỏi thăm đường lối cặn kẽ, nhưng bà còn ngần ngại đường sá xa lạ. Cái thư bà gửi lên thăm ông nghị, bà nghị hơn tháng nay rồi mà vẫn chẳng thấy ông bà trả lời. Bà nóng lòng sốt ruột, nghĩ thầm: "Thế nào mình cũng phải đi mới được. Cứ thế này mãi thì chẳng còn làm được việc gì". Bà nghĩ, rồi bà cả quyết chọn ngày đi cho được mọi sự may mắn.

Ngày hai mươi bốn tháng Tư, một ngày nên ra đi, cầu xin, dâng lễ, buôn bán; bao nhiêu việc nên làm trong ngày ấy cùng hợp với ý định bà. Bà dậy thật sám bảo ban mọi việc, dặn cái Sồi coi nhà. Bà lấy ở đáy quả ra một bộ quần áo mặc Tết. Bà không dám ăn mặc luộm thuộm, sợ có ảnh hường xấu xa đến con bà. Bà gọi thằng Chút ra đứng đón cổng để được gặp trai, rồi cắp cái rổ trên phủ cái vỉ mới, ra đi. Một bà đi chợ tươi tỉnh hỏi:

- Bà lý đi đâu mà thắng bộ đẹp thế?

Bà lý trả lời niềm nở:

- Thưa bà, tôi lên trên ông nghị thăm cháu.

- Bà lý lên thăm cô nghị đấy à? Đem quà về cho bà con với nhé!

- Vâ... âng!

Mặt trời chưa xuất hiện. Ánh hồng phơn phớt sau làn sương nhẹ như khói tỏa. Trong các khóm cây xanh mát, những tiếng chim đua hót như đón chào.

Đến đầu làng, bà rẽ xuống bờ ruộng đi tắt cho gần. Bà nhớ lại ngày còn trẻ, đi lễ Phủ Giầy với bọn chị em, bà cũng rẽ xuống con đường này. Độ ấy tâm hồn bà còn thảnh thơi, đầy mộng tưởng, dễ vui, dễ cảm xúc với cảnh vật. Bà còn là một cô gái lanh lẹn, cắp cái thúng con xinh xắn vừa thoăn thoắt bước vừa đùa giỡn với lũ chị em tinh nghịch. Bà cảm thấy thời già đi chóng quá, tưởng như vừa mới độ nào. Bây giờ bà đã có tuổi, đã trải bao nhiêu lo lắng, khổ nhục, đã dùng bao nhiêu nỗ lực, tâm trí để gây dựng giang san nhà chồng. Cặp mắt bà đã kém sáng, nét mặt bà kém tươi, cử chỉ bà nặng nề, bước đi bà chậm chạp. Phong cảnh đồng áng man mác chung quanh không còn làm rung động tấm lòng khô héo của bà nữa. Bà lủi thủi bước một trên các bờ ruộng. Thỉnh thoảng một con cò bợ kiếm ăn dưới khe lúa thấy động, vụt bay. Bà đưa mắt nhìn theo cho đến khi cái điểm trắng lần khuất vào một khóm tre gần đấy. Bà buồn rầu nghĩ đến Hĩm vừa lớn lên đã phải xa nhà xa cửa, đem tấm thân non nớt đến hầu hạ người ta. Bà tưởng tượng những cách hành hạ ác nghiệt của vợ cả, những lúc con bà ẩn vào một xó khóc rưng rức và chắc lúc ấy không khỏi oán giận bà. Thì chính lúc này bà cũng đương oán giận bà vì quá nhu nhược với họ nhà chồng để đến nỗi con bà phải lâm vào cảnh lẽ mọn. Bà thở dài, đổi chiếc rổ sang cánh tay trái: "Mình rõ lẩn thẩn. Biết đâu rằng nó khổ". Bà nhớ lại những lời bà chánh Bút: "Bà nghị hiền lành, ông nghị tử tế, hai cô con gái dễ bảo". Nhưng lương tri bà bắt buộc bà không thể tin được những lời ngọt ngào, xảo quyệt ấy. Phải, mụ mối có mấy khi nói thật. Bà cắm đầu, vừa đi vừa nghĩ liên miên, lúc ngửng lên thì quán nước trên vệ đê đã sừng sững trước mắt. Bốn năm anh xe đứng vắt chéo chân, đôi càng chổng ngược lên trời, chào khách:

- Bà đi xe tôi kéo.

Bà lý, trước ngày đi, đã hỏi giá xe cẩn thận. Bà bước lên đê đứng mặc cả:

- Hăm nhăm xu lên quán Cháy, có đi không?

Bà định trả ba hào, nhưng cũng như mặc cả thức ăn, bà nói bớt đi năm xu để bọn xe thêm lên thì vừa.

Một anh xe bĩu môi, nói giọng khinh bỉ:

- Hăm nhăm xu đây lên quán Cháy! Bà thử trả ngay bốn hào xem chúng tôi có buồn đi không.

Tuy vậy, cả bọn cũng lẽo đẽo theo sau, nài giá.

- Hăm nhăm xu đấy, có đi thì đi.

Vẫn anh ban nãy, cười nhạt, trả lời hỗn xược:

- Hăm nhăm xu thì xin mời bà đi bộ cho dẻo chân.

Bà lý chưa trả tăng vội, vì bà còn muốn tạt vào chợ mua con cá làm quà ông nghị bà nghị.

Lúc vào khoảng tám giờ. Chợ chưa đông lắm. Bà đi đến một hàng cá, cúi xuống mặc cả con vược. Con cá không được to nhưng mà tươi. Bà ưng ý lắm, nghĩ thầm: "Con cá này, ông nghị bà nghị hẳn bằng lòng". Bà đã mặc cả từ tám hào lên đến đồng hai rồi mà chị hàng cá chưa buồn bán, cứ nằng nặc đòi đồng tư. Bỗng một bà ở đâu đến trả tăng lên năm xu, mua tranh. Bà lý tức mình, trả cao hởn bà kia hai xu nữa. Hai bà sắp sửa thành đôi co thì chị hàng cả bằng lòng bán cho bà lý đồng ba, lấy cớ rằng bà ta mặc cả trước.

Bà ra khỏi chợ, nhắc vỉ lên ngắm lại con cá. Bà lẩm bẩm một mình: "Kể thì đắt năm xu, nhưng mình mà không vội trả tăng lên thì con mẹ nó mua tranh mua cướp mất, còn đâu. Không biết cái con mẹ nào mà đành hanh, quạ mổ thế! Dáng chừng nhà giàu!"

Nếu bà không phải mua làm quà thì không khi nào bà chịu trả đến giá ấy.

Ra đường cái, bọn xe lại châu vào đón chào. Một anh khác ban nãy lải nhải:

- Bà trả thêm chứ hăm nhăm xu rẻ quá, chúng cháu không thể kéo được.

- Thì thêm hai xu nữa là hai hào bảy đấy, không đi thì thôi. - Bà vừa nói vừa cắp rổ vờ đi thẳng.

Anh xe lẽo đẽo theo sau. Cả bọn nối đuôi, lững thững như đi bách bộ. Anh trên đi sát vào bà lý đặt đôi càng xuống, nói bằng một giọng quả quyết:

- Thôi thế nhất định giá ba hào, bà không đi thì cháu cũng chịu!

Bà lý thấy đúng giá mình định, bèn bước lên xe ngồi. Anh xe vừa nhấc đôi càng, sắp kéo thì anh ban nãy nắm cánh tay giữ lại:

- Mày có để ngay xuống không? Ông mời người ta từ trước.

Một anh lực lưỡng to béo chạy lại can thiệp:

- Ai bảo mày không nài thêm? Anh em cùng nghề với nhau mà động một tí là giở ngay cái lối bắt nạt!

Cả bọn cùng có vẻ bằng lòng, vì xưa nay họ vẫn ghét cái thói du côn, ăn hà ăn hiếp của anh kia. Họ thì thầm với nhau: "Khốn cu cậu còn muốn bắt chẹt người ta kia!"

Anh xe được anh nọ buông tay, gò lưng ra đằng trước, kéo, rồi đều chân chạy, tai còn vẳng nghe thấy tiếng dọa nạt:

- Về ông giã cho thành tật!

Như đáp lại câu ấy, anh xe vừa chạy vừa phàn nàn với bà lý:

- Bà xem, nó chỉ bắt nạt người hiền lành như chúng cháu. Hôm nay không có bác Tuất thì ít ra bà cũng phải trả tới bốn hào... Mà rồi nó có đi đâu, nó lại để cho thằng oắt con ngồi đợi trong hàng nước lấy nửa tiền. Thành thử nó ăn không một nửa.

Bà lý trả lời lại. Câu chuyện tâm sự của hai ngươi bắt đầu từ đấy. Anh xe biết bà lý có cô gái cả gả làm lẽ ông nghị Thịnh Cầu, cô gái thứ hai, lỳ lỳ suốt ngày, thằng trai lớn gầy gò và hay đánh lú, thằng trai nhỏ khỏe mạnh nghịch ngợm như thằng quỷ. Anh ta biết cả ông lý ham mê cờ bạc, thường lấy trộm tiền của bà đi nướng xóc đĩa.

Trái lại, bà lý biết anh xe có bà mẹ già bán hàng nước ở đầu làng Tiên, biết vợ anh ta gánh rau muống đi chợ bán, và đến mùa thuốc lào đi bắt sâu, bẻ ngạch, rửa "nhờn" thuê. Bà biết anh ta có đứa con gái lớn toét mắt và thằng bé lên ba, mắt lúc nào cũng đầy rử...

Xe đi được một thôi dài, hai người lại bắt đầu vào chuyện. Anh xe, mồ hôi mồ kê đầm đìa mà vẫn giòn chuyện như thường. Anh ta nói:

- Chúng cháu làm chỉ đủ ăn thôi, bà ạ. Bà tính không phải đi vay đi mượn là tốt... Nhưng mà từ rằm tháng Chạp cho đến tận cuối tháng Ba thì phát tài lắm, bà ạ. - Anh ta nghỉ mộr lát để thở và để lau mồ hôi ròng ròng trên trán - Có ngày cháu kiếm được hai đồng... Trừ thuế má, trừ ăn tiêu đi rồi cũng còn được hơn một đồng.

Bà lý ngồi lắc lư trên xe (vì đường gò ghề tuy có lát đá) trả lời:

- Khá lắm nhỉ. Sao không dành dụm để bà cụ và chị ấy làm cái vốn buôn bán?

- Khốn nhưng ai đánh bạc cho.

Bà lý ngạc nhiên:

- Chị ấy à?

- Cả cháu lẫn nhà cháu. Cháu được lời ra bao nhiêu thì tét vào xóc đĩa với thò lò. Còn nhà cháu có đồng nào thì chỉ sang hàng xóm đánh chắn. Có lần cháu đã nắm tóc nó kéo từ bàn chắn về nhà giã cho một trận nhừ tử thế mà đâu vẫn hoàn đấy.

Bà lý thương hại người vợ thở dài nói:

- Tội nghiệp! Ai lại nỡ đánh đập người ta thế. Sao không lấy lời mà bảo ban người ta có hơn không?

- Cháu bảo ban mãi chẳng được... Chồng đã chẳng ra chồng, vợ lại cũng chẳng ra vợ. - Anh xe nói đã có dáng nhọc mệt. Bà lý thấy vậy, thôi không hỏi chuyện nữa. Bà ngồi tựa lưng vào thân xe cứng nhắc, thiu thiu ngủ... Bỗng một bánh xe vấp phải hòn đá, nhảy lên đập xuống. Bà lý giật mình, mở choàng mắt. Bà nhìn trước mặt hỏi:

- Có phải cầu Mục kia không bác? - Bà mang máng nhớ lại ngày đi Phủ Giày, bà đứng trước một hàng nước ngay đầu dãy đón ô-tô đi Nam. Câu chuyện ngớ ngẩn của bà khi xưa lại làm bà nhếch mép tủm tỉm cười.

- Vâng, cầu Mục đấy. Từ đây rẽ lên quán Cháy còn độ hai cây nữa thôi.

- Hai cây nữa thôi? - Bà ngồi trầm ngâm nghĩ đến con gái, đến gia đình ông nghị mà bà phác họa trong tưởng tượng. Phong cảnh tốt tươi dưới ánh nắng của bầu trời xanh ngắt, những tiếng chim cu gáy từng hồi trong những khóm tre râm mát, những tiếng mục đồng hát trên mình trâu, cả những tiếng động của chiếc xe lắc lư trên con đường đầy hố cũng không đủ làm cho bà ra khỏi những ý nghĩ ám ảnh...

Bỗng anh xe ngả người ra đằng sau hãm đà xe lại:

- Quán Cháy đây rồi.

- Đến rồi à?

- Vâng.

Anh xe đặt đôi càng xuống vệ đường ngồi, lấy khăn tay nâu vắt vai lau mồ hôi đầm đìa trên mặt, trên cổ, trên cánh tay. Bà lý móc cái túi vài giắt trong dây lưng, đếm trả tiền. Anh xe vừa cầm nón quạt vừa ngửa tay nài thêm vài xu uống nước. Bà lý đãi thêm một xu rồi hỏi đường lối vào nhà ông nghị.

- Bà cứ đi thẳng con đường này vào tận giữa làng, thấy cái nhà gác mới làm là nhà quan nghị đấy. - Nói xong, anh xe đi vào ngồi trong quán Cháy uống nước, hút thuốc và chốc nữa, đỡ mệt, sẽ làm dăm ba xu bún riêu.

Trời đã gần trưa. Ánh nắng chói lọi và nóng bức. Cảnh đồng áng tẻ dần. Người và vật nghỉ mát dưới những gốc đa hay những khóm tre. Một vài bà đi chợ về, mỗi bà đội hai cái thúng đại chồng lên nhau đầu lót vỉ, hai tay vung va vung vẩy, luôn miệng nói chuyện chồng con. Bà lý dẫn bước, đi cạnh một bà, hỏi thăm nhà ông nghị lần nữa cho chắc chắn. Bà kia cũng trả lời tương tự như anh xe và hỏi lại:

- Bà hỏi nhà ông nghị có việc gì? Ý chừng bà đến vay mượn hay khắt nợ chăng?

- Không ạ, tôi đến thăm ông nghi bà nghị. - Bà chưa dám hỏi thăm cái Hĩm củ bà, sợ thất vọng. Bà không muốn chóng đến nơi vì bà đương phân vân, không biết ông nghị bà nghị sẽ tiếp đãi bà thế nào. Lãnh đạm hay niềm nở? Bà sẽ xử trí ra sao? Nên vồ vập, thân mật như người nhà hay phép tắc giữ gìn như người khách lạ? Con gái bà thì chắc là mừng lắm rồi. Chắc thế nào cũng níu lấy áo bà hỏi thăm rối rít. Hơn năm trời cô bé xa nhà xa cửa còn gì. Rồi lúc vắng ông nghị bà nghị, cô chẳng khỏi khóc mếu, phàn nàn về nỗi vất vả, nặng nhọc. Cô gái măng nào mới về nhà chồng chả vậy. Cứ tự suy xét về bà khi xưa thì biết. Nhưng bà sẽ khuyên con ăn ở cho phải đạo, hết mực chiều chuộng bà nghị. Bà sẽ cố lấy lòng bà nghị! Cho được thế, bà phải nấc nỏm khen bất cứ cái gì thuộc về bà nghị. Bà phải mắng và chớ khen con ngay trước mặt bà nghị...

Đến ngã ba, bà lưỡng lự, không biếc rẽ lối nào. Bà ngơ ngác nhìn chung quanh... Chợt thấy một ngôi nhà gác mới làm vững chãi, chắc chắn như cái "lô-cốt" nhô lên khỏi những mái ngói, mái tranh như một anh cao lênh khênh đứng giữa những anh lùn. Bà đoán chắc là nhà ông nghị. Không cần hỏi ai, bà cứ việc đi thẳng, lấy ngôi nhà gác làm đích, rẽ vào xóm, qua hai cổng gạch cánh cửa lim. Bà tấm tắc khen thầm: "Kiên cố thật! Ngay nhà cụ huyện làng mình cũng chẳng được kiên cố như vậy". Bà đi men theo một dãy tường cao chót vót cắm tua tủa những mảnh chai. Nếu bà đã biết nhà hỏa lò ở Hà Nội, tất bà sẽ đem nhà ông nghị của bà ra so sánh với nó. Đến cái cổng đẹp hơn, bà dừng bước. Đối cánh lim rắn như sắt, đóng kín mít, bà không nhìn vào được. Bà còn đương phân vân không biết có nên gọi hẳn tên cái Hĩm thì một bọn thợ cấy đi lại. Bà hỏi một người trong bọn:

- Này bác, có phải nhà ông nghị đây không?

Người kia đứng lại. Cả bọn thấy người lạ cũng tò mò đứng dừng lại nghe. Người kia trả trả lời:

- Phải, nhà ông nghị đấy. Ý chừng bà đến vay mượn, phỏng?

- Không! Tôi đến thăm ông nghị bà nghị.

- Gọi cổng nhà ông nghị khó lắm cơ, bà ạ. Bà cứ réo thằng Quýt lên. - Nói rồi người ấy và cả bọn cùng đi thằng. Bà lý gọi réo hôi lâu; đàn chó thấy động sồ ra sủa. Thằng Quýt hé cửa ra nhìn, hỏi:

- Ai?

- Tôi đây, cậu ạ.

- Tôi là ai?

- Cậu vào bẩm với ông nghị bà nghị mẹ cái Hĩm có con cá vược tươi lắm đến thăm ông bà. - Bà tủm tỉm cười, cho con cá vược tươi của bà có sức mạnh đưa bà đến ông nghị bà nghị một cách dễ dàng.

Thằng Quýt đóng sập cửa lại rồi biệt tăm không ra nữa. Bà đứng ngoài đợi đã thấy chồn chân, mỏi cả hai gối. Chốc chốc bà lại nhắc: "Quái! Dễ hắn không vào bẩm với ông nghị. Muộn lắm rồi còn gì". Bà nhắc vỉ. Con vược tươi đã thấy kém tươi. Sau cùng bà đứng réo tên cái Hĩm mãi cũng chẳng ai thưa. Bà uất lên tận cổ, ứa nước mát, chửi thầm: "Cha con đẻ ra mẹ nó, chứ nó lại khinh bà à!" Bà buồn thiu trở về. Đến chỗ chị bán dầu hôi, kim, chỉ ngay vệ đường, bà ngồi xuống mua một cái kim và dăm con chỉ để lấy cớ làm thân.

Bà tỉ tê hỏi:

- Bác có biết cô Hĩm, vợ lẽ ông nghị không nhỉ?

- Nàng hầu đấy chứ có phải vợ lẽ đâu. Tội nghiệp nhà chị ta. Con người đon đả, đẹp đẽ thế mà chịu vùi thân vào cái nhà ấy. - Chị hàng dầu hạ giọng, thì thầm - Bà không biết chứ con mẹ nghị ấy ăn thịt người không biết tanh đấy. Nó hành hạ chị ta đến khổ. Thật, tôi tớ còn sung sướng hơn. - Chị ta không để ý đến cặp mắt đỏ heo của bà lý, tiếp luôn - Lại hai cô con gái nhà bà ta mới gớm chứ. Thật hai con nặc nô. Chúng nó xúm nhau vào hành hạ. Tôi đã làm thuê ở đấy, tôi biết, có lần nó túm tóc chị ta xuống rồi cứ đũa cả đánh túi bụi cả vào đầu óc. Ai trông thấy cũng phải thương... Mà chúng nó thì xấu như quỷ, so với chị ta thế nào được...

Bà lý ngồi thừ ra như pho tượng, thỉnh thoảng quay ra đằng sau hỉ mũi và lau nước mắt. Chị hàng dầu biết, nhưng cho là một người đàn bà dễ cảm, hay mau nước mắt. Thấy câu chuyện mình kể có người chú ý, chị ta càng dẻo mồm kể tỉ mỉ từng ly từng tí những cách hành hạ của vợ cả lẫn con chồng. Bà lý thương con quá, không sao cầm lòng được, ứa nước mắt kêu lên: "Trời ơi! Tôi không ngờ con bé khổ sở đến thế!" Rồi không để chị kia hỏi lại, bà cắp rổ đứng dậy chào xong, đi một cách vội vàng hấp tấp, vừa đi vừa sụt sịt khóc, chốc chốc lại đưa vạt áo lên lau nước mắt.

Chị hàng dầu nhìn theo thở dài:

- Mình quên khổng hỏi... Không khéo chính mẹ đẻ ra nhà cô ta cũng nên. Trông khuôn mặt giông giống... Tội nghiệp!

Chương V

Thôi đi cô. Từ ngày cô về nhà chồng chưa đầy năm trời mà cô tiêu của tôi bao nhiêu rồi. Tôi phải cho cô cả từ cái bát mẻ trở đi. Bây giờ tôi chả còn gì để nuôi không vợ chồng cô mãi được.

Sồi vốn ít mồm ít miệng, ngồi thừ ra một lúc lâu rồi thong thả buông từng tiếng một:

- Ai bảo bu gả con vào chỗ nghèo.

Bà lý cũng ngồi thừ ra nghĩ ngợi.

Từ ngày bà bị hai vợ chồng lão nghị đóng cửa không tiếp, bà uất ức trở về, buồn bã mất tháng trời. Bà đâm ra thù ghét cả chồng lẫn họ nhà chồng. Bà nhất quyết phen này còn đứa gái thứ hai, chỉ gả cho nhà thật nghèo. Ông cụ lý đã khuất núi. Cả họ không còn ai đủ quyền thế bắt nạt được bà. Bà có thể tự ý, muốn gả con cho ai thì gả. Vì thế, cữ tháng Mười năm kia có người đến làm mối cái Sồi cho con trai bà lý Thịnh, bà ưng ngay.

Bà lý Thịnh góa chồng đã lâu. Nhà chồng bà cũng ba bốn đời chức dịch như nhà chồng bà lý, nhưng nghèo, nghèo quá, không một thước vườn, không một thước ruộng, cả đời chỉ ăn vay với thuê ruộng đọ. Mùa đến, bao nhiêu thóc gặt về chỉ đủ trả vốn lời rồi bắt đầu lại ăn vay cho đến mùa sau. Cũng như Vót, vợ xã Khoan, bà lý Thịnh có cái lời đi chợ. Nhưng vì ít vốn nên lãi chẳng được mấy, đủ mua đồ ăn thức mặc cho con cái là khá lắm rồi. Thằng con thứ hai bà nhờ ông chú buôn bán ở phố huyện nuôi cho ăn đi học, đã đỗ được cái bằng sơ học Pháp Việt. Rồi vì nghèo, không có tiền theo học nữa, chịu vô nghề nằm nhà. Chính là chồng cái Sồi bây giờ.

Chẳng may mùa hè mới rồi, bà lý Thịnh chết về thời khí. Người con cả, một anh canh điền, với ít chữ nho trong óc, với cái tính cố hủ ương gàn, chiếm lấy ngôi nhà thờ. Chiếc nhà ngang lụp sụp, tối tăm phần hai vợ chồng Sồi. Còn nhà bếp, hai gian nhà tre xiêu vẹo, cáu đen mồ hóng và bụi bám, mạng nhện chăng đầy thì hai nhà chung nhau thổi nấu. Vì thế mà sinh ra lắm chuyện rắc rối, cãi cọ om sòm.

Sồi vẫn giữ cái tính lỳ lỳ. Chị dâu cả thì chua ngoa, lắm mồm lắm miệng, ích kỷ, cay nghiệt. Chị ta chỉ muốn đuổi hai vợ chồng Sồi đi để chiếm lấy cả ngôi nhà. Không mấy ngày là không có những lời bóng gió, những câu chửi cạnh vì một cớ nhỏ nhen. Lúc thì chị ta đổ một cách gián tiếp cho Sồi ăn cắp cà nén, lúc thì chị ta kêu mất khúc cá kho, mớ hành, mớ tỏi khô gác rành bếp. Những câu chửi: "Cha con bà nó chứ!..." hoặc, "mớ đời nhà nó chứ...", luốn luôn xuất ở cái mồm ngoan ngoạc của chị ta. Rồi chị ta thêm một câu: "Còn có ai vào đây nữa!" để ám chỉ Sồi. Bao nhiều những lời thô bỉ như thế hắt vào lỗ tai Sồi không biết bao nhiêu lần mà Sồi vẫn lỳ lỳ, chẳng nói chẳng rằng, chẳng buồn cãi vã.

Lắm lúc chồng Sồi tức quá, cãi lại chị dâu. Tức thì hai bên đôi co, tiếng ra tiếng vào, ầm nhà. Có khi to tiếng đến nỗi cả xóm đổ đến xem đông. Ai cũng có ý ghét người dâu cả. Có người lúc trở về, lẩm bẩm: "Chả ai như chị Mẫn (tên chồng Sồi là Mẫn). Con mẹ chua ngoa, độc ác thế mà chị ấy nhịn được. Cứ túm ngay lấy tóc nó mà giã cho nó một trận để cánh mình xúm vào đánh hôi có được không".

Tất thế nào anh cả bênh vợ cũng chạy lại, giở đạo đức Khổng ra mắng át em đi. Không thế cũng rầy. Không thế thì tránh sao khỏi những lời dằn vặt, đay nghiến, những lời khiêu khích, xỉa xói của vợ trong buồng kín...

Bà lý ngồi thừ ra nghĩ ngợi hồi lâu rồi buồn rầu đáp lại lời con gái:

- Nghèo thì nghèo, vợ chồng cô cũng phải tìm công việc mà nuôi nhau chứ. Bám vào tôi mãi được sao!... Rồi tôi già, tôi chết. Lúc ấy cô bám vào đâu? Cô xem, cứ gì mình cô, bao nhiêu người nghèo mà họ cũng kiếm được miếng mà ăn đấy nhé. - Nói rồi bà ôm má thở dài.

Sồi ngồi trên ngưỡng cửa, hai tay vẩn vơ vuốt tóc. Một lúc lâu nó mới há được mồm ra nói:

- Bu giúp chúng con một bận này nữa thôi... Nhưng bận này bu giúp chúng con hai chục.

Bà lý giương to cặp mắt ngạc nhiên, hỏi:

- Trời ơi! Hai chục! Cô định tôi bán cả vườn, cả ruộng đi mà cấp cho cô nữa hay sao? Thôi thôi, tôi xin cô. Cô làm khổ tôi vừa vừa chứ!

Sồi vẫn thản nhiên. Như để đợi cho mẹ bớt khổ, nó ngồi ỳ ra mãi rồi mới cất tiếng:

- Nhà con định đến tháng Bảy này cùng con lên tỉnh, mở hàng cơm cho học trò trọ. Nhà con bảo: nhà con sẽ dạy tư thêm thắt vào và chắc thế nào cũng đủ tiêu, không phải quấy quả bu nữa. - Sao hôm nay Sồi lại nói được một thôi dài như vậy. Ý chừng, cô đã nghe chồng cô dặn và nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Bà lý hết ngạc nhiên, hạ giọng:

- Ừ, anh ấy nghĩ như thế cũng phải. Tội gì cứ chịu lủi thủi ở xó nhà mà hứng lấy những lời đay nghiến tục tằn của chị dâu! - Nghĩ đến người dâu cả nhà ấy, bà lại tức giận thốt ra ngoài miệng. - Cái con mẹ nói lắm mồm lắm miệng, tai ác làm sao! Thế mà mày chịu nhịn được! - Và bà lấy làm lạ, không bao giờ thấy Sồi phàn nàn với mình về việc ấy. Bà trở lại thương Sồi mà quên hẳn cái tính lỳ lỳ, chậm chạp của nó. Bà đổi sang câu chuyện tiền nong ban nãy hỏi:

- Chồng mày tiêu gì mà hết những hai chục cơ?

- Nhà con bảo: phải trả tiền thuê nhà... phải sắm vài cái giường cho học trò nằm... phải bỏ ra dăm sáu đồng đong gạo thổi nấu, mua đồ ăn thức đựng.

- Thức đựng: nồi niêu bát đĩa, này khác, các cái có sẵn cả rồi đấy nhé. Anh chị cứ việc đem cả lên mà dùng. Lại còn định để lại cho cái con mẹ tai ngược ấy nữa hay sao?

- Có chứ... Nhưng cũng phải hai chục nữa mới tùng tiệm đủ... Là nhà con bảo vậy.

Nghĩ ngợi, đo đắn, suy tính chán rồi bà lý mới đứng dậy mở khóa hòm gian, kỳ cạch hồi lâu. Đoạn bà cầm cuốn bạc đưa cho Sồi.

- Đây, tôi cũng liều giúp vợ chồng cô bận này nữa. Chỉ bận này nữa thôi đấy nhé. Tôi bảo thật, cố mà làm, mà ăn, hà tặn hà tiện để dành để dụm về sau còn con còn cái. Tiêu hết đi rồi lại về nặc tôi nữa thì đừng có hòng. Tôi bảo thật đừng có hòng.

Sòi lẳng lặng nhét cuộn bạc vào hầu bao rồi chậm chạp bước ra cổng. Bà lý bước theo, gọi giựt lại:

- Này con, bu có thương thì bu mới bảo. Con cố chịu khó mà làm ăn nhé! Phải tần tảo chắt bóp từng tí thì sau này mới khá, con ạ. Được cái chồng con nó hiền lành bu chắc nó cũng chằng chơi bời gì. Thôi thì... nghèo yên phận nghèo, con ạ, đừng đói rách thì thôi. Bu dặn đi dặn lại có thế thôi. Con về nhé. Chịu khó làm ăn nuôi nhau. Bu thấy chúng con... vất vả, bu cũng thương.

Bà ngập ngừng sau hai tiếng "chúng con" là vì bà chợt nhớ đến Hĩm, đứa con yêu của bà. Bà thở dài, trở vào ngồi trên phản ôm má, đăm đăm nhìn ra sân...

Một cảnh trưa hè đưa trí nhớ bà trở lại quãng thời xa.

Chồng bà đã có tuổi, đã chán chường với bốn đồng tiền cái, tiếng chơi bời liều lĩnh hầu như biệt tăm, không còn ai nhắc tới. Mỗi bữa hơn cút rượu nhắm với tấm đậu phụ hay khúc cá rán. Nhắm nháp xong, ông ăn vài lưng cơm, ngồi xỉa răng uống nước, hút dăm điếu thuốc lào rồi đi làm một giấc ngủ trưa, hoặc thơ thẩn sang hàng xóm chuyện gẫu với "cụ" xã Khoan hoặc đến "cụ" khán Để làm vài cuộc tổ tôm còm cho qua thời gian nhàn rỗi, hoặc ra đình ra miếu bàn việc thôn việc làng. Hiện giờ có lẽ ông đương ngồi họp việc giáp ở đình. Thằng Quy đã lớn, đi chăn trâu với bọn mục đồng. Thằng Chút học trường làng, ăn uống xong cũng đi nô đùa với bạn bè.

Trong nhà vắng vẻ yên lặng. Một dãy sáu cây cau, cao vót với những chùm quả nhỏ, hai cây chanh cỗi cằn, càng cỗi thêm, da mốc xù xì. Cây hương, tường hoa, bể mới quét vôi trắng xóa, cùng ánh nắng chói trên mặt sân, xói vào trong nhà, làm bà lóa cả mắt. Bà nhớ lại ngày bà còn trẻ chưa có con và chồng bà còn là anh xã nhép. Bà ngồi ngưỡng cửa bắt chấy cho mẹ chồng cũng bằng chạc tuổi bà bây giờ. Mẹ chồng bà mất đã hơn mười năm nay, nhưng khuôn mặt hiện ra rõ rệt như hãy còn. Bà nhớ đến con vện nằm cạnh, một chân giơ lên gãi tai, đùi đập vào thành cửa thình thịch. Bà nhớ lại cả nỗi bực tức của bà về đường con cái làm bà tức lây đến con chó. Bà còn như vẳng nghe thấy tiếng bà quát: "Vện xuống! Xuống ngay!" Những tiếng gà gáy, những tiếng võng đưa kẽo kẹt bên hàng xóm giúp trí nhớ bà thêm rõ rệt, sáng suốt. Cái gái lớn đã đi lấy chồng và đã có con. Bây giờ cái gái em lại thay chị, nằm võng ru cháu. Tiếng nó cũng kéo dài, trong trẻo như tiếng chị. Con chó vện đã già, trụi cả lông đuôi, nằm đắt xó bếp đợi ngày sang kiếp khác. Con nó thay nó lên chức mẹ.

Bà lý buồn. Xưa bà cũng chẳng vui gì. Nhưng cùng với tuổi trẻ, lửa lòng bà còn bồng bột từng lúc, tâm hồn bà còn đầy dẫy những ước vọng. Một cảnh đẹp, một ngày hội náo nức, một sự vui thú cỏn con còn có thể làm cho bà quên được những lúc khổ. Nay lửa lòng bà đã tắt, tâm hồn cùng với xác thịt đã cằn cỗi. Ngày xuân tốt tươi đem lại mầm non lá lộc, cho cả đến những cây cằn cỗi, chỉ còn đem lại cho bà một ít tiếc mến ngày quá khứ.

Bà đứng dậy vươn vai ngáp, rồi thở dài đi lại khung cửi dệt. Tiếng khung cửi lên xuống đều đều càng làm cho mấy gian nhà thêm tĩnh mịch. Dệt mãi cũng chán (ngày xưa bà dệt không chán tay bao giờ), bà gọi con ở lên dệt thay và coi nhà nhân thể. Bà thủng thỉnh sang hàng xóm nói chuyện tâm sự với Vót, một người bạn càng ngày càng thân và cần thiết cho bà mỗi khi bà có sự gì buồn bã.

Đàn trẻ xúm lại, níu lấy áo bà vồn vã. Bà tủm tỉm cười, móc cái túi vải giắt ở dây lưng, cho mỗi đứa một trinh. Chúng nó reo mừng thi nhau chạy ra quán mua khoai. Vót đương lột những tấm lụa mốc vừa cất ở chợ Sóc về phơi trên những chiếc sào đem vào gấp vuốt để mai đi chợ Hộ sớm. Vót quay lại, vui vẻ đón chào và trách:

- Gớm! Bác nuông chúng nó quá. Chúng nó mến bác hơn bà chúng nó là phải. Chả bù với mẹ chúng nó đánh đập chúng nó luôn cả ngày.

Bà lý cười nói:

- Chà thế sao người ta lại có câu hát ví: Bà ơi, cháu quý bà thay, quý bà về nỗi bà hay cho quà.

Rồi đi lại lột giúp Vót những tấm lụa vàng chóe dưới ánh nắng chiều.

Hai người ngồi trên phản gấp vuốt, vừa chuyện trò. Vót bắt đầu nói:

- Này bác, vợ chồng cái Sồi rủ nhau lên tỉnh mở hàng cơm thật đấy à?

- Phải, nhưng chả biết có làm nên trò trống gì hay lại vác người về không. Con bé lầm lỳ chậm chạp như sên, làm ăn vụng thối vụng nát. Thằng chồng thì chân yếu tay mẽm.

- Thì từ thuở bé anh ấy chỉ biết cầm quyển sách... Hình như tôi nghe nói anh ấy định dạy tư nữa, phỏng?... Tôi có thằng cháu lớn con thằng cả, nếu cháu đỗ, đỗ cái bằng gì này, tôi cũng chẳng biết nữa. Nếu nó đỗ rồi tôi cũng cho nó lên trọ học chỗ anh ấy.

- Được thế thì còn gì hơn, nhưng... Chả biết con bé có biết mua bán làm cơm làm nước...

Vót ngắt lời:

- Rồi nó quen đi chứ. Ai vụng bằng cô Tuất con bà hàn thế mà bây giờ cũng khéo rồi đấy.

Hết tấm nọ đến tấm kia gấp vuốt, đặt chồng lên nhau. Mùi tơ mùi bùn, ngây ngấy xông lên. Lũ trẻ đã rủ nhau về. Ngoài sân trở lại huyên náo. Bà lý đổi sang câu chuyện khác, hỏi:

- Tơ độ rày thế nào, hở bác?

- Cao lắm, bác ạ. Mỗi tấm cao hai ba hào... Cao thì lại bán cao, đi đâu mà thiệt. Mà càng cao càng dễ giã nặng. Nghề buôn vẫn thế đấy, bác ạ. Cao một thì họ phao lên mười. Tôi cũng nhờ thế mà bán được lại mỗi tấm ngót đồng bạc.

- Phát tài nhỉ!

- Phát tài thế mà cữ nào người ta rủ đi buôn thì chẳng đi, hay là - Vót vừa nói vừa cười - bị cụ ông cẫm đoán. - Nói thế nhưng Vót cũng thừa biết bà lý độ này gớm lắm rồi, chẳng nhu nhược như trước nữa.

- Chưa muốn buôn thôi chứ ngữ chồng ấy thì cấm đoán được ai. Chào! Nghĩ đến ông ấy lúc nào tôi lại buồn cả ruột.

Vót cười:

- Ông xã nhà tôi thì hơn nữa.

Bà lý cũng cười:

- Thì ông ấy cũng còn được việc ngồi nhà bế cháu ngủ và khéo nấu nước chè, thế chả chán à. Còn hơn ông lão nhà tôi chẳng được việc phải gió gì cả. Động có tiền là đi biệt. Mà đi đâu? Lại xóc đĩa hay tổ tôm chứ còn đi đâu nữa.

Vót bênh ông lý một tí cho có chuyện:

- Không, dạo này khá lắm rồi đấy mà. Tôi có thấy bê tha như trước nữa đâu.

- Ối chào! Chưa đến lúc đấy!... Thử cho ông ấy vài chục xem. Lại không hàng tháng chẳng thấy mặt tôi chớ kể.

Vót cớt nhả:

- Thì ai bảo cứ nuông ông ấy, cho ông ấy nhiều tiền vào. Ý chừng đằng ấy còn muốn...

Bà lý cười, vạt mạnh vào vai Vót:

- Phải gió cái nhà bác này, già mà còn...

Bỗng có tiếng thằng Chút reo từ sân vào:

- Bu ơi bu! Chị Hĩm đã về!

Lũ trẻ đã chạy ra đình thả diều và chơi khăng, nếu không, tất chúng sẽ reo hò theo: "Ha! Ha! Cô Hĩm đã về! Chúng mình sang ăn quà đi!"

Bà lý ngạc nhiên, chưa tin:

- Thật à, con?

- Vâng, thật đấy. Con nói dối bu làm gì. Con đi học về đến cây đa đầu chợ, thấy tiếng chị ấy gọi... Con quay lại, rồi mừng quá chạy ù về bảo bu. - Trông Chút có dáng cảm động vì nó yêu chị lắm. Ngày chị nó lìa nhà ra đi, nó khóc sướt mướt và buồn hàng mấy ngày liền.

Bà lý đứng dậy: "Bác sang với cháu một tí", rồi như người hốt hoảng, theo Chút về, không đợi câu trả lời của bạn.

Thằng Chút vừa rảo bước vừa nói:

- Trông chị ấy gầy lắm, bu ạ.

- Chị ấy gầy lắm à?

- Vâng.

Chưa đầy vài phút bà lại nhắc:"Chị ấy gầy lắm à?" Nhưng trong lòng bà khấp khởi mừng như đứa trẻ về nhận áo mới tuy chưa biết xấu đẹp thế nào.

Hai mẹ con vừa đến cổng thì Hĩm cũng vừa rẽ sang con đường hẻm vào nhà. Chút chạy đến níu lấy áo chị mừng cuống quít. Bà lý đứng cổng đợi. Tim bà đập mạnh, cặp môi và cả thân bà cũng rung động, cảnh vật chung quanh Hĩm như sáng thầm lên, Hĩm lại gần. Bà nói, giọng run run: "Con đã về". Rồi không biết nói câu gì nữa.

Hĩm trông gầy nhiều lắm. Hai má hóp, đôi mắt to và sáng trong vành mắt thâm quầng. Và tiều tụy. Chiếc khăn "xa tanh" đã đổi ra chiếc khăn nâu bã, áo vá nhiều mảnh, hai khuỷu tay rách để lộ hai miếng tròn trắng bằng đồng bạc ở chiếc áo cánh mặc trong. Chiếc quần thâm, có lẽ vẫn chiếc mẹ may cho ngày cưới, rầu rầu tơi ra từng chỗ và có những lỗ nhỏ như gián nhấm. Tuy vậy, tay cắp cái thúng con trên đậy vỉ. Hĩm vẫn còn giữ được dáng đi mềm mại, yểu điệu như xưa.

- Trồng con gầy và xanh lắm.

- Gầy và xanh lắm à, bu?

Rồi ba mẹ con yên lặng vào trong nhà.

Hĩm thơ thẩn hỏi:

- Sồi đâu bu? Vẫn lỳ lỳ và vẫn ghét con như thường chứ?

- Nó đi lấy chồng rồi. Tính nó thế chứ nó ghét gì con. Nó chẳng đổi tí nào, vẫn lỳ lỳ và chậm chạp lạch bạch như con vịt. Nó sắp đi với chồng nó lên tỉnh mở hàng cơm. Chồng nó là thằng Mẫn, con bà lý Thịnh ấy mà.

- Vâng con đi biết, chú ấy hiền lành lắm.

Hai mẹ con ngồi trên phản. Thằng Chút ngồi sát cạnh chị. Hình như nó muốn ướp lấy hơi hướm chị.

Ngồi thừ một lúc, bà lý hỏi:

- Thế nào, con độ rày ra sao? - Câu nói của mẹ như xúc động đến tâm can Hĩm. Hĩm thở dài rồi nước mắt ở đâu tuôn ra. Hĩm gục xuống, ôm mặt khóc nức nở. Ba gian nhà yên lặng. Trong không khí như nhiễm một vẻ buồn kín đáo. Bà lý thương con cũng khóc, tiếng khóc của hai người lây sang thằng Chút. Ngoài sân, chung quanh tối dần và trong nhà càng tối thêm. Trong yên lặng chỉ còn những tiếng sụt sịt, tiếng hỉ mũi.

Mãi sau, bà lý mới nói:

- Thôi con ạ, người ta có số cả. Rồi qua cảnh khó con sẽ được sung sướng. Tội gì mà nuôi cái khổ vào thân cho yếu người. Trông con xanh lắm. Rồi bu mời ông lang Tại cắt thuốc bổ cho con. Tẩm bổ vào rồi có da có thịt, lại người ngay đấy mà.

- Con còn thiết gì cái thân con nữa mà tẩm với bổ. - Hĩm tủi nhục lại nức nở khóc... Rồi hình như nước mắt cũng đã cạn và nỗi khổ theo nước mắt tuôn ra cũng đã nhẹ bớt. Hĩm bắt đầu kể lể từ khi về nhà ông nghị đến giờ.

Cứ mỗi đoạn bà lý lại thở dài, nói chêm vào:

- Con mẹ ác nghiệt thật.. Nó độc ác đến thế là cùng... Thôi, mẹ nào con ấy mà lại... Trời gần lắm con ạ. Rồi cũng có ngày trời sẽ quả báo cho mà xem... Ừ, chị ấy nói thế mà thật.

Hĩm ngạc nhiên, ngừng kể, hỏi mẹ:

- Chị nào thế bu?

- Chị hàng dầu. Cữ đã lâu bu có lên thăm con, nhưng người ta không cho vào.

- Chết thật! Thế mà con không biết.

- Bu có gọi con mãi mà chẳng thấy con thưa.

Hĩm ngồi thừ ra. Nó ngẩn ngơ tiếc. Giá độ ấy nó biết mẹ nó có đến thì dẫu chết ngay nó cũng bỏ về với mẹ nó. Hĩm kể tiếp:

- Con sinh được đứa con trai...

Hĩm tủm tỉm cười.

- Ồ! Thế à!

- Vâng, con sinh được đứa con trai. Mà vì đứa con trai ấy, con lại càng bị bà ta và hai cô hành hạ thêm. Hình như họ muốn tống con đi để cướp lấy thằng bé. - Hĩm không đám thú với mẹ rằng: thằng bé ấy không phải con ông nghị mà là con người nhà ông nghị.

Hĩm đến nhà ông nghị được vài tháng thì bà nghị ghen. Cơn ghen mỗi ngày một mạnh và thanh củi đập vào người Hĩm mỗi ngày một mạnh thêm.

Đêm đến, đêm nào cũng vậy, bà bắc chõng nằm ngang cửa buồng cạnh chồng. Bà bắt Hĩm nằm dưới bếp. Bà cũng chẳng nghĩ gì đến trong nhà có anh xinh trai và có tình ý với Hĩm. Hay bà biết mà bà để mặc cũng nên.

Cách hai tháng sau Hĩm ốm. (Bị hành hạ như thế thì khỏi ốm sao được!) Cả nhà chẳng ai buồn nhìn nhỏ. Hĩm rên, Hĩm mê man. Mặc! Người nào cứ công việc người ấy làm trôi chảy như thường. Ông nghị sợ vợ, thương thầm mà không dám hé răng. Ông đành để mặc cho thời giờ qua. Duy có anh người nhà xinh trai, cố nhiên là săn sóc ngầm đến Hĩm. Anh ta khéo che đậy, khiến cả nhà không ai ngờ. Ngoài miệng, anh ta làm ra không cần, thường nói với hai cô để hai cô bắn tin lên bà nghị: "Kệ mẹ nó! Cho nó chết để khỏi rắc rối trong nhà". Kỳ thực, anh ta vẫn ăn trộm gạo tám - ăn trộm có khó gì! Anh ta giã gạo, lừa lúc vắng, anh ta bỏ vài nắm vào túi, đợi lúc nào rỗi, lẻn sang hàng xóm nấu cháo cho Hĩm. Anh ta đến kê bệnh Hĩm với ông lang rồi bỏ tiền túi ra cân thuốc. Đêm khuya, đợi cả nhà ngủ say, anh ta cặm cụi ngồi sắc. Tang tảng sáng, Hĩm đã có bát thuốc và bát nước chè nóng trước mặt. Hĩm ngửng lên âu yếm nhìn và nhếch một nụ cười với câu cám ơn rất nhẹ nhàng. Anh chàng sung sướng, cảm động quá. Trời ơi! Đôi con mắt Hĩm mới tình tứ làm sao! Miệng cười Hĩm mới có duyên làm sao!

Nửa tháng sau, Hĩm khỏi. Anh chị bắt đầu cảm nhau. Mỗi lần Hĩm bị hai cô đánh túi bụi, anh chàng thương đến rỏ lụy nhưng vẫn cố làm ra mặt thản nhiên, nói: "Phải đấy các cô cứ nện khỏe vào". Anh ta gọi hai cô ra một chỗ nói nhỏ: "Không hiểu sao, tôi trông thấy nó tôi cũng ghét. Nhưng mà, các cô ạ, có đánh thì cứ nhè mông nó mà đánh, chớ đánh vào đầu óc nó mà nhỡ oan gia đấy. Ngày xưa tôi phải đòn nhiều tôi biết, đánh vào mông đau ghê, đau chết người đi được, còn vào đầu vào vai thì chỉ ê lên thôi". Anh ta bịa một chuyện để dọa nạt hai cô: một nhà giàu có lắm, ở ngay cạnh nách nhà anh ta, cầm đũa cả đánh vào đầu con ở, phải chỗ phạm, con ở nằm quay ra chết. Nhà ấy chạy chọt sạt hết nghiệp mà tội vẫn hoàn tội.

Câu chuyện bịa của anh ta có kết quả. Vì không những hai cô, cả bà nghị từ đấy cũng cứ nhằm mông Hĩm mà đánh.

Nhà trên, ông nghị vẫn bị canh riết. Lắm lúc ông phát cáu, nói gắt:

- Bà làm thế thà cứ cho ngay người ta về có hơn không?

Bà nghị bĩu môi lườm nguýt, vênh mặt lên nói lại:

- Ai bảo đừng!

Anh người nhà được thể, vào phe với bà nghị. Một hôm anh ta ngồi nhặt rau với bà. Cả hai cô cũng đứng đấy. Anh ta tỉ tê tán chuyện: "Bẩm bà, bà làm thế cũng chưa chắc đâu. Có khi bà ngủ quên, ông con lẻn ra được. Con xem ông con mê nhà chị ta lắm". Anh ta cố ý vừa nói vừa nhìn bà nghị. Thấy nét mặt bà ta sầm lại, anh ta tán thêm: "Giá bà để con nằm chắn cửa buồng bếp. Con tỉnh ngủ lắm. Hễ thấy bóng ông con, con cứ kêu trộm ầm lên để bà thức dậy".

Hai cô thích chí, tranh nhau nói: "Phải đấy mẹ ạ, cứ cho hắn canh cửa bếp". Bà Nghị bằng lòng: "Ừ cho mày canh. Hay là - Bà tủm tỉm cười - anh lại muốn tỉ tê với cô nương đấy?" Anh người nhà đỏ mặt tía tai cười gượng, cãi lại: "Chết! Bà chớ nói thế, nhỡ đến tai ông con thì con chết!"

Từ đấy cái buồng chứa nồi, niêu, xoong, chảo, cái buồng tối tăm hôi hám, cáu đen mồ hóng và mạng nhện, đã thành một căn phòng ấm cúng, đầy tình thương. Chẳng mấy đêm là anh chị không tình tự. Trong khi ấy thì ông nghị trằn trọc ở nhà trên, chốc chốc lại dậy uống nước, hút thuốc vặt để nghe những tiếng đằng hắng của bà nghị nằm dài trên chõng...

Bà lý thấy Hĩm ngồi đờ ra nghĩ, tỉ tê khuyên:

- Này con ạ, thế là trời thương, đem phúc lại cho con rồi đấy. Con nên chịu khó, chịu nhục mà nuôi lấy nó. Sau này trời cho nó ra người, con sẽ được nhờ vả nó nhiều. Phúc đức tại mẫu, con ạ. Thôi thì người ta có đánh mắng cũng cứ cố mà nhịn. - Hĩm lơ đễnh nghĩ đâu đâu. Bà lý tiếp luôn - Con ạ, hai cô rồi cũng đi lấy chồng. Không lẽ ở nhà mãi để hành hạ con hay sao? Bà nghị rồi cũng già... tất có ngày nghĩ lại mà thương con...

Hĩm vẫn ngồi ngây, đăm đăm nhìn ra phía cửa. Trời đã sâm sẩm tối. Bỗng ngoài cổng có tiếng lộp cộp, tiếng móng chân trâu nện trên đất rắn. Thằng Quy đã dắt trâu về chuồng. Bà lý đứng dậy:

- Chết chửa, muộn rồi. Dễ từ trưa đến giờ con chưa ăn. Để bu xuống bếp giục con ở làm cơm mau lên mới được. Chẳng biết nó đã hâm lại nồi cá chưa? Cũng may con đấy. Sáng nay bu đi chợ mua được con chép béo quá. - Bà lý nói xong đi vội xuống bếp. Thằng Chút từ nãy vẫn ngồi yên nghe. Nó lấy tay vân vê hết sợi tóc xõa xuống tai chị đến vạt áo, dây lưng. Nó ngắm từng ngón tay nhỏ đẹp của chị nó đặt trên đùi. Hình như nó được ngồi sát cạnh chị nó là đủ, không cần chị phải hỏi han đến.

Hĩm nhô ngực lên, thở dài. Không phải cái thở dài ban nãy, cái thở dài của nỗi khổ thống, mà là cái thở dài khoái lạc, bật ra trong lúc Hĩm nghĩ đến tình yêu nồng nàn, khăng khít của anh người nhà xinh trai. Hĩm trốn về cũng không phải tự ý Hĩm. Đó là mưu kế của anh chàng. Hĩm về rồi chỉ độ nửa tháng nữa là anh xinh trai của Hĩm sẽ tìm cớ bỏ nhà ông nghị để tìm việc trên Cẩm Phả. Mùa gặt này anh chàng sẽ về đón Hĩm. Hĩm chờ đợi.

Chương VI

Mùa gặt tháng năm đã đến, đem lại cho thôn quê một cảnh tưng bừng, rộn rịp.

Tờ mờ sáng, trên các đường làng, trong các ngõ xóm, những thợ làm lũ lượt, bọn năm, bọn bảy, hái buộc bằng những sợi lạt vào đòn xóc vác trên vai, tay áo vén quá khuỷu, quần xắn lên quá gối, để lộ những bắp thịt rắn chắc và đỏ sẫm, vừa đi vừa trò chuyện. Những tiếng cười trẻ trung, những tiếng nói mạnh mẽ vang trong không khí mát. Trên các nóc nhà bếp, những tia khói lam bay tỏa trong sương, quyện vào các khóm tre, khe lá.

Những cô gái quê sắp sửa quang gánh đem cơm cho thợ làm. Nhiều cô trẻ đẹp và hơi có tính lẳng lơ cũng sắp đem những nụ cười tình tứ kèm với những câu vớ vẩn để quyến rũ bọn trai tơ. Vì thế mà sau mỗi mùa gặt lại có những chuyện tình duyên trai gái trong làng. Hết thảy các cô đều hớn hở, náo nức trong lòng duy một mình Hĩm là khác hẳn.

Tâm hồn Hĩm rạo rực, xao xuyến vì nóng gặp anh người nhà xinh trai. Từ ngày trở về quê mẹ. Hĩm sống trong chờ đợi. Chẳng sáng nào là Hĩm không thức dậy với hình ảnh người yêu. Tâm tình Hĩm thay đổi không chừng. Có lúc Hĩm đùa bỡn nghịch ngợm như trẻ thơ, có lúc Hĩm yên lặng ngồi trầm ngâm, có lúc Hĩm tai ác, chòng ghẹo trẻ cho đến khóc rồi cười ngặt nghẽo, có lúc Hĩm cau có gắt gỏng với hết thảy mọi người...

Mẹ Hĩm thấy Hĩm có nhiều tính khác thường, một hôm phàn nàn với Vót:

- Bác ạ, cái Hĩm bây giờ làm sao ấy. Tôi chỉ sợ cứ thế mãi rồi cháu nó thành điên mất.

Vót cười gượng:

- Sào! Cái tuổi mười chín đôi tươi vẫn thế. Chẳng sao cả.

- Ngày xưa bác cũng thế ạ!

Vót cười:

- Cũng gần như thế. - Thực thì Vót cũng cùng một ý tưởng như bà lý, sợ lâu ngày Hĩm thành điên, và đem lòng thương hại.

Nhưng rồi bà lý cũng quen mà chỉ nghĩ đến đời hiện tại của Hĩm. Bà giục Hĩm về với ông nghị, với con. Thoạt đầu Hĩm tỏ ý nhất định bỏ ông nghị, không bao giờ trở lại nữa. Sau thấy mẹ buồn vì mình. Hĩm khất lần, mai rồi lại mai.

Sáng hôm nay, khác hẳn mọi sáng, Hĩm trang điểm cẩn thận, lấy chiếc áo vải đồng lầm với chiếc quần nái mẹ vừa may cho, đem ra mặc rồi xăm xăm ra cổng.

- Đi đâu thế, con? - Bà lý lấy làm lạ thấy con ăn mặc, trang điểm hơn mọi ngày.

Hĩm dừng bước quay lại, tươi cười, nói:

- Con ra xem ruộng nhà lúa đã chín chưa để liệu ngày thuê thợ gặt.

- Ừ, nhưng con có nhớ ruộng nhà không?

Hĩm cười:

- Gớm! Sao lại chẳng nhớ! Mới vắng có ba bốn năm trời mà bu làm như lâu lắm rồi.

Hĩm thoăn thoắt bước mau. Mẹ Hĩm đứng cổng nhìn theo, nhủ thầm: "Trông con bé không đến nỗi vất vả khổ sở thì phải!" Hĩm chau mày mỗi khi gặp người chào Hĩm bằng cô nghị. Đến đầu làng, Hĩm quanh quẩn đi đi lại lại ngóng đợi. Một bà đội thúng đi chợ xã, dừng bước, hỏi:

- Cô nghị đi đâu đấy?

Hĩm không bằng lòng trả lời buông thõng:

- Tôi đi thăm đồng.

Bà kia chỉ tay, nói:

- Ruộng bà lý ở tận đằng kia, sau Văn Chỉ cơ mà. Cô nghị nhầm rồi.

- Thế à! - Bà kia đi, Hĩm cười nhạt nhẽo.

Bỗng một bọn thợ ở xa đi lại. Hĩm chẳng thấy người yêu đâu. Một người quen chào hỏi.

- Cô nghị đi đâu sớm thế? - Hĩm không trả trả lời, nghĩ thầm: "Sao trong làng mình, họ trọng vọng cái chức nghị hờ hững của mình thế! Họ có biết đâu mình không bằng con ở nhà ông nghị". Và Hĩm nhếch một nụ cười đau đớn và chua xót...

Lại một bọn đằng xa, Hĩm đứng đợi với một ý tưởng thất vọng theo sau. Bọn ấy qua, Hĩm dằn lòng đợi bọn khác... cho đến khi trên đường cái chỉ còn lẻ tẻ một vài người đi chợ. Hĩm buồn rầu rẽ xuống bờ ruộng đi về lối Văn Chỉ, thỉnh thoảng ngoái cổ lại xem họa may còn sót bọn nào chăng. Hĩm nhìn qua ruộng nhà một lượt, rồi chán nản trở về.

- Ruộng nhà gặt được chưa, con?

Hĩm cố làm ra vui vẻ, đáp:

- Chưa, bu ạ. Chừng dăm hôm nữa mới chín.

Rồi lảng xuống bếp giúp con ở làm cơm. Ba sáng liền, Hĩm cùng trở về với nỗi thất vọng, với cái vui gượng ngoài mặt. Cả ngày, Hĩm thờ thẫn như người mất hồn, động mó việc gì bỏ dở việc ấy. Mẹ Hĩm chiều con, không trách mắng, nhưng hôm nào cũng giục Hĩm về với ông nghị, để Hĩm lại khất lần: "Xong gặt thế nào con cũng về đằng ấy".

Một buổi chiều, vào lúc sâm sẩm tối, một anh thợ trai trẻ ăn mặc gọn gàng, vác đòn càn với hái đứng cổng gọi: "Có ai trong nhà cho tôi trọ một tối". Hai con chó sồ ra sủa. Hĩm mừng quýnh, chạy vội ra cổng, hai chân díu lại, suýt ngã. Hĩm bật ra một tiếng "anh" rồi tái mặt đi. Hĩm cảm động quá. Anh thợ mặt đỏ bừng, cặp mắt sáng quắc nhìn Hĩm chòng chọc.

Mẹ Hĩm ở trong nhà bước ra, đứng trên thềm hỏi:

- Ai thế, con?

- Bác thợ làm ở trên Hu Trì xin vào trọ một tối đấy, bu ạ.

- Bảo bác ta sang trọ bên bà khán ấy. Nhà có cho ai trọ đâu.

Hĩm nhanh trí bịa đặt để lấy cớ giữ người yêu mong ngóng hằng tháng nay:

- Bu cứ cho bác ấy trọ, bu ạ. Con quen đấy mà. Mấy năm trước bác ấy vẫn gặt ở đằng ông nghị. Nhân tiện nhà còn hai thúng gạo chưa giã, để bác ấy giã thay vào công trọ.

- Ừ cũng được... Bác ấy có giã giúp ít nào thì giã chứ công với xá gì!

Anh thợ trẻ hớn hở đi vào, mồm leo lẻo:

- Được ạ. Cháu giã thì khỏe lắm, cả đêm cũng được, không chồn chân bao giờ. - Anh liếc nhìn Hĩm, nhếch mép cười ranh mãnh.

Hĩm đỏ mặt, cười theo, thì thầm: "Phải gió" và lườm anh chàng một cái rất tình. Trời chập choạng tối, bà lý chẳng biết gì hết.

Đêm ấy, Hĩm ngồi lỳ dưới bếp, vừa sàng sẩy vừa chuyện trò với anh trai trẻ giã gạo. Hĩm cười như nắc nẻ, nói như thánh thán, quên cả mẹ với hai em quanh quẩn gần đấy. Trong trí Hĩm không lúc nào nghĩ đến nỗi ngờ vực của họ.

Những lúc vắng, anh trai trẻ vừa giã vừa kể:

- Từ ngày Hĩm trốn đi, anh ngẩn ngơ nhớ, rồi chưa đây nửa tháng, anh tìm cớ thôi, không làm cho ông nghị nữa. - Anh ta nói thêm về cô em, con ông nghị - Cô em xem chừng cảm mình lắm. Lúc mình ra đi, cô em đứng cửa nhìn theo, thờ thẫn cả người.

Hĩm bĩu môi, chê:

- Xấu như ma, ác như quỷ mà lại hay làm bộ.

Anh trai trẻ kể tiếp:

- Anh đã lên Cẩm Phả tìm đến người em họ làm mỏ. Người ấy đã xin được cho anh chân bắn cốt mìn. Anh đã nhận lời và xin khất đến sau mùa gặt.

- Em thấy nói bắn cốt mìn nguy hiểm lắm cơ mà. Sao anh lại làm công việc ấy?

- Họ nói thế chứ nguy hiểm quái gì. Với lại người ta làm được thì mình cũng làm được. Rồi xem, có công việc gì lợi hơn mình thay đi chứ sao.

Bà lý xuống bếp. Hai người nói lảng sang chuyện khác.

Bà lý nói:

- Khuya rồi, cô nghị đi nghỉ thôi. Bác giã xong chưa?

- Thưa cũ, cháu giã xong rồi. Cụ còn công việc gì để cháu giúp.

- Thôi thế bác cũng đi nghỉ để mai còn lấy sức đi làm sớm.

Bà thấy hai người thân nhau quá, sinh ngờ, nhưng bà nghĩ ngay: "Có khi nào!"

Hĩm đứng dậy vươn vai:

- Chào bác Nghị - Rồi quay lại cười với mẹ - Tên bác là Nghị đấy, bu ạ. Từ nay bu chớ gọi con là cô Nghị kẻo là nhầm vợ bác ta mắt.

Bà lý ngạc nhiên, nhìn người trai trẻ:

- Tên bác là Nghị à?

- Vâng tên cháu là Nghị! - Anh ta không dám nhìn Hĩm cười, sợ mẹ Hĩm sinh nghi. Vì Hĩm bịa đặt ra thế chứ thực tên anh ta là Thu.

Sáng sớm hôm sau anh trai trẻ vác đòn xóc và hái ra đồng. Hĩm cũng xin phép mẹ đi thăm ruộng. Hai người song song vừa đi vừa nói những câu chuyện bâng quơ và cũng thấy nhẹ nhàng, khoan khoái...

Không khí trong như pha lê, cỏ cây xanh như ngọc thạch. Tiếng chim đua nhau hót thành một khúc đàn muôn điệu để hòa nhịp với tâm hòn phơi phới của cặp uyên ương.

- Anh đã có ai đón chưa?

- Chưa, anh cũng chẳng cần ai đón. Anh muốn cùng em suốt ngày lẫn vào các khe lúa. - Hai người nhìn nhau cười. Những nụ cười đầy ý nghĩa, Hĩm mê man không lưu tâm đến những tiếng chào "cô nghị" của những người làng quen thuộc. Anh trai trẻ phát cáu, nói gắt - Sao họ chào em bằng cô nghị mà em cứ để yên.

- Thây kệ họ. Ta rẽ xuống ruộng lúa cho rảnh mắt. - Lúc ấy cặp uyên ương vừa ra khỏi đầu làng. Chung quanh cánh đồng man mác. Những lũy tre xa xa như những cù lao xanh rì nhô lên khỏi mặt bể vàng chóe. Bầu trời lơ biếc với những khối mây trắng nõn như những nạo bông.

Cặp uyên ương tự trên đường làng rẽ xuống rồi biến vàp trong bể vàng.

- Hôm nay sao con về muộn thế? Trưa rồi còn gì.

- Con tạt vào chợ xem có tôm cá gì không để mua cho thợ làm vì mai ruộng nhà gặt được rồi đấy bu ạ. Con đã dặn bác Nghị với bốn người thợ nữa rồi.

- Ô hay! Thế mà con chẳng mua thứ gì về, mai lấy gì cho họ ăn?... Thôi được, để bu sang bác xã Khoan vay ít cá mòi khô cho họ ăn tạm bữa sáng cũng được. - Bà muốn chóng gặt xong để Hĩm còn trở về nhà ông nghị.

Sâm sẩm tối đã thấy anh trai trẻ vác đòn xóc cùng hái trở về. Hai con chó hình như đã quen hơi, cắn mấy tiếng rồi đi vào nằm mỗi con một xó. Đêm ấy cũng như đêm trước, câu chuyện của anh chị kéo dài cho mãi đến khuya.

Sáng hôm sau, Hĩm dậy thật sớm. Vả lại Hĩm trằn trọc suốt đêm có ngủ được đâu. Có lần Hĩm đã ngồi nhổm dậy, định mở cửa, liều xuống nhà ngang với anh trai trẻ nhưng sợ mẹ biết lại thôi.

Hĩm chạy lên chạy xuống tươi như hoa, nhanh nhẹn như con vành khuyên, cười nói nhí nhảnh với hết thảy mọi người.

Ông lý, cả ngày hôm trước lẫn cả ngày hôm sau, ở lỳ trong đám khao ông cựu mới, đánh tổ tôm và hút thuốc phiện. Thằng Chút xin phép nghỉ học để đi coi lúa. Thấy chị nó vui vẻ, nó sung sướng lắm, lúc nào qũng quấn quít bên chị. Nó có biết đâu rằng nó đã làm ngăn trở chị nó. Một lần chị nó khó chịu phát gắt, cốp sẽ vào đầu: "Chút! Không sắp sửa điếu đóm, bù dùi, cứ lẩn quẩn bên chị, mất cả công cả việc". Chút xoa đầu phụng phịu rồi vâng lời chị, chạy xuống bếp ngồi bện bù dùi. Bọn thợ gặt vừa đến ăn uống xong cùng anh trai trẻ và thằng Quy ra đồng. Hĩm cũng sắp quang gánh mang nước cho thợ làm. Hĩm không thể xa vắng người yêu, dẫu chỉ một chốc lát.

Mấy người thợ được cô nghị săn sóc lấy làm hãnh diện. Họ vẫn một điều cô nghị, hai điều cô nghị, làm cho Hĩm khó chịu nói:

- Từ nay các bác đừng gọi tôi là cô nghị, tôi không thích đâu, cứ gọi tôi là chị Hĩm kẻo rồi - Hĩm nhìn anh trai trẻ cười - người ta lại nhầm tôi là vợ anh Nghị đây này.

Mọi người nhìn anh trai trẻ. Một người nói:

- Có, chúng tôi đâu dám thế!

Anh trai trẻ cười nói:

- Thì chúng ta cứ chiều lòng cô nghị, gọi là chị Hĩm cũng được. - Anh ta ngồi ung dung trên bãi cỏ, gọi như hạch sách - Chị Hĩm ơi! Rót cho tôi bát nước!

- Dạ, thưa anh, nước đây ạ. - Và Hĩm cầm bát nước chè nóng nâng hai tay, cúi xuống đưa đến tận mồm - Mời anh xơi nước.

Mọi người cười rất vui vẻ, rồi từ đấy họ cứ chị Hĩm mà gọi, trước còn ngường ngượng vì họ vẫn kính nể cô nghị, coi cô nghị như một bà cao quý lắm. Phải, cả huyện đã có mấy quan nghị. Gần bằng quan huyện cơ mà. Sau thấy Hĩm dễ dãi, nhí nhảnh, có phần lẳng lơ nữa, họ quen dần. Một anh trẻ nhất trong bọn dám bạo dạn ví von, suồng sã với cô nghị. Mọi khi anh trai trẻ hát xong, anh cất tiếng hát theo. Tiếng anh trong trẻo vang cả một khoảng đồng. Xa xa những tiếng hát khác vẳng tới như họa lại. Nhờ thế mà buổi gặt không đến nỗi tẻ.

Chiều. Phương tây đỏ ối như cháy. Một làn sương tỏa ra như bụi làm cho các màu dịu đi, mờ tối dần. Trên đường thợ gặt lũ lượt gánh lúa rảo về làng. Tiếng lúa đập vào nhau, rào rào như mưa.

Bọn thợ của bà lý đã về tới nhà, đương đập lúa trên những cối đá thủng và trên những vại đất úp. Bà lý đã mượn thêm ba cô giúp việc cho chóng xong để mai còn phơi phóng. Ba cô cầm những bó lúa đập rồi, rũ tơi và dàn ra khắp sân. Họ vừa làm vừa chuyện trò, đùa cười như nắc nẻ. Hĩm cũng nhập bọn để cười góp và nhất là để trêu ghẹo, cớt riễu bọn trai.

- Các chị hát lên!

- Cô nghị hát trước để chúng em theo - Và họ sung sướng được cô nghị nhập bọn.

- Ừ nhé! Tôi hát rồi các chị hát sau nhé! Nhưng mà các chị đừng gọi tôi là cô nghị cơ. Tôi không thích. Cô nghị ở đâu chứ ở đây không có cô nghị. Gọi tôi bằng chị Hĩm. Bảo ngoan nhé!

- Vâng, thế chị Hĩm hát đi! - Rồi chị em khúc khích cười.

- Nào hát! - Hĩm đằng hắng mấy cái rồi cất cao giọng hát lanh lảnh. Hĩm hát lên bổng xuống trầm, hay quá. Bọn thợ vừa đập vừa lắng tai nghe. Chị em thì thầm: "Cô nghị hát khá nhỉ, chúng mình khó lòng theo kịp". Xong câu hát Hĩm hát thêm: "Ba đồng... một quả hồng dài... Bên ấy có tài thì cất tiếng lên".

Bên trai yến lặng nhìn nhau cười. Hĩm hát tiếp luôn:

- Cất lên... một tiếng mà chơi... Cất lên tiếng nữa ăn cơi... giầu đầy. - Bên trai vẫn yên lặng. Hĩm nhìn anh trai trẻ giục - Anh Thu! Anh Thu! Cất tiếng lên rồi chúng em đãi cơi giầu đầy - Bọn trai ngơ ngác nhìn nhau. Anh nào là anh Thu?

Anh trai trẻ nhận tên mình. Anh trẻ nhất trong bọn hỏi:

- Sao ban nãy mình bảo tên mình là Nghị?

- Ấy trước tên tớ là Nghị, rồi sau tớ làm cho ông nghị họ mới đổi tên tớ là Thu. Vậy Thu cũng là tớ mà Nghị cũng là tớ. - Nói xong anh cười ranh mãnh.

- Thế chị Hĩm giục đằng ấy hát thì đằng ấy hát lên.

- Sao lại chả hát, nhưng để tớ lấy giọng đã nào. - Nghĩ một lát rồi anh trai trẻ cất tiếng:

Hôm qua... anh đến nhà chơi...

Thấy "cậu" nằm võng thấy "cô" nằm giường...

Thấy em... nằm đất anh thương

Anh về... mua gạch bát tràng anh xây...

Hĩm cảm động, đứng đờ người ra, đăm đăm nhìn người yêu. Hĩm biết người yêu đã chú ý đổi hai chữ "mẹ cha" ra làm "cậu cô" để nhắc lại những đêm Hĩm ốm nằm dưới bếp và tiếp liền những đêm ân ái cùng nhau. Tim Hĩm đập mạnh, người Hĩm nóng ran, tay chân Hĩm bủn rủn và cặp mắt, Hĩm sáng ngời, ướt lên, vì xuân tình bồng bột.

Người trai trẻ hát xong, anh trẻ nhất cất giọng hát liền theo. Anh ta hát trong hơn, dịu dàng hơn, nhưng Hĩm còn bận với tình yêu rào rạt trong lòng.

Chị em trở nên bạo dạn. Một chị chừng có tình ý với anh trẻ nhất, cất giọng hòa lại. Rồi tiếng hát từ chị nọ chuyền sang chị kia như một đàn chim ganh nhau hót.

Vót đi chợ Hộ về thấy tiếng hát vang bên hàng xóm, vội đi sang. Lũ cháu cùng theo sang với bà. Bà lý chạy ra mời ngồi trên thềm uống nước, ăn trầu, nghe hát. Lũ trẻ thích chí đuổi nhau, lăn lộn trên đống rơm tươi. Vót quát mắng: "Mẹ chúng mày vừa tắm rửa cho chúng mày đẩy nhé. Liệu mà rồi lại cái roi vào đít". Nói thế mà Vót vẫn để mặc chúng nó đùa, quay vào nói chuyện làm ăn với bà lý, hoặc lắng tai nghe bọn thợ hát.

Ngày xưa còn trẻ, Vót rất thích hát đúm. Năm nào cũng vậy, cứ đến rằm tháng Tám, Vót nhập bọn với chị em đi sang làng Tiên hát giải. Bọn gái được Vót, sung sướng, phấn khởi như mở cờ. Bọn trai thấy Vót, đâm ra nát đảm, nhụt cả nhuệ khí. Vì anh em đã biết tiếng Vót đứng đầu bọn nào là bọn ấy đắt trai. Từ ngày Vót đi lấy chồng, ít khi thấy Vót đi hát đúm và khi đã có tuổi, có con cái, Vót nghỉ hẳn nhưng vẫn thích nghe hát.

- Sáng mai các bác sang bên tôi gặt hộ vài buổi nhé. Cả ba cô nữa. Rồi tôi treo giải thưởng. Bên nào được, tôi đãi cơi trầu đầy.

Ba cô thích chí cười khúc khích. Một cô bạo dạn nói:

- Xin cụ cho cả cô nghị nhập bọn chúng cháu, không có chúng cháu thua mất.

- Ừ, cả cô nghị nữa càng hay. Bọn trai họ những năm người kia mà.

Hĩm đang cúi xuống rũ rơm, đứng thẳng người lên, cười nói:

- Thưa bác, cô nghị không biết hát, chỉ có cháu Hĩm của bác biết hát thôi, bác ạ.

Vót cũng cười:

- Ừ thì cháu Hĩm... Cháu Hĩm cũng sang hát góp cho vui nhà.

Một cô trong bọn nói để lấy lòng Hĩm:

- Có cô nghị vào thì bọn chúng cháu chả sợ thua.

Hĩm chau mày, gắt sẽ:

- Nghị, nghị nào ở đây. Rõ khéo nhà chị này.

Chị kia cười, cũng nói sẽ:

- Ừ thì chị Hĩm. Cô nghị khó tính quá nhỉ.

Bà lý vui lây, quay ra nói với cả mọi người:

- Các người này! Bà xã nhà tôi hát hay và giỏi lắm đấy. Ngày xưa bà ta đi giựt giải bốn năm lần.

Vót thủng thỉnh đáp lại:

- Có thế thật. Nhưng bây giờ già quên nhiều câu hát rồi. Khó lòng mà địch được các bác ấy.

Chương VII

Có tiếng người lạ gọi cổng. Hai con chó sủa ran. Bà lý đương ngồi nói chuyện với Vót trên phản quay ra bảo Chút:

- Chút! Ra xem ai ở ngoài?

Chút chạy ra, một lát theo người lạ vào. Hai người cùng đứng dậy chào. Bà lý trông khách quen quen nhưng chưa nhận ra ai. Vót đăm đăm nhìn người lạ, tự nhủ thầm: "Họ đến tất có việc gì can hệ".

Khách tự giới thiệu:

- Tôi là em ông nghị Thịnh Cầu.

Bà lý vui vẻ:

- À, thảo nào mà tôi trông ông quen quen. Mời ông ngồi chơi tạm trên phản. Nhà chật chội quá, ông tha lỗi. Chút! Chạy xuống bếp nấu cho bu ấm nước. Cho nhiều chè vào nhé.

Vót sực nhớ đến Hĩm, đến tính nết Hĩm thay đổi hẳn từ ngày có anh thợ trai trẻ đến trọ và đoán chắc thế nào cũng có sự chẳng lành xảy ra cho bà lý.

Bà lý tính hồn nhiên, không hay nghĩ xa, vẫn vui vẻ hỏi chuyện:

- Ông đến chơi hay có việc gì đấy. Ông nghị bà nghị và cả nhà vẫn bình an đấy chứ?

Khách trả lời nhạt nhẽo:

- Vâng, bình an như thường. Ông lý đâu, bà?

Bà lý hớn hở:

- Thưa ông, ông lý tôi ra đình họp việc giáo. Có cần lắm thì để tôi cho trẻ nó đi tìm về.

Khách nhếch mép cười, có vẻ mỉa mai:

- Cũng hơi cần. Nhưng mà thôi cũng được. Có bà đây là đủ.

Vót vẫn ngồi lặng yên đăm đăm nhìn khách. Trán Vót có dáng suy nghĩ. Bà lý hình như đã nhìn thấy sự chẳng lành trong cặp mắt và trong giọng nói bí mật của khách. Bà đương vui, bỗng trở lại nghiêm nghị và hơi có vẻ buồn. Ba người ngồi yên. Không ai nói với ai câu nào nữa. Không khí lãnh đạm bao phủ. Bà lý khó chịu, muốn biết ngay công việc của người khách ít lời, bèn hỏi: "Ông đến có việc gì thế?" Câu ấy, bà lý đã hỏi từ lúc khách mới đến, nhưng hai giọng nói khác nhau xa. Giọng ban nãy nhiễm đầy vẻ hoan hỉ mặn mà. Giọng bây giờ có vẻ lãnh đạm và bực tức.

Khách cũng bỏ cái giọng rụt rè và quả quyết nói một cách sống sượng, hơi có vẻ tàn nhẫn: "Cô con gái bà đã trồn theo anh người nhà bác nghị tôi". Câu nói đột ngột đập mạnh vào óc bà lý như búa bổ. Bà lý tái mặt, đầu choáng váng. Bà phải dựa lưng vào chiếc hòm gian cho khỏi ngã. Hơi đầy lên tận cổ làm cho bà khó thở, suýt ngất đi mấy lần. Dần dần bà như người mất trí khôn; ngồi đờ ra nhìn chòng chọc. Bà vẫn yên trí rằng: Con bà đã trở về nhà ông nghị. Từ ngày Hĩm cùng anh trai trẻ đi rồi, nhà bà trở lại quạnh hiu, tẻ ngắt. Nhưng bà tự an ủi, thấy con mình đã có con trai và đứa con ấy sẽ đem lại cho con bà ít hạnh phúc để đền bù những nỗi cực nhục đau khổ hàng ngày. Bà có ngờ đâu.

Vót thấy bà lý ngồi tiếp chuyện khách. Thấy cái vẻ mặt khinh khỉnh của khách. Vót đã có ác cảm ngay từ lúc đầu và trả lời lại bằng một giọng thản nhiên như để khiêu khích:

- Cái đó cũng chẳng lấy gì làm lạ vì tôi nghe thấy cháu nó bị bà nghị nhà ông hành hạ quá quắt lắm.

Khách không bằng lòng, hỏi:

- Tôi hỏi khi không phải, bà với bà lý là thế nào?

Vót ung dung đáp lại:

- Tôi với bà lý là chỗ chị em.

- Thế thì bà nghe người ta nói ngoa đấy. Bác nghị tôi chiều chuộng cô ta lắm.

- Tôi chẳng biết ngoa hay không, nhưng cháu về tôi trông thấy cháu tiều tụy quá.

Bà lý đã hồi lại, hỏi sang:

- Bây giờ ông nghị định sao?

Người khách quay sang tiếp bà lý:

- Ông nghị tôi xin bà cho lại cái số tiền cưới, tiền cheo, tiền chè cau và năm mươi đồng ông nghị tôi đưa cho ông lý, tính ra tất cả hai trăm rưỡi.

Vót cười khinh bỉ, nói đỡ lời bà lý:

- Ý chừng ông nghị, bà nghị tính cả lãi mười phân vào nữa mới đến ngần ấy... Ừ, cho dẫu ông lý có lấy thêm năm chục nữa cũng chỉ đến trăm sáu, trăm bảy là cùng. Ông cứ tính xem, một trăm bạc cả cheo lẫn cưới. Cau chè cho đắt lắm cũng đến mươi đồng thôi chứ mấy. Có thế thôi, lôi đâu ra nữa cho tới hai trăm rưỡi? Chả trách ông nghị bà nghị giàu là phải.

Khách có vẻ sượng, nói thoái thác:

- Tôi không hiểu. Là ông nghị dặn tôi đến đòi ngần ấy thì cũng chỉ biết thế thôi.

Vót nói lại:

- Ngày cưới Hĩm, chính ông đem lễ đến mà ông lại không biết, ông chóng quên quá.

Khách tức giận:

- ừ thì trăm bảy. Bà lý trả để tôi mang về cho ông nghị. Bà phải biết, ông nghị tôi nể ông bà là chỗ tử tế, chứ người khác thì ông nghị tôi chỉ viết một cái giấy lên quan là con gái bà bị giam ngay.

Bà lý sợ con gái bị giam lại càng thêm khổ cực cho con bà lẫn bà. Bà đứng dậy định lấy tiền trà. Vót ngăn lại, nói:

- Cheo cưới hẳn hoi, lúc trả cũng phải có chữ của ông nghị đã chứ. Được! Ông cứ về. Rồi mai kia chúng tôi đem tiền đến giao tận tay ông nghị.

Khách cãi lại:

- Thế khi xưa ông nghị có giao tận tay ông lý bà lý không?

Vót vẫn cứng:

- Nhưng mà lúc ông mang lễ đến, có đông đủ mọi người. Vậy thế nào cũng phải có chữ ông nghị. Với lại ông nghị còn phải cho chữ cháu tôi đi lấy chồng kia mà.

Khách đuối lý, đứng dậy cáo thoái. Lúc khách ra rồi, bà lý thở dài nói với Vót bằng một giọng đầy chán nản:

- Tôi có ngờ đâu. Thật hết khổ về chồng lại khổ về con. Sao lại không chết quách đi cho rảnh.

Vót giở lý ra để tìm cớ an ủi bạn:

- Thế là may che con gái bác đấy. Nếu nó còn ở trong cái nhà ấy, bị hành hạ mãi rồi cũng đến chết yểu mà thôi. Tôi cho là con bé thoát nợ và bắt đầu sung sướng rồi đấy. Thế mà nó có sung sướng thì mình mới sung sướng chứ!

Bà lý thở dài:

- Bác tính nó bôi tro bôi nhọ vào mặt mình còn sung sướng nỗi gì... Còn cái gì nhục bằng con gái trốn chồng theo trai.

Vót có tính liều lĩnh, bạt mạng, cãi lại:

- Thì đã làm sao?... Chồng, chồng già cốc đế thì bỏ cùng chẳng tiếc - Nói câu ấy, Vót tưởng như mình là cái Hĩm vừa bỏ ông nghị để kết duyên với anh chàng trai trẻ.

Bà lý nhấc hai chân đặt lên phản ngồi, hai cánh tay choàng lấy đầu gối:

- Bác chỉ bênh nó chằm chập. Nó đã vậy, thế còn danh giá họ hàng nhà nó thì sao? Ai đứng ra mà chịu lấy những lời dị nghị, những giọng mỉa mai, những cái cười chế riễu của hàng xỏm?

Vót khó chịu, cãi lại:

- Bác này câu nệ và cố chấp quá. Cháu nó bỏ một lão già mà đi lấy một anh trai trẻ bằng vai phải lứa thì việc gì đáng dị nghị, đáng chê cười. Bác chỉ biết giữ danh giá cho bác, còn con nó đau, nó khổ, mặc kệ nó ư? Tôi thì tôi không thể thế được. - Nói xong, Vót cũng đặt hai chân lên phản ngồi, hai cánh tay choàng lấy đầu gối, nhìn thẳng ra phía cửa.

Bà lý thở đài:

- Nếu nó lấy người ta mà có cheo có cưới hẳn hoi thì còn nói gì. Đằng này nó lại...

Vót ngắt lời, nói gắt:

- Bác muốn có cheo có cưới hẳn hoi để khỏi mang tai, mang tiếng với làng với nước thì khó gì, viết giấy gọi chúng nó về mà cheo mà cưới - Vót liếc nhìn thấy bạn buồn thiu, thương hại - Bây giờ thì chúng mình hãy tạm giữ kín. Mai kia tôi với bác đi đến đằng lão nghị trả của cho xong đã.

Sáng hôm sau hai người đi đến ông nghị. Lần này không như lần trước, hai ngườri được ông nghị, bà nghị ra tiếp ngay. Vót nghe Hĩm kể lại, đã biết tính bà nghị hay ưa phỉnh, nịnh khéo, bớt được năm chục bạc của ông nghị đưa ngầm cho ông lý, chỉ còn phải hoàn lại có trăm hai tiền cheo cưới và tiền chè cau.

Lúc hai người vừa trở ra, trong nhà ông nghị đã thấy om sòm. Tiếng bà nghị quát tháo, tiếng ông nghị cãi lại gióng một. Vót đắc chí, cười một mình.

Từ ngày bà lý bước chân ra khỏi nhà mẹ đẻ để gánh vác giang san nhà chồng, bà đã trải biết bao nỗi khổ, nào khổ vì mình, nào khổ vì chồng, nào khổ vì con, nào khổ vì những người chung quanh, nhưng chỉ là nỗi khổ, nỗi khổ chung của phần nhiều người cùng một số phận như bà. Những nỗi khổ ấy còn có thể lấy chút hy vọng về tương lai làm phương thuốc bổ cứu được. Lần này, không những bà khổ, bà còn bị nhục nhã ê chê, bà còn bị một vết thương đau đớn mà bà cho là không bao giờ hàn gắn được. Chao ôi! Còn gì nhục nhã nhơ nhuốc cho thanh danh một nhà bằng cái tội con gái trốn chồng theo trai. Thôi thế là từ nay bà há miệng mắc quai, như câm như điếc. Bà chẳng còn gì mà kiêu hãnh với ai. Nghĩ đến lúc nào, bà lại thâm gan tím ruột, nghẹn ngào, uất lên tận cổ. Bà gào thét, xỉa xói vào khoảng không như thể bà gào thét, xỉa xói trước mặt con bà: "Đồ khốn nạn! Đồ quạ mổ! Đố voi giày! Mày giết mẹ mày, mày giết cả gia đình nhà mày..." Nhưng mỗi khi cơn uất của bà đã hả thì một ý nghĩ xuất từ bản tâm bà, có thể nói, một ý nghĩ chung của nhân loại tiếp liền sau: Hĩm trẻ, Hĩm đẹp, Hĩm là một cô gái có tình yêu tha thiết như mẹ Hĩm ngày còn xuân, như hết thảy các cô gái mới dậy thì. Ý nghĩ ấy bắt buộc bà nhớ đến câu chân thật của Vót độ nào: "Chồng già cốc đế thì bỏ cũng chẳng tiếc". Bà tủm tỉm cười tự nhận là tấm lòng bà cũng vậy. Hiện thời, nhờ cái tuổi gần như cằn cỗi, bà cho là người ta có thể vì danh giá, chịu yên phận sống chung đụng với một ông lão cho đến chót đời, chứ khi xưa, bằng tuổi Hĩm, vị tất bà đã theo được, mà vị tất đã nghĩ thế.

Bà đã giáp mặt ông nghị, bà đã thấy ông nghị của con bà già chẳng kém gì chồng bà, bà đã thấy mặt bà nghị quăm quắm như mắt diều hâu, bà đã thấy hai cô gái ông nghị dữ tợn và to béo như lợn ỉ. Hĩm lọt vào nhà ấy khác nào con chuột sa vào cũi mèo. Thế thì Hĩm chịu sao nổi mà chả phải trốn đi... Ừ thì trốn đi, nhưng nào ai bắt Hĩm phải theo trai để đến nỗi nhục nhã, nhuốc nhơ cho thanh danh nhà bà. Nhưng mà... nhưng mà lòng Hĩm của bà chứa chan tình yêu, mà anh người nhà xinh trai lại tử tế với Hĩm quá anh em ruột thịt. Nếu Hĩm thú thực với mẹ Hĩm rẳng: Hĩm đã ốm mê man, nằm xó bếp và anh người nhà xinh trai đã chăm nom săn sóc thuốc thang, nếu Hĩm thú thực rằng: tình yêu tha thiết của anh chàng đã cảm phục được trái tim non nớt của Hĩm... Dẫu sao thì sự kiêu hãnh bề ngoài của bà, dẫu sao thì cái danh giá của bà trong cái xã hội chuộng hư danh này cũng đã làm cho bà uất ức mà thành một người tàn nhẫn mất cả lẽ phải. Vì thế, trước mặt mọi người bà vẫn nguyền rủa, sỉ nhục người con yêu quý của bà. Nhất là, nhìn thấy những nụ cười mỉa mai của họ, bà lại càng uất ức, nguyền rủa, sỉ nhục thậm tệ hơn. Nhưng, lần nào cũng vậy, sau một hồi suy nghĩ, bà trở lại thương xót Hĩm và cầu cho Hĩm được suốt đời sung sướng với anh người nhà xinh trai. Hai ý nghĩ tương phản luôn luôn theo đuổi nhau. Một đằng uất ức vì mất danh giá, một đằng thương xót Hĩm vì số phận hẩm hiu. Sau cùng bà nghĩ chỉ còn một cách, là mua chuộc lại danh giá bằng cách làm giàu. Phải nhất quyết làm giàu. Giàu rồi bà sẽ gắn những miệng loa mép giải bằng cách cho vay bỏ lửng, bà sẽ gây dựng cho con cái bà nên ông nọ bà kia, có vai vế trong làng. Rồi tự khắc tai tiếng con bà sẽ một ngày một mất dần cho đến ngày không còn vết tích nữa.

Vì thế cữ nọ Vót sang rủ bà đi buôn tơ lụa, bà ưng ngay. Chí làm giàu đã đổi hẳn tâm tính bà. Rụt rè, bà trở nên quả quyết, cả nể, bà trở nên cứng cỏi. Chẳng trừ ai, rộng rãi trong sự ăn tiêu, mua bán, bà trở nên khe khắt. Chắc bóp từng li từng tí. Bà không cần miệng thế. Bất cứ việc gì, hễ lợi lộc, hễ nảy ra tiền là bà làm tuốt. Nhiều khi mê man làm giàu, bà đâm ra cay nghiệt với cả chồng con, với cả tôi tớ trong nhà. Đến như Vót đã biết rõ tâm tính bà từ chân tơ, kẽ tóc mà còn phải khó chịu, kêu lên:

- Bà lý ơi! Tôi xin bà, việc gì cũng vậy, nên vừa vừa phải phải, bóp nạnh người ta lắm còn hòng đâu để phúc cho con cái về sau.

Bà lý cười chua chát:

- À chào! Chẳng gì bằng tiền.

Vót cười nhạt, giọng khinh bỉ:

- Phải, ai không biết bà muốn làm giàu. Nhưng giàu mà không có nhân nghĩa cũng bằng thừa. Giàu thế nhất định đây không phục.

Bà lý sợ Vót đem lòng chán ghét mình, vội phân trần:

- Thế thì bác chưa hiểu bụng tôi. Tôi cần phải giàu đã, rồi bác xem, tôi sẽ nhân nhượng tử tế với hết mọi người.

Vót không phục, cãi lại:

- Thế thì sao bác không vừa làm giàu vừa nhân nhượng tử tế với hết mọi người có hơn không.

Bà cười chua chát:

- Bác tính đã nhân nhượng tử tế thì có mấy khi giàu. Vả lại tôi còn muốn chóng giàu để... - Bà không nói dứt câu, nhưng từ đấy bà vẫn nể Vót, không dám làm việc gì quá đáng mà Vót đã can ngăn.

Trong bốn năm buôn bán tần tảo, ăn nhịn để dành, bà đã nổi tiếng nhất nhì trong xóm.

Tiếng bà lý xóm trong đã lừng lẫy khắp làng và tiếng xấu của con gái yêu bà đã hầu như vùi lấp trong đống tiền cùa bà, không ai còn nhìn nhận thấy nữa.

Mảnh vườn và cái ao đằng sau, bà đã chuộc về được, bà lại tậu thêm vài sào đất ở gần đấy để sau này bà dựng cơ nghiệp cho thằng Chút, đứa con út mà bà ưa hơn cả các con. Bà đã định lo cho nó chức cán xã. Nó nhất định không bằng lòng, ngỏ ý muốn ra đăng lính để sau này lên cai, lên đội. Nó còn hy vọng lên đến chức vệ úy như ông nó mà nhiều người trong làng thường tâng bốc lên chức cụ lớn. Cứ như số tử vi của nó, người ta cho nó có thể làm đến chức cao quý ấy. Mẹ nó cũng mong cho nó được thế, nhưng lại không muốn xa nó lúc nào.

Anh nó - thằng Quy, một đứa con mà bà vẫn ghét bỏ - đã làm nên chức phó lý, hơn cả chức thầy nó. Bà đã chịu bỏ ra một lúc sáu trăm bạc để được tiếng "con hơn cha nhà có phúc". Bà phiền lòng vì tính nó bủn xỉn, keo kiệt, làm cho chức nó giảm xuống nhiều, không được mấy người trọng vọng. Giá chức ấy vào tay thằng Chút... Bà cố dằn lòng đợi. Ba năm nữa, khuyết lý trưởng, thằng Chút sẽ ra nộp đơn, còn ai dám tranh giành vào đấy. Lúc ấy con bà sẽ thuần thục, tất bà bảo phải nghe. Hiện giờ nó như con ngựa bắt kham, khó lòng dìu dắt được.

Nhưng chưa được ba năm thì ngày tuyển lính đã đến. Bà nơm nớp lo sợ. Vắng thằng Chút một lúc lâu, bà đã cho thằng anh đi tìm về. Bà đến ông hội, ông lý, cho mỗi người một ít quà để nói với họ đừng cắt con bà ra lính và nếu con bà cứ nằng nặc xin ra, cũng nhất định đừng cho. Bà chắc con bà không còn cách nào, nên buổi chợ Hộ, bà yên trí đội thúng cùng Vót ra đi.

Chiều về, bà không thấy thằng Chút đâu. Bà hỏi thằng anh thì thằng anh không biết. Bà vội vã đi khắp làng, vào bất cứ nhà nào để hỏi thăm con. Có người thấy nó nhập bọn với bảy tám trai làng đi lên huyện đăng lính. Bà thở dài trở về, trong trí còn hy vọng rằng: nhờ có ông lý, ông hội, con bà sẽ không được vào tới cổng huyện, hay không có tên trong sổ đăng lính. Bà nhắc lại ý nghĩ, nói to cho tâm trí được yên ổn:

- À cháo! Cu cậu có đi cũng vô ích. Ai cho phép, ai cắt dẫn, ai cử đi mà đi mới được chứ!

Bà nói ra miệng như vậy, song tâm linh bà vẫn báo trước: con bà sẽ tìm cách vào được trong huyện và sẽ được đăng lính. Một anh trai lực lưỡng, tráng kiện, ngực và bắp thịt nở như pho tượng lực sĩ, đôi mắt sáng như gương, cặp môi đỏ như son hồng thì làm gì không đắt.

Bà nóng ruột đợi. Mãi sáng hôm sau mới thấy Chút về, mặt tươi tỉnh, cười nói vang nhà.

- Mày đi đâu thế Chút? Tao lo sợ suốt đêm không ngủ.

Chút đứng thẳng người, ưỡn ngực như một anh lính đứng "ga-ra-vu", một tay đập vào ngực, nói:

- Con cao lớn lực lưỡng thế này mà bu còn coi như một đứa bé bỏng vậy. Con lấy làm xấu hổ quá.

Bà lý không cười, buồn rầu, nhắc lại:

- Mày đi đâu cả ngày hôm qua, mãi nay mới về?

- Con đi lên huyện đăng lính.

- Ai cắt đến mày mà mầy đi?

Chút vừa cười vừa nói:

- Con cắt con đi.

Bỗng ngoài cổng có tiếng chó sủa. Chút để mẹ đấy, chạy ra. Ông lý đi vào.

- Kia ông lý! Ông ngồi chơi. - Bà lý mời.

- Anh Chút! Anh tệ quá. Anh làm quan mắng tôi mất mặt.

Chút cười:

- Thì ai bảo ông nhất định không cắt cử tôi? Ấy là tôi còn nể ông đấy. Tôi mà nói thực ra thì ông đã bị khiển trách nữa ấy chứ lại.

Mẹ Chút trách ông lý:

- Thì sao ông không cấm nó, đừng cho nó đi có được không?

- Nào tôi có biết anh ấy nhập bọn đâu. Đến cổng huyện tôi hỏi, anh ấy bảo anh ấy đi xem tuyển lính. Tôi có ngờ đâu anh ấy táo gan quá thế.

Chút táo gan thật. Nó lẻn vào trong đám đông, cởi áo quần rồi chen vào đứng xếp hàng trước mặt ông giám binh, ông huyện và một người đội khố xanh.

Ông giám binh khám cẩn thận từng người, vành mắt, nắn bụng, nghe ngực, xem tỉ mỉ từng cái sẹo. Đến lượt nó, ông vỗ vai khen: "Tốt! Tốt!", rồi quay vào nói chuyện bằng tiếng Pháp với ông huyện, tỏ ý chưa bao giờ thấy một người được đủ mọi vẻ như nó. Người đội nói chêm vào:

- Anh này chẳng xem cũng biết trước là đắc dụng.

Chút đắc chí, kiêu ngạo, đứng mã binh, thẳng người uỡn ngực như khi nó đứng trước mặt mẹ nó ban nãy. Người đội mở sổ, hỏi tên:

- Tên anh là gì?

- Tên tôi là Chút, mười chín tuổi...

- Sao trong sổ không có tên anh? Lý trưởng đâu? - Người đội mở quyền sổ ghi tên ra trước mặt ông giám binh nói nhỏ. Ông giám gắt, quát to - Lý trưởng!

Ông lý, mặt tái mét, chạy lại, chân tay run cầm cập. Chút thương hại, nói đỡ:

- Bẩm quan lớn, thầy lý con có cắt con đi. Có lẽ thầy lý con quên, không biên tên con vào sổ.

Cuộc kiểm binh đến mãi năm giờ chiều mới xong. Bọn ông lý chín người được bốn.

Bà lý thở dài mắng con:

- Chút ạ, mày thế thì tệ thật. Mày không thương tao tí nào.

- Ô hay! Sao con lại không thương bu?

- Mày thương, sao tao bảo, mày không nghe.

Chút rầu rằu nét mặt:

- Nhưng con thích ra lính. Con mà không được làm lính thi con khổ lắm. - Nghĩ một lát, nó nói tiếp - Vả lại, trong số tử vi của con, bu đã biết, con mà không ra lính thì chẳng làm nên trò trống gì.

- Ai bảo mày chẳng làm nên trò trống gì. Tao định hai năm nữa, ông lý đây từ dịch, tao sẽ lo cho mày chức lý trưởng.

Chút không bằng lòng, chau mày:

- Con không thích làm ông lý. - Nó định nói: "Con thèm vào làm ông lý toét".

Ông lý phật lòng, nói kháy:

- Phải, đã dễ đấy. Mất bao nhiêu công của và phải thạo việc quan mới làm được lý trưởng chứ... Vả lại, ở đời, mỗi người một phận.

Chương VIII

Gái em hớn hở chạy sang:

- Bẩm bác, anh vệ Chút đã về.

Mấy hôm trước, hôm nào cũng có một vài người lính nghỉ phép về làng. Bà lý bắt đầu mong con. Bà nóng ruột đứng ngồi không yên. Bà nhớ con quá. Gái em cũng vậy, tuy không bao giờ dám nói ra miệng. Gái mến Chút ngay từ ngày còn nhỏ. Cũng như tính Chút, Gái thích chạy nhảy, chơi ba ba, thuồng luồng. Mỗi khi Chút phải làm thuồng luồng, Gái định tâm chạy chậm lại để Chút chộp được. Chẳng hiểu Chút có biết ngực Gái hồi hộp thở mạnh mỗi khi Chút ôm được không? Gái thích những thú chơi mạnh mẽ của con trai, nhưng thực thì những trò chơi nào mà Chút thích. Có lần Gái dám nhập vào bọn con trai chơi kéo co nữa. Cố nhiên là Gái về đằng Chút và đứng sát cạnh Chút. Nhiều người thấy thế đến mách Vót, nhưng Vót để mặc chẳng đe dọa gì cả. Khi xưa, còn bé, Vót cũng nghịch ngợm như vậy.

Lúc Gái chạy sang thì bà lý đương phơi những tấm lụa mốc ra ngoài nắng. Bá bỏ đấy, chạy vội ra cổng.

Chút ăn vận hoàn toàn như một người lính Pháp. Mũ "cát" vàng, quần áo "ka ki" mặc ních vào người. Chiếc dây da có khóa đồng bóng sáng như vàng, thắt ngang lưng, làm cho bộ ngực nở sẵn của Chút càng nở thêm. Đôi giầy "săng đá" da dầu, gót đanh, nện xuống đường gạch cồm cộp. Đôi xà-cạp nỉ màu lá úa quấn chặt lấy bắp chân, làm tăng vẻ lanh lẹn, cứng cáp của Chút. Cái "túi-dết" vải vàng đeo từ vai bên nọ xuống háng bên kia, Chút đi theo kiểu nhã binh, bước những bước dài bằng rưỡi bước thường.

Chút giơ tay lên trời, xòe bàn tay ra, kêu "Ha ha! Bu!" Chút đã có giọng nói ở đâu mang về. Đến trước mặt mẹ, Chút đứng thẳng người ưỡn ngực, khuỳnh tay chào lối nhà binh: "Bông sua bà đầm!" Bà lý ngây người nhìn con, cười. Tâm trí bà rối loạn vì cảm động quá.

Lũ trẻ hàng xóm chạy lại đứng xúm quanh. Một thằng thích chí cười nói:

- Bác ấy làm hay nhỉ, chúng mày nhỉ!

Một thằng khác ra mặt thạo, vênh lên nói:

- Người ta chào lối Tây đấy!

Chút quay lại, cười:

- Lối phăng xe đấy!... Kìa! Chị Gái - Chút đã nhìn thấy Gái, Gái đỏ mặt. Hàng răng trên đều đặn và đen nhánh cắn sẽ lấy môi dưới. Gái xấu hổ, nhưng lòng Gái hồi hộp sung sướng.

- Vào trong này, con. - Bà lý muốn một mình ngồi ngắm con cho thỏa thích, bà vừa nói vừa đi vào. Chút bước theo. Nó phải bước chậm lại để khỏi lấn bước mẹ. Lũ trẻ lẽo đẽo theo sau. Gái đứng ngẩn ngơ một lát rồi cũng vào nốt. Vợ chồng Vót, rồi anh Hương, anh Quản, rồi hàng xóm, rồi họ hàng chung quanh đến đông chật nhà. Bà lý đành phải để con bà tiếp khách vậy. Rồi chốc nữa thế nào chả có lúc bà được ở lại riêng một mình với nó.

Họ tranh nhau hỏi chuyện Chút và chuyện của Chút toàn là chuyện lạ tai. Thoạt đầu Chút kể các cách sinh hoạt của lính. Nào những đồ ăn toàn thịt bò, thịt lợn, món nấu, không mấy khi có rau muống, nào quần áo bốn năm bộ, giặt toàn ở thợ là. Đêm đến mỗi người nằm một giường. Ăn uống thật đúng giờ. Đến giờ ngủ mà không ngủ, phải phạt. Sáng nào cũng tập thể thao rồi mới đi làm các việc. Nhiều anh nghe Chút kể mà thòm thèm. Những anh trai trẻ tiếc không ra lính để được ăn thịt bò, thịt lợn thả cửa.

Chút kể đến những giờ nghỉ, đi chơi. Ông quan hai đứng xem xét y phục từng ly từng tí. Đôi giày, dây lưng không được bóng, ông bắt đánh kem lại. Quần áo không được trắng, được sạch phải phạt. Cúc áo không bao giờ được thiếu một cái. Ông thường chỉ bảo cặn kẽ: Ra đường không được ghẹo gái, hay đuổi nhau hét bô bô. Không được la cà vào các hàng nước. Không được lê la nghe những chuyện nhảm. Có khát chỉ được vào hàng "cà phê" và cấm không được uống rượu.

Một người trong họ ngắt lời:

- Chắc là rượu ta đấy chứ. Vì tôi vẫn nghe thấy nói lính Tây say rượu.

- Phải, rượu ta, nhưng rượu Tây cũng chỉ được uống một cốc là cùng. Say mà bí béng ngoài phố, quan trên bắt gặp thì "đơ-dua đờ-boát" là ít, có khi "toa, cách, sết dua" nếu tội nặng hơn, như ghẹo gái hay hỗn xược với người trên chẳng hạn.

Vót cười sằng sặc, nói với bà lý:

- Anh ấy nói tôi chẳng hiểu gì cả. Cái gì là toa, cái gì là cách, là sết.

Một anh ra điều thạo chữ Tây, giảng nghĩa cho mọi người:

- Đơ là hai, toa là ba, cách là bốn, sết là bảy, dua là ngày, vị chi là hai, ba, bốn, bảy ngày.

Một anh biết anh kia hay chữ lỏng, hỏi xỏ:

- Thế boát là gì, bác?

Hỏi xong, anh ta mỉm cười, biết trước là anh kia sẽ câm tịt.

Anh kia đỏ mặt, nói gượng:

- Boát là... Boát là gì nhỉ, anh Chút?

- Boát là... Đơ dua đờ-boát là hai ngày tù, ngồi ró một mình trong buồng vừa kín vừa hẹp. Có khi chỉ được dùng "ri xếc" hay "banh xếc". - Rồi Chút kể tiếp. Lúc nó kể đến những cuộc bắn bia, tập trận, mọi người thấy hay hay, chăm chú nghe... Chút dùng những tiếng Tây "man-nớp, ba-chui, săng-ti-men, mi-tay-ơ, tăng-xê.." Chẳng ai hiểu gì. Có tiếng người ta hỏi: Chút cũng không biết nghĩa nốt. - Hay nhất là cuộc tập trận, có khi bắt được cả bọn hàng hai ba chục anh. Chúng tôi bắn hay trúng. Số bị thương hoặc chết bên quan quân nhiều quá.

Bà lý hoảng hốt, kêu:

- Bắn chết à, con?

Chút cười:

- Chết giả đấy chứ!

Một vài người tò mò, hỏi:

- Vậy làm thế nào mà biết được bị thương hay chết?

- Đã có lệnh từ trước chứ. Thí dụ như ai bị vết đạn trúng giữa mũ hoặc vào mặt, vào cổ, vào ngực thì phải nằm giả chết, còn vào tay, vào đùi, hay vào những chỗ không phạm thì bị thương, phải nằm đợi người đến vác đi, hoặc đem "băng-ca" đến mang đi.

- Ô hay! Thế đạn giả cũng có vết à?

- Có chứ. Vào mặt, vào tay xám đen, rát như phải bỏng.

Vài anh trai trẻ thì thầm với nhau:

- Thú nhỉ!

Chút nghe thấy, bĩu môi:

- Phải, thú. Các anh thử xem đây rồi sẽ thấy có thú không?

Nói đoạn, Chút nằm sấp xuống, duỗi thẳng như khúc gỗ, mũi giày thúc xuống, đi bằng hai khuỷu tay chống trên đất.

Mọi người vội kêu:

- Thôi, thôi, bác vệ! Rách áo mất!

Chút đứng dậy phủi quần áo, nhìn mấy anh kia:

- Các anh trông đấy! Đã thú chưa?

Mấy anh bảo nhau:

- Khó nhỉ!

- Khó thế mà phải bò từng quãng dài bảy tám thước tây. Ai không theo lệnh, ngồi lên đi phải phạt lập tức. - Đoạn, Chút lại kể - Quan Năm ngài khen lính ta giỏi. Nhưng trận ấy quan quân được. Chúng tôi lại giả làm những ông lý, ông khán, các ông kỳ mục, mặc áo thụng xanh ra vái, chào mừng các quan Tây thắng trận. Bao nhiêu dân quê, đàn ông, đàn bà bồng bế con cái, lại gánh nồi niêu bát đĩa, gà chó về làm ăn như thường. Những người ấy toàn là bọn chúng tôi đóng trò cả. Chỉ trừ trẻ con chúng tôi lấy ở ngoài vào. Các bà đầm tưởng thật. Đến lúc họ biết là bọn chúng tôi giả dạng, họ thích chí, cười rũ rượi.

Gái và mấy chị em bạn Gái cũng thích chí ngả nghiêng cười rũ rượi.

Một anh trai trẻ biết Chút và Gái có tình ý với nhau, nói đùa:

- Chị Gái có thích thì lấy quách anh ấy để anh ấy đưa đi xem tập trận.

Gái đỏ bừng mặt, lườm anh kia, nói gắt:

- Anh phải gió! Tôi không đùa đâu. - Tuy vậy Gái vẫn ngồi chăm chú nghe.

Chút hơi đỏ mặt nhìn Gái cười, rồi kể tiếp:

- Những hôm tập trận có khổ nhọc nhưng mà vui và khí tập xong, anh em được ăn uống thả cửa. Có ngày đi "ba-chui" hay đi "camping" mỗi khi được cái bánh tây to bằng này. - Vừa nói Chút vừa giơ hai tay cách nhau độ ba gang. Chút không khỏi nói khoác một tí. - Chúng tôi ăn không hết, thường cho những trẻ con hay ăn mày ở dọc đường.

Một anh nghe thèm, cười chua chát:

- Thẽ mà nhà quê, lắm người ăn một ngày một bữa cũng thiếu.

Chút không để ý, kể tiếp:

- Khổ nhất là "tua" gác, nhất là gác đêm. Luật nhà binh nghiêm khắc lắm. Ăn mặc hơi trễ nải một tí, phải phạt, cái súng lau không được kỹ phải phạt, đứng gác lơ đễnh để ý đi đâu, phải phạt, mắt ngủ gà ngủ vịt, phải phạt, ai qua lại hay lại gần, không đúng "a la đề-phăng-si" và hô "ách chà là chi viu", phải phạt. - Chút vừa nói vừa đứng làm hiệu nên mọi người cũng hơi hiểu.

Gái thích chí cười khanh khách, nhại lại:

- "Ách chà là chi viu" - Rồi cười nói - Nghĩa là gì, anh Chút?

Chút cũng cười, giảng nghĩa:

- Là ai đấy! Đứng lại. Người kia phải đứng lại xưng "tôi"! Hô ba lần, không đứng lại không lên tiếng bắn liền.

Mọi người nhìn nhau lè lưỡi:

- Ghê nhỉ!

Một người hỏi:

- Thế ngộ chúng tôi không hiểu ách, ách...

Gái còn nhớ nhắc hộ:

- Ách chà là chi viu.

- Ừ, ách chà là chi viu là gì thì chết à?

Mọi người cùng cười nhưng trong bụng vẫn sờ sợ.

Chút cũng cười:

- Nói thế nhưng chúng tôi còn hỏi sang tiếng ta ba lần nữa mà vẫn không thưa, bất đắc dĩ mới phải bắn chứ.

Mọi người nhìn nhau:

- Cũng ghê!

Chút kể tiếp:

- Tôi không phải phạt bao giờ. Hôm nào đến "tua" gác đêm, tôi đã trữ sẵn quả chanh để ăn và rấp lên mí mắt. Ngày hôm trước, trong khi họ rủ nhau đi chơi, tôi ở lại "ca-déc" ngủ cho chán mắt. Thành thử lần nào tôi đứng gác cũng tỉnh như sáo... Một đêm trời tối mịt. Bỗng có tia sáng đèn "pin" lòe ra mấy lần. Tôi giương mắt, chú ý hết, đoán chắc là quan ba đi "rỏm". Tôi dõng dạc hô to: "Ách chà là... cu-sê". Chẳng hiểu sao, mình lại bật ra hô cu-sê mới chết chứ. Cái bóng đen nằm rạp xuống. Tôi quên lú tiếng hô đứng dậy. Cái bóng đen cứ chịu nằm rạp. Sau tôi nghĩ ra cách truyền tin đi các bót gác để họ bắn tin về trại. Một lát, năm người lính "ba-chui" với một người cai chạy đến chỗ cái bóng đen nằm, bật đèn lên soi, thì quả thực tôi không lầm: đích thị quan ba đi "rỏm". Tôi sợ quá, nghĩ bụng: "Cái này không khéo ông ấy bợp tai cho vài cái nên thân và phạt cho ‘sết dua bi-đông’ thì bỏ sừ". Nhưng mà, lạ quá, tôi không ngờ, ông ta chạy lại, nắm chặt lấy tay tôi, giật mấy cái thật mạnh rồi vui vẻ nói: "Dơn săng-đa bố-cu bồng". Thật hú vía!

Mọi người thì thầm:

- Luật nhà binh của người ta nghiêm thế.

Chút kể mãi không hết chuyện, vì mọi người nghe mãi, không chán tai. Bà lý nhìn ra sân thấy đã gần trưa, liền nói:

- Xin các ông các bà hãy cho cháu đi ăn cơm đã. Dễ từ sáng cháu chưa hột cơm vào bụng.

Chút cười:

- Vâng, chưa hột cơm nào vào bụng thật, nhưng con đã có bánh tây ăn ở dọc đường.

Mọi người cùng nghĩ đến bữa trưa của mình, đứng dậy, tản mát ra về. Họ vừa đi vừa bình phẩm, bàn tán những câu chuyện của Chút như những khách vừa ở rạp hát hay rạp chiếu bóng ra.

Con ở bưng mầm lên, đặt xuống giữa phản. Mâm cơm có đủ thức, chẳng kém gì mâm cỗ.

Bà lý nói nhún như khi bà ngồi tiếp khách:

- Cơm nước chẳng có gì, con bằng lòng vậy... Để chiều nay bu ra quán Cõi Ba mua vài "thoi" cá thu về làm gỏi. Chắc lâu nay con chưa ăn gỏi?

- Vâng, lâu nay con chỉ toàn ăn thịt bò, thịt gà, không mấy khi ăn cá. Có thì cũng chỉ ăn xào, ăn nấu thôi.

Hai mẹ con ngồi đối diện. Mẹ mở vung nồi cơm. Khói thơm ngậy tỏa ra nghi ngút. Con ngồi nhìn khắp mấy gian nhà tịch mịch...

- Chị Hĩm lâu nay có về thăm nhà không bu?

Bà lý man mác buồn, trả lời thong thả:

- Cứ giỗ bà tháng Tư, nó có về với đứa con gái trông cũng xinh xinh. Bu giận bu cũng chẳng hỏi han gì đến việc làm ăn của vợ chồng nó. Con tính nó bêu xấu bêu nhục bu như thế thì bu còn thương sao được.

Chút nét mặt suy nghĩ và cũng man mác buồn như mẹ, thong thả buông từng tiếng một như tự trong tâm nảy ra:

- Kể chị ấy cũng vất vả, khổ sở về đường chồng con, bu nên thương chị ấy kẻo tội nghiệp... Con thương chị ấy quá. - Nói xong, Chút đăm đăm nhìn ra không, cặp mắt mơ mộng như đương nhớ lại quãng thời xưa...

- Ăn đi đã, con. Đồ ăn nguội cả rồi.

Chút vâng lời mẹ, yên lặng gắp đồ ăn lên bát, nhai nhỏ nhẻ. Chút còn mải nghĩ. Bà lý nhắc: "Ăn đi chứ con. Cá này là cá dé, lắm xương nhưng mà thịt nó thơm và bùi lắm. Con ở nó không biết, đem kho đi mất rồi, chứ đem mà nướng lại chấm muối hạt tiêu thì ngon tuyệt. Hoài của, bu mải nghe chuyện cũng quên lú đi mất". Vừa nói vừa gắp bỏ vào bát con. Bà nói luôn mồm, như để phá tan cái vẻ suy nghĩ lộ trên nét mặt Chút.

Chút vừa ăn vừa hỏi chuyện:

- À, thầy con đâu, bu? Từ sáng, con không thấy thầy con đâu cả. Mà anh Quy và chị ấy cũng đâu? Chết chửa! Họ hỏi han rối lên làm con nhãng trí không nhớ đến nữa.

- Thằng Quy lên huyện có việc quan. Ông lý chánh cáo ốm, nó đi thay. Có về thì cũng chiều tối hay sáng mai. Ối chào! Cái thằng ấy cắt tiết gà không nổi thì còn làm nên trò trống gì... Ô hay! Con ăn đi chứ. - Bà cầm thìa, húp - Ừ, món cá nấu này, nó tra vừa vặn, mặn mà, ngon lành đấy. Con chan mà ăn. - Đoạn bà nói tiếp - Vợ chồng nó tệ quá. Chỉ được cái bu động thò ra tí gì là chúng nó vơ vét. Bây giờ chúng nó xin ra ở riêng chỉ dễ để xà xẻo bu thôi... Con ăn vã cua đi. Hôm nay ba con cua nước, con nào con nấy chắc lắm, rặt những gạch là gạch. Ăn đi chứ! Đồ ăn còn đầy ra đấy nhé.

- Bu cũng ăn đi chứ! Bu cứ ngồi tiếp con mãi. Con có phải là khách đâu.

Bà lý mải săn sóc con, chẳng nghĩ gì đến ăn. Bát cơm đã gần nguội mà vẫn chưa hết.

- Được, con cứ ăn đi. Bu thấy con về, bu mừng quá, quên cả đói. - Bà quên đói thực. Và mấy miếng lấy lệ rồi bà lại nói - Con vợ nó đi chợ Hộ mua cá khô về bán. Buôn với bán gì nó. Chỉ ăn quà vặt cũng đủ hết cả vốn... Thầy con thì la cà suốt ngày. Bây giờ có lẽ đương đánh tổ tôm ở đằng ông khán Để hay ông xã Vị gì đó. Bao giờ túi nhẵn cấc rồi mới chịu mò về... Mà có về thì lại tốn thêm của bu vài cút rượu với ít đồ nhắm nữa chứ quý báu nỗi gì... Con thôi rồi à. Sao ăn ít thế?

- Một mình con ăn hết mâm cơm lại còn ít. Có bu ấy. Từ nãy giờ chẳng ăn gì cả.

Bà lý và hết bát cơm còn lại rồi thu đũa xếp bát, gọi con ở lên bưng xuống.

Ăn uống xong, bà lý xuống bếp bảo ban mọi việc. Chút nằm trên võng thiu thiu ngủ. Từ ngày đi lính Chút đã quen, mỗi trưa nằm ngủ độ một giờ.

Chiều, Chút thay bộ nhà binh, mặc "sơ-mi-dét" quần cộc, đi thăm vài nhà họ đương. Chút thích mặc "soóc" vì thấy chúng bạn khen mình mặc "soóc" đẹp. Thoạt tiên Chút đến thăm Vót vợ bác xã Khoan. Hai con chó thấy Chút ăn mặc lạ, sồ ra cắn, Gái vội chạy ra đe. Hai con chó ngửi hơi quen, ve vẩy đuôi mừng.

Ông xã Khoan đi thăm đồng chưa về. Anh Hương, anh Quán đi ăn cỗ cưới nhà chú. Vót đi chợ Hộ vắng. Lũ trẻ mải chơi cả ngoài sân đình. Chỉ còn mình Gái ngồi dệt vải, coi nhà. Chút bước lên thềm nhìn ngơ ngác. Hai người cùng bẽn lẽn. Gái chẳng biết hỏi câu gì và cũng chẳng biết làm gì, ngượng, ngồi vào khung cửi dệt. Tâm trí Gái rối như tơ vò. Gái dệt đứt luôn, phải ngưng lại nối, mặt đầy vẻ ngượng ngập.

Hình như Chút cũng thấy thế, đi lại khung cửi nói:

- Chị Gái để tôi đệt thử xem còn nhớ hay quên rồi.

Trước kia, Chút hay táy máy dệt luôn nên cũng biết dệt đôi chút, Gái chưa kịp đứng dậy hẳn, thì Chút đã thò chân vào khung cửi. Hai vai cọ vào nhau. Người Gái nóng ran, Gái hồi hộp, thở mạnh. Bộ ngực nở của Gái phập phồng.

Nhờ có tiếng khung cửi thong thả nhát một đưa lên đập xuống, hai người đã thấy bớt ngượng. Tuy vậy, câu chuyện còn rời rạc như cơm nguội. Nhất là vì Gái không dám xưng em và Chút cũng không dám xưng anh, câu chuyện lại càng có vẻ lãnh đạm, nhạt nhẽo. May sao, cũng là ngẫu nhiên, Chút nhắc lại thời còn nhỏ. Rồi những bắt đầu bằng: chị còn nhớ không, anh còn nhớ không, luôn luôn chuyền từ mồm người này sang mồm người nọ. Câu chuyện trở nên đậm đà, thân mật. Chỉ còn thiếu tiếng "anh", tiếng "em" thay vào tiếng tôi nữa là hai anh chị sẽ nghiễm nhiên thành một cặp tình nhân khắng khít. Bao giờ có hai tiếng ấy bật ra đầu lưỡi anh chị? Vì cả hai anh chị xem chừng cùng thấy ngượng với hai tiếng yêu đương ấy đã có sẵn trong hai tấm lòng từ lâu và hai trái tim anh chị đã đập cùng một điệu.

Chương IX

Chút được nghỉ năm ngày thì đã mất bốn. Chỉ còn một ngày hôm nay, mai Chút đã phải đi sớm để kịp có mặt ở trại vào hồi tám giờ tối. Bà lý và nhất là Gái thấy ngày đi chóng quá, tưởng như Chút mới về hôm qua... Bà lý săn sóc, suốt ngày lẩn quẩn bên cạnh con, thành ra Gái không được lúc nào ngồi nói chuyện một mình với Chút như ngày nọ. Gái biếng cả dệt, chốc chốc lại sang góp chuyện để được ngắm nghía Chút cho thỏa thích.

Chiều hôm ấy, bà lý thân ra Cõi Ba mua hẳn đồng bạc cá thu về làm gỏi thết con. Bà mời cả hai vợ chồng Vót và anh Hương, anh Quán. Mấy ông chú cũng tự tiện đến nhắm rượu. Ba gian nhà trên đông đúc như một ngày kỵ. Không đủ giường phản ngồi, bà phải giải chiếu xuống thềm đất. Năm mâm đầy đặn như năm mâm cỗ, để xếp hàng. Ba mâm trên, mỗi mâm một chai rượu Văn Điển. Ông nọ nhường ông kia ngồi trên, rối rít. Chút mặc quần đùi, vì Chút không đem quần ta về, ngồi mâm thứ ba với Quy và anh Hương, anh Quán. Ông lý cùng mấy ông chú và xã Khoan ngồi hai mâm trên. Bà lý ngồi mâm thứ tư với Vót và hai bà thím. Bà ngồi liền cạnh Chút như để được gần Chút hơn mọi người. Bà quên hẳn chồng lẫn Quy tuy bà đã gầy dựng cho nó lên đến chức phó lý. Mâm thứ năm như thể mâm thừa thãi thì để cho lũ trẻ con ăn với vợ phó lý Quy.

Các ông rượu vào, say khướt cười nói, thét bô bô. Các ông tỏ ý tiếc không được trẻ lại để ra lính cho mát mặt. Chẳng gì bằng rượu. Rượu vào, các ông đều trở nên can đảm cả. Nhưng các ông lại trở nên bướng bỉnh, gàn bát sách và ngang phè phè nữa. Chút định nói câu gì là các ông lại xúm nhau vào bẻ.

Chút ghét mặt, không thèm nói chuyện với các ông nữa, quay ra trả lời những câu ngớ ngẩn, thực thà của các bà nhút nhát vậy.

Chút cũng cố nhấp vài chén nên trong lòng thấy vui vui. Giá lúc ấy có Gái em ngồi đấy, Chút sẽ đủ can đảm nói những câu cợt nhã quá thành thực và sỗ sàng của nhà binh. Gái sẽ tha hồ mà đỏ mặt, quả tim Gái sẽ tha hồ đập mạnh như trống ngũ liên.

Cuộc rượu của các ông bắt đầu từ chiều, mãi tối mịt mới tàn. Ông lý đứng dậy rủ mấy ông chú đi tìm xóc đĩa. Xã Khoan càng say càng lỳ lỳ trở về nằm võng ngủ tít. Lũ cháu về từ nãy. Quy ngồi nói chuyện một lát rồi cũng lảng xuống nhà ngang tính toán công việc làm ăn với vợ. Nhà trên chỉ còn bà lý, Vót với Chút. Mùi rượu nồng, hơi cá tanh còn phảng phất trong không khí.

Gái thấy thầy về, đoán biết là cuộc rượu đã tàn, bèn rời khung cửi, vờ sang mượn cái thoi để lấy cớ ngồi nghe chuyện và nhìn Chút cho đỡ nhớ.

Bà lý coi Vót và Gái thân như người nhà. Bà không cần giấu diếm đem hết tâm sự của bà ra kể. Bà có ý muốn cho con thương bà mà đừng làm cho bà phiền muộn. Chiếc đèn hai dây chụp phẩn, ngọn vặn nhỏ, treo từ xà rũ xuống, chiếu ánh vàng lờ mờ.

Bà lý khuyên:

- Con ạ, con chịu khó chăm chỉ mà làm việc quan, chớ có theo đòi, đua anh đua em mà chơi bời.

Vót nói chêm:

- Này, tôi thấy họ nói trên tỉnh có nhiều nhà cô đầu và nhà thổ...

Bà lý cướp lời:.

- Ừ bu cũng nghe thấy nói trên tỉnh có lắm cô đầu và nhà thổ, con chớ đua vào nhỡ mắc bệnh thì khốn.

Chút nhìn Gái, nhếch mép cười. Gái xấu hổ, cúi xuống, hai tay vân vê chiếc thoi.

Bà lý nói tiếp:

- Chớ có vào các sòng đánh bạc, nhỡ hư thân mất nết đi, rồi...

Chút cười, nói to:

- Bu đừng lo. Luật nhà binh nghiêm lắm. Quan tóm được, cứ "sít sết dua bi-đông" là ít. Cai đội có khi lột lon nữa. - Tiếng Chút vang khắp nhà như những tiếng hô lính.

Đêm đã khuya, Vót thỉnh thoảng lại giục con về dệt vải. Gái vâng, nhưng vẫn ngồi lỳ cho đến khi mẹ đứng dậy về mới theo về, cặp mắt đen láy còn nhìn theo Chút một cách ngập ngừng như có vẻ mến tiếc.

Chút đứng dậy tiễn hai người ra cổng rồi trở vào chuyện vãn với mẹ một lúc mới đi ngủ. Bà lý xem chừng còn muốn kéo dài cho đến sáng nhưng lại sợ con đi đường mệt. Bà đặt lưng lên giường. Chợt nhớ đến Sồi, bà thương hại và tự trách đã quên bẵng không nhắc tới Sồi trong những lúc chuyện trò cùng Chút. Bà cất tiếng:

- Con ạ.

- Bu bảo gì cơ? - Chút nằm giường bên kia, chống tay ngóc đầu lên hỏi.

- Con có qua tỉnh Đông thì rẽ vào thăm cái Sồi một tí kẻo tội nghiệp. Nó lấy chồng ba bốn năm trời nay, chưa con cái gì cả, mà chồng nó làm ăn nghe chừng cũng chẳng ăn thua gì.

Chút đặt mình xuống, nhìn xà nhà nói:

- Từ đây lên tận tỉnh Lạng xa lắm, phải đi một mạch mới kịp. Thôi để lần sau con sẽ rẽ vào thăm anh chị ấy. - Tính Chút không hợp với tính Sồi, nên Chút không ân cần lắm... Giá phải Hĩm nhưng Hĩm lại ở tận Cẩm Phả. Có đi, ít ra cũng mất một ngày. Nó tự hứa: lần sau thế nào nó cũng đến thăm chị Hĩm đã rồi mới về nhà.

- À này, con ạ. Mới rồi bu đi lễ miếu Nhị, có xin cho con quẻ thẻ. Thánh dạy: con phải giữ gìn cái tháng Tư, tháng Sáu, chớ đi sông đi ngòi, trèo đèo trèo núi mà mắc nạn đấy.

Chút không tin, nói giãn ra:

- À sào! Bu cứ hay tin nhảm... Với lại con làm lính, phải đi "Man-nớp" luôn, qua sông qua ngòi, trèo đèo trèo núi, kiêng thế nào được!

- Ấy chết! Có kiêng có lành, con ạ. Con nghe bu, nếu gặp phải những tháng ấy, con cứ nói thực với quan trên, xin phép nghỉ ở trại làm việc khác.

Chút chau mày:

- Việc nhà binh, bu làm như việc nhà không bằng... Vâng, thì đến những tháng ấy con sẽ xin phép quan trên ở lỳ trong trại. - Nói rồi Chít choàng tay ra sau gáy cười thầm.

Bà lý chốc chốc lại nói. Mà câu chuyện của bà có gì? Quanh quẩn lại những lời khuyên mà bà đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Và nói xong bà lại tự trách thầm: "Mình phải để cho nó ngủ chớ, mai nó còn ngược sớm kia mà". Xong bà vẫn lải nhải khuyên con cho đến khi nghe tiếng con ngáy bà mới chịu nằm yên ngủ.

Sáng sớm tinh sương bà đã trỗi dậy, xuống bếp thổi nấu làm cơm cho con ăn. Bà không dành cho đầy tớ công việc ấy, cũng như khi xưa, bà không muốn ai săn sóc đến con nít của bà.

Chút vừa thức dậy, đã thấy mâm cơm bày giữa phản. Hai chiếc tỏi gà nùng nục những thịt dưới làn da mỏng, vàng như lụa đặt trên cái đĩa Tàu cổ.

- Con đi súc miệng, rửa mặt rồi ăn cơm, kẻo chốc nữa họ đến đông. Nhà còn vài cút rượu, có nhắm với tỏi gà thì nhắm.

- Vâng, uống một tí cho nóng bụng. - Vừa nói Chút vừa cam thau ra rửa mặt.

Bà lý xem xét mâm cơm:

- Tẹo ơi! (Tẹo là tên con đầy tớ). Thiếu đĩa muối đây này! Ra vại lấy dăm quả cà nén nữa để anh ấy ăn với nước suýt gà. - Bà chợt nhớ tới Quy - À chào! Kệ xác nó. - Nghĩ không nỡ, bà lại gọi Quy lên ăn với em.

Hai anh em đương ăn thì Vót sang. Một lát Gái cũng sang, nhưng thẹn không dám vào, đứng ngoài sân nói chuyện với vợ Quy.

Chút xỉa răng uống nước vừa xong thì mấy chú thím cùng vài người họ đến tiễn chân. Ông lý cũng vừa về. Ông nói dăm ba câu chuyện phiếm với Chút. Ông đổi với con cái bao giờ cũng lãnh đạm, thờ ơ, trái ngược hẳn bà lý. Ông chỉ thiết tổ tôm với xóc đĩa.

Từ lúc ăn uống xong cho tới lúc đi, Gái và Chút chẳng nói với nhau được câu nào. Có lẽ vì đông người, anh chị ngượng ngập xấu hổ.

Bà lý nhắc lại lời khuyên:

- Con chớ có đua đòi anh em chơi bời, chớ có đi cô đầu, nhà thổ nhỡ mắc bệnh vào thì khốn đấy.

Bà nhắc nhiều lần quá đến nỗi bà chưa nói hết câu, Chút đã biết hết rồi. Chút chỉ cười như nhắc mẹ: "Con biết rồi, bu nói đi nói lại mãi". Bà thêm một ý mới: "Con nhớ gửi ‘tờ’ về cho bu luôn nhé. Đừng để bu nóng ruột".

Chút cất mũ chào mọi người một cách niềm nở. Đi được vài bước, Chút quay lại chào Gái:

- Chị Gái ở nhà nhé. Lần sau về, tôi sẽ làm quà chị phong bánh khảo nhân chè lam. - Chút biết Gái thích thứ bánh ấy lắm.

Gái đỏ mặt, nói nhu nhú trong mồm:

- Em cám ơn anh. - Tiếng em, Gái nói sẽ quá, chỉ đủ cho Gái nghe thôi. Gái cảm động, thổn thức. Cặp mắt Gái trong, ướt, chỉ chực tuôn những giọt lệ nhớ nhung, thương mến xuống hai gò má hồng hồng.

Chương X

Bà Lý nhớ con. Bốn năm ngày liền, bà thờ thẫn, đến hết nhà này nhà nọ chuyện trò cho khuây khỏa dăn và bắt đầu đi các chợ buôn bán.

Thỉnh thoảng có ai nhắc lại chuyện Chút, bà chăm chú nghe và sung sướng được người ta khen con. Những lúc ấy bà trở nên dễ dãi, yêu hết thảy mọi người, yêu cả chồng là người đã sinh thành ra Chút.

Thời giờ trôi hết ngày này qua ngày khác, lâu lâu bà hầu như quên đi. Vả chăng, bà còn bận công việc, nhất là bận để tâm đến ngày mùng sáu tháng Giêng sang năm.

Mùng sáu tháng Giêng sang năm là ngày ông lý nhà bà lên lão sáu mươi, một ngày can hệ, to tát, long trọng nhất của một đời người chức dịch trong thôn ổ. Nói là ngày mùng sáu tháng Giêng, chứ thực thì ngày ấy kéo dài thành ba bốn ngày; có khi năm sáu ngày tùy theo cái lão to hay nhỏ của nhà chủ. Vậy bà không thể dửng dưng với ngày ấy được. Bà phải sắp sửa từ bây giờ để được sẵn sàng đầy đủ. Bà phải nuôi sẵn sáu con lợn, vụ cám cho béo quay. Bà phải tậu vài ba con trâu, tậu vào thời sau mùa gặt hái để được giá rẻ. Bà phải đong hàng cót thóc trữ sẵn... Ối chà! Cứ kể bà còn phải sắm sửa "này khác, các thứ", nhiều lắm, mất có tới hàng bảy tám trăm, một nghìn. Bà không thể tùng tiện được, dẫu bà không ưa gì cái tính liều lĩnh, bạt mạng, thờ ơ, ích kỷ, lường lật của ông lý nhà bà. Ghét thì ghét, bà không khi nào chịu để mang tiếng là vợ một ông cựu có vai vế trong thôn mà lại kém người đủ mọi vẻ. Không, hết vốn này, bà gầy vốn khác, chứ kém người, thì nhất định bà không chịu kém. Bao giờ lo xong cái việc to tát ấy, bà sẽ thảnh thơi và ông lý nhà bà sẽ được tôn trọng lên bậc cụ; dù tư cách, tính hạnh ông không đáng bậc cụ chút nào, dù ông chẳng làm được trò trống gì cho làng cho nước.

Hiện thời bà đã mua được đủ sáu con lợn. Còn vài ba con trâu, bà đã nhờ ông trùm Súy đi các làng xem. Nếu được trâu tốt, giá rẻ thì tậu cho bà. Thóc bà cũng đã đong ngay từ dạo đầu mùa. Công việc của bà gần như hoàn thành cả rồi. Họ hàng khu xóm cho đến làng nước cũng tấm tắc khen bà đảm đang quán xuyến. Tiếng bà lý lo cái lão cho ông lý đã vang khắp độ rày. Và những bô lão, những chức dịch cho chí những nhiêu xã tép nhép đã được trông thấy trong tưởng tượng, những bữa chén no nê phè phỡn. Nhiều người gặp bà, đã nói đến ngày mùng sáu tháng Giêng, tuy ngày ấy còn xa đằng đẵng:

- Sang năm làng ta có cả thảy mười bốn ông lão. Nhưng làm to nhất có cụ cựu nhà rồi đến cụ cựu thôn trong.

Bà lý hả dạ và kiêu hãnh, tuy ngoài mặt, bà làm như thản nhiên và nói một cách nhún nhường:

- Thưa ông, người ta lo cho ông lão nhà người ta thế nào thì tôi cũng cố lo cho ông lão nhà tôi được thế, chứ ông tính, tiền của đâu mà làm to nhất làng.

- Hôm ấy thế nào chúng tôi cũng phải kiếm lấy đồng bạc với phong pháo đến mừng ông lão.

Bà lý vui vẻ:

- Vâng, được các ông đến mừng cho ông lão nhà tôi thì quý hóa nào bằng. Còn tiền nong xin các ông đừng ngại. Một phong pháo hay một lời mừng của các ông là quý lắm rồi.

- Có, thế nào chúng tôi cũng phải có chút đỉnh mừng ông lão chứ.

Những lời hỏi han như thế, bảo bà lý không sung sướng sao được. Nhưng ở đời, mấy khi ý định của người ta thành đạt, mấy khi hạnh phúc đến được dễ dàng như ý muốn. Thường thường cái khổ vẫn lẽo đẽo theo sau như một vị hung thần, chỉ đợi cơ hội tốt để chộp lấy người ta mà xâu xé mà vò nát.

Trong khi bà lý đương phấn khởi dấn bước, trong khi đời sống của bà đương đầy dẫy hy vọng thì một hôm, một buổi chiều hây hầy gió Đông nam, một buổi chiều hồng triệu chứng của một ngày mai tốt đẹp, bà lý đương nhẹ bước trên con đường làng lát gạch, cùng với các bạn buôn đi chợ Hộ về. Câu chuyện vui của bà đương làm cho các bạn cười ròn như nắc nẻ. Bỗng một tin dữ dội! "Sồi chết!" vụt đến đập mạnh vào thần kinh bà như sét đánh. Bà tái mặt, rụng rời cả tứ chi. Cái thúng đựng tơ lụa, từ trên đầu bà đổ ụp xuống đường. Bà ngồi sệp xuống theo. Những tấm lụa bán còn lại bừa bãi chung quanh. Bà kêu thất thanh:

- Ôi con ơi là con ơi! Ối trời cao đất dầy! Ối trời ôi! Khổ sở thân tôi. Khổ sở... - Bà không kêu được nữa, nằm gục xuống, cả thân bà rủn ra như sứa.

Các bạn ngạc nhiên đứng ngây ra nhìn, tri giác rối loạn làm át cả lòng thương xót. Vót đặt thúng của mình xuống vệ đường, nhặt những tấm lụa rũ tung, nhét vào thúng bà lý rồi giao cả thúng của bà lẫn thúng mình cho Lài, người bạn, đặt chồng lên thúng của họ. Đoạn Vót xốc nách bà lý nâng dậy:

- Ô hay! Bác lý! Lạ chưa, đã biết thực hư thế nào. Dầu sao thì cũng là số nó, chứ mình làm gì được. - Vót nhìn những người chung quanh - Các bác vực bà lý hộ tôi tí. Chắc là họ đòn nhầm, có phải không, bác Chính? - Vót vừa nói vừa lấy mắt ra hiệu cho người kia nói dối.

Xã Chính gái hiểu ý, trả lời:

- Thưa cụ, họ đồn nhầm đấy chứ. Cháu ở đằng... ở đằng kia về có thấy gì đâu.

... Bà lý đã hơi tỉnh, kéo lê từng bước, hai cánh tay choàng lấy vai Vót và xã Chính xốc nách hai bên. Bà nói, giọng mệt lả:

- Thôi đi, các người đừng nói dối tôi. Tôi biết. Con tôi chết rồi. - Bà thổn thức lại kêu - Trời cao đất dầy ơi! Cực nhục cực nhục... - Bà đuối hơi, nhược sức, rủ đầu xuống như một cây héo rũ ngọn.

Hai người xốc nách lôi bà về nhà như lôi một cái xác không hồn. Cái Gái em chạy ra, mặt tái mét. Nó há mồm chực nói thì Vót đi ra hiệu im. Nó lẳng lặng theo sau, hai gò má ướt đẫm nước mắt. Gái yêu Chút, coi mẹ Chút như mẹ đẻ ra Gái vậy.

Bà lý nằm vật ra giường, ngất đi từng hồi. Mỗi lần, hết cơn ngất, bà vật mình vật mẩy, kêu thất thanh như mấy lần trước. Mọi người thương hại rơm rớm nước mắt. Họ không còn cách gì, đành đứng yên nghe những tiếng kêu gào thảm thiết. Một lần, bà lý ngồi dậy, cố nhấc người lên đi, xong chân không giữ nổi thân, bà ngồi phịch xuống giường, mắt thao láo, nhìn vơ nhìn vẩn. Bà hỏi rồi bà lại tự trả trả lời: "Phải, tôi biết, các người đừng dối tôi. Con tôi chết rồi mà. Ối con ôi là con ôi!" Bà nói lảm nhảm. Bà gần như người điên.

Vót dặn dò mọi người trông nom bà lý rồi tất tả đi ra cổng. Vót còn hy vọng, mong cái chết của Sồi chỉ là một cơn ngất dài. Vót nghĩ: "Biết đâu, người ta có thể ngất đi hồi lâu. Cơn ngất ấy có thể nhầm là chết được". Nhưng hy vọng của Vót mỏng manh như sợi tóc, lập lòe như một tia sáng rất yếu ớt. Vót đi được một quãng đã gặp nhiều người quen và cái chết của Sồi không còn có thể mập mờ được nữa. Còn vì cớ gì Sồi chết thì mỗi người nói một phách. Người thì bảo: Sồi chết vì cơn uất quá mạnh, làm xúc động đến cái thai, người ta bảo vì Sồi ngã, cái thai xổ ra ngoài. Người bảo thế này, người bảo thế nọ, Vót không sao biết đích xác được. Vót nóng ruột cắm đầu rảo bước mong cho chóng tới nơi nên càng thấy đường dài và bước chân đi chậm quá. Khi thấy trước cửa quán Đất, người đứng xúm quanh, Vót rụt rè, bước chậm lại. Vót thấy chồn chân. Nhưng đằng nào rồi Vót cũng phải tới đích. Vót không dừng lại hỏi han ai, rẽ đám đông, lách vào trong quán. Quy đương đôi co, lời ra tiếng vào với người anh cả Mẫn, chồng Sồi. Một người đàn bà đứng ôm đứa bé mới đẻ còn đỏ hỏn trong cái tã cũ rích. Chắc người ấy cũng đon đả, hay bỏ việc nhà, giúp việc người như Vót khi xưa. Không cần hỏi, Vót cũng biết là con Sồi. Giọt lệ thương tâm đọng trên gò má, Vót sẽ lật cái chiếu phủ trên mình người bất hạnh. Vót kêu sẽ như rên: "Chao ôi!... Khốn nạn!... Tội nghiệp!...". Rồi hết giọt nọ đến giọt kia, theo nhau từ từ rơi xuống áo, xuống yếm. Vót lấy vạt áo lau mặt và sẽ buông manh chiếu che kín lấy thân Sồi. Mọi người cảm động, ứa nước mắt. Những tiếng: "Tội nghiệp nhà chị ta" lầm rầm khắp chung quanh. Không khí như nhiễm đầy tình thương xót và lạnh lẽo, rùng rợn.

Vót lẳng lặng bước ra, chợt thấy Mẫn ngồi ủ rũ ở góc quán, quán áo lam lũ, đầu tóc bơ phờ. Vót đi lại, cầm tay Mẫn kéo dậy:

- Ra bác bảo.

Hai người lững lững ra khỏi đám đông, đến một chỗ vắng. Vót, trước khi hỏi đầu đuôi việc xảy ra, khuyên Mẫn:

- Này Mẫn, bác bảo... Việc đã rồi, dẫu tài thánh cũng không sao kéo lại được... Nhưng còn đứa bé. (Vót bối rối không kịp hỏi là trai hay gái) cháu phải săn sóc chăm nom đến nó. Thế là trời thương hại còn để lại cho cháu chút con, tức là hình ảnh của vợ cháu. Cháu thương vợ cháu bao nhiêu thì cháu càng nên trông nom, săn sóc lấy đứa con. - Mẫn đứng ngây ra như khúc gỗ. Nó khổ sở quá, mệt nhọc quá. Nó đã khóc nhiều, không còn nước mắt đâu mà khóc nữa. Tim gan khô héo. Nó không còn tí máu mặt.

Vót ngừng một lát rồi hỏi:

- Sự thể làm sao mà lại đến thế, cháu kể qua lại cho bác nghe. - Sự tò mò muốn biết của Vót đã làm cho Vót không nghĩ gì đến nỗi khổ tâm của Mẫn, đã làm cho Vót quên rằng Mẫn càng kể càng thêm đau lòng, chua xót.

Mẫn thở dài rồi bắt đầu kể:

- Thưa bác, cháu nghĩ đến anh cháu lúc nào, cháu lại thâm gan tím ruột. Anh cháu tệ bạc quá, ác nghiệt quá, không còn có chút lương tâm nào. Rồi cũng có trời! Trời sẽ quả báo cho mà xem... - Nói đến đây Mẫn như nghẹn ngào vì lòng thù oán, căm tức. Mấy ngón chân bấm mạnh xuống đường như muốn dí bẹp một vật gì. Nghĩ một lúc Mẫn kể tiếp -... Nói ra càng đau lòng, chẳng qua chỉ tại nhà cháu hiền lành, đần độn quá... Khi chúng cháu còn ở tỉnh, thì mới hôm kia chứ lâu la gì, cháu đã giục nhà cháu vào nhà thương mà đẻ. Ở đấy có bà đỡ, có sẵn sàng đồ dùng, thuốc men. Mà nhà cháu lại sinh lần này là một. Cháu đã biết, việc đẻ con đầu lòng vẫn khó khăn, nguy hiểm lắm. Nhà cháu không nghe, cứ nằng nặc đòi về đẻ ở nhà quê cho được.. Không biết đứa khốn nạn nào đã dọa nhà cháu rằng đẻ ở nhà thương có khi người ta mổ xẻ ghê gớm lắm, làm cho nhà cháu khiếp sợ, coi nhà thương như một nơi hành hình.

Những người đến hỏi thăm tản dần. Trước cửa quán đã thấy vắng. Không nghe thấy tiếng phó Quy nữa. Hắn đã trở về, ý chừng để báo tin cho mẹ biết. Mọi người qua lại bàn tán, không ai để ý đến Vót và Mẫn.

Mẫn thở dài, kể tiếp:

- Cháu bắt đắc dĩ phải chiều ý nhà cháu. Cái lúc nhà cháu ngồi trên ô-tô hàng, cháu mới lo làm sao! Hai ba lần nhà cháu quằn quại đau bụng. Nhà cháu thì thầm vào tai cháu: "Không khéo đẻ ra đây mất, anh ạ". Cháu run sợ, mặt tái mét như gà cắt tiết. Cháu phải vội nói sẽ: "Không, không việc gì". Cháu chỉ sợ người tài xế hay người làm công nghe rõ, đỗ xe lại bắt xuống thì nguy quá.

Hai người đứng mỏi chân, cùng ngồi xổm xuống vệ đường. Mẫn tẩn mẩn nhổ những cây cỏ mọc ở khe gạch, Vót yên lặng nghe, tâm trí để cả vào câu chuyện. Mẫn lại kể:

- Thưa bác, một giờ ngồi trên ô-tô, cháu coi lâu bằng một thế kỷ... Lúc nhà cháu xuống, cháu sung sướng như người vừa thoát nạn. Cháu đinh ninh là nhà cháu sẽ được mẹ tròn con lành. Bác tính bước nguy hiểm trên xe như thế còn thoát được thì ai nào không tin một cách chắc chắn như cháu. Thế mà không ngờ!

Mẫn thở dài đưa mắt về phía quán mà rùng mình, tưởng cái quán như một nhà táng úp trên chiếc quan tài. Mẫn thốt ra mấy tiếng đau đớn:

- Trời ơi! Sao mà tôi khổ sở quá thế này.

Đoạn Mẫn lại kể:

- Cháu tưởng như thế là xong. Còn ai không tưởng như cháu. Khốn nạn, bác ạ, hai vợ chồng cả mừng. Hớn hở về nhà... anh cháu. Chúng cháu mua một chục bánh tây làm quà. Cháu đã biết, anh cháu, nhất là người chị dâu cháu (Mẫn dùng tiếng người cho giọng nói bớt thân) thích bánh tây lắm, coi như một của lạ. Vợ chồng họ thấy chúng cháu về chào hỏi mừng rỡ. Chả biết mừng thật hay mừng ngoài mặt. Cháu mở gói bánh ra. Chị ta rú lên: "Ối chà! Quý hóa quá". Lũ trẻ xúm lại, tranh nhau cầm ngửi sung sướng lắm. Cháu thấy thế cũng mừng, mừng cho nhà cháu. Chuyện vãn hồi lâu, cháu nói đến việc nhà cháu về nhà quê đẻ để cho anh em, chị em, họ đương nâng đỡ. Cháu tưởng nói là nói chứ việc sinh đẻ là việc thường, nhất ở thôn quê lại càng coi thường lắm. Nào ngờ anh chị cháu sầm ngay nét mặt lại. Anh cháu vội kêu: "Ấy chết! Chú để thím đẻ ở đâu chứ chớ đẻ ở nhà tôi".

Thật không ngờ, cháu không ngờ anh cháu lại có cái ý tưởng lạ lùng ấy. Anh cháu tiếp luôn: "Chú phải nghĩ đến tôi, đến gia đình nhà tôi, đến cả một ngành nhà ta". Anh cháu nói thế là nghĩa thế nào, cháu không hiểu.

Mẫn vừa nói vừa ngắt vụn những lá cỏ rắc lên gạch. Vót chăm chú nghe. Bỗng có tiếng oe oe trẻ khóc từ trong quán vẳng tới. Mẫn nức nỏm khen cái người lạ nào đã bế ẵm đứa bé, cho nó bú, chăm nom đứa bé như một người mẹ hiền. Rồi Mẫn lại kể:

- Cháu không hiểu, nhưng rồi anh cháu bắt cháu phải hiểu, phải hiểu rằng: Từ thượng cổ không có cái gì xúi quẩy, lụn bại bằng trong nhà chứa một người đàn bà ở đâu đến đẻ. Táo bạo, liều lĩnh đến bực nào cũng không dám để một việc xảy ra như thế. Anh cháu nói như thế này, cháu còn nhớ lắm: "Chú ơi! Tôi chắp tay tôi lạy cả chú thím. Chú thím thương tôi, thương đến vợ chồng con cái nhà tôi. Chú mà để thím ấy đẻ ở đây thì bằng chú giết tôi, giết cả vợ chồng con cái nhà tôi. Sao chú lại nỡ tâm thế. Nhà anh chú mà lụn bại, tan nát thì chú có ngồi yên hưởng sung sướng được không? Thật tôi tưởng chú chả nên có cái tâm địa ấy. Thà chú cứ đạp đổ ngay cái nhà thờ này còn hơn". Nói rồi hai vợ chồng họ ẩy nhà cháu ra sân, vừa ẩy vừa nói một cách tàn nhẫn: "Thôi thôi, chúng tôi xin, thím đi đâu đẻ thì đi, đừng đẻ ở nhà tôi". Khốn nạn! Cháu trông thấy nhà cháu khóc khóc mếu mếu mà cháu thương hại... Dã tâm quá! - Mẫn vừa nói vừa lắc đầu, trề môi dưới ra để khinh bỉ cái hạng người quá tàn nhẫn, dã tâm đến thế là cùng.

Hai người ngồi đã chồn chân, đứng dậy thủng thỉnh trở lại quán, lúc ấy chỉ còn lẻ tẻ một vài người mới đến. Hai người cùng vào trong quán. Người đàn bà ẵm đứa bé lại gần, tủm tỉm cười nói:

- Nói dại đổ xuống sông xuống biển, thằng bé này hồng hào khỏe mạnh, dễ nuôi đấy cụ ạ.

- Thằng bé à, chị? - Vừa nói, Vót vừa cúi xuống ngắm đứa bé. - Chị tử tế quá. Không có chị thì thật bối rối không còn biết làm thế nào mà cứu được thằng bé. Thế nào Trời Phật cũng phù hộ cho chị.

Thằng bé oe oe khóc. Người đàn bà vội nhét đầu vú vào mồm thằng bé và sẽ nựng:

- À đây đây. Tôi đền, tôi đền.

Người ấy làm như thằng bé đã hiểu biết vậy. Mẫn khuyên người ấy nên để thằng bé khóc cho hả hơi. Người ấy không nghe, nói:

- Ai lại thế.

Hai người ngồi trên sàn gỗ. Sàn bên kia, cách một gian giữa, để trong là chỗ Sồi nằm đẻ rồi chết ngay đấy. Vót hỏi:

- Thế rồi sao nữa, hở cháu?

Mẫn kể tiếp:

- Cháu van lạy, xin cho nhà cháu đẻ ở dưới nhà ngang hay bất cứ xó nào cũng được, miễn nhà cháu đẻ được là nhất. Nói mãi, vật nài van lạy chán họ cũng chẳng nghe, cáu tiết, cháu bảo nhà cháu cứ xuống nhà ngang mà đẻ. Cháu vừa nói dứt câu, thì họ xúm vào lôi tuột nhà cháu ra cổng. Họ lôi mạnh quá nhà cháu ngã xoài nằm lăn ra đường. Cháu vội chạy đến nâng dậy. Vợ chồng họ được dịp vội đóng sập cổng, cài then chặt.

Nhà cháu vừa khóc thảm thiết vừa bảo cháu: "Thôi, họ đã dã tâm thế thì để tôi về nhà mẹ tôi, tôi đẻ vậy". Cháu xốc nách, nâng đỡ nhà cháu đi. Những người gần đấy trông thấy cháu làm thế tủm tỉm cười, coi như một sự lạ, chướng mắt. Có người nào bảo nhỏ cháu: "Để chị ấy đi. Đừng làm thế họ cười cho đấy". Cháu không nghe, cứ xốc nách, nâng đỡ nhà cháu đi.

Về đến quán, bỗng nhà cháu kêu đau, nhăn nhó, mặt tái mét: "Chết chửa, không khéo tôi đẻ ở đây mất!" Cháu vội đỡ nhà cháu vào trong quán. Nhà cháu nằm vật xuống sàn ngất đi. Một bà qua đây. Bà ta giục cháu chạy vội đi tìm bà Vị. Khốn nạn! Trời tạnh ráo hẳn hoi, đường thì lát gạch mà cháu ngã đến ba, bốn lần, hai đầu gối sứt bét.

Lúc trở về thì nhà cháu đã đẻ rồi và huyết ra nhiều quá. Cháu đoán là nhà cháu vì uất quá, sinh ra băng huyết. Nhà cháu lịm dần. Cháu lại gần. Nhà cháu nói được mấy tiếng: "Tôi chết mất, anh ạ!" Rồi lịm hẳn.

Nói đến đây, Mẫn nghẹn ngào, một tay ôm ngực thở.

Vót thương hại, khuyên:

- Thôi, cháu cũng đừng nên nghĩ ngợi quá thêm bận. Số kiếp nhà cháu có thế thôi. Cháu nên tĩnh dưỡng mà trông nom, nuôi nấng thằng bé, để cho nhà cháu chết đi cũng được ngậm cười chín suối... Này chị, chị gì nhỉ... à chị Mít, bây giờ tôi mới nhớ ra, chị bế cháu về nhà tôi nhé. Thương đến cháu, thật là một cái phúc to đấy. Cả cháu nữa, cháu cũng về nghỉ nhà bác. Đừng sang nhà bà nhạc cháu vội. Cháu mà sang thì bà ấy lại nghĩ đến con mà thêm khổ ra thôi. Nhớ đấy, đừng có sang bên ấy vội. Việc sắm sửa đồ khâm liệm, chôn cắt để mặc bác - Vót đứng dậy đi về phía khu ngoài, và nhà phó mộc thửa một áo quan mộc mạc nhưng gỗ tốt, rồi trở ra, đến hiệu khách mua vàng hương, nẽn, vải về khâm liệm.

Lúc trở về, Vót đi thẳng đến nhà bà lý, thấy bà đương ngồi khóc con. Bà kể lể thảm thiết, ai nghe cũng không thể cầm lòng đưạc. Ông lý đi ra đi vào, hết nhăn nhó lại thở dài. Vợ chồng phó Quy ngồi thừ trên phản nghe bà lý kể lể. Vót trở ra, biết lúc này không phải lúc an ủi.

Chiẽu, Vót sang vẫn thấy mẹ Sồi y ỷ khóc và kể lể như người điên. Vót thở dài, lắc đầu, nhếch mép cười ái ngại rồi lại trở ra. Mấy lần như thế. Vót nghĩ thầm: "Thế nào rối cũng có lúc bác ấy bớt khổ. Lúc ấy ta sẽ tìm lời an ủi".

Sáng hôm sau, Vót lại sang. Bà lý nằm lả trên giường, suốt đêm hôm qua, bà không chợp mắt, nằm nói lảm nhảm. Bát cháo để cạnh dĩa muối trên ghế đẩu đã nguội lạnh. Ba bốn bà thím dỗ mãi chả được. Bà lý chỉ chốc lại uống một ngụm nước chứ nhất định không ăn. Bà kêu lắm, nói lắm đâm ra khản cổ, mất cả tiếng.

- Thôi, bác ấy không chịu ăn thì cháu chịu khó bưng xuống. Các bà ạ, chúng ta ra cả phản này ngồi, để bác ấy nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. - Các bà thím nể lời Vót, ra ngồi nói chuyện thì thầm trên phản, thỉnh thoảng đứng dậy, ghé đầu ra ngoài nhổ quết trầu. Bà lý mệt lả, nằm thiu thiu ngủ.

- Ta hãy về để bác ấy yên ngủ. Chốc nữa ta lại sang. - Vót nói giọng nhẹ nhàng, nhưng không biết Vót có sức mạnh gì mà, độc nói một tiếng là các bà kia nghe răm rắp.

Trưa, Vót lại sang, thấy các bà đã ngồi, uống nước ăn trầu, nói chuyện tự nhiên trên phản. Bà lý thấy Vót, sẽ đưa cặp mắt lờ đờ và chào bằng một giọng khàn đặc:

- Bác đã sang. - Bà không kể lể nữa, ngồi bó gối, thỉnh thoảng thở dài não nuột. Nét mặt bà buồn thiu, tóc bà rối bù trông rất thiểu não.

Vót không đá động gì đến cái chết của Sồi, không nhắc lại những việc khâm liệm, chôn cất mà Vót đã thân hành đảm đang, xốc vác hết. Vót nói những chuyện đâu đâu, nhất là chuyện buôn chuyện bán cốt để đưa trí nghĩ bà lý đến việc khác. Vót chẳng khác một ông thầy thuốc chuyên chữa bệnh thần kinh.

Tối mịt, Vót lại sang thấy trong nhà, ba gian vắng tanh, trơ trọi một mình bà lý nằm thở ngắn thở dài trên giường. Bà vẫn giữ nét mặt buồn thiu. Vót ngồi ghé xuống cạnh giường. Một lát Vót nói nhỏ nhẻ:

- Để tôi bảo cái Gái nó nấu cho bác tí cháo nhé?

- Thôi, cám ơn bác, tôi mệt lắm, chẳng muốn ăn gì cả.

- Ô hay! Mệt mỏi phải ăn cho nó tỉnh táo ra chứ, Gái ơi! - Cái Gái em cũng theo mẹ sang, đứng ngấp nghé ngoài cửa, thấy mẹ gọi, nó dạ một tiếng rồi bước qua ngưỡng cửa đi vào.

- Con lấy gạo tám nấu cho bác con tí cháo nhé.

Bà lý cảm động, nể lời Vót, để mặc cho Vót sai bảo. Vót ngồi kể đến chuyện vào lão sang năm; ông này sẽ làm to, ông kia sẽ làm nhỏ, ông này xin khoán chay với làng, ông nọ không đồng xu dính túi, phải bỏ làng trốn đi từ tháng trước. Bà lý tò mò nằm chú ý nghe. Nét mặt bà dịu dần. Một lúc lâu Gái bưng bát cháo nóng hôi hổi đặt trên cái khay, cạnh đĩa đường cát với cái thìa sứ. Vót giục ba bốn lần. Bà lý nể lời, ngồi dậy ăn. Vót đi lại, đứng trên phản lấy đóm tiếp ngọn đèn Hoa Kỳ sang ngọn đèn hai dây. Trong nhà đương mờ tối, bỗng bật sáng trưng. Không khí lạnh lẽo, buồn tẻ đã nhường cho không khí vui vẻ thân mật. Bà lý vẫn yên lặng và thỉnh thoảng thở dài. Vót thấy cơ hội đã đến, bèn cất tiếng dịu dàng như một người chị khuyên em, tuy Vót kém bà lý những bốn tuổi:

- Bác lý ạ... Đứa con nó trông kháu đáo để. Sau này trời cho nó ra người, bác sẽ có một thằng cháu ngoại khá giả.

- Nó sinh con trai à, bác? - Từ trước, họ đã báo tin cho bà biết nhưng bà chẳng để ý.

- Vâng, đứa con trai khỏe mạnh, tròn trĩnh, sáng sủa... Chị Mít tử tế quá, bác ạ. Chị ta bỏ cả việc nhà để bế ẵm cháu. Cả thằng con nhà chị ta, chị ta cũng ẵm sang nhà tôi. Tự nhiên một mình nuôi hai đứa trẻ. Ở đời lắm sự hay thật. - Vót ngừng nói, đi đến phản lấy hai miếng trầu đựng trong chiếc thau đồng con đưa cho bà lý một miếng, còn một miếng Vót bỏ mồm nhai nhỏ nhẻ và cười nói:

- Trời cho cánh mình cũng khá đấy chứ. Ngót sáu mươi tuổi đầu mà chưa rụng cái răng nào.

Bà lý hơi có vẻ tự đắc:

- Có bác, chứ tôi đã ngoài sáu mươi... Sáu mươi mốt, hơn nhà tôi hai tuổi. - Giọng bà nói khàn đặc.

- Tôi năm mươi bảy, chẳng kém gì bác mấy... Bác ạ, bác lo nghĩ có một hôm mà trông người bác sút hẳn đi. Tôi sợ bác lo nghĩ quá thành ốm thì hỏng bét... Cố mà ăn uống, tẩm bổ cho lại người đi, bác ạ. Ta còn buôn còn bán, còn phải lo bao nhiêu công việc như bác, bắt đầu từ tháng Giêng sang năm đã phải lo cho bác trai cái lão, lại không mất hàng bảy tám trăm, một nghìn ấy à... Rồi thằng Chút, bác còn phải làm nhà làm cửa, lấy vợ, gây dựng cho nó được vẻ vang... Ôi chà! Công việc cánh mình còn nhiều lắm.

Gái ngồi trên phản quay mặt vào nghe chuyện mẹ. Thấy mẹ nhắc đến Chút lòng Gái nao nao, cặp mắt Gái mơ mộng. Gái tưởng như Gái đã là vợ yêu của Chút rồi vậy.

Chuyện trò thân mật mãi đến khuya, hai mẹ con mới về.

Bà lý nằm nghĩ lại những lời khuyên chân thật của bạn. Bà càng suy nghĩ, càng thấy lời bạn là phải. Chồng bà dẫu chẳng ra gì cũng mang tiếng là chồng bà. Bà mà để chồng không mở mày mở mặt ra được với người ta, bà mà để cho chồng mất danh mất giá thì thanh danh "bà lý" của bà cũng mờ đi. Cái lão sang năm này mà không thành, chẳng nói gì không thành, chỉ luộm thuộm, khuyết điểm một chút là nhục nhã, khổ sở, điêu đứng với người ta... Lại còn thằng Chút, phải, thằng Chút, đứa con cưng của bà. Hiện giờ nó chưa có nhà cửa, chưa có vợ con. Bà còn phải gầy dựng cho nó. Rồi nhờ trời, nó lên cai lên đội, lên ông nọ ông kia. Lúc ấy bà sẽ bỏ tiền ra khao vọng cho nó. Thế mà bao nhiêu công kia việc nọ đều nhờ ở cái tay quán xuyến, đảm đang của bà, nhờ ở cái đời quý hóa của bà. Nói dại, bây giờ mà bà ốm nặng... nhắm mắt đi, thì cả một đời danh giá của chồng bà, cả một tương lai tốt đẹp của con bà sẽ đổ ụp. Không, bà không thể chán nản được, bà chưa thể nhắm mắt được. Bà còn phải trả cho hết cái nợ chồng con.